【#1】Sao Thái Tuế Chủ Về Hệ Tư Tưởng Và Sứ Mệnh Cứu Giúp Quần Chúng

Sao Thái Tuế là một vị tinh quân rất đặc biệt trong Tử Vi đẩu số. Mặc dù là một sao nhỏ, nhưng sao này rất quan trọng. Sao này dẫn đầu vòng sao Thái tuế trong một chu kỳ 12 sao gồm có Thái Tuế, Thiếu Dương, Tang Môn, Thiếu Âm, Quan Phù, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Bạch Hổ, Phúc Đức, Điếu Khách, Trực Phù.

Khái niệm Thái Tuế được sử dụng trong nhiều môn dự đoán học. Lĩnh vực Phong Thủy rất kỵ động thổ, xây dựng, tôn tạo tại phương vị Thái Tuế. Chẳng hạn năm Dậu, Thái Tuế ở phương chính Tây nếu động thổ, khởi công, xây dựng ở phương vị này thường gặp nhiều rủi ro, bất trắc.

Trong môn Tứ Trụ: Thái Tuế mỗi năm được xét rất kỹ lưỡng so với nhật nguyên, trụ tháng và trụ năm, thường thì hợp Thái Tuế tất may mắn, xung Thái Tuế tất hung họa, đặc biệt trường hợp nhật nguyên xung Thái Tuế thường là lành ít dữ nhiều.

Sao Thái Tuế trong Tử Vi: là một sao nhỏ, được an theo hệ thống năm sinh. Tuy là sao nhỏ nhưng ảnh hưởng của nó không hề nhỏ. Đặc biệt, phái Tử vi Thiên Lương rất coi trọng ngôi Thái Tuế.

Ngũ hành của sao Thái Tuế

Sao Thái Tuế thuộc hành Mộc, nhiều sách vở, tài liệu cho rằng sao này thuộc hành Hỏa (có lẽ vì tốc độ ảnh hưởng của nó nhanh chóng, mau lẹ như lửa đốt) điều này cần phải xem xét kỹ lưỡng thêm. Tuổi nào thì an sao Thái Tuế ở cung đó và sao này luôn luôn tam chiếu với Quan Phù, Bạch Hổ. Nếu cung Mệnh, cung Thân nằm trong thế có sao Thái Tuế tam hợp Thái Tuế thì người đó sinh ra nhằm đúng chu kỳ Mộc Tinh, họ có nhân phẩm cao thượng và nhân sinh quan vì cộng đồng, dân tộc, nhân dân…

Xét một cách kỹ lưỡng thì sao Thái Tuế chỉ hệ tư tưởng, nhân sinh quan, niềm tin và sứ mệnh cứu giúp quần chúng.

Tam chiếu với sao này là Quan Phù: nếu Thái Tuế là tư tưởng, lý luận, ngọn cờ nghĩa thì Quan Phù như một động thái hoặc một vai trò trong bộ máy này. Quan Phù chỉ sự suy xét cẩn thận, thấu đáo, tìm mọi cách, mọi biện pháp, chịu sự dày vò nội tâm trong việc thực hiện sứ mệnh mà Thái Tuế đề xướng. Cuối cùng là Bạch Hổ, sao này vốn là hung tinh, võ tinh, chỉ về hành động thực tiễn. Bạch Hổ chỉ hành động quyết liệt, bằng mọi giá phải thực hiện được những ý tưởng, sách lược do hai quan thầy trên đề ra. Là võ cách, chủ về hành động mang tính quyết liệt nên người có sao Bạch Hổ thường cứng rắn, quyết liệt thành ra dễ gặp sự phản đối của nhiều người và mang tiếng, hơn thế nữa đó là sự va vấp trong quá trình hành động.

Bên cạnh những quan điểm, cách nhìn nhận tốt đẹp về Thái Tuế của phái Thiên Lương thì không ít những ý kiến trái chiều. Hầu hết họ cho rằng Thái Tuế là hung thần, chỉ lý luận, biện bác, cãi vã, thị phi, thậm chí dễ dính mắc kiện tụng, hình pháp

Theo quan điểm của chúng tôi thì tinh diệu nào cũng có tính chất hai mặt. Mặt tích cực và mặt hạn chế. Giống như một người tiến thủ mạnh mẽ, dấn bước không ngừng trong cuộc sống, phấn đấu không mệt mỏi vì cộng đồng nhưng lại dễ bị coi là ham công danh, lợi lộc, thích nổi tiếng, yêu quyền hành, chức tước…

Trong một cấu trúc lá số: người ta không thể sử dụng một sao hay một nhóm sao để đoán định tất cả cát hung, thành bại được. Có người có Thái Tuế nhưng hung tinh hội tụ mạnh quá, thành ra giá trị tốt đẹp của nó mất đi, thay vào đó là thị phi, tai tiếng, kiện tụng, lao lý, tiếng xấu, chê bai. Đổi lại, nhiều người có cấu trúc tam hợp Thái Tuế cát lợi họ giương cao ngọn cờ, nguyện vọng, khát vọng vì nhân sinh vào vận cát lợi thường giành được những thành tựu rực rỡ, danh lưu kim cổ

Những điều lưu ý về hạn năm về sao Thái Tuế

Khi dự đoán hạn năm, ngoài sao Thái Tuế cố định được an theo tuổi thì còn có một sao đó là Lưu niên Thái Tuế, sao Lưu Niên Thái Tuế thay đổi luân phiên hàng năm, nó có tác dụng kích hoạt các sao cố định trở nên mạnh mẽ.

Ví dụ: năm có Lưu niên Thái Tuế tại cung Thiên Di của về biến động thường phải đi lại nhiều, thay đổi công việc, thay đổi chỗ ở, xuất ngoại đi xa, hơn nữa, sao này tam chiếu cung Phúc Đức và cung Phu Thê, quan hệ vợ chồng thường có biến động, họ hàng thường có những việc trọng đại. Tình hình tốt hay xấu phụ thuộc vào sự hội hợp của các sao và gốc đại vận.

Ý nghĩa của sao Thái Tuế khi tọa thủ tại các cung

Thái Tuế chủ sự trong nhà thiếu hòa khí, hay có sự tranh chấp. Cha mẹ và con không hợp tính nhau. Gia đình ly tán. Ngoài ra, cha mẹ thường hay mắc tai họa, đáng lo ngại là mắc kiện cáo.

Không được hưởng phúc dồi dào, khó tránh được tai họa. Trong họ thiếu hòa khí, thường có sự tranh chấp lẫn nhau.

Lận đận về nhà cửa, xích mích, bị lừa.

Hành nghề luật sư, giáo sư, trưởng tòa. Khi làm chính trị, thiên về đối lập. Hay chỉ trích và bị chỉ trích trong nghề nghiệp.

Ưa thích chơi với người có chức cao quyền rộng, hay kén chọn bạn bè

Thái Tuế chủ sự hay bị miệng tiếng khẩu thiệt trong việc giao thiệp. Hay bị kiện cáo, cãi vã với người ngoài.

Hay bị chuyện thị phi, kiện cáo, tù tội, đánh đập, mổ xẻ, tai nạn dọc đường

Hay gặp sự tranh chấp về tiền tài, dù có kiếm tiền nhanh, có lợi bất ngờ cũng hay sinh tai họa, rủi ro.

Con cái không hợp tính cha mẹ

Thái Tuế chủ về vợ chồng bất hòa, hay cãi vã, lắm lời. Có thể ly dị, ly hôn nếu gặp sao xấu, trừ phi vợ hay chồng làm nghề luật sư hay thẩm phán.

Thái Tuế chủ sự chiết giảm số anh chị em hai người. Trong gia đình thiếu hòa khí. Anh chị em thường xa cách nhau, lại có người phá tán chơi bời.

Sao Thái Tuế tuy là sao nhỏ nhưng vai trò và ảnh hưởng của nó rất lớn trong cấu trúc lá số Tử vi. Chính vì điều này, việc xem Tử vi cần đặt mối quan tâm đúng mức cho tinh diệu này.

【#2】Sao Thái Âm Chiếu Cung Phu, Nữ Qúy Sửu Không Lo Hạnh Phúc Gia Đình Tan Vỡ

Xưa nay người ta thường so tuổi nam nữ để dự đoán hôn nhân tốt xấu thế nào, thường là xét đến sự sinh khắc theo can chi, ngũ hành của hai tuổi. Tương sinh thì tốt, tương khắc thì xấu.

Chị sinh năm 1973, tuổi Quý Sửu. Anh sinh năm 1968, tuổi Mậu Thân. Về can, Mậu hợp với Quý là tốt. Về chi, Sửu với Thân không xung khắc với nhau. Tuổi Quý Sửu thuộc hành Mộc (Tang đố Mộc – gỗ cây dâu), khắc tuổi Mậu Thân thuộc hành Thổ (Đại dịch Thổ – đất thuộc một khu lớn) là xấu. Ấy là nói thế, nhưng cây không mọc trên đất thì mọc ở đâu, đất không cây nào mọc được thì quý giá gì!

Nếu quy ra Bát quái, tuổi anh thuộc quẻ Khôn, tuổi chị thuộc quẻ Càn, nam Khôn, nữ Càn lại là tốt đấy! Có người tuổi không khắc nhau, quẻ lại hợp nhau mà không sống được với nhau là vì sao? Là vì số phận của hai người, thể hiện qua các cung Phu Thê, cung Mệnh, Thân, Phúc Đức.

Cung Phu Thê tốt xấu thể hiện qua hai yếu tố là cung và sao. Trong 12 cung, có 1 cung được coi là xấu với bản mệnh. Tiểu vận đến cung đó thường xảy ra nhiều chuyện. Đó là cung Tý với mệnh Kim, cung Ngọ với mệnh Mộc, cung Dần với mệnh Thủy, cung Dậu với mệnh Hỏa và cung Mão với mệnh Thổ. Cung Ngọ thuộc quẻ Ly, cung Hỏa như cái lò lửa, hành Mộc là củi gỗ, đến cung này sẽ bị hao tiết (Mộc sinh Hỏa), không tốt.

Có phải cung Phu của chị là cung Ngọ nên chị mới ở vào hoàn cảnh khó khăn, bế tắc như vậy hay không? Không hẳn thế! Một người bạn tôi, mệnh thuộc quẻ Chấn, chồng mệnh thuộc quẻ Tốn là tốt. Mệnh Thủy, cung Phu ở cung Thân – cung Kim là tốt (Kim sinh Thủy). Thế mà vợ chồng cũng phải chia tay nhau.

Các hung tinh, sát tinh, bại tinh, hao tinh, Tuần Triệt ở cung Phu Thê cũng gây ra nhiều bất lợi trong cuộc sống vợ chồng. Ví dụ, cung Phu Thê có Phá Quân, có sách viết rằng trai lấy vợ hay ghen, gái lấy chồng bất nghĩa. Cung Thê có Tuần, Triệt gặp Thiên Mã – Triệt Tuần ngộ Mã ưu phiền, bỏ chồng vợ trốn đến miền xa phương. Có người cũng có cách ấy, nhưng vợ chồng vẫn sống với nhau hạnh phúc, tuy rằng cũng có lúc khó khăn.

Phú có câu: Tham, Dương (Kình Dương), Phá, Sát giai tam độ (“ba lần đò”), Trinh, Vũ, Dương, Đà hữu khắc ly (xung khắc hay bỏ nhau). Đâu phải ai có cách này vợ chồng cũng xung khắc, cũng phải đi ba lần đò đâu? Cung Phu của chị không có các sao nêu trên. Cung Phu của bạn tôi cũng không có các sao trên, nhưng cung Mệnh lại có những sao bất lợi cho hạnh phúc gia đình.

Xét về Thiên can, Địa chi, tuổi anh chị không hề xung khắc, qua bao năm chung sống, con cái chính là vốn quý của cả hai

Cung Mệnh cho biết những nét cơ bản nhất về số phận một người. Cung Mệnh dù tốt đẹp, nhưng lại có những sao cô độc, những sát tinh, bại tinh thì cũng bất lợi về cuộc sống gia đình. Ví dụ: Mệnh có sao Vũ Khúc đắc địa thì thông minh, có chí lớn, có tài tổ chức, có óc kinh doanh… nhưng hay tách biệt với người thân, nếu không khắc cha mẹ, anh em thì cũng khắc vợ (chồng), khắc con hay hiếm con.

Mệnh có Thái Âm đắc địa, nữ giới, là người có nhan sắc, đức độ, tài giỏi, đảm đang, vượng phu, ích tử. Mệnh có Kình Dương ở Tứ Mộ, thêm các sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp thì được hưởng phú quý, danh tiếng lừng lẫy. Thái Âm và Kình Dương đắc địa đi với nhau thì giỏi kinh doanh buôn bán, nhưng khó tránh được hình khắc chia ly. Bạn tôi ở vào trường hợp này. Cung Mệnh của chị không có những cách đó.

Cung Thân không có vị trí cố định, mà đóng cùng vào một chỗ với cung Mệnh, hoặc cung Phúc Đức, cung Tài… cho biết đương số chuyên chú vào đâu. Thân cư Mệnh thì tự lo lấy cho mình, có sao hưởng vậy. Thân cư Phúc Đức thì lấy hạnh kiểm, tư cách để chống đỡ với các tai họa ở đời. Thân cư Tài thì chỉ lo chuyện kiếm tiền, lấy của che thân…

Cung Thân có các sao hung, sát, bại, hao, Tuần Triệt thì cũng kém. Cung Thân của chị không có các sao ấy. Chị có cách Thân cư Tài, hay là chị chỉ mải lo chuyện kiếm tiền mà không để ý đến các chuyện khác trong nhà chăng? Người có Thiên Mã ngộ Triệt cung Thê tôi vừa nói ở trên, Mệnh, Thân không có gì đặc biệt, làm sao gia đạo tránh được đổ vỡ? Là bởi người đó có cung Phúc Đức tốt, là người ăn ở phúc thiện.

Người ta cho rằng cung Phúc Đức cho biết sự thọ yểu, cùng là sự thịnh suy, tụ tán của họ hàng, ngoài ra còn cho biết về âm phần mà mình chịu ảnh hưởng. Cung Phúc Đức chi phối 11 cung còn lại, những được mất, may rủi, thêm hay bớt, nặng hay nhẹ đều từ cung Phúc Đức tốt hay xấu mà ra.

Ở đời, không có cho làm gì có nhận! Phúc Đức nên được hiểu vừa là hưởng phúc, vừa là tạo phúc: Phúc là hưởng phúc, Đức là tạo phúc. Cung Phúc Đức của chị Vô chính diệu, nhưng được hai sao lành là Thiên Cơ, Thiên Lương chiếu. Thiên Cơ là thiện tinh, tính sáng suốt, khéo léo, mưu cơ, nhân hậu, từ thiện. Thiên Lương là thọ tinh, chủ phúc thọ, nhân hậu, khoan hòa, giải trừ bệnh tật, tai họa.

Mệnh chị có sao Long Đức, cung Phúc Đức lại có ba sao Đức là Phúc Đức, Thiên Đức, Nguyệt Đức, thế là thành Tứ Đức. Chữ Đức được chiết tự như sau: Chim chích mà đậu cành tre. Thập trên, tứ dưới nhất đè chữ tâm. Trong chữ Đức có chữ tâm, nghĩa là phải xuất phát từ tấm lòng mình. Để được chữ Đức thì mình phải chịu thiệt: Thiệt về điều ăn tiếng nói, thiệt về quyền lợi vật chất… Muốn được hưởng phúc dày cần phải tích đức hành thiện, ngoài ra không có cách nào khác.

Cung Phu của chị có sao Đào Hoa, mang lại vui vẻ, may mắn cho tuổi trẻ nhưng không đẹp với người lớn tuổi. Bộ sao Tứ Đức, sao Lộc Tồn có thể hóa giải tác dụng xấu đó, ngoài ra, còn có sao Hóa Khoa được mệnh danh là “đệ nhất giải thần”, sao Thiên Giải có khả năng cứu giải rất mạnh, vô hiệu hóa được cả Thiên Không, Địa Kiếp.

Vả lại, Triệt chỉ ảnh hưởng mạnh khi người ta còn trẻ, vào vận chỉ ảnh hưởng trong thời gian đầu của vận. Khi đó, cung Phu của chị lại được Thái Âm sáng sủa chiếu rọi, mọi chuyện sẽ êm đẹp, chị đừng lo nghĩ quá!

Mọi chuyện đã qua, được sao Thái Âm chiếu rọi nên việc gia đình chị rồi sẽ êm đẹp

Anh chị được 3 cháu đều tài năng, nghị lực, mẫn cán, có cá tính mạnh. Cháu trai đầu cung Mệnh ở Sửu, có Nhật Nguyệt đồng cung và các sao đẹp là Hóa Quyền, Tả Phụ, Hữu Bật, Ân Quang, Thiên Quý. Nhật Nguyệt đồng cung thì thông minh, phong nhã, tài giỏi. Hóa Quyền thì mạnh dạn. Tả Hữu đồng cung thì tài năng, khoan hòa nhân hậu. Quang Quý đồng cung ở Sửu thì may mắn trong đường đời: Sửu Mùi Quang Quý tương phùng tam sinh hữu hạnh.

Cung Quan của cháu có các sao Thiên Mã, Thiên Lương, Triệt thì hay phải đi làm chỗ này chỗ khác, đúng là làm nghề xây dựng. Cháu có Thân cư Tài mà cung Tài lại có cách Song Lộc thì khá giả.

Cháu gái cung Mệnh ở Mão, có saoThái Âm tuy không giàu có như anh cháu, nhưng cuộc đời cũng được phong lưu, và không phải lo ngại nhiều đến những sự chẳng lành xảy đến. Mệnh cháu có các sao Hóa Khoa, Thiên Khôi là thông minh, học giỏi, đỗ cao. Cung Quan giáp Văn Xương, Văn Khúc là có văn tài, có Tả Phụ, Hữu Bật là được nhiều người nâng đỡ trên đường công danh.

Cháu mệnh Kim, cung Quan lại ở cung Mùi là cung Thổ – Thổ sinh Kim – thì sẽ được làm công việc phù hợp với cháu. Sang năm, lưu Lộc Tồn ở cung Phúc là gặp may mắn, tiểu vận ở cung Điền có Đào Hoa, Hồng Loan là xin được việc làm. Cháu nên lấy chồng sinh năm 1985, 1986, 1989, 1993.

Cháu trai út cung Mệnh ở Tỵ, có các sao Thiên Mã, Trường Sinh – Thiên Mã nhập Mệnh mẫn tiệp đa năng (siêng năng và đa tài), Mã ngộ Trường Sinh thanh vân đắc lộ (đường công danh rộng mở). Mệnh cháu có cách Binh Hình Tướng Ấn: Tính cháu ít nói (Binh Hình nói chẳng hở răng), theo ngạch quân sự thì hợp.

Cháu có Triệt đóng giữa hai cung Phụ Mẫu và Phúc Đức thì nên lập nghiệp nơi xa – xa bố mẹ, xa quê hương bản quán. Cháu có Thân cư Thiên Di, cung Thiên Di có cách Song Lộc thì thích nay đây mai đó, ra ngoài ích lợi và thành đạt hơn ở nhà.

Chúc chị may mắn và hạnh phúc!

Nghĩa Thanh (Nguồn ảnh Baidu) (Theo Báo Người Giữ Lửa )

Theo Báo Người Giữ Lửa

【#3】Mùng 3 Tháng 3 Ngày Giỗ Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh

Mộ phần Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh tại thôn Vân Cát huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định.

Từ trung tâm Hà Nội, du khách lái xe hướng qua ra đường CT 01/ CT Pháp Vân – Cầu Giẽ. Đến đoạn giao giữa CT Hà Nội – Ninh Bình và CT Pháp Vân – Cầu Giẽ, lái xe qua vòng xuyến sang QL 21B vào Đại lộ Thiên Trường. Tại vòng xuyến Big C Nam Định, dẽ phải vào QL10/QL38B qua cầu Lộc An tới Đại Lộ Lê Đức Thọ qua cầu Nam Định dẽ phải vào ĐT490/ ĐT 490C, dẽ trái vào ĐT487 đến ngã rẽ phải thứ 5 dẽ vào và đi thẳng đến ngã dẽ thứ 4 bên trái dẽ vào đi thẳng theo đường làng Phú Hào là tới đền Phủ Giày.

Đền Phủ Giày thờ ai?

Đền là một quần thể gồm nhiều ngôi đền nhỏ ghép lại. Đặc biệt phải nói đến kiến trúc quan trọng nhất là đền thờ bà chúa Liễu Hạnh (phủ chính), ngay sát chợ Viềng. Các kiến trúc còn lại là Tiên Hương, Vân Các, Công Đồng từ, đền thờ Lý Nam Đế, chùa Linh Sơn, lăng bà chúa Liễu Hạnh. Phủ Tiên Hương được coi là đền chính của Mẫu Liễu Hạnh và thờ bên chồng của Mẫu, còn phủ Vân Cát và Phủ Tổ là nơi thờ Mẫu và bên ngoại (bên bố mẹ đẻ) của Mẫu.

Lịch sử đền Phủ Giày

Đền Phủ Dầy có truyền thuyết kể lại rằng xưa kia vì nhớ thương chồng con trước khi về trời mà bà chúa Liễu Hạnh đã để lại chiếc giày ở trần gian. Cũng có truyền thuyết kể lại rằng vua đi qua vùng này và nghỉ đêm ở quán hàng của bà chúa Liễu Hạnh, sau đó được tặng một đôi giầy nên đã lập nơi thờ tự và gọi đó là Phủ Dầy. Khi gọi Phủ Dầy còn vì chính nơi này có món bánh dày – giò nổi tiếng, lại có người cho rằng: Kẻ Dày xuất phát từ nơi có gò đất nổi lên hình bánh dầy trước cửa phủ.

Phủ Dầy bắt nguồn từ tên một làng cổ là “Kẻ giầy”. Theo “Sự tích công chúa Liễu Hạnh” của Trọng Nội, Xuất bản năm 1959 thì: đời Vua Anh Tông (1557) làng kẻ Giầy đổi thành xã An Thái gồm: Vân Cát, Vân Cầu, Vân La (Vân Đình) và Vân Miếu. Đến đời Gia Long, Vân Cát chia thành 2 xã là Vân Cát và Kim Thái. Sang đời Tự đức (1860) xã An Thái đổi thành 2 thôn Vân Cát và Tiên Hương xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Tỉnh Nam định.

Vân Cát là nơi sinh ra, Tiên Hương là quê chồng và là nơi chôn cất Mẫu Liễu Hạnh khi Bà qua đời sau lần giáng trần thứ nhất. Phủ Dầy chính là “cái nôi” sinh ra Thánh Mẫu Liễu Hạnh và là tên gọi chung cho một quần thể các di tích của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở huyện Vụ Bản Nam định. Tên di tích được gọi theo địa danh ở địa phương.

Kiến trúc đền Phủ Giày

Đền Phủ Giày gồm 3 quần thể chính:

Phủ Tiên Hương thuộc thôn Tiên Hương, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định; nằm cạnh đường giao thông liên xã. Đây là phủ chính trong quần thể di tích Phủ Dầy. Phủ được xây dựng từ thời Lê – Cảnh Trị (1663 – 1671), trải qua bao thăng trầm lịch sử, phủ vẫn giữ được nét cổ kính thời xưa.

Năm 1996 Phủ Tiên Hương đã được sửa chữa lớn để thờ phụ thân của Mẫu Liễu Hạnh và thờ cả đức Thánh Trần. Phủ Tiên Hương còn lưu giữ được một số sắc phong, sớm nhất là đời Lê Chính Hòa, rồi đến Lê Vĩnh Thịnh, Lê Vĩnh Khánh đầu thế kỷ XVIII.Thánh Mẫu được tôn là “Mạ vàng công chúa”, “Mẫu nghi thiên hạ”.

Cảnh quan của phủ rất rộng rãi và thoáng đãng. Mới bước vào, du khách sẽ thấy một giếng nước tròn bên trong là ụ đất để cắm cờ khi diễn ra lễ hội. Cán cờ bằng gậy gỗ, trên đầu buộc túm lá hoặc quạ đen làm thiên sứ của trời. Lá cờ thần được treo trên đỉnh. Tiếp đến là sân lớn diễn ra các trò chơi hay là nơi những sập bán hàng được bày bán trong mùa lễ hội. au sân lớn là ba phương đình với phương du ở giữa và hai bên phương đình làm nơi gác chuông, gác trống. Tiếp nối 3 phương đình là hồ bán nguyệt, xuống hồ bán nguyệt có hai cầu được lát bằng đá, đối xứng qua hồ, bên phải là nhà bia và lầu Cậu, bên trái là nhà bia và lầu Cô.

Kiến trúc các dãy nhà tại Phủ được nối liền nhau tạo thành thể thống nhất. Mỗi nhà sẽ có phòng riêng gọi là cung, có tất cả 4 cung: Cung đệ tứ thờ Tứ phủ công đồng hay còn gọi là ban Công Đồng. Đối xứng với cung Đệ Tứ bên trái là Ban Quan lớn Thủ phủ và bên phải là Ban Chầu Thủ phủ; cung đệ tam thờ Đức Vua cha Ngọc Hoàng và Hội Đồng các quan hay Ngũ vị vương quan; Cung đệ nhị thờ Tứ Vị Chầu bà và ba bộ long ngai; Cung Đệ nhất là cung thờ Tam Tòa Thánh Mẫu. Cung này ở trong cùng. Tuy nhiên, đa phần nơi thờ Mẫu Tứ phủ có nội cung (cung cấm).

Cung cấm có khám kính đặt tượng đồng Mẫu Liễu Hạnh cùng với hai Mẫu Quang cung Quế Anh phu nhân và Quỳnh cung Duy Tiên phu nhân đều được phong thần và sắc phong. Tuy nhiên, không phải lúc nào bạn cũng có thể vào đó được mà phải có sự cho phép của ban quản lý khu di tích mới được đặt chân vào đó.

Bên cạnh các dãy nhà thờ có 1 dãy nhà nữai là Ban Trần Triều. Trong dãy nhà này có đặt ban thờ Ban Trần Triều và Ban Đức Vương Phụ, Vương Mẫu. Đằng sau nơi thờ chính là Động Sơn Trang, nơi này thờ bà Chúa Đệ Nhị Thượng ngàn Hai Chầu và mười hai cô Sơn Trang.

Phủ nằm phía bắc thôn Vân Cát xã Kim Thái, cách phủ Tiên Hương chừng 1 km. Phủ nằm giữa đền làng Vân Cát và chùa Long Vân nơi thờ Phật, vì thế tạo nên một quần thể thờ Phật – Mẫu – Thần.

Văn bia “Thánh Mẫu cố trạch linh từ bi ký” được đặt ở Ngũ Vân Lâu trước phủ do Tổng tài quốc sư quán đời Nguyễn là Cao Xuân Dục soạn năm Thành Thái Tân Sửu (1901) viết về quá trình xây dựng phủ Vân Cát: ” .. .là một lầu cổ miếu, chọn đất dựng nền từ thời Lê Cảnh Trị (1633- 1671), làm đơn giản mà đẹp, Khoảng đời Cảnh Thịnh (1794- 1800) hội nguyên Trần Gia Du, thiếu tả giám Trần Công Bản đã mở rộng ra. đến năm Kỷ Mão (1879) đời Tự đức, quan huyện Lê Kỳ đã sửa lợp lại, đến năm Thành Thái thứ 12(1900) thì hoàn thành “.

Từ cổng bước vào, du khách sẽ gặp Ngũ Vân Lâu, gác chuông với 5 cổng lớn xây dựng từ năm Tự Đức. Phía trong là hồ bán nguyệt xây bằng đá. Giữa hồ bán nguyệt có phương du nằm ở giữa và có hai cầu đá dẫn ra ngoài. Phương du gồm có ba gian làm bằng gỗ lim, mái có góc uốn cong, xung quanh lan can được ghép bằng những tường hoa bằng đá với những mảng phù điêu trạm khắc một số loài hoa và những con voi. Phương du có bốn mặt thoáng, là nơi khách đứng xem kéo chữ vào ngày hội.

Bên trong phủ có 4 cung thờ: kết câu hai cung đệ nhất và đệ nhị đều có 3 gian, và cả 2 đều được xây từ năm Tự Đức (1879). Cả hai cung đều bị giặc Pháp phá hủy mãi về sau mới được tôn tạo lại.

Cung đệ nhất là chính cung khép kín thờ Tam Tòa Thánh Mẫu, tượng bằng đồng gồm có Mẫu Thượng Thiên ngồi giữa, Mẫu Thượng Ngàn bên trái, Mẫu Thoải bên phải.

Cung đệ nhị thờ Tứ vị chầu Bà và Tam tòa quan lớn, đặc biệt có hai khám hai bên thờ Ông Hoàng Mười (bên phải) và Ông Hoàng Ba (bên trái).

Trong Phủ còn dấu tích nhiều câu đối, đại tự, hoành phi có giá trị. Ngoài ra, nét độc đáo còn nằm ở văn bia cùng ngũ vân lâu ngay tại mặt chính của đền, các công trình bố trí chặt chẽ tạo thành thể thống nhất, giữ lại nét giá trị từ ngàn đời.

Lăng mộ Thánh Mẫu Liễu Hạnh

Lăng mộ Thánh Liễu Hạnh nằm ở thôn Tiên Hương trên cồn cá chép. Ngôi mộ trước kia là bãi đất với lùm cây xanh lá, sau đó được xây thành khu nhỏ gồm gạch lát đá. Sau đó, vua Bảo Đại cầu tự được con và được thánh Mẫu báo mộng cho, năm 1938, vua Bảo Đại biết ơn mẫu và cho trùng hưng lại lăng mộ với chất liệu bằng đá xanh và 60 búp sen hồng quy mô như hiện nay.

Hướng chính của lăng là hướng Tây quay về phía núi Tiên Hương. Từ ngoài vào bước theo bậc tam cấp lên đến mộ phải qua 5 lớp tường toàn bằng đá được chạm khắc, mỗi lớp tường vuông đều có cửa, cửa được bổ trụ bằng đá vuông với ba mặt đều khắc câu đối và phía trên đặt các nụ sen bằng đá hồng nhạt tới 60 nụ sen đá.

Xung quanh lăng mộ là hàng cây 4 mùa xanh mát, 4 cột trụ chính đặt 4 góc khiến lăng mộ càng thêm long trọng và trang nghiêm. Ngôi mộ được đặt ngay chính trung tâm và ở chỗ cao nhất của cả khu lăng. Tại bốn cửa ở bậc cuối cùng đều có một bức bình phong bằng đá án ngữ. Phía sau cửa chính, nằm về hai phía góc đối diện với cửa ra vào là hai nhà bia với bốn cột vươn lên.

Bên cạnh khu lăng mộ còn có một gian nhà thờ tự với kết cấu sau: Ban thờ Mẫu nằm chính giữa, từ ngoài bước vào thì bên phải ngay cạnh ban thờ Mẫu là ban thờ Bà Cai Bản mệnh, tiếp là ban thờ đức Thánh Trần. Bên trái của Ban thờ Mẫu là ban thờ quan lớn đệ nhất và ban thờ Nhị Vị Cô Nương.

Hàng năm vào mùa lễ hội, đền đón hàng ngàn khách du lịch về trẩy hội. Hòa chung không khí tấp nập của mùa lễ hội, dân làng và du khách càng thấy hứng khởi đón chào một năm mới đầy thắng lợi./

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Trong tín ngưỡng của người Việt và của một số dân tộc thiểu số khác ở trên lãnh thổ Việt Nam, việc tôn thờ nữ thần, thờ mẫu thần, thờ mẫu tam phủ tứ phủ là hiện tượng khá phổ biến và có nguồn gốc lịch sử và xã hội sâu xa. Tuy tất cả đều là sự tôn sùng thần linh nữ tính, nhưng giữa thờ nữ thần, mẫu thần, mẫu tam phủ tứ phủ không hoàn toàn đồng nhất.

Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam là một tín ngưỡng bản địa cùng với những ảnh hưởng ngoại lai từ đạo giáo, tín ngưỡng lấy việc tôn thờ Mẫu (Mẹ) làm thần tượng với các quyền năng sinh sôi, bảo trữ và che chở cho con người. Tín ngưỡng mà ở đó đã được giới tính hoá mang khuôn hình của người Mẹ, là nơi mà ở đó người phụ nữ Việt Nam đã gửi gắm những ước vọng giải thoát của mình khỏi những thành kiến, ràng buộc của xã hội Nho giáo phong kiến. Vào hồi 17h15 giờ địa phương (21h15 giờ Việt Nam) ngày 1/12/2016, tại Phiên họp Uỷ ban Liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 11 của UNESCO diễn ra tại thành phố Addis Ababa, Cộng hòa dân chủ Liên bang Ethiopia, di sản “Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” đã chính thức được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại./

Các dạng thức thờ Mẫu Thờ Mẫu ở Bắc bộ

Bắt nguồn từ tục thờ Nữ thần có nguồn gốc xa xưa từ thời tiền sử, tới thời phong kiến một số Nữ thần đã được cung đình hoá và lịch sử hoá để thành các Mẫu thần tương ứng thời kỷ từ thế kỷ 15 trở về trước với việc phong thần của nhà nước phong kiến, hình thức thờ Mẫu thần với các danh xưng như Quốc Mẫu, Vương mẫu, Thánh Mẫu như hiện tượng thờ Âu Cơ, Ỷ Lan, Mẹ Thánh Gióng, Tứ vị Thánh nương,…

Thờ Mẫu ở Trung Bộ Thờ Mẫu ở Nam bộ

So với ở Bắc Bộ, tục thờ Nữ thần và Mẫu thần có sự phân biệt nhất định với biểu hiện rõ rệt là thông qua tên gọi và xuất thân của các vị thần thì ở Nam Bộ sự phân biệt giữa hình thức thờ Nữ thần và Mẫu thần ít rõ rệt hơn, hiện tượng này được giải thích với nguyên nhân Nam Bộ là vùng đất mới của người Việt, khi di cư vào đây họ vừa mang các truyền thống tín ngưỡng cũ lại vừa tiếp nhận những giao lưu ảnh hưởng của cư dân sinh sống từ trước tạo nên bức tranh không chỉ đa dạng trong văn hoá mà còn cả trong tín ngưỡng

Những Nữ thần được thờ phụng ở Nam Bộ như Bà Ngũ Hành, Tứ vị Thánh nương, Bà Thuỷ Long, Bà Chúa Động, Bà Tổ Cô,…và những Mẫu thần được thờ phụng như Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Bà Chúa Ngọc, Bà Thiên Hậu,…

Liễu Hạnh công chúa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

(đổi hướng từ Mẫu Liễu Hạnh)

Bài viết này cần thêm chú thích nguồn gốc để kiểm chứng thông tin. Mời bạn giúp hoàn thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn đáng tin cậy. Các nội dung không có nguồn có thể bị nghi ngờ và xóa bỏ.

Đền thờ Thánh Mẫu, đường Ngô Quyền, thành phố Thông tin chung Đà Lạt

Tên thật Phạm Tiên Nga

Liễu Hạnh Công chúa ( chữ Hán: 柳杏公主) là một trong những vị thần quan trọng của tín ngưỡng Việt Nam. Bà còn được gọi bằng các tên: Bà Chúa Liễu, Liễu Hạnh (柳杏), Mẫu Liễu Hạnh (母柳杏) hoặc ở nhiều nơi thuộc vùng Bắc Bộ bà được gọi ngắn gọn là Thánh Mẫu.

Truyền thuyết

Theo truyền thuyết trong dân gian Việt Nam, Liễu Hạnh là một trong bốn vị thánh Tứ bất tử. Bà vốn là con gái thứ hai của Ngọc Hoàng Thượng đế, 3 lần giáng trần. Bà đã được các triều đại phong kiến từ thời nhà Hậu Lê đến thời nhà Nguyễn cấp nhiều Sắc, tôn phong là “Mẫu nghi thiên hạ – Mẹ của muôn dân” và cuối cùng quy y cửa Phật.

Lần giáng sinh đầu tiên

Căn cứ vào ” Quảng Cung linh từ phả ký”, ” Quảng Cung linh từ bi ký” và ” Cát Thiên tam thế thực lục” hiện đang lưu giữ ở địa phương do Ban quản lý di tích – danh thắng của tỉnh Nam Định sưu tầm và một số tài liệu trong Hội đồng khoa học lịch sử Nam Định thẩm định thân thế và sự tích bà Liễu Hạnh như sau:

Vào đầu thời nhà Hậu Lê, tại ấp Quảng Nạp, xã Vỉ Nhuế, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, trấn Sơn Nam; có ông Phạm Huyền Viên, người xã La Ngạn kết duyên cùng bà Đoàn Thị Hằng, người ấp Nhuế Duệ, cũng xã Vỉ Nhuế (nay là thôn Vỉ Nhuế, xã Yên Đồng, Ý Yên, tỉnh Nam Định).

Hai ông bà là những người hiền lành, tu nhân tích đức nhưng hiềm một nỗi đã ngoài 40 mà chưa có con. Một đêm rằm tháng hai, ông bà được thần báo mộng là Ngọc Hoàng sẽ cho con gái thứ hai là Công chúa Hồng Liên đầu thai làm con, từ đó bà có thai. Trước khi sinh, vào đêm ngày 6 tháng 3 năm Quý Sửu, trời quang mây vàng như có ánh hào quang. Ông Huyền Viên ngồi đợi tin mừng, bỗng như có một nàng tiên từ trong đám mây bước xuống thềm nhà, và bà sinh một bé gái. Vì vậy ông đặt tên con là Phạm Tiên Nga.

Phạm Tiên Nga càng lớn càng xinh đẹp, mọi việc nữ công gia chánh đều thành thạo, đảm đang. Đến năm 15 tuổi đã có nhiều người đến dạm hỏi nhưng nàng đều khước từ vì nàng còn phải ở nhà chăm sóc cha mẹ già yếu, canh cửi quán xuyến công việc gia đình.

Ngày 10 tháng 10 năm Nhâm Ngọ ( 1462), cha của nàng qua đời. Hai năm sau mẹ của nàng cũng về nơi tiên cảnh. Phạm Tiên Nga đã làm lễ an táng cha mẹ ở phía đông nam phủ Nghĩa Hưng (nay là thôn La Ngạn, ở đây có đền thờ cha và mẹ của Phạm Tiên Nga).

Sau ba năm để tang cha mẹ, lo mồ yên mả đẹp, Phạm Tiên Nga bắt đầu chu du khắp nơi làm việc thiện (lúc này Tiên Nga vừa tròn 35 tuổi).

Cùng với việc đắp đê, bà còn cho làm 15 cây cầu đá, khơi ngòi dẫn nước tưới tiêu, khai khẩn đất ven sông, giúp tiền bạc cho người nghèo, chữa bệnh cho người ốm, sửa đền chùa, cấp lương bổng cho các vị hương sư, khuyên họ cố sức dạy dỗ con em nhà nghèo được học hành.

Năm 36 tuổi, bà đến bờ Sông Đồi dựng một ngôi chùa trên mảnh vườn nhỏ, đặt tên là Chùa Kim Thoa. Bên trên thờ đức Nam Hải Quan Thế Âm Bồ Tát, bên dưới thờ cha và mẹ.

Sau đó hai năm, bà tới tu sửa chùa Sơn Trường – Ý Yên, Nam Định, chùa Long Sơn – Duy Tiên, Hà Nam, chùa Thiện Thành ở Đồn xá – Bình Lục, Hà Nam. Tại chùa Đồn xá, Bà còn chiêu dân phiêu tán, lập ra làng xã, dạy dân trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải.

Tháng Giêng năm Nhâm Thìn ( 1472), bà trở lại chùa Kim Thoa, và tháng 9 năm ấy, Bà trở về quê cũ cùng các anh chị con ông bác tu sửa đền thờ Tổ họ Phạm khang trang bề thế (nay còn đền thờ ở phía nam xóm Đình thôn La Ngạn). Sau đó Bà lại đi chu du ở trong hạt, khuyên răn bà con dân làng những điều phải trái.

Lần giáng sinh thứ hai

Ngay sau khi bà mất, nhân dân xã La Ngạn, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng đã lập đền thờ trên nền nhà cũ, gọi là Phủ Đại La Tiên Từ, Đồng thời quê mẹ của Người là xã Vỉ Nhuế cũng lập đền thờ để tưởng nhớ công lao của bà, gọi là Phủ Quảng Cung.

Lần này, Bà kết duyên với ông Trần Đào, sinh được một người con trai, tên là Nhân, một con gái tên là Hoà. Giữa lúc cả gia đình đang đầm ấm vui vẻ thì bỗng nhiên, vào đúng ngày, Bà mất ngày 3 tháng 3 năm Đinh Sửu, thời Lê Gia Thái thứ 5 ( 1577). Năm ấy, Bà mới 21 tuổi, tuyệt nhiên không bệnh tật gì. Lăng mộ và đền thờ ở Phủ Dầy, thôn Thiên Hương – Vân Cát, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định.

Hành thiện giúp đời

Giáng Tiên về trời đúng hạn định theo lệnh của Ngọc Hoàng. Nhưng khi nàng đã ở trên trời thì lòng trần lại canh cánh, ngày đêm da diết trong lòng nỗi nhớ cha mẹ, chồng con nên nàng muốn xuống trần gian lần nữa. Khi về đến nhà vừa đúng lúc gia đình đang làm giỗ mãn tang cho nàng, mọi người đều hết sức ngạc nhiên và vô cùng sung sướng. Nàng ôm lấy mẹ mà khóc, rồi kể hết sự tình, dặn anh hãy gắng lo chăm sóc cha mẹ, vì lần này xuống trần nàng không thể ăn ở như lần trước, rồi trở về nhà chồng. Liễu Hạnh gặp chồng, con cái mừng mừng tủi tủi. Nàng cũng kể rõ mọi chuyện cho chồng biết, khuyên chồng hãy cố gắng luyện chí, yên tâm theo đuổi sự nghiệp công danh, đừng quên chăm sóc con thơ, phụng dưỡng cha mẹ. Nàng quét dọn, sửa sang nhà cửa, may vá quần áo cho chồng cho con, rồi bỗng chốc lại thoắt biến lên mây… Cứ như thế, thỉnh thoảng nàng lại hiện về, làm xong các việc rồi lại biến đi. Ròng rã hàng chục năm sau, cho đến khi con cái khôn lớn và Đào Lang công thành danh toại, nàng mới từ biệt để đi chu du thiên hạ.

Tương truyền, ông đã gặp thần nữ là Liễu Hạnh công chúa cả thảy hai lần, và đều có xướng họa thơ: một lần gặp ở chùa Thiên Minh ( Lạng Sơn) khi ông đi sứ về, một lần ở Hồ Tây (nay thuộc Hà Nội) khi ông cùng với hai bạn họ Ngô và họ Lý đi chơi thuyền. Lần ở Hồ Tây, người tiên kẻ tục bèn làm thơ xướng họa liên ngâm, sau được nữ sĩ Đoàn Thị Điểm chép trong truyện “Vân Cát thần nữ” ở tập Truyền kỳ tân phả của bà. Theo nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân, thì bài thơ ấy được đặt tên là Tây Hồ quan ngư (Xem cá Hồ Tây). Bản tiếng Việt do Phan Kế Bính dịch có tên là Cảnh Hồ Tây.

Ông bèn lên tiếng ghẹo: 三木森庭,坐著好兮女子 – Tam mộc sâm đình, tọa trước hảo hề nữ tử.

Người con gái nghe vậy, đối ngay: 重山出路走來使者吏人 – Trùng sơn xuất lộ, tẩu lai sứ giả lại nhân.

Phùng Khắc Khoan hết sức kinh ngạc bèn nói tiếp: 山人憑一几,莫非仙女臨凡 – Sơn nhân bàng nhất kỷ, mạc phi tiên nữ tâm phàm.

c âu này có nghĩa: cô sơn nữ ngồi ở ghế, phải chăng là tiên nữ giáng trần? Nhưng lắt léo ở chỗ: chữ sơn và chữ nhân ghép lại thành chữ tiên . Chữ bàng có bộ kỷ . Chữ nhất và chữ kỷ ghép lại thành chữ phàm .

Cuộc tái hợp với Đào Lang- Người chồng kiếp trước

Hiện nay những câu đối, những dấu tích về 2 lần gặp gỡ tại Lạng Sơn và Phủ Tây Hồ còn lưu lại ở Đền Mẫu Đồng Đăng (nơi Phùng Khắc Khoan gặp Liễu Hạnh lần đầu) và Phủ Tây Hồ (lần gặp thứ hai)

Sau khi hóa về trời,do vẫn còn tâm nguyên giúp đời nên Tiên Chúa khẩn thiết xin Ngọc Hoàng Thượng đế cho trở lại cõi trần gian. Ngọc Hoàng Thượng đế lắng nghe và hiểu rõ tất cả. Ngài cho gọi hai thị nữ tin cậy là Quỳnh Hoa và Quế Hoa bảo cùng đi với Tiên Chúa.

Những sự việc ấy lọt đến tai vua Lê chúa Trịnh. Hai vị vua chúa cho rằng trước kia tiên vương thả “yêu nữ” ra là một sai lầm, bây giờ đã đến lúc cần phải thẳng tay trừng trị. Bởi vì không thể có luật lệ nào khác ngoài luật lệ của vua chúa và ai muốn làm gì cũng không được tự quyền. Thế là hai vị cho triệu hồi các thuật sĩ tài giỏi trong nước đến kinh đô trong đó có Tiền Quân Thánh (vốn là tướng nhà trời, do mắc lỗi, đã bị đày xuống trần làm con trai thứ ba của một vị thượng sư, sư tổ của phái Nội đạo tràng), giao cho dẫn một đội quân hùng mạnh, đến thẳng miền Phố Cát để đánh dẹp.

Biết là không thể chống cự lại được, Tiên Chúa bảo Quỳnh Hoa, Quế Hoa tìm cách trốn đi, còn tự mình cũng hóa phép thành đứa trẻ, rồi lại hóa phép thành con rồng có vẩy vàng vẩy bạc múa lượn trên không.

Lễ hội

Tiền Quân Thánh lúc ấy ngồi trên voi chín ngà niệm thần chú tung lưới sắt ra chụp lấy. Tiên Chúa bị bắt rồi hiện nguyên hình trở lại.

Cung thờ Sơn Trang trong Phủ Tây Hồ

Lễ hội Thánh Mẫu Liễu Hạnh hàng năm được tổ chức vào ngày 3 tháng 3 Âm lịch – ngày giỗ của bà.

Địa điểm là:

Đền Sòng Sơn ở đường Hàng Bột, Hà Nội

Lễ hội thường kéo dài vài tuần lễ. Riêng lễ hội Phủ Dầy, còn gắn liền với Hội chợ Viềng, họp vào ngày 7 tháng giêng./

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Tứ phủ công đồng hay Tứ phủ là một tín ngưỡng nằm trong của tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam. Tứ phủ bao gồm:

  • Thiên phủ (miền trời): mẫu đệ nhất (mẫu Thượng Thiên) cai quản bầu trời, làm chủ các quyền năng mây mưa, gió bão, sấm chớp.
  • Nhạc phủ (miền rừng núi): mẫu đệ nhị (mẫu Thượng Ngàn) trông coi miền rừng núi, ban phát của cải cho chúng sinh.
  • Thuỷ phủ (miền sông nước): mẫu đệ tam (mẫu Thoải) trị vì các miền sông nước, giúp ích cho nghề trồng lúa nước và ngư nghiệp.
  • Địa phủ (miền đất): mẫu đệ tứ (mẫu Địa Phủ) quản lý vùng đất đai, là nguồn gốc cho mọi sự sống.

Tam phủ và Tứ phủ Hát Chầu Văn

Tứ phủ được thờ tại hầu hết các chùa chiền ở miền Bắc Việt Nam. Tại điện Hòn Chén ở Huế, Thiên Y A Na, nguyên là một nữ thần của người Chăm, được nhập vào hệ thống tứ phủ và thờ làm Mẫu Thiên . Trong khi đó, nhiều tài liệu cho rằng ở miền Bắc, Mẫu Thiên lại là Liễu Hạnh Công chúa.

Đó là hình thức hầu đồng với 36 giá chầu:

Thỉnh Mẫu Và Quan Đệ Nhất

【#4】Cách Bài Trí Bàn Thờ Thần Tài

Trong cùng bàn thờ, dán trên vách là một tấm bài vị. Hai bên, bên trái (từ ngoài nhìn vào) là ông Thần Tài, bên phải là Ông Địa. Ở giữa hai ông là một hũ gạo, một hũ muối và một hũ nước đầy. Ba hũ này chỉ đến cuối năm mới thay. Giữa bàn thờ là một bát hương, bát hương này khi bốc phải theo một số thủ tục nhất định. Để tránh động bát hương khi lau chùi bàn thờ, các bạn nên dùng keo 502 dán dính bát hương xuống bàn thờ. Khi đang làm ăn tốt mà xê dịch bát hương gọi là bị động bát hương, mọi chuyện trở nên trục trặc liền.

Theo nguyên lý “Đông Bình – Tây Quả”, các bạn đặt lọ hoa bên tay phải, đĩa trái cây bên tay trái (Nhìn từ ngoài vào). Thường nên cắm hoa hồng, hoa cúc, hoa đồng tiền.

Trái cây nên sắp ngũ quả (5 loại trái cây). Thường ở ngoài nơi bán đồ thờ cúng, người ta có một cái khay xếp 5 chén nước hình chữ “nhất”, các bạn nên bỏ khay và xếp 5 chén nước thành hình chữ thập, tượng trưng cho ngũ phương, và cũng là tượng trưng cho Ngũ hành phát sinh phát triển.

Ông Cóc để bên trái (từ ngoài nhìn vào), sáng quay ông Cóc ra, tối quay ông Cóc vào. Ngoài cùng trên mặt đất, các bạn nên chọn một cái tô sứ thật đẹp, nông lòng, đổ đầy nước và ngắt nhửng bông hoa trải trên mặt nước (Cái này làm Minh đường tụ thủy – Một cách giữ tiền bọc khỏi trôi đi”.Trên nóc bàn thờ Thần Tài, người ta thường đặt tượng của Di Lặc Phật Vương hay các câu chú Phạn tự để tăng thêm phần bảo vệ cho gia chủ tránh khỏi tai ách.

Nguyên tắc đặt bàn thờ Thần Tài là từ bàn thờ, Thần Tài phải quản được hết sự vào ra của khách hàng. Có thể đặt theo hướng tốt của chủ nhà, có thể đặt theo cách hứng lấy dòng khí bên ngoài khi vào nhà. Có thể dùng phương pháp Điểm Thần Sát để tính, chọn lấy các cung Tiên lộc, Quý nhân để đặt vị trí bàn thờ.

Lộc là phương Lâm quan của Tuế Can, tính của Ngũ hành, lâm quan tới cát. Lâm quan là thời đương thịnh, đang lên phơi phới, gần tới Vượng.Bàn thờ theo cung này là cát khánh, rất tốt. Lộc ra chính môn sẽ đem lại nhiều may mắn về tiền bạc, gia sản thăng tiến, điền trang vượng. Thường sinh người béo tốt, thông minh, tuấn tú lại khéo léo, tài năng kinh doanh giỏi, làm ăn tiến phát.

Quý Nhân Thiên Ất là vị Thần đứng đầu cát Thần, hết sức linh mà có thể chế ngự được mọi chỗ động, chí tôn mà có thể trấn dược phi phù. Nhà có chính môn ra Quý là đại cát khánh, gia đạo bình an, hòa thuận, hỷ khí đầy nhà, luôn gặp may mắn. Quý nhân là sao cứu trợ, là Thần giải tai ách, nên nhà ra Quý nhân là gặp việc có người giúp đỡ, gặp tai ách có người giải cứu, gặp hung hóa cát. Sự ngliệp hiển vinh, công danh thành đạt, dễ thăng quan, tiến chức, học hình ti li cử nhất nhất đều tốt đẹp. Quý nhân gặp Sinh, Vượng, thường sinh người hiếu lễ, tướng mạo phi phàm, tính tình nhanh nhẹn, lý lẽ phân minh, thẳng thắn mà ôn hòa, khôi ngô tuấn tú.

Quý nhân là cái khí rất tôn quý, nên gia vào cung nào cũng rất tốt, ngoài cách đặt cửa chính ra còn có thể đặt cửa phụ, nhà bếp, phòng khách, phòng làm việc, bàn thờ, giường ngủ đều tốt. Đặc biệt bàn thờ đặt trên cung có Âm Quý nhân là đại cát khánh, như vậy sẽ được âm Linh phù trợ. Không được để phòng tắm, nhà vệ sinh vào cung Quý nhân, vì như vậy sẽ bị họa hại liên miên, nữ nhân thiếu máu, động thai, sinh con dù có đẹp đễ nhưng cũng dấn thân vào con đường ô nhục, làm điếm, cuối cùng phải tự vẫn. Tài sản tiêu tan, yêu ma hoành hành, gia đình có người bị cướp bóc, chém giết, máu me thảm khốc, bệnh tật đau khổ triền miên.

Nhưng muốn đặt như thế nào thì trước mặt bàn thờ phải quang đãng, sạch sẽ.Ông Địa và Thần tài tuy thờ dưới đất nhưng tính rất thích thơm tho , sạch sẽ . Thường nên để sẵn một lọ nước hoa , lâu lâu lại xịt vào bàn thờ cho thơm.

3. Thông tin cơ sở sản xuất Đồ gỗ Ngọc Văn

– SĐT: 0982 454 794

– Email: [email protected]

– Địa chỉ:

– Cơ sở 1: Xóm 10 tân tiến Xã Hải Minh – Hải Hậu – Nam Định

* Chúng tôi chuyên cung cấp các loại sập gụ tủ chè, bàn ghế salong, giường, đồ thờ Lương Giáo – Công Giáo, Hoành phi câu đối, cuốn thư câu đối, kệ bày đồ,…

【#5】Cách Bài Trí Bàn Thờ Mẹ Quan Âm? Mẫu Bàn Thờ Mẹ Quan Âm Đẹp

Với những người theo Phật, đặc biệt là khi thờ Phật tại gia họ luôn coi trọng việc bài trí trên bàn thờ sao cho đúng phong thủy, tôn nghiêm và đem lại may mắn. Vậy bài trí bàn thờ mẹ Quan Âm như thế nào mới đem lại sự tôn nghiêm và đúng phong thủy? Bài viết sau đây sẽ giúp bạn giải đáp thắc mắc này.

Sự tích xưa kể về mẹ Quan Thế Âm Bồ Tát

Sự tích về Quan Âm Thị Kính

Trong kiếp thứ 10 của Quan Âm Thị Kính, nàng đầu thai làm con gái trong một gia đình họ Mãng ở Cao Ly và được đặt tên là Thị Kính. Lớn lên với xinh đẹp, nàng được gả cho Thiện Sỹ. Một hôm, khi đang ngồi may vá, Thị Kính phát hiện có một sợi râu mọc ngược ở cằm chồng. Nàng liền tiện tay cầm kéo cắt đứt sợi râu. Cùng lúc đó, chồng nàng tỉnh dậy, vì nghĩ rằng Thị Kính muốn giết mình bèn hô hào hàng xóm.

Thị Kính không thể nào kêu oan vì cả chồng và gia đình chồng đều không chịu nghe nàng giải thích. Vì vậy, nàng đành quay trở về nhà bố mẹ đẻ và tu hành. Để được nhận vào chùa, Thị Kính đã cải nam trang, lấy pháp danh Kính Tâm.Tướng mạo tuấn tú của bà khiến nhiều tín nữ mến mộ, trong đó có Thị Mầu.

Thị Mầu là con gái của trưởng giả giàu có trong vùng, mến mộ và trêu ghẹo Kính Tâm nhiều lần nhưng không được đáp trả. Cũng cùng lúc đó, Mầu có thai với một người ở trong nhà. Thị Mầu bị tra hỏi, và khai rằng Kính Tâm là cha đứa bé trong bụng.

Điều này đã khiến Kính Tâm chịu tội oan thêm một lần nữa nhưng cũng không một ai tin nàng. Ít lâu sau, Thị Mầu sinh ra một bé trai và đem bỏ trước cửa chùa. Thị Kính thương người đã nhận đứa bé vào chùa để nuôi dưỡng. Đứa trẻ lên 3, Thị Kính bị bệnh nặng và không thể sống lâu nữa nên bà đã viết 2 bức thư: 1 bức cho ông bà Mãng – cha mẹ của Thị Mầu, còn 1 bức đưa cho sư cụ trong chùa.

Đọc xong thư, sư cụ cho người đi kiểm tra thi thể của Thị Kính và biết rằng nàng là gái giả trai. Biết tin đó, Thị Mầu đã tự tử vì quá xấu hổ. Sau khi chết, Thị Kính được đắc đạo và trở thành Quan Âm Bồ Tát, cứu độ và đem con nuôi về Nam Hải làm người phụng sự bên mình.

Sự tích về Quan Âm Diệu Thiện

Vào thời Nam Bắc Triều, nhà vua sinh được 3 công chúa xinh đẹp tuyệt trần đặt tên là Diệu Nhan, Diệu Âm và Diệu Thiện. Công chúa út là Diệu Thiện thông minh nhất nên được vua cha yêu thương. Diệu Thiện không chỉ xinh đẹp mà còn có tấm lòng lương thiện và tính cách dịu dàng, điềm tĩnh.

Khi đến tuổi kết hôn, vua cha đích thân chọn phò mã là những bậc anh tài tuấn tú trong thiên hạ cho Diệu Thiện. Công chúa lại từ chối nhiều lần bở nàng chỉ 1 lòng hướng về cửa Phật, mong được cứu độ chúng sinh. Vì vậy mà Diệu Thiện bị vua cha hạ lệnh giam ở phía sau hoàng cung. Nhà vua một mặt vờ cho phép nàng tu hành tại chùa Bạch Tước, một mặt ra lệnh cho sư sãi trong chùa thuyết phục nàng hoàn tục. Với ý chí và quyết tâm sắt đá, nàng không bị lung lay trước những lời thuyết phục đó.

Vua cha rất tức giận nên đã ra lệnh đốt chùa để giết nàng. Ngay lúc này, trời đột nhiên đổ mưa làm lửa bị dập tắt. Nhà vua lại ra lệnh xử chém nàng thì giông tố kéo đến, sấm sét đánh văng đao của đao phủ. Vua càng thêm tức giận, ra lệnh xử tử công chúa nhưng cũng đúng lúc đó, một con cọp trắng xuất hiện vad cõng công chúa đi đến chùa hương.

Từ đó về sau, Diệu Thiện tu hành tại chùa Hương, cảm hóa muông thú. Còn ở hoàng cung, nhà vua mắc bệnh nặng, hai bàn tay dần rơi rụng, mắt trở nên mù lòa. Biết tin, nàng cấp tốc về thăm cha và để cứu sống cha, nàng đã hi sinh đôi mắt và 2 cánh tay của mình.Sau khi chết đi, Diệu Thiện đắc đạo và trở thành Bồ Tát.

Ý nghĩa của bàn thờ Phật bà Quan Âm

Phật Quan Thế Âm Bồ Tát là đại diện của sự từ bi, nhân từ, cứu loài người trong nhân loại khỏi bể khổ. Ngài phù hộ cho con người được khỏe mạnh, tránh khỏi khổ đau, sống một đời hạnh phúc và bình an. Chính vì vậy, việc thờ Phật Quan Thế Âm Bồ Tát khá phổ biến và được nhiều người coi trọng.

Ở Phật Quan Âm, ta luôn thấy hiện lên gương mặt bình thản, không bị muộn phiền cuộc sống làm lo âu. Bởi vậy, mà người thờ Phật Quan Âm thường có mong muốn có một cuộc sống bình an, tự tại, và sống lương thiện. Ngoài ra, Phật Bà Quan Âm còn mang đến may mắn và sức khỏe và hạnh phúc.

Việc thờ tượng Phật Bà Quan Âm cũng phần nào thể hiện được đức tính tốt đẹp của người Việt Nam. Đức tính luôn hướng đến cái thiện, hướng đến những điều tốt đẹp trong cuộc sống.

Cách đặt tượng Phật bà Quan Âm trong nhà theo phong thủy

Vị trí nên lựa chọn đặt tượng Phật bà Quan Âm trong nhà

Tượng Phật Quan Âm cần được đặt tại nơi cao ráo, yên tĩnh, thanh tịnh nhất của ngôi nhà có thể là Bàn thờ Phật bà Quan Âm treo tường hoặc bàn thờ đứng. Gia chủ nên chuẩn bị, sắp xếp không gian thờ cúng trang nghiêm, sạch sẽ trước khi thỉnh tượng Phật Quan Âm về nhà, Kích thước bàn thờ Phật bà quan âm cần được đo đạc chuẩn phong thủy. Tượng Phật thường được đặt ở giữa bàn thờ.

Kiêng kỵ trong cách đặt tượng phật bà quan âm trong nhà:

– Tuyệt đối không đặt tượng Quan Âm hướng về các vị trí: cửa phòng ngủ, nhà vệ sinh, phòng ăn… hoặc quay mặt vào tường.

– Không đặt tượng Phật Quan Âm cùng các tượng Phật khác vì theo quan niệm, điều này là không tốt cho gia đạo.

– Đồ cúng Phật Bà Quan Âm: cúng bằng hoa quả, không cúng đồ mặn.

Hướng tốt đặt bàn thờ Phật bà Quan Âm theo mệnh của gia chủ

Hướng đặt bàn thờ Quan Âm Bồ Tát nên tránh hướng nhìn vào nơi tối tăm, u ám: nhà vệ sinh, nhà bếp, phòng ngủ… Các gia chủ thật cẩn thận khi đặt bàn thờ Phật bà quan âm.

  • Mệnh Kim: hướng đặt bàn thờ Phật bà quan là hướng Tây tứ trạch và bao gồm: Đông Bắc, Tây, Tây Bắc, Tây Nam.
  • Mệnh Mộc: Hướng đặt bàn thờ Phật trong nhà theo hướng Đông tứ trạch: Đông, Đông Nam, Nam, Bắc.
  • Mệnh Thủy: hướng đặt bàn thờ Phật bà quan âm là hướng Đông tứ trạch và tuyệt đối không đặt theo các hướng xấu: Tây, Tây Bắc, Tây Nam, Đông Bắc.
  • Mệnh Hỏa: hướng Đông, Nam, Bắc và Đông Nam và không chọn đặt bàn thờ Phật bà quan âm theo hướng: Tây Bắc, Tây Nam, Đông Bắc và Tây.
  • Mệnh Thổ: hướng Tây Bắc, Tây Nam, Đông Bắc và Tây.

Bàn thờ Phật Quan Âm gồm những gì và cách bày trí đúng nhất

Bàn thờ Quan Âm gồm những gì?

Với bàn thờ Quan Âm, những vật thờ cúng không thể thiếu là tượng hoặc tranh Phật Quan Thế Âm Bồ Tát, lư hương, lọ hoa, hoa cúng Phật Quan Âm, nến, đèn. Trong ngày cúng đặc biệt thì cần chuẩn bị thêm hương, hoa tươi, lễ chay: oản, xôi chè… Những loại hoa bàn thờ Quan Âm là hoa huệ, hoa sen, hoa mẫu đơn, hoa ngâu…

Cách thờ Phật bà Quan Âm và Cách bài trí bàn thờ Phật Quan âm

Cách bài trí bàn thờ mẹ Quan Âm tuân thủ theo những nguyên tắc sau:

  • Đặt bàn thờ ở vị trí cao nhất trong nhà, thường ở vị trí giữa nhà và chính giữa bàn thờ đặt tượng Phật bà quan âm.
  • Chỉ cần thờ một bát nhang trên bàn thờ.
  • Những vật phẩm thờ cúng sẽ được bài trí xung quanh bàn thờ để cân đối 2 bên.
  • Bày trí mâm bồng chính giữa bàn thờ, và sau đó đến kỷ chén thờ.

Những lưu ý khi bày trí bàn thờ Quan Âm

Điều tối kỵ cần lưu ý trước tiên chính là không nên đặt tượng quan âm cùng các tượng thần khác. Việc đặt tượng Quan Âm cùng với các tượng khác rất không tốt và không gặp may mắn. Đây là Phật đại diện cho sự thanh tịnh, đơn thuần. Đồ dùng của người nên đều là đồ chay. Chính vì vậy, đồ cúng của Ngài nên đơn giản như hoa quả, hoa tươi. Tuyệt đối không được cúng đồ mặn.

Về hướng đặt tượng Quan Âm cần lưu ý. Tránh việc quay tượng Quan Âm vào: nhà vệ sinh, cửa phòng ngủ, bàn ăn. Tại vì những hướng này không được thanh tịnh.

Vị trí hợp lý nhất để đặt bàn thờ chính là ở chính giữa nhà. Cũng là để thể hiện lòng thành kính đối với Phật.

Nên lựa chọn tượng Phật Bà Quan Âm có kích thước phù hợp với bàn thờ để đảm bảo tính cân đối. Khi mua tượng Phật cũng nên lựa chọn kỹ, tránh mua phải Tượng không rõ nguồn gốc. Bàn thờ cần được vệ sinh sạch sẽ thường xuyên, đồ thờ cúng phải luôn luôn đầy đủ.

Việc thờ cúng Phật Bà Quan Âm quan trọng nhất là thể hiện lòng thành kính. thật tâm của người thờ. Đặc biệt chú ý xem ngày tốt thờ mẹ Quan Âm trước khi thỉnh phật quan âm về thờ.

Tuyệt đối không sắm lễ mặn bởi Phật Quan Âm không sát sinh và cũng không nên sắm sửa vàng mã, tiền âm phủ để dâng cúng.

Văn khấn Quan Thế Âm Bồ Tát

Bài khấn nguyện Quan Thế Âm Bồ Tát

Việc khấn nguyện vào mỗi buổi sáng khi mới thức dậy, buổi tối trước khi đi ngủ, đặc biệt là ngày cúng mẹ quan âm, bạn đọc có thể tham khảo bài khấn quan thế âm bồ tát sau:

“Con xin cung kính lễ lạy:

Nam Mô Đại Từ Đại Bi Thập Phương Tam Thế Chư Phật, chư Bồ Tát,

Tam Bảo khắp mười phương.

Tam Bảo khắp mười phương.

Tam Bảo khắp mười phương.

Nam Mô A Di Đà Phật

Nam Mô A Di Đà Phật

Nam Mô A Di Đà Phật

Nam Mô Đại Từ Đại Bi cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát

Nam Mô Đại Từ Đại Bi cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát

Tri ân:

Hôm nay lại bước qua một ngày, con tự biết con đã được rất nhiều may mắn, con đã hưởng được tha lực từ bi của chư Phật, chư Bồ Tát. Đức Từ phụ A Di Đà Phật, Đức Mẹ Quán Thế Âm Bồ Tát ban cho, và được chư vị giúp đỡ mà con mới có được ngày hôm nay. Con xin thành tâm thành kính quỳ nơi đây dâng lòng chí thành chí kính tri ân (1 lạy).

Cầu an:

Con xin thành tâm thành kính cầu nguyện sự an lành, an lạc, thanh bình, hạnh phúc cho cha mẹ, anh em, thân bằng quyến thuộc, cùng khắp các chúng sanh hữu tình, vô tình.

Con cầu xin thập phương tam thế chư Phật, chư Bồ Tát, Đức Từ phụ A Di Đà Phật, Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, và chư vị từ bi gia hộ, giúp đỡ để chúng con đồng được sự an lành, an lạc, tu hành đến Tri Kiến Giải Thoát, thoát khỏi sanh tử luân hồi, đồng xin nguyện được vãng sanh về Cực Lạc Quốc (1 lạy).

Cầu siêu:

Con cũng thanh tâm cầu siêu cho vong linh cửu huyền thất tổ, cha mẹ, tổ tiên, thân bằng quyến thuộc nhiều đời nhiều kiếp.

Những vong linh liên hệ và không liên hệ đến con,

Những vong linh con đã lỡ gây hại, sát hại trong quá khứ,

Cho những vong linh tên: …………

Cùng những vong linh mất trong chiến tranh, thiên tai, bệnh tật, và vì mọi lý do chưa được vãng sanh.

Con thành tâm cầu nguyện xin tha lực từ bi của mười phương chư Phật, chư Bồ Tát, Đức từ phụ A Di Đà Phật, Đức Mẹ Quan Thế Âm Bồ Tát, Đức Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, cùng chư vị giúp đỡ để các vong linh được tiếp dẫn về nơi an lạc, siêu sanh Tịnh Độ (1 lạy)

Sám hối:

Nay con xin chí thành sám hối mọi tội lỗi con đã lỡ gây tạo từ nhiều kiếp cho đến nay, những tội con đã gây tạo trong kiếp sống hiện tại.

Những tội con gây tạo do bởi vô tình hay cố ý, gây hại, sát hại đến nhân mạng, đến giới hữu tình hoặc vô tình, những tội do bởi Tham, Sân, Si, do bởi ngã mạn, vô minh che lấp.

Từ nay, mỗi ngày con xin kiểm soát hành động, từ tưởng để sám hối, sửa sai và xin nguyện giữ mình không tái phạm.

Hết thảy các tội, con xin chí thành quỳ nơi đây dâng lòng sám hối. Xin chư Phật mười phương, chư Bồ Tát, Đức từ phụ A Di Đà Phật, Đức Mẹ Quan Thế Âm Bồ Tát chứng minh cho lòng thành của con (1 lạy).

Hồi Hướng/ Phát Nguyện:

Sám hối rồi, nay con xin nguyện tiếp tục tu học, tu hành, hướng tâm tu để thoát khỏi sanh tử luân hồi. Làm việc lợi mình lợi người.

Con xin hồi hướng, chia sẻ Công Đức đến cha mẹ, thân nhân (tên) …………. Đến chư Thiên, chư Thần, chư Thánh, chư Hộ Pháp và chư vị đã giúp đỡ cho con.

Đến những vong linh mà con đã lỡ gây hại, sát hại. Cùng tất cả các vong linh chưa được vãng sanh và pháp giới chúng sanh.

Con nguyện dâng lòng thành kính tri ân, quy y Tam Bảo. Cầu xin Chư Phật mười phương, chư Bồ Tát, Đức từ phụ A Di Đà Phật, Đức Mẹ Quán thế Âm Bồ Tát từ bi gia hộ để con và chúng sanh đồng được duyên lành tu học thoát khỏi sanh tử luân hồi, trên tri ân chư Phật, dưới cứu độ chúng sanh. Chúng con đồng xin nguyện được vãng sanh về Cực Lạc Quốc (3 lạy).

Văn khấn Quan Thế Âm Bồ Tát tại nhà

Đối với những gia đình thờ quan âm bồ tát tại nhà văn khấn phật bà quan âm tại nhà:

“Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con Nam mô Đại từ, Đại bi Linh cảm Quán thế Bồ Tát.

Con xin kính lạy đức Viên thông Giáo chủ thủy từ chứng giám.

Tín chủ con là ………………

Ngụ tại ………………

Hôm nay là ngày… tháng… năm…

Tín chủ con thành tâm đến trước Phật đài, nơi điện cửa hoa, kính dâng phẩm vật, hương hoa kim ngân tịnh tài, ngũ thể đầu thành, nhất tâm kính lễ dưới tòa sen hồng.

Cúi xin đước Đại sỹ không rời bạn nguyện, theo Phật phó chúc trên cung trời Đạo lợi, chở che cứu vớt chúng con và cả gia quyến như thể mẹ hiền, phù trì con đỏ. Nhờ nước dương chi, lòng trần cầu ân thanh tịnh, thiện nguyện nêu cao.

Được anh từ quang soi tỏ, khiến cho nghiệp trần nhẹ bớt, tâm đạo khai hoa, độ cho đệ tử con cùng toàn thể gia quyến ba tháng đồng, chín tháng hè luôn được sức khỏe dồi dào, phúc thọ khang ninh, lộc tài vương tiến, công việc hanh thông, vạn sự tốt lành, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

Tín chủ con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.”

Những mẫu bàn thờ mẹ quan âm đẹp

【#6】Các Bước Cần Chuẩn Bị Cho Lễ Nhập Trạch

Cuộc sống vận động thay đổi từng ngày. Vì quá bận rộn nên nhiều gia đình trẻ hiện nay khi chuyển dọn nhà thường chỉ làm lễ nhập trạch đơn giản với một mâm cúng nhỏ và tối giản các bước.

Nhưng bên cạnh đó, nhiều người lại cho rằng nhập trạch chuyển nhà là một nghi thức rất quan trọng để được thần linh tổ tiên chấp thuận, phù hộ, vậy nên không thể sơ sài và cần làm đúng thủ tục về nhà mới.

Trong bài viết này, Chúng tôi xin được trình bày các bước tiến hành thủ tục làm lễ cúng chuyển nhà nhập trạch đầy đủ nhất theo chuẩn phong thủy. Dựa vào đây, tùy điều kiện gia đình và niềm tin tâm linh của bạn mà có thể thực hiện đầy đủ hay lược bỏ bớt cho phù hợp.

Nhập trạch là từ Hán Việt, theo đó “nhập” có nghĩa vào, “trạch” là nhà. Như vậy nói một cách đơn giản nhập trạch là dọn vào nhà mới. Lễ nhập trạch tương đương việc “đăng ký hộ khẩu” với thần linh, thổ địa đang cai quản ngôi nhà. Đây là một nghi lễ cổ truyền khá quan trọng của dân tộc ta được lưu truyền từ ngàn đời qua.

Vậy ý nghĩa của lễ nhập trạch là gì? “Đất có thổ công, sông có hà bá”. Quan niệm từ ngàn xưa của ông bà ta cho rằng, mỗi một vùng đất, khu vực đều có thần linh trấn quản. Vậy nên việc chuyển đi hoặc đến đều phải làm lễ trình báo xin phép, có như vậy mới được chấp thuận, cuộc sống gia đình, công việc sau này theo đó mới “thuận buồm xuôi gió”.

Một ngày tốt chuyển nhà nên hội tụ đủ các yếu tố: Thuận lợi cho chủ nhà, là ngày hoàng đạo đẹp, nếu là ngày hợp với tuổi mệnh của gia chủ thì càng tuyệt vời. Bạn có thể tham khảo danh sách ngày đẹp nhập trạch mà Saigon Expss đã tập hợp sẵn.

  • Ngũ quả: Lựa chọn 5 loại trái cây tươi ngon theo mùa, ít hơn hoặc nhiều hơn 5 cũng được, miễn sao mâm trái cây tươi ngon và đẹp mắt.

  • Hương hoa: Gồm lọ hoa tươi cúng nhà mới (hồng, cúc hoặc ly), cặp đèn cầy, nhang, trầu cau, vàng mã, 3 hũ nhỏ đựng muối gạo và nước.

  • Mâm cơm cúng chuyển nhà: Phụ thuộc vào quan niệm thờ cúng mà bạn có thể chọn mâm cơm chay cúng chuyển nhà hoặc mâm cơm mặn. Nếu là mâm cỗ mặn thì gồm bộ tam sên (1 miếng thịt luộc, 1 con tôm luộc và 1 trứng vịt luộc), gà luộc hoặc heo quay, xôi hoặc cháo, các món mặn khác tùy ý.Nếu là mâm cơm chay thì có thể làm theo gợi ý sau: rau củ xào, canh rau củ, đậu hũ, xôi đậu, chè, bánh kẹo,….

    Ngoài ra mâm cơm cúng nhập trạch còn có thêm 3 ly trà, 3 ly rượu, 3 điếu thuốc.

Mâm cúng nhập trạch mặn hay chay, đơn giản hay cầu kỳ phụ thuộc vào quan niệm và điều kiện của mỗi gia đình

Văn khấn nhập trạch khi chuyển nhà gồm 2 phần là văn khấn thần linh và gia tiên. Lưu ý cần đọc văn khấn thần linh trước khi đọc văn khấn gia tiên. Bài văn khấn trình bày mong muốn của gia chủ, xin phép chuyển nhà, chuyển bàn thờ đến nhà mới. Cần đọc rành mạch với thái độ thành tâm. Hai bài văn khấn khá dài. Bạn có thể tham khảo chi tiết nội dung bài văn khấn!

    Theo thủ tục nhập trạch thì các thành viên khi bước vào nhà sẽ không được đi tay không, ai cũng phải cầm theo các đồ vật may mắn như: Chổi mới, bếp nấu (như bếp gas, bếp dầu, không dùng bếp điện vì dân gian quan niệm bếp điện có tinh mà không có tướng, tức có nhiệt mà không có ngọn lửa nên không tốt), gạo, muối, vàng, tiền bạc, các vật may mắn khác,…

Việc đầu tiên trong lễ nhập trạch cần làm là đốt lò than và đặt ngay cửa ra vào. Để tiết kiệm thời gian, bạn có thể đến nhà mới đốt lò trước khi xe chuyển nhà tới.

Theo quan niệm dân gian, nam trụ cột trong gia đình nên là người cầm bát hương vào nhà và làm lễ nhập trạch

  • Gia chủ muốn chuyển nhà trước nhập trạch sau xin tham khảo các nguyên tắc và lưu ý !

  • Nếu bạn chỉ nhập trạch lấy ngày và chưa chuyển đồ về ngay, thì các bước tiến hành tương tự, xem như là chuyển bàn thờ gia tiên và thần linh về trước, đồ đạc sẽ chuyển về nhà sau. Tốt nhất nên ngủ lại 1 đêm. Trong thời gian chờ đợi cũng nên thường xuyên đến thắp nhang và trông nom để tạo sinh khí.

Nếu bạn nhập trạch nhà chung cư cần hỏi kỹ về quy tắc phòng cháy chữa cháy để tuân thủ đúng

  • Lễ nhập trạch nhà thuê, nhà trọ là không bắt buộc và tùy vào niềm tin của mỗi người. Có người cho rằng mình chuyển tới nơi ở mới, bàn thờ tổ tiên, thần linh cũng chuyển đi nên việc làm lễ khấn nhập trạch nhà trọ, nhà thuê là cần thiết. Lại có người cho rằng nhà thuê là nhà cửa, đất đai của người khác, mình chỉ là người ở tạm nên không cần làm lễ. Tuy nhiên, nếu bạn muốn vẫn có thể thực hiện bình thường theo các bước trên. Cách làm lễ nhập trạch nhà chính chủ và nhà thuê là như nhau.

  • Nghi thức xông nhà mới : Không bắt buộc trong nghi thức nhập trạch, nhưng nếu muốn bạn có thể thực hiện để xua đuổi tà khí và làm không khí trong nhà lưu thông. Chỉ cần mua một ít thảo dược, trầm hương, đốt trong lư hương (hoặc nồi nhỏ) và xông khắp nhà, đặc biệt xông ở các khu vực ẩm thấp, các ngóc ngách.

  • Trấn nhà: Dùng đá phong thủy hợp mệnh, hoặc tiền xu (Thường là 8 đồng), chia ra chôn 4 góc nhà để cầu may mắn, sung túc. Nhưng hiện tại các nhà đều xây cố định, lót gạch và thậm chí nhà có hình thù phức tạp, không rõ góc nhà. Vậy nên bạn có thể cho vào các hủ nhỏ, bọc vải đỏ và đặt ở các góc nhỏ khuất trong nhà, nhiều hơn 4 cũng được.

  • Treo chuông gió: chuông gió (phong linh) theo quan niệm dân gian sẽ có tác dụng luân chuyển không khí, xua tà khí, hút tài vận. Đường quên tham khảo Hướng dẫn chi tiết cách chọn và treo chuông gió trong nhà mới !

  • Trong bài viết, bạn được hướng dẫn làm lễ nhập trạch tại nhà mới. Nhưng trước khi chuyển đến, bạn phải xin phép chuyển bàn thờ gia tiên và thần tài, thổ địa. Nếu chưa rõ thủ tục chuyển bàn thờ và bốc bát hương từ nhà cũ sang nhà mới thì tham khảo !

  • Chuyện bà bầu có nên chuyển nhà và người tuổi Dần kiêng kỵ chuyển nhà tùy thuộc vào quan điểm của mỗi người. Tuy nhiên theo Saigon Expss, nếu gia chủ cẩn thận, có lòng thành và tuân thủ những gì cần làm trong lễ nhập trạch thì phụ nữ mang thai hay người tuổi Dần đều có thể tham gia chuyển nhà!

  • Hãy luôn giữ tinh thần thoải mái vui vẻ, nói những điều tốt đẹp trong thời gian nhập trạch. Làm mọi việc cẩn thận, tránh rơi ngã đồ. Nếu cẩn thận có thể thuê dịch vụ chuyển nhà trọn gói để giảm thiểu các sự cố và tiết kiệm thời gian.

  • Không ngủ trưa lại nhà mới vì đó là biểu hiệ n của sự lười biếng, ù lì, đây là điều bạn cần biết để tránh khi nhập trạch.

  • Lưu ý vấn đề cháy nổ khi đốt vàng mã hoặc đốt lò than

Trong ngày làm lễ cúng chuyển nhà, luôn giữ tinh thần vui vẻ thoải mái

Thực ra cần làm trong nghi lễ chuyển nhà mới khá đơn giản, do đó bạn có thể tự cúng nhập trạch tại nhà. Nếu gia đình nào có điều kiện hoặc chuyển dọn nhà với quy mô lớn và đặc biệt tin vào phong thủy thì có thể mời thầy cúng nhập trạch. Nhưng chung quy lại, việc làm nghi lễ cúng nhập trạch đều thể hiện lòng thành của chủ nhà, vậy nên dù tự cúng hay mời thầy đều phải thành tâm.

【#7】Bài Đọc Cúng Mụ Cúng Đầy Tháng Cho Bé

Việc tổ chức lễ đầy tháng trước là tạ ơn Mụ bà không chỉ nặn ra đứa trẻ, mà còn phù trợ cho “mẹ tròn con vuông”, sau là để trình với nội – ngoại, họ hàng, lối xóm về đứa cháu sau một tháng chào đời – nhưng ít ai nhìn thấy (cả mẹ và con).

Khi bé ra đời tròn 1 tháng tuổi ba mẹ sẽ tổ chức 1 mâm lễ cúng đầy tháng để chào đón 1 thành viên mới trong gia đình. Nghi thức cúng đầy tháng cho bé hay còn gọi là cúng Mụ chính là phong tục quen thuộc của người Việt Nam.

Việc tổ chức lễ đầy tháng trước là tạ ơn Mụ bà không chỉ nặn ra đứa trẻ, mà còn phù trợ cho “mẹ tròn con vuông”, sau là để trình với nội – ngoại, họ hàng, lối xóm về đứa cháu sau một tháng chào đời – nhưng ít ai nhìn thấy (cả mẹ và con). Đây như là chứng nhận của xã hội về sự tồn tại của một con người, để được nâng niu, chúc tụng, để cộng đồng có trách nhiệm giúp đỡ, cưu mang, che chở…

Lễ đầy tháng (Lễ cúng Mụ)

Trong ngày đầy tháng, ngoài việc chuẩn bị món ăn, thức uống dùng để chiêu đãi khách, gia chủ còn chuẩn bị mâm lễ vật cúng kính 12 Mụ bà gồm 12 chén chè, 3 tô chè, 3 đĩa xôi và một mâm cúng kính 3 Đức ông gồm con vịt tréo cánh được luộc chín, 3 chén cháo và 1 tô cháo…

12 chén chè cúng 12 Mụ bà gồm:

– Mụ bà Trần Tứ Nương, coi việc sanh đẻ (chú sanh)

– Mụ bà Vạn Tứ Nương, coi việc thai nghén (chuyển sanh)

– Mụ bà Lâm Cửu Nương, coi việc thụ thai (thủ thai)

– Mụ bà Lưu Thất Nương, coi việc nặn hình hài nam, nữ cho đứa bé.

– Mụ bà Lâm Nhất Nương, coi việc chăm sóc bào thai (an thai)

– Mụ bà Lý Đại Nương, coi việc chuyển dạ (chuyển sanh)

– Mụ bà Hứa Đại Nương, coi việc khai hoa nở nhụy (hộ sản)

– Mụ bà Cao Tứ Nương, coi việc ở cữ (dưỡng sanh)

– Mụ bà Tăng Ngũ Nương, coi việc chăm sóc trẻ sơ sinh (bảo tống)

– Mụ bà Mã Ngũ Nương, coi việc ẵm bồng con trẻ (tống tử)

– Mụ bà Trúc Ngũ Nương, coi việc giữ trẻ (bảo tử)

– Mụ bà Nguyễn Tam Nương, coi việc chứng kiến và giám sát việc sinh đẻ.

Ba Đức thầy bao gồm: Thánh sư, tổ sư và tiên sư có chức năng truyền dạy nghề nghiệp (không phải 13 đức thầy).

Sau khi bày lễ vật, một trưởng tộc hoặc người biết thực hành nghi lễ, thắp ba nén hương khấn nguyện: “Hôm nay, ngày (mùng)… tháng… (âl), ngày cháu (nội hay cháu ngoại…) họ, tên… tròn 1 tháng tuổi, gia đình chúng tôi bày mâm lễ vật này, cung thỉnh thập nhị mụ bà và tam đức ông trước về chứng minh nhận lễ, sau tiếp tục phù trợ cho cháu (tên…) mạnh tay, mạnh chân, mau lớn, hiền, ngoan, phù trợ cho gia đình an vui, hạnh phúc”.

Sau nghi thức cúng kính là nghi thức khai hoa còn gọi là “bắt miếng”. Đứa bé được đặt ngay trên bàn giữa, chủ lễ rót trà thấp hương xin phép bắt miếng. Xong, bồng đứa trẻ một tay, tay kia cầm một nhánh hoa điệp (có thể hoa khác) vừa quơ qua, quơ lại trên miệng cháu bé vừa dạy những lời tốt đẹp như sau:

Mở miệng ra cho có bông, có hoa,

Mở miệng ra cho kẻ thương, người nhớ,

Mở miệng ra cho có bạc, có tiền,

Mở miệng ra cho xóm giềng quý mến…

Tiếp sau là lời chúc mừng và tặng quà hoặc tiền lì xì của khách mời, của dòng họ bà con cho cháu bé và gia đình nhân ngày cháu tròn một tháng tuổi.

Lễ cúng Mụ Version 3 (không rõ nguồn)

Văn cúng tại gia tiên cùng ngày cúng mụ, bản thần linh, gia tiên tại nhà

Bài cúng ông cai đầu giờ, bà cai đầu giờ

Con lạy chín phương trời, mười phương đất, mười phương chư phật, chư phật mười phương, con lạy chư phương bồ tát, chư hiền thánh tăng.

Con lạy các quan thần linh… (các vị thần cai quản mảnh đất bạn đang ở) nơi con đang ăn, đất con đang ở…. (tại số nhà…), con lạy gia tiên tiền tổ… (ông bà ông vải)

Con lạy bà chúa bào thai, mười hai bà mụ, con lạy gia tiên tiền tổ, ông bà …….về tại số nhà………

Hôm nay là ngày mồng……. tháng …..năm 200… âm lịch, con tên là ……(ông bà nội/ ngoại của bé cúng hộ) kêu thay lạy đỡ cho bố cháu là ………..mẹ cháu là……..sinh ra cháu tên………sinh lúc …….giờ……phút………ngày………thá ng……..năm…….Hôm nay cháu vừa tròn 1 tháng (tính theo âm lịch)

Tín chủ chúng con xin thành tâm tiến lễ hương hoa đăng trà quả thực, tiền vàng kim ngân tài mã, quần áo hài hia.

Con xin kính lạy chư vị thần tiên, chư vị các quan thần linh, các vị tiên địa chủ, các quý nhân chứng lễ cho tín chủ chúng con, phù hộ cho cháu và gia đình, phù hộ cho cháu là ……….(tên con bạn) bình an bản mạnh, hay ăn chóng lớn, bốn mùa được điều hòa, thân căn cự túc, trí tuệ thông minh sáng suốt, học hành tấn tới, công thành danh toại, tài đức vẹn toàn, chún con xin thành tâm kính lễ.

Xin các quan và gia tiên chứng giám lòng thành. (Con nam mô a di đà phật) 3 lần

Lễ vật cúng ở bàn thờ gia tiên gồm có:

1.Thịt (1 con gà)

2.Xôi

3.Gạo, muối

4.Rượu (1 chén)

5.Nước (1 cốc)

6.Nến hoặc đèn

7.10 lễ tiền vàng

8.Quả cau lá trầu

9.5 nén hương

Văn cúng cúng mụ tại phòng ở của bé

(Con nam mô a di đà phật) 3 lần

Con lạy chín phương trời, mười phương đất, chư phật mười phương, con lạy bà chúa bào thai.

Con lạy 12 bà mụ

Hôm nay là ngày………tháng………năm…….Con là (người khấn hộ: ông/bà nội hoặc ngoại) xin kêu thay lạy đỡ cho bố cháu là…………mẹ cháu là………cháu tên là chúng tôi lúc ……giờ…… phút……ngày……tháng……năm………. Hôm nay cháu vừa tròn một tháng (tính theo âm lịch) xin thành tâm tiến lễ dâng lên bà chúa Bào thai, dâng lên 12 bà Mụ hương hoa, qủa thực, kim ngân tài mã, bánh kẹo, cơm, trứng, nước trầu cau và mọi nghi lễ gồm… (liệt kê tên các đồ cúng).

Con xin lạy bà chúa Bào thai, 12 bà Mụ chứng lễ cho gia đình và bố mẹ cháu………..

Con xin lạy bà Mụ thứ 1,2,3,4,5 phù hộ cho cháu hay ăn chóng lớn, dạy cười, dạy nói, dạy đứng, dạy đi.

Con xin lạy bà Mụ thứ 6,7,8,9,10 phù hộ cho cháu được trí tuệ sáng láng, thông minh sáng suốt, văn võ song toàn, sau này học hành tấn tới, công thành danh toại, thành người có nhân, có đức, hiếu thuận với cha mẹ, họ hàng và mọi người.

Con lạy bà Mụ thứ 11, 12 thu hết sài đẹn của cháu đổ ra biển ra sông ra ngòi.

Con lạy bà chúa Bào thai, 12 bà Mụ, chấp khấn, chấp lễ, chấp kêu, chấp cầu phù hộ cho cháu bản mệnh bình an, hay ăn chóng lớn, bốn mùa đều được điều hòa, thân căn cụ túc, trí tuệ thông minh sáng láng, sau này học hành giỏi giang tấn tới, công thành danh toại, là người có ích cho gia đình, xã hội,….

Kính mong bà chúa Bào thai và 12 bà Mụ chứng minh công đức, chứng giám lòng thành.

Lễ vật cúng ở phòng bé ở gồm có:

1.Chim (Gái 9 con, Trai 7 con)

2.Cua (Gái 9 con, Trai 7 con)

3.Ốc (Gái 9 con, Trai 7 con)

4.13 nắm cơm nhỏ bằng gạo tẻ

5.13 miếng bánh đúc nhỏ hoặc bánh rán (cái này mình phải mua ở của hàng bánh đúc ở Lê Ngọc Hân, các bạn có thể ra chợ mà mua hoặc đặt trước cho rẻ)

6.13 miếng trứng hoặc 13 quả trứng chim cút

7.13 bông hoa (bà nội cún mua hoa hồng)

8.13 cái bánh kẹo nhỏ

9.13 miếng trầu têm cánh phượng

10.13 bộ quần áo (1 bộ to dành cho bà chúa Bào thai, 12 bộ nhỏ cho bà Mụ, các bạn cứ ra hàng mã hỏi là họ biết ngay)

11.13 nén hương

12.13 đồng tiền 50.000 đồng (chắc là tùy tâm )

13.1 bát nước to

Ghi chú: Mâm lễ để cạnh giường ở, mẹ bế con ngồi góc giường, lễ xong thì phóng sinh cho chim bay đi, thả cua, ốc ra hồ hoặc sông, lấy một ít đồ ăn đấm mồm cho bé làm phép cho hay ăn chóng lớn, mẹ bé cũng ăn, đồ lộc phân phát cho mọi người và trẻ em cùng ăn.

Cúng mụ version 4 (gộp cả cúng mụ lẫn đầy năm – không rõ nguồn)

Ông bà ta xưa quan niệm rằng: Đứa trẻ được sinh ra là do các vị Đại Tiên (Bà chúa Đầu thai), Tiên Mụ mà trực tiếp là 12 bộ Tiên Nương (12 bà Mụ) nặn ra ban cho. Vì vậy, khi đứa trẻ đầy cữ (đứa trẻ chào đời được 3 ngày), đầy tháng (đứa trẻ chào đời được một tháng), đầy năm; bố mẹ, ông bà đứa trẻ phải bày tiệc cứng Mụ để tạ ơn các bà Mụ và cầu xin các Mụ ban cho đứa trẻ mọi điều may mắn tốt lành.

Sắm lễ:

Lễ cúng Mụ phải được làm cẩn thận chu đáo, với các lễ vật bao gồm:

l) 12 đôi hài xanh giống hệt nhau và một đôi hài cũng màu xanh nhưng to hơn

2) 12 nén vàng xanh giống nhau và một nén vàng xanh to hơn.

3) 12 bộ váy áo đẹp màu xanh giống hệt nhau và một bộ váy áo xanh cắt giống 12 bộ kia nhưng to hơn.

4) 12 miếng trầu cánh phượng giống hệt nhau và một miếng trầu têm cánh phượng to hơn.

5) 12 bộ đồ chơi: Bát,đũa, thìa, chén cốc, con giống, xe cộ, nón, mũ… giống hệt nhau và một bộ giống như vậy nhưng to hơn (những đồ lễ này có thể bằng nhựa, bằng sành sứ).

6) 12 con cua, 12 con ốc, 12 con tôm to nhỏ bằng nhau để sống (có thể đồ chín) là lễ vật dâng cúng 12 bà Mụ.Và mỗi loại một con to hơn hoặc nhiều con (ít nhất ba con) cũng để sống là lễ vật dâng cúng bà Mụ Chúa. (Các con này để vào bát to bày cúng, sau khi cúng xong thì đem cua, ốc thả ra ao, hồ; tôm có thể thụ lộc).

7) Phẩm oản, bánh kẹo, hoa quả chia đều thành 12 phần giống nhau và một phần có đủ phẩm oản, bánh kẹo, hoa quả nhưng lớn hơn (hoặc nhiều hơn).

8) Lễ mặn: Xôi, gà, cơm, canh, các món lễ mặn, rượu. . .

9) Bát hương, lọ hoa tươi nhiều màu, tiền vàng, cốc nước thanh tịnh (bày ở mâm trên cùng lễ mặn).

Bày lễ:

Bày lễ cúng Mụ mang tính chất thành kính, văn hoá và nghệ thuật, thường bàn lễ cúng Mụ được bày (trình bày) một cách hài hoà, cân đối.

+ Tất cả lễ vật dâng bà Mụ chúa để ở chính giữa phía trên của hương án

+ Lễ vật dâng 12 bà Mụ chia thành 12 phần giống nhau

+ Mâm lễ mặn cùng hương, hoa nước để trên cùng

+ Mâm tôm, cua, ốc để phía dưới

Sau khi bày lễ xong, bố hoặc mẹ cháu bé thắp 3 nén hương, rồi bế cháu bé ra trước án khấn:

Văn khấn cúng Mụ

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con kính lạy Đệ nhất Thiên tỷ đại tiên chúa.

– Con kính lạy Đệ nhị Thiên đế đại tiên chúa.

– Con kính lạy Đệ tam Tiên Mụ đại tiên chúa.

– Con kính lạy Thập nhị bộ Tiên Nương

– Con kính lạy Tam thập lục cung chư vị Tiên Nương

Hôm nay là ngày…. Tháng….. năm….

Vợ chồng con là …………………………… sinh được con (trai, gái) đặt tên là …………..

Chúng con ngụ tại:…………………………………….. …….

Nay nhân ngày đầy tháng (đẫy cữ, đầy năm) chúng con thành tâm sửa biện hương hoa lễ vật và các thứ cúng dâng bầy lên trước án, trước bàn tọa chư vị Tôn thân kính cẩn tâu trình:

Nhờ ơn thập phương chư Phật, chư vị Thánh hiền, chư vị Tiên Bà, các đấn g thần linh, Thổ công địa mạch, Thổ địa chính thần, Tiên tổ nội ngoại, cho con sinh ra cháu tên là………… sinh ngày…… được mẹ tròn con vuông.

Cúi xin chư vị tiên Bà, chư vị Tôn thần giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật, phù hộ độ trì, vuốt ve che chở cho cháu được ăn ngoan, ngủ yên, hay ăn chóng lớn, vô bệnh vô tật, vô tai, vô ương vô hạn, vô ách, phù hộ cho cháu bé được tươi đep, thông minh, sáng láng, thân mệnh bình yên, cường tráng, kiếp kiếp được hưởng vinh hoa phú quí. Gia đình con được phúc thọ an khang, nhân lành nảy nở, nghiệp dữ tiêu tan, bốn mùa không hạn ách nghĩ lo.

Xin thành tâm đỉnh lễ, cúi xin được chứng giám lòng thành.

Nam mô a di Đà Phật

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Khi đã khấn xong thì bố hoặc mẹ chắp tay bé lại vái trước án 3 vái sau 3 tuần hương thì lễ tạ. Sau đó gia đình mang vàng mã, váy áo đi hoá, vẩy rượu lúc đang hoá; đem tôm, cua, ốc đi phóng sinh tại các ao, hồ, sông để cầu phúc; các đồ chơi bằng nhựa, sành sứ thì giữ lại cho cháu bé để lấy phước.

Cuối cùng cả gia đình và bạn bè cùng thụ lộc chúc cho bé mọi điều tốt lành.

【#8】Bàn Về Chuyện Tái Sinh, Đầu Thai Và Cúng Cơm

H. Bạn có tin tái sinh không? Nếu tin là có tái sinh thì vì sao bạn lại tin?

Đ. Tin vào Thánh ngôn lượng. Lịch sử Đức Phật cho biết chính Ngài đã có những kiếp sống quá khứ. Trong cuối bài Đức Phật có nói: ” Trải qua vô lượng kiếp Luân Hồi, Như Lai đã phải đi lạc đường, trong khi muốn tìm cho ra người thợ cất nhà này; khốn khổ thay, Như Lai đã phải sanh đi, sanh lại triền miên”. kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakka sutta) Đức Phật đã thuyết: “Đây là kiếp sống cuối cùng của Như Lai. Từ đây Như Lai không còn tái sanh nữa”. Tương tự như trong Kinh Pháp Cú

H. Nếu tin là có tái sinh, vậy có người nào chết mà không tái sinh không?

Câu trả lời là có. Có người chết tái sinh và cũng có người chết không tái sinh.

H. Vậy điều kiện nào để một người được tái sinh và một người không được tái sinh?

H. Nếu tin là có tái sinh, vậy cái gì dẫn dắt chúng ta đi tái sinh?

Đ. Thân mạng của con người được được kết hợp bởi năm nhóm, mà Phật giáo gọi là ( “Năm uẩn“. Năm uẩn là những yếu tố vật chất và tinh thần, gồm: SắcThọThức( chỉ thân và sáu giác quan hay còn gọi là lục căn, bao gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý, do Tứ đại chủng tạo thành, đó là bốn yếu tố đất, nước, gió, lửa. Sắc tạo nên các giác quan và đối tượng của chúng), là những hoạt động tâm lí sau khi có tưởng, ví dụ chú ý, đánh giá, vui thích, ghét bỏ, quyết tâm, tỉnh giác. Hành là đối tượng đã tạo nên nghiệp thiện ác...) và bao gồm sáu dạng ý thức liên hệ tới sáu giác quan: Ý thức của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Thức phụ thuộc vào sáu căn tiếp xúc với sáu trần để hình thành nên sáu thức. Nếu không có thức người ta sẽ không phân biệt được màu sắc hay âm thanh v.v).

Khi mệnh chung, thân mạng mất đi, những nhóm đó tan rã, nhưng kết quả của những hành động do thân, khẩu, ý tạo nên vẫn còn tác động. Cái “còn tác động” sau đó Phật giáo gọi là “”, và nghiệp lực này dẫn dắt chúng ta đi tái sinh.

Mặc dù nghiệp lực dẫn dắt chúng ta đi tái sinh nhưng phải có một cái gì đó để mà đi tái sinh. Cái gì đó, theo Phật Giáo chính là cái thức tái sanh (Đạt Lai Lạt Ma là “một cái ý thức” xuất hiện ngay chính vào thời điểm thụ thai. ( Ngài trả lời trong một dịp trả lời phỏng vấn về ngừa thai)patisandhivinnâna), hay theo cách gọi của Đức

H. Vậy cái thức tái sanh này là gì và từ đâu ra, tại sao lại đợi đến lúc thụ tinh mới xuất hiện?

H. Khi được tái sanh trở lại làm người, vậy người trong kiếp này và người của kiếp sau có phải cùng là một người không hay là hai người khác nhau?

– Ví như kẻ trộm xoài, chủ nhà bắt được quả tang dẫn đến đại vương nhờ xử trị. Bị cáo cãi rằng: “Hạ thần không hái xoài của người ấy. Trái xoài của anh ta trồng hồi trước chỉ là hạt mầm ở dưới gốc còn trái mà hạ thần hái là trái to ở trên cành. Hạ thần không có ăn trộm.” Tâu đại vương! Với lý lẽ như thế, đại vương có xử phạt y được không?

– Thưa đại đức, dẫu có ngụy biện hay ho, trẫm vẫn xử phạt tên ăn trộm kia như thường!

– Sao lại thế được? Y đâu có hái cắp trái của người kia trồng đâu mà xử tội, hở đại vương?

– Đành rằng thế, nhưng mà trái cây y hái trộm ấy cũng do từ trái kia sanh ra, nó nẩy mầm, tăng trưởng mà thành.Cho nên người ki a cũng không thoát khỏi tội.

– Cũng như thế đó là danh sắc cũ và danh sắc mới, tâu đại vương. Việc tái sanh từ đời này sang đời kia cũng vậy. Các nghiệp thiện ác trong đời giống như đã gieo hạt giống, nẩy mầm, tăng trưởng, mai sau tất có quả báo.”

( http://thuvienhoasen.org/p19a1000/tu-cau-hoi-so-021-den-048 )

Nếu ta trong kiếp này và ta ở kiếp sau là một, thì ta là một linh hồn trường cửu bất biến. Đó là quan điểm của nhất thần giáo, tin có một đấng sáng tạo, có một linh hồn sống mãi.

Nói một cách khác dễ hiểu hơn, một người nào đó sau khi tái sinh thì sẽ không còn giống như trước nữa thế nhưng cũng không phải là hoàn toàn khác hẳn.

H. Khi con người chết đi, nghĩa là thân tâm () bị hoại diệt, ngũ uẩn tan rã, không còn gì cả, vậy xin hỏi rằng những lễ cầu siêu cúng cơm, thân nhân đã chết có được hưởng gì không?

Đối với một cơ thể đã chết, bộ phận cơ thể, là Căn, đã ngưng hoạt động, có nghĩa là bộ ba đã mất một phần, thế thì những sinh hoạt về vật chất như ăn uống, hiển nhiên là không thể tiếp tục.

Có người cho rằng sau khi đã qua đời, người chết vẫn còn ăn, gọi là Thức thực. Như chúng ta đã biết, Thức vốn vô hình, nếu có Thức thực thì cũng chỉ là “cảm” được những tâm niệm thương ghét, an ủi, v.v… không thể “ăn” được món ăn vật chất như xôi chè, hoa quả. Nếu quả thật là còn có sự thèm ăn, thấy thân nhân bầy những món ngon, mà thần thức lại không thể ăn được, thì chỉ thêm thèm thuồng đau khổ mà thôi!

H. Chúng sinh chết rồi tái sinh, tái sinh rồi chết, vậy khoảng thời gian dài ngắn sau khi chết để đi tái sinh là như thế nào?

Đ. Theo Phật Giáo Nam Truyền, việc tái sinh xảy ra tức khắc chỉ trong một sát na niệm tưởng, không để trống khoảnh khắc nào trong trạng thái lưng chừng giống như làn sóng điện lan trong không gian, tức khắc được phát sinh trong máy thu thanh hay thu hình. Sự sinh tử xảy ra cực kỳ nhanh chóng và được xem là một tiến trình liên tục.

【#9】Cách Cúng Ngày Vía Thần Tài

Theo tín ngưỡng phương Đông, Thần Tài là vị thần đảm nhiệm việc trông coi tiền tài cho gia chủ, phù hộ việc làm ăn, buôn bán. Thần Tài trong tín ngưỡng phương Đông là vị thần đảm nhiệm việc trông coi tiền tài cho gia chủ. Ngày vía Thần Tài là ngày người dân chọn ra nhằm mục đích cúng vị Thần Tài để được phù hộ độ trì, đồng hành cùng gia chủ trên con đường thăng tiến, hướng đến thành công như ý.

Ngày mùng 10 âm lịch hàng tháng được chọn làm ngày Thần Tài. Song ngày quan trọng nhất vẫn là ngày 10 tháng Giêng, gia chủ làm ăn kinh doanh chú tâm chuẩn bị cho lễ cúng đủ đầy để Thần Tài gõ cửa.

Ngày vía thần Tài 2021- năm Canh Tý rơi vào thứ hai, ngày 3 tháng 2 năm 2021 (Dương lịch).

Nguồn gốc ngày vía Thần Tài

Thần Tài là vị thần cai quản tiền bạc và của cải. Có rất nhiều sự tích kể về Thần Tài nhưng biết đến nhiều nhất là câu chuyện kể về Triệu Công Minh, người đã giúp Khương Tử Nha đánh Trụ Vương.

Sau khi tử trận, Triệu Công Minh được phong làm Chính Nhất Long Hồ Huyền chân quân, thống lĩnh bốn vị thần trên trời là Chiêu Bảo – Nạp Trân – Chiêu Tài – Lợi Thị, vì thế, ông được cho giữ chức vụ cai quản tiền bạc, của cải. Cũng với lý do đó mà trong dân gian, mọi người thường thờ cúng Thần Tài để cầu mong tài lộc, may mắn sẽ đến với họ.

Theo một tích truyện khác, vào một lần do uống rượu quá say, vị Thần Tài lỡ chân ngã xuống trần gian và bị mất trí nhớ, quên mất mình là ai. Sống lang thang và không biết làm việc gì, ông đi ăn xin để sống qua ngày.

Gặp một vị chủ quán tốt bụng, ông được mời vào và ăn một bữa thịnh soạn. Quán đang rất vắng khách nhưng khi ông lão ăn xin bước vào thì bỗng dưng khách ra vào tấp nập, để ý thấy điều này ông chủ quán giữ ông lão ở lại để việc làm ăn buôn bán được thuận lợi.

Sau một thời gian ông lão ăn xin bắt đầu nhớ lại được mọi chuyện và trở về trời. Ngày ông bay về trời là ngày mùng 10, vì thế mà dân gian xem ngày 10 hàng tháng là ngày Thần Tài. Ngày mùng 10 tháng Giêng âm lịch là ngày vía Thần Tài đầu tiên của năm.

Cũng có sách viết rằng có một người lái buôn Trung Hoa tên là Âu Minh khi đi qua hồ Thanh Thảo tình cờ gặp Thủy Thần, được Thủy Thần cho một người gia nhân tên là Như Nguyện. Âu Minh đem Như Nguyện về nuôi ở trong nhà, từ đó công việc làm ăn của Âu Minh mỗi ngày một phát đạt.

Trong một ngày Tết, vì một lý do nào đó, Âu Minh đánh Như Nguyện. Như Nguyện quá sợ hãi bèn chui vào đống rác và biến mất. Từ đó, Âu Minh làm ăn thua lỗ, chẳng mấy chốc nghèo xác nghèo xơ. Dân gian coi Như Nguyện là Thần Tài và lập bàn thờ Như Nguyện, cũng chính vì thế mà bàn thờ Thần Tài thường nằm ở một góc khuất trong nhà. Theo điển tích này, trong 3 ngày Tết có tục kiêng quét nhà, hốt rác vì sợ làm mất Thần Tài ẩn trong đống rác.

Ngoài ra, một điển tích khác lại cho rằng Thần Tài nguyên là Bố Đại La Hán, còn gọi là Nhân Yết Đà Tôn Giả ở Ấn Độ (là một trong thập bát La Hán). Ông là người chuyên bắt rắn, ông mang túi vải to trên lưng vào rừng bắt rắn độc, nhổ bỏ răng độc rồi thả rắn đi.

Người Trung Quốc cho là Bố Đại đầu thai tại nước Lương tên là Phó Đại Sĩ, tính tình vui vẻ, ăn mặc xộc xệch, vai mang cái túi vải to, ai cho gì cũng dồn vào túi rồi đem phân phát cho trẻ em. Do đó, tượng Thần Tài thường đứng có mang túi to, hai tay đưa thẳng lên trời cười thoải mái, tượng trưng cho sự may mắn, thành công. [ 1]

Ý nghĩa của ngày vía Thần Tài

Như đã nói ở trên với những người làm kinh doanh như doanh nhân, buôn bán rất coi trọng thờ thần tài đặc biệt là ngày vía Thần Tài.

Trong năm ngày này không chỉ đơn thuần là ngày để tạ ơn và tưởng nhớ đến vị Thần Tài đã mang lại tài lộc cho gia chủ trong một năm vừa qua; ngày vía Thần Tài còn là ngày với mong muốn được “đổi vía” – khi có vía của vị Thần tài lộc sẽ đem đến cho gia chủ một năm mới đến thật sung túc và bình an.

Cũng theo truyền thống văn hóa trong dân gian của người Việt từ xưa đến giờ, vào mùng 10 tháng Giêng âm lịch hàng năm, mọi nhà sẽ rộn ràng đi sắm đồ lễ cúng với mong muốn lấy vía Thần Tài để cầu làm ăn buôn bán, kinh doanh được thuận lợi, suôn sẻ.

Một trong những thói quen tồn tại bấy lâu này của người dân Việt mỗi khi đến ngày mùng 10 tháng Giêng âm lịch chính là đi mua vàng để thể hiện mong muốn được “buôn may bán đắt”.

Việc mua vàng trong ngày này đã gần như trở thành phong tục không thể thiếu và cũng có thể dễ dàng hiểu bởi lẽ vàng chính là biểu tượng, tượng trưng cho sự giàu sang, phú quý.

Trên hết người ta còn cho rằng khi mùa vàng và cất trữ vàng vào két sắt, hay ví hoặc những nơi mang theo người sẽ mang đến điều may mắn, tài lộc sung túc cả năm tới gia chủ.

Lễ vật cúng ngày vía Thần Tài

  • Mâm cỗ Tam Sên : 1 miếng thịt heo đã luộc, 1 trứng luộc, 1 con tôm (hoặc cua) biển luộc. Nếu bạn không làm cỗ mặn hãy chuẩn bị bánh trái, mâm chay để cúng.
  • Nhang: Nên chọn giờ để cúng, tốt nhất bạn hãy cúng vào khoảng thời gian buổi sáng. Nhang nên chọn có mùi thơm để dễ dàng kích hoạt trường khí tốt lành.
  • Nước: Nên rửa sạch chén, dùng nước sạch để cúng. Khi rót nước không nên rót quá đầy, chỉ cần cách miệng chén khoảng 1 cm là được.
  • Hoa: Để có buổi cúng vía thần tài tươm tất bạn nên chọn hoa đẹp, hoa cúc hay hoa đồng tiền là một lựa chọn tối ưu. Tuyệt đối không dùng hoa giả, hoa giấy để cúng thần tài.
  • Quả: Nên chuẩn bị một mâm ngũ quả trái cây không bị giập. Hay chọn trái cây tươi ngon nhất mang ý nghĩa thành kính nhất.
  • Nến, đèn: Nên sử dụng đèn nến. Tốt hơn nhiều nếu bạn chuẩn bị được nến thay vì sử dụng đèn điện.
  • Muối, gạo sau khi cúng xong tuyệt đối không vung ra mà cất dữ lại coi như tài lộc năm.
  • Nước và Rượu hãy đứng ngoài cửa tưới vào nhà, ở đây mang ý nghĩa rước tài lộc vào nhà.

Những vật phẩm khác: Ngoài những vật phẩm không thể thiếu bên trên bạn có thể bổ sung thêm: 1 con cá lóc nướng, một miếng heo quay, thuốc lá. Nếu ngày vía thần tài bạn mua vàng thì củng nên dâng miếng vàng đó trên bàn cúng thần tài.

Văn khấn cúng ngày vía thần tài

Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương. Kính lạy ngài Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần. Con kính lạy ngày Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân. Con kính lạy Thần tài vị tiền. Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này. Tín chủ con là ………………………………. Ngụ tại… Hôm nay là ngày…… tháng……. năm…….. Tôi chủ thành sửa biện, hương hoa, lễ vật, kim ngân, trà quả và các thứ cúng dâng, bầy ra trước án kính mời ngài Thần Tài tiền vị. Cúi xin Thần Tài thương xót tín chủ, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật phù trì tín chủ chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia đạo hưng long thịnh vượng, lộc tài tăng tiến, tâm đạo mở mang, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm. Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ cúi xin được phù hộ độ trì. Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật!

Ngày vía thần tài đi mua vàng nhằm hai mục đích chính: Mua vàng để làm lễ vật cúng thần tài và cầu xin thần tài thổ địa gia hộ làm ăm suôn sẻ, phát tài lộc trong năm mới. Mặt khác với những bạn lại muốn mua một thứ gì đó để cất ngày đầu năm cho may mắn đó chính là vàng.

Dù mục đích là gì đi nữa thì “Ngày vía thần tài” củng là một nét đẹp của phong tục. Bạn nên dành một khoản tiền nhỏ để mua một chút vàng nhân ngày thần tài đầu năm.

Giá vàng thế giới có xu hướng tăng cao trong thời gian tới. Do lo ngại ảnh hưởng của đại địch Vũ Hán. Chính vì vậy người dùng có xu hướng dồn tài sản về hữu hình để dễ quản lý. Nếu bạn có tiền và muốn đầu tư vào vàng thì đây có thể là một cơ hội. Tuy nhiên như đã nói ở trên. Bạn nên mua vào ngày khác vì ngày thần tài bạn sẽ không có mức giá vàng mua vào tốt.

Video Cúng Vía Thần Tài 2021 Vào Giờ Nào Tốt Nhất

Một số lưu ý khi cúng ngày vía thần tài

  • Chén nước cần rửa sạch sẽ trước khi đem cúng, chỉ nên đặt 1 chén nước sạch không cần 3 đến 5 chén nước.
  • Bình hoa có thể dùng bình sứ hoặc thủy tinh đều được. Cúng hoa tươi có hoa, nụ có hướng thơm càng tốt. Không dùng hoa giả để cúng thần tài.
  • Hoa quả cúng nên chọn hoa quả tươi ngon, nguyên vẹn không bị dập nát. Mâm hoa quả luôn có chuối chín vàng. Không dùng hoa quả nhựa giả để cúng. Hoa quả sau khi cúng được coi là lộc thần tài ban cho gia chủ bạn nên thu lộc trong nhà. Không nên phân phát ra ngoài
  • Gạo và muối sau khi cúng phải dữ lại và cất đi để dữ lộc.

Kết

Nguồn tham khảo

1. https://vtc.vn/lam-dep/nguon-goc-y-nghia-ngay-via-than-tai-ar525337.html

2. https://thethaovanhoa.vn/xa-hoi/bai-cung-van-khan-via-than-tai-ngay-mung-10-thang-gieng-chuan-nhat-n20200203062031280.htm

【#10】Bài Cúng Rằm Tháng 7 Tại Nhà Hoặc Nhà Thờ Tổ Mới Nhất Năm 2021

A. Hướng dẫn sắm lễ cúng Rằm tháng 7 tại nhà

Không cúng bằng giấy tiền, vàng mã.

Không sát mạng chúng sinh để cúng.

Hoa, quả không kiêng chủng loại và số lượng.

Sắm lễ:

– Địa điểm bày lễ: Tại ban thờ

+ Cúng Phật: Hương, hoa, trà, quả, thực: xôi chè hoặc bát cơm trắng (nếu gia đình chưa có ban thờ Phật, thì khi bạch cúng lễ, sẽ hướng tâm tới Phật để cúng, mà không sắm lễ).

+ Cúng chư Thiên, Thần linh: Hương, hoa, trà, quả, thực: xôi chè hoặc bát cơm trắng.

+ Cúng vong linh gia tiên: Hương, hoa, trà, quả, thực: mâm cơm chay, nếu có xôi chè thì bày cả xôi chè để cúng.

B. Nghi thức cúng lễ Rằm tháng 7 tại nhà

NGUYỆN HƯƠNG

Nguyện đem lòng thành kính

Gửi theo đám mây hương

Phảng phất khắp mười phương

Cúng dường ngôi Tam Bảo

Thề trọn đời giữ đạo

Theo tự tính làm lành

Cùng pháp giới chúng sinh

Cầu Phật từ gia hộ

Tâm Bồ Đề kiên cố

Chí tu đạo vững bền

Xa biển khổ nguồn mê

Chóng quay về bờ giác

Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát

Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát

Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Ma Ha Tát!

VĂN KHẤN RẰM THÁNG 7 TẠI NHÀ

LỄ TÁN PHẬT

Đại từ đại bi thương chúng sinh,

Đại hỷ đại xả cứu hàm thức,

Tướng đẹp sáng ngời dùng trang nghiêm.

Chúng con chí tâm thành đảnh lễ.

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chư Phật ba đời, tột hư không khắp pháp giới.(1 lễ)

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chính Pháp ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 lễ)

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Tăng bậc Hiền Thánh ba đời, tột hư không khắp pháp giới.(1 lễ)

TÁN PHÁP

Pháp Phật sâu mầu chẳng gì hơn,

Trăm ngàn muôn kiếp khó được gặp.

Nay con nghe thấy vâng gìn giữ,

Nguyện hiểu nghĩa chân đức Thế Tôn.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!(3 lần)

Bài kinh: Vu Lan Bồn

Ta từng nghe lời tạc như vầy:

Một thuở nọ Thế Tôn an trụ,

Xá Vệ thành Kỳ thụ viên trung,

Mục Liên mới được Lục thông,

Muốn cho cha mẹ khỏi vòng trầm luân.

Công dưỡng dục thâm ân dốc trả,

Nghĩa sinh thành đạo cả mong đền,

Làm con hiếu hạnh vi tiên,

Bèn dùng tuệ nhãn dưới trên kiếm tầm.

Thấy vong mẫu sinh làm ngạ quỷ,

Không uống ăn tiều tuỵ hình hài,

Mục Liên thấy vậy bi ai!

Biết mẹ đói khát ai hoài tình thâm.

Lo phẩm vật đem dâng từ mẫu,

Ðặng đỡ lòng cực khổ bấy lâu,

Thấy cơm, mẹ rất lo âu,

Tay tả che đậy, hữu hầu bốc ăn.

Lòng bỏn sẻn tiền căn chưa dứt,

Sợ chúng ma cướp giựt của bà,

Cơm đưa chưa đến miệng đà,

Hóa thành than lửa nuốt mà đặng đâu.

Thấy như vậy âu sầu thê thảm,

Mục Kiền Liên bi cảm xót thương,

Mau mau về tới giảng đường,

Bạch cùng Sư phụ tìm phương giải nàn.

Phật mới bảo rõ ràng căn cội:

Rằng mẹ Ông gốc tội rất sâu,

Dầu Ông thần lực nhiệm mầu,

Một mình không thể ai cầu được đâu.

Lòng hiếu thảo của Ông dầu lớn,

Tiếng vang đồn thấu đến cửu Thiên,

Cùng là các bậc Thần kỳ,

Tà ma ngoại đạo, bốn vì Thiên vương.

Cộng ba cõi sáu phương tụ tập,

Cũng không phương cứu tế mẹ ngươi,

Muốn cho cứu được mạng người,

Phải nhờ thần lực của mười phương Tăng.

Pháp cứu tế Ta toan giảng nói,

Cho mọi người thoát khỏi ách nàn.

Bèn kêu Mục thị đến gần,

Truyền cho diệu Pháp ân cần thiết thi.

Rằm tháng Bảy là ngày Tự tứ,

Mười phương Tăng đều dự lễ này,

Phải toan sắm sửa chớ chầy,

Thức ăn trăm món, trái cây năm màu.

Lại phải sắm giường nằm nệm lót,

Cùng thau, bồn, đèn, đuốc, nhang, dầu,

Món ăn tinh sạch báu mầu,

Ðựng trong bình bát vọng cầu kính dâng.

Chư Ðại đức mười phương thọ thực,

Trong bảy đời sẽ được siêu thăng,

Lại thêm cha mẹ hiện tiền,

Ðặng nhờ phước lực tiêu khiên ách nàn.

Vì ngày ấy Thánh Tăng đầy đủ,

Dầu ở đâu cũng tụ hội về,

Như người thiền định sơn khê,

Tránh điều phiền não chăm về Thiền-na.

Hoặc người đặng bốn tòa đạo quả,

Công tu hành nguyện thỏa vô sanh.

Hoặc người thọ hạ kinh hành,

Chẳng ham quyền quý ẩn danh lâm tòng.

Hoặc người được Lục thông tấn phát,

Và những hàng Duyên-giác, Thanh-văn,

Hoặc chư Bồ-tát mười phương,

Hiện hình làm sãi ở gần chúng sanh,

Ðều trì giới rất thanh, rất tịnh,

Ðạo đức dầy chánh định chơn tâm.

Tất cả các bậc Thánh, phàm,

Ðồng lòng thọ lãnh bát cơm Lục hòa.

Người nào có sắm ra vật thực,

Ðặng cúng dường Tự tứ Tăng thời,

Hiện tiền phụ mẫu của người,

Bà con quyến thuộc thảy đều nhờ ơn.

Tam đồ khổ chắc rằng ra khỏi,

Cảnh thanh nhàn hưởng thọ tự nhiên,

Như còn cha mẹ hiện tiền,

Nhờ đó cũng được bách niên thọ trường;

Như cha mẹ bảy đời quá vãng,

Sẽ hóa sinh về cõi Thiên cung.

Người thời tuấn tú hình dung,

Hào quang chiếu sáng khắp cùng châu thân,

Phật dạy bảo mười phương Tăng chúng,

Phải tuân theo thể thức sau này:

Trước khi thọ thực đàn chay,

Phải cầu chú nguyện cho người tín gia.

Cầu thất thế mẹ cha thí chủ,

Ðịnh tâm thần quán đủ đừng quên,

Cho xong định ý hành thiền,

Mới dùng phẩm vật đàn tiền hiến dâng.

Khi thọ dụng, nên an vật thực,

Trước Phật đài hoặc tự tháp trung.

Chư Tăng chú nguyện viên dung,

Sau rồi tự tiện thọ dùng bữa trưa.

Pháp cứu tế Phật vừa nói dứt,

Mục Liên cùng Bồ-tát chư Tăng,

Ðồng nhau tỏ dạ vui mừng,

Mục Liên cũng hết khóc than rầu buồn.

Mục Liên mẫu cũng trong ngày ấy,

Kiếp khổ về ngạ quỷ được tan,

Mục Liên bạch với Phật rằng:

Mẹ con nhờ sức Thánh Tăng khỏi nàn.

Lại cũng nhờ oai thần Tam Bảo,

Bằng chẳng thì nạn khổ khó ra.

Như sau đệ tử xuất gia,

Vu Lan Bồn pháp dùng mà độ sanh.

Ðộ cha mẹ còn đương tại thế,

Hoặc bảy đời có thể được không?

Phật rằng: Lời hỏi rất thông,

Ta vừa muốn nói, con thời hỏi theo.

Thiện nam tử, Tỳ-kheo nam nữ,

Cùng Quốc vương, Thái tử, Ðại thần,

Tam công, Tể tướng, Bá quan

Cùng hàng lê thứ vạn dân cõi trần.

Như chí muốn đền ơn cha mẹ,

Hiện tại cùng thất thế tình thâm.

Ðến Rằm tháng Bảy mỗi năm,

Sau khi kiết hạ chư Tăng tựu về,

Chính ngày ấy Phật Ðà hoan hỷ,

Phải sắm sanh bá vị cơm canh,

Ðựng trong bình bát tinh anh,

Chờ giờ Tự tứ, chúng Tăng cúng dường.

Ðặng cầu nguyện song đường trường thọ,

Chẳng ốm đau cũng chẳng khổ chi,

Cùng cầu thất thế đồng thì,

Lìa nơi ngạ quỷ sinh về nhơn thiên.

Ðặng hưởng phước nhân duyên vui đẹp,

Lại xa lìa nạn khổ cực thân.

Môn sanh Phật tử ân cần,

Hạnh tu hiếu thuận phải cần phải chuyên.

Thường cầu nguyện thung huyên an hảo,

Cùng bảy đời phụ mẫu siêu sinh,

Ngày Rằm tháng Bảy mỗi năm,

Vì lòng hiếu thảo ân thâm phải đền.

Lễ cứu tế chí thành sắp đặt,

Ngỏ cúng dường chư Phật, chư Tăng.

Ấy là báo đáp thù ân,

Sanh thành dưỡng dục song thân buổi đầu,

Ðệ tử Phật lo âu gìn giữ,

Mới phải là Thích tử Thiền môn.

Vừa nghe dứt Pháp Lan Bồn,

Môn sanh tứ chúng thảy đồng hỷ hoan.

Mục Liên với bốn ban Phật tử,

Nguyện một lòng tín sự phụng hành.

Trước là trả nghĩa sanh thành,

Sau là cứu vớt chúng sanh muôn loài.

NAM MÔ ÐẠI HIẾU MỤC KIỀN LIÊN BỒ TÁT. (3 lần, ba tiếng chuông)

(Chủ sám khai thị cho vong linh)

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, con xin được nương oai lực của Tam Bảo, nói cho các vong linh về ý nghĩa lời Đức Phật dạy trong bài kinh liên hệ với việc làm hôm nay của con.

Kính thưa vong linh các cụ gia tiên tiền tổ, cùng các vong linh hiện tiền nơi pháp hội đàn tràng, nội dung bài kinh Vu Lan Bồn mà con đã đọc ở trên, nói về mẹ của Ngài Mục Kiền Liên bậc A La Hán đệ nhất thần thông, là bà Thanh Đề, do lúc còn sống ở trên đời, bà Thanh Đề đã phỉ báng Tam Bảo, sát hại sinh linh cúng tế quỷ thần, tà kiến sân hận, không biết tu tâm, không biết tạo công đức, vì vậy đến khi chết do hành nghiệp ác đã tạo, do không có phước nên đã bị đọa làm quỷ đói, chịu đời sống vô cùng khổ sở. Khi Ngài Mục Kiền Liên tu chứng đạo, Ngài quán sát thấy biết mẹ đang chịu khổ, nên Ngài liền đi khất thực được bát cơm dâng cúng cho bà, nhưng vì bà ác nghiệp quá nặng nề, nên khi dâng bát cơm lên miệng, thì bát cơm đó đã hóa thành lửa, khiến bà không nuốt được nên bà càng khổ thêm. Ngài Mục Kiền Liên thấy mẹ bị như vậy, vô cùng đau sót, Ngài về Bạch Phật và đã được Đức Phật chỉ dạy rằng: “Dù Ngài Mục Liên có thần thông, có oai lực, nhưng một mình cũng không cứu được mẹ, hoặc là dù có nhờ tất cả các vị thầy ngoại đạo – tức là không theo Pháp giải thoát của Phật, hoặc tất cả các vị vua trời tập trung vào cùng cầu nguyện thì cũng không cứu nổi bà Thanh Đề, cũng như không cứu nổi một vong linh ngạ quỷ được siêu thoát. Mà muốn cứu cho một vong linh hay cả dòng họ gia tiên siêu thoát thì phải nhờ thần lực của thập phương Tăng, thông qua lễ cúng dường trai Tăng, lễ cúng dường tứ sự: Y, áo vật dụng che thân; thuốc men chữa bệnh; vật thực, nước uống; chỗ ở giường sàng, ngọa cụ cho tập thể chư Tăng tu tập trai giới phạm hạnh, sau khi chứng minh thọ dụng sự cúng dường của gia chủ, chư Tăng hồi hướng phúc đến cho vong linh thân bằng quyến thuộc của thí chủ, thì vong linh được thoát kiếp khổ sinh về cảnh giới an lành: trời, người”. Học theo lời Đức Phật dạy, noi theo gương hiếu của Ngài Mục Kiền Liên, hôm nay nhân mùa Vu Lan báo hiếu, xá tội vong nhân, con không thiết lễ cúng dường trai Tăng được, con xin tuỳ duyên như pháp xin cúng dường Tam Bảo, hộ trì Tam Bảo, hộ trì chư Tăng tại chùa…(nếu tại Chùa Ba Vàng thì đọc: Chùa Ba Vàng, Phường Quang Trung, Tp Uông Bí, Tỉnh Quảng Ninh), với số tịnh tài là… và xin hồi hướng phúc lành tạo ra đó, đến cho các vong linh, nguyện phúc lành này sẽ giúp cho các vong linh tiêu trừ phần nào nghiệp khổ, để hiện tại thọ thực được phần thức ăn hiến cúng của gia đình chúng con và phát sinh được nhân duyên, được quy y Tam Bảo, tu theo Phật pháp sớm thoát cảnh khổ.

Chúng con cúng dường Tam Bảo với số tiền là… để hồi hướng phúc đến cho chư Thiên, chư Thần linh tại nơi đất của gia đình.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! Giờ này con xin tác lễ cúng dường vật thực.

Thượng: Chúng con xin dâng lên cúng dường thập phương chư Phật chứng minh.

Trung: Chúng con xin cúng dâng lên chư Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng chứng minh.

Hạ: Chúng con xin cúng dường cho chư Thiên, chư Thần Linh, Thổ Địa tại nơi đây.

Sau: Chúng con xin được nương oai lực Tam Bảo, chúng con xin thỉnh mời và hiến cúng cho các vong linh gia tiên họ (…), các vong linh thai nhi và các vong linh (tên):… cùng các vong linh thuộc các nơi đất thuộc sở hữu của gia đình chúng con.

(Đọc chú Biến thực, Biến thủy)

Chú biến thực: Nam mô tát phạ đá tha nga đá phả rô chỉ để ám tam bạt ra tam bạt ra hồng. (7 lần)

Chú biến thủy: Nam mô tô rô bà ra đát tha nga đá ra đát điệt tha án tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô sa bà ha. (7 lần)

Phổ cúng dường: Án nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhật ra hồng. (7 lần)

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, thỉnh chư vị chư Thiên, chư Thần, gia tiên tiền tổ, các chúng hiện diện nơi pháp hội, đã lãnh thọ phước báu, vật thực tại đàn lễ này, cùng chúng con phát tâm Bồ Đề, thực hành công hạnh Bồ Đề:

Phát tâm Bồ Đề

Hộ trì Tam Bảo

Chuyển tải Phật pháp

Rộng khắp thế gian(phần in đậm đọc 3 lần)

Nguyện chư vị tinh tấn Bồ Đề, cầu Vô Thượng Đạo.(1 vái)

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

Chúng con cũng nguyện cầu cho tất cả các vong hồn tiên tổ, thân quyến quá vãng và các chúng vong linh (ngạ quỷ, cô hồn), đã thọ nhận lễ hiến cúng của chúng con, được kết duyên pháp lữ với chúng con, đời đời kiếp kiếp trợ duyên cho nhau tu hành cho tới ngày thành Phật. Chúng con cũng xin hồi hướng phúc lành, trong đàn lễ hiến cúng này, đến cho gia đình chúng con (nguyện gì đọc nấy)… và toàn thể gia đình, cùng nhau tinh tấn tu hành theo chính Pháp của Phật, cho tới ngày liễu thoát luân hồi sinh tử.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

TAM TỰ QUY

Tự quy y Phật, nguyện cho chúng sinh, hiểu thấu đạo lớn, phát tâm Vô Thượng.(1 lễ)

Tự quy y Pháp, nguyện cho chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như biển.(1 lễ)

Tự quy y Tăng, nguyện cho chúng sinh, quản lý đại chúng, hết thảy không ngại.(1 lễ)

(Nếu sắp cúng thí thực phóng sinh, thì chắp tay khấn bạch, để đi ra ngoài cúng)

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! Giờ này con xin ra ngoài cúng lễ thí thực, phóng sinh. Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!(3 vái)

Mời quý Phật tử xem (ấn vào tên bài): Bài cúng cô hồn tháng 7 tại nhà mới nhất năm 2021

Nếu các Phật tử ở xa, muốn cúng dường về chùa Ba Vàng, nhưng không có điều kiện để về chùa, thì quý Phật tử khi cúng lễ xong, gom cất phần tịnh tài (tiền), để gửi ngay hoặc sau khoảng mấy tháng thì gửi.

Chùa Ba Vàng và Thầy Thích Trúc Thái Minh không dùng bất kỳ một tài khoản ngân hàng nào khác. Nếu quý Phật tử muốn cúng dường, công đức về chùa Ba Vàng thì chỉ chuyển khoản vào một tài khoản duy nhất sau đây.

Quý Phật tử kiểm tra thông tin cung cấp tài khoản tại trang chùa Ba Vàng ở đường link sau:

chuabavang.com/thong-bao-so-tai-khoan-cua-chua-ba-vang/

Lưu ý: Nếu như bài nào có in số tài khoản mà không in đường link, mong quý Phật tử xem xét và kiểm tra lại.

TÀI KHOẢN CHÙA BA VÀNG

Số tài khoản: 0141005656888.

Tên tài khoản: Chùa Ba Vàng.

Ngân hàng: Vietcombank Quảng Ninh.

Mã SWIFT (mã số khi chuyển khoản quốc tế): BFTV VNVX014.

Khi gửi xong thì nhắn tin vào số điện thoại hoặc nhắn tin qua zalo để thầy biết: 0981392858 (Sư thầy Thích Trúc Bảo Việt).

Nội dung tin nhắn

Nam mô A Di Đà Phật, con kính bạch Thầy! Tên con là… ở tại… Hôm nay là ngày… /…/… con vừa gửi vào tài khoản của nhà chùa số tiền là… để hồi hướng cho các vong linh… Con xin gửi danh sách để Sư Thầy thỉnh vong linh ạ. Con cũng xin Sư Thầy chứng minh và hồi hướng cho cả gia đình con luôn được sự gia hộ của chư Phật, hiện tại được… Con xin thành kính tri ân Thầy ạ! Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

LIÊN HỆ

Nếu có bất cứ vấn đề gì thắc mắc, kính mời quý đạo hữu liên hệ với:

Phật tử: Phạm Thị Yến (Tâm Chiếu Hoàn Quán):

– Ban Liên Lạc của CLB Cúc Vàng – Tập Tu Lục Hòa: 0984243810

– Nhắn tin vào Facebook:

Phạm Thị Yến (Tâm Chiếu Hoàn Quán):

Facebook.com/cophamthiyentamchieuhoanquan

– Đăng lên nhóm Facebook:

Tâm Sự Cùng Cô Phạm Thị Yến (Tâm Chiếu Hoàn Quán):

Facebook.com/groups/PhamThiYenTCHQ

– Email: [email protected]