Top 19 # Cách Cúng Ghe Đi Biển / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Iseeacademy.com

Phong Tục, Nghi Lễ Của Người Dân Đi Biển / 2023

Sau Tết Âm lịch là những dân bạn biển bắt đầu vào nghề. Nhưng trước đó họ đã chuẩn bị đồ nghề của họ một cách kỹ càng. Vá lưới, lật đít ghe mà sơn sơn phết phết… xem lại dàn đồ câu, lưỡi móc có bén hay không…

Lễ cúng Thần biển ở Tam Kỳ – Quảng Nam

Khi Tết đến, lúc đó là vừa hết mùa Đông, nhưng biển vẫn còn gào thét ầm âm nơi xa. Ba ngày Tết trôi qua, không hẹn mà nên mọi ngư dân từ sông Gianh (Quảng Trị) cho đến Rạch Giá, Kiên Giang đều mong đến ngày làm một buổi lễ long trọng hơn lễ Tết nữa. Người ta gọi là lễ Cúng Ông, hay nôm na hơn là lễ hát Án. Họ hát bội trên sân đình thờ Ông. Ông đây là Nam Hải Đại Tướng Quân… nghĩa là Cá Voi lớn… Nhiều người ngoại quốc, tuy hiểu lờ mờ về buổi lễ này nhưng khi chứng kiến sự thành tâm của ngư dân với một loài cá lớn hơn Voi, mình mẩy đen bóng lưỡng, con mắt thật nhỏ nhưng hiền hòa khác xa mắt cá mập lừ đừ sát nhân. Còn trong khi đó cũng cùng mang danh biển Thái Bình, nước Nhật họ lại săn cá Voi làm thực phẩm thuộc loại cao cấp nhất trong loại cá cho thịt ngon.

Hát chầu Ông, hay hát Án là một nghi lễ đặc biệt cho ngư dân thuộc miền Nam Trung Phần, diễn ra trên sân đình hay lăng thờ Ông. Lễ thường diễn vào tháng 2 hoặc tháng 3 âm lịch. Hát cúng Ông (hay hát Án) gồm cả hát lễ và đóng tuồng tích nếu phường hộ ngư dân nào khá giả, còn nếu nghèo thì chỉ hát lễ mà thôị Nhiều gánh hát thường đi xe ngựa, xe thồ hay cả chiếc xe đò nhỏ đến những nơi mà ngư dân phường ngư nghiệp đặt mối từ năm trước. Một buổi lễ hội mà du khách phương xa khi đến dự, đời đời không bao giờ quên được.Trên xuân đình Xương Huân, duyên hải Nha Trang, hàng trăm người chen chút ngồi xếp bằng, chồm hổm có gió Lào thổi từ núi ra, nóng rát cả mặt… Họ đang say mê xem đoàn hát diễn tuồng tích kéo dài từ 3 ngày qua, từ sáng, đến trưa, rồi sẩm tối. Mệt thì nghỉ, ăn cơm hay ăn chút cháo cá, rồi ra sân đình xem tiếp ít khi phường này mời được 2 đoàn hát đến trình diễn…

Ngư dân tuyệt đối không bao giờ đụng đến chiếc ghe hay chiếc thuyền mà ra khơi, nếu không tham dự lễ cúng đình. Ghe lớn thì lễ hậu, có khi do cả một giòng họ khấn trả lễ… Rồi một đình trưỡng tụ tập tiền lễ này mà mướn đoàn hát làm lễ.

Có khi, trường hợp đặc biệt… Ông lụy… thì cả làng đều phải tiếp người con trưởng mà hành lễ. Người con trưởng, có nghiã là một ngư dân nào đó thấy Ông lụy trước hết… Nghèo ba năm, vì phải cư tang không làm việc… Sau đó Ông trả lại gấp bội phần, đánh chỗ nào thì trúng cá chỗ đó… toàn là cá ngon, đắt tiền.

Từ bãi biển Đại Lãnh đến Cam Ranh (Khánh Hòa) đã có đến 50 lăng thờ Ông… Đi càng xuống phương Nam thì có khá nhiều lăng. Lăng của Ông thường là ba gian. Giữa thờ Ông, bên trái thờ Thiên Y Thánh Mẫu, bên phải thờ bà Vạn Lạch… Phía sau lăng là nơi mộ táng xương Ngài.

Ngày trước, thời Pháp nền kinh tế mần ăn dễ dàng, thuyền ghe ra khơi là có cá, không ai dùng mìn nổ, hay thuốc độc đánh cá… nên chỗ nào cũng có cá. Có làng cúng lễ suốt 7 ngày 7 đêm liên tiếp, hàng quán ăn mọc lên khắp nơi, xe đò xe kéo nhộn nhịp… Ngày chánh lễ cúng Ông, thường do bô lão chọn xem lịch, đôi khi còn xin âm dương… nhưng thường thường chọn giờ nước lên (gọi là nước trào). Thoạt tiên, cả làng ăn mặc tề chỉnh làm lễ rước sắc phong của vua ban từ miếu về đến lăng, làm lễ xong thì rước sắc từ lăng trở về miếu… nơi này có ông từ trông coi miếu ngày đêm. Lương tiền có khi từ vua xuất quỹ làng mà trả, có khi làng mới chưa được vào sổ bộ của triều đình, nên dân làng dóng nhau trả lương cho ông từ giữ miếu. Làng mới lập làm gì có sắc phong… thôi đành… mượn làng kế vậy. Mượn thì phải trả lễ, nói nôm na là trả tiền thuê bằng sắc vậy… Nếu làng kế bên giận… thì rất khó mượn cho kỳ sau, đành làm lễ… trơn vậy thôi. Có nhiều làng ở xa đường xá, nghĩa là ngăn sông cách núi… thì bàu đoàn thê tử phải gồng gánh đến trình diễn buổi lễ, người phải khiêng trống, chiêng, giáo mác, người khiêng rương đựng áo quần sặc sở, phấn son. Người khiêng gồng gánh nồi cơm, ô nước vv… vv… Hát đình rất cực khổ, nhiều nơi đình không ra đình, chùa không ra chùa… chỉ có nóc mà ngói bị gió bão từ khơi thổi mất một khúc, phải giăng màn, ngăn một phần trước cho diễn viên đang múa hát, dàng sau thì đào đang thoa son điểm phấn thì cơn gió mạnh thổi giựt mất tấm màn… lòi ra đào đang đứng sượng trân ngó khán giả, còn khán giả thì cười ngoặt nghẽọ.. có khi gió thổi tốc cả cát biển vào miệng đang hả họng mà hát cho xong một khúc hát ân tình.

Diễn viên thì đủ mọi hạng người, có người làm nông dân, làm rẫy… bị thất bất sang bang, nghe rủ cần đào hát ăn cơm miễn phí thì đồng ý liền. Nhưng đi liền chừng hai năm… thì bị tổ nhập nghiệp không cách chi bỏ nghề được hết rồi có chồng, có con cũng dẫn theo đoàn hát luôn.

Nhưng khi hát trên một sân đình, có tuồng tích hẳn hoi trước báo oán hậu đoàn viên có khi được một sự linh thiêng huyền bí nào đó nhập về hát như say ngũ thì lúc đó dân làng cũng bị hớp hồn luôn, ngó trân trân… chính họ cũng bị ảnh hưởng bởi bầu không khí huyền hoặc. Nhiều điều không thể giảng theo khoa học được… như có lần giữa biển khơi, vào trưa nắng gắt… chân trời không có một chút mây mù gì báo điềm hết, mà bỗng nhiên thiên hồn địa ám, bàn tay xòe ra cũng không thấy được tất cả đen nghịt, bầu ttrời không có và biển cả cũng không có luôn, ghe xuồng tự nhiên được lực vô hình nào đó kéo chạy phăng phăng. Trái tim mọi người như vỡ tung ra… không thở được, phổi bị ép cực mạnh bởi một sức mạnh khôn tả. Niệm Phật, niệm Chúa… vô ích. Rồi sau đó bỗng nhiên bầu trời sáng chói chang về trưa ngọ như cũ thì lưới cá nhiều, trĩu nặng vô cùng… Thuyền công vội vào khoang lấy một loại cũi dầu… đốt cho khói bốc lên cao… đó là kêu những ghe gần đó đến ăn hàng tiếp… trên khơi sóng nước, ghe xuồng tấp nập… Mọi người la hét vui cười, cá về… cá về… cám ơn Ông cho, cám ơn Ông cho… lần sau tụi con… xin cúng lớn cho Ông… Lời hứa luôn luôn được tôn trọng… vì ngư dân họ đã gặp những giây phút kỳ bí ấy rồi, họ không dám giỡn mặt với biển cả ngàn trùng. Núi có Sơn Thần, Biển có Long Vương… vào nghiệp thì phải theo luật pháp của chư vị mới được… không một ai được sai trái.

Tục Lệ Cúng Xuồng, Ghe Nam Bộ / 2023

Người dân Nam Bộ xưa đi lại, mua bán, trao đổi hàng hóa, sinh hoạt cộng đồng chủ yếu bằng phương tiện thủy như: xuồng, ghe. Các phương tiện này có nhiều trọng tải, kích cỡ và cách đóng cũng đa dạng về chất liệu gỗ, thiết kế tùy thuộc vào sở thích của chủ nhân hoặc phụ thuộc và công dụng của chúng. Xuồng thì có loại 3, 5, 7, 9 lá… thường để đi lại trong phạm vi gần. Ghe thì có ghe tam bản, ghe bầu, ghe hàng, ghe buôn…, thường để mua bán và di chuyển ở cự li xa hơn.

Xuồng, ghe gắn chặt và rất thân thiết với đời sống cư dân Nam Bộ do địa hình sông rạch đan xen. Thêm vào đó đối với những người buôn bán trên ghe luôn duy trì tục lệ cùng ghe theo tập quán lưu truyền từ ngàn xưa với sự tin tưởng có một đấng thiêng liêng luôn chở che cho họ buôn may bán đắt, không gặp tai nạn về phươg tiện lẫn con người trên sông, biển, kênh, rạch.

Các ghe hàng mua bán trên sông.

Đại đa số ghe buôn, ghe hàng đều thờ “Bà Cậu” trên ghe và tổ chức cúng ghe vào các ngày 16 và 29 âm lịch mỗi tháng. Về lễ vật nếu như các phương tiện vận tải trên bộ thường cúng gà (tượng trựng cho hoạt động chạy nhảy may mắn) thì cúng ghe phải cúng vịt (tượng trưng cho sự bơi lội, di chuyển thuận lợi trên sông). Mâm cúng gồm vịt luộc với ba chén cháo, một bình trà, một bình rượu và bánh ngọt, có nơi cúng thêm đầu heo tùy theo kinh tế gia đình. Mâm cúng đặt trước mũi ghe, khi tiến hành cúng, chủ ghe đốt nhang cầu nguyện việc mua bán, may mắn, sức khỏe… Về hình tượng “Bà Cậu” có nhiều giai thoại nhưng đa số chủ nghe thường truyền tụng đó là một bà già và hai người con trai chuyên cứu giúp người trên sông nước khi gặp nạn. Để tỏ lòng tri ân các bạn hàng xưa tổ chức cúng vái cầu nguyện Bà và hai cậu con trai luôn phù hộ, giúp đỡ. Và cũng từ đó hình tượng “Bà Cậu” luôn được người đi ghe, xuồng đem ra để răn dạy, cảnh báo với mọi người không được có những hành vi, cử chỉ, lời nói sai trái, không trung thực.

Không biết hư thực thế nào nhưng hiện nay, dân mua bán trên sông rất tin việc mua bán thành đạt như mong đợi khi đang di chuyển bắt gặp chó lội ngang sông và ở trước mũi ghe. Ngược lại việc mua bán sẽ khó khăn khi gặp rắn hay ngỗng lội ngang. Ban đêm, canh ghe xuất hiện đom đóm thì chuyến mua bán ấy sẽ thuận lợi.

Một chiếc ghe đang chở khách trên sông Cần Thơ.

Về tục cúng ghe ở Nam Bộ cũng khá phong phú nhưng có nét tương đồng cao. Để chuẩn bị đóng ghe mới, bao giờ chủ nhà cũng cúng vái miếng ván gỗ đầu tiên gọi là tục cúng “gim lô”. Trên đó là mâm đồ cúng tương tự như mâm cúng hàng tháng của chủ ghe, nhưng có kèm theo một tấm vải đỏ tượng trưng cho sự may mắn. Miếng ván gỗ “gim lô” phải dầy hơn các miếng gỗ tiếp theo. Sau khi hoàn thành chiếc ghe, chủ nhà phải thu hồi lại các cây đinh đã đóng trên miếng “gim lô”, thợ đóng ghe phải “xảm” vào đó các cọc gỗ khác tương ứng. Tục truyền rằng, nếu mất mấy cây đinh ấy thì sẽ bị nhiều điều xui xẻo.

Một tập tục cúng ghe khác rất phổ biến là cúng “lên nề” có nghĩa là kéo ghe lên bờ để sửa chữa, làm mới… Hình thức cũng tương tự như lễ nghi cúng hàng tháng.

Về cúng ghe để xuất hành buôn bán đầu năm thường có hai hình thức. Một là nếu chủ ghe chọn được ngày tốt nhưng vì một nguyên nhân nào khác chưa xuất hành được thì bày lễ vật trên bờ, sau đó cho ghe chạy qua, chạy lại nơi đặt mâm cúng ba lần, sau đó xuất hành ngày nào thì tùy ý. Hai là nếu xuất hành luôn thì không làm động tác như trên mà sau khi cúng xong xuất hành ngay.

Thường thì sau tục lệ cúng ghe, chủ ghe mời các ghe đậu lận cận sang uống rựơu, đờn ca tài tử, bàn bạc chuyện buôn bán làm ăn cho chuyến đi tới.

Ngày nay các phương tiện vận tải đường bộ, đường hàng không phát triển rầm rộ, thay thế dần các phương tiện vận chuyển đường thủy. Tuy vậy vẫn còn khá nhiều ghe xuồng lưu thông trên sông nước Nam Bộ tạo sắc thái và hình ảnh riêng cho châu thổ sông Cửu Long. Và tục cúng ghe Nam Bộ vẫn được người dân duy trì cho đến hôm nay như là một tập tục văn hóa tâm linh dân gian truyền thống.

Bài và ảnh: Tam Anh

Hình Tượng “Bà Cậu” Và Tục Cúng Ghe Ở Miền Tây / 2023

Đại đa số ghe buôn, ghe hàng đều thờ “Bà Cậu” trên ghe và tổ chức cúng ghe vào các ngày 16 và 29 âm lịch mỗi tháng. Về lễ vật, nếu các phương tiện vận tải trên bộ thường cúng gà (tượng trưng cho hoạt động chạy nhảy mau mắn) thì cúng ghe phải cúng vịt (tượng trưng cho sự bơi lội, di chuyển thuận lợi trên sông).

Mâm cúng gồm vịt luộc với ba chén cháo, một bình trà, một bình rượu và bánh ngọt, có nơi cúng thêm đầu heo tùy theo kinh tế gia đình. Mâm cúng đặt trước mũi ghe, khi bắt đầu cúng, chủ ghe đốt nhang cầu nguyện việc mua bán, may mắn, sức khỏe…

Về hình tượng “Bà Cậu” có nhiều giả thuyết, nhưng đa số chủ nghe thường truyền tụng đó là một bà già và hai người con trai chuyên cứu giúp người trên sông nước khi gặp nạn. Để tỏ lòng tri ân, các bạn hàng xưa tổ chức cúng vái cầu nguyện Bà và hai cậu con trai phò hộ, giúp đỡ. Hình tượng “Bà Cậu” còn được người đi ghe xuồng đem ra cảnh báo trừng phạt đối với những hành vi, lời nói sai trái, không trung thực.

Có những “điềm báo” chẳng biết dựa trên nền tảng tâm linh nào, chẳng hạn việc mua bán sẽ thành đạt nếu trong khi di chuyển bắt gặp chó lội ngang sông và ở trước mũi ghe hoặc ban đêm trong khoang ghe xuất hiện đom đóm; việc mua bán sẽ khó khăn khi gặp rắn hay ngỗng lội ngang…

Tục cúng ghe ở Miền Tây khá phong phú, mặt khác lại có một số nét tương đồng. Để chuẩn bị đóng ghe mới, bao giờ chủ nhà cũng cúng vái miếng ván gỗ đầu tiên, gọi là tục cúng “gim lô”. Trên đó là mâm đồ cúng tương tự mâm cúng hàng tháng của chủ ghe nhưng có kèm theo một tấm vải đỏ tượng trưng cho sự may mắn. Miếng ván gỗ “gim lô” phải dày hơn các miếng gỗ tiếp theo.

Sau khi hoàn thành chiếc ghe, chủ nhà phải thu hồi các cây đinh đã đóng trên miếng “gim lô”, thợ đóng ghe phải “xảm” vào đó các cọc gỗ khác tương ứng. Tục truyền rằng nếu mất mấy cây đinh ấy thì sẽ bị nhiều điều xui xẻo.

Khi kéo ghe lên bờ để sửa chữa hoặc đại tu, người dân cúng “lên nề”, nghi thức cũng tương tự lễ nghi cúng hàng tháng. Cúng ghe để xuất hành buôn bán đầu năm, chủ ghe phải chọn ngày. Nếu đã chọn được ngày tốt nhưng vì một nguyên nhân nào đó chưa xuất hành được thì bày lễ vật trên bờ, sau đó cho ghe chạy qua chạy lại nơi đặt mâm cúng ba lần, rồi xuất hành ngày nào thì tùy ý.

Sau nghi thức cúng ghe, chủ nghe mời các ghe đậu lân cận sang uống rựơu, đờn ca tài tử, bàn bạc chuyện buôn bán làm ăn cho chuyến đi tới. Tục cúng ghe ở đồng bằng sông Cửu Long được xem là một tập tục văn hóa tâm linh, gắn chặt trong đời sống dân gian truyền thống đã vài trăm năm.

Các Lễ Cúng Của Ngư Dân Vùng Biển Bình Định / 2023

Hằng năm ngư dân vùng biển Bình Định có rất nhiều lễ cúng, nhằm mục đích cầu quốc thái dân an, ra khơi vào lộng bình yên vô sự, thuyền cao sõng thấp cá về đầy khoang, đi khơi gặp đống, đi lộng gặp tía, cầu trời êm biển lặng để mọi người trong ao bổ lưới, ngoài dời giăng câu, ngày lặng nhiều hơn ngày động gió, lốc tan mau để ngư dân bám biển.

Thuyền neo trên đầm Đống Đa, Quy Nhơn (ảnh: Cát Hùng)

Cũng như nông dân, họ cầu trời mưa thuận gió hòa, đồng xanh lúa tốt, được mùa quanh năm để cuộc sống ấm no hạnh phúc. Vì vậy các lễ cúng của bà con ngư dân ngày xưa rất đa dạng. Khi được thì cúng mừng, khi mất thì cúng cầu. Và đây cũng là đặc trưng của người làm cá trên biển khơi của cả ngư dân khắp nước. Họ quan niệm đây là cái nghề “sống ở dương gian làm nghề hà bá (âm phủ)” thường là nó không theo ý muốn và hành xử của con người. Sự rủi may cũng không nằm trong tầm tay con người, cho nên họ tin vào hên xui, thời vận và việc đó (họ nghĩ) có một mãnh lực vô hình sắp đặt ban cho.

Những lễ cúng nầy được cụ thể hóa sau đây:

Ở biển, mỗi loại nghề hay vạn nghề đều có một lăng vạn (ví dụ: lăng vạn nghề lưới cao, nghề mành chà, nghề lưới chuồn…). Lăng vạn vừa là nơi nhóm họp trụ sở của các loại nghề, vừa là nơi thờ tự Ông Nam Hải và các vị thần phù giúp cho nghề đi biển. Vạn nào, làng nghề nào được cá Ông vào chết (tức Ông Lỵ) thì vạn ấy được ưu tiên tổ chức chôn cất và cúng giỗ vào ngày ấy theo lịch giỗ hàng năm. Có vạn làm ăn khá giả ngày giỗ Ông, ngoài chinh, cổ, nhã, nhạn còn có văn tế, có chánh tế và bầu tế, bốn học trò gia lễ cúc cung dâng hương, hoa, trà, tửu. Và cũng ngày này, có vạn rước đoàn chèo bá trạo, hay hát bội hát vài ba lớp tuồng, trước là cầu ngư hầu thần, sau đem lại sự vui vẻ, an lạc trong bổn vạn. Họ quan niệm, năm nào có hát có chèo bổn vạn, làng xóm mới trù phú, thanh bình, nhà nhà vui vẻ, người người ấm no.

Các loại nghề, cuối năm hoặc mãn mùa năm qua, nay đã chỉnh trang sửa soạn xuống nước ra quân cho vụ mùa tới, lưới được giặt sạch nhuộm kỹ, xem ngày giờ đại lợi (tốt) chở xuống nghe, để ngày sau khởi sự đi làm. Thế thì chiều hôm trước, người ta biện một lễ cúng thật tươm tất, chủ thuyền là chủ lễ. Trong lễ cúng nầy có hai mâm cúng, một để cúng Bà Thủy, thường là bình bông đĩa quả, đĩa bánh, bốn chén chè, một đĩa xôi, một con gà giò luộc ở độ vùa chín (để sau cúng cắt riêng bộ giò đem biếu thầy đón thời vận), một xị rượu trắng, tất cả mâm cúng nầy được đặt trước mũi thuyền. Một mâm nữa được đặt ở giữa thuyền để cúng Quý Bác là những người đi biển chết sóng, chết gió, vì thiên tai nghề biển, bị mất hình, mất xác trôi sông lạc biển mời họ về thọ lễ cúng và phù hộ cho bổn chủ và đồng nghiệp được bình an, may mắn trong mùa vụ sắp ra quân. Lễ cúng thường là cặp gà trống luộc, thịt heo, chè xôi, bánh trái và không thiếu hương, hoa, trà rượu. Có chủ nghề cúng bộ thủ, vĩ heo (gồm đầu, nọng, bốn chân và đuôi heo). Cúng xong người chủ lễ lấy một cành bông nhỏ nhúng vào ly rượu cúng Bà rảy khắp cả ghe nghề, còn lại tưới trên sỏ mũi, để tẩy uế trước giờ ra khơi. Tất cả anh em chủ bạn cùng đi làm trên ghe xúm lại bày dọn và cùng nhau thụ tàn vui vẻ. Và sau đó phương án ăn làm cùng với cách chia chác được bàn kỹ để mọi người thuận thảo cho mùa làm ăn đi vào nề nếp.

* Lễ cúng tạ:

Sau một mùa biển, dù thế nào, hoặc những chuyến biển đạt nhiều kết quả, hoặc gặp sự khó khăn do trời biển gây nên mà họ về lại bến bờ an toàn, đều có lễ cúng tạ ông bà ngoài biển cùng các vong hồn uổng tử phù hộ. Nên lễ này thường cúng cả con gỏi (tức trọn một con heo). Sau cúng, họ sẽ mời những bạn đồng nghiệp ân nhân và bà con hàng xóm đến chia vui, chúc mừng.

Thường thì trong thời gian trời động gió, dân biển phải nghỉ biển nhiều ngày, hoặc nghỉ vì trăng sáng quá (khoảng 12-19 âm lịch hàng tháng). Những ngày nghỉ này cũng là những ngày lo tu bổ lưới chài, sơn sửa ghe thuyền, để chuẩn bị tối trời lại ra khơi, nên ngày ra đi cũng lo làm lễ cúng mở biển đơn giản trước khi ra cửa biển.

Lễ cúng gồm có hương hoa, trầm trà, rượu, 2 con gà giò luộc, chè, xôi, y áo, vàng bạc, giấy tiền (đồ vàng mã). Hai con gà luộc, một để cúng bà thủy, một để cúng bà mộc (ghe thuyền), cúng xong mới lấy neo khởi hành.

Các điều kiêng kị khi mở biển như: mọi việc phải làm thông suốt, không để quên và vướng vấp điều gì, không để một ghe xuồng nào khác chạy qua mũi, nhất là ghe đò, tránh nói những từ bất lành như: lỗ, hao, mất, tuốt; không lo âu buồn bã và khi neo lần đầu phải neo cho ăn chắc một một lần là được.

Sau khi từ những thớt lưới lẻ tẻ kết lại đã thành vàn lưới, mành, có thểđưa ra biển đánh bắt, được người ta gọi là sương lưới. Trong việc nhuộm và sương lưới, ngư dân thường chọn ngày tốt, tránh các ngày sát chủ, đại hao, phục đoạn, tam nương. Tối kị những người có tang và mang khăn tang. Và cũng như sau khi đã nhuộm xong một vàn lưới hay vàn mành, người ta thường tổ chức lễ cúng tạ để mừng, coi như hoàn thành một công việc lớn (khánh thành). Sau đó, những người có công giúp việc cùng chung vui hầu tàn. Vật cúng, ngoài hương hoa, trà rượu ra, có đầu heo, chè xôi, bánh, trái cây, còn có con gà giò luộc để sau khi cúng đem bộ giò ra thầy đoán những điều báo trước.

Khi đóng ghe thuyền đi làm biển, quan trọng nhất là chọn ngày giờ dựng sỏ, cũng như khi làm nhà thì ngày giờ gác đòn dông rất quan trọng vậy. Người chủ ngoài việc chuẩn bị mọi thứ cho việc đóng ghe, còn phải đến tìm thầy xem chọn ngày giờ, để dựng sỏ ghe, rồi sau đó mọi việc mới tiếp tục làm. Ngày dựng sỏ còn tính đến hai ngày tối tối kị của nghề biển là: long thần hành và bát phong. Vật phẩm để cúng thì đơn giản, chỉ có hương hoa, trà qua, bình rượu trắng, bộ y áo cúng bà mộc. Người thợ cả, không vướng vào việc tang chế, được chít khăn đỏ trên đầu, cầm rìu vạt miếng dăm đầu tiên trên cây sỏ, đúng vào giờ trong ngày đã quy định. Khi sỏ được dựng, trên đầu sỏ được phủ tấm vải đỏ cột chặt cho đến khi xong ghe.

* Lễ cúng mừng ghe (hay lễ hạ thuyền):

Khi ghe thuyền đóng xong, chủ ghe chọn ngày giờ đẩy xuống nước, và ngày ấy cũng là ngày làm lễ cúng mừng ghe mới (khánh thành). Lễ này rườm rà hơn vì phải trước cúng cô bác đã phù hộ, gọi là trả lễ, sau nhờ bà con trong làng xóm giúp đẩy với chủ để đưa ghe xuống nước, nên có hai món phải sắm hơi nhiều là: thịt và rượu. Mâm cỗ càng lớn thì lực đẩy càng mạnh, nên người đóng ghe lớn rất quan tâm đến điều ấy. Lễ cúng này ngày trước người ta đốt rất nhiều pháo, và khi pháo nổ càng giòn giã là sức đẩy càng mạnh, và mọi người vui mừng khen ngợi chủ thuyền gặp nhiều sự may mắn.

Lễ cúng này thường tổ chức vào cuối vụ mùa, cho dù làm ăn trong mùa có khấm khá hay thất thu, người ta cũng lo cỗ cúng trên bãi biển, nơi mà họ thường làm chỗ sương lưới, nhuộm lưới và phơi lưới hằng ngày. Đây là lẽ cúng để trả lễ các cô hồn các đẳng là những người đã chết vì tai trời ách nước ngoài biển, có người không còn thây xác về lại quê nhà, rất linh, nên khi có chuyện gì cầu khẩn, dân biển đều van vái các vị này. Tùy theo sự thu nhập trong vụ mùa mà lễ cúng nhiều hay ít. Nếu thu nhập khá thì cỗ cúng có cả heo luộc chín và làm các món, chỉ luộc để nguyên bộ thủ vĩ (đầu đuôi và 4 chân). Còn thu hoạch vừa thì đôi ba chú gà và ít thịt heo (và cũng tùy theo giàn bạn đông hay ít). Và thu nhập thấp thì cũng có khi ngồi bãi với người ta bằng cỗ cúng đơn giản với hương hoa, trà quả, chè xanh.

Hằng năm, các loại nghề đều cúng vào thời điểm cuối mùa, khi trời bắt đầu trở gió, dân biển chỉ ngồi nhà ngó ra ngoài khơi mà thôi.

. Trần Xuân Toàn

Điều cần nói thêm là các lễ cúng của ngư dân vùng biển Bình Định đều không sử dụng phụ nữ trong các việc nấu nướng, sắp dọn và ăn uống, trừ trường hợp đồ nấu ấy nấu tại nhà, nhưng đến khi bưng gánh xuống ghe thuyền thì cũng phải đàn ông lo hết các việc.