【#1】Mùng 3 Tháng 3 Ngày Giỗ Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh

Mộ phần Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh tại thôn Vân Cát huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định.

Từ trung tâm Hà Nội, du khách lái xe hướng qua ra đường CT 01/ CT Pháp Vân – Cầu Giẽ. Đến đoạn giao giữa CT Hà Nội – Ninh Bình và CT Pháp Vân – Cầu Giẽ, lái xe qua vòng xuyến sang QL 21B vào Đại lộ Thiên Trường. Tại vòng xuyến Big C Nam Định, dẽ phải vào QL10/QL38B qua cầu Lộc An tới Đại Lộ Lê Đức Thọ qua cầu Nam Định dẽ phải vào ĐT490/ ĐT 490C, dẽ trái vào ĐT487 đến ngã rẽ phải thứ 5 dẽ vào và đi thẳng đến ngã dẽ thứ 4 bên trái dẽ vào đi thẳng theo đường làng Phú Hào là tới đền Phủ Giày.

Đền Phủ Giày thờ ai?

Đền là một quần thể gồm nhiều ngôi đền nhỏ ghép lại. Đặc biệt phải nói đến kiến trúc quan trọng nhất là đền thờ bà chúa Liễu Hạnh (phủ chính), ngay sát chợ Viềng. Các kiến trúc còn lại là Tiên Hương, Vân Các, Công Đồng từ, đền thờ Lý Nam Đế, chùa Linh Sơn, lăng bà chúa Liễu Hạnh. Phủ Tiên Hương được coi là đền chính của Mẫu Liễu Hạnh và thờ bên chồng của Mẫu, còn phủ Vân Cát và Phủ Tổ là nơi thờ Mẫu và bên ngoại (bên bố mẹ đẻ) của Mẫu.

Lịch sử đền Phủ Giày

Đền Phủ Dầy có truyền thuyết kể lại rằng xưa kia vì nhớ thương chồng con trước khi về trời mà bà chúa Liễu Hạnh đã để lại chiếc giày ở trần gian. Cũng có truyền thuyết kể lại rằng vua đi qua vùng này và nghỉ đêm ở quán hàng của bà chúa Liễu Hạnh, sau đó được tặng một đôi giầy nên đã lập nơi thờ tự và gọi đó là Phủ Dầy. Khi gọi Phủ Dầy còn vì chính nơi này có món bánh dày – giò nổi tiếng, lại có người cho rằng: Kẻ Dày xuất phát từ nơi có gò đất nổi lên hình bánh dầy trước cửa phủ.

Phủ Dầy bắt nguồn từ tên một làng cổ là “Kẻ giầy”. Theo “Sự tích công chúa Liễu Hạnh” của Trọng Nội, Xuất bản năm 1959 thì: đời Vua Anh Tông (1557) làng kẻ Giầy đổi thành xã An Thái gồm: Vân Cát, Vân Cầu, Vân La (Vân Đình) và Vân Miếu. Đến đời Gia Long, Vân Cát chia thành 2 xã là Vân Cát và Kim Thái. Sang đời Tự đức (1860) xã An Thái đổi thành 2 thôn Vân Cát và Tiên Hương xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Tỉnh Nam định.

Vân Cát là nơi sinh ra, Tiên Hương là quê chồng và là nơi chôn cất Mẫu Liễu Hạnh khi Bà qua đời sau lần giáng trần thứ nhất. Phủ Dầy chính là “cái nôi” sinh ra Thánh Mẫu Liễu Hạnh và là tên gọi chung cho một quần thể các di tích của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở huyện Vụ Bản Nam định. Tên di tích được gọi theo địa danh ở địa phương.

Kiến trúc đền Phủ Giày

Đền Phủ Giày gồm 3 quần thể chính:

Phủ Tiên Hương thuộc thôn Tiên Hương, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định; nằm cạnh đường giao thông liên xã. Đây là phủ chính trong quần thể di tích Phủ Dầy. Phủ được xây dựng từ thời Lê – Cảnh Trị (1663 – 1671), trải qua bao thăng trầm lịch sử, phủ vẫn giữ được nét cổ kính thời xưa.

Năm 1996 Phủ Tiên Hương đã được sửa chữa lớn để thờ phụ thân của Mẫu Liễu Hạnh và thờ cả đức Thánh Trần. Phủ Tiên Hương còn lưu giữ được một số sắc phong, sớm nhất là đời Lê Chính Hòa, rồi đến Lê Vĩnh Thịnh, Lê Vĩnh Khánh đầu thế kỷ XVIII.Thánh Mẫu được tôn là “Mạ vàng công chúa”, “Mẫu nghi thiên hạ”.

Cảnh quan của phủ rất rộng rãi và thoáng đãng. Mới bước vào, du khách sẽ thấy một giếng nước tròn bên trong là ụ đất để cắm cờ khi diễn ra lễ hội. Cán cờ bằng gậy gỗ, trên đầu buộc túm lá hoặc quạ đen làm thiên sứ của trời. Lá cờ thần được treo trên đỉnh. Tiếp đến là sân lớn diễn ra các trò chơi hay là nơi những sập bán hàng được bày bán trong mùa lễ hội. au sân lớn là ba phương đình với phương du ở giữa và hai bên phương đình làm nơi gác chuông, gác trống. Tiếp nối 3 phương đình là hồ bán nguyệt, xuống hồ bán nguyệt có hai cầu được lát bằng đá, đối xứng qua hồ, bên phải là nhà bia và lầu Cậu, bên trái là nhà bia và lầu Cô.

Kiến trúc các dãy nhà tại Phủ được nối liền nhau tạo thành thể thống nhất. Mỗi nhà sẽ có phòng riêng gọi là cung, có tất cả 4 cung: Cung đệ tứ thờ Tứ phủ công đồng hay còn gọi là ban Công Đồng. Đối xứng với cung Đệ Tứ bên trái là Ban Quan lớn Thủ phủ và bên phải là Ban Chầu Thủ phủ; cung đệ tam thờ Đức Vua cha Ngọc Hoàng và Hội Đồng các quan hay Ngũ vị vương quan; Cung đệ nhị thờ Tứ Vị Chầu bà và ba bộ long ngai; Cung Đệ nhất là cung thờ Tam Tòa Thánh Mẫu. Cung này ở trong cùng. Tuy nhiên, đa phần nơi thờ Mẫu Tứ phủ có nội cung (cung cấm).

Cung cấm có khám kính đặt tượng đồng Mẫu Liễu Hạnh cùng với hai Mẫu Quang cung Quế Anh phu nhân và Quỳnh cung Duy Tiên phu nhân đều được phong thần và sắc phong. Tuy nhiên, không phải lúc nào bạn cũng có thể vào đó được mà phải có sự cho phép của ban quản lý khu di tích mới được đặt chân vào đó.

Bên cạnh các dãy nhà thờ có 1 dãy nhà nữai là Ban Trần Triều. Trong dãy nhà này có đặt ban thờ Ban Trần Triều và Ban Đức Vương Phụ, Vương Mẫu. Đằng sau nơi thờ chính là Động Sơn Trang, nơi này thờ bà Chúa Đệ Nhị Thượng ngàn Hai Chầu và mười hai cô Sơn Trang.

Phủ nằm phía bắc thôn Vân Cát xã Kim Thái, cách phủ Tiên Hương chừng 1 km. Phủ nằm giữa đền làng Vân Cát và chùa Long Vân nơi thờ Phật, vì thế tạo nên một quần thể thờ Phật – Mẫu – Thần.

Văn bia “Thánh Mẫu cố trạch linh từ bi ký” được đặt ở Ngũ Vân Lâu trước phủ do Tổng tài quốc sư quán đời Nguyễn là Cao Xuân Dục soạn năm Thành Thái Tân Sửu (1901) viết về quá trình xây dựng phủ Vân Cát: ” .. .là một lầu cổ miếu, chọn đất dựng nền từ thời Lê Cảnh Trị (1633- 1671), làm đơn giản mà đẹp, Khoảng đời Cảnh Thịnh (1794- 1800) hội nguyên Trần Gia Du, thiếu tả giám Trần Công Bản đã mở rộng ra. đến năm Kỷ Mão (1879) đời Tự đức, quan huyện Lê Kỳ đã sửa lợp lại, đến năm Thành Thái thứ 12(1900) thì hoàn thành “.

Từ cổng bước vào, du khách sẽ gặp Ngũ Vân Lâu, gác chuông với 5 cổng lớn xây dựng từ năm Tự Đức. Phía trong là hồ bán nguyệt xây bằng đá. Giữa hồ bán nguyệt có phương du nằm ở giữa và có hai cầu đá dẫn ra ngoài. Phương du gồm có ba gian làm bằng gỗ lim, mái có góc uốn cong, xung quanh lan can được ghép bằng những tường hoa bằng đá với những mảng phù điêu trạm khắc một số loài hoa và những con voi. Phương du có bốn mặt thoáng, là nơi khách đứng xem kéo chữ vào ngày hội.

Bên trong phủ có 4 cung thờ: kết câu hai cung đệ nhất và đệ nhị đều có 3 gian, và cả 2 đều được xây từ năm Tự Đức (1879). Cả hai cung đều bị giặc Pháp phá hủy mãi về sau mới được tôn tạo lại.

Cung đệ nhất là chính cung khép kín thờ Tam Tòa Thánh Mẫu, tượng bằng đồng gồm có Mẫu Thượng Thiên ngồi giữa, Mẫu Thượng Ngàn bên trái, Mẫu Thoải bên phải.

Cung đệ nhị thờ Tứ vị chầu Bà và Tam tòa quan lớn, đặc biệt có hai khám hai bên thờ Ông Hoàng Mười (bên phải) và Ông Hoàng Ba (bên trái).

Trong Phủ còn dấu tích nhiều câu đối, đại tự, hoành phi có giá trị. Ngoài ra, nét độc đáo còn nằm ở văn bia cùng ngũ vân lâu ngay tại mặt chính của đền, các công trình bố trí chặt chẽ tạo thành thể thống nhất, giữ lại nét giá trị từ ngàn đời.

Lăng mộ Thánh Mẫu Liễu Hạnh

Lăng mộ Thánh Liễu Hạnh nằm ở thôn Tiên Hương trên cồn cá chép. Ngôi mộ trước kia là bãi đất với lùm cây xanh lá, sau đó được xây thành khu nhỏ gồm gạch lát đá. Sau đó, vua Bảo Đại cầu tự được con và được thánh Mẫu báo mộng cho, năm 1938, vua Bảo Đại biết ơn mẫu và cho trùng hưng lại lăng mộ với chất liệu bằng đá xanh và 60 búp sen hồng quy mô như hiện nay.

Hướng chính của lăng là hướng Tây quay về phía núi Tiên Hương. Từ ngoài vào bước theo bậc tam cấp lên đến mộ phải qua 5 lớp tường toàn bằng đá được chạm khắc, mỗi lớp tường vuông đều có cửa, cửa được bổ trụ bằng đá vuông với ba mặt đều khắc câu đối và phía trên đặt các nụ sen bằng đá hồng nhạt tới 60 nụ sen đá.

Xung quanh lăng mộ là hàng cây 4 mùa xanh mát, 4 cột trụ chính đặt 4 góc khiến lăng mộ càng thêm long trọng và trang nghiêm. Ngôi mộ được đặt ngay chính trung tâm và ở chỗ cao nhất của cả khu lăng. Tại bốn cửa ở bậc cuối cùng đều có một bức bình phong bằng đá án ngữ. Phía sau cửa chính, nằm về hai phía góc đối diện với cửa ra vào là hai nhà bia với bốn cột vươn lên.

Bên cạnh khu lăng mộ còn có một gian nhà thờ tự với kết cấu sau: Ban thờ Mẫu nằm chính giữa, từ ngoài bước vào thì bên phải ngay cạnh ban thờ Mẫu là ban thờ Bà Cai Bản mệnh, tiếp là ban thờ đức Thánh Trần. Bên trái của Ban thờ Mẫu là ban thờ quan lớn đệ nhất và ban thờ Nhị Vị Cô Nương.

Hàng năm vào mùa lễ hội, đền đón hàng ngàn khách du lịch về trẩy hội. Hòa chung không khí tấp nập của mùa lễ hội, dân làng và du khách càng thấy hứng khởi đón chào một năm mới đầy thắng lợi./

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Trong tín ngưỡng của người Việt và của một số dân tộc thiểu số khác ở trên lãnh thổ Việt Nam, việc tôn thờ nữ thần, thờ mẫu thần, thờ mẫu tam phủ tứ phủ là hiện tượng khá phổ biến và có nguồn gốc lịch sử và xã hội sâu xa. Tuy tất cả đều là sự tôn sùng thần linh nữ tính, nhưng giữa thờ nữ thần, mẫu thần, mẫu tam phủ tứ phủ không hoàn toàn đồng nhất.

Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam là một tín ngưỡng bản địa cùng với những ảnh hưởng ngoại lai từ đạo giáo, tín ngưỡng lấy việc tôn thờ Mẫu (Mẹ) làm thần tượng với các quyền năng sinh sôi, bảo trữ và che chở cho con người. Tín ngưỡng mà ở đó đã được giới tính hoá mang khuôn hình của người Mẹ, là nơi mà ở đó người phụ nữ Việt Nam đã gửi gắm những ước vọng giải thoát của mình khỏi những thành kiến, ràng buộc của xã hội Nho giáo phong kiến. Vào hồi 17h15 giờ địa phương (21h15 giờ Việt Nam) ngày 1/12/2016, tại Phiên họp Uỷ ban Liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 11 của UNESCO diễn ra tại thành phố Addis Ababa, Cộng hòa dân chủ Liên bang Ethiopia, di sản “Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” đã chính thức được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại./

Các dạng thức thờ Mẫu Thờ Mẫu ở Bắc bộ

Bắt nguồn từ tục thờ Nữ thần có nguồn gốc xa xưa từ thời tiền sử, tới thời phong kiến một số Nữ thần đã được cung đình hoá và lịch sử hoá để thành các Mẫu thần tương ứng thời kỷ từ thế kỷ 15 trở về trước với việc phong thần của nhà nước phong kiến, hình thức thờ Mẫu thần với các danh xưng như Quốc Mẫu, Vương mẫu, Thánh Mẫu như hiện tượng thờ Âu Cơ, Ỷ Lan, Mẹ Thánh Gióng, Tứ vị Thánh nương,…

Thờ Mẫu ở Trung Bộ Thờ Mẫu ở Nam bộ

So với ở Bắc Bộ, tục thờ Nữ thần và Mẫu thần có sự phân biệt nhất định với biểu hiện rõ rệt là thông qua tên gọi và xuất thân của các vị thần thì ở Nam Bộ sự phân biệt giữa hình thức thờ Nữ thần và Mẫu thần ít rõ rệt hơn, hiện tượng này được giải thích với nguyên nhân Nam Bộ là vùng đất mới của người Việt, khi di cư vào đây họ vừa mang các truyền thống tín ngưỡng cũ lại vừa tiếp nhận những giao lưu ảnh hưởng của cư dân sinh sống từ trước tạo nên bức tranh không chỉ đa dạng trong văn hoá mà còn cả trong tín ngưỡng

Những Nữ thần được thờ phụng ở Nam Bộ như Bà Ngũ Hành, Tứ vị Thánh nương, Bà Thuỷ Long, Bà Chúa Động, Bà Tổ Cô,…và những Mẫu thần được thờ phụng như Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Bà Chúa Ngọc, Bà Thiên Hậu,…

Liễu Hạnh công chúa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

(đổi hướng từ Mẫu Liễu Hạnh)

Bài viết này cần thêm chú thích nguồn gốc để kiểm chứng thông tin. Mời bạn giúp hoàn thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn đáng tin cậy. Các nội dung không có nguồn có thể bị nghi ngờ và xóa bỏ.

Đền thờ Thánh Mẫu, đường Ngô Quyền, thành phố Thông tin chung Đà Lạt

Tên thật Phạm Tiên Nga

Liễu Hạnh Công chúa ( chữ Hán: 柳杏公主) là một trong những vị thần quan trọng của tín ngưỡng Việt Nam. Bà còn được gọi bằng các tên: Bà Chúa Liễu, Liễu Hạnh (柳杏), Mẫu Liễu Hạnh (母柳杏) hoặc ở nhiều nơi thuộc vùng Bắc Bộ bà được gọi ngắn gọn là Thánh Mẫu.

Truyền thuyết

Theo truyền thuyết trong dân gian Việt Nam, Liễu Hạnh là một trong bốn vị thánh Tứ bất tử. Bà vốn là con gái thứ hai của Ngọc Hoàng Thượng đế, 3 lần giáng trần. Bà đã được các triều đại phong kiến từ thời nhà Hậu Lê đến thời nhà Nguyễn cấp nhiều Sắc, tôn phong là “Mẫu nghi thiên hạ – Mẹ của muôn dân” và cuối cùng quy y cửa Phật.

Lần giáng sinh đầu tiên

Căn cứ vào ” Quảng Cung linh từ phả ký”, ” Quảng Cung linh từ bi ký” và ” Cát Thiên tam thế thực lục” hiện đang lưu giữ ở địa phương do Ban quản lý di tích – danh thắng của tỉnh Nam Định sưu tầm và một số tài liệu trong Hội đồng khoa học lịch sử Nam Định thẩm định thân thế và sự tích bà Liễu Hạnh như sau:

Vào đầu thời nhà Hậu Lê, tại ấp Quảng Nạp, xã Vỉ Nhuế, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, trấn Sơn Nam; có ông Phạm Huyền Viên, người xã La Ngạn kết duyên cùng bà Đoàn Thị Hằng, người ấp Nhuế Duệ, cũng xã Vỉ Nhuế (nay là thôn Vỉ Nhuế, xã Yên Đồng, Ý Yên, tỉnh Nam Định).

Hai ông bà là những người hiền lành, tu nhân tích đức nhưng hiềm một nỗi đã ngoài 40 mà chưa có con. Một đêm rằm tháng hai, ông bà được thần báo mộng là Ngọc Hoàng sẽ cho con gái thứ hai là Công chúa Hồng Liên đầu thai làm con, từ đó bà có thai. Trước khi sinh, vào đêm ngày 6 tháng 3 năm Quý Sửu, trời quang mây vàng như có ánh hào quang. Ông Huyền Viên ngồi đợi tin mừng, bỗng như có một nàng tiên từ trong đám mây bước xuống thềm nhà, và bà sinh một bé gái. Vì vậy ông đặt tên con là Phạm Tiên Nga.

Phạm Tiên Nga càng lớn càng xinh đẹp, mọi việc nữ công gia chánh đều thành thạo, đảm đang. Đến năm 15 tuổi đã có nhiều người đến dạm hỏi nhưng nàng đều khước từ vì nàng còn phải ở nhà chăm sóc cha mẹ già yếu, canh cửi quán xuyến công việc gia đình.

Ngày 10 tháng 10 năm Nhâm Ngọ ( 1462), cha của nàng qua đời. Hai năm sau mẹ của nàng cũng về nơi tiên cảnh. Phạm Tiên Nga đã làm lễ an táng cha mẹ ở phía đông nam phủ Nghĩa Hưng (nay là thôn La Ngạn, ở đây có đền thờ cha và mẹ của Phạm Tiên Nga).

Sau ba năm để tang cha mẹ, lo mồ yên mả đẹp, Phạm Tiên Nga bắt đầu chu du khắp nơi làm việc thiện (lúc này Tiên Nga vừa tròn 35 tuổi).

Cùng với việc đắp đê, bà còn cho làm 15 cây cầu đá, khơi ngòi dẫn nước tưới tiêu, khai khẩn đất ven sông, giúp tiền bạc cho người nghèo, chữa bệnh cho người ốm, sửa đền chùa, cấp lương bổng cho các vị hương sư, khuyên họ cố sức dạy dỗ con em nhà nghèo được học hành.

Năm 36 tuổi, bà đến bờ Sông Đồi dựng một ngôi chùa trên mảnh vườn nhỏ, đặt tên là Chùa Kim Thoa. Bên trên thờ đức Nam Hải Quan Thế Âm Bồ Tát, bên dưới thờ cha và mẹ.

Sau đó hai năm, bà tới tu sửa chùa Sơn Trường – Ý Yên, Nam Định, chùa Long Sơn – Duy Tiên, Hà Nam, chùa Thiện Thành ở Đồn xá – Bình Lục, Hà Nam. Tại chùa Đồn xá, Bà còn chiêu dân phiêu tán, lập ra làng xã, dạy dân trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải.

Tháng Giêng năm Nhâm Thìn ( 1472), bà trở lại chùa Kim Thoa, và tháng 9 năm ấy, Bà trở về quê cũ cùng các anh chị con ông bác tu sửa đền thờ Tổ họ Phạm khang trang bề thế (nay còn đền thờ ở phía nam xóm Đình thôn La Ngạn). Sau đó Bà lại đi chu du ở trong hạt, khuyên răn bà con dân làng những điều phải trái.

Lần giáng sinh thứ hai

Ngay sau khi bà mất, nhân dân xã La Ngạn, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng đã lập đền thờ trên nền nhà cũ, gọi là Phủ Đại La Tiên Từ, Đồng thời quê mẹ của Người là xã Vỉ Nhuế cũng lập đền thờ để tưởng nhớ công lao của bà, gọi là Phủ Quảng Cung.

Lần này, Bà kết duyên với ông Trần Đào, sinh được một người con trai, tên là Nhân, một con gái tên là Hoà. Giữa lúc cả gia đình đang đầm ấm vui vẻ thì bỗng nhiên, vào đúng ngày, Bà mất ngày 3 tháng 3 năm Đinh Sửu, thời Lê Gia Thái thứ 5 ( 1577). Năm ấy, Bà mới 21 tuổi, tuyệt nhiên không bệnh tật gì. Lăng mộ và đền thờ ở Phủ Dầy, thôn Thiên Hương – Vân Cát, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định.

Hành thiện giúp đời

Giáng Tiên về trời đúng hạn định theo lệnh của Ngọc Hoàng. Nhưng khi nàng đã ở trên trời thì lòng trần lại canh cánh, ngày đêm da diết trong lòng nỗi nhớ cha mẹ, chồng con nên nàng muốn xuống trần gian lần nữa. Khi về đến nhà vừa đúng lúc gia đình đang làm giỗ mãn tang cho nàng, mọi người đều hết sức ngạc nhiên và vô cùng sung sướng. Nàng ôm lấy mẹ mà khóc, rồi kể hết sự tình, dặn anh hãy gắng lo chăm sóc cha mẹ, vì lần này xuống trần nàng không thể ăn ở như lần trước, rồi trở về nhà chồng. Liễu Hạnh gặp chồng, con cái mừng mừng tủi tủi. Nàng cũng kể rõ mọi chuyện cho chồng biết, khuyên chồng hãy cố gắng luyện chí, yên tâm theo đuổi sự nghiệp công danh, đừng quên chăm sóc con thơ, phụng dưỡng cha mẹ. Nàng quét dọn, sửa sang nhà cửa, may vá quần áo cho chồng cho con, rồi bỗng chốc lại thoắt biến lên mây… Cứ như thế, thỉnh thoảng nàng lại hiện về, làm xong các việc rồi lại biến đi. Ròng rã hàng chục năm sau, cho đến khi con cái khôn lớn và Đào Lang công thành danh toại, nàng mới từ biệt để đi chu du thiên hạ.

Tương truyền, ông đã gặp thần nữ là Liễu Hạnh công chúa cả thảy hai lần, và đều có xướng họa thơ: một lần gặp ở chùa Thiên Minh ( Lạng Sơn) khi ông đi sứ về, một lần ở Hồ Tây (nay thuộc Hà Nội) khi ông cùng với hai bạn họ Ngô và họ Lý đi chơi thuyền. Lần ở Hồ Tây, người tiên kẻ tục bèn làm thơ xướng họa liên ngâm, sau được nữ sĩ Đoàn Thị Điểm chép trong truyện “Vân Cát thần nữ” ở tập Truyền kỳ tân phả của bà. Theo nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân, thì bài thơ ấy được đặt tên là Tây Hồ quan ngư (Xem cá Hồ Tây). Bản tiếng Việt do Phan Kế Bính dịch có tên là Cảnh Hồ Tây.

Ông bèn lên tiếng ghẹo: 三木森庭,坐著好兮女子 – Tam mộc sâm đình, tọa trước hảo hề nữ tử.

Người con gái nghe vậy, đối ngay: 重山出路走來使者吏人 – Trùng sơn xuất lộ, tẩu lai sứ giả lại nhân.

Phùng Khắc Khoan hết sức kinh ngạc bèn nói tiếp: 山人憑一几,莫非仙女臨凡 – Sơn nhân bàng nhất kỷ, mạc phi tiên nữ tâm phàm.

c âu này có nghĩa: cô sơn nữ ngồi ở ghế, phải chăng là tiên nữ giáng trần? Nhưng lắt léo ở chỗ: chữ sơn và chữ nhân ghép lại thành chữ tiên . Chữ bàng có bộ kỷ . Chữ nhất và chữ kỷ ghép lại thành chữ phàm .

Cuộc tái hợp với Đào Lang- Người chồng kiếp trước

Hiện nay những câu đối, những dấu tích về 2 lần gặp gỡ tại Lạng Sơn và Phủ Tây Hồ còn lưu lại ở Đền Mẫu Đồng Đăng (nơi Phùng Khắc Khoan gặp Liễu Hạnh lần đầu) và Phủ Tây Hồ (lần gặp thứ hai)

Sau khi hóa về trời,do vẫn còn tâm nguyên giúp đời nên Tiên Chúa khẩn thiết xin Ngọc Hoàng Thượng đế cho trở lại cõi trần gian. Ngọc Hoàng Thượng đế lắng nghe và hiểu rõ tất cả. Ngài cho gọi hai thị nữ tin cậy là Quỳnh Hoa và Quế Hoa bảo cùng đi với Tiên Chúa.

Những sự việc ấy lọt đến tai vua Lê chúa Trịnh. Hai vị vua chúa cho rằng trước kia tiên vương thả “yêu nữ” ra là một sai lầm, bây giờ đã đến lúc cần phải thẳng tay trừng trị. Bởi vì không thể có luật lệ nào khác ngoài luật lệ của vua chúa và ai muốn làm gì cũng không được tự quyền. Thế là hai vị cho triệu hồi các thuật sĩ tài giỏi trong nước đến kinh đô trong đó có Tiền Quân Thánh (vốn là tướng nhà trời, do mắc lỗi, đã bị đày xuống trần làm con trai thứ ba của một vị thượng sư, sư tổ của phái Nội đạo tràng), giao cho dẫn một đội quân hùng mạnh, đến thẳng miền Phố Cát để đánh dẹp.

Biết là không thể chống cự lại được, Tiên Chúa bảo Quỳnh Hoa, Quế Hoa tìm cách trốn đi, còn tự mình cũng hóa phép thành đứa trẻ, rồi lại hóa phép thành con rồng có vẩy vàng vẩy bạc múa lượn trên không.

Lễ hội

Tiền Quân Thánh lúc ấy ngồi trên voi chín ngà niệm thần chú tung lưới sắt ra chụp lấy. Tiên Chúa bị bắt rồi hiện nguyên hình trở lại.

Cung thờ Sơn Trang trong Phủ Tây Hồ

Lễ hội Thánh Mẫu Liễu Hạnh hàng năm được tổ chức vào ngày 3 tháng 3 Âm lịch – ngày giỗ của bà.

Địa điểm là:

Đền Sòng Sơn ở đường Hàng Bột, Hà Nội

Lễ hội thường kéo dài vài tuần lễ. Riêng lễ hội Phủ Dầy, còn gắn liền với Hội chợ Viềng, họp vào ngày 7 tháng giêng./

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Tứ phủ công đồng hay Tứ phủ là một tín ngưỡng nằm trong của tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam. Tứ phủ bao gồm:

  • Thiên phủ (miền trời): mẫu đệ nhất (mẫu Thượng Thiên) cai quản bầu trời, làm chủ các quyền năng mây mưa, gió bão, sấm chớp.
  • Nhạc phủ (miền rừng núi): mẫu đệ nhị (mẫu Thượng Ngàn) trông coi miền rừng núi, ban phát của cải cho chúng sinh.
  • Thuỷ phủ (miền sông nước): mẫu đệ tam (mẫu Thoải) trị vì các miền sông nước, giúp ích cho nghề trồng lúa nước và ngư nghiệp.
  • Địa phủ (miền đất): mẫu đệ tứ (mẫu Địa Phủ) quản lý vùng đất đai, là nguồn gốc cho mọi sự sống.

Tam phủ và Tứ phủ Hát Chầu Văn

Tứ phủ được thờ tại hầu hết các chùa chiền ở miền Bắc Việt Nam. Tại điện Hòn Chén ở Huế, Thiên Y A Na, nguyên là một nữ thần của người Chăm, được nhập vào hệ thống tứ phủ và thờ làm Mẫu Thiên . Trong khi đó, nhiều tài liệu cho rằng ở miền Bắc, Mẫu Thiên lại là Liễu Hạnh Công chúa.

Đó là hình thức hầu đồng với 36 giá chầu:

Thỉnh Mẫu Và Quan Đệ Nhất

【#2】Cách Bài Trí Bàn Thờ Thần Tài Đúng Nhất Để Hút Nhiều Tài Lộc

Cách bài trí bàn thờ Thần Tài

Từ bao đời nay kể từ khi có tục lệ thờ Thần tài, bàn thờ Thần tài luôn được đặt ở dưới đất, đối diện trực tiếp với cửa ra vào chứ không phải ở trên cao và vắng vẻ người qua lại như bàn thờ ông bà tổ tiên. Tượng thần tài được thờ trong một cái tủ thờ, thường làm bằng gỗ và đặt hướng thẳng ra phía cửa nhà, ở vị trí có vách dựa vào (để tạo sự vững chắc cho tủ thờ cũng như cho sự kinh doanh và cuộc sống bạn).

Bên trong khám dán bài vị của Thần Tài, cũng viết trên giấy đỏ. Chữ viết thường bằng kim nhũ:

Ngũ phương ngũ thổ Long thần

Tiền hậu địa chủ Tài thần.

Hai bên bài vị có đôi câu đối:

Thổ năng sinh bạch ngọc

Địa khả xuất hoàng kim

(Đất hay sinh ngọc trắng, Đất cũng cho vàng ròng).

Đôi câu đôi này có thể thay đổi, nhưng baọ giờ cũng có một đôi. Trước bài vị là một bát hương kê trên một trăm vàng thoi. Hai bên là hai cây đèn nhỏ đủ thắp (để không bốc cháy lên khám). Gia chủ còn thu xếp để có chỗ đặt mấy chén nước, rượu. Cũng có một mâm bồng để bày hoa quả, phẩm vật khi cúng lễ. Có nhà khắc trên mặt khám mấy chữ đại tự, và ở hai bên có đôi câu đối đại ý xưng tụng sự giúp đỡ của Thần Tài và sự cầu mong của gia chủ.

Tượng Thần Tài, Thổ Địa

Trên bàn thờ nhất định phải có tượng Thần Tài (đặt bên trái) và Thổ Địa (đặt bên phải) bằng sứ để thờ. Có thể không cần bài vị.

Thần Tài – Thổ Địa là một cặp thờ tuy về hình chỉ có 1 tượng Thổ Địa và 1 Thần tài, nhưng mỗi một vị như vậy là đại diện cho 5 người:

  • Về Thần Tài có: Hắc Thần Tài, Thanh Thần Tài, Bạch Thần Tài, Xích Thần Tài Và Hoàng Thần tài là vị chủ chốt.
  • Thổ Địa cũng có 5 ông: Đông phương Thanh Đế, Tây phương Bạch Đế, Nam phương Xích Đế, Bắc phương Hắc Đế và Trung ương Huỳnh Đế.

Các bạn lưu ý thần tài gồm có văn Thần tài và võ Thần tài. Những người làm quan võ, theo nghiệp lính hay buôn bán kinh doanh nên thờ võ Thần tài hoặc đặt tượng ở phương tài vị, hướng ra cửa. Có một số người còn đặt cả hai tượng Khổng Minh và Quan Công có ý nghĩa hóa sát tà khí, đuổi bọn tiểu nhân, thuận lợi trong kinh doanh.

Văn thần tài là Tài Bạch tinh quân và Tam Đa tinh quân. Tài Bạch tinh quân tượng trưng cho vị Thần chuyên quản tiền tài vàng bạc của thiên hạ nên người ta hay đặt tượng Thần nơi tài vị.

Tam Đa tinh quân chính là Phúc Lộc Thọ (tam tinh). Phúc tinh tay ôm đứa bé tượng trưng có con thì vạn sự đủ phúc khí. Lộc tinh mặc triều phục sặc sỡ, tay ôm ngọc như ý tượng trưng cho sự thăng quan tiến chức, thêm tài tăng lộc. Thọ tinh tay ôm quả đào thọ tượng trưng cho an khang trường thọ. Trong ba vị chỉ có Lộc tinh mới là Thần tài nhưng do xưa nay người ta luôn làm chung tượng. Nếu đặt cả tam tinh vào tài vị thì cả nhà an vui, hạnh phúc, phúc lộc cùng đến.

Võ thần tài gồm có Triệu Công Minh miệng đen mặt đen, chuyên thống lĩnh bốn vị thần Chiểu Bảo, Nạp Trân, Chiêu Tài, Lợi Thị vừa giúp tăng tài tiến lộc vừa có thể hàng ma phục yêu và Quan Thánh Đế – chính là nhân vật Quan Công trong Tam quốc diễn nghĩa giúp chiêu người tài, tiến bảo, làm ăn thuận lợi, tai qua nạn khỏi, trừ tà hộ thân.

Các đồ thờ khác

Bài vị thần tài: Có thể không cần nhưng nếu có thì được thể hiện bằng chữ viết “Chiêu tài tiến bảo” hoặc hai bên thành của bàn thờ có viết câu đối “Thổ năng sinh bạch ngọc – Địa khả xuất hoàng kim” ( Thổ hay sinh ngọc trắng – Đất cũng cho vàng ròng). Phía trước bài vị còn có một trăm thoi vàng giấy.

Tượng Phật Di Lặc: Bên trên bàn thờ Thần Tài có thể đặt thêm tượng Phật Di Lặc. Di Lặc Phật Vương sẽ quản lý và ngăn chặn các vị thần làm điều sai trái.

Lọ đựng hương thắp và lọ cắm hoa: Thường làm bằng sứ, cũng có thể bằng chất liệu đá xanh. Hoa dùng để thờ nên dùng hoa tươi, không nên dùng hoa khô. Các bạn đặt lọ hoa bên tay phải, đĩa trái cây bên tay trái khi nhìn từ ngoài vào.

Đĩa trái cây ngũ quả: Trái cây thờ Thần tài, Ông Địa nên sắp ngũ quả (5 loại trái cây). Bạn có thể thắp hương hoa quả, trái cây hàng ngày hoặc vào các ngày mùng 1 và ngày rằm hàng tháng.

Thường làm bằng ba chất liệu cơ bản là sứ, kim loại, đá (ngọc). Khi mua bát hương về, gia chủ phải dùng rượu gừng tẩy uế trước khi thờ cúng. Khi bốc bát hương cần để cơ thể sạch sẽ. Sau khi bốc xong thì nhờ các bậc thạc đức minh sư khai quang hoặc mang lên chùa để trên ban Đức Ông khoảng một tuần thì mới mang về nhà.

Để tránh động bát hương khi lau chùi bàn thờ, các bạn nên dùng keo gắn chết bát hương xuống bàn thờ. Xê dịch bát nhang gọi là bị động bát nhang là một việc đại kỵ, dễ làm mọi chuyện trở nên không tốt.

Đĩa đựng ba chén gạo, muối, nước, rượu: Phải làm mới khi thắp hương khấn vái thần tài. Có nơi dùng ba lọ đựng gạo, muối, nước chỉ đổ đi làm lễ tất niên. Thức cúng thì thay bằng năm chén đựng nước (rượu) xếp thành hình chữ Nhất tượng trưng cho ngũ phương, và cũng là tương trưng cho Ngũ Hành phát sinh phát triển.

là vật mang ý nghĩa xua đuổi ma quỷ, do đó, người ta thường bày một đĩa gồm 5 củ tỏi trên bàn thờ thần tài để tránh ma quỷ làm phiền các vị thần.

Thờ Thần Tài, Thổ Địa bạn nên có thêm Ông Cóc (Thiềm Thừ) để bên trái (từ ngoài nhìn vào) và tốt nhất là nên đặt chéo với cửa ra vào, tránh đặt đối diện.

Nên chọn một cái tô sứ thật đẹp, nông lòng, đổ đầy nước và ngắt những bông hoa trải trên mặt nước làm Minh Đường Tụ Thủy – một cách giữ tiền bạc khỏi trôi đi trong thuật phong thủy.

Mặt khác, để đón vận may tài chính, buổi sáng trước khi đi làm hay đi ra ngoài có thể quay đầu cóc ra phía ngoài, sau giờ đi làm về nhà quay đầu cóc vào trong bàn thờ vì nó chỉ ăn tiền nhưng không bài tiết. Tối về đến nhà là nhả tiền đã nuốt ra cho gia chủ.

Hướng đặt bàn thờ thần Tài

Nguyên tắc đặt bàn thờ Thần Tài – Ông Địa là phải là vị trí quan sát được hết sự vào ra của khách. Có 2 hướng nên chú ý để chọn khi đặt bàn thờ thần tài: một là theo hướng tốt của chủ nhà, hai là theo hướng đón Khí (Lộc) bên ngoài khi vào nhà. Vì vậy các bạn nên chọn lấy các cung Thiên Lộc hoặc Quý Nhân để có thể thu nhận được nhiều tài lộc. Cung Thiên Lộc tại hướng Đông-Nam, cung Quý Nhân tại hướng Tây-Bắc. Tuy nhiên, phải sử dụng la bàn để xác định rõ 2 cung này tùy theo tuổi của gia chủ.

Cung Thiên Lộc

Thiên Lộc là phương Lâm quan của Tuế Can. Nhà có cửa chính nằm trong cung Thiên Lộc rất tốt, may mắn. Bàn thờ Thần Tài nếu chọn cung Thiên Lộc sẽ mang lại những may mắn về tiền bạc, gia sản thăng tiến, nhà cửa vượng. Không những thế, đặt bàn thờ Thần Tài nằm trong cung này sẽ khiến cho gia chủ, cơ địa tốt tươi, thông minh, tuấn tú lại khéo léo, tài năng kinh doanh giỏi, làm ăn tiến phát. Vì vậy, hướng Thiên Lộc là được coi là hướng tốt nhất để đặt bàn thờ Thần Tài.

Tuy nhiên, trước khi chọn hướng an vị bàn thờ Thần Tài bạn cũng nên quan tâm tránh các hướng có sự ảnh hưởng của hướng có sao Không Vong, Tử, Tuyệt. Nếu gặp Không Vong, Tử, Tuyệt thì Khí tán, tài không tụ, có lộc cũng như không. Nhiều người cho rằng hướng Thiên lộc phạm các sao Không Vong, Tử, Tuyệt gọi là hướng Tuyệt Lộc, dù tài sản có như nước, rồi cũng tiêu tan hết.

Cung Quý Nhân

Quý Nhân Thiên Ất là vị Thần đứng đầu cát Thần, hết sức tĩnh mà có thể chế ngự được mọi chỗ động, chí tôn mà có thể trấn được phù trợ. Đặt bàn thờ Thần Tài vào cung Quý Nhân gia đạo sẽ được bình an, hỷ khí đầy nhà, làm ăn buôn bán may mắn, có nhiều khách hàng thân thiết và nhiều người giúp đỡ, gặp dữ hóa lành.

Tuy nhiên nếu gặp Không Vong, Tử, Tuyệt thì nguồn Phúc giảm đi nhiều. Hoặc nếu có mắc nạn cũng khó tránh, bởi nguồn cứu giải kém hiệu lực, người và gia súc bị tổn thất, kiện cáo, thị phi.

Một số lưu ý

Trong quá trình thờ cúng rất nhiều bạn thiếu hiểu biết làm máy móc theo sự chỉ dẫn sai lệch của người khác mà bản thân mình không hề hay biết, hoặc áp đặt cảm xúc, suy nghĩ cá nhân một cách thiếu căn cứ và coi nhẹ các thủ tục thờ cúng dẫn đến có thờ mà như không.

Gia chủ cũng không nên dùng tiền dương đã qua sử dụng đặt lên bàn thờ, việc làm này được cho là gây uế tạp ảnh hưởng tới luồng năng lượng tốt đẹp.

2. Đặt bàn thờ đúng cách

Phía sau bàn thờ nên là một bức tường vững chắc, không nên đặt gần nhà vệ sinh, trước gương hoặc nhà bếp hay bị góc cạnh của các vật dụng khác đâm vào.

Trước khi đặt bàn thờ gia chủ nên xem xét cẩn thận về phong thủy vận mệnh để tránh phạm đại kỵ. Việc đặt bàn thờ sai hướng, quay lưng ra cửa,… không chỉ gây sụt giảm tiền bạc mà có thể khiến sức khỏe các thành viên trong gia đình bị ảnh hưởng.

3. Không cắm hương chồng chéo nhau

Mỗi bát hướng đều nên có cốt là gói Thất Bảo để tài lộc không bị hao hụt. Nếu gia chủ cắm hương chồng chéo nhau hay chọc vào gói Thất bảo sẽ khiến Thần Tài, Ông Địa không có linh khí. Không chỉ không hút tài lộc, sai lầm này còn khiến gia chủ làm ăn thất bát, nghèo khó cả đời.

4. Bát hương Thần Tài và Thần Tài, Ông Địa phải có nhãn chữ nho

Bát hương Thần Tài và Thần Tài, Ông Địa không có nhãn chữ nho, không có cốt chữ nho, không có gói Thất Bảo (vàng bạc châu báu) hoặc cũng không rõ là bên trong có gì hay không mà cứ thế thờ cúng.

5. Không thờ ghép chung với tượng Quan Âm

Có gia đình thờ Quan Âm và Quan Đế cùng một bàn thờ. Thực ra như vậy là không thỏa đáng. Vị Quan Âm là thần linh Phật giáo, tượng trưng cho sự từ bi, không sát sinh. Còn Quan Đế là thần thượng anh hùng dân gian, kẻ thù của tà ma hung ác, lập chiến công trong máu lửa. Vậy nên không thể thờ ghép chung được.

6. Bài vị gương

Trong việc bài trí bàn thờ cầu tài lộc, bình an nếu thiếu bài vị gương gia tài lộc của gia chủ sẽ hao kém, tiền bạc làm bao nhiêu trôi tuột bấy nhiêu, không tích cóp được đồng nào.

7. Thiếu bát tụ lộc

Bàn thờ Thần Tài nếu thiếu hũ gạo, muối, nước đã vô cùng tai hại. Càng tai hại hơn nếu thiếu cả bát tụ lộc (bát bằng thủy tinh có đáy sâu, chứa nước và rắc hoa tươi).

8. Không dùng khăn ướt để lau bàn thờ

Việc giữ gìn bàn thờ sạch sẽ, quang đãng là tốt nhưng vì bàn thờ mệnh Hỏa, mà Thủy khắc Hỏa, nên sẽ không tốt. Bởi vậy hãy dùng khăn khô hoặc vắt nước rất khô khi lau đồ thờ.

9. Sau khi lập bàn thờ bạn nên thắp hương liên tục trong 100 ngày đầu để bàn thờ tụ Khí.

Không tắt đèn điện ở bàn thờ, vì ánh sáng sẽ giúp chỉ đường cho các vị thần giáng xuống trần gian. Trong 100 ngày nên thay nước mỗi ngày. Mỗi khi cần xin điều gì đó thắp 3 nén hương cắm theo hàng ngày. Vào ngày rằm, mùng 1, lễ tết thì thắp 5 nén hương cắm theo hình chữ thập. Bạn nên chọn hương cuốn tàn – giữ được tàn hương, sau một thời gian sẽ có bát hương đẹp và tụ Khí. Vào ngày 23 tháng Chạp âm lịch thì rút chân hương hóa vàng. Sau khi hóa vàng nên đổ một ít rượu vào tro.

10. Nghi lễ dâng hương

Thông thường người ta thường thắp hương và đọc văn khấn thần tài vào mỗi buổi sáng mỗi khi mở cửa kinh doanh. Tuy nhiên có một số dâng hương vào buổi tối. Việc thắp buổi sáng hay tối không có quy định cụ thể. Tốt nhất nên chọn giờ tốt và bài văn cúng thần tài chính xác để hành lễ sẽ kích hoạt trường khí dễ hơn.

【#3】Hướng Dẫn Cách Thờ Phật Bà Quan Âm Từ Bố Trí Đến Văn Khấn

Cuộc sống ngày càng hiện đại, con người càng chạy theo những hào nhoáng bên ngoài. Điều này đẩy họ vào hố sâu hơn của thống khổ. Khi quá thống khổ bởi những vô thường của đời người từ sinh lão bệnh tử, danh vọng, con người thường tìm về với đức tin. Lúc này, Phật Bà Quan Âm như một người mẹ hiền từ gần gũi được nhiều người tin kính. Nhưng, cách thờ Phật Bà Quan Âm như thế nào để bày tỏ lòng thành kính sâu sắc nhất? Chúng ta cùng tìm hiểu qua nội dung sau.

Ý nghĩa của bàn thờ Phật Bà Quan Âm

Người ta thường nói mẹ Quan Âm, nghĩa là như một người mẹ hiền từ đầy lòng từ bi đối với mọi người con. Nhắc đến mẹ Quan Âm là nhắc đến một hình ảnh thướt tha trong tà áo thoát tục, gương mặt phúc hậu và ánh mắt như nhìn thấu cả chúng sinh ba cõi.

Phật Bà Quan Âm còn là đại biểu của đức hạnh nhẫn nhục. Điều này có thể thấy qua hình ảnh của nhành liễu và bình cam lồ. Khi người dùng nhành liễu lấy cam lồ đi rưới khắp thế gian, hay còn có nghĩa là muốn có được từ bi phải lấy chữ nhẫn làm đầu. Nếu không có tính nhẫn, tâm tư sẽ nổi lên muôn tầng oán hận, trách mắng, thì làm sao có được bao dung và từ bi?

Vậy nên, thờ Phật Bà Quan Âm là học theo đức hạnh của người, rèn lòng yêu thương trắc ẩn đối với mỗi người xung quanh. Có như vậy mới xứng đáng là những người con của Đạo.

Bên cạnh đó, với lòng từ bi hỷ xả của mình, mẹ Quan Âm nguyện chở che cho hết thảy những đứa con tôn kính người, mang họ đi ra khỏi vũng bùn của khổ đau và vô minh. Đồng thời cũng giúp chúng ta rước vào nhà những may mắn, thiện lành, hạnh phúc.

Nên thờ Phật Quan Âm đứng hay ngồi

Hình ảnh Phật Quan Âm dù đứng hay ngồi cũng đều mang thần thái trang nghiêm của đấng tối cao. Nếu là mẹ Quan Âm đứng thường được thờ ngoài trời, nơi có không gian rộng lớn như trên đỉnh núi của chùa, trong khuôn viên thanh tịnh tại gia, hoặc trên sân thượng của một số gia đình ở thành thị. Nếu là mẹ Quan Âm ngồi thì thường được thờ bên trong đền chùa, miếu mạo hoặc trên bàn thờ trong nhà của mỗi gia đình.

Nói chung, thờ Phật Quan Âm đứng hay ngồi không phải là vấn đề, cái chính ở đây là không gian thờ như thế nào, phù hợp với tư thế nào của mẹ Quan Âm. Còn điều quan trọng nhất là cách thờ, quý vị có đủ lòng thành kính không, không gian có trang nghiêm không, mâm quả có tươi xanh không, hương hỏa có đầy đủ không,…

Chỉ cần bạn đủ lòng tin vào mẹ Quan Âm, tu theo đạo hành của người, để bản thân có đủ dũng cảm vượt qua những sai trái lỗi lầm, học sự nhẫn nhục của người, nuôi dưỡng lòng từ bi. Lúc này, quý vị sẽ trở thành người con của mẹ Quan Âm và sẽ được người che chở, bảo vệ.

Cách bố trí bàn thờ Phật Bà Quan Âm

Khi bố trí bàn thờ Phật Bà Quan Âm, cần chú ý đến một số yếu tố như:

  • Đặt bàn thờ Phật Bà Quan Âm hướng ra cửa chính, cửa sổ hoặc ban công của gia đình. Tuyệt đối quý vị không nên đặt bàn thờ hướng vào phía trong nhà vệ sinh, nhà bếp hoặc phòng ngủ, nơi diễn ra sinh hoạt hằng ngày của chúng ta, thường phát sinh những ô uế, như vậy là có tội với thần linh.
  • Vị trí đặt bàn thờ nên có không gian tôn nghiêm riêng, có thể là ở giữa nhà, cao hơn chúng ta ít nhất một cái đầu. Còn nếu có điều kiện, quý vị nên xây một phòng riêng ở vị trí cao nhất và biệt lập với sinh hoạt chung để thờ phượng Phật Bà Quan Âm.
  • Thường xuyên lau chùi, dọn dẹp sạch sẽ bàn thờ và khu vực thờ. Không để bàn thờ Phật lạnh lẽo mà phải thường xuyên hương hỏa, mâm quả tươi mới, đầy đủ. Lòng thành kính không phải chỉ nói mà phải làm, những gì cần làm đơn giản nhất là những điều như vậy.
  • Nên thỉnh tượng Phật phù hợp với không gian thờ, không nên quá to hoặc quá nhỏ. Nếu nhà quý vị kinh doanh nhà hàng ăn uống đồ mặn thì không nên thờ tượng Phật Bà Quan Âm ngay không gian đón đãi khách. Vì như thế được xem là bất kính với người.
  • Đặc biệt, nên thỉnh tượng Phật ở nơi có uy tín, bởi vì những đơn vị này thường tạc tượng bằng tất cả sự chân thành của mình, ký thác sự trung thành với đạo vào từng tác phẩm tượng. Những bức tượng như vậy sẽ có giá trị thẩm mỹ rất cao và toát ra thần thái trang nghiêm vốn có của thân Phật.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy) Con lạy chín phương trời, mười phương Chư phật, Chư phật mười phương Nam mô Đại từ, Đại bi Linh cảm Quan Thế Âm Bồ Tát. Con kính lạy Đức Viên Thông Giáo chủ thùy từ chứng giám. Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm Canh Tý Tín chủ con là: ………………………………………. Ngụ tại: ………………………………………….. Thành tâm đến trước Phật đài, nơi điện Đại bi, kính dâng phẩm vật, hương hoa kim ngân tịnh tài, ngũ thể đầu thành, nhất tâm kính lễ dưới toà sen hồng. Cúi xin Đức Đại Sỹ không rời bản nguyện chở che cứu vớt chúng con, như mẹ hiền phù trì con đỏ. Nhờ nước dương chi, lòng trần cầu ân thanh tịnh, thiện nguyện nêu cao. Được ánh từ quang soi tỏ, khiến cho nghiệp trần nhẹ bớt, tâm đạo khai hoa, độ cho đệ tử cùng gia đình bốn mùa được chữ bình an, tám tiết khang ninh thịnh vượng, lộc tài tăng tiến, gia đạo hưng long, mầm tai ương tiêu sạch làu làu, đường chính đạo thênh thang tiến bước. Cầu gì cũng được, nguyện gì cũng thành.

Văn khấn Quan thế âm Bồ Tát

Chú ý: Văn khấn chỉ mang tính chất tham khảo.

【#4】Cách Bài Trí Bàn Thờ Mẹ Quan Âm? Mẫu Bàn Thờ Mẹ Quan Âm Đẹp

Với những người theo Phật, đặc biệt là khi thờ Phật tại gia họ luôn coi trọng việc bài trí trên bàn thờ sao cho đúng phong thủy, tôn nghiêm và đem lại may mắn. Vậy bài trí bàn thờ mẹ Quan Âm như thế nào mới đem lại sự tôn nghiêm và đúng phong thủy? Bài viết sau đây sẽ giúp bạn giải đáp thắc mắc này.

Sự tích xưa kể về mẹ Quan Thế Âm Bồ Tát

Sự tích về Quan Âm Thị Kính

Trong kiếp thứ 10 của Quan Âm Thị Kính, nàng đầu thai làm con gái trong một gia đình họ Mãng ở Cao Ly và được đặt tên là Thị Kính. Lớn lên với xinh đẹp, nàng được gả cho Thiện Sỹ. Một hôm, khi đang ngồi may vá, Thị Kính phát hiện có một sợi râu mọc ngược ở cằm chồng. Nàng liền tiện tay cầm kéo cắt đứt sợi râu. Cùng lúc đó, chồng nàng tỉnh dậy, vì nghĩ rằng Thị Kính muốn giết mình bèn hô hào hàng xóm.

Thị Kính không thể nào kêu oan vì cả chồng và gia đình chồng đều không chịu nghe nàng giải thích. Vì vậy, nàng đành quay trở về nhà bố mẹ đẻ và tu hành. Để được nhận vào chùa, Thị Kính đã cải nam trang, lấy pháp danh Kính Tâm.Tướng mạo tuấn tú của bà khiến nhiều tín nữ mến mộ, trong đó có Thị Mầu.

Thị Mầu là con gái của trưởng giả giàu có trong vùng, mến mộ và trêu ghẹo Kính Tâm nhiều lần nhưng không được đáp trả. Cũng cùng lúc đó, Mầu có thai với một người ở trong nhà. Thị Mầu bị tra hỏi, và khai rằng Kính Tâm là cha đứa bé trong bụng.

Điều này đã khiến Kính Tâm chịu tội oan thêm một lần nữa nhưng cũng không một ai tin nàng. Ít lâu sau, Thị Mầu sinh ra một bé trai và đem bỏ trước cửa chùa. Thị Kính thương người đã nhận đứa bé vào chùa để nuôi dưỡng. Đứa trẻ lên 3, Thị Kính bị bệnh nặng và không thể sống lâu nữa nên bà đã viết 2 bức thư: 1 bức cho ông bà Mãng – cha mẹ của Thị Mầu, còn 1 bức đưa cho sư cụ trong chùa.

Đọc xong thư, sư cụ cho người đi kiểm tra thi thể của Thị Kính và biết rằng nàng là gái giả trai. Biết tin đó, Thị Mầu đã tự tử vì quá xấu hổ. Sau khi chết, Thị Kính được đắc đạo và trở thành Quan Âm Bồ Tát, cứu độ và đem con nuôi về Nam Hải làm người phụng sự bên mình.

Sự tích về Quan Âm Diệu Thiện

Vào thời Nam Bắc Triều, nhà vua sinh được 3 công chúa xinh đẹp tuyệt trần đặt tên là Diệu Nhan, Diệu Âm và Diệu Thiện. Công chúa út là Diệu Thiện thông minh nhất nên được vua cha yêu thương. Diệu Thiện không chỉ xinh đẹp mà còn có tấm lòng lương thiện và tính cách dịu dàng, điềm tĩnh.

Khi đến tuổi kết hôn, vua cha đích thân chọn phò mã là những bậc anh tài tuấn tú trong thiên hạ cho Diệu Thiện. Công chúa lại từ chối nhiều lần bở nàng chỉ 1 lòng hướng về cửa Phật, mong được cứu độ chúng sinh. Vì vậy mà Diệu Thiện bị vua cha hạ lệnh giam ở phía sau hoàng cung. Nhà vua một mặt vờ cho phép nàng tu hành tại chùa Bạch Tước, một mặt ra lệnh cho sư sãi trong chùa thuyết phục nàng hoàn tục. Với ý chí và quyết tâm sắt đá, nàng không bị lung lay trước những lời thuyết phục đó.

Vua cha rất tức giận nên đã ra lệnh đốt chùa để giết nàng. Ngay lúc này, trời đột nhiên đổ mưa làm lửa bị dập tắt. Nhà vua lại ra lệnh xử chém nàng thì giông tố kéo đến, sấm sét đánh văng đao của đao phủ. Vua càng thêm tức giận, ra lệnh xử tử công chúa nhưng cũng đúng lúc đó, một con cọp trắng xuất hiện vad cõng công chúa đi đến chùa hương.

Từ đó về sau, Diệu Thiện tu hành tại chùa Hương, cảm hóa muông thú. Còn ở hoàng cung, nhà vua mắc bệnh nặng, hai bàn tay dần rơi rụng, mắt trở nên mù lòa. Biết tin, nàng cấp tốc về thăm cha và để cứu sống cha, nàng đã hi sinh đôi mắt và 2 cánh tay của mình.Sau khi chết đi, Diệu Thiện đắc đạo và trở thành Bồ Tát.

Ý nghĩa của bàn thờ Phật bà Quan Âm

Phật Quan Thế Âm Bồ Tát là đại diện của sự từ bi, nhân từ, cứu loài người trong nhân loại khỏi bể khổ. Ngài phù hộ cho con người được khỏe mạnh, tránh khỏi khổ đau, sống một đời hạnh phúc và bình an. Chính vì vậy, việc thờ Phật Quan Thế Âm Bồ Tát khá phổ biến và được nhiều người coi trọng.

Ở Phật Quan Âm, ta luôn thấy hiện lên gương mặt bình thản, không bị muộn phiền cuộc sống làm lo âu. Bởi vậy, mà người thờ Phật Quan Âm thường có mong muốn có một cuộc sống bình an, tự tại, và sống lương thiện. Ngoài ra, Phật Bà Quan Âm còn mang đến may mắn và sức khỏe và hạnh phúc.

Việc thờ tượng Phật Bà Quan Âm cũng phần nào thể hiện được đức tính tốt đẹp của người Việt Nam. Đức tính luôn hướng đến cái thiện, hướng đến những điều tốt đẹp trong cuộc sống.

Cách đặt tượng Phật bà Quan Âm trong nhà theo phong thủy

Vị trí nên lựa chọn đặt tượng Phật bà Quan Âm trong nhà

Tượng Phật Quan Âm cần được đặt tại nơi cao ráo, yên tĩnh, thanh tịnh nhất của ngôi nhà có thể là Bàn thờ Phật bà Quan Âm treo tường hoặc bàn thờ đứng. Gia chủ nên chuẩn bị, sắp xếp không gian thờ cúng trang nghiêm, sạch sẽ trước khi thỉnh tượng Phật Quan Âm về nhà, Kích thước bàn thờ Phật bà quan âm cần được đo đạc chuẩn phong thủy. Tượng Phật thường được đặt ở giữa bàn thờ.

Kiêng kỵ trong cách đặt tượng phật bà quan âm trong nhà:

– Tuyệt đối không đặt tượng Quan Âm hướng về các vị trí: cửa phòng ngủ, nhà vệ sinh, phòng ăn… hoặc quay mặt vào tường.

– Không đặt tượng Phật Quan Âm cùng các tượng Phật khác vì theo quan niệm, điều này là không tốt cho gia đạo.

– Đồ cúng Phật Bà Quan Âm: cúng bằng hoa quả, không cúng đồ mặn.

Hướng tốt đặt bàn thờ Phật bà Quan Âm theo mệnh của gia chủ

Hướng đặt bàn thờ Quan Âm Bồ Tát nên tránh hướng nhìn vào nơi tối tăm, u ám: nhà vệ sinh, nhà bếp, phòng ngủ… Các gia chủ thật cẩn thận khi đặt bàn thờ Phật bà quan âm.

  • Mệnh Kim: hướng đặt bàn thờ Phật bà quan là hướng Tây tứ trạch và bao gồm: Đông Bắc, Tây, Tây Bắc, Tây Nam.
  • Mệnh Mộc: Hướng đặt bàn thờ Phật trong nhà theo hướng Đông tứ trạch: Đông, Đông Nam, Nam, Bắc.
  • Mệnh Thủy: hướng đặt bàn thờ Phật bà quan âm là hướng Đông tứ trạch và tuyệt đối không đặt theo các hướng xấu: Tây, Tây Bắc, Tây Nam, Đông Bắc.
  • Mệnh Hỏa: hướng Đông, Nam, Bắc và Đông Nam và không chọn đặt bàn thờ Phật bà quan âm theo hướng: Tây Bắc, Tây Nam, Đông Bắc và Tây.
  • Mệnh Thổ: hướng Tây Bắc, Tây Nam, Đông Bắc và Tây.

Bàn thờ Phật Quan Âm gồm những gì và cách bày trí đúng nhất

Bàn thờ Quan Âm gồm những gì?

Với bàn thờ Quan Âm, những vật thờ cúng không thể thiếu là tượng hoặc tranh Phật Quan Thế Âm Bồ Tát, lư hương, lọ hoa, hoa cúng Phật Quan Âm, nến, đèn. Trong ngày cúng đặc biệt thì cần chuẩn bị thêm hương, hoa tươi, lễ chay: oản, xôi chè… Những loại hoa bàn thờ Quan Âm là hoa huệ, hoa sen, hoa mẫu đơn, hoa ngâu…

Cách thờ Phật bà Quan Âm và Cách bài trí bàn thờ Phật Quan âm

Cách bài trí bàn thờ mẹ Quan Âm tuân thủ theo những nguyên tắc sau:

  • Đặt bàn thờ ở vị trí cao nhất trong nhà, thường ở vị trí giữa nhà và chính giữa bàn thờ đặt tượng Phật bà quan âm.
  • Chỉ cần thờ một bát nhang trên bàn thờ.
  • Những vật phẩm thờ cúng sẽ được bài trí xung quanh bàn thờ để cân đối 2 bên.
  • Bày trí mâm bồng chính giữa bàn thờ, và sau đó đến kỷ chén thờ.

Những lưu ý khi bày trí bàn thờ Quan Âm

Điều tối kỵ cần lưu ý trước tiên chính là không nên đặt tượng quan âm cùng các tượng thần khác. Việc đặt tượng Quan Âm cùng với các tượng khác rất không tốt và không gặp may mắn. Đây là Phật đại diện cho sự thanh tịnh, đơn thuần. Đồ dùng của người nên đều là đồ chay. Chính vì vậy, đồ cúng của Ngài nên đơn giản như hoa quả, hoa tươi. Tuyệt đối không được cúng đồ mặn.

Về hướng đặt tượng Quan Âm cần lưu ý. Tránh việc quay tượng Quan Âm vào: nhà vệ sinh, cửa phòng ngủ, bàn ăn. Tại vì những hướng này không được thanh tịnh.

Vị trí hợp lý nhất để đặt bàn thờ chính là ở chính giữa nhà. Cũng là để thể hiện lòng thành kính đối với Phật.

Nên lựa chọn tượng Phật Bà Quan Âm có kích thước phù hợp với bàn thờ để đảm bảo tính cân đối. Khi mua tượng Phật cũng nên lựa chọn kỹ, tránh mua phải Tượng không rõ nguồn gốc. Bàn thờ cần được vệ sinh sạch sẽ thường xuyên, đồ thờ cúng phải luôn luôn đầy đủ.

Việc thờ cúng Phật Bà Quan Âm quan trọng nhất là thể hiện lòng thành kính. thật tâm của người thờ. Đặc biệt chú ý xem ngày tốt thờ mẹ Quan Âm trước khi thỉnh phật quan âm về thờ.

Tuyệt đối không sắm lễ mặn bởi Phật Quan Âm không sát sinh và cũng không nên sắm sửa vàng mã, tiền âm phủ để dâng cúng.

Văn khấn Quan Thế Âm Bồ Tát

Bài khấn nguyện Quan Thế Âm Bồ Tát

Việc khấn nguyện vào mỗi buổi sáng khi mới thức dậy, buổi tối trước khi đi ngủ, đặc biệt là ngày cúng mẹ quan âm, bạn đọc có thể tham khảo bài khấn quan thế âm bồ tát sau:

“Con xin cung kính lễ lạy:

Nam Mô Đại Từ Đại Bi Thập Phương Tam Thế Chư Phật, chư Bồ Tát,

Tam Bảo khắp mười phương.

Tam Bảo khắp mười phương.

Tam Bảo khắp mười phương.

Nam Mô A Di Đà Phật

Nam Mô A Di Đà Phật

Nam Mô A Di Đà Phật

Nam Mô Đại Từ Đại Bi cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát

Nam Mô Đại Từ Đại Bi cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát

Tri ân:

Hôm nay lại bước qua một ngày, con tự biết con đã được rất nhiều may mắn, con đã hưởng được tha lực từ bi của chư Phật, chư Bồ Tát. Đức Từ phụ A Di Đà Phật, Đức Mẹ Quán Thế Âm Bồ Tát ban cho, và được chư vị giúp đỡ mà con mới có được ngày hôm nay. Con xin thành tâm thành kính quỳ nơi đây dâng lòng chí thành chí kính tri ân (1 lạy).

Cầu an:

Con xin thành tâm thành kính cầu nguyện sự an lành, an lạc, thanh bình, hạnh phúc cho cha mẹ, anh em, thân bằng quyến thuộc, cùng khắp các chúng sanh hữu tình, vô tình.

Con cầu xin thập phương tam thế chư Phật, chư Bồ Tát, Đức Từ phụ A Di Đà Phật, Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, và chư vị từ bi gia hộ, giúp đỡ để chúng con đồng được sự an lành, an lạc, tu hành đến Tri Kiến Giải Thoát, thoát khỏi sanh tử luân hồi, đồng xin nguyện được vãng sanh về Cực Lạc Quốc (1 lạy).

Cầu siêu:

Con cũng thanh tâm cầu siêu cho vong linh cửu huyền thất tổ, cha mẹ, tổ tiên, thân bằng quyến thuộc nhiều đời nhiều kiếp.

Những vong linh liên hệ và không liên hệ đến con,

Những vong linh con đã lỡ gây hại, sát hại trong quá khứ,

Cho những vong linh tên: …………

Cùng những vong linh mất trong chiến tranh, thiên tai, bệnh tật, và vì mọi lý do chưa được vãng sanh.

Con thành tâm cầu nguyện xin tha lực từ bi của mười phương chư Phật, chư Bồ Tát, Đức từ phụ A Di Đà Phật, Đức Mẹ Quan Thế Âm Bồ Tát, Đức Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, cùng chư vị giúp đỡ để các vong linh được tiếp dẫn về nơi an lạc, siêu sanh Tịnh Độ (1 lạy)

Sám hối:

Nay con xin chí thành sám hối mọi tội lỗi con đã lỡ gây tạo từ nhiều kiếp cho đến nay, những tội con đã gây tạo trong kiếp sống hiện tại.

Những tội con gây tạo do bởi vô tình hay cố ý, gây hại, sát hại đến nhân mạng, đến giới hữu tình hoặc vô tình, những tội do bởi Tham, Sân, Si, do bởi ngã mạn, vô minh che lấp.

Từ nay, mỗi ngày con xin kiểm soát hành động, từ tưởng để sám hối, sửa sai và xin nguyện giữ mình không tái phạm.

Hết thảy các tội, con xin chí thành quỳ nơi đây dâng lòng sám hối. Xin chư Phật mười phương, chư Bồ Tát, Đức từ phụ A Di Đà Phật, Đức Mẹ Quan Thế Âm Bồ Tát chứng minh cho lòng thành của con (1 lạy).

Hồi Hướng/ Phát Nguyện:

Sám hối rồi, nay con xin nguyện tiếp tục tu học, tu hành, hướng tâm tu để thoát khỏi sanh tử luân hồi. Làm việc lợi mình lợi người.

Con xin hồi hướng, chia sẻ Công Đức đến cha mẹ, thân nhân (tên) …………. Đến chư Thiên, chư Thần, chư Thánh, chư Hộ Pháp và chư vị đã giúp đỡ cho con.

Đến những vong linh mà con đã lỡ gây hại, sát hại. Cùng tất cả các vong linh chưa được vãng sanh và pháp giới chúng sanh.

Con nguyện dâng lòng thành kính tri ân, quy y Tam Bảo. Cầu xin Chư Phật mười phương, chư Bồ Tát, Đức từ phụ A Di Đà Phật, Đức Mẹ Quán thế Âm Bồ Tát từ bi gia hộ để con và chúng sanh đồng được duyên lành tu học thoát khỏi sanh tử luân hồi, trên tri ân chư Phật, dưới cứu độ chúng sanh. Chúng con đồng xin nguyện được vãng sanh về Cực Lạc Quốc (3 lạy).

Văn khấn Quan Thế Âm Bồ Tát tại nhà

Đối với những gia đình thờ quan âm bồ tát tại nhà văn khấn phật bà quan âm tại nhà:

“Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con Nam mô Đại từ, Đại bi Linh cảm Quán thế Bồ Tát.

Con xin kính lạy đức Viên thông Giáo chủ thủy từ chứng giám.

Tín chủ con là ………………

Ngụ tại ………………

Hôm nay là ngày… tháng… năm…

Tín chủ con thành tâm đến trước Phật đài, nơi điện cửa hoa, kính dâng phẩm vật, hương hoa kim ngân tịnh tài, ngũ thể đầu thành, nhất tâm kính lễ dưới tòa sen hồng.

Cúi xin đước Đại sỹ không rời bạn nguyện, theo Phật phó chúc trên cung trời Đạo lợi, chở che cứu vớt chúng con và cả gia quyến như thể mẹ hiền, phù trì con đỏ. Nhờ nước dương chi, lòng trần cầu ân thanh tịnh, thiện nguyện nêu cao.

Được anh từ quang soi tỏ, khiến cho nghiệp trần nhẹ bớt, tâm đạo khai hoa, độ cho đệ tử con cùng toàn thể gia quyến ba tháng đồng, chín tháng hè luôn được sức khỏe dồi dào, phúc thọ khang ninh, lộc tài vương tiến, công việc hanh thông, vạn sự tốt lành, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

Tín chủ con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.”

Những mẫu bàn thờ mẹ quan âm đẹp

【#5】Tại Sao Thường Cúng Rằm Tháng Bảy Trước Ngày 15?

Nguyên nhân nào mà vào dịp rằm tháng bảy, chúng ta thường cúng trước ngày 15 và hóa vàng mã cũng trước ngày này?

Đúng ngày 15 rằm, Phật tổ xá tội vong nhân trong vòng 01 ngày, mọi linh hồn kể cả tội lỗi, quỷ dữ dạ xoa đều được tự do, vì vậy nên nếu cúng các cụ đúng ngày này thì sợ bị những linh hồn này phá phách, cho dù ta đã cúng cháo cho họ, vậy nên các cụ có thể không nhận được gì con cháu cúng tế. Thế nên thường cúng trước là hợp lẽ – (Lê Hùng Sơn)

Đó chính là tín ngưỡng dân gian hay còn gọi là Pháp thế gian đó bạn, cái này ko phải của Phật Giáo thường thì người miền Bắc tin rằng nếu cúng đúng ngày rằm sẽ rước thêm âm binh và cô hồn vào trong nhà mình. Trong miền Nam thì thường họ cúng đúng vào rằm luôn. Ở miền Bắc cúng thổ công, gia tiên, ông bà bao giờ cũng trước ngày 12 sau đó sau ngày 15 trở đi mới cúng cô hồn, chúng sinh. Có người còn cho rằng nếu cúng thổ công gia tiên trùng vào ngày chúng sinh thì sợ ông bà mình ….không được ăn vì các cô hồn vồ hết.

Những điều trên là hoàn toàn mê tín nó chỉ giúp những ông già bà cả an tâm, và giúp 1 số người sợ hãi mà hướng thiện hơn, còn giới trí thức thì nên hiểu nền tảng của Phật Giáo là Nhân Quả chỉ có gieo Nhân lành thì mới có cơ hội hái Quả thiện thôi.

– (quangbson)

“Tích kể rằng: ngài Mục Kiền Liên là tôn giả rất giỏi của Đức Phật, người biết rất nhiều phép thần thông, khi nhìn thấy mẹ bị đói khổ ở Địa ngục liền dùng phép thần thông xuống địa ngục thăm mẹ. Ngài bưng bát cơm lên dâng mẹ, cơm chưa đưa vào miệng thì đã hóa thành lửa. Ngài Mục Kiền Liên rất đau đớn xin với Đức Phật cách cứu mẹ. Ngài đã phải nhờ đến các chư tăng tụng kinh niệm Phật cho mẹ của ngài, các nhà sư về tụng kinh niệm Phật với mong muốn trong quá trình này sẽ được Đức Phât độ trì gia hộ cho. Có nghĩa là làm cho bản chất xấu xa của bà ấy thay đổi, trở thành người tốt, khi nào trở thành người tốt mới được chúng tôi khi ông Mục Kiền Liên làm được như vậy, bà mẹ được tha khỏi ngục. Từ đấy trở đi, mọi người lấy rằm tháng bẩy là ngày lễ để con cháu thể hiện tấm lòng thành với tổ tiên,ngày đó gọi là ngày lễ Vu Lan.” Hanhthong”

Không phải vong nào cũng bị nhốt trong ngục, mà chỉ có những vong có tội mà thôi. Thường thì mọi người hay cúng trước ngày rằm để cho tiện. Tuy nhiên nên cúng đúng vào ngày rằm là tốt nhất. – (daiminh)

Truyền thuyết dân gian cho rằng từ mùng 2/7, Diêm Vương ra lệnh bắt đầu mở Quỷ Môn Quan và đến rằm tháng 7 thì “thả cửa” để cho ma quỷ túa ra tứ phương, đến sau 12 giờ đêm ngày 14/7 thì kết thúc và các ma quỷ phải quay lại địa ngục. Bởi vậy, vào đêm 14/7, người ta thường đốt nến, hóa vàng bạc hoặc giết gà vịt cúng quỷ đói để cầu được bình an và những điều tốt đẹp, không bị ma quỷ hại phá, đó chính là nguồn gốc của tên gọi Tết Quỷ. Nguồn cội của Tết Quỷ gắn liền với văn hoá Đạo giáo của Trung Quốc, bởi Phật giáo không có chủ trương sát sinh hoặc đốt vàng bạc hàng mã để cúng tế quỷ thần. (ST) – (VDNHMC)

Dưới âm cũng như trên Trần, có thể cúng trước để người âm đi về đỡ tắc đường, tránh xe cộ đi lại đông đúc… – (Duongquy)

Theo quan niệm dân gian thì vào ngày rằm tháng 7 sẽ có rất nhiều vong hồn được “thả” đi lang thang nên nếu ta hóa vàng mã vào ngày này thì sẽ bị cướp, giật mất người thân khó nhận.

Cũng vì vậy trên quần áo, đồ đạc hàng mã thường sẽ ghi rõ tên người nhận, khi cúng cũng đọc rõ tên và xin phép các thần linh thổ địa cho phép vong vào nhận đồ, cúng trước và hóa trước để người thân dễ nhận được. – (Minh)

Bạn Trần Cha Thân! Cúng rằm tức là ngày 15 âm lịch hằng tháng, phong tục ở quê mình thì thường cúng vào ngày mùng 1 và 15 âm lịch. Theo bên Phật thì 2 ngày này là ngày của Phật, (Phật thường đi cứu khổ cứu nạn chúng sanh vào 2 ngày này). Mẹ mình từng nói nếu cúng vào ngày 14 và hoá vàng mã ngày này thì người được cúng ko nhận được vì “cô hồn” cướp và giành giật hết. còn cúng ngày 1 &15 thì ngược lại, ngày đó là ngày của Phật nên các vong hồn được theo Phật và cô hồn ko giật được. Vì VẬY CÚNG RẰM LÀ PHẢI CÚNG VÀO NGÀY 15 BẠN NHÉ! Có lẽ bạn ko tin nhưng mình tin (ko phải mình mê tín đâu) tại mình thấy tận mắt nên mới tin đó. Chính lẽ đó nên có câu: “có thờ có thiêng có kiêng có lành” – (Đặng Diệu Hoài)

vì rằm tháng 7 ko vào ngày nghỉ; ở TP thì mọi ngừơi phải đi làm, ở các vùng quê thì con cái đi học đi làm xa ko về được….dần dần thành thói quen. Theo tôi ngày giỗ, ngày riằm cứ làm lễ đúng ngày là tốt nhất. – (samar trần)

Cũng giống như nhà nước thường kỹ niệm ngày 2/9 vào trước đó 1 hoặc 2 ngày. Không phải tất cả mọi nhà đều làm vào ngày 13 -14, vẫn rất nhiều nhà làm đúng ngày rằm. – (Quốc Ân)

Theo như Mẹ chồng tôi thì ở dưới âm quy định ngày phát đồ cho người âm.

Nếu như đốt vàng mã vào ngày 15 thì đến năm sau người nhà mới nhận được nên phải hóa vàng mã trước ngày 15 tháng 7 âm lịch. – (Trần Thị Lựu)

Phải cúng trước vì ngày rằm không phải cuối tuần hoặc mọi người không thể tụ tập sum vầy đúng ngày rằm được vì công việc riêng, còn cúng đúng ngày rằm mới là đúng truyền thống từ trước đến giờ. Mình ở quê cũng toàn cúng rằm ngày này. – (Pham Dai)

dan gian xua tung co cau trẻ 13 già 14, có lẽ chính vì thế mà rằm tháng 7 duoc cac gia đình cúng trước 15 – (Phạm Thị Kim Liên)

chả có gì gọi là nguyên nhân cả, cũng như mua một thứ gì đó trước, ăn một thứ gì đó trước thôi – (cuongnv)

Lễ gì cũng từ tâm mình cả, các cụ chọn rằm tháng 7 hay rằm tháng nào cũng thế cả thôi chỉ với một mục đích giúp con người ta hướng thiện, tu thân tích đức để cho xã hội tốt đẹp hơn. Mà với xã hội hiện tại thì điều đó càng cần nhiều hơn, tôi mong rằm tháng nào mọi người cũng coi là “xá tội”…để chúng ta cùng làm nhiều điều tốt cho nhau. – (Thuhương)

Tôi chẳng biết các bạn nghĩ thế nào, chứ các bạn lên phường xin dấu người ta quy định làm việc thứ 2,4,6 thì cứ đúng ngày đó mà đến. Chứ lên vào 3,5,7 thì có mặt từ 6h sáng cũng chẳng ai tiếp.

Đã quy định là cúng mùng 1 và 15 thì cứ đúng ngày đó mà làm. – (dương huy)

Theo Tôi cúng vào đúng ngày rằm mới là đúng. Vì các cụ có câu “Cúng cả năm không bằng rằm tháng 7” tức là 15/7. Tục đốn vàng mã trước là do mọi người bận công việc nên làm lễ trước thôi. Ở quê tôi từ xa xưa mọi nhà vẫn cúng, đốt vàng mã cho Ông, Bà vào đúng ngày 15/7. – (Lê Hiếu)

Tất cả chỉ để giải quyết khâu tâm lý thôi! – (phuongtt85)

Đó là cách cúng của người miến Bắc, người miền Nam thì từ ngày 15 trở đi mới cúng. Tôi không biết lý do của miền bắc tại sao lại cúng rằm tháng 7 lại như vậy, nhưng người miền nam, thì cúng rằm thì phải là ngày 15 chứ. Sau ngày 15 thì người ta cúng cô hồn. Cúng cô hồn thì được cúng mặn, còn cúng Phật thì phải là cúng chay. Phong tục của miền bắc thờ cúng tại nhà đa số không thờ Phật, chỉ thờ Gia tiên nên thường những ngày Lễ lớn đa số là cúng mặn. Mỗi nơi 1 phong tục, miễn sao có lòng thành là được. – (ledaitrangdai)

Tôi cúng vào ngày chủ nhật trong tháng 7, ngày đó mọi cô hồn âm binh đều rãnh, dễ tham dự đông đúc! – (Thu Trang)

theo như mình được ông mình nói là ngày 14 là các chư phật, bồ tát, chư tăng hoá độ cho chúng sinh và cũng là ngày cho các chư tăng ni & chúng sinh tập chung tại chùa để sám hối những gì mình làm trong nữa tháng cũng như bên thiên chúa giáo hay đi lễ vào mỗi tuần vậy đó,cho nên các chùa hay cúng rằm sám hối vào ngày 14. còn ngày 15 là ngày để tưởng nhớ đến tổ tiên, ông bà, cha mẹ và cúng đất đai cúng cho các vị thần phù hộ cho gia đình được bình an và trấn những cái điều không tốt vào nhà mình. Còn ngày 16 là ngày cúng cho các âm hồn lang thang ngoài đường hay trước nhà mình để họ có ăn và không vào nhà mình phá. Nó là vậy đó.. – (Lê Kiên)

có ai khẳng định là ngày đúng ngày sai tóm lại là tâm linh ở mình cúng trước sau ăn – (lethanhha2003)

Tháng 7 âm lịch các ngạ quỹ sẽ được phóng thích từ mồng 2 đến 14/07 âm lịch đến ngày 15/07 âm lịch các ngã qũy sẽ bị bắt trở lại vì vậy người dân thường cúng trước rằm để bố thí cho các cô hồn đó. – (funny0604)

Quê tôi – ở trong Nam – cúng tháng 7 sau ngày rằm mà? Trước ngày Rằm là để cho các chùa cúng, sau ngày rằm mới đến lượt người dân cúng. Đó là lời giải thích của các bậc trưởng thượng trong xóm tôi – (Trần Khánh Dung)

Mình thường hối Má cúng ngày 14 để được ăn sớm, hehehe – (Bi)

Không phải ngày chính rằm thì chỉ là thói biện hộ của thày cúng và dân công sở sành điệu. Thời gian giữa dương gian và âm phủ khác nhau. Những nghi lễ Phật giáo đã được mặc định trong những ngày, giờ, thời gian mà chúng ta đã biết. Ngày Rằm là ngày Rằm, mùng Một là mùng Một, không phải thế thì không phải ngày Phật đâu các bạn ạ. – (Phiêu.)

Dân Thái đen Thái trắng chúng tôi coi rằm tháng 7 là tết “xíp xí” vào đúng 14/7. 15 đã là hết tết. Tết này to không kém tết nguyên đán, ăn uống vui chơi linh đình, mừng mùa màng tốt tươi chứ không có khái niệm xá tội vong nhân gì cả. – (yenbaitv)

Chuyện cúng bái là lòng thành tâm,thành kính đối với các đấng tối cao,đối với tổ tiên . Vì vậy chỉ cần sống có hiếu thì ngày nào cũng là ngày vu lan cả. Chỉ cần có lòng thành tâm cúng bái thì ngày rằm hay 14 có khác gì nhau. Tôi không hiểu nhiều về đạo phật nên suy nghĩ vậy. – (nguyen.theanh)

theo quam niệm dân gian thì có thờ có thiêng, ở quê tôi là cúng vào ngày 15. chúng ta tin vào ngưỡng nào thì cứ theo đó mà cúng. dân gian nói rằng tháng 7 âm lịch là tháng cô hồn. – (daohoaviet)

và đúng hơn và hoàn thiện hơn nữa là các ý kiến trên đều hoàn toàn chính xác,thật ra thì mọi quan điểm lý giải của các bạn nói trên hoàn toàn “hoàn hảo”,vì mỗi người xưa mỗi làng mỗi địa phương có văn hoá tín ngưỡng khác nhau,có nhà cúng đúng rằm người cúng trước 1 ngày tức ngày 14,người cúng sau tức ngày 16,tuỳ thổ nhưỡng văn hoá vùng miền thôi,còn cúng trước hay cúng sau theo tôi là bình thường – (lưu anh văn)

mình nghĩ cúng đúng rằm là tốt . cũng trước cũng ko sao . quan trọng là tâm mình thôi . phật tại tâm mình có tâm thiện thì mình cúng ngày nào cũng đc . đúng ngày sẽ tốt hơn để mình nhớ những ngày lễ quan trọng trong năm . để nhớ tới cội nguồn cũng la cách cho tâm mình thanh thản bình an . – (thoconanconon)

cúng rằm thì phải đúng rằm cúng.không thì cổ nhân đã gọi là cúng tháng 7. – (thanh)

Phú quý sinh lễ nghĩa, vấn đề này bạn nghĩ thế nào thì nó là thế đó… chả có vấn đề gì truớc hay đúng hay sau ngày 15 cả. Tất cả là do mình mà ra. – (ngonchym)

Trong miền Nam từ xưa đến nay cúng rằm thường là ngày 14, 15 còn cúng cô hồn là ngày 16. Nói chung mỗi miền mỗi khác không có quy định chung nào cả – (vinhtoduc)

về khách quan: thông thường người ta hay cúng trước ngày này vì: cúng vào các ngày thứ 7 hay chủ nhật con cháu trong gia đình đông đủ quây quần nhất nên tiện hơn

thứ 2: cũng theo lệ ngưòi ta hay cúng ngày sống trước ngày đã mất, ngày rằm chỉ thắp hương đơn giản, ăn uống thôi, còn đốt vàng mã… thì hay cúng trước đó..

không chỉ ngày rằm tháng 7 mà các dịp cũng lễ trong nhà cũng hay cũng trước là vậy – (Khoahoc)

Cúng ngày rằm (15) hay mồng 1 là truyền thống của dân tộc để tưởng nhớ đến các bậc sinh thành đã về với tổ tiên. Như vậy tùy thuộc vào Tâm của mình thôi. Bởi chắc chẳng có ai đi dưới đấy về mà trả lời là đúng hay sai khi cúng đúng/trước ngày 1, 15. Theo tập quán mà thực hiện là tốt rồi. – (ngxuanvinh)

Không có tục lệ nào cúng trước hay sao bạn à. Rằm tháng 7 nói riêng là mùa vu lang báo hiếu, ngày 15/7 đến chùa thắp hương cầu nguyện an lành cho cha mẹ còn sống, ai bất hạnh không còn cha mẹ thì cầu siêu tưởng nhớ cha mẹ nơi chín suối và kèm theo tục cài hoa hồng, vàng, trắng tượng trưng. Tháng 7 âm lịch nói chung là tháng các âm hồn được đặc xá cho về hưởng thực cúng thí. Nhà tù dương trần hay địa ngục cũng đều có tính nhân văn trong đó cả. – (diepchauminhtr)

Mình cũng chẳng biết, chỉ biết ở quê mình ăn rằm 14 to hơn 15. – (Mr.Duc)

Theo phong tục quê mình cho rằng đến ngày 13 là tàu/thuyền chở vàng mã rời bến mang đồ mã xuống cõi âm, nên nếu cúng vào đúng ngày 15 thì tàu chở mã đi mất rồi, do đó muốn đồ cho tổ tiên thì phải cúng, nhất là cần phải đốt mã trước ngày 15 (khoảng từ 10 đến 13). – (Dothien Hoang)

Cúng trước ngày rằm vài ngày 15/7 là quỷ được thả cửa ( xá tội vong nhân) vì vậy nếu ta đốt tền vàng quần áo vào ngày hôm đó thì người nhà mình dưới âm không nhận được mà quỷ sẽ tranh cướp mất – (dung)

đây là lễ của người Hoa, báo hiếu, cúng dường, cha mẹ, tổ tiên.. – (nguyễn)

14 hay 15 cúng ngày nào trong tháng 7 đều được, – (diemvuong)

Không chỉ ngày rằm tháng 7 người ta mới cúng trước đó ít nhất 1 ngày mà cả các ngày rằm khác cũng vậy. Ví dụ cúng mồng 1 thì tối 30 hay cúng rằm thì tối 14.

– (huycuongkt)

Vì ngày 15 các cao hồn đều về chùa nghe tung kinh giảm tôi lỗi – (truongna)

Nhớ đến tổ tiên và người thân đã đi xa ở dưới cõi âm nên cúng lễ dịp này, nhà tôi cúng trước ngày 15 vì muốn tổ tiên và người thân dưới ấy được hường trước và chọn vẹn tình cảm của gia đình mình, còn đến ngày 15 thì các Đình và Chùa cũng có cúng lễ cho tất cả cùng được hưởng. . – (Trần Thủy)

Theo tôi nghĩ thì tất cả những điều luật về tâm linh đều do con người đặt ra. Mỗi dân tộc, mỗi vùng miền đều có những điều luật khác nhau. Tất cả đều hướng thiện và mong cho cuộc đời này có nhiều điều tốt lành. Các cụ có câu: “Tâm xuất Phật biết”. Việc cúng ngày rằm tháng bảy đúng ngày hay trước vài ngày đều có ý nghĩa như nhau. Ở trần gian hay âm phủ thời nào chẳng có người ngay kẻ gian. Căn bản là sự thành tâm của người thắp nén nhang, dâng lễ vật mà thôi. – (Huỳnh Bá Chung)

Vào ngày rằm tháng 7, các vong đi lên nhiều quá nên làm trước phát cháo, ngô, khoai sắn cho các vong vào các ngày trước để tránh tắc đường, chen lấn, xô đẩy. Tiếp nữa là vào đúng ngày đấy cửa âm sẽ đóng vào đúng 12h trưa nên đi sớm về sớm khỏi bị ở ngoài. – (thulan)

Ngày rằm (15) trong gia đình thường có người ăn chay, người không. Do vậy, để cúng rằm mà mọi người cùng …hưởng nên họ quyết định cúng trước ngày rằm, đơn giản là thế thôi??? – (Tôi yêu VN)

Cúng rằm 14,15 đều được, nhưng ngày 15 phải cúng trc 12h trưa vì sau 12h cửa âm sẽ đóng lại vong ko nhận đc đồ nữa. Mà buổi trưa ngày 15 khó chuẩn bị nên nhiều ng sẽ cúng tối hôm 14 cho tiện. – (hgtt)

Tôi chỉ có một điều. Rằm tức là ngày 15 âm lịch vậy rằm tháng bảy thì cứ đúng 15 tháng bảy mà cúng còn cùng trước sao không bảo tết 12 hay 13 tháng bảy đi cho rồi sao gọi là cúng rằm – (khaikv)

tại sao phải cúng rằm tháng 7 trứơc ngày 16 thì mới đúng chứ – (hùynhhưng)

Theo như mẹ mình nói thì “Tháng bảy âm ti địa phủ sẽ mở cửa Quỷ Môn Quan, các vô hồn có thể ra ngoài dạo chơi như một đặt xá và kiếm thức ăn” nên người ta thường cúng cho những cô hồn lang thang vào tháng bảy.

Ở gần khu mình sống thì đa số người Quảng Đông thường cúng vào ngày 14 âm lịch, người Tiều thì 15 âm lịch, người Việt 16 âm lịch – (Jack)

vì mọi người muốn kéo dài ngày cúng cho vui…như lể tết vậy. – (trantram)

Người ta thường cúng trước ở nhà vì đến ngày 15 tháng 7 các linh hồn đều về hết các đình chùa, không ai ở lại để ăn đồ cúng của các gia đình nữa. – (thongvra)

theo minh thi ram thang bay tuc la ngay xoa tui vong nhan, len moi nguoi deu co the cung to tien chứ ko phai ngay ma cac ma quái den, da la tuc lệ va văn hóa viet nam thi chung ta hay lam theo va hay ton trong van hoa, ko len me tin hay vẽ them ra. – (nguyen van dang)

cúng rằm là 15,chẳng qua người ta hay suy diễn thôi.phong tục từ xưa,vùng miền ước lệ,người dương gian hay tính toán kiểu tắc đường về quê trước 1 ngày… – (nguyên đức tuân)

Các bạn ơi.

Điều này chẳng phụ thuộc vào điều nào cả. Ở nhà cúng rằm trước ngày 15, tại vì ngày 15 phải để dành cho việc lên Chùa nghe kinh Phật, hưởng được nhiều ơn đức hơn thôi các bạn ạ.

– (Lê Đình Tuấn)

Cung phai dung ngay 15 – (Duong truong)

Mình thấy mỗi người một ý nhưng quan niệm từ gia đình là. Ngày 14 cúng mặn và ngày 15 cúng chay, – (Lê Ly)

Ông cha ngày xưa cúng truyền thừa lại ta cứ cúng thôi. – (dreamtrinh)

Đó chính là tín ngưỡng dân gian hay còn gọi là Pháp thế gian đó bạn, cái này ko phải của Phật Giáo thường thì người miền Bắc tin rằng nếu cúng đúng ngày rằm sẽ rước thêm âm binh và cô hồn vào trong nhà mình. Trong miền Nam thì thường họ cúng đúng vào rằm luôn. Ở miền Bắc cúng thổ công, gia tiên, ông bà bao giờ cũng trước ngày 12 sau đó sau ngày 15 trở đi mới cúng cô hồn, chúng sinh. Có người còn cho rằng nếu cúng thổ công gia tiên trùng vào ngày chúng sinh thì sợ ông bà mình ….không được ăn vì các cô hồn vồ hết. – (Bean Toan)

Cúng vàng mã hay hoá vàng mã không có trong Phật Giáo đó là truyền thong dân gian! Nhưng cúng âm linh Co Hồn thì có trong Phật Giáo! – (T Liễu Nguyên)

Lễ Vu Lan báo hiếu, hãy cúng bằng cả tấm lòng thì không sợ cha mẹ ông bà mình không nhận được. – (Hiểu Bình)

Ngày rằm tháng bảy. Còn gọi là ngày xoá tội vong nhân. Vậy mình nên làm cơm cúng vào đúng ngày rằm và nên cúng vào sáng sớm vì theo mình được biết thì bắt đầu 00h ngày rằm tất cả đc về với gd – (Khuat khang)

Ngày rằm tháng 7 có nguồn gốc được ghi rỏ trong Kinh Vu Lan và Kinh Báo Ân Cha Mẹ: Nhân vào một buổi sang đi khác thực, Đức Phật thấy một đông xương khô Ngài đảnh lễ. Tôn giả A nan thấy vậy nên hỏi về việc này nên được Đức Phat dạy rỏ về công ơn của Cha Mẹ ở kiếp này và nhiều kiếp trước gọi là Pháp Giới Đa Sanh Phụ Mẫu. Nhân sự kiện này Ngài Đại Hiếu Mục Kiên Liên nhớ đến người mẹ vừa quá vãng nên dung than thong quán sát thấy mẹ của mình bị đoạ vào chon địa ngục mà tự sức Ngài không cứu được nên về hỏi Đức Phật thì đức Phật dạy vào rằm tháng 7 cúng dường 10 phương Tăng và bố thí và phóng sanh và đem công đức đó hồi hướng cho cha mẹ hiện đời và nhiều đời thì cha mẹ sẽ nhờ đó mà vãng sanh về tịnh độ. Cúng cô hồn cũng là hình thức báo hiếu trong ý nghĩa Pháp Giới Đa Sanh Phụ Mẫu. – (T Liễu Nguyên)

tại vì cúng trước thì mua đồ sẽ rẻ và dễ hơn sau mùng 15/7 – (lucife)

vì rằm tháng 7 la ngày xoá tội vong nhân nên có nhiều ma trên trần gian , nếu cúng và đốt vàng mã vào ngày 15 thì bị ma lang thang cướp hết , ma nhà mình không nhận được . – (caotrunghieu)

Thường rằm tháng 7 là ngày xá tội vong nhân. Các linh hồn được đi chơi, nên người ta phải cúng lễ trướng ngày (Trong niên từ 01 đến 14). Chúng ta cúng và hoá tiền, vàng, áo, mũ trước ngày rằm để đúng ngày 15 các linh hồn có quần áo mới, tiền tiêu. Đó chính là lý do mà ta cúng rằm tháng 7 trước ngày 15 âm lịch. – (Nhat)

Có thờ có thiêng, có kiêng có lành! – (Xuan loc)

.Nếu con cháu mà không cúng các cụ trước thì ngày rằm các cụ sẽ chưa nhận được lại phải chờ đến năm sau mới nhận đc.Bởi ngày 14,7 là chuyến đò chở mã xuất bến ,nên phải cúng trước ngày rằm – (huy nguyễn)

các bạn muốn biết rõ hãy tìm đọc kinh vu lan báo hiếu phụ mẫu thì rõ thôi – (tăng)

có người âm hả các bác? – (Danang)

khong ai chung minh dieu nay dau a ,dieu chinh xac la muon an che som thoi – (tam)

Mọi người nói cứ như thể mọi người đã xuống dưới đó rồi vậy. Cốt là ở cái tâm mình thôi. – (Silver)

Ca dao có câu “Hôm nay 14, mai rằm. Ai muốn ăn oản lên nằm với sư”! Hic! Chả biết thế nào? Chắc lên từ đêm 14 rạng ngày 15. – (Nguyễn Văn Nội)

tất cả đều do quan niệm của con người mà ra cả.thế giới tâm linh thật sự có tồn tại,vẫn chưa có bằng chứng khoa học nào chứng minh cả.vậy nên con người ta quan niệm thế nào thì thế giới tâm linh là như vậy. mọi sự giải thích chỉ là cho hợp lý vs cách suy nghĩ của người dương gian.vì ko biết chính xác nên ta phải làm theo quan điểm của số đông và sợ ko dám làm ngược lại vì sẽ thấy ko an tâm,mà nếu chẳng may bản thân hay gia đình có chuyện gì thì lại nghĩ là do ko làm giống mọi người. – (heroiszero)

Sai het sai het ngay xa toi vong nhan khong phai ai cung duoc ve . Cung nhu tren tran gian vay ngay an xa. – (cautrung)

tại vì trước 15/7 giá vàng mã rẻ hơn – (dinhnhiqni)

Cũng như nghỉ 2/9 hoặc 1/5, có ai về đúng ngày đó đâu, thường về quê trước 1 đến 2 ngày. – (Trần Canh)

Theo ý tôi cúng trước ngày 15 là dịp các vị buôn bán tăng giá vàng mã,làm như thế mới có lời nhiều.Nguyên nhân do các vị đó? – (cachang)

Theo phật giáo thì mở cửa từ ngày 2-14 còn theo đạo giáo thì hình như đúng ngày 15 mới mở. – (Mình Không)

ơ thế sao rằm tháng 7 mổ gà mổ lợn để cúng không phải là xát sinh hả? .. gieo nhân nào ăn quản đấy – (dainghia_vt9x)

các bạn phải phân biệt ngày rằm tháng 7 trong dân gian và trong Phật giáo có ý nghĩa khác nhau. Ngày rằm tháng 7 trong Phật giáo gọi là ngày Lễ Vu Lan có bắt nguồn từ sự tích của tôn giả Mục Kiền Liên. Còn trong dân gian ngày rằm tháng bảy được gọi là ngày xá tội vong nhân là ngày cúng cô hồn, đây cũng là ngày cúng quan trọng nhất trong năm “Cúng quanh năm cũng không bằng rằm tháng bảy” – (Vịt Con Xấu Xí)

Theo luật nhân quả, thì nếu bạn có tâm niệm thiện, nuoi dưỡng lòng từ bi, tạo nhiều nghiệp lành, biết sám hối tội lỗi thì nghiệp xấu sẽ giảm, chứ Phật không ban phước hay gián họa cho ai…”sống thuận theo chân lý, thì chân lý sẽ soi sáng trong bạn” – (Võ minh phước)

【#6】Mâm Cỗ Và Bài Sớ Văn Cúng Ông Công Ông Táo (23 Tháng Chạp)

Mâm cỗ và bài sớ văn cúng ông Công ông Táo (23 tháng chạp): Theo quan niệm xưa, bàn thờ cúng Táo Quân được đặt gần phía bếp. Lễ vật cúng Táo Quân bao gồm: mũ ông Công ba cỗ hay ba chiếc, trong đó có 2 mũ đàn ông, một mũ đàn bà. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ gửi đến bạn những thông tin đầy đủ nhất về mâm cỗ cúng ông táo & bài văn khấu ông táo dịp 23 tháng chạp. Mâm cỗ…

Mâm cỗ và bài sớ văn cúng ông Công ông Táo (23 tháng chạp): Theo quan niệm xưa, bàn thờ cúng Táo Quân được đặt gần phía bếp. Lễ vật cúng Táo Quân bao gồm: mũ ông Công ba cỗ hay ba chiếc, trong đó có 2 mũ đàn ông, một mũ đàn bà. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ gửi đến bạn những thông tin đầy đủ nhất về mâm cỗ cúng ông táo & bài văn khấu ông táo dịp 23 tháng chạp.

Mâm cỗ và bài sớ văn cúng ông Táo (23 tháng chạp)

Người Việt quan niệm ba vị Thần Táo định đoạt phước đức cho gia đình, phước đức này do việc làm đúng đạo lý của gia chủ và những người trong nhà. Bàn thờ thường đặt gần bếp, cho nên còn được gọi là Vua Bếp. Hàng năm, đúng vào ngày 23 tháng Chạp là ngày Táo Quân sẽ lên thiên đình để báo cáo mọi việc lớn nhỏ trong nhà của gia chủ với Thượng Đế (hay ông Trời), nên có nơi gọi ngày này là Tết ông Công.

Thông thường một mâm cỗ mặn cúng ông Công ông Táo thường thấy nhất là: 1 đĩa gạo. 1 đĩa muối. 5 lạng thịt vai luộc. 1 bát canh mọc. 1 đĩa xào thập cẩm. 1 đĩa giò. 1 con cá chép rán (hoặc cá chép sống). 1 đĩa xôi gấc. 1 đĩa chè kho. 1 đĩa hoa quả. 1 ấm trà sen. 3 chén rượu. 1 quả bưởi. 1 quả cau, lá trầu. 1 lọ hoa đào nhỏ. 1 lọ hoa cúc. 1 tập giấy tiền, vàng mã. Sau khi bày lễ, thắp hương và khấn vái xong, đợi hương tàn lại thắp thêm một tuần hương nữa, lễ tạ rồi hóa vàng mã và thả cá chép ra ao, hồ, sông, suối… để thả cá chở ông Táo lên chầu Trời.

Theo tục xưa, riêng đối với những nhà có trẻ con, người ta còn cúng Táo Quân một con gà luộc nữa. Gà luộc này phải thuộc loại gà cồ mới tập gáy (tức gà mới lớn) để ngụ ý nhờ Táo Quân xin với Ngọc Hoàng Thượng Đế cho đứa trẻ sau này lớn lên có nhiều nghị lực và sinh khí hiên ngang như con gà cồ vậy!

Mâm cỗ cúng ông công ông táo dịp 23 tháng chạp!Đi kèm với mâm cỗ này là:

    Mũ dành cho các ông Táo thì có hai cánh chuồn, mũ Táo bà thì không có cánh chuồn. Những mũ này được trang sức với các gương nhỏ hình tròn lóng lánh và những giây kim tuyến màu sắc sặc sỡ. Để giản tiện, cũng có khi người ta chỉ cúng tượng trưng một cỗ mũ ông Công (có hai cánh chuồn) lại kèm theo một chiếc áo và một đôi hia bằng giấy.
    Những đồ “vàng mã” này (mũ, áo, hia và một số vàng thoi bằng giấy) sẽ được đốt đi sau lễ cúng ông Táo vào ngày 23 tháng Chạp cùng với bài vị cũ. Sau đó người ta lập bài vị mới cho Táo Công. Ngoài ra, để các ông và các bà Táo có phương tiện về chầu trời, ở miền Bắc người ta còn cúng một con cá chép còn sống thả trong chậu nước, ngụ ý “cá hóa long” nghĩa là cá sẽ biến thành Rồng đưa ông Táo về trời.
    Con cá chép này sẽ được “phóng sinh” (thả ra ao hồ hay ra sông) sau khi cúng. Ở miền Trung, người ta cúng một con ngựa bằng giấy với yên, cương đầy đủ.Còn ở miền Nam thì đơn giản hơn, chỉ cúng mũ, áo và đôi hia bằng giấy là đủ. Tùy theo từng gia cảnh, ngoài các lễ vật chính kể trên, người ta hoặc làm lễ mặn (với xôi gà, chân giò luộc, các món nấu nấm, măng…) hay lễ chay (với trầu cau, hoa, quả, giấy vàng, giấy bạc…) để tiễn Táo Quân.

Bài 1: Bài cúng khấn Tết Ông Táo 23 tháng Chạp theo Văn khấn cổ truyền Việt Nam ( NXB Văn hóa Thông tin)

Nam mô a di đà Phật!

Nam mô a di đà Phật!

Nam mô a di đà Phật!

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương

Con kính lạy Ngài đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân.

Tín chủ (chúng) con là: ……………

Ngụ tại:…………

Hôm nay, ngày 23 tháng chạp tín chủ chúng con thành tâm sắp sửa hương hoa phẩm luật, xiêm hài áo mũ, kính dâng tôn thần. Thắp nén tâm hương tín chủ con thành tâm kính bái.

Chúng con kính mời ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân hiển linh trước án hưởng thụ lễ vật.

Cúi xin Tôn thần gia ân xá tội cho mọi lỗi lầm trong năm qua gia chủ chúng con sai phạm. Xin Tôn thần ban phước lộc, phù hộ toàn gia chúng con, trai giá, già trẻ sức khỏe dồi dào, an khang thịnh vượng, vạn sự tốt lành. Chúng con lễ bạn tâm thành, kính lễ cầu xin, mong Tôn thần phù hộ độ trì.

Nam mô a di đà Phật!

Nam mô a di đà Phật!

Nam mô a di đà Phật!

Bài 2: Bài cúng khấn Tết Ông Táo 23 tháng Chạp theo Nguyễn Thị Nhi – (Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam)

Hôm nay là ngày… tháng… năm.

Tên tôi (hoặc con là)…, cùng toàn gia ở…

Kính lạy đức “Đông Trù tư mệnh Táo phủ Thần Quân:

(Có thể khấn thêm: Thổ địa Long Mạch Tôn Thần. Ngũ phương ngũ thổ Phúc Đức chính Thần)

Hàng năm gặp tiết hết năm, tháng vừa cuối Chạp. Gia đình sửa lễ bạc dâng lên. Cảm tạ phúc dày nhờ Thần phù hộ. Kính mong thần tâu bẩm giúp cho.

Bếp trong nếp sống rất hòa, ngoài mặt dám rằng cũng đẹp. Cảm thông xin tấu thực thà. Cầu mong giúp đỡ lợi lạc. Người người lo ấm, cả nhà thêm tiếng tốt lẫy lừng. Việc việc thành công, một cửa ngút khí lành man mác. Muôn trông ơn đức vô cùng.

Cẩn cốc (vái 4 vái).

Bài cúng ông Công ông Táo được nhiều người dùng nhất:

Sớ văn khấn Táo Quân

Nam Quốc….. ……………………………………….

*Tỉnh….. …………………………………………….

*Thị….. ………………………………………..

*Địa danh.Phường,Xã,Thôn ………………………..

*Đệ tử……………..Tên…………………

Hôm nay ngày ……Tại ………

Tấu thỉnh Thổ Công Táo Quân thiên đình, tam giới, thần thánh chư thiên.

Thiên phủ, địa phủ, thủy phủ. Nhạc phủ vạn pháp thần thông. Tấu thỉnh Thổ Địa thần kỳ, Thành Hoàng xá lệnh. Cung duy Thổ Công Táo Quân thiên đình.

Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân. Thổ Gia Thổ Trạch Tứ Phương Ứng Giáng.

Thỉnh Môn Thần, Phúc Sự. Thỉnh Tĩnh Thần Thanh Thủy. Thỉnh Hỏa Thần Thượng thiên

Thỉnh Bếp Thần Linh Hỏa. Thỉnh Vua Bếp Tam Tài. Thỉnh Xí Thần. Thỉnh Khố Cung Thần trông nom trông gia nhân. Thỉnh Ngũ Phương Ngũ Đế.

Hỏa hóa ngân lưỡng tống Táo vương. Thượng thiên hảo sự quảng tuyên dương. Phụng đạo tụng kinh

Kì thao thanh bình đệ tử…… Phàm cư đại trung hoa…tỉnh…thị…hiệu. Kim nhật kiền thành. Dĩ hương chúc thanh sái chi nghi kính cáo

Cửu thiên trù phủ tôn thần chi vị tiền viết duy:

Thần linh thông thiên phủ. Trạch phái nhân hoàn. Công sùng viêm đế. Đức bị dưỡng quần sinh.

Đệ tử mỗi niên tứ quý. Ngưỡng lại tôn thần bảo hữu. Nhật thực tam xan. Toàn cảm đại đức khuông phù.

Thánh đức quảng bác. Thốn tâm nan báo. Nhật thường chi gian. Ngôn hoặc phi lễ. Hành hoặc phi nghi. Trù tạo chi tế. Hoặc phần mao cốt. Hoặc đôi uế ô.

Bất tri cấm kị. Mạo phạm táo quân đại vương. Hàng tai trí họa. Dĩ trí gia trạch bất an.

Kinh doanh bất thông. Nhân đinh bất vượng. Sinh súc bất lợi. Thường sinh tật bệnh chi tai.

Đệ tử hạp gia kiền niệm. Bặc kim đại cát lương thần.

Phụng tụng táo vương phủ quân chân kinh nhất quyển

Bổ tạ linh văn nhất hàm.

Thành khẩn lễ bái.

Thượng phụng

Cửu thiên nhạc trù tư mệnh

Thái ất nguyên hoàng định phúc . Phụng thiện thiên tôn vị tiền. Phục nguyện đại thi xá hựu.

Vĩnh tăng phúc lộc. Phùng hung hóa cát. Phổ ước an ổn. Thánh từ động hồi. Chiêu cách văn sơ

Thiên vận…niên….nguyệt….nhật

【#7】Bài Văn Khấn Nôm Cúng Thần Tài Chuẩn Đúng Cách

Khi đã sắm sửa đủ bàn thờ và thỉnh rước tượng Thần TàiÔng Địa về thờ cúng thì mọi việc hành thông, công việc buôn bán, kinh doanh của chủ nhân sẽ không phát tài phát lộc.

Trên thực tế nhiều người chưa biết cách chọn vị trí đặt bàn thờ thần Tài đúng phong thủy hoặc khi cúng, văn khấn nôm cúng Thần Tài đúng cách nên hạn chế vận may và tài lộc.

Ông Thần Tài khi cắt nghĩa Thần có nghĩa là vị thần, là tinh thần là thiêng liêng màu nhiệm, còn tài là trí phi thường và cũng có nghĩa là của cải, tiền bạc.

Theo quan niệm dân gian thì Thần Tài mang của cải cho mỗi gia đình. Chính vì thế nhiều gia đình, đặc biệt là những người tham gia vào lĩnh vực buôn bán, kinh doanh đều thờ cúng Thần Tài với mong muốn có được nhiều tiền bạc, cuộc sống sung túc, dư dả tiền bạc.

Nhưng ngày nay, do cách bố trí đặt bát hương thờ Thần Tài và Thổ Địa ( hay còn gọi là ông địa) chung một bàn thờ nên chúng ta hay dâng lễ thờ cúng Thần Tài hàng ngày hoặc cúng thần Tài ngày rằm, mùng một. Như vậy không sai vì thờ cúng theo lòng thành tâm của gia chủ, không cứ ngày lễ mới làm. Lòng thành càng nhiều, phúc đức càng viên mãn.

Theo dân gian, ngày cúng thần Tài hay còn gọi là ngày thỉnh thần Tài vào ngày mùng 10 hàng tháng.

Nhưng ngày nay, do cách bố trí đặt bát hương thờ Thần Tài và Thổ Địa ( hay còn gọi là ông địa) chung một bàn thờ nên chúng ta hay dâng lễ thờ cúng Thần Tài hàng ngày hoặc cúng thần Tài ngày rằm, mùng một. Như vậy không sai vì thờ cúng theo lòng thành tâm của gia chủ, không cứ ngày lễ mới làm. Lòng thành càng nhiều, phúc đức càng viên mãn.

Văn khấn Thần Tài, Thổ Địa có thể dùng trong các ngày:

  • Cúng Thần Tài, Thổ Địa mùng 10 hàng tháng
  • Cúng Thần Tài, Thổ Địa mùng 1, ngày rằm hàng tháng

Nam mô A Di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương.

– Kính lạy ngài Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân.

– Con kính lạy Thần Tài vị tiền.

– Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

Tín chủ con là…

Hôm nay là ngày… tháng… năm…

Tín chủ thành tâm sửa biện, hương hoa, lễ vật, kim ngân, trà quả và các thứ cúng dâng, bày ra trước án kính mời ngài Thần Tài vị tiền.

Cúi xin Thần Tài thương xót tín chủ, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật phù trì tín chủ chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia đạo hưng long thịnh vượng, lộc tài tăng tiến, tâm đạo mở mang, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô A Di Đà Phật!

Con lạy chín phương trời, mười phương đất

Kính lạy Quan đương niên Hành khiển, Tề vương hành khiển, Ngũ miếu hành binh chi thần.

Kính lạy các Ngài Thành Hoàng bản cảnh chư vị đại vương.

Kính lạy Ông Địa – Thần Tài, ông chủ gia bà chủ đất, các phần hương linh khuất mặt khuất mày, các vị Tiền chủ Hậu chủ.

Con tên là……………………………………………………………………………………..

Năm sinh………………………………………………………………………………………

Cửa hàng tại địa chỉ……………………………………………………………………….

Hôm nay là ngày 10 tháng giêng năm Canh Tý

Tín chủ con thành tâm sắm sửa , hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án

Trước bàn thờ chư vị Tôn Thần, tín chủ con chắp tay kính cẩn.

Khấu xin Thành Hoàng bản địa, Ông Địa – Thần Tài chứng minh cho tâm lành khấn vái, xin chân thành cảm ơn chư vị thần linh đã phù hộ độ trì cho con trong suốt thời gian qua, cho chúng con kinh doanh buôn bán lo toan công việc tại nhà này xứ này.

Hôm nay tân niên xuân tiết, nhân cát nhật cát nguyệt cát niên .Tín chủ con có chút lòng thành dâng lên chư vị.

Trước bàn thờ chư vị tôn thần, tín chủ con kính cẩn tấu trình.

Xin chư vị khai ân cho chúng con được khai phúc khai lộc, khai vận khai hoa cho cả năm mưa thuận gió hoà, công việc ổn thoả. Lòng người yên ả, nô bộc thuận hoà.

Cho con buôn may bán đắt, nức tiếng gần xa, hữu xạ tự nhiên hương mà vô hạn tai ương tán.

Không dám mơ những cao xa vọng tưởng. Chỉ mong công sức được ra thành quả. Cố gắng được ra thành tựu. Chăm chỉ được tới hồi thành công. Thêm chút vận may mà có thêm lộc rơi lộc rụng.

Chúng con người trần mắt thịt, việc dương chưa tỏ việc âm chưa thấu, nếu có điều gì lầm lỡ mong các Ngài bỏ qua đại xá cho chúng con

Con xin Thành Hoàng bản địa, Ông Địa – Thần Tài, ông chủ gia bà chủ đất, các phần hương linh, chư vị Tiền chủ Hậu chủ chứng giám cho lòng thành khấn vái. Kính bái.

Khấn xong, vái hay lạy ba cái

Niệm Nam Mô A Di Đà Phật ( 3 lần )

Lạy Thành Hoàng bản cảnh, Ông Địa – Thần Tài, ông chủ gia bà chủ đất, các phần hương linh khuất mặt khuất mày, các vị Tiền chủ Hậu chủ.

Con tên là……….. niên canh……….., ……….tuổi.

Ở tại ngôi gia, số…….. đường……… quận……… tỉnh (thành)………… Việt Nam quốc.

Khấu xin Thành Hoàng bản địa, Ông Địa – Thần Tài chứng minh cho lòng thành tâm khấn vái, xin chư vị cho con được ………………….. (lời khấn để xin điều gì đó).

Mọi việc vuông tròn, con xin được hậu tạ………… (hứa hẹn tạ lễ).

Con xin Thành Hoàng bản địa, Ông Địa – Thần Tài, ông chủ gia bà chủ đất, các phần hương linh, chư vị Tiền chủ Hậu chủ chứng giám cho lòng thành khấn vái. Kính bái.

Khấn xong, vái hay lạy ba cái.

Bàn thờ Thần Tài – Ông Địa tuy để dưới đất, nhưng các vị này rất ưa chuộng sự sạch sẽ, sáng sủa. Vì vậy, trong quá trình thờ cúng, ta nên giữ cho các vị này luôn sạch sẽ bằng cách tắm rửa thường xuyên bằng nước sạch.

Khi trời mưa to, nên bê Thần Tài, Ông Địa, Ông Cóc cho vào một cái thau sạch và để tắm mưa ngoài trời độ 15phút. Sau đó mang vào lau khô, xịt nước thơm và thắp hương xin.

Khi cúng Thần Tài – Ông Địa người ta thường cúng nhiều thứ, nhưng có lẽ các vị này thích nhất là đồ ngọt. Thịt quay, bánh hỏi, chuối, bưởi….

Khi mới lập bàn thờ, ta nên thắp nhang cúng Ông Địa, Thần Tài liên tục trong 100 ngày để bàn thờ tụ khí.

Tuyệt đối không vì sợ tốn điện mà tắt đèn trên bàn thờ, vì những ngọn đèn đó giống như những ngọn Hải Đăng dẫn đường cho các vị giáng xuống trần.

Trong 100 ngày đó mỗi sáng chỉ cần thay nước và thắp một nén nhang thơm Ấn Độ. Những lúc cần cầu xin điều gì thì thắp 3 nén cắm theo hàng ngang.

Nếu bạn chọn nhang Ấn Độ để cúng thần tài, ông Địa thì nên chọn nhang hương trầm, nhang nguyệt quế vì hương trầm được làm từ bột trầm rất quý và nguyệt quế được làm từ tinh dầu hoa nguyệt quế mang lại tài vượng rất hợp để cúng ông Địa cầu tài cầu lộc.

Chỉ đến ngày 23 tháng Chạp mới rút chân nhang (khi bát nhang quá đầy chân nhang) và đem hóa cùng tiền giấy. Khi hóa xong nhớ đổ một chút rượu vào đám tro.

1. Khi sắp đồ cũng nên đặt mâm cúng trong nhà, đồ lễ đơn giản, vừa phải không quá lãng phí. Chỉ cần hoa quả tươi, nước sạch, khi cúng cần thành tâm là được. Lễ cúng thần tài thường đơn giản hơn so với các lễ cúng quan trọng trong năm, tuy nhiên không vì thế mà tỏ ra hời hợt, lễ cúng thần tài cũng cần đầy đủ các lễ quan trọng như Rượu, Gạo, Vàng Hương ….

2. Không để hoa, hoa quả thờ héo úa, hư hỏng trên bàn thờ sẽ ảnh hưởng đến việc làm ăn của gia chủ.

4. Không để các con vật như chó mèo quấy phá làm ô uế bàn thờ Thần Tài.

5. Nơi đặt bàn thờ Ông Địa và Thần Tài phải luôn sạch sẽ. Và nên thường xuyên tắm rửa cho hai Ông bằng nước hoa bưởi hoặc nước pha rượu. Vào những ngày trời mua to nên đặt ông Thần Tài và Ông Địa vào chậu sạch, cho tắm mưa ngoài trời khoảng 15 phút. Sau đó đưa vào nhà lau khô, xịt nước thơm và thắp hương cấu khấn sẽ rất linh nghiệm.

6. Sau khi lập bàn thờ bạn nên thắp hương liên tục trong 100 ngày để bàn thờ tụ Khí. Không tắt đèn điện ở bàn thờ, vì ánh sáng sẽ giúp chỉ đường cho các vị thần giáng xuống trần gian. Trong 100 ngày nên thay nước mỗi ngày. Mỗi khi cần xin điều gì đó thắp 3 nén hương cắm theo hàng ngày. Vào ngày rằm, mùng một, lễ tết thì thắp 5 nén hương cắm theo hình chữ thập. Bạn nên chọn hương cuốn tàn – giữ được tàn hương, sau một thời gian sẽ có bát hương đẹp và tụ Khí. Vào ngày 23 tháng Chạp âm lịch thì rút chân hương hóa vàng. Sau khi hóa vàng nên đổ một ít rượu vào tro.

7. Nghi lễ thắp hương: Thông thường người ta thường thắp hương và đọc văn khấn thần tài vào mỗi buổi sáng mỗi khi mở cửa kinh doanh. Tuy nhiên có một số thắp buổi tối. Việc thắp buổi sáng hay tối không có quy định cụ thể. Tốt nhất nên chọn giờ tốt và bài văn cúng thần tài chính xác để hành lễ sẽ kích hoạt trường khí dễ hơn.

8. Nước: trước khi lấy nước cần rửa sạch chén, tốt nhất nên đặt 5 chén nước, nước đổ đầy cách miệng chén khoảng 1cm, không nên rót quá đầy dễ bị tràn ra bàn thờ không tốt.

9. Hoa: Bạn có thể dùng bình hoa thủy tinh, gốm sứ đều được. Khi cắm nên chọn hoa tươi, có nụ, có mùi thơm càng tốt. Và không nên dùng hoa giả.

10. Quả: Chọn trái cây tươi, không bị dập héo, còn nguyên vẹn có thể dùng táo, lê, chuối, cam, quýt. Và cũng không dùng quả nhựa để thờ cúng.

11. Đèn, nến: Nên dùng nến hoặc đèn dầu, không dùng bóng điện, đèn nhấp nháy vì chúng dễ tạo ra trường khí xấu, ảnh hưởng đến việc thờ cúng.

12. Gạo, muối sau khi cúng nên giữ lại, không được rải ra ngoài, rượu nên đứng ở ngoài cửa tưới vào nhà – với hàm ý đem lộc vào nhà.

13. Một trong những chú ý khi thắp hương cúng thần Tài – Ông Địa đó là Lộc sau khi cúng, thường vấn đề này nhiều người ít quan tâm, nhưng chúng ta nên chú ý là “Lộc sau khi cúng không được chia cho người ngoài mà chỉ cho người trong nhà ăn”.

Rút bớt chân nhang là việc nên làm không phải tùy tiện hàng ngày, thích làm lúc nào cũng được đâu. Có 1 nguyên tắc là. Thời điểm tốt nhất là các ngày 23 tháng chạp, ngày vía thần tài, ngày rằm tháng 7. Còn những nơi thắp hương thường xuyên hơn. Bạn nên kết hợp cúng ngày rằm hàng tháng để rút chân nhang.

Rút chân hương bàn thờ thần tài bằng cách rút nhẹ nhàng từng chân một, hạn chế việc thốc nắm 1 bó chân. Gia chủ lưu ý chọn để lại những chân hương đẹp nhất, để lại chân nhang theo số lẻ 3 – 5 – 7 – 9. Số chân hương lược bớt mang đi hóa hoặc cắm ở gốc cây trong vườn nhà.

Ngoài ra dịp cuối năm cũng là thời điểm thích hợp để các gia chủ bao sái lại bát hương, bao sái ban thờ để đón năm mới, xuân về.

Khi bài biện bàn thờ Thần tài cần lưu ý những thứ không thể thiếu sau:

  • Tượng ông Thần Tài đặt bên trái, tượng ông Thổ Địa đặt bên phải (hoặc bài vị).
  • Một bát hương đặt ở giữa bàn thờ.
  • Lọ hoa đặt bên tay phải. Hoa cúng nên là hoa cúc, hoa đồng tiền hoặc hoa hồng
  • Đĩa quả tươi đặt bên tay phải. Chuẩn bị 5 loại trái cây khác nhau
  • Chén nước
  • Đèn hoặc nến
  • Đĩa bày đồ lễ

【#8】Cách Sắm Lễ Và Các Bài Văn Khấn Tại Đình Đền Chùa Miếu Phủ

Theo tập tục văn hóa truyền thống, ở mỗi tỉnh thành, làng, xã Việt Nam đều có các Đình, Đền, Miếu, Phủ là nơi thờ tự Thần linh, Thành Hoàng, Thánh Mẫu.

Các vị Thần linh, Thành Hoàng, Thánh Mẫu là các bậc tiền nhân đã có công với cộng đồng làng xã, dân tộc trong lịch sử đấu tranh giữ nước và dựng nước của người Việt Nam.

Ngày nay, theo nếp xưa người Việt Nam ở khắp mọi miền đất nước hàng năm vẫn đi lễ, đi trẩy Hội ở các Đình, Đền, Miếu, Phủ vào các ngày lễ, tết, tuần tiết, sóc, vọng và ngày Hội, để tỏ lòng tôn kính, ngưỡng mộ biết ơn các bậc Tôn thần đã có công với đất nước.

Đình, Đền, Miếu, Phủ cùng với sự lưu truyền sự linh diệu của các thần trong nhiều trường hợp đã đi vào trang sử oai hùng của dân tộc Việt Nam góp phần không nhỏ vào việc duy trì tình cảm yêu nước.

Nơi thờ tự Đình, Đền, Miếu thờ thần linh, Phủ còn là những nơi sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng. Con người hy vọng rằng bằng những hành vi tín ngưỡng, có thể cầu viện đấng Thần linh phù hộ cho bản thân, cùng gia đình, cộng đồng được an khang, thành đạt và thịnh vượng, yên bình, biến hung thành cát, giải trừ tội lỗi…

Cách sắm lễ đi đền chùa miếu phủ

Theo phong tục cổ truyền khi đến Đình, Đền, Miếu, Phủ nên có lễ vật có thể to, nhỏ, nhiều, ít, sang, mọn tuỳ tâm. Mặc dù ở những nơi này thờ Thánh, Thần, Mẫu nhưng người ta vẫn có thể sắm các lễ chay như hương hoa quả, oản,… để dâng cũng được.

1. Lễ Chay: Gồm hương hoa, trà, quả, phẩm oản… dùng để lễ ban Phật, Bồ Tát (nếu có).

Lễ chay cũng dùng để dâng ban Thánh Mẫu. Trong trường hợp này sắm thêm một số hàng mã để dâng cũng như: tiền, vàng, nón, hia…

2. Lễ Mặn: Gồm gà, lợn, giò, chả… được làm cẩn thận, nấu chín. Nếu có lễ này thì đặt bàn thờ Ngũ vị quan lớn tức là ban công đồng.

3. Lễ đồ sống: Gồm trứng, gạo, muối hoặc thịt mồi (một miếng thịt lợn khoảng vài lạng)

Đây là lễ dành riêng cho việc dâng cúng quan Ngũ Hổ, Bạch xà, Thanh xà đặt ở hạ ban Công Đồng Tứ phủ.

Theo lễ thường thì gồm 5 quả trứng vịt sống đặt trong một đĩa muối, gạo, hai quả trứng gà sống đặt trong hai cốc nhỏ, một miếng thịt mồi được khía (không đứt rời) thành năm phần, để sống.

Kèm theo lễ này cũng có thêm tiền vàng.

4. Cỗ mặn sơn trang: Gồm những đồ đặc sản Việt Nam: cua, ốc, lươn, ớt, chanh quả… Nếu có gạo nếp cẩm nấu xôi chè thì cũng thuộc vào lễ này.

Theo lệ thường, khi sắm lễ mặn sơn trang, người ta thường sắm theo con số 15: 15 con ốc, cua, 15 quả ớt, chanh hoặc có thể chỉ cần 1 quả nhưng được khía ra làm 15 phần… Con số 15 này tương ứng với 15 vị được thờ tại ban sơn trang: 1 vị chúa, 2 vị hầu cận, 12 vị cô sơn trang

5. Lễ ban thờ cô, thờ cậu: Thường gồm oản, quả, hương hoa, hia, hài, nón, áo… (đồ hàng mã) gương, lược… Nghĩa là những đồ chơi mà người ta thường làm cho trẻ nhỏ. Những lễ vật này cầu kỳ, nhỏ, đẹp và được bao trong những túi nhỏ xinh xắn, đẹp mắt.

6. Lễ thần Thành Hoàng, Thư điền: Thường dùng lễ mặn: chân giò lợn luộc, xôi, rượu, tiền, vàng…

Các bài văn khấn tại đình đền chùa miếu phủ

Văn khấn Thành hoàng ở Đình, Đền, Miếu

– Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con xin kính lạy ngài Kim Niên Đương cai Thái tuế chí đức Tôn thần.

– Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành Hoàng chư vị Đại Vương.

Hưởng tử con là………………………………………………..Tuổi………….

Ngụ tại……………………………………………………………………….

Hôm nay là ngày…… tháng……năm………………..(Âm lịch)

Hương tử con đến nơi…………… (Đình hoặc Đền hoặc Miếu) thành tâm kính nghĩ: Đức Đại Vương nhận mệnh Thiên đình giáng lâm ở nước Việt Nam làm Bản cảnh Thành Hoàng chủ tể một phương bấy nay ban phúc lành che chở cho dân. Nay hương tử chúng con thành tâm dâng lên lễ bạc, hiến tế hương hoa, phẩm oản…

Cầu mong đức Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương chứng giám, rủ lòng thương xót, phù hộ che chở cho chúng con sức khoẻ dồi dào, mọi sự tốt lành, lắm tài nhiều lộc, an khang thịnh vượng, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

Hương tử con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Phục duy cẩn cáo!

Văn khấn ban Công Đồng

– Con lạy chín phương trời, mười phương Chư phật, Chư phật mười phương

– Con lạy đức Vua cha Ngọc Hoàng Thượng Đế

– Con lạy Tam Toà Thánh Mẫu

– Con lạy Tam phủ Công Đồng, Tứ phủ Vạn linh

– Con lạy Tứ phủ Khâm sai

– Con lạy Chầu bà Thủ Mệnh

– Con lạy Tứ phủ Đức Thánh Hoàng

– Con lạy Tứ phủ Đức Thánh Cô

– Con lạy Tứ phủ Đức Thánh Cậu

– Con lạy cộng đồng các Giá, các Quan, mười tám cửa rừng, mười hai cửa bể.

– Con lạy quan Chầu gia.

Hương tử con là:…………………………………….Tuổi…………………..

Cùng đồng gia đại tiểu đẳng, nam nữ tử tôn

Ngụ tại:……………………………………………………….

Hôm nay là ngày…… tháng…… năm………………(Âm lịch). Tín chủ con về Đền…………… thành tâm kính lễ, xin Chúa phù hộ độ trì cho gia đình chúng con sức khoẻ dồi dào, phúc thọ khang ninh, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, cầu bình an đắc bình an, vạn sự hanh thông, gặp nhiều may mắn.

Phục duy cẩn cáo!

Văn khấn lễ Tam Toà Thánh Mẫu

Đức đệ tứ khâm sai Thánh Mẫu, tứ vi chầu bà, năm toà quan lớn, mười dinh các quan, mười hai Tiên cô, mười hai Thánh cậu, ngũ hổ Đại tướng, Thanh Hoàng Bạch xà đại tướng

– Con kính lạy Đức Hiệu Thiên chí tôn kim quyết Ngọc Hoàng Huyền khung cao Thượng đế.

– Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con xin kính Cửu trùng Thanh Vân lục cung công chúa.

– Con kính lạy Đức thiên tiên Quỳnh Hoa Liễu Hạnh Mã Hoàng Công chúa, sắc phong Chế Thắng Hoà Diệu đại vương, gia phong Tiên Hương Thánh Mẫu.

– Con kính lạy Đức đệ nhị đỉnh thượng cao sơn triều mường Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương.

– Con kính lạy Đức đệ tứ khâm sai Thánh Mẫu, tứ vi chầu bà, năm toà quan lớn, mười dinh các quan, mười hai Tiên cô, mười hai Thánh cậu, ngũ hổ Đại tướng, Thanh Hoàng Bạch xà đại tướng.

Hưởng tử con là……………………………………….Tuổi……………….

Ngụ tại………………………………………………………..

Hôm nay là ngày…… tháng……năm………………………….(Âm lịch)

Hương tử con đến nơi Điện (hoặc Phủ, hoặc Đền)………chắp tay kính lễ khấu đầu vọng bái, lòng con thành khẩn, dạ con thiết tha, kính dâng lễ vật, cúi xin các Ngài xót thương phù hộ độ trì cho gia đạo chúng con sức khoẻ dồi dào, phúc thọ khang ninh, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, cầu bình an đắc bình an, vạn sự hanh thông, gặp nhiều may mắn.

Hương tử con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Phục duy cẩn cáo!

Cơ sở Đá mỹ nghệ Hà An chúng tôi với thâm niên 30 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực thi công, tư vấn thiết kế các kiến trúc tâm linh, làm lăng mộ đá tại Ninh Bình. Với đội ngũ nghệ nhân chế tác đá lành nghề, chúng tôi cung cấp cung tư vấn thiết kế nhiều hạng mục đá mỹ nghệ rộng khắp 64 tình thành trên cả nước.

Bên cạnh yếu tố kỹ thuật chuyên môn cao chúng tôi còn có kinh nghiệm trong việc tư vấn tâm linh, phong thủy cho mộ phần âm trạch. Điều này ở Đá mỹ nghệ Hà An luôn luôn hướng đến và tư vấn khách hàng bằng tất cả sự hiểu biết, kinh nghiệm cũng như tâm huyết nghề đá của mình.

Liên hệ Cơ sở đá mỹ nghệ Hà An

Địa chỉ: Làng Đá Mỹ Nghệ Ninh Vân, Hoa Lư, Ninh Bình

Điện thoại: 0904.255.468

Website: https://maulangmoda.com

Chúng tôi xin cam kết đem lại các sản phẩm chế tác từ đá với chất lượng tốt nhất và giá cả hợp lý theo thị trường.

【#9】Văn Khấn Ông Hoàng Mười : Những Bài Văn Khấn Tại Đền Ông Hoàng Mười

  1. Trang chủ
  2. Phong Tục

Ngoài ra còn các bài khấn tấu xin tài lộc, sức khỏe, công danh… chi tiết dành cho các Thanh Đồng khi đến lễ tại đền ông Mười.

Cùng tham khảo

I. Bài văn khấn ông Hoàng Mười thông dụng

Đây là 2 bài văn khấn thông dụng dành cho du khách khi về lễ tại đền hoặc ban thờ của Ông.

1. Bài văn khấn ông Mười thông dụng số 1

Con lạy chín phương trời, mười phương Chư phật, Chư phật mười phương

Con lạy đức Vua cha Ngọc Hoàng Thượng Đế

Con lạy Tam Toà Thánh Mẫu

Con lạy Tam phủ Công Đồng, Tứ phủ Vạn linh

Con lạy Tứ phủ Khâm sai

Con lạy Chầu bà Thủ Mệnh

Con lạy Tứ phủ Đức Thánh Hoàng

Con lạy Tứ phủ Đức Thánh Cô

Con lạy Tứ phủ Đức Thánh Cậu

Con lạy cộng đồng các Giá, các Quan, mười tám cửa rừng, mười hai cửa bể.

Con lạy quan Chầu gia.

Hương tử con là: …………………………………….

Tuổi: ………………….

Cùng đồng gia đại tiểu đẳng, nam nữ tử tôn Ngụ tại: …………………………………………….

Hôm nay là ngày…… tháng…… năm………………(Âm lịch).

Tín chủ con về Đền…………… thành tâm kính lễ, xin Chúa phù hộ độ trì cho gia đình chúng con sức khoẻ dồi dào, phúc thọ khang ninh, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, cầu bình an đắc bình an, vạn sự hanh thông, gặp nhiều may mắn.

Phục duy cẩn cáo!

2. Bài văn khấn ông Mười thông dụng số 2

Nam mô a di đà Phật ( 3 lần)

Con lậy chín phương trời, con lạy mười phương đất, con lạy chư phật mười phương.

Con lậy toàn thể chư phật, chư tiên, chư thánh.

Con lậy Quan Hoàng Mười tối linh.

Đệ tử con là:

Ngụ tại: …

Hôm nay là ngày …tháng ….năm… Chúng con về đây có chút hương hoa, oản quả, lễ mặn hoặc chay ( có lễ gì kêu lễ đó) xin dâng lên các chư tiên, chư thánh để cảm tạ ơn đức của các ngài đã phù hộ, độ trì cho chúng con suốt thời gian qua. Thời gian vừa qua, được sự lưu tâm, độ trì của các ngài mà công việc hanh thông, vẹn tròn. Đệ tử chúng con xin cảm tạ các .

Hôm nay, chúng con đến đây với tất cả lòng thành kinh, xin các ngài phù hộ, độ trì cho chúng con các việc sau: ( xin việc gì thì nói cụ thể).

Con xin đa tạ Quan Hoàng Mười tối linh và toàn thể các chư tiên, chư thánh.

Nam mô a di đà Phật ( 3 lần).

II Các bài văn khấn ông Hoàn Mười đầy đủ cho thanh đồng

1. Bài văn khấn xin ông Mười tài lộc

Đệ tử con muôn trung bách Bái, chân con quỳ, tay con chắp, miệng con tấu đức Hoàng Mười trong tỉnh Nghệ An.

Long vân khánh hội, cát nhật đương thời, kỳ thi khánh tiệc, khánh đại giai kỳ.

Nay nhất tâm tưởng vạn tâm cầu, nhất tâm cửa Phật, thật tâm cửa Thánh con đến cửa quan Hoàng. Con lễ bạc lòng thành, trước ngài chứng tâm, ngài chứng lễ. Sau thời ngài ân xá, phúc xá, đại xá con đói cơm thèm lộc, đói lộc xin ngân. Để rồi năm phương ngài tiếp lộc mười phương ngài tiếp tài.

Trên ngài gia hộ, dưới ngài độ ngài thương. Ngài mở cung tài – ngài khai cung lộc. Ngài cho con xin đồng ngân, đồng xuyến, đồng tiền, đồng lương, giọt dầu, nén nhang…..để con trước lo việc tiên cung, tiên thánh – sau thời con gánh việc trần gian. Ngài cho con có đồng ra, đồng vào. Cầu con có con, cầu của có của. Mùa xuân có lộc, thu đông có tài. Khách gần mang đến, khách xa mang về.

Lộc Hoàng lát đường đi không hết. Con nhất tâm tưởng vạn tâm cầu xin Hoàng. Hoàng ngoảnh mặt đi chúng con dại – Hoàng ngoảnh mặt lại chúc con khôn để rồi Hoàng cho xin lộc rơi, lộc vãi để có thêm đồng tiền, bát gạo. Để qua kỳ đói, khỏi kỳ nạn cho đẹp bằng người cho tươi bằng của. Con chí thiết lòng thành, không dám tham lam.

Chỉ xin quan ban quốc dư, lộc tài mà không dám đơn sai.

A di đà phật lạy hoàng !

2. Bài văn khấn xin công danh tại đền Ông Hoàng Mười

Con lạy quan Hoàng Mười – trấn thủ đất Nghệ An

Hôm nay ngày lành tháng tốt, ngày tốt tháng đẹp. Ngày đại cát giờ đại an con đầu làm ngai hai vai làm trượng, Bắc ghế ông ngồi làm ngôi thánh ông ngự. Ngài về chứng đền chứng phủ, chứng đủ lô nhang, trên ngài tấu đế đình, dưới ông hạ trình thoải phủ.

Hoàng cho con thời học ăn, học nói, học bói, học soi sau thời con có công danh, sự nghiệp, có của làm ra – cửa nhà làm nên, vẹn thời phê bút – mà phút thời phê danh cho con lấy tiếng cho thánh, lấy danh, lấy diện cho trần.

Hôm nay con tâm thành lễ bạc, con tâm có của không, con giàu một bó, con khó một nén, giàu làm hẹp, kém làm đơn. Một nén cũng có mà một bó cũng thơm. Con lại mang miệng về tâu, con cúi đầu vọng bái. Con đói cơm thèm lộc đói phúc mà thèm tài. Đói cơm cha, thèm sữa mẹ.

Việc âm chưa tường mà việc dương chưa tỏ. Nay Hoàng phê chữ đỏ, ông bỏ chữ đen. Hoàng ấn ngón tay, Hoàng xoay ngòi bút. Quyền của Hoàng, phép của Hoàng, gia bản nằm trong tay Hoàng để rồi ngài thương cho danh cho diện, cho quyền cho phép.

Để con công danh thăng tiến, công việc được thăng quan, thăng cấp, thăng phẩm, thăng hàm. Ngài cầm cân nảy mực, đặt bút chư phê rõ ràng. Để rồi phúc đó mà quý nhân phù trợ, mà số đó thì được bạn hiền bạn tốt giúp đỡ. Cho gặp thầy, gặp bạn, gặp vạn sự lành. Gặp ông có nhân – gặp bà có đức. Nắn nở chở che, cho con nở cành xanh lá.

Trăm tội ông xá, vạn tội ông thương ông chỉ đường dẫn lối để thuyền trôi một bến nước chảy xuôi dòng. Sông sâu bến ấy mà đáo lai thọ trường cũng là con ông. Nước sông lam chưa bao giờ cạn, lời của Hoàng chẳng dám đơn sai.

A di đà phật con kêu thấu tấu nổi lạy hoàng. Để rồi phúc đó lại là gần hơn !

3. Bài khấn xin Hoàng Mười sức khỏe

A di đà Phật, đầu năm chí giữa, nửa năm chí cuối, xuân hạ thu đông, tứ thời bát tiết, tháng thuấn, ngày nghiêu.

Lại nhất tâm mưa không quản, nắng không nề, đường xa bái ngái, tập bè kết phúc, tập phúc kết duyên đứng trước án tiền kêu cầu phật tiền, tiên, thánh, thần.

Nay con có đăng trà quả thực, lễ mọn tâm thành đến lễ bái cửa hoàng để rồi ba mươi mồng một hội rằm người thương. Hoàng cho con già được mạnh khoẻ – trẻ đặng bình an. Bách bệnh tiêu tan vạn bệnh tiêu tán cho sức khỏe con được tốt để trên lo việc thánh – dưới gánh việc trần.

Hoàng chẳng thiếu chi phép hoàng chẳng hẹp chi quyền, ngài khoá âm dạy dương, bồi hơi tiếp sức để cho đầu con được tinh tấn, thông minh, cho ngôn từ xúc tích, ý nghĩ chuyên sâu. Xin Hoàng cho con được sáng hai con mắt chặt hai đầu gối. Hoàng cho thuốc tiên tẩy hết bụi trần thanh cao rồi lại mười thanh cao.

Hoàng cho con trước làm sao thì sau thời gia đình con cũng vậy. Để rồi điều lành mang lại điều dại mang đi, sổ sinh lại mở – sổ tử không phê. Mọi chốn bốn bề nương nhờ phật thánh, đình thần tam tứ phủ. Nay trên con đường phụng sự việc thánh thần – trần gian, con cũng tạo nên vô số, vô biên, vô lượng, công đức, lỗi lầm….nay con lầm biết lỗi, biết tội mà đến cửa cha cửa mẹ kêu cầu vọng bái để một lời không xảy bảy lời không dám đơn sai.

Để rồi nương bóng hoàng sẽ được bình an, tai qua nạn khỏi. A di đà phật nay xin hoàng xá u, xá mê, xá lầm, xá lối, xá tội trần gian cho con biết đường mất lội biết lối mà về, cho đi đúng đường mà tu đúng đạo.

4. Bài văn khấn ông Hoàng Mười xin buôn bán

Ngày nay đói cơm thèm lộc, đói phúc thèm tài.

Nay nương nhờ cửa cha, cửa mẫu cho chúng con xin lộc buôn, lộc bán, lộc vào, lộc ra. Cho con buôn may, bán đắt, buôn chín bán mười, buôn tươi bán tốt. Của một đồng, công một nén, một vốn bốn lời để thuận lòng khách đến, vừa lòng khách đi. Cho khách gần mang đến, khách xa mang về.

Để rồi xin bề trên Phật Thánh soi xét cho người thương, cho giàu cửa hàng cho sang cửa ngõ. Buôn có bạn, bán có phường. Hàng hoá, tàu xe đi đường thượng lộ bình an, xuôi thuyền kịp bến. Cửa hàng, công việc còn nhỏ nay ơn trên ban lộc cho tiểu thành đại, cho ít thành nhiều, được khang trang, sạch sẽ, mát mẻ, hanh thông. Mở hàng có khách đến, tỏ lời khách thương để có thêm ngân thêm xuyến mà trang trải cuộc sống gia đình.

A di Đà Phật.

【#10】10 Bài Hát Chầu Văn, Hầu Đồng Hay Nhất

Cung văn đóng vai trò quan trọng trong hầu đồng. Một vấn hầu đồng phục vụ tín ngưỡng thờ cúng đạo thánh Việt Nam được coi là thành công, có màu “nhang khói, thần thánh” khi và chỉ khi từ người hành lễ cho tới lễ nhạc chầu văn (cung văn) cùng những người phục vụ (đồng phò) có sự kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn. Dưới dây là sưu tầm những bài hát chầu văn, hầu đồng hay nhất.

Bản văn Sự tích Bát Tràng Bản Hương Thánh Mẫu

Vị thánh được dân gian đồng hóa với Mẫu Đệ Tứ – Chầu Đệ Tứ của tín ngưỡng tứ phủ.

Bát Tràng danh hương chốn quê nhà

Mỹ Tín Thiên Tiên vốn Hằng Nga

Giáng sinh vào Đồng Tâm Trần Thị

Gái Bát Tràng uyên nhàn thùy mị

Nét dịu dàng từ ý đoan trang

Mậu Thìn năm đó giáng phàm

Trần Đồng Tâm vốn là Vương Phụ

Trần Đông Cục đích thị Mẫu Vương

Đức Vương Phụ vốn là Thần dược

Được tặng phong chức Phủ Hiệu Sinh

Đức Vương Mẫu cũng dòng vinh hiển

Là con gái Vệ Thần Sách triều Lê

Khi giáng phàm Ngài là quyền quý

Dòng Trâm anh cái thế gần xa

Tiết trung, hiếu nghĩa, thật thà

Công dung ngôn hạnh lại là Phật tâm

Danh thơm nức tiếng xa gần

Nhà nhà đều muốn kết tình thông gia

Ngày Hai Tư Chầu bà hiển hóa

Ất Dậu Tháng Chín Chầu về cõi tiên

Bách Nhật nội ngày đêm biến hiện

Lúc dạo chơi Đồng Phú, Đồng Tài

Có khi lại lễ Chùa Kim Trúc

Lúc quay ra Đồng Mỹ, Đồng Tâm

Rồi Đồng Lộc, cây đa Bà Cận

Khi ngự thuyền Long Nhỡn dạo chơi

Khi dạo mát bến đò Ba Đậu

Trở ra về lễ Phật Bảo Minh

Có khi bái yết cửa Đình

Dâng hương bái đảo Thành Hoàng sáu ngôi

Khắp dân làng lấy làm linh hiển

Bèn rủ nhau cầu đảo dâng hương

Nhiệm màu thay tâm cầu sở đắc

Khắp xa gần kéo dến dâng hương

Truyền tai nhau hiển ứng thần linh

Dấu chân hạc còn lưu hương đỉnh

Đức Đồng Tâm chẳng nỡ xa con

Mang thân ngọc hóa thành tro cốt

Chia trăm phần theo gió tán đi

Giữ một phần táng nơi cổ tự

Chùa Tiêu Giao bên xã Đông Cao

Núi Thiên Thai mây bay gió cuốn

Cốt tới đâu tôn kính lập đền

Bảy hai làng Gia Bình Siêu Loại

Tỉnh Bắc Ninh các xã phụng thờ

Năm Khải Định Tứ Tuần Đại Khánh

Sách tặng phong ân thánh giáng trần

Vua ban sắc chỉ phong thần

Trang huy dực bảo trung hưng Thượng Đẳng

Chuẩn cho dân xã phụng thờ

Hưng công xây sửa linh từ khang trang

Làng Bát Tràng tháng Chín mở hội

Ngày Hai Tư đản hóa Mẫu Bản Hương

Lòng thành kính hương hoa tịnh thủy

Hóa phép màu lục trí thần thông

Tốc lai giáng hạ từ trung

Ngôi đền cổ kính bên sông Nhĩ Hà

Ngôi đền tối tú tối linh

Khuông phù đệ tử khang ninh thọ trường

Cậu Quận Sòng Sơn Văn

Bản văn này nói về Thánh Cậu ( được thờ ở Sòng Sơn ) Trong hệ thống Tứ phủ , được sử dụng khi hầu giá này.

Vầng đông mãn bóng dương vời vợi

Soi vườn hồng choi chói nhân gian

Vốn xưa chầu chực đền vàng

Vào ra cửa Mẫu sửa sang một Hoàng

Trên ngọc bộ chén vàng tay lỡ

Xuống trần gian vào cửa dân ngay

Điều lành ứng mộng khôn thay

Bào thai đủ tháng mười ngày sinh ra

Khác người ta long hành hối bộ

Ấn tam đình lồ lộ nở nang

Dung nghi tính hạnh phi thường

Ngọc lành vàng tốt yêu đương chẳng rời

Phút nghe thấy trên trời chiếu chỉ

Rước Hoàng về thượng đế tiên cung

Xe loan gió lọt bụi hồng

Cành huyên duy phút mộng xuân rầu rầu

Chốn hồng lâu trong lòng phỉ ngộ

Chạnh nghĩ là cậu ở xứ Thanh

Sòng Sơn thượng đẳng anh linh

Trời Nam tú khí địa danh đâu bằng

Duy nghìn thu tặng phong choi chói

Cửa linh từ nhang khói ngàn thu

Chầu rồi cậu lại ngao du

Đồi Ngang phố Cát kinh đô thị thành

Áo cánh xanh phất phơ lòng đỏ

Quần hoa hiên vòng cổ vòng tay

Khăn đào cậu đội xinh thay

Vai mang túi gấm chân giày rong chơi

Cậu Hoàng ba bảy tuổi xanh

Miệng cười hoa nở mọi hình mọi xinh

Chân đá cầu đồng trinh đánh đáo

Tay quạt tầu hảo tố báo tiền

Cậu Hoàng be bé hạt tiêu

Bé xinh bé đẹp vua yêu Mẫu dùng

Các chầu cô khăn hồng áo thắm

Bóng cậu Hoàng càng ngắm càng say

Dăm ba dắt díu dang tay

Nhác trông cậu quận thực thay hữu tình

Hát tiếng kinh líu lô vui vẻ

Cậu Quận Hoàng tươi đẹp thanh tân

Trẻ già nam nữ xa gần

Cậu Hoàng chơi đó mười phần ngồi xem

Hoặc ai phải sương thu nắng hạ

Cậu ban cho nước lã tàn nhang

Ra tay chuyển bệnh trần gian

Trừ tai tống ách bình an tức thời

Tấu văn mời cậu ban tài lộc

Cho trong nhà ngũ phúc lâm môn

Đền thờ chúa vị thánh tôn

Anh linh thiên cổ trường tồn muôn thu

Đệ tử tôi khói hương phụng sự

Dốc một lòng sớm tối dám sai

Thỉnh Cậu giá ngự đền đài

Phù hộ đệ tử đời đời bình an

Văn bài sai Mười hai cô

Bài sai thập nhị tiên nàng

Cô nào việc ấy sửa sang theo hầu

Cô cả pha nước trà tầu

Thế là vừa ý gật đầu ban khen

Cô đôi dâng bộ khay đèn

Xe ngà diện sứ móc tiêm bằng vàng

Cô bơ dâng hộp thuốc nam

Thế là vừa ý ông hoàng sơn lâm

Cô tư đốt đỉnh nhang trầm

Ngọn đèn khêu tỏ tay cầm móc tiêm

Cô năm dâng hộp bánh nguyên

Kẹo xìu thuốc lá cảnh tiên ai bì

Cô sáu tính nết nhu mì

Dâng con ngựa xám ông đi chấm đồng

Cô bảy nẩy khúc đàn thông

Ngày ngày hầu hạ vào ra sớm chiều

Cô tám dâng chiếc lược ngà

Đôi tay chải chuốt thật là khéo thay

Cô chín yểu điệu ai tầy

Tiên cô dâng 1 đôi giầy hầu ông

Cô 10 thắt dải lưng hồng

Canh ba giờ tí đèn lồng bước ra

Cô 11 quạt nước pha trà

ấm tiên bình ngọc tay ngà dâng lên

Cô 12 múa lượn xênh tiền

12 tố nữ hầu giá đôi bên rõ ràng

Cậu thả lưới

Ba quân nghe lệnh cậu truyền

Thuyền bè neo cọc các miền đông tây

Lưới thần la liệt bủa vây

Thuỷ binh cơ đội vào ngay kíp liền

Chân mây mặt nước vô biên

Lưới thần chăng khắp các miền hải đông

Tôm he cá mực tôm rồng

Đều sa vào lưới trùng trùng như muôn

Cậu bé Hoàng Hát dọc:

Cậu Hoàng giục ngựa qua sông

Mồ hôi nhỏ giọt, thương đồng phải theo

Thương đồng mấy núi cũng trèo

Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua

Đường trường ngàn dặm suối khe

Sông sơn, phố cát lại về đền Dâu

Trần gian trẩy tội gần xa

Cậu Hoàng trẩy hội hoa xuân tưng bừng

Tấu cho phật thánh mười phương

Thanh đồng đệ tử tựa nương tuổi già

(Làm lễ xong ngự tọa)

Văn Cô Bé Hòa Bình

(Bản này được sử dụng hát trong giá hầu Chầu Thác Bờ )

Ai lên cảnh đẹp Hoà Bình

Thác Bờ phong cảnh hữu tình biết bao

Dải sông Đà rì rào sóng vỗ

Cảnh núi rừng cây phủ màu xanh

Anh linh cô bé Hoà Bình

Thác Bờ cô ngự một mình trông coi

Sử Lê triều sáng soi nữ kiệt

Giặc bạo tàn phải khiếp uy linh

Chiếc thoi vượt thác một mình

Mênh mông sóng vỗ ấm tình nước non

Trăng khuyết thì trăng lại tròn

Người Mường sống với nước non muôn đời

Cô cứu người bằng thoi Tam Bảo

Dắt dân bằng đuốc sáng thần tiên

Cô đi dáng điệu dịu hiền

Cong cong nét liễu cài trên sóng tuyền

Vẻ thanh tú hiện trên nền ngọc

Nét thu ba mái tóc vờn mây

Đoan trang vẻ mặt hây hây

Khăn xanh áo trắng vẻ đầy thần tiên

Mênh mông sóng nước hò khoan

Chơi vơi tượng đá hiện lên giữa dòng

Đêm thanh vắng thuyền rồng cô ngự

Lá cờ thần thêu chữ vàng tươi

Mênh mang một dải khoan bơi

Chở quân chính nghĩa thoát nơi hiểm nghèo

Nước Đại Việt Lê Triều khai mở

Phong cô là liệt nữ anh hùng

Có công được tặng chữ chung

Có cô bé Thác được phong thể vàng

Từng vượt núi băng ngàn mở lối

Giúp dân lành sớm tối nên công

Bao năm đục núi khơi dòng

Đem dòng nước ngọt mát từng đồi nương

Văn Cậu Quận Phủ Dầy

Bản văn này nói về Thánh Cậu ( được thờ Phủ Dầy ) trong hệ thống Tứ Phủ

Lòng tin tiến một cơi trầu

Dâng bản văn chầu thỉnh Cậu về đây

Cậu xưa vốn ở Phủ Dầy

Chầu chực đêm ngày hầu hạ vào ra

Cậu Hoàng mới độ lên ba

Hình dung sắc thái thật là xinh thay

Đầu đội nón chân đi giày

Áo xanh khăn đỏ vòng tay quạt tàu

Khi chầu thượng đế khấu đầu

Khi trở về chầu thánh mẫu thuỷ cung

Thấy ai thờ phụng có lòng

Cậu về giá ngự điện trung chơi bời

Cậu thời có sắc có tài

Khắp hết điện đài đâu chẳng ngự chơi

Ai thời sạch sẽ tốt tươi

Sửa sang lịch sự đến nơi tức thì

Cậu nay tính hạnh nhu mì

Hình dung nhan sắc mọi bề mọi hay

Lại xem phong cảnh mọi nơi

Đài kia giá nọ rong chơi phố phường

Miệng cười hoa nở phi phương

Khăn hồng cánh cánh rõ ràng thực xinh

Thấy đâu vui thú hữu tình

Cậu về giá ngự như hình thần tiên

Vốn xưa cậu ở giang biên

Con vua thuỷ tế giáng miền nhân gian

Văn Cô Cả

Bản văn này nói về cô Đệ Nhất trong hệ thống tứ phủ , được sử dụng hát hầu giá cô Đệ nhất khi lên đồng

Dưới Động Đình hoa rơi lai láng

Cửa rèm châu thấp thoáng bóng trăng

Đời Lê Thái Tổ trung hưng

Anh linh ra sức Liễu Thăng hàng đầu

Lệnh khoa màu theo quan sứ giả

Chọn ngày lành giáng hạ thần tôn

Ra vào ngọc điện kim môn

Danh thơm ngoài cõi tiếng đồn trong cung

Đức Mẫu Vương có lòng quảng đại

Phong cô làm công chúa thiên cung

Ngọt ngào nổi dấu thiên hương

Phấn son chải chuốt áo vàng trai lơ

Bậc thần nữ phong cô nhan sắc

Vẻ khuynh thành nhất mực trần gian

Hây hây má phấn tựa hương

Mặt hoa đầy đặn trán vuông cgữ điền

Vẻ thiên nhiên hình dung tầm thước

Gót hài hoa càng bước càng xinh

Đã nên quốc sắc khuynh thành

Mày ngang bán nguyệt rành rành tựa hoa

Áo mớ ba chân hài mỏ phượng

Lwợc đồi mồi nhẫn ngọc luồn tay

Gương soi phấn điểm nào tày

Cổ đeo chàng mạng đôi tai hoãn vàng

Nét dịu dang lại càng vinh hiển

Giá ngự đồng phán chuyện các nơi

Thông chi dưới bể trên trời

Lầu son phủ tía cô ngồi thảnh thơi

Lúc nhàn hạ lên chơi tỉnh Bắc

Kén được đồng nhan sắc nết na

Thiên triều bồng báo trải qua

Quỳnh Lôi thẳng tới Thổ Hà Vạn Vân

Trải phủ Thuận qua đền Dâu Khám

Tới đền Ghềnh xuống trạm Hoàng Mai

Có phen đi hán đi hài

Qua đền Cổ Vũ Hàng Gai Hàng Bè

Trở ra về Hàng Buồm Phố Khách

Gặp Minh hồng khúc khích cười reo

Rong chơi Cầu Gỗ Hàng Đào

Trở về Hàng Bạc lại vào Phúc Tân

Tháng hai hội đền Dầm đền Sở

Ninh xá từ Đại Lộ đức Ông

Nhởn nhơ đứng mũi thuyền rồng

Khuyên luyện thanh đồng chầu chực dâng hoa

Lại trở ra cô về đền Sét

Xuống Bạch Mai bái yết chùa Vua

Dạo chơi Trưng Trắc Hai bà

Đức Viên Hoà Mã ,lại ra Tây Hồ

Có phen dạo khắp thành đô

Qua phủ Tây Hồ về tới Chân Tiên

Mời Cô trắc giáng bản đền

Phù hộ đệ tử thiên niên thọ trường

Văn Cô Đôi Cam Đường Bản 1:

Lòng thành thắp một tuần hương

Dâng văn sự tích Cam Đường tiên cô

Quê nhà ở đất xưa Đình Bảng

Dòng nối dòng buôn bán vải tơ

Cô quản gì nắng sớm chiều mưa

Cong cong đòn gánh sớm trưa cho đời

Nào tơ lụa vải sồi lĩnh tía

Đủ mặt hàng chẳng thiếu thức chi

Chiều chiều quảy gánh ra đi

Lung linh got ngọc quảy đi cho đời

Cô tới đâu hoa cười chim hót

Các bản làng nhẹ gót thênh thênh

Suối khe đồi núi gập ghềnh

Vải tơ đem đến ấm tình ngược xuôi

Dân đâu đấy nhớ người tiên nữ

Dáng thanh thanh mắt tựa sao sa

Thơm thơm tóc phượng dà dà

Hây hây má phấn da ngà lưng ong

Núm đồng tiền dáng trông ngọc thuyết

Nở nụ cười vẻ nguyệt in hoa

Khăn vuông đen thẫm đậm đà

Lưng đeo xà tích tai hoa bấm vàng

Áo đổi vai dịu dàng vạt thắt

Mối lưng bao nhiệm nhặt đường cong

Tư trời sánh với trăng trong

Công dung ngôn hạnh đức cùng thanh tao

Sở mãn hạn thiên tào bỗng gọi

Trở về trời để lại nhớ thương

Người tiên gửi đất Cam Đường

Dấu tiên để lại bốn phương phụng thờ

Thuở sinh thời vải tơ đem đến

Lúc về trời vẫn hiện đêm khuya

Canh ba quảy gánh đi về

Tay tiên hái quả trẩy huê cho đời

Sang canh tư dạo chơi các bản

Gọi chim rừng gợi sáng canh năm

Anh linh nức tiếng bốn phương

Có cô tiên nữ Cam Đường thiêng thay

Dân đâu đó đêm ngày nguỡng mộ

Đội ơn cô tế độ sinh nhân

Ban tài tiếp lộc xa gần

Kêu sao được vậy nhân dân ơn nhờ

Đoi đãy nải thủa xưa ghi lại

Cô Cam Đường tiếng mãi mai sau

Hôm nay dâng tiến văn chầu

Cung đàn tiếng hát đôi câu tâm thành

Cô về lai giáng điện đình

Xin cô bốn chữ khang ninh thọ trường

Bản 2

Gương tần tảo đời đời ghi nhớ

Chữ kiệm cần ví tựa vàng son

Trăm năm bia đá vẫn mòn

Cam Đường cổ tích miếu đường ngàn thu

Đường Quan Lộ ,chợ Dầu ,Đình Bảng

Có hai cô buôn bán tha hương

Đòn cong túi đẫy dịu dàng

Ngược xuôi thuận nẻo Cam Đường chợ xa

Hai túi đẫy lượt là nhiễu vải

Lụa tơ vàng sồi đũi hoa trơn

Hai vai nặng gánh càn khôn

Chàm xanh lĩnh tía nâu non vải sồng

Đường xa lắc mà lòng chẳng ngại

Giúp ngưòi đời có vải ấm thân

Niềm tin đồn đại xa gần

Cam Đường biên giới thổ dân nức lòng

Bỗng một buổi trời đông tuyết lạnh

Vai nặng nề quảy gánh non xa

Chiều hôm bóng đã xế tà

Núi non khuất khúc vào ra vắng người

Cô dừng bước bên đồi đỡ gánh

Biết đâu ngờ đã định mưu gian

Cường hung một lũ bạo tàn

Thẳng tay cướp của lại toan hại người

Âu cũng bởi số trời đã định

Nợ trần hoàn nhẹ gánh gian lao

Tinh linh trở lại thiên tào

Cam bề hoặc tử quyết liều hai thân

Ngàn cỏ hoa tần ngần rủ lá

Cảm thương người một dạ kiên trinh

Nỗi oan khuất thấu Thiên Đình

Mối xông cổ mộ rành rành bên non

Phép linh ứng hiện hồn đưa khách

Cứu cho người thoát ách cường hung

Độ người trên bộ dưói sông

Thuận buồm xuôi gió thong dong đi về

Khắp hương bản nhờ uy tế độ

Ai khẩn cầu phúc thọ tài danh

Cam Đường dựng miếu anh linh

Sở cầu như ý thời tình thế gian

Thưòng dạo cảnh Đông Cuông,Trái Hút

Đền Bảo Hà,Ngòi Hóp ,Lao Cai

Sông Thưong bẻ lái chèo bơi

Khi vào Rừng Cấm,khi chơi Làng Giàng

Khi chơi cảnh Hà Giang ,Bắc Mục

Thú lâm tùng rừng trúc rừng mai

Cam Đường quả ngọt hoa tươi

Lẵng hoa cô quảy trên vai nhịp nhàng

Thắt đai ngang xuyến vàng xà tích

Ống vôi trầu đỏ quạch thơm cay

Yếm đào dải lụa tung bay

Mặc áo đổi vạt chân giày quai ngang

Miếu đôi cô Cam Đường cổ tích

Hiếu anh linh hách trịch thế gian

Thỉnh cô trắc giáng đàn tràng

Khuông phù đệ tử an khang thọ trường

Văn Cậu Quận Đồi Ngang

Bản văn này nói về Thánh Cậu được thờ ở Phủ Đồi Ngang – Ninh Bình . Dược dùng khi hát hầu trong Hệ thống Tứ phủ

Trên trời nổi trận mưa sa

Hồng vân ngũ sắc hoá ra cậu Hoàng

Nguyên xưa cậu ngự Đồi Ngang

Có giấy Mẫu truyền cậu kíp ran gay

Tháng ba trảy hội phủ giày

Công Đồng, Phủ Bóng ra ngay Phủ Bà

Về đồng chit chiếc khăn hoa

Kì thi khoá hội cậu ra kinh kỳ

Vua yêu, Mẫu lại yêu vì

Nâng niu như ngọc lưu ly vàng mười

Ngọc lưu ly càng nhìn càng thắm

Bông hoa đào càng ngắm càng xinh

Cậu Hoàng ba bảy tuổi xanh

Anh tài nhất mực thông minh tuyệt vời

Trái đào tóc chấm ngang vai

Tay cầm quyển sổ bút ngọc cài tai đi chấm đồng

Tai nghe nhạc ngựa long nhong

Nhạc ngựa cậu Quận đèn chong cậu về

Con ngựa hồng khoan khoan chân bước

Giương cung thần bắn suốt mình chim

Một đàn chim nhạn bay lên

Tránh sao cho khỏi mũi tên cậu Hoàng

Cái cung bạc, mũi tên vàng

Giương cung cậu bắn rõ ràng mười mươi

Cậu ăn chơi nghiêng nước đổ trời

Có khi thanh lịch tốt tươi anh hào

Đền đây khuya sớm ra vào

Đôi tay nâng bức màn đào quỳ tâu

Ngày ngày đôi buổi theo hầu

Vua cha cũng quý Chúa Chầu cũng thương

Tấu cho phật thánh mười phương

Thanh đồng đệ tử tựa nương trăm tuổi già

Tục truyền tháng tám hội Cha

Tháng ba hội Mẫu gần xa nức lòng

Cậu Đồi giục ngựa qua sông

Hèo hoa cậu vác thương đồng phải theo

Thương đồng tứ núi cũng leo

Thất sông cũng lội cửu đèo cũng qua

Chân tâm niệm chữ Di Đà

Vào chùa Non Nước hái hoa đem về

Băng rừng vạn dặm suối khe

Khi chơi Yên Tử lúc về Quỳnh Lâm

Thương người thành kính nhất tâm

Cứu cho thoát ách trầm luân mọi loài

Cậu nay đích thực người trời

Tỏ lòng trung hiếu thương người trần ai

Gia ân tiếp lộc ban tài

Tạ xong ba lễ cậu ngồi nghe văn

Văn cậu bắn cung

Anh hùng có một không hai

Côn quyền kiếm kích đủ tài kinh luân

Đường đường rạng vẻ đai cân

Cung đeo kiếm giắt tiến quân lên ngàn

Ba quân nghe lệnh truyền ban

Bốn phương tám hướng quanh ngàn bủa vây

Cung vàng cầm chắc trong tay

Tên thần lắp sẵn tên bay nhẹ nhàng

Chim ưng đà điểu đại bàng

Cùng loài hổ bảo sói lang hại người