Bài Văn Khấn Cúng Tết Hạ Nguyên Rằm Tháng 10 Âm Lịch

--- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Ngày Mùng 1 Tháng 9 Âm Lịch
  • Bài Văn Khấn Giải Hạn Sao La Hầu Năm 2021
  • Văn Khấn Giải Hạn Sao La Hầu
  • Sao La Hầu Là Gì ? Văn Khấn Dâng Sao Giải Hạn “sao La Hầu”
  • Văn Khấn Tất Niên Vào Chiều 30 Tết
  • Sử dụng bài văn khấn cúng Tết Hạ Nguyên để cầu mong thần Tam Thanh ban phúc lành, tránh tai họa. Theo phong tục dân gian Tết Hạ Nguyên được tiến hành vào ngày Rằm tháng 10 Âm lịch hàng năm. Theo quan niệm của ông bà ta ngày xưa, những ngày này Thiên Đình cử thần Tam Thanh xuống trần gian để xem xét việc tốt xấu về tâu với Ngọc Hoàng.

    Đây cũng là dịp người ta “tiến tân” cơm gạo mới cúng tổ tiên. Nhân Tết Hạ Nguyên mọi người đều mua quà và gạo nếp mới cùng những đặc sản lúc giao mùa Thu Đông biếu ông, bà, cha mẹ và những bậc được tôn kính để tỏ lòng hiếu thuận, biết ơn bề trên.

    Sắm sửa lễ ngày Tết Hạ Nguyên

    Theo phong tục từ cổ xưa, ngày tết Cơm Mới (tết Hạ Nguyên) nhà nhà đều nấu xôi gạo mới, sắm sửa hương hoa, đèn nến cùng mâm lễ mặn thơm ngon tinh khiết để cúng tổ tiên.

    Bài văn khấn cúng Tết Hạ Nguyên rằm tháng 10 âm lịch

    – Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

    – Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành hoàng, ngài Bản xứ thổ địa, ngài Bản gia Táo quân cùng chư vị Tôn thần.

    – Con kính lạy Cao Tằng Tổ khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Thúc Bá, Đệ Huynh, Cô Di, Tỷ

    Muội họ nội họ ngoại.

    Tín chủ (chúng) con là:……………………………………………… Tuổi………………………..

    Ngụ tại:…………………………………………………………………………………………………….

    Hôm nay là ngày Rằm tháng Mười là ngày Tết Cơm Mới, tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, nấu cơm gạo mới, thắp nén tâm hương dâng lên trước án.

    Trộm nghĩ rằng:

    Cây cao bóng mát

    Quả tốt hương bay

    Công tài bồi xưa những ai gây

    Của quí hoá nay con cháu hưởng

    Ơn Trời Đất Phật Tiên, Chư vị Tôn thần

    Sau nhờ ơn Tổ tiên gây dựng, kể công tân khổ biết là bao

    Đến nay con cháu dồi dào, hưởng miếng trân cam

    Nay nhân mùa gặt hái

    Gánh nếp tẻ đầu mùa

    Nghĩ đến ơn xưa

    Cày bừa vun xới

    Sửa nồi cơm mới

    Kính cẩn dâng lên

    Thường tiên nếm trước

    Mong nhờ Tổ phước

    Hoà cốc phong đăng

    Thóc lúa thêm tăng

    Hoa màu tươi mới

    Làm ăn tiến tới

    Con cháu được nhờ

    Lễ tuy đơn sơ

    Tỏ lòng thành kính

    Chúng con kính mời ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại Vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân, Ngũ phương, Long Mạch, Tài thần. Cúi xin các Ngài giáng lâm trước án chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật.

    Chúng con kính mời các cụ Tổ khảo, Tổ Tỷ, chư vị Hương linh gia tiên nội ngoại họ ……………., cúi xin thương xót con cháu linh thiêng hiện về chứng giám tâm thành thụ hưởng lễ vật.

    Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì. Phục duy cẩn cáo!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cúng Phóng Sinh Ngày Rằm Tháng 7 Cần Chuẩn Bị Gì, Văn Khấn Phóng Sinh
  • Những Thủ Tục Khi Nhập Quan Và Việc Quan Trọng Cần Làm Trong Tang Lễ
  • Bài Văn Khấn Trong Lễ Cúng Đưa Ông Công
  • Bài Văn Khấn Cúng Ông Công Ông Táo Về Chầu Trời 23 Tháng Chạp Chuẩn Nhất!
  • Bài Văn Khấn Cúng Ông Công, Ông Táo Ngày 23 Tháng Chạp
  • Ý Nghĩa Ngày Rằm Tháng 6 Trong Phật Giáo Nam Tông

    --- Bài mới hơn ---

  • Ngày Mùng 1 Tụng Kinh Gì Và Tụng Kinh Thế Nào Cho Đúng?
  • 12 Kiêng Kỵ Ngày Mùng 1, Ngày Rằm Hàng Tháng Cực Quan Trọng
  • Hỏi Về Thủ Tục Lập Bàn Thờ Thần Tài
  • Cách Tổ Chức Tiệc Sinh Nhật Lãng Mạn Bất Ngờ Cho Người Yêu
  • Cách Tổ Chức Tiệc Halloween Cho Bé Bất Ngờ Và Thích Thú
  • Ngày Rằm tháng Sáu, có lẽ đối với người Việt Nam thì chỉ là một ngày Rằm bình thường, chẳng có chút gì gọi là quan trọng, nếu không nói là quá xa lạ với người Việt chúng ta.

    Tuy nhiên, với Tăng Tín đồ Phật Giáo Nam truyền, ngày Rằm tháng Sáu có rất nhiều ý nghĩa quan trọng trong cuộc đời lịch sử và hoằng pháp của Đức Phật. Ngày Rằm tháng Sáu còn được gọi là ngày Āsaḷhapūjā.

    Pūjā nghĩa là tôn kính, quý kính, còn có nghĩa là sự dâng cúng, cúng dường. Ở đây, Pūjā còn có nghĩa là ngày lễ lớn. Āsaḷha là tên một tháng trong lịch của Ấn Độ. So với âm lịch Việt Nam, Āsaḷha tương ứng với tháng Sáu.

    Āsaḷhapūjā là ngày lễ Rằm tháng Sáu, ngày kỷ niệm trọng đại một lúc bốn sự kiện lịch sử:

    1/ Bồ tát giáng trần

    2/ Bồ tát xuất gia

    3/ Ðức Phật chuyển Pháp Luân

    4/ Ðức Phật thị hiện song thông nhiếp phục ngoại đạo

    5/ Và sau ngày này, chư Tăng phật giáo Nam truyền bắt đầu mùa An cư Kiết hạ.

    Mơ màng ứng hiện mộng lành

    Uy nghiêm bạch tượng hóa thành thánh thai

    Theo Buddhavaṃsa (Phật sử), Bồ tát tu hạnh Trí tuệ phải thực hành pháp độ khoảng 20 A tăng kỳ và 100 ngàn đại kiếp. Tiền kiếp của Phật Thích Ca là Ngài Vessantara thực hành pháp bố thí ba-la-mật bậc thượng (Dānaparamatthapāramī) thành tựu viên mãn. Sau đó hết tuổi thọ, Ngài tái sanh vào cõi Trời Tusita có tên là Santusita. Trong những ngày trai giới, Chư Thiên các nơi vân tập về đây để nghe đức Bồ tát Setaketu thuyết pháp. Thường thường Ngài giảng về bố thí, trì giới, tham thiền, tội ngũ trần, đề cao hạnh xuất gia, ba tướng của vũ trụ… giọng nói của Ngài thanh tao như trời Phạm thiên, y phục chỉnh tề, hào quang sáng chói. Sau thời giảng, Chư Thiên vô cùng hoan hỷ, chấp thọ lời dạy của Ngài và cáo biệt trở về cung điện của mình.

    Riêng đức Bồ tát lúc nào cũng trầm tư mặc tưởng về chí nguyện độ đời của mình. Vì thế Ngài lúc nào cũng trong tư thế sẵn sàng giáng phàm để thành đạo. Thông lệ các vị Bồ tát mặc dù tu hạnh nào trước khi thành Phật cũng phải ngụ trên cõi Trời này để chờ thời gian thích hợp giáng phàm. Bồ tát Setasetu sống trên cõi Trời Ðâu suất khoảng thời gian rất lâu thì đến thời gian sắp hết tuổi thọ. Lúc đó, trời Ðế Thích và Chư Thiên đã đồng nhau cung thỉnh Ngài giáng phàm để sau này cứu độ chúng sinh. Ngài quán chiếu năm điều:

    Thời kỳ (Kāla): Tuổi thọ chúng sanh thời này không quá 1000 tuổi mà cũng không kém 100 tuổi. Lý do là, nếu sống lâu thì con người đâm ra dãi đãi, bất chấp tội phước; còn như yểu số thì con người chỉ lo mưu cầu danh lợi, thỏa mãn vật chất, không đủ thời gian tu niệm. Do đó, Ngài xuất hiện ở thời kỳ này.

    Quốc độ (Desa): Ngài chọn Trung Ấn Độ, ở đấy không quá giàu mà cũng không quá nghèo, sự bất công và sự phủ phàng lúc nào cũng hiện diện trong cuộc sống. Hơn nữa, có nhiều sự bất đồng về giai cấp, nghèo khổ, bệnh hoạn luôn là mối đe dọa con người, nhờ thế loài người dễ hướng thiện.

    Dòng dõi (Kula): Ngài chọn hoàng tộc Sakya. Vì trong 30 tục lệ của chư Phật, tất cả các vị Chánh đẳng giác kiếp cuối không được tái sanh trong dòng dõi thấp hèn, vì nếu tái sanh vào đó thì sẽ bất lợi cho việc hoằng pháp độ đời. Còn như giáng phàm trong giòng dõi cao quý thì việc hoằng pháp sẽ thuận lợi trong việc hoằng pháp.

    Châu (Padīpa): Loài người đang sống và tồn tại ở bốn châu thiên hạ: Đông thắng thần châu (Pubbavideha), Tây ngưu hóa châu (Āparagoyāna), Bắc cưu lưu châu (Uttarakuru) và Nam thiệm bộ châu (Jambudīpa). Ngài chọn Nam thiệm bộ châu vì ở châu này loài người không văn minh kiêu kỳ mà cũng không quá lạc hậu đần độn. Nhờ vậy khi gặp Phật, họ dễ dàng lãnh hội giáo lý, tu hành mau đắc đạo.

    Cha mẹ (Mātara): Đức Phật là thầy của tam giới nên Ngài phải chọn người có đại duyên, đại nguyện với Ngài trong vô lượng kiếp. Vua Suddhodana và chánh hậu Mahāmāyādevī, hai người này đã từng là cha mẹ của Ngài trong nhiều kiếp nên Ngài chọn hai vị này làm quyến thuộc.

    Sau khi quan sát năm điều thích hợp trên, Ngài đồng ý giáng sanh xuống trần gian để sau này thành đạo tiếp độ chúng sinh. Hôm đó là ngày Rằm tháng Sáu, năm 624 trước tây lịch.

    Xa nhau chẳng phải phụ nhau

    Quyết tìm phương dứt khổ đau muôn loài

    Một ngày vẻ vang kia, thái tử ra khỏi hoàng cung để nhìn xem thế gian bên ngoài và trực tiếp tiếp xúc với sự thật phũ phàng của đời sống. Trong phạm vi nhỏ hẹp của cung điện, Ngài chỉ thấy phần tươi đẹp, nhưng đám đông nhân loại thì biết bề đen tối, đáng ghê sợ của đời. Chính cặp mắt quan sát của thái tử đã nhận thấy một cụ già chân mỏi gối dùn, một người bệnh hoạn đau khổ, một thây ma hôi thúi và một đạo sĩ nghiêm trang khả kính. Ba cảnh già, bệnh và chết, hùng hồn xác nhận quan điểm của thái tử về đời sống đau khổ của nhân loại. Hình ảnh thong dong từ tốn của nhà tu sĩ thoáng cho Ngài hé thấy con đường giải thoát, con đường an vui hạnh phúc thật sự. bốn quang cảnh bất ngờ ấy càng thúc giục thái tử ghê tởm và sớm thoát ly thế tục.

    Nhận định rõ ràng rằng những thú vui vật chất mà phần đông tranh nhau tìm kiếm đều không thể đem lại lợi ích, chỉ có sự xuất gia, sự từ bỏ tất cả mùi danh bã lợi của trần gian này mới thật là chân giá trị, Thái Tử Siddhattha nhất định rời bỏ cung điện đền đài để ra đi tìm chân lý, nơi không còn phải tái sanh, già đau, bệnh, chết như thế.

    Giữa lúc ấy thì có tin đưa đến rằng Công Chúa Yasodharā, vợ Ngài, vừa hạ sanh hoàng nam. Đối với thế gian, đó là một tin lành. Nhưng, trái hẳn với mọi dự đoán, Ngài không quá đỗi vui mừng vì thấy đó là thêm trở ngại. Thế thường, khi sanh được người con đầu lòng, cha mẹ cảm nghe trong lòng chớm nở lần đầu tiên một tình thương mặn nồng sâu sắc, một tình thương mới mẻ đậm đà, vô cùng trong sạch. Nỗi vui mừng của người làm cha đầu tiên thật không sao tả được. Nhưng Thái Tử Siddhattha không phải là một người cha thường, Ngài than: “Lại thêm một trở ngại, lại thêm một dây trói buộc”. Do đó, Đức Vua Suddhodana đặt tên cháu nội là Rāhula.

    Ngài truyền lệnh cho Channa, người đánh xe yêu chuộng, thắng yên ngựa Kaṇṭhaka và thẳng đến điện của công chúa. Ngài khẽ hé cửa nhìn vợ và con đang yên giấc với một tấm lòng từ ái nhưng bình thản, không chao động, không trìu mến. Tình thương đối với vợ, con thật mặn nồng sâu sắc. Nhưng đối với nhân loại trầm luân đau khổ, lòng trắc ẩn của Ngài lại càng thâm thậm vô ngần. Ra đi, Ngài không lo sợ cho tương lai của công chúa và hoàng tử, vì biết chắc chắn rằng vợ và con sẽ có đầy đủ tiện nghi và đảm bảo để sống an toàn và sung sướng. Ra đi, không phải vì kém tình thương vợ, thương con, mà vì tình thương của Ngài mở rộng cho mọi người, bao trùm tất cả nhân loại và chúng sanh.

    Thái Tử Siddhattha ra đi giữa đêm khuya, để lại sau lưng tất cả đền đài cung điện, người cha yêu quý, vợ đẹp, con thơ, và cả một tương lai huy hoàng rực rỡ. Ngài trốn ra khỏi thành và giục ngựa thẳng xông trong đêm tối. Cùng đi với Ngài chỉ có Channa. Không tiền của, không cửa nhà, nay đây mai đó, Ngài bắt đầu lần bước trên đường đi tìm chân lý. Thế là Ngài từ bỏ thế gian.

    Đây không phải là sự từ bỏ của một cụ già đã trải qua hầu hết cuộc đời của mình, hay của người bần cùng nghèo đói không còn gì để bỏ lại phía sau, nhưng là sự khước từ của một hoàng tử vinh quang giữa thời niên thiếu, trong cảnh ấm no, sung túc và thịnh vượng. Một sự thoát ly chưa từng có trong lịch sử. Lúc ấy thái tử Siddhattha được 29 tuổi, vào năm 234 trước tây lịch.

    3/ Ðức Phật chuyển Pháp Luân.

    Sau khi giác ngộ, vị trời Phạm thiên Sahampati cung thỉnh Thế tôn vì lòng từ bi thuyết pháp độ đời. Ngài quan sát thế gian và nhận lời thuyết pháp. Ðầu tiên Ngài nghĩ sẽ thuyết pháp cho ai, người được nghĩ đến là đạo sĩ Ālārakālāma và đạo sĩ Uddakarāmaputta, hai vị này là thầy dạy đạo cho Ngài khi còn là Bồ tát, nhưng Chư Thiên báo là hai vị này đã qua đời. Tiếp đến Ngài nghĩ đến năm người bạn Kiều Trần Như đồng tu khổ hạnh với Ngài và hiện giờ họ đang ở vườn Lộc Uyển Isipatana gần thành Bārāṇasī.

    Từ Bồ đề đạo tràng sang vườn Lộc Uyển rất xa, khoảng 18 do tuần, chư Phật trong quá khứ chuyển bánh xe Pháp lần đầu thường đi bằng thần thông. Nhưng đức Phật Thích Ca quan sát thấy du sĩ Upaka có duyên với Ngài, nếu Ngài đi bằng thần thông thì du sĩ sẽ không có cơ hội gặp gỡ Ngài, mặc dù cuộc hạnh ngộ với đức Phật ngắn ngủi nhưng là một túc duyên cho Upaka sau này giác ngộ. Chính vì thế nên Ngài quyết định đi bộ. Ðường xá xa xôi, đường đi hiểm trở, tất cả cũng vì tình thương và sự giác ngộ của chúng sinh. Không màng những khó khăn cực nhọc trên một đoạn đường dài như vậy và cuối cùng Ngài đến vườn Lộc Uyển đúng vào ngày Rằm tháng Sáu, năm 228 trước tây lịch.

    Ðây là bài pháp nồng cốt trong triết lý Phật Giáo, là bài pháp đầu tiên mà Đức Phật thuyết giảng sau khi Ngài giác ngộ, cũng còn gọi là Kinh Chuyển Pháp Luân – Dhammacakkappavattanasutta.

    Nội dung bài pháp đầu tiên, gồm có bốn vấn đề:

    1. Khổ đế: trình bày tất cả những nỗi đau khổ trên trần gian

    2. Tập đế: chỉ rõ nguyên nhân của đau khổ là Ái dục

    3. Diệt đế: là trạng thái tịch tịnh, vắng lặng, Níp-bàn

    4. Ðạo đế: là con đường Trung đạo có tám ngành.

    Tóm lại, Ngài chỉ cho chúng sinh thấy niềm đau nỗi khổ trên cuộc đời và nguyên nhân đưa đến đau khổ. Ðồng thời Ngài giới thiệu sau khi hết khổ sẽ có hạnh phúc, an lạc, tự do và thoải mái và sau đó Ngài chỉ cho thấy những con đường phải đi để thành tựu được niềm hạnh phúc vĩnh cửu.

    Kinh ghi lại trước khi Ngài bắt đầu thuyết pháp Tứ diệu đế, Ngài giảng hai điều mà các thầy cần phải tránh xa, đó là khổ hạnh và lợi dưỡng. Khổ hạnh ép xác thái quá và sống lợi dưỡng thái quá cũng không đưa đến giải thoát. Mà tránh xa hai con đường này đó là con đường Trung đạo – Majjhimapaṭipadā. Kết quả sau thời giảng là năm vị Koṇḍañña mở pháp nhãn, giác ngộ đạo quả Tu đà hườn, trở thành 5 vị Thánh Tăng đầu tiên trong Phật giáo

    4/ Ðức Phật thị hiện song thông nhiếp phục ngoại đạo.

    Trong 30 tục lệ của chư Phật, dùng thần thông để nhiếp phục ngoại đạo là một trong ba mươi tục lệ đó. Ðã là tục lệ thì vị Phật tổ nào cũng phải thực thi đúng như vậy. Tục lệ có nghĩa là luật lệ, quy định, điều lệ đã định sẵn để dành cho những vị Phật tổ trong quá khứ, hiện tại và tương lai thi hành đúng niêm luật. Cho nên câu chuyện Đức Phật nhiếp phục ngoại đạo bằng thần thông là một chuyện bình thường vì đây chỉ là một việc làm kế thừa truyền thống của chư Phật.

    Từ khi thành đạo dưới cội Bồ đề và Ngài thuyết pháp giảng đạo, có rất nhiều người hữu duyên tìm đến với Ngài. Pháp của Ngài giảng hoàn hảo đoạn đầu, đoạn giữa và đoạn cuối, chúng sinh nào có duyên chắc chắn giác ngộ ngay trong kiếp hiện tiền. Do đó nhiều đệ tử của Ngài xuất gia, đắc đạo mặc dù họ đã có nhiều năm tu hành theo sáu vị lãnh đạo của lục đại môn phái nổi tiếng khắp nơi tại xứ Ấn Độ bấy giờ. Các vị lãnh đạo đó nhìn thấy đệ tử của mình mỗi ngày mỗi ít, đa số đã từ giã mình đi theo thọ giới với Sa môn Cồ Ðàm. Không nói được, nhưng càng nhìn đệ tử từ giã ra đi lại càng thêm căm phẫn. Thế nên hình ảnh đức Phật và đệ tử của Ngài là một sự căm thù đối với nhóm lục sư ngoại đạo trên. Mọi sinh hoạt của Ngài đều bị họ theo dõi để tìm khuyết điểm xuyên tạc, nhục mạ, hạ uy tín… nhưng tất cả đều như gió thoảng mây bay.

    Có một ông trưởng giả tìm được một khối trầm, cho tạc thành một bình bát và ông ta treo giải thưởng nếu ai lấy được bát ông sẽ trọng thưởng và cả gia đình theo nương nhờ làm học trò. Nhóm lục sư ngoại đạo nghe vậy cho người môi giới đến xin nhưng ông từ chối. Họ nói với ông trưởng giả chẳng lẽ vì một cái bát mà phải dùng thần thông thì không xứng đáng. Họ tìm nhiều mưu mô để đoạt được bát trầm nhưng không được. Ông trưởng giả nghĩ rằng trong nước mình đang ở có nhiều tôn giáo họ tự xưng là A-la-hán cho nên ông treo giải thưởng như vậy người nào lấy được mới quả là A-la-hán. Nhưng bảy ngày trôi qua nhóm lục sư ngoại đạo không người nào thi hành theo tâm nguyện của ông trưởng giả.

    Khi đức Phật cấm chế điều luật đó, nhóm lục sư ngoại đạo hay biết được và cho người đi tuyên truyền rằng: đệ tử của Sa môn Gotama còn vì danh lợi nên mới đi lấy bát còn chúng tôi là A-la-hán không vì danh lợi nên không lấy bát theo lời yêu cầu của trưởng giả. Sa môn Cồ Ðàm còn đập bát và cấm chế điều luật, không cho đệ tử sử dụng thần thông. Do đó họ quyết định thi thố thần thông với ông Sa môn Cồ Ðàm.

    Vua Ajātasattu hay tin ngoại đạo nói như vậy, vội vã vào yết kiến Thế tôn và bạch rõ vấn đề những vị lãnh đạo tôn giáo đó muốn thách thức so tài thần lực với Thế tôn. Ðức Thế tôn trầm lặng trong giây lát, Ngài nói với nhà vua rằng Như Lai đồng ý so tài thần thông với họ. Vua nói:

    – Bạch Thế tôn, còn việc Ngài cấm sử dụng thần thông thì sao?

    – Tâu Ðại vương, Như Lai cấm đệ tử chứ Như Lai đâu có cấm Như Lai đâu!

    Thế là đức Phật báo rõ địa điểm và thời gian để so tài thần thông với nhóm Lục sư ngoại đạo. Ngày đó là Rằm tháng Sáu tại Sāvatthī.

    Khi ngoại đạo hay tin đức Phật đồng ý so tài thần thông với họ, nên họ rất sợ và hoang mang. Vì họ nghĩ rằng, Ngài cấm chế không cho đệ tử sử dụng thần thông thì chắc Ngài cũng không được phép sử dụng, ai ngờ bây giờ ông ta đồng ý đấu thần thông với chúng ta thì chúng ta tính sao đây? Nhưng dù sao thì đã lỡ công bố rồi! Nhóm Lục sư ngoại đạo cùng nhau kéo về Sàvatthì và họ kêu gọi tín đồ hùn tiền để xây tháp đài để so tài thần lực với Sa môn Gotama, nên họ thu được một số tiền rất lớn. Vua Pasenadi hay biết tín đồ của nhóm lục sư ngoại lo lắng cho thầy như vậy Ngài cũng nao nao trong lòng. Hôm sau vua vào lễ Phật và xin Phật cho Ðại vương xây một tháp đài giống như ngoại đạo để Thế tôn so tài với họ. Ðức Phật khước từ và Ngài bảo sẽ hiện thần thông dưới gốc cây xoài.

    Ngoại đạo biết được cuộc nói chuyện giữa đức Phật và vua Pasenadi, nên họ cho đệ tử chặt hết những cây xoài trong thành Sāvatthī. Ðã đến ngày giờ so tài với ngoại đạo, Phật ngự vào thành nhưng chưa đến thành thì có một người giữ vườn Thượng Uyển thấy xoài chín hái dâng cho Phật. Phật hoan hỷ thọ lãnh và tìm một chỗ thích hợp ngồi thọ xoài, còn hạt xoài Ngài bảo người giữ vườn đào lỗ trồng và chính tay Ngài tưới nước. Chẳng bao lâu hạt xoài mọc lên một cây xoài xanh tươi nhiều hoa lá và có nhiều trái thơm ngon.

    Dân chúng đến tham dự cuộc so tài của đức Phật và ngoại đạo, họ thấy xoài có nhiều trái chín nên họ hái cùng nhau ăn. Họ ăn xoài thấy hương vị ngon lạ lùng, càng ngon họ càng nguyền rủa bọn ngoại đạo vô cớ chặt hết những cây xoài trong thành Sāvatthī, nên họ thấy bọn ngoại đạo ở đâu họ dùng hạt xoài ném vào bọn ngoại đạo.

    Sắp đến giờ so tài, bọn ngoại đạo khủng hoảng tinh thần trước quần chúng. Liền sau đó đức Phật hóa một con đường bằng ngọc báu, rồi Ngài đi thiền hành trên con đường đó.Tiếp theo, Ngài hóa thân, từ một thân thành nhiều thân, lúc đó quần chúng thấy nhiều Phật, Phật ngồi, nằm hoặc hai vị thuyết pháp với nhau… Cuối cùng, Ngài thị hiện song thông (yamakapāṭihāriya), với năng lực này chỉ có đức Chánh đẳng Chánh giác mới có thể thực hiện được.

    Thần thông này cùng một lúc hiện ra hai điều kỳ diệu: từ thân vừa phún tia nước, vừa phún tia lửa; từ thân phát hào quang xanh và đỏ… Trước uy lực của một vị Phật như vậy, bọn ngoại đạo kiếp sợ và rút lui chạy tán loạn chỉ còn lại dân chúng đang hướng về đức Phật thành kính lễ bái. Ðồng thời Ngài thuyết một bài pháp đúng vào tâm lý của từng chúng sinh, nên hôm đó Chư thiên và nhân loại đắc đạo chứng quả nhiều vô số kể.

    Trong giây lát, đức Phật chiêm nghiệm bằng tuệ giải thoát, Ngài thấy chư Phật trong quá khứ sau khi dùng thần thông thắng ngoại đạo là ngự lên cõi Trời Tāvatiṃsā thuyết pháp độ Phật mẫu bằng tạng Vi Diệu Pháp (Abhidhamma). Hôm ấy đúng vào ngày Rằm tháng Sáu.

    5/ Chư Tăng phật giáo Nam truyền bắt đầu mùa An cư Kiết hạ.

    Một ngày sau lễ Rằm tháng Sáu, chư Tăng trong truyền thống Phật giáo Nam truyền bắt đầu mùa An cư Kiết hạ. Trong chương “Vào Mùa Mưa”, Đại Phẩm, Tạng Luật, có ghi:

    Đức Thế Tôn ngự tại thành Vương-xá, Trúc Lâm. Lúc bấy giờ, việc an cư mùa mưa chưa được đức Thế Tôn quy định cho các Tỳ-kheo. Các vị Tỳ-kheo đi du hành trong mùa lạnh, trong mùa nóng và cả trong mùa mưa nữa. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

    – Vì sao các Sa-môn Thích Tử lại đi du hành trong mùa lạnh, trong mùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa? Ngay cả các du sĩ ngoại đạo, dù có giáo lý được thuyết tồi tệ, vẫn sống cố định một chỗ trong mùa mưa, ngay cả những con chim sau khi làm tổ trên các ngọn cây cũng sống cố định trong mùa mưa. Còn các sa-môn Thích Tử thì lại đi du hành trong mùa lạnh, trong mùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa. Các vị ấy đang dẫm đạp lên các loại cỏ xanh, đang hãm hại mạng sống của loài chỉ có một giác quan, và đang gây nên việc giết hại hàng loạt chúng sanh nhỏ nhoi.

    Các Tỳ-kheo nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Vì thế, các vị đã đem sự việc ấy trình lên đức Thế Tôn. Đức Phật nhân sự việc này mà bảo các Tỳ-kheo rằng:

    – Này các Tỳ-kheo, ta cho phép an cư trong mùa mưa. Đây là hai thời điểm vào mùa an cư: thời điểm trước và thời điểm sau.

    Thời điểm trước là ngày kế của ngày trăng tròn tháng Āsaḷha, thời điểm sau là vào ngày sau trăng tròn tháng sau. Tính theo âm lịch của Việt Nam nếu không có tháng nhuần thì thời điểm trước là ngày 16 tháng 6, thời điểm sau là ngày 16 tháng 7. Ngài dạy tiếp:

    – Này các Tỳ-kheo, trong mùa an cư ba tháng thì không nên ra đi du hành. Vị nào ra đi thì phạm tội tác ác (dukkata).

    Tuy nhiên, nếu có chuyện cần kíp và được thỉnh mời, vị Tỳ-kheo được phép rời trú xứ trong thời hạn không quá bảy ngày. Đức Phật dạy:

    – Này các Tỳ-kheo, ta cho phép đi khi được thỉnh mời với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày; và không nên đi, nếu không được thỉnh mời.

    Mùa an cư bắt đầu từ ngày rằm tháng Āsaḷha (rằm tháng Sáu). Tuy nhiên, đức Phật cũng cho phép bất kỳ một Tỳ-kheo nào khởi sự chậm hơn một tháng, vào ngày rằm tháng Bảy – gọi là “hậu An cư”. Việc đình chỉ du hành chấm dứt vào ngày rằm tháng Chín (Āssina). Nếu vị nào khởi sự chậm hơn một tháng, thì chấm dứt vào tháng Mười (Kattikā). Chư Tăng tổ chức lễ sám hối Bố-tát (Uposatha) đặc biệt, gọi là lễ Tự tứ (Pavāraṇā), đánh dấu kết thúc mùa an cư. Sau đó, các Tỳ-kheo công bố hoàn tất các phận sự trong Giới luật, rời nơi an cư và bắt đầu du hành truyền đạo.

    Như vậy, chúng ta thấy rằng: nếu như mình bỏ quên ý nghĩa của ngày rằm tháng sáu là mình đã bỏ quên một phần quan trọng trong lịch sử hoằng pháp của đức thế tôn.

    Kính chúc chư Tăng, Tu nữ và quý Phật tử một mùa an cư nhiều sức khỏe, thật an lạc và tràn đầy hạnh phúc trong Giáo Pháp của Đức Thế Tôn.

    theo: Báo Giác Ngộ Online

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Rằm Tháng Giêng Trong Phật Giáo
  • Danh Sách Các Ngày Lễ Phật Trong Năm
  • Ý Nghĩa Ngày Rằm Tháng Giêng, Tháng Bảy, Tháng Mười Trong Phật Giáo
  • Người Phật Tử Tại Gia Nên Trì Tụng Bài Kinh Nào Là Tốt Nhất?
  • Rằm Tháng Mười, Rằm Hạ Nguyên
  • Bài 1: Một Năm Của Người Việt Có Bao Nhiêu Ngày Tết?

    --- Bài mới hơn ---

  • Rằm Tháng Giêng: 10 Điều Đại Kỵ Truyền Đời Không Nghe Bảo Sao Xui Xẻo, Nghèo Nàn
  • Tết Trung Thu 2021 Vào Ngày Mấy Dương Lịch?
  • Tết Trung Thu 2021 Vào Ngày Mấy Dương Lịch?
  • Tìm Hiểu Về Ý Nghĩa Tết Trung Thu Vào Rằm Tháng Tám Hàng Năm
  • Lịch Âm Ngày 10 Tháng 10 Năm 2021
  • Tết Thượng Nguyên diễn ra vào ngày rằm tháng Giêng, ngày trăng tròn đầu tiên của năm. Tết này phần lớn tổ chức tại chùa chiền, vì rằm Tháng Giêng còn gọi là ngày vía của Phật tổ.

    Ta thường có câu: “Lễ Phật quanh năm không bằng rằm tháng giêng”. Tục ta tin rằng ngày rằm tháng giêng, đức Phật giáng lâm tại các chùa để chứng độ lòng thành của các tín đồ Phật giáo. Trong dịp này, chùa nào cũng đông người đến lễ bái và sau khi đi chùa, mọi người về nhà họp mặt cúng gia tiên và ăn cổ.

    Là tiết thứ năm trong “nhị thập tứ khí” và đã được người phương Đông coi là một lễ tiết hàng năm. Tiết Thanh Minh đến sau ngày Lập Xuân 45 ngày. Nhân ngày thanh minh, dân ta có tục đi viếng mộ gia tiên và làm lễ cúng gia tiên sau cuộc tảo mộ.

    Lễ tảo mộ: Tảo một chính là sửa sang ngôi một cho được sạch sẽ, rẫy hết cỏ dại, đắp lại nấm mồ cho to. Đây là dịp duy nhất trong năm mà có thể phạm tới hài cốt của người thân đã khuất mà không làm “chấn động” nhiều. Tuy vậy, có một số nơi người ta tảo mộ vào dịp trước và sau ngày Tết.

    Nhiều làng ở vào vùng đất thấp, ruộng nương và cả bãi tha ma đều ngập nước, thì người ta đi tảo một vào đầu tháng chín, sau khi nước đã rút. Dù đi tảo mộ vào ngày nào thì việc thăm nom mồ mả tổ tiên cũng là việc nên làm. Nghĩ đến gia tiên tức là nghĩ đến gốc, tưởng đến nguồn.

    “Hàn thực” nghĩa là ăn đồ nguội. Tết này vào ngày mồng Ba tháng Ba (âm lịch). Theo phong tục cổ truyền, ngày mồng 3 tháng 3 tức Tết Hàn Thực ta làm bánh chay.

    Tết này có xuất xứ từ Trung Quốc, làm giỗ ông Giới Từ Thôi (một hiền sĩ thời Xuân Thu có công phò Tần Văn Công), bị chết cháy ở núi Điền Sơn. Đành rằng dân ta theo tục đó nhưng khi cúng chỉ cúng gia tiên nhà mình.

    4. Tết Đoan Ngọ (Tết diệt sâu bọ)

    Tết Đoan Ngọ còn gọi là tết Đoan Dương. Sáng sớm cho trẻ ăn hoa quả, rượu nếp, trứng luộc, bôi hồng hoàng vào thóp đầu, vào ngực, vào rốn để giết sâu bọ. Người lớn giết sâu bọ bằng rượu hoặc ăn rượu nếp.

    Lý do ngày Tết Đoan Ngọ còn có tên là Tết diệt sâu bọ vì đây la giai đoạn chuyển mùa, chuyển tiết, dịch bệnh dễ phát sinh.

    5. Tết Trung Nguyên (Rằm tháng Bảy)

    Xuất phát từ truyền thuyết về Bồ tát Mục Kiền Liên đại hiếu đã cứu mẹ của mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ. Vu Lan là ngày lễ hằng năm để tưởng nhớ công ơn cha mẹ (và tổ tiên nói chung).

    Ngoài ra, rằm tháng Bảy theo tín ngưỡng là ngày xá tội vong nhân. Bao nhiêu tội nhân ở dưới âm phủ ngày hôm đó đều được tha tội. Bởi vậy trên dương thế gia đình đều cúng gia tiên, còn ở chùa thường làm chay chẩn tế và cầu kinh Vu Lan.

    Tết Trung Nguyên đồng thời để cúng những linh hồn bơ vơ không được ai chăm sóc. Người ta hay thả chim lên trởi, thả cá xuống sông để làm điều phúc đức.

    Theo tục cúng cháo Xưa, tại các cầu quán, đình chùa, đều có tổ chức “cúng cháo” để cúng các cô hồn không ai cúng giỗ. Thông thường, người cúng đốt vàng mã và bày cúng ở trước cửa nhà.

    6. Tết Trung Thu

    Trung Thu ở giữa mùa thu, tức vào rằm tháng 8 Âm lịch. Tết Trung Thu là Tết của trẻ em. Trẻ em khắp Việt Nam mong đợi ngày Tết này vì được người lớn tặng quà bánh như lồng đèn, bánh Trung Thu. Tết này người ta thường cùng nhau ngồi uống trà thưởng Nguyệt, nên còn được gọi là Tết Trông trăng hay Tết Đoàn viên.

    7. Tết Trùng Cửu (Tết Trùng Dương)

    Nhằm ngày mồng Chín tháng Chín (âm lịch) là Tết Trùng Cửu. Tết này bắt nguồn từ sự tích của đạo Lão. Nho sĩ Việt Nam du nhập và theo lễ này, nhưng lại biến ngày Tết này thành cuộc du ngoạn núi non, uống rượu cúc.

    8. Tết Hạ Nguyên (Tết Cơm Mới)

    Tết Song thập (mùng 10 tháng 10 hoặc 15 tháng 10 Âm lịch). Tết này được tổ chức rất lớn ở nông thôn vì đầy là dịp nấu cơm gạo mới của vụ mùa vừa xong.

    Trước là để cúng tổ tiên, sau để thưởng công cấy cầy. Trong Tết cũng có lễ dâng hương cầu cho quốc thái dân an, phong điều vũ thuận.

    9. Tết Trùng Thập

    Ngoài ra, mùng mười tháng mười Âm lịch cũng là Tết của các nhà thuốc. Cây thuốc mới tụ được khí âm dương, mới kết hợp được sắc tứ thời (Xuân – Hạ – Thu – Đông) nên trở nên tốt nhất.

    Đến ngày này, người ta thường làm bánh dày, nấu chề để cúng gia tiên rồi đem biếu những người thân thuộc.

    10. Tết Táo Quân

    Rơi vào ngày 23 tháng Chạp, mỗi gia đình thường mua 2 mũ ông Táo, 1 mũ bà Táo bằng giấy và 3 con cá chép làm “ngựa” để tiễn Táo quân về trời.

    Sau khi cúng trong bếp, mũ được đốt và cá chép được mang ra thả ở ao, hồ, sông…

    11. Tết Nguyên Đán

    Còn gọi là Tết Cả, Tết Ta, Tết Âm Lịch, Tết cổ truyền. Đây là dịp lễ quan trọng nhất trong văn hóa người Việt Nam. Chữ “Tết” là do chữ “Tiết” mà thành. “Nguyên” có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai. “Đán” là buổi sáng sớm. Cho nên đọc đúng phiên âm phải là “Tiết Nguyên Đán”.

    Chi tiết về ngày Tết Nguyên Đán chúng tôi sẽ trình bày sâu trong các bài tiếp theo. Nghiệm lại các ngày Tết mà ông bà truyền lại, âu cũng là cố tạo cơ hội để nhà nhà xum họp, quốc thái dân an.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vì Sao Nói: Đêm Tháng Năm Chưa Nằm Đã Sáng, Ngày Tháng Mười Chưa Cười Đã Tối
  • Chứng Minh Câu Tục Ngữ Đêm Tháng Năm Chưa Nằm Đã Sáng Ngày Tháng Mười Chưa Cười Đã Tối
  • Vì Sao Nói Đêm Tháng Năm Chưa Nằm Đã Sáng, Ngày Tháng Mười Chưa Cười Đã Tối
  • Bài Văn Mẫu Giải Thích Câu Tục Ngữ Đêm Tháng Năm Chưa Nằm Đã Sáng, Ngà
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Rằm Tháng Giêng Của Hồ Chí Minh
  • Rằm Tháng Giêng Là Tết Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tại Sao Chọn Rằm Tháng 8 Là Trung Thu?
  • Ngày Mấy Trung Thu? Ngày 14 Hay 15 Mới Là Chính Xác?
  • Lịch Cắt Tóc Tháng 10/2020 May Mắn Trong Tình Yêu & Sự Nghiệp
  • Top 4 Con Giáp Phát Tài Sau Rằm Tháng 10 Âm Lịch 2021, Tha Hồ Hốt Bạc
  • Con Giáp Phát Tài Sau Rằm Tháng 10, Cơ Hội Làm Giàu Ập Đến!
  • Rằm tháng Giêng còn được gọi là Tết Nguyên tiêu, đây là một trong những lễ quan trọng của người Việt.

    Dịp Tết Nguyên Tiêu ở nhiều nơi thường thả đèn hoa đăng

    Rằm tháng Giêng là Tết còn được gọi là Tết Nguyên tiêu

    Thành ngữ có câu “giỗ Tết cả năm không bằng ngày rằm tháng Giêng” cho thấy, quan niệm từ xưa ngày rằm tháng Giêng được coi là một trong những ngày lễ quan trọng của những ngày đầu năm mới.

    Ngày rằm tháng Giêng còn được gọi là Tết Nguyên tiêu, đây là rằm đầu tiên của năm mới theo lịch âm của người Việt.

    Vào dịp rằm tháng Giêng, dù có bận rộn thế nào các gia chủ cũng sắm mâm lễ dâng lên thần linh, gia tiên để bày tỏ tấm lòng thành kính và cầu một năm mới may mắn, thuận lợi.

    Ngày rằm tháng Giêng năm 2021 là ngày 15 tháng Giêng âm lịch, rơi vào ngày thứ 7 cuối tuần.

    Ngày rằm tháng Giêng nên lễ như thế nào?

    Ngày rằm tháng Giêng các gia đình thường làm mâm cơm cúng gia tiên tại gia. Thông thường người Việt sẽ cúng rằm tháng Giêng vào chính rằm nhưng có nhiều gia đình bận rộn có thể sắp xếp cúng trước ngày rằm tháng Giêng để con cháu có dịp quây quần trong ngày Tết Nguyên tiêu.

    Mâm lễ cúng gia tiên là mâm lễ mặn hoặc chay với đầy đủ các món ăn truyền thống của ngày Tết. Trong mâm lễ còn có bánh trôi (chè trôi nước). Nhiều người quan niệm trằng, ăn bánh trôi ngày Tết Nguyên tiêu là mong muốn mọi việc quanh năm được hanh thông, trôi chảy.

    Theo phong tục, lễ cúng rằm tháng Giêng thường được mọi người cúng vào giờ Ngọ (tức là từ 11h đến 13h) ngày chính rằm (15/1 âm lịch).

    Tuy nhiên, trong trường hợp bận rộn thì có thể sắp xếp cúng rằm tháng Giêng năm nay vào ngày 14 âm lịch.

    4 việc nên làm vào ngày Thần Tài mùng 10 tháng Giêng để phát tài phát lộc cả năm

    Vào ngày Thần Tài mùng 10 tháng Giêng Âm lịch, cần chuẩn bị lễ cúng Thần Tài, lau dọn ban thờ và làm lễ đón …

    Bộ VHTT&DL: ‘Tạm ngừng tổ chức lễ hội vì virus corona’

    Bộ VHTT&DL yêu cầu tạm ngưng tổ chức lễ hội trước tình trạng virus corona gây viêm phổi cấp bùng phát và lan rộng trên …

    Văn khấn Rằm tháng Giêng Tết Nguyên đán 2021 đẩy đủ và chuẩn nhất

    Các bài văn khấn lễ Rằm tháng Giêng cho Tết Nguyên đán Canh Tý 2021 theo phong tục dân gian đầy đủ và chuẩn xác …

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Rằm Tháng 10
  • Rằm Tháng 7 Là Ngày Gì? Là Ngày Chư Tăng Tự Tứ, Ngày Lễ Vu Lan Hay Ngày Xá Tội Vong Nhân?
  • Thắp Hương Ngày Rằm Tháng 8 Cứ Dùng 5 Loại Hoa Này Là Thần Tài Ưng Bụng, Tài Lộc Ùn Ùn Kéo Tới
  • Thắp Hương Mồng 1 Hàng Tháng Cần Những Gì?
  • Thị Trường Bánh Trung Thu: Vắng Như “chùa Bà Đanh”
  • Nguồn Gốc Và Ý Nghĩa Sâu Sắc Của Tết Trung Thu Không Phải Ai Cũng Biết

    --- Bài mới hơn ---

  • Nên Thắp Hương Vào Thời Điểm Nào Trong Ngày?
  • Cấm Kị Tết Trung Thu Mà Không Phải Ai Cũng Biết Khi Đi Ra Đường
  • Nhiều Địa Phương, Đơn Vị Tổ Chức Vui Tết Trung Thu Cho Thiếu Nhi
  • Chuyên Gia Lý Giải Vì Sao Ngày Tết, Nải Chuối Quả Lẻ Có Giá Cao Nhưng Được Chọn Để Thờ
  • Rằm Tháng 7 Người Dân Rủ Nhau Mua Bánh Trung Thu Truyền Thống
  • Sự tích Hằng Nga hay chú Cuội chỉ là những truyền thuyết không có thực để người ta lý giải về sự ra đời của tết Trung thu tại Việt Nam.

    Tại Việt Nam, tết Trung thu hay còn gọi là ngày Tết thiếu nhi, được tổ chức vào ngày Rằm tháng Tám (âm lịch) hằng năm. Thế nhưng, không phải ai cũng biết về nguồn gốc và ý nghĩa từ xa xưa của ngày lễ.

    Giải thích vấn đề này, ông Nguyễn Hùng Vĩ – nhà nghiên cứu văn học dân gian, nguyên giảng viên trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho hay, con người từ xa xưa bằng kinh nghiệm và quan sát tự nhiên thấy trong vòng xấp xỉ 30 ngày đêm thì có 1 ngày trăng tròn. Đồng thời, người ta thấy trong 1 năm có 12 lần trăng như vậy và trong đó có 1 lần trăng tròn hơn tất cả những lần trăng tròn khác.

    Khi đó, con người chưa biết cách tính quỹ đạo của mặt trăng, mặt trời nên người ta quan sát xung quanh, cứ đến ngày ánh trăng tròn nhất, sáng nhất, trời mát… thì đi ra khỏi nơi cư trú để giao lưu, nhảy múa, ca hát và thậm chí là đi kiếm ăn trong ngày đó. Và lâu dần thành thói quen.

    Sau đó, các hệ thống tín ngưỡng và tập tục, đặc biệt là tôn giáo ra đời, người ta dựa vào đó để tạo ra lễ tiết.

    Người phương Đông sử dụng lịch âm dương (hay còn gọi là âm lịch) nên lấy trăng tròn làm mốc. Họ thấy vào mùa thu (tháng Tám âm lịch) trăng thường tròn nhất nên lấy ngày Rằm tháng Tám làm lễ Trung thu.

    Khi Việt Nam hội nhập vào nền tảng văn hóa châu Á thì có tết Trung thu. Các nước sử dụng âm lịch như Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore… đều có tết Trung thu.

    Từ những lễ tiết như vậy, mỗi nơi sáng tạo ra một số truyền thuyết về nguồn gốc ra đời để giải thích cho nhau hiểu vì sao lại như thế. Ở Việt Nam có các sự tích như Hậu Nghệ – Hằng Nga, sự tích chú Cuội…

    “Sáng tạo theo truyền thuyết đó là nghệ thuật thì chúng ta nên tôn trọng tác phẩm nghệ thuật dân gian ấy, chứ đó không phải khoa học”, ông Vĩ nói.

    Chuyên gia văn hóa Nguyễn Hùng Vĩ nói thêm, thời kỳ chưa có tôn giáo, Trung thu mang ý nghĩa đó là ngày trăng sáng nhất, mọi người ra khỏi nơi cư trú để giao lưu, nhảy múa, hát ca, gia tăng tinh thần cộng đồng.

    Từ khi trở thành nghi lễ, lễ hội, Trung thu mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Trước hết, ngày tết Trung thu là để con người đoàn viên với nhau, ra tăng sự đoàn kết. Tiếp theo đó là hướng đến trăng (hay còn gọi là Tết trông trăng) và hướng đến truyền thuyết cổ xưa về trăng để không quên gốc gác của mình.

    Cuối cùng, Trung thu là dịp để mọi người vui chơi, giải trí, hướng đến cuộc sống an lành, tương lai tốt đẹp hơn. Đây mới là giá trị chính của tết Trung thu.

    Tại Việt Nam, theo ông Vĩ, tết Trung thu gần với ngày Tết độc lập (2/9/1945), cũng Trung thu năm 1945, Bác Hồ gửi thư cho thiếu nhi. Do đó, tết Trung thu Việt Nam hướng đến thiếu niên, nhi đồng một cách mạnh mẽ, thậm chí ở Việt Nam còn gọi tết Trung thu là tết Thiếu nhi.

    Việt Nam cũng có 1 bài hát “Rước đèn ông sao” ra đời năm 1956 của nhạc sĩ Phạm Tuyên. Bài hát mang bản sắc Việt Nam và bản sắc cách mạng.

    Tất cả những thứ trên đối với chuyên gia Nguyễn Hùng Vĩ đó là một thành quả, một biểu tượng về mặt văn hóa của riêng Việt Nam.

    Về mâm cỗ Trung thu, theo ông Vĩ, thường có các loại bánh hình mặt trăng, các bánh hình con vật, tò he, các con vật bằng bưởi, hoa trái. … Mâm cỗ cũng là mâm cúng gia tiên, cúng Phật… tùy theo phong tục của mỗi tôn giáo.

    Để quý độc giả tiện theo dõi, VietNamNet xin giới thiệu bài cúng Rằm tháng 8 theo Văn khấn cổ truyền Việt Nam.

    Theo Dân Việt

    --- Bài cũ hơn ---

  • Gợi Ý 12 Bài Hát Trung Thu Ý Nghĩa Và Hay Nhất Cho Ngày Tết Đoàn Viên
  • Tết Trung Thu Ở Việt Nam Là Gì ?
  • Bánh Trung Thu Năm Nay Có Gì Lạ?
  • Bánh Trung Thu Năm Nay Có Giá Hàng Triệu Đồng
  • Trở Lại Với Mùa Trung Thu Năm Nay Givral Có Gì Mới?
  • Ý Nghĩa Đêm Rằm Tháng Tư (Vesakhapūjā)

    --- Bài mới hơn ---

  • Ý Nghĩa Đêm Rằm Tháng Tư
  • Vàng Mã Cúng Rằm Tháng 7 Tại Công Ty
  • Cách Nấu Xôi Cúng Rằm Tháng 7
  • Bí Quyết Luộc Gà, Nấu Xôi Thơm Mềm, Đẹp Mắt Cúng Rằm Tháng Bảy
  • Cách Nấu Xôi Ngon Bằng Nồi Cơm Điện Cực Đơn Giản Tại Nhà
  • Vậy là lại sắp đến ngày đại lễ tam hợp Vesākhapūjā. Nhân dịp này, xin chia sẻ nội dung ngày đại lễ Tam Hợp Vesakhapūjā (3 sự kiện quan trọng trong 1 ngày) – Ngày vô cùng trọng đại của đạo Phật lên đây để mọi người tìm hiểu được ý nghĩa chính xác và chân thực nhằm giúp quý vị tăng trưởng đức tin nơi Tam Bảo và hiểu biết về Đấng Đạo Sư cũng như đạo Phật cao cả. Xin mọi người hãy hoan hỉ với phước thiện này. Sādhu! Sādhu! Sādhu! Lành Thay!

    Ðã từ lâu bộ phái Phật giáo Nguyên thủy và Phật giáo phát triển có sự khác biệt về ngày sinh của Đức Phật Gotama. Ở Việt Nam trước năm 1963, Phật giáo phát triển sử dụng ngày mồng 8 tháng Tư là ngày Ðản sinh của Đức Bồ Tát Chánh Đẳng Giác, nhưng sau đó y cứ theo Ðại hội Phật giáo Thế giới điều chỉnh lại để thống nhất là ngày 15 tháng Tư âm lịch là ngày sinh của Ngài. Mặc dù vậy nhưng một vài nơi vẫn còn có quan niệm cho rằng từ mồng 8 tháng Tư đến ngày Rằm tháng Tư gọi là tuần lễ Phật Ðản.

    Theo kinh điển nguyên thủy, sự kiện Đức Bồ tát Ðản sinh, Đức Bồ tát thành Ðạo và Đức Phật nhập Niết Bàn đều diễn ra vào ngày trăng tròn tháng tư âm lịch. Chúng tôi sử dụng danh từ “Bồ tát” (Ðản sinh và Thành đạo) do bởi quan niệm nguyên thủy có sự khác biệt với Phật giáo phát triển về sự thị hiện của Đức Phật Gotama ở cõi Ta bà để tế độ chúng sinh. Kinh điển nguyên thủy cho rằng vì Ngài là vị Bồ Tát đã thành tựu các Pháp hạnh Ba-la-mật trong quá khứ nên kiếp này Ngài mới trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác để tế độ chúng sinh. Vì vậy, không có Đức Phật đản sinh mà chỉ có Bồ tát Ðản sinh và Bồ Tát thành đạo. Kinh điển nguyên thủy Pāḷi không cho rằng người giải thoát khỏi sanh tử luân hồi (bậc thánh Arahán, Phật Ðộc giác, và Bậc Chánh Ðẳng Giác) lại còn sinh trở lại tam giới này. Kiếp tái sinh trở lại tam giới chỉ dành cho những hạng phàm phu. Cho nên, chúng ta cần phải nghiên cứu và tìm hiểu lại cho chính xác danh từ “thị hiện” trong kinh điển hiện đại, bằng không, chúng ta dễ bị ngoại giáo đồng hóa chúng ta về mặt tư tưởng. Tuy điểm mâu thuẩn đó có vẻ nhỏ nhặt, nhưng có thể tạo sai lầm lớn về mục đích, và nếu không khéo thông hiểu, sẽ làm tri kiến của Phật tử hiểu sai khác về quả vị Phật và đạo quả Niết Bàn. Cần biết rằng bậc thánh đã giải thoát và nhập Niết Bàn thì vắng lặng phiền não, không còn Tham Sân Si. Các bài kinh trong Trung Bộ thường có ghi về các vị đã giác ngộ: “Các Ngài đã đặt gánh nặng xuống, chuyện nên làm đã làm, sau kiếp sống này không còn tái sinh nữa”. Căn cứ vào câu kinh nguyên thủy trên thì việc thị hiện của chư vị Phật trong quá khứ theo quan niệm của kinh điển hiện đại là một chuyện không thể xảy ra.

    Do đó, ngày trăng tròn tháng Tư âm lịch là ngày lịch sử trọng đại của Phật giáo Việt Nam cũng như trong các cộng đồng Phật giáo thế giới, kỷ niệm một lúc ba sự kiện (Tam hợp): Đức Bồ tát Ðản sinh, Đức Bồ tát Thành đạo và Đức Phật nhập Niết Bàn.

    ĐỨC BỒ TÁT ĐẢN SINH KIẾP CHÓT

    Hàng năm, vào ngày rằm tháng tư, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đều thống nhất biểu ngữ KÍNH MỪNG PHẬT ÐẢN. Ðứng trên phương diện hành chính, biểu ngữ đó để thống nhất từ bắc chí nam là một nghĩa cử rất đẹp, đáng được duy trì, nói lên một tinh thần đoàn kết các bộ phái Phật giáo. Tuy nhiên đứng trên phương diện giáo lý nguyên thủy, chúng ta cần phải xét lại từ ngữ đó. Về giáo lý thì Đức Phật không đản sinh mà chỉ có Bồ tát đản sinh. Nếu nói rằng Đức Phật đản sinh thì có người sẽ hiểu Đức Phật đã thành đạo từ nhiều kiếp trước, kiếp này chỉ là thị hiện lại. Nhưng nếu đã là Đức Phật rồi đản sinh thì tại sao đến năm 35 tuổi ngài còn phải chiến thắng Ma vương và thành đạo dưới cội Bồ đề?

    Theo Kinh điển Pāḷi, bộ Phật Sử (Buddhavaṁsa) giải thích có ba hạng Bồ tát tu tập 10 pháp hạnh (Ba-la-mật): Bố thí, Trì giới, Xuất gia, Trí tuệ, Tinh tấn, Nhẫn nại, Chân thật, Quyết định, Tâm từ và Tâm xả ba la mật. Mỗi pháp độ chia làm ba cấp: bậc hạ, bậc trung và bậc thượng. Ví dụ như Bố thí độ bậc hạ là bố thí ngoại thân như tài sản, của cải, sự nghiệp, vợ và con. Bố thí bậc trung là bố thí 1 phần các bộ phận cơ thể như mắt và tứ chi, tim, gan… Bố thí bậc thượng là bố thí đến tính mạng. Cho nên Bồ tát tu hạnh Chánh Đẳng Giác phải thực hành 10 x 3= 30 pháp hạnh.

    Thế nào là ba hạng Bồ tát? Bồ tát tu hạnh Trí tuệ, Ðức tin, và Tinh tấn.

    Vị tu hạnh Trí tuệ từ lúc phát nguyện thành Bồ tát tu tập pháp độ đến lúc thành đạo dưới cội Bồ đề có thời gian 20 A tăng kỳ và 100 ngàn đại kiếp. A-tăng kỳ ở đây là một đơn vị thời gian không thể tính được mà trong kinh chỉ cho một hình tượng ví dụ vuông vức 16 cây số trong đó đựng đầy hạt cải, một trăm năm một vị trời xuống nhặt một hạt và cứ thế nhặt đến khi nào hết những hạt cải trong đó thì mới gọi là 1 A tăng kỳ. (a-tăng-kỳ (asaṅkhyeyya) theo thời gian mà Đức Bồ Tát tạo ba-la-mật có nghĩa không thể tính bằng số (vô số) ví dụ 4 a-tăng-kỳ với 100 ngàn đại kiếp.

    Tuy nhiên, trong bộ Padarūpusaddhi, phần Saṅkhyātaddhika giải thích: A-tăng-kỳ (asaṅkhyeyya), là đơn vị số lượng số 1 đứng trước 140 số không (0), viết tắt là 10 mũ 140). Còn 100 ngàn đại kiếp, kiếp ở đây là kiếp của quả địa cầu chứ không phải là kiếp người. (Đại kiếp: Thời gian trái đất trải qua 4 a-tăng-kỳ thành-trụ-hoại-không, là thời gian quá lâu, Đức Phật lấy ví dụ: Một hòn núi đặc hình khối, mỗi chiều một do tuần (khoảng 20 km), cứ 100 năm một chư thiên lấy tấm vải mịn và mỏng quét nhẹ qua một lần cho đến khi mòn hết hòn núi ấy, thế mà thời gian ấy, chưa kể được một đại kiếp). Vị tu hạnh Ðức tin phải thực hành pháp độ mất 40 A tăng kỳ và 100 ngàn đại kiếp. Vị tu hạnh Tinh tấn thực hành pháp độ mất thời gian 80 A tăng kỳ và 100 ngàn đại kiếp. Trong kinh đó có ghi nhận Đức Phật Gotama tu hạnh Bồ tát Trí tuệ và Đức Phật Metteya (Di Lặc) tu hạnh Bồ tát Tinh tấn.

    Chú giải bộ Phật Sử (Buddhavamsa) có ghi rằng khi tiền thân của Đức Phật Gotama hoàn thành pháp độ, Ngài hóa sinh trên cõi Trời Ðẩu Xuất đà (Tusita), có tên là Setaketu. Vào một ngày duyên lành hội đủ, Chư Thiên và Phạm thiên trong 10 ngàn thế giới đồng hội lại cung thỉnh Ngài giáng phàm xuất gia tu tập thành chánh quả để tế độ chúng sinh. Ngài quan sát năm điều kiện đản sinh theo thông lệ của chư Phật như sau:

    1. Thời kỳ: Chư Phật Chánh Đẳng Giác không xuất hiện trên thế gian trong thời kỳ con người có tuổi thọ trên 100 ngàn năm và trong thời kỳ con người có tuổi thọ dưới 100 năm. Bởi vì, nếu con người có tuổi thọ sống lâu trên 100 ngàn năm, thì mỗi khi Đức Phật thuyết pháp rằng: “Sinh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ; hoặc ngũ uẩn có trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã…”, họ không hiểu rõ chánh pháp, phát sinh tâm hoài nghi. Do đó, Đức Phật Chánh Đẳng Giác không xuất hiện trên thế gian vào trong thời kỳ ấy.

    Và nếu con người có tuổi thọ ngắn ngủi dưới 100 năm, thời kỳ ấy con người có phiền não nặng nề, làm cho tâm tư ô nhiễm tối tăm, thì mỗi khi Đức Phật thuyết giảng chánh pháp vi tế cao siêu, họ khó hiểu rõ được chánh pháp ấy. Do đó, Đức Phật Chánh Đẳng Giác cũng không xuất hiện trên thế gian vào trong thời kỳ ấy.

    Trong quá khứ, Chư Phật thường xuất hiện trên thế gian, trong thời kỳ con người có tuổi thọ khoảng 100 ngàn năm đến 100 năm. Khi ấy, con người có trí tuệ sáng suốt, nếu lắng nghe Đức Phật thuyết pháp, thì có thể hiểu rõ được chánh pháp, rồi thực hành theo chánh pháp dẫn đến chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo – 4 Thánh Quả và Niết Bàn, giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong ba giới bốn loài.

    Đức Bồ Tát thiên nam Setaketu quán xét thấy rằng: Khi ấy, thời kỳ con người có tuổi thọ khoảng 100 năm, đó là thời kỳ thích hợp cho Đức Phật Chánh Đẳng Giác xuất hiện trên thế gian.

    2. Quốc độ: Trong cõi Nam Thiện Bộ châu rộng lớn mênh mông, trong quá khứ, Đức Phật chỉ xuất hiện trong Trung xứ (Majjhimapadesa) mà thôi, không xuất hiện ở nơi xứ Biên địa. Do đó Đức Bồ Tát thiên nam Setaketu quyết định tái sinh nơi Trung xứ vùng Sakka kinh thành Kapilavatthu., ở đó có nhiều sự bất đồng về giai cấp, nghèo khổ, bệnh hoạn, nhờ thế loài người dễ hướng thiện.

    3. Dòng dõi: Trong quá khứ, chư Bồ Tát kiếp chót trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác không sinh trong dòng họ hạ tiện, nghèo khổ, mà chỉ sinh một trong hai dòng dõi là dòng dõi Vua chúa hoặc dòng dõi Bàlamôn. Nếu thời kỳ ấy, tất cả mọi người kính trọng dòng dõi Bàlamôn, thì Đức Bồ Tát kiếp chót sẽ tái sinh vào trong dòng dõi Bàlamôn; hoặc nếu thời kỳ ấy, tất cả mọi người kính trọng dòng dõi Vua chúa, thì Đức Bồ Tát sẽ tái sinh vào trong dòng dõi Vua chúa.

    Đức Bồ Tát thiên nam Setaketu quán xét thấy thời kỳ ấy, tất cả mọi người đều kính trọng dòng dõi Vua chúa hơn dòng dõi Bàlamôn, nên Ngài quyết định sinh vào dòng dõi Vua Sakya. Đức vua Suddhodana trải qua nhiều đời vua tinh khiết (không lẫn lộn với dòng khác).

    4. Châu: Ngài chọn cõi Nam thiện Bộ Châu (cõi người) vì ở châu này loài người không quá thiện cũng không quá ác, nên dễ dàng liễu ngộ khi nghe Phật giảng.

    5. Cha mẹ: Ngài chọn vua Suddhodana và chánh hậu Mahāmayādevī vì nhị vị này đã từng là cha mẹ của ngài trong nhiều ngàn kiếp và có nhiều phúc đức. Mẫu thân của Đức Bồ Tát Chánh Đẳng Giác trong kiếp chót phải là người đã từng tạo 10 pháp hạnh ba-la-mật suốt 100 ngàn đại kiếp trái đất và được Đức Phật Chánh Đẳng Giác trong quá khứ thọ ký rằng: Bà sẽ là mẫu thân của Đức Phật trong thời vị lai.

    Mẫu thân của Đức Bồ Tát ấy phải là người có ngũ giới hoàn toàn trong sạch và trọn vẹn, không hề bị phạm giới nào; ngoài ngũ giới ra, bà còn phải thọ trì 8 giới (Uposathasīla) trong những ngày giới hằng tháng. Đức Bồ Tát quán xét thấy bà Mahāmayādevī, chánh cung Hoàng hậu của Đức vua Suddhodana, có đầy đủ những tiêu chuẩn trên và tuổi thọ của bà Mahāmayādevī còn đúng 10 tháng lẻ 7 ngày, nên Đức Bồ Tát chọn bà Mahāmayādevī làm mẫu thân của Ngài.

    Sau khi quán xét đầy đủ 5 điều rồi, Đức Bồ Tát thiên nam Setaketu quyết định tái sinh xuống làm người, để trở thành một Đức Phật Chánh Đẳng Giác.

    Đức Bồ Tát thiên nam Setaketu truyền dạy rằng:

    “Này chư thiên, chư phạm thiên, ta đồng ý nhận lời thỉnh cầu của các ngươi. Ta sẽ tái sinh xuống làm người trong cõi Nam Thiện Bộ châu, Trung xứ, kinh thành Kapilavatthu, trong dòng vua Sakya, Đức vua Suddhodana là phụ thân và bà Mahāmayādevī, chánh cung Hoàng hậu của Đức vua Suddhodana, làm mẫu thân của ta”.

    Sau khi lắng nghe lời truyền dạy của Đức Bồ Tát thiên nam Setaketu, tất cả chư thiên, và chư phạm thiên vô cùng hoan hỷ cùng nhau tán dương ca tụng Đức Bồ Tát thiên nam Setaketu. Sau đó, đều cùng nhau xin phép trở về cảnh giới của mình. Chư thiên, chư phạm thiên loan báo cho khắp toàn thế giới chúng sinh biết rằng:

    “Đức Phật sẽ xuất hiện trên thế gian!”

    Theo truyền thống của Chư Phật, có những điều cơ bản hoàn toàn giống nhau, Chư Phật Chánh Đẳng Giác trong quá khứ như thế nào, thì Đức Phật Chánh Đẳng Giác trong hiện tại cũng như thế ấy, và Chư Phật Chánh Đẳng Giác trong vị lai cũng như thế ấy. Nếu có điều khác nhau, thì khác nhau những điều chi tiết như thời gian tạo 30 pháp hạnh ba-la-mật, tuổi thọ, v.v…

    Khi thấy đầy đủ nhân duyên, ngài nhận lời giáng trần đúng vào rằm tháng sáu âm lịch và đúng ngày trăng tròn tháng tư âm lịch năm sau ngài đản sinh ở vườn Lumbīnī, vào ngày thứ sáu, rằm tháng tư năm tuất, được đặt tên là Siddhattha.

    Khi bà chánh cung Hoàng hậu Mahāmayādevī ngự vào vườn Lumbīnī, hôm ấy chư thiên, chư phạm thiên tụ hội tại khu vườn, và cả vạn thế giới chúng sinh vui mừng reo hò rằng:

    – “Hôm nay, tại khu vườn Lumbīnī này, Đức Bồ Tát sẽ đản sinh ra đời khỏi lòng bà chánh cung Hoàng hậu Mahāmayādevī”.

    Chư thiên, chư phạm thiên, tay cầm những món quà từ cõi trời như vật thơm trời, những đóa hoa trời, nhạc trời trổi lên để cúng dường Đức Bồ Tát cùng với những chiếc lọng trắng che phủ khắp không gian.

    Bà chánh cung Hoàng hậu Mahāmayādevī ngự đến một cây Sālā có thân to, cành cây đầy hoa đang nở rộ; khi bà đứng đưa cánh tay phải lên, thì cành cây tự nhiên sà xuống, bà đưa tay nắm lấy cành cây với tư thế dáng đứng rất đẹp. Đức Bồ Tát cao thượng sẽ đản sinh ra đời trong tư thế dáng đứng này; cho nên các quan, các cung nữ che màn xung quanh nơi bà đang đứng. Bà chánh cung Hoàng hậu Mahāmayādevī đứng trong tư thế dáng đứng vững vàng. Khi ấy, Đức Bồ Tát cao thượng đản sinh ra đời khỏi lòng bà chánh cung Hoàng hậu Mahāmayādevī bằng đôi chân ra trước, rồi xuôi hai tay, toàn thân mình sạch sẽ ra sau, một cách suôn sẻ an lành cả Đức Bồ Tát lẫn mẫu thân của Ngài. Lúc đó, vào ban ngày của ngày thứ 6, nhằm ngày rằm tháng tư (âm lịch). Khi ấy, hai dòng nước ấm và lạnh từ trên hư không chảy xuống làm cho sạch sẽ thân hình của Đức Bồ Tát và mẫu thân của Ngài.

    Khi Đức Bồ Tát cao thượng vừa ra khỏi lòng bà chánh cung Hoàng hậu Mahāmayādevī, trước tiên 4 vị Đại Phạm Thiên có thiện tâm trong sạch, không bị ô nhiễm bởi phiền não, mỗi vị cầm mỗi chéo tấm lưới bằng vàng đón nhận Đức Bồ Tát xong, rồi đặt trước mặt bà chánh cung Hoàng hậu Mahāmayādevī và tâu rằng:

    – Muôn tâu chánh cung Hoàng hậu, xin bà phát sinh tâm hoan hỷ ! Đây là Thái tử của bà, cũng là Đức Bồ Tát kiếp chót cao thượng. Ngài là Bậc đại phước có nhiều oai lực nhất trong tất cả chúng sinh trong tam giới.

    Sau đó, Đức Bồ Tát từ trên tay 4 vị Đại Phạm Thiên được trao sang cho 4 vị Tứ Đại Thiên Vương đón tiếp bằng tấm da mềm mại; một lần nữa, Đức Bồ Tát từ tay 4 vị Tứ Đại Thiên Vương được trao sang cho các quan đón tiếp bằng tấm vải trắng tinh.

    Khi ấy, Đức Bồ Tát từ trên tay các quan, bước xuống đạp trên mặt đất bằng đôi bàn chân bằng phẳng của Ngài, Đức Bồ Tát đứng quay mặt nhìn về hướng Đông, chư thiên và nhân loại dâng hoa cúng dường Đức Bồ Tát, rồi tán dương ca tụng rằng:

    – Kính bạch Đức Đại nhân, tất cả chúng sinh trong hướng này, Ngài là Bậc cao thượng nhất, không có một ai cao thượng hơn Ngài.

    Tiếp đến, Đức Bồ Tát quay mặt nhìn về hướng Nam… hướng Tây… hướng Bắc… hướng Đông Nam… hướng Tây Nam… hướng Tây Bắc… hướng Đông Bắc trong tám hướng, mỗi hướng chư thiên và nhân loại đều dâng hoa cúng dường Đức Bồ Tát, rồi tán dương ca tụng rằng:

    – Kính bạch Đức Đại nhân, tất cả chúng sinh trong hướng này, Ngài là Bậc cao thượng nhất, không có một ai cao thượng hơn Ngài.

    Đức Bồ Tát cúi mặt nhìn xuống hướng dưới, rồi ngẩng mặt nhìn lên hướng trên, chư thiên, chư phạm thiên đều dâng hoa tán dương và ca tụng rằng:

    – Kính bạch Đức Đại nhân, chư thiên, chư phạm thiên hướng trên này, Ngài là Bậc cao thượng nhất, không có chư thiên, chư phạm thiên nào cao thượng hơn Ngài.

    Đức Bồ Tát đứng nhìn về hướng Bắc rồi bước đi 7 bước, bước đầu tiên Ngài bước bằng chân phải. Khi Đức Bồ Tát bước đi, Vua trời phạm thiên cầm chiếc lọng màu trắng che cho Ngài, Đức vua Suyāma cầm quạt lông, còn 3 thứ khác là đôi hia, gươm báu, vương miện, mỗi vị Vua trời cầm mỗi thứ đi theo sau Đức Bồ Tát. Đó là 5 bảo vật của lễ phong Vương.

    Đức Bồ Tát dừng lại ở bước chân thứ 7. Khi ấy tất cả chư thiên, chư phạm thiên đều bảo với nhau rằng:

    “Bây giờ, Đức Bồ Tát cao thượng sẽ truyền dạy những lời tối quan trọng”.

    Tất cả đều im lặng, chờ lắng nghe, Đức Bồ Tát dõng dạc truyền dạy rằng:

    “Aggo ham asmi lokassa!

    Jettho ham asmi lokassa!

    Settho ham asmi lokassa!

    Ayamantimā jāti

    Natthi dāni punabbhavo”.

    Ta là Bậc cao cả nhất, trong toàn cõi thế giới chúng sinh!

    Ta là Bậc vĩ đại nhất, trong toàn cõi thế giới chúng sinh!

    Ta là Bậc Tối Thượng nhất, trong toàn cõi thế giới chúng sinh!

    Kiếp này là kiếp chót của ta

    Ta không còn tái sinh kiếp nào khác nữa!

    Sau khi ấy, ánh sáng rực rỡ, trời đất rung chuyển, hoa ưu đàm nở, chim hót líu lo, núi Tu Di dường như cúi đầu để tiếp đón bậc thầy của nhân thiên. Kinh có ghi sau khi ứng khẩu xong ngài trở lại trạng thái bình thường như muôn triệu hài nhi khác.

    ĐỨC BỒ TÁT CHỨNG QUẢ VỊ PHẬT CHÁNH ĐẲNG GIÁC

    Mặc dù Ngài sinh trưởng trong một gia đình vua chúa và thụ hưởng tất cả những hương vị của cuộc đời, nhưng đối với Ngài tất cả chỉ là bóng mờ sương đêm. Ðể rồi một ngày kia trong chuyến đi du ngoạn bốn cửa thành , Ngài nhìn tận mắt cảnh tượng già, bệnh, chết và một vị tu sĩ. Chính nhờ cuộc vân du đó giúp cho Ngài phát huy được hạt giống giác ngộ mà Ngài huân tập từ muôn vạn triệu kiếp qua.

    Từ ngày hạnh ngộ bốn cảnh động tâm trên, đêm ngày tâm trí miên man nghĩ đến việc thoát ly gia đình để tìm chân lý giác ngộ. Khi công chúa Yasodharā, người vợ từ nhiều tiền kiếp của Ngài hạ sanh một người con, tên Rahula, đêm đó là đêm Ngài vượt cửa thành xuất gia tầm đạo. Ngài ra đi bỏ lại tất cả: cung vàng điện ngọc, vợ hiền con thơ, cung phi mỹ nữ kiều diễm, cha già…

    Nhưng bỏ tất cả mà Ngài được tất cả: an lạc, bình yên, ung dung, không dính mắc, tĩnh lặng và Niết Bàn. Có người sẽ hỏi Ngài đi như vậy là thiếu trách nhiệm đối với người con, người cha, người chồng. Câu trả lời là không phải như vậy, Ngài ra đi để tìm một con đường giúp chúng sanh thoát khổ vĩnh viễn, đạt được hạnh phúc tối hậu là Niết Bàn. Sau khi thành đạo, Ngài đã trở về để tế độ vợ con và gia đình dòng họ, để họ cũng đạt được sự hạnh phúc vĩnh hằng như thế. Có thể nghĩ đơn giản là các Ngài có tất cả như vậy mà từ bỏ không bị dính mắc đấy mới là tâm hồn vĩ đại, một lý tưởng phi thường. Cũng có thể giải thích rằng phải trải qua một đời sống như vậy thì mới thấy rõ được sự vô vọng và ràng buộc của lòng tham ái trong tâm mỗi người.

    Khi bỏ tất cả để xuất gia, Ngài tầm sư học đạo, nghe nơi nào có vị thầy trứ danh Ngài liền tìm đến tham vấn. Tất cả những vị thầy trứ danh thời đó Ngài đều đến học và thành công tất cả những sở đắc của họ. Thậm chí Ngài khổ hạnh sáu năm chỉ còn ăn ngày một hạt mè để cầm hơi, đến mức độ chỉ còn da bọc xương. Cuối cùng Ngài nghiệm ra một điều là pháp mà Ngài muốn tu chứng không có ở những vị thầy đã dạy Ngài. Quyết chí bỏ khổ hạnh, ăn ngày một buổi và bắt đầu tham thiền nhập định dưới cội Bồ đề. Ðúng vào ngày thứ Tư, của ngày rằm tháng Tư, Ngài hoàn toàn giác ngộ, Chư Thiên, Phạm thiên đồng nhau ca tụng ngài với 9 hồng danh: Ứng cúng , Chánh Đẳng giác, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ – Ðiều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật, Thế tôn.

    Sau khi Đức Bồ Tát đã toàn thắng Ác Ma Thiên, vào canh đầu đêm rằm tháng tư âm lịch, Ngài tiến hành thiền định (samathabhāvanā) với đề mục niệm hơi thở vô – hơi thở ra (anāpānassati) tuần tự chứng đắc 4 bậc thiền hữu sắc như sau:

    – Đệ nhất thiền hữu sắc: Có 5 chi thiền (hướng tâm, quan sát, hỷ, lạc, định), do chế ngự được 5 pháp chướng ngại (tham dục, sân hận, buồn chán-buồn ngủ, phóng tâm-hối hận, hoài nghi).

    – Đệ nhị thiền hữu sắc: Có 3 chi thiền (hỷ, lạc, định), do chế ngự được 2 chi thiền (hướng tâm, quan sát).

    – Đệ tam thiền hữu sắc: Có 2 chi thiền (lạc, định), do chế ngự được 1 chi thiền (hỷ).

    – Đệ tứ thiền hữu sắc: Có 2 chi thiền (xả, định), do chế ngự được 1 chi thiền (lạc, thay bằng chi thiền xả).

    Đó là 4 bậc thiền hữu sắc làm nền tảng để chứng đắc Tam Minh.

    1 – Túc mạng minh (Pubbenivāsānussatināna)

    Đức Bồ Tát có đệ tứ thiền hữu sắc, định tâm trong sáng thanh tịnh, thiền tâm không lay động, làm nền tảng để Ngài hướng tâm đến chứng đắc túc mạng minh: Trí tuệ nhớ rõ lại tiền kiếp, từ 1 kiếp đến hàng trăm kiếp, hàng ngàn kiếp, hàng vạn kiếp, hàng triệu kiếp, hàng triệu triệu kiếp… cho đến vô lượng kiếp không giới hạn.

    Túc mạng minh là trí tuệ nhớ rõ tiền kiếp thuộc loại chúng sinh nào, tên gì, thuộc dòng dõi nào, tạo thiện nghiệp, bất thiện nghiệp, ba-la-mật, thọ lạc, thọ khổ, tuổi thọ… đều ghi nhớ rõ ràng mọi chi tiết.

    Túc mạng minh là minh thứ nhất mà Đức Bồ Tát đã chứng đắc vào canh đầu đêm rằm tháng tư (âm lịch).

    2 – Thiên nhãn minh (Dibbacakkhunāna)

    Đức Bồ Tát có đệ tứ thiền hữu sắc, định tâm trong sáng thanh tịnh, thiền tâm không lay động, làm nền tảng để Ngài hướng tâm đến chứng đắc thiên nhãn minh: Trí tuệ thấy rõ, biết rõ kiếp quá khứ, kiếp vị lai của tất cả chúng sinh như mắt của chư thiên, phạm thiên.

    Thiên nhãn minh có 2 loại:

    – Tử sanh minh: Trí tuệ thấy rõ biết rõ sự tử, sự tái sinh của tất cả chúng sinh sau khi chết, do nghiệp nào cho quả tái sinh cảnh giới nào, thọ khổ, thọ lạc như thế nào…

    – Vị lai kiến minh: Trí tuệ thấy rõ những kiếp vị lai của tất cả chúng sinh.

    Chư Phật dùng vị lai kiến minh này để thọ ký chúng sinh trong những kiếp vị lai xa xăm, còn thời gian bao nhiêu đại kiếp trái đất này sẽ trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác, hoặc Đức Phật Độc Giác, hoặc bậc Thánh Thanh Văn Giác…

    Thiên nhãn minh là minh thứ nhì mà Đức Bồ Tát đã chứng đắc vào lúc canh giữa đêm rằm tháng tư (âm lịch).

    3 – Lậu tận minh (Āsavakkhayanāna)

    Đức Bồ Tát dùng đệ tứ thiền hữu sắc làm nền tảng, để tiến hành thiền tuệ, quán xét Thập Nhị Duyên Sanh (Paticcasamuppāda) là đối tượng thiền tuệ của chư Bồ Tát. Ngài quán xét để chứng đắc thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghi Lễ Cúng Rằm Tháng Giêng Để Cả Năm Gặp May Mắn
  • Cúng Rằm Ngày 14 Hay 15 Và Cúng Như Thế Nào Chuẩn Nhất, Tham Khảo Bài Này Để Rõ
  • Thời Điểm Cúng Rằm Tháng Giêng 2021 Mang Lại Nhiều May Mắn Nhất
  • Khung Giờ Hoàng Đạo Cúng Rằm Tháng 7, Gia Chủ Cần Làm Đúng Để Được Bình An, Nhận Nhiều May Mắn
  • Tại Sao Thắp Hương Cúng Lễ Vào Ngày 1 Và 15 Hàng Tháng
  • Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghi Quỹ Cúng Dường Dược Sư Thất Phật Kinh Như Ý Vương
  • Những Điển Tích Về Phật Dược Sư ” Shop Hoa Vô Ưu
  • Cách Thờ Cúng Phật Di Lặc Đúng Cách, Không Phải Ai Cũng Biết
  • Truyền Thuyết Tứ Diện Phật Trong Tín Ngưỡng Thái Lan
  • Sớ Cúng Giao Thừa Tại Tư Gia Dành Cho Bạn
  • 1 PHÁP LỄ CÚNG DƯỜNG PHẬT DƯỢC SƯ MEDICINE BUDDHA PUJA TIBETAN PHONETICS ENGLISH VIETNAMESE TẠNG VĂN TẠNG ÂM ANH VIỆT hongnhu-archives

    2 hongnhu-archives FREE BOOK NOT FOR SALE SÁCH ẤN TỐNG KHÔNG BÁN Version / Ấn bản {20/09/2017} Tùy nghi sử dụng với điều kiện giữ nguyên nội dung và không bán Prerequisites: Everyone can read and practice Điều kiện hành trì: Mọi người đều có thể đọc và hành trì Based on FPMT text, Vietnamese translation added by Hong Nhu Thubten Munsel for the occasion of Geshe Thubten Dawa s birthday, October Typo mistakes checked under the guidance of Lab Kyabgon Rinpoche the 15th. Hồng Như chuyển Việt ngữ (dựa trên văn bản của FPMT) nhân dịp Pháp lễ cúng dường Phật Dược Sư mừng thọ Hòa Thượng Geshe Thubten Dawa tháng 10, 2021 Mọi sai sót là của người dịch Mọi công đức xin hồi hướng vô thượng bồ đề.

    3 NOTES REGARDING THIS PRACTICE Altar and Gompa Set-up: When performing this puja extensively, it is best to set out 108 sets of offering bowls. If this is not possible, then 8 sets will suffice. The offerings for this puja are set out in a unique fashion: Starting toward the back of the altar and working forward, one places a row of 8 argham, followed by a row of 8 padhyam, then 8 pushpe, and so on, rather than consecutive rows of all 8 offerings. Ideally, one should also ppare and offer 8 tormas made from the 3 white substances (milk,butter and yoghurt) and the 3 sweet substances (sugar, molasses, and honey) in the shape of tear drops. Other offerings of food, flowers, etc. are optional. It is recommended by Lama Zopa Rinpoche to also have on the altar, if possible, a repsentation of the Medicine Buddha mandala in a mandala house and above that, a copy of the Medicine Buddha Sutra wrapped in five-colored cloth. Ritual Implements: One should have both dorje and bell, but no damaru or inner offering. Practice Tips: Because this is a practice belonging to Kriya (Action) Tantra, it is best not to eat black foods the day one performs the puja. After the puja, one can eat whatever one wishes, but before doing the puja, avoid black foods. References: Extracted from a Compilation of the Rituals of Offerings to the Seven Tathāgathas called Yeshe ön gyäl, by Losang Chökyi Gyältsän.

    4 4 Medicine Buddha Concise Puja GHI CHÚ VỀ PHÁP TU NÀY Pháp đàn và Bàn Thờ: Nếu muốn hành trì pháp lễ cúng dường này một cách rộng rãi, tốt nhất là bày biện 108 lần tám phẩm cúng dường. Nếu không làm được như vậy, bày 8 lần tám phẩm cũng đủ. Phẩm cúng dường ở đây cần xếp theo thứ tự đặc biệt: bắt đầu từ phía trong bàn thờ bày ra, đặt một hàng 8 lần phẩm argham, rồi một hàng 8 lần phẩm padhyam, rồi 8 phẩm pushpe, v.v… chứ không phải mỗi hàng có đủ 8 phẩm khác nhau. Cho thật đúng thì phải chuẩn bị tám phẩm bánh cúng torma làm bằng ba chất trắng (sữa, bơ và sữa chua) và ba chất ngọt (đường, mật đường (molasses), và mật ong) nắn hình giọt nước. Tùy ý cúng dường các phẩm hương hoa thực phẩm khác, không nhất thiết phải có. Lama Zopa Rinpoche khuyên nếu được hãy nên bày cung điện mạn đà la trên bàn thờ, bên trong đặt biểu tượng mạn đà la của đức Phật Dược Sư, bên trên đặt một bản kinh Dược Sư bọc trong vải năm màu. Pháp Khí: Cần chùy kim cang và chuông báu, nhưng không cần trống con (damaru), phẩm cúng nội tại. Lưu Ý: Vì pháp lễ này thuộc hệ Mật tông Kryia, tốt nhất ngày hành lễ nên tránh dùng hắc thực (tránh dùng món mặn và ngũ vị tân). Sau khi hoàn tất pháp lễ có thể ăn gì cũng được, nhưng trước pháp lễ nên tránh dùng hắc thực. Xuất Xứ: Trích Yeshe Ön Gyäl: Pháp Lễ Cúng Dường Bảy Đức Dược Sư Như Lai do đức Losang Chökyi Gyältsän biên soạn.

    5 The Concise Essence Sutra Ritual of Bhagavan Medicine Buddha called The Wish-Fulfilling Jewel Composed by Panchen Losang Chökyi Gyältsen English translation: David Molk Vietnamese Translation: Hong Nhu Thubten Munsel Bản Ngắn Tinh Túy Lễ Kinh Phật Dược Sư mệnh danh Ngọc Như Ý Do đức Losang Chökyi Gyältsen biên soạn Tiếng Anh: David Molk Tiếng Việt: Hong Nhu Thubten Munsel

    7 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 7 NAMO GURU MUNI INDRAYA GANG GI TSHÄN TSAM THÖ PÄI CHHU GYÜN GYI The river of merely hearing your names Chỉ cần nghe được / suối ngọt hồng danh, NAR ME ME YANG RAB SIL PÄ TSHO TAR Makes even Avīci s hell-fires as cool as a lotus pond. lửa ngục A Tì / thành hồ sen mát. GYUR DZÄ NYIG MÄI GÖN PO DE SHEG DÜN Protectors in degenerate times, seven sugatas Là bậc hộ trì / thời kỳ tối ám, / bảy đấng Như Lai SHA KYÄI TOG DANG CHÄ PÄI ZHAB TÜ NÄ And head of the Shākyas, to your feet I bow. đầu dòng họ Thích, / đệ tử chúng con / đê đầu đảnh lễ. CHHOG MÄN JA WÄ YENG SHING NAM CHÖ KYI Distracted by activities of varying importance, Việc làm lớn bé, / xao lãng trăm vạn, NYIG MÄI GYÄL WA DÜN GYI NAM THAR LA To benefit myself and those with faith in the life stories nên vì lợi mình, / và vì những ai MÖ PÄI LO DÄN DAG LANG PHÄN PÄI CHHIR Of these seven buddhas for degenerate times, tin nơi công hạnh / bảy Phật Dược Sư / trong thời tối ám

    8 8 Medicine Buddha Concise Puja DO CHHOG DÜ TSII YANG ZHÜN NYING PO DRI I ll condense the Sutra Ritual s ambrosia to its molten essence. tôi xin tóm lược, / ghi lại tinh túy / cam lồ Lễ Kinh. Because of the infallibility of Ārya Buddha s proclamation that the Medicine Buddhas power and blessings are greater and swifter in degenerate times, we accept it. One who wishes to perform this quintessential ritual for invoking the heart commitment of the degenerate time s protectors, the seven sugatas, having already made pparations as described in the Sutra Ritual, fully infusing the mind with refuge and bodhichitta, should recite as follows: Vì lời tuyên thuyết không hư ngụy của đức Thánh Phật đã dạy rằng dũng lực và sức mạnh gia trì của đức Phật Dược Sư đặc biệt to lớn và chóng vánh trong thời kỳ suy đồi, vì vậy chúng con xin tin nhận. Hãy phát tâm hành trì pháp lễ tinh túy này để thỉnh cầu thệ nguyện sâu xa của Bảy Đức Như Lai hộ trì thời đại tối ám, bày biện đúng như Lễ Kinh hướng dẫn, phát tâm qui y và tâm bồ đề, rồi tụng niệm như sau:

    9 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 9 Refuge and Bodhichitta Qui Y & Phát Tâm Bồ Đề CHHOG CHU DÜ SUM GYI DE ZHIN SHEG PA THAM CHÄ KYI Nature incorporating the entire body, speech, mind, Như lai của khắp / mười phương ba thời, KU SUNG THUG YÖN TÄN THRIN LÄ qualities and activity Thân Khẩu và Ý, / thiện đức, thiện hạnh, THAM CHÄ CHIG TU DÜ PÄI NGO WOR GYUR PA of all ten directions three times tathāgatas, đều qui làm một / ở nơi chân tánh, CHHÖ KYI PHUNG PO TONG THRAG GYÄ CHU TSA ZHII JUNG NÄ Source of eighty-four thousand collections of Dharmas, là cội nguồn của / tám vạn bốn ngàn / pháp môn chánh Pháp; PHAG PÄI GEN DÜN THAM CHÄ KYI NGA DAG Lord of all ārya Sangha là chủ tể của / hết thảy Thánh Tăng: DRIN CHÄN TSA WA DANG GYÜ PAR CHÄ PÄI I seek refuge in the kind root and Bổn sư từ hòa, / chư tổ truyền thừa

    10 10 Medicine Buddha Concise Puja PÄL DÄN LA MA DAM PA NAM LA KYAB SU CHHI WO lineage glorious, holy gurus. và chư đạo sư / cát tường tôn quí, / con nguyện qui y; DZOG PÄI SANG GYÄ CHOM DÄN DÄ NAM LA KYAB SU CHHI WO I seek refuge in the completely enlightened lord Buddhas. chư Phật Thế Tôn / giác ngộ viên mãn, / con nguyện qui y; DAM PÄI CHHÖ NAM LA KYAB SU CHHI WO I seek refuge in the holy Dharma. chánh Pháp mầu nhiệm / con nguyện qui y; PHAG PÄI GEN DÜN NAM LA KYAB SU CHHI WO I seek refuge in the ārya Sangha. Tăng đoàn thánh chúng / con nguyện qui y; CHOM DÄN DÄ MÄN GYI LA DE WAR SHEG PA CHHE GYÄ KYI LHA TSHOG I seek refuge in the eight brothers gone to bliss, tám đấng Thiện thệ / Thế Tôn Dược Sư KHOR DANG CHÄ PA NAM LA KYAB SU CHHI WO The lord Medicine Buddhas with their retinue hosts of deities. cùng chúng tùy tùng, / con nguyện qui y.

    11 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 11 PÄL GÖN DAM PA CHHÖ KYONG WÄI SUNG MA I seek refuge in the glorious, holy protectors, bậc có mắt tuệ, / hộ pháp, giữ pháp, / YE SHE KYI CHÄN DANG DÄN PA NAM LA KYAB SU CHHI WO (X3) Dharma Protector Guardians endowed with the wisdom eye. (x3) cát tường tối thắng, / con nguyện qui y. (x3) SANG GYÄ CHHÖ DANG TSHOG KYI CHHOG NAM LA In the Buddha, Dharma and Sangha Nơi Phật, nơi Pháp, / cùng Tăng tôn quí, JANG CHHUB BAR DU DAG NI KYAB SU CHHI I seek refuge until I am enlightened. cho đến bồ đề / xin về qui y. DAG GI JIN SOG GYI PÄI TSHOG NAM KYI By my merit from giving and other perfections nhờ công đức tu / hạnh thí, hạnh khác. DRO LA PHÄN CHHIR SANG GYÄ DRUB PAR SHOG (3X) May I attain buddhahood to benefit all sentient beings. (3x) nguyện vì chúng sinh / viên thành Phật đạo (x3)

    12 12 Medicine Buddha Concise Puja The Four Immeasurables Tứ Vô Lượng Tâm DAG DANG NANG WA THAM CHÄ CHHÖ KYI All sentient beings who, although self and all appearances Khắp chúng hữu tình / tuy có ngã tướng, JING KYI RANG ZHIN YIN PA LA are dharmadhātu by nature, nhưng nơi tự tánh / đều là pháp tánh, DE TAR MA TOG PÄI SEM CHÄN THAM CHÄ DE WA DANG have not realized it thus, I shall endow with happiness and chỉ vì không biết, / nên tôi nguyện xin DE WÄI GYU DANG DÄN PAR JA the causes of happiness, chúng sinh được vui / cùng nhân tạo vui, DUG NGÄL DANG DUG NGÄL GYI GYU DANG DRÄL WAR JA Separate from suffering and the causes of suffering, thoát mọi khổ đau / cùng nhân tạo khổ, DUG NGÄL ME PÄI DE WA DANG MI DRÄL WAR JA Make them inseparable from happiness without suffering không bao giờ lìa / an lạc vắng khổ,

    13 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 13 DE DUG GI GYU CHHAG DANG NYE RING NYI DANG And set in equanimity, the cause of well-being, thoát mọi tham sân / chấp có lạ-thân, DRÄL WÄI TANG NYOM LA NÄ PAR JA WO (X3) free from attachment, aversion, and partiality. (x3) trú tâm bình đẳng, / nhân của an lạc. (x3) Special Bodhichitta Tâm Bồ Đề Phi Thường MA SEM CHÄN THAM CHÄ KYI DÖN DU For the sake of all mother sentient beings, Vì lợi ích của / phụ mẫu đa sinh, DZOG PÄI SANG GYÄ KYI GO PHANG THOB PAR JA I shall attain complete buddhahood. tôi nguyện thành tựu / quả Phật viên mãn. DEI CHHIR DU CHOM DÄN DÄ MÄN GYI LA DE WAR SHEG PA For that purpose I shall practice the stages of the path such Hướng mục tiêu này, / nay tôi đối trước / Thế Tôn Dược sư, CHHE GYÄ KYI LHA TSHOG KHOR DANG CHÄ PA NAM LA as prostrating, offering and exhorting the solemn promises tám đấng Thiện Thệ / cùng chư tùy tùng,

    14 14 Medicine Buddha Concise Puja CHHAG CHHÖ THUG DAM KÜL WA LA SOG PÄI LAM GYI Of the blessed Medicine Guru Buddhas, đảnh lễ, cúng dường, / cung thỉnh bản nguyện, RIM PA LA JUG PAR GYI WO (X3) the eight brothers gone to bliss, and their entourages. (x3) dấn thân bước vào / tuần tự đường tu. (x3) Purifying the Place Làm Sạch Cảnh Giới THAM CHÄ DU NI SA ZHI DAG May the surface of the Earth in every direction Nguyện mặt đất mọi nơi trong cõi thế SEG MA LA SOG ME PA DANG Be stainless and pure, without roughness or fault, được thanh tịnh, không đá sỏi gập ghềnh, LAG THIL TAR NYAM BAIDURYI As smooth as the palm of a child s soft hand như ngọc xanh biếc sáng trong, RANG ZHIN JAM POR NÄ GYUR CHIG And as natural polished as lapis lazuli. như lòng bàn tay phẳng mịn.

    15 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 15 Offering Prayer Nguyện Dâng Cúng Phẩm LHA DANG MI YI CHHÖ PÄI DZÄ May the material offerings of gods and humans, Hết thảy phẩm vật / trong cõi trời, người, NGÖ SU SHAM DANG YI KYI TRÜL Both those set before me and those visualized, cụ thể bày ra, / hay trong ý tưởng, KÜN ZANG CHHÖ TRIN LA NA ME Like a cloud of peerless offerings of Samantabhadra, biển mây trùng điệp / cúng phẩm Phổ Hiền, NAM KHÄI KHAM KÜN KHYAB GYUR CHIG Pervade and encompass the vastness of space. nguyện dâng đầy khắp / không gian vô tận. Offering Cloud Mantra Mây Cúng Dường This mantra multiplies the offerings so that they become numberless. OM NAMO BHAGAVĀTE VAJRA SĀRA PRAMARDANE / TATHĀGATĀYA / ARHATE SAMYAKSAM BUDDHAYA / TADYATHĀ / OM VAJRE VAJRE / MAHĀ VAJRE / MAHĀ TEJA VAJRE / MAHĀ VIDYA VAJRE / MAHĀ BODHICHITTA VAJRE / MAHĀBODHI MANDOPASAMKRAMANA VAJRE / SARVA KARMA ĀVARANA VISHO DHANA VAJRE SVĀHĀ (X3)

    16 16 Medicine Buddha Concise Puja Extensive Power of Truth Năng Lực Sự Thật bản dài KÖN CHHOG SUM GYI DEN PA DANG By the force of the truth of the Three Jewels of Refuge, Nguyện nương năng lực / chân thật Tam Bảo, SANG GYÄ DANG JANG CHHUB SEM PA THAM CHÄ KYI JIN GYI LAB DANG By the firm inspiration from all buddhas and bodhisattvas, nương lực gia trì / của Phật, bồ tát, TSHOG NYI YONG SU DZOG PÄI NGA THANG CHHEN PO DANG By the power of the buddhas who have fully completed their collections of both good merit and insight, and nương lực tư lương / phước trí viên mãn, CHHÖ KYI YING NAM PAR DAG CHING SAM GYI MI KHYAB PÄI By the might of the dharmadhātu, inconceivable and pure, và nương Pháp tánh / thanh tịnh triệt để / ngoài tầm nghĩ bàn, TOB KYI DE ZHIN NYI DU GYUR CHIG May all of these offerings be hereby transformed into their actual nature of voidness. nguyện cúng phẩm này / đều thành tánh như. (In this way bless the surrounding and the articles of offering) (Nhờ đó làm sạch ngoại cảnh và làm sạch phẩm cúng dường)

    17 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 17 CHHOG DEN GYÄL WA SÄ CHÄ JIN LAB DANG Through the power of the supme truth of the buddhas and bodhisattvas blessings, Nương lực gia trì / chân lý vô thượng / của Phật, bồ tát, TSHOG NYI NGA THANG CHHÖ YING DAG PÄI THÜ The might of the two collections, and the dharmadhātu s purity, Nương lực hai bồ / tư lương phước trí, / và nương năng lực / pháp tánh thanh tịnh, ZHING DIR DE WA CHÄN TAR NÖ CHÜ KYI May this realm s beings and environment be enriched nguyện cho cõi này, / ngoại cảnh, hữu tình / giàu như Cực Lạc, SI ZHII PHÜN TSHOG DÖ GÜ JOR GYUR CHIG With all samsāra and nirvana s desirable perfections like Sukhāvatī. luân hồi, niết bàn / có được đầy tràn / mọi điều ước mong. RIN CHHEN SA ZHI JÖN SHING CHHU TSHÖ GYÄN Jeweled ground, adorned with trees and with ponds, đất ngọc trang nghiêm, / cây với sông hồ, SER NGÜL MU TIG JE MA DRAM BUR DÄL Bottoms covered with gold, silver and pearl dust, bờ hồ cát vàng, / cát bạc, ngọc trai,

    18 18 Medicine Buddha Concise Puja ME TOG CHÄL TRAM TSÄN DÄN DRI SUNG DEN Flowers strewn and sandalwood fragrance rising; hoa nở bạt ngàn, / trầm hương tỏa ngát, LHA MII LONG CHÖ KÜN ZANG CHHÖ PÄ KHYAB Human and pine enjoyments, Samantabhadra s offerings, everywhere. thọ dụng trời người, / cúng phẩm Phổ Hiền / trùng điệp khắp nơi. DER NI YI ONG NOR BÜI PHO DRANG Ü There, in a charming jeweled palace s center, Chính giữa cung điện / ngọc báu rạng ngời, PÄD MA SENG THRIR GYÄL WA SÄ CHÄ NAM On lotuses and lion thrones, buddhas and bodhisattvas abide. ngự trên đài sen / pháp tòa sư tử / là Phật, bồ tát. ZHUG NÄ ZUNG RIG MÖ TOB KYI TRÜN PÄI May it be filled with oceans of offering clouds, biển mây cúng phẩm / sinh từ minh chú, / đại định, đại nguyện, CHHÖ TRIN GYA TSHÖ GANG ZHING CHÖ GYUR CHIG Born through the force of mantra, samādhi and aspiration, which they enjoy. nguyện dâng đầy khắp, / đẹp lòng các Ngài.

    19 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 19 Invocation Cung Thỉnh NYIG MÄI GÖN PO TSE DÄN DE SHEG DÜN Degenerate times compassionate protectors: seven sugatas, Hết thảy các đấng / từ bi hộ trì / thời kỳ tối ám: / bảy vị Như Lai, THUB WANG DAM CHHÖ JANG SEM KA DÖ CHÄ Buddha Shākyamuni, holy Dharma, bodhisattvas and guardians, đức Phật Thích Ca, / diệu Pháp, bồ tát, / cùng chư hộ pháp, DAG SOG KYOB CHHIR GÖN KYAB PUNG NYEN DU To protect me and others, invited as support and protector refuge, xin hãy từ bi / làm chốn chở che, / nâng đỡ chúng con, CHÄN DREN DIR SHEG DÄN DZOM JIN LAB DZÖ May you come here, gather and grant your blessings. kính thỉnh chư vị / về đây an tọa, / ban lực gia trì. Prostrations Đảnh lễ KA DRIN NYAM ME TSA WÄI LA MA DANG Root Guru whose kindness is without equal, Bổn sư tôn kính / với lòng từ bi / không ai sánh bằng, SHAK YÄI GYÄL PO JAM YANG ZHI TSHO SOG King of the Shākyas, Mañjushrī, Shantarakshita and so on, vua dòng họ Thích, / Văn Thù Sư Lợi, / Thiện Hải Tịch Hộ…

    20 20 Medicine Buddha Concise Puja ZAB MÖI DO DI CHHAG TSHÄN ZHE PA YI Holding in their hands this profound sutra, đều nắm trong tay / kinh thâm sâu này: NGÖ GYÜ LA MA NAM LA CHHAG TSHÄL LO To the direct and lineage gurus, I prostrate. Đối trước tất cả / tổ sư, đạo sư, / đệ tử đảnh lễ. NYAM THAG DRO NAM DRÖL WÄI THUG JE CHÄN To the compassionate ones who liberate destitute beings, Các đấng từ bi / độ thoát chúng sinh / trầm luân cảnh khổ: DE SHEG DÜN DANG THUB WANG DAM PÄI CHHÖ Seven sugatas, Buddha Shākyamuni and holy Dharma, bảy đức Như Lai, / đức Phật Mâu Ni 1, / cùng với diệu Pháp, JAM PÄL KYAB DRÖL SANG DAG TSHANG WANG DANG Mañjushrī, Kyab Dröl, Vajrapāni, Brahma and Ishvara, Mạn Thù, Kyab Drol, / Mật Sư 2, Phạm Thiên, GYÄL CHHEN NÖ JIN NAM LA CHHAG TSHÄL LO And the mahārajas and yakshas, I prostrate. đại vương Dạ xoa, / đệ tử đảnh lễ. 1 Đức Thích Ca Mâu Ni Phật 2 Đức Kim Cang Thủ

    21 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 21 NGÖ SHAM ZUNG RIG MÖ TOB KYI TRÜL PÄI I make all collections of offerings actually arranged and emanated through the force of mantra, samādhi, and aspiration Kính dâng cúng phẩm / thật sự bày ra / hay từ mật chú, / đại định, đại nguyện; CHHÖ TSHOG KÜN BÜL DIG TUNG THAM CHÄ SHAG Confess all downfalls and negativities, sám hối ác nghiệp, / phá giới, phạm giới; GE LA YI RANG KÜL ZHING SÖL WA DEB Rejoice in virtues, request and beseech, tùy hỉ công đức / cung thỉnh, khẩn nguyện; DI TSHÖN GE WA JANG CHHUB CHHEN POR NGO And dedicate virtues such as these to the great enlightenment. với công đức này, / nguyện xin hồi hướng / về đại bồ đề.

    22 22 Medicine Buddha Concise Puja Beseeching Thỉnh Cầu CHOM DÄN DÄN DZOM CHHEN PO GONG SU SÖL Great bhagavan assembly, pray listen! chư Phật Thế Tôn / xin hãy lắng nghe / lời khẩn nguyện này: DE SHEG DÜN GYI NGÖN GYI MÖN LAM DAG Seven sugatas, just as you promised, vào thời xa xưa / Thất Phật Như Lai / đã từng phát thệ SHĀK YÄI TÄN PA NGA GYÄI THA MA LA Your pvious prayers will be fulfilled rằng thời cuối cùng / của pháp Mâu Ni DRUB PAR GYUR WA ZHÄL GYI ZHE PA ZHIN During Shākyamuni s teachings final period. là lúc chư vị / bản nguyện viên thành: DAG LA DEN PA NGÖN SUM TÄN DU SÖL Pray, show me in actuality it is true! Kính xin chư vị / cho chúng con thấy / thật đúng như vậy.

    23 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 23 Prayers to the Inpidual Medicine Buddhas Thỉnh từng đức Phật Dược Sư 1 CHOM DÄN DÄ DE ZHIN SHEG PA DRA CHOM PA YANG DAG PAR DZOG PÄI SANG GYÄ TSHÄN LEG PAR YONG DRAG PÄL GYI GYÄL PO LA CHHAG TSHÄL LO CHHÖ DO KYAB SU CHHI WO (7X) To the Bhagavan Tathāgata Arhate Samyak Sambuddha King of Renowned Glory of Excellent Signs (Suparikirtitanamasriraja), I prostrate, offer and go for refuge (7x) Please may the pledges you made ripen upon myself and all sentient beings right now. May all my pure prayers succeed immediately.1 Đệ tử đảnh lễ, cúng dường qui y đức Thế Tôn, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri Thiện Danh Xưng Cát Tường Vương Phật. (x7) Nguyện đại nguyện năm xưa Phật đã từng phát tức thì thành thục nơi con và chúng sinh. Nguyện lời nguyện trong sáng của con tức thì thành sự thật.

    24 24 Medicine Buddha Concise Puja SER GYI DOG CHÄN KYAB JIN CHHAG GYA CHÄN Golden in color, with mudra of granting refuge, Thân tỏa sắc vàng / kết ấn tam bảo, MÖN LAM GYÄ DRUB TSHOG NYI PÄL GYI JI Having accomplished eight prayers, majestic with two accumulations glory, thành tựu tám nguyện / trang nghiêm nhị lương, ZHÄN GYI MI THUB ZHING GI PÄL GYUR PÄI Glorious one of the buddha-field Unconquered by Others; là đấng Cát tường / ở nơi cõi Phật / Không-Ai-Thắng-Nổi: TSHÄN LEG YONG DRÄ PÄL LA CHHAG TSHÄL LO To Renowned Glory of Excellent Signs, I prostrate. đức Thiện Danh Xưng / Cát Tường Vương Phật / chúng con đảnh lễ. TSHÄN GYI ME TOG GYÄ SHING DAG PA LA In flowers of the major marks flourishing and pure, Tướng hảo Phật đà / trổ hoa thanh tịnh, PE JÄ ZANG PÖI DRU CHHA DZE PÄI KU Anthers of minor signs, such beautiful body, nụ phấn tướng phụ / thân đẹp vô cùng.

    25 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 25 GANG GI THONG THÖ DRÄN PÄI PÄL GYUR PA One who sees, hears or thinks of you is glorified; chỉ thấy, nghe, nhớ, / là được cát tường: TSHÄN LEG YONG DRAG PÄL LA CHHAG TSHÄL LO To Renowned Glory of Excellent Signs, I prostrate. đức Thiện Danh Xưng / Cát Tường Vương Phật / chúng con đảnh lễ. NGÖ SHAM ZUNG RIG MÖ TOB KYI TRÜL PÄI I make all collections of offerings actually arranged and emanated through the force of mantra, samādhi, and aspiration Kính dâng cúng phẩm / thật sự bày ra / hay từ mật chú, / đại định, đại nguyện; CHHÖ TSHOG KÜN BÜL DIG TUNG THAM CHÄ SHAG Confess all downfalls and negativities, sám hối ác nghiệp / phá giới phạm giới, GE LA YI RANG KÜL ZHING SÖL WA DEB Rejoice in virtues, request and beseech, tùy hỉ công đức / cung thỉnh, / khẩn nguyện; DI TSHÖN GE WA JANG CHHUB CHHEN POR NGO And dedicate virtues such as these to the great enlightenment. với công đức này, / nguyện xin hồi hướng / về đại bồ đề.

    26 26 Medicine Buddha Concise Puja GYÄL WÄI TSHÄN THÖ DRÄN JÖ CHHAG CHHÖ THÜ Through the force of hearing the conqueror s name, Expssing it, remembering, prostrating and offering, Nương nhờ năng lực / nhớ, nghe, tụng niệm / cúng dường, đảnh lễ / hồng danh Thế Tôn, DAG CHAG LA SOG SEM CHÄN GANG DANG GANG May all sentient beings such as ourselves nguyện khắp chúng sinh / như chúng con đây, NÄ RIM SHE JE DIG CHÄN DÖN LÄ THAR Be freed from epidemics, execution, criminals and spirits, thoát khổ tật dịch / hành hình, bắt bớ, / tà ma ám chướng, WANG PO KÜN TSHANG DUG NGÄL DIG GYÜN CHHÄ Have faculties fully complete, suffering and negativities continuum cut, đầy đủ giác quan / đoạn dòng luân chuyển / khổ đau ác nghiệp, NGÄN DROR MI TUNG LHA MII DE WA NYONG experience the happiness of humans and gods. không sa ác đạo / hưởng lạc trời-người, TRE KOM BÜL PHONG ZHI ZHING JOR GYUR CHIG With hunger, thirst and poverty pacified, may there be wealth. sạch cảnh đói khát, / khổ đau bần hàn, / dồi dào tài sản,

    27 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 27 CHING DANG DEG SOG LÜ KYI DUNG WA ME Without torments of body such as bindings and beatings, thân sạch cảnh khổ / không bị trói, đánh, TAG SENG THRÜL GYI TSHE DRÄL THAB TSÖ ZHI Without harm of tigers, lions and snakes, conflict pacified, hùm beo sư tử, / rắn độc, tranh chấp / đều được tịnh yên. JAM PÄI SEM DÄN CHHU YI TRAG NAM KYANG Endowed with loving minds and relieved from fear of flood as well, Với tâm từ bi / thoát sợ nước lũ, BUG CHHIN JIG ME DE WAR GYÄL GYUR CHIG may we pass to fearless bliss. nguyện vào cảnh giới / an lạc vô úy. DI NÄ SHI PHÖ GYUR TSHE SANG GYÄ KYI And when we pass away from this life, Đến khi đời này / bỏ lại phía sau ZHING DER PÄD MO LÄ KYE YÖN TÄN DZOG May we be born from a lotus in that buddha-field, qualities complete, nguyện từ lòng sen / sinh vào tịnh độ, / đức hạnh đầy đủ,

    28 28 Medicine Buddha Concise Puja TSHÄN LEG YONG DRAG LA SOG GYÄL NAM KYI Become a vessel for transmission of the teachings of conquerors such as Renowned Glory of Excellent Signs, thành nơi chấp trì / giáo pháp của đức / Thiện Danh Xưng Phật KÄ LUNG NÖ CHING NYE PAR JE GYUR CHIG And cause them delight. cùng chư vị khác, / khiến Phật đẹp lòng.

    29 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 29 2 CHOM DÄN DÄ DE ZHIN SHEG PA DRA CHOM PA YANG DAG PAR DZOG PÄI SANG GYÄ RIN PO CHHE DANG DA WA DANG PÄD MÄ RAB TU GYÄN PA KHÄ PA ZI JI DRA YANG KYI GYÄL PO LA CHHAG TSHÄL LO CHHÖ DO KYAB SU CHHI WO (X7) To the Bhagavan Tathāgata Arhate Samyak Sambuddha King of Melodious Sound, Brilliant Radiance of Ability, Adorned with Jewels, Moon and Lotus (Svaragosaraja), I prostrate, offer and go for refuge. (7x) Please may the pledges you made ripen upon myself and all sentient beings right now. May all my pure prayers succeed immediately. Đệ tử đảnh lễ, cúng dường qui y đức Thế Tôn, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri Bảo Nguyệt Liên Hoa Trí Nghiêm Quang Âm Tự Tại Vương Phật (x7) Nguyện đại nguyện năm xưa Phật đã từng phát tức thì thành thục nơi con và chúng sinh. Nguyện lời nguyện trong sáng của con tức thì thành sự thật.

    30 30 Medicine Buddha Concise Puja KU DOG SER PO CHHOG JIN CHHAG GYA CHÄN Color yellow, with mudra of granting the supme, Thân tỏa sắc vàng / kết ấn thí nguyện, MÖN LAM GYÄ DRUB TSHOG NYI PÄL GYI JI Having accomplished eight prayers, majestic with two accumulations glory, thành tựu tám nguyện / trang nghiêm nhị lương, RIN CHHEN DÄN PÄI ZHING GI PÄL GYUR PÄI Glorious one of the buddha-field Endowed With Jewels; là đấng Cát tường / cõi Phật Ngọc-Báu, RIN CHHEN DA WÄI ZHAB LA CHHAG TSHÄL LO To Jewel Moonlight s feet, I prostrate. đê đầu gót chân / đức Phật Bảo Nguyệt / chúng con đảnh lễ. RIN CHHEN DA DANG PÄDMÄ RAB GYÄN CHING Well adorned with jeweled moon and lotus, Sen nguyệt trân bảo, / trang nghiêm rạng ngời, SHE JA KÜN LA KHÄ SHING KHYEN PA GYÄ Wisdom expanded in mastery of all knowable objects, trí giác thông tuệ / thấu rõ vạn pháp,

    31 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 31 GYA TSHO TA BUR ZAB PÄI THUG NGA WA Endowed with mind as deep as the ocean; ý sâu thăm thẳm / như lòng đại dương, DRA YANG GYÄL PÖI ZHAB LA CHHAG TSHÄL LO To King of Melody s feet, I prostrate. đê đầu gót chân / Âm Tự Tại Vương / chúng con đảnh lễ. NGÖ SHAM ZUNG RIG MÖ TOB KYI TRÜL PÄI I make all collections of offerings actually arranged and emanated through the force of mantra, samādhi, and aspiration Kính dâng cúng phẩm / thật sự bày ra / hay từ mật chú, / đại định, đại nguyện; CHHÖ TSHOG KÜN BÜL DIG TUNG THAM CHÄ SHAG Confess all downfalls and negativities, sám hối ác nghiệp, / phá giới, phạm giới; GE LA YI RANG KÜL ZHING SÖL WA DEB Rejoice in virtues, request and beseech, tùy hỉ công đức / cung thỉnh, / khẩn nguyện; DI TSHÖN GE WA JANG CHHUB CHHEN POR NGO And dedicate virtues such as these to the great enlightenment. với công đức này, / nguyện xin hồi hướng / về đại bồ đề.

    32 32 Medicine Buddha Concise Puja GYÄL WÄI TSHÄN THÖ DRÄN JÖ CHHAG CHHÖ THÜ Through the force of hearing the conqueror s name, Expssing it, remembering, prostrating and offering, nương nhờ năng lực / nhớ, nghe, tụng niệm, / cúng dường, đảnh lễ / hồng danh Thế Tôn, / DAG CHAG LA SOG SEM CHÄN GANG DANG GANG For all sentient beings such as ourselves, nguyện khắp chúng sinh / như chúng con đây, YENG NAM CHHÖ PHEL LHA MII TSHOG CHHÄ JOR may the distracted flourish in the Dharma, kẻ xao lãng này / được đầy chánh pháp, TSA WÄI DUNG DRÄL TAG TU KYE PAR GYUR Have wealth and goods of humans and gods, without torment of conception, be always born strong, dồi dào tài sản / trong cõi trời-người, / thoát khổ thọ sinh / luôn được mạng cao, JANG CHHUB SEM DANG MI THRÄL GE CHHÖ GYÄ Never be separated from bodhichitta, increase in virtuous Dharma, và không bao giờ / lìa bồ đề tâm, / thiện pháp tăng trưởng,

    33 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 33 DRIB JANG LHA MII DE WA THOB GYUR CHIG Purify obscurations and attain the happiness of humans and gods. May we be freed of separation from the sạch hết điều ác, / được sự an vui / cõi trời, cõi người, / SHE DRÄL MÜN BAR DÖN TSE CHHI DANG DRA spiritual guide, From dark ages, spirit harm, death and enemies, and from the dangers of isolated places thoát hết tất cả / cảnh lìa đạo sư, / cảnh thời dữ dội, / tà ám, chết, thù, / hung hiểm biên địa. GÖN PÄI NÖ ME CHHÖ DANG RIM DROR TSÖN May we have enthusiasm for making offerings and performing ritual services. nguyện luôn hoan hỉ / cúng dường, phụng sự, MÄN NAM TING DZIN DRÄN TOB ZUNG DÄN CHING May lesser beings have samādhi, mindfulness, strength, the dharani of non-forgetfulness, nguyện kẻ thấp kém / đạt định, niệm, lực, / được đà la ni / của pháp tổng trì, SHE RAB CHHOG THOB ME NYEN SIL GYUR CHIG attain supme wisdom, and may tormenting fires be cooled. đạt tuệ vô thượng, / dịu cơn lửa bỏng.

    34 34 Medicine Buddha Concise Puja DI NÄ SHI PHÖ GYUR TSHE SANG GYÄ KYI And when we pass away from this life, Đến khi đời này / bỏ lại phía sau, ZHING DER PÄ MO LÄ KYE YÖN TÄN DZOG May we be born from a lotus in that buddha-field, qualities complete, nguyện từ lòng sen / sinh vào tịnh độ, / đức hạnh đầy đủ, DRA YANG GYÄL PO LA SOG GYÄL NAM KYI Become a vessel for transmission of the teachings of conquerors such as King of Melody, thành nơi chấp trì / giáo pháp của đức / Âm Tự Tại Vương, KA LUNG NÖ CHING NYE PAR JE GYUR CHIG And cause them delight. cùng chư vị khác, / khiến Phật đẹp lòng.

    35 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 35 CHOM DÄN DÄ DE ZHIN SHEG PA DRA CHOM PA YANG DAG PAR DZOG PÄI SANG GYÄ MÄN GYI LA BAI DUR YEI Ö KYI GYÄL PO LA CHHAG TSHÄL LO CHHÖ DO KYAB SU CHHI WO (7X) To the Bhagavan Tathāgata Arhate Samyak Sambuddha Medicine Guru, King of Lapis Light (Bhaisajyaguru), I prostrate, offer and go for refuge. (7x) Please may the pledges you made ripen upon myself and all sentient beings right now. May all my pure prayers succeed immediately. Đệ tử đảnh lễ, cúng dường qui y đức Thế Tôn, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật(x7) Nguyện đại nguyện năm xưa Phật đã từng phát tức thì thành thục nơi con và chúng sinh. Nguyện lời nguyện trong sáng của con tức thì thành sự thật.

    56 56 Medicine Buddha Concise Puja KU DOG NGÖN PO CHHOG JIN CHHAG GYA CHÄN Color blue, with mudra of granting the supme, Having accomplished Thân sắc xanh dương, / kết ấn thí nguyện, CHU NYI MÖN DRUB TSHOG NYI PÄL GYI JI twelve prayers, majestic with two accumulations glory, đạt mười hai nguyện, / trang nghiêm nhị lương. BAIDURYA NANG ZHING GI PÄL GYUR PÄI Glorious one of the buddha-field Lapis Light; là đấng cát tường / cõi Lưu-Ly-Quang: MÄN PÄI GYÄL PO DE LA CHHAG TSHÄL LO To that King of Doctors, I prostrate. đức Dược Sư Vương, / chúng con đảnh lễ. THUG JE KÜN LA NYOM PÄI CHOM DÄN DÄ Bhagavan with equal compassion for all, Là đấng Thế Tôn / với lòng đại bi / dành cho tất cả / đồng đều như nhau. TSHÄN TSAM THÖ PÄ NGÄN DRÖI DUG NGÄL SEL Whose name, when merely heard, dispels lower realms suffering, chỉ cần nghe được / hồng danh của ngài / là tiêu tan hết / khổ đau ác đạo,

    57 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 57 DUG SUM NÄ SEL SANG GYÄ MÄN GYI LA Dispeller of disease and the three poisons; tiêu tan tất cả / bệnh dữ, tam độc: / kính đức Dược Sư BAIDURYA YI Ö LA CHHAG TSHÄL LO To Buddha Medicine Guru Lapis Light, I prostrate. Lưu Ly Quang Phật / chúng con đảnh lễ. NGÖ SHAM ZUNG RIG MÖ TOB KYI TRÜL PÄI I make all collections of offerings actually arranged and emanated through the force of mantra, samādhi, and aspiration Kính dâng cúng phẩm / thật sự bày ra / hay từ mật chú, / đại định, đại nguyện; CHHÖ TSHOG KÜN BÜL DIG TUNG THAM CHÄ SHAG Confess all downfalls and negativities, sám hối ác nghiệp, / phá giới, phạm giới; GE LA YI RANG KÜL ZHING SÖL WA DEB Rejoice in virtues, request and beseech, tùy hỉ công đức / cung thỉnh, / khẩn nguyện; DI TSHÖN GE WA JANG CHHUB CHHEN POR NGO And dedicate virtues such as these to the great enlightenment. với công đức này, / nguyện xin hồi hướng / về đại bồ đề.

    58 58 Medicine Buddha Concise Puja GYÄL WÄI TSHÄN THÖ DRÄN JÖ CHHAG CHHÖ THÜ Through the force of hearing the conqueror s name, Expssing it, remembering, prostrating and offering, Nương nhờ năng lực / nhớ, nghe, tụng niệm / cúng dường, đảnh lễ / hồng danh Thế Tôn, / DAG CHAG LA SOG SEM CHÄN GANG DANG GANG May each and every sentient being such as ourselves nguyện khắp chúng sinh / như chúng con đây, TSHÄN PE DZE SHING DRO KÜN DAG DRAR GYUR All become, like you, graced with the marks and signs, đều được trở thành / giống y như Ngài, / đầy đủ tất cả / tướng hảo chánh phụ. Ö KYI MÜN SEL SHE RAB THAB KHÄ KYI May light dispelling darkness, the enjoyment of wisdom and skillful means be inexhaustible. Nguyện cho ánh sáng / quét sạch bóng đêm, / trí tuệ phương tiện, / không bao giờ cạn. / LONG CHÖ MI ZÄ LAM LOG MÄN MÖ NAM May those attracted to mistaken and lesser paths Nguyện kẻ lầm đường, / lạc vào lối nhỏ,

    59 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 59 THEG CHHEN LAM ZHUG DOM PÄ DZE GYUR CHIG Enter Mahāyana paths, and all be beautified by their vows. Được Đại thừa đạo, / trang nghiêm giới thệ. TSHÜL CHHÄL DUNG DRÄL WANG PO KÜN TSHANG ZHING May we be free from pain caused by immorality, complete in faculties, Nguyện cho chúng con / thoát khổ đọa giới, / đầy đủ giác quan, NÄ ME YO JÄ PHEL ZHING BÜ ME KYI without disease and have abundant goods. không bệnh, và được / sống đời phồn vinh. NGÖ PÖ KYO NAM TAG TU KYE WANG DÄN May those disillusioned with weaker conditions always have powerful faculties, Nguyện kẻ mõi mòn / luôn khởi sức mạnh. DÜ ZHAG TA WA NGÄN LÄ DRÖL GYUR CHIG And may we be freed from Mara s noose and perverse viewpoints. nguyện thoát ác kiến, / thòng lọng ma vương. / GYÄL PÖ NAR NAM DE ZHING TRE PÄI GYÜ May those tormented by kings gain bliss, and those who, out of hunger, ai vì lệnh vua / phải chịu khổ ải, / nguyện được an vui.

    60 60 Medicine Buddha Concise Puja DIG PÄ TSHO NAM CHHÖ JOR ZÄ KYI TSHIM support themselves through negativity Be satisfied with food received in accordance with the Dharma. ai vì đói kém / phải làm việc ác, / nguyện nhờ Pháp thực / mà được no đủ. TSHA DRANG NGÄL ZHI SAM PA YONG DZOG SHING May hardships of heat and cold be pacified, all good wishes be fulfilled, Nguyện khổ nóng, lạnh / đều được tịnh yên; / mọi ước nguyện lành / đều thành sự thật. PHAG PA GYE PÄI TSHÜL DÄN DRÖL GYUR CHIG And, endowed with morality that pleases the āryas, may we be liberated. giữ giới trang nghiêm / đẹp lòng thánh giả, / nguyện cho chúng con / mau chóng giải thoát. DI NÄ SHI PHÖ GYUR TSHE SANG GYÄ KYI And when we pass away from this life, Đến khi đời này / bỏ lại phía sau, ZHING DER PÄ MO LÄ KYE YÖN TÄN DZOG May we be born from a lotus in that buddha-field, qualities complete, nguyện từ lòng sen / sinh vào tịnh độ, / đức hạnh đầy đủ,

    61 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 61 MÄN PÄI GYÄL PO LA SOG GYÄL NAM KYI Become a vessel for transmission of the teachings of conquerors such as King of Doctors, thành nơi chấp trì / giáo pháp của đức / Dược Sư Vương Phật KA LUNG NÖ CHING NYE PAR JE GYUR CHIG And cause them delight. cùng chư vị khác, / khiến Phật đẹp lòng.

    62 62 Medicine Buddha Concise Puja [8] CHOM DÄN DÄ DE ZHIN SHEG PA DRA CHOM PA YANG DAG PAR DZOG PÄI SANG GYÄ PÄL GYÄL WA SHĀ KYA THUB PA LA CHHAG TSHÄL LO CHHÖ DO KYAB SU CHHI WO (X7) To the Bhagavan Tathāgata Arhate Samyak Sambuddha Glorious Conqueror Shākyamuni, I prostrate, offer and go for refuge. (x7) Please may the pledges you made ripen upon myself and all sentient beings right now. May all my pure prayers succeed immediately. Đệ tử đảnh lễ, cúng dường qui y đức Thế Tôn, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri Tối Thắng Cát Tường Thích Ca Mâu Ni Phật (x7) Nguyện đại nguyện năm xưa Phật đã từng phát tức thì thành thục nơi con và chúng sinh. Nguyện lời nguyện trong sáng của con tức thì thành sự thật.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tượng Phật Dược Sư Lưu Ly
  • Bán Tượng Phật Dược Sư Uy Tín, Chất Lượng Nhất Trên Thị Trường Hiện Nay
  • Địa Điểm Nào Cung Cấp Tượng Phật Dược Sư Cao Cấp Đẹp Và Tốt Nhất?
  • Tượng Phật Di Lặc Đặt Ở Đâu Sao Cho Đúng Phong Thủy
  • Sớ Điệp Chữ Việt Âm Hán Văn
  • Bài Cúng Rằm Tháng 7 Tại Mộ Mới Nhất Năm 2021

    --- Bài mới hơn ---

  • Cúng Rằm Tháng Giêng Sao Cho Đúng
  • Người Việt Với Những Lưu Ý Để Cúng Rằm Tháng Giêng Sao Cho Đúng Thuần Phong Mỹ Tục
  • Mâm Cúng Rằm Tháng 7 Với 10 Món Ngon Đẹp Xuất Sắc Khó Ai Có Thể Vượt Qua
  • Cúng Rằm Tháng 7 Thế Nào Cho Đúng?
  • Lễ Vu Lan, Cúng Rằm Tháng 7 Thế Nào Cho Đúng?
  • A. Hướng dẫn sắm lễ và cách bày trí lễ cúng Rằm tháng 7 tại mộ

    Không cúng bằng giấy tiền, vàng mã.

    Không sát mạng chúng sinh để cúng.

    Có thể dùng hoặc không dùng pháp khí: chuông, mõ, khánh.

    1. Sắm lễ cúng Rằm tháng 7 tại mộ:

    Sắm hai lễ: một lễ cúng thần linh; một lễ cúng vong linh của gia đình và thí thực cô hồn cùng một lễ.

    Sắm lễ cúng thần linh: nến, hoa, quả, xôi, nước (số lượng tuỳ duyên).

    Sắm cúng thí thực: nến, hoa, quả, xôi, nước, bánh kẹo, khoai, ngô… (số lượng tuỳ duyên).

    2. Cách bày trí lễ cúng Rằm tháng 7 tại mộ:

    a. Trường hợp gia đình có khu lăng mộ gia tộc

    – Một lễ cúng vong linh, thí thực cô hồn chung.

    – Lễ cúng thần linh:

    + Trường hợp khu lăng mộ gia tộc có đặt bát hương thờ thần linh và khu nghĩa trang có đền thờ thần linh: bày lễ cúng thần linh tại khu lăng mộ hoặc sắm thêm cả lễ cúng thần linh tại đền thờ thần linh của nghĩa trang.

    + Trường hợp khu lăng mộ gia tộc không đặt bát hương thờ thần linh, nhưng khu nghĩa trang có đền thờ thần linh: tuỳ gia đình đặt lễ cúng thần linh tại khu lăng mộ hoặc đền thờ thần linh.

    + Trường hợp khu lăng mộ gia tộc và khu nghĩa trang đều không có đền/ bát hương thờ thần linh thì đặt lễ cúng thần linh cùng địa điểm đã chọn cúng vong linh, thí thực.

    b. Trường hợp gia đình có nhiều mộ đặt rải rác ở nghĩa trang

    – Sắm một lễ cúng vong linh, thí thực.

    Địa điểm bày lễ cúng: tuỳ gia đình chọn tại một ngôi mộ.

    – Lễ cúng thần linh:

    Nếu nghĩa trang có đền thờ thần linh, thì đặt lễ cúng tại đền thờ thần linh.

    Nếu nghĩa trang không có đền thờ thần linh, thì đặt lễ cúng thần linh cùng địa điểm đã chọn cúng vong linh, thí thực.

    Sau đó đến các ngôi mộ khác thắp hương khấn mời vong linh về vị trí ngôi mộ đã chọn. Văn khấn như sau:

    “Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, Nam mô A Di Đà Phật! Con xin chư Phật gia hộ cho con thực hành hạnh hiếu thỉnh mời vong linh.

    Con xin kính thỉnh vong linh(Cụ,… tên…) mất ngày… tháng… năm…, con tên là… ở tại… là (con…) của (cụ…), nhân tiết tháng Bảy – Vu Lan báo hiếu, chư Phật hoan hỷ, chư Tăng kiết hạ đem phúc lành tế độ chúng sinh, gia đình chúng con thiết lễ lòng thành, kính thỉnh vong linh cụ lai đáo về tại phần mộ của (Đọc tên ngôi mộ đã chọn)…, để con cháu chúng con thiết lễ cúng dường vật thực và tác lễ bố thí vật thực cho các vong linh tại nơi địa cuộc nghĩa trang này, phần phúc đó xin hồi hướng đáp đền ơn đức tiên tổ.

    Con xin kính thỉnh vong linh hương hồn (cụ…) hoan hỷ.

    Con thành tâm kính thỉnh.

    Nam mô Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát(3 lần).

    B. Nghi thức cúng lễ Rằm tháng 7 tại mộ

    (Quỳ hoặc đứng dâng hương) NGUYỆN HƯƠNG

    Nguyện đem lòng thành kính

    Gửi theo đám mây hương

    Phảng phất khắp mười phương

    Cúng dường ngôi Tam Bảo

    Thề trọn đời giữ đạo

    Theo tự tính làm lành

    Cùng pháp giới chúng sinh

    Cầu Phật từ gia hộ

    Tâm Bồ Đề kiên cố

    Chí tu đạo vững bền

    Xa biển khổ nguồn mê

    Chóng quay về bờ giác

    Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát

    Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát

    Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Ma Ha Tát!

    VĂN KHẤN RẰM THÁNG 7 TẠI MỘ

    LỄ TÁN PHẬT

    (Pháp khí: khánh)

    Đại từ đại bi thương chúng sinh,

    Đại hỷ đại xả cứu hàm thức,

    Tướng đẹp sáng ngời dùng trang nghiêm.

    Chúng con chí tâm thành đảnh lễ.

    Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chư Phật ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 lễ)

    Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chính Pháp ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 lễ)

    Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Tăng bậc Hiền Thánh ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 lễ)

    TÁN PHÁP

    Pháp Phật sâu mầu chẳng gì hơn,

    Trăm ngàn muôn kiếp khó được gặp.

    Nay con nghe thấy vâng gìn giữ,

    Nguyện hiểu nghĩa chân đức Thế Tôn.

    Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! (3 lần)

    TỤNG KINH (Khai chuông mõ) Bài kinh: Chuyện Ngạ Quỷ Serinì (Serinìpeta)

    Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong khi đang trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana).

    Tương truyền ở quốc độ Câu-lâu (Kuru) tại thành phố Hat-thi-ni-pu-ra có một gái giang hồ tên là Se-ri-nì. Khi dân trong thành chào đón chư Tăng đến thuyết pháp, họ thúc giục nàng:

    – Nàng hãy đến cúng dường chư Tăng để tạ ân.

    Nàng từ chối đáp:

    – Sao tôi lại phải cúng dường lễ vật cho các Sa-môn trọc đầu này chứ? Sao tôi lại phải từ bỏ một thứ gì đó vì con người vô dụng ấy?

    Khi từ trần, nàng tái sanh làm một nữ ngạ quỷ ở sau hào lũy của một tường thành nơi biên địa. Thế rồi một cư sĩ tại gia từ thành Hat-thi-ni-pu-ra đến vùng thành lũy này để buôn bán, vào lúc rạng đông đi ngang hào lũy để điều hành công việc, trông thấy nữ ngạ quỷ liền hỏi, qua vần kệ:

    Trần truồng và xấu xí hình dung,

    Hốc hác và thân thể nổi gân,

    Người ốm yếu, xương sườn lộ rõ,

    Ngươi là ai hiện đến đây chăng?

    Nữ ngạ quỷ đáp:

    Tôn giả, con là ngạ quỷ nương,

    Thần dân khốn khổ của Diêm Vương,

    Vì con đã phạm hành vi ác,

    Con đến cõi ma đói ẩn thân.

    Vị cư sĩ ngâm kệ hỏi:

    Ngày xưa đã phạm ác hành gì,

    Do khẩu, ý, thân đã thực thi?

    Vì hạnh nghiệp nào ngươi đã tạo,

    Từ đây tới cảnh giới âm ty?

    Nữ ngạ quỷ đáp lại vần kệ:

    Con đã đi quanh bến tắm công,

    Lang thang suốt cả nửa tuần trăng,

    Mặc dù bố thí là công đức,

    Con chẳng cho mình chỗ trú thân.

    Khi con khát nước, đến dòng sông,

    Sông nước trở thành bãi trống không,

    Những lúc nắng, con ngồi bóng mát,

    Tàng cây lại hóa nóng bừng bừng.

    Cơn gió như thiêu đốt, lửa hồng,

    Thổi ào lên khắp cả thân con,

    Nhưng con xứng đáng nhiều đau khổ,

    Hơn thế này, Tôn giả đoái thương.

    Xin Tôn giả đến Hat-thi-ni,

    Và kể chuyện ngay với mẹ già:

    “Ta đã thấy con bà thuở trước,

    Thần dân khốn khổ cõi Diêm-la,

    Vì nàng đã phạm hành vi ác,

    Từ cõi đời đi đến cõi ma”.

    Giờ đây con có món tư trang,

    Ðể dành lên đến bốn trăm ngàn,

    Con không hề nói cho ai biết,

    Con đã giấu ngay dưới tọa sàng.

    Xin mẹ con dâng lễ cúng dường,

    Phước phần hồi hướng đến tên con,

    Chúc bà được sống đời trường thọ,

    Khi mẹ con dâng lễ cúng dường,

    Hồi hướng về con phần phước đức,

    Thỏa nguyền, con hạnh phúc hân hoan.

    Trong lúc nữ ngạ quỷ kể chuyện này, vị ấy chú ý lắng nghe lời nói, và về sau, khi đã làm xong công việc, vị ấy đến kể chuyện kia cho bà mẹ nó.

    Người ấy thuận lòng, vội nói ra:

    “Ðược rồi!” và đến Hat-thi-ni,

    Nói: “Ta đã thấy con bà đó,

    Khốn khổ, thần dân cõi Dạ-ma,

    Vì đã tạo nên điều ác nghiệp,

    Từ đời này đến cõi tà ma”.

    Dịp kia, nàng đã bảo cùng ta:

    “Xin kể chuyện ngay với mẹ già,

    Ta đã thấy con bà thuở trước,

    Thần dân khốn khổ cõi Diêm-la,

    Vì nàng đã phạm hành vi ác,

    Từ cõi đời đi đến cõi ma”.

    Giờ đây nàng có món tư trang,

    Ðể dành lên đến bốn trăm ngàn,

    Nàng không hề nói cho ai biết,

    Nàng đã giấu ngay dưới tọa sàng.

    Xin mẹ nàng dâng lễ cúng dường,

    Phước phần hồi hướng đến cho nàng,

    Chúc bà được sống đời trường thọ,

    Khi mẹ nàng dâng lễ cúng dường,

    Hồi hướng về nàng phần phước đức,

    Thỏa nguyền, nàng hạnh phúc hân hoan.

    Do vậy, bà dâng lễ cúng dường

    Phước phần hồi hướng đến tên nàng,

    Tức thì nữ quỷ liền an lạc,

    Hạnh phúc, dung nhan đẹp lạ thường!

    Khi mẹ nàng nghe chuyện này, bà liền cúng dường Tăng chúng như nàng ước nguyện và hồi hướng công đức về nàng.(3 tiếng chuông)

    (Trích: Kinh Tạng Nam Truyền, Tiểu Bộ Kinh 3, Ngạ Quỷ Sự, Tiểu Phẩm, Chuyện Ngạ Quỷ Serinì, trang 373 – 376)

    (Chủ sám khai thị cho vong linh)

    Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, con xin được nương oai lực của Tam Bảo, nói cho các vong linh về ý nghĩa lời Đức Phật dạy trong bài kinh liên hệ với việc làm hôm nay của con.

    Hỡi các vong linh(ngạ quỷ, cô hồn), bài kinh trên nói về một cô gái, do lúc sống mang thân người không biết làm công đức, vì vậy nên khi chết do không có phước, khiến bị đọa làm ngạ quỷ, chịu đời sống vô cùng khổ sở. Sau đó ngạ quỷ do nhân duyên nhờ người cư sĩ nói chuyện với bà mẹ, để bà mẹ cúng dường Tam Bảo hồi hướng phước cho, nên đã thoát khỏi cảnh ngạ quỷ khổ đó. Hôm nay nhân mùa Vu Lan báo hiếu, xá tội vong nhân, con như pháp tuỳ duyên xin cúng dường Tam Bảo, hộ trì Tam Bảo, hộ trì chư Tăng tại chùa… (nếu tại Chùa Ba Vàng thì đọc: Chùa Ba Vàng, Phường Quang Trung, Tp Uông Bí, Tỉnh Quảng Ninh), với số tịnh tài là… và xin hồi hướng phúc lành tạo ra đó, đến cho các vong linh, nguyện phúc lành này sẽ giúp cho các vong linh tiêu trừ phần nào nghiệp khổ, để thọ thực được phần thức ăn hiến cúng của gia đình chúng con và phát sinh được nhân duyên, được quy y Tam Bảo tu theo Phật Pháp sớm thoát cảnh khổ.

    Chúng con cúng dường Tam Bảo với số tiền là… để hồi hướng phúc đến cho chư Thiên, chư Thần linh tại nơi địa cuộc nghĩa trang này.

    Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, giờ này con xin tác lễ cúng dường vật thực.

    Thượng: Chúng con xin dâng lên cúng dường thập phương chư Phật chứng minh.

    Trung: Chúng con xin cúng dâng lên chư Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng chứng minh.

    Hạ: Chúng con xin cúng dường cho chư Thiên, chư Thần Linh, Thổ Địa tại nơi đây.

    Sau: Chúng con xin được nương oai lực Tam Bảo, chúng con xin thỉnh mời và hiến cúng cho các vong linh gia tiên họ (…) và các vong linh (tên):… cùng các vong linh nơi địa cuộc nghĩa trang này.

    (Đọc chú Biến thực, Biến thủy)

    Chú biến thực: Nam mô tát phạ đá tha nga đá phả rô chỉ để ám tam bạt ra tam bạt ra hồng. (7 lần)

    Chú biến thủy: Nam mô tô rô bà ra đát tha nga đá ra đát điệt tha án tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô sa bà ha. (7 lần)

    Phổ cúng dường: Án nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhật ra hồng. (7 lần)

    Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, thỉnh các chúng đã lãnh thọ phước báu, vật thực tại đàn lễ này, cùng chúng con phát tâm Bồ Đề, thực hành công hạnh Bồ Đề:

    Phát tâm Bồ Đề

    Hộ trì Tam Bảo

    Chuyển tải Phật pháp

    Rộng khắp thế gian(phần in đậm đọc 3 lần)

    Nguyện chư vị tinh tấn Bồ Đề, cầu Vô Thượng Đạo.(1 vái)

    PHỤC NGUYỆN

    Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

    Chúng con cũng nguyện cầu cho tất cả các vong hồn tiên tổ, thân quyến quá vãng và các chúng vong linh(ngạ quỷ, cô hồn), đã thọ nhận lễ hiến cúng của chúng con, được kết duyên pháp lữ với chúng con, đời đời kiếp kiếp trợ duyên cho nhau tu hành cho tới ngày thành Phật. Chúng con cũng xin hồi hướng phúc lành trong đàn lễ hiến cúng này, đến cho gia đình chúng con (nguyện gì đọc nấy)… và toàn thể gia đình, cùng nhau tinh tấn tu hành theo chính Pháp của Phật, cho tới ngày liễu thoát luân hồi sinh tử.

    Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

    TAM TỰ QUY

    Tự quy y Phật, nguyện cho chúng sinh, hiểu thấu đạo lớn, phát tâm Vô Thượng. (1 lễ)

    Tự quy y Pháp, nguyện cho chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như biển.(1 lễ)

    Tự quy y Tăng, nguyện cho chúng sinh, quản lý đại chúng, hết thảy không ngại.(1 lễ)

    Nếu các Phật tử ở xa, muốn cúng dường về chùa Ba Vàng, nhưng không có điều kiện để về chùa, thì quý Phật tử khi cúng lễ xong, gom cất phần tịnh tài (tiền), để gửi ngay hoặc sau khoảng mấy tháng thì gửi.

    Chùa Ba Vàng và Thầy Thích Trúc Thái Minh không dùng bất kỳ một tài khoản ngân hàng nào khác. Nếu quý Phật tử muốn cúng dường, công đức về chùa Ba Vàng thì chỉ chuyển khoản vào một tài khoản duy nhất sau đây.

    Quý Phật tử kiểm tra thông tin cung cấp tài khoản tại trang chùa Ba Vàng ở đường link sau:

    chuabavang.com/thong-bao-so-tai-khoan-cua-chua-ba-vang/

    Lưu ý: Nếu như bài nào có in số tài khoản mà không in đường link, mong quý Phật tử xem xét và kiểm tra lại.

    TÀI KHOẢN CHÙA BA VÀNG

    Số tài khoản: 0141005656888.

    Tên tài khoản: Chùa Ba Vàng.

    Ngân hàng: Vietcombank Quảng Ninh.

    Mã SWIFT (mã số khi chuyển khoản quốc tế): BFTV VNVX014.

    Khi gửi xong thì nhắn tin vào số điện thoại hoặc nhắn tin qua zalo để thầy biết: 0981392858 (Sư Thầy Thích Trúc Bảo Việt).

    Nội dung tin nhắn

    Nam mô A Di Đà Phật, con kính bạch Thầy! Tên con là… ở tại… Hôm nay là ngày… /…/… con vừa gửi vào tài khoản của nhà chùa số tiền là… để hồi hướng cho các vong linh… Con xin gửi danh sách để sư Thầy thỉnh vong linh ạ. Con cũng xin sư Thầy chứng minh và hồi hướng cho cả gia đình con luôn được sự gia hộ của chư Phật, hiện tại được… Con xin thành kính tri ân Thầy ạ! Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

    LIÊN HỆ

    Nếu có bất cứ vấn đề gì thắc mắc, kính mời quý đạo hữu liên hệ với:

    Phật tử: Phạm Thị Yến (Tâm Chiếu Hoàn Quán):

    – Ban Liên Lạc của CLB Cúc Vàng – Tập Tu Lục Hòa: 0984243810

    – Nhắn tin vào Facebook:

    Phạm Thị Yến (Tâm Chiếu Hoàn Quán):

    Facebook.com/cophamthiyentamchieuhoanquan

    – Đăng lên nhóm facebook:

    Tâm Sự Cùng Cô Phạm Thị Yến (Tâm Chiếu Hoàn Quán):

    Facebook.com/groups/PhamThiYenTCHQ

    – Email: [email protected]

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Cúng Rằm Tháng 7 Tại Nhà Hoặc Nhà Thờ Tổ Năm 2021
  • Sắm Đồ Cúng Ngày Rằm Tháng Giêng Ở Đâu?
  • Cúng Rằm Tháng 7 Vào 14 Hay 15 Âm Lịch Mới Là Đúng Không Gặp Xui Xẻo?
  • Cúng Rằm Tháng 7 Vào Giờ Nào Chuẩn Nhất, Ngày 14 Hay 15 Âm Lịch?
  • Cúng Rằm Tháng 7 Vào Ngày 14 Hay 15 Âm Lịch?
  • Bài Cúng Rằm Tháng 7 Tại Nhà Hoặc Nhà Thờ Tổ Mới Nhất Năm 2021

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Cúng Rằm Tháng 7 Tại Mộ Năm 2021
  • Cúng Rằm Tháng Giêng Sao Cho Đúng
  • Người Việt Với Những Lưu Ý Để Cúng Rằm Tháng Giêng Sao Cho Đúng Thuần Phong Mỹ Tục
  • Mâm Cúng Rằm Tháng 7 Với 10 Món Ngon Đẹp Xuất Sắc Khó Ai Có Thể Vượt Qua
  • Cúng Rằm Tháng 7 Thế Nào Cho Đúng?
  • A. Hướng dẫn sắm lễ cúng Rằm tháng 7 tại nhà

    Không cúng bằng giấy tiền, vàng mã.

    Không sát mạng chúng sinh để cúng.

    Hoa, quả không kiêng chủng loại và số lượng.

    Sắm lễ:

    – Địa điểm bày lễ: Tại ban thờ

    + Cúng Phật: Hương, hoa, trà, quả, thực: xôi chè hoặc bát cơm trắng (nếu gia đình chưa có ban thờ Phật, thì khi bạch cúng lễ, sẽ hướng tâm tới Phật để cúng, mà không sắm lễ).

    + Cúng chư Thiên, Thần linh: Hương, hoa, trà, quả, thực: xôi chè hoặc bát cơm trắng.

    + Cúng vong linh gia tiên: Hương, hoa, trà, quả, thực: mâm cơm chay, nếu có xôi chè thì bày cả xôi chè để cúng.

    B. Nghi thức cúng lễ Rằm tháng 7 tại nhà

    NGUYỆN HƯƠNG

    Nguyện đem lòng thành kính

    Gửi theo đám mây hương

    Phảng phất khắp mười phương

    Cúng dường ngôi Tam Bảo

    Thề trọn đời giữ đạo

    Theo tự tính làm lành

    Cùng pháp giới chúng sinh

    Cầu Phật từ gia hộ

    Tâm Bồ Đề kiên cố

    Chí tu đạo vững bền

    Xa biển khổ nguồn mê

    Chóng quay về bờ giác

    Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát

    Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát

    Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Ma Ha Tát!

    VĂN KHẤN RẰM THÁNG 7 TẠI NHÀ

    LỄ TÁN PHẬT

    Đại từ đại bi thương chúng sinh,

    Đại hỷ đại xả cứu hàm thức,

    Tướng đẹp sáng ngời dùng trang nghiêm.

    Chúng con chí tâm thành đảnh lễ.

    Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chư Phật ba đời, tột hư không khắp pháp giới.(1 lễ)

    Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chính Pháp ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 lễ)

    Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Tăng bậc Hiền Thánh ba đời, tột hư không khắp pháp giới.(1 lễ)

    TÁN PHÁP

    Pháp Phật sâu mầu chẳng gì hơn,

    Trăm ngàn muôn kiếp khó được gặp.

    Nay con nghe thấy vâng gìn giữ,

    Nguyện hiểu nghĩa chân đức Thế Tôn.

    Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!(3 lần)

    Bài kinh: Vu Lan Bồn

    Ta từng nghe lời tạc như vầy:

    Một thuở nọ Thế Tôn an trụ,

    Xá Vệ thành Kỳ thụ viên trung,

    Mục Liên mới được Lục thông,

    Muốn cho cha mẹ khỏi vòng trầm luân.

    Công dưỡng dục thâm ân dốc trả,

    Nghĩa sinh thành đạo cả mong đền,

    Làm con hiếu hạnh vi tiên,

    Bèn dùng tuệ nhãn dưới trên kiếm tầm.

    Thấy vong mẫu sinh làm ngạ quỷ,

    Không uống ăn tiều tuỵ hình hài,

    Mục Liên thấy vậy bi ai!

    Biết mẹ đói khát ai hoài tình thâm.

    Lo phẩm vật đem dâng từ mẫu,

    Ðặng đỡ lòng cực khổ bấy lâu,

    Thấy cơm, mẹ rất lo âu,

    Tay tả che đậy, hữu hầu bốc ăn.

    Lòng bỏn sẻn tiền căn chưa dứt,

    Sợ chúng ma cướp giựt của bà,

    Cơm đưa chưa đến miệng đà,

    Hóa thành than lửa nuốt mà đặng đâu.

    Thấy như vậy âu sầu thê thảm,

    Mục Kiền Liên bi cảm xót thương,

    Mau mau về tới giảng đường,

    Bạch cùng Sư phụ tìm phương giải nàn.

    Phật mới bảo rõ ràng căn cội:

    Rằng mẹ Ông gốc tội rất sâu,

    Dầu Ông thần lực nhiệm mầu,

    Một mình không thể ai cầu được đâu.

    Lòng hiếu thảo của Ông dầu lớn,

    Tiếng vang đồn thấu đến cửu Thiên,

    Cùng là các bậc Thần kỳ,

    Tà ma ngoại đạo, bốn vì Thiên vương.

    Cộng ba cõi sáu phương tụ tập,

    Cũng không phương cứu tế mẹ ngươi,

    Muốn cho cứu được mạng người,

    Phải nhờ thần lực của mười phương Tăng.

    Pháp cứu tế Ta toan giảng nói,

    Cho mọi người thoát khỏi ách nàn.

    Bèn kêu Mục thị đến gần,

    Truyền cho diệu Pháp ân cần thiết thi.

    Rằm tháng Bảy là ngày Tự tứ,

    Mười phương Tăng đều dự lễ này,

    Phải toan sắm sửa chớ chầy,

    Thức ăn trăm món, trái cây năm màu.

    Lại phải sắm giường nằm nệm lót,

    Cùng thau, bồn, đèn, đuốc, nhang, dầu,

    Món ăn tinh sạch báu mầu,

    Ðựng trong bình bát vọng cầu kính dâng.

    Chư Ðại đức mười phương thọ thực,

    Trong bảy đời sẽ được siêu thăng,

    Lại thêm cha mẹ hiện tiền,

    Ðặng nhờ phước lực tiêu khiên ách nàn.

    Vì ngày ấy Thánh Tăng đầy đủ,

    Dầu ở đâu cũng tụ hội về,

    Như người thiền định sơn khê,

    Tránh điều phiền não chăm về Thiền-na.

    Hoặc người đặng bốn tòa đạo quả,

    Công tu hành nguyện thỏa vô sanh.

    Hoặc người thọ hạ kinh hành,

    Chẳng ham quyền quý ẩn danh lâm tòng.

    Hoặc người được Lục thông tấn phát,

    Và những hàng Duyên-giác, Thanh-văn,

    Hoặc chư Bồ-tát mười phương,

    Hiện hình làm sãi ở gần chúng sanh,

    Ðều trì giới rất thanh, rất tịnh,

    Ðạo đức dầy chánh định chơn tâm.

    Tất cả các bậc Thánh, phàm,

    Ðồng lòng thọ lãnh bát cơm Lục hòa.

    Người nào có sắm ra vật thực,

    Ðặng cúng dường Tự tứ Tăng thời,

    Hiện tiền phụ mẫu của người,

    Bà con quyến thuộc thảy đều nhờ ơn.

    Tam đồ khổ chắc rằng ra khỏi,

    Cảnh thanh nhàn hưởng thọ tự nhiên,

    Như còn cha mẹ hiện tiền,

    Nhờ đó cũng được bách niên thọ trường;

    Như cha mẹ bảy đời quá vãng,

    Sẽ hóa sinh về cõi Thiên cung.

    Người thời tuấn tú hình dung,

    Hào quang chiếu sáng khắp cùng châu thân,

    Phật dạy bảo mười phương Tăng chúng,

    Phải tuân theo thể thức sau này:

    Trước khi thọ thực đàn chay,

    Phải cầu chú nguyện cho người tín gia.

    Cầu thất thế mẹ cha thí chủ,

    Ðịnh tâm thần quán đủ đừng quên,

    Cho xong định ý hành thiền,

    Mới dùng phẩm vật đàn tiền hiến dâng.

    Khi thọ dụng, nên an vật thực,

    Trước Phật đài hoặc tự tháp trung.

    Chư Tăng chú nguyện viên dung,

    Sau rồi tự tiện thọ dùng bữa trưa.

    Pháp cứu tế Phật vừa nói dứt,

    Mục Liên cùng Bồ-tát chư Tăng,

    Ðồng nhau tỏ dạ vui mừng,

    Mục Liên cũng hết khóc than rầu buồn.

    Mục Liên mẫu cũng trong ngày ấy,

    Kiếp khổ về ngạ quỷ được tan,

    Mục Liên bạch với Phật rằng:

    Mẹ con nhờ sức Thánh Tăng khỏi nàn.

    Lại cũng nhờ oai thần Tam Bảo,

    Bằng chẳng thì nạn khổ khó ra.

    Như sau đệ tử xuất gia,

    Vu Lan Bồn pháp dùng mà độ sanh.

    Ðộ cha mẹ còn đương tại thế,

    Hoặc bảy đời có thể được không?

    Phật rằng: Lời hỏi rất thông,

    Ta vừa muốn nói, con thời hỏi theo.

    Thiện nam tử, Tỳ-kheo nam nữ,

    Cùng Quốc vương, Thái tử, Ðại thần,

    Tam công, Tể tướng, Bá quan

    Cùng hàng lê thứ vạn dân cõi trần.

    Như chí muốn đền ơn cha mẹ,

    Hiện tại cùng thất thế tình thâm.

    Ðến Rằm tháng Bảy mỗi năm,

    Sau khi kiết hạ chư Tăng tựu về,

    Chính ngày ấy Phật Ðà hoan hỷ,

    Phải sắm sanh bá vị cơm canh,

    Ðựng trong bình bát tinh anh,

    Chờ giờ Tự tứ, chúng Tăng cúng dường.

    Ðặng cầu nguyện song đường trường thọ,

    Chẳng ốm đau cũng chẳng khổ chi,

    Cùng cầu thất thế đồng thì,

    Lìa nơi ngạ quỷ sinh về nhơn thiên.

    Ðặng hưởng phước nhân duyên vui đẹp,

    Lại xa lìa nạn khổ cực thân.

    Môn sanh Phật tử ân cần,

    Hạnh tu hiếu thuận phải cần phải chuyên.

    Thường cầu nguyện thung huyên an hảo,

    Cùng bảy đời phụ mẫu siêu sinh,

    Ngày Rằm tháng Bảy mỗi năm,

    Vì lòng hiếu thảo ân thâm phải đền.

    Lễ cứu tế chí thành sắp đặt,

    Ngỏ cúng dường chư Phật, chư Tăng.

    Ấy là báo đáp thù ân,

    Sanh thành dưỡng dục song thân buổi đầu,

    Ðệ tử Phật lo âu gìn giữ,

    Mới phải là Thích tử Thiền môn.

    Vừa nghe dứt Pháp Lan Bồn,

    Môn sanh tứ chúng thảy đồng hỷ hoan.

    Mục Liên với bốn ban Phật tử,

    Nguyện một lòng tín sự phụng hành.

    Trước là trả nghĩa sanh thành,

    Sau là cứu vớt chúng sanh muôn loài.

    NAM MÔ ÐẠI HIẾU MỤC KIỀN LIÊN BỒ TÁT. (3 lần, ba tiếng chuông)

    (Chủ sám khai thị cho vong linh)

    Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, con xin được nương oai lực của Tam Bảo, nói cho các vong linh về ý nghĩa lời Đức Phật dạy trong bài kinh liên hệ với việc làm hôm nay của con.

    Kính thưa vong linh các cụ gia tiên tiền tổ, cùng các vong linh hiện tiền nơi pháp hội đàn tràng, nội dung bài kinh Vu Lan Bồn mà con đã đọc ở trên, nói về mẹ của Ngài Mục Kiền Liên bậc A La Hán đệ nhất thần thông, là bà Thanh Đề, do lúc còn sống ở trên đời, bà Thanh Đề đã phỉ báng Tam Bảo, sát hại sinh linh cúng tế quỷ thần, tà kiến sân hận, không biết tu tâm, không biết tạo công đức, vì vậy đến khi chết do hành nghiệp ác đã tạo, do không có phước nên đã bị đọa làm quỷ đói, chịu đời sống vô cùng khổ sở. Khi Ngài Mục Kiền Liên tu chứng đạo, Ngài quán sát thấy biết mẹ đang chịu khổ, nên Ngài liền đi khất thực được bát cơm dâng cúng cho bà, nhưng vì bà ác nghiệp quá nặng nề, nên khi dâng bát cơm lên miệng, thì bát cơm đó đã hóa thành lửa, khiến bà không nuốt được nên bà càng khổ thêm. Ngài Mục Kiền Liên thấy mẹ bị như vậy, vô cùng đau sót, Ngài về Bạch Phật và đã được Đức Phật chỉ dạy rằng: “Dù Ngài Mục Liên có thần thông, có oai lực, nhưng một mình cũng không cứu được mẹ, hoặc là dù có nhờ tất cả các vị thầy ngoại đạo – tức là không theo Pháp giải thoát của Phật, hoặc tất cả các vị vua trời tập trung vào cùng cầu nguyện thì cũng không cứu nổi bà Thanh Đề, cũng như không cứu nổi một vong linh ngạ quỷ được siêu thoát. Mà muốn cứu cho một vong linh hay cả dòng họ gia tiên siêu thoát thì phải nhờ thần lực của thập phương Tăng, thông qua lễ cúng dường trai Tăng, lễ cúng dường tứ sự: Y, áo vật dụng che thân; thuốc men chữa bệnh; vật thực, nước uống; chỗ ở giường sàng, ngọa cụ cho tập thể chư Tăng tu tập trai giới phạm hạnh, sau khi chứng minh thọ dụng sự cúng dường của gia chủ, chư Tăng hồi hướng phúc đến cho vong linh thân bằng quyến thuộc của thí chủ, thì vong linh được thoát kiếp khổ sinh về cảnh giới an lành: trời, người”. Học theo lời Đức Phật dạy, noi theo gương hiếu của Ngài Mục Kiền Liên, hôm nay nhân mùa Vu Lan báo hiếu, xá tội vong nhân, con không thiết lễ cúng dường trai Tăng được, con xin tuỳ duyên như pháp xin cúng dường Tam Bảo, hộ trì Tam Bảo, hộ trì chư Tăng tại chùa…(nếu tại Chùa Ba Vàng thì đọc: Chùa Ba Vàng, Phường Quang Trung, Tp Uông Bí, Tỉnh Quảng Ninh), với số tịnh tài là… và xin hồi hướng phúc lành tạo ra đó, đến cho các vong linh, nguyện phúc lành này sẽ giúp cho các vong linh tiêu trừ phần nào nghiệp khổ, để hiện tại thọ thực được phần thức ăn hiến cúng của gia đình chúng con và phát sinh được nhân duyên, được quy y Tam Bảo, tu theo Phật pháp sớm thoát cảnh khổ.

    Chúng con cúng dường Tam Bảo với số tiền là… để hồi hướng phúc đến cho chư Thiên, chư Thần linh tại nơi đất của gia đình.

    Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! Giờ này con xin tác lễ cúng dường vật thực.

    Thượng: Chúng con xin dâng lên cúng dường thập phương chư Phật chứng minh.

    Trung: Chúng con xin cúng dâng lên chư Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng chứng minh.

    Hạ: Chúng con xin cúng dường cho chư Thiên, chư Thần Linh, Thổ Địa tại nơi đây.

    Sau: Chúng con xin được nương oai lực Tam Bảo, chúng con xin thỉnh mời và hiến cúng cho các vong linh gia tiên họ (…), các vong linh thai nhi và các vong linh (tên):… cùng các vong linh thuộc các nơi đất thuộc sở hữu của gia đình chúng con.

    (Đọc chú Biến thực, Biến thủy)

    Chú biến thực: Nam mô tát phạ đá tha nga đá phả rô chỉ để ám tam bạt ra tam bạt ra hồng. (7 lần)

    Chú biến thủy: Nam mô tô rô bà ra đát tha nga đá ra đát điệt tha án tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô sa bà ha. (7 lần)

    Phổ cúng dường: Án nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhật ra hồng. (7 lần)

    Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, thỉnh chư vị chư Thiên, chư Thần, gia tiên tiền tổ, các chúng hiện diện nơi pháp hội, đã lãnh thọ phước báu, vật thực tại đàn lễ này, cùng chúng con phát tâm Bồ Đề, thực hành công hạnh Bồ Đề:

    Phát tâm Bồ Đề

    Hộ trì Tam Bảo

    Chuyển tải Phật pháp

    Rộng khắp thế gian(phần in đậm đọc 3 lần)

    Nguyện chư vị tinh tấn Bồ Đề, cầu Vô Thượng Đạo.(1 vái)

    Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

    Chúng con cũng nguyện cầu cho tất cả các vong hồn tiên tổ, thân quyến quá vãng và các chúng vong linh (ngạ quỷ, cô hồn), đã thọ nhận lễ hiến cúng của chúng con, được kết duyên pháp lữ với chúng con, đời đời kiếp kiếp trợ duyên cho nhau tu hành cho tới ngày thành Phật. Chúng con cũng xin hồi hướng phúc lành, trong đàn lễ hiến cúng này, đến cho gia đình chúng con (nguyện gì đọc nấy)… và toàn thể gia đình, cùng nhau tinh tấn tu hành theo chính Pháp của Phật, cho tới ngày liễu thoát luân hồi sinh tử.

    Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

    TAM TỰ QUY

    Tự quy y Phật, nguyện cho chúng sinh, hiểu thấu đạo lớn, phát tâm Vô Thượng.(1 lễ)

    Tự quy y Pháp, nguyện cho chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như biển.(1 lễ)

    Tự quy y Tăng, nguyện cho chúng sinh, quản lý đại chúng, hết thảy không ngại.(1 lễ)

    (Nếu sắp cúng thí thực phóng sinh, thì chắp tay khấn bạch, để đi ra ngoài cúng)

    Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! Giờ này con xin ra ngoài cúng lễ thí thực, phóng sinh. Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!(3 vái)

    Mời quý Phật tử xem (ấn vào tên bài): Bài cúng cô hồn tháng 7 tại nhà mới nhất năm 2021

    Nếu các Phật tử ở xa, muốn cúng dường về chùa Ba Vàng, nhưng không có điều kiện để về chùa, thì quý Phật tử khi cúng lễ xong, gom cất phần tịnh tài (tiền), để gửi ngay hoặc sau khoảng mấy tháng thì gửi.

    Chùa Ba Vàng và Thầy Thích Trúc Thái Minh không dùng bất kỳ một tài khoản ngân hàng nào khác. Nếu quý Phật tử muốn cúng dường, công đức về chùa Ba Vàng thì chỉ chuyển khoản vào một tài khoản duy nhất sau đây.

    Quý Phật tử kiểm tra thông tin cung cấp tài khoản tại trang chùa Ba Vàng ở đường link sau:

    chuabavang.com/thong-bao-so-tai-khoan-cua-chua-ba-vang/

    Lưu ý: Nếu như bài nào có in số tài khoản mà không in đường link, mong quý Phật tử xem xét và kiểm tra lại.

    TÀI KHOẢN CHÙA BA VÀNG

    Số tài khoản: 0141005656888.

    Tên tài khoản: Chùa Ba Vàng.

    Ngân hàng: Vietcombank Quảng Ninh.

    Mã SWIFT (mã số khi chuyển khoản quốc tế): BFTV VNVX014.

    Khi gửi xong thì nhắn tin vào số điện thoại hoặc nhắn tin qua zalo để thầy biết: 0981392858 (Sư thầy Thích Trúc Bảo Việt).

    Nội dung tin nhắn

    Nam mô A Di Đà Phật, con kính bạch Thầy! Tên con là… ở tại… Hôm nay là ngày… /…/… con vừa gửi vào tài khoản của nhà chùa số tiền là… để hồi hướng cho các vong linh… Con xin gửi danh sách để Sư Thầy thỉnh vong linh ạ. Con cũng xin Sư Thầy chứng minh và hồi hướng cho cả gia đình con luôn được sự gia hộ của chư Phật, hiện tại được… Con xin thành kính tri ân Thầy ạ! Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

    LIÊN HỆ

    Nếu có bất cứ vấn đề gì thắc mắc, kính mời quý đạo hữu liên hệ với:

    Phật tử: Phạm Thị Yến (Tâm Chiếu Hoàn Quán):

    – Ban Liên Lạc của CLB Cúc Vàng – Tập Tu Lục Hòa: 0984243810

    – Nhắn tin vào Facebook:

    Phạm Thị Yến (Tâm Chiếu Hoàn Quán):

    Facebook.com/cophamthiyentamchieuhoanquan

    – Đăng lên nhóm Facebook:

    Tâm Sự Cùng Cô Phạm Thị Yến (Tâm Chiếu Hoàn Quán):

    Facebook.com/groups/PhamThiYenTCHQ

    – Email: [email protected]

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sắm Đồ Cúng Ngày Rằm Tháng Giêng Ở Đâu?
  • Cúng Rằm Tháng 7 Vào 14 Hay 15 Âm Lịch Mới Là Đúng Không Gặp Xui Xẻo?
  • Cúng Rằm Tháng 7 Vào Giờ Nào Chuẩn Nhất, Ngày 14 Hay 15 Âm Lịch?
  • Cúng Rằm Tháng 7 Vào Ngày 14 Hay 15 Âm Lịch?
  • Cúng Rằm Tháng Giêng Vào Ngày 14 Hay 15
  • Tại Sao Thường Cúng Rằm Tháng Bảy Trước Ngày 15?

    --- Bài mới hơn ---

  • Cúng Rằm Ngày 14 Hay 15 Mới Chuẩn Theo Phong Tục Việt Nam
  • Nên Cúng Rằm Tháng Giêng Ngày 14 Hay 15? Đây Là Câu Trả Lời!
  • Nên Cúng Rằm Tháng Giêng Ngày 14 Hay 15 Để Cả Năm Sung Túc?
  • Cúng Rằm Tháng Giêng Vào Ngày 14 Hay 15
  • Cúng Rằm Tháng 7 Vào Ngày 14 Hay 15 Âm Lịch?
  • Nguyên nhân nào mà vào dịp rằm tháng bảy, chúng ta thường cúng trước ngày 15 và hóa vàng mã cũng trước ngày này?

    Đúng ngày 15 rằm, Phật tổ xá tội vong nhân trong vòng 01 ngày, mọi linh hồn kể cả tội lỗi, quỷ dữ dạ xoa đều được tự do, vì vậy nên nếu cúng các cụ đúng ngày này thì sợ bị những linh hồn này phá phách, cho dù ta đã cúng cháo cho họ, vậy nên các cụ có thể không nhận được gì con cháu cúng tế. Thế nên thường cúng trước là hợp lẽ – (Lê Hùng Sơn)

    Đó chính là tín ngưỡng dân gian hay còn gọi là Pháp thế gian đó bạn, cái này ko phải của Phật Giáo thường thì người miền Bắc tin rằng nếu cúng đúng ngày rằm sẽ rước thêm âm binh và cô hồn vào trong nhà mình. Trong miền Nam thì thường họ cúng đúng vào rằm luôn. Ở miền Bắc cúng thổ công, gia tiên, ông bà bao giờ cũng trước ngày 12 sau đó sau ngày 15 trở đi mới cúng cô hồn, chúng sinh. Có người còn cho rằng nếu cúng thổ công gia tiên trùng vào ngày chúng sinh thì sợ ông bà mình ….không được ăn vì các cô hồn vồ hết.

    Những điều trên là hoàn toàn mê tín nó chỉ giúp những ông già bà cả an tâm, và giúp 1 số người sợ hãi mà hướng thiện hơn, còn giới trí thức thì nên hiểu nền tảng của Phật Giáo là Nhân Quả chỉ có gieo Nhân lành thì mới có cơ hội hái Quả thiện thôi.

    – (quangbson)

    “Tích kể rằng: ngài Mục Kiền Liên là tôn giả rất giỏi của Đức Phật, người biết rất nhiều phép thần thông, khi nhìn thấy mẹ bị đói khổ ở Địa ngục liền dùng phép thần thông xuống địa ngục thăm mẹ. Ngài bưng bát cơm lên dâng mẹ, cơm chưa đưa vào miệng thì đã hóa thành lửa. Ngài Mục Kiền Liên rất đau đớn xin với Đức Phật cách cứu mẹ. Ngài đã phải nhờ đến các chư tăng tụng kinh niệm Phật cho mẹ của ngài, các nhà sư về tụng kinh niệm Phật với mong muốn trong quá trình này sẽ được Đức Phât độ trì gia hộ cho. Có nghĩa là làm cho bản chất xấu xa của bà ấy thay đổi, trở thành người tốt, khi nào trở thành người tốt mới được chúng tôi khi ông Mục Kiền Liên làm được như vậy, bà mẹ được tha khỏi ngục. Từ đấy trở đi, mọi người lấy rằm tháng bẩy là ngày lễ để con cháu thể hiện tấm lòng thành với tổ tiên,ngày đó gọi là ngày lễ Vu Lan.” Hanhthong”

    Không phải vong nào cũng bị nhốt trong ngục, mà chỉ có những vong có tội mà thôi. Thường thì mọi người hay cúng trước ngày rằm để cho tiện. Tuy nhiên nên cúng đúng vào ngày rằm là tốt nhất. – (daiminh)

    Truyền thuyết dân gian cho rằng từ mùng 2/7, Diêm Vương ra lệnh bắt đầu mở Quỷ Môn Quan và đến rằm tháng 7 thì “thả cửa” để cho ma quỷ túa ra tứ phương, đến sau 12 giờ đêm ngày 14/7 thì kết thúc và các ma quỷ phải quay lại địa ngục. Bởi vậy, vào đêm 14/7, người ta thường đốt nến, hóa vàng bạc hoặc giết gà vịt cúng quỷ đói để cầu được bình an và những điều tốt đẹp, không bị ma quỷ hại phá, đó chính là nguồn gốc của tên gọi Tết Quỷ. Nguồn cội của Tết Quỷ gắn liền với văn hoá Đạo giáo của Trung Quốc, bởi Phật giáo không có chủ trương sát sinh hoặc đốt vàng bạc hàng mã để cúng tế quỷ thần. (ST) – (VDNHMC)

    Dưới âm cũng như trên Trần, có thể cúng trước để người âm đi về đỡ tắc đường, tránh xe cộ đi lại đông đúc… – (Duongquy)

    Theo quan niệm dân gian thì vào ngày rằm tháng 7 sẽ có rất nhiều vong hồn được “thả” đi lang thang nên nếu ta hóa vàng mã vào ngày này thì sẽ bị cướp, giật mất người thân khó nhận.

    Cũng vì vậy trên quần áo, đồ đạc hàng mã thường sẽ ghi rõ tên người nhận, khi cúng cũng đọc rõ tên và xin phép các thần linh thổ địa cho phép vong vào nhận đồ, cúng trước và hóa trước để người thân dễ nhận được. – (Minh)

    Bạn Trần Cha Thân! Cúng rằm tức là ngày 15 âm lịch hằng tháng, phong tục ở quê mình thì thường cúng vào ngày mùng 1 và 15 âm lịch. Theo bên Phật thì 2 ngày này là ngày của Phật, (Phật thường đi cứu khổ cứu nạn chúng sanh vào 2 ngày này). Mẹ mình từng nói nếu cúng vào ngày 14 và hoá vàng mã ngày này thì người được cúng ko nhận được vì “cô hồn” cướp và giành giật hết. còn cúng ngày 1 &15 thì ngược lại, ngày đó là ngày của Phật nên các vong hồn được theo Phật và cô hồn ko giật được. Vì VẬY CÚNG RẰM LÀ PHẢI CÚNG VÀO NGÀY 15 BẠN NHÉ! Có lẽ bạn ko tin nhưng mình tin (ko phải mình mê tín đâu) tại mình thấy tận mắt nên mới tin đó. Chính lẽ đó nên có câu: “có thờ có thiêng có kiêng có lành” – (Đặng Diệu Hoài)

    vì rằm tháng 7 ko vào ngày nghỉ; ở TP thì mọi ngừơi phải đi làm, ở các vùng quê thì con cái đi học đi làm xa ko về được….dần dần thành thói quen. Theo tôi ngày giỗ, ngày riằm cứ làm lễ đúng ngày là tốt nhất. – (samar trần)

    Cũng giống như nhà nước thường kỹ niệm ngày 2/9 vào trước đó 1 hoặc 2 ngày. Không phải tất cả mọi nhà đều làm vào ngày 13 -14, vẫn rất nhiều nhà làm đúng ngày rằm. – (Quốc Ân)

    Theo như Mẹ chồng tôi thì ở dưới âm quy định ngày phát đồ cho người âm.

    Nếu như đốt vàng mã vào ngày 15 thì đến năm sau người nhà mới nhận được nên phải hóa vàng mã trước ngày 15 tháng 7 âm lịch. – (Trần Thị Lựu)

    Phải cúng trước vì ngày rằm không phải cuối tuần hoặc mọi người không thể tụ tập sum vầy đúng ngày rằm được vì công việc riêng, còn cúng đúng ngày rằm mới là đúng truyền thống từ trước đến giờ. Mình ở quê cũng toàn cúng rằm ngày này. – (Pham Dai)

    dan gian xua tung co cau trẻ 13 già 14, có lẽ chính vì thế mà rằm tháng 7 duoc cac gia đình cúng trước 15 – (Phạm Thị Kim Liên)

    chả có gì gọi là nguyên nhân cả, cũng như mua một thứ gì đó trước, ăn một thứ gì đó trước thôi – (cuongnv)

    Lễ gì cũng từ tâm mình cả, các cụ chọn rằm tháng 7 hay rằm tháng nào cũng thế cả thôi chỉ với một mục đích giúp con người ta hướng thiện, tu thân tích đức để cho xã hội tốt đẹp hơn. Mà với xã hội hiện tại thì điều đó càng cần nhiều hơn, tôi mong rằm tháng nào mọi người cũng coi là “xá tội”…để chúng ta cùng làm nhiều điều tốt cho nhau. – (Thuhương)

    Tôi chẳng biết các bạn nghĩ thế nào, chứ các bạn lên phường xin dấu người ta quy định làm việc thứ 2,4,6 thì cứ đúng ngày đó mà đến. Chứ lên vào 3,5,7 thì có mặt từ 6h sáng cũng chẳng ai tiếp.

    Đã quy định là cúng mùng 1 và 15 thì cứ đúng ngày đó mà làm. – (dương huy)

    Theo Tôi cúng vào đúng ngày rằm mới là đúng. Vì các cụ có câu “Cúng cả năm không bằng rằm tháng 7” tức là 15/7. Tục đốn vàng mã trước là do mọi người bận công việc nên làm lễ trước thôi. Ở quê tôi từ xa xưa mọi nhà vẫn cúng, đốt vàng mã cho Ông, Bà vào đúng ngày 15/7. – (Lê Hiếu)

    Tất cả chỉ để giải quyết khâu tâm lý thôi! – (phuongtt85)

    Đó là cách cúng của người miến Bắc, người miền Nam thì từ ngày 15 trở đi mới cúng. Tôi không biết lý do của miền bắc tại sao lại cúng rằm tháng 7 lại như vậy, nhưng người miền nam, thì cúng rằm thì phải là ngày 15 chứ. Sau ngày 15 thì người ta cúng cô hồn. Cúng cô hồn thì được cúng mặn, còn cúng Phật thì phải là cúng chay. Phong tục của miền bắc thờ cúng tại nhà đa số không thờ Phật, chỉ thờ Gia tiên nên thường những ngày Lễ lớn đa số là cúng mặn. Mỗi nơi 1 phong tục, miễn sao có lòng thành là được. – (ledaitrangdai)

    Tôi cúng vào ngày chủ nhật trong tháng 7, ngày đó mọi cô hồn âm binh đều rãnh, dễ tham dự đông đúc! – (Thu Trang)

    theo như mình được ông mình nói là ngày 14 là các chư phật, bồ tát, chư tăng hoá độ cho chúng sinh và cũng là ngày cho các chư tăng ni & chúng sinh tập chung tại chùa để sám hối những gì mình làm trong nữa tháng cũng như bên thiên chúa giáo hay đi lễ vào mỗi tuần vậy đó,cho nên các chùa hay cúng rằm sám hối vào ngày 14. còn ngày 15 là ngày để tưởng nhớ đến tổ tiên, ông bà, cha mẹ và cúng đất đai cúng cho các vị thần phù hộ cho gia đình được bình an và trấn những cái điều không tốt vào nhà mình. Còn ngày 16 là ngày cúng cho các âm hồn lang thang ngoài đường hay trước nhà mình để họ có ăn và không vào nhà mình phá. Nó là vậy đó.. – (Lê Kiên)

    có ai khẳng định là ngày đúng ngày sai tóm lại là tâm linh ở mình cúng trước sau ăn – (lethanhha2003)

    Tháng 7 âm lịch các ngạ quỹ sẽ được phóng thích từ mồng 2 đến 14/07 âm lịch đến ngày 15/07 âm lịch các ngã qũy sẽ bị bắt trở lại vì vậy người dân thường cúng trước rằm để bố thí cho các cô hồn đó. – (funny0604)

    Quê tôi – ở trong Nam – cúng tháng 7 sau ngày rằm mà? Trước ngày Rằm là để cho các chùa cúng, sau ngày rằm mới đến lượt người dân cúng. Đó là lời giải thích của các bậc trưởng thượng trong xóm tôi – (Trần Khánh Dung)

    Mình thường hối Má cúng ngày 14 để được ăn sớm, hehehe – (Bi)

    Không phải ngày chính rằm thì chỉ là thói biện hộ của thày cúng và dân công sở sành điệu. Thời gian giữa dương gian và âm phủ khác nhau. Những nghi lễ Phật giáo đã được mặc định trong những ngày, giờ, thời gian mà chúng ta đã biết. Ngày Rằm là ngày Rằm, mùng Một là mùng Một, không phải thế thì không phải ngày Phật đâu các bạn ạ. – (Phiêu.)

    Dân Thái đen Thái trắng chúng tôi coi rằm tháng 7 là tết “xíp xí” vào đúng 14/7. 15 đã là hết tết. Tết này to không kém tết nguyên đán, ăn uống vui chơi linh đình, mừng mùa màng tốt tươi chứ không có khái niệm xá tội vong nhân gì cả. – (yenbaitv)

    Chuyện cúng bái là lòng thành tâm,thành kính đối với các đấng tối cao,đối với tổ tiên . Vì vậy chỉ cần sống có hiếu thì ngày nào cũng là ngày vu lan cả. Chỉ cần có lòng thành tâm cúng bái thì ngày rằm hay 14 có khác gì nhau. Tôi không hiểu nhiều về đạo phật nên suy nghĩ vậy. – (nguyen.theanh)

    theo quam niệm dân gian thì có thờ có thiêng, ở quê tôi là cúng vào ngày 15. chúng ta tin vào ngưỡng nào thì cứ theo đó mà cúng. dân gian nói rằng tháng 7 âm lịch là tháng cô hồn. – (daohoaviet)

    và đúng hơn và hoàn thiện hơn nữa là các ý kiến trên đều hoàn toàn chính xác,thật ra thì mọi quan điểm lý giải của các bạn nói trên hoàn toàn “hoàn hảo”,vì mỗi người xưa mỗi làng mỗi địa phương có văn hoá tín ngưỡng khác nhau,có nhà cúng đúng rằm người cúng trước 1 ngày tức ngày 14,người cúng sau tức ngày 16,tuỳ thổ nhưỡng văn hoá vùng miền thôi,còn cúng trước hay cúng sau theo tôi là bình thường – (lưu anh văn)

    mình nghĩ cúng đúng rằm là tốt . cũng trước cũng ko sao . quan trọng là tâm mình thôi . phật tại tâm mình có tâm thiện thì mình cúng ngày nào cũng đc . đúng ngày sẽ tốt hơn để mình nhớ những ngày lễ quan trọng trong năm . để nhớ tới cội nguồn cũng la cách cho tâm mình thanh thản bình an . – (thoconanconon)

    cúng rằm thì phải đúng rằm cúng.không thì cổ nhân đã gọi là cúng tháng 7. – (thanh)

    Phú quý sinh lễ nghĩa, vấn đề này bạn nghĩ thế nào thì nó là thế đó… chả có vấn đề gì truớc hay đúng hay sau ngày 15 cả. Tất cả là do mình mà ra. – (ngonchym)

    Trong miền Nam từ xưa đến nay cúng rằm thường là ngày 14, 15 còn cúng cô hồn là ngày 16. Nói chung mỗi miền mỗi khác không có quy định chung nào cả – (vinhtoduc)

    về khách quan: thông thường người ta hay cúng trước ngày này vì: cúng vào các ngày thứ 7 hay chủ nhật con cháu trong gia đình đông đủ quây quần nhất nên tiện hơn

    thứ 2: cũng theo lệ ngưòi ta hay cúng ngày sống trước ngày đã mất, ngày rằm chỉ thắp hương đơn giản, ăn uống thôi, còn đốt vàng mã… thì hay cúng trước đó..

    không chỉ ngày rằm tháng 7 mà các dịp cũng lễ trong nhà cũng hay cũng trước là vậy – (Khoahoc)

    Cúng ngày rằm (15) hay mồng 1 là truyền thống của dân tộc để tưởng nhớ đến các bậc sinh thành đã về với tổ tiên. Như vậy tùy thuộc vào Tâm của mình thôi. Bởi chắc chẳng có ai đi dưới đấy về mà trả lời là đúng hay sai khi cúng đúng/trước ngày 1, 15. Theo tập quán mà thực hiện là tốt rồi. – (ngxuanvinh)

    Không có tục lệ nào cúng trước hay sao bạn à. Rằm tháng 7 nói riêng là mùa vu lang báo hiếu, ngày 15/7 đến chùa thắp hương cầu nguyện an lành cho cha mẹ còn sống, ai bất hạnh không còn cha mẹ thì cầu siêu tưởng nhớ cha mẹ nơi chín suối và kèm theo tục cài hoa hồng, vàng, trắng tượng trưng. Tháng 7 âm lịch nói chung là tháng các âm hồn được đặc xá cho về hưởng thực cúng thí. Nhà tù dương trần hay địa ngục cũng đều có tính nhân văn trong đó cả. – (diepchauminhtr)

    Mình cũng chẳng biết, chỉ biết ở quê mình ăn rằm 14 to hơn 15. – (Mr.Duc)

    Theo phong tục quê mình cho rằng đến ngày 13 là tàu/thuyền chở vàng mã rời bến mang đồ mã xuống cõi âm, nên nếu cúng vào đúng ngày 15 thì tàu chở mã đi mất rồi, do đó muốn đồ cho tổ tiên thì phải cúng, nhất là cần phải đốt mã trước ngày 15 (khoảng từ 10 đến 13). – (Dothien Hoang)

    Cúng trước ngày rằm vài ngày 15/7 là quỷ được thả cửa ( xá tội vong nhân) vì vậy nếu ta đốt tền vàng quần áo vào ngày hôm đó thì người nhà mình dưới âm không nhận được mà quỷ sẽ tranh cướp mất – (dung)

    đây là lễ của người Hoa, báo hiếu, cúng dường, cha mẹ, tổ tiên.. – (nguyễn)

    14 hay 15 cúng ngày nào trong tháng 7 đều được, – (diemvuong)

    Không chỉ ngày rằm tháng 7 người ta mới cúng trước đó ít nhất 1 ngày mà cả các ngày rằm khác cũng vậy. Ví dụ cúng mồng 1 thì tối 30 hay cúng rằm thì tối 14.

    – (huycuongkt)

    Vì ngày 15 các cao hồn đều về chùa nghe tung kinh giảm tôi lỗi – (truongna)

    Nhớ đến tổ tiên và người thân đã đi xa ở dưới cõi âm nên cúng lễ dịp này, nhà tôi cúng trước ngày 15 vì muốn tổ tiên và người thân dưới ấy được hường trước và chọn vẹn tình cảm của gia đình mình, còn đến ngày 15 thì các Đình và Chùa cũng có cúng lễ cho tất cả cùng được hưởng. . – (Trần Thủy)

    Theo tôi nghĩ thì tất cả những điều luật về tâm linh đều do con người đặt ra. Mỗi dân tộc, mỗi vùng miền đều có những điều luật khác nhau. Tất cả đều hướng thiện và mong cho cuộc đời này có nhiều điều tốt lành. Các cụ có câu: “Tâm xuất Phật biết”. Việc cúng ngày rằm tháng bảy đúng ngày hay trước vài ngày đều có ý nghĩa như nhau. Ở trần gian hay âm phủ thời nào chẳng có người ngay kẻ gian. Căn bản là sự thành tâm của người thắp nén nhang, dâng lễ vật mà thôi. – (Huỳnh Bá Chung)

    Vào ngày rằm tháng 7, các vong đi lên nhiều quá nên làm trước phát cháo, ngô, khoai sắn cho các vong vào các ngày trước để tránh tắc đường, chen lấn, xô đẩy. Tiếp nữa là vào đúng ngày đấy cửa âm sẽ đóng vào đúng 12h trưa nên đi sớm về sớm khỏi bị ở ngoài. – (thulan)

    Ngày rằm (15) trong gia đình thường có người ăn chay, người không. Do vậy, để cúng rằm mà mọi người cùng …hưởng nên họ quyết định cúng trước ngày rằm, đơn giản là thế thôi??? – (Tôi yêu VN)

    Cúng rằm 14,15 đều được, nhưng ngày 15 phải cúng trc 12h trưa vì sau 12h cửa âm sẽ đóng lại vong ko nhận đc đồ nữa. Mà buổi trưa ngày 15 khó chuẩn bị nên nhiều ng sẽ cúng tối hôm 14 cho tiện. – (hgtt)

    Tôi chỉ có một điều. Rằm tức là ngày 15 âm lịch vậy rằm tháng bảy thì cứ đúng 15 tháng bảy mà cúng còn cùng trước sao không bảo tết 12 hay 13 tháng bảy đi cho rồi sao gọi là cúng rằm – (khaikv)

    tại sao phải cúng rằm tháng 7 trứơc ngày 16 thì mới đúng chứ – (hùynhhưng)

    Theo như mẹ mình nói thì “Tháng bảy âm ti địa phủ sẽ mở cửa Quỷ Môn Quan, các vô hồn có thể ra ngoài dạo chơi như một đặt xá và kiếm thức ăn” nên người ta thường cúng cho những cô hồn lang thang vào tháng bảy.

    Ở gần khu mình sống thì đa số người Quảng Đông thường cúng vào ngày 14 âm lịch, người Tiều thì 15 âm lịch, người Việt 16 âm lịch – (Jack)

    vì mọi người muốn kéo dài ngày cúng cho vui…như lể tết vậy. – (trantram)

    Người ta thường cúng trước ở nhà vì đến ngày 15 tháng 7 các linh hồn đều về hết các đình chùa, không ai ở lại để ăn đồ cúng của các gia đình nữa. – (thongvra)

    theo minh thi ram thang bay tuc la ngay xoa tui vong nhan, len moi nguoi deu co the cung to tien chứ ko phai ngay ma cac ma quái den, da la tuc lệ va văn hóa viet nam thi chung ta hay lam theo va hay ton trong van hoa, ko len me tin hay vẽ them ra. – (nguyen van dang)

    cúng rằm là 15,chẳng qua người ta hay suy diễn thôi.phong tục từ xưa,vùng miền ước lệ,người dương gian hay tính toán kiểu tắc đường về quê trước 1 ngày… – (nguyên đức tuân)

    Các bạn ơi.

    Điều này chẳng phụ thuộc vào điều nào cả. Ở nhà cúng rằm trước ngày 15, tại vì ngày 15 phải để dành cho việc lên Chùa nghe kinh Phật, hưởng được nhiều ơn đức hơn thôi các bạn ạ.

    – (Lê Đình Tuấn)

    Cung phai dung ngay 15 – (Duong truong)

    Mình thấy mỗi người một ý nhưng quan niệm từ gia đình là. Ngày 14 cúng mặn và ngày 15 cúng chay, – (Lê Ly)

    Ông cha ngày xưa cúng truyền thừa lại ta cứ cúng thôi. – (dreamtrinh)

    Đó chính là tín ngưỡng dân gian hay còn gọi là Pháp thế gian đó bạn, cái này ko phải của Phật Giáo thường thì người miền Bắc tin rằng nếu cúng đúng ngày rằm sẽ rước thêm âm binh và cô hồn vào trong nhà mình. Trong miền Nam thì thường họ cúng đúng vào rằm luôn. Ở miền Bắc cúng thổ công, gia tiên, ông bà bao giờ cũng trước ngày 12 sau đó sau ngày 15 trở đi mới cúng cô hồn, chúng sinh. Có người còn cho rằng nếu cúng thổ công gia tiên trùng vào ngày chúng sinh thì sợ ông bà mình ….không được ăn vì các cô hồn vồ hết. – (Bean Toan)

    Cúng vàng mã hay hoá vàng mã không có trong Phật Giáo đó là truyền thong dân gian! Nhưng cúng âm linh Co Hồn thì có trong Phật Giáo! – (T Liễu Nguyên)

    Lễ Vu Lan báo hiếu, hãy cúng bằng cả tấm lòng thì không sợ cha mẹ ông bà mình không nhận được. – (Hiểu Bình)

    Ngày rằm tháng bảy. Còn gọi là ngày xoá tội vong nhân. Vậy mình nên làm cơm cúng vào đúng ngày rằm và nên cúng vào sáng sớm vì theo mình được biết thì bắt đầu 00h ngày rằm tất cả đc về với gd – (Khuat khang)

    Ngày rằm tháng 7 có nguồn gốc được ghi rỏ trong Kinh Vu Lan và Kinh Báo Ân Cha Mẹ: Nhân vào một buổi sang đi khác thực, Đức Phật thấy một đông xương khô Ngài đảnh lễ. Tôn giả A nan thấy vậy nên hỏi về việc này nên được Đức Phat dạy rỏ về công ơn của Cha Mẹ ở kiếp này và nhiều kiếp trước gọi là Pháp Giới Đa Sanh Phụ Mẫu. Nhân sự kiện này Ngài Đại Hiếu Mục Kiên Liên nhớ đến người mẹ vừa quá vãng nên dung than thong quán sát thấy mẹ của mình bị đoạ vào chon địa ngục mà tự sức Ngài không cứu được nên về hỏi Đức Phật thì đức Phật dạy vào rằm tháng 7 cúng dường 10 phương Tăng và bố thí và phóng sanh và đem công đức đó hồi hướng cho cha mẹ hiện đời và nhiều đời thì cha mẹ sẽ nhờ đó mà vãng sanh về tịnh độ. Cúng cô hồn cũng là hình thức báo hiếu trong ý nghĩa Pháp Giới Đa Sanh Phụ Mẫu. – (T Liễu Nguyên)

    tại vì cúng trước thì mua đồ sẽ rẻ và dễ hơn sau mùng 15/7 – (lucife)

    vì rằm tháng 7 la ngày xoá tội vong nhân nên có nhiều ma trên trần gian , nếu cúng và đốt vàng mã vào ngày 15 thì bị ma lang thang cướp hết , ma nhà mình không nhận được . – (caotrunghieu)

    Thường rằm tháng 7 là ngày xá tội vong nhân. Các linh hồn được đi chơi, nên người ta phải cúng lễ trướng ngày (Trong niên từ 01 đến 14). Chúng ta cúng và hoá tiền, vàng, áo, mũ trước ngày rằm để đúng ngày 15 các linh hồn có quần áo mới, tiền tiêu. Đó chính là lý do mà ta cúng rằm tháng 7 trước ngày 15 âm lịch. – (Nhat)

    Có thờ có thiêng, có kiêng có lành! – (Xuan loc)

    .Nếu con cháu mà không cúng các cụ trước thì ngày rằm các cụ sẽ chưa nhận được lại phải chờ đến năm sau mới nhận đc.Bởi ngày 14,7 là chuyến đò chở mã xuất bến ,nên phải cúng trước ngày rằm – (huy nguyễn)

    các bạn muốn biết rõ hãy tìm đọc kinh vu lan báo hiếu phụ mẫu thì rõ thôi – (tăng)

    có người âm hả các bác? – (Danang)

    khong ai chung minh dieu nay dau a ,dieu chinh xac la muon an che som thoi – (tam)

    Mọi người nói cứ như thể mọi người đã xuống dưới đó rồi vậy. Cốt là ở cái tâm mình thôi. – (Silver)

    Ca dao có câu “Hôm nay 14, mai rằm. Ai muốn ăn oản lên nằm với sư”! Hic! Chả biết thế nào? Chắc lên từ đêm 14 rạng ngày 15. – (Nguyễn Văn Nội)

    tất cả đều do quan niệm của con người mà ra cả.thế giới tâm linh thật sự có tồn tại,vẫn chưa có bằng chứng khoa học nào chứng minh cả.vậy nên con người ta quan niệm thế nào thì thế giới tâm linh là như vậy. mọi sự giải thích chỉ là cho hợp lý vs cách suy nghĩ của người dương gian.vì ko biết chính xác nên ta phải làm theo quan điểm của số đông và sợ ko dám làm ngược lại vì sẽ thấy ko an tâm,mà nếu chẳng may bản thân hay gia đình có chuyện gì thì lại nghĩ là do ko làm giống mọi người. – (heroiszero)

    Sai het sai het ngay xa toi vong nhan khong phai ai cung duoc ve . Cung nhu tren tran gian vay ngay an xa. – (cautrung)

    tại vì trước 15/7 giá vàng mã rẻ hơn – (dinhnhiqni)

    Cũng như nghỉ 2/9 hoặc 1/5, có ai về đúng ngày đó đâu, thường về quê trước 1 đến 2 ngày. – (Trần Canh)

    Theo ý tôi cúng trước ngày 15 là dịp các vị buôn bán tăng giá vàng mã,làm như thế mới có lời nhiều.Nguyên nhân do các vị đó? – (cachang)

    Theo phật giáo thì mở cửa từ ngày 2-14 còn theo đạo giáo thì hình như đúng ngày 15 mới mở. – (Mình Không)

    ơ thế sao rằm tháng 7 mổ gà mổ lợn để cúng không phải là xát sinh hả? .. gieo nhân nào ăn quản đấy – (dainghia_vt9x)

    các bạn phải phân biệt ngày rằm tháng 7 trong dân gian và trong Phật giáo có ý nghĩa khác nhau. Ngày rằm tháng 7 trong Phật giáo gọi là ngày Lễ Vu Lan có bắt nguồn từ sự tích của tôn giả Mục Kiền Liên. Còn trong dân gian ngày rằm tháng bảy được gọi là ngày xá tội vong nhân là ngày cúng cô hồn, đây cũng là ngày cúng quan trọng nhất trong năm “Cúng quanh năm cũng không bằng rằm tháng bảy” – (Vịt Con Xấu Xí)

    Theo luật nhân quả, thì nếu bạn có tâm niệm thiện, nuoi dưỡng lòng từ bi, tạo nhiều nghiệp lành, biết sám hối tội lỗi thì nghiệp xấu sẽ giảm, chứ Phật không ban phước hay gián họa cho ai…”sống thuận theo chân lý, thì chân lý sẽ soi sáng trong bạn” – (Võ minh phước)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khám Phá Mâm Cỗ Cúng Rằm Tháng Giêng
  • Cúng Rằm Tháng 7 Và Những Điều Đặc Biệt Lưu Ý
  • Cúng Rằm Vào Ngày Nào Trong Tháng 7 Âm Lịch?
  • Thời Điểm Cúng Rằm Tháng 7 Lúc Nào Là Chuẩn Nhất?
  • ‘cúng Rằm Tháng 7, Chỉ Có 3 Loại Quả Không Thể Thờ’
  • Tin tức online tv