Phật Tử Tại Gia Có Nên Bắt Ấn Khi Trì Chú Đại Bi Hay Không?

--- Bài mới hơn ---

  • 12 Thủ Ấn Của Phật Thích Ca
  • Bắt Ấn Là Gì? Để Làm Gì? Ý Nghĩa
  • Nghèo Thì Làm Sao Để Bố Thí Và Cúng Dường?
  • : Cúng Dường Là Gì? Bố Thí Là Gì?
  • Cách Khấn Nguyện Khi Vun Trồng Thiện Căn
  • Người tu Tịnh độ niệm Phật là có duyên với hạnh lợi tha, nghĩa là người có tâm cầu tiến tu hành thì được Phật A Di Đà trợ lực tiếp dẫn khiến cho bất thối chuyển; trong giới tu Mật tông cũng nương trợ lực của Kim Quang Phật mà tiến tu làm cho thân mật, khẩu mật và ý mật đồng nhất, rồi hóa sanh vào thế giới Đại Nhựt Như Lai.

    Niệm hóa sanh chuyển kiếp từ khổ đau đến an lạc là hạnh của người tu Mật, tuy nhiên Phật tử Việt Nam trong cũng như ngoài nước ngày nay có lúc tu thiền, tu tịnh tuy không nói tu mật những cũng gia hạnh niệm chú lực Đại bi để đón nhận đại lực Quán Thế Âm gia hộ thân được tai qua nạn khỏi tật bệnh tiêu trừ, tâm không bị ác thần xâm hại, lâm chung vĩnh ly ác đạo A Tỳ địa ngục.

    Danh hiệu thần chú

    “Thần chú Đại bi” là Phật ngữ viết tắt, nguyên ngữ là thần chú Mãn Nguyện Đại Bi Tâm Đà Ra Ni, hay đọc là Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Đại Bi Tâm Đà La Ni hay Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Đại Thần Chú hoặc Phật ngữ Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni, hay từ ngữ Phật học Đại Bi Tâm Đà La Ni, thần chú nói về công đức nội lực gia trì của Bồ tát Quán Thế Âm đối với tất cả chúng sanh trong đó có con người chúng ta, nhất là Phật tử phát tâm hành trì tinh tiến.

    Hình ảnh Thiên thủ Thiên nhãn

    Nói đến thần chú Đại bi người Phật tử nghĩ đến hình ảnh thiên thủ thiên nhãn, mỗi đôi tay đều kiết ấn thủ hộ và đôi mắt. Nay xin nói về xuất xứ hình ảnh thiên thủ thiên nhãn.

    Trong kinh Viên Mãn Đại Bi Tâm Đà Ra Ni, đức Phật bảo Tổng Trì Vương Bồ tát: “Thiện nam tử! Các ông nên biết trong pháp hội này, có vị Bồ Tát Ma Ha Tát, tên là Quán Thế Âm Tự Tại, từ vô lượng kiếp đến nay đã thành tựu tâm đại từ bi, lại khéo tu tập vô lượng Đà la ni môn. Vị Bồ tát ấy vì muốn làm cho chúng sanh được lợi ích an vui, nên mới mật phóng sức thần thông như thế’.

    Đức Như Lai vừa nói lời ấy xong, Quán Thế Âm Bồ tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa y phục nghiêm chỉnh, chắp tay hướng về Phật mà thưa rằng: “Bạch đức Thế Tôn, tôi có chú Đại bi tâm đà ra ni, nay xin nói ra, vì muốn cho chúng sanh được an vui, được trừ tất cả bịnh, được sống lâu, được giàu có, được diệt tất cả nghiệp ác tội nặng, được xa lìa chướng nạn, được thành tựu tất cả thiện căn, được tiêu tan tất cả sự sợ hãi, được mau đầy đủ tất cả những chỗ mong cầu. Cúi xin Thế Tôn từ bi doãn hứa”.

    Đức Phật bảo: “Thiện nam tử! Ông có tâm đại từ bi, muốn nói thần chú để làm lợi ích an vui cho tất cả chúng sanh. Hôm nay chính là lúc hợp thời, vậy ông nên mau nói ra, Như Lai tùy hỉ chư Phật cũng thế”.

    Quán Thế Âm Bồ tát lại bạch Phật: “Bạch đức Thế tôn! Tôi nhớ vô lượng ức kiếp về trước, có Phật ra đời, hiệu là Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Như Lai, đức Phật ấy vì thương nghĩ đến tôi và tất cả chúng sanh nên nói ra môn Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà Ra Ni, ngài lại dùng tay sắc vàng xoa nơi đầu tôi mà bảo: “Thiện nam tử! Ông nên thọ trì tâm chú này và vì khắp tất cả chúng sanh trong cõi nước ở đời vị lai mà làm cho họ được sự an vui lớn”.

    Lúc đó tôi mới ở ngôi Sơ địa, vừa nghe xong thần chú này liền chứng vượt lên đệ Bát địa. Bấy giờ tôi rất vui mừng, liền phát thệ rằng:

    Nếu trong đời vị lai, tôi có thể làm lợi ích an vui cho tất cả chúng sanh với thần chú này, thì xin khiến cho thân tôi liền sanh ra ngàn tay ngàn mắt.

    Khi tôi phát thệ rồi, thì ngàn tay ngàn mắt đều hiện đủ nơi thân. Lúc ấy, cõi đất 10 phương rung động 6 cách, ngàn đức Phật trong 10 phương đều phóng ánh quang minh soi đến thân tôi, và chiếu sáng 10 phương vô biên thế giới. Từ đó về sau, tôi ở trong vô lượng pháp hội của vô lượng chư Phật, lại được nghe và thọ trì môn đà ra ni này. Mỗi lần nghe xong, tôi khôn xiết vui mừng, liền được vượt qua sự sanh tử vi tế trong vô số ức kiếp. Và từ ấy đến nay, tôi vẫn hằng trì tụng chú này, chưa từng quên bỏ. Do sức trì tụng ấy, tùy theo chỗ sanh, tôi không còn chịu thân bào thai, được hóa sanh nơi hoa sen, thường gặp Phật nghe pháp. Nếu có vị Tỳ khưu, Tỳ khưu ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di hay đồng nam, đồng nữ nào muốn tụng trì chú này, trước tiên phải phát tâm từ bi đối với chúng sanh, và sau đây y theo tôi mà phát nguyện:

    Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau biết tất cả pháp. Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm được mắt trí huệ.

    Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau độ các chúng sanh, Nam mô đại bi Quán Thế Âm,

    nguyện con sớm được phương tiện khéo. Nam mô đại bi Quán Thế Âm,

    nguyện con mau lên thuyền bát nhã. Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm được qua biển khổ, Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau được đạo giới định. Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm lên non Niết bàn. Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau về nhà vô vi.

    Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm đồng thân pháp tánh. Nếu con hướng về nơi non đao,

    non đao tức thời liền sụp đổ. Nếu con hướng về lửa, nước sôi, nước sôi, lửa cháy tự khô tắt. Nếu con hướng về cõi địa ngục, địa ngục liền mau tự tiêu diệt, Nếu con hướng về loài ngạ quỷ.

    Ngạ quỷ liền được tự no đủ, Nếu con hướng về chúng Tu la, Tu la tâm ác tự điều phục, Nếu con hướng về các súc sanh, súc sanh tự được trí huệ lớn.

    Khi phát lời nguyện ấy xong, chí tâm xưng danh hiệu của tôi, lại chuyên niệm danh hiệu bổn sư tôi là đức A Di Đà Như Lai, kế đó tiếp tụng đà ra ni thần chú này. Nếu chúng sanh nào, trong một ngày đêm tụng năm biến chú, sẽ diệt trừ được tội nặng trong ngàn muôn ức kiếp sanh tử.

    Lực dụng trì chú Đại bi

    Theo kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni, do ngài Già Phạm Đạt Ma dịch (thời Đường), toàn bài chú này có 84 câu, mỗi câu là hiện thân hình ảnh 84 vị Phật, Bồ tát, Thinh văn, Thánh chúng, thiên đại tướng quân thần… người trì tụng thần chú Đại bi sẽ được 15 điều lành, không bị 15 thứ hoạnh tử bức hại.

    – Được 15 điều lành: 1. Sinh ra thường được gặp vua hiền, 2. Thường sinh vào nước an ổn, 3. Thường gặp vận may, 4. Thường gặp được bạn tốt, 5. Sáu căn đầy đủ, 6. Tâm đạo thuần thục, 7. Không phạm giới cấm, 8. Bà con hòa thuận thương yêu, 9. Của cải thức ăn thường được sung túc, 10. Thường được người khác cung kính, giúp đỡ, 11. Có của báu không bị cướp đoạt,

    12. Cầu gì điều được toại ý, 13. Long, Thiên, thiện thần thường theo hộ vệ, 14. Được gặp Phật nghe pháp, 15. Nghe Chánh pháp ngộ được nghĩa thâm sâu.

    – Không bị 15 thứ hoạnh tử: 1.Chết vì đói khát khốn khổ, 2. Chết vì bị gông cùm, giam cầm đánh đập,

    3. Chết vì oan gia báo thù, 4. Chết vì chiến trận, 5. Chết vì bị ác thú hổ, lang sói làm hại, 6.Chết vì rắn độc, bò cạp, 7. Chết trôi, chết cháy, 8. Chết vì bị thuốc độc,

    9. Chết vì trùng độc làm hại, 10. Chết vì điên loạn mất trí, 11. Chết vì té từ cây cao hoặc rớt xuống vực thẳm,

    12. Chết vì người ác trù ếm, 13. Chết vì tà thần, ác quỷ làm hại, 14. Chết vì bệnh nặng bức bách, 15. Chết vì tự tử.

    Ngoài ra, theo kinh Thiên Nhãn Thiên Tí Quán Thế Âm Bồ tát Đà La Ni Thần Chú (quyển thượng), trì tụng chú này 108 biến, tất cả phiền não tội chướng đều được tiêu trừ, thân khẩu ý thanh tịnh.

    Phật tử tại gia, khi tụng chú Đại bi tuỳ theo duyên hạnh mà kiết ấn bất cứ thần chú nào cũng được, vẫn có giá trị và kết quả, miễn sao quý vị giữ vững chánh niệm, “thân Mật, khẩu Mật, ý Mật” dung thông tương tác. Tuy nhiên trong lúc trì tụng phải phát nguyện, nhập thất 7 ngày, 21 ngày, 49 ngày hay 100 ngày, ở trong thất mới có phương tiện đủ lực cho các vị học pháp kiết các loại ấn.

    Cách tu hành hôm nay, việc nhập thất, trừ các nhà sư Mật tông, riêng đối với Phật tử rất ít và không còn tu theo quy cách nhập thất nữa. Phật tử gia duyên bận buộc làm sao rảnh tâm rảnh tay mà kiết ấn tụng thần chú cho có lực và hiệu quả hiển linh. Có chăng là làm theo các đại sư hướng dẫn, tu theo hình thức tay cầm báu vật tích trượng, quyển kinh, cung kiếm… kiết ấn sơ sơ vậy thôi, mới đầu thì hiệu quả tinh tấn, lâu ngày bỏ cuộc hết linh thiêng. Thôi thì hiệp chưởng tụng thần chú là quý báu, có khi còn hiệu quả hơn đôi tay cầm báu vật kiết ấn.

    HT Thích Giác Quang

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cùng Nhìn Lại Chương Trình Sớt Bát Cúng Dường Chư Tăng Báo Đền Ân Tổ Quốc Của Các Phật Tử Clb Cúc Vàng
  • Quý Phật Tử Sớt Bát Cúng Dường Trường Hạ Ngọc Phương
  • Phật Tửsớt Bát Cúng Dường Trường Hạ Ngọc Phương
  • Sư Phụ Thích Trúc Thái Minh Ban Lời Chúc Nguyện Trong Buổi Sớt Bát Cúng Dường Chư Tăng Báo Tứ Trọng Ân
  • Chương Trình Sớt Bát Cúng Dường Báo Tứ Trọng Ân
  • Cách Thờ Tượng Phật Trong Nhà Đem Lại Bình An Gia Đạo

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Lưu Ý Khi Đặt Bàn Thờ Phật Tại Gia
  • Kích Thước Bàn Thờ Phật Tại Gia Chuẩn Nhất
  • Kích Thước Bàn Thờ Phật Treo Tường Chuẩn Theo Thước Lỗ Ban
  • Tư Vấn Lập Bàn Thờ Phật Tại Gia Chuẩn Phong Thủy Thờ Phật
  • Tổng Hợp Kích Thước Bàn Thờ Đẹp Chuẩn Phong Thủy
  • Thờ tượng Phật trong nhà rất phổ biến ở Việt Nam và các nước theo đạo Phật. Tuy nhiên nhiều người bày tượng Phật không hiểu rõ dễ dẫn đến việc thờ sai, làm phạm trượng đến các vị, thậm chí còn rước phải nhiều sự phiền hà, bất an cho gia đình.

    Tượng Phật rất linh thiêng nên các gia đình muốn thờ Phật phải lưu ý đến những điều kiêng kị để tránh phạm trượng gây hại cho gia đình. Việc thờ phụng phải thành kính trang nghiêm, hàng ngày nhìn thấy tượng phải coi đó là tấm gương sáng để noi theo về công đức độ hạnh của các Ngài mà trở nên con người mới tốt hơn. Trong gia đình nếu không thờ Phật thì thôi còn nếu đã thờ phải thành tâm và thờ cho đúng pháp mới có thể đem lại lợi ích thiết thực cho cuộc sống. Để đạt được điều đó cần lưu ý ở một vài điểm sau:

    Phòng thờ tượng Phật tại gia

    Tượng Phật không phải là việc ngẫu hứng thích là mua được là nó phải xuất phát từ sự thành tâm của gia chủ muốn mang tượng Phật về nhà để thờ. Thờ Phật với tâm hướng luôn luôn mong mỏi lĩnh hội được ngọn đèn trí tuệ của các Ngài để biết điều đúng sai, một lòng hướng thiện giúp ích cho đời chú không phải để cầu ban phước trừ họa, che dấu để làm điều bất lương. Tốt nhất nếu có dịp nên đến các chùa để được các Thầy hướng dẫn các chọn tượng cho phù hợp với mục đích thờ của gia chủ. Có thể mua tượng Phật bằng đồng, bằng gốm sứ, hoặc bằng gỗ … đều được. Trường hợp nhà chật có thể thờ bằng tranh ảnh Phật linh nghiệm cũng như nhau.

    Tượng Phật Thích Ca được nhiều người thờ ở nhà

    Đối với những nhà rộng, có diện tích thì nên dành riêng một gian để thờ Phật riêng. Những ngôi nhà có thiết kế hiện đại còn xây riêng một tần thượng để thờ Phật. Trường hợp không có gian riêng cũng vẫn có thể thờ tượng Phật ở gian chính ở trên các kệ cao được thiết kế một cách trang trọng. Bàn thợ Phật phải luôn được giữ sạch sẽ, lau chùi thường xuyên.

    Mặt tượng Phật nên quay về hướng Đông vì đây là hướng mặt trời mọc mà các Đức Phật quay ra để thiền định giác ngộ. Hướng bàn thờ nên đặt theo hướng Tây Bắc vì đây là hướng tượng trưng cho trời: Tây thiên cực lạc. Tuyệt đối nên tránh đặt bàn thờ ở hướng Đông Bắc nhìn về Tây Nam và ngược lại vì đây là hai hướng ngũ qủy có rất nhiều xung khí.

    Tượng Phật Bà Quan Âm cũng được nhiều người thờ tại nhà

    + Đặt tượng Phật hướng ra cửa chính.

    + Nếu thờ tam thế Phật phải đặt chung một bàn đồng bậc đồng cấp.

    + Tốt nhất nên thờ tượng Phật ở gian riêng, trên lầu cao nhất của ngôi nhà hay ở những vị trí tôn kính mà không quá ồn ào hay nhiều người qua lại.

    + Tượng trên bàn thờ nên đặt trên miếng giấy lót đỏ.

    + Bàn thờ và tượng nên lau chùi thường xuyên, khăn chậu phải đảm bảo còn mới. Có thể dùng nước sạch, rượu, nước hoa, nước bưởi để lau chùi.

    + Hàng ngày nên thắp hương sáng tối và phải đảm bảo hương còn mới, đồ cúng phải đảm bảo tươi ngon. Nên để đèn bàn thờ luôn luôn bật sáng để thu hút năng lượng dương.

    + Tượng bị cũ, mờ nên tô vẽ lại. Nếu tượng Phật bị hư hỏng quá mức thì dùng giấy vàng gói lại để ngày 1, 3, 5, 7, 9 đốt dưới nắng tiễn tượng Phật quy vị. Không nên bạ đâu bỏ đó mà mang tội.

    Tượng Phật A Di Đà sử dụng thờ tai gia

    + Khi thờ tam thế Phật trên cùng một bàn thờ phải để đồng bậc đồng cấp, không được cái trên cái dưới, tượng lớn tượng nhỏ.

    + Không được dùng gỗ hay vật liệu đã sử dụng qua làm bàn thờ Phật vì như vậy là bất kính.

    + Trên bàn thờ không được để các dị vật khác.

    + Tượng Phật rất linh thiêng nên không được cất trong các hộp, tủ hay két sắt vì như vậy giống như bạn đang cố nhốt Phật vậy. Hành động này vừa không giúp phù hộ cho gia đình mà còn làm cho các thành viên dễ bị bệnh đau ốm thường xuyên.

    + Tuyệt đối không được để tượng Phật lung tung trong nhà, kị nhất là những nơi không sạch sẽ ẩm thấp.

    + Dù cho nên đặt bàn thờ ở những hướng tốt nhưng không vì thể mà đặt bàn thờ ở những vị trí ồn ào, nhiều người qua lại sẽ làm mất đi sự thanh tịnh nơi thờ cúng.

    + Không đặt tượng Phật ở những nơi riêng tư như phòng ăn, phòng ngủ hoặc hướng mặt về những nơi thiếu trang nghiêm như phòng tắm, bếp hay nhà vệ sinh…

    + Không đặt bàn thờ tượng Phật ở những vị trí nhạy cảm như dưới xà nhà hay gầm cầu thang vì hằng ngày nhiều người đi qua đi lại phía trên.

    + Không nên đặt giường ngủ phía sau bàn thờ Phật vì ngủ sẽ không an giấc và còn hay gặp mộng mị

    + Tranh ảnh Phật không nên cuộn tròn hay để lung tung mà phải cất gọn để xử ly sau này.

    Bộ tượng tam thế phật thờ trong nhà

    + Trước hết, tượng Phật bằng đồng có tính bền vững thiên niên vạn đại, để đời đời sau này. Giá trị pho tượng Phật bằng đồng càng tăng lên theo thời gian năm tháng. Nếu làm bằng gỗ dễ xảy ra hiện tượng co ngót, cong vênh, nứt lẻ, mối mọt,…. Còn nếu bằng gốm sứ dễ bị va đập, sứt mẻ.

    + Bức tượng Phật bằng đồng sẽ được làm đẹp hơn, có thần thái và có hồn hơn. Do khi đúc tượng đồng phải trải qua nhiều công đoạn và quy trình. Quan trọng nhất là công đoạn tạo mẫu tượng bằng đất sét, có thể chỉnh sửa theo ý mong muốn đẹp nhất.

    + Trong phong thuỷ, tượng phật bằng đồng mang hành kim. Thông thường bàn thờ được làm bằng gỗ, tượng Phật được làm bằng đồng sẽ có tính hài hoà hơn khi kết hợp cùng với một số vật phẩm khác để tạo thành: Kim Mộc Thuỷ Hoả Thổ.

    + Khi đúc tượng bằng đồng có thể thả thêm vàng vào trong để góp phần làm pho tượng thêm phần linhh thiêng hơn.

    + Ngoài ra, trên pho tượng Phật bằng đồng còn có thể dát vàng lá 9999 toàn bộ trên bề mặt rất đẹp và linh thiêng.

    Bộ tượng tam thế phật thờ tại nhà

    Khi thờ cúng Phật tại gia nên thu dọn bát hương sạch sẽ và gọn gàng để tránh gây cháy rất nguy hiểm. Có thể thấy các bát hương cúng Phật trong chùa, hàng ngày vào lúc sáng sớm đều được các nhà sư, người làm công quả thu dọn sạch sẽ như lúc ban đầu.

    Trong một nhà nếu có người tin Phật, có người lại muốn thờ Thần thì có thể thờ các vị này chung với nhau không? Thần và Phật có thể thờ chung để bổ trợ cho nhau phù hộ cho gia đình. Tuy nhiên, nên thờ Phật ở chính giữa, khi cúng thì cúng Phật ở 2 bên và cúng Thần ở bên ngoài, đạo Phật gọi là Thần bảo vệ Tam bảo. Nếu đạt được thoả thuận của cả nhà, sau khi đổi ý có thể mang tượng Phật vào chùa gửi hoặc nếu là Thần thì mang tượng Thần vào chùa làm lễ khấn rồi cất tượng đi.

    Sau khi thỉnh tượng Phật về thờ, các vật bày cúng trên bàn thờ Phật nên là hoa, quả, nước trà. Vật phẩm cúng Phật nên thay đổi hàng ngày để tránh hư hỏng. Nếu thức ăn còn ăn được thì mang xuống ăn, nếu hư hỏng thì vứt đi như vứt rác không có kiêng kị.

    Như trên đã nói, không nên đặt tượng Phật trong phòng ngủ, nơi riêng tư để tránh mạo phạm Phật. Vậy nếu nhà chỉ có một phòng hoặc ở phòng trọ nhưng gia chủ lại muốn thờ tượng Phật để tụng niệm thì nên làm thế nào? Nếu nhà ở chỉ có một phòng hoặc ở phòng trọ vẫn có thể thờ tượng Phật, tuy nhiên nên dùng vải khăn sạch che phủ tượng Phật. Sau khi sắp xếp giường chiếu chỉnh tề, sạch sẽ rồi thì mở khăn ra để tụng niệm.

    Tượng Phật Thích Ca cao 1m4 đươc đúc bằng đồng đỏ.

    Một số mẫu tượng Phật thờ trong nhà phổ biến nhất hiện nay, được nhiều người lựa chọn như: Tượng Phật Thích Ca, Tượng Phật A Di Đà, Tượng Phật Bà Quan Âm, Tượng Tam Thế Phật,…..

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Bài Trí Tượng Phật
  • Chiêm Ngưỡng 10++ Mẫu Bàn Thờ Phật Tại Gia Đẹp Nhất Hiện Nay
  • Cách Lập Bàn Thờ Phật Và Ông Bà Trong Nhà
  • Bàn Thờ Thần Linh Và Gia Tiên, Cách Sắp Xếp Di Ảnh, Bát Hương
  • Cách Sắp Xếp Bàn Thờ Gia Tiên Và Bàn Thờ Phật
  • Bắt Ấn Là Gì? Để Làm Gì? Ý Nghĩa

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghèo Thì Làm Sao Để Bố Thí Và Cúng Dường?
  • : Cúng Dường Là Gì? Bố Thí Là Gì?
  • Cách Khấn Nguyện Khi Vun Trồng Thiện Căn
  • Cách Ghi Viết Phong Bì Viếng Đám Ma Tang Lễ Và 49 Ngày Xúc Động Nhất
  • Hướng Dẫn Cách Ghi Phong Bì Đi Viếng Đám Ma Tang Lễ Đúng Nhất 2022 2022
  • Bắt ấn hay còn gọi là kết ấn, nghĩa là tác động vào đầu ngón tay, hoặc các gốc của ngón tay để kích hoạt những huyệt ở vùng đỉnh đầu hoặc vùng xương cùng, hai khu vực thu xả và giao hòa giữa nội khí của cơ thể với thiên khí hoặc địa khí của vũ trụ bên ngoài.

    Mỗi ngón tay đều có đầy đủ đặc tính của cơ thể con người. Đầu ngón tay thì ứng với phần đỉnh đầu. Phần dưới của các ngón, nơi mà tiếp giáp giữa ngón tay và bàn tay thì ứng với phần hạ bàn. Ba đốt ngón tay tính từ đầu ngón trở xuống thì lần lướt ứng với 3 phần thượng tiêu, trung tiêu và hạ tiêu của cơ thể.

    Bắt ấn để làm gì?

    Về hiệu ứng khí hóa, thì bắt ấn là một phương pháp để chữa bệnh, hay nói đúng hơn là tâm bệnh. “Trăm bệnh sinh ra đều do nơi khí”, đặc biệt trong thời đại ngày nay, cuộc sống ngày càng căng thẳng, con người càng dễ sinh bệnh. Chính những cảm xúc âm tính dai dẳng đã dẫn đến khí uất, khí nghịch – là đầu mối của nhiều thứ bệnh. Cho nên bắt ấn đúng cách giúp điều hòa âm dương, cân bằng khí hóa, tái tạo năng lượng, giúp cơ thể phục hồi.

    Ý nghĩa của bắt ấn trong Phật giáo

    Chúng ta thường thấy hình ảnh các vị Phật, bồ Tát trong trạng thái bắt ấn, thủ ấn. Vậy điều này mang lại ý nghĩa gì?

    Bắt ấn trong Phật giáo thể hiện cho nguyện lực nhân duyên và hoàn cảnh giác ngộ. Thậm chí đó còn là hình ảnh khi hành đạo và thuyết pháp của các ngài.

    Tư thế tay thể hiện hạnh nguyện, nguyện lực của các vị Phật, . Tư thế đó có được do tu thân, tu khẩu, tu ý mà ra. Tư thế đó thể hiện cho hạnh nguyện và phương pháp độ sinh của chư Phật.

    Cách bắt ấn khi ngồi thiền

    Có nhiều cách bắt ấn khi ngồi thiền, quý vị có thể tham khảo một số cách sau đây:

    Gian Mudra

    Phương pháp bắt ấn này nên được thực hiện vào lúc sáng sớm, đây là thời điểm tâm trí của quý vị được minh mẫn và sáng suốt nhất. Để thực hiện phương pháp kết ấn này, quý vị hãy ngồi với tư thế thoải mái nhất, thả lỏng cánh tay, đặt cổ tay lên đầu gối. Sau đó chạm đầu ngón cái vào ngón trỏ và hít thở thật sâu.

    Cách bắt ấn này mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe như là tăng sức mạnh của sự tập trung, trí nhớ và giúp não bộ trở nên nhạy bén hơn. Những quý vị nào hay gặp tình trạng căng thẳng thần kinh, giận dữ, buồn bã, lo lắng thì phương pháp này là cách trị bệnh vô cùng đáng thử.

    Prayer Mudra

    Phương pháp bắt ấn này được thực hiện rất dễ dàng, như hình ảnh đức Phật trong mudra cầu nguyện. Quý vị hãy đưa hai lòng bàn tay chạm vào nhau và đặt giữa ngực. Khuỷu tay thì để thư giãn.

    Xét về lợi ích, cách bắt ấn này giúp tập trung và cân bằng cơ thể cũng như năng lượng của quý vị. Đặc biệt dành cho những người hay mất tập trung.

    Một hình thức biến thể của phương pháp kết ấn này là quý vị uốn cong các ngón tay một chút để cho không khí đi qua các kẽ tay. Đây là một cử chỉ của sự cho đi, mở lòng, mở rộng trái tim bạn để cảm thấy trong mình tràn ngập từ bi, dễ dàng tha thứ những lỗi lầm của người khác, và mang lại sự nhẹ nhõm lớn nhất cho thân tâm của mỗi quý vị.

    Buddhi Mudra

    Buddhi Mudra là một cách bắt ấn theo tư thế tay Phật, nghĩa là vị trí tay được sử dụng để tạo ra và tăng cường khả năng giao tiếp. Trong khi ngồi thoải mái, quý vị hãy thư giãn cả hai cánh tay với cổ tay được đặt trên đầu gối. Ngón tay út và ngón cái hãy đặt chạm nhẹ vào nhau.

    Đây là một cách bắt ấn diễn ra sự rộng lòng và cởi mở của tâm hồn. Khi quý vị chịu khó thực hiện thường xuyên, trực giác phán đoán của quý vị sẽ ngày càng được nâng cao, quý vị có xu hướng nhìn đa chiều, sống cởi mở, vị tha hơn.

    Venus Hands

    Đây là một phương pháp bắt ấn thả lòng hoàn toàn. Quý vị ở tư thế kiết già hoặc bán kiết già. Hai tay thả lỏng trên đùi, ngửa lòng bàn tay hướng lên trên, lưng của bàn tay phải chạm vào lòng bàn tay trái và hoàn toàn thả lỏng. Cách kết ấn này được gọi là “sao Kim” vì nó tạo ra năng lượng liên kết với hành tinh Venus, tình yêu và tình dục.Đối với phụ nữ thì các ngón tay nên xen kẽ với ngón út của bàn tay phải ở dưới cùng. Đối với người đàn ông, ngón út tay trái ở dưới cùng.

    Ngồi thiền là một phương pháp thể dục cho tinh thần vô cùng hiệu quả, hỗ trợ rất tốt cho chúng ta trong việc điều hòa khí tức, giảm sự mệt mỏi căng thẳng và tăng sự tập trung, mang lại một cuộc sống chất lượng hơn.

    Tóm lại, để cảm nhận sâu sắc hơn về bắt ấn, quý vị hãy thường xuyên thực hiện phương pháp này thông qua thiền. Bằng cách thực hành thường xuyên, quý vị sẽ thấy được sự thay đổi sâu sắc trong thân và tâm của chính mình, thậm chí là kéo dài tuổi thọ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 12 Thủ Ấn Của Phật Thích Ca
  • Phật Tử Tại Gia Có Nên Bắt Ấn Khi Trì Chú Đại Bi Hay Không?
  • Cùng Nhìn Lại Chương Trình Sớt Bát Cúng Dường Chư Tăng Báo Đền Ân Tổ Quốc Của Các Phật Tử Clb Cúc Vàng
  • Quý Phật Tử Sớt Bát Cúng Dường Trường Hạ Ngọc Phương
  • Phật Tửsớt Bát Cúng Dường Trường Hạ Ngọc Phương
  • Đạo Cao Đài, Phật Giáo Hòa Hảo, Đạo Mẫu, Đạo Dừa Có Phải Là Đạo Phật Không? Đạo Nào Là Tốt Nhất?

    --- Bài mới hơn ---

  • D. Sự Cúng Lạy Của Người Cư
  • Bài Văn Khấn Cúng Lễ Cải Cát Hay (Sang Tiểu, Sang Cát, Bốc Mộ, Sửa Mộ, Dời Mộ)
  • Ý Nghĩa Bài Vị Cửu Huyền Thất Tổ
  • Nghi Thức Cúng Ngọ Và Những Điều Cần Biết
  • Tìm Hiểu Về Nghi Thức Cúng Ngọ
  • VẤN: Con chỉ là một Phật tử vừa mới biết đến cửa đạo và thú thật con cũng không biết những điều mình đang thực hành hay tin tưởng là đúng không? Nhìn trên mạng và xung quanh thấy có quá nhiều pháp môn, nhiều tôn giáo cũng bảo là Phật giáo, có nguồn gốc từ Phật giáo nhưng con thấy đủ thứ khác biệt làm con càng thắc mắc hơn. Con muốn hỏi đạo Cao Đài, Đạo Phật giáo Hòa Hảo, các đền thờ Mẫu, Đạo Dừa có phải cũng là đạo Phật không? Nếu không thì sự khác nhau là ở đâu? Cách thờ cúng ở những đạo này có giống hay khác với đạo Phật? ĐÁP:

    Vị trí Việt Nam chúng ta thuộc bán đảo Hoa Ấn, nơi tập trung nhiều mối đạo, nhiều môn phái, có hằng trăm tổ chức tín ngưỡng, màu sắc tôn giáo, có đạo tập hợp thành nhiều tổ chức như Đạo Phật Việt Nam, trước ngày hòa bình có đến 45 giáo hội, giáo phái lớn nhỏ, đạo Cao Đài có trên 20 Giáo hội v.v…

    Sư sẽ dẫn giải một số nguồn gốc tôn giáo đặc biệt nội sanh tại Việt Nam theo lời của các bạn hỏi

    Đạo Cao Đài: là đạo nội sanh được khai sanh chính thức vào năm 1926, Cao Đài nhanh chóng phát triển về quy mô và số lượng tín đồ. Theo thống kê năm 2009 của các tổ chức Cao Đài, đạo Cao Đài có trên 1 vạn chức sắc, gần 3 vạn chức việc, khoảng 5 triệu tín đồ, với 958 tổ chức Họ đạo cơ sở được công nhận ở 35/38 tỉnh, thành phố có đạo Cao Đài, thành lập 65 Ban Đại diện, 1.290 cơ sở thờ tự (hàng năm có khoảng 4 ngàn tín đồ mới nhập môn vào đạo Cao Đài). Ngoài ra, có khoảng 30.000 tín đồ nữa sống ở Hoa Kỳ, Châu Âu và Úc.

    Trong những năm 1921 đến 1924, Cụ Ngô Minh Chiêu đã thông qua cơ bút để hình thành nền tảng đầu tiên của đạo Cao Đài theo đường lối dung hợp Tam giáo Nho, Lão, Phật.

    Về giáo điển: Một số kinh cúng như ba bài dâng tam bửu (hoa, rượu trắng, trà).

    Với những nền tảng đạo đầu tiên, ông bắt đầu khai đạo cho nhóm bạn hữu Vương Quang Kỳ (tùng sự Soái phủ Nam Kỳ, ngạch Tri phủ), Nguyễn Văn Hoài (ngạch thông phán), Võ Văn Sang (ngạch thông phán), Đoàn Văn Bản (đốc học Đa Kao). Sau đó các ông này cũng có độ thêm một số đệ tử nữa cùng tu luyện với Ngô Văn Chiêu, nhưng những hoạt động giai đoạn nầy còn trong phạm vi một nhóm tu đơn tịnh luyện, chứ chưa phát triển thành một Tôn giáo.

    Phật giáo Hòa Hảo: hay còn gọi là đạo Hòa Hảo, là một tông phái Phật giáo do Huỳnh Phú Sổ khai lập năm 1939, lấy pháp môn Tịnh Độ tông làm căn bản và chủ trương tu hành tại gia. Theo thống kê năm 2009 có khoảng 1.433.252 tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo khiến tôn giáo này trở thành tôn giáo có số tín đồ đông thứ 4 tại Việt Nam. Tín đồ Phật giáo Hòa Hảo tập trung chủ yếu ở miền Tây Nam Bộ. Đặc biệt là An Giang với 936.974 tín đồ Phật Giáo Hòa Hỏa là tỉnh có số tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo đông nhất cả nước chiếm 44% dân số toàn tỉnh và chiếm 65% tín đồ Phật giáo Hòa Hảo trong cả nước, tiếp đến là Cần Thơ (227.117 tín đồ) và Đồng Tháp (196.143 tín đồ). Hiện nay, trong thư viện của hơn 30 quốc gia trên thế giới vẫn còn giữ những tài liệu sách báo về đạo này.

    Đạo thờ Mẫu: Trong tín ngưỡng của người Việt và của một số dân tộc thiểu số khác ở trên lãnh thổ Việt Nam, việc tôn thờ nữ thần, thờ mẫu thần, thờ mẫu tam phủ tứ phủ là hiện tượng khá phổ biến và có nguồn gốc lịch sử và xã hội sâu xa. Tuy tât cả đều là sự tôn sùng thần linh nữ tính, nhưng giữa thờ nữ thần, mẫu thần, mẫu tam phủ tứ phủ không hoàn toàn đồng nhất

    Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam là một tín ngưỡng bản địa cùng với những ảnh hưởng ngoại lai từ đạo giáo, tín ngưỡng lấy việc tôn thờ Mẫu (Mẹ) làm thần tượng với các quyền năng sinh sôi, bảo trữ và che chở cho con người. Tín ngưỡng mà ở đó đã được giới tính hoá mang khuôn hình của người Mẹ, là nơi mà ở đó người phụ nữ Việt Nam đã gửi gắm những ước vọng giải thoát của mình khỏi những thành kiến, ràng buộc của xã hội Nho giáo phong kiến

    Trong truyện kể dân gian về bà chúa Liễu Hạnh lưu truyền trong dân gian khá phong phú, sau này một số được ghi chép lại trong các sách cổ như Việt điện u linh, ngoài ra còn có các truyện kể dân gian khác về các vị nữ thần được các sách sau này tập hợp và ghi chép lại.

    Ngoài các ghi chép-sáng tác như trên, cũng có một nguồn tư liệu khác được dân gian sáng tác từ các huyền thoại, truyền thuyết và thậm chí là các truyện, thơ về các Thánh Mẫu. Đó là các bài hát văn ở Mẫu Tam phủ Tứ phủ với phần cốt lõi của các bài hát văn là lai lịch, sự tích các vị thần, nhất là các Thánh Mẫu. Ngoài ra còn nhiều tình tiết khác về khung cảnh, dung nhan, tướng mạo của các vị thần được những người sáng tác vô danh diễn tả, tô vẻ thêm để bảo trì sự tín ngưỡng.

    Đạo Dừa: Ông Đạo Dừa, tên thật là Nguyễn Thành Nam (1909-1990), là người sáng lập Hòa đồng Tôn giáo hay còn được dân gian quen gọi là Đạo Dừa; là một tín ngưỡng tại miền Nam Việt Nam, ở Bến Tre, Việt Nam.

    Năm 1950, ông trở lại xã Phước Thạnh dựng đài bát quái cao 14 thước, đêm đêm lên ngồi hành đạo trên đài, choàng một manh áo, chịu đựng mưa nắng. Cuộc sống tu hành đơn sơ, đạm bạc, thức ăn chỉ là trái cây, chủ yếu là dừa (nên mới có biệt danh là Ông Đạo Dừa). Mỗi năm ông chỉ tắm một lần vào ngày Phật Đản.

    Năm 1958, ông gửi thư phản đối Tổng thống Ngô Đình Diệm về một chính sách nào đó, nên bị bắt giam, sau được thả ra…

    Ông tự xưng là Thiên nhơn giáo chủ Thích Hòa Bình, tuyên bố theo cả ba tôn giáo là Nho, Phật, Lão. Đạo của ông không cần tụng kinh, gõ mõ mà chỉ cần ngồi tham thiền và ăn chay, tưởng niệm… và khuyến khích người đời sống tôn trọng lễ nghĩa và yêu thương nhau, cư xử hòa mục với nhau. Về thực phẩm, Đạo Dừa khuyên nên ăn dừa và uống nước dừa.

    Kinh nghiệm sanh và sống tại Việt Nam các bạn không nên thắc mắc nhiều, khi nghiên cứu đến tôn giáo, tôn giáo là chỗ dựa tinh thần của con người, khi sống thì cầu an, tai qua nạn khỏi, tật bệnh tiêu trừ, thoát mọi chướng duyên khi gặp nạn. Đến lúc qua đời thì cũng cầu cho an, siêu sanh về nơi thế giới tịnh hóa, thánh thiện, cao siêu, giải thoát.

    Tuy nhiên, cứu cánh của mỗi đạo, không đạo nào giống đạo nào: Đạo Phật thì mọi người con Phật cầu về với Phật. Đạo Cao Đài thì nguyện sanh về Tiên cảnh, cảnh Trời cao tột. Đạo Phật giáo Hòa Hảo thì tu cách xử thế, cầu về Tây phương Cực lạc theo lời chỉ dạy của Thầy Huỳnh Phú Sổ. Đạo thờ Mẫu thì cầu an cư lạc nghiệp, về với cõi khoái lạc của Mẫu mẹ. Đạo Dừa thì thờ Phật và Chúa Jésus, cứu cánh của đạo nầy là cầu cho siêu phóng tâm hồn, bá gia bá tánh an cư lạc nghiệp.

    Cứu cánh của các đạo thì không cao không thấp, nhưng người lập đạo tùy theo căn cơ cao thấp của chúng sanh mà lập đạo. Đứng về gốc độ chúng sanh thì có cao thấp, nhưng đứng về gốc độ các bậc sáng lập đạo thì vô biên.

    Sự tận thiện của hoa lan, không phải là của hoa hường gai, sự tận thiện của hoa hướng không phải là của osaka, sự tận thiện của osaka không phải là của mimosa…mỗi loài hoa vẽ đẹp tận thiện riêng của từng loài hoa cống hiến cho mọi người từng cái đẹp hiện hữu… đấy cũng chính là sự nhận định đối với các đạo giáo (Đạo đức kinh)

    HT Thích Giác Quang

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tại Sao Đạo Phật Giáo Hòa Hảo Ra Đời
  • Nét Đặc Sắc Của Phật Giáo Hòa Hảo
  • Bài Văn Cúng Đức Ông Ở Chùa Hương
  • Những Loại Hoa Cúng Bày Ban Thờ Dịp Tết Để Cả Năm An Khang, Thịnh Vượng
  • Thay Bàn Thờ Thần Tài Mới
  • Phật Giáo: Nghi Cúng Lễ Phật Thành Đạo

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghi Cúng Đại Lễ Đức Phật Thành Đạo Ngày Mồng 08.12.âl
  • Những Kiêng Kỵ Và Cách Thờ Cúng Tượng Phật A Di Đà
  • Tượng Phật A Di Đà
  • Sự Tích Đức Phật A Di Đà
  • 5. Nghi Cúng Vía Phật A Di Đà
  • * Tiết thứ làm nghi:

    – Cử nhạc khai đàn.

    – Chủ lễ đăng điện.

    – Chủ lễ niệm hương.

    CÚNG HƯƠNG(chủ lễ xướng):

    Nguyện đem lòng thành kính,

    Phưởng phất khắp mười phương,

    Cúng dường ngôi Tam Bảo.

    Cùng pháp giới chúng sanh,

    TÁN PHẬT( Tán dương công đức Phật):

    Đấng Pháp vương vô thượng,

    Thầy dạy khắp trời người,

    Cha lành chung bốn loại.

    Xưng dương cùng tán thán,

    Ức kiếp không cùng tận!

    Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng,

    Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn,

    Lưới Đế châu ví đạo tràng,

    Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời .

    Trước bảo tọa thân con ảnh hiện,

    Cúi đầu xin thệ nguyện qui y.

    Tánh không tám đức sạch trần gian,

    Pháp giới rộng thênh thang,

    Lửa đỏ hóa sen vàng.

    Nam mô Thanh Lương Địa Bồ Tát. (3 lần)

    Nam mô hắc ra đát na, đa ra dạ da. Nam mô a lị gia bà lô kiết đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tả. Nam mô tất kiết lật đỏa, y mông a lị gia bà lô kiết đế, thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà đà, ma phạt đặt đậu đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê lị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô kiết mông, độ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà la đà là, địa rị ni, thất Phật ra da, giá ra gía ra. Mạ mạ phạt ra ma, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắt ni na, ba dạ ma na ta bà ha, tất đà dạ ta bà ha. Ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ ta bà ha. Na ra cẩn trì ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khư gia, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ ta bà ha. Ba đà ma kiết tất đà dạ ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ ta bà ha. Ma bà rị thắng kiết ra dạ ta bà ha.

    Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da bà lô kiết đế thước bàn ra dạ, ta bà ha.

    Án tất điện đô mạn đà ra bạt đà dạ ta bà ha.

    Trên trời dưới đất không bằng Phật,

    Thế giới mười phương cùng không sánh.

    Thế gian có gì con đã thấy,

    TỤNG BÀI Ý NGHĨA NGÀY THÀNH ĐẠO:

    Chúng con cung kính nghe rằng:

    Khổ hạnh sáu năm quả mãn;

    Hân hoan muôn đức công thành!

    Muôn loài hưởng phước!

    Và chư Phật tử chúng con.

    Giờ này:

    Cung kính quỳ trước Phật đường,

    Chí thành dâng lên pháp cúng.

    Cúng dường đấng từ bi cứu thế,

    Tôn vinh ngôi trí tuệ siêu trần.

    Cỏ hoa hoan hỷ muôn phần,

    Người, vật thiết tha một dạ.

    Gọi hồn thế giới ba ngàn.

    Soi sáng nước non tám vạn.

    Trước đài nhất tâm qui mạng,

    Trên tọa bách bảo chứng minh.

    Một Bồ Tát xuất thế,

    Con vua Tịnh Phạn vương,

    Người liền tuyên lời phán:

    Chúng sanh Thánh sẽ thành,

    Vì tất cả chúng sanh,

    Thành Chảng đẳng Chánh giác,

    Cùng thiên nhạc thiên hương,

    Xin Pháp Vương thuyết pháp.

    Nhưng người chưa vội đáp,

    Không thể được vội truyền,

    Pháp thiêng của chư Phật.

    Cùng với các phương tiện,

    Trong trí thường nghĩ suy,

    Người đến vườn Lộc Thú (Lộc Uyển),

    Sống cuộc đời triền miên,

    Là “Khổ, Tập, Diệt, Đạo”.

    Muốn dứt (diệt) các khổ nhơn,

    Hết các thứ nghiệp khiên,

    Hết tham sân “sử triền”, (1)

    Sống cuộc đời giải thoát,

    Với “ngã tịnh thường lạc”, (2)

    Vui hơn các trời cao!

    Kính bạch Đức Bổn Sư Từ phụ!

    Nhìn lại ánh sáng sao Mai,

    Nhớ thuở Bổn Sư thành đạo,

    Nghĩ tới lời vàng dạy bảo,

    Nhớ ngày trời đất hân hoan.

    Muôn thuở hào quang rạng rỡ,

    Tỏa hương ngào ngạt nhơn gian.

    Cầu cho đất nước bình an,

    Nguyện cho nhân dân hạnh phúc.

    Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (30 lần)

    Nam mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. (3 lần)

    Nam mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát. (3 lần)

    LỄ 12 LỄ LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT.

    ( Chủ lễ xướng đến: Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật thì nhịp khánh hướng dẫn Phật tử đồng hòa: Bổn Sư Thích Ca …)

    A tỳ ngục tốt, mới phát lòng lành,

    Một đời Bổ xứ, hiện ở Suất Đà,

    Từ trời Đâu Suất, ứng mộng Ma Gia,

    Dưới cây Vô Ưu, đản sanh thị hiện,

    Hiện hưởng dục lạc, chán cảnh vô thường,

    Nửa đêm vượt thành, xuất gia tìm đạo,

    Dưới cây Đạo thọ, hàng phục ma quân,

    Bốn mươi chín năm, độ sanh thuyết pháp

    Dưới cây Ta La, Niết Bàn thị hiện,

    Hiện tọa đạo tràng, Ta Bà giáo chủ,

    Đạo sư ba cõi, Từ phụ bốn loài. Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

    (1 lễ)

    Tham thiền nhập định giữa rừng xanh,

    MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH.

    Quán tự tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

    “Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc. Thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị”.

    Xá Lợi Tử! Thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; thanh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới; vô vô minh diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo, vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố, Bồ đề tát đỏa y Bát nhã ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết Bàn. Tam thế chư Phật, y Bát nhã Ba la đa cố, đắc A nậu đa la Tam miệu tam Bồ đề. Cố tri Bát nhã ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chơn thiệt bất hư, cố thuyết Bát nhã ba la mật đa chú. Tức thuyết chú viết:

    “Yết đế, yết đế, Ba la yết đế, Ba la Tăng yết đế, Bồ đề tát bà ha”.

    Hào quang chiếu diệu.

    Sáng tỏ mười phương,

    Ngộ lý chơn thường,

    Phá màn hôn ám.

    Đệ tử lòng thành bài sám,

    Trước điện dâng hoa,

    Cúng dường Phật Tổ Thích Ca,

    Ba ngôi thường trú.

    Đệ tử chúng con,

    Nhân lành chưa đủ,

    Nghiệp báo theo hoài.

    Nay nhờ Văn Phật Như Lai,

    Giáng trần cứu độ,

    Sáu năm khổ hạnh,

    Bảy thất tham thiền,

    Ma oán dẹp yên,

    Thần long che chở,

    Tâm quang rực rỡ.

    Chứng lục thần thông.

    Lộ chiếu minh tinh,

    Đạo thành Chánh giác,

    Trời, người hoan lạc,

    Dậy tiếng hoan hô.

    Năm mươi năm hóa độ,

    Ba trăm hội đàm Kinh,

    Cứu phàm ngu thoát khỏi mê đồ,

    Tiếp Hiền Thánh siêu sinh Tịnh độ

    Muôn đời xưng tán,

    Vạn đức hồng danh,

    Đệ tử chí thành,

    Lễ bày kỷ niệm.

    Tâm hương phụng hiến,

    Gọi chút báo ân,

    Ngửa trông Vô thượng Pháp vương

    Từ bi gia hộ.

    Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (3 lần)

    Nam mô Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. (3 lần)

    Nam mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát. (3 lần)

    Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. (3 lần)

    Nam mô Đạo Tràng Hội Thượng Bồ Tát. (3 lần)

    Vừa rồi bao nhiêu công đức,

    Thích Ca Bổn Sư Hòa thượng,

    Thành Đạo Thánh lễ tôn vinh,

    Thùy từ tác đại chứng minh,

    Cúng dường Thánh lễ đã viên hoàn,

    Công đức ban cho khắp thế gian,

    Phật tánh mọi loài đều sẵn có,

    Khắp xin tất cả hãy hồi quang.

    Nguyện tiêu ba chướng trừ phiền não,

    Nguyện chơn trí tuệ thường sáng tỏ,

    Nguyện bao tội chướng thảy tiêu trừ,

    Kiếp kiếp thường tu Bồ Tát hạnh.

    Nguyện sanh Tịnh độ cảnh Tây phương,

    Chín phẩm hoa sen là cha mẹ,

    Hoa nở thấy Phật chứng vô sanh,

    Bất thoái Bồ Tát là bạn hữu,

    Đều trọn thành Phật đạo.

    Tự qui Phật, xin nguyện chúng sanh, thể theo đạo cả, phát lòng vô thượng. (1 lễ)

    Tự qui y Pháp, xin nguyện chúng sanh thấu rõ kinh tạng, trí tuệ như biển. (1 lễ)

    Tự qui y Tăng, xin nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, hết thảy không ngại. (1 lễ)

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Đại Từ Đại Bi Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (1 lễ)

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Lộc Uyển Ngũ Vị Đại Tỳ Kheo A La Hán. (1 lễ)

    Cúi đầu lễ tất.

    (1) Sử triền: xuôi khiến, ràng buộc.

    (2) Bốn Đạo quả Niết Bàn.

    Nghi cúng lễ Phật Thành Đạo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghi Cúng Lễ Phật Thành Đạo
  • Phật Giáo Không Có Nghi Lễ Cúng Sao Giải Hạn
  • Dâng Hương Cúng Phật Trong Nghi Lễ Phật Giáo Bắc Truyền
  • Nghi Lễ Cúng Phật Thành Đạo
  • Các Nghi Thức Thỉnh Phật, Thờ Phật Và Cúng Phật
  • Nghi Cúng Lễ Phật Thành Đạo

    --- Bài mới hơn ---

  • Phật Giáo: Nghi Cúng Lễ Phật Thành Đạo
  • Nghi Cúng Đại Lễ Đức Phật Thành Đạo Ngày Mồng 08.12.âl
  • Những Kiêng Kỵ Và Cách Thờ Cúng Tượng Phật A Di Đà
  • Tượng Phật A Di Đà
  • Sự Tích Đức Phật A Di Đà
  • Để đón mừng Đại lễ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo, ngày mồng 8/12/Âl trang nhà xin giới thiệu Nghi cúng lễ Phật Thành Đạo.

    * Tiết thứ làm nghi:

    – CÚNG HƯƠNG (chủ lễ xướng):

    Nguyện đem lòng thành kính,

    Gởi theo đám mây hương,

    Phưởng phất khắp mười phương,

    Cúng dường ngôi Tam Bảo.

    Thề trọn đời giữ đạo,

    Theo tự tánh làm lành,

    Cùng pháp giới chúng sanh,

    Cầu Phật từ gia hộ:

    Tâm Bồ đề kiên cố,

    Chí tu học vững bền,

    Xa biển khổ mông mênh,

    Chóng quay về bờ giác.

    Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát. (3 lần)

    – TÁN PHẬT(Tán dương công đức Phật):

    Đấng Pháp vương vô thượng,

    Ba cõi chẳng ai bằng,

    Thầy dạy khắp trời người,

    Cha lành chung bốn loại.

    Qui y tròn một niệm,

    Dứt sạch nghiệp ba kỳ,

    Xưng dương cùng tán thán,

    Ức kiếp không cùng tận!

    Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng,

    Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn,

    Lưới Đế châu ví đạo tràng,

    Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời .

    Trước bảo tọa thân con ảnh hiện,

    Cúi đầu xin thệ nguyện qui y.

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tận Hư Không, Biến Pháp Giới, Quá Hiện Vị Lai Thập Phương Chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng Thường Trụ Tam Bảo. (1 lễ)

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật; Đương Lai Hạ Sanh Di lặc Tôn Phật; Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát; Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát; Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát; Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. (1 lễ)

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật; Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát; Đại Thế Chí Bồ Tát; Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát; Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. (1 lễ)

    Cành dương nước pháp,

    Rưới khắp ba gàn,

    Tánh không tám đức sạch trần gian,

    Pháp giới rộng thênh thang,

    Tội nghiệp tiêu tan,

    Lửa đỏ hóa sen vàng.

    Nam mô Thanh Lương Địa Bồ Tát. (3 lần)

    – TỤNG CHÚ ĐẠI BI:

    Nam mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát. (3 lần)

    Thiên thủ thiên nhãn, vô ngại đại bi tâm đà la ni.

    Nam mô hắc ra đát na, đa ra dạ da. Nam mô a lị gia bà lô kiết đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tả. Nam mô tất kiết lật đỏa, y mông a lị gia bà lô kiết đế, thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà đà, ma phạt đặt đậu đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê lị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô kiết mông, độ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà la đà là, địa rị ni, thất Phật ra da, giá ra gía ra. Mạ mạ phạt ra ma, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắt ni na, ba dạ ma na ta bà ha, tất đà dạ ta bà ha. Ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ ta bà ha. Na ra cẩn trì ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khư gia, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ ta bà ha. Ba đà ma kiết tất đà dạ ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ ta bà ha. Ma bà rị thắng kiết ra dạ ta bà ha.

    Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da bà lô kiết đế thước bàn ra dạ, ta bà ha.

    Án tất điện đô mạn đà ra bạt đà dạ ta bà ha.

    Trên trời dưới đất không bằng Phật,

    Thế giới mười phương cùng không sánh.

    Thế gian có gì con đã thấy,

    Tất cả không ai bằng Phật vậy!

    Nam mô Thập Phương Thường Trụ Tam Bảo. (3 lần)

    – TỤNG BÀI Ý NGHĨA NGÀY THÀNH ĐẠO:

    (Tất cả ngồi xuống – tụng chậm, đậu câu, thay vì bạch hay sớ).

    Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (3 lần)

    Chúng con cung kính nghe rằng:

    Núi Tuyết tu nhơn,

    Khổ hạnh sáu năm quả mãn;

    Sao Mai ứng dạng,

    Hân hoan muôn đức công thành!

    Một Phật giáng sanh,

    Muôn loài hưởng phước!

    Nay có Tăng chúng,

    Và chư Phật tử chúng con.

    Giờ này:

    Cung kính quỳ trước Phật đường,

    Chí thành dâng lên pháp cúng.

    Kinh diên tán tụng,

    Lễ nhạc ca dương,

    Năm nén tâm hương,

    Một diên thánh lễ.

    Cúng dường đấng từ bi cứu thế,

    Tôn vinh ngôi trí tuệ siêu trần.

    Giữa lúc:

    Cỏ hoa hoan hỷ muôn phần,

    Người, vật thiết tha một dạ.

    Vì nhớ ngày …

    Pháp âm quảng bá,

    Gọi hồn thế giới ba ngàn.

    Vì nghĩ thuở:

    Phật nhựt phổ quang,

    Soi sáng nước non tám vạn.

    Trước đài nhất tâm qui mạng,

    Trên tọa bách bảo chứng minh.

    Nhớ một thuở xa xưa,

    Tại thành Tỳ La Vệ,

    Một Bồ Tát xuất thế,

    Con vua Tịnh Phạn vương,

    Ôm ấp một tình thương,

    Cứu muôn loài đau khổ,

    Bỏ ngai vàng quốc độ,

    Vào núi Tuyết tu hành,

    Vì thệ nguyện độ sanh,

    Sống sáu năm khổ hạnh,

    Thế rồi trong đêm lạnh,

    Dưới gốc cây Bồ đề,

    Người hạ một lời thề,

    Quyết không rời bảo tọa,

    Nếu không thành đạo quả,

    Chẳng rời khỏi nơi đây,

    Các ma vương bủa vây,

    Tất cả đều hàng phục,

    Dứt sạch mọi tham dục,

    Thấy ánh sáng sao Mai,

    Lúc ấy độ canh hai,

    Tâm hồn đều trong sáng,

    Người liền tuyên lời phán:

    “Rằng rất là lạ thay,

    Không một ai biết hay,

    Muôn loài có Phật tánh,

    Ta nay đã thành Thánh,

    Chúng sanh Thánh sẽ thành,

    Vì tất cả chúng sanh,

    Đều có các đức tướng,

    Cùng trí tuệ vô thượng,

    Của các đấng Như Lai,

    Trong quá khứ vị lai,

    Muôn đời mới xuất hiện”.

    Tin vui truyền non biển,

    Nước Ấn Độ bao la,

    Rằng Thái tử Đạt Đa,

    Thuộc dòng vua họ Thích,

    Sau bao năm ẩn tích,

    Tìm đạo để cứu đời,

    Đã tuyên bố mấy lời,

    Thành Chảng đẳng Chánh giác,

    Trời người đều hoan lạc,

    Đến rải hoa cúng dường,

    Cùng thiên nhạc thiên hương,

    Xin Pháp Vương thuyết pháp.

    Nhưng người chưa vội đáp,

    Vì thấy đạo thâm huyền,

    Không thể được vội truyền,

    Pháp thiêng của chư Phật.

    Thế rồi Ngài nhập thất,

    Trong hăm mốt ngày liền,

    Quan sát các nhơn duyên,

    Cùng với các phương tiện,

    Nhớ lại lời thề nguyện,

    Người đứng dậy ra đi,

    Trong trí thường nghĩ suy,

    Về năm người bạn cũ,

    Người đến vườn Lộc Thú (Lộc Uyển),

    Giảng đạo lý nhơn duyên,

    Chỉ rõ gốc não phiền,

    Từ vô minh trước hết,

    Đến sanh già bệnh chết,

    Mười hai duyên nối liền,

    Sống cuộc đời triền miên,

    Với tử sanh đau khổ,

    Gốc vô minh phải nhổ,

    Mới hết mọi khổ đau,

    Tứ Đế đạo nhiệm mầu,

    Là “Khổ, Tập, Diệt, Đạo”.

    Từ đâu có “khổ” báo,

    Từ tích “tập” khổ nhơn,

    Muốn dứt (diệt) các khổ nhơn,

    Cần tu “Bát thánh đạo”.

    Đó là người dạy bảo,

    Năm Đại đức Tỳ kheo,

    Khuyên các vị tuân theo,

    Sẽ dứt hết sanh tử,

    Vào Niết Bàn tịch xứ,

    Hết các thứ nghiệp khiên,

    Hết tham sân “sử triền”, (1)

    Sống cuộc đời giải thoát,

    Với “ngã tịnh thường lạc”, (2)

    Hết lưu chuyển luân hồi,

    Biển khổ hết nổi trôi,

    Đường mê thôi lạc lối,

    Đã vào thành bất thoái,

    Vui hơn các trời cao!

    Kính bạch Đức Bổn Sư Từ phụ!

    Nhìn lại ánh sáng sao Mai,

    Nhớ thuở Bổn Sư thành đạo,

    Nghĩ tới lời vàng dạy bảo,

    Nhớ ngày trời đất hân hoan.

    Chúng con cúi mong rằng:

    Mong cho ánh đạo vàng,

    Muôn thuở hào quang rạng rỡ,

    Cầu cho Hoa Đàm lại nở,

    Tỏa hương ngào ngạt nhơn gian.

    Cầu cho đất nước bình an,

    Nguyện cho nhân dân hạnh phúc.

    Cúi đầu cung chúc,

    Ngửa mặt ca dương,

    Cha lành đoái thương,

    Chứng minh gia hộ.

    Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (30 lần)

    Nam mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. (3 lần)

    Nam mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát. (3 lần)

    Nam mô Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. (3 lần)

    – LỄ 12 LỄ LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT.

    (Chủ lễ xướng đến: Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật thì nhịp khánh hướng dẫn Phật tử đồng hòa: Bổn Sư Thích Ca …)

    1) Chí tâm đảnh lễ:

    A tỳ ngục tốt, mới phát lòng lành,

    Nhiều kiếp tu hành, nhơn viên quả mãn.

    Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (1 lễ)

    2) Chí tâm đảnh lễ:

    Một đời Bổ xứ, hiện ở Suất Đà,

    Hóa độ Ta Bà, giáng sanh trần thế.

    Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (1 lễ)

    3) Chí tâm đảnh lễ:

    Từ trời Đâu Suất, ứng mộng Ma Gia,

    Cỡi voi sáu ngà, vào trong lòng mẹ.

    Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (1 lễ)

    4) Chí tâm đảnh lễ:

    Dưới cây Vô Ưu, đản sanh thị hiện,

    Chín rồng phun nước, bảy bước xưng tôn.

    Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (1 lễ)

    5) Chí tâm đảnh lễ:

    Hiện hưởng dục lạc, chán cảnh vô thường,

    Dạo chơi bốn phương, thương đời đau khổ.

    Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (1 lễ)

    6) Chí tâm đảnh lễ:

    Nửa đêm vượt thành, xuất gia tìm đạo,

    Tóc xanh cắt bỏ, núi Tuyết tu hành.

    Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (1 lễ)

    7) Chí tâm đảnh lễ:

    Dưới cây Đạo thọ, hàng phục ma quân,

    Thấy ánh sao Mai, thành Bồ đề đạo.

    Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (1 lễ)

    8) Chí tâm đảnh lễ:

    Bốn mươi chín năm, độ sanh thuyết pháp

    Ba thừa giáo hóa, hạnh nguyện viên thành.

    Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (1 lễ)

    9) Chí tâm đảnh lễ:

    Dưới cây Ta La, Niết Bàn thị hiện,

    Để lại Xá lợi, phước khắp trần gian.

    Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (1 lễ)

    10) Chí tâm đảnh lễ:

    Hiện tọa đạo tràng, Ta Bà giáo chủ,

    Đạo sư ba cõi, Từ phụ bốn loài.

    Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (1 lễ)

    (Hiệu 10 này lễ 3 lần thì đủ 12 lễ lịch sử Đức Phật).

    Ngôi vàng từ giã,

    Núi Tuyết tu hành,

    Tham thiền nhập định giữa rừng xanh,

    Cầu Phật quả viên thành,

    Cứu độ quần sanh,

    Cao cả đấng cha lành.

    Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật. (3 lễ)

    – TỤNG BÁT NHÃ TÂM KINH:

    MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH.

    Quán tự tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

    “Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc. Thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị”.

    Xá Lợi Tử! Thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; thanh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới; vô vô minh diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo, vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố, Bồ đề tát đỏa y Bát nhã ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết Bàn. Tam thế chư Phật, y Bát nhã Ba la đa cố, đắc A nậu đa la Tam miệu tam Bồ đề. Cố tri Bát nhã ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chơn thiệt bất hư, cố thuyết Bát nhã ba la mật đa chú. Tức thuyết chú viết:

    “Yết đế, yết đế, Ba la yết đế, Ba la Tăng yết đế, Bồ đề tát bà ha”.

    SÁM TỤNG PHẬT THÀNH ĐẠO

    Hào quang chiếu diệu.

    Sáng tỏ mười phương,

    Ngộ lý chơn thường,

    Phá màn hôn ám.

    Đệ tử lòng thành bài sám,

    Trước điện dâng hoa,

    Cúng dường Phật Tổ Thích Ca,

    Ba ngôi thường trú.

    Đệ tử chúng con,

    Nhân lành chưa đủ,

    Nghiệp báo theo hoài.

    Nay nhờ Văn Phật Như Lai,

    Giáng trần cứu độ,

    Sáu năm khổ hạnh,

    Bảy thất tham thiền,

    Ma oán dẹp yên,

    Thần long che chở,

    Tâm quang rực rỡ.

    Chứng lục thần thông.

    Lộ chiếu minh tinh,

    Đạo thành Chánh giác,

    Trời, người hoan lạc,

    Dậy tiếng hoan hô.

    Năm mươi năm hóa độ,

    Ba trăm hội đàm Kinh,

    Cứu phàm ngu thoát khỏi mê đồ,

    Tiếp Hiền Thánh siêu sinh Tịnh độ

    Muôn đời xưng tán,

    Vạn đức hồng danh,

    Đệ tử chí thành,

    Lễ bày kỷ niệm.

    Tâm hương phụng hiến,

    Gọi chút báo ân,

    Ngửa trông Vô thượng Pháp vương

    Từ bi gia hộ.

    Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (3 lần)

    Nam mô Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. (3 lần)

    Nam mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát. (3 lần)

    Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. (3 lần)

    Nam mô Đạo Tràng Hội Thượng Bồ Tát. (3 lần)

    Vừa rồi bao nhiêu công đức,

    Bấy nhiêu hương hoa,

    Thành kính thiết tha,

    Nguyện xin cúng dưỡng,

    Thích Ca Bổn Sư Hòa thượng,

    Thành Đạo Thánh lễ tôn vinh,

    Thùy từ tác đại chứng minh,

    Chúng đẳng hòa nam bái tụng.

    Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (đại chúng đồng hòa)

    Cúng dường Thánh lễ đã viên hoàn,

    Công đức ban cho khắp thế gian,

    Phật tánh mọi loài đều sẵn có,

    Khắp xin tất cả hãy hồi quang.

    Nguyện tiêu ba chướng trừ phiền não,

    Nguyện chơn trí tuệ thường sáng tỏ,

    Nguyện bao tội chướng thảy tiêu trừ,

    Kiếp kiếp thường tu Bồ Tát hạnh.

    Nguyện sanh Tịnh độ cảnh Tây phương,

    Chín phẩm hoa sen là cha mẹ,

    Hoa nở thấy Phật chứng vô sanh,

    Bất thoái Bồ Tát là bạn hữu,

    Nguyện đem công đức này,

    Hướng về khắp tất cả,

    Đệ tử và chúng sanh

    Đều trọn thành Phật đạo.

    Tự qui Phật, xin nguyện chúng sanh, thể theo đạo cả, phát lòng vô thượng. (1 lễ)

    Tự qui y Pháp, xin nguyện chúng sanh thấu rõ kinh tạng, trí tuệ như biển. (1 lễ)

    Tự qui y Tăng, xin nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, hết thảy không ngại. (1 lễ)

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Đại Từ Đại Bi Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (1 lễ)

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Lộc Uyển Ngũ Vị Đại Tỳ Kheo A La Hán. (1 lễ)

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Linh Sơn, Trúc Lâm, Kỳ Viên, Lộc Uyển Hội Thượng Phật Bồ Tát. (1 lễ)

    – CHỦ LỄ XƯỚNG:

    Thù ân báo đức,

    Lễ đã viên thành,

    Chuông trống hòa thanh,

    Cúi đầu lễ tất.

    (1) Sử triền: xuôi khiến, ràng buộc.

    (2) Bốn Đạo quả Niết Bàn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phật Giáo Không Có Nghi Lễ Cúng Sao Giải Hạn
  • Dâng Hương Cúng Phật Trong Nghi Lễ Phật Giáo Bắc Truyền
  • Nghi Lễ Cúng Phật Thành Đạo
  • Các Nghi Thức Thỉnh Phật, Thờ Phật Và Cúng Phật
  • Cúng Thí Cô Hồn: Giá Trị Văn Hóa Và Giá Trị Thực
  • Thủ Ấn Của Đức Phật – Ý Nghĩa Sâu Xa Của Thủ Ấn – Pratique Du Bouddhisme – Hành Pháp Phật

    --- Bài mới hơn ---

  • 7 Thủ Ấn Nhà Phật – 7 Trạng Thái Của Tâm
  • Bố Thí Và Cúng Dường Như Pháp – Lời Phật Dạy Trong Kinh Tạng Nikàya
  • Công Đức Phóng Sanh Không Thể Nghĩ Bàn
  • Cúng Dường, Nhận Cúng Dường Đúng Pháp
  • Cúng Rằm Tháng 7 Thế Nào Cho Đúng Với Tư Tưởng Của Đạo Phật
  •  

    VÀI ẤN QUYẾT THÔNG THƯỜNG 

    TRONG HÌNH TƯỢNG PHẬT GIÁO

    Bài và ảnh Võ Quang Yến

     

    Đóa hoa lòng kính dâng đấng Từ Thân

    Mùa Phật Đản muôn vạn lần như một.

    Tôn Nữ Hỷ Khương

    T

    rong nhiều thế kỷ, nghệ thuật Phật giáo không trình bày đức Phật qua hình dáng con người mà biểu thị Ngài qua hình thức một chiếc lọng, một cái ngôi, một vết chân hay con ngựa của Ngài. Qua đầu Công nguyên, phong cách Hy-Ấn Gandhara và những trường phái điêu khắc Ấn Độ cùng lúc thực hiện những hình tượng Ngài cũng như những vị Bồ Tát qua nhiều bộ điệu khác nhau với những cử chỉ được xếp thành quy tắc. Những mudra mà người Tàu gọi là yin, người Nhật in-zô, ta dùng chữ ấn, thủ ấn, hay thành ngữ ấn quyết, tiêu biểu cho quyền lực và hiện hình thần thánh. Thật ra, những cử chỉ nầy đã có từ trước vừa trong tranh ảnh Ấn giáo, vừa trong kỹ thuật du già hay yoga, được xem như là một phương pháp giải thoát, nghĩa là chúng không thuộc về một tôn giáo nào. Người ta thường gặp chúng trong những tranh vẽ, những hình tượng điêu khắc cũng như trong những cuộc hành lễ tinh thần, thờ cúng, nghi lễ, định tâm. Được những giáo sĩ thời kỳ vệ đà sử dụng trong lúc tụng niệm những bài kinh thiêng, những cử chỉ nầy đã phát triển, biến dạng rất nhiều trong Phật giáo bí truyền Nhật Bản. Đối với nhiều người, các kiểu đứng, ngồi, bắt tay, xếp chân của các tuợng Phật, các vị BồTát, La Hán đều là ấn. Trong nghi lể Mật giáo Ấn Độ, những hình vẽ bằng đầu ngón tay, ta gọi là bắt ấn, có công năng thần diệu, giúp phần định tâm, còn gọi sự hỗ trợ của chư Phật, Bồ Tát. Trong nghệ thuật nhảy múa Ấn Độ, những cử chỉ nầy được khai thác thành “ngôn ngữ tượng trưng”, một ngôn ngữ những dấu hiệu thực hiện chẳng hạn trong kỹ thuật tường kể một sự tích, nay được truyền bá ra mọi nơi. Cũng dễ hiểu khi biết Ấn Độ là một nước có một cuộc tiến hóa tinh thần lâu ngày, một khả năng dồi dào sáng tạo, phối hợp, xuất cảng những giáo huấn đạo lý, những phương thức tín ngưỡng và những biểu thức các tín ngưỡng ấy. Những người thực hành yoga (gọi là yogin) thường hay dùng vị trí những ngón tay để kèm theo hay để động viên sự tập luyện định tâm của mình. Ngày nay những mudra gọi là định tâm trong các tranh vẽ hay hình tượng Phật giáo cũng như Ấn giáo chỉ rõ yoga đã có ảnh hưởng nhiều lên những biểu tượng nầy. Những bài tụng ca vệ đà luôn còn được kèm theo những động tác ngón tay vô cùng phức tạp nhưng rất chính xác. Ấn quyết có thể xem như là quyền lực ban cấp cho bàn tay để gắn chặt tác động nghi lễ.

    Phật Đường Khuông Việt

    Orsay (miền nam Paris)

    Giáo hóa

    ấn

    Chuyển pháp

    luân

    Thí nguyện

    ấn

    Vô úy

    ấn

    Địa xúc

    ấn

    Hiệp chưởng

    ấn

    Thiền ấn

      Hính trích Dictionnaire encyclopédique du Bouddhisme

    Khi đức Phật tập trung tư tưởng đi đến Giác ngộ, Ngài ngồi xếp bằng Padmasana, hai tay đặt trước bụng, ngón tay duỗi thẳng, những ngón tay trái đặt trên những ngón tay mặt, hai ngón cái chạm nhau, gan bàn tay ngửa lên trên, có khi bắt chéo thành góc 45 độ, là một mudra rất thông dụng ở Đông Nam Á, được gọi là Thiền ấn Dhyana-mudra (hay Samadhi-mudra), có thể bắt nguồn từ trường phái nghệ thuật Gandhara hay từ triều Ngụy bên Trung Quốc. Trong mudra nầy, hai ngón cái có thể tách rời các ngón khác để chạm vào nhau làm thành một hình tam giác thần bí, biểu tưởng Tam Bảo Phật Pháp Tăng hay, theo nhiều môn phái bí truyền, ngọn lửa thần bí thiêu hủy mọi ô nhiễm. Được đặc biệt sử dụng trong hình tượng đức A Di Đà, ấn quyết nầy cũng được dùng trong hình tượng Bhaishajyaguru tức đức Dược sư Phật. Ở bên Nhật nó mang tên Yakushi Nyorai và người ta đặt thêm trên hai tay một cái chén. Không có ở Ấn Độ, ít ở Trung Quốc nhưng rất nhiều ở Nhật Bản là một cách trình bày Thiền ấn khác : hai tay rời khỏi thân, dang thẳng đứng lên ngang ngực, hai ngón cái có thể dính với hai ngón chỉ (vị trí cao Jobon), hai ngón giữa (vị trí vừa Chubon) hay hai ngón nhẫn (vị trí thấp Gebon). Mudra nầy dành cho đức A Di Đà Amitabha, bên Nhật Bản mang tên Amida Jô-in, trình bày định tâm, giáo huấn, đón tiếp vào cõi Tây phương Cực lạc. Theo truyền thống, Thiền ấn là mudra của đức Phật khi ngồi nhập định dưới gốc cây bồ đề, say sưa trong cuộc thiền định sâu đậm để cố tìm nguồn gốc sự đau khổ trên đời và phương cách chấm dứt : đây là tư thế của những yogin trước kia, khi thực hành một thăng bằng hoàn hảo giữa suy nghĩ, bình tâm, thư thái trong những tác động tập trung tư tưởng.

    Chùa Bút Tháp – Hà Bắc

    Bayon – Cao Mên (Vbt Guimet)

    Thiền ấn

    Dưới gốc cây bồ đề, đức Phật quyết ngồi cho đến lúc tìm ra được phương cách hủy bỏ mọi đau đớn trên đời nầy nên khi đạt đến đích, Ngài viện đất làm chứng những công đức mà Ngài đã tích lũy từ nhiều tiền thân. Địa xúc ấn Bhumisparsha-mudra, biểu tượng một lòng tin và một giải quyết không lay chuyển được, là điển hình những biểu thị đức Phật Thích Ca Mâu Ni và đức Bất động Phật Akshobhya. Ngài ngồi xếp bằng Padmasana, tay mặt đặt trên đầu gối mặt, đầu những ngón tay duỗi ra đụng đất, có khi chỉ ngón chỉ, tay trái đặt trên đùi trái, gan bàn tay hướng lên trên. Có nhiều hình tượng bên Nhật Bản trình bày bàn tay mặt đặt lên mặt đất, gan tay hướng xuống dưới và được gọi Anzan-in tức là bình định núi non, hay Anchin-in nghĩa là bình định trái đất. Người ta thường giải thích đức Phật lấy tính kiên quyết để viện đất làm chứng. Cũng có thể hiểu khi được thỉnh cầu, đất đã gởi một đạo quân thiên thần để diệt trừ những quỷ sứ của Mara, vậy thì đây là một mudra chinh phục quỉ sứ. Trong vài hình tượng bí truyền, đức Vô Động Phật Akshobhya đụng đất với tay mặt nhưng tay trái vắt một vạt áo lên ngang ngực. Ở Hàn Quốc vì ngộ nhận nên cũng thấy có trình bày đức A Di Đà Amitabha với mudra nầy. Không có ảnh Việt Nam vì tôi không tìm thấy.

    Ayuthaya – Thái Lan

    Mandalay – Miến Điện (Vbt Guimet)

    Địa xúc ấn

    Khi Ngài đưa hai tay lên ngang ngực, gan tay trái hướng ra trước, gan tay mặt hướng lên trên, những ngón tay xòe ra gần đụng tay kia, đấy là lúc đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp trong Chuyển pháp luân ấn Dharmacakra-mudra. Ấn quyết nầy nhiều nơi được thay đổi ít nhiều. Ở Ajanta bên Ấn Độ, hai tay xa hẵn nhau và các ngón không đụng nhau. Trong phong cách Gandhara, tay mặt nắm thành quả đấm trùm lên toàn bộ các ngón tay trái. Trong các tranh tường ở chùa Horyu-ji bên Nhật Bản, tay mặt được đặt lên trên tay trái. Còn có một dị bản nữa, hiếm hơn, là hai gan tay hướng ra ngoài, những ngón tay quấn vào nhau, đụng nhau ở đốt cuối. Khi thể hiện mudra gọi là mặt trời nầy, đức Phật được xem như đức Chuyển Luân Vương Chakravartin, chúa tể một thế lực toàn năng, đang quay bánh xe mặt trời, vận dụng giáo huấn trong sáng làm tiêu tan mọi bóng tối của ngu muội. Hai tay của Ngài làm thành hai vòng tròn thần bí, tiêu biểu cho hai bánh một chiếc xe. Hai ngón tay cái hợp lại với nhau là trục xe chống đỡ hai bánh xe tượng trưng hai mặt cốt yếu vật chất và tinh thần luôn luôn bền chặt liên kết và vĩnh viễn chuyển động. Nói cho đúng, trong những sách xưa bên Ấn Độ, bánh xe và hoa sen đã được dùng để trình bày bản thân đức Phật. Hoa sen được xem như một bánh xe mà tám cánh thể hiện Bát Chính Đạo. Đối với người Phật tử, Chuyển pháp luân ấn còn là một thời điểm rất quan trọng trong đời sống đức Phật, lúc Ngài thuyết pháp lần đầu tiên trong vườn những linh dương tức Lộc Uyển ở Sarnath. Thường chỉ có mudra nầy trên hình tượng đức Phật Gautama và ở Ấn Độ trên hình tượng đức Di Lặc Maitreya ngồi để thỏng hai chân phía trước (kiểu Bhadrasana), ở Nhật Bản trên hình tượng đức A Di Đà Amitabha.

    Chùa Liên Phái – Hà Nội

    Tây Tạng (Vbt Guimet)

    Chuyển pháp luân ấn

    Khi đức Phật muốn biểu lộ yên vui, nhân từ, bảo vệ, đừng sợ hãi, Ngài giơ tay mặt lên ngang vai, cánh tay gập lại, gan tay hướng về trước, những ngón tay dính nhau, còn tay trái thi thả lỏng xuống theo cơ thể. Trong các trường phái phương Nam, ở Thái Lan và nhất là ở bên Lào, Vô úy ấn Abhaya-mudra nầy thường liên kết với điệu bộ của đức Phật đứng hay, đúng hơn, đang từ Cõi trời Đâu suất Tusita xuống. Ở Đông Nam Á, thường thấy một thay đổi là cả hai tay đều giơ lên hai bên ngực hay, ít hơn, tay mặt như trên nhưng giơ lên ngang đầu. Ở Nhật Bản, nhiều tu sĩ nhận xét có khi ngón cả tay mặt được nâng lên phía trước, đây là một nhân vật thuộc môn phái Shingon. Mudra dễ hiểu nầy phát xuất từ một cử chỉ tự nhiên vì giơ tay không có khí giới tỏ ra một tín hiệu hòa bình nếu không là thân mật. Nhưng từ thời thượng cổ, ấn quyết nầy cũng đã được dùng để khẳng định quyền lực như những vua La Mã thường làm để vừa ấn định quy tắc vừa đem lại hòa bình. Trong sách Phật có viết lại chuyện đức Phật trước một con voi hung dữ liền giơ tay như ấn quyết nầy để cản lại voi, như vậy mudra không chỉ có ý nghĩa làm dịu mà còn gợi lên ý tưởng không sợ, đem lại yên tĩnh cho những người xung quanh. Trong nghệ thuật Gandhara và sau nầy ở Trung Quốc, vào thời đại các nhà Ngụy, Tùy vào các thế kỷ 4-6, mudra nầy được dùng để diễn tả động tác thuyết pháp. Ở các trường phái phương Bắc, trong hình tượng các vị thần thánh, đi đôi với ấn quyết nầy thường có một ấn quyết khác, thực hiện với tay trái hoặc như Thí nguyện ấn Varada-mudra, hoặc, vị trí ngồi, gan tay mặt hướng lên trên, làm thành một ấn quyết đôi Abhaya-Varada-mudra mà người Nhật gọi là Segan-semui-in.

    Chùa Dâu – Hà Bắc

    Tu viện Kapica Patava-Pakistan 

    (Vbt Guimet)

    Vô úy ấn

    Thí nguyện ấn Varada-mudra tượng trưng cho lòng trắc ẩn, từ thiện, thành thực, mà cũng là đón tiếp, dâng hiến, biếu tặng, Đây là ấn quyết sự hoàn thành ước nguyện chuyên tâm giải thoát nhân loại. Thực hiện phần lớn với tay trái, cánh tay hoặc thông xuống theo dọc cơ thể, gan tay mở ra hướng về phía trước, hoặc gập lại, gan tay hơi hướng lên trên, những ngón tay duỗi ra hay hơi co. Mudra nầy giống với Vô úy ấn Abhaya-mudra nhưng hai định hướng bàn tay khác nhau. Cũng thấy có vài hình tượng đức Phật hay vị Bồ Tát ở Nhật Bản sử dụng ấn quyết nầy với tay mặt. Trong các hình tượng đời Ngụy hay thời kỳ Asuka, những ngón tay lúc đầu cứng đờ, dần dần mềm dẻo ra, hai ngón giữa và ngón chỉ tách ra khỏi những ngón khác, có khi là ngón nhẫn hay ngón út như ở tượng Yakushi trong toà Kondo chùa Horyu-ji. Qua đời Đường, những ngón tay hết còn cứng đờ và ít nhiều uốn cong. Ở Ấn Độ, từ thời kỳ Gupta (thế kỷ 4-5), mudra nầy là đặc trưng các hình tượng Quán Thế Âm Avalokiteshvara. Sách Phật dẫn tích Quán Thế Âm trong cuộc thăm viếng ở cõi âm ti, đã cho nước chảy từ cánh tay thỏng xuống theo ấn quyết nầy để cứu sống những người đã chết. Mudra nầy ít được thấy một mình mà cặp đôi với một mudra khác như với Abhaya-mudra (Abhaya tay mặt, Varada tay trái) thường gặp ở Trung Quốc và Nhật Bản. Trong các ấn quyết đôi nầy, khi hai ngón tay cái đụng nhau, ở Nhật Bản mudra được gọi là An-i-in và có ý nghĩa làm nguôi, làm dịu. Mudra nầy thường bị lầm lẫn với Giáo hóa ấn Vitarka-mudra mặc dầu trong ấn quyết nầy tay trái không đặt trên đầu gối như ấn quyết kia.

    Chùa Dâu – Hà Bắc

    Kyaunktawgyi – Mandalay Miến Điện 

    (Vbt Guimet)

    Thí nguyện ấn

    Thật vậy, Giáo hóa ấn Vitarka-mudra giống vừa Abhaya-mudra vừa Varada-mudra, nhưng thực hiện với hay tai như trong ấn quyết đôi Abhaya-Varada-mudra, hai ngón cái đụng đầu hai ngón chỉ. Thường ấn quyết nầy tượng trưng cho một trong những kỳ thuyết giáo của đức Phật, kỳ bàn cải, biện luận. Ấn quyết cũng còn đuợc gọi biện minh ấn vì đây là lúc đức Phật giải thích giáo pháp, kiếm cách thuyết phục người chưa tin đạo. Bên Nhật Bản, mudra nầy được biến đổi. Khi ở bàn tay mặt ngón cái và ngón chỉ ghép với nhau, tay trái vén một vạt áo, người Nhật gọi ấn quyết nầy là Kesa-ken-in ; khi tay mặt đưa lên đến ngực, tay trái nắm vạt áo ngang đùi hay xê ra khỏi cơ thể thì là Nai-segan-in,… Bên Nhật Bản cũng như ở bên Trung Hoa, một biến thể của mudra nầy gọi là An-i-shoshu-in khi tay trái đặt theo Vitarka, tay trái theo Varada ngang háng ; khi tay mặt đặt theo Abhaya, tay trái Varada hay Vitarka mang một bình thuốc, mudra mang tên Yakushi-in được thực hiện trên hình tượng Dược sư Phật Bhaishajyaguru. Đặc biệt, bên Nhật Bản, hiếm nhưng cũng thấy có là ấn quyết dành cho hình tượng Thần Tài với ngón nhẫn ghép với ngón cái, gọi là Kichijo-in. Khi đầu hai ngón cái và ngón chỉ ghép với nhau thành hình tròn được xem là hoàn hảo tất nhiên bất diệt, phù hợp với Phật pháp. Bên Tây Tạng, với ngón tay cái ghép vào bất cứ một ngón nào khác, ấn quyết được những nữ thần Tara hay những vị Bồ Tát thực hiện. Cũng ở bên ấy, trong hình tượng những thần Yabyum, hai tay chéo nhau ở cổ tay, gan tay hướng về phía ngực, những ngón hơi xòe ra. Trong các môn phái bí truyền cũng như trong nghi lễ thờ phụng đức A Di Đà Amitabha, Giáo hóa ấn được dùng rất nhiều. Bên Nam Dương, trong tháp Borobudur, những hình tượng các đức Phật, trên lan can thứ năm quanh tầng vuông mandala, đều có tay mặt sử dụng Vitarka-mudra, tay trái đặt trên vạt áo, gan bàn tay hướng lên trên : ấn quyết nầy là đặc biệt của đức Bồ tát Phổ Hiền Samanthabhadra.

    Chùa Láng – Hà Nội

    Quan Yin – Trung Quốc (Vbt Guimet)

    Giáo hóa ấn

    Có một ấn quyết thông thường không khi nào các đức Phật được sắp cao nhất trong thứ bậc Phật giáo thực hiện, trong Đại thừa cũng như trong Tiểu thừa : hai tay chắp lại với nhau trước ngực như một người đang tụng niệm, đó là Hiệp chưởng ấn Anjali-mudra thường dành cho những người đọc kinh cầu nguyện. Rất thông dụng trong khắp Đông Nam Á khi kính cẩn chào hỏi, mudra nầy gợi lên một ý tưởng dâng hiến và nếu hai tay dang lên đến mặt thì là một cử chỉ tôn kính, sùng bái. Ấn quyết nầy cũng được thay đổi nhiều từ nước nầy qua nước nọ. Trong các môn phái bí truyền miền Bắc, người Nhật sử dụng Kongo-gassho-in tức là Vajra-Anjalikarma-mudra, thực hiện như Anjali-mudra nhưng những ngón cái chéo nhau, hai đầu ngón quấn vào nhau, hai cánh tay hơi dang ra đằng trước chứ không còn dính vào cơ thể. Trong những lễ phong chức, có thể chỉ hai ngón cái chéo nhau mà thôi. Ý nghĩa mudra nầy là hai tay tượng trưng cho hai phần mandala các thiên thần hay sự liên minh mật thiết giữa thế giới nhân loại (tay trái) và thế giới các đức Phật (tay mặt). Trong trường hợp đặc biệt hình tượng đức Quan Âm Fukukensaku, ấn quyết mang tên Ju-in được thực hiện với hai tay đặt mặt đối mặt, hơi xa nhau và nắm ở giữa một viên tinh thể.

    Chùa Bảo Quang – Huế

    Kiyomigundera – Kyoto Nhật Bản

    Hiệp chưởng ấn

    Là một hiện tượng tôn giáo, văn hóa, trí thức, Phật giáo được truyền bá qua giáo dục, thực hành, nghệ thuật. Bắt nguồn từ Ấn Độ từ 5 thế kỷ trước Công nguyên, đạo Phật lan tỏa lên toàn miền bắc, phía tây đến Afghanistan, phía đông dọc theo con đường tơ lụa qua bắc Trung Quốc, rồi Hàn Quốc, Nhật Bản. Theo đường biển, đạo Phật được phổ biển qua Tích Lan, quần đảo Nam Dương, bán đảo Đông Dương rồi tiến lên nam Trung Quốc. Phật giáo như vậy vào khoảng đầu Công nguyên đã được truyền bá khắp Á châu. Cuộc tiếp xúc sống động với những truyền thống tín ngưỡng, với những nền văn hóa khác đã gây ra những biểu tượng đặc thù. Mặt khác, uy lực tinh thần và trí tuệ của những bậc truyền giáo qua nhiều thế kỷ cũng đã góp phần không ít vào những giáo huấn truyền đạt. Những cộng đồng Phật tử tất nhiên tập hợp quanh những giáo điều đã được đức Phật giảng dạy, đặc biệt quanh những quy ước tranh ảnh, những tượng trưng tiêu biểu cho giá trị Phật giáo giúp họ nhận danh những nhân vật cao siêu, những bậc thầy cao quý được xem là gương mẫu. Những mudra là những “cử chỉ thiêng liêng”, “cử chỉ thần bí”, “cử chỉ ma thuật” giúp tín đồ trong sự cảm nhận đức Phật. Phát xuất từ những cử chỉ tự nhiên, mudra dính liền với đời sống đức Phật, từ đấy trở thành tượng trưng một sự hướng dẫn tinh thần. Với ý nghĩa phát xuất từ nội dung lịch sử và tôn giáo đời sống đức Phật, được thực hiện qua những cử chỉ được quy tắc hóa (thể dạng bàn tay) theo một cú pháp (định hướng bàn tay), ấn quyết chứa đựng một giá trị truyền đạt đòi hỏi ở tín đồ một cảm tính trí tuệ trên nẻo đường dẫn con người đến thần linh.

    Mừng Phật Đản 2554

    Văn hóa Phật giáo Xuân Kỷ Sửu 72-73 (2009) 51-55, có bổ túc

    ————————————————————————————————————

    Hand Mudras Of Buddha – Symbols of Deeper Meaning

     

    Thủ Ấn Của Đức Phật – Ý Nghĩa Sâu Xa Của Thủ Ấn – Chuyển Ngữ: Nguyễn Văn Tiến – Nguồn: chúng tôi The Royal Grand Hall Of Buddhism

     

    Những cử chỉ mang tính biểu tượng của bàn tay Đức Phật, được gọi là Thủ Ấn, là những biểu tượng hình ảnh có ý nghĩa sâu xa:

     

    1) Thủ Ấn Giảng Dạy:

    Thủ Ấn Giảng Dạy (Dharmacakra Mudra) để cả hai tay đưa trước ngực, đầu các ngón trỏ và các ngón cái đụng vào nhau.

     

     

    2) Thủ Ấn Từ Bi:

    Quà Tặng Ban Cho, Thủ Ấn Từ Bi (Varada Mudra) tay phải thả lỏng với lòng bàn tay quay ra phía ngoài.

     

     

    3) Thủ Ấn Thiền:

    Thủ Ấn Thiền (Samadhi Mudra) để cả hai tay đặt trên đùi, lòng bàn tay hướng lên trên.

     

     

    4) Thủ Ấn Không Sợ Hãi:

    Thủ Ấn Không Sợ Hãi (Abhaya Mudra) để tay phải hơi cao, lòng bàn tay quay ra phía ngoài, còn gọi là Thủ Ấn Từ Bỏ.

     

     

    5) Thủ Ấn Tranh Luận:

    Thủ Ấn Tranh Luận giải thích những lời dạy của Đức Phật (Vitaka Mudra) với bàn tay nâng lên và đầu các ngón trỏ và ngón tay cái chạm vào nhau.

     

     

    6) Thủ Ấn Tránh Ác:

    Thủ Ấn Tránh Ác (Tarjani Mudra) để các ngón tay trỏ và ngón tay út duỗi thẳng ra.

     

     

    7) Thủ Ấn Cầu Nguyện:

    Thủ Ấn Cầu Nguyện (Namaskara Mudra) để hai lòng bàn tay chấp lại vào nhau.

     

     

    8) Thủ Ấn Vượt Thoát Khổ Đau:

    Thủ Ấn Vượt Thoát Khổ Đau (Buddha-Shramana Mudra) còn được gọi là Thủ Ấn Từ Bỏ Của Nhà Tu Khổ Hạnh.

     

     

    9) Thủ Ấn Tránh Ác:

    Thủ Ấn Tránh Ác (Bhutadamara Mudra) này là một thủ ấn bảo vệ.

     

     

     

     

    Thí Dụ: (Nguồn: The Royal Grand Hall Of Buddhism)

     

     

    Đức Phật Với Thủ Ấn Không Sợ Hãi

     

     

     

    Đức Phật Với Thủ Ấn Giảng Dạy

     

     

    ———————————–

     

     

    Hand Mudras Of Buddha – Symbols of Deeper Meaning – Source: chúng tôi The Royal Grand Hall Of Buddhism

     

    The symbolic gestures of the hands of Buddha images, called mudras, are picture tools of identification of deeper meaning:

     

    1) Gesture Of Teaching:

    The Gesture of Teaching (Dharmacakra Mudra) with both hands in front of the breast, tips of the index fingers and the thumbs touching.

    2) Gesture Of Compassion:

    The Gift bestowing Gesture of Compassion (Varada Mudra) the right hand pendant with the palm turned outwards.

    3) Gesture Of Meditation:

    The Gesture of Meditation (Samadhi Mudra) with both hands resting on the lap, palms upwards.

    4) Gesture Of Fearlessness:

    The Gesture of Fearlessness (Abhaya Mudra) the right hand slightly elevated, the palm turned outwards, also called the Gesture of Renunciation.

    5) Gesture Of Debate:

    The Gesture of Debate explaining the Buddha’s teachings (Vitaka Mudra) with the hands raised and the tips of the forefingers and the thumbs touch each other.

    6) Gesture Warding Off Evil:

    The Gesture Warding off Evil (Tarjani Mudra) with forefinger and little finger outstretched.

    7) Gesture Of Prayer:

    The Gesture of Prayer (Namaskara Mudra) with the palms folded together.

    8) Gesture Beyond Misery:

    The Gesture Beyond Misery (Buddha-Shramana Mudra) also called an ascetic’s Gesture of Renunciation.

    9) Gesture Of Warding Off Evil:

    The Gesture of Warding off Evil (Bhutadamara Mudra) this is a protection gesture.

    Example: (Source: The Royal Grand Hall Of Buddhism)

    Buddha With The Gesture Of Fearlessness

    Buddha With The Gesture Of Teaching

    ————————————————————————————-

    Phật Đường Khuông Việt Orsay

    miền nam Paris

    Trong nhiều thế kỷ, nghệ thuật Phật giáo không trình bày đức Phật qua hình dáng con người mà biểu thị Ngài qua một chiếc lọng, một cái ngôi, một vết chân hay con ngựa của Ngài.

    Đầu Công nguyên, phong cách Hy-Ấn Gandhara và những trường phái điêu khắc Ấn Độ cùng lúc thực hiện những hình tượng Ngài cũng như những vị Bồ Tát qua nhiều bộ điệu khác nhau với những cử chỉ được xếp thành quy tắc. Những mudra mà người Tàu gọi là yin, người Nhật in-zô, ta dùng chữ ấn, thủ ấn, hay thành ngữ ấn quyết, tiêu biểu cho quyền lực và hiện hình thần thánh.

    Đối với nhiều người, các kiểu đứng, ngồi, bắt tay, xếp chân của các tuợng Phật, các vị BồTát, La Hán đều là ấn quyết (mudra). Trong nghi lễ Mật giáo Ấn Độ, những hình vẽ bằng đầu ngón tay, ta gọi là bắt ấn, có công năng thần diệu, giúp phần định tâm, còn gọi sự hỗ trợ của chư Phật, Bồ Tát. Trong nghệ thuật múa Ấn Độ, những cử chỉ nầy được khai thác thành “ngôn ngữ tượng trưng”. Ấn Độ là một nước những bài tụng ca vệ đà luôn còn được kèm theo những động tác ngón tay vô cùng phức tạp nhưng rất chính xác. Ấn quyết có thể xem như là quyền lực ban cấp cho bàn tay để gắn chặt tác động nghi lễ.

    Mudra thường được ghép đôi với mantra, một thể thức cầu khấn. Trong khuôn khổ một nghi lễ, người giáo sĩ vừa đọc một mantra vừa xác định một vị trí cho bàn tay, vị trí có thể thay đổi tùy theo chữ, theo câu hay âm vang của giọng đọc. 

    Trong nghệ thuật Phật giáo, mudra trước tiên được dùng để tỏ rõ những cử chỉ của đức Phật.

    Thiền ấn.

     

    Thiền ấn

    Khi đức Phật tập trung tư tưởng đi đến Giác ngộ, Ngài ngồi xếp bằng Padmasana, hai tay đặt trước bụng, ngón tay duỗi thẳng, những ngón tay trái đặt trên những ngón tay mặt, hai ngón cái chạm nhau, gan bàn tay ngửa lên trên, có khi bắt chéo thành góc 45 độ, là một mudra rất thông dụng ở Đông Nam Á, được gọi là Thiền ấn Dhyana-mudra (hay Samadhi-mudra).

    Bayon. Campuchia

    Chùa Bút Tháp. Việt nam

    Hai ngón cái tách rời các ngón khác để chạm vào nhau làm thành một hình tam giác thần bí, biểu tưởng Tam Bảo Phật Pháp Tăng hay, theo nhiều môn phái bí truyền, ngọn lửa thần bí thiêu hủy mọi ô nhiễm.

    Chùa Thái lan

    Địa xúc ấn

    Địa xúc ấn. Bhumisparsha-mudra.  

    Dưới gốc cây bồ đề, đức Phật quyết ngồi cho đến lúc tìm ra được phương cách hủy bỏ mọi đau đớn trên đời nầy nên khi đạt đến đích, Ngài viện đất làm chứng những công đức mà Ngài đã tích lũy từ nhiều tiền thân.

    Địa xúc ấn Bhumisparsha-mudra, biểu tượng một lòng tin và một giải quyết không lay chuyển được, là điển hình những biểu thị đức Phật Thích Ca Mâu Ni và đức Bất động Phật Akshobhya. Ngài ngồi xếp bằng Padmasana, tay mặt đặt trên đầu gối mặt, đầu những ngón tay duỗi ra đụng đất, có khi chỉ ngón chỉ, tay trái đặt trên đùi trái, gan bàn tay hướng lên trên.

    Ayuthaya – Thái Lan

    Ayuthaya – Thái Lan

    Chuyển pháp luân ấn

    Chuyển pháp luân ấn. Dharmacakra-mudra.

    Ngài đưa hai tay lên ngang ngực, gan tay trái hướng ra trước, gan tay mặt hướng lên trên, những ngón tay xòe ra gần đụng tay kia, đấy là lúc đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp.Chuyển pháp luân ấn này được gọi là mặt trời. Đức Phật xem như đức Chuyển Luân Vương Chakravartin, chúa tể một thế lực toàn năng, đang quay bánh xe mặt trời, vận dụng giáo huấn trong sáng làm tiêu tan mọi bóng tối của ngu muội. Hai tay thành hai vòng tròn thần bí, tiêu biểu cho hai bánh một chiếc xe. Hai ngón tay cái hợp lại với nhau là trục xe chống đỡ hai bánh xe tượng trưng hai mặt cốt yếu vật chất và tinh thần luôn luôn bền chặt liên kết và vĩnh viễn chuyển động.

    Chùa Liên Phái – Hà Nội

    Tây Tạng

    Chùa Thái lan

    Hai tay của Ngài làm thành hai vòng tròn thần bí, tiêu biểu cho hai bánh một chiếc xe. Hai ngón tay cái hợp lại với nhau là trục xe chống đỡ hai bánh xe tượng trưng hai mặt cốt yếu vật chất và tinh thần luôn luôn bền chặt liên kết và vĩnh viễn chuyển động.

    Trong những sách xưa bên Ấn Độ, bánh xe và hoa sen đã được dùng để trình bày bản thân đức Phật. Hoa sen được xem như một bánh xe mà tám cánh thể hiện Bát Chính Đạo.

    Vô úy ấn

    Vô úy ấn. Abhaya-mudra.

    Biểu lộ yên vui, nhân từ, bảo vệ, đừng sợ hãi, đức Phật giơ tay mặt lên ngang vai, cánh tay gập lại, gan tay hướng về trước, những ngón tay dính nhau, còn tay trái thi thả lỏng xuống theo cơ thể.

    Trong các trường phái phương Nam, ở Thái Lan và nhất là ở bên Lào, Vô úy ấn thường liên kết với điệu bộ của đức Phật đứng hay, đúng hơn, đang từ Cõi trời Đâu suất Tusita xuống. Ở Đông Nam Á, thường thấy một thay đổi là cả hai tay đều giơ lên hai bên ngực hay, ít hơn, tay mặt như trên nhưng giơ lên ngang đầu.

    Chùa Dâu – Hà Bắc

    Tu viện Kapica Patava-Pakistan

    Chùa Dâu Hà Bắc

    Kyaunktawgyi – Mandalay Miến Điện

    Ấn Varada-mudra tượng trưng cho lòng trắc ẩn, từ thiện, thành thực, mà cũng là đón tiếp, dâng hiến, biếu tặng, Đây là ấn quyết sự hoàn thành ước nguyện chuyên tâm giải thoát nhân loại. Thực hiện phần lớn với tay trái, cánh tay hoặc thông xuống theo dọc cơ thể, gan tay mở ra hướng về phía trước, hoặc gập lại, gan tay hơi hướng lên trên, những ngón tay duỗi ra hay hơi co.

                                                                                                               

    Thí vô úy ấn. (pang bpra-taan a-pi hay abhaya mudra)

    Chùa Thái lan

    Khi bàn tay Phật thể hiện động tác này cho thấy Đức Phật không hề sợ hãi trước một kẻ thù hay nghịch cảnh. Tư thế này thường thấy ở cả tượng Phật đứng và tượng Phật ngồi. Có hai biến thể. Một trong các biến thể là cánh tay cong ở cả cổ tay và khuỷu tay. Các ngón tay chỉ lên trên và lòng bàn tay hướng ra ngoài. Trường hợp nếu là cánh tay phải thì có nghĩa là điều phục thú dữ. Nếu là cả hai tay thì có nghĩa là nghiêm cấm thân nhân.

    Thí nguyện ấn

    Thí nguyện ấn.

    Chùa Thái lan

    Varada-mudra tượng trưng cho lòng trắc ẩn, từ thiện, thành thực, mà cũng là đón tiếp, dâng hiến,biếu tặng.

    Đây là ấn quyết sự hoàn thành ước nguyện chuyên tâm giải thoát nhân loại. Thực hiện phần lớn với tay trái, cánh tay hoặc thông xuống theo dọc cơ thể, gan tay mở ra hướng về phía trước, hoặc gập lại, gan tay hơi hướng lên trên, những ngón tay duỗi ra hay hơi co. Mudra nầy giống với Vô úy ấn Abhaya-mudra nhưng hai định hướng bàn tay khác nhau.

    Tay phải của Đức Phật chỉ xuống với lòng bàn tay phải hướng về phía trước và các ngón tay mở rộng. Tư thế này thường được thấy trên tượng Phật đứng khi đang cho hoặc nhận của bố thí.

    Giáo hóa ấn

    Giáo hóa ấn Vitarka-mudragiống vừa Abhaya-mudra vừa Varada-mudra, nhưng thực hiện với hai tay như trong ấn quyết đôi Abhaya-Varada-mudra, hai ngón cái đụng đầu hai ngón chỉ. Thường ấn quyết nầy tượng trưng cho một trong những kỳ thuyết giáo của đức Phật, kỳ bàn cải, biện luận. Ấn quyết cũng còn đuợc gọi biện minh ấn vì đây là lúc đức Phật giải thích giáo pháp, kiếm cách thuyết phục người chưa tin đạo

    Chùa Dâu – Hà Bắc

    Quan Yin – Trung Quốc

    Ngón tay cái và ngón tay trỏ, thường là ở bàn tay phải chạm vào nhau, các ngón còn lại hướng lên trên. Cánh tay cong nơi khuỷu tay và cổ tay. Điều này được xem như lời kêu gọi hòa bình. Đức Phật đang nhằm kêu gọi mọi người hãy giải quyết các vấn đề thông qua tư duy lôgic và lý luận.

    Chùa Thái lan

     

    Hiệp chưởng ấn- Anjali-mudra. Ấn quyết thông thường khi các đức Phật được sắp cao nhất trong thứ bậc Phật giáo thực hiện, trong Đại thừa cũng như trong Tiểu thừa : hai tay chắp lại với nhau trước ngực như một người đang tụng niệm, đó là Hiệp chưởng ấn Anjali-mudra thường dành cho những người đọc kinh cầu nguyện.

    Khi kính cẩn chào hỏi, mudra nầy gợi lên một ý tưởng dâng hiến và nếu hai tay dang lên đến mặt thì là một cử chỉ tôn kính, sùng bái.

    Kiyomigundera – Kyoto Nhật Bản

    Chùa Bảo Quang

    Một số ấn quyết trong nghi lễ Phật giáo.

    Quan Âm ấn.

    Chữ Rảm

    tay trái dùng ấn “Kiết-tường” vẽ chữ RẢM, sắc trắng vào trong lòng bàn tay mặt 3 lần. Kế đến tay mặt cũng kết ấn “Kiết-tường” vẽ vào lòng bàn tay trái y như vậy. Chữ RẢM là tiếng Phạn hàm ẩn ý nghĩa sự thanh tịnh, còn màu trắng là tượng-trưng cho sự trong sạch.

    Ấn-quyết: (Cách bắt ấn)

    Ngón tay cái nắm co đầu ngón vô-danh (áp-út). Ba ngón còn lại: trỏ, giữa và út duỗi thẳng ra là thành ấn.Chuẩn đề độc bộ

    ấn.

    Chuẩn đề

    Hộ thần ấn.

     

     KIM-CANG QUYỀN ẤN

    Vô lượng liên hoa.

    ————————————————————————————-

    10 Đức Phật Mudras để thực hành trong cuộc sống hàng ngày

    ————————————————————————————-

    Giác Ngộ – Phật giáo hình thành ở Ấn Độ hơn hai ngàn năm trước đây. Từ Ấn Độ, Phật giáo được truyền bá khắp nơi trên thế giới. Văn hóa Phật giáo được các quốc gia hấp thu một cách uyển chuyển không hề áp đặt một cách cứng nhắc. Vì vậy, Phật giáo Thái Lan không giống với Phật giáo Ấn Độ. Điều này thể hiện rõ ở các thủ ấn (cử chỉ của tay) trên các pho tượng Phật ở Thái Lan.

    Có rất nhiều các thủ ấn khác nhau, nhưng có một thủ ấn rất đặc biệt ở Thái Lan đó là thủ ấn tượng Phật nằm. Ngoài thủ ấn này, còn có 6 thủ ấn chính khác nữa ở tượng Phật Thái Lan.

    1. Thiền ấn (pang sa-maa-ti hay dhyana mudra)

    Cử chỉ này thường thấy ở các tượng Phật ngồi. Lòng bàn tay Phật ngửa lên đặt ngay ngắn trong lòng. Tư thế này cho thấy Phật đang tập trung tinh thần nhiếp phục thân tâm.

    2. Thí vô úy ấn (pang bpra-taan a-pi hay abhaya mudra)

    Khi bàn tay Phật thể hiện động tác này cho thấy Đức Phật không hề sợ hãi trước một kẻ thù hay nghịch cảnh. Tư thế này thường thấy ở cả tượng Phật đứng và tượng Phật ngồi. Có hai biến thể. Một trong các biến thể là cánh tay cong ở cả cổ tay và khuỷu tay. Các ngón tay chỉ lên trên và lòng bàn tay hướng ra ngoài. Trường hợp nếu là cánh tay phải thì có nghĩa là điều phục thú dữ. Nếu là cả hai tay thì có nghĩa là nghiêm cấm thân nhân.

    3. Thí nguyện ấn (pang bpra-taa pon hay varada mudra)

    Tay phải của Đức Phật chỉ xuống với lòng bàn tay phải hướng về phía trước và các ngón tay mở rộng. Tư thế này thường được thấy trên tượng Phật đứng khi đang cho hoặc nhận của bố thí.

    4. Xúc địa ấn ( pang maa-ra-wi-chai hay bhumisparsa mudra)

    Trong nghệ thuật tượng Phật Thái tư thế này được gọi là Đức Phật điều phục Mara (Ma vương). Mara là một con quỷ cám dỗ Đức Phật. Tay phải của Phật được đặt trên cẳng chân trong trạng thái chạm vào Trái đất, đôi khi chỉ là tượng trưng. Đây là tư thế thường thấy nhất.

    5. Chuyển pháp luân ấn (dharmacakrapravartana mudra)

    Ngón tay trỏ và ngón tay cái của mỗi bàn tay chạm vào nhau. Các ngón của bàn tay trái chạm vào lòng bàn tay phải. Đây là một tư thế rất hiếm gặp. Tư thế này nói lên việc Đức Phật chuyển bánh xe pháp với bài pháp đầu tiên của mình.

    6. Giáo hóa ấn (vitarka mudra)

    Ngón tay cái và ngón tay trỏ, thường là ở bàn tay phải chạm vào nhau, các ngón còn lại hướng lên trên. Cánh tay cong nơi khuỷu tay và cổ tay. Điều này được xem như lời kêu gọi hòa bình. Đức Phật đang nhằm kêu gọi mọi người hãy giải quyết các vấn đề thông qua tư duy lôgic và lý luận.

    Văn Công Hưng (Theo ArticlesBase)

    ————————————————————————————-

    CƯ TRẦN LẠC ĐẠO

    Cư Sĩ Chánh Trực

    Toronto, Canada Toronto, Canada – TL 2002

     

    Thủ ấn của Phật thích ca Trong đời sống hằng ngày, chúng ta có rất nhiều thắc mắc, có nhiều vấn đề cần phải giải quyết, chẳng hạn như là: Hình Đức Phật Thích Ca của trang nhà ĐPNN có hình thủ ấn bàn tay trái nằm trên bàn tay phải. Theo chỗ chúng tôi thấy thì phần lớn các hình Phật có thủ ấn ngược lại. Xin giải thích lý do.

    Trong đời sống hằng ngày, chúng ta có rất nhiều thắc mắc, có nhiều vấn đề cần phải giải quyết, chẳng hạn như là: Hình Đức Phật Thích Ca của trang nhà ĐPNN có hình thủ ấn bàn tay trái nằm trên bàn tay phải. Theo chỗ chúng tôi thấy thì phần lớn các hình Phật có thủ ấn ngược lại. Xin giải thích lý do.

    * * *

    Thực đúng như vậy, phần lớn các hình Phật Thích Ca có thủ ấn bàn tay phải nằm trên bàn tay trái, ngược lại với hình Đức Phật của trang nhà ĐPNN.

    Các tranh vẽ trong Phật giáo thường do các họa sĩ vẽ ra theo trí tưởng tượng, dựa vào những chi tiết trong kinh sách, thường có ý nghĩa tượng trưng, không đúng sự thực như trong hình vẽ diễn tả.

    Chẳng hạn như là: hình Đức Phật A Di Đà đứng trên đóa hoa sen, một tay cầm hoa sen, một tay giơ ra, như đang chờ đón rước chúng sanh về với chư Phật ở cõi cực lạc, theo kinh A Di Đà. Hoa sen tượng trưng cho “bản tâm thanh tịnh” của chư Phật và của mỗi người. Người nào tu tâm dưỡng tánh đạt được “nhất tâm bất loạn”, tức là sống được với bản tâm thanh tịnh, người đó sẽ vãng sanh tây phương cực lạc. Chứ không phải chỉ tu tập sơ sơ, được chút ít công đức phước đức, rồi tưởng tượng sẽ được về cực lạc sau khi mãn phần, một cách dễ dàng.

    Trong kinh A Di Đà, Đức Phật có dạy: “Bất khả dĩ thiểu thiện căn phước đức nhân duyên đắc sanh bỉ quốc”. Nghĩa là: Không thể lấy chút ít phước đức làm nhân duyên để được sanh qua nước kia (tức là cõi cực lạc).

    Chẳng hạn như là: hình Đức Phật Thích Ca ngồi dưới cội bồ đề, trên đóa hoa sen, cũng có ý nghĩa: người nào giác ngộ và sống được với bản tâm thanh tịnh thì đó chính là một vị Phật. Thực sự lúc thành Phật dưới cội bồ đề, Đức Thích Ca chỉ tọa thiền trên tấm thảm cỏ (tức là bồ đoàn). Lúc đó, Đức Phật để bàn tay mặt trên bàn tay trái, hay ngược lại, không có kinh sách nào nói rõ. Tuy nhiên, việc đó không quan trọng. Tại sao như vậy? Bởi vì, đó chỉ là hình tướng bên ngoài mà thôi. Không phải các thủ ấn có thể giúp mình hàng phục ma quân bên ngoài gì đâu?

    Cốt tủy của đạo Phật là giúp đỡ con người hàng phục “tâm ma” trong lòng chính mình, lúc đó tâm được an thì “tâm Phật” hiển lộ. Khi nào tất cả mọi chúng sanh trong lòng chúng ta được độ hết, tức là chúng ta hàng phục được tâm của chính mình, chúng ta sẽ thành một vị Phật, chứ không phải lo đi độ hết mọi người bên ngoài xong rồi, mới được thành Phật. Tại sao như vậy? Bởi vì, đã có biết bao nhiêu vị Phật đã thành, mà chúng sanh vẫn còn vô số trên thế gian!

    * * *

    Tóm lại, cốt tủy của đạo Phật có thể tóm gọn vào một chữ, đó là chữ TÂM. Tâm được an tịnh là điều hạnh phúc quí báu nhứt trên trần đời. Tất cả những gì thuộc hình thức, hình tướng bên ngoài, chỉ là phần phụ thuộc mà thôi.

    ————————————————————————————-

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cúng Dường – Câu Chuyện Cô Gái Nghèo Cúng Dầu Cho Đức Phật
  • Giải Thích Ngắn Về Cúng Dường Mandala Để Thỉnh Cầu Giáo Pháp – Ripa Việt Nam
  • Ba Ngôi Thờ Cúng, Cửu Huyền Thất Tổ Là Gì? Tại Sao Phãi Thờ Cửu Huyền Thất Tổ
  • Văn Tác Bạch Lễ Vu Lan Báo Hiếu
  • Làm Thế Nào Để Siêu Độ Cho Cửu Huyền Thất Tổ, Thân Bằng Quyến Thuộc.
  • Nghi Lễ Cúng Phật Thành Đạo

    --- Bài mới hơn ---

  • Dâng Hương Cúng Phật Trong Nghi Lễ Phật Giáo Bắc Truyền
  • Phật Giáo Không Có Nghi Lễ Cúng Sao Giải Hạn
  • Nghi Cúng Lễ Phật Thành Đạo
  • Phật Giáo: Nghi Cúng Lễ Phật Thành Đạo
  • Nghi Cúng Đại Lễ Đức Phật Thành Đạo Ngày Mồng 08.12.âl
  • Theo HT Thích Thanh Từ: Tôi nhận thấy người sau đặt nặng ngày Phật đản sanh hơn ngày Phật thành đạo. Ngày Phật đản sanh tất cả chùa chiền đều tổ chức huy hoàng, còn ngày Phật thành đạo thì im lặng đơn sơ.

    Lý đáng người tu chúng ta phải thấy ngày Phật thành Đạo là ngày tối quan trọng. Vì nếu không thành đạo, đức Phật không thể giảng giải Phật pháp, giáo hóa chúng sanh. Như vậy ngày thành đạo là một bước ngoặc lớn trong cuộc đời tu tập của Ngài, mà cũng là ngày có ý nghĩa đối với muôn loài. Đó là ngày đức Phật từ một con người thế gian trở thành xuất thế gian, từ con người mê thành con người giác. Vì vậy chúng tôi cho rằng ngày này hết sức trọng đại. (Theo lời HT Thích Thanh Từ)

    – Cử nhạc khai đàn.

    – Chủ lễ đăng điện.

    – Cử nhạc tham lễ.

    – Chủ lễ niệm hương.

    – Dâng hương – tác lễ.

    – CÚNG HƯƠNG (chủ lễ xướng):

    Nguyện đem lòng thành kính,

    Gởi theo đám mây hương,

    Phưởng phất khắp mười phương,

    Cúng dường ngôi Tam Bảo.

    Thề trọn đời giữ đạo,

    Theo tự tánh làm lành,

    Cùng pháp giới chúng sanh,

    Cầu Phật từ gia hộ:

    Tâm Bồ đề kiên cố,

    Chí tu học vững bền,

    Xa biển khổ mông mênh,

    Chóng quay về bờ giác. Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát. (3 lần)

    – TÁN PHẬT (Tán dương công đức Phật):

    Đấng Pháp vương vô thượng,

    Ba cõi chẳng ai bằng,

    Thầy dạy khắp trời người,

    Cha lành chung bốn loại.

    Qui y tròn một niệm,

    Dứt sạch nghiệp ba kỳ,

    Xưng dương cùng tán thán,

    Ức kiếp không cùng tận!

    – LỄ PHẬT:

    Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng,

    Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn,

    Lưới Đế châu ví đạo tràng,

    Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời .

    Trước bảo tọa thân con ảnh hiện,

    Cúi đầu xin thệ nguyện qui y.

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tận Hư Không, Biến Pháp Giới, Quá Hiện Vị Lai Thập Phương Chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng Thường Trụ Tam Bảo. (1 lễ)

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật; Đương Lai Hạ Sanh Di lặc Tôn Phật; Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát; Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát; Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát; Linh Sơn Hội ThượngPhật Bồ Tát. (1 lễ)

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật; Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát; Đại Thế Chí Bồ Tát; Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát; Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. (1 lễ)

    – TÁN HƯƠNG:

    Cành dương nước pháp,

    Rưới khắp ba gàn,

    Tánh không tám đức sạch trần gian,

    Pháp giới rộng thênh thang,

    Tội nghiệp tiêu tan,

    Lửa đỏ hóa sen vàng.

    Nam mô Thanh Lương Địa Bồ Tát. (3 lần)

    – TỤNG CHÚ ĐẠI BI:

    Nam mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát. (3 lần)

    Thiên thủ thiên nhãn, vô ngại đại bi tâm đà la ni.

    Nam mô hắc ra đát na, đa ra dạ da. Nam mô a lị gia bà lô kiết đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏabà da, ma ha ca lô ni ca da. Án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tả. Nam mô tất kiết lật đỏa, y mông a lị gia bà lô kiết đế, thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà đà, ma phạt đặt đậu đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê lị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô kiết mông, độ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế,đà la đà là, địa rị ni, thất Phật ra da, giá ra gía ra. Mạ mạ phạt ra ma, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắt ni na, ba dạ ma na ta bà ha, tất đà dạ ta bà chúng tôi ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ ta bà ha. Na ra cẩn trì ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khư gia, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ ta bà ha. Ba đà ma kiết tất đà dạ ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ ta bà ha. Ma bà rị thắng kiết ra dạ ta bà ha.

    Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da bà lô kiết đế thước bàn ra dạ, ta bà ha.

    Án tất điện đô mạn đà ra bạt đà dạ ta bà ha.

    – TÁN PHẬT:

    Trên trời dưới đất không bằng Phật,

    Thế giới mười phương cùng không sánh.

    Thế gian có gì con đã thấy,

    Tất cả không ai bằng Phật vậy!Nam mô Thập Phương Thường Trụ Tam Bảo. (3 lần)

    – TỤNG BÀI Ý NGHĨA NGÀY THÀNH ĐẠO:

    (Tất cả ngồi xuống – tụng chậm, đậu câu, thay vì bạch hay sớ).

    Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (3 lần)

    Chúng con cung kính nghe rằng:

    Núi Tuyết tu nhơn,

    Khổ hạnh sáu năm quả mãn;

    Sao Mai ứng dạng,

    Hân hoan muôn đức công thành!

    Một Phật giáng sanh,

    Muôn loài hưởng phước!

    Nay có Tăng chúng,

    Và chư Phật tử chúng con.

    Giờ này:Cung kính quỳ trước Phật đường,

    Chí thành dâng lên pháp cúng.

    Kinh diên tán tụng,

    Lễ nhạc ca dương,

    Năm nén tâm hương,

    Một diên thánh lễ.

    Cúng dường đấng từ bi cứu thế,

    Tôn vinh ngôi trí tuệ siêu trần.

    Giữa lúc:

    Cỏ hoa hoan hỷ muôn phần,

    Người, vật thiết tha một dạ.

    Vì nhớ ngày …

    Pháp âm quảng bá,

    Gọi hồn thế giới ba ngàn.

    Vì nghĩ thuở:

    Phật nhựt phổ quang,

    Soi sáng nước non tám vạn.

    Trước đài nhất tâm qui mạng,

    Trên tọa bách bảo chứng minh.

    Nhớ một thuở xa xưa,

    Tại thành Tỳ La Vệ,

    Một Bồ Tát xuất thế,Con vua Tịnh Phạn vương,

    Ôm ấp một tình thương,

    Cứu muôn loài đau khổ,

    Bỏ ngai vàng quốc độ,

    Vào núi Tuyết tu hành,

    Vì thệ nguyện độ sanh,

    Sống sáu năm khổ hạnh,

    Thế rồi trong đêm lạnh,

    Dưới gốc cây Bồ đề,

    Người hạ một lời thề,

    Quyết không rời bảo tọa,

    Nếu không thành đạo quả,

    Chẳng rời khỏi nơi đây,

    Các ma vương bủa vây,

    Tất cả đều hàng phục,

    Dứt sạch mọi tham dục,

    Thấy ánh sáng sao Mai,

    Lúc ấy độ canh hai,

    Tâm hồn đều trong sáng,

    Người liền tuyên lời phán:

    “Rằng rất là lạ thay,

    Không một ai biết hay,

    Muôn loài có Phật tánh,

    Ta nay đã thành Thánh,

    Chúng sanh Thánh sẽ thành,Vì tất cả chúng sanh,

    Đều có các đức tướng,

    Cùng trí tuệ vô thượng,

    Của các đấng Như Lai,

    Trong quá khứ vị lai,

    Muôn đời mới xuất hiện”.

    Tin vui truyền non biển,

    Nước Ấn Độ bao la,

    Rằng Thái tử Đạt Đa,

    Thuộc dòng vua họ Thích,

    Sau bao năm ẩn tích,

    Tìm đạo để cứu đời,

    Đã tuyên bố mấy lời,

    Thành Chảng đẳng Chánh giác,

    Trời người đều hoan lạc,

    Đến rải hoa cúng dường,

    Cùng thiên nhạc thiên hương,

    Xin Pháp Vương thuyết pháp.

    Nhưng người chưa vội đáp,

    Vì thấy đạo thâm huyền,

    Không thể được vội truyền,

    Pháp thiêng của chư Phật.

    Thế rồi Ngài nhập thất,

    Trong hăm mốt ngày liền,

    Quan sát các nhơn duyên,

    Cùng với các phương tiện,

    Nhớ lại lời thề nguyện,

    Người đứng dậy ra đi,

    Trong trí thường nghĩ suy,

    Về năm người bạn cũ,

    Người đến vườn Lộc Thú (Lộc Uyển),

    Giảng đạo lý nhơn duyên,

    Chỉ rõ gốc não phiền,

    Từ vô minh trước hết,

    Đến sanh già bệnh chết,

    Mười hai duyên nối liền,

    Sống cuộc đời triền miên,

    Với tử sanh đau khổ,

    Gốc vô minh phải nhổ,

    Mới hết mọi khổ đau,

    Tứ Đế đạo nhiệm mầu,

    Là “Khổ, Tập, Diệt, Đạo”.

    Từ đâu có “khổ” báo,

    Từ tích “tập” khổ nhơn,

    Muốn dứt (diệt) các khổ nhơn,

    Cần tu “Bát thánh đạo”.

    Đó là người dạy bảo,

    Năm Đại đức Tỳ kheo,

    Khuyên các vị tuân theo,

    Sẽ dứt hết sanh tử,

    Vào Niết Bàn tịch xứ,

    Hết các thứ nghiệp khiên,

    Hết tham sân “sử triền”, (1)

    Sống cuộc đời giải thoát,

    Với “ngã tịnh thường lạc”, (2)

    Hết lưu chuyển luân hồi,

    Biển khổ hết nổi trôi,

    Đường mê thôi lạc lối,

    Đã vào thành bất thoái,

    Vui hơn các trời cao!

    Kính bạch Đức Bổn Sư Từ phụ!

    Nhìn lại ánh sáng sao Mai,

    Nhớ thuở Bổn Sư thành đạo,

    Nghĩ tới lời vàng dạy bảo,

    Nhớ ngày trời đất hân hoan.

    Chúng con cúi mong rằng:

    Mong cho ánh đạo vàng,

    Muôn thuở hào quang rạng rỡ,

    Cầu cho Hoa Đàm lại nở,

    Tỏa hương ngào ngạt nhơn gian.

    Cầu cho đất nước bình an,

    Nguyện cho nhân dân hạnh phúc.

    Cúi đầu cung chúc,

    Ngửa mặt ca dương,

    Cha lành đoái thương,

    Chứng minh gia hộ.

    Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (30 lần)

    Nam mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. (3 lần)

    Nam mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát. (3 lần)

    Nam mô Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. (3 lần)

    – LỄ 12 LỄ LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT:

    (Chủ lễ xướng đến: Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật thì nhịp khánh hướng dẫn Phật tử đồng hòa: Bổn Sư Thích Ca …)

    1) Chí tâm đảnh lễ:

    A tỳ ngục tốt, mới phát lòng lành,

    Nhiều kiếp tu hành, nhơn viên quả mãn.Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (1 lễ)

    2) Chí tâm đảnh lễ:

    Một đời Bổ xứ, hiện ở Suất Đà,

    Hóa độ Ta Bà, giáng sanh trần thế.Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (1 lễ)

    3) Chí tâm đảnh lễ:

    Từ trời Đâu Suất, ứng mộng Ma Gia,

    Cỡi voi sáu ngà, vào trong lòng mẹ.Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (1 lễ)

    4) Chí tâm đảnh lễ:

    Dưới cây Vô Ưu, đản sanh thị hiện,

    Chín rồng phun nước, bảy bước xưng tôn.Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (1 lễ)

    5) Chí tâm đảnh lễ:

    Hiện hưởng dục lạc, chán cảnh vô thường,

    Dạo chơi bốn phương, thương đời đau khổ.Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (1 lễ)

    6) Chí tâm đảnh lễ:

    Nửa đêm vượt thành, xuất gia tìm đạo,

    Tóc xanh cắt bỏ, núi Tuyết tu hành.Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (1 lễ)

    7) Chí tâm đảnh lễ:

    Dưới cây Đạo thọ, hàng phục ma quân,

    Thấy ánh sao Mai, thành Bồ đề đạo.Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (1 lễ)

    8) Chí tâm đảnh lễ:

    Bốn mươi chín năm, độ sanh thuyết pháp

    Ba thừa giáo hóa, hạnh nguyện viên thành.Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (1 lễ)

    9) Chí tâm đảnh lễ:

    Dưới cây Ta La, Niết Bàn thị hiện,

    Để lại Xá lợi, phước khắp trần gian.Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (1 lễ)

    10) Chí tâm đảnh lễ:

    Hiện tọa đạo tràng, Ta Bà giáo chủ,

    Đạo sư ba cõi, Từ phụ bốn loài.Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (1 lễ)

    (Hiệu 10 này lễ 3 lần thì đủ 12 lễ lịch sử Đức Phật).

    – TÁN:

    Ngôi vàng từ giã,

    Núi Tuyết tu hành,

    Tham thiền nhập định giữa rừng xanh,

    Cầu Phật quả viên thành,

    Cứu độ quần sanh,

    Cao cả đấng cha lành.Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật. (3 lễ)

    – TỤNG BÁT NHÃ TÂM KINH:

    MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH.

    Quán tự tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.”Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc. Thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị”.Xá Lợi Tử! Thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; thanh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới; vô vô minh diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo, vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố, Bồ đề tát đỏa y Bát nhã ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánhNiết Bàn. Tam thế chư Phật, y Bát nhã Ba la đa cố, đắc A nậu đa la Tam miệu tam Bồ đề. Cố tri Bát nhã ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chơn thiệt bất hư, cố thuyết Bát nhã ba la mật đa chú. Tức thuyết chú viết:”Yết đế, yết đế, Ba la yết đế, Ba la Tăng yết đế, Bồ đề tát bà ha”.

    SÁM TỤNG PHẬT THÀNH ĐẠO

    Hào quang chiếu diệu. Sáng tỏ mười phương, Ngộ lý chơn thường, Phá màn hôn ám. Đệ tử lòng thành bài sám, Trước điện dâng hoa, Cúng dường Phật Tổ Thích Ca, Ba ngôi thường trú. Đệ tử chúng con, Nhân lành chưa đủ, Nghiệp báo theo hoài. Nay nhờ Văn Phật Như Lai, Giáng trần cứu độ, Sáu năm khổ hạnh, Bảy thất tham thiền, Ma oán dẹp yên, Thần long che chở, Tâm quang rực rỡ. Chứng lục thần thông. Lộ chiếu minh tinh, Đạo thành Chánh giác, Trời, người hoan lạc, Dậy tiếng hoan hô. Năm mươi năm hóa độ, Ba trăm hội đàm Kinh,

    Cứu phàm ngu thoát khỏi mê đồ, Tiếp Hiền Thánh siêu sinh Tịnh độ Muôn đời xưng tán, Vạn đức hồng danh, Đệ tử chí thành, Lễ bày kỷ niệm. Tâm hương phụng hiến, Gọi chút báo ân, Ngửa trông Vô thượng Pháp vương Từ bi gia hộ.

    Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (3 lần) Nam mô Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. (3 lần) Nam mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát. (3 lần) Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. (3 lần) Nam mô Đạo Tràng Hội Thượng Bồ Tát. (3 lần)

    – HỒI HƯỚNG:

    Vừa rồi bao nhiêu công đức,

    Bấy nhiêu hương hoa,

    Thành kính thiết tha,

    Nguyện xin cúng dưỡng,

    Thích Ca Bổn Sư Hòa thượng,

    Thành Đạo Thánh lễ tôn vinh,

    Thùy từ tác đại chứng minh,

    Chúng đẳng hòa nam bái tụng.Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (đại chúng đồng hòa)

    – TÁN:

    Cúng dường Thánh lễ đã viên hoàn,

    Công đức ban cho khắp thế gian,

    Phật tánh mọi loài đều sẵn có,

    Khắp xin tất cả hãy hồi quang.

    Nguyện tiêu ba chướng trừ phiền não,

    Nguyện chơn trí tuệ thường sáng tỏ,

    Nguyện bao tội chướng thảy tiêu trừ,

    Kiếp kiếp thường tu Bồ Tát hạnh.

    Nguyện sanh Tịnh độ cảnh Tây phương,

    Chín phẩm hoa sen là cha mẹ,

    Hoa nở thấy Phật chứng vô sanh,

    Bất thoái Bồ Tát là bạn hữu,

    Nguyện đem công đức này,

    Hướng về khắp tất cả,

    Đệ tử và chúng sanh

    Đều trọn thành Phật đạo.

    Tự qui Phật, xin nguyện chúng sanh, thể theo đạo cả, phát lòng vô thượng. (1 lễ)

    Tự qui y Pháp, xin nguyện chúng sanh thấu rõ kinh tạng, trí tuệ như biển. (1 lễ)

    Tự qui y Tăng, xin nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, hết thảy không ngại. (1 lễ)

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Đại Từ Đại Bi Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (1 lễ)

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Lộc Uyển Ngũ Vị Đại Tỳ Kheo A La Hán. (1 lễ)

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Linh Sơn, Trúc Lâm, Kỳ Viên, Lộc Uyển Hội Thượng Phật Bồ Tát. (1 lễ)

    – CHỦ LỄ XƯỚNG:

    Thù ân báo đức,

    Lễ đã viên thành,

    Chuông trống hòa thanh,

    Cúi đầu lễ tất.

    (1) Sử triền: xuôi khiến, ràng buộc.

    (2) Bốn Đạo quả Niết Bàn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Nghi Thức Thỉnh Phật, Thờ Phật Và Cúng Phật
  • Cúng Thí Cô Hồn: Giá Trị Văn Hóa Và Giá Trị Thực
  • Nghi Thức Cô Hồn Tháng 7 Tại Gia
  • Cách Thờ Cúng Tượng Quan Âm Bằng Đá Tại Nhà
  • Những Điều Cần Biết Khi Thờ Tượng Phật Quan Âm Bồ Tát Tại Gia
  • 12 Thủ Ấn Của Phật Thích Ca

    --- Bài mới hơn ---

  • Bắt Ấn Là Gì? Để Làm Gì? Ý Nghĩa
  • Nghèo Thì Làm Sao Để Bố Thí Và Cúng Dường?
  • : Cúng Dường Là Gì? Bố Thí Là Gì?
  • Cách Khấn Nguyện Khi Vun Trồng Thiện Căn
  • Cách Ghi Viết Phong Bì Viếng Đám Ma Tang Lễ Và 49 Ngày Xúc Động Nhất
  • Thực đúng như vậy, phần lớn các hình Phật Thích Ca có thủ ấn bàn tay phải nằm trên bàn tay trái, ngược lại với hình Đức Phật của trang nhà ĐPNN.

    Các tranh vẽ trong Phật giáo thường do các họa sĩ vẽ ra theo trí tưởng tượng, dựa vào những chi tiết trong kinh sách, thường có ý nghĩa tượng trưng, không đúng sự thực như trong hình vẽ diễn tả.

    Chẳng hạn như là: hình Đức Phật A Di Đà đứng trên đóa hoa sen, một tay cầm hoa sen, một tay giơ ra, như đang chờ đón rước chúng sanh về với chư Phật ở cõi cực lạc, theo kinh A Di Đà. Hoa sen tượng trưng cho “bản tâm thanh tịnh” của chư Phật và của mỗi người. Người nào tu tâm dưỡng tánh đạt được “nhất tâm bất loạn”, tức là sống được với bản tâm thanh tịnh, người đó sẽ vãng sanh tây phương cực lạc. Chứ không phải chỉ tu tập sơ sơ, được chút ít công đức phước đức, rồi tưởng tượng sẽ được về cực lạc sau khi mãn phần, một cách dễ dàng.

    Trong kinh A Di Đà, Đức Phật có dạy: “Bất khả dĩ thiểu thiện căn phước đức nhân duyên đắc sanh bỉ quốc”. Nghĩa là: Không thể lấy chút ít phước đức làm nhân duyên để được sanh qua nước kia (tức là cõi cực lạc).

    Chẳng hạn như là: hình Đức Phật Thích Ca ngồi dưới cội bồ đề, trên đóa hoa sen, cũng có ý nghĩa: người nào giác ngộ và sống được với bản tâm thanh tịnh thì đó chính là một vị Phật. Thực sự lúc thành Phật dưới cội bồ đề, Đức Thích Ca chỉ tọa thiền trên tấm thảm cỏ (tức là bồ đoàn). Lúc đó, Đức Phật để bàn tay mặt trên bàn tay trái, hay ngược lại, không có kinh sách nào nói rõ. Tuy nhiên, việc đó không quan trọng. Tại sao như vậy? Bởi vì, đó chỉ là hình tướng bên ngoài mà thôi. Không phải các thủ ấn có thể giúp mình hàng phục ma quân bên ngoài gì đâu?

    Cốt tủy của đạo Phật là giúp đỡ con người hàng phục “tâm ma” trong lòng chính mình, lúc đó tâm được an thì “tâm Phật” hiển lộ. Khi nào tất cả mọi chúng sanh trong lòng chúng ta được độ hết, tức là chúng ta hàng phục được tâm của chính mình, chúng ta sẽ thành một vị Phật, chứ không phải lo đi độ hết mọi người bên ngoài xong rồi, mới được thành Phật. Tại sao như vậy? Bởi vì, đã có biết bao nhiêu vị Phật đã thành, mà chúng sanh vẫn còn vô số trên thế gian!

    * * *

    Tóm lại, cốt tủy của đạo Phật có thể tóm gọn vào một chữ, đó là chữ TÂM. Tâm được an tịnh là điều hạnh phúc quí báu nhứt trên trần đời. Tất cả những gì thuộc hình thức, hình tướng bên ngoài, chỉ là phần phụ thuộc mà thôi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phật Tử Tại Gia Có Nên Bắt Ấn Khi Trì Chú Đại Bi Hay Không?
  • Cùng Nhìn Lại Chương Trình Sớt Bát Cúng Dường Chư Tăng Báo Đền Ân Tổ Quốc Của Các Phật Tử Clb Cúc Vàng
  • Quý Phật Tử Sớt Bát Cúng Dường Trường Hạ Ngọc Phương
  • Phật Tửsớt Bát Cúng Dường Trường Hạ Ngọc Phương
  • Sư Phụ Thích Trúc Thái Minh Ban Lời Chúc Nguyện Trong Buổi Sớt Bát Cúng Dường Chư Tăng Báo Tứ Trọng Ân
  • Văn Khấn Phật Bà Quan Âm Tại Nhà Và Cách Thờ Cúng Chuẩn Đạo Phật

    --- Bài mới hơn ---

  • 6 Bài Văn Khấn Cúng Rằm Tháng 7 Trong Nhà, Ngoài Trời
  • Lưu Ý Chuẩn Bị Lễ Cúng Và Văn Khấn Động Thổ Xây Mộ
  • Văn Khấn Cúng Rằm Tháng 7 Vào Dịp Lễ Vu Lan, Cúng Cô Hồn
  • Văn Khấn Đền Mẫu Hưng Yên
  • Văn Khấn Lễ Cáo Long Thần Thổ Địa
  • Thờ cúng Phật Bà Quan Âm tại nhà đúng cách

    Đối với việc thờ Phật, việc chọn lựa những thờ tượng Phật rất quan trọng để có cách cúng phật bà Quan Âm đúng cách. Thông thường, mọi người chọn chất liệu tác tượng Phật là gỗ, gốm, đồng,…. Hoặc các tranh về Phật với các hình ảnh đứng hoặc đang tọa ngồi. Tùy vào duyên mỗi người mà thỉnh Phật. Bàn thờ Phật bà quan âm phải đủ rộng để bài trí được cả lư hương, chén nước và bình hoa, đĩa hoa quả luôn phải được lau sạch và trang nghiêm.

    Văn khấn Phật bà quan âm tại nhà và cách thờ cúng chuẩn đạo Phật

    Với cách cúng phật bà Quan Âm tại gia sau khi được thỉnh phật về tôn trí lại tư gia trong nhà, chỉ cần đủ duyên lành thỉnh một thầy về nhà làm lễ an vị và cũng cầu an cho cả gia đình. Sau đó các phật tử có thể tụng niệm hoặc lễ bái trước ban thờ tùy ý của mình.

    Ban thờ đặt tượng bà Quan Âm nên đặt riêng khỏi ban thờ Quan đế, hoặc Thổ địa vì như thế sẽ không gặp được nhiều may mắn. Không nên đặt ban thờ tượng Quan Âm ở chốn đông náo nhiệt như cửa hàng hoặc nơi buôn bán. Vì Phật vốn là thanh tịnh, an yên và tinh khiết. Không nên hướng tượng Phật quay đầu vào phía tường, hướng nhà vệ sinh hoặc phòng ngủ mà nên đặt nơi thoáng rộng, quay ra ngoài càng tốt. Đây chính là cách cúng phật bà Quan Âm mà có thể bạn sẽ quan tâm.

    Lưu ý khi đặt bàn thờ Phật Bà Quan Âm tại gia

    Bên cạnh đó, quý Phật tử cũng cần lưu ý một số điều sau đây khi thỉnh tượng Phật bà quan âm về thờ tại gia:

    – Nên kiểm tra kỹ càng, chớ nên nghe lời người xấu mua tượng với giá thành cắt cổ.

    – Nên chọn mua tượng Phật bà có kích thước vừa với trang thờ để đảm bảo tính cân đối cho không gian thờ.

    – Thường xuyên vệ sinh trang thờ, đảm bảo nước, hoa, nhang đèn đầy đủ.

    Thành tâm là một trong những yếu tố quan trọng nhất khi thỉnh tượng Phật bà quan âm để tỏ lòng thành kính đối với đức Phật.

    Văn khấn Phật Bà Quan Âm tại nhà và cách thờ cúng chuẩn đạo Phật

    “Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật! (Ba lạy)

    – Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

    – Con Nam mô Đại từ, Đại bi, tầm thinh cứu khổ cứu nạn, Linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát.

    – Con xin kính lạy đức Viên thông Giáo chủ thuỳ từ chứng giám.

    Tín chủ con là: …………………………………………….. Tuổi: ……………

    Ngụ tại: …………………………………………………………………………….

    Hôm nay là ngày …… tháng ……. năm …………………….. (Âm lịch)

    Tín chủ con thành tâm đến trước Phật đài, nơi điện Cửa hoa, kính dâng phẩm vật, hương hoa kim ngân tịnh tài, ngũ thể đầu thành, nhất tâm kính lễ dưới toà sen hồng.

    Cúi xin được Đại sỹ không rời bạn nguyện, theo Phật phó chúc trên cung trời Đạo lợi, chở che cứu vớt chúng con và cả gia quyến như thể mẹ hiền, phù trì con đỏ. Nhờ nước dương chi, lòng trần cầu ân thanh tịnh, thiện nguyện nêu cao. Được ánh từ quang soi tỏ, khiến cho nghiệp trần nhẹ bớt, tâm đạo khai hoa, độ cho đệ tử con cùng toàn thể gia quyến ba tháng đông, chín tháng hè luôn được sức khỏe dồi dào, phúc thọ khang ninh, lộc tài vượng tiến, công việc hanh thông, vạn sự tốt lành, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm. Cầu gì cũng được, nguyện gì cũng thành. Tín chủ con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật! (Ba lạy)”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Cúng Lễ Tam Tòa Thánh Mẫu
  • Văn Khấn Cúng Ông Táo
  • Văn Khấn Ngày Giỗ Hết Năm 2
  • Bài Văn Khấn Ông Công Ông Táo 2022
  • Văn Khấn Rước Ông Táo Về Nhà Ngày 30 Tết Bài Cúng Rước Ông Công Ông Táo Về Nhà
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100