Cúng Dường Người Đã Khuất

--- Bài mới hơn ---

  • Thừa Thiên Huế: Chùa Từ Lâm Tổ Chức Pháp Hội Trai Tăng Cúng Dường
  • Hướng Dẫn Cách Xem Ngày Tốt Chuyển Nhà Trong Năm 2022
  • Chọn Ngày Tốt Về Nhà Mới Theo Tuổi 2022
  • Cách Bày Mâm Cúng Mùng 1, 2, 3 Đúng Nhất Để Có Một Năm Mới Bình An, Thuận Lợi ~ Ẩm Thực Thông Thái
  • Hướng Dẫn Cúng Rằm Trung Thu Đúng Phong Thủy?
  •  

     

    Thực ra việc cúng 7 thất chỉ có ở một số quốc gia, như Trung Hoa, Việt Nam, chớ không phải ở toàn thể các nước theo Phật giáo. Tuy nhiên, chúng ta có thể duy trì những cuộc lễ nầy như những cơ hội tốt để người Phật tử làm mười điều tạo phước báu, nhứt là bố thí cúng dường, lợi ích cho mình, cho người hiện tiền và quá vãng.

     

    Thường thì người còn sống tổ chức nấu nướng những món ăn, thức uống thịnh soạn để cúng người quá vãng, họ tin tưởng rằng người quá cố sẽ trở về thọ hưởng những vật thực họ cúng. Việc làm nầy như thế nào đứng trên quan điểm của Phật giáo? Chúng ta nên đọc lại trong kinh tạng, xem Ðức Phật dạy như thế nào. Kinh Tăng Chi Bộ, Chương Mười Pháp, III, 177, Phẩm Jànussoni có ghi lại cuộc đối thoại giữa Ðức Phật với Bà la môn Jànussoni cho biết không phải lúc nào sự cúng dường cũng đến được với người đã khuất.

     

    Một lần nọ, Bà la môn Jànussoni đến bạch hỏi Ðức Thế Tôn. Ðại ý như sau:

     

    – Bạch Tôn giả Gotama, chúng tôi là các Bà la môn chuyên làm các lễ cúng những người chết với mục đích mong rằng sẽ đem lại lợi ích cho người chết. Thưa Tôn giả Gotama, việc chúng tôi cúng người chết như vậy thật sự có lợi ích không ? Những người đã chết rồi có thọ hưởng được của bố thí cúng dường của thân nhân không ?

     

    Ðức Phật trả lời:

     

    – Nầy Bà la môn, nếu việc cúng dường người đã khuất đó có tương xứng xứ thì mới có lợi ích. Ngược lại nếu không có tương xứng xứ thì không có lợi ích cho người chết.

     

    – Thưa Tôn giả Gotama, thế nào là tương xứng xứ? Thế nào là không tương ứng xứ?

     

    – Nầy Bà la môn, ai sống sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời vô ích, có tham ái, có sân, có tà kiến, sau khi mạng chung sanh vào địa ngục. Tại đây, y được nuôi sống và tồn tại bằng thức ăn của địa ngục. Cúng thức ăn của con người là không tương xứng xứ. Vị nầy không hưởng được lợi ích gì từ thức ăn của người thân thuộc cúng kiến.

     

    Cũng vậy, Ðức Phật giảng giải thêm rằng một người do làm mười điều ác như trên, sau khi thân hoại mạng chung, người nầy sanh vào loài bàng sanh. Tại đây, y được nuôi sống và tồn tại bằng thức ăn của loài bàng sanh. Do đó, không tương xứng, khi thân quyến đem thức ăn của con người để cúng quải, sẽ không được lợi ích gì từ thức ăn của người thân cúng .

     

    Với những người khi sống biết tu tập mười nghiệp lành: từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ sống tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không tham ái, không sân hận, có chánh kiến, sau khi chết được tái sanh làm người, hoặc có phước báu hơn thì tái sanh làm chư Thiên, thì tại đấy, tùy theo là con người, hoặc là chư Thiên, họ có thức ăn riêng ở cảnh giới đó để nuôi sống họ. Cả 2 trường hợp nầy đều là không tương ứng xứ. Họ không  thọ hưởng sự bố thí, cúng dường của người thân còn hiện tiền.

     

    Kế tiếp Ðức Phật cho biết: đối với người nào từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, có tham ái, có sân, có tà kiến, sau khi chết tái sanh vào cõi ngạ quỷ. Chỉ riêng một loài ngạ quỷ mới có thể thọ hưởng sự bố thí cúng dường thức ăn uống của bạn bè, bà con. Món ăn nào mà thân quyến hiến cúng cho ngạ quỷ thì họ sẽ hưởng được món đó. Ðây là trường hợp tương xứng duy nhứt.

     

    Sau khi Ðức Phật giải thích như thế, Bà la môn Jànussoni tiếp tục hỏi: nếu bà con huyết thống đã chết ấy không sanh vào loài ngạ quỷ thời ai sẽ hưởng việc bố thí cúng dường đó ?

     

    – Nầy Bà la môn, các bà con huyết thống khác đã chết nay đang ở cảnh giới ấy sẽ thọ hưởng.

     

    Bà la môn Jànussoni lại hỏi tiếp:

     

    – Thưa Tôn giả Gotama, nếu cả dòng họ bà con huyết thống của người cúng, không một ai tái sanh vào ngạ quỷ thời ai sẽ hưởng việc bố thí cúng dường ấy?

     

    Ðức Phật trả lời:

     

    – Không có trường hợp nầy, rằng chỗ ấy có thể trống không trong một thời gian dài mà không có một ai trong huyết thống bị tái sanh vào đó. Nhưng nầy Bà la môn, người bố thí vẫn hưởng quả tốt.

     

    Sau đó, Ðức Phật dạy thêm về phước báu của sự bố thí.

     

    Ngài dạy rằng người nào trong đời sống tuy có sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, có tham, có sân, có tà kiến, nhưng lại biết bố thí cho Sa môn, cho Bà la môn, các món ăn thức uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Người ấy sau khi mạng chung sẽ sanh vào loài voi, nhưng là con voi được ăn uống, chăm sóc và trang phục đầy đủ. Nếu sanh làm ngựa, bò hay các loài gia cầm khác thì vẫn thọ hưởng đầy đủ đồ ăn uống, được chăm sóc và đeo vòng hoa, đầy đủ đồ trang phục, tương xứng với phước duyên bố thí của họ khi còn làm người.

     

    – Ðối với những người đầy đủ mười hạnh lành như từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ sống tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ lời phù phiếm, từ bỏ tham ái, từ bỏ sân, có chánh kiến, lại còn biết trau dồi hạnh bố thí, cúng dường các Sa môn, Bà la môn các món ăn, thức uống, vải mặc, xe cộ, các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Sau khi thân hoại mạng chung, người nầy sanh làm người, được hưởng năm dục công đức của loài người, hoặc được sanh làm chư Thiên và tại đấy được hưởng năm dục công đức của chư Thiên.

     

    Cuối cùng Ðức Phật xác định người bố thí đương nhiên có kết quả, chứ không phải không có kết quả.

     

    Tóm lại, bài kinh nầy cho chúng ta biết rằng chỉ có chúng sanh ở cõi ngạ quỷ, trong một giới hạn nào đó, mới có thể thọ hưởng những gì người sống bố thí cúng dường.

     

    Trong kinh Singàlovàda Ðức Phật dạy người con phải làm tròn 5 bổn phận. Phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già, làm công việc thay thế cha mẹ, gìn giữ truyền thống tốt đẹp của gia đình, tỏ ra xứng đáng thọ hưởng di sản của ông cha và điều cuối cùng là đặt bát cúng dường Tam bảo, hồi hướng phước báu đến những thân nhân quá vãng. Không phải chỉ tổ chức cúng dường hồi hướng phước trong tang lễ, mà còn phải tinh tấn tu tập, làm nhiều việc lành trong suốt cuộc sống, và trong những dịp giỗ, hoặc bất cứ khi nào thuận tiện cũng phải tạo cơ hội để làm nhiều phước sự và hồi hướng đến người đã mất.

     

    Trong dân gian, do tập nhiễm những tục lệ lỗi thời lâu đời của Trung Hoa xưa, thay vì làm phước đúng theo pháp để hồi hướng cho người quá cố, người ta phung phí tiền bạc mua các loại vàng mã đốt cúng người chết. Ngày nay với kỹ thuật hiện đại người ta in những đồng dollars Mỹ, rất giống tiền thiệt, để cúng người chết, phải nhìn thật kỹ mới biết đó là tiền giả. Trên thế gian nầy tiền nước nào thì phải do ngân hàng chính phủ nước đó in ấn phát hành. Giấy bạc nào không do ngân hàng của nước đó phát hành thì xem như bất hợp pháp. Việc lưu hành và sử dụng tiền giả là một trọng tội. Giả sử ở cảnh giới mới, người thân của chúng ta sử dụng được tiền của chúng ta đốt cúng đó, thì có phải người thân quá vãng của chúng ta sẽ phạm tội của luật pháp nơi cõi đó hay không. Người ta cũng có thể làm được những nhà cửa, tivi, thẻ tín dụng, telephone, các vật dụng khác .v.v… trông như thật, thậm chí làm những hình người rất đẹp đốt cúng người chết xem như để cưới vợ cho con của mình đã chết. Giả sử người đã khuất sẽ nhận được một tivi, một chiếc xe hơi, telephone, hay các vật dụng khác .v.v…, tất cả đều là cái vỏ không có ruột, không có máy móc bên trong, không có nhiên liệu, không pin, không điện v.v… họ có thể sử dụng được hay không ? Hay là một người vợ bằng giấy, chỉ có da, không có lục phủ ngũ tạng, không có thần kinh, không máu .v.v…thì có lợi ích gì cho người chết hay không ?

     

    Lại nữa thông thường người Việt chúng ta khi nghĩ đến người thân quá vãng, nhứt là lúc họ vừa mới qua đời, chúng ta chỉ nghĩ đến việc cúng dường thức ăn thôi. Làm sao nấu nướng và dọn lên bàn những thức ăn ngon, mâm cao cổ đầy để cúng người quá vãng, mà chúng ta không nghĩ đến phần tinh thần. Chúng sanh vừa cần đến đời sống vật chất mà cũng cần đến đời sống tinh thần. Chúng ta nên phân biệt về sự cúng tế của nhân gian và cách tạo phước để hồi hướng, phù hợp với lời dạy của Ðức Phật. Sự tạo phước của người Phật tử không thuần là lễ nghi. Lễ nghi chỉ làm đẹp, làm trang nghiêm, làm cho tâm chúng ta hoan hỷ thêm, nhưng điều cốt yếu là chúng ta tạo những phước lành. Ðức Phật dạy chúng ta những pháp mà khi thực hành chúng ta tạo ra những phước báu, để rồi chúng ta đem những phước báu đó hồi hướng cho người quá vãng. Ðó là mười phước nghiệp sự, tạo phước báu bằng: bố thí, trì giới, tu thiền, cung kính, phục vụ, thính pháp, thuyết pháp, hồi hướng phước, tùy hỷ phước, cải thiện tri kiến.

     

    Trong việc tạo phước hồi hướng đến người quá vãng, từ ngàn xưa trong truyền thống Phật giáo, chúng ta thường quan trọng trong việc để bát, trai tăng. Chẳng hạn vua Bimbisàra nằm mộng thấy thân nhân bị khổ quả đói lạnh, vua đến bạch hỏi Thế Tôn. Ðức Ðiều Ngự bi mẫn chỉ dạy cách tạo phước hồi hướng các vong linh thoát ly mọi khổ ách, được sanh vào cõi chư Thiên. Hay là chẳng hạn, Tôn giả Sariputta gặp một ngạ quỷ thân mình trần truồng, hình dung xấu xí, gầy guộc và thân thể nổi gân, người yếu ớt, xương sườn lộ rõ, trong kiếp thứ năm về trước đã là mẹ của ngài Sariputta. Chồng của ngạ quỷ nầy trong kiếp đó là đại phú gia thường xuyên bố thí cúng dường thực phẩm, y phục, sàng tọa, nhiều vật dụng đến người nghèo, du sĩ, lữ khách, hành khất và nhất là các Sa môn, Bà la môn. Vị đại phú gia nầy dặn vợ mỗi khi ông vắng nhà, bà nên bố thí, cúng dường rộng rãi như vậy. Mặc dầu bà đã hứa với chồng, bà sẽ giúp đỡ, bố thí rộng rãi như lời ông căn dặn, nhưng khi ông đại phú gia đi vắng thì bà cắt giảm tục lệ cúng dường chư Tăng. Ðối với các khách lỡ đường đến xin tạm trú, bà chỉ cho ở túp lều xiêu vẹo bị bỏ phế sau nhà. Khi đám du sĩ đến xin thực phẩm nước uống và các thức ăn khác, bà thường buông lời nguyền rủa như: hãy ăn phân đi! Hãy uống nước tiểu đi! Hãy uống máu đi! Hãy ăn óc của mẹ ngươi đi! Do ác hạnh nầy, sau khi từ trần bà tái sanh làm nữ ngạ quỷ có thân hình đáng ghê như trên. Nữ ngạ quỷ nầy than với tôn giả Sariputta, do ác nghiệp đã tạo, nữ ngạ quỷ phải ăn hoặc uống những thứ gì từ sự nôn tháo, bọt mồm, nước mũi, nước đờm dãi, chất mỡ rỉ ra từ xác chết bị thiêu, máu sản phụ lâm bồn, máu mủ của các loài thú và máu của người nam người nữ. Ngạ quỷ phải ăn tất cả những gì cấu uế khác trong người nam và người nữ, mặc dầu vậy vẫn đói khát vô cùng. Lại nữa, không nơi cư trú, không nhà cửa, chỗ nằm là chiếc giường đen ở nghĩa địa.

     

    Nữ ngạ quỷ thỉnh cầu tôn giả cúng dường chư Tăng, tạo phước bố thí hồi hướng để từ đó ngạ quỷ giải thoát khỏi cảnh khổ phải ăn uống dơ bẩn, và đày đọa như vậy. Hôm sau, tôn giả Sariputta, cùng với tôn giả Moggallanà (Mục Kiền Liên), Anurudha (A na luật đà), và Kappina (Kiếp tân na) đến gặp vua Bimbisàra (Tần bà sa). Tôn giả Mục Kiền Liên trình bày những việc xảy ra về nữ ngạ quỷ nầy. Nghe xong, sau đó vua cho xây 4 am thất, có đủ bóng mát và nước. Sau khi am thất được hoàn tất, nhà vua đem chúng cùng các vật dụng cần thiết trong cuộc sống cúng dường tôn giả Sàriputta. Tôn giả nhận xong, đem dâng đến tất cả chư Tăng có Ðức Phật làm thượng thủ, và hồi hướng phước đến nữ ngạ quỷ nhờ vậy nữ ngạ quỷ liền tái sanh lên thiên giới thân hình đẹp đẽ, có đầy đủ thức uống, thức ăn, lẫn áo quần. (xem chú giải Ngạ Quỷ Sự, Chương II, chuyện ngạ quỷ Mẹ Xá Lợi Phất)

     

    Một số người chỉ lo tạo chùa to tượng lớn, nhưng lãng quên, hoặc xem nhẹ việc đào tạo tăng tài và làm sao duy trì Tăng đoàn.Vận mạng Phật giáo không nằm ở chùa to, Phật lớn, những cái nầy rất cần nhưng vẫn là việc phụ. Phật Pháp tồn tại và hưng thạnh nằm ở đạo cao đức trọng của tập thể chư Tăng. Tăng tài có thể tạo ra chùa lớn và gìn giữ giáo pháp lâu dài. Chớ chùa lớn không tạo ra chư Tăng. Việc bố thí cúng dường cho tập thể quan trọng hơn cá nhân. Nếu không có sự cúng dường của thiện tín thì chư Tăng Ni phải lo cái ăn mặc …không có thì giờ, không thể an tâm tu tập, học pháp, hành pháp, hoằng pháp. Từ đó không có người gìn giữ giáo pháp và hoằng pháp, Phật Pháp sẽ mai một, suy đồi. Một khi nền tảng đạo đức suy đồi thì người làm ác sẽ gia tăng, xã hội sẽ bất ổn. Lúc đó chúng sanh sẽ sống bất an, đau khổ gia tăng. Do vậy, một chén cơm, một bộ y, một trú xứ thích hợp, một viên thuốc mà người thiện tín cúng dường đến Tăng già có ý nghĩa bảo vệ Phật Pháp, bảo vệ an ninh cho mọi người. Thế thì, việc cúng dường trai tăng quả là có phước báu vô lượng, đem lại an vui cho mình, cho người, cho muôn loài. Việc bố thí cúng dường quan trọng không phải ở số lượng lễ vật nhiều và sang trọng mà cốt yếu ở tấm lòng. Tấm lòng vì mình, vì người, vì an vui của muôn loài. Vật thí phải hợp đạo tức là không do sự trộm cắp, không do tà mạng. Một vật thí hợp đạo đó nếu được xuất ra với tấm lòng, đó là một hành động sống vị tha.

     

    Sống vị tha là sự vĩ đại. Một người biết mở lòng mình ra bao trùm đến tha nhân thì tâm của họ không chật hẹp, tù túng. Một đại nhân là người sống bằng cái tâm bao trùm đại thể, sống biết mình mà cũng biết người. Người như vậy thì tâm của họ rất nhẹ nhàng, rất an vui, đây là nguồn phước báu vô vàn. Trái lại, một người sống chỉ biết mình thôi thì có thể còn tệ hơn loài bàng sanh. Một người sống bằng tâm trạng ích kỷ hẹp hòi, không biết tùy hỷ với việc tốt của người thì khi chết rất khó nhận được phước báu của người khác hồi hướng cho mình. Bởi vậy biết bố thí, cúng dường, san sẻ cho kẻ khác là phước báu lớn lao. Chúng ta tổ chức một buổi lễ trai tăng trang nghiêm đó là lễ cúng dường rất tốt. Những khi khác không có chư Tăng, chúng ta nên san sẻ những gì chúng ta có cho một người nghèo đói đang thực sự cần những thứ đó, đấy là việc làm đặc biệt quý báu. Thậm chí thực phẩm mình cho chim hay những con vật khác ăn cũng là một điều chúng ta nên làm và làm thường xuyên để hồi hướng cho người đã khuất.

     

    Một nếp sống đạo đức, có giới hạnh là một hạnh phúc cho chính mình mà cũng là một niềm an lành cho xã hội, cho chúng sanh, một phước báu lớn, nếu được hồi hướng là điều vô cùng thanh cao và lợi ích. Hành thiền, giữ chánh niệm tỉnh giác là phước báu cũng rất lớn. Trong đời sống, biết cung kính quý trọng, biết phục vụ tha nhân là phước báu quan trọng có thể hồi hướng được. Thấy người khác được hoan hỷ, chúng ta tùy hỷ với họ cũng là một phước báu vô lượng. Người mà biết tùy hỷ với người khác thì sau nầy người khác hồi hướng cho mình, mình mới có khả năng nhận được phước hồi hướng. Bây giờ nếu mình không tùy hỷ với người khác, sau nầy khi có ai hồi hướng cho mình, mình không khả năng nhận được, vì mình đã không biết tùy hỷ. Nghe Pháp, nói Pháp, giúp người khác những ý kiến đem lại hạnh phúc chân thật và lâu dài, hoặc giả một khóa lễ tụng kinh cho mình và người khác nghe và cho phi nhân nghe để sống hợp với Pháp và cải thiện tri kiến là những phước báu khác cũng vô cùng cần thiết để hồi hướng cho người quá vãng. Chúng ta có thể làm, làm hoài vì lợi ích cho chính mình và cho người hiện tiền lẫn người quá vãng. Làm phước hoài mà không bao giờ thấy đủ và khi làm xong chúng ta hồi hướng đến tất cả. Một ngọn nến nếu được mồi cho ngọn nến khác, ngọn lửa nơi ngọn nến ban đầu vẫn còn sáng, nhưng thêm ngọn lửa nơi ngọn nến thứ hai sẽ làm ánh sáng trong phòng tăng thêm. Nếu mồi cho nhiều ngọn nến nữa thì không những ngọn lửa ban đầu vẫn còn, mà bây giờ càng có thêm nhiều ngọn nến cháy thì ánh sáng nơi đó sẽ càng tăng thêm nữa. Việc hồi hướng cũng như việc mồi lửa cho nhiều ngọn nến khác, nó giúp cho thiện tâm được phát triển, phước báu được tăng trưởng nơi người. Ðó là những việc làm hợp với Pháp, hợp lẽ đạo.

     

    Một người muốn trị lành bệnh cho người khác, trước hết phải học về y khoa để có khả năng trị bệnh. Một người muốn cứu kẻ khác sắp chết đuối, người ấy phải biết bơi, hoặc phải có các phương tiện thích nghi chẳng hạn ghe thuyền, phao …Muốn cúng dường người đã khuất và muốn sự cúng dường đó có thể đến được với người đã khuất thì tối thiểu phải có những phẩm vật tương xứng. Phẩm vật đó nên là những phước báu do sự huân tu, làm các thiện sự, nhứt là việc làm phước đến tăng già. Bởi vì chư Tăng “là phước điền vô thượng trong đời”, nếu gieo giống vào “ruộng phước” phì nhiêu đó đương nhiên sẽ có lợi ích lớn, quả lớn.

     

    Sau khi chúng ta làm được những điều phước, chúng ta nên đem hồi hướng cho những người thân trong kiếp nầy, mà hơn thế nữa cũng hồi hướng đến tất cả thân bằng quyến thuộc từ nhiều đời nhiều kiếp đến kiếp hiện tại nầy. Ðó là những lễ vật cúng dường có lợi ích, hợp đạo, sẽ thành tựu đến người quá vãng.

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cúng Rằm Tháng 7 Thế Nào Cho Đúng Với Tư Tưởng Của Đạo Phật
  • Cúng Dường, Nhận Cúng Dường Đúng Pháp
  • Công Đức Phóng Sanh Không Thể Nghĩ Bàn
  • Bố Thí Và Cúng Dường Như Pháp – Lời Phật Dạy Trong Kinh Tạng Nikàya
  • 7 Thủ Ấn Nhà Phật – 7 Trạng Thái Của Tâm
  • Cách Thực Hành Cầu Siêu Cho Người Đã Khuất

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Khấn Và Cách Sắm Lễ Cầu Duyên Trước Bàn Thờ Mẫu
  • Giáo Hội Phật Giáo Lên Tiếng Về Việc Cúng Dường, Cầu An Qua Ví Điện Tử
  • Ý Nghĩa Cầu Siêu Trong Phật Giáo
  • Phong Tục Cúng Mát Nhà Của Đồng Bào Dao
  • Cúng Mát Nhà Đầu Xuân Của Đồng Bào Tày Chiêm Hóa
  • Theo quan kiến của đạo Phật, xúc tình tiêu cực bắt nguồn từ tham sân si là nguyên nhân chính đưa đến sự đọa lạc vào các cảnh giới khổ đau. Cho nên ý nghĩa cầu siêu cần được luận giải từ tâm, vạn pháp duy tâm tạo, bao gồm cả hiện tượng sống chết, luân hồi và giải thoát. Chính kiến trong việc cầu siêu là đem tâm thanh tịnh, thành kính, trải rộng lòng từ bi để kiến tạo công đức hồi hướng siêu độ cho vong linh.

    Mối nhân duyên giữa người sống và người đã khuất

    Nghiệp lực làm nhân duyên cho người đã khuất lưu luyến đến người thân, đến gia đình, dòng tộc, quốc gia và xã hội và cả nhân loại nói chung. Cho nên trách nhiệm cầu siêu và báo ân đối với người đã khuất là chung của tất cả mọi người trong xã hội. Bởi tất cả chúng sinh đều từng có nhân duyên nghiệp lực với nhau nhiều đời kiếp trong chốn sinh tử này. Đức Phật dạy: “Vô thủy luân hồi, này các Tỳ-kheo, không dễ gì tìm thấy một chúng sinh trong một thời gian dài lại không một lần nào làm mẹ làm cha” (trích Kinh Trường bộ, HT. Thích Minh Châu dịch). Qua mối nhân duyên tương hữu đó mà Phật giáo đề cao việc báo ân cha mẹ, ân Tam bảo, ân quốc gia xã hội và ân cả pháp giới chúng sinh.

    Chúng ta và người đã khuất vẫn còn mối quan hệ bởi sống chết đều chỉ là tương đối và đang chuyển biến. Chấm dứt thân thể vật lý này gọi là chết, tâm thức đang đi vào một thế giới mới. Khổ đau hay hạnh phúc thì do nghiệp quyết định, tất cả chúng sinh là sản phẩm của nghiệp: “Các loài hữu tình là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp. Nghiệp là những hành động tạo tác của thân khẩu ý, là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa, nghiệp phân chia các loài hữu tình; nghĩa là có liệt, có ưu” (trích Kinh Trung bộ số 135, HT. Thích Minh Châu dịch).

    Chúng sinh trong cõi Ngã quỷ

    Tất cả chúng sinh đều từ nghiệp mà sinh ra, nghiệp ấy do tâm tạo, chuyển nghiệp cũng từ tâm mà chuyển. Do vậy ý nghĩa siêu độ, cứu giúp người chết thoát khỏi khổ đau có hiệu quả hay không là do tâm lượng con người quyết định. Giải thoát các loại cô hồn đang chịu nhiều khổ đau, vất vưởng và luôn bị đói khát hành hạ thì cần có cái tâm hướng về đạo đức giải thoát. Bản chất  tâm giác ngộ nuôi dưỡng hai yếu tố từ bi và trí tuệ. Từ góc độ tu tâm như thế mà khởi các hạnh lành trong pháp siêu độ thì mới có hiệu quả.

    Tâm thành kính cầu siêu cứu độ sẽ mang lại lợi lạc cho vong linh

    Người phát tâm làm nghi thức cầu siêu phải có tâm thương xót vong linh cô hồn vất vưởng và lòng thành kính, niềm tin với chư Phật và hiền thánh tăng. Trong kinh dạy rằng, chư Phật và Bồ-tát thường ứng thân vào trong các loài chúng sinh mà cứu độ. Nghi thức chẩn tế hay cúng thí thực trước thỉnh Phật và Bồ-tát chứng minh, sau đó thỉnh các chân linh, vong linh và cô hồn về thọ nhận phẩm vật là như vậy. Chúng sinh do nghiệp lực sai biệt nên thọ dụng thức ăn cũng sai biệt. Hương hoa phẩm vật trần gian nhờ Phật lực gia trì mà biến thành cam lồ khiến cho họ được no đủ.

    Tuy nhiên, dù biểu hiện dưới hình thức nghi lễ nào, hành giả cần phải có lòng thành thanh tịnh, tam nghiệp thân khẩu ý tương mật mới nhập vào cảnh giới nhất tâm. Tâm cảm được Phật lực mới có sự lợi ích cho việc siêu độ thân nhân quá vãng, cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp. Đó là điều chắc thật mà Đức Phật từng dạy trong kinh điển: “Hãy phát tâm rộng lớn vì cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp đến nay, khắp vì muôn loại chúng sinh ở tinh tú thiên tào, âm ty địa phủ, diêm ma quỷ giới, côn trùng nhỏ nhít máy động, tất cả hàm linh mà bày ra sự cúng dàng vô giá quảng đại, mời đến phó hội, để nương oai quang của Phật, gột rửa ruộng thân, được lợi thù thắng, hưởng vui nhân thiên” (trích Kinh Trung bộ số 135, HT. Thích Minh Châu dịch). Như vậy, cầu siêu cho vong linh qua phương pháp cúng thí thực được gọi là pháp Vô giá quảng đại, nương oai đức cùng lòng từ bi của chư Phật, dựa trên tâm Bồ-đề của hành giả có khả năng cứu độ hết thảy chúng sinh. Hình thức nghi lễ nào mà thiếu tâm cao thượng đó là đi ngược lại với xu hướng giác ngộ của Phật dạy.

    Cầu siêu cho người đã khuất là triết lý sống mang tính nhân văn

    Chúng ta cần nhận thức sâu sắc rằng sống không phải là bắt đầu và chết không phải là kết thúc. Đây cũng là cốt tủy của triết lý sống Phật giáo. Điều này giúp con người sống có trách nhiệm với hành động của chính mình trong hiện tại và tương lai. Đó là nền tảng đạo đức mà cá nhân, gia đình, xã hội và nhân loại đang cần phải nỗ lực dựng xây. Quan niệm này là tri thức cần được phổ cập trong sự giáo dục về đời sống con người. Vì sự bế tắc của số đông người hiện nay là ý thức hệ cực đoan, không tin luật nhân quả luân hồi, tái sinh. Từ đó mà bao nhiêu tệ nạn xấu ác xảy ra, sống là hưởng thụ, chà đạp quyền sống của nhau. Thái độ sống như thế làm cho cuộc đời khổ đau và đen tối hơn, vì họ tin rằng chết là hết!

    Còn người học Phật tin vào nhân quả nghiệp báo,  lấy từ bi và trí tuệ làm sự nghiệp giác ngộ. Ý nghĩa siêu độ thể hiện tinh thần lợi tha, như là phương tiện hành đạo. Lẽ sống ấy đem tâm Phật chan hòa vào lòng đời, vào thế giới người đã khuất với tình thương và lòng ân nghĩa.

    (Nguồn: www.giacngo.vn)

    CHƯƠNG TRÌNH ĐẠI LỄ VÍA ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ VÀ CẦU SIÊU CÁC ANH HÙNG CHIẾN SỸ TỈNH VĨNH PHÚC

    Thời gian: Thứ Năm ngày 17 tháng 11 năm Bính Thân (tức ngày 15/12/2016)

    • 7h30: Chào mừng Quý Quan khách cùng chư Phật tử thiện hữu xa gần về dự lễ.

    • 8h30: Nghi thức triệu thỉnh đức Phật A Di Đà

    • Vũ điệu triệu thỉnh Ngũ trí Như Lai hội nhập Mạn Đà La

    • Lễ gia trì rót đồng chuông hồng chung 3 tạ

    • Cúng dường Ganachakara (Tshog) để tích lũy công đức.

    • 11h00: Ngọ trai

    • Chương trình từ thiện

    • Lễ khai chuông

    • Khóa lễ Changwa cầu siêu độ chư hương linh anh hùng chiến sĩ tỉnh Vĩnh Phúc.

    • Cúng dường tạ ơn Thiên long Bát bộ Hộ pháp.

    • Cầu nguyện gia trì Cát tường.

    • Hồi hướng công đức

     

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghi Lễ Đọc Bài Kinh Cầu Siêu Người Chết Ra Sao?
  • 9 Địa Chỉ Cầu Tài Lộc Nổi Tiếng Cho Dân Kinh Doanh (Tổng Hợp Hai Miền Nam, Bắc)
  • Khoá Lễ Cầu An Đầu Năm
  • Lý Do Tình Duyên Trắc Trở? 2 Cách Cầu Tình Duyên Hiệu Quả Nhất
  • Sắm Lễ Văn Khấn Tại Nhà Khi Cầu Siêu Cho Thai Nhi
  • Cách Cúng Phật 4 Mặt Tại Nhà

    --- Bài mới hơn ---

  • Có Nên Và Cách Thờ Cúng Ở Phòng Trọ
  • Bài Văn Khấn Cúng Sửa Nhà, Hướng Dẫn Cách Cúng
  • Kinh Cúng Cửu Huyền Thất Tổ
  • Bật Bí Cách Cúng Đầy Tháng Bé Gái
  • Cách Đọc Kinh Sám Hối Hàng Ngày Tại Gia & Bài Khấn Nguyện Mỗi Ngày
  • Cách cúng phật 4 mặt tại nhà

    Cách cúng phật 4 mặt tại nhà đang là phong tục tâm linh được rất nhiều người dân việt nam chúng ta đón nhận và thờ cúng tại đền chùa hay nhà riêng rất nhiều trong những năm gần đây.

    Như chúng ta đã biết Phật 4 mặt, thần bốn mặt hay tứ diện thần là vị thần được người dân Thái Lan nói riêng và người dân trên toàn thế giới nói chung tôn sùng và thờ cúng. Vì vị thần này có bốn mặt mở rộng ứng với bốn mặt của Phật 4 mặt lần lượt biểu trưng cho đức hạnh của lòng tốt, sự nhân từ, lòng thương cảm và tính vô tư, không thiên vị của Tứ Diện Thần.

    Hình dáng Tứ Diện Phật

    Tứ Diện Phật gồm bốn khuôn mặt quay ra bốn hướng với đầy đủ mắt, tai, mũi, miệng và có tám cánh tay và bàn tay, mỗi tay Tứ Diện Thần lại cầm một Pháp khí riêng biệt. Mỗi thứ lại có ý nghĩa khác nhau:

    1.-Tay cầm Lệnh Kỳ biểu hiện cho Vạn Năng Pháp Lực

    2.-Tay cầm Phật Kinh biểu hiện cho Trí Tuệ

    3.-Tay cầm Pháp Loa Ốc Báu biểu hiện cho sự Phúc Lành

    4.-Tay cầm Quyền Trượng biểu hiện cho Công Danh Thành Tựu

    5.-Tay cầm Minh Luân – Vòng xe ánh sáng biểu hiện cho Tiêu Tan Phiền Não

    6.-Tay cầm Bình Nước biểu hiện Khát Khao Có Cầu Tức Có Cung

    7.-Tay cầm Niệm Châu biểu hiện cho việc Làm Chủ Luân Hồi

    8.-Tay còn lại ấn trước ngực biểu hiện cho sự Cảm Thông Che Chở

    Được nhiều người gọi là Phật 4 mặt nhưng thật ra tượng không thuộc nhà Phật, mà là thờ Thần Bốn Mặt Brahma. Theo nghi lễ thì mặt chính diện là biểu tượng cho Từ (cầu sự nghiệp địa vị) sau đó thuận theo chiều kim đồng hồ sẽ là Bi (cầu về hôn nhân tình cảm) – Hỷ (cầu tiền tài phú quý) – Xả (cầu sức khỏe bình an)”

    Thần 4 mặt thái lan cách thờ cúng thần 4 mặt tại nhà

    Cách thờ cúng thần 4 mặt thái lan tại nhà không phải ai cũng hiểu rõ, nếu không hiểu rõ cách cúng thì ý nguyện sẽ không được toại nguyện. Theo nghi lễ thì mặt chính diện chính là biểu tượng cho Từ, sau đó thuận theo chiều kim đồng hồ sẽ là Bi, Hỷ và Xả.

    Hiểu được hàm ý này sẽ giúp người cầu nguyện có được sự chuẩn xác trong việc tế bái cầu nguyện. Chính Diện đại diện cho Từ, chính cũng đại biểu cho học nghiệp, chức nghiệp, danh tiếng và địa vị, mặt thứ hai (Thuận kim đồng hồ) đại biểu Bi là chuyên về ái tình, hôn nhân và quan hệ giao tiếp, mặt thứ ba biểu hiện cho Hỷ là về thu nhập và phú quý, mặt thứ tư biểu hiện cho Xả là sức khỏe và tiêu tai giải nạn.

    Hiểu đúng, có tâm nguyện chính xác ngoài việc giúp cho chuyến đi việc làm của ta thêm ý nghĩa, cũng là cái mà cha ông ta dạy “Đi một ngày đàng học một sàng khôn”… Đừng mơ mơ hồ hồ mà đánh rơi mất một cơ hội Chiêm Bái Thánh Tượng và suy ngẫm lại chính mình. Phật dạy “Chính Niệm – Chính Tư Duy”.

    Câu chú Phật 4 mặt, thần chú Tứ Diện Phật

    Như vậy là đủ rồi, nếu các bạn có thời gian, thì niệm câu trên 3 lần sau đó câu dưới 108 lần, còn không thì chỉ đơn giản như vậy là đủ rồi

    Nên chọn chất liệu nào để xây bàn thờ Tứ Diện Thần

    Có nhiều gia đình Việt còn tự mình lập miếu thờ, am thờ hoặc bàn thờ Tứ Diện Thần tại gia đình mình để được toại nguyện mọi mong muốn như học nghiệp, chức nghiệp, danh tiếng và địa vị, mặt thứ hai (Thuận kim đồng hồ) đại biểu Bi là chuyên về ái tình, hôn nhân và quan hệ giao tiếp, mặt thứ ba biểu hiện cho Hỷ là về thu nhập và phú quý, mặt thứ tư biểu hiện cho Xả là sức khỏe và tiêu tai giải nạn.

    Khi lập ban thờ Thần Tứ Diện chúng ta phải chú ý đến chất liệu và kích thước khi lập ban. Tùy thuộc vào diện tích đất cũng như điều kiện kinh tế và mục đích sử dụng mà người ta có thể lập miếu thờ Tứ Diện Thần sao cho hợp lý. Ở những nơi đông người miếu thờ Tứ Diện Thần thường được lập to để nhiều người đến cúng viếng, tại các gia đình thì Miếu thờ Tứ Diện Thần được làm đơn giản và nhỏ gọn hơn. Vì là nơi thờ thần nên rất hạn chế việc tu sửa, nếu có thể các bạn nên lựa chọn xây miếu thờ Tứ Diện Thần bằng đá khối màu vàng hoặc màu đỏ. Miếu thờ bằng đá khối có thể nói trường tồn theo thời gian, sau nhiều năm không bị xuống cấp, càng để lâu ngôi miếu thờ trông càng cổ kính, việc tu sửa miếu thờ gần như là không có.

    Nếu các bạn lựa chọn xây miếu thờ tứ diện thần thì nên lựa chọn đá nguyên khối với các màu đá vàng hoặc đá đỏ, giá thành có cao hơn 1 chút so với dạng đá ốp nhưng về độ bền vững thì hơn hẳn.

    Xưởng điêu khắc đá mỹ nghệ Ninh Vân – Ninh Bình chúng tôi chuyên cung cấp các mẫu am thờ Tứ Diện Thần bằng đá, Cây hương thờ Tứ Diện Thần, Ban thờ Tứ Diện Thần, miếu thờ phật 4 mặt, ban thờ thần 4 mặt.

    Ngoài chế tác và sản xuất các sản phẩm ban thờ thần 4 mặt trên toàn quốc, xưởng điêu khắc đá mỹ nghệ Ninh Vân chúng tôi còn nhận tư vấn – thiết kế – lắp đặt các hạng mục công trình tâm linh làm bằng đá khác như , mẫu mộ đá đôi, , , bình phong bằng đá, , bát hương đá, …và các hạng mục công trình khác bằng đá như đá lát, đá bậc thềm, ,…

    Mọi chi tiết đặt hàng hay cần tư vấn về ban thờ phật 4 mặt xin vui lòng liên hệ.

    Xưởng Điêu Khắc Đá Ninh Bình Địa chỉ: Làng nghề đá Ninh Vân – Hoa Lư – Ninh Bình Email: [email protected] Website: https://maulangmodadep.net/

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Cúng Về Nhà Mới Cho Gia Đình Việt Đúng Thủ Tục Nhất
  • Bài Văn Khấn Mùng 1 Tết 2022 Đầu Năm Tân Sửu Cầu #tài Lộc #hanh Thông
  • Chú Cầu Tài Lộc Là Gì? Cách Cầu Tài Lộc Tăng Vận May
  • Cách Cúng Cô Hồn Mùng 2 Và 16 Âm Lịch Hàng Tháng
  • Hướng Dẫn Cách Chuẩn Bị Mâm Cỗ Cúng Rằm Tháng 7 Năm 2022 Đầy Đủ Nhất
  • ” Lễ Lại Mặt ” Trong Phong Tục Cưới Của Người Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Phong Tục Lễ Lại Mặt Những Khái Niệm Bạn Cần Biết
  • Dâng Hương Lễ Phật, Lễ Mẫu Như Thế Nào?
  • Truyền Thuyết Về Mẫu Cửu Trùng Thiên
  • Kinh Nghiệm Đi Lễ Phủ Tây Hồ Cầu Gì, Cách Sắm Và Dâng Lễ Sao Cho Đúng
  • Hướng Dẫn Đi Phủ Tây Hồ “Cầu Tài Lộc” Cho Cả Năm May Mắn
  • 1003 lượt xem

    Cuộc sống càng hiện đại, tân tiến, người ta càng muốn tìm về những truyền thống xa xưa. Các cô dâu chú rể cũng rất chú trọng một số phong tục quan trọng của đám cưới được ông bà truyền lại.

    Họ tin là điều này sẽ mang lại nhiều may mắn, hạnh phúc cho cuộc sống vợ chồng sau này. Một trong những Phong Tục Cưới của người Việt Nam mà các cô dâu chú rể quan tâm nhất hiện nay là lễ lại mặt.

    Lễ lại mặt là nghi thức thực hiện sau đám cưới, thường thì cách đám cưới khoảng 3-5 ngày để cô dâu và chú rể về gặp ba mẹ ruột của cô dâu.

    Lễ lại mặt xuất hiện trong phong tục đám cưới của người Việt từ xưa, nó có ý nghĩa giúp cô dâu xoa dịu nỗi buồn xa nhà, nhớ cha mẹ và người thân. Sau đám cưới ít nhất 3 ngày gia đình nhà trai cùng với chú rể và cô dâu đi tới nhà gái để cô dâu gặp gỡ người thân của mình.

     

    Lễ thành hôn, tơ hồng, hợp cẩn xong xuôi, hai vợ chồng tân hôn trở về nhà gái mang theo lễ vật để tạ gia tiên ông bà cha mẹ, đi chào họ hàng thân nhân bên nhà gái sau đó đón bố mẹ và vài thân nhân sang nhà chú rể. Kể từ buổi đó, mẹ cô dâu mới chính thức tới nhà chú rể và nhà thông gia, vì trong lễ cưới, mẹ cô dâu (có nơi cả bố) không đi đưa dâu. Lễ lại mặt thường tiến hành vào ngày thứ hai hoặc thứ tư sau ngày cưới (gọi là nhị hỷ hoặc tứ hỷ) tuỳ theo khoảng cách xa gần và hoàn cảnh cụ thể mà định ngày. Thành phần chủ khách rất hẹp, chỉ gói gọn trong phạm vi gia đình.

    Ngày xưa, trong phong tục cổ, ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc, trong lễ lại mặt, nếu nhà trai chuẩn bị một cái đầu lợn bị cắt lỗ tai thì tức là có hàm ý muốn trả lại cô dâu cho nhà gái vì đã thất tiết. Còn ngày nay, bình thường lễ vật thường là đầu lợn, bánh trái, hoa quả, trà rượu hay trầu cau đơn giản. Lễ vật càng hậu hĩnh càng chứng tỏ sự hài lòng của nhà trai về cô con dâu mới.

    Lễ này mang nhiều ý nghĩa tốt đẹp:

    – Nhắc nhủ con đạo hiếu, biết tạ ơn sinh thành, coi bố mẹ vợ cũng như bố mẹ mình.

    – Thắt chặt và mở rộng mối quan hệ thông gia, họ hàng ngay từ buổi đầu, tình cảm được nhân đôi.

    – Hai gia đình cùng trao đổi rút kinh nghiệm về việc tổ chức hôn lễ và bàn bạc về trách nhiệm của hai bên bố mẹ trong việc tác thành cuộc sống cho đôi trẻ trong tương lai.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Lễ Lại Mặt Gồm Những Gì Cho Cặp Đôi Mới Cưới
  • Mâm Lễ Đám Hỏi Miền Trung Gồm Những Gì? Nội Thất Gia Khánh
  • Trên Bàn Thờ Gia Tiên Đám Cưới Gồm Những Gì?
  • Tất Tần Tật Về Buổi Lễ Gia Tiên Truyền Thống Dâu, Rể Nên Biết
  • Đi Lễ Ông Hoàng Mười Cầu Gì? Chuẩn Bị Sắm Lễ Thế Nào?
  • Bát Cơm Cho Người Đã Khuất

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Chuẩn Bị Mâm Cỗ Cúng Mùng 1 Tết Đầy Đủ
  • Gợi Ý Món Ngon Cho Mâm Cỗ Chay Cúng Rằm Tháng Giêng
  • Những Món Canh Ngày Tết
  • Các Món Chay Cúng Tết: 7 Món Ăn Chay Cho Ngày Tết Nguyên Tiêu
  • Tìm Hiểu Các Món Ăn Chay Ngày Tết Không Thể Bỏ Qua
  • Anh Bảng, giám đốc, là cựu tù binh đảo Phú Quốc. Người trong Bảo tàng đều là cựu tù binh cùng nhân viên phục vụ là con em trong gia đình. Báo chí đã nói nhiều về Bảo tàng này, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị… đều đã đến thăm Bảo tàng.

    Bữa trưa giản dị, chúng tôi thân mật ngồi bên nhau. Chờ ai nữa? Tôi hỏi vì thấy còn ba chiếc bát, ba đôi đũa để cạnh mâm cơm. Anh Bảng vừa gắp thức ăn bỏ vào từng bát, vừa nói:

    – Đây là bát của đồng đội. Bữa nào chúng tôi cũng nhớ mời các liệt sĩ, các đồng đội đã hi sinh trong lao tù về ăn cơm.

    Tôi lặng người, cảm thấy như có những ai đó đứng bên, di động quanh phòng. Không khí trầm hẳn xuống trong khi cốc bia vẫn lăn tăn sủi bọt.

    Phong tục Việt Nam khi nhà có người chết thì làm lễ cúng cơm trong ba ngày. Việc tang ma xong thì mỗi ngày một lần, đến bữa ăn, gia chủ bày lên ban thờ người chết một bát, cơm hoặc canh, nói theo lễ nghĩa trong nhà có thức gì cúng thức ấy, cúng cho đến 49 hoặc đủ 100 ngày. Nhiều gia đình còn đặt trên ban thờ đĩa nhỏ muối và gừng, với ngụ ý sâu xa “gừng cay muốn mặn xin đừng quên nhau”. Trong mâm cơm cúng thường có quả trứng luộc, “quả” là có ý nhắc “ăn quả nhớ người trồng cây”; trứng ngụ ý truyền nối thế hệ, dòng tộc “từ trong trứng nở ra”.

    Những phong tục, lễ nghĩa, nghi thức… sâu đậm nhân văn, giáo dục cộng đồng, thế hệ con cháu hôm nay.

    Bát cơm nhớ về đồng đội ở Bảo tàng các chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày cũng mang ý nghĩa tâm linh như thế. Anh Bảng nói thêm: Đi các nơi dự liên hoan chúng tôi vẫn không quên đồng đội. Một lần dự tiệc ở Cung văn hóa Hữu nghị vì chờ mãi không thấy nhân viên phục vụ đáp ứng nên chúng tôi bày lên bàn ba chiếc bát, ba đôi đũa mang theo trong túi xách. Bát của chúng tôi thì nhận ra ngay, cô phục vụ có ý coi thường, xô đẩy thế nào đó, cả ba chiếc bát rơi vỡ tan. Khi biết là bát cho người đã khuất, cô gái sợ run người. Tôi trấn tĩnh: Không sao. Rồi nói đùa:

    – Các anh ấy chỉ nhắc khéo chứ không biết giận dữ gì đâu.

    Anh Bảng nói thêm:

    – Ở đây cũng vậy, bữa nào quên không bày thêm ba chiếc bát là y như rằng, có chuyện.

    Thăm bảo tàng di tích qua phòng nào khách tham quan cũng thấy tấm biển nhắc nhở ” Xin nhẹ bước chân, không sờ hiện vật/Kẻo đụng vào người đứng quanh đây“…

    Qua hai phòng lớn trưng bày cảnh toàn cảnh nhà tù Phú Quốc khủng khiếp cùng những hiện vật gốc rất có hồn, những phục dựng cảnh giam cầm, tra tấn ghê rợn dưới ánh sáng mờ mờ như chốn địa ngục âm ti, chúng tôi bước vào khu điện thờ các anh hùng liệt sĩ, thắp hương. Mặt trước điện là hồ nước. Lối đi có đá núi, cỏ xanh, bóng cây râm mát. Tượng liền anh khăn đóng áo the đứng bên liền chị áo tứ thân thắt lưng bỏ múi đang hát quan họ. Dưới lầu treo quả chuông đồng, bên cây ổi mang từ nghĩa trang nhà tù Phú Quốc về là tượng đá trắng một cô gái đang kéo vĩ cầm. Suốt ngày đêm cô kéo đàn cho các anh vui.

    Trên đường về, ba chiếc bát, ba đôi đũa dành cho các đồng đội bên mâm cơm mãi ám ảnh tôi. Bảo tàng không chỉ là nơi trưng bày những hiện vật. Có lẽ điều khác biệt là do những cựu tù binh, cựu chiến sĩ bị địch bắt tù đày tự lập nên và trông coi, gìn giữ, có sức thu hút đông đảo người trong nước khách quốc tế tham quan.

    Tôi lặng người, cảm thấy như có những ai đó đứng bên, lởn vởn quanh phòng. Không khí trầm hẳn xuống trong khi cốc bia vẫn lăn tăn sủi bọt.

    Lê Văn Ba

    --- Bài cũ hơn ---

  • Diễn Đàn Rao Vặt Tổng Hợp: Bạn Có Thắc Mắc Tại Sao Cúng Giỗ Phải Có Bát Cơm Quả
  • Bạn Có Thắc Mắc Tại Sao Cúng Giỗ Phải Có Bát Cơm Quả Trứng?
  • Cúng Đất Đai Mấy Chén Cơm Và Kết Hợp Với Lễ Vật Gì?
  • Mâm Cúng Giỗ Mấy Chén Cơm
  • Phong Thủy Thờ Cúng Tại Căn Hộ Chung Cư
  • Bài Cúng Giỗ Người Đã Khuất Như Thế Nào?

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Gia Tiên Tại Nhà Đầy Đủ Và Chuẩn Nhất
  • Văn Khấn Lập Bàn Thờ Thần Tài
  • Bài Văn Cúng Mùng 1 Và Ngày Rằm Hằng Tháng
  • Văn Khấn Thần Tài Thổ Địa Hàng Ngày Và Mùng 10 Hàng Tháng
  • Bài Văn Khấn Cúng Động Thổ Xây Dựng Nhập Trạch Nhà Ở
  • Giỗ là nghi thức theo phong tục tập quán của người Việt Nam nhằm tưởng nhớ những người đã khuất. Ngày giỗ được tổ chức đúng ngày mất theo ngày âm lịch của người được thờ cúng. Ý nghĩa của ngày giỗ là để con cháu nhớ về những người đã đi trước; gắn kết tình cảm giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ, đôi khi lại trong cùng nghề.

    Ý nghĩa của ngày cúng giỗ trong gia đình Việt

    Cúng giỗ là lễ kỷ niệm ngày mà người mất qua đời, mang lại ý nghĩa quan trọng của người Việt, ngày làm cúng giỗ được tính theo âm lịch. Ngày cúng giỗ là ngày để thể hiện lòng thủy chung, thương xót của người còn sống đối với người đã khuất, thể hiện đạo lý với tổ tiên.

    Nhà giàu thì làm đám giỗ linh đình, mời hết người thân trong dòng họ, bạn bè gần xa, anh bằng hữu về dự đám giỗ. Còn nhà nghèo thì chỉ cần lưng cơm, đĩa muối, quả trứng, ba nén hương, một đôi nến và vài món ăn giản dị để cúng cũng là đã có lòng thành kính với người đã khuất.

    Lòng thủy chung, thương xót với người đã khuất chỉ phụ thuộc vào việc con cháu phải nhớ ngày của người mất để làm đám giỗ, không quan trọng hóa việc làm giỗ lớn hay nhỏ.

    Thân bằng, cố hữu của người đã khuất nếu vẫn còn lưu luyến thì đến dự đám giỗ theo ngày đã được định sẵn từ trước, không cần phải chờ có thiệp mời đến dự như tiệc cưới, lễ mừng, không nên có tư tưởng ” hữu thỉnh hữu lai, vô thỉnh bất đáo“, câu này có nghĩa là ” Mời thì đến, không mời thì thôi “.

    Cách khấn trong ngày lễ cúng giỗ:

    • Nếu bố đã mất thì phải khấn Hiển khảo;
    • Nếu mẹ đã mất thì phải khấn Hiển tỷ;
    • Nếu ông đã mất thì phải khấn Tổ khảo;
    • Nếu bà đã mất thì phải khấn Tổ tỷ;
    • Nếu cụ ông đã mất thì phải khấn Tằng Tổ khảo;
    • Nếu cụ bà đã mất thì phải khấn Tằng Tổ tỷ;
    • Nếu anh hoặc em trai đã mất thì phải khấn Thệ huynh, Thệ đệ;
    • Nếu chị hoặc em gái đã mất thì phải khấn Thệ tỵ, Thệ muội;
    • Nếu cô, dì, thím, mợ, chú, bác, cậu đã mất thì phải khấn Bá thúc, cô dì, tỷ muội;
    • Có thể khấn chung Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ đối với nội ngoại gia tiên.

    Những hoạt động chính trong buổi lễ cúng giỗ

    Sau khi làm lễ và đọc bài cúng giỗ xong, gia đình thường dọn thức ăn vừa cúng xong để mọi người cùng ăn, coi như là hưởng lộc của tiền nhân. Bạn bè thân thuộc cũng có thể được mời đến để dùng bữa, có nghĩa là đi ăn đám giỗ.

    Một biến thể khác của cúng giỗ chính là tục thờ ” hậu ” do nhà chùa hay đình làng đảm nhiệm. Trong trường hợp này thì người quá cố đã cúng tiền hay ruộng vào chùa hay đình làng để được hưởng lễ vật trong những ngày kỵ nhật.

    Trước khi hạ xuống, chủ nhà vái 3 vái ngắn (còn được gọi là lễ tạ). Phải làm như vậy để tạ ơn gia tiên đã về thừa hưởng những lễ vật mà con cháu đã dâng lên cho người đã khuất.

    Dịp này là để con cháu trong dòng họ tề tựu lại về cùng ăn đám giỗ, thăm hỏi tình hình lẫn nhau trong nội bộ dòng họ. Ngày Cát Kỵ thường mời khách là những người chỉ nằm trong gia đình, dòng tộc đến ăn giỗ (không rộng như Tiểu Tường và Đại Tường).

    Gia chủ phải ăn mặc khăn áo chỉnh tề, bước vào để đọc bài cúng giỗ khấn tổ tiên. Khách đến dự đám giỗ thì đặt đồ lễ lên bàn thờ, cùng với gia chủ vái 4 lạy 3 vái. Sau khi gia chủ, khách mới và bạn bè thân hữu khấn lễ xong, đợi hết ba tuần hương nữa thì gia chủ đứng trước bàn thờ để lễ tạ bằng ba vái ngắn rồi đem đi đốt vàng mã.

    Cuối cùng, gia chủ bày bàn để mời khách cùng ăn giỗ, để ôn lại những kỷ niệm xưa về người đã mất, đồng thời hỏi thăm sức khỏe và công việc lẫn nhau. Sau khi ăn đám giỗ xong, gia chủ hạ tất cả các lễ vật được bày trên bàn thờ, chia đều mỗi túi một hay nhiều thứ cho từng gia đình dự đám giỗ gọi là lộc của tổ tiên, lễ vật được tặng bao gồm hoa quả, bánh kẹo,….

    Những ngày quan trọng trong ngày lễ cúng giỗ:

    Trong việc thờ cúng tổ tiên, có ba ngày giỗ quan trọng là: Giỗ đầu, giỗ hết, giỗ thường.

    Theo phong tục tập quán, dân ta thường lấy ngày giỗ (ngày qua đời của người đã mất) làm trọng tâm, nên vào ngày đó, ngoài việc đi thăm mộ, tùy gia cảnh và vị trí của người đã khuất mà thực hiện cúng giỗ.

    Đây cũng là dịp để gặp mặt những người thân trong gia đình dòng họ, họp mặt để tưởng nhớ người đã khuất và bàn công việc người còn sống để giữ gìn gia phong.

    Vào dịp đó, người ta thường tổ chức ăn uống, nên mới gọi là đi ăn đám giỗ, là trước cúng sau ăn, và cũng là để cho cuộc gặp mặt thêm phần đậm đà ấm cúng, kéo dài thời gian sum họp gia đình, cùng nhau kể chuyện tâm tình và chuyện làm ăn. Điều quan trọng nhất với ngày cúng giỗ chính là mang ý nghĩa ” Uống nước nhớ nguồn “, việc đó còn có thể được xếp vào loại thuần phong mỹ tục.

    Bài cúng giỗ thông thường

    Con lạy chín Phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần QuânCon kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ nàyCon kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ tiên nội ngoại họ: Xưng họ của bạn.Tín chủ con là: Xưng đầy đủ họ tên và tuổi.Ngụ tại: Đọc nơi bạn đang sốngHôm nay là ngày/tháng/năm (âm lịch)Chính là ngày giỗ của người được cúng giỗNăm qua tháng lại vừa ngày húy lâm, Ơn võng cực xem bằng trời biển. Nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Nhân ngày chính giỗ chúng con và toàn gia con cháu. Nhất tâm sắm sửa lễ vật kính dâng đốt nén nhang hương dãi tỏ tấc thành.Thành khẩn kính mời: Họ tên người được cũng giỗMất ngày/tháng/năm (âm lịch)Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu bình an, gia cảnh hưng thịnh vượng.Xin mời các vị Tổ tiên, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá Thúc, Cô Di và toàn thể các hương kinh gia tiên đồng lai hâm hưởng.Xin mời vong linh các vị Tiền Chủ, Hậu chủ trong đất này với tâm hưởng.Chúng con với lễ bạc lòng thành xin cúi đầu được phụ trì,Phục duy cẩn cáo.Nam mô A di đà phật! (3 lần)

    Bài cúng theo văn khấn ba ngày sau khi mất

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)Con lạy chín Phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.Con kính lạy ngài Đông trù tư mệnh Táo phủ thần quân.Con kính lạy chư vị gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ.Hôm nay là ngày …………….. tháng …………… năm …………………Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là …………………………………. vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ mẫu nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.Nay nhân ngày lễ Tế Ngu theo nghi lễ cổ truyền, Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.Trước linh vị của: Hiển …………………………………… chân linh.Xin kính cẩn trình thưa rằng.Than ôi! Trên tòa Nam cực, lác đác sao thưa; (nếu khóc cha hoặc đổi là Bắc cực nếu khóc mẹ).Trước chốn Giao trì, tờ mờ mây khóa.Cơ tạo hóa làm chi ngang ngửa thế, bóng khích câu, khen khéo trêu người.Chữ cương thường nghĩ lại ngậm ngùi thay, tình hiếu dễ chưa yên thỏa dạ.Ơn nuôi nấng áo dày cơm nặng, biển trời khôn xiết biết công lao;Nghĩ sớm hôm ấp lạnh quạt nồng, tơ tóc những hiềm chưa báo quả;Ngờ đâu! Nhà Thung (nếu là cha hoặc Nhà Huyên nếu là mẹ) khuất núi, trời mây cách trở muôn trùng;Chồi Tử mờ sương, âm dương xa vời đôi ngả.Trông xe hạc lờ mờ ẩn bóng, cám cảnh cuộc phù sinh chưa mấy, gót tiên du đã lánh cõi trần ai.Rồi khúc tằm áy náy trong lòng, thương thay hồn bất tử về đâu, cửa Phật độ biết nhờ ai hiện hóa.Suối vàng thăm thẳm, sáng phụ thân (hoặc mẫu thân) một mình lìa khơi,Giọt ngọc đầm đìa, đàn con cháu, hai hàng lã chã.Lễ Sơ Ngu (hoặc Tái Ngu, Tam Ngu) theo tục cổ, trình bày:Nhà đơn bạc, biết lấy gì để dóng dả.Đành đã biết: đất nghĩa trời kinh, nào chỉ ba tuần nghi tiết, đủ lễ báo đền.Cũng gọi là: lưng cơm chén nước, họa may chín suối anh linh, được về yên thỏa.Ôi! Thương ôi!Chúng con lễ bạc tâm thành, thành tâm kính lễ cúi xin được phù hộ độ trì.Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

    Bài văn khấn cúng lễ 49 ngày và 100 ngày sau khi mất

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)Con lạy chín Phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.Hôm nay là ngày ……….. tháng ………….. năm ……………….. âm lịch tức ngày ………… tháng ………… năm ………… dương lịch.Tại (địa chỉ): ………………………………………Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là: ……………………………….. vâng theo lệch của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ mẫu nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái, dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.Nay nhân ngày lễ Chung Thất (lễ Tốt Khốc) theo nghi lễ cổ truyền, con kính cẩn sắm các thứ lễ vật gồm: ……………………………………………..Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.Trước linh vị của Hiển: ……………………………… chân linh.Xin kính cẩn trình thưa rằng:Núi Hỗ sao mờ, nhà Thung bóng xế. (Nếu là cha) Núi Dĩ sao mờ, nhà Huyên bóng xế (Nếu là mẹ)Tình nghĩa cha sinh mẹ dưỡng, biết là bao;Công ơn biển rộng, trời cao khôn xiết kể.Mấy lâu nay: Thở than trầm mộng mơ màng;Tưởng nhớ âm dương vắng vẻ.Sống thời lai lai láng láng, hởn hở chừng nào!Thác thời kể tháng kể ngày, buồn tênh mọi lẽ!Ngày qua tháng lại, tính đến nay Chung Thất (hoặc Tốt Khốc) tới tuần.Lễ bạc tâm thành gọi là có nén hương kính tế.Xin mời: Hiển ………………………………………Hiển …………………………………………………Hiển …………………………………………………Cùng các vị Tiên linh, Tổ Bá, Tổ Thúc, Tổ Cô, và các vong linh phụ thờ theo Tiên Tổ cùng về hâm hưởng.Kính cáo: Liệt vị Tôn thần: Táo Quân, Thổ Công, Thánh Sư, Tiên Sư, Ngũ tự Gia thần cùng chứng giám và phù hộ cho toàn gia được mọi sự yên lành tốt đẹp.Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

    Cúng giỗ là nghi thức rất đáng trân trọng và cần được giữ gìn trong văn hóa của người Việt. Hi vọng qua bài viết cúng giỗ này, sẽ giúp bạn đã biết được bài cúng giỗ người đã khuất như thế nào và chuẩn bị cho một buổi lễ cúng giỗ đúng chuẩn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Khấn Rước Ông Táo Về Nhà Đêm 30 Tết
  • Văn Khấn Cúng Tạ Đất Đầu Năm 2022
  • [Taimienphi.vn] Bài Văn Cúng Tất Niên Ngoài Trời, Trong Nhà 2022
  • Cúng Tạ Đất Cuối Năm: Chi Tiết Thời Gian Cúng, Sắm Lễ, Văn Khấn
  • Văn Khấn Yên Vị Bát Hương Thần Tài
  • Những Ngày Quan Trọng Của Người Đã Khuất

    --- Bài mới hơn ---

  • Lễ Hạ Huyệt, Những Điều Cần Biết
  • Tìm Hiểu Về Lễ Hạ Huyệt
  • Lễ Hạ Huyệt Là Gì
  • Tại Sao Đại Lễ Cúng Dàng Hỏa Tịnh Có Thể Tiêu Trừ Chướng Ngại Khó Khăn Trong Cuộc Sống?
  • Lập Bàn Thờ Thần Tài, Ông Địa Mang Lại Tài Lộc Cho Gia Chủ
  • Thờ cúng tổ tiên là một phong tục, tín ngưỡng đẹp của nhiều dân tộc Đông Nam Á. Đó là nghĩa cử thể hiện sự biết ơn và đạo hiếu của người còn sống đối với người đã khuất. Những ngày quan trọng của người đã khuất nhiều người chưa được biết đến

    Đặc biệt, đối với người Việt Nam, đó trở thành một tôn giáo. Do đó những mốc quan trọng của người mất hầu như người Việt đều biết và thực hiện. Tuy nhiên, với mỗi giai đoạn nó có thể được thay đổi để đơn giản và phù hợp với điều kiện của từng gia đình. Nó có thể khác về nghi thức, lễ vật nhưng các mốc ấy vẫn được thực hiện một cách nghiêm túc và thành tâm.

    Ngày phát dẫn là ngày đưa tang. Con trai trưởng phải chống gậy đi đầu tiên, con trai thứ thì chống gậy đi sau con trai trưởng. Tang cha thì chống gậy tre vót tròn, tang mẹ thì chống gậy vông đẽo vuông. Đầu tiên, có hai thần phương tướng làm bằng giấy đặt hai bên, dáng vẻ giữ tợn cầm đồ qua mâu để đuổi ma quỷ. Có hai người khiêng thể kỳ, đặt một bức mành vải trướng làm bằng vóc nhiễu, đề dòng chữ Hồ sơn vân ám nếu là tang cha hoặc Dĩ lĩnh vạn mê nếu là tang mẹ. Hai bên treo đèn lồng đề chức tước, húy hiệu người đã mất. Sau nữa đến minh tinh, được làm bằng vóc nhiễu, trên đề họ tên thụy hiệu người mất bằng phấn trắng treo lên cành tre. Tiếp đến là hương án lớn đặt giá hương, độc bình, đồ tam sự và mâm ngũ quả. Tiếp theo là thực án bày chiếc tam sinh và linh xa để rước hồn bạch, rồi theo sau là phường bát âm và những đồ minh khí, gồm có: Đèn làm bằng giấy, tấm biển đan triệu đề hai chữ trung tín nếu là đàn ông hoặc trung tiết nếu là đàn bà, đặt những bức trướng, câu đối viếng của con cháu và người phúng viếng sang hai bên.

    Sau đó đến cờ công bố, đèn chứ á. Nhà phú quý thì có thêm nghị trượng sứ thần, đồ bộ lộ, áo mũ đại trào, chiêng, trống cà rùng… Nhà bình dân thì chỉ cần phường kèn trống thổi nhạc đưa ma. Cuối cùng là đại dư rước linh cữu, trên linh cữu đặt nhà táng bằng giấy. Thân nhân, theo thứ tự nhân sơ quy định, tang phục theo gia lễ, đều xếp hàng đi theo sau linh cữu hoặc ngồi hai bên linh cữu. Thời xưa có cái bạt bằng vải trắng che trên đầu gọi là bạch mạc. Người con trưởng đi trước hoặc kèm sau xe quan tài theo tục Cha đưa mẹ đón. Nhiều nơi còn có thêm các sư vãi cầm phướn đi hai bên tụng kinh niệm Phật để linh hồn được về nơi Tây phương cực lạc. Trên đường đi, rắc vàng giấy sang hai bên đoàn đưa tang làm lộ phí cho ma quỷ.

    Lễ an táng (gọi là hạ huyệt)

    Giờ hạ huyệt thường chọn giờ hoàng đạo. Trước lúc hạ huyệt phải cúng thổ thần nơi hạ huyệt, đồ lễ gồm trầu rượu, đĩa xôi, vàng hương, thủ lợn hoặc chân giò… Tất cả mọi người cầm một nén hương, đi một vòng xung quanh huyệt thả một hòn đất xuống dưới, sau đó đắp mộ thành vòng rồi trồng cỏ. Đắp mộ xong, mọi người đứng vòng quanh mộ, người hộ tang, người chấp sự tiến hành lễ thành phần, tiếp đãi trà, thuốc lá cho người qua đường. Kể từ ngày này, chủ nhà thắp hương cơm canh vào hai bữa chính hằng ngày cho đến hết 100 ngày thì dừng lại.

    Lễ 3 ngày (tế ngu)

    Sau 3 ngày chôn cất, con cháu sẽ đến mộ để sửa sang lại mộ phần, đắp lại mộ tròn, sửa soạn cỗ bàn để tiếp đãi họ hàng thân thuộc, khách khứa đến dự, gọi là lễ tế ngu. Con cháu chỉ lấy đất đắp vào những chỗ bị hở và khơi rãnh thoát nước, kiêng động cuốc hay chèo lên mộ vì làm thế mộ dễ bị sập trong thời gian áo quan và thi hài đang bị tan rữa. Việc viếng mộ ngày này không cần thiết phải đi đầy đủ con cháu tang gia mà chỉ cần vài ba người cũng được, nhưng bắt buộc phải có trưởng nam hay cháu đích tôn thừa trọng. Nếu trưởng nam hay cháu đích tôn thừa trọng có việc bận hay bị đau ốm thì phải nhờ người khác vào thay thế. Buổi lễ này tính theo âm lịch.

    Lễ 49 ngày (chung thất)

    Lễ cúng 49 ngày còn gọi là lễ chung thất hay tứ cửu dựa theo thuyết của Phật giáo: Âm hồn sau khi chết phải trải qua tất cả là 7 lần phán xét, mỗi lần mất 7 ngày (tương đương 1 tuần), đi qua một điện lớn dưới âm ty, sau 7 tuần vong hồn người chết mới được siêu thoát. Tuần chung thất là tuần quan trọng, đưa linh hồn người chết lên nương nhờ cửa Phật.

    Lễ 100 ngày (tốt khốc)

    Khi người chết đã được 100 ngày là đến tuần tốt khốc. Từ tuần này trở đi, con cháu người mất sẽ thôi không khóc nữa. Tuần tốt khốc thì con cháu cũng làm lễ để cúng và làm cỗ bàn mời họ hàng thân thuộc. Sau lễ trăm ngày, hằng năm con cháu lấy ngày chết là ngày làm giỗ.

    Giỗ Đầu gọi là Tiểu Tường nó là những ngày quan trọng của người đã khuất, là ngày giỗ đầu tiên sau ngày người mất đúng một năm, nằm trong thời kỳ tang, là một ngày giỗ vẫn còn bi ai, sầu thảm. Thời gian một năm vẫn chưa đủ để làm khuây khỏa những nỗi đau buồn, xót xa tủi hận trong lòng của những người thân. Trong ngày Giỗ Đầu, người ta thường tổ chức trang nghiêm không kém gì so với ngày để tang năm trước, con cháu vẫn mặc đồ tang phục. Lúc tế lễ và khấn Gia tiên, những người thân thiết của người quá cỗ cũng khóc giống như ngày đưa tang ở năm trước. Nhà có điều kiện thì có thể thuê cả đội kèn trống nữa.

    Giỗ Hết gọi là Đại Tường, là ngày giỗ sau ngày người mất hai năm, vẫn nằm trong thời kỳ tang. Thời gian hai năm cũng vẫn chưa đủ để hàn gắn những vết thương trong lòng những người còn sống. Trong lễ này, người ta vẫn tổ chức trang nghiêm. Lúc tế lễ người được giỗ và Gia tiên, con cháu vẫn mặc đồ tang phục và vẫn khóc giống như Giỗ Đầu và ngày đưa tang, vẫn bi ai sầu thảm chẳng kém gì Giỗ Đầu. Nhà có điều kiện thì có thể thuê cả đội kèn trống nữa.

    Giỗ Thường còn gọi là ngày Cát Kỵ, là ngày giỗ sau ngày người mất từ ba năm trở đi. Cát kỵ nghĩa là Giỗ lành. Trong lễ giỗ này, con cháu chỉ mặc đồ thường phục, không khóc như ngày đưa ma , không còn cảnh bi ai, sầu thảm, là dịp để con cháu người quá cố sum họp để tưởng nhớ người đã khuất và diện mời khách không còn rộng rãi như hai lễ Tiểu Tường và Đại Tường.

    Ngày giỗ thường được duy trì đến hết năm đời. Đến sau năm đời, vong linh người quá cố được siêu thoát, đầu thai hóa kiếp trở lại nên không cần thiết phải cúng giỗ nữa mà nạp chung vào kỳ xuân tế. Nhưng quan trọng hơn là con cháu còn nhớ đến tổ tiên và người đã khuất, thể hiện lòng thành kính. Cúng giỗ không nhất thiết phải quá đắt đỏ, linh đình hay quá cầu kỳ, nhà nghèo chỉ cần có đĩa muối, bát cơm úp, quả trứng luộc thì cũng đã giữ được đạo hiếu với tổ tiên.

    Hoạt động này nhiều nơi còn được gọi là bốc mộ, cát cải. Sau từ 3 đến 4 năm, người ta sẽ làm lễ Cát táng tức đem táng ở nơi khác. Vì người ta quan niệm rằng, trong thời gian hung táng thì người mất hay bị ma quỷ quấy nhiễu, sau khi cát táng thì mới không bị ma quỷ quấy nhiễu nữa. Cải táng phải chọn một ngày thích hợp, không nên xung khắc với người mất. Trước khi cát táng, người ta sẽ cúng Thổ thần Thiên địa nơi đào mả lên, rồi lại cúng Thổ thần Thiên địa nơi sẽ đem chôn cất. Người ta sẽ dùng cuốc đào đất, lấy hài cốt người chết cho vào Tiểu nhỏ làm bằng sành (giống hình cái lọ hoa), đem chôn ở vị trí khác. Sau đó sẽ xây mộ kiên cố. Còn quan tài nếu cũ nát thì có thể đem bỏ đi, nếu còn tốt thì có thể đem về dùng làm việc khác.

    Việc cải táng các bạn phải xem tuổi bốc mộ thật chính xác để làm sao cho ngày cải táng là ngày quan trọng nhất trong những ngày quan trọng của người đã khuất

    Bài viết do nghĩa trang Lạc Hồng Viên sưu tầm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghi Lễ Cúng Tết Đoan Ngọ Đầy Đủ Theo Gs Lương Ngọc Huỳnh
  • Cách Bày Trí Mâm Lễ Cúng Phá Dỡ Nhà Cũ
  • Cách Chuyển Bàn Thờ Thần Tài Về Nhà Mới
  • Di Chuyển Bàn Thờ Thần Tài, Ông Địa Đúng Cách Mang Lại Tiền Tài, Phúc Lộc Cho Gia Chủ
  • Tp.hcm: Tổ Đình Ngọc Phương Đón Tiếp Các Phái Đoàn Cúng Dường Trường Hạ
  • Cách Thờ Cúng Phật Bốn Mặt ‘ Và Tâm Linh Người Việt, Cách Thờ Cúng Thần Tứ Diện

    --- Bài mới hơn ---

  • : Vì Sao Ngày Giỗ Kỵ Ông Bà Tổ Tiên, Chúng Ta Hãy Nên Cúng Chay?
  • Mâm Đồ Lễ Cúng Chay Về Nhà Mới Cần Những Gì ? Mâm Cơm Chay Cúng Về Nhà Mới Cần Có Những Gì
  • Vì Sao Không Nên Cúng Cô Hồn Bằng Đồ Ăn Mặn?
  • Menu Đặt Tiệc Chay Tại Nhà Với Giá Dịch Vụ Ưu Đãi
  • Hướng Dẫn Làm Bàn Cúng Thôi Nôi Bé Trai Bằng Đồ Chay Từ A
  • Bạn đang xem: Cách thờ cúng phật bốn mặt

    3. Sự tích Phật bốn mặt Thái Lan4. Ý nghĩa Phật 4 mặt5. Những câu chuyện tâm linh nổi tiếng6. Cách thờ cúng Phật bốn mặt

    1. Tên gọi Phật bốn mặt Thái Lan

    Tượng Phật bốn mặt Thái Lan có tên gọi tiếng Anh là San Phra Phrom, tiếng Thái là ศาล พระ พรหม và tiếng Việt phiên âm là Sản – Prạc- Prom. Đây là những tên gọi chỉ Phật 4 mặt mà khi nhắc đến thôi người dân Thái Lan hay cả những người đã từng đến Thái Lan ai ai cũng đều biết đến. Gọi là Phật tứ diện nhưng tượng không thuộc về nhà Phật mà là Thần có 4 mặt tính theo chiều kim đồng hồ từ chính diện tương ứng với Từ (cầu sự nghiệp địa vị), Bi (cầu hôn nhân tình cảm), Hỷ (cầu tiền tài phú quý) và Xả (cầu sức khỏe bình an). Erawan là đền thờ của đạo Hindu nhưng lại thu hút rất nhiều du khách đi tour Thái Lan Tết Nguyên Đán 4N3Đ hơn nhiều đền thờ Phật giáo ở Bangkok, Thái Lan.

    Phật Bốn Mặt Thái Lan

    2. Chùa Phật 4 mặt Thái Lan ở đâu?

    Đền thờ tượng Phật Bốn Mặt Thái Lan ngày nay nằm trước khách sạn 5 sao Grand Hyatt Erawan. Khách sạn tọa lạc tại Ratchaprasong giao điểm của đường Ratchadamri, quận Pathum Wan, Bangkok, Thái Lan. Đây được xem là trung tâm Bangkok vì được bao bọc bởi các trung tâm thương mại nổi tiếng như Central World Bangkok, Amarin Plaza hay Gaysorn Village. 

    Chùa Phật 4 mặt Thái Lan ở đền Erawan

    3. Sự tích Phật bốn mặt Thái Lan

    3.1 Bức tượng gốc Phật bốn mặt 

    Theo lịch sử ghi nhận Tượng Phật bốn mặt Thái Lan được xây dựng bởi Hội Mỹ thuật Thái vào ngày 9 tháng 11 năm 1956. Bức tượng được đúc khuôn và hoàn toàn bằng kim loại, hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Quốc gia Thái Lan. Theo lịch sử thì đây là bức tượng gốc, còn bức tượng Phật 4 mặt hiện nay đặt ở đền Erawan thì được làm bằng Plaster, trộn với hỗn hợp vàng, đồng và các kim loại khác. Bức tượng có 4 mặt, mỗi mặt có đầy đủ tai, mắt, mũi, miệng và có tất cả 8 cánh tay, bàn tay. Mỗi cánh tay của Thần Tứ Diện cầm một binh khí khác nhau tượng trung cho một ý nghĩa khác nhau.

    3.2 Câu chuyện thi công khách sạn Erawan

    Vào giữa những năm 1950 khi chính phủ cho thi công dự án khách sạn Erawan được cho là hoành tráng lúc bấy giờ. Nhưng việc thi công lại gặp muôn vàn khó khăn với những chuyện tâm linh khó lý giải được. Nhiều chuyện bí ẩn xảy ra đã làm dự án tưởng chừng như sẽ khép lại. Thì trong một đêm, chủ đầu tư của khách sạn đã nằm mơ thấy 1 vị Thần tỏa hào quang xung quanh, đứng ngay góc đường cạnh vị trí của khách sạn Erawan. Vì thế sau khi tỉnh dậy ông đã cho người lập đền thờ Thần Tứ Diện ngay vị trí ông Thần đứng. Kể từ khi đền thờ Phật bốn mặt được lập và cúng viếng thành tâm thì việc thi công lại tiến hành thuận lợi. Từ đó hình thành khách sạn Erawan nổi tiếng ở Thái Lan qua 3 thập kỷ. Về sau do cạnh tranh về cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại mà khách sạn đã bị thay thế bởi khách sạn Grand Hyatt Erawan Bangkok vào năm 1991.

    4. Ý nghĩa Phật 4 mặt

    Nhiều du khách ngày nay đến địa điểm du lịch Thái Lan này để diện kiến và cúng viếng Thần Tứ Diện. Họ mang theo trái cây, vòng hoa, tượng voi bằng gỗ để dâng lên cho Phật 4 mặt với mong muốn được phù hộ, cầu tài hay may mắn cho mình. 

    4.1 Ý nghĩa bốn mặt của bức tượng

    Nhiều du khách đi tour du lịch Thái Lan 4N3Đ cũng diện kiến hết cả 4 mặt của Phật. Họ cho rằng đã đến đây thì nên thành tâm cúng viếng hết những mặt còn lại, bởi mặt nào của Phật cũng đều linh thiêng như nhau cả. Sự giao thoa ở những góc của Phật bốn mặt sẽ giúp họ gặp những may mắn, vượt qua những khó khăn đang gặp phải. Nếu bạn muốn cúng hết cả 4 mặt của Phật thì nên đi theo chiều kim đồng hồ từ mặt chính diện. Đến mỗi mặt bạn có thể dừng lại để thắp nhan, cúng vái những gì bạn mong muốn. 

    4.2 Ý nghĩa 8 cánh tay của Phật bốn mặt

    Tay Phật 4 mặt cầm Lệnh Kỳ: tượng trưng cho sự Vạn Năng Pháp LựcTay nào của Phật 4 mặt cầm Phật kinh: tượng trưng cho Trí tuệTay cầm Ốc Loa (Ốc Báu): tượng trưng cho Ban phúcTay Phật cầm Minh Luân (Bánh xe ánh sáng): tượng trưng cho niềm vui, xua tan phiền muộnTay cầm Quyền trượng: tượng trưng cho Công thành Danh đạtTay Phật Tứ Diện cầm Bình nước: tượng trung cho sự ấm no, đủ đầyTay Phật Tứ Diện cầm Niệm Châu: tượng trưng cho làm chủ Luân HồiTay Bắt ấn để trước ngực: tượng trưng cho sự che chở, bảo vệ của Phật với mọi người

    Đó là tất cả những sự tượng trưng của 8 cánh tay cầm binh khí của Phật 4 mặt. Khi đã hiểu rõ ràng những ý nghĩa trên bạn sẽ phần nào củng cố lòng tin cũng như có những kiến thức sâu hơn về Phật 4 mặt ở Thái Lan. 

    5. Những câu chuyện tâm linh nổi tiếng

    5.1 Chuyến bay định mệnh năm 1997

    Một câu chuyện kỳ diệu hơn gần đây nhất về Phật 4 mặt đó là vào tối thứ 2 ngày 17 tháng 8 năm 2022, một vụ khủng bố đã xảy ra tại trung tâm Bangkok. Địa điểm chính xảy ra vụ đánh bom là ở đền Erawan, làm thiệt mạng gần 20 người và 125 người bị thương. Cảnh sát Thái Lan cho rằng vì đền Erawan là nơi có hàng ngàn lượt khách đổ về, do đó tên khủng bố đã nhắm đến địa điểm này để gây ra tổn hại nhiều nhất. Mục tiêu của cuộc tấn công được cho là nhắm vào ngành kinh tế, du lịch của Thái Lan lúc bấy giờ.

    Mặc dù vụ đánh bom được nhiều người miêu tả là làm rung chuyển mặt đất, mọi thứ dường như tan hoang, đổ nát. Thế nhưng bức tượng Phật bốn mặt vẫn còn nguyên vẹn mặc dù gần với quả bom nhất. Điều đó đã làm giới truyền thông, báo chí trong và ngoài nước lúc bấy giờ tin tưởng hơn về sự linh thiêng của vị Thần này.

    5.3 Sóng thần Ấn Độ Dương 2004

    Ngày 26/12 năm 2004 một trận động đất mạnh khoảng 9,15 độ Richter đã tạo ra trận sóng thần dọc theo Ấn Độ Dương. Trận sóng thần được xem là một trong những trận thảm họa thiên nhiên thảm khốc nhất trong lịch sử. Thái Lan là một trong những quốc gia chịu thiệt hại nặng nề nhất khoảng 5.395 người thiệt mạng, trong đó có 2.000 người là khách du lịch. Gần một ngàn ngôi nhà bị cuốn trôi nhưng có một đứa bé là con của Tòa Đại sứ Tây Ban Nha thoát chết thần kỳ. Sau khi bị quăng lên ngọn một cây dừa đứa bé vẫn sống sót, và trên cổ đứa bé này cũng có đeo dây chuyền có tượng Phật 4 mặt. Và người ta cho rằng có lẽ Thần Tứ Diện đã bảo vệ, phù hộ cho đứa trẻ may mắn thoát khỏi thiên tai.

    5.4 Cô gái quét rác xung quanh Phật bốn mặt

    5.5 Tỷ phú Thái Lan Nong Nooch Tansacha

    Xuất thân trong một gia đình nghèo, bà phải đi làm thuê trong một xưởng sản xuất đồ gốm ở làng. Vào một buổi trưa trong lúc các bạn đang nghỉ ngơi thì bà lại đi lấy đất sét để nặn tượng. Chẳng biết cơ duyên thế nào mà bà Nong Nooch đã nặn ra tượng Phật 4 mặt Rama, một trong ba vị thần có quyền năng tối cao của đạo Hindu từ Ấn Độ du nhập sang Thái Lan vào đầu thế kỷ 12. Trong khi từ nhỏ đến lớn bà chưa một lần nhìn thấy tượng vị thần này, kể cả trong mơ. 

    Khi bà xếp tượng để chung với các sản phẩm đồ gốm khác để nung thì lò gốm nổ tung, tượng Thần Rama từ dưới đáy lò bật lên và tỏa ra ánh hào quang. Sau đó bà xin mang tượng về để lập đền thờ. Trong một trận lũ thì miếu thờ bị cuốn trôi, Nong Nooch tìm mãi không thấy bức tượng đâu đã khấn vái Phật cho tìm lại. Bà tìm thấy tượng Thần Rama dưới đáy một ao làng, sau đó đã lập đền thờ lớn hơn để thờ cúng vị Thần này. Và về sau mô hình này được người Thái vận dụng để thờ Thần Rama khắp mọi nơi. Sau cơ duyên đó thì rất nhiều điều may mắn đã xảy ra với bà. Bà mở xưởng gốm cho riêng mình, thành lập nên vườn hoa nhiệt đới mang tên Nong Nooch với hơn 20.000 loài cây nhiệt đới được chuyển từ 50 quốc gia khác nhau. Tại đây còn trưng bày các sản phẩm đồ gốm mỹ nghệ tinh xảo gắn liền với nghề nghiệp của bà.

    6. Cách thờ cúng Phật bốn mặt

    6.1 Cách cúng thần bốn mặt khi đi du lịch

    Đến viếng Phật 4 mặt ở đền Erawan du khách cần lưu ý một số vấn đề quan trọng. 

    Tới điện thờ Thần Tứ Diện, bạn không nên nói tục hay chửi thề để tránh bị Phật quở trách. Đây là địa điểm tâm linh do đó bạn nên mặc đồ thật lịch sự, kín đáo. Tránh mặc những trang phục hở hang hay có phần phản cảm.Không mang theo thú cưng khi đến đền Erawan. Xung quanh khu vực tượng Phật bốn mặt có rất nhiều cảnh sát Thái Lan do đó họ có thể nghi ngờ và kiểm tra bạn bất cứ lúc nào.Tùy vào nhu cầu của du khách mà họ sẽ cúng ở chỗ hay cả 4 mặt của Thần Tứ Diện. Nếu muốn đi hết cả 4 mặt của Phật bốn mặt bạn nên dừng lại mỗi mặt sau đó thắp 3 nén nhan, 1 đèn cầy và 1 bó hoa để lên. Sau khi cúng viếng hay trả lễ xong bạn nên đến góc để các chú voi, nơi đựng nước thánh của Phật 4 mặt để rửa mặt và rửa tay của mình. Và bạn nhớ múc nước ra để rửa chứ không nên cho tay vào luôn sẽ dễ bị người dân ở đây trách móc. 

    6.2 Cách cúng Phật 4 mặt tại nhà

    Nếu muốn thờ Phật 4 mặt tại nhà thì bạn cần xem phong thủy thật kỹ để biết nên đặt bàn thờ ở vị trí nào để thỉnh Phật bốn mặt cho đúng. Về mâm cỗ trả lễ thì phải thật thành tâm, chủ yếu ở tấm lòng. Gia chủ có thể cúng heo quay, trái cây phải thật tươi, sạch sẽ… tùy vào điều kiện của mỗi người mà sẽ có cách trả lễ khác nhau. Nếu bạn giàu có thì có thể cúng sang trọng hơn chút, còn nếu bạn có ít tiền thì có thể cúng ít hơn. Đặc biệt bàn để cúng cũng phải sạch sẽ, khăn lau còn mới tinh chưa qua sử dụng. 

    Chuyên mục: Hỏi Đáp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Làm Rõ Quy Trình Bốc Bát Hương Thần Tài Cuối Năm 2022
  • Tìm Hiểu Về Thượng Lương, Chữ Viết Trên Câu Đầu Nhà Thờ Họ 2
  • Văn Khấn Cúng Thần Tài Thổ Địa Ngày 30 Tết Tân Sửu 2022, Văn Khấn Cúng Thần Tài Thổ Địa
  • Phong Thủy Và Ý Nghĩa Các Loại Trái Cây Trên Bàn Thờ
  • Xem Ngày Tốt, Giờ Tốt Thỉnh Cụ Thần Tài Thổ Địa Chuẩn Xác
  • Bài Văn Khấn Cúng Giỗ Người Đã Khuất Như Thế Nào?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Cúng Đầy Tháng Cho Con Theo Phong Tục Của Người Việt
  • Bài Cúng Nhập Trạch Và Những Điều Cần Chú Ý
  • Bài Cúng Xe Mới Và Cúng Xe Hàng Tháng Chuẩn
  • Bài Văn Khấn Ngoài Mộ Ngày Giỗ Đầu, Giỗ Thường, Giỗ Hết Chuẩn Xác Nhất
  • Văn Khấn Tạ Mộ Tiết Thanh Minh Và Cách Sắm Đồ Cúng Lễ Thanh Minh Ở Mộ
  • Giỗ là nghi thức theo phong tục tập quán của người Việt Nam nhằm tưởng nhớ những người đã khuất. Ngày giỗ được tổ chức đúng ngày mất theo ngày âm lịch của người được thờ cúng. Ý nghĩa của ngày giỗ là để con cháu nhớ về những người đã đi trước; gắn kết tình cảm giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ, đôi khi lại trong cùng nghề.

    Hãy cùng tìm kiểu về ngày giỗ và bài văn khấp cúng giỗ nào đúng chuẩn nhé!

    Ý nghĩa của ngày cúng giỗ trong gia đình Việt

    Cúng giỗ là lễ kỷ niệm ngày mà người mất qua đời, mang lại ý nghĩa quan trọng của người Việt, ngày làm cúng giỗ được tính theo âm lịch. Ngày cúng giỗ là ngày để thể hiện lòng thủy chung, thương xót của người còn sống đối với người đã khuất, thể hiện đạo lý với tổ tiên.

    Nhà giàu thì làm đám giỗ linh đình, mời hết người thân trong dòng họ, bạn bè gần xa, anh bằng hữu về dự đám giỗ. Còn nhà nghèo thì chỉ cần lưng cơm, đĩa muối, quả trứng, ba nén hương, một đôi nến và vài món ăn giản dị để cúng cũng là đã có lòng thành kính với người đã khuất.

    Lòng thủy chung, thương xót với người đã khuất chỉ phụ thuộc vào việc con cháu phải nhớ ngày của người mất để làm đám giỗ, không quan trọng hóa việc làm giỗ lớn hay nhỏ.

    Thân bằng, cố hữu của người đã khuất nếu vẫn còn lưu luyến thì đến dự đám giỗ theo ngày đã được định sẵn từ trước, không cần phải chờ có thiệp mời đến dự như tiệc cưới, lễ mừng, không nên có tư tưởng “hữu thỉnh hữu lai, vô thỉnh bất đáo”, câu này có nghĩa là “Mời thì đến, không mời thì thôi”.

    Cách khấn trong ngày lễ cúng giỗ:

    Sau đây là cách khấn khi đọc bài cúng giỗ theo vai vế trong gia đình mà bạn nên biết:

    • Nếu bố đã mất thì phải khấn Hiển khảo;
    • Nếu mẹ đã mất thì phải khấn Hiển tỷ;
    • Nếu ông đã mất thì phải khấn Tổ khảo;
    • Nếu bà đã mất thì phải khấn Tổ tỷ;
    • Nếu cụ ông đã mất thì phải khấn Tằng Tổ khảo;
    • Nếu cụ bà đã mất thì phải khấn Tằng Tổ tỷ;
    • Nếu anh hoặc em trai đã mất thì phải khấn Thệ huynh, Thệ đệ;
    • Nếu chị hoặc em gái đã mất thì phải khấn Thệ tỵ, Thệ muội;
    • Nếu cô, dì, thím, mợ, chú, bác, cậu đã mất thì phải khấn Bá thúc, cô dì, tỷ muội;
    • Có thể khấn chung Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ đối với nội ngoại gia tiên.

    Những hoạt động chính trong buổi lễ cúng giỗ

    Sau khi làm lễ và đọc bài cúng giỗ xong, gia đình thường dọn thức ăn vừa cúng xong để mọi người cùng ăn, coi như là hưởng lộc của tiền nhân. Bạn bè thân thuộc cũng có thể được mời đến để dùng bữa, có nghĩa là đi ăn đám giỗ.

    Một biến thể khác của cúng giỗ chính là tục thờ “hậu” do nhà chùa hay đình làng đảm nhiệm. Trong trường hợp này thì người quá cố đã cúng tiền hay ruộng vào chùa hay đình làng để được hưởng lễ vật trong những ngày kỵ nhật.

    Trước khi hạ xuống, chủ nhà vái 3 vái ngắn (còn được gọi là lễ tạ). Phải làm như vậy để tạ ơn gia tiên đã về thừa hưởng những lễ vật mà con cháu đã dâng lên cho người đã khuất.

    Dịp này là để con cháu trong dòng họ tề tựu lại về cùng ăn đám giỗ, thăm hỏi tình hình lẫn nhau trong nội bộ dòng họ. Ngày Cát Kỵ thường mời khách là những người chỉ nằm trong gia đình, dòng tộc đến ăn giỗ (không rộng như Tiểu Tường và Đại Tường).

    Gia chủ phải ăn mặc khăn áo chỉnh tề, bước vào để đọc bài cúng giỗ khấn tổ tiên. Khách đến dự đám giỗ thì đặt đồ lễ lên bàn thờ, cùng với gia chủ vái 4 lạy 3 vái. Sau khi gia chủ, khách mới và bạn bè thân hữu khấn lễ xong, đợi hết ba tuần hương nữa thì gia chủ đứng trước bàn thờ để lễ tạ bằng ba vái ngắn rồi đem đi đốt vàng mã.

    Cuối cùng, gia chủ bày bàn để mời khách cùng ăn giỗ, để ôn lại những kỷ niệm xưa về người đã mất, đồng thời hỏi thăm sức khỏe và công việc lẫn nhau. Sau khi ăn đám giỗ xong, gia chủ hạ tất cả các lễ vật được bày trên bàn thờ, chia đều mỗi túi một hay nhiều thứ cho từng gia đình dự đám giỗ gọi là lộc của tổ tiên, lễ vật được tặng bao gồm hoa quả, bánh kẹo,….

    Những ngày quan trọng trong ngày lễ cúng giỗ:

    Trong việc thờ cúng tổ tiên, có ba ngày giỗ quan trọng là: Giỗ đầu, giỗ hết, giỗ thường.

    Theo phong tục tập quán, dân ta thường lấy ngày giỗ (ngày qua đời của người đã mất) làm trọng tâm, nên vào ngày đó, ngoài việc đi thăm mộ, tùy gia cảnh và vị trí của người đã khuất mà thực hiện cúng giỗ.

    Đây cũng là dịp để gặp mặt những người thân trong gia đình dòng họ, họp mặt để tưởng nhớ người đã khuất và bàn công việc người còn sống để giữ gìn gia phong.

    Vào dịp đó, người ta thường tổ chức ăn uống, nên mới gọi là đi ăn đám giỗ, là trước cúng sau ăn, và cũng là để cho cuộc gặp mặt thêm phần đậm đà ấm cúng, kéo dài thời gian sum họp gia đình, cùng nhau kể chuyện tâm tình và chuyện làm ăn. Điều quan trọng nhất với ngày cúng giỗ chính là mang ý nghĩa “Uống nước nhớ nguồn”, việc đó còn có thể được xếp vào loại thuần phong mỹ tục.

    Bài cúng giỗ thông thường

    Sau đây là bài cùng giỗ thông thường dành cho mọi gia đình Việt.

    Con lạy chín Phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

    Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.

    Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân

    Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này

    Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ tiên nội ngoại họ: Xưng họ của bạn.

    Tín chủ con là: Xưng đầy đủ họ tên và tuổi.

    Ngụ tại: Đọc nơi bạn đang sống

    Hôm nay là ngày/tháng/năm (âm lịch)

    Chính là ngày giỗ của người được cúng giỗ

    Năm qua tháng lại vừa ngày húy lâm, Ơn võng cực xem bằng trời biển. Nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Nhân ngày chính giỗ chúng con và toàn gia con cháu. Nhất tâm sắm sửa lễ vật kính dâng đốt nén nhang hương dãi tỏ tấc thành.

    Thành khẩn kính mời: Họ tên người được cũng giỗ

    Mất ngày/tháng/năm (âm lịch)

    Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu bình an, gia cảnh hưng thịnh vượng.

    Xin mời các vị Tổ tiên, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá Thúc, Cô Di và toàn thể các hương kinh gia tiên đồng lai hâm hưởng.

    Xin mời vong linh các vị Tiền Chủ, Hậu chủ trong đất này với tâm hưởng.

    Chúng con với lễ bạc lòng thành xin cúi đầu được phụ trì,

    Phục duy cẩn cáo.

    Nam mô A di đà phật! (3 lần)

    Bài cúng theo văn khấn ba ngày sau khi mất

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

    Con lạy chín Phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

    Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.

    Con kính lạy ngài Đông trù tư mệnh Táo phủ thần quân.

    Con kính lạy chư vị gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ.

    Hôm nay là ngày …………….. tháng …………… năm …………………

    Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là …………………………………. vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ mẫu nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

    Nay nhân ngày lễ Tế Ngu theo nghi lễ cổ truyền,

    Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.

    Trước linh vị của: Hiển …………………………………… chân linh.

    Xin kính cẩn trình thưa rằng.

    Than ôi! Trên tòa Nam cực, lác đác sao thưa; (nếu khóc cha hoặc đổi là Bắc cực nếu khóc mẹ).

    Trước chốn Giao trì, tờ mờ mây khóa.

    Cơ tạo hóa làm chi ngang ngửa thế, bóng khích câu, khen khéo trêu người.

    Chữ cương thường nghĩ lại ngậm ngùi thay, tình hiếu dễ chưa yên thỏa dạ.

    Ơn nuôi nấng áo dày cơm nặng, biển trời khôn xiết biết công lao;

    Nghĩ sớm hôm ấp lạnh quạt nồng, tơ tóc những hiềm chưa báo quả;

    Ngờ đâu! Nhà Thung (nếu là cha hoặc Nhà Huyên nếu là mẹ) khuất núi, trời mây cách trở muôn trùng;

    Chồi Tử mờ sương, âm dương xa vời đôi ngả.

    Trông xe hạc lờ mờ ẩn bóng, cám cảnh cuộc phù sinh chưa mấy, gót tiên du đã lánh cõi trần ai.

    Rồi khúc tằm áy náy trong lòng, thương thay hồn bất tử về đâu, cửa Phật độ biết nhờ ai hiện hóa.

    Suối vàng thăm thẳm, sáng phụ thân (hoặc mẫu thân) một mình lìa khơi,

    Giọt ngọc đầm đìa, đàn con cháu, hai hàng lã chã.

    Lễ Sơ Ngu (hoặc Tái Ngu, Tam Ngu) theo tục cổ, trình bày:

    Nhà đơn bạc, biết lấy gì để dóng dả.

    Đành đã biết: đất nghĩa trời kinh, nào chỉ ba tuần nghi tiết, đủ lễ báo đền.

    Cũng gọi là: lưng cơm chén nước, họa may chín suối anh linh, được về yên thỏa.

    Ôi! Thương ôi!

    Chúng con lễ bạc tâm thành, thành tâm kính lễ cúi xin được phù hộ độ trì.

    Kính cáo!

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

    Bài văn khấn cúng lễ 49 ngày và 100 ngày sau khi mất

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

    Con lạy chín Phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

    Hôm nay là ngày ……….. tháng ………….. năm ……………….. âm lịch tức ngày ………… tháng ………… năm ………… dương lịch.

    Tại (địa chỉ): ………………………………………

    Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là: ……………………………….. vâng theo lệch của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ mẫu nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái, dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

    Nay nhân ngày lễ Chung Thất (lễ Tốt Khốc) theo nghi lễ cổ truyền, con kính cẩn sắm các thứ lễ vật gồm: ……………………………………………..

    Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.

    Trước linh vị của Hiển: ……………………………… chân linh.

    Xin kính cẩn trình thưa rằng:

    Núi Hỗ sao mờ, nhà Thung bóng xế. (Nếu là cha) Núi Dĩ sao mờ, nhà Huyên bóng xế (Nếu là mẹ)

    Tình nghĩa cha sinh mẹ dưỡng, biết là bao;

    Công ơn biển rộng, trời cao khôn xiết kể.

    Mấy lâu nay: Thở than trầm mộng mơ màng;

    Tưởng nhớ âm dương vắng vẻ.

    Sống thời lai lai láng láng, hởn hở chừng nào!

    Thác thời kể tháng kể ngày, buồn tênh mọi lẽ!

    Ngày qua tháng lại, tính đến nay Chung Thất (hoặc Tốt Khốc) tới tuần.

    Lễ bạc tâm thành gọi là có nén hương kính tế.

    Xin mời: Hiển ………………………………………

    Hiển …………………………………………………

    Hiển …………………………………………………

    Cùng các vị Tiên linh, Tổ Bá, Tổ Thúc, Tổ Cô, và các vong linh phụ thờ theo Tiên Tổ cùng về hâm hưởng.

    Kính cáo: Liệt vị Tôn thần: Táo Quân, Thổ Công, Thánh Sư, Tiên Sư, Ngũ tự Gia thần cùng chứng giám và phù hộ cho toàn gia được mọi sự yên lành tốt đẹp.

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

    Cúng giỗ là nghi thức rất đáng trân trọng và cần được giữ gìn trong văn hóa của người Việt. Hi vọng qua bài viết cúng giỗ này, sẽ giúp bạn đã biết được bài cúng giỗ người đã khuất như thế nào và chuẩn bị cho một buổi lễ cúng giỗ đúng chuẩn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Cúng 100 Ngày Bốc Bát Hương Như Thế Nào?
  • Bài Văn Cúng 49 Ngày – Lễ Cúng 49 Ngày Như Thế Nào
  • Tìm Hiểu Bài Cúng Đám Giỗ Họ, Giỗ Thường
  • Bài Văn Cúng Giỗ Bố ( Cha ) – Tìm Hiểu Nghi Lễ Giỗ Bố
  • Bài Văn Khấn Cúng Giỗ Ông Bà Hàng Năm
  • Đốt Vàng Mã Có Gửi Tới Người Đã Khuất?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Khấn 100 Ngày Cho Người Mới Mất Chuẩn Nhất
  • Văn Khấn Tạ Đất Chuẩn Tâm Linh Năm 2022
  • Lễ Cúng 49 Ngày Quan Trọng Như Thế Nào?
  • Những Điều Cần Lưu Ý: Cúng Động Thổ Xây Nhà Van Khan Cung Dong Tho Khi Xay Nha Va Nhung Dieu Can Luu Y Docx
  • Văn Khấn Lễ Động Thổ Công Trình
  • Đốt vàng mã đã trở nên phổ biến, nhất là trong mùa lễ hội với tâm niệm gửi tới người đã khuất.Vậy, Phật giáo có quy định về đốt vàng mã hay không?

    Đốt vàng mã và những vật dụng, đồ dùng… hàng mã (gọi chung là hóa vàng) đã thành thói quen tràn lan trong các dịp lễ hội, ma chay… Người hóa vàng thường quan niệm “trần sao âm vậy” nên đốt vàng mã, hàng mã càng nhiều càng tốt với đủ vật dụng, nào là ô tô, đô la, vàng, căn biệt thự…. Họ mong muốn gửi xuống cõi âm cho người đã khuất. Tuy nhiên, các vị chức sắc Phật giáo khẳng định, đạo Phật không khuyên chúng sinh làm vậy, theo quan niệm của Phật giáo, việc làm đó sẽ chẳng thể đến được với người đã khuất.

    Thượng tọa Thích Thanh Huân- Phó Văn phòng Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trụ trì chùa Pháp Vân (TP.Hà Nội) khẳng định, Phật pháp cũng như Đức Phật không hề có việc đốt vàng mã, hàng mã. Phật giáo chỉ khuyên người còn sống làm nhiều việc tốt, việc thiện để siêu độ cho người thân đã mất. Hành giáo bằng việc giúp đỡ người khác vừa có ích thiết thực cho đời vừa “chỉ” cho người đã khuất sớm được siêu độ vong linh.

    Trao đổi với chúng tôi, Thượng tọa Thích Quảng Hà, trụ trì chùa Cẩm (xã Yên Dương, huyện Ý Yên, Nam Định), Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự Trung ương giáo hội Phật giáo Việt Nam, Trưởng ban Trị sự giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Nam Định cũng khẳng định, Phật giáo không quy định phải đốt vàng mã, hàng mã hay cúng tiền cho Đức Phật, cho vong linh người đã khuất. Tục lệ đốt vàng mã, hàng mã xuất phát từ thời nhà Đường (Trung Quốc), sau đó du nhập vào Việt Nam và đến nay đã trở thành thói quen của nhiều người với tâm niệm muốn gửi những đồ dùng, tiền bạc cho người cõi âm. Việc làm đó không giúp được người đã khuất, vì chết là giải thoát rồi, không cần đến những vật chất như nơi trần gian nữa, không giải thoát thì phải giam cầm nơi địa ngục, chẳng thể dùng đến những thứ đó. Từ phân tích này, Thượng tọa Thích Quảng Hà khẳng định: Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra Thông bạch khuyên Phật tử không đốt vàng mã là hoàn toàn đúng đắn và rất cần thiết. Thượng tọa cho biết, thực tế, từ nhiều năm nay, ngài đã khuyên bảo Phật tử, người dân đến lễ chùa hạn chế, không đốt vàng mã; thay vì dùng tiền thật mua tiền giả để đốt, người dân nên dùng tiền thật đó để làm việc bác ái giúp đỡ người khác để được cả đạo lẫn đời.

    Nhân đây, Thượng tọa Thích Quảng Hà cũng lưu ý, người dân khi đi lễ chùa không nên đặt tiền lên bàn thờ hoặc lễ vật vì Phật cũng như các vị thánh không dùng đến tiền bạc. Tiền công đức chỉ để con người tu sửa đền chùa mà thôi. Hơn nữa, đồng tiền chuyền tay hết người này đến người khác ở chợ nên rất dơ bẩn, đặt lên bàn thờ sẽ mất tôn kính, nếu muốn công đức bao nhiêu tiền chỉ cần bỏ số tiền đó vào một hòm công đức là được, không cần phải đổi thành nhiều tờ tiền lẻ để đặt nhiều nơi.

    Theo nhiều vị chức sắc Phật giáo khác, đốt vàng mã, hàng mã không thể gửi tới được cõi âm, bởi con người khi chết, sau 49 ngày sẽ thác vào những cảnh giới khác nhau, cảnh giới khác nhau thì vật dụng mà họ thọ dụng cũng khác nhau, vì thế không thể đem vật dụng ở cõi dương gian mà cung cấp cho chúng sinh ở cõi âm được. Lễ chùa, giỗ ông bà, tổ tiên là để tôn kính, tưởng nhớ và tìm lại cái tâm mà tỉnh thức để làm nhiều việc tốt hơn, qua đó mà “lập công” để siêu độ vong linh ông bà gia tiên, tích đức cho bản thân để khi từ giã cõi đời được đầu thai vào cảnh giới tương ứng với việc làm phúc thiện của mình khi ở trần gian.

    Như vậy, đốt vàng mã không những không đúng với quan niệm Phật giáo mà còn tốn kém, lãng phí tiền của, thậm chí ở các lễ hội, đông người đốt với số lượng nhiều còn ảnh hưởng tới môi trường và sức khỏe cộng đồng, do vậy, nên sớm bỏ việc đốt vàng mã như khuyến cáo trong Thông bạch của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam vừa ban hành./

    Theo An Luých Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Lễ Chung Thất 49 Ngày Và Tốt Khốc 100 Ngày
  • Văn Khấn 49 Ngày Ngoài Mộ
  • Văn Khấn Thần Thổ Công Và Các Vị Thần Linh
  • Văn Khấn Các Vị Thần Linh Trước Ngày Giỗ Hết (Lễ Đại Tường) Chuẩn Phong Tục
  • Bài Văn Khấn Đầy Tháng Cho Trẻ
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100