Xem Nhiều 12/2022 #️ Những Điều Cần Biết Về Đạo Hoà Hảo / 2023 # Top 13 Trend | Iseeacademy.com

Xem Nhiều 12/2022 # Những Điều Cần Biết Về Đạo Hoà Hảo / 2023 # Top 13 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Những Điều Cần Biết Về Đạo Hoà Hảo / 2023 mới nhất trên website Iseeacademy.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Người sáng lập ra Phật giáo Hòa Hảo là ông Huỳnh Phú Sổ (1920 – 1947). Huỳnh Phú Sổ là con một gia đình địa chủ ở làng Hòa Hảo. Hồi nhỏ ông đi học và tốt nghiệp tiểu học, song do sức khỏe yếu nên ông phải bỏ học. Trong Quá trình chữa bệnh ông học được nhiều bài học thuốc nam. Sau đó ông nghiên cứu sấm Trạng Trình và tư tưởng môn phái Bửu Sơn Kỳ Hương của Phật Thầy Tây An. Ông tự xưng là bậc “sinh như tri” biết được nhiều việc của quá khứ và tương lai, được gặp và thọ mệnh của Phật A Di Đà, Ngọc Hoàng Thượng đế, Phật Thích Ca, xuống trần với nhiệm vụ truyền bá tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương để “chấn hưng Phật giáo, cứu độ chúng sinh khỏi sông mê, bể khổ về chốn Tây phương cực lạc”.

Quá trình phát triển của Phật giáo Hòa Hảo

Ra đời năm 1939 nhưng qua đến năm 1940 số tín đồ của Phật giáo Hòa Hảo có đến vài trăm ngàn người. Năm 1941, thực dân Pháp sợ Huỳnh Phú Sổ theo Nhật nên đã câu thúc ông tại Châu đốc rồi Cần Thơ, Bạc Liêu. Năm 1942, Nhật mua chuộc, lôi kéo đạo Hòa Hảo và đưa ông về Sài Gòn. Năm 1945, Huỳnh Phú Sổ được mời tham gia Ủy ban kháng chiến Nam Bộ với tư cách là đại diện cho đồng bào Phật giáo Hòa Hảo.

Năm 1946, những người lãnh đạo Hòa Hảo thành lập tổ chức “Việt Nam dân chủ xã hội đảng” gọi tắt là đảng Dân xã. Đây là một tổ chức chính trị. Cùng lúc, lực lượng vũ trang riêng của Phật giáo Hòa Hảo được thành lập lấy tên là bộ đội Nguyễn Trung Trực với một lực lượng gồm 7 chi đội vũ trang với khoảng 20.000 binh sĩ và 300.000 đội viên bảo an quân. Năm 1947, sau khi Huỳnh Phú Sổ chết, lực lượng vũ trang Hòa Hảo chia rẽ, mỗi nhóm cát cứ một vùng.

Đến năm 1954, tổng số tín đồ Phật giáo Hòa Hảo khoảng trên 1 triệu người.- Năm 1955, cuộc chiến tranh giữa các giáo phái ở miền Nam (Cao đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên) xảy ra do sự xúi bẩy và chia rẽ của Mỹ – Diệm, lực lượng vũ trang của đạo Hòa Hảo tan rã, đa số sát nhập vào quân đội VNCH. Từ năm 1964, Phật giáo Hòa Hảo được Mỹ – VNCH hỗ trợ nên phát triển nhanh. Đến năm 1975 tổng số tín đồ có khoảng hơn 2 triệu người.

Giáo lý Phật giáo Hòa Hảo

Giáo lý của đạo Hòa Hảo được thể hiện trong các bài sấm kệ do ông Huỳnh Phú Sổ soạn thảo trên cơ sở tiếp thu và nâng cao tư tưởng của Bửu Sơn Kỳ Hương của Phật Thầy Tây An, đồng thời chịu ảnh hưởng của xu hướng nhập thế của phong trào chấn hưng Phật giáo, của quan điểm đạo đức Nho giáo, Lão giáo. Nội dung giáo lý gồm hai phần: Học Phật và Tu nhân.

– Phần Học Phật: chủ yếu dựa vào giáo lý Phật giáo nhưng được giản lược bớt và có sửa đổi đôi chỗ, có 3 pháp môn chính là Ác pháp, Chân pháp và Thiện pháp

– Phần Tu nhân: Phần thực hành đạo đức “Tứ ân hiếu nghĩa” để tu thân. Đó là thực hành ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân tam bảo, ân đồng bào và nhân loại.

Về tổ chức và lễ nghi

Đạo Hòa Hảo không có đội ngũ giáo sĩ và hàng ngũ giáo phẩm. Đạo Hòa Hảo có Tổ đình ở làng Hòa Hảo là trung tâm của đạo mang tính gia tộc. Song đạo này không xây dựng chùa chiền, tạc tượng, ảnh thờ. Việc thờ phụng và hành đạo rất đơn giản, thờ phụng chủ yếu tại gia đình. Mỗi gia đình theo đạo Hòa Hảo thờ một tấm Trần điều (trước kia là tấm vải mầu đỏ, nay là mầu nâu sẫm còn gọi là mầu trầu già) ở trang thờ đặt gian chính giữa, còn ngoài sân trước nhà có một bàn thờ thông thiên. Điều đó thể hiện tư tưởng “Phật tại tâm, tâm tức Phật”. Lễ vật chỉ có hương hoa và nước mát. Ban đêm thắp đèn ở trang thờ và bàn thông thiên. Đạo Hòa Hảo không đọc kinh kệ của Phật giáo, chỉ đọc sấm giảng của giáo chủ Huỳnh Phú Sổ soạn và niệm 6 chữ Nam mô A Di đà Phật để tĩnh tâm.

Đạo Hòa Hảo còn có những quy định khác về tôn giáo, gia đình và xã hội. Chẳng hạn: đạo Hòa Hảo quy định người nhập môn phải tuyên thệ giữ gìn một đời, một đạo cho đến ngày chung thân. Nam tín đồ thường để râu, tóc “búi” để thể hiện chữ hiếu với ông bà tổ tiên, tín đồ phải ăn chay từ thấp đến cao, một ngày phải cầu nguyện và khấn lạy trước bàn thờ của đạo và bàn thông thiên 2 lần vào 2 buổi sáng tối, ngày ăn mặn phải kiêng ăn thịt chuột, thịt trâu, thịt hổ, thịt mèo…

Các ngày lễ của đạo Hòa Hảo (theo âm lịch) ngoài Tết Nguyên Đán, lễ Thượng nguyên, Phật đản, lễ Trung nguyên, Hạ nguyên còn có các lễ khai đạo (ngày 18/5), lễ vía Phật Thầy Tây An (ngày 12/8), lễ Phật A Di Đà (ngày 15/1), lễ sinh nhật ông Huỳnh Phú Sổ (ngày 25/11), lễ phật thành đạo (ngày 8 tháng Chạp).

Có thể nói Hòa Hảo là đạo Phật được cách tân theo hướng địa phương hoá. Với giáo lý hòa bình và thực hành đạo đơn giản nhưng trong phần lớn các thời kỳ phát triển của đạo, những người lãnh đạo của đạo này hoặc bị các thế lực chính trị lôi kéo hoặc bản thân họ cũng có nhiều tham vọng chính trị lớn nên trên thực tế, ở miền Nam trước ngày giải phóng (1975), đạo Hòa Hảo hoạt động chính trị nhiều hơn hoạt động tôn giáo.

Đạo Hòa Hảo trong những năm gần đây

Đạo Hòa Hảo ra đời trong tình hình chính trị phức tạp, từng bị các thế lực phản động lôi kéo lợi dụng. Trên thực tế sự lợi dụng này có lúc khá nặng nề, gây thiệt hại cho cách mạng và còn tạo ra tình trạng chia rẽ không bình thường trong nội bộ của đạo Hòa Hảo.

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, ngày 19/6/1975, Tổ đình đạo Hòa Hảo tuyên bố giải tán.

Ban trị sự các cấp, kêu gọi tín đồ tu tại gia như lúc đầu. Cho đến đầu năm 1999, đạo Hòa Hảo không có tổ chức giáo hội, tín đồ tu tại gia. Hàng năm đến ngày khai đạo (18 tháng 5 Âm lịch) các tín đồ tổ chức hành hương về Tổ đình (nơi sinh sống của gia tộc ông Huỳnh Phú Sổ).

Ngày 26/5/1999, Đại hội đại biểu đạo Hòa Hảo lần thứ I được tổ chức tại An Giang, thông qua chương trình đạo sự, quy chế tổ chức, hoạt động của Ban đại diện, đồng thời đã bầu ra Ban Đại diện nhiệm kỳ I và ngày 11/6/1999, Ban Tôn giáo của Chính phủ đã chấp thuận quy chế đạo Hòa Hảo, tổ chức hoạt động và nhân sự của Ban đại diện và cho đến nay, hoạt động của đạo Hòa Hảo đã trở nên bình thường.

Tags: Đạo Hòa Hảo, Văn hóa Việt

Bàn Thờ Của Đạo Phật Giáo Hoà Hảo Thờ Gì ? 8 Điều Răn Cấm Phật Giáo Hòa Hảo ! / 2023

Rate this post

Để thực hiện đúng lời chỉ dạy của Đức Thầy đối với tín đồ Phật giáo Hoà Hảo nhằm bài trừ những những mê tín dị đoan, bỏ nghi lễ phiền toái, giản dị hoá nghi thức thờ phượng nay tôi xin trích lại Phần Thờ Phượng nằm trong Quyển 6 “Tôn Chỉ Hành Đạo” hay “Cách Tu Hiền Và Sự Ăn Ở Của Một Tín Đồ Phật Giáo Hoà Hảo”

Bàn Thờ Của Đạo Phật Giáo Hoà Hảo Thờ Gì ? 8 Điều Răn Cấm Phật Giáo Hòa Hảo ! 6

Để thực hiện đúng lời chỉ dạy của Đức Thầy đối với tín đồ Phật Giáo Hoà Hảo nhằm bài trừ những những mê tín dị đoan, bỏ nghi lễ phiền toái, giản dị hoá nghi thức thờ phượng nay tôi xin trích lại Phần Thờ Phượng và Hành Lễ nằm trong Quyển 6 “Tôn Chỉ Hành Đạo” hay “Cách Tu Hiền Và Sự Ăn Ở Của Một Tín Đồ Phật Giáo Hoà Hảo”

THỜ-PHƯỢNG

Từ trước đến nay, các chùa chiền đã tạo ra quá nhiều hình tượng. Đành rằng vìtôn kính đấng Từ-Bi mới làm ra thờ-phượng Ngài, nhưng cũng có kẻ lợi dụng để thủlợi. Bây giờ chúng ta không nên tạo thêm nữa. Làm thế, chúng ta không có ý hủy-bángsự phượng thờ của các chùa-chiền. Cách thờ phượng ấy tùy theo điều-kiện các nhàsư mà chúng ta cũng có thể sùng-ngưỡng đặng. Nhưng riêng về cư-sĩ ở nhà khôngnên tạo thêm nữa; nên thờ đơn-giản cho lòng tin-tưởng trở lại tâm hồn hơn ở vàocác sự hào nhoáng bề ngoài. Từ trước chúng ta thờ trần điều là di tích của ĐứcPhật Thầy Tây-An để lại. Nhưng gần đây có nhiều kẻ thờ trần điều tự xưng cùngtông-phái với chúng ta, làm sái phép, sái với tôn-chỉ của Đức Phật, nên toàn-thểngười trong Đạo đổi lại màu dà. Lại nữa, từ trước đến giờ các sư dùng màu dà đểbiểu-hiện cho sự thoát tục của mình, và màu ấy là sự kết hợp của tất cả các màusắc khác, nên có thể tượng trưng cho sự hòa-hiệp của nhân-loại không phân biệtchủng tộc và cá-nhân. Vì vậy chúng ta dùng nó trong chỗ thờ-phượng để tiêu-biểucho tinh-thần vô thượng của nhà Phật.

Đang xem: Bàn thờ của đạo phật giáo hoà hảo

Bàn Thờ Của Đạo Phật Giáo Hoà Hảo Thờ Gì ? 8 Điều Răn Cấm Phật Giáo Hòa Hảo ! 7

Tín đồ PGHH đang thiết lập 3 Ngôi Thờ Trang Nghiêmcho đồng đạo

Nếu trong nhà chật, nội bàn Thông-Thiên với một lư hương không cũng được, bởivì sự tu hành cốt ở chỗ trau tâm trỉa tánh hơn là do sự lễ-bái ở ngoài. Còn ngườinào có cốt Phật ở trong nhà để vậy cũng đặng. Hình tượng bằng giấy không nên chừalại và phải đốt đi. Kẻ nào phải ở chung đậu với người khác không có tu hiền haykhông cùng một Đạo với mình, hoặc nhà cửa nhỏ hẹp quá không có chổ phượng thờ,thì đến giờ cúng kiếng chỉ vái thầm và niệm Phật trong tâm cũng đặng.

Bàn Thờ Của Đạo Phật Giáo Hoà Hảo Thờ Gì ? 8 Điều Răn Cấm Phật Giáo Hòa Hảo ! 8

Tín đồ PGHH thượng 3 ngôi thờ trang nghiêm và an vị chân dung Đức Thầy

Bàn Thờ Của Đạo Phật Giáo Hoà Hảo Thờ Gì ? 8 Điều Răn Cấm Phật Giáo Hòa Hảo ! 9

3 Ngôi thờ trang nghiêm

Về cách cúng Phật, chỉ nên cúng nước lạnh, bông hoa và nhang thôi. Nước lạnhtiêu-biểu cho sự trong sạch, bông hoa tiêu-biểu cho sự tinh khiết, còn nhang,dùng đặng bán mùi uế-trược. Ngoài ra chẳng nên cúng một món gì khác cả. Bàn thờông bà cúng món chi cũng đặng.Ngoài sự thờ Phật, tổ-tiên, ông bà, cha mẹ và những anh hùng của đất nước,không nên thờ vị tà thần nào khác mà mình không rõ căn-tích.

Bàn Thờ Của Đạo Phật Giáo Hoà Hảo Thờ Gì ? 8 Điều Răn Cấm Phật Giáo Hòa Hảo ! 10

Thờ phượng trang nghiêm xong tín đồ có thể thực hiện công phu bái lại

HÀNH LỄ

TANG LỄ

Lúc ông bà cha mẹ từ trần, tục để tang chúng ta vẫn giữ theo cổ lệ, chỉ cần sửađổi các sự như sau đây:Bây giờ chúng ta đã qui-y đầu Phật thì phải do sự thành-tâm cầu-nguyện, và đemsức khấn vái của anh chị em trong Đạo cầu nguyện cho vong linh người chết đượcsiêu-sinh nơi cõi thọ. Chẳng nên rước những ông thầy dưng bông, đốt giấy-tiềnvàng-bạc, xá phướn lầu kho, vì đó là chuyện tốn tiền vô ích, bởi vì ta nên nhận-địnhrằng xác thịt là hư -hoại, thì trong lúc chết chỉ đem chôn cất cho kín đáo đừngđể hôi thúi có hại cho người sống, như thế là đủ rồi. Còn hiếu-sự do hồi cònsanh tiền và do sự tu hành, sự thành tâm cầu nguyện chớ không phải có tiền rướcngười khác cầu nguyện mà đạt được hiếu-thuận nhơn-nghĩa. Chỉ vọng bàn giữa nhàhay giữa trời mà cầu nguyên, rồi im-lặng đi chôn.Về việc cúng kiến ông bà cha mẹ, có chi cúng nấy, trong những ngày kỷ-niệm theonhư tục lệ. Còn về việc đãi đằng hương-đảng thì tùy ý. Những điều nào xét ra giảntiện, ít lãng phí cứ làm.

CÁCH CẦU NGUYỆN CHO NGƯỜI CHẾT

Mỗi người đứng trước bàn thờ Phật niệm “Nam-mô Bổn-sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật”(ba lần), và Nam-Mô A-Di-Đà Phật (ba lần).Vái: “Phật-Tổ, Phật-Thầy, nay mình thành tâm cầu nguyện cho tên . . . . .. . . (tên người chết), nhờ ơn Đức Phật từ-bi cưú-độ vong-linh được thoát chốnmê-đồ, vãng- sanh miền Cực-lạc!” Trong lúc ở nhà hay trong lúc đưa đámtang gì cũng vậy, nếu có tổ-chức sắp hàng chắp tay niệm : “Nam-mô Tâyphương Cực-lạc thế giới tam-thập lục vạn ức, nhứt thập nhứt vạn, cửu thiên ngũbá đồng danh đồng hiệu đại-từ đại-bi tiếp dẫn vong linh A-Di-Đà Phật” (nếungười chết là nhà sư thì câu chót đọc : “Tiếp dẫn đạo sư A-Di-Đà Phật”).NÊN LƯU Ý: Tang-gia đừng nên khóc lóc, để tĩnh tâm cầu-nguyện cho người chết,vì khóc-lóc làm trở-ngại sự siêu-thoát anh-linh của người chết.

HÔN NHƠN

Bổn-phận cha mẹ phải chọn lựa đôi bạn cho con một cách xứng đáng bằng sựquan-sát tường tận về đức-tánh đôi trai gái. Không nên ép uổng con mình quáđáng, vì như thế làm cho khốn-khổ nó về sau, nhưng cũng không nên để chúng quátự-do mà sự thiếu kinh-nghiệm làm cho đời chúng phải hư-hỏng.Nên bỏ tục-lệ thách giá đòi tiền và đòi lễ vật. Thông-gia hai bên không nên làmkhó cho nhau. Cũng chẳng nên bày ra tiệc, lễ linh-đình tốn kém nhiều tiền, làmcho trở nên nghèo khổ.

Những Điều Cần Biết Về Lễ Phật Đản / 2023

Nguồn gốc lễ Phật Đản

Lễ Phật Đản là ngày kỷ niệm Đức Phật đản sinh tại vườn Lâm Tỳ Ni, năm 624 trước Công nguyên, diễn ra vào ngày 15 tháng 4 Âm lịch trong năm. Theo truyền thống Phật giáo Đông Á, ngày này chỉ là ngày kỷ niệm Phật đản sinh; tuy nhiên, theo Phật giáo Nam truyền và Phật giáo Tây Tạng thì ngày này là ngày Tam hiệp (Phật đản, Phật thành đạo và Phật nhập Niết bàn). Trước năm 1959, các nước Đông Á thường tổ chức ngày Lễ Phật đản vào ngày mồng 8 tháng 4 âm lịch. Nhưng đại hội Phật giáo thế giới lần đầu tiên tại Colombo, Tích Lan từ 25 tháng 5 đến ngày mồng 8 tháng 6 năm 1950, gồm 26 nước là thành viên đã đi đến thống nhất ngày Phật đản quốc tế là ngày rằm tháng tư Âm lịch; là ngày vui của Phật tử trên toàn thế giới. Các Phật tử mừng ngày Phật đản để tưởng niệm đến đấng Cha Lành, với lòng từ bi vô hạn, Ngài đã hành đạo nhiều vô số kiếp để tìm ra con đường giải thoát cho Ngài và cho chúng sinh.

Trong Lễ Phật đản, sau khi tụng kinh và làm các thủ tục, người ta đem tắm phật bằng thứ nước thơm, rồi lau bằng một chiếc khăn lụa đỏ, sau đó xé ra chia cho mỗi người một mảnh để làm “phước”, trừ ốm đau bệnh tật.

Thấy duyên chứng ngộ đạo quả Bồ đề đã đầy đủ, Đức Phật giáng sinh xuống cõi Ấn Độ, vào bào thai của hoàng hậu Maya, vợ vua Tịnh Phạn thuộc dòng Thích Ca. Lúc bấy giờ, Ấn Độ là một nước rất văn minh, có Tịnh Phạn Vương là bậc hiền nhân và hoàng hậu Maya là người tài sắc, đức hạnh vẹn toàn.

Gần 10 tháng sau, một buổi sáng khi hoàng hậu đang cùng người hầu trên đường về quê mẹ đẻ chuẩn bị cho kỳ sinh nở, bà vào nghỉ chân ở vườn Lâm Tỳ Ni. Cảnh vườn tuyệt đẹp, cây cao, bóng mát, chim xanh ríu rít, hoa nở khắp nơi. Khi nàng đến vịn vào cây sala, Đức Bồ tát liền nhẹ nhàng đản sinh. Ngài vững vàng bước đi 7 bước, tuyên bố:

“Trên thiên giới, dưới người trần thế Chỉ có ta cao quý phi thường Thân này kiếp chót Pháp Vương, Không còn trở lại con đường tử sanh”.

Đất trời hoà nhạc, muôn hoa đón chào ánh quang minh tỏa rực khắp nơi nơi, mọi chúng sinh nghe lòng hoan lạc. Quả đất động lòng rung chuyển. Khi đó là ngày rằm tháng tư (Âm lịch), cách đây 2.543 năm.

Lớn lên, Ngài là một vị hoàng tử khôi ngô tuấn tú, văn võ toàn tài, thông minh xuất chúng, được vua cha cưng chiều hết mực. Nhà vua cho xây ba tòa cung điện thật đẹp để hoàng tử ở theo ba mùa nóng, lạnh và mưa, lại thêm ba hồ sen xanh, đỏ, trắng tỏa ngát sắc hương. Vườn hoa xinh đẹp luôn được chăm sóc cẩn thận với muôn ngàn hoa thơm cỏ lạ. Y phục Ngài mặc đều là lụa thượng hảo xứ Kasi. Đội vũ nhạc xinh đẹp luôn luôn đem niềm vui đến cho hoàng tử. Bao vây Ngài toàn là những thứ thích ý vừa lòng. Tất cả những gì xấu xa, khổ đau, già úa đều bị ngăn cấm, không được diễn ra trước mắt Ngài. Cho dù vậy, Ngài không hề say đắm trong những xa hoa này. Trong tâm Ngài, lòng từ bi lúc nào cũng ngút ngàn và trí tuệ luôn sáng tỏ.

Nhân duyên đưa đến. Một hôm khi cùng người hầu ngự xe ngựa đi dạo phố, tình cờ Ngài gặp cảnh già, bệnh, chết. Nhận thức rằng cuộc đời này thật không bền vững, nó bị sự chi phối của vô thường và khổ não mà sự vinh hoa chẳng qua chỉ là một chút hạnh phúc ảo huyền, nên từ đó Ngài hàng suy tư và tìm cách thoát khổ.

Một hôm vào lúc nửa đêm, Ngài yên lặng đến nhìn vợ con lần cuối trước khi giã từ. Lòng từ bi của Ngài đối với họ thật nhiều, nhưng tâm từ bi của Ngài đối với chúng sinh đau khổ còn nhiều hơn. Ngài muốn cho mọi người thật nhiều hạnh phúc. Và điều hạnh phúc ấy là hạnh phúc thoát khỏi vòng sinh tử, chấm dứt mọi khổ đau.

Hoàng cung đêm đó thật yên tĩnh. Mọi người đang ngủ say. Đêm khuya trong vắt như pha lê. Trên trời lấp lánh muôn ngàn vì sao dẫn lối. Với ngọn đuốc thiêng rực sáng trong tim mình, Ngài thắng ngựa thẳng tiến vào màn đêm.

Đức Phật xuất gia vào lúc 29 tuổi.

Ngài đã gặp rất nhiều đạo sỹ và học theo họ. Ngài nhanh chóng lĩnh hội được các giáo lý của họ. Song Ngài không thoả mãn mà luôn luôn đi tìm đường tu luyện cao hơn. Về sau, Ngài gặp 5 vị đạo sỹ chuyên cần tu theo phương pháp khổ hạnh, Ngài cũng thực hành theo. Sáu năm khổ hạnh, Ngài chịu nóng, chịu lạnh, thực hành nhiều cách khổ đau. Ăn uống quá ít ỏi, một hôm Ngài đuối sức té ngã. Tỉnh lại, nhận thức rằng con đường khổ hạnh hành xác không phải là con đường giải thoát, Ngài tắm rửa rồi dùng thực phẩm trở lại. Từ đó Ngài chọn lối tu bằng con đường trung đạo, là con đường không theo ái dục, cũng chẳng thiên về khổ hạnh hành hạ xác thân.

Một hôm, khi đang ngồi tham thiền dưới gốc cây đại thọ, Ngài được nàng Sujata để chút sữa trong bát vàng dâng cúng. Dùng sữa xong, Ngài thả bát vàng xuống sông phát nguyện: “Nếu như ta chứng được đạo quả Bồ đề thì bát vàng hãy trôi ngược dòng sông!”. Thật nhiệm mầu! Cái bát như có linh tính liền ngược dòng trôi trở lên.

Phấn khởi, Đức Phật chọn ngồi tham thiền dưới một cội cây tỏa bóng râm rộng lớn. Ngài nguyện: “Cho dù thịt có khô và máu có cạn, nếu không giác ngộ ta quyết không rời nơi đây!”.

Với lời nguyện vững chắc, Ngài tĩnh tọa tham thiền dưới cây đại thọ. Không bao lâu, tâm Ngài đi vào các tầng thiền định. Ngài thấy vô số kiếp, Ngài thấy sự sinh diệt của thế giới, hết thế giới này đến thế giới khác, các thế giới nối tiếp nhau sinh diệt khôn cùng.

Ngài thấy chúng sinh chết chỗ này lại tái sinh chỗ kia. Ngài thấy chúng sinh trong các nẻo tử sinh thọ khổ thọ lạc tùy theo nghiệp báo. Người giàu sang quý phái, kẻ hạ tiện bần cùng, đều thọ nhận quả báo do nhân lành hoặc dữ mà họ đã tạo. Nghiệp tốt hay xấu đi theo họ như bóng theo hình, ai gieo nhân nào thì gặt quả ấy. Những ai sống theo đường lối bất chính, cướp của, giết hại chúng sinh, tà dâm, uống rượu mê say… phải bị đọa sinh vào ác đạo.

Sao mai vừa mọc, ngày này cũng là ngày trăng tròn tháng tư âm lịch, cũng là ngày Đức Phật đản sinh. Lúc này Ngài vừa tròn ba mươi lăm tuổi. Vầng dương quang hoan hỉ đón mừng vị Pháp Vương vừa thành đạo. Tự thân Ngài hào quang sáu màu tỏa ra ngời sáng.

Từ nay chúng sinh sẽ có duyên đi đến nơi dứt khổ như Ngài. Thật là hạnh phúc! Đất trời nổi nhạc, muôn hoa đón mừng.

Từ đó về sau, Đức Phật không ngừng truyền bá giáo pháp của Ngài cho chúng sinh. Ngài dạy chúng sinh lý Tứ Diệu Đế:

“Đây là khổ

Đây là nguyên nhân sanh khổ,

Đây là sự dứt khổ,

Và đây là con đường đi đến nơi chấm dứt khổ đau”

Bốn mươi lăm năm sau, khi Đức Phật được tám mươi tuổi, Ngài nhập Niết bàn trước sự chứng kiến của rất nhiều thánh nhân đệ tử của Ngài, loài người lẫn chư thiên. Ngày ấy cũng là ngày rằm tháng tư âm lịch, cùng ngày Đức Phật đản sinh và ngày Ngài chứng quả Bồ đề.

Để tưởng niệm đến công đức của đức Thế Tôn, Phật tử khắp nơi đón mừng ngày Đức Phật đản sinh, ngày Đức Phật thành đạo và nhập Niết bàn. Do vậy, đây là ngày quan trọng nhất cho các hàng Phật tử trên toàn thế giới.

Ý nghĩa lễ Phật đản

Phật Đản còn gọi là Quán Phật Hội (hội tắm Phật), Giáng Đản hội (hội giáng sinh) đó là nghi thức tắm Phật. Ngày Phật đản tức là ngày Đức Phật Thích Ca ra đời.

Ngày Phật đản hay ngày Giáng sinh của Đức Phật, tiếng Pali gọi là Vesak. Vesak là tên của một tháng, thường trùng vào tháng năm dương lịch. Vesak cũng là tên của một ngày có ý nghĩa trọng đại nhất đối với hàng Phật tử khắp thế giới.

H.G. Wells, một học giả người Anh đã viết: Đức Phật là một nhân vật vô cùng giản dị, có Tâm Đạo nhiệt thành, tự lực một mình phấn đấu cho ánh sáng tươi đẹp, một con người sống, chứ không phải là một nhân vật của thần thoại, huyền bí, bên sau cái bề ngoài hơi ly kỳ thần thoại mà người đời hay gán cho Ngài, tôi chỉ thấy rõ một con người như bao nhiêu vị Giáo chủ khác. Ngài cũng truyền lại một tuyên ngôn, một hệ thống giáo lý rộng rãi khả dĩ, thích hợp cho tất cả loài người. Bao nhiêu ý niệm văn minh của ta ngày nay cũng hòa hợp được với giáo lý ấy. Ngài dạy rằng, tất cả cái bất hạnh và phiền não của con người là do lòng ích kỷ mà ra, Ngài đã nhất định không sống riêng cho Ngài mà phải sống cho kẻ khác, từ đó Ngài sống một cuộc đời siêu nhân trên tất cả mọi người. Xuyên qua trăm, ngàn ngôn ngữ khác nhau.

Đức Phật dã dạy đức từ bi, hỷ xả gần 600 năm trước chúa Giesu ra đời. Đối với đời sống thực tại của ta cũng như đối với vấn đề trường tồn bất hoại của kiếp ta, Đức Phật đã tỏ ra biết trước. Thực vậy, Đức Phật đã nói:

“Ta là Phật đã thành, Các ngươi là Phật sẽ thành”.

Vậy mọi người trên thế gian này, nếu có tâm đạo, có ý chí quyết tâm, tu thân, tích đức, loại trừ cái tham, sân, si mà đi theo con đường Đức Phật đã vạch ra, thì cũng sẽ thành Phật, không phải như các huyền thoại khác lấy tôn giáo thần thánh hóa cá nhân để mê hoặc con người đi tìm một ảo tưởng vô hình. Đức Phật nói đúng, vì chính Phật cũng là một người như ta, nhưng Ngài đã vượt ra ngoài cái khuôn khổ của loài người để đi tìm một chân lý tối thượng hầu truyền lại cho con người đi theo con đường Chân, Thiện, Mỹ để tiêu diệt cái “Tâm độc ác, cái Trí ngu muội” trên trần gian, đem đến cho mọi người được thân tâm an lạc, thanh bình, thịnh vượng, hạnh phúc và có trí sáng tạo.

Một học giả, triết gia hiện kim người Anh có nói: “Đức Phật rõ là một nhân vật chủ trương thuyết phi thiên một cách cao thâm nhất từ cổ chí kim vậy”. Tựu theo giáo lý của Đức Phật, một học gia uyên thâm khác đã viết theo lời Phật dạy: “Thế giới là nhà ta, nhân loại là anh em ruột già ta, và vi thiện là đạo ta”. Từ hơn hai ngàn năm trăm năm về trước Đức Phật há chẳng nói: “Chớ nên làm ác, hãy làm lành, cố gắng lên, cố gắng làm cho tâm ngày càng trong sạch”. Đó là điều mà Đức Phật dạy chúng ta phải làm, chỉ có bấy nhiêu. Và chỉ nhờ có bấy nhiêu mà ta sẽ diệt được ba nạn là: Tham ái, sân hận, và si mê.

Để kỷ niệm ngày Đức Phật giáng trần và cũng là ngày đắc Đạo sau 6 năm khổ hạnh và 49 ngày tịnh tọa trên mớ cỏ khô dưới gốc Bồ Đề tại Bồ Đề Đạo Tràng (Buddagaya). Hàng năm cứ gần đến ngày rằm tháng tư âm lịch là toàn thể các tín đồ Phật giáo thuộc các giáo hội trên khắp thế giới nao nức tổ chức kỷ niệm ngày Phật đản sinh. Tại Hoa Kỳ các chùa, viện thuộc Bắc Tông, Nam Tông hay Đại Thừa và Tiểu Thừa, Mật Tông, hay Thiền Tông đều tổ chức trọng thể và trang nghiêm. Để nhắc nhở người con Phật ôn lại những răn dạy tinh hoa của Đức Thế Tôn, làm kim chỉ nam cho đời sống hiện tại cho mỗi người trên trần gian.

Mặt khác, khi nhìn lại lịch sử ta thấy bao nhiêu bạo lực độc ác của các đế quốc tàn bạo để nô lệ hóa con người, nhưng tất cả đã lần lượt tiêu tan theo thời gian ngắn ngủi. Chỉ có giáo lý của Đức Phật là còn tồn tại mãi mãi, bất diệt nơi tâm hồn của hàng triệu triệu người Phật tử nói riêng và nhân loại nói chung mỗi ngày một phát triển trên khắp năm châu.

Cúng Mụ Cần Những Gì? Những Điều Cần Biết Về Cúng Mụ / 2023

Bà Mụ là ai?

Bà Mụ được biết đến qua sự tích 12 Bà Mụ cũng chính là 12 vị nữ thần đi theo hầu Ngọc Hoàng, giúp đỡ Ngọc Hoàng trong quá trình cất công sáng tạo nên con người tại hạ giới. Nói dễ hiểu hơn, các vị nữ thần này đã theo lệnh của Ngọc Hoàng chịu trách nhiệm nắn tạo nên cơ thể con người khi người đó được lệnh cho đầu thai.

Sở dĩ có tới tận 12 Bà Mụ chứ không phải 1 là bởi vì theo quan niệm dân gian, mỗi bà sẽ lo mỗi việc khác nhau khi tạo dựng nên một đứa trẻ ví dụ như người tạo mắt, người nắn tai, người nắn mũi, người dạy bé cười,… Ngoài ra cũng có một số ý kiến giải thích khác cho rằng 12 Bà Mụ không làm việc riêng rẽ khi tạo nên một em bé mà các bà sẽ thay phiên nhau, 12 tháng trong 1 năm tính theo 12 con giáp để luân phiên nhau thực hiện nhiệm vụ cao cả là lo cho việc thai sản của con người. Vì có “công” là người tạo nên hình hài tính cách của đứa trẻ nên việc cúng các Bà Mụ để tạ ơn là việc không thể thiếu trong các dịp lễ quan trọng như đầy tháng, thôi nôi,…

Cúng Mụ cần những gì là đầy đủ và chuẩn xác nhất, cha mẹ hãy tham khảo ngay để có thể bày biện cho con một buổi lễ ý nghĩa. Thường trong văn hóa dân gian của người Việt, cúng Mụ được thực hiện bao gồm 12 phần cúng nhỏ và 1 phần cúng lớn lần lượt dành cho 12 Bà Mụ và Bà Mụ Chúa. Trong đó, các lễ vật bắt buộc phải chuẩn bị đầy đủ đó chính là:

Đồ vàng mã: Vàng mã để cúng nghi lễ này bao gồm những đôi hài, nén vàng và váy áo, lưu ý tất cả đều phải có màu xanh.

Đồ chơi: Chuẩn bị những bộ đồ chơi trẻ em bằng nhựa hoặc sành sứ (bát đũa, con giống, thìa chén, mũ nón,…)

Phẩm oản: Các phần phẩm oản bắt buộc phải chia đều thành 12 phần nhỏ và 1 phần lớn hoặc nhiều hơn một chút.

Đồ mặn: Đồ mặn được chuẩn bị công phu bao gồm các món ăn, xôi, gà luộc, cơm trắng, canh và rượu trắng.

Hương hoa: Cố gắng chuẩn bị những lọ hoa nhiều màu sắc khác nhau, bên cạnh đó còn phải có đủ tiền vàng, nước trắng và hương nhang.

Trầu cau: Về trầu thì tốt nhất là hãy tiêm cánh phượng với 12 miếng trầu, cau bổ tư và quan trọng là 1 miếng khác biệt hơn, để cau nguyên quả và to hơn.

Bánh keo: Tương tự như phẩm oản, cha mẹ hãy chia bánh kẹo thành 12 phần nhỏ và 1 phần lớn hơn.

Động vật: Chuẩn bị đầy đủ cua, ốc, tôm để sống, bao gồm 12 con có kích thước ngang nhau và một con lớn hơn, nếu không tìm ra con lớn hơn có thể thay thế bằng 3 con nhỏ. Khi thực hiện lễ ta để những con vật này vào bát và sau khi cúng xong ta hãy đem chúng đi phóng sinh.

Văn khấn chuẩn nhất khi cúng Mụ

Con kính lạy Đệ nhất Thiên tỷ đại tiên chúa.

– Con kính lạy Đệ nhị Thiên đế đại tiên chúa.

– Con kính lạy Đệ tam Tiên Mụ đại tiên chúa.

– Con kính lạy Thập nhị bộ Tiên Nương

– Con kính lạy Tam thập lục cung chư vị Tiên Nương

Hôm nay ngày…. Tháng….. năm….

Vợ chồng con tên là chúng tôi đã sinh được con (trai, gái) đặt tên …………..

Chúng con ngụ tại:……………………………………………

Nhân ngày đầy tháng (đẫy cữ hoặc đầy năm) chúng con thành tâm dâng hương hoa lễ vật và mọi thứ cúng bầy lên trước án, bàn tọa chư vị Tôn thân kính cẩn trình:

Nhờ ơn thập phương chư Phật, Thánh hiền, Tiên Bà, các thần linh, Thổ công địa mạch, Thổ địa, Tiên tổ nội ngoại, đã cho con sinh cháu tên………… sinh ngày…… được mẹ tròn con vuông.

Nay con cúi xin trước chư vị tiên Bà, chư vị Tôn thần, chứng giám lòng thành này mà thụ hưởng lễ vật, phù hộ độ trì và vuốt ve che chở cho cháu ăn ngoan, ngủ yên, hay ăn chóng lớn, vô bệnh tật, vô tai ương vô hạn, vô ách, phù hộ độ trì cho cháu được mọi sự tươi đep, thông minh, sáng láng, bình yên, con người cường tráng, kiếp kiếp hưởng vinh hoa phú quí.

Gia đình con được phúc thọ an khang luôn bình an tránh nghiệp dữ, bốn mùa không lo âu hạn ách.

Xin thành tâm cúi đầu, xin được chứng giám cho lòng thành.

Nam mô a di Đà Phật.

Bạn đang xem bài viết Những Điều Cần Biết Về Đạo Hoà Hảo / 2023 trên website Iseeacademy.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!