【#1】Viết Bài Văn Thuyết Minh Về Lễ Hội “vía Bà Chúa Xứ Núi Sam” (Châu Đốc, An Giang)

Vào những năm 1820, quân Xiêm thường xuyên quấy nhiễu biên giới nước ta. Khi đến núi Sam, trông thấy tượng Bà, chúng hì hục dùng đủ mọi cách để khiêng tượng Bà xuống núi, nhưng khi vừa đi được một đoạn ngắn thì kì lạ thay, tượng Bà bỗng nặng trĩu đến cả chục binh sĩ trai tráng cũng không thể bê nổi. Khi đó, một tên trong đám giặc nổi giận, đạp vào cốt tượng làm gãy một phần cánh tay bên trái và ngay lập tức bị trừng phạt đau đớn.

Một thời gian sau, nhiều người trong làng luôn mơ thấy tượng Bà hiện về tự xưng là Bà Chúa Xứ, báo mộng dân làng khiêng bà xuống núi lập miếu thờ, bà sẽ phù hộ cho mưa thuận gió hòa, bảo vệ dân làng khỏi nạn giặc cỏ. Vậy là cả làng lên khiêng tượng Bà Chúa Xứ xuống núi để xây miếu thờ cúng, nhưng không hiểu sao tất cả thanh niên lực lưỡng trong làng cũng không thể bê tượng Bà lên. Khi ấy, một cô gái tự xưng là Chúa Xứ Thánh Mẫu và báo rằng Bà chỉ cần 9 cô gái đồng trinh khiêng bà. Quả nhiên, 9 cô gái di chuyển Bà một cách dễ dàng và khi xuống đến chân núi, tượng Bà trở nên nặng không thể di chuyển được, dân làng hiểu rằng Bà đã chọn vị trí này để làm miếu cho mình.

Tượng Bà cao khoảng 1m65, theo nhà khảo cổ học người Pháp Malleret đến nghiên cứu vào năm 1941, tượng Bà thuộc loại tượng thần Visnu, tạc dáng người ngồi nghĩ ngợi quý phái vương giả. Chất lượng bằng đá son, có giá trị nghệ thuật cao, có thể được tạc vào cuối thế kỷ VI. Theo một số nghiên cứu khác, tượng Bà là pho tượng Phật đàn ông của người Khmer, bị bỏ quên lâu đời trên đỉnh núi Sam. Người Việt đưa tượng vào miếu, điểm tô lại trở thành Bà Chúa Xứ quyền thế. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, tượng Bà Chúa Xứ vẫn là còn là điều bí ẩn.

Ban đầu, miếu Bà Chúa Xứ được xây dựng khá sơ sài, nằm trên vùng đất trũng và lợp bằng lá tre, lưng quay về vách núi, chánh điện nhìn ra con đường làng và cánh đồng bát ngát. Trải qua nhiều lần trùng tu, đến năm 1992, di tích quốc gia miếu Bà Chúa Xứ hoàn thành khá quy mô với khu Đông Lang, Tây Lang, chánh điện, nhà khách… Ngay lối chánh điện có đôi câu đối thể hiện quyền uy linh thiên của Bà Chúa Xứ:

Cầu tất ứng, thí tất linh, mộng trung chỉ thị Xiêm khả kinh, Thanh khả mộ, ý ngoại nan lượng.

Dịch nghĩa là:

Cầu tất được, ban nhất định linh, báo mộng cho biết Người Xiêm phải sợ, người Thanh phải nể, không thể tưởng tượng nổi.

Sau khi xây dựng, miếu được một người trông nom cai quản gọi là Từ. Ban đầu, các hoạt động cúng bái còn khá lẻ tẻ và đơn sơ, tuy nhiên sau năm 1870, khi miếu được trùng tu khang trang đã thu hút người dân thập phương nên Lễ hội Bà Chúa Xứ từ đó cũng trở nên phổ biến. Lễ hội được bắt đầu từ đêm 23/4 đến ngày 27/4 âm lịch, ngày chính vía là 25/4 âm lịch, là ngày tượng Bà an vị sau khi khiêng xuống núi. Các nghi thức cúng bái sẽ được các hương chức trong làng thực hiện theo nghi thức cổ truyền. Trước khi cử hành các nghi thức, vào ngày 10/3 âm lịch hàng năm, Ban quản trị miếu bầu ra chủ lễ với các tiêu chí như ngoài 60 tuổi và vẫn khỏe mạnh, còn đủ vợ đủ chồng, con cái đông đủ cả trai cả gái và đạo đức tốt.

Vào đêm 23/4, rạng sáng 24/4, Lễ tắm Bà được tiến hành theo nghi thức trang trọng. Tượng Bà sẽ được lau bằng nước thơm, thay y phục mới, còn y phục cũ sẽ được cắt nhỏ và ban cho khách trẩy hội như một hình thức cầu an, cầu may.

Lễ thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu về miếu Bà được tiến hành lúc 15h ngày 24/4 âm lịch. Tương truyền, Thoại Ngọc Hầu là một danh tướng lẫy lừng thời Nguyễn, từng là trấn thủ trấn Vĩnh Thanh, người có công lớn trong công cuộc khẩn hoang lập ấp, đào kênh đắp đường, xây dựng và bảo vệ vùng đất mới. Một trong những đóng góp to lớn nhất của Thoại Ngọc Hầu chính là lộ núi Sam – Châu Đốc dài 5km, xây dựng từ năm 1826 đến 1827, huy động gần 4500 nhân công. Sau khi hoàn thành, ông cho khắc bia “Châu Đốc Tân Lộ Kiều Lương” dựng tại núi Sam năm 1828 để kỷ niệm. Ngày nay, tấm bia không còn nhưng còn văn bia trong sử sách. Các bô lão trong làng và Ban quản trị miếu mặc lễ phục chỉnh tề sang lăng Thoại Ngọc Hầu làm Lễ thỉnh sắc rước bài vị của Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại để tỏ lòng biết ơn người có công khai phá vùng đất hoang vu này.

Lễ Túc Yết được tổ chức vào đêm 25, rạng sáng 26/4 âm lịch. Lễ được tiến hành theo trình tự: dâng hương, chúc tửu, hiến trà, đọc văn tế. Cuối cùng, văn tế được hóa cùng một ít giấy vàng mã. Tiếp ngay sau Lễ Túc Yết là đến Lễ Xây Chầu – Hát Bội do một người sành nghi lễ và có uy tín trong Ban tế tại miếu Bà thực hiện cùng đào kép hát bội cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa.

Lễ Chánh tế được diễn ra vào 4 giờ sáng ngày 26/4 và cuối cùng, chiều ngày 27/4 sẽ đưa sắc Thoại Ngọc Hầu về lăng.

Phần hội diễn ra rất sôi nổi đan xen với phần lễ, các hoạt động văn hóa nghệ thuật dân gian được biểu diễn như múa lân, múa mâm thao, múa đĩa chén… thu hút sự chú ý và tham gia của du khách thập phương. Lễ khai hội thường tổ chức vào trước đêm Lễ tắm Bà, tức là phần trước lễ truyền thống. Chương trình khai hội khá đặc sắc, phong phú với các tiết mục được sân khấu hóa như biểu diễn lân sư rồng, diễu hành xe hoa hay ca múa nhạc dân tộc Khmer. Sau đó, Lễ phục hiện sẽ được tiến hành với ý nghĩa tái hiện bối cảnh rước tượng Bà từ đỉnh núi Sam theo truyền thuyết.

Hàng năm, miếu Bà Chúa Xứ thu hút hàng nghìn khách thập phương đến hành hương chiêm bái, đóng góp cho việc tôn tạo miếu. Ngoài việc trùng tu miếu, Ban quản lý sử dụng một phần số tiền đóng góp để làm phúc lợi xã hội.

Nhờ có Lễ Bà Chúa Xứ, hàng năm, những người tham gia lễ hội đã giúp tạo nguồn thu nhập cho người dân địa phương, đời sống dần trở nên ổn định hơn.

Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ vẫn luôn là nét văn hóa cộng đồng đặc sắc của các dân tộc, nét hành hương tâm linh đặc trưng của Nam bộ. Ý nghĩa của Lễ hội không chỉ dừng lại ở văn hóa tâm linh mà còn thể hiện niềm tự hào dân tộc với những trang sử vẻ vang chói lọi cũng như các đóng góp cho xã hội. Du khách đến với Lễ hội không chỉ là tham gia một nét văn hóa vùng miền, mà còn tận mắt chứng kiến các chứng tích lịch sử mà ông cha ta đã dày công xây dựng và giữ gìn.

【#2】Bài Văn Khấn Cúng Sao Giải Hạn Sao Thổ Tú Chuẩn Nhất

1. Sao Thổ Tú là sao gì

Sao Thổ Tú hay Thổ Đức Chân Tinh Tinh Quân là một trong ngũ tinh quân, tên chính của ngài là “Trung Ương Thổ Đức Địa Hầu Chân Tinh Tinh Quân. Nghi là con của hoàng đế, ánh sáng chiếu xa hai mươi vạn dặm. Tinh quân đầu đội mũ tinh tú, chân đứng trên ngọc, áp vàng thêu hạc trường thọ, tay cầm Thất Tinh Huyền Ngọc bảo kiếm và chuỳ Bạch Ngọc. Ngài quản các loại côn trùng, sâu bọ, khí hậu…

Ứng với người mệnh Thổ, gặp sao này chiếu mạng thì hay có nỗi buồn man mác, không có chủ định vững vàng, hay hoài nghi công việc làm ăn, không hăng hái, song không gặp tai họa gì. Thường 6 tháng đầu năm bình thường, 6 tháng cuối năm mới thuận lợi.

2. Tuổi sao Thổ Tú chiếu mệnh năm 2021

Những tuổi sao Thổ Tú chiếu mạng năm 2021

Nam mạng: 1956, 1965, 1974, 1983, 1992, 2001

Nữ mạng: 1953, 1962, 1971, 1980 , 1989 , 1998, 2007

Để có thể tự tính được cuộc đời của mình sẽ trải qua hạn sao Thổ Tú vào những năm nào, năm bao nhiêu tuổi các bạn có thể dựa vào quy luật tuần hoàn trở lại của sao Thổ Tú cứ 9 năm sẽ quay lại 1 lần.

Ở nam Sao Thổ Tú bắt đầu hạn từ năm 11 tuổi, nữ sao Thổ Tú bắt đầu từ năm 5 tuổi.

Nam mạng: 11, 20, 29, 38, 47, 56, 65, 74, 83, 92

Nữ mạng: 5, 14, 23, 32, 41, 50, 59, 68, 77, 86, 95

3. Sao Thổ Tú là sao tốt hay sao xấu

Nhìn chung, sao Thổ Tú là một trong những sao chiếu mệnh mang điều xấu, bởi thế nên nếu quý anh, chị trong năm nay gặp sao chiếu mệnh là Thổ Tú thì nên để ý những việc trong gia đình, tránh những xung đột mâu thuẫn không đáng có, nếu là công việc chăn nuôi thì không nên mở rộng, nên tập trung giữ ổn định tài sản hiện tại chờ hết năm tính tiếp.

Mặc dù sao Thổ Tú là sao xấu nhưng lại rất hợp với những người mệnh Thổ vì thế nếu người nào thuộc mệnh Thổ thì quả thực cũng không đáng lo ngại lắm. Tuy nhiên, người già mà gặp sao này thì bệnh tật hoành hành, ốm lâu, khó khỏi. Đi lại khó khăn, làm việc hay bị tiểu nhân quấy rối. Gia trạch bất an, chủ nhân hay chiêm bao mộng mị, không nên nuôi con vật gì. Tháng 4, tháng 8 sẽ có việc buồn đau.

Dân gian có lưu truyền đoạn thơ mô tả về tính chất của sao Thổ Tú như sau:

Thổ tú sao ấy phải lo

Tuy rằng ít nặng giữ cho vẹn toàn

Tháng một tháng tám chẳng an

Kị trong hai tháng thiếp chàng bi ai

Làm ăn thì cũng có tài

Khiến cho đau ốm phải rày tốn hao

Mang lời chịu tiếng biết bao

Bán buôn phải giữ kẻo hao mất đồ

Tham tài dục lợi của vô

Đem ra thì bị côn đồ đoạt đi

Tin người ngon ngọt phải nguy

Thi ân bố đức việc gì cũng qua

4. Sắm lễ cúng sao giải hạn sao Thổ Tú

Hướng về chính Tây làm lễ cúng sao giải hạn.

5. Cách cúng sao Thổ Tú

Gặp sao này, ngày 19 âm lịch hàng tháng dùng Kim tiết như đeo trang sức đá quý, ngọc phong thủy màu trắng là mã não trắng, kim cương, thạch anh trắng…

Vào tối 19 âm lịch hàng tháng, đặt bàn thờ về hướng chính Tây, trên bàn thờ đặt 5 ngọn đèn (nến) bố trí theo các vị trí hướng sao hiện.

Việc cúng sao giải hạn đầu năm sẽ được lựa chọn vào thời điểm tháng giêng, riêng đối với cúng sao hạn Thổ Tú phải chọn vào ngày 19 tháng 1 âm lịch đây là thời điểm sao Thổ Tú giáng hạ.

Thời gian cúng sao Thổ Tú vào khoảng từ 20h đến 22h là thời gian tốt nhất. Nếu không thể làm lễ đúng giờ cũng có thể cúng vào thời gian sớm hơn trong ngày.

Bài vị sao Thổ Tú

Bài vị: Dùng sớ viết tên trên giấy màu vàng, viết tên Trung Ương Mậu Kỷ Thổ Tú Tinh Quân Vị Tiền.

6. Bài cúng sao giải hạn sao Thổ Tú

Nam Mô A Di Đà Phật !

Nam Mô A Di Đà Phật !

Nam Mô A Di Đà Phật !

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

– Nam mô Hiệu Thiên Chí tôn Kim Quyết Ngọc Hoàng Thượng Đế.

– Con kính lạy Đức Trung Thiên tinh chúa Bắc cực Tử vi Tràng Sinh Đại Đế.

– Con kính lạy ngài Tả Nam Tào Lục Ty Duyên Thọ Tinh Quân.

– Con kính lạy Đức Hữu Bắc Đẩu cửu hàm Giải ách Tinh Quân.

– Con kính lạy Đức Trung Ương Mậu Kỷ Thổ Đức Tinh Quân.

– Con kính lạy Đức Thượng Thanh Bản mệnh Nguyên Thần Chân Quân.

Tín chủ con là: …………………………………..

Hôm nay là ngày… tháng… năm…. tín chủ con thành tâm sắm lễ, hương hoa trà quả, đốt nén tâm hương, thiết lập linh án tại (địa chỉ) ………………… Để làm lễ cúng sao giải hạn sao Thổ Tú chiếu mệnh.

Cúi mong chư vị chấp kỳ lễ bạc phù hộ độ trì giải trừ vận hạn, ban phúc, lộc, thọ cho chúng con gặp sự lành, tránh mọi sự dữ, gia nội bình yên, an khang thịnh vượng.

Tín chủ con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam Mô A Di Đà Phật !

Nam Mô A Di Đà Phật !

Nam Mô A Di Đà Phật !

Việc tổ chức cúng sao giải hạn nên đảm bảo trang nghiêm, tiết kiệm, tránh mê tín dị đoan, không để xuất hiện yếu tố dịch vụ, trục lợi, mà phải đúng Chính pháp để mọi người hiểu luật nhân quả của Phật giáo, làm việc tốt, sống đời sống chính mạng, chính nghiệp mới tránh bất an trong đời sống của mình.

Đá mỹ nghệ Ninh Bình chúng tôi sản xuất chế tác các sản phẩm lăng mộ đá: Mộ đá một mái, mộ đá hai mái, mộ đá ba mái, các sản phẩm trang trí nhà thờ đá: cuốn thư, bàn thờ đá, bát hương, cột đèn đá, …. hãy liên hệ với chúng tôi nếu bạn có nhu cầu các sản phẩm lăng mộ đá

Cơ sở sản xuất đá mỹ nghệ truyền thống Ninh Bình

Địa chỉ : Thôn Xuân Vũ, Xã Ninh Vân, Huyện Hoa Lư, Tỉnh Ninh Bình

Với đội ngũ thợ lành nghề ý tương sáng tạo cao chắc chắn sẽ làm hài lòng các bạn khi đến vơi chúng tôi.

Mở cửa: Từ thứ 2 đến Chủ Nhật 8h30 – 21h30

Website : https://lauthoda.vn/

【#3】Bài Cúng Thần Tài, Thổ Địa Theo ‘văn Khấn Cổ Truyền Việt Nam’ Chuẩn Nhất

Chuyendong.vn – Bài cúng Thần Tài – Thổ Địa theo ‘Văn khấn cổ truyền Việt Nam’ Chuẩn Nhất’ – xin giới thiệu bài khấn Thần Tài (theo Văn khấn cổ truyền Việt Nam – NXB Văn hóa Thông tin). Nam mô A Di Đà Phật 3 Lần !

– Con lạy chín phương Trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương.

– Kính lạy ngài Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân.

– Con kính lạy Thần Tài vị tiền.

– Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

Tín chủ con là…

Ngụ tại…

Hôm nay là ngày… tháng… năm…

Tín chủ thành tâm sửa biện, hương hoa, lễ vật, kim ngân, trà quả và các thứ cúng dâng, bày ra trước án kính mời ngài Thần Tài vị tiền.

Cúi xin Thần Tài thương xót tín chủ, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật phù trì tín chủ chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia đạo hưng long thịnh vượng, lộc tài tăng tiến, tâm đạo mở mang, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô A Di Đà Phật 3 Lần!

Trước khi cúng Thần Tài, bạn nên lau dọn bàn thờ Thần Tài cẩn thận. Thần Tài cần được tẩy trần bằng nước lá bưởi hoặc dùng một cái thau (chuyên dùng tẩy uế) đổ nước sạch và pha một chút rượu trắng rồi tắm rửa cho cả Thần Tài và Ông Địa. Tiếp đó, lau chùi, dọn dẹp sạch sẽ, thoáng đãng bàn thờ của hai ông.

Trong ngày vía Thần Tài nên cúng mặn. Đồ cúng thường là các món ăn ngon như lợn quay, gà, hoa quả, nước uống hàng ngày… Dân gian truyền miệng Thần Tài rất thích món cua biển, lợn quay và chuối chín vàng.

Hoa cúng Thần Tài, không nên dùng hoa giả, cần mua hoa tươi, có nụ, có hương thơm càng tốt. Quả cũng không nên dùng quả nhựa mà nên cúng Thần Tài bằng quả tươi, ngon. Người ta thường dùng táo, lê, chuối, cam, quýt để cúng.

Trong đời sống tâm linh, nhiều người Việt quan niệm rằng, xuất tiền mua vàng trong ngày vía Thần Tài mùng 10 tháng Giêng sẽ được may mắn, công việc hanh thông, đắc tài đắc lộc, tiền bạc rủng rỉnh cả năm.

Tuy nhiên, chuyên gia phong thủy Nguyễn Mạnh Linh từng cho biết, không có tài liệu nào ghi chép rõ ràng về việc mua vàng vào ngày này sẽ được may mắn cả năm.

Theo chuyên gia phong thủy Nguyễn Mạnh Linh, trong ngày Thần Tài, mọi người có thể đi mua vàng nhưng không nhất thiết cứ phải chen lấn, mua giá cao.

Trước khi làm lễ cúng Thần Tài, gia chủ nên tắm gội sạch sẽ, mặc quần áo chỉnh tề và mở tất cả các cửa nhà, cửa sổ đối diện với hướng Tây (hướng Tài Lộc) để đón nhận nguồn năng lượng tích cực và tài lộc cho cả nhà.

Nhiều chuyên gia phong thủy cho rằng, lễ cúng Thần Tài nên vào buổi sáng lúc 7 – 9h (giờ Thìn) là đẹp nhất.

Mâm lễ cúng Thần Tài nên đặt trong nhà. Nhiều người lễ ở nhà riêng thường đặt mâm cúng trước cửa hay ngoài sân, ban công là không nên vì cúng ngoài sân hay ngoài cửa dễ có “vãng vong”, dân gian gọi là vong lang thang vào phá.

Một trong những việc rất quan trọng trong ngày vía Thần Tài là đọc đúng bài văn khấn Thần Tài. Để cung thỉnh Thần Tài về, mọi nhà khi hành lễ nên đọc to bài văn khấn trong ngày cúng vía Thần Tài để mọi việc được hanh thông, gia chủ làm ăn buôn bán phát tài phát lộc.

Nguồn gốc, ý nghĩa ngày vía Thần Tài mùng 10 tháng Giêng

Ngày vía Thần Tài mùng 10 tháng Giêng, mọi người thường đi sắm vàng cầu một năm may mắn về tài chính. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết về sự tích ra đời của ngày này. Nguồn gốc, ý nghĩa của ngày vía Thần Tài

Chuyện xưa kể rằng, Thần Tài là vị thần sống trên trời, trong một lần xuống dưới hạ giới do uống rượu say, đầu va vào đá nên không nhớ mình là ai. Trong quá trình lưu lạc dưới nhân gian, quần áo Thần Tài mặc trên người bị người dân đem đi bán.

May thay, khi Thần Tài đi lang thang ăn xin thì được một cửa hàng bán gà, vịt mời Thần Tài ăn, từ đó cửa hàng này đông nghịt khách hàng.

Một thời gian sau, cửa hàng đó làm ăn sa sút, vắng khách do chủ nhà thấy Thần Tài không làm gì, ăn bốc nên không cho ở nữa. Thấy vậy, nhiều người kinh doanh khác đến mời Thần Tài về, đưa đi mua quần áo mới để mặc. Cũng may, Thần Tài tìm đến đúng cửa hàng đã mua lại quần áo lúc trước rồi mặc lại quần áo của mình, đội mũ bay về trời vào ngày mùng 10 tháng Giêng âm lịch.

Để tưởng nhớ Thần Tài, mọi người chọn ngày này là ngày vía Thần Tài. Từ đó, vào ngày này hàng năm người dân lại sắm sửa lễ vật cúng Thần Tài và mua vàng để cầu tài lộc may mắn, sung túc cho cả năm.

Ngày vía Thần Tài (tức ngày mùng 10 tháng Giêng âm lịch hàng năm). Vào ngày này, mọi người, đặc biệt là các gia đình kinh doanh, buôn bán thường sắm đồ về cúng Thần Tài.

Thậm chí, nhiều người còn xếp hàng dài, chen chân nhau đứng chờ vài tiếng đồng hồ mua được vàng vào đúng ngày vía Thần Tài bay về trời để cầu mong may mắn, tài lộc trong suốt một năm. Vàng không chỉ có giá trị thiết thực và khả năng tích trữ cao mà còn mang ý nghĩa phú quý cát tường, tài lộc may mắn cho năm mới.

Vào ngày vía Thần Tài, các cửa hàng vàng thường mở cửa rất sớm. Khách có thể tới mua vàng từ khoảng 6 giờ sáng. Tuy nhiên, do lượng khách đi mua tăng đột biến nên mọi người thường phải xếp hàng cả tiếng đồng hồ.

Còn nếu không muốn xếp hàng thì khách có thể mua, đặt mua vàng Thần Tài từ ngày mùng 9 tháng Giêng âm lịch

Chuyên gia phong thủy hướng dẫn lễ cúng Thần Tài

– Vào ngày mùng 10 tháng Giêng, nhiều gia đình, hộ kinh doanh… thường chuẩn bị lễ vật để cúng vía Thần Tài, cầu xin một năm mới an khang thịnh vượng, làm ăn phát tài phát lộc.

Hàng tháng người kinh doanh, buôn bán nên lau bàn thờ Thần Tài – Thổ Địa vào ngày cuối tháng. Nước lau rửa bao sái ban Thần Tài là nước ngũ vị hương đun lên từ 5 loại lá hương liệu gồm hồi khô, quế khô, hương nhu, lá sả, lá mùi ( hoặc lá bưởi tùy mùa). Không nên lau rửa bàn thờ bằng rượu gừng nếu bàn thờ bằng gỗ sẽ làm hỏng ban thờ, tắm tượng sứ rượu gừng thì không sao.

Tuy nhiên cần nhớ 1 năm 12 tháng ta chỉ tắm cho tượng 5 lần/1 năm và tắm tượng vào các ngày 10 hàng tháng. Khăn lau bàn thờ riêng,khăn tắm tượng Thần Tài – Thổ Địa riêng, những chiếc khăn này tuyệt đối không được cùng dùng vào việc khác.

Tránh để các con vật chó, mèo quậy phá làm ô uế bàn thờ Thần Tài.

Ngày vía của Thần Tài đồ lễ gồm: 1 lọ hoa, 1 con tôm, 1 con cá lóc nướng, 1 con cua, 1 miếng heo quay, 1 bộ giấy tiền vàng mã, 1 đĩa ngũ quả, chum rượu, để cúng lấy vía Thần Tài, cầu xin cho năm mới làm ăn phát đạt.

Ngoài ngày vía chính của Thần Tài là ngày mùng 10 Tết, người dân vẫn chọn ngày mùng 10 âm lịch hằng tháng để cúng Thần Tài, cầu xin cho may mắn về tài lộc trong tháng đó.

Đồ cúng thường là các món ăn ngon như heo quay, vịt quay, gà sống luộc ngậm hoa hồng, hoa quả, nước sạch… Dân gian truyền miệng Thần Tài rất thích món cua biển và heo quay, bánh bao nhân thịt trứng và chuối chín vàng.

Khi thỉnh tượng Thần Tài, Thổ Địa ngoài cửa hàng về cần gói bọc trong giấy đỏ, lụa vàng hoặc trong hộp sạch sẽ, mang vào chùa nhờ các Sư trong chùa “Chú nguyện nhập Thần” và nhờ các Sư chọn cho ngày tốt đem về nhà để an vị Thần Tài, an vị Thổ Địa.

Nếu gia đình có điều kiện mời được Sư tăng hoặc Pháp Sư tôn nhang bát hương và “Chú Nguyện nhập Thần” – “Thỉnh Thần nhập tượng” tại gia thì càng tốt.

Khi bát hương và tượng mang từ chùa về nhà dùng nước nước ngũ vị hương đun lên từ 5 loại lá như trên tắm tượng và đặt lên bàn thờ, mua các đồ cúng về cúng khấn, lần sau cúng vái bình thường. Ai muốn thờ Thần Tài Thổ Địa đều phải thực hiện như trên Thần Tài, Thổ Địa mới có linh khí.

Khi thỉnh Thần Tài, Thổ Địa cũng có Thần Tài, Thổ Địa hợp với gia chủ, cũng có Thần Tài, Thổ Địa không hợp với gia chủ, chọn tượng Thần Tài, Thổ Địa mặt tươi cười, mặt sáng sủa, mắt nhìn thẳng hoặc nhìn lên không nhìn xuống dưới. Tượng không bị nứt, vỡ, nhìn tượng toát lên vẻ phú quý.

Việc cầu xin tài lộc được nhiều hay ít còn phụ thuộc vào lòng thành của gia chủ, phước đức và số vận của gia chủ. Thần Tài, Thổ Địa không thể cho hay biếu người khác, phải tự gia chủ thỉnh về.

Đặt bàn thờ Thần Tài Thổ Địa: Bàn thờ Thần Tài, Thổ Địa đặt dưới đất, nơi trang nghiêm hướng ra cửa chính hoặc gần cửa chính đều được.

Bàn thờ là một chiếc khảm nhỏ sơn son thếp vàng, bên trong khảm là bài vị Thần Tài. Trước bài vị là bát hương kê trên một khay vàng giấy, hai bên bát hương là hai cây đèn nhỏ, một khay nước gồm 3 cốc nước và 2 chén rượu.

Trong cùng bàn thờ, dán trên vách là một tấm bài vị Thần Tài như đã nói ở phần trên. Hai bên, bên trái (từ ngoài nhìn vào) là ông Thần Tài, bên phải là ông Địa . Ở giữa hai ông là một hũ tiền xu bằng đồng, một hũ gạo, một hũ muối. Ba hũ này chỉ đến cuối năm mới thay.

Giữa bàn thờ là một bát hương, để tránh động bát hương khi lau chùi bàn thờ, các bạn nên dùng keo 502 dán dính bát hương xuống bàn thờ. Khi đang làm ăn tốt mà xê dịch bát hương gọi là bị động bát hương, mọi chuyện trở nên trục trặc ngay sau đó.

Theo nguyên lý “Đông Bình – Tây Quả”, các bạn đặt lọ hoa bên tay phải, đĩa trái cây bên tay trái (nhìn từ ngoài vào). Thường nên cắm hoa hồng, hoa cúc, hoa đồng tiền. Trái cây nên sắp ngũ quả (5 loại trái cây) nếu không cũng nên có 3 loại quả cho màu sắc tươi tắn.

Thường ở ngoài nơi bán đồ thờ cúng, người ta có một cái khay xếp 5 chén nước hình vòng cung ta nên bày như vậy.

Ý niệm rất quan trọng trong tâm linh. Bàn thờ nào nước cũng đều phải bài trí theo thế Minh đường tụ thủy. Trên mặt đất Tam cước thiềm thừ (tức cóc vàng ba chân) để bên trái (từ ngoài nhìn vào), miệng ngậm tiền chầu mặt vào bát hương.

Tỳ hưu còn gọi là Kỳ Hưu để bên phải, mặt nhìn ra cửa chính hoặc cửa phòng hút tài khí từ đường vào, Tỳ Hưu có thể để trên mặt đất, có thể để cùng trên ban thờ đều được. Ngoài cùng trên mặt đất, các bạn nên chọn một cái tô sứ thật đẹp, nông lòng, đổ đầy nước và ngắt những bông hoa trải trên mặt nước (cái này làm Minh Đường Tụ Thủy – Một cách giữ tiền bạc khỏi trôi đi, bên trong thả 8 đồng càn khôn tiền xu đồng ngoài tròn có xuyên lỗ vuông).

Tuy nhiên chúng ta nhớ cân bằng yếu tố Thủy và Hỏa trên bàn thờ – bát hương – đèn – nến biểu trưng cho tính hỏa nên nếu bát hương nhỏ ta làm bát nước nhỏ, bát hương lớn ta mới đặt âu nước hay bát nước lớn nhưng vẫn chỉ được có đường kính bằng đường kính bát hương.

Trên nóc bàn thờ Thần Tài, người ta thường đặt tượng của Di Lặc Phật Vương – Tà Thần tài Di Lặc (tuy nhiên cách bài trí này chủ áp dụng cho trang thờ Nhất vị Thần Tài hoặc trang thờ Nhị vị Thần Tài, với những trang thờ Tam Tài thì tuyệt đối không làm như vậy vì kị Tứ Thần). Khi thờ Tam Tài có thể dán các câu chú Phạn tự để tăng thêm phần bảo vệ cho gia chủ tránh khỏi tai ách và hướng tới Thiện Tài.

Thường ngày nên đốt nhang mỗi sáng từ 6h – 7h và chiều tối từ 6h – 7 giờ, mỗi lần đốt 5 cây nhang. Thay nước uống khi đốt nhang, thay nước trong lọ hoa và chưng thờ nải chuối chín vàng có hương thơm.

Nam mô A Di Đà Phật (3 lần)

Con lạy chín phương Trời con lạy mười phương chư Phật, chư Phật mười phương

-Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

-Con kính lạy Bản Cảnh Thành hoàng Chư vị đại vương.

-Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân.

-Con kính lạy ngài Thần Tài vị tiền tiếp dẫn Tài Thần

-Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

-Con kính lạy

Tín chủ con là:…………………………………Tuổi:…………………..

Ngụ…………….

Hôm nay là ngày…….tháng…….năm…………………(âm lịch).

Tín chủ con thành tâm sửa biện, hương hoa, lễ vật, kim ngân, trà quả và các thứ cúng dâng, bầy ra trước án kính mời ngài Thần Tài tiền vị và chư vị tôn Thần giá lâm trước ban án thờ thụ hưởng lễ vật.

*Lưu ý: Nếu thờ THẦN TÀI và THỔ ĐỊA phải đọc là: Kính mời NHỊ VỊ THẦN TÀI VỊ TIỀN THỔ ĐỊA và chư vị tôn Thần giá lâm trước ban án thờ thụ hưởng lễ vật.

Cúi xin Thần Tài (nếu thờ 2 vị phải đọc… cúi xin Nhị vị Thần Tài Thổ Địa …) thương xót tín chủ, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật phù trì tín chủ chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia đạo hưng long thịnh vượng, lộc tài tăng tiến, tâm đạo mở mang, tâm thiện tích phúc, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ cúi xin được phù hộ độ trì.

Phục duy cẩn cáo!

Nam mô A Di Đà Phật (3 lần)

chuyendong.vn – Sưu tầm (tổng hợp)

【#4】Bà Chúa Năm Phương Là Ai ? Bài Khấn Bà Chúa Năm Phương Chuẩn Nhất

Tiểu sử Chúa Bà Năm Phương

Tên: Chúa bà Vũ Quận Quyến Hoa, Quyến Hoa công chúa

Ngày sinh: Không rõ

Ngày mất: 16 tháng 6 Âm lịch, vào khoảng năm 939 – 944.

Chúa bà là nữ tướng tài giỏi của thời tiên Ngô Vương Thiên Tử. Được đức Ngô Vương tin cậy trao quyền cho quận chúa cai quản toàn bộ kho quân lương, quân nhu tại bản doanh (trang Gia Viên) thuộc làng Cấm, nay là phường Gia Viên, phố Cấm.

Hàng vạn binh mã thủy bộ, quân sỹ, thuyền, ngựa, voi …. do bàn tay Chúa Bà lo toan đầy đủ. Khẩu hiệu của bà là: “Thực túc binh cường”, ăn no đánh thắng.

Với sự chỉ huy tài ba của đức Ngô Vương Thiên Tử, cùng sự chuẩn bị chu đáo về tương thảo, với lòng quyết tâm chiến đấu cao, quan sỹ thời đó đã làm nên chiến thắng Bạch Đằng Giang lịch sử, dẹp tan quân Nam Hán, phò vua giúp nước, xây dựng nền độc lập tự chủ cho nước nhà.

Do công lao to lớn, Chúa Bà được nhà vua ban sắc phong: “Hộ quốc trang huy – Thượng đẳng tôn thần”. Nhân dân khắp nơi lập đền thờ vua Ngô Vương và thờ Chúa Bà ở Quận Ngô Quyền có Chùa Linh Quang, đình Gia Viên, đền Tiên Nga và nhiều nơi hương khói phụng sự Chúa Bà (ghi theo thần phả năm 2000).

Sự tích Bà Chúa Ngũ Phương Bản Cảnh

Bà Chúa Năm Phương . Vốn xưa bà cũng là tiên nữ trên Thiên Đình. Sau chúa giáng thế hạ trần vào nhà họ ở cửa Cấm Giang, đất Gia Viên (nay là Hải Phòng).

Chúa sinh ra hình dung tươi tốt, mọi bề đảm đang. Khi đã hồi tiên, Chúa Bà được giao quyền cai quản năm phương trời đất, bản cảnh bản xứ ngũ phương vậy nên được tôn xưng là Bà Chúa Quận Năm Phương (hay còn có tên khác là Vũ Quận Bạch Hoa Công Chúa).

Tương truyền rằng, chúa hiển linh, ngự khắp nơi khắp cảnh trong năm phương trời đất, chúa dạo chơi khắp chốn, cứ đúng vào lúc canh ba giờ Tí, chúa hiện hình ra người mĩ nữ, gọi xe rong chơi, rồi đi về đến ” Cây Đa 13 gốc ” là nơi chúa hiển linh, trả tiền cho phu xe, nhưng khi biết ra thì toàn là tiền âm. Chúa cũng thẳng tay trừng trị kẻ nào còn ngang ngược, chúa hành cho chân tay tê liệt, nằm mơ toàn thấy ma quỷ.

Cũng có một câu chuyện truyền lại là: vào thời Pháp thuộc có một me Tây bị chúa hành cho chí rận, khắp người ngứa ngáy không yên, phải đến kêu xin, sám hối cửa chúa thì được khỏi, tạ ơn chúa, me Tây đó đã lập đền thờ rất trang nghiêm, quanh năm cũng lễ rất tấp nập.

Chúa Bà Năm Phương chỉ được hầu ở một số vùng (đặc biệt là Hải Phòng là nơi sinh quán quê nhà của Chúa Bà năm xưa). Hải Phòng và một số địa phương lân cận, trong các đàn lễ mở phủ thường có dâng một tòa đàn gọi là: Đàn Chúa Bà (gồm có hình Chúa Quận Năm Phương, hai cô hầu cận, có khi là có cả hình 12 cô nàng (tất cả đều màu trắng), nón chúa hài cườm, một cỗ xe ngựa (hoặc xe phu kéo) hay thường gọi là Xe Chúa Bà) và thỉnh mời Chúa Bà Năm Phương về ngự để chứng đàn đó.

Chúa Năm Phương thường ngự về trước Chầu Năm Suối Lân hoặc cũng có một số người hầu chúa sau Tam Vị Chúa Mường. Chúa ngự về thường mặc áo trắng (hoặc có khi chỉ choàng chiếc khăn phủ diện) làm lễ khai cuông rồi cầm tiền tung lên trên ban Công Đồng trong bản đền bản điện để khai quang chứng đền, chứng điện, chứng đàn, chứng phủ (ở một số nơi khác còn hầu chúa về múa quạt hoặc múa mồi).

Cơ sở Đá Ninh Bình cung cấp các vật phẩm thờ cúng bằng đá như … thuận tiện cho việc thờ cúng bà chúa Năm Phương. Quý khách có nhu cầu đặt mua đồ thờ đá tự nhiên, vui lòng liên hệ với chúng tôi theo HOTLINE: 0904.675.686 để được hỗ trợ và báo giá nhanh nhất.

Địa chỉ các đền thờ Bà Chúa Năm Phương ở Hải Phòng

Đền Chúa Bà Năm Phương được lập ở rất nhiều nơi, nhưng nổi tiếng hơn cả là một số ngôi đền ở nguyên quán Hải Phòng, đất chúa ngự như:

  • Chùa Cấm thuộc Phố Cấm, Hải Phòng ( tên tự là Cấm Giang Bản Cảnh Linh Từ hay Nguyệt Quang Tự, trong bản tự có hẳn cung cấm bề thế uy nghiêm thờ chúa)
  • Vườn Hoa Chéo, trên đường Trần Hưng Đạo, Hải Phòng (đây là nơi trước đây người me Tây kia lập đền tạ ơn chúa, đền xưa rất lộng lẫy, nhưng bây giờ đã không còn do tàn phá của chiến tranh, chỉ còn lại dấu tích nhỏ nhưng vẫn là nơi linh thiêng, hàng tháng có rất nhiều người dân đến đây lễ chúa)
  • Cây Đa 13 gốc: là ngôi miếu nhỏ thờ chúa (ở trên đường ra sân bay Cát Bi) là nơi chúa gọi phu xe chở về chốn đó, có cả Đền Tiên Nga cũng thuộc đường Lê Lợi, Hải Phòng
  • Một ngôi miếu nhỏ không tên trên đường Lê Thánh Tông.

Các ngôi đền đó đều tổ chức ngày tiệc chúa là ngày 16/6 âm lịch. Tính ra, xưa kia, trên đất Hải Phòng có ít nhất là năm nơi thờ Chúa Bà, vậy nên, khi chúa ngự, văn có hát rằng:

” 5 phương 5 miếu rõ ràng

Ngũ Phương Bản Cảnh quyền hành tối linh “.

Địa chỉ liên hệ các đền thờ Chúa Bà Năm Phương

1. Chùa Cấm – Linh Quang Tự

    Sư thày Thích Tâm Kính: 0915419864

2. Đình Cấm – đình Gia Viên

  • Ông Bảo trưởng ban: 0313655795
  • Ông Khang thủ nhang :0997447260

3. Đền Tiên Nga

  • 53 Lê Lợi – chuẩn bị dát vàng Thánh Tượng đợt 2
  • Cậu Thành thủ đền : 0913.329.821

4. Vườn Hoa Chéo

    Cô Hồng 22 năm hầu cận, chăm lo đền: 0903453960

5. Cây Đa 13 gốc

  • Cống Kiều Sơn, phường Đằng Giang, Hải An, Hải Phòng
  • A Hiệp tổ trưởng dân phố :0947178698

6. Số 12 Trần Phú – đền Bảo Phúc trong khách sạn Habeview

7. Số 1 Lê Hồng Phong

8. Chùa Vẻn – An Biên Cổ Tự

    Sư thày Thích tục bách trụ trì : 0903458584

9. Đền Bà Chúa Năm Phương ở Đồ Sơn

  • Gần đền cô Chín Suối Rồng.
  • Thủ nhang Hoàng Gia Bổn -097 6120393

10. Đền tư cổ ở ngõ 12 Lãn Ông

Nếu sắp xếp khéo, 1 ngày xuống Hải Phòng sẽ đi được tất cả các nơi thờ chúa chính, ra đồ sơn đi thêm Chùa Hang, Chùa Tháp Tường Long, đền Bà đế, đền Mẫu Vừng ( thờ Mẫu Thượng Thiên), đền cô Chín suối Rồng, đền Trần – toàn nơi linh thiêng, vận khí đang rất mạnh

Bài khấn Chúa Bà Năm Phương

Các bạn Lạy 9 lạy (cần thiết thể hiện thành tâm nữa thì lạy 20-50 lạy) – nếu có điều kiện thì quỳ Khấn, đông quá thì quán tưởng mình lạy rồi khấn:

Con xin kính lễ

Chư Phật, chư Thánh, chư Thiên, chư Thần, chư vị thiêng liêng khắp tất cả

Chư vị bản cảnh thành hoàng, bản xứ thổ địa, chư vị hộ pháp nơi đền (ở các đền thờ chúa đều kêu thêm: Ngài Bản cảnh Hải Phòng, riêng đền cây đa 13 gốc kêu thêm ông Thổ Vượng (thành hoàng của làng, được thờ trước khi chúa về ngự))

Con xin kính lễ Chúa Bà Năm Phương tố linh tố hảo, nhị vị công chúa, và các chư vị hầu cận

Xin phép cho gia tiên nội ngoại tứ thân phụ mẫu được vào Đền lễ Phật lễ Thánh (nhiều nơi không mời gia tiên không vào được, hoặc gia tiên trách, mời để thể hiện tôn kính gia tiên đi kêu cầu, tấu đối cho mình)

Khấn xin Chúa Bà độ cho mình những việc gì đó:

Nên:

Sám hối lỗi lầm bản thân, sám hối Phật thánh, oan gia trái chủ

Hứa tu sửa – Làm việc Thiện báo đáp Bề trên và gia tiên

Hát văn Bà Chúa Năm Phương

Dâng văn Bản Cảnh Chúa bà

Ngũ Phương Thánh Chúa ngự tòa tiên cung

Thanh tân cốt cách hình dung

Danh thơm Tiên Chúa khắp vùng ai đang

Tiếng đồn trong Bắc ngoài Nam

Ngũ phương thập hướng mọi đàng thiếu đâu

Đông Phương giá ngự điện lầu

Xem trong bốn bể cứu cầu chúng sinh

Tây Phương hiển hách anh linh

Tày, Dao, Mán , Thái hiện hình bách nhân

Nam phương xa giá long vân

Thủ Thiêm, Bến Nghé xa gần đều qua

Bắc Phương chốn đó sơn hà

Tỉnh Tuyên, xứ Lạng, Thác Bà thảnh thơi

Trung phương lễ bái kiều mời

Thỉnh lai Tiên Chúa giáng nơi Hải Phòng

Thung dung phủ tía lầu hồng

Cây Đa chính ngự nhiều tầng thấp cao

Miếu thờ như thể động đào

Mười ba cội gốc vươn cao lá cành

Xem trong tỉnh ấy Hải Thành

Nơi nào dám sánh dám so miếu này

Miếu thờ lịch sự ai tày

Cửa thiêng Tiên Chúa hàng ngày khách qua

Lúc thì giá ngự Tiên Nga

Cấm Giang cổ địa chính đà dấu xưa

Nhang thơm thoảng ngát xa đưa

Nơi vườn hoa chéo khi xưa vẫn còn

Chúa chơi phủ tía lầu son

Đền Nghè linh ứng tiếng đồn nơi nơi

Tam Kì Chúa ngự thảnh thơi

Tiên La thắng cảnh là nơi đi về

Đông Cuông điện ấy đề huề

Ngũ Phương bản cảnh giáng về ngự vui

Chúa Bà giá ngự chính ngôi

Thanh đồng đệ tử các nơi xa gần

Độ cho trọn vẹn mười phần

Phần tươi, phần tốt, phần gần, phần xa

Dâng lên chính cửa Chúa Bà

Nón dâu, áo bạch, quạt ngà hoa tiên

Thành tâm thỉnh trước án tiền

Nguyện xin Tiên Chúa ngự lên điện tòa

Chúa về Chúa mới phán ra:

“Độ cho các ghế mặn mà thanh tao

Độ cho giáng vẻ hồng hào

Tứ thời bát tiết người nào cũng xinh”

Trăng thanh vẻ nguyệt in hình

Thỉnh mời Chúa Quận anh linh giáng đàn

Chúa về nhận lễ chứng đàn

Khuông phù đệ tử an khang thọ trường.

【#5】Bài Văn Khấn Cúng Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam Linh Thiêng Châu Đốc Angiang

Bài văn khấn cúng ở miếu Bà Chúa Xứ trên núi Sam linh thiêng tại Châu Đốc tỉnh An Giang

Châu Đốc cách chúng tôi khoảng 250km, cách TP. Long Xuyên khoảng 55km, là một thị xã trực thuộc tỉnh An Giang, nằm bên ngã ba của sông Châu Đốc và sông Hậu sát biên giới Việt Nam với Campuchia. Thị xã Châu Đốc có chiều dài lịch sử gắn liền với những câu chuyện ly kỳ về Bà Chúa Xứ Núi Sam – nơi có Lễ hội Bà Chúa Xứ vào khoảng tháng Tư âm lịch hàng năm.

Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam nằm trên vùng đất trũng phía tây bắc núi Sam, lưng quay về vách núi, chính điện nhìn ra con đường và cánh đồng làng. Kiến trúc có dạng chữ “”quốc””, hình khối tháp dạng hoa sen nở, mái tam cấp ba tầng lầu, lợp ngói đại ống màu xanh, góc mái vút cao như mũi thuyền đang lướt sóng.

Trông từ xa, ngôi miếu như một bông sen xanh ngự uy nghi trên cao để người đời hướng về bái vọng. Lại gần, khách sẽ thấy ngỡ ngàng khi chiêm ngưỡng các hoa văn ở cổ lầu chính điện, thể hiện đậm nét nghệ thuật Ấn Độ. Phía trên cao, các tượng thần khỏe mạnh, đẹp đẽ giăng tay đỡ những đầu kèo. Các khung bao, cánh cửa đều được chạm trổ, khắc, lộng tinh xảo và nhiều liễn đối, hoành phi ở nơi đây cũng rực rỡ vàng son.

Cúi xin được phù hộ độ trì. Hương tử con là: Ngụ tại:….

Ngày hôm nay là Ngày….. Tháng….. Năm.

Con sắm sửa kim ngân, hương hoa, lễ vật chí thiết một lòng thành tâm dâng lễ, sám hối cầu xin phù hộ cho hương tử con được: gia quyến bình an, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, bách sự cầu được như ý. ……. (Muốn gì cầu xin) Hương tử con lễ bạc tâm thành, cúi đầu thành tâm kính lễ Bà Chúa Sứ, cúi xin được phù hộ độ trì.”

Xin lộc bà chúa Xứ

“Ai đi cũng nên xin một BAO LÌ XÌ LỘC BÀ về cho may mắn nha…nói thẳng trong bao có khi là tiền, có khi là tấm áo Bà Mặc cắt ra làm lộc

Lộc bà chúa Xứ

Cách sử dụng lộc Bà như sau:

– Khi rước lộc về nhà, thỉnh lộc bà lên một cái dĩa, sau đó để 4 ly nước suối kế bên, cầm từng ly lên khấn cung nghinh bà về cư gia, cứ mỗi ly nước ta khấn xong ta chế 4 góc nhà.

– Sau đó trân trọng đặt lên bàn thờ ở Mẹ Quan Âm chứ không nên để chỗ thờ Ông Địa như các nhà thường làm. Sẽ khinh thường bà, mà ông địa ông thần tài năm đó cũng không về được khánh.

– Khi đặt lên thì trong 9 ngày phải thay nước và 3 ngày thay trầu cau 1 lần.

– Sau đó ta có thể bỏ bóp hay để bàn thờ nhưng ta nhớ thường xuyên khấn Bà xin độ cho chúng con. Nếu để bàn thờ thì nên đặt thêm quanh bao lộc đó 5 thứ ngũ cốc.

Vía bà chúa Xứ núi Sam

Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc của cư dân vùng sông nước Nam Bộ. Lễ hội diễn ra từ ngày 22 đến 27-4 âm lịch, thu hút khoảng 4,5 triệu lượt du khách mỗi năm đến hành hương, dâng lễ cũng như chiêm ngưỡng cảnh sắc thiên nhiên của vùng đất An Giang. Lễ hội được công nhận là lễ hội cấp quốc gia vào năm 2001, được phục dựng lại các nghi thức truyền thống do ban quản trị lăng miếu đảm trách.

Tượng bà chúa Xứ

Như tên gọi, với những đường nét kiến trúc đặc trưng của nền nghệ thuật trầm mặc mà bay bỗng phương đông, ngôi miếu đồ sộ này chỉ thờ độc nhứt một pho tượng cổ. Đó là tượng Bà Chúa Xứ Núi Sam, có kích thước to hơn người thật (tư thế ngồi, cao 1,65m).

Pho tượng đặt trên một bệ cao, kiên cố, được trang điểm bằng sơn dầu cho tăng thêm thần sắc. Do toàn thân có choàng áo rộng lộng lẫy phủ kín cả tay và chân nên rất ít người được mục kích kiểu thế ngồi của tượng.

Mắt tượng nhìn thẳng về hướng đông, uy nghiêm mà hiền ái, phúc hậu, như chan chứa cả một tấm lòng bao dung, tế độ.

Bà chúa Xứ là ai ?

Sự tích bà chúa Xứ

Bài viết ngắn này sẽ đề cập đến 4 sựu tích về Ba Chúa Xứ như sau:

Sự tích bà Chúa Xứ Châu Đốc thứ nhất:

Trên núi Sam ngày xưa có một bệ tượng hình vuông bằng đá sa thạch. Vào những năm đầu thế kỷ XIX, giặc Xiêm thường sang khu vực này để quấy nhiễu. Trong một lần lên núi và bắt gặp tượng Bà, họ liền có ý định cậy tượng ra khỏi bệ đá để đem xuống núi. Nhưng kỳ lạ thay tượng trở nên nặng vô cùng, họ không cách nào khiêng được mặc dù có bao nhiêu lính tráng khỏe mạnh.

Trong lúc tức giận, một quân lính người Xiêm đã vớ một khúc gỗ phang vào tượng làm sứt một miếng ở cánh tay. Ngay lập tức người lính Xiêm này hộc máu chết tại chỗ. Sau đó, một hôm dân làng lên núi thấy tượng Bà bèn cùng nhau khiêng tượng về lập miếu thờ. Tuy nhiên, cũng như lần trước, tượng nặng vô cùng, bao nhiêu trai tráng trong làng góp sức nhưng cũng không khiến cho bức tượng xê dịch được.

Lúc đó, bỗng một phụ nữ lên đồng, tự xưng là Bà Chúa Xứ và phán rằng, muốn thỉnh Bà xuống thì cần phải có 40 cô gái đồng trinh tắm rửa sạch sẽ mới có thể khiêng Bà xuống. Dân làng tin lời và làm theo. Quả thật linh nghiệm; tuy nhiên, đến chân núi Sam thì tượng Bà lại trở nên nặng trịch, không thể khiêng tiếp được nữa. Hiểu được dụng ý của Bà, dân làng liền cho lập đền thờ ở khu vực này.

Sự tích bà Chúa Xứ núi Sam thứ hai:

Kể lại rằng cách đây gần 200 năm, có một cô gái trong làng Vĩnh Tế bỗng lên đồng, tự xưng là Bà Chúa Xứ về núi Sam để cứu dân độ thế. Bà còn nói thêm là hiện nay, tượng Bà đang ngự trên núi, yêu cầu dân làng lên núi thỉnh về để thờ phụng. Dân làng liền phái 40 chàng thanh niên lực lưỡng lên núi để khiêng tượng, nhưng cũng không thể xê dịch bức tượng. Lúc đó, cô gái lại lên đồng và cho dân làng biết chỉ cần 9 cô gái đồng trinh là có thể khiêng được. Quả thật linh nghiệm; đến chân núi Sam, dây khiêng tượng bị đứt, thế là dân làng hiểu ý Bà mà cho lập miếu thờ Bà ở đây.

Sự tích bà Chúa Xứ thứ ba:

Thì cho rằng, dưới thời Thoại Ngọc Hầu trấn thủ Châu Đốc, đeo ấn bảo hộ Cao Miên, vợ ông (tức là bà Châu Thị Tế) ở nhà thường cầu nguyện cho ông bình an trở về, nếu được thì sẽ lập chùa thờ Phật để báo ân phù hộ. Sau khi Thoại Ngọc Hầu trở về, ông vì cảm kích trước tấm lòng của vợ mình nên đã cho quân lính sang tây Trấn Thành chở cốt Phật về lập chùa để thờ, đặt tên là chùa Tây An. Chùa xây xong, ông lo ngại tin đồn ác ý rằng xây chùa để thờ Phật của giặc nên đưa pho tượng ra ngoài chùa, lập miếu thờ để tránh phiền phức.

Sự tích bà Chúa Xứ núi Sam Châu Đốc thứ tư:

Thì kể về việc một thiếu phụ Cao Miên đi tìm chồng, đến chân núi vì quá mệt mỏi nên đã ngồi nghỉ, sau đó bà đã hóa đá ở chân núi này. Sau đó, linh hồn người phụ nữ này nhập vào cốt đồng để nói về quá khứ và tương lai để giúp đỡ những người hiền và trừng phạt những người xấu. Dân làng liền lập miếu thờ và gọi bà là Bà Chúa Xứ.

Lễ hội bà chúa Xứ núi Sam An Giang

Lễ bà Chúa Xứ có thời gian diễn ra lễ hội là từ đêm ngày 23 đến ngày 27 tháng 4 Âm lịch hằng năm. Có hai giả thuyết giải thích lý do tại sao chọn những ngày này làm lễ vía Bà. Hai giả thuyết này khác nhau phụ thuộc vào vấn đề sự ra đời của miếu Bà.

Lễ tắm tượng Bà

Tổ chức vào lúc 24 giờ đêm ngày 23, rạng ngày 24 tháng 4 âm lịch.

Nói là tượng tắm Bà nhưng thực chất là lau bụi bặm bám trên cốt tượng Bà bằng nước thơm được nấu và pha trộn nhiều nước hoa tốt do các tín thí dâng cúng. Lau bụi bặm xong, tượng Bà được thay xiêm y mới, hài mới, mão mới trong một không gian chật hẹp là chánh điện được quây lại và chỉ có những người được Ban quản trị lựa chọn mới được tham gia.

Nước tắm Bà là một loại nước thơm nấu bằng nước mưa hứng ngoài trời với nhiều loại hoa thơm và có thêm nước hoa hàng hiệu thơm ngát. Sau khi đã tiến hành “tắm Bà” xong, một bộ quần áo đẹp nhất dâng cúng trong kỳ lễ hội được khoác lên tượng, thắt dây đai áo và các bộ phận khác, và cuối cùng là đội mão lên đầu tượng Bà.

Toàn bộ “lễ tắm Bà” kéo dài trong khoảng một giờ; sau đó, mọi người được tự do chiêm bái. Cũng cần nói thêm rằng, toàn bộ quá trình mộc dục cho Bà đều được thực hiện sau bức màn che, nhưng có đến hàng nghìn người chen chúc nhau đến để đứng ngoài vòng rào chính điện để xem.

Lễ thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu về miếu Bà

Lễ này thường được thực hiện vào khoảng 15h00 ngày 24 tháng 4 âm lịch. Các bô lão trong làng được cử ra cùng với Ban quản trị miếu Bà bận trang phục chỉnh tề, nghiêm trang sang thỉnh sắc ở lăng Thoại Ngọc Hầu. Đoàn thỉnh sắc phong có đội múa lân của miếu Bà đi trước, kế đến là ông chánh bái, hai vị bô lão và những chức sắc khác rồi theo sau là học trò lễ với tay cầm cờ phướng. Tới trước điện thờ Thoại Ngọc Hầu, mọi người dâng hoa, niệm hương, tế lễ. Sau đó, họ thỉnh bốn bài vị lên long đình về miếu Bà. Bốn bài vị đó là: bài vị của ông Thoại Ngọc Hầu, bài vị của bà chánh phẩm Châu Thị Tế, bài vị của bà nhị phẩm Trương Thị Miệt và bài vị Hội đồng.

Lễ túc yết

Lễ này được tổ chức vào 0 giờ ngày 25 và rạng ngày 26 tháng 4 âm lịch. Tất cả các bô lão trong làng và Ban quản trị miếu với lễ phục chỉnh tề, đứng xếp thành hai bên, trước chánh điện. Phía sau các vị ấy là bốn học trò lễ và bốn đào thày. Đứng chính diện với tượng Bà là ông Chánh bái. Lễ vật cúng được chuẩn bị từ trước đó không lâu rất kỹ lưỡng gồm: một con heo trắng đã cạo lông, mổ bụng sạch sẽ, chưa nấu chính; một đĩa đựng ít lông và máu của con heo (ế mao huyết); một mâm xôi, một mâm trái cây, một mâm trầu cau, một đĩa gạo muối.

Khi cúng, ông Chánh bái và các vị bô lão đến niệm hương trước bàn thờ. Sau khi đánh ba hồi trống gõ và ba hồi chiêng trống, nhạc lễ bắt đầu trỗi lên là lễ dâng hương, chúc tửu và hiến trà. Từng diễn biến của buỗi lễ được hai người xướng lễ (một xướng nội, một xướng ngoại) xướng to lên. Ông Chánh bái đi trước, bốn học trò lễ và bốn đào thày đi theo sau, hướng về phía bàn thờ tổ. Tại đây, ông Chánh bái tự tay rót rượu để học trò lễ đem dâng cúng.

Sau khi dâng hoa và dâng ba lần rượu gọi là chúc tửu, ba lần trà gọi là hiến trà, theo lệnh của người xướng lễ, văn bản tế được mang đến trước bàn thờ và một người trong ban quản trị miếu đọc văn tế. Dứt bài văn tế, ông Chánh bái đốt bài văn tế này, heo cúng sống trên bàn được lật ngửa ra trước khi khiêng đi chế biến.

Lễ xây chầu

Sau lễ túc yết là lễ xây chầu. Lễ này, có mặt hầu như ở tất cả các lễ hội cúng đình ở làng Nam Bộ.

Vào lễ, người xướng nội hô to: “Ca công tựu vị”, tức thì ông Chánh bái ca công liền bước tới bàn thờ đặt giữa võ ca, tay cầm hai dùi trống nâng lên ngang trán, miệng khấn vái râm rang. Trên bàn thờ có chuẩn bị sẵn một tô nước và một nhành dương liễu. Sau khi khấn vái, tô nước được xem là nước thiêng, nước thánh của. Ông Chánh bái ca công cầm nhành dương nhúng vào tô nước rồi vảy xung quanh với động tác ma thuật tựa như mưa rơi với ý nghĩa ban phát năng lượng thiêng xuống cõi trần cầu cho vạn vật sinh sôi nảy nở, mùa màng bội thu. Vừa làm những động tác ấy, ông vừa xướng to:

“Nhất xái thiên thanh (một rảy cho trời xanh).

Nhị xái địa linh (hai rảy cho đất tốt lành).

Tam xái nhân trường (ba rảy cho con người trường thọ).

Tứ xái quỷ diệt hình (bốn rảy cho ma quỷ tiêu tan)”.

Đọc xong, ông Chánh ca công đặt tô nước và cành dương liễu trở lại bàn thờ, ông đánh ba hồi trống và xướng “ca công tiếp giá”, lập tức đoàn hát bội nổi chiêng trống rộ lên và chương trình hát bội bắt đầu. Các tuồng hát chuẩn bị sẵn bắt đầu nhảy vào cuộc, trước là phục vụ, mua vui cho Bà, sau là phục vụ cho bà con tham dự lễ hội thưởng thức. Phần hội thực sự bắt đầu.

Lễ chánh tế

Bắt đầu lúc 4 giờ sáng ngày 26 tháng 4 âm lịch. Nghi thức cũng tương tự như lễ cúng túc yết, chỉ khác là thêm một phần nội dung văn tế và có thêm phần “ẩm phước” với ý nghĩa là phần thưởng của Bà ban cho nhân dân mà vị Chánh tế đứng ra nhận lãnh thay. Theo nhà văn Sơn Nam, nghi lễ “thụ tộ” hoặc “ẩm tộ” hưởng tượng trưng lộc của thần, dùng chén rượu đã cúng mà uống, thay cho dân làng: ” ‘ẩm phước’, uống phần rượu trên bàn thờ, cúng nãy giờ, đem xuống cho Chánh tế, Bồi tế uống tượng trưng, rồi “thụ tộ” ăn phần thịt đã cúng, tượng trưng, thường là ăn trái cây (nho, nhãn), ăn và uống thay mặt cho dân làng, như là lộc của thần thánh” [Sơn Nam 2005: tr.359].

Đến 14 giờ chiều ngày 27 tháng 4 lâm lịch, Ban quản trị làm lễ hồi sắc, tức đưa bốn bài vị của ông Thoại Ngọc Hầu, bà Châu Thị Tế, bà Trương Thị Miệt và bài vị Ban hội đồng về lại lăng ông Thoại Ngọc Hầu, chính thức kết thúc lễ hội.

Bà chúa xứ linh thiêng

Sau lễ mộc dục chính là lễ thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu về miếu Bà. Lễ này được tiến hành vào lúc 15 giờ ngày 24; tại miếu Bà, tất cả các bô lão của làng Vĩnh Tế cùng Ban Quản trị lăng miếu lễ phục chỉnh tề (áo dài khăn đóng – lễ phục cổ truyền) tập trung đông đủ và xếp thành hai hàng hai bên tượng Bà để chuẩn bị sang lăng Thoại Ngọc Hầu dự lễ thỉnh sắc.

Dẫn đầu đoàn thỉnh sắc là đội múa lân, theo sau là ông Hương lễ bưng khay trầu rượu, học trò lễ đi hai bên, rồi đến hai ông Chánh tế, ba ông Bồi tế, ba ông Chấp kích cùng các bô lão và đại diện dân làng Vĩnh Tế tiếp nối đi theo phía sau. Khi đoàn đến trước lăng Thoại Ngọc Hầu thì các bô lão lần lượt vào dâng hương và xin phép thỉnh bài vị.

Sau đó, đoàn thỉnh bốn sắc (bài vị) lên long đình để về miếu Bà. Bốn bài vị đó bao gồm: Bài vị của Nguyễn Văn Thoại, bài vị của bà Chánh phẩm Châu Thị Tế, bài vị của bà Nhị phẩm Trương Thị Miệt và bài vị của Hội đồng. Khi các bài vị được thỉnh về và an vị trong ngôi chính điện,

Ban Quản trị của miếu Bà dâng hương thỉnh an và phần lễ thỉnh sắc kết thúc. Tuy kết thúc nhưng hàng nghìn người dân từ khắp nơi kéo về dự lễ liên tục cho đến tận đêm khuya và thậm chí là kéo dài cho đến sáng ngày hôm sau. Do vậy, ngày 25 được xem là đông vui nhất trong lễ hội vía Bà – ngày lễ chính của cả mùa lễ hội.

Toàn bộ lễ vật được bày trên bàn trước tượng Bà. “Vào lễ cúng, ông chánh bái và các vị bô lão đến niệm hương trước bàn thờ. Kế đến là các phần khởi cỗ. Sau khi đánh ba hồi trống và ba hồi chiêng, nhạc lễ bắt đầu nổi lên là lễ dâng hương, chúc tửu, hiến trà… Một người trong Ban quản trị lăng miếu đọc văn tế. Dứt bài văn tế, ông chánh bái đốt văn bản này và một ít giấy vàng bạc; heo cúng trên bàn thờ được lật ngửa ra trước và khiêng đi, phần cúng túc yết đã xong”.

Bà chúa Xứ hiển linh

Sau khi lễ túc yết kết thúc thì diễn ra lễ xây chầu. Lễ vật dâng cúng cũng là một con heo trắng để nguyên con, một mâm xôi và một mâm cỗ đủ món. Tại gian võ ca, những người tham dự ăn mặc chỉnh tề và xếp thành hai hàng. Sai khi ông Chánh tế vái xong thì lấy roi chầu vác lên vai rồi hô lớn “Phụng mạng”.

Sau đó, ông bước ra đặt roi chầu lên khay; sau đó là đến các lễ dâng hương, dâng rượu và trà. Phía bên trái bàn thờ có một tô nước và một cành dương liễu. Ông Chánh tế ca công cầm cành dương liễu đưa ngang trán và khấn vái rồi cầm cành dương liễu nhúng vô tô nước và vẩy nước ra xung quanh; vừa vẩy vừa đọc to câu thần chú:

“Nhất xái thiên thanh” (Thứ nhất, vẩy nước lên trời mong cho trời luôn thanh bình, mưa thuạn gió hòa);

“Nhị xái địa ninh” (Thứ hai, vẩy nước xuống đất, cầu cho đất thêm tươi tốt, mùa màng bội thu);

“Tam xái nhơn trường” (Thứ ba, vẩy nước cho loài người sống trường thọ);

“Tứ xái quỷ diệt hình” (Thứ tư, vẩy nước vào loài quỷ dữ cho chúng bị tiêu diệt).

Đọc xong câu thần chú, ông Chánh bái ca công đặt tô nước, cành dương liễu về lại bàn thờ; sau đó đánh ba hồi trống và xướng “Ca công tiếp giá”, đoàn hát bội “Dạ” một tiếng thật to. Ngay lập tức, đoàn ca công hát bội nổi chiêng trống và chương trình hát bội bắt đầu. “… Tất cả các vở tuồng hát đều là tuồng hay, có ý nghĩa sâu xa, nhưng trong năm buổi diễn bắt buộc phải có vở Thứ ba San Hậu, đào kép phải hát đúng nguyên bản không được tùy tiện sửa đổi

Tiếp theo là lễ chính tế. Lễ được tổ chức trọng thể vào lúc 4 giờ sáng ngày 27 tháng 4 Âm lịch. Chương trình tế lễ này tương tự như nghi lễ cúng túc yết. Sau khi tế lễ chính xong thì có phần lễ tạ Mẫu và các vị thần linh; sau đó chuẩn bị cử hành lễ hồi sắc.

Đến khi làm lễ hồi sắc thì chủ lễ thỉnh bài vị Thoại Ngọc Hầu, bài vị hai vị phu nhân và bài vị Hội đồng đưa lên long đình. Rồi đoàn đưa sắc dàn đội hình rước sắc hồi lăng Thoại Ngọc Hầu theo thứ tự giống như rước sắc về miếu hôm mở hội… Nghi lễ hồi sắc là nghi lễ cuối cùng kết thúc lễ hội vía bà Chúa Xứ núi Sam”

Kinh nghiệm đi Chùa Bà Châu Đốc

– Lễ vật: Lễ vật cúng bà được đông đảo người đi hành hương là heo quay, từ đó xảy ra dịch vụ cho thuê heo quay mướn. Du khách đến đây, có thể thuê heo quay được tính bằng Kg, sau khi cúng vái xong thì chú heo quay ấy sẽ trở về vòng quay cho thuê người tiếp theo…liệu như thế bạn chứng tỏ lòng thành của mình hay chỉ là góp phần cho nạn cò heo quay lộng hành??. Do vậy, nếu bạn không thể mang heo quay từ nhà thì tốt nhất là không mua hoặc thuê heo quay tại chùa.

Nếu không mua trên đường đi thì nên vào các cửa hàng lớn xung quanh chùa và hỏi kỹ giá cả trước khi mua. Không nên mua nhang đèn từ những người bán lẻ đi theo mời mọc vì ngoài giá đắt hơn. Sau khi mua bạn còn phải tiếp tục “chịu đựng” những người đi theo chèo kéo mua vé số, xin tiền, gửi lộc…

– Ăn xin: Tình trạng ăn xin diễn ra rầm rộ khi ngày lễ diễn ra, đừng nên cho tiền ăn xin vào ngày này nếu như bạn muốn bị hàng chục người ăn xin khác vây bạn như thể bạn là một “ngôi sao”. Mặc khác, tình trạng giả bệnh, giả cụt chân, tay…được biến hóa một cách rất tài tình…lợi dụng tình trạng này mà móc túi, giật đồ diễn ra mà bạn không hay biết.

– Lộc “trời cho”: Bạn đang thẩn thần thành tâm viếng chùa, bỗng một người lạ đến đưa bạn một túi nhỏ trong đó đủ thứ những vật cúng hoặc một tờ giấy 500 đồng được xếp theo đủ kiểu dúi vào tay, túi áo…cho bạn, ngay lập tức hãy trả lại hoặc bỏ mà đi vào chùa nếu như bạn không muốn bị dính vào cảnh người dúi túi lộc đó cho bạn đi theo xin tiền “trả lễ”. Tuy là nói tùy hỷ, nhưng nếu bạn trả lộc ít thì bạn sẽ nhận lại ngay những lời lẽ thô tục.

【Phúc An】- chúng tôi

– Giữ chặt ví tiền: Tháng giêng, miếu Bà Chúa Xứ lúc nào cũng đông khách hành hương. Khi vào khu vực chính điện của miếu, bạn phải hết sức cẩn thận với ví tiền của mình. Khi đi chùa, không nên mang theo nhiều tiền mặt, nếu để trong túi xách thì phải cài chặt và quay túi xách ra phía trước để tránh bị mất cắp.

– Chen lấn: Không thể tránh khỏi khi mà hàng trăm ngàn người đổ về chùa bà cùng lúc. Đây là cơ hội của bọn móc túi rinh tiền, điện thoại, nữ trang của bạn, do đó khi đã viếng bà những ngày này tuyệt đối không nên mang nữ trang trên người, điện thoại và ví tiền nên bỏ vào tùi quần có dây kéo cẩn thận và khó luồng tay vào được.

WOW! TẤM CHỐNG ÁM KHÓI HƯƠNG BÀN THỜ – BỀN ĐẸP – GIÁ RẺ SỐ 1 TP.HCM

【#6】Bài Văn Khấn Cúng Miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc

Xôi Chè Cô Hồng giới thiệu một bài viết đầy đủ nhất về miếu bà Chúa Xứ cùng với toàn bộ sự tích linh thiêng về địa danh nổi tiếng trên dốc núi Sam ở Châu Đốc. Cùng với bài văn khấn bà chúa Xứ để xin Lộc. Nào cùng bắt đầu hành trì đến với Châu Đốc.

Châu Đốc cách chúng tôi khoảng 250km, cách TP. Long Xuyên khoảng 55km, là một thị xã trực thuộc tỉnh An Giang, nằm bên ngã ba của sông Châu Đốc và sông Hậu sát biên giới Việt Nam với Campuchia. Thị xã Châu Đốc có chiều dài lịch sử gắn liền với những câu chuyện ly kỳ về Bà Chúa Xứ Núi Sam – nơi có Lễ hội Bà Chúa Xứ vào khoảng tháng Tư âm lịch hàng năm.

Trông từ xa, ngôi miếu như một bông sen xanh ngự uy nghi trên cao để người đời hướng về bái vọng. Lại gần, khách sẽ thấy ngỡ ngàng khi chiêm ngưỡng các hoa văn ở cổ lầu chính điện, thể hiện đậm nét nghệ thuật Ấn Độ. Phía trên cao, các tượng thần khỏe mạnh, đẹp đẽ giăng tay đỡ những đầu kèo. Các khung bao, cánh cửa đều được chạm trổ, khắc, lộng tinh xảo và nhiều liễn đối, hoành phi ở nơi đây cũng rực rỡ vàng son.

Bài văn khấn cúng miếu Bà Chúa Xứ núi Sam

“Hương tử con lễ bạc tâm thành, cúi đầu thành tâm kính lễ Bà Chúa Sứ.

Cúi xin được phù hộ độ trì. Hương tử con là: Ngụ tại:….

Ngày hôm nay là Ngày….. Tháng….. Năm.

Con sắm sửa kim ngân, hương hoa, lễ vật chí thiết một lòng thành tâm dâng lễ, sám hối cầu xin phù hộ cho hương tử con được: gia quyến bình an, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, bách sự cầu được như ý. ……. (Muốn gì cầu xin) Hương tử con lễ bạc tâm thành, cúi đầu thành tâm kính lễ Bà Chúa Sứ, cúi xin được phù hộ độ trì.”

-Hết-

“Ai đi cũng nên xin một BAO LÌ XÌ LỘC BÀ về cho may mắn nha…nói thẳng trong bao có khi là tiền, có khi là tấm áo Bà Mặc cắt ra làm lộc

Cách sử dụng lộc Bà như sau:

– Khi rước lộc về nhà, thỉnh lộc bà lên một cái dĩa, sau đó để 4 ly nước suối kế bên, cầm từng ly lên khấn cung nghinh bà về cư gia, cứ mỗi ly nước ta khấn xong ta chế 4 góc nhà.

– Sau đó trân trọng đặt lên bàn thờ ở Mẹ Quan Âm chứ không nên để chỗ thờ Ông Địa như các nhà thường làm. Sẽ khinh thường bà, mà ông địa ông thần tài năm đó cũng không về được khánh.

– Khi đặt lên thì trong 9 ngày phải thay nước và 3 ngày thay trầu cau 1 lần.

– Sau đó ta có thể bỏ bóp hay để bàn thờ nhưng ta nhớ thường xuyên khấn Bà xin độ cho chúng con. Nếu để bàn thờ thì nên đặt thêm quanh bao lộc đó 5 thứ ngũ cốc.

– Cuối năm ngày 23 âm lịch hóa bao lộc này.

Chính lễ của Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam diễn ra trong ba ngày, gồm: Lễ Phục hiện rước tượng Bà từ đỉnh Núi Sam xuống Lăng Miếu; Lễ tắm Bà; Lễ Túc yết và Xây Chầu; Lễ Chánh tế; Lễ Hồi sắc,… Trong đó quan trọng nhất là Lễ tắm Bà diễn ra vào khuya ngày 22-4 âm lịch.

Pho tượng đặt trên một bệ cao, kiên cố, được trang điểm bằng sơn dầu cho tăng thêm thần sắc. Do toàn thân có choàng áo rộng lộng lẫy phủ kín cả tay và chân nên rất ít người được mục kích kiểu thế ngồi của tượng.

Mắt tượng nhìn thẳng về hướng đông, uy nghiêm mà hiền ái, phúc hậu, như chan chứa cả một tấm lòng bao dung, tế độ.

Hiện nay tồn tại khá nhiều dị bản khác nhau về sự hình thành Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam. Đây được xem là tổ miếu của dạng thức tín ngưỡng này, có qui mô lớn nhất vùng, không chỉ mang ý nghĩa phản ánh đời sống văn hóa tinh thần của cư dân địa phương, mà còn có ý nghĩa trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua hoạt động du lịch.

Sự tích bà Chúa Xứ Châu Đốc thứ nhất:

Trên núi Sam ngày xưa có một bệ tượng hình vuông bằng đá sa thạch. Vào những năm đầu thế kỷ XIX, giặc Xiêm thường sang khu vực này để quấy nhiễu. Trong một lần lên núi và bắt gặp tượng Bà, họ liền có ý định cậy tượng ra khỏi bệ đá để đem xuống núi. Nhưng kỳ lạ thay tượng trở nên nặng vô cùng, họ không cách nào khiêng được mặc dù có bao nhiêu lính tráng khỏe mạnh.

Trong lúc tức giận, một quân lính người Xiêm đã vớ một khúc gỗ phang vào tượng làm sứt một miếng ở cánh tay. Ngay lập tức người lính Xiêm này hộc máu chết tại chỗ. Sau đó, một hôm dân làng lên núi thấy tượng Bà bèn cùng nhau khiêng tượng về lập miếu thờ. Tuy nhiên, cũng như lần trước, tượng nặng vô cùng, bao nhiêu trai tráng trong làng góp sức nhưng cũng không khiến cho bức tượng xê dịch được.

Lúc đó, bỗng một phụ nữ lên đồng, tự xưng là Bà Chúa Xứ và phán rằng, muốn thỉnh Bà xuống thì cần phải có 40 cô gái đồng trinh tắm rửa sạch sẽ mới có thể khiêng Bà xuống. Dân làng tin lời và làm theo. Quả thật linh nghiệm; tuy nhiên, đến chân núi Sam thì tượng Bà lại trở nên nặng trịch, không thể khiêng tiếp được nữa. Hiểu được dụng ý của Bà, dân làng liền cho lập đền thờ ở khu vực này.

Sự tích bà Chúa Xứ núi Sam thứ hai:

Kể lại rằng cách đây gần 200 năm, có một cô gái trong làng Vĩnh Tế bỗng lên đồng, tự xưng là Bà Chúa Xứ về núi Sam để cứu dân độ thế. Bà còn nói thêm là hiện nay, tượng Bà đang ngự trên núi, yêu cầu dân làng lên núi thỉnh về để thờ phụng. Dân làng liền phái 40 chàng thanh niên lực lưỡng lên núi để khiêng tượng, nhưng cũng không thể xê dịch bức tượng. Lúc đó, cô gái lại lên đồng và cho dân làng biết chỉ cần 9 cô gái đồng trinh là có thể khiêng được. Quả thật linh nghiệm; đến chân núi Sam, dây khiêng tượng bị đứt, thế là dân làng hiểu ý Bà mà cho lập miếu thờ Bà ở đây.

Thì cho rằng, dưới thời Thoại Ngọc Hầu trấn thủ Châu Đốc, đeo ấn bảo hộ Cao Miên, vợ ông (tức là bà Châu Thị Tế) ở nhà thường cầu nguyện cho ông bình an trở về, nếu được thì sẽ lập chùa thờ Phật để báo ân phù hộ. Sau khi Thoại Ngọc Hầu trở về, ông vì cảm kích trước tấm lòng của vợ mình nên đã cho quân lính sang tây Trấn Thành chở cốt Phật về lập chùa để thờ, đặt tên là chùa Tây An. Chùa xây xong, ông lo ngại tin đồn ác ý rằng xây chùa để thờ Phật của giặc nên đưa pho tượng ra ngoài chùa, lập miếu thờ để tránh phiền phức.

Sự tích bà Chúa Xứ núi Sam Châu Đốc thứ tư:

Thì kể về việc một thiếu phụ Cao Miên đi tìm chồng, đến chân núi vì quá mệt mỏi nên đã ngồi nghỉ, sau đó bà đã hóa đá ở chân núi này. Sau đó, linh hồn người phụ nữ này nhập vào cốt đồng để nói về quá khứ và tương lai để giúp đỡ những người hiền và trừng phạt những người xấu. Dân làng liền lập miếu thờ và gọi bà là Bà Chúa Xứ.

Lễ hội bà chúa Xứ núi Sam An Giang

Lễ bà Chúa Xứ có thời gian diễn ra lễ hội là từ đêm ngày 23 đến ngày 27 tháng 4 Âm lịch hằng năm. Có hai giả thuyết giải thích lý do tại sao chọn những ngày này làm lễ vía Bà. Hai giả thuyết này khác nhau phụ thuộc vào vấn đề sự ra đời của miếu Bà.

Lễ hội vía Bà Chúa Xứ núi Sam Châu Đốc tự bản thân nó là một lễ hội hoàn chỉnh với phần lễ (thể hiện tính chất lễ nghi, tôn nghiêm sùng bái đối tượng chính là Bà Chúa Xứ) và phần hội (phần văn nghệ quần chúng, vui chơi, giải trí của cộng đồng). Tuy nhiên, tùy theo tính chất của lễ hội mà có lễ hội nặng về phần lễ hoặc có lễ hội nặng về phần hội. Theo chúng tôi, lễ hội vía Bà Chúa Xứ núi Sam Châu Đốc nặng về phần lễ nghi hơn. Lễ hội vía Bà Chúa Xứ núi Sam Châu Đốc là sự kết hợp của văn hóa nông nghiệp và triết lý âm dương của người Việt. Triết lý âm dương của người Việt thể hiện qua huyền thoại về việc di dời tượng bà từ đỉnh núi Sam Châu Đốc bằng 9 cô gái đồng trinh. Không ai thấy khuôn mặt thật của bà trừ những người đầu tiên được cử ra trang điểm cho bà và những người chứng kiến cảnh khiêng tượng bà từ đỉnh núi Sam xuống vị trí điện thờ ngày nay, và không ai trong số họ mô tả lại khuôn mặt thật của tượng bà.

Tổ chức vào lúc 24 giờ đêm ngày 23, rạng ngày 24 tháng 4 âm lịch.

Nói là tượng tắm Bà nhưng thực chất là lau bụi bặm bám trên cốt tượng Bà bằng nước thơm được nấu và pha trộn nhiều nước hoa tốt do các tín thí dâng cúng. Lau bụi bặm xong, tượng Bà được thay xiêm y mới, hài mới, mão mới trong một không gian chật hẹp là chánh điện được quây lại và chỉ có những người được Ban quản trị lựa chọn mới được tham gia.

Nước tắm Bà là một loại nước thơm nấu bằng nước mưa hứng ngoài trời với nhiều loại hoa thơm và có thêm nước hoa hàng hiệu thơm ngát. Sau khi đã tiến hành “tắm Bà” xong, một bộ quần áo đẹp nhất dâng cúng trong kỳ lễ hội được khoác lên tượng, thắt dây đai áo và các bộ phận khác, và cuối cùng là đội mão lên đầu tượng Bà.

Toàn bộ “lễ tắm Bà” kéo dài trong khoảng một giờ; sau đó, mọi người được tự do chiêm bái. Cũng cần nói thêm rằng, toàn bộ quá trình mộc dục cho Bà đều được thực hiện sau bức màn che, nhưng có đến hàng nghìn người chen chúc nhau đến để đứng ngoài vòng rào chính điện để xem.

Lễ thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu về miếu Bà

Lễ này thường được thực hiện vào khoảng 15h00 ngày 24 tháng 4 âm lịch. Các bô lão trong làng được cử ra cùng với Ban quản trị miếu Bà bận trang phục chỉnh tề, nghiêm trang sang thỉnh sắc ở lăng Thoại Ngọc Hầu. Đoàn thỉnh sắc phong có đội múa lân của miếu Bà đi trước, kế đến là ông chánh bái, hai vị bô lão và những chức sắc khác rồi theo sau là học trò lễ với tay cầm cờ phướng. Tới trước điện thờ Thoại Ngọc Hầu, mọi người dâng hoa, niệm hương, tế lễ. Sau đó, họ thỉnh bốn bài vị lên long đình về miếu Bà. Bốn bài vị đó là: bài vị của ông Thoại Ngọc Hầu, bài vị của bà chánh phẩm Châu Thị Tế, bài vị của bà nhị phẩm Trương Thị Miệt và bài vị Hội đồng.

Lễ này được tổ chức vào 0 giờ ngày 25 và rạng ngày 26 tháng 4 âm lịch. Tất cả các bô lão trong làng và Ban quản trị miếu với lễ phục chỉnh tề, đứng xếp thành hai bên, trước chánh điện. Phía sau các vị ấy là bốn học trò lễ và bốn đào thày. Đứng chính diện với tượng Bà là ông Chánh bái. Lễ vật cúng được chuẩn bị từ trước đó không lâu rất kỹ lưỡng gồm: một con heo trắng đã cạo lông, mổ bụng sạch sẽ, chưa nấu chính; một đĩa đựng ít lông và máu của con heo (ế mao huyết); một mâm xôi, một mâm trái cây, một mâm trầu cau, một đĩa gạo muối.

Khi cúng, ông Chánh bái và các vị bô lão đến niệm hương trước bàn thờ. Sau khi đánh ba hồi trống gõ và ba hồi chiêng trống, nhạc lễ bắt đầu trỗi lên là lễ dâng hương, chúc tửu và hiến trà. Từng diễn biến của buỗi lễ được hai người xướng lễ (một xướng nội, một xướng ngoại) xướng to lên. Ông Chánh bái đi trước, bốn học trò lễ và bốn đào thày đi theo sau, hướng về phía bàn thờ tổ. Tại đây, ông Chánh bái tự tay rót rượu để học trò lễ đem dâng cúng.

Sau khi dâng hoa và dâng ba lần rượu gọi là chúc tửu, ba lần trà gọi là hiến trà, theo lệnh của người xướng lễ, văn bản tế được mang đến trước bàn thờ và một người trong ban quản trị miếu đọc văn tế. Dứt bài văn tế, ông Chánh bái đốt bài văn tế này, heo cúng sống trên bàn được lật ngửa ra trước khi khiêng đi chế biến.

Sau lễ túc yết là lễ xây chầu. Lễ này, có mặt hầu như ở tất cả các lễ hội cúng đình ở làng Nam Bộ.

Vào lễ, người xướng nội hô to: “Ca công tựu vị”, tức thì ông Chánh bái ca công liền bước tới bàn thờ đặt giữa võ ca, tay cầm hai dùi trống nâng lên ngang trán, miệng khấn vái râm rang. Trên bàn thờ có chuẩn bị sẵn một tô nước và một nhành dương liễu. Sau khi khấn vái, tô nước được xem là nước thiêng, nước thánh của. Ông Chánh bái ca công cầm nhành dương nhúng vào tô nước rồi vảy xung quanh với động tác ma thuật tựa như mưa rơi với ý nghĩa ban phát năng lượng thiêng xuống cõi trần cầu cho vạn vật sinh sôi nảy nở, mùa màng bội thu. Vừa làm những động tác ấy, ông vừa xướng to:

“Nhất xái thiên thanh (một rảy cho trời xanh).

Nhị xái địa linh (hai rảy cho đất tốt lành).

Tam xái nhân trường (ba rảy cho con người trường thọ).

Tứ xái quỷ diệt hình (bốn rảy cho ma quỷ tiêu tan)”.

Đọc xong, ông Chánh ca công đặt tô nước và cành dương liễu trở lại bàn thờ, ông đánh ba hồi trống và xướng “ca công tiếp giá”, lập tức đoàn hát bội nổi chiêng trống rộ lên và chương trình hát bội bắt đầu. Các tuồng hát chuẩn bị sẵn bắt đầu nhảy vào cuộc, trước là phục vụ, mua vui cho Bà, sau là phục vụ cho bà con tham dự lễ hội thưởng thức. Phần hội thực sự bắt đầu.

Bắt đầu lúc 4 giờ sáng ngày 26 tháng 4 âm lịch. Nghi thức cũng tương tự như lễ cúng túc yết, chỉ khác là thêm một phần nội dung văn tế và có thêm phần “ẩm phước” với ý nghĩa là phần thưởng của Bà ban cho nhân dân mà vị Chánh tế đứng ra nhận lãnh thay. Theo nhà văn Sơn Nam, nghi lễ “thụ tộ” hoặc “ẩm tộ” hưởng tượng trưng lộc của thần, dùng chén rượu đã cúng mà uống, thay cho dân làng: ” ‘ẩm phước’, uống phần rượu trên bàn thờ, cúng nãy giờ, đem xuống cho Chánh tế, Bồi tế uống tượng trưng, rồi “thụ tộ” ăn phần thịt đã cúng, tượng trưng, thường là ăn trái cây (nho, nhãn), ăn và uống thay mặt cho dân làng, như là lộc của thần thánh” [Sơn Nam 2005: tr.359].

Đến 14 giờ chiều ngày 27 tháng 4 lâm lịch, Ban quản trị làm lễ hồi sắc, tức đưa bốn bài vị của ông Thoại Ngọc Hầu, bà Châu Thị Tế, bà Trương Thị Miệt và bài vị Ban hội đồng về lại lăng ông Thoại Ngọc Hầu, chính thức kết thúc lễ hội.

Sau lễ mộc dục chính là lễ thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu về miếu Bà. Lễ này được tiến hành vào lúc 15 giờ ngày 24; tại miếu Bà, tất cả các bô lão của làng Vĩnh Tế cùng Ban Quản trị lăng miếu lễ phục chỉnh tề (áo dài khăn đóng – lễ phục cổ truyền) tập trung đông đủ và xếp thành hai hàng hai bên tượng Bà để chuẩn bị sang lăng Thoại Ngọc Hầu dự lễ thỉnh sắc.

Dẫn đầu đoàn thỉnh sắc là đội múa lân, theo sau là ông Hương lễ bưng khay trầu rượu, học trò lễ đi hai bên, rồi đến hai ông Chánh tế, ba ông Bồi tế, ba ông Chấp kích cùng các bô lão và đại diện dân làng Vĩnh Tế tiếp nối đi theo phía sau. Khi đoàn đến trước lăng Thoại Ngọc Hầu thì các bô lão lần lượt vào dâng hương và xin phép thỉnh bài vị.

Sau đó, đoàn thỉnh bốn sắc (bài vị) lên long đình để về miếu Bà. Bốn bài vị đó bao gồm: Bài vị của Nguyễn Văn Thoại, bài vị của bà Chánh phẩm Châu Thị Tế, bài vị của bà Nhị phẩm Trương Thị Miệt và bài vị của Hội đồng. Khi các bài vị được thỉnh về và an vị trong ngôi chính điện,

Ban Quản trị của miếu Bà dâng hương thỉnh an và phần lễ thỉnh sắc kết thúc. Tuy kết thúc nhưng hàng nghìn người dân từ khắp nơi kéo về dự lễ liên tục cho đến tận đêm khuya và thậm chí là kéo dài cho đến sáng ngày hôm sau. Do vậy, ngày 25 được xem là đông vui nhất trong lễ hội vía Bà – ngày lễ chính của cả mùa lễ hội.

Lễ túc yết được bắt đầu vào lúc 0 giờ ngày 25, rạng sáng ngày 26 tháng 4 Âm lịch. Tất cả các bô lão và Ban Quản trị khu lăng miếu lễ phục chỉnh tề, đứng xếp hàng hai bên tượng Bà. Vật cúng gồm có: Một con heo trắng đã được cạo lông sạch sẽ, chưa nấu chín; một đĩa đựng một ít huyết có chút lông (mao huyết); một mâm xôi; một mâm trái cây, một mâm trầu cau và một đĩa gạo muối.

Toàn bộ lễ vật được bày trên bàn trước tượng Bà. “Vào lễ cúng, ông chánh bái và các vị bô lão đến niệm hương trước bàn thờ. Kế đến là các phần khởi cỗ. Sau khi đánh ba hồi trống và ba hồi chiêng, nhạc lễ bắt đầu nổi lên là lễ dâng hương, chúc tửu, hiến trà… Một người trong Ban quản trị lăng miếu đọc văn tế. Dứt bài văn tế, ông chánh bái đốt văn bản này và một ít giấy vàng bạc; heo cúng trên bàn thờ được lật ngửa ra trước và khiêng đi, phần cúng túc yết đã xong”.

Sau đó, ông bước ra đặt roi chầu lên khay; sau đó là đến các lễ dâng hương, dâng rượu và trà. Phía bên trái bàn thờ có một tô nước và một cành dương liễu. Ông Chánh tế ca công cầm cành dương liễu đưa ngang trán và khấn vái rồi cầm cành dương liễu nhúng vô tô nước và vẩy nước ra xung quanh; vừa vẩy vừa đọc to câu thần chú:

“Nhất xái thiên thanh” (Thứ nhất, vẩy nước lên trời mong cho trời luôn thanh bình, mưa thuạn gió hòa);

“Nhị xái địa ninh” (Thứ hai, vẩy nước xuống đất, cầu cho đất thêm tươi tốt, mùa màng bội thu);

“Tam xái nhơn trường” (Thứ ba, vẩy nước cho loài người sống trường thọ);

“Tứ xái quỷ diệt hình” (Thứ tư, vẩy nước vào loài quỷ dữ cho chúng bị tiêu diệt).

Đọc xong câu thần chú, ông Chánh bái ca công đặt tô nước, cành dương liễu về lại bàn thờ; sau đó đánh ba hồi trống và xướng “Ca công tiếp giá”, đoàn hát bội “Dạ” một tiếng thật to. Ngay lập tức, đoàn ca công hát bội nổi chiêng trống và chương trình hát bội bắt đầu. “… Tất cả các vở tuồng hát đều là tuồng hay, có ý nghĩa sâu xa, nhưng trong năm buổi diễn bắt buộc phải có vở Thứ ba San Hậu, đào kép phải hát đúng nguyên bản không được tùy tiện sửa đổi

Tiếp theo là lễ chính tế. Lễ được tổ chức trọng thể vào lúc 4 giờ sáng ngày 27 tháng 4 Âm lịch. Chương trình tế lễ này tương tự như nghi lễ cúng túc yết. Sau khi tế lễ chính xong thì có phần lễ tạ Mẫu và các vị thần linh; sau đó chuẩn bị cử hành lễ hồi sắc.

Lễ hồi sắc được cử hành vào buổi chiều ngày 27 (15 giờ). “Ban Quản trị lại tề tựu đông đủ, áo dài khăn đóng (mặc lễ phục cổ truyền) chỉnh tề làm lễ Tôn Vương. Khi đó, ông Chánh tế ca công nhận hàm ấn và gươm lệnh của Hoàng tử trong vở hát bội Thứ ba San Hậu dâng lên bàn thờ bà Chúa Xứ. Sau đó, ông đốt văn xây chầu và chấm dứt phần hát bộ.

Đến khi làm lễ hồi sắc thì chủ lễ thỉnh bài vị Thoại Ngọc Hầu, bài vị hai vị phu nhân và bài vị Hội đồng đưa lên long đình. Rồi đoàn đưa sắc dàn đội hình rước sắc hồi lăng Thoại Ngọc Hầu theo thứ tự giống như rước sắc về miếu hôm mở hội… Nghi lễ hồi sắc là nghi lễ cuối cùng kết thúc lễ hội vía bà Chúa Xứ núi Sam”

– Lễ vật: Lễ vật cúng bà được đông đảo người đi hành hương là heo quay, từ đó xảy ra dịch vụ cho thuê heo quay mướn. Du khách đến đây, có thể thuê heo quay được tính bằng Kg, sau khi cúng vái xong thì chú heo quay ấy sẽ trở về vòng quay cho thuê người tiếp theo…liệu như thế bạn chứng tỏ lòng thành của mình hay chỉ là góp phần cho nạn cò heo quay lộng hành??. Do vậy, nếu bạn không thể mang heo quay từ nhà thì tốt nhất là không mua hoặc thuê heo quay tại chùa.

Nếu không mua trên đường đi thì nên vào các cửa hàng lớn xung quanh chùa và hỏi kỹ giá cả trước khi mua. Không nên mua nhang đèn từ những người bán lẻ đi theo mời mọc vì ngoài giá đắt hơn. Sau khi mua bạn còn phải tiếp tục “chịu đựng” những người đi theo chèo kéo mua vé số, xin tiền, gửi lộc…

– Ăn xin: Tình trạng ăn xin diễn ra rầm rộ khi ngày lễ diễn ra, đừng nên cho tiền ăn xin vào ngày này nếu như bạn muốn bị hàng chục người ăn xin khác vây bạn như thể bạn là một “ngôi sao”. Mặc khác, tình trạng giả bệnh, giả cụt chân, tay…được biến hóa một cách rất tài tình…lợi dụng tình trạng này mà móc túi, giật đồ diễn ra mà bạn không hay biết.

– Lộc “trời cho”: Bạn đang thẩn thần thành tâm viếng chùa, bỗng một người lạ đến đưa bạn một túi nhỏ trong đó đủ thứ những vật cúng hoặc một tờ giấy 500 đồng được xếp theo đủ kiểu dúi vào tay, túi áo…cho bạn, ngay lập tức hãy trả lại hoặc bỏ mà đi vào chùa nếu như bạn không muốn bị dính vào cảnh người dúi túi lộc đó cho bạn đi theo xin tiền “trả lễ”. Tuy là nói tùy hỷ, nhưng nếu bạn trả lộc ít thì bạn sẽ nhận lại ngay những lời lẽ thô tục.

– Giữ chặt ví tiền: Tháng giêng, miếu Bà Chúa Xứ lúc nào cũng đông khách hành hương. Khi vào khu vực chính điện của miếu, bạn phải hết sức cẩn thận với ví tiền của mình. Khi đi chùa, không nên mang theo nhiều tiền mặt, nếu để trong túi xách thì phải cài chặt và quay túi xách ra phía trước để tránh bị mất cắp.

– Chen lấn: Không thể tránh khỏi khi mà hàng trăm ngàn người đổ về chùa bà cùng lúc. Đây là cơ hội của bọn móc túi rinh tiền, điện thoại, nữ trang của bạn, do đó khi đã viếng bà những ngày này tuyệt đối không nên mang nữ trang trên người, điện thoại và ví tiền nên bỏ vào tùi quần có dây kéo cẩn thận và khó luồng tay vào được.

【#7】Những Bài Khấn Về Nhà Mới Khánh Thành Nhà Đúng Chuẩn Nhất Năm 2021

Những bài khấn về nhà mới khánh thành nhà đúng chuẩn nhất năm 2021: Lễ nhập trạch là lễ dọn vào nhà mới. Dù là ngôi nhà gia đình bạn mua lại hoặc tự xây thì đây cũng là một nghi lễ vô cùng quan trọng trong quan niệm tín ngưỡng dân gian của người Việt từ xưa đến nay. Có thể bạn bận rộn với đồ dùng khi chuyển mà quên đi những thứ cần chuẩn bị cho lễ nhập trạch. Vậy hãy tham…

  • Tiểu sử BB Trần: BB Trần là ai? chiều cao, năm sinh & tin tức mới nhất
  • Tiểu sử Song Hye Kyo: Song Hye Kyo là ai? Năm sinh, chiều cao, đời tư & tin mới
  • Tiểu sử Lý Thấm: Lý Thấm là ai? chiều cao, năm sinh, sở thích & thông tin mới
  • Tiểu sử Bảo Hân: Bảo Hân là ai? Năm sinh, chiều cao, sở thích & sự nghiệp
  • Share cho acc truy kích 2021 mới nhất hôm nay: acc ít đăng nhập, acc vip…
  • + Chuẩn bị lễ nhập trạch lấy ngày

    Đừng quá lo lắng, bạn hoàn toàn có thể dọn về nhà mới lấy ngày tượng trưng trước (hay còn gọi là cúng nhập trạch lấy ngày), rồi sau đó mới lần lượt chuyển đồ về sau.

    1. Nếu quá bận rộn, bạn có thể nhập trạch lấy ngày trước và chuyển nhà sau vẫn hợp phong thủy
    2. Làm lễ nhập trạch là cách bạn báo cáo với thần linh, tổ tiên về việc chuyển dọn nơi ở của gia đình. Cầu mong đấng bề trên chấp thuận và tiếp tục phù hộ gia đạo bình an, có nhiều tiền tài và sức khỏe tại nhà mới.
    3. Chính vì tầm quan trọng đó mà nhiều người muốn làm lễ nhập trạch thật đúng nghi lễ.
    4. Nếu ngày tốt nhập trạch rơi vào cuối tuần hay ngày bạn rảnh rỗi thì thật tuyệt vời. Nhưng đời không như là mơ, mỗi nhà mỗi cảnh nên đôi khi ngày hoàng đạo hợp tuổi của bạn đã gần kề mà việc dọn đồ đạc đi là hoàn toàn không khả thi. Lúc này hãy nghĩ ngay đến thủ tục cúng nhập trạch lấy ngày, vì:
    5. Lễ nhập trạch lấy ngày có giá trị như một lễ nhập trạch chuẩn, xem như là bạn đã chuyển nhà và được công nhận
    6. Nhập trạch trước chuyển nhà sau giúp bạn tiến hành nghi thức đúng vào ngày đẹp đã định mà không sợ bị lỡ việc hay mạo phạm thần linh, tổ tiên
    7. Mọi vấn đề được giải quyết ổn thỏa, nhờ đó gia chủ cảm thấy an tâm hơn để thu xếp công việc dọn nhà sau, không bị nóng vội mà xảy ra sơ sót.
    8. Nhập trạch lấy ngày đúng thủ tục theo quan niệm dân gian sẽ nhận được nhiều may mắn, gặp nhiều thuận lợi.

    Các bước làm cúng nhập trạch lấy ngày

    Trên thực tế, lễ nhập trạch lấy ngày là nghi thức cúng chuyển nhà sớm hơn so với dự định. Các bước tiến hành cũng không có nhiều khác biệt so với lễ cúng nhập trạch bình thường. Sẽ gồm các bước sau:

    Đến ngày đẹp chuyển nhà, tại nhà cũ làm thủ tục xin chuyển bàn thờ và bốc bát hương. Tiếp đó lau chùi và đóng gói các đồ đạc trên bàn thờ cẩn thận vào các thùng đựng. Nhớ bọc lót cẩn thận bằng vải mềm, xốp nổ…rồi chuyển đến nhà mới

    mâm cúng chuyển nhà lấy ngày

    Mâm cúng và quy trình lễ nhập trạch lấy ngày tương tự như lễ nhập trạch bình thường.

    • Tại nhà mới, đốt một lò than ở giữa lối đi và gia chủ nam cầm bát hương bước qua, các thành viên theo sau cầm theo các vật may mắn khác, không ai được đi vào nhà bằng tay không vì đó là biểu hiện của sự thiếu thốn.
    • Khi vào nhà thì mở tất cả cửa, bật đèn sáng nhằm khơi dậy sức sống căn nhà.
    • Dọn mâm cúng lên bàn thờ gia tiên hoặc ra giữa nhà. Tiếp đó thắp nhang và đọc văn khấn nhập trạch.
    • Nấu nước pha trà dâng lên mâm cúng và hóa vàng. Lưu ý nên để nước sôi khoảng 5-10 phút.
    • Đến đây thì hoàn tất lễ nhập trạch lấy ngày. Các đồ đạc khác trong nhà có thể chuyển dần vào những ngày sau cũng được.

    + Những bài khấn về nhà mới khánh thành nhà đúng chuẩn nhất 2021

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật!

    – Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

    – Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

    – Con kính lạy Các ngài Thần linh bản xứ cai quản trong khu vực này.

    Tín chủ (chúng) con là:……………………………………….

    Hôm nay là ngày….. tháng…. năm…. tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án. Trước bản toạ chư vị Tôn thần tín chủ con kính cẩn tâu trình:

    Các vị Thần linh,

    Thông minh chính trực,

    Giữ ngôi tam thai

    Nắm quyền tạo hoá

    Thể đức hiếu sinh

    Phù hộ dân lành

    Bảo vệ sinh linh.

    Nêu cao chính đạo.

    Nay gia đình chúng con hoàn tất tân gia, chọn được ngày lành dọn đến cư ngụ, phần sài nhóm nhóm lửa, kính lễ khánh hạ. Cầu xin chư vị minh Thần cho chúng con được nhập vào nhà mới tại:………………………………. và lập bát nhang thờ chư vị Tôn thần. Chúng con xin phép chư vị Tôn thần cho rước vong linh Gia tiên chúng con về ở nơi này để thờ phụng. Chúng con cầu xin chư vị minh Thần gia ân tác phúc, độ cho gia quyến chúng con an ninh, khang thái, làm ăn tiến tới, tài lộc dồi dào vạn sự như ý, vạn điều tốt lành.

    Tín chủ lại mời các vong linh Tiền chủ, Hậu chủ ở trong nhà này, đất này xin cùng về đây chiêm ngưỡng Tôn thần, thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho tín chủ con sức khoẻ dồi dào, an khang, thịnh vượng.

    Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật!

    Kính lạy Tiên nội ngoại họ………………………

    Hôm nay là ngày……… tháng.:……. năm……….

    Gia đình chúng con mới dọn đến đây là: (địa chỉ):…………..

    Chúng con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước ban thờ Cụ nội ngoại gia tiên. Nhờ hồng phúc tổ tiên, ông bà cha mẹ, chúng con đã tạo lập được ngôi nhà mới. Nhân chọn được ngày lành tháng tốt, thiết lập án thờ, kê giường nhóm lứa, kính lễ khánh hạ.

    Cúi xin các cụ, ông bà cùng chư vị Hương linh nội ngoại họ……………….. thương xót con cháu, chứng giám lòng thành, giáng phó linh sàng thụ hưởng lễ vật, phù hộ độ trì cho chúng con, lộc tài vượng tiến, gia đạo hưng long, cháu con được bình an mạnh khoẻ.

    Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật!

    Lễ vật cúng về nhà mới cần những gì

    1. Hoa tươi (hoa hồng, hoa ly, hoa cúc vàng,…).
    2. Rượu (rượu nếp).
    3. Hương thắp (nhang thắp).
    4. Nến (hoặc đèn dầu thay thế).
    5. Trầu cau (chọn những lá trầu đẹp, không được rách, cau quả phải đẹp)
    6. Xôi (có thể xôi đậu xanh, xôi gấc).
    7. Chè (có thể thay thế bằng cháo trắng hoặc cơm trắng).
    8. Bánh kẹo (1 đĩa lớn).
    9. Thịt heo quay (để nguyên miếng lớn).
    10. Gạo tẻ.
    11. Muối hạt sạch.
    12. 1 bộ tam sên (bao gồm: thịt heo luộc, trứng luộc, tôm luộc hoặc cua luộc. Chú ý tất cả
    13. đều phải đẹp mắt, cua và tôm tuyệt đối không
    14. được bị gãy càng).
    15. Gà luộc (1 con gà trống luộc).
    16. Tiền vàng mã.

    Sau khi cúng xong, đốt giấy vàng bạc và rải muối gạo hãy nhập trạch.

    Lúc đốt giấy vàng bạc thì dùng chung rượu ở giửa rưới lên sau khi đốt xong.

    Riêng 3 hũ muối, gạo, nước thì cất lại thật kỹ. Sau này khi nhập trạch thì đem để nơi Bếp, nơi thờ cúng Táo Quân.

    Những lưu ý về nhà mới cần làm gì

    Nếu là 1 gia đình có vợ chồng con cái thì đầu tiên là vợ gia chủ cầm 1 cái gương tròn đem vào nhà trước (mặt gương soi vào nhà), kế đến là gia chủ tự tay bưng bát nhang thờ Tổ Tiên, rồi lần lượt các người trong nhà mới đem vào: Bếp lửa (tốt nhất là Bếp còn đang cháy đỏ từ nhà cũ đem tới), chăn nệm, gạo, nước, muối, đồ tư trang quý giá…vv…

    Nếu nhà vắng đàn ông thì người mẹ bưng bát nhang thờ Tổ Tiên vào trước, kế đến là con cái lần lượt mang Bếp, gạo, nước…vv… vào.

    Không ai được đi tay không vào nhà. Tuồi Dần không được phụ dọn. Phụ nữ có thai không được phụ dọn (nếu muốn phụ, thì mua 1 cây chổi mới, dùng chổi quét qua 1 lượt các đồ vật thì không sao). Trong giờ tốt, gia chủ tự tay cầm tiền bạc nữ trang, tài sản quý giá cất vào tủ.

    Tags: dọn về nhà mới lấy ngày, bài cúng về nhà mới mua, những bài khấn về nhà mới, tải bài cúng về nhà mới, văn khấn thần tài về nhà mới, mâm cơm chay cúng về nhà mới, cúng lấy ngày về nhà mới, văn khấn chuyển nhà

    【#8】Bài Văn Cúng Tất Niên Chiều 30 Tháng Chạp

    Mâm cơm tất niên đối chúng ta thực chất là mâm cơm cúng cho ông bà và những người con cháu trong gia đình được thụ hưởng lễ ké. Đối với truyền thống tục lệ tết nhiều nghi lễ của người Việt thì trước bữa cơm Tất niên sẽ có một nghi lễ gọi là ” lễ chạp mộ mời ông bà về ăn Tết” diễn ra trước đó 1 hoặc 2 ngày.

    * mâm cơm cúng Tất niên ngày 30 Tết được tiến hành với các nghi thức sau đây :

    + Chuẩn vị trước khi cúng Tất niên

    + Sắp mâm cơm cúng Tất niên

    + Bài văn cúng Tất niên ( trong đó có văn khấn cúng cơm chiều 30 tháng chạp, văn khấn cúng lúc trừ tịch và văn cúng lúc giao thừa )

    Thời gian cúng cơm Tất niên nên là khi nào ? có nên chọn ngày giờ cúng cơm Tất niên ?

    Nên cúng cơm Tất niên trong nhà hay ngoài trời ?

    Thực sự thì bữa cơm Tất niên là bữa cơm cúng mời ông bà và hầu hết mọi người đều ý thức được tầm quan trọng,ý nghĩa đối với mâm cơm Tất niên. Nhưng hiện nay, phương tiện truyền thông và rất nhiều kênh thông tin về các bài văn cúng tất niên có nhắc đến việc ” cúng cơm Tất niên ngoài trời” khiến nhiều người thắc mắc.

    ◊ Đối với vị trí đặt mâm cơm cúng Tất niên ngày Tết , đặt trước bàn thờ gia tiên, bày biện tất cả thực phẩm cúng ( các món ăn) cùng với lễ vật cúng ( bao gồm nhang đèn, giấy tiền vàng mã, quần áo, quà kẹo, bánh trái rượu chè ngày tết)….

    Mâm cơm cúng người Bắc chuẩn bị có phần cầu kỳ hơn một xíu, và thường thì đối với lễ nghi gia giáo đậm chất truyền thống nên hầu hết mâm cơm cúng tất niên của người Bắc rất được coi trọng. Thường sẽ là được bày biện theo hình thức 4 bát 4 dĩa hoặc 6 bát 6 dĩa . Trước khi tìm hiểu mâm cơm cúng tất niên thì mâm ngũ quả trưng trong ngày 30 tháng chạp cũng rất được coi trọng và hầu như khi nào hết tết ( đốt tết) người ta mới hạ mâm ngũ quả xuống.

    Gà luộc, Thịt kho trứng, thịt luộc, chả giò, canh khổ qua nhồi thịt, canh chua , đồ xào ( thường là bún xào, bò xào hành tây). Nếu như món ăn của người miền Bắc không thể thiếu bánh chưng xanh thì đối với người Nam, bánh Tét và củ kiệu muối là hai món ăn đặc trưng cho ngày Tết niềm Nam.

    Ngay khi có nhu cầu tư vấn về đồ thờ cúng cơm tất niên ngày 30 tháng chạp, bạn hãy gọi điện cho Không Gian Gốm để được tư vấn. Đừng ngần ngại liên lạc với chúng tôi, bạn sẽ được hướng dẫn tận tình về tục cúng cơm tất niên ngày Tết. Hãy để những chuyên gia có kinh nghiệm, có kiến thức và hiểu biết giúp bạn hiểu rõ hơn về những tục lệ cúng kiến tưởng rằng đã tượng tầng mọi thứ nhưng lại chẳng mấy ai làm đúng.

    * Lý giải tại sao bàn thờ gia tiên cần đến tận 3 bát hương : mà không phải 1 bát hương như bàn thờ Phật . Theo tục thờ cúng cũng như cấp bậc Thần Phật trong tín ngưỡng tâm linh, bên trên ông bà tổ tiên của chúng ta chính là Thần Phật và Bà Cô Ông Mãnh – người cai quản và trông coi, cai quản, giúp đỡ ông bà tổ tiên của mình. Ba bát hương trên bàn thờ gia tiên lần lượt từ trái qua phải tượng trưng cho : Bát hương thờ Bà cô ông Mãnh – Bát hương thờ Thần Phật – Bát hương thờ gia tiên.

    ⊗ Thông thường, công việc dọn dẹp của các gia đình đều đã hoàn thành trước ngày 30, đến đúng 30 thì bánh Chưng, bánh Tết cũng đã được chuẩn bị xong xuôi, nhà cửa dọn dẹp trang hoàng đầy đủ hết rồi nên hầu như 30 chỉ tập trung chủ yếu để cúng cơm Tất niên. Đối với những gia đình đông con cháu, đã tụ tập từ sớm, chia nhau đi chợ sắm sửa các vật phẩm, lễ vật và chuẩn bị các món ăn để cúng kiếng. Thời gian cũng Tất niên không được quy định cụ thể là giờ Ngọ như cúng ông Táo, chủ yếu vấn đề ở sự sắp xếp của gia chủ. Nhưng theo kinh nghiệm của một số gia đình, bữa cơm tất niên, thời khắc tốt nhất để cúng Tất niên ông bà nên rơi vào giờ Thân ( từ 15h đến 17h chiều).

    : cúng cơm Tất niên là hợp lí nhất, còn khá sớm để ông bà về dùng cơm cùng con cháu, sau đó gia đình quây quần bên nhau ăn uống vui vẻ và có thêm thời gian để dọn dẹp mọi thứ và đón giao thừa. Một số gia đình còn có truyền thống đi ” chợ hoa đêm 30″. Vậy nên việc cúng cơm Tất niên vào khoảng giờ này là rất hợp lí. Ngoài ra, giờ thân cũng được xem là giờ tốt , hình tượng con khỉ hiếu động, hoạt bát lanh lợi và có lòng độ lượng, sức sống mạnh mẽ. Đó cũng là mong muốn của chúng ta trong cuộc sống.

    ◊ Năm Sửu: Triệu Vương hành khiển, Tam thập lục Thương hành binh chi thần, Khúc Tào phán quan. Lễ vật nên có áo màu đỏ.

    ◊ Năm Dần: Ngụy Vương hành khiển. Mộc tỉnh hành binh chỉ thần, Tiêu Tào phán quan. Lễ vật nên có áo trắng.

    ◊ Năm Mão: Trịnh Vương hành khiển, Thạch Tinh hành binh chi thần, Liễu Tào phán quan. Lễ vật nên có áo đen.

    ◊ Năm Thìn: Sở Vương hành khiển, Hỏa Tinh hành binh chi thần, Biểu Tào phán quan. Lễ vật nên có áo vàng.

    ◊ Năm Tỵ: Ngô Vương hành khiển, Thiên Hao hành binh chi thần, Hứa Tào phán quan. Lễ vật nên có tía.

    ◊ Năm Ngọ: Tần Vương hành khiển, Thiên Mao hành binh chi thần, Ngọc Tào phán quan. Lễ vật nên có áo xanh.

    ◊ Năm Mùi: Tống Vương hành khiển, Ngũ đạo hành binh chi thần, Lâm Tào phán quan. Lễ vật nên có áo vàng.

    ◊ Năm Thân: Tề Vương hành khiển, Ngũ Miếu hành binh chi thần, Tống Tào phán quan. Lễ vật nên có áo trắng.

    ◊ Năm Dậu: Lỗ Vương hành khiển, Ngũ nhạc hành binh chi thần, Cự Tào phán quan L có áo màu hồng.

    ◊ Năm Tuất: Việt Vương hành khiển, Thiên Bá hành binh chi thần, Thành Tào phán quan Lễ vật nên có áo màu hồng.

    ◊ Năm Hợi: Lưu Vương hành khiển, Ngũ ôn hành . binh chi thần, Nguyễn Tào phán quan. Lễ vật nên có áo màu vàng.

    * Trước bàn thờ gia tiên tiền tố

    * Nhờ Thổ công, Thổ địa trong ngoài

    * Nay theo quy luật lâu dài

    * Đông qua xuân lại trở về.

    * Lòng con cháu một bề tưởng niệm

    * Cung thỉnh nội ngoại tam tứ đại tổ tiên

    * Lễ nghi vật phẩm vàng tiền * Hương đăng hoa quả dâng lên lòng thành

    * Chắp tay thỉnh cáo tiên linh

    * Cùng về thụ hưởng gia đình vui xuân

    * Cúi xin bày tỏ lòng trần

    * Cúi xin tạ tượng tâm linh phù trì

    * Điều lành mang đến, điều dữ mang đi

    * Gia đình yên ấm, mọi bề an khang

    * Đầu năm chí cuối bình an

    * Có tài, có lộc ban ơn phúc đầy

    * Cây kia có cội, suối kia có nguồn

    * Một lòng thờ đạo sắt son

    * Sống trên dương thế con còn tu tâm

    【#9】Chia Sẻ 15 Bài Văn Khấn Đền Chùa Đầu Năm Mới 2021 Chuẩn Nhất!

    Cách phân biệt Đền, Chùa, Đình, Miếu, Phủ

    Trong đời sống văn hóa tâm linh của người Việt Nam có rất nhiều nơi thờ cúng khác nhau như Chùa, Đình, Đền, Phủ, Miếu. Nhưng không phải ai cũng hiểu được ý nghĩa của những địa điểm thờ cúng đó. Cho nên có rất nhiều người đi chùa mà không hiểu được ý nghĩa của việc đi chùa, ở gần nhà có cái đình mà cũng không hiểu vì sao cái đình lại “mọc” lên ở đó.

    Chính vì vậy, trong bài viết này chúng tôi sẽ chia sẻ thông tin để giúp bạn đọc dễ dàng phân biệt được các địa điểm thờ cúng khác nhau, hiểu được ý nghĩa của việc thờ cúng và những nhân vật được thờ cúng trong đó.

    Tìm hiểu về Đền là gì?

    Đền là công trình kiến trúc được xây dựng để thờ cúng một vị Thánh hoặc những nhân vật lịch sử được tôn sùng như thần thánh.

    • + Đền thờ các anh hùng Dân tộc: Đền Hùng, đền Kiếp Bạc, đền Sóc, đền Trần…
    • + Đền thờ các vị Thánh truyền thuyết dân gian: Đền Voi Phục, đền Bạch Mã, đền Kim Liên, đền Quán Thánh, đền ông Hoàng Bảy, đền ông hoàng Mười, đền bà Chúa Kho…

    Tìm hiểu về Chùa là gì?

    Theo câu tục ngữ Việt Nam “đất vua, chùa làng”, các ngôi chùa đa số là thuộc về cộng đồng làng xã. Xây chùa bao giờ cũng là một việc trọng đại đối với làng quê Việt Nam. Việc chọn đất xây chùa thường bị chi phối bởi quan niệm phong thủy. “Xây dựng chùa, phải chọn đất tốt, ngày tốt, giờ tốt. Đất tốt là nơi bên trái trống không, hoặc có sông ngòi, ao hồ ôm bọc.

    • + Là nơi thờ Phật, còn gọi là điện thờ Phật.
    • + Là nơi thờ các vị thiền sư như Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, Trần Nhân Tông và Lý Thần Tông)
    • + Là nơi thờ tam giáo Phật – Lão – Khổng.
    • + Là nơi thờ Trúc Lâm Tam tổ

    Tìm hiểu về Đình là gì?

    Đình là nơi thờ Thành hoàng của các làng, đồng thời là nơi hội họp, bàn việc của dân làng. Đình được coi là trung tâm sinh hoạt văn hóa gắn bó với một cộng đồng cư dân và mang đặc trưng của nền văn minh lúa nước Việt Nam.

    Tìm hiểu về Miếu là gì?

    Miếu thường được xây trên gò cao, nơi sườn núi, bờ sông hoặc đầu làng, cuối làng, những nơi yên tĩnh để quỷ thần có thể an vị, không bị mọi sự ồn ào của đời sống dân sinh. Ở một số nơi, trong các ngày giỗ thần như ngày sinh, ngày hóa (nhân thần), ngày hiện hóa (thiên thần) làng mở tế lễ, mở hội, nghinh rước thần từ miếu về đình. Tế lễ xong, lại rước thần về miếu yên vị.

    Miếu là một dạng di tích văn hóa trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam có quy mô nhỏ hơn đền. Đối tượng được thờ ở miếu rất đa dạng, thể hiện ở tên gọi của miếu – tên gọi theo đối tượng được thờ thường phiếm chỉ và tượng trưng. Ví dụ như:

    • + Miếu thờ đối tượng: Miếu Cô, miếu Cậu
    • + Miếu thờ thần núi: Gọi chung là miếu Sơn thần
    • + Miếu thờ thần nước: Gọi là miếu Hà Bá hoặc miếu Thủy thần.
    • + Miếu thờ thần đất: Gọi là miếu thổ thần hoặc thần Hậu thổ.
    • + Miếu nhỏ: Còn được gọi là Miễu (cách gọi của người miền Nam)

    Tìm hiểu về Phủ là gì?

    Tứ phủ công đồng hay Tứ phủ là một tín ngưỡng nằm trong của tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam. Phủ là đặc trưng của tín ngưỡng thờ Mẫu, một số nơi thờ tự (ở Thanh Hóa, Ninh Bình) gọi đền là phủ. Có thể hiểu Phủ là nơi thờ tự Thánh Mẫu khá sầm uất, mang tính chất trung tâm của cả một vùng lớn, vượt ra ngoài phạm vi địa phương, thu hút tín đồ khắp nơi đến hành hương (tương tự như chốn Tổ của sơn môn đạo Phật).

    • + Phủ Tây Hồ: Phủ Tây Hồ được coi là một trong những chốn linh thiêng nhất của Hà Nội. Phủ thờ bà chúa Liễu Hạnh – vị Chúa mẫu quyền năng vô lượng trong Tứ Bất Tử.
    • + Phủ Dầy: Phủ Dầy là tên gọi của quần thể di tích tâm linh của người Việt tại xã Kim Thái, huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định. xuất phát từ truyền thuyết Bà Chúa Liễu Hạnh vì quá thương nhớ gia đình nên đã để lại một chiếc giày ở trần gian trước khi về thượng giới.

    Những bài văn khấn tại đền chùa hay nhất tháng 1 2021

    Ngày nay, theo nếp xưa người Việt Nam ở khắp mọi miền đất nước hàng năm vẫn đi lễ, đi trẩy Hội ở các Đình, Đền, Miếu, Phủ vào các ngày lễ, tết, tuần tiết, sóc, vọng và ngày Hội, để tỏ lòng tôn kinh, ngưỡng mộ biết ơn các bậc Tôn thần đã có công với đất nước. Nơi thờ tự Đình, Đền, Miếu, Phủ còn là những nơi sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng.

    Bài văn khấn Đức Thánh Trần

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy)

    • + Con kính lạy Tứ phủ Công Đồng Trần Triều
    • + Con kính lạy Nguyên Từ Quốc Mẫu Thiên Thành Thái Trưởng Công.
    • + Con kính lạy Đức Trần Triều hiển thánh Nhân vũ Hưng Đạo Đại Vương Đại Nguyên soái, Tổng quốc chính, Thái sư Hương phụ Thượng quốc công tiết chế, Lịch triều tấn tặng khai quốc an chính hồng đồ tá trị hiện linh trác vĩ, Minh đức trĩ nhân, Phong huân hiên liệt, Chí trung đại nghĩa, Dực bảo trung hưng, Thượng đẳng tôn thần, Ngọc bệ tiền.
    • + Con kính lạy tứ vị Thánh tử đại vương, Nhị vụ vương cô Hoàng Thánh.
    • + Con kính lạy Đức ông phạm điệu suý tôn thần, tả quan Nam Tào, Hữu quan Bắc Đẩu, Lục bộ thượng từ, chư vị bách quan.

    Hương tử con là: …………………..Ngụ tại: ……………….

    Hôm nay ngày ….. tháng ….. năm …..

    Hương tử chúng con chấp kỳ lễ bái xin các vị phù hộ độ trì cho hương tử con cùng toàn gia quyến được luôn mạnh khỏe. Đầu năm chí giữa, nửa năm chí cuối được tai quan nạn khỏi, điều lành mang đến, điều giữ giải đi, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, cầu bình an đắc bình an. Xin cho con được có người có cửa, được nhân an vật thịnh đi đến nơi về đến chốn, làm ăn được thuận buồn xuôi gió, vạn sự như ý.

    Hương tử con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy)

    Bài văn khấn Thành Hoàng

    • + Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
    • + Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.
    • + Con xin kính lạy ngài Kim Niên Đương cai Thái tuế chí đức Tôn thần.
    • + Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành Hoàng chư vị Đại Vương.

    Hưởng tử con là ………………………………………………

    Tuổi …………

    Ngụ tại ………………………………………………………………………

    Hôm nay là ngày…… tháng……năm………………(Âm lịch)

    Hương tử con đến nơi……………(Đình hoặc Đền hoặc Miếu) thành tâm kính nghĩ: Đức Đại Vương nhận mệnh Thiên đình giáng lâm ở nước Việt Nam làm Bản cảnh Thành Hoàng chủ tể một phương bấy nay ban phúc lành che chở cho dân. Nay hương tử chúng con thành tâm dâng lên lễ bạc, hiến tế hương hoa, phẩm oản…

    Cầu mong đức Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương chứng giám, rủ lòng thương xót, phù hộ che chở cho chúng con sức khoẻ dồi dào, mọi sự tốt lành, lắm tài nhiều lộc, an khang thịnh vượng, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

    Hương tử con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Phục duy cẩn cáo!

    Bài văn khấn ban Công Đồng

    • + Con lạy chín phương trời, mười phương Chư phật, Chư phật mười phương
    • + Con lạy đức Vua cha Ngọc Hoàng Thượng Đế
    • + Con lạy Tam Toà Thánh Mẫu
    • + Con lạy Tam phủ Công Đồng, Tứ phủ Vạn linh
    • + Con lạy Tứ phủ Khâm sai
    • + Con lạy Chầu bà Thủ Mệnh
    • + Con lạy Tứ phủ Đức Thánh Hoàng
    • + Con lạy Tứ phủ Đức Thánh Cô
    • + Con lạy Tứ phủ Đức Thánh Cậu
    • + Con lạy cộng đồng các Giá, các Quan, mười tám cửa rừng, mười hai cửa bể.
    • + Con lạy quan Chầu gia.

    Hương tử con là:……………………………………. Tuổi………………….

    Cùng đồng gia đại tiểu đẳng, nam nữ tử tôn

    Ngụ tại:……………………………………………………….

    Hôm nay là ngày…… tháng…… năm………………(Âm lịch). Tín chủ con về Đền…………… thành tâm kính lễ, xin Chúa phù hộ độ trì cho gia đình chúng con sức khoẻ dồi dào, phúc thọ khang ninh, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, cầu bình an đắc bình an, vạn sự hanh thông, gặp nhiều may mắn.

    Phục duy cẩn cáo!

    Bài văn khấn Tam Toà Thánh Mẫu

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy)

    • + Con kính lạy Đức Hiệu Thiên chí tôn kim quyết Ngọc Hoàng Huyền cung cao Thượng đế.
    • + Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.
    • + Con xin kính Cửu trùng Thanh Vân lục cung công chúa.
    • + Con kính lạy Đức thiên tiên Quỳnh Hoa Liễu Hạnh Mã Hoàng Công chúa, sắc phong Chế Thắng Hoà Diệu đại vương, gia phong Tiên Hương Thánh Mấu.
    • + Con kính lạy Đức đệ nhị đỉnh thượng cao sơn triều mường Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương.
    • + Con kính lạy Đức đệ tứ khâm sai Thánh Mẫu, tứ vi chầu bà, năm tòa quan lớn, mười dinh các quan, mười hai Tiên cô, mười hai Thánh cậu, ngũ hổ Đại tướng, Thanh Hoàng Bạch xà đại tướng.

    Hưởng tử (chúng) con là: ……………

    Ngụ tại: …………….

    Hôm nay là ngày ……. tháng …… năm ……

    Hương tử con đến nơi Điện (Phủ, Đền) ……… chắp tay kính lễ khấu đầu vọng bái, lòng con thành khẩn, dạ con thiết tha, kính dâng lễ vật, cúi xin các Ngài xót thương phù hộ độ trì cho gia chung chúng con sức khỏe dồi dào, phúc thọ khang ninh, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, cầu bình an đắc bình an, vạn sự hanh thông, gặp nhiều may mắn.

    Hương tử con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy)

    Bài văn khấn Đền Bà Chúa Kho – Bắc Ninh

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật!

    • + Con lạy chín phương trời, mười phương chư Phật.

      Ngũ phương ngũ phật, thập phương thập phật.

      Hằng hà sa số, Đức Phật công đức, công lượng vô biên.

      Đệ trước án tiền, kính lạy Đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn quán thế âm bồ tát

      Cung Phật thỉnh Thánh, cung thỉnh thiên cung, tấu thỉnh thiên đình.

    • + Con xin sám hối Tam phủ thần vương, tứ phủ thánh đế.
    • + Con xin sám hối Thiên phủ Thánh Đế – Cao thiên Thượng thánh – Đại từ Nhân giả – Huyền khung Cao Thượng đế – Ngọc Hoàng Đại Thiên tôn.
    • + Con sám hối Nhạc Phủ Thánh Đế – (Tản Viên Sơn Thánh) – ngũ nhạc thần vương – năm phương sơn động.
    • + Con sám hối Thủy Phủ Thánh Đế – (Lạc Long Quân Đại Đế) – Bát Hải Long Vương – tám phương cửa bể.
    • + Con sám hối Địa phủ Thánh Đế – thập điện minh vương tòa chương địa phủ.

      Bắc Cực Trung Thiên – Tam nguyên, tam phẩm, tam quan.

    • + Con sám hối Đại Thánh Nam Tào Lục Ty duyên thọ tinh quân.
    • + Con sám hối Đại Thánh Bắc Đẩu Cửu hoàn giải ách tinh quân.
    • + Con sám hối Cửu tinh thiên chúa thập nhị bát tú, chư bộ thiên binh, chư dinh văn võ.
    • + Con sám hối tấu lạy quốc mẫu vua bà bơ tòa tiên, thánh tứ phủ Thánh Mẫu:
    • + Kính lạy Cửu trùng thánh mẫu bán thiên công Chúa, Thiên tiên thánh mẫu
    • + Kính lạy địa tiên thánh mẫu quỳnh+ hoa Liễu Hạnh Vân Hương Thánh Mẫu, Mã Hoàng Công chúa, sắc phong Chế Thắng Hoà Diệu đại vương, gia phong Tiên Hương thiên tiên Thánh Mẫu.
    • + Kính lạy Thánh Mẫu Đệ Tam thủy cung, Xích Lân long Nữ, Thủy Tinh Công chúa
    • + Kính lạy Đức Mẫu thượng ngàn Diệu nghĩa diệu tín thiền sư.

      Tuần Quán Đông Cuông đệ nhị đỉnh thượng cao sơn triều mường Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương.

    • + Con lạy Trần triều hiển thánh Hưng Đạo Đại Vưong.

      Trần triều Khải Thánh, Vương Phụ Vưong mẫu Vương phu nhân

      Tứ vị Vương tử – Nhị Vị Vương cô – vương tế vương tôn – Liệt vị tướng công đồng Trần Triều

    • + Con lạy Tam phủ Công Đồng, Tứ phủ Vạn linh.

      Bách vị các quan ngũ vị tôn quan:

      Quan đệ nhất Thượng Thiên

      Quan đệ nhị thượng ngàn

      Quan đệ tam thoải phủ

      Quan đệ tứ khâm sai

      Quan đệ ngũ tuần tranh

    • + Con sám hối điều thất tôn quan – Hoàng triệu tôn quan
    • + Con lạy tứ phủ chầu bà thập nhị chầu bà:

      Chầu đệ nhất thượng thiên

      Chầu đệ nhị thượng ngàn

      Chầu đệ tam thủy phủ

      Chầu đệ tứ khâm sai

      Chầu năm Suối Lân

      Chầu sáu Lục Cung

      Chầu bảy Kim Giao

      Chầu tám Bát Nàn

      Chầu chín cửu tỉnh

      Chầu mười Mỏ Ba

      Chầu Bé Bắc Lệ

      Chầu bà bản đền

    • + Con lạy Tứ phủ thánh hoàng thập vị thánh hoàng.
    • + Sám hối ông bơ thoải quốc, ông bảy Bảo Hà, ông mười Nghệ An
    • + Sám hối tứ phủ thánh cô:

      Cô đệ nhất thượng thiên

      Cô đôi Đông Cuông

      Cô bơ Thác Hàn

      Cô tư địa phủ

      Cô năm Suối Lân

      Cô sáu Lục Cung

      Cô bảy Kim Giao

      Cô tám đồi chè

      Cô Chín Sòng Sơn

      Cô mười Đồng Mỏ

      Cô bé sơn lâm

      Cô bé bản đền

    • + Sám hối tứ phủ thánh cậu: cậu cả, cậu đôi, cậu bơ, cậu bé
    • + Con lạy ngũ dinh thần tướng – ngũ hổ thần quan
    • + Con lạy thanh xà tướng quân – bạch xà tướng quân
    • + Con lạy công đồng các bóng các giá, mười tám cửa rừng, mười hai cửa bể.
    • + Con lạy chầu chúa thủ đền cùng quan thủ điện, thổ địa thần kỳ thần linh bản xứ

    Đê tử con là:

    Ngụ tại:

    Kỷ Hợi niên….nguyệt…..thời

    Đệ tử con nhất tâm, nhất lễ, đêm tưởng, ngày mong, nhất tâm chí thiết, nhất dạ chí thành, nhất tâm tưởng, vạn tâm cầu – tu thiết, nhang hoa, lễ vật, tờ đơn cánh sớ.

    Con mang miệng tới tâu – mang đầu tới bái – cửa đình (thần tam tứ phủ).

    Trên mẫu độ dưới gia hộ mẫu thương – vuốt ve che chở – phù hộ độ trì

    Cho con: ba tháng hè chín tháng đông – đầu năm chí giữa nửa năm chí cuối,

    Tứ thời bát tiết – tháng thuấn ngày nghiêu – phong thuận vũ hòa – tai qua nạn khỏi.

    Mẫu cho con được sáng hai con mắt – bằng hai bàn chân.

    Mẫu ban lộc dương tiếp lộc âm – cho lộc mùa xuân, cho tài mùa hạ

    Cho tươi như lá, cho đẹp như hoa – phúc lộc đề đa, tiền tài mang tới.

    Mẫu cho con lộc ăn, lộc nói, lộc gói, lộc mở, lộc gần, lộc xa.

    Hồ hết lại có, hồ vơi lại đầy, điều lành mang đến, điều dữ mang đi.

    Mẫu cứu âm độ dương, cứu đường độ chợ, vuốt ve che chở, nắn nở mở mang.

    Cải hung vi cát, cải hạo vi tường, thay son đổi số, nảy mực cầm cân.

    Mẫu phê chữ đỏ, Mẫu bỏ chữ đen, cho con được trăm sự tốt, vạn sự lành

    Trên quý, dưới yêu, trên vì, dưới nể, cho gặp thầy, gặp bạn, gặp vạn sự lành.

    Mẫu ban danh, ban diện, ban quyền, cho con có lương, có thực, có ngân, có xuyến, tài như xuyên chí, lộc tựa vân lai.

    Cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, cầu bình an đắc bình an.

    Trồng cây đắp phúc cho con được nở cành xanh lá, phúc lộc đề đa.

    Cho trên thuận, dưới hòa, trên bảo dưới nghe trên đe, dưới sợ.

    Mẫu cho nước chảy một dòng, thuyền xuôi một bến, bách bệnh tiêu tán, vạn bệnh tiêu trừ.

    Năm xung, Mẫu giải xung, tháng hạn giải hạn.

    Cho gia trung con được trong ấm ngoài êm, nhân khang vật thịnh, duyên sinh trường thọ

    Đệ tử con người trần mắt thịt, nhỡn nhục nan chi, việc âm chưa tường, việc dương chưa tỏ.

    Tuổi con còn trẻ, tóc con còn xanh, con ăn chưa sạch, con bạch chưa thông

    Ăn chưa nên đọi, nói chưa nên lời, không biết kêu sao cho thấu, tấu sao cho tường.

    Con biết tới đâu con tâu tới đấy, ba điều ko sảy, bảy điều ko sai.

    Trăm tội mẫu xá, vạn tội mẫu thương. Mẫu xá u, xá mê, xá lỗi, xá lầm.

    Mẫu soi đường chỉ lối cho con biết đường mà lội, biết lối mà lần

    Hôm nay đệ tử con lễ bạc tâm thành, con giàu một bó, con khó một nén, giàu làm kép hẹp làm đơn.

    Thiếu mẫu cho làm đủ, vơi mẫu cho làm đầy.

    Mẫu chấp kỳ lễ vật, chấp lễ, chấp bái.

    Chứng tâm cho lời kêu, tiếng khấn của con bay như phượng, lượn như hoa, tới cửa ngài ngồi, tời ngai ngài ngự.

    Cho con sở nguyện như ý, sở cầu tòng tâm.

    Con nam mô a di đà phật (3 lần)

    Bài văn khấn khi đi lễ Chùa đầu năm 2021

    Văn khấn Đức Ông

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy)

    Kính lạy Đức Ông Tu Đạt Tôn Giả, Thập Bát Long Thần, Già Lam Chân Tể.

    Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm …..

    Tín chủ con là ……

    Ngụ tại …

    Cùng cả gia đình thân tới cửa chùa ……….. trước điện Đức Ông, thành tâm kính lễ, (nếu có đang lễ vật thì khấn thêm “hiến dâng phẩm vật, kim ngân tịnh tài”), chúng con tâu lên Ngài Tu Đạt Tôn Giả từ cảnh trời cao soi xét.

    Chúng con kính tâu lên Ngài Già Lam Chân Tể cai quản trong nội tự cùng các Thánh Chúng trong cảnh chùa đây.

    Thiết nghĩ chúng con sinh nơi trần tục, nhiều sự lỗi lầm, hôm nay tỏ lòng thành kính, cúi xin Đức Ông thể đức hiếu sinh, rủ lòng tế độ che chở cho chúng con, ba tháng hè chín tháng đông, tiêu trừ bệnh tật tai ương, vui hưởng lộc tài may mắn, cầu gì cũng được, nguyện gì cũng thành.

    Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy)

    Văn khấn Đức Thánh Hiền

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy)

    Con cúi lạy Đức Thánh Hiền, Đại Thánh Khải Giáo A Nan Đà Tôn Giả.

    Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm …..

    Tín chủ con là …

    Ngụ tại …

    Chúng con thành tâm tiến dâng lễ bạc, oản quả, hương hoa.

    Cầu mong Tam Bảo chứng minh, Đức Thánh Hiền chứng giám, rủ lòng thương xót phù hộ cho con được mọi sự tốt lành, sức khỏe dồi dào, an ninh khang thái, gia đạo hưng long, thịnh vượng.

    Cúi mong ngài soi xét tâm thành, phù hộ cho gia đình chúng con được sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy)

    Văn khấn ban Tam Bảo

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy)

    Đệ tử con thành tâm kính lạy Mười phương chư Phật, chư vị Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng, Hộ pháp Thiện thần, Thiên Long Bát Bộ.

    Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm …..

    Tín chủ con là …..

    Ngụ tại …

    Thành tâm dâng lễ bạc cùng sớ trạng (nếu viết sớ đặt trên mâm lễ vật) lên cửa Mười phương Thường trụ Tam Bảo.

    Chúng con xin dốc lòng kính lễ:

    + Đức Phật A Di Đà giáo chủ cõi Cực Lạc Tây phương.

    + Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giáo chủ cõi Sa Bà.

    + Đức Phật Dược Sư Lưu Ly giáo chủ cõi Đông phương.

    + Đức Thiên thủ, Thiên nhãn, Ngũ bách danh tầm thanh cứu khổ cứu nạn, linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát.

    + Kính lạy Đức Hộ Pháp thiện thần Chư Thiên Bồ Tát.

    Kính xin chư vị rủ lòng từ bi, phù hộ độ trì cho con, nguyện được …. (công danh, tài lộc, giải hạn, bình an…).

    Nguyện xin chư vị, chấp kỳ lễ bạc, tâm thành (sớ trạng) chứng minh, chứng giám cho con được tai quan nạn khỏi, điều lành đem đến, điều dữ tiêu tan, phát lộc phát tài, gia trung mạnh khoẻ, trên dưới thuận hoà an khang thịnh vượng.

    Chúng con người phàm trần tục lầm lỗi còn nhiều. Cúi mong Phật, Thánh từ bi đại xá cho con (và gia đình) được tai qua nạn khỏi, mọi sự tốt lành, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

    Tín chủ chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy)

    Văn khấn Quán Thế Âm Bồ Tát

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy)

    Nam mô Đại từ Đại bi Linh cảm Quán Thế Bồ Tát.

    Kính lạy Đức Viên Thông giáo chủ thuỳ từ chứng giám.

    Chúng con có nghe Đức Phật dạy trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa phẩm Phổ Môn rằng:

    “Dù chỉ nghe tên Quán Thế Âm

    Hay dù chỉ thấy bức chân dung,

    Nhất tâm trì niệm hồng danh ấy,

    Thoát mọi hung tai, được cát tường”.

    Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm …..

    Tín chủ con là …

    Ngụ tại ….

    Thành tâm đến trước Phật đài, nơi điện Đại bi, kính dâng phẩm vật, hương hoa kim ngân tịnh tài, ngũ thể đầu thành, nhất tâm kính lễ dưới toà sen hồng.

    Cúi xin Đức Đại Sỹ không rời bản nguyện chở che cứu vớt chúng con như mẹ hiền phù trì con đỏ. Nhờ nước dương chi, lòng trần cầu ân thanh tịnh, thiện nguyện nêu cao. Được ánh từ quang soi tỏ, khiến cho nghiệp trần nhẹ bớt, tâm đạo khai hoa, độ cho đệ tử cùng gia đình bốn mùa được chữ bình an, tám tiết khang ninh thịnh vượng, lộc tài tăng tiến, gia đạo hưng long, mầm tai ương tiêu sạch làu làu, đường chính đạo thênh thang tiến bước. Cầu gì cũng được, nguyện gì cũng thành.

    Tín chủ chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy)

    Văn khấn lễ Phật tại Chùa

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)

    Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

    Hôm nay là ngày….. tháng….. năm

    Tín chủ con là:

    Ngụ tại:

    Cùng toàn thể gia đình thành tâm trước Đại Hùng Bảo Điện, nơi chùa.

    Đức Phật Thích Ca, Đức Phật Di Đà, Mười phương chư Phật, Vô thượng Phật pháp, Quan Âm Đại sỹ, cùng hiền Thánh Tăng.

    Đệ tử lâu đời lâu kiếp

    Nghiệp chướng nặng nề

    Nay đến trước Phật đài,

    Thành tâm sám hối

    Thề Tránh điều dữ

    Nguyện làm việc lành,

    Ngửa trông ơn Phật,

    Quán Âm Đại sỹ,

    Chư Thánh hiền Tăng,

    Thiên Long Bát bộ,

    Hộ pháp Thiên thần,

    Từ bi gia hội.

    Cúi xin các vị phù hộ cho chúng con và cả gia đình tâm không phiền não, thân không bệnh tật, hàng ngày an vui làm việc theo pháp Phật nhiệm màu, để cho vận đáo hanh thông, muôn thuở nhuần ơn Phật pháp.

    Đặng xin cứu độ cho các bậc Tôn Trưởng cha mẹ, anh em, thân bằng quyến thuộc, cùng cả chúng sinh đều thành Phật đạo.

    Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)

    Văn khấn đền Trình chùa Hương đúng nhất

    Nam mô A Dì Đà Phật!

    Nam mô A Dì Đà Phật!

    Nam mô A Dì Đà Phật! (3 lạy)

    Kính lạy: Đức Đại Vương Thành Hoàng

    Mỹ hiệu là: Hiển Quang

    Hôm nay là ngày:

    Tại chùa Hương – huyện Mỹ Đức – Thành phố Hà Nội

    Tín chủ chúng con là:

    Trước Thần vị cửa Đức Đại Vương Thành Hoàng, chúng con kính nghĩ: Thần giáng phúc lành khắp chốn, bốn phương được nhờ anh minh, khí thiêng thể hiện rõ ràng, muôn thuở uy linh hiển hách. Cảm bội thần minh hằng giúp, cho nên điển lễ khôn quên.

    Nay nhân Lễ hội chùa Hương, đệ tử con xin kính biện trầu rượu, xôi thịt, dâng xin được vào lễ Phật, lễ Thánh, lễ Mẫu khu vực Hương Tích cầu yên, câu phúc. Cúi mong Thần giáng lâm thụ hưởng lễ vật.

    Cúi xin phù hộ, ban mọi điều lành, bốn mùa không tật bệnh hiểm nghèo, muôn họ được an vui no đủ. Binh đao khói lửa, chẳng ngại tới dân gian, bão lụt, nắng hạn không hoành hành nơi làng mạc. Mượn nén hương thơm để bày tỏ ỷ nguyện, mong cao minh chiếu cố lòng thành. Kính ngỏ lời quê, xin thần soi thấu.

    Chúng con lại kính mời: Các quan bộ hạ tả hữu phò tả Đức Tôn Thần cùng tòng tự và cung thỉnh Hậu Thổ Linh Thần lai thụ hưởng.

    Giãi tấm lòng thành, cúi xin chứng giám.

    Nam mô A Dì Đà Phật!

    Nam mô A Dì Đà Phật!

    Nam mô A Dì Đà Phật! (3 lạy)

    Cách làm lễ chùa đầu năm 2021 đúng chuẩn

    Theo lệ thường, người ta lễ thần Thổ địa, thủ Đền trước, gọi là lễ trình vì đó là lễ cáo Thần linh Thổ Địa nơi mình đến dâng lễ. Người thực hành tín ngưỡng cao lễ Thần linh cho phép được tiến hành lễ tại Đình, Đền, Miếu, Phủ. Sau đó người ta sửa sang lễ vật một lần nữa. Mỗi lễ đều được sắp bày ra các mâm và khay chuyên dùng vào việc cúng lễ tại Đình, Đền, Miếu, Phủ. Kế đến là đặt lễ vào các ban. Các bạn cần chú ý một số vấn đề khi Dâng lễ:

    • + Khi dâng lễ phải kính cẩn dùng hai tay dâng lễ vật, đặt cẩn trọng lên bàn thờ. Cần đặt lễ vật lên ban chính trở ra ban ngoài cùng.
    • + Chỉ sau khi đã đặt xong lễ vật lên các ban thì mới được thắp hương.
    • + Khi làm lễ, cần phải lễ từ ban thờ chính đến ban ngoài cùng. Thường lễ ban cuối cùng là ban thờ cô thờ cậu.
    • + Thắp từ trong ra ngoài
    • + Ban thờ chính của điện được đặt theo hàng dọc, ở gian giữa được thắp hương trước.
    • + Các ban thờ hai bên được thắp hương sau khi đã thắp xong hương ban chính ở gian giữa.
    • + Khi thắp hương cần dùng số lẻ: 1, 3, 5, 7 nén. Thường thì 3 nén.
    • + Sau khi hương được châm lửa thì dùng hai tay dâng hương lên ngang trán, vái ba vái rồi dùng cả hai tay kính cẩn cắm hương vào bình trên ban thờ.
    • + Nếu có sớ tấu trình thì kẹp sớ vào giữa bàn tay hoặc đặt lên một cái đĩa nhỏ, hai tay nâng đĩa sớ lên ngang mày rồi vái 3 lần.
    • + Trước khi khấn thường có thỉnh chuông. Thỉnh ba hồi chuông. Thỉnh chuông xong thì mới khấn lễ.

    Đọc văn khấn

    Khi tiến hành lễ dâng hương bạn đã có thể đọc văn khấn, sớ trình trước các ban, hoặc chỉ cần đặt văn khấn, sớ trình lên một cái đĩa nhỏ, rồi đặt vào mâm lễ dâng cúng cũng được. Và khi hoá vàng thì phải hoá văn khấn và sớ trước.

    Các bạn có thể tham khảo các mẫu văn khấn trong phần trình bày ở trên để nắm được nên đọc văn khấn loại nào cho phù hợp với từng Đền, Chùa.

    Sau khi kết thúc khấn, lễ ở các ban thờ, thì trong khi đợi hết một tuần nhang có thể viếng thăm phong cảnh nơi thừa tự, thờ tự.

    Khi thắp hết một tuần nhang có thể thắp thêm một tuần nhang nữa. Thắp nhang xong, vái 3 vái trước mỗi ban thờ rồi hạ tiền, vàng… (đồ mã) đem ra nơi hoá vàng để hoá. Khi hoá tiền, vàng… cần hoá từng lễ một, từ lễ cảu ban thờ chính cho tới cuối cùng là lễ tiền vàng… ở ban thờ Cô thờ cậu.

    Hoá tiền vàng xong mới hạ lễ dâng cúng khác. Khi hạ lễ thì hạ từ ban ngoài cùng vào đến ban chính. Riêng các đồ lễ ở bàn thờ Cô, thờ Cậu như gương, lược… thì để nguyên trên bàn thờ hoặc giả nơi đặt bàn thờ này có nơi để riêng thì nên gom vào đó mà không đem về.

    Lễ vật khi đi lễ chùa đầu năm 2021 gồm những gì?

    Theo phong tục cổ truyền khi đến Đình, Đền, Miếu, Phủ nên có lễ vật có thể to, nhỏ, nhiều, ít, sang, mọn tuỳ tâm. Mặc dù ở những nơi này thờ Thánh, Thần, Mẫu nhưng người ta vẫn có thể sắm các lễ chay như hương hoa quả, oản,… để dâng cũng được.

    • + Lễ Chay: Gồm hương hoa, trà, quả, phẩm oản… dùng để lễ ban Phật, Bồ Tát (nếu có). Lễ chay cũng dùng để dâng ban Thánh Mẫu.
    • + Lễ Mặn: Nếu Quý vị có quan điểm phải dùng mặn thì chúng tôi khuyên mua đồ chay hình tướng gà, lợn, giò, chả.
    • + Lễ đồ sống: Tuyệt đối không dùng các đồ lễ sống gồm trứng, gạo, muối hoặc thịt tại các ban quan Ngũ Hổ, Bạch xà, Thanh xà đặt ở hạ ban Công Đồng Tứ phủ.
    • + Cỗ sơn trang: Gồm những đồ đặc sản chay Việt Nam: Không được dùng cua, ốc, lươn, ớt, chanh quả… Nếu có gạo nếp cẩm nấu xôi chè thì cũng thuộc vào lễ này.
    • + Lễ ban thờ cô, thờ cậu: Thường gồm oản, quả, hương hoa, gương, lược… Nghĩa là những đồ chơi mà người ta thường làm cho trẻ nhỏ. Nhưng lễ vật này cầu kỳ, nhỏ, đẹp và được bao trong những túi nhỏ xinh xắn, đẹp mắt.
    • + Lễ thần Thành Hoàng, Thư điền: Phải dùng chay mới có phúc và những lời cầu nguyện được linh ứng.

    Theo quan niệm của người phương Đông thì ở nơi thờ tự linh thiêng, sự giản dị, tôn nghiêm luôn được đưa lên hàng đầu. Những bộ đồ màu sắc nhã nhặn sẽ là lựa chọn lý tưởng. Bạn nên tránh những loại quần áo nhiều dây dợ, tà dài thướt tha rất dễ gây vướng víu ở những nơi đông đúc như các đền chùa ngày đầu năm. Những chi tiết rườm rà trên quần áo rất dễ vướng vào hương hoặc bị tàn hương rơi làm rách, cháy vải. Bên cạnh đó bạn nên đi những loại giày dép lịch sự, gọn gàng. Do khi lễ đền chùa thường phải đi bộ khá nhiều nên bạn hãy hạn chế đi những kiểu giày cao gót.

    13 ngôi chùa nổi tiếng đẹp nhất Việt Nam năm 2021

    Top 13 ngôi chùa nổi tiếng đẹp nhất Việt Nam năm 2021

    Chùa Bái Đính

    Xã, Gia Sinh, Gia Viễn, Ninh Bình

    Chùa Côn Sơn

    Km 39, quốc lộ 18, phường Cộng Hoà, TP Chí Linh, Hải Dương

    Chùa Hương Hà Nội

    Xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội

    Chùa Một Cột

    Chùa Một Cột, Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội

    Chùa Thiên Mụ

    Đường Nguyễn Phúc Nguyên, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế

    Chùa Vĩnh Nghiêm

    339 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường 14, Quận 3, Hồ Chí Minh

    Chùa Phước Hải

    73 Đường Mai Thị Lựu, Đa Kao, Quận 1, Hồ Chí Minh

    Chùa Bà Thiên Hậu

    4 Nguyễn Du, Phú Cường, Thủ Dầu Một, Bình Dương

    Chùa Bà Chúa Xứ

    Núi Sam, P. Núi Sam, Châu Đốc, An Giang

    Chùa Đại Tòng Lâm

    QL51, TT. Phú Mỹ, Tân Thành, Bà Rịa – Vũng Tàu

    Chùa Bửu Long

    81 Nguyễn Xiển, Long Bình, Quận 9, Hồ Chí Minh

    Chùa Trấn Quốc

    Cuối đường Thanh Niên, Yên Phụ, Tây Hồ, Hà Nội

    Thiền Viện Trúc Lâm

    Trúc Lâm Yên Tử, Phường 3, Thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng

    Đi lễ đầu năm là truyền thống lâu đời và trở thành nét đẹp văn hóa trong đời sống tâm linh của người Việt mỗi độ Tết đến Xuân về. Nên đầu năm mọi người thường đi chùa cầu an, cầu may cho năm mới thì đây chính là 18 địa danh không thể bỏ qua tại Hà Nội.

    Top 18 ngôi chùa nổi tiếng ở Hà Nội bạn nên biết

    Chùa Hương

    xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội

    Chùa Một Cột

    Chùa Một Cột, Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội

    Chùa Trấn Quốc

    Cuối đường Thanh Niên, Yên Phụ, Tây Hồ, Hà Nội

    Chùa Quán Sứ

    Số 73 phố Quán Sứ, Hoàn Kiếm, Hà Nội

    Chùa Láng

    Phố Chùa Láng, phường Láng Thượng, quận Đống Đa, Hà Nội

    Chùa Hà

    Đường Chùa Hà, Cầu Giấy, Hà Nội

    Chùa Cổ Loa

    Cổ Loa, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội

    Chùa Kim Liên

    Ngõ số 1 Âu Cơ, phường Quảng An, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội

    Chùa Phúc Khánh

    Số 382 phố Tây Sơn, Đống Đa, Hà Nội

    Chùa Bà La Khê

    Làng La Khê, Phường La Khê, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội

    Đền Quán Thánh

    Đường Thanh Niên, Quán Thánh, Ba Đình, Hà Nội

    Đền Voi Phục

    Số 306B Kim Mã, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, Hà Nội

    Đền Kim Liên

    Số 87 Đào Duy Anh, Phương Liên, Đống Đa, Hà Nội

    Đền Bạch Mã

    Số 76 Hàng Buồm, Hoàn Kiếm, Hà Nội

    Phủ Tây Hồ

    Đường Xóm Chùa, Quảng An, Tây Hồ, Hà Nội

    Đền Ngọc Sơn

    Đinh Tiên Hoàng, Hàng Trống, Hoàn Kiếm, Hà Nội

    Văn Miếu Quốc Tử Giám

    58 Quốc Tử Giám, Văn Miếu, Đống Đa, Hà Nội

    Chùa Bà Đá

    Số 3 Nhà Thờ, Hàng Trống, Hoàn Kiếm, Hà Nội

    【#10】Văn Khấn Bài Cúng Đền Bà Chúa Thác Bờ

    Văn khấn bài cúng đền bà chúa thác bờ

    Văn khấn bài cúng đền bà chúa thác bờ

      Vầng nhật nguyệt đem ngày soi tỏ

      Chúa thác bờ rực rỡ càn khôn

      Non xanh ngắt biện long hang khuc

      Nước song đà bến ngọc lung linh

      Có ai đi lễ mẫu trên hòa bình

      Kìa có ai đi lễ mẫu hòa bình

      Chợ bờ hang miếng cảnh thác ghềnh cheo leo

      Chợ phương lâm sớm chiều đông đúc

      Đội ngư phường đôc mộc bán buôn

      Chuông chùa văng vẳng sớm hôm

      Xa nghe chim cú gọi hồn rừng sâu

      Danh chuá thác sơn trang lừng lẫy đất hòa bình

      Đã dậy oai linh nửa đêm giờ tý hiện hình

      Áo pha màu tuyết bên mình tui giao

      Từng vực suối băng đèo hai khúc

      Nguyện một bầu tiên dược hồi sinh

      Nức danh tiên chúa trên hòa bình

      Vì đời đem lại tuổi xuân cho đời

      Gieo lúa mạch ngô khoai sắn đỗ cho loài người

      Trăm họ tươi vui non tiên cảnh vật xa vời

      Thú hữu tình dong chơi các ngả

      Bước ngao du khắp cả non cao

      Mường bi mường nậm phố xào

      Chầm mông yên lịch lại vào kim bôi

      Chiếc thuyền rồng chèo bơi bến ngọc

      Ngược sông đà dạo khắp suối khe

      Hang miếng suối rút chèo về

      Ngược xuôi,xuôi ngược chiếc thuyền về động tiên

      Khắp mọi miền kêu cầu vọng bái

      Ai lỗi lầm chúa đối long vương

      Dù ai bệnh trọng không qua

      Đến kêu chúa thác chúa thời cứu cho

      Chúa cứu cho được tai qua nạn khỏi

      Chúa cứu người qua cõi trầm luân

      Nước tiên tẩy sạch bệnh trần

      Cảnh thác bờ rực rỡ càn khôn

      Lô xô đá mọc đầu nguồn

      Thiên nhiên khéo tạc cảnh thác nguồn chơi vơi

      Cảnh thác bờ là nơi thánh tích

      Chúa lập đền thờ thanh lịch xiết bao

      Con sông đà nước chảy rì rào

      Sau đền đá mọc thấp cao mấy tầng

      Cảnh thanh xuân thiều quang sang tỏ

      Chúa thác bờ tiên nữ giáng sinh

      Dòng họ mường aó trắng đai xanh

      Lưng đeo xà tích bên mình giao thoai

      Đôi mắt phượng hoa cài châm dắt

      Vầng chán xinh nên vẻ mặt them tươi

      Môi son nở đóa hoa cười

      Thanh tân lịch sự nét ngời thu ba

      Mái tóc rườm rà rẽ ngôi cánh phượng

      Nét cong cong uốn lượn đường tơ

      Chúa xinh xinh vẻ liễu thẫn thờ

      Chúa xinh thời cảnh thác bờ thêm xinh

    Sự linh ứng của Đền Chúa Thác Bờ

    • Về lễ Chúa may mắn vào đúng ngày tiệc chúa, bước chân lên tầu, tầu lao vút nhẹ cảnh sắc hữu tình nên thơ, phía trước là thuyền của Quan tam, theo sau là cô Bơ chèo đò….Chúa Thác trong tâm thức là một người con gái xinh đẹp, tinh nhanh, Chúa rất trẻ chỉ khoảng từ 16 đến 18 tuổi. Chúa mặc trang phục của gái Mường, lưng đeo xà tích đầu đội khăn trắng, và đặc biệt Chúa có chiếc điếu cày rất to, đúng nét đặc trưng của người Mường chân chất, tinh anh.
    • Tích xưa kể lại Chúa Thác Bờ vốn là người Mường, sinh quán ở đất Hòa Bình dưới thời nhà Lê (có người nói là thời Trần). Chúa Thác Bờ tên thật là Đinh Thị Vân, con gái một gia đình tộc trưởng người Mường ở Kim Bôi, Hòa Bình. Chúa xưa vốn là tiên nữ, giáng sinh vào nhà họ Đinh, sau này, đất nước gặp cơn loạn lạc, bà đã tập hợp dân Mường liên kết với các dân tộc khác ở vùng đất Hòa Bình, đứng lên đánh đuổi quân xâm lược. Sau khi đã đánh đuổi được bọn ngoại xâm, bà được triều đình giao cho cai quản vùng đất Mường ở Hòa Bình.
    • Tại đây bà giúp dân ổn định cuộc sống, dạy nhân dân lên rẫy làm nương, xuống sông Đà thả lưới đánh bắt cá (tương truyền Chúa Thác còn là người giúp dân trị thủy, chế ngự con sông Đà cuồn cuộn sóng hung dữ). Khi thanh nhàn, chúa lại một mình trên chiếc thuyền độc mộc, chèo từ Bến Ngọc, Sông Đà đi du ngoạn khắp các thắng cảnh. Chúa Thác Bờ rất hay ngự về đồng, thông thường Chúa Thác thường hay ngự về sau Chầu Đệ Tam (vậy nên có người lại gọi là Chầu Thác Bờ nhưng đôi khi có người lại hầu Chúa Thác sau Chúa Mường Đệ Tam Lâm Thao hoặc hầu chúa sau Chầu Bé Thượng), nhưng Chúa Thác Bờ thường hay ngự về hơn Chầu Đệ Tam và có khi người ta không thỉnh Chầu Đệ Tam mà thỉnh luôn chúa về chứng tòa Sơn Trang màu trắng rồi thả cá phóng sinh trong đại lễ khai đàn mở phủ. Chúa ngự về đồng thường mặc áo trắng, quầy đen, đai xanh, bên hông có xà tích bạc, chúa về khai cuông rồi một tay cầm chèo, một tay cầm mồi, bẻ lái dạo chơi trên sông Đà.
    • Chúa Thác hoá ở Thác Bờ và được Vua phong Chế thắng hoà diệu đại vương làm chúa đất Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên. Anh Linh lừng lẫy khắp chốn sơn trang. Ngài là chúa Bản Cảnh đất Hoà Bình nói riêng và là chúa động Mường nói chung, trong tam thập lục động.
    • Lộc Chúa nhiều như nước trên Ngàn, sự linh ứng của Chúa không kể xiết, Chị Đinh Thị T công tác tại một cơ quan Hành chính sự nghiệp tại tỉnh Hòa Bình, sau 2 lần hôn nhân tan vỡ chị đã từng nghĩ khép chặt trái tim lại để nuôi dạy các con, đầu năm theo Đoàn đi lễ tại Đền Chúa thác chị được bà chấp tác tại cửa Chúa tấu thay cầu đỡ xin Chúa ban duyên, linh ứng thay hạnh phúc đã mỉm cười với chị, Ad gặp lại chị trong chuyến đi về tạ Chúa, chị bồi hồi kể lại, chị gặp anh trong một chuyến đi thiện nguyện và bén duyên từ đó, anh chị nên nghĩa vợ chồng. Chị Nguyễn Thu H, chồng chị là Nam tử duy nhất trong gia đình, song anh chị chỉ sinh được hai con gái, buồn bã lo âu vì trách nhiệm thờ tự nặng trên vai lại lo lắng chồng gửi gắm con trai bên ngoài, chị xuất tâm thành cầu xin sự giúp đỡ của Chúa Thác, đầu năm cầu đảo cuối năm anh chị đã có một bé trai bụ bẫm, thỏa lòng ước mong của hai họ. Hạnh phúc ngập tràn anh chị không quên quay về tạ Chúa.

      Ai lên tới Thung Nai, Đà Bắc

      Dọc sông Đà, bến Ngọc long lanh

      Thăm đền Chúa Thác Hòa Bình

      Chợ Bờ, hang Miếng thác ghềnh cheo leo