【#1】Bài Văn Khấn Ngoài Mộ Trước Ngày Giỗ Thường (Ngày Cát Kỵ)

Bài văn khấn ngoài mộ trước ngày giỗ thường (ngày Cát Kỵ)

Mong Quý Bạn Đọc Ủng Hộ Ban Biên Tập Qua Số Tài Khoản 19030604329997

Tên: Bui Tien Tung

Chi Nhánh Techcombank Ba Đình Hà Nội

Xin chân thành cảm ơn!

Bài văn khấn ngoài mộ trước ngày giỗ thường (ngày Cát Kỵ)

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con kính lạy Đức Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân.

Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

Con kính lạy Tổ Tiên nội ngoại họ: …………………

Tín chủ (chúng) con là: ……………………

Ngụ tại: ……………………

Hôm nay là ngày ……… tháng ………. Năm…………

Là chính ngày Cát Kỵ của ………………………………

Thiết nghĩ ………. (dài) vắng xa trần thế, không thấy âm dung.

Năm qua tháng lại ngày húy lâm. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Ngày mai Cát Kỵ, hôm nay chúng con và toàn gia con cháu thành tâm sắm lễ, quả cau, lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án thành khẩn kính mời: ………

Mất ngày: ……… tháng: ……… năm: ………

Mộ phần táng tại: ………

Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia cảnh hưng long thịnh vượng.

Con lại xin kính mời các vị Tổ Tiên nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá Thúc, Huynh Đệ, Cô Di, và toàn thể các Hương linh gia tiên đồng lai hâm hưởng.

Tín chủ con lại xin kính mời ngài Thổ Công, Táo Quân và chư vị Linh thần đồng lai giám cách thượng hưởng.

Tín chủ lại mời các vị vong linh Tiền chủ, Hậu chủ nhà này, đất này cùng tới hâm hưởng.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

【#2】2 Bài Văn Khấn Ngoài Mộ Trước Ngày Giỗ Đầu, Giỗ Thường Ông Bà Cha Mẹ

2 Văn khấn ngoài mộ trước ngày giỗ đầu, giỗ thường ông bà cha mẹ: Vào ngày cáo giỗ, trưởng gia mang lễ ra mộ mời vong hồn về, sửa sang lại mộ phần cho ngay ngắn. Ngày cáo giỗ, bàn thờ được dọn dẹp, lau chùi sạch sẽ từ sáng sớm để chuẩn bị cho việc cúng lễ Tiên Thường vào buổi chiều. + Nếu trước ngày giỗ bố thì phải khấn là: Hiển khảo + Nếu trước ngày giỗ mẹ…

2 Văn khấn ngoài mộ trước ngày giỗ đầu, giỗ thường ông bà cha mẹ: Vào ngày cáo giỗ, trưởng gia mang lễ ra mộ mời vong hồn về, sửa sang lại mộ phần cho ngay ngắn. Ngày cáo giỗ, bàn thờ được dọn dẹp, lau chùi sạch sẽ từ sáng sớm để chuẩn bị cho việc cúng lễ Tiên Thường vào buổi chiều.

  • + Nếu trước ngày giỗ bố thì phải khấn là: Hiển khảo
  • + Nếu trước ngày giỗ mẹ thì phải khấn là: Hiển tỷ
  • + Nếu trước ngày giỗ ông thì hải khấn là: Tổ khảo
  • + Nếu trước ngày giỗ bà thì phải khấn là: Tổ tỷ
  • + Nếu trước ngày giỗ cụ ông thì phải khấn là: Tằng Tổ Khảo
  • + Nếu trước ngày giỗ cụ bà thì phải khấn là: Tằng Tổ Tỷ
  • + Nếu trước ngày giỗ anh em thì hải khấn là: Thệ huynh, Thệ đệ
  • + Nếu trước ngày giỗ chị em thì phải khấn là: Thể tỵ, Thể muội
  • + Nếu trước ngày giỗ cô dì chú bác thì phải khấn là: Bá thúc Cô Di, Tỷ Muội hoặc khấn chung là Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ nghĩa là nội ngoại Gia Tiên.

Vào ngày Giỗ Đầu, ngoài mâm lễ mặn, hoa, quả, hương, phẩm oản, người ta thường mua sắm rất nhiều đồ hàng mã không chỉ là tiền, vàng, mã, giấy mà còn cả các vật dụng như quần , áo, nhà cửa, xe cộ mà thậm chí còn mua sắm cả hình nhân bằng giấy nữa

Văn khấn giỗ ngoài mộ ngày giỗ đầu đúng chuẩn thầy cúng:

  • Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
  • Con kính lạy Đức Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.
  • Con kính lạy ngài Bản gia Táo Quân, ngài Bản gia Thổ Công, Long Mạch, Thần Tài.
  • Con kính lạy các ngài Thần linh cai quản trong xứ này.
  • Hôm này là ngày ….. tháng ….. năm …………………(Âm lịch).
  • Tín chủ (chúng) con là:…………………………………Tuổi……………….
  • Ngụ tại:………………………………………………………………………………..
  • Nhân ngày mai là ngày Giỗ đầu của………………………………………………….
  • Chúng con cùng toàn thể gia quyến tuân theo nghi lễ, sắm sửa hương hoa lễ vật kính dâng lên trước án tọa Tôn Thần cùng chư vị uy linh, kính cẩn tâu trình.

    Kính cáo Bản gia Thổ Công, Táo Quân, Long Mạch và các vị Thần linh, cúi xin chứng minh, phù hộ cho toàn gia chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành.

  • Kính thỉnh các Tiên linh, Gia tiên chúng con và những vong hồn nội tộc được thờ phụng vị cùng về hâm hưởng.
  • Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.
  • Phục duy cẩn cáo

# Văn khấn ngoài mộ trước ngày giỗ thường

  • Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
  • Con kính lạy Đức Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.
  • Con kính lạy ngài Bản gia Táo Quân, ngài Bản gia Thổ Công, Long Mạch, Thần Tài.
  • Con kính lạy các ngài Thần linh cai quản trong xứ này.
  • Hôm này là ngày ….. tháng ….. năm …………………( âm lịch).
  • Tín chủ (chúng) con là:…………………………………………..
  • Tuổi…………………………………………….
  • Ngụ tại:……………………………………………………………………………………………………..
  • Nhân ngày mai là ngày Giỗ của……………………………………………………………..
  • Chúng con cùng toàn thể gia quyến tuân theo nghi lễ, sắm sửa hương hoa lễ vật kính dâng lên trước án tọa Tôn Thần cùng chư vị uy linh, kính cẩn tâu trình.

    Kính cáo Bản gia Thổ Công, Táo Quân, Long Mạch và các vị Thần linh, cúi xin chứng minh, phù hộ cho toàn gia chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành.

  • Kính thỉnh các Tiên linh, Gia tiên chúng con và những vong hồn nội tộc được thờ phụng vị cùng về hâm hưởng.
  • Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì. Phục duy cẩn cáo!

Tags: văn khấn ngoài mộ, văn khấn ngoài mộ ngày giỗ đầu, văn khấn ngoài mộ cuối năm, văn khấn ngoài mộ ngày thanh minh, văn khấn ngoài mộ trước ngày giỗ, văn khấn cúng rằm tháng 7 ngoài mộ, văn khấn tạ thần linh ngoài mộ

【#3】Tổng Hợp 3 Bài Văn Khấn Ngoài Mộ Trước Ngày Giỗ

Văn khấn ngoài mộ trước ngày giỗ

Đối với ngày giỗ của ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng (còn gọi là giỗ trọng) thì trước ngày giỗ cần làm lễ cúng cáo giỗ.

Trong lễ cúng cáo giỗ, bạn sẽ phải cúng Công Thần Thổ Địa trước, sau đó mời vong linh hương hồn gia tiên nội ngoại cùng về dự giỗ. Việc cúng cáo giỗ là để báo cho người đã khuất biết ngày hôm sau về hưởng giỗ. Đồng thời là để báo với Thần linh, Thổ Địa nơi để mộ người đã khuất cũng như xin phép cho hương linh người đã khuất được về hưởng giỗ.

Sau ngày cáo giỗ là gọi là ngày tiên thường hay còn gọi là ngày giỗ. Vào ngày giỗ, ngoài mâm lễ mặn, hoa, quả, hương, phẩm oản. Theo quan niệm trước đây thì người ta thường mua sắm rất nhiều đồ hàng mã không chỉ là tiền, vàng, mã, giấy mà còn cả các vật dụng như quần , áo, nhà cửa, xe cộ mà thậm chí còn mua sắm cả hình nhân bằng giấy nữa.

Nhưng với thế hệ hiện đại và cuộc sống có nhiều đổi thay, văn minh hơn, sẽ sắm ít vàng mã thôi. Chỉ đốt mang tính tượng trưng. Quan trọng đó là tư tướng con cháu luôn nhớ đến người đã khuất.

Sau đây là bài văn khấn ngoài mộ trước ngày giỗ:

Con lạy 9 phương Trời, 10 phương Chư Phật, Chư Phật mười phương

Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ Chư Vị Tôn thần

Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân

Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này

Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm ………..

Nhân ngày mai là ngày giỗ của………… (họ tên người mất)

Chúng con cùng toàn thể gia quyến tuân theo nghi lễ, thành tâm dâng lễ, quả cau lá trầu, hương hoa, trà quả, đốt nén tâm hương, trước ngay án tọa Tôn thần cùng chư vị uy linh, kính cẩn tâu trình.

Chúng con kính mời các vị Bản gia Thổ Công, Táo Quân, Long Mạch và các vị Thần linh linh thiêng hiển hiện trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho toàn gia chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành.

Kính thưa các vị Thần linh, Gia tiên chúng con và những vong hồn nội tộc được thờ phụng vị cùng về nơi đây cùng hâm hưởng.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nếu trước ngày giỗ bố thì phải khấn là: Hiển khảo

Nếu trước ngày giỗ mẹ thì phải khấn là: Hiển tỷ

Nếu trước ngày giỗ ông thì hải khấn là: Tổ khảo

Nếu trước ngày giỗ bà thì phải khấn là: Tổ tỷ

Nếu trước ngày giỗ cụ ông thì phải khấn là: Tằng Tổ Khảo

Nếu trước ngày giỗ cụ bà thì phải khấn là: Tằng Tổ Tỷ

Nếu trước ngày giỗ anh em thì hải khấn là: Thệ huynh, Thệ đệ

Nếu trước ngày giỗ chị em thì phải khấn là: Thể tỵ, Thể muội

Nếu trước ngày giỗ cô dì chú bác thì phải khấn là: Bá thúc Cô Di, Tỷ Muội

Hoặc khấn chung là Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ nghĩa là nội ngoại Gia Tiên.

Sau khi viếng mộ, bạn trở về nhà và hãy làm lễ cúng cáo giố thưa với Thần Linh, Thổ Công, và đồng thời cúng mời gia tiên nội ngoại cùng về dự.

【#4】Bài Văn Khấn Cúng Giỗ Cha Mẹ, Ông Bà Nội Ngoại Như Thế Nào

Cúng giỗ là một phong tục tập quán của người Việt chúng ta từ xưa đến giờ, nhằm tưởng nhớ lại người đã mất. Để chuẩn bị buổi cúng giỗ diễn ra tốt đẹp, người thân trong nhà phải chuẩn bị đầy đủ các nghi thức cúng, mâm cúng giỗ và đặc biệt là bài văn khấn cúng giỗ. Vậy Bài văn khấn cúng giỗ cha mẹ, ông bà nội ngoại như thế nào?

Ý nghĩa của việc cúng giỗ cha mẹ, ông bà nội ngoại

Việc thờ cúng tổ tiên đã trở thành quốc đạo, có người đề cao là “Đạo Ông Bà”, được xã hội coi như là một tiêu chuẩn quan trọng của nề nếp gia phong, là hành vi hợp đạo đức truyền thống. Vì nó bắt nguồn từ lòng hiếu thảo của con cháu luôn tưởng nhớ công ơn tổ tiên ông bà và đấng sanh thành, cơ sở gắn bó mảnh đất quê hương, yêu thương bà con dòng họ, làng xóm, là đầu mối của tình yêu tổ quốc, đồng bào.

Thờ cúng tổ tiên còn bắt nguồn từ quan niệm “dương sao âm vậy” và con người có linh hồn “thác là thể phách, hồn là tinh anh”, dù tổ tiên đã thác nơi suối vàng nhưng linh hồn vẫn luôn quây quần bên con cháu, thường xuyên thăm nom, phù hộ con cháu lúc khó khăn, tức linh hồn người chết có mối quan hệ, có tác động đến đời sống tinh thần người sống.

Nhiều gia đình còn đặt lọ hài cốt cha mẹ,ông bà nội ngoại trên bàn thờ trong nhà, hoặc xây mộ người quá cố ngay trong vườn nhà để ông bà cha mẹ vẫn được ở gần gũi với con cháu, con cháu cũng tiện việc chăm nom, nhang khói. Nhờ coi trọng việc thờ cúng tổ tiên, con cháu luôn ăn ở phải đạo, gìn giữ gia phong, không dám làm điều sai quấy (tức không phạm luật: luật nhà, luật nước) mà phụ lòng tổ tiên, cha mẹ, ông bà.

Mâm cũng đám giỗ cha mẹ, ông bà cần những gì?

Ngày xưa nước ta trong giai đoạn đất nước trong thời bao cấp, kinh tế còn khó khăn trăm bề, nhưng tới ngày đám giỗ thật đong đầy tình cảm. Đồ cúng giỗ thời đó không cao sang. Bà con, hàng xóm đem đến mỗi người một ít những gì trong nhà mình có, người nhiều thì con gà, con vịt, người ít thì chục trứng, vài ba lon nếp, xách bánh khô, chai rượu hay nải chuối, chỉ giản đơn vậy nhưng thật vui vẻ và sum vầy.

Ngày nay kinh tế cũng khấm kha hơn, có điều kiện tiền bạc để sắm những lễ vật hoành tráng hơn. Nhưng cuộc sống bận rộn, không có nhiều thời gian để chuẩn bị, có người thì lại không biết chuẩn bị đồ cúng giỗ ra sao để đầy đủ ý nghĩa làm vui lòng người khuất.

Đồ cúng giỗ là mâm mặn, gồm những vật phẩm sau:

1. một con gà luộc

2. một miếng thịt heo luộc

3. 8 đĩa xôi

4. 8 chén cơm

5. một mâm ngủ quả

6. một bình hoa tươi

7. một bộ đồ cúng, giấy tiền, vàng mã, giấy đất

8. trầu tem cách phượng,

9. cau tươi

10. trà

11. thuốc

12. rượu

Bài văn khấn cúng giỗ cha mẹ, ông bà nội ngoại như thế nào?

Nội dung bài văn khấn giỗ đầu chi tiết như sau:

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.

Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân.

Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ tiên nội ngoại họ…………………………

Tín chủ (chúng) con là:………………………………Tuổi……………………..

Ngụ tại:………………………………………………………………………………

Hôm nay là ngày……………tháng……….năm…………….(Âm lịch).

Chính ngày Giỗ Đầu của………………………………………………………………

Năm qua tháng lại, vừa ngày húy lâm. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Nhân ngày chính giỗ, chúng con và toàn gia con cháu, nhất tâm sắm sửa lễ vật kính dâng, đốt nén tâm hương dãi tỏ tấc thành.

Thành khẩn kính mời…………………………………………………………………

Mất ngày…………. Tháng………………năm…………………(Âm lịch)

Mộ phần táng tại:……………………………………………………………………..

Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu bình an, gia cảnh hưng long thịnh vượng.

Tín chủ con lại xin kính mời các cụ Tổ Tiên, nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá thúc, Cô Di và toàn thể các Hương linh gia tiên đồng lai hâm hưởng.

Tín chủ lại mời vong linh các vị Tiền chủ, Hậu chủ trong đất này cùng tới hâm hưởng.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Phục duy cẩn cáo!

Nội dung bài văn khấn giỗ thường:

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con kính lạy Đức Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân.

Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

Con kính lạy Tổ Tiên nội ngoại họ………………………………………………….

Tín chủ con là…………………………………………………Tuổi…………………

Ngụ tại………………………………………………………………………………….

Hôm nay là ngày ………tháng ………năm………………………(Âm lịch).

Chính ngày giỗ của…………………………………………………………………

Thiết nghĩ…………………. Vắng xa trần thế, không thấy âm dung.

Năm qua tháng lại ngày húy lâm. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Ngày mai Cát Kỵ, hôm nay chúng con và toàn gia con cháu, nhất tâm sắm sửa lễ vật kính dâng, đốt nén tâm hương dãi tỏ tắc thành.

Tâm thành kính mời…………………………………………………………………

Mất ngày ……………..tháng………………….năm………………………………..

Mộ phần táng tại……………………………………………………………………..

Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia cảnh hưng long thịnh vượng.

Con lại xin kính mời các vị Tổ Tiên nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá Thúc, Huynh Đệ, Cô Di, Tỷ Muội và toàn thể các Hương hồn gia tiên đồng lai hâm hưởng.

Tín chủ con lại xin kính mời ngài Thần Linh, Thổ địa, Thổ Công, Táo Quân và chư vị Linh thần đồng lai giám cách thượng hưởng.

Tín chủ lại mời vong linh các vị Tiền chủ, Hậu chủ nhà này, đất này cùng tới hâm hưởng.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Phục duy cẩn cáo!

【#5】Bài Văn Khấn Ngoài Mộ Ngày Giỗ Đầu, Giỗ Thường, Giỗ Hết Chuẩn Xác Nhất

Thủ tục, chuẩn bị đồ cúng và bài văn khấn ngoài mộ ngày giỗ đầu, giỗ thường, giỗ hết cha mẹ, ông bà, tổ tiên chuẩn xác nhất.

Cách chuẩn bị mâm cúng ngày giỗ đầu, giỗ thường, giỗ hết

Việc cúng giỗ vào những dịp 49 ngày, 100 ngày, giỗ đầu, giỗ hết, giỗ thường rất quan trọng cho tổ tiên, ông bà, cha mẹ,… Vậy cúng giỗ thế nào cho đúng? Thủ tục cúng giỗ thế nào, chuẩn bị đồ cúng ngày ra sao?

Cách cúng giỗ đầu

Ngày giỗ đầu dù ở gia đình nào, địa phương nào cũng rất được chú trọng, không kém gì lễ 49 ngày. Các lễ vật gia chủ cần chuẩn bị là mâm cơm cúng gồm xôi, gà, 2 mặn, 2 canh, hoa quả, hương nến, tiền vàng, quần áo giấy, ngựa giấy, hình nhân,v..v..

Ngoài ra vì là ngày giỗ đầu nên cũng phải làm vài mâm cơm ít nhiều phụ thuộc vào gia cảnh của chủ nhà để mời khách. Khách có lòng sẽ tự đến đặt lễ thắp hương cho người đã mất.

Trước ngày giỗ 1 ngày bày 1 mâm lễ mời người mất và gia tiên về dự lễ, ngày hôm sau mới chính thức tổ chức đám giỗ.

Cúng giỗ hết

Giỗ hết cũng sắm sang đồ cúng tương tự như giỗ đầu, chỉ có một điều khác là trong ngày giỗ sẽ hóa hết những đồ tang như quần áo, khăn tang, phướn, cờ, gậy chống, rèm xô. Như một cách thể hiện rằng tang kỳ đã kết thúc.

Cúng giỗ thường

Ngày giỗ thường được tổ chức hàng năm, còn gọi là cũng giỗ 3 năm sau khi mất, quy mô vì thế cũng nhỏ gọn đơn giản hơn. Chủ yếu là lòng thành của con cháu là chính. Thông thường sẽ chia ra 2 ngày, 1 ngày trước giày giỗ gọi là lễ tiên thường, và ngày hôm sau là lễ chính kỵ.

Ngày tiên thường, gia chủ cùng với mâm lễ vật đã sắm sửa đầy đủ, đứng nghiêm trang chắp tay lễ 3 lần rồi đọc văn khấn mời gia tiên trước, sau mới đến người đã mất về dự lễ chính kỵ vào hôm sau. Đọc xong lễ 3 lễ kết thúc.

Ngày hôm sau lễ chính kỵ thì khấn mời người đã mất trước, rồi đến mời tổ tiên về dự giỗ. Sau 3 tuần hương thì hạ lễ cho con cháu thụ lộc. Cúng giỗ buổi sáng hay chiều tùy thuộc thời gian của chủ nhà.

Cùng là một ngày giỗ nhưng mỗi miền lại có cách làm cơm cúng và đãi khách khác nhau. Cúng giỗ nên cúng chay hay mặn đều được, phụ thuộc vào lệ mỗi nhà.

Như ở miền bắc, cơm cúng không thể thiếu con gà luộc và đĩa xôi, có thể là xôi trắng, xôi gấc hay xôi vò đều được. Tiếp đến là khoanh giò lụa hoặc giò bò, miếng bánh chưng xanh, một đĩa nem rán và một món xào thập cẩm. Tùy hoàn cảnh kinh tế từng nhà có thể làm thêm nhiều món hơn như các món nộm, món rau. Cách xới cơm cúng ngày giỗ phải xới đầy ắp chén cơm để thể hiện âm dương hòa hợp. Khi cúng giỗ xới 1 chén cơm là đủ.

Mâm cơm miền Trung có đôi chút khác so với miền Bắc. Người miền Trung thay bánh chưng bằng bánh tét, không dùng các loại nộm mà thay bằng đồ muối chua như hành kiệu.

Còn cơm cúng miền Nam thường giản dị hơn vì người ta quan niệm người đã khuất thì cũng đã khuất rồi, người ở lại quan trọng là lòng thành. Vì vậy dù mâm cơm có giản dị, nhưng khi đã đến ngày giỗ của ông bà cha mẹ, các con cháu dù ở xa cũng phải tề tựu cho đông đủ.

Các bài văn khấn nôm ngoài mộ ngày giỗ

Các bài văn khấn trước mộ vào ngày giỗ thường chia ra dùng cho nhiều trường hợp, bao gồm:

  • Văn khấn ngoài mộ ngày giỗ đầu
  • Văn khấn ngoài mộ trước ngày giỗ thường
  • Văn khấn ngoài mộ trước ngày giỗ hết
  • Văn khấn thần linh ngoài mộ ngày giỗ

Tuỳ vào từng trường hợp mà gia chủ sẽ chọn văn khấn theo:

  • Nếu trước ngày giỗ bố thì phải khấn là: Hiển khảo
  • Nếu trước ngày giỗ mẹ thì phải khấn là: Hiển tỷ
  • Nếu trước ngày giỗ ông thì hải khấn là: Tổ khảo
  • Nếu trước ngày giỗ bà thì phải khấn là: Tổ tỷ
  • Nếu trước ngày giỗ cụ ông thì phải khấn là: Tằng Tổ Khảo
  • Nếu trước ngày giỗ cụ bà thì phải khấn là: Tằng Tổ Tỷ
  • Nếu trước ngày giỗ anh em thì hải khấn là: Thệ huynh, Thệ đệ
  • Nếu trước ngày giỗ chị em thì phải khấn là: Thể tỵ, Thể muội
  • Nếu trước ngày giỗ cô dì chú bác thì phải khấn là: Bá thúc Cô Di, Tỷ Muội
  • Hoặc khấn chung là Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ nghĩa là nội ngoại Gia Tiên.

Sau khi viếng mộ, bạn trở về nhà và hãy làm lễ cúng cáo giố thưa với Thần Linh, Thổ Công, và đồng thời cúng mời gia tiên nội ngoại cùng về dự.

Văn khấn ngoài mộ ngày Giỗ Đầu (Tiểu thường)

Nội dung bài văn khấn ngoài mộ ngày giỗ đầu

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.

Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân.

Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ tiên nội ngoại họ: ………

Tín chủ (chúng) con là: ……… Tuổi: ………

Ngụ tại: ………

Hôm nay là ngày: ………tháng: ……… năm: ………(Âm lịch).

Chính ngày Giỗ Đầu của: ………

Năm qua tháng lại, vừa ngày húy lâm. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Nhân ngày chính giỗ, chúng con và toàn gia con cháu, nhất tâm sắm sửa lễ vật kính dâng, đốt nén tâm hương dãi tỏ tấc thành.

Thành khẩn kính mời: ………

Mất ngày tháng năm (Âm lịch): ………

Mộ phần táng tại: ………

Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu bình an, gia cảnh hưng long thịnh vượng.

Tín chủ con lại xin kính mời các cụ Tổ Tiên, nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá thúc, Cô Di và toàn thể các Hương linh gia tiên đồng lai hâm hưởng.

Tín chủ lại mời vong linh các vị Tiền chủ, Hậu chủ trong đất này cùng tới hâm hưởng.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Phục duy cẩn cáo!

Bài văn khấn ngoài mộ trước ngày giỗ

Nội dung bài văn khấn ngoài mộ trước ngày giỗ

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Con lạy 9 phương Trời, 10 phương Chư Phật, Chư Phật mười phương

Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ Chư Vị Tôn thần

Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân

Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này

Hôm nay là ngày: ……… tháng: ……… năm: ………

Ngày trước giỗ – Tiên Thường: ………( ngày giỗ)

Tín chủ con là: ………

Ngụ tại: ………

Nhân ngày mai là ngày giỗ của: ……… (họ tên người mất)

Chúng con cùng toàn thể gia quyến tuân theo nghi lễ, thành tâm dâng lễ, quả cau lá trầu, hương hoa, trà quả, đốt nén tâm hương, trước ngay án tọa Tôn thần cùng chư vị uy linh, kính cẩn tâu trình.

Chúng con kính mời các vị Bản gia Thổ Công, Táo Quân, Long Mạch và các vị Thần linh linh thiêng hiển hiện trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho toàn gia chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành.

Kính thưa các vị Thần linh, Gia tiên chúng con và những vong hồn nội tộc được thờ phụng vị cùng về nơi đây cùng hâm hưởng.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Văn khấn thần linh (Thổ Thần, Táo Quân, Long Mạch) ngoài mộ ngày giỗ

Nội dung bài văn khấn thần linh ngoài mộ ngày giỗ

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con kính lạy Đức Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

Con kính lạy ngài Bản gia Táo Quân, ngài Bản gia Thổ Công, Long Mạch, Thần Tài.

Con kính lạy các ngài Thần linh cai quản trong xứ này.

Hôm này là ngày: ……… tháng: ……… năm: ………(Âm lịch).

Tín chủ (chúng) con là: ………Tuổi: ………

Ngụ tại: ………

Chúng con cùng toàn thể gia quyến tuân theo nghi lễ, sắm sửa hương hoa lễ vật kính dâng lên trước án tọa Tôn Thần cùng chư vị uy linh, kính cẩn tâu trình.

Kính cáo Bản gia Thổ Công, Táo Quân, Long Mạch và các vị Thần linh, cúi xin chứng minh, phù hộ cho toàn gia chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành.

Kính thỉnh các Tiên linh, Gia tiên chúng con và những vong hồn nội tộc được thờ phụng vị cùng về hâm hưởng.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Phục duy cẩn cáo!

Bài văn khấn ngoài mộ trước ngày giỗ thường ( ngày Cát Kỵ)

Nội dung bài văn khấn ngoài mộ trước ngày giỗ thường

Đây là bài văn cúng giỗ hàng năm thường được sử dụng:

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con kính lạy Đức Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân.

Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

Con kính lạy Tổ Tiên nội ngoại họ: …………………

Tín chủ (chúng) con là: ……………………

Ngụ tại: ……………………

Hôm nay là ngày ……… tháng ………. Năm…………

Là chính ngày Cát Kỵ của ………………………………

Thiết nghĩ ………. (dài) vắng xa trần thế, không thấy âm dung.

Năm qua tháng lại ngày húy lâm. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Ngày mai Cát Kỵ, hôm nay chúng con và toàn gia con cháu thành tâm sắm lễ, quả cau, lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án thành khẩn kính mời: ………

Mất ngày: ……… tháng: ……… năm: ………

Mộ phần táng tại: ………

Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia cảnh hưng long thịnh vượng.

Con lại xin kính mời các vị Tổ Tiên nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá Thúc, Huynh Đệ, Cô Di, và toàn thể các Hương linh gia tiên đồng lai hâm hưởng.

Tín chủ con lại xin kính mời ngài Thổ Công, Táo Quân và chư vị Linh thần đồng lai giám cách thượng hưởng.

Tín chủ lại mời các vị vong linh Tiền chủ, Hậu chủ nhà này, đất này cùng tới hâm hưởng.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Văn khấn ngoài mộ trước ngày giỗ hết

Nội dung bài văn khấn ngoài mộ trước ngày giỗ hết

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.

– Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân.

– Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

– Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Tổ Tiên nội ngoại họ ………

Tín chủ (chúng) con là: ………

Ngụ tại: ………

Hôm nay là ngày: ……… tháng: ……… năm: ………

Chính ngày Giỗ Hết của: ………

Thiết nghĩ: ……… vắng xa trần thế, không thấy âm dung. Năm qua tháng lại vừa ngày Giỗ Hết. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Nhân ngày chính giỗ, chúng con và toàn gia con cháu, nhất tâm sắm sửa lễ vật kính dâng, đốt nén tâm hương dãi tỏ tấc thành.

Thành khẩn kính mời: ………

Mất ngày: ……… tháng: ………năm: ………

Mộ phần táng tại: ………

Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu bình an, gia cảnh hưng long thịnh vượng.

Tín chủ lại mời vong linh các vị Tiền chủ, Hậu chủ trong đất này cùng tới hâm hưởng.

Tín chủ con lại xin kính mời các cụ Tổ Tiên nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá thúc, Huynh Đệ, Cô Di, Tỷ Muội và toàn thể các Hương linh gia tiên đồng lai hâm hưởng.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

【#6】Bài Văn Khấn Cúng Giỗ 49 Ngày, Lễ Tất Khốc 100 Ngày Ngoài Mộ

Nam mô A di đà phật!

Nam mô A di đà phật!

Nam mô A di đà phật!

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

Hôm nay là ngày………..tháng………..năm…………. (âm lịch), tức là ngày………….tháng………..năm…….. (dương lịch).

Tại địa chỉ:…………..

Con trai trưởng là: ……………

Vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là Mẹ)/Vâng theo lệnh của phụ thân (nếu là Cha), các chú bác, anh rẻ cùng chị gái, em trai em gái và các dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

Hôm nay nhân ngày lễ Chung Thất theo nghi lễ cổ truyền, kính cẩn sắm các lễ vật dâng lên bao gồm : Đọc tên các lễ vật đã sắm.

Kính dâng lễ mọn với tấm lòng thành.

Trước linh vị hiển chân linh.

Xin kính cẩn trình thưa rằng:……….

Núi Hỗ sao mờ, nhà Thung bóng xế (nếu là người Cha)/ Núi Dĩ sao mờ, nhà Huyên bóng xế (nếu là người Mẹ). Tình nghĩa cha sinh mẹ dưỡng biết là bao. Mất lâu nay thở than trầm mơ màng. Tưởng nhớ âm dương vắng vẻ. Sống thời lai lai láng láng hớn hở chừng nào. Thác thời kể tháng kể ngày buồn tênh mọi lẽ.

Tính đến nay Chung Thất tới tuần. Lễ bạc nhưng tâm thành gọi là có nén nhang.

Xin mời hiển……….

Xin mời hiển……….

Xin mời hiển……….

Cùng các bị Tiên linh, Tổ Bá, Tổ Thúc, Tổ cô và các vong linh phụ thờ theo Tiên Tổ cùng về tâm hưởng.

Kính cáo: Liệt vị Tôn Thần: Táo Quân, Thổ Công, Thánh sư, Tiên sư, Ngũ tự Gia thần cùng chứng giám và phù hộ và toàn gia được mọi sự yên lành tốt đẹp.

Nam mô A di Đà phật!

Nam mô A di Đà phật!

văn khấn tạ mộ mới xây,văn khấn xây mộ,văn khấn cúng tạ mộ mới xây xong,van khan,bai van khan,bài văn khấn,văn khấn,văn khấn nôm,tạ mộ thanh minh,tạ mộ mới xây,văn khấn tạ mộ mới,văn khấn sửa chữa mộ phần,khấn sửa chữa mộ,văn khấn cải táng,văn khấn giỗ đầu,bài văn khấn ngoài mộ ngày giỗ đầu,văn khấn ngoài mộ ngày giỗ thường,văn khấn ngoài mộ ngày giỗ hết,văn khấn cúng 49 ngày,văn khấn 100 ngày,văn khấn 49 ngày,văn khấn 49 ngày cho người mất.

Xin chân thành cảm ơn.

【#7】Tìm Hiểu Bài Văn Khấn Ngoài Mộ Ngày Giỗ Chuẩn Nhất Năm 2021

Theo phong tục và văn hóa của người Việt thì ngày giỗ là một ngày quan trọng. Bởi vì nó thể hiện lòng tưởng nhớ cùng sự biết ơn của những người còn sống đối với những người đã khuất. Vậy bài văn khấn ngoài mộ ngày giỗ như thế nào? Mời bạn theo dõi bài chia sẻ sau đây của chúng tôi để biết thêm chi tiết:

Bài văn khấn ngoài mộ ngày giỗ đầu chuẩn tâm linh

Theo các chuyên gia phong thủy thì bài văn khấn ngoài mộ ngày giỗ đầu có nội dung như sau:

on lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.

Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân.

Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ tiên nội ngoại họ: ………

Tín chủ (chúng) con là: ……… Tuổi: ………

Ngụ tại: ………

Hôm nay là ngày: ………tháng: ……… năm: ………(Âm lịch).

Chính ngày Giỗ Đầu của: ………

Năm qua tháng lại, vừa ngày húy lâm. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Nhân ngày chính giỗ, chúng con và toàn gia con cháu, nhất tâm sắm sửa lễ vật kính dâng, đốt nén tâm hương dãi tỏ tấc thành.

Thành khẩn kính mời: ………

Mất ngày tháng năm (Âm lịch): ………

Mộ phần táng tại: ………

Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu bình an, gia cảnh hưng long thịnh vượng.

Tín chủ con lại xin kính mời các cụ Tổ Tiên, nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá thúc, Cô Di và toàn thể các Hương linh gia tiên đồng lai hâm hưởng.

Tín chủ lại mời vong linh các vị Tiền chủ, Hậu chủ trong đất này cùng tới hâm hưởng.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Phục duy cẩn cáo!

Bài văn khấn ngoài mộ trước ngày giỗ

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Con lạy 9 phương Trời, 10 phương Chư Phật, Chư Phật mười phương

Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ Chư Vị Tôn thần

Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân

Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này

Hôm nay là ngày: ……… tháng: ……… năm: ………

Ngày trước giỗ – Tiên Thường: ………( ngày giỗ)

Tín chủ con là: ………

Ngụ tại: ………

Nhân ngày mai là ngày giỗ của: ……… (họ tên người mất)

Chúng con cùng toàn thể gia quyến tuân theo nghi lễ, thành tâm dâng lễ, quả cau lá trầu, hương hoa, trà quả, đốt nén tâm hương, trước ngay án tọa Tôn thần cùng chư vị uy linh, kính cẩn tâu trình.

Chúng con kính mời các vị Bản gia Thổ Công, Táo Quân, Long Mạch và các vị Thần linh linh thiêng hiển hiện trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho toàn gia chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành.

Kính thưa các vị Thần linh, Gia tiên chúng con và những vong hồn nội tộc được thờ phụng vị cùng về nơi đây cùng hâm hưởng.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Bài văn khấn ngoài mộ trước ngày giỗ thường

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con kính lạy Đức Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân.

Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

Con kính lạy Tổ Tiên nội ngoại họ: …………………

Tín chủ (chúng) con là: ……………………

Ngụ tại: ……………………

Hôm nay là ngày ……… tháng ………. Năm…………

Là chính ngày Cát Kỵ của ………………………………

Thiết nghĩ ………. (dài) vắng xa trần thế, không thấy âm dung.

Năm qua tháng lại ngày húy lâm. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Ngày mai Cát Kỵ, hôm nay chúng con và toàn gia con cháu thành tâm sắm lễ, quả cau, lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án thành khẩn kính mời: ………

Mất ngày: ……… tháng: ……… năm: ………

Mộ phần táng tại: ………

Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia cảnh hưng long thịnh vượng.

Con lại xin kính mời các vị Tổ Tiên nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá Thúc, Huynh Đệ, Cô Di, và toàn thể các Hương linh gia tiên đồng lai hâm hưởng.

Tín chủ con lại xin kính mời ngài Thổ Công, Táo Quân và chư vị Linh thần đồng lai giám cách thượng hưởng.

Tín chủ lại mời các vị vong linh Tiền chủ, Hậu chủ nhà này, đất này cùng tới hâm hưởng.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Bài văn khấn ngoài mộ trước ngày giỗ hết

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.

– Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân.

– Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

– Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Tổ Tiên nội ngoại họ ………

Tín chủ (chúng) con là: ………

Ngụ tại: ………

Hôm nay là ngày: ……… tháng: ……… năm: ………

Chính ngày Giỗ Hết của: ………

Thiết nghĩ: ……… vắng xa trần thế, không thấy âm dung. Năm qua tháng lại vừa ngày Giỗ Hết. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Nhân ngày chính giỗ, chúng con và toàn gia con cháu, nhất tâm sắm sửa lễ vật kính dâng, đốt nén tâm hương dãi tỏ tấc thành.

Thành khẩn kính mời: ………

Mất ngày: ……… tháng: ………năm: ………

Mộ phần táng tại: ………

Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu bình an, gia cảnh hưng long thịnh vượng.

Tín chủ lại mời vong linh các vị Tiền chủ, Hậu chủ trong đất này cùng tới hâm hưởng.

Tín chủ con lại xin kính mời các cụ Tổ Tiên nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá thúc, Huynh Đệ, Cô Di, Tỷ Muội và toàn thể các Hương linh gia tiên đồng lai hâm hưởng.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

【#8】Văn Khấn Vong Linh Cúng Cáo Giỗ Ngoài Mộ Trước Ngày Giỗ

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.

Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân.

Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Tổ Tiên nội ngoại họ …..

Tín chủ (chúng) con là: …..

Ngụ tại: …..

Hôm nay là ngày …..tháng …..năm …..

Chính ngày cáo giỗ của …..

Thiết nghĩ …..vắng xa trần thế, không thấy âm dung. Năm qua tháng lại vừa ngày cáo giỗ. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Nhân ngày cáo giỗ, chúng con và toàn gia con cháu, nhất tâm sắm sửa lễ vật kính dâng, đốt nén tâm hương dãi tỏ tấc thành.

Thành khẩn kính mời …..

Mất ngày …..tháng …..năm …..

Mộ phần táng tại: …..

Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu bình an, gia cảnh hưng long thịnh vượng.

Tín chủ lại mời vong linh các vị Tiền chủ, Hậu chủ trong đất này cùng tới hâm hưởng.

Tín chủ con lại xin kính mời các cụ Tổ Tiên nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá thúc, Huynh Đệ, Cô Di, Tỷ Muội và toàn thể các Hương linh gia tiên đồng lai hâm hưởng.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

văn khấn tạ mộ mới xây,văn khấn xây mộ,văn khấn cúng tạ mộ mới xây xong,Bài văn khấn cúng,van khan,bai van khan,bài văn khấn,văn khấn,văn khấn nôm,tạ mộ,văn khấn vong linh,văn khấn cúng,văn khấn cáo giỗ,văn khấn cúng cáo giỗ ngoài mộ,văn khấn ngày cáo giỗ,văn khấn ngoài mộ trước ngày giỗ,văn khấn cúng giỗ ngoài mộ,văn khấn giỗ ngoài mộ,văn khấn ngoài mộ ngày giỗ.

Xin chân thành cảm ơn.

【#9】Bài Văn Khấn Ngoài Mộ Trước Ngày Giỗ Đúng Chuẩn Thầy Cúng Mới Nhất Năm 2021

Bài văn khấn ngoài mộ trước ngày giỗ đúng chuẩn thầy cúng: Trước ngày giỗ chúng ta sẽ ra mộ để cảm tạ thần linh cai quản nghĩa trang, các vong hồn và mời người đã khuất về nhà ăn giỗ. Vậy cách khấn nôm khi thắp hương ngoài mộ trước ngày giỗ như thế nào? Mời quý bạn đọc tham khảo qua bài viết sau. # Hướng dẫn chuẩn bị bàn thờ gia tiên cho ngày giỗ Văn khấn cúng cáo giỗ…

Bài văn khấn ngoài mộ trước ngày giỗ đúng chuẩn thầy cúng: Trước ngày giỗ chúng ta sẽ ra mộ để cảm tạ thần linh cai quản nghĩa trang, các vong hồn và mời người đã khuất về nhà ăn giỗ. Vậy cách khấn nôm khi thắp hương ngoài mộ trước ngày giỗ như thế nào? Mời quý bạn đọc tham khảo qua bài viết sau.

# Hướng dẫn chuẩn bị bàn thờ gia tiên cho ngày giỗ

Văn khấn cúng cáo giỗ ngoài mộ trước ngày giỗ, còn gọi là Lễ Tiên thường là ngày giỗ hôm trước ngày giỗ chính. Trong ngày này, con cháu cúng cáo giỗ để mời người đã khuất hôm sau về hưởng giỗ, xin phép Thổ công cho phép vong hồn người được giỗ và nội ngoại cùng về hưởng giỗ cùng con cháu. Ngày cúng cáo giỗ chỉ được áp dụng đối với hàng trên là cụ, kỵ, ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, em…

  • + Đối với giỗ mọn cho hàng dưới như con, cháu, chắt, chít… Không cần thiết phải áp dụng mà chỉ cúng ngày giỗ chính. Vào ngày cáo giỗ, trưởng gia mang lễ ra mộ mời vong hồn về, sửa sang lại mộ phần cho ngay ngắn.
  • + Ngày cáo giỗ, bàn thờ được dọn dẹp, lau chùi sạch sẽ từ sáng sớm để chuẩn bị cho việc cúng lễ Tiên Thường vào buổi chiều. Họ hàng nội ngoại thường gửi giỗ và sửa soạn để làm giỗ hôm sau.
  • + Lúc đầu sẽ cúng gia tiên và con cháu sẽ ăn uống với nhau. Phải cúng Công thần Thổ Địa trước, Gia Tiên sau. Bàn thờ lúc nào cũng hương khói nghi ngút cho đến hết lễ Chính Kỵ vào buổi sáng hôm sau.
  • + Khi cúng, Gia chủ cần phải cúng để mời người được hưởng giỗ trước, tiếp theo mới đến mời Gia tiên nội/ngoại từ bậc cao nhất đến thấp nhất và cáo thỉnh Gia thần cùng về đây để dự tiệc Giỗ.
  • + Nếu trước ngày giỗ bố thì phải khấn là: Hiển khảo
  • + Nếu trước ngày giỗ mẹ thì phải khấn là: Hiển tỷ
  • + Nếu trước ngày giỗ ông thì hải khấn là: Tổ khảo
  • + Nếu trước ngày giỗ bà thì phải khấn là: Tổ tỷ
  • + Nếu trước ngày giỗ cụ ông thì phải khấn là: Tằng Tổ Khảo
  • + Nếu trước ngày giỗ cụ bà thì phải khấn là: Tằng Tổ Tỷ
  • + Nếu trước ngày giỗ anh em thì hải khấn là: Thệ huynh, Thệ đệ
  • + Nếu trước ngày giỗ chị em thì phải khấn là: Thể tỵ, Thể muội
  • + Nếu trước ngày giỗ cô dì chú bác thì phải khấn là: Bá thúc Cô Di, Tỷ Muội

    Hoặc khấn chung là Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ nghĩa là nội ngoại Gia Tiên.

Văn khấn giỗ ngoài mộ đúng chuẩn thầy cúng:

  • Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
  • Con kính lạy Đức Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.
  • Con kính lạy ngài Bản gia Táo Quân, ngài Bản gia Thổ Công, Long Mạch, Thần Tài.
  • Con kính lạy các ngài Thần linh cai quản trong xứ này.
  • Hôm này là ngày ….. tháng ….. năm …………………(Âm lịch).
  • Tín chủ (chúng) con là:…………………………………Tuổi……………….
  • Ngụ tại:………………………………………………………………………………..
  • Nhân ngày mai là ngày Giỗ (hoặc giỗ đầu) của………………………………………………….
  • Chúng con cùng toàn thể gia quyến tuân theo nghi lễ, sắm sửa hương hoa lễ vật kính dâng lên trước án tọa Tôn Thần cùng chư vị uy linh, kính cẩn tâu trình.

    Kính cáo Bản gia Thổ Công, Táo Quân, Long Mạch và các vị Thần linh, cúi xin chứng minh, phù hộ cho toàn gia chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành.

  • Kính thỉnh các Tiên linh, Gia tiên chúng con và những vong hồn nội tộc được thờ phụng vị cùng về hâm hưởng.
  • Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.
  • Phục duy cẩn cáo!

# Bài văn khấn ngoài mộ cuối năm 2021

  • Nam mô a di đà Phật!
  • Nam mô a di đà Phật!
  • Nam mô a di đà Phật!
  • Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
  • Con kính lạy ngài Địa tạng vương bồ tát.
  • Con kính lạy ngài Kim Niên Đương cai Thái Tuế Chí đức Tôn thần, Kim niên hành binh, Công tào Phán quan.
  • Con kính lạy ngày Bản cảnh Thành Hoàng Chư vị Đại Vương quản cai nơi nghĩa trang.
  • Con kính lạy Ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa Tôn thần.
  • Con kính lạy các ngài Ngũ phương, Ngũ thổ Long Mạch Tôn thần, các ngài Tiền Chu Tước, Hậu Huyền Vũ, Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ cùng liệt vị Tôn Thần cai quản trong nơi nghiã trang này.
  • Con kính lạy hương linh ông(bà, anh, chị):…………
  • Hôm nay là ngày… …….tháng Chạp, năm cũ sắp qua, năm mới sắp đến.
  • Tín chủ (chúng) con là:…………………….
  • Ngụ tại:……….
  • Chúng con sắm sanh phẩm vật, hương hoa trà quả, kim ngân tài mã, dâng hiến trình cáo Tôn thần, kính rước vong linh bản gia tiên tổ chúng con là:……………kỵ nhật là…….có phần mộ táng tại…………được về với gia đình đón mừng năm mới, để cho cháu con được phụng sự trong tiết xuân thiên, báo đáp ân thâm, tỏ lòng hiếu kính. Cúi xin Tôn thần, Phủ thùy doãn hứa.
  • Âm dương cách trở. Bát nước nén hương. Thành tâm kính lễ. Cúi xin chứng giám.

    Phù hộ độ trì.

  • Nam mô a di đà Phật!
  • Nam mô a di đà Phật!
  • Nam mô a di đà Phật!.

# Bài văn khấn ngoài mộ ngày thanh minh

Theo quan niệm dân gian, một năm có 24 tiết khí, trong đó tiết Thanh Minh (hay còn gọi là Tết Thanh Minh) là tiết khí thứ 5. Thanh Minh theo tiếng Hán Việt có nghĩa là trời trong sáng, quang quẻ, vì thế tiết Thanh Minh là khoảng thời gian thời tiết chuyển dần từ nồm ẩm sang mát mẻ, sạch sẽ, không còn những cơn mưa phùn ẩm ướt. Tết Thanh minh năm 2021 là ngày nào theo dương lịch và âm lịch? Tết Thanh minh năm 2021 đúng vào 5/4/2020, tức ngày 13/03/Canh Tý.

Sắm lễ tảo mộ Thanh Minh thường có hương đèn, trầu cau, tiền vàng, rượu thịt (chân giò, gà luộc hoặc một khoanh giò nạc độ vài lạng), hoa quả. Ngoài ra tùy theo điều kiện từng gia đình có thể chuẩn bị thêm những thứ khác theo sở thích. Khi đến nghĩa trang, gia chủ chớ vội làm lễ ở phần mộ tổ tiên gia đình mình mà phải đặt lễ vào chỗ thờ chung và thắp nhang khấn các vị thần linh, thổ địa cai quản khu vực có mộ phần trước.

Trong lễ tảo mộ, các gia đình không chỉ sửa sang, quét dọn, dâng lễ lên phần mộ của ông bà tổ tiên mà còn cần kính cẩn làm lễ báo cáo với các vị thổ địa, thần linh cai quản nghĩa trang. Vậy nên có hai bài văn khấn gia chủ cần lưu ý, một là bài văn khấn Âm phần long mạch, kính cáo với thần linh cai quản khu vực đặt phần mộ tổ tiền và một bài khấn vong linh tiên tổ của gia đình mình.

+ Văn khấn Âm phần long mạch, sơn thần thổ phủ:

  • Nam mô A Di Đà Phật (3 lần)
  • Con lạy chín phương trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương.
  • Con kính lạy hoàng thiên hậu thổ, chư vị tôn thần.
  • Con kính lạy các ngài thần linh bản xứ cai quản trong khu vực này.
  • Hôm nay là ngày… tháng… năm Đinh Dậu (đọc ngày tháng âm lịch)
  • Tín chủ chúng con là:… (đọc tên của bạn)
  • Ngụ tại: số nhà… phường… quận,… thành phố… (địa chỉ của nhà bạn)
  • Nhằm tiết thanh minh, tín chủ con thành tâm thành kính sắm sửa lễ lạt, có lá trầu quả cau, trà quả, hương hoa, thắp nén tâm hương kính dâng trước án, kính mời chư vị tôn thần lai lâm chiếu giám.
  • Gia đình chúng con có ngôi mộ của: cụ tứ đại, tam đại hoặc của ông bà, cha mẹ táng tại xứ này, nay muốn sửa sang xây đắp. Vì vậy chúng con xin kính cáo các đấng thần linh, thổ thần, long mạch, tiền chu tước, hậu huyền vũ, tả thanh long, hữu bạch hổ và chư vị tôn thần cai quản trong khu vực này.
  • Chúng con kính mời các vị chư thần về đây chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho vong linh được an nhàn yên ổn, siêu thoát. Cúi xin các vị phù hộ độ trì cho tín chủ chúng con toàn gia mạnh khỏe, 3 tháng mùa hè, 9 tháng mùa đông đều được mạnh khỏe, tươi tốt, cứng minh chứng giám lòng thành gia đình chúng con.
  • Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

+ Văn khấn vong linh tiên tổ tại mộ phần:

  • Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)
  • Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương
  • Con kính lạy Hương linh………(Hiển khảo, Hiển tỷ hoặc Tổ Khảo…)
  • Hôm nay là ngày. . ………….
  • Nhân tiết:……………………..
  • Tín chủ (chúng) con ……….
  • Ngụ tại:………………………
  • Chúng con và toàn thể gia đình con cháu, nhờ công ơn võng cực, nền đức cao dầy, gây dựng cơ nghiệp của………….. chạnh lòng nghĩ đến âm phần ở nơi hoang vắng, tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương kính dâng trước mộ, kính mời chân linh……. . lai lâm hiến hưởng.
  • Chúng con xin phép được sửa sang phần mộ, bồi xa, bồi thổ, cho được dầy bền, tu sửa minh đường hậu quỷ cho thêm vững chắc. Nhờ ơn Phật Thánh phù trì, đội đức trời che đất chở, cảm niệm Thần linh phù độ, khiến cho được chữ bình an, âm siêu dương thái. Con cháu chúng con xin vì chân linh…….. Phát nguyện tích đức tu nhân, làm duyên, làm phúc cúng dâng Tin Bảo, giúp đỡ cô nhi quả phụ, tế bần cứu nạn, hiếu thuận tông nhân để lấy phúc này hướng về Tiên Tổ.
  • Cúi xin linh thiêng chứng giám, thụ hưởng lễ vật, phù hộ độ trì con cháu, qua lại soi xét cửa nhà. Che tai cứu nạn, ban tài tiếp lộc, điều lành mang đến, điều dữ xua đi. Độ cho gia đạo hưng long, quế hờ tươi tốt, cháu con vinh hưởng lộc trời, già trẻ nhuần ơn Phật Thánh.
  • Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin chứng giám.
  • Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)

【#10】Văn Khấn Bài Cúng Thất

  • Cúng thất là một nghi lễ Phật giáo thỉnh thoảng tôi cũng hay được mời tham dự nơi những ngôi chùa, do chư tăng cử hành. Nếu những nghi lễ khi tang lễ có thể có mặt nhiều người ngoài gia đình, họ hàng, thì cúng thất thường chỉ bao gồm những người thân trong gia đình người quá cố, và một số ít họ hàng thân thuộc, cúng thất có thể được cử hành tại gia với những nhà sư được mời tới nhà, nhưng thường được cử hành tại chùa, là nơi thờ phượng đặt tro cốt của người quá cố.
  • Cúng thất là một nghi thức quan trọng bên Phật giáo dành cho người mới khuất, cúng thất bao gồm 7 thất, mỗi thất 7 ngày, vị chi là 49 ngày kể từ ngày mất. Theo quan niệm truyền thống dân gian, con người khi sinh ra sau 7 ngày thì được một lạp, và khi mất sau 7 ngày thì được một kỵ. Mỗi lạp thì sinh ra một vía, còn mỗi kỵ thì mất đi một vía. Con người có 7 vía (chúng ta thường hay nghe nói réo 3 hồn 7 vía), cho nên người ta có lệ cứ 7 ngày sau khi mất cúng một lần, gọi là cúng thất, tất cả bao gồm 7 thất, thất cúng cuối cùng gọi là chung thất, trọn 49 ngày,
  • Trong kinh Địa Tạng của Phật giáo, có nói đến trong 49 ngày nếu tạo được nhiều phước lành cho người đã khuất, thời có thể cứu người đã khuất khỏi đọa vào chốn ác đạo, và được sinh lên cõi thiện. Đối với thân quyến hiện tại cũng được nhiều phước lành. Cứ 7 ngày như thế là một tuần chay, cúng 7 tuần chay trọn 49 ngày gọi là “Thất thất lai tuần”. Như chúng ta đã biết triết lý Phật giáo tin rằng khi chưa dứt khỏi luân hồi, thì con người luân hồi trong lục đạo, gồm 3 ác đạo là Súc sanh, Ngạ quỷ, Đia ngục, và 3 thiện đạo là Cõi người, A tu la (Phi thiên), và Thiên.
  • Tín ngưỡng Phật giáo tin rằng trong vòng 49 ngày sau khi mất (Thân trung ấm), là thời gian hồn phách của con người chờ được xem xét để tái sinh trong lục đạo (một trong sáu cõi kể trên). Nếu thực vật chỉ có một phần sinh hồn, động vật (các loài vật) có sinh hồn và giác hồn, thì con người có sinh hồn, giác hồn, và linh hồn (3 hồn 7 vía).
  • Trong vòng 49 ngày mất chúng ta thường thấy mỗi ngày người trong gia đình cúng cơm cho người đã khuất, cúng cơm này là cúng cho người đã khuất hưởng khi chưa biết sẽ về đâu. Nhưng cúng thất không phải là cúng cho người đã khuất, mà đây là lễ vật dâng cúng lên chư Phật, Bồ Tát để cầu xin vong linh được tiếp dẫn, siêu thoát về nơi Thiện đạo (3 cõi lành trong 6 cõi luân hồi).
  • Trong nghi lễ cúng thất được cử hành tại chùa tôi đã có dịp tham dự, thường thấy có một vài cho đến vài chục chư tăng cử hành lễ, tùy theo yêu cầu của gia chủ. Như vào dịp An cư kiết hạ vừa rồi, nhân có các chư tăng về an cư, tại một Tu viện Phật giáo tôi đã được tham dự một lễ cúng chung thất có đến 50 chư tăng hành lễ, rất trang trọng và ấn tượng. Tôi cũng thường thấy trong nghi lễ có phóng sinh chim chóc để cầu phước cho người quá vãng.
  • Nhân đây tôi cũng muốn nói thêm về một tục lệ dân gian chúng ta thường thấy trong đám tang tôi đã đọc được trong sách vở, là tục đội mũ rơm, thắt lưng bằng dây gai dây chuối, và chống gậy tre hay gậy vông. Nguyên do của tập tục này lại chính là để bảo vệ an toàn cho thân nhân người quá cố. Ngày xưa đường xá chật hẹp, người quá vãng thường được an táng nơi đồng ruộng, hay trên núi. Đường xá đi lại trơn trượt, khó khăn, đã có trường hợp sau mấy ngày tang ma mệt mỏi, người đi đưa mất thăng bằng ngã đập đầu hay rơi xuống vực, cũng có khi con cái quá thương tiếc tự đập đầu gây thương tích. Để tránh những điều đó người ta mới làm ra những chiềc mũ bện bằng rơm cho người thân đội (tạo an toàn khi va đập giống như mũ bảo hộ chạy xe gắn máy bây giờ). Áo tang lụng thụng dễ vướng víu vấp ngã nên được buộc lại bằng giây chuối, giây lạt, còn cây gậy chống cũng có tác dụng đi lại thêm vững chắc trên đường trơn trượt hay đường núi gập ghềnh. Tục phân biệt tang cha chống gậy tre còn tang mẹ chống gậy vông.

Bài văn khấn, cúng làm tuần ( cúng vong ) hoặc lễ cúng 7, 14, 21, 28, 35, 42, 49, 100 ngày người mất. khấn vái cúng thất tuần người mới mất

    VĂN CÚNG LÀM TUẦN

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    ……………….tỉnh,……………..huyện,……………….xã,………….thôn, ………….xứ chi nguyên. Tuế Thứ………..niên,………………….ngoạt,………………..nhựt Tư nhơn trưởng nam…………..Hiền thê………………cùng toàn gia đẳng. Cung lễ……………phụ thân ( mẫu thân)…………trọng phủ………………..trọng nương;……………..quận. Từ trần ngày……….tháng……….năm……….hưởng………tuổi. Thành tâm cẩn dụng…hương đăng hoa quả thanh chước thứ phẩm chi nghi. Cẩn ủy hiếu bái…………………..cẩn dĩ phỉ nghi. ĐIẾU CÁO VU – Thiết niệm ngài (1)Thái Quản nhờ ơn độ dẫn vong linh phục vị vong chánh hồn chi vị. – Cung niệm hiển khảo (tỷ) …….trọng………..quận phần hồn chi vị lễ tuần linh. Toàn gia đẳng xin bái khấp phụ (mẫu) thân. Thương thay xin thượng hưởng lễ (2) sơ tuần thất nhựt tuần (3) 7 ngày. Qui linh an lạc miền tiên cảnh. Xin phò hộ con cháu gia nương bình an.

    HIẾU TƯ CẨN CÁO DI

Nên Cúng Cơm Cho Người Chết Như Thế Nào Và Trong Bao Lâu?

    Theo nhà Phật giáo lý “sanh lão bệnh tử” là quy luật tự nhiên trong quá trình duyên khởi, giúp cho con người có ý thức hệ về cuộc sống ra sau cho tốt, sống như thế nào có ích lợi cộng đồng và theo quy luật tất yếu nghiên cứu tu hành giải thoát khổ đau sanh tử luân hồi. Sanh lão bệnh tử là quy luật tất yếu nhưng không có tín điều sắp sẳn, được áp dụng cho chúng sanh chung và con người trên hành tinh, có công năng giúp cho con người giác ngộ. Sanh trụ dị diệt là lực đẩy, không ai có thể tránh những quy luật cộng đồng. Sống chết là việc có sẵn trong cuộc đời, từ giáo lý nầy mà nhà Phật cân nhắc để chúng sanh giác ngộ, hướng dẫn chúng sanh nhất là con người có thể vượt quy luật sống chết bằng cách sống theo đời sống tâm linh. Vì tâm linh thì vô biên, vô bờ bến, không sanh không diệt, tức là không có sanh ra nên không có chết đi và không có tìm kiếm sự tồn tại nên không trốn chạy sự hủy diệt, bất sanh bất diệt là thường trụ niết bàn. Phật là tĩnh thức giác ngộ. giác ngộ thì không còn nằm trong quy luật sanh tử, thành, trú, họai, không nữa. Tuy nhiên, nhà Phật cũng dạy, con người do mang thân tứ đại, gồm đất, nước, lửa, gió, thêm cả thức đại, không đại, nên có hòa hiệp, có tan rã, có hiện tiền có họai diệt, tức có sống, có chết. Con người từ Vua đến Quan đến hàng thứ dân, dân giả giàu nghèo khi hưng thời thì oai phong lẫm liệt, lúc già cỗi hưu trí ngẫm nghĩ lại cuộc đời, có sự tiếc nuối sợ chết, sợ tử thần đến viếng nhà thì không ổn. Từ khi có giáo lý Đức Phật con người không còn kinh hoàng trước cái tham sống sợ chết nữa.

Phong tục tập quán

  • Phong là phong hóa, một thói quen nhất định của một dân tộc, của người địa phương trở thành nếp văn hóa chung của một dân tộc. Tục là tuc lệ những thói quen không bỏ được nhự tục ăn trầu, hút thuốc, tục đám ma chay rườm rà…Tuy nhiên, có thời điểm những phong tục trở thành lạc hậu, chỉ còn là một nếp văn hóa của một dân tộc địa phương nào đó trong đời người. Tập quán là thói quen của con người trong một vùng miền hay một quốc gia, tập quán con người trong một sớm một chiếu khó có thể bỏ được và nếu có bỏ chỉ là thời điểm lịch sử, ví như người dân quê Việt Nam đến mùa cấy thì có người đứng đầu trong “vạn cấy” thổi tù và để gom công, Tuy nhiên, ngày nay có thể bỏ khi người nông dân phục vụ cho nông trường làm tính giờ, không tính công.
  • Phong tục tập quán về việc tổ chức tang lễ của người Việt. Nói đến tang lễ là nói đến chết, nói đến chết là nói đến việc làm đám tang (tang lễ). Chúng ta sẽ tìm hiểu một số lễ tang của các nước lân bang và Việt Nam, sau đó sẽ bàn đến chi tiết khi gia đình hữu sự và hậu sự thực hiện các nghi cúng cho đủ lễ
  • Lễ tang cho gia đình Phật tử theo hệ thống Phật giáo Nam tông, cụ thể như ở vương quốc Lào là nước thuộc quốc giáo Phật giáo nguyên thủy. Trong gia đình có người qua đời tất cả đều vui, hát ca ngâm vịnh, rượi thịt, vui vì người thân sẽ chuyển sang kiếp khác sung sướng hơn, bà con hàng xóm láng giềng tụ tập phụ khâm liệm người chết, đặt áo quan vào một gốc nhà, cho hàng xóm láng giềng đến cúng lạy. Mọi người đến viếng lễ tang được mời sang nhà khác đãi ăn uống, lễ tang được tổ chức ba ngày, hoặc bốn ngày tùy theo quý Sư phán định. Ngày cuối cùng tang chủ và mọi người đem đi hỏa thiêu, sau đó hốt tro cốt đem vào chùa gần nhất phụng thờ. Từ đó mỗi năm gia đình đến thăm cúng giỗ, cúng dường chùa (Bài học thêm – sách địa lý Lớp Đệ Nhất 1969 – nói về phong tục lễ táng của người Lào)
  • Lễ tang xứ Tây Tạng-Trung Quốc, là xứ sở có đá không có đất, không có rừng, không có gỗ làm củi. Gia đình có người qua đời, sau khi làm lễ tang xong, đội mai táng đem người chết ra bãi tha ma, phân thây người chết bằng cách, chặt từng mảnh nhỏ thân thể người chết, bằm nhỏ cho loài chim kên kên đến tha mổ ăn cho đến khi hết những phần thịt xương của người chết mới thôi, phong tục nầy gọi là “điểu táng” (Ánh sáng Á châu – Đoàn Trung Còn)
  • Lễ tang theo Phật giáo Hòa Hảo ở An Giang, miền Tây Nam phần Việt Nam. Ban Tổ chức thường đến tụng kinh cầu an lúc sanh tiền, đến khi chết tụng kinh cầu siêu cho vong hồn người chết nghe kinh, nghe niệm Phật mà siêu thoát về với Phật A Di Đà. Lễ Tang chỉ tổ chức một ngày từ sáng đền chiều, thì động quan an táng gọi là “tử là táng”. Lễ tang theo đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, Phật giáo Tứ Ân ở Ba Chúc, huyện Tri Tôn, Nhà Lớn Ông Trần ở Long Sơn, Bà Rịa thì con người sau khi chết thân xác được bó trong 7 “nẹp tre” khiêng đem đi chôn trong vòng một ngày đó. Điều ngày có nghĩ tang lễ cũng theo phung tục tập quán “tử là táng” chết là chôn cất, không coi ngày giờ năm tháng xấu hay tốt lành chi cả (Tổ đình Thành An – Thích Minh Tâm). Tục nầy giúp cho con người tự tin hơn vì không tin vào lý số, nên không có ngày kỵ, không hao tốn tiền của, không sát sanh hại vật.

Lễ phạn hàm

  • Những việc làm trong lễ tang thì nhiều, thật là phức tạp. Một Thầy cúng khi lãnh đàm quý Thầy thực hiện từng chi tiết nhỏ không sai sót chút nào. Khi người thân trút hơi thở, gia quyến sẵn sàng làm các việc gần gũi người thân, như làm lễ hú hồn, lễ đốt đồ cũ. Người Phật giáo thì dọn dẹp hết tất cả các vật dụng của người chết, vật dụng của gia đình, ghế đẳng sắp xếp có thứ lớp để mọi người đi tới lui không dụng chạm khua động lớn, làm chấn động người chết, thần thức nổi sân sẽ bị đọa lạc. Gia đình thỉnh đạo tràng nam nữ Phật tử chùa gần nhất đến hộ niệm, niệm Phật đến qua khỏi 8 tiếng đồng hồ đến khi thân xác hoàn toàn không còn cảm giác “sống” đau đớn, hoặc cho đền khi làm lễ khâm liệm.
  • Lễ phạn hàm: Tiếp theo là làm lễ phạn hàm, hay ngậm hàm, phạn là lương thực cơm gạo, hàm là ngậm, tức là bỏ một nắm gạo và ba đồng tiền (đồng kẽm, đồng chinh) vào miệng người chết. Gạo để linh hồn người chết ăn, khỏi phải thành ma đói ( ngạ quỷ). Tiền dùng để đi đò hay qua cầu sang bên kia thế giới. Những người lúc sống ăn ở bạc ác thì lúc chết linh hồn phải qua cầu Nại hà. Người lương thiện được qua cầu Kim ngân. Ngày xưa nhà giàu dùng gạo và vàng, ngọc để làm lễ phạn hàm. Ở nông thôn miền Nam để trà, gạo, có khi là vài phân vàng, nếp sồng, đắp mặt người chết bằng tờ giấy trắng hoặc giấy quyền, loại giấy hút thuộc rê (vấn) (Phong tục tang ma – Nguyễn Dư)

Ba vắt cơm để trên đầu người chết

  • Cúng Phía đầu nằm người chết có đặt cúng 3 vắt cơm, 4 cây đền sáp đặt ở bốn gốc, không dâng hương. Có nơi dâng hương do người nhà không biết đó thôi vì dâng hương có mùi thơm bắt buộc mọi người phải ngửi, nếu ngửi thì ngửi luôn mùi xác chết, bất tiện mất vệ sinh quá, nên không dâng hương.
  • Lệ cúng 3 vắt cơm: Do quý Thầy cúng đã từng làm và chuyền nối nhau thực hiện từ lâu đời, 3 vắt cơm là biểu tượng của tam tài “Thiên Địa Nhơn” (theo Nho gia, Đạo gia), lúc người chết trở về với linh khí tinh nguyên của trời đất. Ba vắt cơm sau khi tẩm liệm xong đa phần các gia đình tin tưởng đem treo ở giàn bếp. Khi nào người nhà có bệnh hoạn hiểm nghèo đem ra đốt tán nhuyễn cho uống sẽ hết bệnh. Có nhiều nơi người thân quý mến người chết đem ăn luôn ba vắt cơm để thể hiện tình cảm với người chết, việc làm nầy quá mất vệ sinh dễ sanh bệnh đối với người ăn. Về sau những tu sĩ Phật giáo tiến bộ, tu sĩ chuyên tu lần lượt bỏ hình thức đặt ba vắt cơm cúng trên đầu người chết. (tác giả nhận định không phải truyền thống nhà Phật)
  • Đặt nải chuối xanh: Theo xưa có đặt nải chuối dằn bụng phòng linh miêu nhảy qua người chết sẽ hồi dương, người cõi âm nhập tràng, thành quỷ nhập tràng. Ở một thuyết khác câu chuyện bất đầu từ chàng trai sống chung với người mẹ già. Một ngày nọ chàng trai này lên rừng đốn và bất ngờ thấy cây chuối già xanh có hoài gần chín nên đã chặt đem về nhà để chín đem đi bán và ăn. Thế là chàng trai đã chặt buồng chuối này đèm về nhà. Khi đem về tới nhà thì không biết để đâu, cất đâu sợ mẹ già ở nhà thèm và đói ăn hết làm sau. Vì vậy chàng trai mới nghĩ ra cách là phải treo buồng chuối này lên cao để bảo quản. Thế là qua ngày hôm sau chàng trai lên rừng đốn củi tiếp thì ở nhà người mẹ chờ con về mà không thấy về trưa rồi nên cũng đói bụng thấy chuối con trai mình treo trên nhà bếp đã chín nên có ý định lấy chuối để ăn. Không ngờ là trèo lên thì bất ngờ ngã xuống bà cụ chết. Khi chàng trai về đến nhà thì gọi Mẹ ơi! Mẹ ơi! …Không nghe mẹ trả lời chàng trai mới vào nhà thì bất ngờ thấy mẹ mình đã chết vì trèo lên để lấy chuối ăn cho đỡ đói. Thế là chàng trai mới trách mình là tại mình mà mẹ mới chết. Khi mẹ chết trong nhà không cò gì hết chỉ có buồng chuối nên cậu ta mới lấy nải chuối còn xanh để trên bụng Mẹ mình nghĩ rằng mẹ mình đói bụng mà không ăn được nên bằng cách để trên bụng mẹ.. Sự tích về nải chuối để trên bụng người chết là vậy (trang mạng Văn hóa xã hội – tôn giáo, tâm linh – Đào Minh Định)

Lễ nhập quan, thành phục, thọ tang

  • Nhập quan: Linh cữu được khiêng ra đặt giữa nhà, người chết ngoài đời do nhà đồ làm tất cả các việc. Việc tẩn liệm bằng trà, cách đây 60 năm nhà đồ không có trà, nên đồ tẩn liệm bằng rơm quấn trong giấy mỏng gọi là giấy súc. Vật dụng nầy ngày nay không còn, mà để trà rồi để thêm những đồ cũ, vật dụng của người chết được đem theo. Kế đến đậy nắp áo quan, gắn sơn chai, đóng lại theo kiểu mang cá hoặc đóng đinh cho kín.
  • Thành phục: Là lễ phát tang, cũng là lễ chính thức của đám tang, phát tang, giúp cho các thành viên vợ chồng, dâu rể con cháu trực hệ trong gia đình thọ tang người chết, ông bà cha mẹ. Thọ tang là chịu tang đối với những người lớn hơn mình, hay ngang mình là vợ chồng không chịu tang với người chết thấp hơn mình và có lễ cúng cơm cho người chết.
  • Thọ tang: Tang ai nấy mặc. Có gia đình sang giàu thì may đồ tang bằng vải tốt. Có gia đình nghèo may đồ tang bằng vải bô, áo bả hài gai, vải mùng, vì nghĩ đồ tang chỉ có mặc trong thời gian ngằn rồi đốt, nên đa phần các gia đình không quan tâm vải tốt xấu lắm. Trong thập niên 50 Thầy cúng thường lấy đồ xả tang của gia chủ may quần áo rồi nhuộm lại màu đen rồi mặc.
  • Trong giới tu sĩ xuất gia thọ tang màu vàng để nói lên đây là việc thọ tang người xuất gia, xuất thế gian. Tang trong đạo không phải như con cháu thọ tang cha mẹ ngoài đời nữa, mà đệ tử thọ tang Thầy Tổ, những bậc Cao Tăng, do đó chư Tăng Ni thọ tang màu vàng là vậy.
  • Thứ bậc thọ tang: Theo thứ bậc trong gia đình mà thọ tang: – Con trai, con gái, rễ, dâu thọ tang trắng – Trai trưởng nam thọ tang trắng có chống gậy tang cha chống gậy trúc (tròn), tang mẹ chống gậy vông (vuông), đội bích cân – Anh hoặc các em của người mất thọ tang trắng – Cháu nội thọ tang trắng có chấm đỏ – Cháu ngọai thọ tang trắng có chấm xanh – Cháu cố thọ tang trắng có chấm vàng – Cháu kêu bằng chú thọ tang trắng. Trong thời gian thọ tang, con cháu đi làm ăn hay đi làm việc đều có mang tang màu đen hay màu trắng, tùy theo màu áo mậc trong mình kich thước 2 cm x 1,5 cm.

Cúng cơm trong lễ tang:

  • Cúng cơm: Phải cúng như thế nào cho đúng, tại bàn vong linh có cúng 3 chén cơm, đồ ăn, hương hoa trà quả. Cơm gồm một chén giữa đầy cúng cho vong linh người mới chết, hai chén hai bên thì hơi lưng để hai bên, biểu hiện hai bên vai giác, kiến cho những người hầu cận vong linh Thầy cúng gọi là Tả mạng thần quang, Hữu mạng thần quang. Có nơi cúng 3 chén, có nơi cúng 6 chén, không nên để 5 chén là sai. Ý nghĩa chén cơm ở giữa có cắm đôi đũa, hai chén cơm hai bên mỗi chén một chiếc đũa là cúng cơm cho vong linh (ma mới) mới ăn. Tuy nhiên, nếu hai bên để mỗi nơi một đôi đũa nữa thì các cô hồn (ma cũ) sẽ đến dành giựt, vong mới không được ăn, nên có thành ngữ “ma cũ ăn hiếp ma mới” là vậy. Theo quý Thầy cúng thì nghi thức nầy không phải của Phật giáo, mà chỉ làm theo tục lệ tín ngưỡng dân gian từ xa xưa lưu truyền lại.
  • Thuyết khác, ý nghĩa cúng 3 chén cơm chén giữa đầy dành cúng cho vong linh mới chết, có cắm một đôi đũa. Hai chén hai bên có cắm mỗi chén một chiếc đũa dành cho người giữ vong linh ăn chậm hơn vong linh chánh, nếu không thì vong linh chánh sẽ bị dành giựt, ăn không kịp. Đây cũng là tục lệ văn hóa vùng, tục cúng kiến riêng tại các địa phương trong dân gian Trung quốc có ảnh hưởng đến tục lệ Việt Nam (theo Đại Đức Thạc sĩ Thích Thiện Huy các tục lệ trên chỉ có truyền khẩu trong dân gian, xưa bày nay vẽ chứ không có trong nhà Phật)
  • Theo tuc miền Trung trên nóc áo quan bày một bát cơm úp, cắm một chiếc đũa vót cho sơ ra như gai nhọn (có nơi gọi là chiếc đũa bông), một quả trứng luộc, ba nén hương. Bát cơm, quả trứng, có thể là bữa ăn để linh hồn người chết khỏi trở thành ma đói. Nhưng chiếc đũa có gai nhọn thì chắc chắn không phải là để dùng ăn cơm. Không ai có thể ăn với một chiếc đũa như thế. Chiếc đũa bông nhiều gai nhọn có ý nghĩa không cho giặc cướp lấy cơm của người chết và trừ ma quỷ hiếp đáp vong linh (Phong tục tang ma – Nguyễn Dư). Đến ngày động quan, Thầy cúng kêu làm lại chén cơm có để trứng gà luộc mới, một đôi đũa bông, chén cơm mới để lại trên nắp áo quan, đến khi đem ra huyệt chôn cất xong, Thầy cúng hướng dẫn để chén cơm, trứng luộc, đôi đũa bông trên nấm mộ, nhiều nơi còn đặt thêm mớ bùi nhùi. Tục nầy mang ý nghĩa chúc tụng: “mớ bùi nhùi tượng trưng cho thế giới hỗn mang; trong hỗn mang hình thành nên thái cực (bát cơm); thái cực sanh ra lưỡng nghi (đôi đũa). Có lưỡng nghi (âm dương) là có sự sống (quả trứng)”.
  • Thầy cúng: Xưa chỉ một, nay có rất nhiều Thầy dự có tổ chức thành Ban gọi là Ban kinh sư từ 4 đến 6, hoặc 8 vị có trách nhiệm điều hành đám tang. Ban Kinh sư hướng dẫn như thế nào làm như thế nấy, Thầy cúng khi lãnh đám tang có trách nhiệm cúng cơm vào buổi sáng, trưa, chiều, có nơi cúng trưa và chiều.
  • Tu sĩ Phật giáo, người xuất gia, Sa môn viên tịch chỉ cúng cơm ngọ thời, không cúng cơm chiều.

Lo hậu sự là báo hiếu

  • Hậu sự là lo việc báo hiếu, cúng kiến người chết sau lễ tang. Trong đời dù Bạn có làm việc quan được trọng thị ở thế gian đến đâu, nhưng không thể bỏ bê việc cúng kiếng ông bà cha mẹ từ lúc người còn sống đến những ngày cuối cùng cho đến khi qua đời. Lễ tang tuy không bận rộn lắm nhưng được ràng buộc bởi đạo hiếu nghĩa, đạo làm con cháu với người trên trước, đạo làm người đối với người đã qua.
  • Ngoài đời những người có hiếu đạo bao giờ cũng được tôn kính trọng dụng, mọi người tin tưởng, là chỗ dựa tinh thần của gia đình. Đôi khi lan tỏa đến xã hội và là người tiêu biểu trong xã hội xóm làng. Người xưa tôn trọng đạo hiếu, ông bà cha mẹ qua đời, phận làm con có khi là con trai trưởng nam, hoặc con lớn, con trai con gái lớn cạo tóc để thọ tang thờ cúng người thân qua đời trong thời gian 3 năm. Có khi mỗi đêm trải chiếu, nằm cạnh bàn thờ vong để dâng hương cho vong linh, hoặc cũng có khi cao đầu, ăn chay trường ba năm để cầu cho người qua đời được gần gủi Phật, nghe kinh mau siêu thoát luân hồi, tái sanh vào chỗ tốt lành.
  • Theo Hiếu kinh của Mạnh Tử dạy: khi cha me qua đời, dù cho con có làm quan lớn ở cấp bậc nào đi nữa cũng phải mặc áo bả hài gai, cất chòi ngoài mộ để cúng kiếng, đêm nằm canh giữ quạt mồ cha mẹ đúng ba năm cho mồ khô ráo để tỏ lòng tôn kính (theo đạo hiếu. Khổng giáo, Lão giáo).
  • Trong Đại Luật mặc dù chuyên hoằng giới nhưng Đức Phật cũng thường cân nhắc môn đệ xuất gia cũng như tại gia giữ đạo hiếu. Kinh Phạm Võng Bồ Tát giới Đức Phật dạy: “Hiếu thuận đối với cha mẹ, Sư trưởng, chư Tăng, đối với Tam bảo, sự hiếu thuận phù hợp chánh pháp chí thượng, sự hiếu thuận ấy gọi là giới, cũng gọi là năng lực chế ngự, đình chỉ mọi sự tội lỗi”.
  • Con cháu nhà Phật muốn báo hiều trọn vẹn thì tự phát tâm tụng kinh Bộ cầu nguyện cho ông bà cha me tại gia lúc sanh tiền cũng như khi qua đời, phát nguyện ăn chay trường, hoặc phát tâm rước chư Tăng Ni đến tụng kinh Địa Tạng. Tùy theo hoàn cảnh kinh tế gia đình làm việc từ thiện xã hội giúp đỡ người nghèo giúp cho họ qua cơn họan nạn, làm việc phóng sanh, ấn tống kinh sách Phật giúp cho người cải ác tùng thiện, đi cúng thập tự cầu cho ông bà cha mẹ siêu sanh Tịnh độ đó mới là đạo hiếu của Nhà Phật và có kết quả thực tế. Đức Phật dạy: ” Hiếu với Mẹ Cha tức là kính Phật. Nếu ở đời không có Phật thì hãy khéo thờ cha mẹ. Khéo phụng thờ Cha mẹ như phụng thờ Phật vậy” (Kinh Đại Tập)
  • Nhân nói việc lễ tang và lo hậu sự là báo hiếu ông bà cha mẹ đã qua, Đức Phật còn quan tâm đến những lúc ông bà cha me tại tiền, khi cha mẹ còn làm con phải hết lòng hiếu thuận, niềm tin vững vàng với Thầy Tổ, Tam Bảo. Cho nên đạo Phật còn gọi là Đạo Hiếu…”

Cúng cơm sau lễ tang

  • Sau lễ tang mọi người đều mệt mỏi. Tuy nhiên, đối với người còn ở lại dù khổ đau bao nhiêu cũng phải tỉnh táo để lo việc cúng kiếng, các lễ cúng đối với vong linh. Nhất là lễ cúng cơm là lễ quan trọng trong đạo hiếu. Người có lòng hiếu thảo hay không phải xem cung cách đối xử của con cháu đối với người đã qua, ai hiếu thảo, ai không hiếu thảo. Lời Phật dạy: “vạn hạnh Bồ tát hiếu nghĩa vi tiên”, trong các hạnh Bồ tát thì hiếu đạo là việc trước tiên. Phật xưa thị hiện vao đời cứu chúng sanh, có khi thị hiện làm con, lúc cha mẹ mù lòa, muốn đi đâu con phải gánh cha gánh mẹ giúp cha me đi đây đi đó cho thỏa dạ. Cha mẹ đói khát con lóc thịt thân mình cho cha mẹ ăn, để đổ đói qua ngày (Kinh Đại phương tiện Phật Báo Ân – bản dịch HT Thích Trí Tịnh).
  • Việc lễ tang ngày nay dù chúng ta biết có nhiều hủ tục cần bỏ bớt, nhưng những việc còn lại phải làm, làm cho chí vóc, làm cho đầy đủ không được sai sót, như:
  • Cúng an sàng: Là an vị vong linh, sau khi hạ huyệt chôn cất xong, đem vong vị về tại nhà, thiết lập bàn thờ vong, an sàng linh vị, cũng gọi cúng an sàng. Bàn thờ nầy dành để cúng vong, cúng cơm sau lễ tang. Việc cúng kiếng nầy được thực hiện đến khi mãn tang (mãn khó), sau đó thỉnh vong linh thờ cúng chung với bàn thờ cửu huyền (thờ cúng ông bà) và mọi năm cúng giỗ tưởng niệm người đã qua.
  • Cúng mở cửa mộ: Còn gọi là mở cửa mả hay khai mộ, sau lễ an sàng, tức là từ khi chôn cất đến ngày thứ ba mọi người trong gia đình ra thăm mộ có đem theo lễ vật cúng, như: thang 9 bậc đối với người nữ, thang 7 bậc đối với người nam. Cây thang 5 tấc tượng trưng cho ngũ thường, 3 ống trúc đựng gạo nước tượng trưng cho tam cang, gà con kêu chi chít, tiếng kêu của gà con làm cho vong linh đã chết sau 3 ngày tỉnh thức biết đường lên khỏi mộ, cây mía lau tượng trưng cho công lao của cha mẹ lo cho con cái đến ốm o gầy mòn như cây mía, nhưng vẫn ngọt ngào với con. Ngoài các vật dụng đặc biệt trên còn có chè xôi, tam sên (hay tam sanh, gồm thịt, tôm, trứng luộc), trái cây, rượu, trà, gạo, muối, giấy tiền vàng bạc, trầu cau…Ở nhà cúng 4 mâm cơm, cúng ông bà, đất đai, cô hồn, cúng vong.
  • Cúng thất: lấy dấu mốc ngày người chết là ngày thứ nhất đến ngày thứ bảy làm lễ cúng thất, cúng tuần thất, 7 ngày, Nghi thức cúng thất bắt đầu từ buổi chiều ngày trước khoảng 16 giờ, tức ngày còn sống, rước Thầy đến cúng khai kinh, có sắm hương hoa trà quả, chè xôi, cúng tất cả các bàn thờ trong nhà, như cúng ông bà, cúng đất đai, cúng vong linh người chết và một mâm cúng cô hồn. Ngày hôm sau huờn kinh, không có cúng cơm. Nghi thức các lễ cúng thất đều giống nhau.
  • Cúng 21 ngày: tức là cúng thất thứ ba, 7 x 3 = 21 ngày gọi là tuần tam thất
  • Cúng 49 ngày gọi là cúng thất thứ bảy 7 x 7 = 49 ngày gọi là cúng 49 ngày hay gọi cúng tuần chung thất
  • Cúng 100 ngày trong thời gian nầy từ khi người thân qua đời đến ngày thứ 100. Trong những lúc gia đình ăn cơm vào buổi trưa và chiều con cháu có để bát cơm trên bàn ăn và một đôi đũa, mời ông bà về ăn rồi mới ăn, gọi là trả hiếu ông bà cha mẹ, cho đến khi nào phôi pha sự đau buồn cuộc tử biệt sanh ly mới thôi.
  • Cúng giáp năm cũng gọi là cúng Tiểu tường.
  • Cúng mãn tang, cũng gọi mãn khó, cũng gọi là Đại tường… Các nghi cúng 21 ngày, 49 ngày, 100 ngày, cúng giáp năm, cúng mãn tang vẫn y như lễ cúng mỗi tuần thất, có khai kinh và huờn kinh.
  • Nghi thức cúng dành cho người xuất gia viên tịch hình thức như nhau, nhưng có khác nội dung do Ban kinh sư chịu trách nhiệm biên soạn.
  • Việc cúng cơm cho người chết ngoài thế gian ông bà già xưa quy định con cháu phải cúng cơm hằng ngày, trưa, chiều đủ 3 năm mới hết cúng. Ngày nay các Thầy cúng giảm chế bớt lý do con cháu đi làm ăn xa, người ở ngoai quốc, nhà đơn chiếc, nên chỉ còn cúng cơm đến 100 ngày thì ngưng. Rồi đến cúng tiểu tường, tròn một năm đối cha mẹ, người thân qua đời. Người Phật giáo, hoặc tu sĩ xuất gia, hàng giáo phẩm Tăng Ni trong chốn thiền môn, việc cúng kiếng dành cho các tu sĩ có phần trịnh trọng hơn nhiều. Các đệ tử thay phiên lo việc cúng cơm, làm các việc báo ân Thầy Tổ, nên việc cúng cơm được duy trì đến 3 năm mới không còn cúng nữa. Tuy nói 3 năm nhưng chỉ có 24 tháng là tới ngày cúng mãn khó, mãn tang, đại tường..Chúng ta cũng cần nên biết thêm việc tính ngày mãn tang, ngày giỗ chạp. Ngày cúng 100 ngày, cúng giáp năm, cúng mãn tang thì tính tháng nhuần, mặc dù có dư một tháng nhưng vẫn tính là 24 tháng, đàm giỗ thì tính nhuần, nhơn gian có câu : “đám giỗ tính nhuần, làm tuần tính đủ” là vậy.

  • Lễ tang là công việc quan trọng. Nhà có lễ tang thì mọi việc đều tạm ngưng, giảm bớt công việc ngoài xã hội để lo lễ tang cho ông bà cha mẹ. Đạo hiếu ở thế gian rất cần được phổ cập trong nhân gian thật nhiều, đem lại đạo đức hấp thụ thật nhiều cho con người, nhất là người hung ác hiện nay ngày càng nhiều. Phật giáo còn quan trọng hơn, nhất là đối với các bậc tôn túc Thầy Tổ, hàng giáo phẩm, nhưng không chú trọng nhiều về hình thức lễ tang mà chú trọng đến việc thác sanh cao đăng thượng phẩm, cao đăng bảo địa, cao đăng Phật quốc.
  • Việc tín ngưỡng các tập tục ma chay có ảnh hưởng nhiều theo tập tục từng vùng văn hóa của xứ sở Trung Hoa rộng lớn, ảnh hưởng mấy nghìn năm theo Mật giáo, đạo thờ cúng, tang chay của Khổng giáo, Đạo giáo cũng xuất phát từ Trung Hoa. Vì vậy, việc tổ chức lễ tang hiện nay ảnh hưởng nhiều tập tục của Trung Hoa kết hợp với tập tục của người Việt…Như vậy một lễ tang dành cho một người chết là một tập hợp những tập tục văn hóa nhiều miền vùng văn hóa khác nhau của các quốc gia đuợc giới thiệu tại một lễ tang “đúng nghĩa”. Chúng ta thấy có một sự áp đặt nặng nề bất công quá, rườm rà, tốn kém, tổn hao công sức tài sản tiền bạc của gia đình thật vô lý vô cảm.
  • Đối với Phật giáo khi trong nhà có người thân qua đời thì nên thực hiện lễ tang cho chu đáo giản dị nhưng không kém phần trang nghiêm, không giết mổ heo, trâu, bò, gà vịt, giảm bớt những hủ tục rườm rà hao tốn thời gian kinh phí, nên cúng cơm chay cho vong linh. Những nghi lễ vô lý như đốt vàng mã, để nải chuối xanh trên bụng người chết, khóc mướn, leo lên nóc nhà hú hồn, nhất là không nên để thời gian lễ tang quá lâu, không mở cửa mộ theo hủ tục vác mía lau, kéo gà, làm than 7 nấc, 9 nấc, cúng tam sên…. Những tôn giáo khác và các tôn giáo nội sinh như Cao Đài, Phật Giáo Hòa Hảo, Phật giáo Tứ Ân cũng làm tròn đạo hiếu, nhưng tổ chức lễ tang rất đơn giản.
  • Từ thập niên 60 đến nay, các Giáo hội Phật giáo tại Việt Nam, tông cũng như giáo từng kêu gọi thống nhất các nghi lễ trong cả nước, tiến đến giản dị hóa những tập tục lễ tang, những nghi không có trong Đạo Phật. Tổ chức lễ tang theo nghi lễ Nhà Phật gọn, giản đơn gọi là “tam nhựt bất cấm” hay “tử là táng” trong hai ngày nầy là nhanh gọn, không phải xem lịch số ngày giờ tốt xấu.
  • Từ lễ tang đến các việc cúng hậu sự theo xưa bày nay vẽ thì quá rườm rà, Sư có lời khuyên gia đình Phật tử chúng ta nên gởi vong linh vào chùa nghe kinh được siêu thoát. Thỉnh thoảng quý vị đến thăm ông bà vào các ngày lễ cúng tuần đầu, tuần tam thất, tuần chung thất, 100 ngày, giáp năm, mãn khó mà thôi chứ không đi cúng kiếng hằng ngày, hay hằng tuần trở ngại nhiều việc
  • Việc sanh là đến, đến đây từ mình, mang gánh nặng tham sân si, những gì hiện nay ta có, như: hạnh phúc khổ đau, nhiễm ô, bệnh hoạn, có đủ tiền tài danh vong, quyền thế, chức vị, vợ chồng con cái, gia cang sự nghiệp một gánh tình tang nặng nề vô cùng như núi tu di. Tử là đi, đi về với vĩnh cửu vô biên, đi về với không ta, bỏ tham sân si, không còn hình bóng của ta, không còn thân tứ đại giả danh của ta, đi về với hư vô, không cần phải xây lâu đài dưới âm phủ như các vua chúa, quan tham sợ mất của…Cuối đời phải để cho nhẹ nhàng mà quẳng gánh ra đi về cố quán, về với chính mình, về với Cực lạc Tây phương.

Hủ tục lễ cũ xưa bày

Nay xin đừng vẽ lại ngày tháng qua.

Chúng sanh: sanh, tử, bệnh, già,

Theo chi lệ cũ rườm rà tốn hao.

HT Thích Giác Quang