Xem Nhiều 11/2022 #️ Hướng Cẫn Cách Cúng Vái (Bái), Lạy Đúng? Ý Nghĩa Số Lần Vái Lạy? / 2023 # Top 11 Trend | Iseeacademy.com

Xem Nhiều 11/2022 # Hướng Cẫn Cách Cúng Vái (Bái), Lạy Đúng? Ý Nghĩa Số Lần Vái Lạy? / 2023 # Top 11 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Hướng Cẫn Cách Cúng Vái (Bái), Lạy Đúng? Ý Nghĩa Số Lần Vái Lạy? / 2023 mới nhất trên website Iseeacademy.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Khi thắp hương lên ban thờ Gia Tiên hay thắp hương khi đi Đền Chùa các bạn vái lạy thế nào? Tay chắp thế nào, để vị trí ở đâu, quỳ chân tay như thế nào…?

Vái là gì?

Vái thường dùng trong tư thế đứng (có thể quỳ), chủ yếu dùng khi lễ ngoài trời.

Khi Vái chắp 2 bàn tay các ngón tay này chạm vào ngón tay kia cân đối giữa 5 ngón tay từ thấp tới cao tựa như hình núi cao vững chãi, đặt ở trước ngực sau đó đưa lên ngang đầu đồng thời khom lưng xuống sau đó ngẩng lên đưa tay về lại giữa ngực (khi cúi xuống thì đưa tay lên giữa đầu còn khi ngẩng lên thu tay về trước ngực).

Tùy theo trường hợp cụ thể mà số lượng vái khác nhau.

Lạy là gì?

Lạy là hành động bày tỏ lòng tôn kính biết ơn chân thành bằng tất cả tâm hồn và thể xác cùng hòa quyện vào đối với người quá cố và bậc trên của mình. Lạy có 2 tư thế đối với nam và nữ khác nhau:

Tư thế lạy của Nam khi cúng lễ

Tư thế đứng thẳng nghiêm túc, chắp tay trước ngực giống như vái sau đó dơ cao lên trán, cúi người xuống đồng thời đưa hai bàn tay đang chắp xuống gần tới mặt đất thì xòe 2 bàn tay đặt nằm úp xuống. Đồng thời quỳ gối bên trái rồi quỳ gối bên phải xuống đất (chân nào thuận thì quỳ chân đó xuống trước, khi đứng lên cũng vậy), rồi cúi đầu xuống gần 2 bàn tay (thế phủ phục).

Sau đó cất người lên đưa 2 bàn tay lại chắp để trên đầu gối bên trái, nhấc đầu gối chân trái lên trước đồng thời nhấc chân phải lên đứng theo tư thế nghiêm như ban đầu. Cứ như vậy mà lạy cho đủ số lạy (tùy vào trường hợp mà số lạy khác nhau). Khi lạy xong thì vái 3 vái rồi lui ra.

Tư thế lạy của Nữ khi cúng lễ

Cách 1:

Tư thế khi lạy theo cách ngồi trệt xuống đất để hai chân vắt chéo về bên phải, bàn chân phải thường ngửa lên để ở phía đùi chân trái. Sau đó chắp 2 bàn tay lại để trước ngực, rồi đưa tay cao lên ngang tầm trán, giữ tay ở thế chắp đó rồi cúi đầu xuống. Khi đầu gần chạm đất thì thì đưa 2 bàn tay đang chắp đặt nằm úp xuống đất và để đầu chạm lên 2 bàn tay.

Sau đó dùng lực 2 bàn tay đẩy để lấy thế ngồi thẳng lên đồng thời chắp 2 bàn tay trước trán đưa xuống ngực như tư thế ban đầu. Cứ như vậy mà lạy tiếp cho đủ số lạy, khi lạy xong đứng lên vái 3 vái rồi lui ra.

Cách 2:

Tư thế quỳ 2 đầu gối xuống chiếu, đặt mông ngồi lên 2 gót chân và các bước tiếp theo làm giống như cách 1.

Ý nghĩa số lần vái và lạy

Vái lạy không chỉ dùng cho người đã khuất mà còn dùng cho những người đang còn sống, theo tục lệ ngày xưa ở miền Bắc thời còn phong kiến khi con dâu về nhà chồng phải lạy cha mẹ chồng, vái lạy quan trên hay vua chúa ngày xưa hoặc khi làm lễ mừng thọ sẽ có lễ người sống lạy người sống.

Hai lạy hai vái

Hai lạy: dùng để áp dụng cho người sống như trong trường hợp cô dâu chú rể lạy cha mẹ, đi phúng điếu, nếu là vai dưới của người quá cố như em, con cháu, và những người vào hàng con em… ta nên lạy hai lạy.

Hai vái: Trường hợp người quá cố còn để trong quan tài tại nhà, những người đến phúng điếu nếu là vai trên của người quá cố như các bậc cao niên, hay những người vào hàng cha, anh, chị, chú, bác, cô, dì… của người quá cố, thì chỉ đứng để vái hai vái mà thôi.

Ba vái: Nếu vái sau khi đã lạy, người ta thường vái ba vái. Ý nghĩa của ba vái này, như đã nói ở trên là lời chào kính cẩn, chứ không có ý nghĩa nào khác.

Bốn vái: Khi quan tài đã được hạ huyệt, tức là sau khi chôn rồi, người ta vái người quá cố bốn vái. Theo nguyên lý âm dương, khi chưa chôn, người quá cố được coi như còn sống nên ta lạy hai lạy. Hai lạy này tượng trưng cho âm dương nhị khí hòa hợp trên dương thế, tức là sự sống. Sau khi người quá cố được chôn rồi, phải lạy bốn lạy.

Ba lạy ba vái khi đi lễ Phật

Ba lạy tượng trưng cho Phật, Pháp, và Tăng.

Phật ở đây là giác, tức là giác ngộ, sáng suốt, và thông hiểu mọi lẽ.

Pháp là chánh, tức là điều chánh đáng, trái với tà ngụy.

Tăng là tịnh, tức là trong sạch, thanh tịnh, không bợn-nhơ.

Bốn lạy bốn vái

Bốn lạy để cúng người quá cố như ông bà, cha mẹ, và thánh thần. Bốn lạy tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu, bốn phương (đông: thuộc dương, tây: thuộc âm, nam: thuộc dương, và bắc: thuộc âm), và tứ tượng (Thái Dương, Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm).

Bốn lạy bao gồm cả cõi âm lẫn cõi dương mà hồn ở trên trời và phách hay vía ở dưới đất nương vào đó để làm chỗ trú ngụ.

Bốn vái dùng để cúng người quá cố như ông bà, cha mẹ, và thánh thần, khi không thể áp dụng thế lạy.

Năm lạy năm vái cho vua chúa ngày xưa

Năm lạy tượng trưng cho ngũ-hành (kim, mộc, thuỷ, hỏa, và thổ), vua tượng trưng cho trung cung tức là hành-thổ màu vàng đứng ở giữa. Còn có ý kiến cho rằng 5 lạy tượng trưng cho bốn phương (đông, tây, nam, bắc) và trung ương, nơi nhà vua ngự.

Ngày nay trong lễ giổ Tổ Hùng Vương, quí vị trong ban lễ thường lạy 5 lạy vì Tổ Hùng Vương là vị vua khai sáng giống nòi Việt. 5 vái dùng để cúng Tổ khi không thể áp dụng thế lạy vì quá đông người và không có đủ thời gian để mỗi người lạy 5 lạy.

Hướng dẫn cách vái lạy đúng:

Để ngắn gọn dễ hiểu hơn, Tamlinh.org xin hướng dẫn cách vái lạy đúng như sau:

+ Lễ Phật: Vái (hoặc lạy) 3 lần tượng trưng lạy tam bảo: Phật – Pháp – Tăng.

+ Lễ vong: (đã khâm niệm, chưa an táng) 2 lần tượng trưng cho Âm Dương nhị khí.

+ Lễ vong: đã chôn dưới mộ: 4 vái (hoặc lạy) tượng trưng cho Tứ Đại: Thổ, Thuỷ, Phong, Hoả. Với ý nghĩa: thân tứ đại nay trả về cho tứ đại, trở về cát bụi.

Ghi nhớ:

Khi vái lạy trong các nghi lễ thờ cúng hay trong đám tang, ma chay hiếu hỉ….không chỉ là bạn đang thực hiện nghi thức theo các cụ xưa, đây còn là đạo nghĩa của con người tiến bộ. Việc kính cẩn thành tâm vái lạy như một sự giao cảm với bề trên, tỏ lòng tôn kính, ghi ơn và tưởng nhớ.

Cách vái lạy đúng mực không những có giá trị về hình thức mà đôi khi còn ảnh hưởng đến vấn đề tâm linh. Ngay từ khi tu dưỡng đạo đức làm người, chúng ta đã phải học cách bái lạy. Đây được coi là một nghi thức, cũng là truyền thống cao đẹp, thấm sâu vào tâm thức con người Việt từ bao đời.

Tuy nhiên, cũng không quan trọng quá vào việc đi cúng ở đâu thì vái bao nhiêu vái, lạy bao nhiêu lạy? Nhỡ vãi nhiều hơn vài cái, lạy nhiều hơn vài lạy thì có thất kính, có gây tội gì không? KHÔNG, HOÀN TOÀN KHÔNG.

Tâm thành, thiện lương dù không vái lạy cái nào cũng đều được chứng. Người sống là cái gốc. Khấn cầu lễ bái là cái ngọn.

Sống đủ đức đủ thiện, đủ cống hiến đủ nỗ lực. Thì khấn cầu sẽ đem lại những điều may mắn

Sống lỗi đạo sống thiếu đức sống ác sống vụ lợi. Thì khấn cầu sẽ chỉ mang bệnh vào thân.

Gốc táo sẽ mọc ra quả táo còn gốc cỏ thì sẽ luôn mọc ra ngọn cỏ.

Tamlinh.org (tổng hợp)

Ý Nghĩa Của Số Lần Vái Lạy Trong Văn Hóa Thờ Cúng Của Người Việt / 2023

Tại cuốn “101 câu hỏi về nghi lễ thờ cúng tổ tiên” (Nhà xuất bản Thời đại), Đại đức Thích Minh Nghiêm có chia sẻ như sau: Trong văn hóa thờ cúng của người Việt số lần lạy và vái đều mang một ý nghĩa rất đặc biệt. Đây là phong tục của riêng Việt Nam ta mà người Trung Quốc không hề có.

Sau khi khấn, người ta thường vái vì vái được coi là lời chào kính cẩn. Vái thường được áp dụng ở thế đứng, nhất là trong dịp lễ ở ngoài trời. Vái thay thế cho lạy ở trong trường hợp này.

Vái là chắp hai bàn tay lại để trước ngực rồi đưa lên ngang đầu, hơi cúi và khom lưng xuống rồi sau đó ngẩng lên, đưa hai bàn tay lên xuống theo nhịp lúc cúi xuống khi ngẩng lên. Tùy theo từng trường hợp, người Việt Nam ta vái hai, ba hay 4,5 vái.

Lạy là hành động bày tỏ lòng tôn kính chân thành với tất cả tâm hồn và thể xác đối với người trên hay người quá cố vào bậc trên của mình. Có hai thế lạy là thế lạy của đàn ông và thế lạy của phụ nữ và có 4 trường hợp lạy từ hai, ba tới 4, 5 lạy và mỗi trường hợp đều có một ý nghĩa khác nhau.

Cụ thể, người Việt khi cúng, có thể lạy và vái theo 4 cách với ý nghĩa được giải thích kĩ càng như sau:

– Hai lạy và hai vái: Lời khấn vái là lời nói chuyện với người quá cố, do đó lời khấn là tấm lòng của người còn sống, có thể khấn sao cũng được. Hai lạy dùng để áp dụng cho người còn sống như trong trường hợp cô dâu chú rể khấn lạy cho mẹ.

Khi đi phúng điếu, nếu là vai dưới của người quá cố, như em, con cháu và những người vào hàng con em, ta nên lạy hai lạy. Nếu vái sau khi đã lạy, người ta thường vái ba vái thay cho lời chào kính cẩn.

Trong trường hợp người quá cố còn để trong quan tài tại nhà quàn, những người đến phúng điếu, nếu là vai trên của người quá cố như các bậc cao niên, hay những người vào hàng cha, anh, chị, chú, bác, cô dì… của người quá cố thì chỉ đứng để vái hai vái mà thôi. Khi quan tài đã được hạ huyệt tức là sau khi chôn cất, người ta vái người quá cố 4 vái.

Theo nguyên lí âm dương, khi chưa chôn, người quá cố được coi như còn sống nên ta lạy hai lạy. Hai lạy này tượng trung cho âm dương nhị khí hòa hợp trên dương thế, tức là sự sống, sau khi người quá cố được chôn rồi phải lạy 4 lạy.

– Ba lạy và ba vái: Khi đi lễ Phật, ta lạy ba lạy. Ba lạy tượng trưng cho Phật, Pháp và Tăng. Phật ở đây là giác, tức là giác ngộ, sáng suốt, thông hiểu mọi lẽ. Pháp là chánh, tức là điều chánh đáng, trái với tà ngụy. Tăng là tịnh, tức là trong sạch, thanh tịnh, không bợn nhơ.

Tuy nhiên, còn tùy mỗi chùa, mỗi nơi và thói quen, người ta lễ Phật có khi 4 hay 5 lạy. Trong trường hợp cúng Phật mặc đồ âu phục, nếu cảm thấy khó khăn khi lạy, ta đứng nghiêm và vái ba vái trước bàn thờ Phật.

– 4 lạy và 4 vái: 4 lạy để cúng người quá cố như ông bà, cha mẹ và thánh thần. 4 lạy tượng trưng cho tứ thân, phụ mẫu 4 phương (đông thuộc dương, tây thuộc âm, nam thuộc dương và bắc thuộc âm) và tứ tượng (Thái Dương, Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm).

Nói chung, 4 lạy bao gồm cả cõi âm lẫn cõi dương mà hồn ở trên trời và phách hay vía ở dưới đất nương vào đó để làm chỗ trú ngụ. 4 vái dùng để cúng người quá cố như ông bà, cha mẹ và thánh thần khi không thể áp dụng thế lạy.

– 5 lạy và 5 vái: Ngày xưa người ta lạy vua 5 lạy, 5 lạy tương trưng cho ngũ hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa và Thổ), vua tượng trưng cho trung cung tức là hành Thổ màu vàng đứng ở giữa. Có ý kiến cho rằng, 5 lạy tương trưng cho 4 phương và trung ương nơi nhà vua như trị.

Ngày nay trong lễ giổ Tổ Hùng Vương, quí vị trong ban lễ thường lạy 5 lạy vì Tổ Hùng Vương là vị vua khai sáng giống nòi Việt. 5 vái dùng để cúng Tổ khi không thể áp dụng thế lạy vì quá đông người và không có đủ thời gian để mỗi người lạy 5 lạy.

Đi Viếng Đám Tang Như Thế Nào, Vái Lạy Mấy Lần ? / 2023

Mỗi khi tham gia vào một đám tang để đưa tiễn một người nào đó, bạn thường thắc mắc rằng: Đi viếng đám tang như thế nào, vái lạy mấy lần ? bởi điều này phải thật sử tỷ mẫn, không được khinh xuất với những người đã tạ thế. Hiểu được điều này, bài viết của chúng tôi ngày hôm nay, sẽ giúp bạn giải đáp vấn đề này.

Lạy – hành đọng thể hiện sự tôn kính, chân thành với tất cả những tôn kính của bạn về cả tâm hồn lẫn thể xác đối với những người đã khuất. Ở Việt Nam, lạy được chia thành hai thế là thế lạy của đàn bà và thế lạy của đàn ông. Cụ thể.

Lạy đàn ông

Thế lạy của đàn ông là cách đứng thẳng theo thế nghiêm, chắp hai tay trước ngực và dơ cao lên ngang trán, cúi mình xuống, đưa hai bàn tay đang chắp xuống gần tới mặt chiếu hay mặt đất thì xòe hai bàn tay ra đặt nằm úp xuống, đồng thời quì gối bên trái rồi gối bên phải xuống đất, và cúi rạp đầu xuống gần hai bàn tay theo thế phủ- phục.

Thế lạy của đàn bà

Thế lạy của các bà là cách ngồi trệt xuống đất để hai cẳng chân vắt chéo về phía trái, bàn chân phải ngửa lên để ở phía dưới đùi chân trái. Nếu mặc áo dài thì kéo tà áo trước trải ngay ngắn về phía trước và kéo vạt áo sau về phía sau để che mông cho đẹp mắt.

Sau đó, chắp hai bàn tay lại để ở trước ngực rồi đưa cao lên ngang với tầm trán, giữ tay ở thế chắp đó mà cúi đầu xuống. Khi đầu gần chạm mặt đất thì đưa hai bàn tay đang chắp đặt nằm úp xuống đất và để đầu lên hai bàn tay.

Giữ ở thế đó độ một hai giây, rồi dùng hai bàn tay đẩy để lấy thế ngồi thẳng lên đồng-thời chắp hai bàn tay lại đưa lên ngang trán như lần đầu. Cứ theo thế đó mà lạy tiếp cho đủ số lạy cần thiết. Lạy xong thì đứng lên và vái ba vái rồi lui ra là hoàn tất thế lạy.

Đi viếng đám tang như thế nào, vái lạy mấy lần ?

Đối với hành đồng vái thì được áp dụng cho thế đứng và đặc biệt là mỗi dịp cúng lễ ngoài trời.

Vái là chắp hai bàn tay lại để trước ngực rồi đưa lên ngang đầu, hơi cúi đầu và khom lưng xuống rồi sau đó ngẩng lên, đưa hai bàn tay xuống lên theo nhịp lúc cúi xuống khi ngẩng lên. Tùy theo từng trường-hợp, người ta vái 2,3,4, hay 5 vái.

Thông thường, theo quan niệm trước đây của ông cha ta thì Lạy có 3 kiểu: lạy 2 lạy, lạy 3 lạy và lạy 4 lạy. Còn Vái (còn gọi là bái) thì chỉ thực hiện sau khi lạy và chỉ 2 vái mà thôi (cho dù có thực hiện 2, 3, hay 4 lạy cũng thế).

Ớ nước ta, hành động Vái lạy không đơn thuần là nghi thức thực hiện ở những đám tang, hay trong những những ngày cúng kiến, lễ chùa chiền…mà hành đồng này còn dùng cho cả những người đang còn sống. Ngày xưa ở miền Bắc (thời phong kiến) khi con dâu mới về nhà chồng đều phải lạy (còn gọi là “lễ”) cha mẹ chồng. Hoặc khi làm lễ mừng thọ thì cũng có chuyện người sống lạy người sống đó thôi.

Thông thường tùy vào trường hợp, mà bạn thực hiện số lần lạy tương ứng. Cụ thể đối với cho người còn sống, thì sẽ lạy 2 lạy, với lạy 3 lạy dành cho lạy Phật, lạy thần thánh (ví dụ khi cúng đất đai)và lạy 4 lạy để lạy vong (hồn người chết).

Đối với trường hợp, bạn tham gia đưa tiễn người vừa mất trong đám tang thì chỉ đi viếng, khi đã tiến hành liệm thì mới tiến hành chuyện vái lạy.

Về thông lệ khi tham gia đám tang thì khi người quá cố còn đó (dù đã liệm trong quan tài) thì vẫn được xem như người còn sống nên để lạy đúng thì chỉ LẠY 2 lạy (và vái 2 vái). Với những gia đình có bày bàn thờ phất trước di ảnh của người quá cố thì tiến hành lạy bàn thờ Phật 3 lạy (và 2 vái), sau đó lạy trước bàn hương án có di ảnh người quá cố 2 lạy (như lạy người sống). Nếu khi đến thắp hương cho người quá cố (đã được an táng rồi) thì lại lạy 4 lạy (và vái 3 vái).

Việc đại diện gia đình (con, chồng/vợ, anh chị em… của người quá cố) lạy đáp lễ (lạy trả) người đi đám tang chỉ thực hiện khi quan tài người quá cố còn đang quàng tại nơi làm lễ (gia đình, nhà tang lễ…) chứ không thực hiện khi đã an táng xong người quá cố. Việc đáp lễ tức là thay mặt người quá cố đáp trả lễ của người đến viếng. Chính vì vậy, với những người tham gia đám tang khi đi viếng thì số lần lạy trước đây bao nhiêu thì lạy đáp trả bất nhiêu, với ý nghĩa rằng bạn đang đáp lễ một cách đủ đầy.

Hy vọng rằng, những thông tin mà chúng tôi vừa chia sẻ trên đ ây, đã giúp cho cho bạn tháo gỡ được thắc mắc: Đi viếng đám tang như thế nào, vái lạy mấy lần ?

Nguyên Tắc: Cúng, Khấn, Vái, Và Lạy / 2023

II. Định-Nghĩa của Cúng, Khấn, Vái, và Lạy a. Cúng

Khi có giỗ Tết, gia-chủ bày hoa (bông) quả, nước, rượu, cỗ-bàn, chén bát, đũa, muỗng (thìa) lên bàn thờ rồi thắp nhang (hương), thắp đèn, đốt nến (đèn cầy), khấn, vái, hay lạy để tỏ lòng hiếu-kính, biết ơn, và cầu phước-lành. Đây là nghĩa rộng của cúng. Trong nghĩa bình-thường, cúng là thắp nhang (hương), khấn, lạy,và vái.

b. Khấn (*)

Khấn là lời cầu-khẩn lầm-rầm trong miệng khi cúng, tức là lời nói nhỏ liên-quan đến các chi-tiết về ngày tháng năm, nơi-chốn, mục-đích buổi cúng lễ, cúng ai, tên những người trong gia đình, lời cầu xin, và lời hứa. Sau khi khấn, người ta thường vái vì vái được coi là lời chào kính-cẩn. Người ta thường nói khấn vái là vậy. Trong truyện Kiều, Nguyễn Du dùng từ khấn vái trong câu “Lầm rầm khấn vái nhỏ to,/ Sụp ngồi đặt cỏ trước mồ bước ra.” (câu 95-96)

c. Vái

Vái thường được áp-dụng ở thế đứng, nhất là trong dịp lễ ở ngoài trời. Vái thay thế cho lạy ở trong trường hợp này. Vái là chắp hai bàn tay lại để trước ngực rồi đưa lên ngang đầu, hơi cúi đầu và khom lưng xuống rồi sau đó ngẩng lên, đưa hai bàn tay xuống lên theo nhịp lúc cúi xuống khi ngẩng lên. Tùy theo từng trường-hợp, người ta vái 2,3,4, hay 5 vái (xem phần sau).

d. Lạy

Lạy là hành-động bày tỏ lòng tôn-kính chân-thành với tất-cả tâm-hồn và thể-xác đối với người trên hay người quá-cố vào bậc trên của mình. Có hai thế lạy: thế lạy của đàn ông và thế lạy của đàn bà. Có bốn trường hợp lạy: 2 lạy, 3 lạy, 4 lạy, và 5 lạy. Mỗi trường hợp đều có mang ý-nghĩa khác nhau.

Có thể quì bằng chân phải hay chân trái trước cũng được, tùy theo thuận chân nào thì quì chân ấy trước. Có điều cần nhớ là khi quì chân nào xuống trước thì khi chuẩn-bị cho thế đứng dậy phải đưa chân đó về phía trước nửa bước và tì hai bàn tay đã chắp lại lên đầu gối chân đó để lấy thế đứng lên. Thế lạy theo kiểu này rất khoa-học và vững-vàng. Sở-dĩ phải quì chân trái xuống trước vì thường chân phải vững hơn nên dùng để giữ thế thăng-bằng cho khỏi ngã. Khi chuẩn-bị đứng lên cũng vậy. Sở-dĩ chân trái co lên đưa về phía trước được vững-vàng là nhờ chân phải có thế vững hơn để làm chuẩn.

Thế lạy phủ-phục của mấy nhà sư rất khó. Các Thầy phất tay áo cà sa, đưa hai tay chống xuống ngay mặt đất và đồng-thời quì hai đầu gối xuống luôn. Khi đứng dậy các Thầy đẩy hai bàn tay lấy thế đứng hẳn lên mà không cần phải để tay tỳ lên đầu gối. Sở dĩ được như thế là nhờ các Thầy đã tập-luyện hằng-ngày mỗi khi cúng Phật. Nếu thỉnh-thoảng quí cụ mới đi lễ chùa, phải cẩn-thận vì không lạy quen mà lại bắt chước thế lạy của mấy Thầy thì rất có thể mất thăng-bằng.

Cũng có một số bà lại áp dụng thế lạy theo cách quì hai đầu gối xuống chiếu, để mông lên hai gót chân, hai tay chắp lại đưa cao lên đầu rồi giữ hai tay ở thế chắp đó mà cúi mình xuống, khi đầu gần chạm mặt chiếu thì xòe hai bàn tay ra úp xuống chiếu rồi để đầu lên hai bàn tay. Cứ tiếp tục lạy theo cách đã trình bày trên. Thế lạy này có thể làm đau ngón chân và đầu gối mà còn không mấy đẹp mắt. Thế lạy của đàn ông có vẻ hùng-dũng, tượng trưng cho dương. Thế lạy của các bà có tính cách uyển-chuyển tha-thướt, tượng-trưng cho âm. Thế lạy của đàn ông có điều bất-tiện là khi mặc âu-phục thì rất khó lạy. Hiện nay chỉ có mấy vị cao-niên còn áp-dụng thế lạy của đàn ông, nhất là trong dịp lễ Quốc-Tổ. Còn phần đông, người ta có thói quen chỉ đứng vái mà thôi.

Thế lạy của đàn ông và đàn bà là truyền-thống rất có ý-nghĩa của người Việt ta. Nó vừa thành-khẩn vừa trang-nghiêm trong lúc cúng tổ-tiên. Nếu muốn giữ phong-tục tốt đẹp này, các bạn nam nữ thanh-niên phải có lòng tự-nguyện. Muốn áp-dụng thế lạy, nhất là thế lạy của đàn ông, ta phải tập-dượt lâu mới nhuần-nhuyễn được. Nếu đã muốn thì mọi việc sẽ thành.

a. Ý-Nghĩa Của 2 Lạy và 2 Vái

Hai lạy dùng để áp-dụng cho người sống như trong trường-hợp cô dâu chú rể lạy cha mẹ. Khi đi phúng-điếu, nếu là vai dưới của người quá-cố như em, con cháu, và những người vào hàng con em, v.v., ta nên lạy 2 lạy.

Nếu vái sau khi đã lạy, người ta thường vái ba vái. Ý-nghĩa của ba vái này, như đã nói ở trên là lời chào kính-cẩn, chứ không có ý-nghĩa nào khác. Nhưng trong trường- hợp người quá-cố còn để trong quan-tài tại nhà quàn, các người đến phúng- điếu, nếu là vai trên của người quá-cố như các bậc cao-niên, hay những người vào hàng cha, anh, chị, chú, bác, cô, dì, v. v., của người quá-cố, thì chỉ đứng để vái hai vái mà thôi. Khi quan-tài đã được hạ-huyệt, tức là sau khi chôn rồi, người ta vái người quá cố 4 vái.

Theo nguyên lý âm-dương, khi chưa chôn, người quá-cố được coi như còn sống nên ta lạy 2 lạy. Hai lạy này tượng-trưng cho âm dương nhị khí hòa-hợp trên dương-thế, tức là sự sống. Sau khi người quá cố được chôn rồi, phải lạy 4 lạy.

b. Ý-Nghĩa Của 3 Lạy và 3 Vái

Khi đi lễ Phật, ta lạy 3 lạy. Ba lạy tượng-trưng cho Phật, Pháp, và Tăng (xin xem bài về “Nghĩa Đích Thực của Quy Y Tam Bảo” đã được phổ biến trước đây và sẽ được nhuận sắc và phổ biến). Phật ở đây là giác, tức là giác-ngộ, sáng-suốt, và thông hiểu mọi lẽ. Pháp là chánh, tức là điều chánh-đáng, trái với tà ngụy. Tăng là tịnh, tức là trong-sạch, thanh-tịnh, không bợn-nhơ. Đây là nói về nguyên-tắc phải theo. Tuy-nhiên, còn tùy mỗi chùa, mỗi nơi, và thói quen, người ta lễ Phật có khi 4 hay 5 lạy.

Trong trường-hợp cúng Phật, khi ta mặc đồ Âu-phục, nếu cảm thấy khó-khăn trong khi lạy, ta đứng nghiêm và vái ba vái trước bàn thờ Phật.

c. Ý-Nghĩa Của 4 Lạy và 4 Vái

Bốn lạy để cúng người quá-cố như ông bà, cha mẹ, và thánh-thần. Bốn lạy tượng-trưng cho tứ-thân phụ-mẫu, bốn phương (đông: thuộc dương, tây: thuộc âm, nam: thuộc dương, và bắc: thuộc âm), và tứ-tượng (Thái Dương,Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm). Nói chung, bốn lạy bao-gồm cả cõi âm lẫn cõi dương mà hồn ở trên trời và phách hay vía ở dưới đất nương vào đó để làm chỗ trú-ngụ. Bốn vái dùng để cúng người quá-cố như ông bà, cha mẹ, và thánh thần, khi không thể áp-dụng thế lạy.

d.Ý-Nghĩa Của 5 Lạy và 5 Vái

Ngày xưa người ta lạy vua 5 lạy. Năm lạy tượng-trưng cho ngũ-hành (kim, mộc, thuỷ, hỏa, và thổ), vua tượng-trưng cho trung-cung tức là hành- thổ màu vàng đứng ở giữa. Còn có ý-kiến cho rằng 5 lạy tượng-trưng cho bốn phương (đông, tây, nam, bắc) và trung-ương, nơi nhà vua ngự. Ngày nay, trong lễ giỗ Tổ Hùng-Vương, quí-vị trong ban tế lễ thường lạy 5 lạy vì Tổ Hùng-Vương là vị vua khai-sáng giống nòi Việt.

Năm vái dùng để cúng Tổ khi không thể áp-dụng thế lạy vì quá đông người và không có đủ thì-giờ để mỗi người lạy 5 lạy.

IV Kết Luận

Phong tục có được là do thói quen mà mọi người đã chấp nhận, nhiều khi không giải thích được lý do tại sao lại như thế mà chỉ biết làm theo cho đúng thôi. Trong mỗi gia đình Việt Nam, dù theo đạo nào cũng vậy, chúng ta, con dân nước Việt, hãy cố gắng thiết lập một bàn thờ gia tiên. Có như thế, con cháu ta mới có cơ hội học hỏi cách thiết lập bàn thờ gia tiên, và hiểu được ý nghĩa của việc thờ cúng ra sao.

Thờ cúng là cách biểu thị lòng nhớ ơn tổ tiên cũng như lòng thương và hiếu thảo đối với ông bà cha mẹ. Đây là một truyền thống văn hóa tốt đẹp của người Việt mà chúng ta cần phải duy trì.

Khải-Chính Phạm Kim-Thư

(*) Góp ý thêm của TRANG CHỦ: Lời khấn vái là lời nói chuyện với người quá cố, do đó lời khấn là tấm lòng của người còn sống. thì muốn khấn sao cũng được. Tuy nhiên người xưa cũng đã đặt ra lễ khấn và lời khấn.

Lễ khấn gồm các thủ tục như sau: ( Chỉ nhớ đại khái mong quý vị cao niên dạy dỗ thêm cho để hiệu đính cho đúng để đời sau dùng)

1. Sau khi mâm cỗ đã đặt xong thì gia trưởng ăn mặc chỉnh tề (ngày xưa thì khăn đống áo dài) đi ra mở cửa chính. Ở xứ lạnh thì cũng phải ráng hé cửa chứ không đóng được cửa kín mít.

2. Sau đó phải khấn xin Thành Hoàng Thổ địa để họ không làm khó dễ Linh về hưởng lễ giỗ.

3. Và sau đây là một đoạn khấn theo lối xưa:

Duy …..quốc…..Tỉnh/Thị xa…. trang/gia tại… (số nhà). Việt lịch thứ 488…, thử nhật … (ngày âm lịch) húy nhật gia phụ/mẫu/Tằng tổ v.v. là Hiển khảo/Tỷ.. (tên) (cho đàn bà thì là hiển tỷ; với ông nội ngọai thì thêm chữ tổ – hiển tổ khảo/tỷ), Hiếu tử/nữ/tôn v.v là (Tên) tâm thành kính cáo thành hoàng và thổ thần bản địa, tiền chủ tiếp dẫn gia phụ mẫu/cô di v.v. (Người được giỗ hôm nay) đồng cung thỉnh Cao tằng tổ khảo, cao tằng tổ tỷ, liệt vị tổ tiên, hiển tổ khảo, hiển tổ tỷ, cô di tỷ muội, nội ngoại đồng giai lâm, tọa ngự linh sàn chứng giám. Cẩn cáo.

Cúng giỗ

Theo tập quán lâu đời, dân ta lấy ngày giỗ (ngày mất) làm trọng, cho nên ngày đó, ngoài việc thăm phần mộ, tuỳ gia cảnh và tuỳ vị trí người đã khuất mà cúng giỗ. Ðây cũng là dịp gặp mặt người thân trong gia đình trong dòng họ, họp mặt để tưởng nhớ người đã khuất và bàn việc người sống giữ gìn gia phong. Vào dịp đó người ta thường tổ chức ăn uống, nên mới gọi là ăn giỗ, thì cũng là trước cúng sau ăn, cũng là để cho cuộc gặp mặt đậm đà ấm cúng, kéo dài thời gian sum họp, kể chuyện tâm tình, chuyện làm ăn. Với ý nghĩa “Uống nước nhớ nguồn” việc đó có thể xếp vào loại thuần phong mỹ tục.

* Ngày cúng giỗ

Ngày giỗ theo âm Hán là huý nhật hay kỵ nhật, tức là lễ kỷ niệm ngày mất của tổ tiên, ông bà, cha mẹ, cũng có nghĩa là ngày kiêng kỵ. Nguyên ngày trước, “Lễ giỗ” gọi là “Lễ chính kỵ”; chiều hôm trước lễ chính kỵ có “lễ tiên thường” (nghĩa là nếm trước), con cháu sắm sanh một ít lễ vật, dâng lên mời gia tiên nếm trước. Ngày xưa, những nhà phú hữu mời bà con làng xóm ăn giỗ cả hai lễ tiên thường và chính kỵ. Dần dần hoặc vì bận việc hoặc vì kinh tế hoặc vì thiếu người phục dịch, người ta giản lược đi, chỉ mời khách một lần nhưng hương hoa, trầu rượu vẫn cúng cả hai lễ. Tóm lại, nếu vận dụng đúng phong tục cổ truyền phổ biến trong cả nước thì trước ngày chết (lễ tiên thường) phải cúng chiều, cúng đúng ngày chết (lễ chính kỵ) phải cúng buổi sáng.

* Mấy đời tống giỗ

Theo gia lễ: “Ngũ đại mai thần chủ”, hễ đến năm đời thì lại đem chôn thần chủ của cao tổ đi mà nhấc lần tằng tổ khảo lên bậc trên rồi đem ông mới mất mà thế vào thần chủ ông khảo. Theo nghĩa cửu tộc (9 đời): Cao, tằng, tổ, phụ (4 đời trên); thân mình và tử, tôn, tằng tôn, huyền tôn (4 đời dưới mình). Như vậy là chỉ có 4 đời làm giỗ (cao, tằng, tổ, phụ) tức là kỵ (hay can),; cụ (hay cô), ông bà, cha mẹ. Từ “Cao” trở lên gọi chung là tiên tổ thì không cúng giỗ nữa mà nhập chung vào kỳ xuân tế, hoặc phụ tế vào ngày giỗ của thuỷ tổ.

* Cúng giỗ người chết yểu

Những người đã đến tuổi thành thân, thành nhân nhưng khi chết chưa có vợ hoặc mới có con gái, chưa có con trai hoặc có con trai nhưng con trai cũng chết, trở thành phạp tự (không có con trai nối giòng). Những người đó có cúng giỗ. Người lo việc giỗ chạp là người cháu (con trai anh hoặc anh ruột) được lập làm thừa tự. Người cháu thừa tự được hưởng một phần hay toàn bộ gia tài của người đã khuất. Sau khi người thừa tự mất thì con cháu người thừa tự đó tiếp tự.

Những người chưa đến tuổi thành thân (dưới 16 hoặc dưới 18 tuổi, tuỳ theo tục lệ địa phương) sau khi hết lễ tang yết cáo với tổ tiên xin phụ thờ với tiên tổ. Những người đó không có lễ giỗ riêng, ai cúng giỗ chỉ là ngoại lệ. Có những gia đình bữa nào cũng xới thêm một bát cơm, một đôi đũa đặt bên cạnh mân, coi như người thân còn sốngtrong gia đình. Ðiều này không có trong gia lễ nhưng thuộc về tâm linh, niềm tưởng vọng đối với thân nhân đã khuất.

Giỗ tết, Tế lễ

Quan niệm cổ xưa không riêng ta mà nhiều dân tộc trên thế giới mọi vật do tạo hóa sinh ra đều có linh hồn, mỗi loại vật, kể cả khoáng vật, thực vật cũng có cuộc sống riêng của nó. Mọi vật trong tạo hoá hữu hình hay vô hình, cụ thể hay trừu tượng đều mang khái niệm âm dương, đều có giống đực giống cái. Ðó là xuất xứ tục bái vật hiện tồn tại ở nhiều dân tộc trên thế giới và một vài dân tộc ở miền núi nước ta.

Ở ta, hòn đá trên chùa, cây đa đầu đình, giếng nước, cửa rừng cũng được nhân dân thờ cúng, coi đó là biểu tượng, nơi ẩn hiện của vị thiên thần hay nhân thần nào đó. Người ta “sợ thần sợ cả cây đa” mà cúng cây đa, đó không thuộc tục bái vật. Cũng như người ta lễ Phật, thờ Chúa, quì trước tượng Phật, tượng Chúa, lễ Thần, quì trước long ngai của thần, nhưng thần hiệu rõ ràng, chứ không phải khúc gỗ hòn đá như tục bái vật.

Ngày nay chỉ còn lại vài dấu vết trong phong tục. Thí dụ, bình vôi là bà chúa trong nhà, chưa ai định danh là bà chúa gì, nhưng bình vôi tượng trưng cho uy quyền chúa nhà, nhà nào cũng có bình vôi. Khi có dâu về nhà, mẹ chồng tạm lánh ra ngõ cũng mang bình vôi theo, có nghĩa là tạm lánh nhưng vẫn nắm giữ uy quyền. Khi lỡ tay làm vỡ bình vôi thì đem mảnh bình còn lại cất ở chỗ uy nghiêm hoặc đưa lên đình chùa, không vứt ở chỗ ô uế.

Gỗ chò là loại gỗ quí, gỗ thiêng chỉ được dùng để xây dựng đình chùa, nhà thờ. Dân không được dùng gỗ chò làm nhà ở. Ngày xưa trong đám củi theo lũ cuốn về xuôi, nếu có gỗ chò, các cụ còn mặc áo thụng ra lạy.

Bạn đang xem bài viết Hướng Cẫn Cách Cúng Vái (Bái), Lạy Đúng? Ý Nghĩa Số Lần Vái Lạy? / 2023 trên website Iseeacademy.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!