Top #10 ❤️ Bài Cúng Đất Ở Quảng Nam Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 10/2022 ❣️ Top Trend | Iseeacademy.com

Tục Cúng Đất Ở Quảng Trị Quê Tôi

Mua Nhà Cõi Âm Cầu Kỳ Hơn Mua Đất Ở

Bài Cúng Về Nhà Mới

Tục Cúng Đất Vùng Ngũ Quảng

Mâm Cúng Đất Giống Người Xứ Quảng

Tài Liệu Về Tín Ngưỡng Thờ Cúng Cô Hồn Ở Hội An, Quảng Nam

Tương truyền năm 1306, sau khi vua Nhà Trần gả công chúa Huyền Trân cho vua Vương Quốc Chămpa là Chế Mân để đổi lấy sính lễ là vùng đất Châu Ô, châu Rí thì những cư dân nuớc Đại Việt đã vào sinh sống trên mảnh đất này. Xứ Huế, Thuận Hóa quê tôi, thuộc châu Ô (Theo Ô Châu cận lục của tác giả Dương Vân An).

Những bậc cao niên trong làng cho hay, những ngày đầu lập nghiệp trên vùng đất mới, cư dân Đại Việt được Thổ thần đất đai (Thổ địa) và những cư dân bản địa, đặc biệt linh hồn những cư dân Chămpa giúp đỡ, phù hộ. Để bày tỏ lòng tri ân, cư dân xưa bèn cúng chư vị thần linh nên tục cúng đất xuất hiện từ đó. Cúng đất hay còn gọi là lễ “Kỳ an Thổ thần” với quan niệm của người Việt xưa “Đất có thổ công, sông có hà bá”. Thời gian cúng đất thực hiện vào những ngày tốt, giờ tốt,”giờ hoàng đạo” của tháng Hai hoặc tháng Tám Âm lịch. Tối kị giờ Dần vì giờ Dần thần không hưởng dân quê tôi quan niệm như thế.

Phẩm vật cúng đất trên hai bàn thượng và trung.

Như vậy tục cúng đất có từ lâu đời, là nét đẹp trong đời sống tâm linh của người Việt sống trên mảnh đất từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi. (Vùng đất thuộc đất sính lễ xưa). Một mâm cúng đất đầy đủ phải có 3 bàn. Bàn thượng gồm lễ vật: Bộ áo Thổ thần, nải chuối chín, bình hoa, con gà, đĩa xôi, những chén chè. Gà cúng đất phải được lựa chọn kỹ. Đó là những con gà trống kiến (gà ta) có mào cờ đỏ, lông vàng óng mượt, chân vàng. Đặc biệt gà vừa đúng giò (không non mà cũng không già), béo mập. Khi cúng gà phải được giữ nguyên bộ lòng, cùng một ít huyết gà tươi chưa luộc. Một điều tối kị trong tục cúng đất là không cúng gà “mồng trứt”, chân chì, lông nổ nhiều màu.

Người dân quê tôi quan niệm cúng những con gà có đặc điểm như thế sẽ mang điều xấu đến gia chủ. Trước lễ cúng đất, gà được nuôi nhốt trong lồng ba ngày cho ăn thóc và uống nước sạch. Để “tinh tấn” trước khi dâng lên thổ thần đất đai. Bàn trung gồm: Hai bộ áo Bà, 5 bộ áo ngũ phương với lễ vật là miếng thịt heo luộc bỏ nhúm muối hạt, nhiều đĩa xôi nhỏ, nhiều chén chè, đặc biệt có 3 đĩa gồm trứng luộc, tôm, cua, miếng “thịt tợ” (Miếng thịt heo mỡ luộc) và đĩa rau khoai luộc chén mắm, cùng với một gắp cá đủ loại nướng vàng. Bàn hạ gồm: Áo binh đủ màu, số lượng áo tùy vào gia chủ, hạt nổ ngũ sắc, muối sống, gạo, “cháo thánh”, đĩa khoai, sắn, ngô luộc cùng một đĩa trái cây, một mâm cơm với đầy đủ thức ăn các loại. Mỗi bàn cúng đều có đĩa trầu cau và ly rượu trắng.

Mâm lễ cúng đất phải được đặt ở vị trí trước nhà gia chủ. Người Huế có câu “Cúng đất cúng ra, Cúng bà (cúng lễ đầy tháng cho em bé) cúng vô”. Gia chủ đứng ở trong nhà cúng ra. Danh sách dâng cúng được gia chủ ghi vào “Giấy sớ” và được đọc lên khi cúng gồm Thần “Man Di, Mọi Rợ” (thần linh vùng đất Chămpa), thần đất đai nơi gia chủ sinh sống, đến thần núi, thần sông… Mâm lễ còn ghi dâng cúng cả những linh hồn, oan hồn Chămpa không ai thờ cúng nơi gia chủ sinh sống. Khi lễ cúng gần xong, gia chủ làm một “xà lét” bằng bẹ chuối, bỏ vào đó một ít thức ăn đủ loại rồi mang ra treo ở gốc cây góc vườn như là khẩu phần mang theo ăn trên đường về cho thần linh khi đến dự lễ cúng đất.

“Xà lét” có một ít thức ăn cúng xong treo ở góc vườn.

Khi gần tàn hương, gia chủ rót nước chè, trà còn “áo giấy” sẽ được đốt trên một cái dàn tre sạch sẽ. Tuyệt đối không để áo giấy tiền vàng rơi xuống đất sẽ bị uế tạp, thần không nhận. Cuối cùng, phẩm vật sau cúng đất sẽ được mời bà con hàng xóm cùng chung vui bởi họ quan niệm “bán bà con xa mua láng giềng gần”, cũng là dịp liên hoan giao lưu để thắt chặt “tình làng nghĩa xóm”. Và quan trọng nhất là gia chủ giữ lại cặp giò ngâm vào ly rượu trắng sau đó mang đến thầy xem bói. Họ quan niệm mọi điều tốt xấu, lành dữ của gia chủ sẽ được thần đất báo ứng.

Tục cúng đất ở quê tôi mang vẻ đẹp của văn hóa tâm linh, rất nhân văn. Vì thế dù hiện nay văn hóa truyền thống có nơi bị mai một nhưng xứ Huế quê tôi vẫn lưu giữ tục lệ này. Đây là nét đẹp truyền thống của cha ông thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc trong việc tri ân “Ăn quả nhớ người trồng cây” đối với tiền nhân nơi mình sinh sống cũng như việc giữ gìn tinh thần đoàn kết, sự giao lưu văn hóa các vùng miền trong đại gia đình dân tộc Việt Nam.

Đọc Văn Khấn Cúng Đất Đầu Năm Chuẩn Nhất: Lễ Vật Cúng Cần Chuẩn Bị Gì?

Lễ Vật Cúng Đất Đai Gồm Những Gì? Với Cách Cúng Chuẩn

Lễ Cúng Đất Gồm Những Gì? Nên Thực Hiện Vào Thời Gian Nào?

Thực Hiện Lễ Cúng Đất Gồm Những Gì?

Mâm Cúng Đất Đai, Hướng Dẫn Cúng Đất Đai Đầu Năm

Tục Cúng Đất Vùng Ngũ Quảng

Mâm Cúng Đất Giống Người Xứ Quảng

Tài Liệu Về Tín Ngưỡng Thờ Cúng Cô Hồn Ở Hội An, Quảng Nam

Tín Ngưỡng Thờ Tổ Tiên Ông Bà Ở Quảng Nam

Sớ Cúng Đất Cuối Năm

Hướng Dẫn Thực Hiện Nghi Thức Lễ Động Thổ Khi Xây Nhà

Cúng đất ngày xưa

Hễ đến tháng tám âm lịch, không như bao người khác nhớ đến cái Tết Trung thu, tôi lại nhớ mùa cúng đất. Bởi thời thơ ấu của tôi, dưới thời bao cấp, trẻ quê lấy gì mà ăn Tết Trung thu! Ăn Tết Nguyên đán mà còn chưa đàng hoàng. Trung thu nông thôn sẵn có “ông trăng”, làm gì có đèn ông sao mà rước…Khá lắm, cha mẹ mua cho dăm cái kẹo loại trẻ con bây giờ mời không thèm đụng.

Nhưng cúng đất thì khác. Gia đình nào cũng phải làm cỗ bàn tươm tất. Không thể thiếu con gà trống to hết cỡ. Rồi nem, chả, cá tôm. Ngày cúng đất trong nhà tấp nập khách khứa ra vào. Mâm thớt khua chí chát. Sau đó là đến chuyện trả nợ miệng. Ba tôi lại được bà con xóm giềng mời đi ăn cúng đất giáp vòng cho đến hết tháng tám. Tất nhiên ông dẫn tôi đi cùng. Tôi sướng như lên tiên. Hết tháng tám, tôi lại trở về với bữa cơm độn khoai sắn như mọi người. Thế nên thằng bé “xấu máu ăn” như tôi nhớ mùa cúng đất (để được ăn ngon) là phải thôi!

Thông thường gia đình lựa chọn ngày tốt, sắm sửa lễ vật để cúng đất, còn gọi là cúng Thần Hoàng Bổn Xứ. Tùy theo mỗi vùng miền, mà trên bàn lễ sắp đặt khác nhau. Theo các “bô lão”, trên bàn thờ phải có hai mâm với hai bát hương riêng. Một bàn cúng Thần Hoàng Bổn Xứ là các vị thần chức lớn cai quản trong địa phương. Bàn kia là cúng mâm hội đồng, bao gồm các vị thần có chức sắc nhỏ hơn và các cô hồn cát đẳng, không nơi nương tựa…

Trên bàn cúng đất phải đầy đủ bát hương, chân đèn, chén nước, bài trí theo “thiết kế” của người xưa như “đông bình tây quả”, hương đèn, vàng bạc, giấy tiền, giấy đất, hạt nổ (gạo muối, lương khô)… Phẩm vật thường có cơm, xôi, chè, thịt heo, con gà luộc, cá chiên, các thứ xào, trộn, bánh tráng nướng… Bàn hạ còn có thêm một đĩa cua luộc, cá nướng và một bát cháo thánh (cháo trắng)… Mấy món không thể thiếu được là đĩa sắn, khoai, đậu, môn, rau khoai luộc, chén nước ruốc… Ngoài ra, còn có một bộ đồ thần để đốt. Trước khi cúng, gia chủ còn làm một cái “xà lắt” bằng bẹ chuối treo sát chân bàn. Cúng xong, gia chủ bỏ các món ăn vào mỗi thứ một ít. Người nhà sẽ mang ra ngã ba đường cái để treo.

Bàn đặt ở trước nhà, gia chủ đứng từ trong nhà lạy ra và khấn vái tên đầy đủ các thiên thần cai quản trời đất, vùng đất cụ thể, nhà cửa của gia chủ… Đặc biệt còn dâng cúng cả những cô hồn người Chăm… từng cư trú trên địa bàn Huế, cũng như những hài cốt tiềm ẩn trong đất. Cũng chính vì có đối tượng là cô hồn người dân tộc thiểu số nên mới bày biện món rau khoai luộc chấm nước ruốc, xâu cá tôm nướng.

Cúng đất thời hiện đại rất linh đình, hàng mã ngũ kim đẹp rực rỡ, đốt hàng giờ liền không hết. Sắm sửa cỗ bàn đã có nhà hàng “di động” đến hợp đồng lo liệu. Vừa thắp nhang lễ bái đã thấy bia bọt lai láng trên hai bàn thượng hạ. Rượu thì rượu ngoại. Thế mới hay đời sống người dân ta đi lên, các ông thần bước sang thế kỷ XXI ” ăn theo” sướng thật!

Cúng đất bây giờ là dịp để mời mọc đồng chí, đồng nghiệp. Dân mua bán kinh doanh thì PR đối tác, bạn hàng. Có anh bạn tiết lộ, một tháng cúng đất bỏ cơm nhà hết 25 bữa. Có ngày chạy sô hai, ba nơi. Anh bạn bảo: Không đi không được, “sợ mếch lòng”.

Những người làm hàng mã vượt “chỉ tiêu” doanh thu nhờ cúng đất đã đành. Cả làng chuyên làm hàng hột nổ ( làng Sình – xã Phú Mậu, Phú Vang, Thừa Thiên Huế) cũng kiếm chút cháo bù lỗ thời gian nông nhàn. Ngoài thị trường giá gà trống lên vùn vụt như giá vàng phi mã. Riêng cái khoản coi giò gà đoán tài lộc của mấy ông thầy bói cũng ăn nên làm ra.

Thiết nghĩ, cúng đất là dịp để gia đình, bạn bè họp mặt sau khi mùa vụ đã gặt hái xong. Tục lệ này nhằm thắt chặt tình cộng đồng hàng xóm, láng giềng. Cúng đất còn là dịp để các bà, các chị thể hiện sự khéo léo, giỏi giang trổ tài nữ công gia chánh. Ngày xưa tiệc tùng trong ngày cúng đất chỉ mang tính nghi lễ, đơn sơ chứ không có lệ “chiếu trên, chiếu dưới” như bây giờ.

Bài Cúng Về Nhà Mới

Mua Nhà Cõi Âm Cầu Kỳ Hơn Mua Đất Ở

Tục Cúng Đất Ở Quảng Trị Quê Tôi

Đọc Văn Khấn Cúng Đất Đầu Năm Chuẩn Nhất: Lễ Vật Cúng Cần Chuẩn Bị Gì?

Lễ Vật Cúng Đất Đai Gồm Những Gì? Với Cách Cúng Chuẩn

Tín Ngưỡng Thờ Tổ Tiên Ông Bà Ở Quảng Nam

Sớ Cúng Đất Cuối Năm

Hướng Dẫn Thực Hiện Nghi Thức Lễ Động Thổ Khi Xây Nhà

Văn Khấn Cúng Giao Thừa, Ngày 30 Tết Năm 2022 Trong Nhà Và Ngoài Trời Đầy Đủ, Chuẩn Nhất

Nên Cúng Cô Hồn Tháng 7 Ở Đâu Để Tránh Rước Họa Vào Nhà?

Văn Khấn Cúng Giao Thừa, Đêm 30 Tết Ngoài Trời

Cũng như cư dân trên mọi miền đất nước, người dân đất Quảng tin tưởng sâu sắc vào sự hộ trì của tổ tiên trong cuộc sống. Việc phụng thờ tổ tiên được xem là một hoạt động sống, gắn kết mật thiết với sự tồn tại và phát triển của các thế hệ người sống. Các hoạt động bày tỏ niềm tin một mặt thể hiện sự kính tín của con cháu đối với tổ tiên, mặt khác, biểu thị tinh thần tập hợp, gắn kết bền chặt con cháu trong gia đình, dòng tộc, làng xóm.

Do điều kiện lịch sử – xã hội nên người Việt đất Quảng có quan niệm khá rộng về tổ tiên. Theo đó, có tổ tiên của gia đình/ dòng tộc và có tổ tiên chung của cả làng. Tổ tiên của gia đình/ dòng tộc được gọi là Ông Bà; tổ tiên của làng chính là tổ tiên các dòng họ, được gọi là tiền hiền và hậu hiền. Việc thờ tổ “hai cấp” nhà và làng, được truyền lưu, tiềm nhập vào đời sống của cá nhân và cộng đồng, đã có tác động to lớn đến việc gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, như: lòng hiếu thảo, tình cảm hướng về cội nguồn, tinh thần đoàn kết, tương thân và đạo lý biết ơn trong cuộc sống hiện đại ngày nay.

Bài viết này phác họa tín ngưỡng thờ tổ tiên của người Việt đất Quảng, mà trọng tâm là những nghi lễ, phong tục tiêu biểu, với tư cách là những sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của gia đình – dòng họ – làng xóm. Qua đó, góp phần khẳng định giá trị cốt lõi của tín ngưỡng tổ tiên ở Quảng Nam – Đà Nẵng hiện nay.

I. THỜ TỔ TIÊN TRONG GIA ĐÌNH – GIA TỘC

Mỗi gia đình người Việt đất Quảng luôn gắn mình với gia tộc. Người ta có ý thức rất rõ nhà mình thuộc chi nào, phái nào trong mối liên hệ thờ phụng tổ tiên. Các trưởng chi, trưởng phái hàng năm tổ chức cúng giỗ. Việc tham gia và góp giỗ phân đến từng gia đình. Mỗi gia đình cử đại diện tham gia ngày cúng tổ của chi, phái mình. Ở phạm vi gia đình, dân đất Quảng gọi thờ tổ tiên là thờ ông bà. Cách nói này phản ánh sự phân cấp trong thờ phụng. Trong gia đình, bàn thờ ông bà thường thờ ba đối tượng: ông bà cố, ông bà, cha mẹ.

Dù là nhà giàu hay nghèo thì nhà nào cũng có bàn thờ tổ tiên, đặt ở gian chính của nhà. Trên bàn thờ phổ biến có đồ tam sự. Chính giữa bàn thờ là Giá kỉnh. Đó là một khung ảnh bằng gỗ, có đế chân, mặt kính, bên trong thường cẩn chữ “Phước” (chữ Hán), có ý nghĩa như bài vị.

Có một bộ phận khá đông người dân đất Quảng theo đạo Phật. Họ thờ Phật Bà Quan Âm tại gia. Với những gia đình này thì bàn thờ Phật được đặt cao hơn bàn thờ ông bà. Tượng Phật đặt trong tủ kính; chuông và mõ niệm Phật đặt hai bên bát hương của bàn thờ ông bà. Ngoài ra, còn có một bộ phận nữ giới là các bà, các chị tin vào sự độ mạng của Bà Cửu Thiên Huyền Nữ, nên cũng lập bàn thờ Bà Cửu Thiên bên phải bàn thờ ông bà. Nhà nào có cô, bác, chú chết mất xác, thì gia đình xây khám thờ ở ngoài sân, mặt khám quay vào trong nhà.

Người dân đất Quảng quan niệm: “Giàu út ăn, khó út chịu”. Con trai út trong gia đình là người ở cùng bố mẹ, sướng hay khổ còn tùy thuộc vào của cải cha mẹ để lại. Bù lại, con trai út cũng được thờ cúng ông bà. Do đó, ở Quảng Nam – Đà Nẵng, việc thờ cúng ông bà của nhiều nhà do người con út đảm nhiệm.

Việc thờ phụng ông bà diễn ra quanh năm, trong đó có những ngày chính như: cúng vào ngày 14 và ngày 30 âm lịch hàng tháng (người dân đất Quảng cho rằng, ngày 1 và ngày 15 hàng tháng là ngày mọi người đi chùa lễ Phật, mà cũng là ngày ông bà “lên chùa”, nên phải cúng ông bà vào ngày trước đó); các sự kiện trong gia đình, như cưới hỏi, thi cử học hành, làm ăn; Tết Đoan ngọ, Tết Nguyên đán, và ngày giỗ. Trừ dịp lễ tết, cúng giỗ, thức cúng dâng ông bà phải nhiều hơn, còn các dịp khác thì thức cúng đơn giản. Tuy nhiên, những món cúng cổ truyền thì không bao giờ thiếu, như: cơm, canh, xôi chè, bánh tráng, bánh tổ, trầu rượu… Cách bài trí, sắp đặt trên bàn thờ phải theo đúng tục xưa: có bình bông (phải là bông cúc vạn thọ vàng) và nải quả (gồm ngũ quả, trong đó không thể thiếu nải chuối xanh), sắp bày theo nguyên tắc “Đông bình, Tây quả”; trầu rượu; 12 cặp vàng bạc hàng mã trải trước bát hương. Vào ngày Tết Đoan ngọ, trên bàn thờ ông bà có thêm vài dĩa bánh ú lá tro; lễ Vu Lan thì có chè, xôi để ông bà hâm hưởng.

Cúng ông bà trong lễ Tết Nguyên đán là một lễ trọng của gia đình. Theo phong tục, cứ hết năm, nhà nào cũng tiến hành thay cát lư hương trên bàn thờ ông bà. Khoảng giữa tháng chạp, nhà nhà đi chợ mua cát trắng về đãi sạch, phơi khô. Sau ngày cúng tất niên, trừ ngày Dần, các ngày còn lại đều là ngày tốt, gia chủ thắp hương khấn vái ông bà, xin phép được thay cát chân hương trên bàn thờ. Một lớp cát mỏng được lót xuống đáy bát hương, trên lớp cát đó là 3 lá trầu và 1 trái cau (để ông bà ban lộc), cuối cùng là lớp cát phủ kín. Trên bàn thờ ông bà, gia chủ bày hoa quả, trầu rượu, bánh chưng, bánh tét, bánh tổ…, đồ mã (quần áo, mũ nón, giấy tiền vàng bạc). Ngày 29 hoặc 30 tết, gia đình làm mâm cơm rước ông bà về ăn tết; đến ngày mùng làm lễ hóa vàng cùng mâm cơm đưa tiễn ông bà.

Trong phạm vi gia tộc, nhà thờ tộc là nơi gắn kết các thành viên của tộc họ. Hầu như nhà thờ tộc nào cũng có một gia phả, được người dân gọi là “cây phổ hệ”. Có nhà thờ tộc chung và có cả nhà thờ tộc riêng của từng chi phái. Một số nhà thờ tộc vẫn giữ được nét kiến trúc cổ cùng với các bức hoàng phi, liễn đối. Tuổi đời của những nhà thờ này khoảng gần 200 năm.

Việc thờ tổ tiên trong tộc họ của cư dân đất Quảng theo nguyên tắc: “chín đời hơn người dưng”. Bên cạnh đó, quan niệm về tổ tiên của dòng họ cũng rất rộng rãi và sâu sắc. Chẳng hạn, người tộc Lê ở đây luôn tự hào mình là con cháu nhà Lê…Điều này cho thấy sự liên hệ thường trực với cội nguồn đất Tổ đã ăn sâu vào tâm thức người dân đất Quảng. Chúng ta còn thấy rõ điều này khi tìm hiểu những tộc họ có ông tổ là Tiền hiền hoặc Hậu hiền của làng. Trong trường hợp này, con cháu gia tộc vừa tự hào vì được quỳ thần bái xã, vừa hãnh diện vì tổ tiên của mình có gốc gác từ vùng đất Tổ, đã có công đi mở cõi, trấn nhậm một vùng, lập nên làng xã.

Các lễ trọng tổ chức ở nhà thờ tộc là lễ giỗ tổ tiên và lễ tiết Thanh Minh. Vào ngày này, đại diện các chi phái phải có mặt và góp giỗ. Con cháu làm ăn xa cũng phải cố về. Đến tiết Thanh Minh, trưởng tộc cùng các chi phái trưởng làm lễ tại nhà thờ, sau đó ra nghĩa trang gia tộc dọn dẹp, rẫy mả và hóa vàng cho ông bà/ tổ tiên.

Lễ giỗ ông bà của các nhà thờ tộc ở đất Quảng tổ chức trong hai ngày: Ngày đầu là ngày chuẩn bị, gọi là ngày chưng thường, hay tiên thường; ngày hôm sau là lễ chánh kỵ. Món cúng có đủ cả món chay lẫn mặn, trong đó không thể thiếu đầu heo phủ mỡ chài và một con heo quay.

Lễ chánh kỵ tổ chức vào buổi sáng. Trước khi hành lễ, gia tộc phải làm lễ cúng thần hoàng bổn xứ, cô hồn, người khuất mặt, chiến sĩ trận vong, Tiền hiền, Hậu hiền. Bàn cúng đặt ngoài sân với thức cúng ít hơn trong nhà thờ, song lại phải nhiều gạo muối, bỏng nổ, khoai sắn, đồ mã, và một bộ đồ thần thành hoàng bổn xứ (Thổ thần). Lễ cúng theo tục lệ xưa bày, đó là cúng đủ ba tuần rượu, đọc văn cúng cô hồn, hóa văn tế và hóa vàng. Người dân đất Quảng quan niệm, phải có lễ cúng này thì ông bà/ tổ tiên mới “vào” được nhà của con cháu.

Lễ chánh kỵ/ tế tổ tiên tiến hành ngay sau đó. Các nghi thức, lễ bái của lễ giỗ phỏng theo nghi lễ cúng Đình, chỉ khác ở câu xướng tế: Nếu trong lễ cúng Đình là: “nghinh tôn thần chi gia huệ dã”, thì trong lễ tế Tổ tiên sẽ là: “nghinh hương linh chi gia huệ dã”.

Cũng trong ngày tế tổ tiên, các thành viên trong tộc họ thường cùng nhau ôn lại nguồn cội, công lao của ông bà đối với con cháu; đồng thời nhắc nhở con cháu phải đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, không làm những điều sai trái làm ô danh tộc họ. Những gương “người tốt, việc tốt” trong tộc họ cũng được nêu lên để cho con cháu học tập. Lễ chánh kỵ kết thúc sau nghi thức thiểu khước (lạy tạ, xin phước mọn) của đại diện các tộc họ khác được mời đến dự. Sau đó là ăn uống đãi đằng và chia phần cho người vắng mặt.

II- THỜ TỔ TIÊN TRONG CỘNG ĐỒNG LÀNG XÓM

Có một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng phổ biến ở các làng quê đất Quảng, đó là việc thờ Tiền hiền. Có thể xem đây là một dạng thức thờ tổ tiên ở cấp cộng đồng làng xã vì bản chất thờ phụng là tri ân những người đã có công khai khẩn đất đai, lập nên làng xóm, khai mở nghề nghiệp. Các vị này, trước hết là tổ tiên của các dòng tộc trong làng. Chính công lao mở xóm, lập làng của họ đã được cộng đồng thừa nhận và tôn vinh thành Tiền hiền. Cơ sở của việc suy tôn là thông qua lịch sử của các gia tộc truyền từ đời này sang đời khác mà thành lịch sử về các vị Tổ của làng. Phổ biến ở các làng quê đất Quảng là sự phụng thờ Tiền hiền từ tam tộc trở lên, như: làng Mân Thái (Tiền hiền tứ tộc), làng Mân Quang (Tiền hiền lục tộc), làng Hải Châu (Tiền hiền 43 tộc), làng Hà My (Tiền hiền 17 tộc), làng Tĩnh Thuỷ (Tiền hiền tam tộc)… Trong tâm thức người dân, các bậc Tiền hiền được coi như tổ tiên của cộng đồng làng xóm. Chính yếu tố này là sợi dây liên kết bền chặt các thành viên, các thế hệ trong làng với nhau, đồng thời cũng quy định cách ứng xử của người dân đất Quảng theo triết lý: “Trong nhà bênh họ, ngoài ngõ bênh làng”.

Nơi thờ các bậc tổ tiên của làng là đình hoặc nhà thờ. Có làng vừa thờ Tiền hiền ở đình, vừa thờ ở nhà thờ Tiền hiền riêng. Làng thờ Tiền hiền ở đình thì Tiền hiền được thờ ở chánh tẩm, vị thế chỉ sau Thành hoàng bổn xứ. Bàn thờ Tiền hiền có bài vị ghi tên các vị Tiền hiền bằng chữ Hán hoặc Quốc ngữ. Làng có nhà thờ làm nơi thờ chính Tiền hiền, như: An Hải, Hà My, Phước Ấm, Tĩnh Thuỷ…, thì nhà thờ Tiền hiền là một kiến trúc độc lập, quy mô và cách bài trí giống như nhà thờ tộc.

Ngày kỵ Tiền hiền là một trong những ngày lễ trọng của cộng đồng làng, mang tính chất lễ giỗ Tổ chung của cả làng. Trước khi tổ chức, các chư tôn tộc phái trong làng cắt cử đại diện tham gia lễ rẫy mả tiền hiền. Lễ chánh kỵ được tổ chức ở đình hoặc nhà thờ Tiền hiền. Những làng kỵ tiền hiền tại đình thì ngày kỵ thường cùng với ngày cúng kỳ yên của làng (hoặc là ngày thành lập làng), tổ chức mỗi năm một lần. Một vài làng ven biển Đà Nẵng có lệ kỵ Tiền hiền hai lần trong năm, trùng với lễ cầu phước (đầu năm) và cầu an (cuối năm). Những làng có nhà thờ Tiền hiền riêng, thì việc kỵ Tiền hiền tại nơi này được gọi là ”ngày giỗ hội”, hay ngày ”kỵ Tổ Tiền hiền”, như ngày giỗ hội của làng An Hải vào ngày 6/6, làng Hoá Sơn ngày 4/6, làng An Tân ngày 12/2, làng An Bàng ngày 15/1 và ngày 12/6, làng Hói Láng ngày 16/3, làng Hà My ngày 20/3 và 20/8, làng Phước Ấm ngày 10/3, làng Tĩnh Thuỷ ngày 15/4… Đây cũng là những làng còn giữ được ruộng hương hỏa, do các chư phái tộc trong làng tự nguyện đóng góp để thờ phụng tiền hiền.

Lễ kỵ tổ Tiền hiền ở các làng quê đất Quảng cũng diễn ra trong hai ngày, gồm lễ túc và lễ chánh. Vật phẩm dâng cúng tuỳ theo quy mô cuộc tế: tiểu lễ cúng xôi gà, trung lễ cúng thịt heo, đại lễ cúng thêm bò. Lễ túc hay còn gọi là lễ chưng thường bao giờ cũng gồm hai lệ. Đó là lễ cúng Âm linh/ Cô Bác ngoài trời và lễ cúng cáo các bậc Tiền hiền trong chánh tẩm. Lễ vật dâng cúng gồm bình bông, hoa quả, cùng nhiều đồ mã (áo giấy, tiền vàng để cúng Âm hồn; một bộ đồ Thổ Thần và giấy vàng bạc để cúng tiền hiền). Lễ chánh kỵ tiến hành vào sáng sớm ngày hôm sau, và cũng gồm hai lệ giống lễ chưng thường, chỉ khác ở thức cúng Âm linh và Tiền hiền: Thức cúng Âm linh ngoài sân, bên cạnh đồ mã, bình bông, nải quả, bánh trái, khoai sắn, bỏng nổ, phải thêm cơm canh, cá gỏi, xôi chè và bánh tráng; còn thức cúng Tiền hiền chính là các món dâng cúng trong ngày giỗ tổ tiên.

Nghi thức lễ kỵ tổ tiền hiền cũng bao gồm các bước như nghi thức tế thần, gồm: Sơ hiến, á hiến, chung hiến, độc chúc và thiểu khước (con cháu các tộc họ ở xa về và các đại biểu lạy sau cùng để xin hưởng phước mọn của tổ tiên). Chủ tế thường là vị trưởng làng. Làng nào thờ nhiều bậc Tiền hiền thì chủ tế, đồng thời cũng là người vinh dự được đọc văn tế phải thuộc tộc họ Tiền hiền đầu tiên. Văn tế tiền hiền có nội dung đề cao công đức khai sơn phá thạch, lập làng, mở nghiệp của các vị tiền nhân, mà cũng là tổ tiên các dòng họ trong làng, đồng thời đó còn là tiếng nói tri ân của các thế hệ cháu con đối với các bậc tiên tổ.

Cùng với việc cúng tế hàng năm, nhiều làng giữ lệ cứ ba năm một lần vào ngày kỵ tổ Tiền hiền lại tổ chức hát tuồng cầu an. Những làng gần sông biển thì tổ chức đua ghe, lắc thúng. Những sinh hoạt văn hóa cộng đồng này đã góp phần làm cho ngày kỵ tổ tiền hiền như trở thành ngày hội của cộng đồng làng.

Có thể nói, tín ngưỡng thờ tổ tiên của người dân đất Quảng không xa rời truyền thống của dân tộc. Ở nơi này, gia đình – tộc họ vẫn tổ chức theo mẫu hình truyền thống. Sợi dây huyết thống được nối dài đến chín đời, để khẳng định tính chất cùng chung nguồn cội. Gia phả của tộc họ được gọi là “cây phổ hệ” đã nói lên ý thức bảo tồn, giữ gìn truyền thống và phát triển dòng họ của người dân đất Quảng trong cuộc sống đương đại.

Thực tế cho thấy, trên vùng đất Quảng Nam – Đà Nẵng không có nơi nào có đền thờ Hùng Vương. Nhưng tinh thần của tín ngưỡng này thì đã thấm sâu vào đời sống người dân đất Quảng từ bao đời nay. Người Việt thờ Hùng Vương là thờ người sáng lập ra đất nước. Ngày giỗ Quốc Tổ là ngày cả dân tộc tri ân công lao to lớn của các Vua Hùng, thể hiện đạo lý biết ơn, lối sống trọng tình của dân tộc. Giá trị cốt lõi của tín ngưỡng này đã trường tồn cùng lịch sử dân tộc, khúc xạ trên mỗi vùng đất, tạo nên những phong tục, dạng thức thờ phụng mới nhưng vẫn không cắt đứt với truyền thống đạo lý dân tộc. Theo đó, việc thờ phụng tổ tiên/ông bà ở gia đình, dòng tộc và làng xóm của người dân đất Quảng cũng gắn với niềm tin, triết lý sâu sắc về nguồn cội, hàm chứa trong đó lối sống, đạo lý “uống nước, nhớ nguồn”, đúng như câu văn trong một bài văn kỵ Tổ tiền hiền của người dân đất Quảng: “Ơn đó ngàn năm ghi mãi, nghĩa kia muôn thuở nào quên”.

Nguyễn Xuân Hương

Hội viên Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam, Chi hội Đà Nẵng.

Tài Liệu Về Tín Ngưỡng Thờ Cúng Cô Hồn Ở Hội An, Quảng Nam

Mâm Cúng Đất Giống Người Xứ Quảng

Tục Cúng Đất Vùng Ngũ Quảng

Bài Cúng Về Nhà Mới

Mua Nhà Cõi Âm Cầu Kỳ Hơn Mua Đất Ở

Tục Cúng Đất Ở Xứ Huế

Hướng Dẫn Cách Bày Mâm Ngũ Quả Trên Bàn Thờ Ngày Tết 2022 Theo Truyền Thống

Tục Lệ Cúng Đất Của Người Dân Huế

Cách Chuẩn Bị Mâm Cơm Cúng Đưa Ông Táo Về Trời

Bật Mí Cách Làm Mâm Cúng Thôi Nôi Cho Bé Trai Đơn Giản Nhất

Dịch Vụ Đặt Mâm Cỗ Cúng Rằm Tháng Giêng Hút Khách

Th12 26, 2022 bởi admin

Cúng đất còn có tên gọi : Cúng Thần hoàng bổn xứ. Tục lệ này đã được người dân thực hiện suốt chiều dài 700 năm của đất Thuận Hóa ( Huế xưa) được xem như là một dị bản của của 2 tục cúng : Tục cúng ông Tà (néak Tà) là hiện thân chủ cũ của đất phương Nam . Theo người Việt gốc Khmer Nam bộ thì néak Tà là thần tạo vật… đồng thời cũng là các vị thủy tổ của dòng họ, gọi chung là Tà Arak và Tục cúng vợ chồng chủ đất (chủ Ngung- còn gọi là vợ chồng chủ đất Man Nương, căn cứ vào nguồn gốc hình thành tín ngưỡng thì họ là người Chiêm Thành (Chăm) được coi như đại diện cho dân tộc trông coi đất đai) ở vùng Nam Trung Bộ (Khánh Hòa, Phú Yên, Ninh Thuận…) .

2/ Đối tượng được cúng:

Tục cúng đất của người Huế đã có lịch sử suốt hơn 700 năm Người được cúng là các vị thần thành hoàng, ngũ phương, ngũ hành, thần đất, thần nhà, thần tiên sư các nghề, thần vườn, thần quản lục súc, thần che chở của cải, thần phúc đức, chủ đất, kho đất, thần cây gỗ, thần đường sá, thần cai quản các loại ma, núi đồi đầm phá, thần bảo vệ đất, cha đất, con đất, cháu đất, cửa ngõ, chúa quỷ miệng lửa và lực sĩ mặt cháy.

Đặc biệt trong lễ cúng này, chủ nhà thành tâm kính mời linh hồn cô đơn các ma Chàm, ma Chợ, ma Mọi, ma Rợ, vì ốm đau đói khát mà chết; ma Lồi ma Lạc có tước vị mà không có tên, có tên mà không có tước vị cùng đến dự.

3/ Thời gian thực hiện:

Diễn ra hàng năm , mỗi năm cúng 2 lần và tùy theo điều kiện khác nhau của mỗi gia đình có thể bố trí ngày cúng trong 2 tháng là tháng 2 và 8 âm lịch . Thông thường các gia đình chọn những ngày được cho là tốt và nhàn rỗi.

4/ Thể thức bày biện và vái lạy:

Nguyên tác về một mâm cúng đất ở Huế được bố trí ở 3 bàn thượng, trung, hạ (bàn hội đồng).

– Bàn thượng chỉ có một con gà trống luộc, gồm huyết và lòng rắc muối hạt một con dao bằng tre, cùng một dĩa xôi trắng, phụ năm sáu chén chè .

– Bàn trung gồm một con gà mái luộc đầy đủ lòng và huyết cũng rắc muối hạt đặt dao tre, một dĩa xôi trắng và một số chén chè. Tại bàn cúng này còn có 3 con cua bể, 3 quả trứng và 3 miếng thịt heo luộc đều có rắc muối sống.

– Bàn hạ, còn gọi là bàn hội đồng, bố trí một mâm cơm đầy đủ các thức ăn song không thể thiếu các món: một dĩa ra tập tàng luộc (có thể thay bằng rau khoai) với nước mắm nêm, một gắp cá nướng, loại cá nhỏ và một khay khoai sắn luộc, một khay gạo sống muối sống, một đĩa cua đồng nhỏ còn sống , trứng gà luộc và một bát cháo thánh (cháo trắng), hột nổ ngũ sắc, đường đen.

Tất cả 3 bàn này đều có hoa quả, bát hương, cây đèn, ly nước, ly rượu, dĩa cau trầu với nguyên tắt ” Đông bình ,tây quả “. Ngoài ra còn có các loại vàng mã (đồ giấy), ở bàn thượng là một chiếc ngai có tàng, trên đặt mũ phương phát, một đôi hia, và một chiếc áo vẽ rồng có đai đeo. Ở bàn trung gồm trang phục của bà thổ, bà hỏa là 2 chiếc nón quai thao, 2 chiếc quần, 2 chiếc áo vẽ hình chim phụng, hai chiếc đãy cau trầu và hai chiếc quạt, năm bộ chủ Ngung Man Nương, gồm 5 chiếc nón chóp nhọn và 5 bộ áo quần, năm bộ Ngũ phương gồm 5 chiếc mũ, 5 đôi giày, 5 chiếc áo nhỏ, thập nhị Long Trạch gồm 12 chiếc áo đen. Ở bàn hạ, hội đồng, chỉ bày áo binh

Ngoài ra, bao giờ chủ nhà cũng lấy bẹ chuối làm thành một chiếc túi đựng thức ăn, áo binh, giấy vàng bạc, treo ở chân bàn ( trong lúc cúng ) và treo ở cổng nhà hoăc ngã ba đường (sau khi cúng xong ) gọi là Xà Lẹc ( là cái túi đeo hong làm bằng tre mây của người dân tộc mang theo đựng thức ăn để đi đường hoặc đi làm nương rấy) dành cho những “người” qua đường.

Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay vì nhiều lý do số bàn bày biện chỉ còn lại 2 : bàn Thượng và bàn Hạ ( bàn hội đồng ) và đồ giấy cũng đơn giản theo ít nhiều.

Bàn đặt ở trước nhà, gia chủ đứng từ trong nhà lạy ra và khấn vái tên đầy đủ các thiên thần cai quản trời đất, vùng đất cụ thể, nhà cửa của gia chủ… Đặc biệt còn dâng cúng cả những cô hồn người Chăm… từng cư trú trên địa bàn Huế, cũng như những hài cốt tiềm ẩn trong đất. Cũng chính vì có đối tượng là cô hồn người dân tộc thiểu số nên mới bày biện món rau khoai luộc chấm nước ruốc, xâu cá tôm nướng.

5/ Ý nghĩa:

Cúng đất là dịp để gia đình, bạn bè họp mặt sau khi mùa vụ đã gặt hái xong. Tục lệ này nhằm thắt chặt tình cộng đồng hàng xóm, láng giềng. Cúng đất còn là dịp để các bà, các chị thể hiện sự khéo léo, giỏi giang trổ tài nữ công gia chánh.

Tục lệ cúng đất không nặng yếu tố mê tín dị đoan, mà thể hiện tấm lòng “uống nước nhớ nguồn”, tri ân, biết ơn tổ tiên. Vì vậy, cần bảo tồn nếp sinh hoạt văn hóa dân gian mang tính nhân văn cao này của người dân xứ Huế ,tránh những biến tướng suy nghĩ sai lệch đem lại trở thành những hình thức mê tín dị đoan thái quá.

Mâm Cỗ Cúng Ông Công Ông Táo Đầy Đủ Gồm Những Gì?

Hướng Dẫn Chuẩn Bị Lễ Vật, Văn Khấn Lễ Đầy Cữ

Nghi Lễ Cúng Đầy Cữ Cho Bé Gái, Trai Tiến Hành Như Thế Nào?

Mâm Cúng Mùng 5 Tháng 5 Cần Chuẩn Bị Những Gì?

Mâm Cúng Mùng 5/5 Và Những Điều Nhất Định Phải Biết

🌟 Home
🌟 Top