Ngũ Công Vương Phật . Tranh Thờ Dân Gian Đức Thánh Trần 25X32Cm

--- Bài mới hơn ---

  • Nấu Xôi Chè Cúng Rằm Cho Công Ty
  • Thả Cá Phóng Sinh Ngày Ông Công, Ông Táo Sao Cho Đúng Cách?
  • Văn Khấn Phóng Sinh Và Những Lưu Ý Đặc Biệt Cần Chú Ý
  • Bài Cúng Phóng Sinh Và Lễ Vật Cần Có Cho Nghi Lễ Phóng Sinh
  • Hướng Dẫn Cách Xin Số Đề Nhị Ca Phong Chuẩn Xác Nhất
  • Vị Thánh – Tướng

    Nam : Tân Mùi , thờ Phật Thích Ca Mâu Ni .

    Nữ : thờ Chúa Tiên Nương Nương độ mạng. Nam : Canh Thân, Canh Tuất thờ Phật A-Di-Đà

    Nữ : thờ Chúa Tiên Nương Nương Nương độ mạng. Nữ : thờ Chúa Tiên Nương Nương độ mạng Nam : Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, thờ Cửu Thiên Vũ Đế Đức Thánh Trần Hưng Đạo độ mạng . Nữ : Nữ : thờ Phổ Hiền Bồ TátNữ : thờ Quan Âm Bồ Tát độ mạng Nam : Kỷ Mão, thờ Cửu Thiên Vũ Đế Đức Thánh Trần Hưng Đạo độ mạng . Nữ : thờ Chúa Tiên Nương Nương đô mạng theo phong tục việt nam ngủ công vương phật gồm :

    Nam : Mậu Tý , Mậu Tuất, Mậu Dần , Kỷ Sửu , Kỷ Dậu, Kỷ Hợi . thờ Cửu Thiên Vũ Đế Đức Thánh Trần Hưng Đạo độ mạng . thờ Quan Âm Đại Thế Chí độ mạng.

    Nam : Mậu Thìn, Mậu Thân, Kỷ Tỵ thờ , Cửu Thiên Vũ Đế Đức Thánh Trần Hưng Đạo độ mạng .

    Nam :Canh Tý, Canh Dần, Canh Thìn, Canh Ngọ,

    Tân Sửu, Tân Mão, Tân Tỵ, Tân Hợi thờ Cửu Thiên Vũ Đế Đức Thánh Trần Hưng Đạo độ mạng .

    1/ CỬU THIÊN VŨ ĐẾ ĐỨC THÁNH TRẦN HƯNG ĐẠO

    2/ ĐỨC TẢN VIÊN SƠN THÁNH

    3/ TIÊN ÔNG CHỮ ĐỒNG TỬ

    4/ THÁNH MẪU BẢO VƯƠNG .[ MẸ PHỦ ĐỔNG THIÊN VƯƠNG THÁNH GIÓNG ]

    5/ LIỄU HẠNH CÔNG CHÚA

    Tứ bất tử : là tên gọi chung của bốn vị thánh bất tử trong tín ngưỡng Việt Nam, đó là Tản Viên Sơn Thần, Phù Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử, và Liểu Hạnh Công Chúa.

    Tản Viên Sơn Thần , hay gọi là Sơn Tinh, là vị thần Núi Tản Viên (Ba Vì), núi tổ của các núi nước Việt Nam. Tản Viên tượng trưng cho ước vọng chinh phục tự nhiên, chiến thắng thiên tai

    Phù Đổng Thiên Vương. hay còn gọi Thánh Gióng, tượng trưng cho tinh thần chống ngoại xâm và sức mạnh tuổi trẻ.

    Người Nhà Thanh nói: Tản Viên Đại Vương đi từ biển lên núi, Phù Đổng Thiên Vương cưỡi ngựa bay lên không trung, Đồng tử nhà họ Chử gậy nón lên trời; Ninh Sơn (nay là Sài Sơn) Thánh Mẫu Bảo Vương . Ướm vào dấu chân lớn để thụ thai . Ấy là An Nam Tứ bất tử vậy.

    Tiên Ông Chử Đồng Tử . còn được gọi là Chử Đạo Tổ, tượng trưng cho tình yêu, hôn nhân, và sự sung túc giàu có.

    Tên các vị Tứ bất tử của nước ta, người đời Minh cho là: TẢN VIÊN, PHÙ ĐỔNG, CHỮ ĐỒNG TỬ, NGUYỂN MINH KHÔNG. Đúng là như vậy. Vì bấy giờ Tiên chúa (Liễu Hạnh) chưa giáng sinh nên người đời chưa thể lưu truyền, sách vở chưa thể ghi chép. Nay chép tiếp vào.

    Liểu Hạnh Công Chúa., hay Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Liễu Hạnh, tượng trưng cho cuộc sống tinh thần, phúc đức, sự thịnh vượng, văn thơ.

    Trong 4 vị trên thì 3 vị nam thần đầu tiên theo truyền thuyết có từ thời Hùng Vương, và đã được thờ ở rất nhiều nơi từ rất lâu. Riêng Mẫu Liễu Hạnh là phụ nữ duy nhất, mới được đưa vào hệ thống thần thánh từ đời Hậu Lê.

    TỪ TRẦN HƯNG ĐẠO ĐẾN ĐỨC THÁNH TRẦN TRONG ĐẠO MẪU

    Do Mẫu Liễu Hạnh xuất hiện khá muộn so với 3 vị kia nên có ý kiến cho rằng bên cạnh 4 vị thánh kia, Tứ bất tử trong tín ngưỡng dân tộc Việt còn có 2 vị thánh khác là Đạo Hạnh và Nguyển Minh Không.

    Ghi chép

    Tài liệu xưa nhất về thuật ngữ Tứ bất tử là bản Dư địa chí, in trong bộ Ức Trai di tập. Nuyển Tông Quai ở thế kỷ XVII là người đầu tiên giải thích thuật ngữ Tứ bất tử, khi ông chú giải điều 32 trong sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi. Lời chú ấy như sau:

    Kiều Oánh Mậu người làng Đường Lâm là nhà học giả cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, trong lời Án sách Tiên phả dịch lục có viết:

    Những thông tin về Tứ bất tử trong thư tịch Hán Nôm, hiện đang lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Các tài liệu tiếng Việt hiện đại về Tứ bất tử thì phong phú hơn và thường khẳng định tứ bất tử gồm: Tản Viên Sơn thần, Phù Đổng Thiên vương, Chử Đồng Tử, và Liễu Hạnh Công chúa. Ví dụ như Nguyễn Tuân (1910-1987), trong thiên truyện Trên đỉnh non Tản in trong tập Vang bóng một

    Đức Thánh Trần trở thành đạo sĩ?

    CHẦU VĂN ĐỨC THÁNH TRẦN

    Công cứu quốc cao dày đã rõ

    Ơn chúng sinh tế độ còn dài

    Đại vương từ ngự thiên đài

    Ngọc hoàng giáng chỉ cứu người dương gian

    Ngôi vạn kiếp bốn phương chầu lại

    Đức uy linh bát hải lan ra

    Nam tào bắc đẩu hai tòa

    Xa ba thiên tướng hằng hà thiên binh

    Việc nội ngoại ngụ dinh tuần thú

    Khắp thiên đình địa phủ dương gian

    Bên ngai tả hữu hai ban

    Kiếm thần cờ lệnh ấn vàng trong tay

    Trên ngọc bệ tàn mây ngũ sắc

    Trước long đình hổ phục rồng chầu

    Thần thông biến hóa phép màu

    Nghìn tai nghìn mắt đâu đâu tỏ tường

    Đạo đức cao bốn phương bái phục

    Phép uy linh quỷ khóc thần kinh

    Triệt dịch lệ giải đao binh

    Phò nguy cứu khố tà tinh tiêu trừ

    Suốt nam bắc phụng thờ thành kính

    Cả muôn dân cửa thánh đội ân

    Tâm thành cầu khấn phép thần

    Phút đầu hiện ứng mười phân vẹn mười

    Non nước nhược ngự chơi ngày tháng

    Chốn non bồng thăng giáng hôm mai

    Trần gian bao cửa đền đài

    Đăng vân giá vụ khắp nơi đi về

    Từ sơn cước suối khe rừng nội

    Đèn phồn hoa cát bụi chẳng nề

    Một tay che chở phù trì

    công ơn tế thế sánh bì trời cao

    chúng tôi

    Sau khi đại phá quân Nguyên, Mông (1258 – 1288), Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn được dân chúng khắp nơi coi như vị thánh giúp dân thoát kiếp lầm than. Nhưng tại sao Đức Thánh Trần lại gia nhập vào hàng Tứ Phủ trong Đạo Mẫu? Đó là vấn đề được người dân và cả giới nghiên cứu đặc biệt quan tâm.

    Trong hệ thống biểu tượng tâm linh Việt, không ít nhân vật có thật được dân chúng huyền thoại hóa, tôn làm thánh và trở thành đấng quyền năng siêu việt, có ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt và tâm linh của mỗi người. Trong số đó, Đức Thánh Trần (Trần Quốc Tuấn) là nhân vật đã gia nhập Tứ Phủ và trở thành chư vị thần thánh giúp dân thoát khổ, thoát nạn.

    Đến nay, giới nghiên cứu văn hóa vẫn chưa tìm ra được dấu mốc thời gian cụ thể trong việc gia nhập Đạo Mẫu của vị tướng thời nhà Trần. Trong sách “Đạo Mẫu Việt Nam”, tập I, GS Ngô Đức Thịnh chủ biên có nói: “Trong đạo Mẫu Tứ Phủ đây đó người ta còn nhắc tới Phủ Trần Triều, một phủ thuần tuý mang tính chất nhân Thần. Bởi thế cần xem xét Đức Thánh Trần cùng với các thuộc hạ của Ông trong hệ thống điện thần Tứ Phủ cũng như trong thực hành tín ngưỡng”. Như vậy, việc chỉ ra thời gian cụ thể khi Đức Thánh Trần đi vào Đạo Mẫu là chưa chắc chắn. Tuy nhiên, có người cho rằng không nên đặt ra vấn đề như trên. Bởi lẽ việc thần thánh hóa một nhân vật lịch sử phải trải qua thời gian nhất định. Có thể nhân vật lịch sử đó được nhân dân yêu quý, người này nói tốt, người kia nói tốt… thì tự trong tâm tưởng người dân đã coi nhân vật đó như một vị thần rồi. Cái sự yêu quý ấy cứ ngày một lan ra, thấm sâu vào quần chúng và dần dần, người ta lập đền thờ ở nhiều nơi. Nơi thờ chính, nơi thờ vọng… Cứ như thế Trần Quốc Tuấn đã đi vào đạo Mẫu Tứ Phủ một cách tự nhiên nhất, hợp lòng người nhất.

    Theo truyền thuyết về Đức Thánh Trần thì ông là con của Đức Long vương Bát Hải Đại Vương cai quản vùng sông nước. Do dân chúng gặp kiếp nạn mà đầu thai vào Trần Quốc Tuấn để cứu dân khỏi nạn giặc ngoại xâm, giết người, cướp của.

    Đức Thánh Trần “được đặt riêng một phủ Trần Triều. Về hàng bậc, ông được Vua Trần phong là THƯỢNG PHỤ QUỐC CÔNG TIẾT CHÊ HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG còn cao hơn cả cha Vua, có lúc Ông được đồng nhất với Vua Cha trong đối sánh với Thần Mẹ, ngày giỗ và lễ hội kèm theo của Ông cũng đồng nhất với ngày giỗ Cha “tháng Tám giỗ Cha” cùng với Bát Hải Đại Vương. Nơi thờ Ông ở Kiếp Bạc, có ngọn núi xèo rộng ra ôm lấy thung lũng trước mặt ngôi đền là núi Nam Tào và Bắc Đẩu. Như vậy trong tâm thức dân gian, nghiễm nhiên Ông được coi như là Ngọc Hoàng, một Vua Cha cao hơn, bên trên cả Thánh Mẫu. Tuy nhiên, không giống như Vua Cha Ngọc Hoàng hay Vua Cha Bát Hải, các vị chỉ ngự trên điện thần chứ không giáng đồng, các Thánh hàng Mẫu cũng chỉ giáng chứ không nhập đồng, còn Đức Thánh Trần và một số thuộc hạ của Ông thì lại giáng đồng chuyên để trừ tà, cứu chữa con bệnh, tạo nên hẳn một dòng Thanh đồng phân khác với hình thức hầu đồng của dòng đồng cốt thờ Mẫu. Trong thứ tự giáng đồng của những người có căn Trần Triều thì thường là sau khi Mẫu giáng, và trước các vị Thánh hàng Quan. Đấy là chưa kể hình thức lên đồng để trừ tà thường diễn ra trong dịp lễ tiết của Đức Thánh Trần ở những nơi thờ tự chính của Ông” – theo sách “Đạo Mẫu Việt Nam”.

    Việc Đức Thánh Trần được người dân đặt vai trò như một đạo sĩ đã gây ra sự khó hiểu trong cộng đồng. Bởi ông xuất thân từ một gia đình danh gia vọng tộc, thân làm tướng, thống lĩnh ba quân, đánh Đông, dẹp Bắc, phong thái uy nghi và chỉ tương xứng với những việc cao quý, hợp với đấng quân vương. Còn công việc xua đuổi ma tà, quỷ quái thuộc về các đạo sĩ, những nhân vật thường có thân phận thấp bé trong xã hội. Nhưng ở đây, Đức Thánh Trần lại đóng vai của một bậc hạ lưu. Tại sao vậy?

    Trước đây, cố GS Trần Quốc Vượng đã nghiên cứu và chỉ ra rằng: “Thời nhà Trần, bên cạnh đạo Phật, Đạo giáo khá thịnh hành, nhiều người thuộc giới quý tộc, hoàng thân cũng là những đạo sĩ, tín đồ đạo giáo, trong đó có Trần Hưng Đạo. Từ sau khi chiến thắng giặc Nguyên, Mông, được phong vương, Ông quay trở về sống ở Kiếp Bạc, vui thú với cảnh sắc thiên thiên, làm thuốc chữa bệnh cứu người. Huyền thoại về việc Ông dùng ma thuật để trừ tà Phạm Nhan chỉ là sự lịch sử hóa, huyền thoại hóa một thực tế Ông là một thầy thuốc có tài chữa bệnh hậu sản, bệnh của phụ nữ. Với lại, trong dân gian, việc chữa bệnh bằng thuốc luôn đi liền với các hành động có tính ma thuật. Bởi vậy, sau khi Trần Hưng Đạo qua đời, danh tiếng và uy tín của Ông đã được huyền thoại hóa, khoác ra ngoài cái vỏ tín ngưỡng và lưu truyền mãi về sau, cho tận tới ngày nay”.

    Không những thế, cố GS Trần Quốc Vượng còn giải mã luôn những điều kỳ lạ khi đặt Đức Thánh Trần ngang hàng với vua cha là Bát Hải Đại Vương. Đó là bởi cuộc đời của Trần Quốc Tuấn gắn liền với những chiến công oanh liệt ở sông nước, ba lần đánh tan giặc Nguyên Mông thu phục giang sơn về một mối… Cho nên, người dân coi ông như một vị thần cai quản miền sông nước là điều dễ hiểu.

    Theo các nhà nghiên cứu Văn hóa thì Đức Thánh Trần hiện đang được nhân dân tứ phương phụng thờ dưới 3 hình thức hoàn toàn khác nhau. Hình thức thứ nhất, người dân thờ Trần Quốc Tuấn với vai trò là một anh hùng dân tộc, người đã góp công lớn vào sự kiện 3 lần đánh thắng quân Nguyên Mông, bảo vệ lãnh thổ Quốc gia. Hình thức thứ hai là người dân coi Trần Quốc Tuấn như vị vua cha, ngang hàng với Bát Hải Đại Vương. Cách phân biệt hai hình thức này dựa vào điện thờ. Hình thức thứ nhất thì ngoài điện thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn ra không có điện thờ Mẫu và điện thần thờ Mẫu. Hình thức thứ hai thì ngược lại. Hình thức thứ 3 là thờ Ông là vị Thần Độ Mạng cho tuổi Nam có can là Canh và Tân . Còn tuổi Nam can Mậu và Kỷ thì thờ ông trong bộ NGỦ CÔNG VƯƠNG PHẬT.Gồm Trần Hưng Đạo, Tản Viên Sơn Thánh, Tiên Ông Chử Đồng Tử, Bảo Vương Thánh Mẫu Mẹ Phù Đổng Thiên Vương Thánh Gióng và Liểu Hạnh Công Chúa

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thỉnh Dây Chuyền Phật Bốn Mặt Thái Lan Và Thần Voi Ý Nghĩa, Linh Thiêng © Xamphep.com™
  • Mùng 9 Tháng Giêng Ta: Cúng Trời, Vía Ngọc Hoàng
  • Cúng Rằm Tháng Giêng Năm Mậu Tuất Cứ Chọn Đúng 2 Giờ Vàng Này Để Được Trời Phật Ban Phúc, Thưởng Tài Lộc, Rước Bình An Vào Nhà
  • Rằm Tháng Giêng Năm Mậu Tuất 2022 Cúng Đúng 2 Giờ Vàng Này Để Được Trời Phật Ban Phúc, Đón Tài Rước Lộc Về
  • Hướng Dẫn Cúng Vía Ngọc Hoàng Cầu Thiên Thời
  • Ngũ Công Vương Phật .đức Thánh Trần Trong Tranh Thờ Dân Gian 25X32Cm

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Xin Số Đề Nhị Ca Phong Đánh Đâu Thắng Đó
  • Lưu Ý Đặt Tượng Phật Di Lặc Trên Ban Thờ Thổ Công – Thổ Địa
  • Nên Và Không Nên Khi Đặt Tượng Phật Di Lặc Trong Nhà 2022
  • Hướng Dẫn Cách Thỉnh Phật Di Lặc Về Nhà Đón Tài Lộc
  • {Tâm Linh} Sau Khi Phá Thai Nên Làm Gì Tâm Linh Cách Hóa Giải
  • Đức Thánh Trần trong tranh thờ dân gian.

    Vị Thánh – Tướng 

    Nam : Canh Thân, Canh Tuất thờ Phật A-Di-Đà 

    Nữ : thờ Chúa Tiên Nương Nương Nương độ mạng.

     

    Nam : Tân Mùi ,  thờ Phật Thích Ca Mâu Ni .

    Nữ :  thờ Chúa Tiên Nương Nương độ mạng.

     

    Nam  :Canh Tý, Canh Dần, Canh Thìn, Canh Ngọ, 

    Tân Sửu, Tân Mão, Tân Tỵ, Tân Hợi thờ Cửu Thiên Vũ Đế Đức Thánh Trần Hưng Đạo độ mạng .

    Nữ : thờ Chúa Tiên Nương Nương độ mạng

     

    Nam :  Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, thờ Cửu Thiên Vũ Đế Đức Thánh Trần Hưng Đạo độ mạng  . 

    Nữ : thờ Quan Âm Đại Thế Chí độ mạng. 

    Nam : Mậu Thìn, Mậu Thân, Kỷ Tỵ thờ , Cửu Thiên Vũ Đế Đức Thánh Trần Hưng Đạo độ mạng  . 

    Nữ : thờ Phổ Hiền Bồ Tát

    Nam : Mậu Tý , Mậu Tuất, Mậu Dần , Kỷ Sửu ,  Kỷ Dậu, Kỷ Hợi . thờ Cửu Thiên Vũ Đế Đức Thánh Trần Hưng Đạo độ mạng  . 

    Nữ : thờ Quan Âm Bồ Tát độ mạng

     

    Nam : Kỷ Mão, thờ Cửu Thiên Vũ Đế Đức Thánh Trần Hưng Đạo độ mạng  .   

    Nữ : thờ Chúa Tiên Nương Nương đô mạng

     

     

     

    theo phong tục việt nam ngủ công  vương phật gồm :

     

    1/ CỬU THIÊN VŨ ĐẾ ĐỨC THÁNH TRẦN HƯNG ĐẠO

    2/ ĐỨC TẢN VIÊN SƠN THÁNH 

    3/ TIÊN ÔNG CHỮ ĐỒNG TỬ 

    4/ THÁNH MẪU BẢO VƯƠNG .[ MẸ PHỦ ĐỔNG THIÊN VƯƠNG THÁNH GIÓNG ]

    5/ LIỄU HẠNH CÔNG CHÚA  

    Tứ bất tử  : là tên gọi chung của bốn vị thánh bất tử trong tín ngưỡng Việt Nam, đó là Tản Viên Sơn Thần, Phù Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử, và Liểu Hạnh Công Chúa.

    Tản Viên Sơn Thần ,            hay gọi là  Sơn Tinh, là vị thần Núi Tản Viên (Ba Vì), núi tổ của các núi nước Việt Nam. Tản Viên tượng trưng cho ước vọng chinh phục tự nhiên, chiến thắng thiên tai

    Phù Đổng Thiên Vương.   hay còn gọi Thánh Gióng, tượng trưng cho tinh thần chống ngoại xâm và sức mạnh tuổi trẻ.

    Tiên Ông Chử Đồng Tử   .    còn được gọi là Chử Đạo Tổ, tượng trưng cho tình yêu, hôn nhân, và sự sung túc giàu có.

     Liểu Hạnh Công Chúa., hay Mẫu Thượng ThiênMẫu Liễu Hạnh, tượng trưng cho cuộc sống tinh thần, phúc đức, sự thịnh vượng, văn thơ.

    Trong 4 vị trên thì 3 vị nam thần đầu tiên theo truyền thuyết có từ thời Hùng Vương, và đã được thờ ở rất nhiều nơi từ rất lâu. Riêng Mẫu Liễu Hạnh là phụ nữ duy nhất, mới được đưa vào hệ thống thần thánh từ đời Hậu Lê.

    Do Mẫu Liễu Hạnh xuất hiện khá muộn so với 3 vị kia nên có ý kiến cho rằng bên cạnh 4 vị thánh kia, Tứ bất tử trong tín ngưỡng dân tộc Việt còn có 2 vị thánh khác là Đạo Hạnh và Nguyển Minh Không.

    Ghi chép

    Tài liệu xưa nhất về thuật ngữ Tứ bất tử là bản Dư địa chí, in trong bộ Ức Trai di tập. Nuyển Tông Quai ở thế kỷ XVII là người đầu tiên giải thích thuật ngữ Tứ bất tử, khi ông chú giải điều 32 trong sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi. Lời chú ấy như sau:

    Người Nhà Thanh nói: Tản Viên Đại Vương đi từ biển lên núi, Phù Đổng Thiên Vương cưỡi ngựa bay lên không trung, Đồng tử nhà họ Chử gậy nón lên trời; Ninh Sơn (nay là Sài Sơn) Thánh Mẫu Bảo Vương  . Ướm vào dấu chân lớn để thụ thai . Ấy là An Nam Tứ bất tử vậy.

    Kiều Oánh Mậu người làng Đường Lâm là nhà học giả cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, trong lời Án sách Tiên phả dịch lục có viết:

    Tên các vị Tứ bất tử của nước ta, người đời Minh cho là: TẢN VIÊN, PHÙ ĐỔNG, CHỮ ĐỒNG TỬ, NGUYỂN MINH KHÔNG. Đúng là như vậy. Vì bấy giờ Tiên chúa (Liễu Hạnh) chưa giáng sinh nên người đời chưa thể lưu truyền, sách vở chưa thể ghi chép. Nay chép tiếp vào.

     Những thông tin về Tứ bất tử trong thư tịch Hán Nôm, hiện đang lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Các tài liệu tiếng Việt hiện đại về Tứ bất tử thì phong phú hơn và thường khẳng định tứ bất tử gồm: Tản Viên Sơn thần, Phù Đổng Thiên vương, Chử Đồng Tử, và Liễu Hạnh Công chúa. Ví dụ như Nguyễn Tuân (1910-1987), trong thiên truyện Trên đỉnh non Tản in trong tập Vang bóng một

     

    CHẦU VĂN ĐỨC  THÁNH TRẦN

     Công cứu quốc cao dày đã rõ

    Ơn chúng sinh tế độ còn dài

    Đại vương từ ngự thiên đài

    Ngọc hoàng giáng chỉ cứu người dương gian

    Ngôi vạn kiếp bốn phương chầu lại

    Đức uy linh bát hải lan ra

    Nam tào bắc đẩu hai tòa

    Xa ba thiên tướng hằng hà thiên binh

    Việc nội ngoại ngụ dinh tuần thú

    Khắp thiên đình địa phủ dương gian

    Bên ngai tả hữu hai ban

    Kiếm thần cờ lệnh ấn vàng trong tay

    Trên ngọc bệ tàn mây ngũ sắc

    Trước long đình hổ phục rồng chầu

    Thần thông biến hóa phép màu

    Nghìn tai nghìn mắt đâu đâu tỏ tường

                        

     

    Đạo đức cao bốn phương bái phục

    Phép uy linh quỷ khóc thần kinh

    Triệt dịch lệ giải đao binh

    Phò nguy cứu khố tà tinh tiêu trừ

    Suốt nam bắc phụng thờ thành kính

    Cả muôn dân cửa thánh đội ân

    Tâm thành cầu khấn phép thần

    Phút đầu hiện ứng mười phân vẹn mười

    Non nước nhược ngự chơi ngày tháng

    Chốn non bồng thăng giáng hôm mai

    Trần gian bao cửa đền đài

    Đăng vân giá vụ khắp nơi đi về

    Từ sơn cước suối khe rừng nội

    Đèn phồn hoa cát bụi chẳng nề

    Một tay che chở phù trì

    công ơn tế thế sánh bì trời cao

     

                   phongthuygiatrannam.com 

    TỪ TRẦN HƯNG ĐẠO ĐẾN ĐỨC THÁNH TRẦN TRONG ĐẠO MẪU

    Sau khi đại phá quân Nguyên, Mông (1258 – 1288), Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn được dân chúng khắp nơi coi như vị thánh giúp dân thoát kiếp lầm than. Nhưng tại sao Đức Thánh Trần lại gia nhập vào hàng Tứ Phủ trong Đạo Mẫu? Đó là vấn đề được người dân và cả giới nghiên cứu đặc biệt quan tâm. 

    Trong hệ thống biểu tượng tâm linh Việt, không ít nhân vật có thật được dân chúng huyền thoại hóa, tôn làm thánh và trở thành đấng quyền năng siêu việt, có ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt và tâm linh của mỗi người. Trong số đó, Đức Thánh Trần (Trần Quốc Tuấn) là nhân vật đã gia nhập Tứ Phủ và trở thành chư vị thần thánh giúp dân thoát khổ, thoát nạn.

    Đến nay, giới nghiên cứu văn hóa vẫn chưa tìm ra được dấu mốc thời gian cụ thể trong việc gia nhập Đạo Mẫu của vị tướng thời nhà Trần. Trong sách “Đạo Mẫu Việt Nam”, tập I, GS Ngô Đức Thịnh chủ biên có nói: “Trong đạo Mẫu Tứ Phủ đây đó người ta còn nhắc tới Phủ Trần Triều, một phủ thuần tuý mang tính chất nhân Thần. Bởi thế cần xem xét Đức Thánh Trần cùng với các thuộc hạ của Ông trong hệ thống điện thần Tứ Phủ cũng như trong thực hành tín ngưỡng”. Như vậy, việc chỉ ra thời gian cụ thể khi Đức Thánh Trần đi vào Đạo Mẫu là chưa chắc chắn. Tuy nhiên, có người cho rằng không nên đặt ra vấn đề như trên. Bởi lẽ việc thần thánh hóa một nhân vật lịch sử phải trải qua thời gian nhất định. Có thể nhân vật lịch sử đó được nhân dân yêu quý, người này nói tốt, người kia nói tốt… thì tự trong tâm tưởng người dân đã coi nhân vật đó như một vị thần rồi. Cái sự yêu quý ấy cứ ngày một lan ra, thấm sâu vào quần chúng và dần dần, người ta lập đền thờ ở nhiều nơi. Nơi thờ chính, nơi thờ vọng… Cứ như thế Trần Quốc Tuấn đã đi vào đạo Mẫu Tứ Phủ một cách tự nhiên nhất, hợp lòng người nhất.

    Theo truyền thuyết về Đức Thánh Trần thì ông là con của Đức Long vương Bát Hải Đại Vương cai quản vùng sông nước. Do dân chúng gặp kiếp nạn mà đầu thai vào Trần Quốc Tuấn để cứu dân khỏi nạn giặc ngoại xâm, giết người, cướp của.

     Đức Thánh Trần “được đặt riêng một phủ Trần Triều. Về hàng bậc, ông được Vua Trần phong là THƯỢNG PHỤ QUỐC CÔNG TIẾT CHÊ HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG còn cao hơn cả cha Vua, có lúc Ông được đồng nhất với Vua Cha trong đối sánh với Thần Mẹ, ngày giỗ và lễ hội kèm theo của Ông cũng đồng nhất với ngày giỗ Cha “tháng Tám giỗ Cha” cùng với Bát Hải Đại Vương. Nơi thờ Ông ở Kiếp Bạc, có ngọn núi xèo rộng ra ôm lấy thung lũng trước mặt ngôi đền là núi Nam Tào và Bắc Đẩu. Như vậy trong tâm thức dân gian, nghiễm nhiên Ông được coi như là Ngọc Hoàng, một Vua Cha cao hơn, bên trên cả Thánh Mẫu. Tuy nhiên, không giống như Vua Cha Ngọc Hoàng hay Vua Cha Bát Hải, các vị chỉ ngự trên điện thần chứ không giáng đồng, các Thánh hàng Mẫu cũng chỉ giáng chứ không nhập đồng, còn Đức Thánh Trần và một số thuộc hạ của Ông thì lại giáng đồng chuyên để trừ tà, cứu chữa con bệnh, tạo nên hẳn một dòng Thanh đồng phân khác với hình thức hầu đồng của dòng đồng cốt thờ Mẫu. Trong thứ tự giáng đồng của những người có căn Trần Triều thì thường là sau khi Mẫu giáng, và trước các vị Thánh hàng Quan. Đấy là chưa kể hình thức lên đồng để trừ tà thường diễn ra trong dịp lễ tiết của Đức Thánh Trần ở những nơi thờ tự chính của Ông” – theo sách “Đạo Mẫu Việt Nam”.

     

    Đức Thánh Trần trở thành đạo sĩ?

    Việc Đức Thánh Trần được người dân đặt vai trò như một đạo sĩ đã gây ra sự khó hiểu trong cộng đồng. Bởi ông xuất thân từ một gia đình danh gia vọng tộc, thân làm tướng, thống lĩnh ba quân, đánh Đông, dẹp Bắc, phong thái uy nghi và chỉ tương xứng với những việc cao quý, hợp với đấng quân vương. Còn công việc xua đuổi ma tà, quỷ quái thuộc về các đạo sĩ, những nhân vật thường có thân phận thấp bé trong xã hội. Nhưng ở đây, Đức Thánh Trần lại đóng vai của một bậc hạ lưu. Tại sao vậy?

    Trước đây, cố GS Trần Quốc Vượng đã nghiên cứu và chỉ ra rằng: “Thời nhà Trần, bên cạnh đạo Phật, Đạo giáo khá thịnh hành, nhiều người thuộc giới quý tộc, hoàng thân cũng là những đạo sĩ, tín đồ đạo giáo, trong đó có Trần Hưng Đạo. Từ sau khi chiến thắng giặc Nguyên, Mông, được phong vương, Ông quay trở về sống ở Kiếp Bạc, vui thú với cảnh sắc thiên thiên, làm thuốc chữa bệnh cứu người. Huyền thoại về việc Ông dùng ma thuật để trừ tà Phạm Nhan chỉ là sự lịch sử hóa, huyền thoại hóa một thực tế Ông là một thầy thuốc có tài chữa bệnh hậu sản, bệnh của phụ nữ. Với lại, trong dân gian, việc chữa bệnh bằng thuốc luôn đi liền với các hành động có tính ma thuật. Bởi vậy, sau khi Trần Hưng Đạo qua đời, danh tiếng và uy tín của Ông đã được huyền thoại hóa, khoác ra ngoài cái vỏ tín ngưỡng và lưu truyền mãi về sau, cho tận tới ngày nay”.

    Không những thế, cố GS Trần Quốc Vượng còn giải mã luôn những điều kỳ lạ khi đặt Đức Thánh Trần ngang hàng với vua cha là Bát Hải Đại Vương. Đó là bởi cuộc đời của Trần Quốc Tuấn gắn liền với những chiến công oanh liệt ở sông nước, ba lần đánh tan giặc Nguyên Mông thu phục giang sơn về một mối… Cho nên, người dân coi ông như một vị thần cai quản miền sông nước là điều dễ hiểu.

    Theo các nhà nghiên cứu Văn hóa thì Đức Thánh Trần hiện đang được nhân dân tứ phương phụng thờ dưới 3 hình thức hoàn toàn khác nhau. Hình thức thứ nhất, người dân thờ Trần Quốc Tuấn với vai trò là một anh hùng dân tộc, người đã góp công lớn vào sự kiện 3 lần đánh thắng quân Nguyên Mông, bảo vệ lãnh thổ Quốc gia. Hình thức thứ hai là người dân coi Trần Quốc Tuấn như vị vua cha, ngang hàng với Bát Hải Đại Vương. Cách phân biệt hai hình thức này dựa vào điện thờ. Hình thức thứ nhất thì ngoài điện thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn ra không có điện thờ Mẫu và điện thần thờ Mẫu. Hình thức thứ hai thì ngược lại.    Hình thức thứ 3 là thờ Ông là vị Thần Độ Mạng cho tuổi Nam có can là Canh và Tân . Còn tuổi Nam can Mậu và Kỷ thì thờ ông trong bộ NGỦ CÔNG VƯƠNG PHẬT.Gồm Trần Hưng Đạo, Tản Viên Sơn Thánh, Tiên Ông Chử Đồng Tử, Bảo Vương Thánh Mẫu Mẹ Phù Đổng Thiên Vương Thánh Gióng và Liểu Hạnh Công Chúa

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tục Thờ Năm Ông Của Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương Và Tứ Ân Hiếu Nghĩa
  • Cách Khấn Phật Đơn Giản Và Hiệu Quả – Hương Nhang Sạch Thảo Mộc Cao Cấp Lư Đồng
  • Văn Khấn Ngoài Trời – Cập Nhật Những Bài Văn Khấn Ngoài Trời
  • Sớ Cúng Phật Sám Hối – Phần Mềm Viết Sớ – Phần Mềm Viết Sớ Hán Nôm
  • Cách Sám Hối Tại Nhà
  • Cách Thức Thờ Phật, Lạy Phật, Cúng Phật

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Cách Thờ Đức Phật, Lạy Phật, Cúng Phật
  • Buoc Dau Hoc Dao, Nguyen Van Hong , Ch. 2
  • (Mới Nhất 2022) Hướng Dẫn Cúng Tất Niên Đầy Đủ, Chi Tiết Nhất
  • Cách Khấn Vái Tổ Tiên Ngày Tết
  • Cách Vái Lạy Phật Đúng Cách Tránh Phạm Và Những Lưu Ý Khi Dâng Lễ Chùa
  • Lạy 3 lạy là đúng nhất. Đó là lễ lạy Tam bảo tức Phật bảo, Pháp bảo, và Tăng bảo. Nhưng thật ra, vì lòng thành kính đối với Phật, ta có thể lạy bao nhiêu cũng được để tỏ lòng tôn kính và xả bỏ tâm cống cao ngã mạn. Nhưng với người bệnh hoạn, hoặc già yếu không lạy được đúng phép thì cũng không có tội, miễn sao giữ tâm thành kính hướng về Phật là tốt.

    1. Ý nghĩa thờ Phật là gì?

    – Chúng ta thờ Phật để tỏ lòng biết ơn và đền ơn Ngài đã dấn thân đóng góp không biết mệt mỏi nhàm chán, để từng bước dìu dắt mọi người tiến quả giác ngộ giải thoát hoàn toàn.

    – Thờ Phật để được học hỏi tấm gương sáng của Ngài qua các đức tính từ bi hỷ xả, trí tuệ thông suốt nhờ tâm thanh tịnh sáng suốt. Từ đó nhắc nhở chúng ta làm các việc thiện ích, và không làm các việc sai trái xấu ác.

    2. Ý nghĩa lạy Phật là gì?

    Ngày xưa khi đức Phật còn sống, các đệ tử thường cúi xuống hôn chân Phật và đặt trán mình lên đó để tỏ lòng tôn kính và biết ơn. Ngày nay chúng ta thờ hình tượng đức Phật, lễ lạy bằng cách năm vóc toàn thân đầu mình tay chân chạm sát đất để tỏ lòng tôn kính.

    3. Ý nghĩa cúng Phật là gì?

    Ngày xưa, các thí chủ cúng dường đức Phật và tăng đoàn để tỏ lòng tôn kính biết ơn và duy trì nếp sống thiền môn. Ngày nay chúng ta vẫn cúng dường như thế để duy trì ngôi Tam bảo mà có nơi nương tựa để tu học.

    4. Chúng ta phải thờ vị Phật nào?

    Trước tiên là phải thờ đức Phật Thích Ca Mâu Ni vì Ngài là người đã khai sáng ra đạo Phật có lịch sử rõ ràng. Song bên cạnh đó chúng ta có thể thờ thêm hai bên các vị Bồ Tát như Bồ Tát Văn Thù, Bồ Tát Phổ Hiền, Bồ Tát Quán Thế Âm và Bồ Tát Đại Thế Chí. Tuy nhiên tùy sở thích của mỗi người mà chúng ta có thể thờ một vị Phật khác như Phật Dược Sư, Phật A Di Đà .v.v… Nhưng chính yếu vẫn là thờ đức Phật Thích Ca Mâu Ni vì Ngài đã xuất hiện nơi thế gian bằng xương bằng thịt, còn các vị Phật khác Ngài nói lại trong các bản Kinh.

    5. Lạy Phật mấy lạy là đúng? Tại sao?

    Lạy 3 lạy là đúng nhất. Đó là lễ lạy Tam bảo tức Phật bảo, Pháp bảo, và Tăng bảo. Nhưng thật ra, vì lòng thành kính đối với Phật, ta có thể lạy bao nhiêu cũng được để tỏ lòng tôn kính và xả bỏ tâm cống cao ngã mạn. Nhưng với người bệnh hoạn, hoặc già yếu không lạy được đúng phép thì cũng không có tội, miễn sao giữ tâm thành kính hướng về Phật là tốt.

    6. Chúng ta nên cúng Phật món gì?

    – Đúng phép là cúng Phật năm món: Hoa, đèn, hương, trái cây, nước trong.

    – Nhưng với lòng tôn kính và biết ơn, chúng ta có thể cúng những món mà ta nấu nướng thanh tịnh, như: Cháo, chè, bánh, cơm chay v.v…

    7. Gia đình nghèo không đủ tiền mua hoa và trái cây thì sao?

    Đã nói là cúng dường với tấm lòng thành của mình, nếu có cũng tốt không có cũng không sao cả. Tấm lòng tôn kính và biết ơn mà cố gắng học hỏi và tu sửa mới thật là quý giá.

    Thích Đạt Ma Phổ Giác

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mâm Cúng Khai Trương Quán Cafe Ở Thủ Dầu Một Bình Dương
  • Hướng Dẫn Khai Trương Cửa Hàng Quần Áo
  • Những Hạng Mục Quan Trọng Trong Ngày Khai Trương Shop Quần Áo
  • Văn Khấn Cúng Động Thổ Khoan Giếng Chuẩn Nhất
  • Cách Cúng Nhà Mới Kèm Văn Khấn Nhập Trạch Chi Tiết Nhất Năm 2022
  • Tìm Hiểu Cách Thờ Đức Phật, Lạy Phật, Cúng Phật

    --- Bài mới hơn ---

  • Buoc Dau Hoc Dao, Nguyen Van Hong , Ch. 2
  • (Mới Nhất 2022) Hướng Dẫn Cúng Tất Niên Đầy Đủ, Chi Tiết Nhất
  • Cách Khấn Vái Tổ Tiên Ngày Tết
  • Cách Vái Lạy Phật Đúng Cách Tránh Phạm Và Những Lưu Ý Khi Dâng Lễ Chùa
  • 6 Lưu Ý Trong Quá Trình Đi Cúng Viếng Tang Lễ
  • Đức Phật là người đã dày công tu luyện đắc thành Đạo. Ngài đã dùng phước đức và trí tuệ của mình dẫn dắt chúng sanh thoát khỏi bể khổ nhân gian. Ngài là một người siêu phàm xuất chúng, tấm lòng từ bi vô lượng, luôn có những lời dạy quý báu, những hành động sáng suốt. Chính vì vậy, Đức Phật luôn là bậc đáng tôn thờ.

    Thờ Đức Phật là bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đối với bậc đã hy sinh tất cả hạnh phúc vĩnh cửu cho chúng sinh. Là để chúng ta luôn hướng đến chân, thiện, mỹ của Ngài và noi theo.

    Thờ Phật như thế nào mới đúng?

    Thờ Phật là để luôn một tâm hướng về thiện lành, luôn làm theo những lời Phật dạy. Thờ Phật để luôn được ngọn đèn trí tuệ của Ngài soi sáng tâm thức, lòng phát sáng lòng từ bi, hướng thiện, giúp người. Chứ không phải thờ Phật để mưu cầu ban phước, trừ họa, mua may bán đắt. Không được có ý nghĩ thờ Phật để dựa vào sức mạnh của Ngài chở che để làm việc bất chính.

    Nên thờ Đức Phật nào?

    Trong Phật Giáo, tùy vào từng thời kỳ giáo hóa của mỗi Đức Phật và pháp môn tu hành mà thờ cho hợp lý. Hiện nay, đang ở thời kỳ giáo hóa của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nên chúng ta thờ Ngài. Nếu bạn theo tín đồ “Tịnh Độ Tông” thì phải thờ Đức Phật A Di Đà. Hay bạn muốn thờ “Tam Thế Phật” thì nên thờ Đức Phật Thích Ca, Đức A Di Đà và Đức Di Lặc.

    Cách thức thờ Đức Phật

    Nếu bạn thờ “Tam Thế Phật” thì phải sắp xếp chung trên một bàn. Phải đặt bằng nhau không được cái cao, cái thấp, cũng không được cái to, cái bé. Bàn thờ Phật phải đặt ở vị trí chính giữa nhà, bàn thờ gia tiên ở phía dưới hoặc sau. Tại bàn thờ Phật ngoài bình bông, lư hương, chân đèn, dĩa quả thì không được đặt tạp vật nào khác. Phải luôn lau quét sạch sẽ bàn thờ Phật.

    Nếu như trong nhà thờ tượng Phật lâu năm mà bị hư hỏng thì mua tượng mới về thay. Và khi mua tượng mới phải làm lễ nhập Phật cho bức tượng. Nhưng tượng cũ phải đưa vào chùa chờ dịp nhập tháp.

    LẠY PHẬT

    Ý nghĩa của việc lạy Phật

    Lạy Phật là biểu hiện tấm lòng thành kính, sự ngưỡng mộ, tôn thờ một bậc tối thượng. Cử chỉ cúi lạy Đức Phật là hoàn toàn tin cậy đối với Ngài. Luôn một lòng hướng thiện, từ bi, làm theo những lời dạy quý báu của Ngài.

    Lạy Phật như thế nào cho đúng cách?

    Khi lạy Đức Phật phải quỳ xuống, ngửa hai lòng bàn tay ra như đang nâng hai chân Phật. Và cúi lưng xuống, đặt trán trên hai lòng bàn tay. Trước khi lạy Phật, người phải sạch sẽ, y phục trang nghiêm. Sau đó đốt hương ra trước bàn thờ Phật, đứng ngay thẳng, tay chắp để trước ngực, mắt hướng về Đức Phật, tâm tưởng đến điều tốt và tỏ bày nguyện vọng chân chính. Xá rồi cắm hương vào lư trên bàn thờ, đánh tiếng chuông và lạy Phật ba lạy.

    CÚNG PHẬT

    Ý nghĩa về cúng Phật

    Cúng dường Tam Bảo, giúp chúng ta gần với Đức Phật, luôn có ý nghĩ Phật vẫn còn tại thế, luôn bên cạch soi sáng tâm thức chúng sanh. Sự cúng Phật này, giúp chúng ta được kết duyên lành với Phật, hiểu rõ hơn về cuộc đời của Ngài và quyết noi theo những gì Ngài đã dạy bảo.

    Lễ vật cúng Phật là những gì?

    Cúng Phật đúng nghĩa là cúng hương thơm, đèn sáng, hoa tươi, quả tốt, nước trong và cơm trắng. Điều quan trọng nhất khi cúng Phật đó chính là tâm hướng thiện. Và không được sát sinh khi cúng Phật, điều này sẽ gây nên ác nghiệp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Thức Thờ Phật, Lạy Phật, Cúng Phật
  • Mâm Cúng Khai Trương Quán Cafe Ở Thủ Dầu Một Bình Dương
  • Hướng Dẫn Khai Trương Cửa Hàng Quần Áo
  • Những Hạng Mục Quan Trọng Trong Ngày Khai Trương Shop Quần Áo
  • Văn Khấn Cúng Động Thổ Khoan Giếng Chuẩn Nhất
  • Bàn Thờ Phật Chung Với Gia Tiên & Cách Thờ Cúng Phật Tại Gia

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghi Thức Cúng Cầu An Đầu Năm
  • Cách Cúng Vong Thai Nhi Theo Đúng Luật Nhân Quả
  • Hướng Dẫn Cúng Chuyển Văn Phòng Mới Chi Tiết Nhất
  • Cúng Cô Hồn Đúng Cách Và Những Điều Cần Lưu Ý
  • Cách Cúng Cô Hồn Như Thế Nào Và Mâm Cúng Gồm Những Gì?
  • Trong gia đình nhỏ không có phòng thờ Phật riêng thì việc bố trí bàn thờ Phật chung với gia tiên là điều thường gặp. Thế nhưng cách đặt bàn thờ Phật và gia tiên sao cho đúng nguyên tắc thì không phải ai cũng nắm rõ. Bài viết này sẽ hướng dẫn bạn cách lập bàn thờ Phật và ông bà trong nhà cùng cách thờ cúng bàn thờ Phật tại gia theo đúng phong thủy, với truyền thống Việt Nam.

    Bàn thờ Phật chung với gia tiên có được không?

    Việc thờ cúng ông bà tổ tiên là nét văn hóa lâu đời rất được người Việt xem trọng. Việc làm này thể hiện lòng biết ơn, tấm lòng thành kính của con cháu dâng lên các vị tiền nhân.

    Tương tự như việc thờ cúng , không biết là nét tín ngưỡng này xuất hiện từ khi nào nhưng đã rất lâu đời rồi. Người ta tìm tới Phật để cầu mong những người có năng lực cao siêu để giúp họ vượt qua nỗi bất hạnh, nỗi buồn trong cuộc sống. Từ đó việc thờ cúng Phật để cầu mong may mắn, bình an, tai qua nạn khỏi.

    Việc thờ cúng Phật và gia tiên là rất cần thiết, tuy nhiên không gian gia đình thì có hạn. Bạn không thể tách riêng thành 2 khu vực thờ cúng hay tách nhỏ 2 bàn thờ ra được. Lúc này bạn tự hỏi: “Bàn thờ Phật chung với gia tiên có được không”?

    Xin thưa với bạn, Bàn thờ Phật chung với gia tiên được tuy nhiên cần bố trí bàn thờ Phật và gia tiên hợp lý tránh phạm thượng. Vậy cách lập bàn thờ Phật và ông bà trong nhà như thế nào, mời bạn xem tiếp phía dưới.

    Cách lập bàn thờ Phật và ông bà trong nhà

    Có nên lập bàn thờ Phật tại gia hay không chúng tôi đã trả lời phía trên. Trong cách lập bàn thờ Phật và ông bà trong nhà bạn sẽ cần nắm một số khái niệm như sau:

    • Không dùng gỗ đã qua sử dụng để làm bàn thờ Phật và gia tiên.
    • Muốn lập bàn thờ Phật cần làm lễ thỉnh Phật về nhà.
    • Luôn đặt tượng Phật ở vị trí trung tâm và cao nhất trên bàn thờ Phật tại gia.
    • Cần đặt tượng Phật lên một chiếc đĩa có lót lớp giấy đỏ.
    • Không nên thờ quá 3 vị Phật trong một nhà.

    Nếu trường hợp gia đình mới chuyển sang nhà mới ở thì nên lập bàn thờ Phật và ông bà trong nhà cùng 1 thời điểm. Trong lúc cúng, bạn cần thỉnh Phật về trước rồi mới rước gia tiên về sau.

    Cách đặt bàn thờ Phật và gia tiên

    Sau khi mua tại cửa hàng Bàn thờ gỗ chúng tôi về nhà. Bạn đặt bàn thờ Phật và gia tiên lưng sát tường phía sau. Phía dưới nền bằng phẳng được quét sạch trước đó. Nếu bàn thờ Phật chung với gia tiên có kích thước lớn, chúng tôi lúc giao hàng sẽ tiến hành lắp đặt miễn phí cho bạn luôn.

    Đối với trường hợp bàn thờ Phật treo tường, Cách đặt bàn thờ Phật và gia tiên có phần phức tạp hơn:

    Nếu là 2 bàn thờ treo tường thì sẽ được chúng tôi khoan và treo cố định trên tường. Phía trên chúng tôi lắp tấm chống ám khói nhằm không bị khói hương làm đen trần nhà. Bàn thờ gia tiên treo tường thường nằm bên phải hoặc trái, độ cao thấp hơn so với bàn thờ Phật treo tường.

    Nếu là bàn thờ gia tiên dạng đứng dưới đất và phía trên là bàn thờ Phật treo tường, Cách đặt bàn thờ Phật và gia tiên sẽ là: Lắp đặt, cố định bàn thờ gia tiên trên nền nhà. Sau đó đo khoảng cách phù hợp để bắn vít, treo bàn thờ Phật lên tường. Phía trên cùng sử dụng thêm tấm chống ám khói để khỏi đen sạm trần nhà.

    Nguyên tắc đặt bàn thờ Phật và gia tiên

    • Tuyệt đối không cho tượng Phật vào tủ kính hoặc một góc tối nào đó.
    • Hạn chế đặt bàn thờ ở lối đi lại vì sẽ làm mất đi sự thành kính, linh thiêng.
    • Không nên bố trí giường ngủ ở phía sau bàn thờ.
    • Tuyệt đối không đặt bàn thờ ở dưới gầm cầu thang, gần phòng tắm hay nhà vệ sinh.
    • Nên đặt tượng nhìn ra hướng cửa chính của căn nhà.

    Hướng đặt bàn thờ Phật trong nhà

    Hướng đặt bàn thờ Phật trong nhà cần dựa vào mệnh của gia chủ. Theo đó với người mệnh Đông bàn thờ có thể đặt theo hướng Bắc, Đông Nam, hướng Đông hoặc hướng Nam. Còn với người mệnh tứ trạch thì bàn thờ nên bố trí bàn thờ Phật và gia tiên ở hướng Tây, Tây Bắc, Tây Nam hoặc Đông Bắc.

    Tuy nhiên theo quan điểm của nhiều người, cách đặt bàn thờ Phật trong nhà nên đặt ở hướng Tây Bắc của căn nhà. Hoặc nếu không thì có thể đặt ở vị trí hướng Tây Bắc của phòng thờ.

    Bên cạnh đó hướng đặt bàn thờ Phật trong nhà không nên hướng về Đông Bắc mà lại nhìn về hướng Tây Nam. Mặt khác, bạn cũng nên tránh cách bố trí bàn thờ Phật và gia tiên chung quay lưng về hướng Đông Bắc. Bởi theo quan niệm phong thủy, nếu đặt bàn thờ như vậy có nghĩa bạn đã chọn vào hướng Ngũ Quỷ.

    Cách bài trí bàn thờ Phật và gia tiên

    Cách bài trí bàn thờ Phật và gia tiên chắc chắn phải có tượng Phật, bát hương và đèn chiếu sáng. Khi đặt bát hương, bạn hãy chọn ngày đẹp rồi đến chùa nhờ đến sự tư vấn, hỗ trợ của các sư. Sau đó bạn hãy mang bát hương đã cắm sẵn 3 chân nhang về rồi cắm thêm 3 cây nhanh khác. Còn về phần ánh sáng, bạn có thể bố trí 2 đèn ở 2 bên hoặc đặt 1 đèn ở giữa bàn thờ.

    Khi trang trí bàn thờ Phật tại gia hãy cố gắng bố trí thêm bình hoa tươi và những vật phẩm khác. Không nhất thiết cứ phải mùng 1 hay 15 hàng tháng mới thay hoa. Nếu có thể, bạn nên giữ hoa hay những trái cây khác trên bàn thờ luôn tươi. Đồng thời cần thường xuyên lau dọn để nơi thờ cúng luôn sạch sẽ.

    Treo ảnh Phật trên bàn thờ gia tiên được không? Điều này hoàn toàn được đối với gia chủ thờ Phật nhưng không dùng tượng. Lúc này bước ảnh Phật được xem như hiện thân của Đức Phật về ngụ tại bàn thờ.

    Cách thờ cúng bàn thờ Phật chung với gia tiên

    Đối với thờ cúng Phật thì lại diễn ra hằng ngày, đều đặn mỗi sáng tối. Vì vậy bạn chỉ nên thắp hương ở bàn thờ Phật, đọc kinh Phật cùng ngồi thiền chứ không thắp hương ở bát hương gia tiên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Sắp Xếp Đồ Thờ Cúng Gia Tiên Đúng Chuẩn Theo Phong Thủy
  • Tổng Hợp 6 Bài Khấn Khi Đi Chùa Lễ Phật
  • Cách Sử Dụng Lộc Bà Chúa Xứ Châu Đốc
  • Cách Cúng Tết Đoan Ngọ (Mùng 5 Tháng 5 Âm Lịch)
  • Cách Cúng Ông Công Ông Táo Ngày 23 Tháng Chạp, 23 Tết Âm Lịch
  • Nghi Quỹ Cúng Dường Dược Sư Thất Phật Kinh Như Ý Vương

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Điển Tích Về Phật Dược Sư ” Shop Hoa Vô Ưu
  • Cách Thờ Cúng Phật Di Lặc Đúng Cách, Không Phải Ai Cũng Biết
  • Truyền Thuyết Tứ Diện Phật Trong Tín Ngưỡng Thái Lan
  • Sớ Cúng Giao Thừa Tại Tư Gia Dành Cho Bạn
  • Nghi Thức Cúng Dường Lễ Phật Đản
  • Nghi Quỹ Cúng Dường Dược Sư Thất Phật Kinh Như Ý Vương

    Thanh Công Bố Tra Bố dịch, Bản Việt dịch của Thích Quảng Trí

    *

    Khể thủ vô cấu mãn nguyệt chủ

    Pháp vũ nhiêu ích chư chúng sanh

    Tu trì nghi quỹ hạnh nguyện Pháp

    Nguyệt diệt chư khế hộ an ninh

    (Kính lạy vị đầy đủ tướng tốt không dơ bẩn

    Mưa Pháp lợi ích khắp chúng sanh

    Tu trì nghi quỹ hạnh nguyện Pháp này

    Xin nguyện các khổ tiêu diệt thường được an vui)

    Tu tạo Dược Sư Đàn Pháp: Hoặc tạo lập hoặc họa vẽ đều được, sau đó an Phật Thích Ca, Dược Sư bảy Phật Như Lai, các Đại Bồ Tát, Hộ Pháp, mười hai Dạ Xoa Đại tướng, mỗi mỗi theo thứ lớp, hương đèn hoa quả hiến cúng tùy sức bày biện.

    Nếu muốn tu trì, tắm rửa sạch sẽ, mặc quần áo mới, không ăn uống các loại rượu thịt uế ác ..v…v… ăn Tam bạch thực, tâm phải xa lìa các cấu nhiễm. Nếu là cư sĩ giữ gìn trai giới (ngày ăn một bữa ngọ). Nếu là xuất gia phải giữ gìn Đại thừa giới luật.

    _ Nguyện quy y Tam Bảo cần Chư Phật Bồ Tát nhiếp thọ thành tựu tất cả sức tối thắng, Pháp giới thanh tịnh bất tư nghị tất cả Chư Phật gia hộ đệ tử …. Nơi đây làm Pháp Bồ Tát, phước điền xin nguyện giáng lâm nạp thọ.

    Thương xót chúng sinh năm ác trược

    Kinh Đại Phương đẳng nghĩa sâu xa

    Gần gũi dạy dỗ cho chúng con

    Các vị Tôn sư con đảnh lễ

    Thế Tôn đầy đủ Đại bi tâm

    Đủ các món Trí làm Đạo sư

    Phước đức trí huệ sâu như biển

    Con xin đành lễ các Như Lai

    Thanh tịnh xa lìa các tham dục

    Hay khiến xa lìa các ác thú

    Tối thắng tối tôn nghĩa nhiệm màu

    Thanh tịnh Pháp bảo con đảnh lễ

    Tự mình hiểu được khiến người hiểu

    Lại hay an trụ các học xứ

    Đủ các công đức làm Phước điền

    Các vị Tăng già con đảnh lễ

    Đảnh lễ Tối Tôn Chánh biến tri

    Đảnh lễ tất cả các Diệu Pháp

    Đảnh lễ tất cả hàng Tăng già

    Mãi mãi chí thành xin đảnh lễ

    Xem khắp mười phương các chúng sanh

    Xót thương xoay chuyển Diệu Pháp luân

    Độ cho tất cả loài hàm thức

    Đảnh lễ mười phương Phật Thế Tôn

    Đồng lòng phát thệ nguyện sâu dầy

    Tu tập cùng nhau làm bạn lữ

    Nguyện trong hiền kiếp chứng Như Lai

    Đầy đủ ngàn Phật con kính lễ

    Từ lâu vô số kiếp ngày xưa

    Vì cứu chúng sanh bị khổ hoài

    Nên phát các lời đại nguyện thệ

    Tám Phật Như Lai con cúi đầu

    Duy hệ, Thi khí, Tỳ xá phù

    Câu lưu, Na hàm và Ca Diếp

    Thích Ca Như Lai ở cõi đời

    Bảy Phật như trên con đảnh lễ

    Thù thắng mặt như mặt trăng tròn

    Thân sắc vàng tươi con đảnh lễ

    Xa lìa ba cõi các bụi nhơ

    Các vị Thế Tôn con đảnh lễ

    Đại bi Thế Tôn xin thương xót

    Nghe tên tiêu trừ khổ sáu đường

    Trừ ba bệnh độc Phật Dược Sư

    Lưu Ly Quang Vương con đảnh lễ

    Chỗ nơi Chánh Giác hiện ra đời

    Và chỗ Ngài thành đạo Bồ đề

    Cùng chỗ Pháp Luân đầu tiên nói

    Nay con thảy đều xin đảnh lễ

    Chỗ Đức Như Lai thường an ở

    Kinh hành qua lại hoặc ngồi nằm

    Nói Pháp thậm thâm dạy chúng sanh

    Những chỗ như vầy con đảnh lễ

    Trên dưới mười phương tới trung ương

    Chẳng cần phân biệt các hướng phương

    Có Xá lợi hay không Xá lợi

    Hễ có chùa tháp con cúi đầu

    Trí huệ thâm sâu chẳng nghĩ bàn

    Không sanh không diệt thể hư không

    Tùy theo các loại mà sanh khởi

    Phật Mẫu ra đời con kính lễ

    Văn Thù, Cứu Thoát, Bí Mật chủ

    Cùng với Quan Âm hạnh rộng sâu

    Độ khắp chúng sanh không mỏi mệt

    Đại Thừa Tăng già con đảnh lễ

    Tâm sáng đầy đủ chiếu khắp nơi

    Con xin đảnh lễ thân chói ngời

    Khiến được an vui lìa các khổ

    Các nơi như vậy con đảnh lễ

    Các căn trong sạch trí mênh mông

    Dạy bảo mọi loài ở thế gian

    Mười sáu La Hán con đảnh lễ

    Tu quán mười hai khắp nhân duyên

    Được gọi Duyên Giác quả như trên

    Không nương nơi Pháp tự mình tu

    Chứng Đạo Độc Giác con đảnh lễ

    Thần thông biến hóa thật khó lường

    Vâng lời Phật dạy suốt ngày đêm

    Ủng hộ Như Lai mật Pháp truyền

    Hộ Giáo Kim Cương, con đỉnh lễ

    Đời xưa Bố Thí nhân này

    Đời nay thọ mệnh ,tiền tài, trang nghiêm

    Cúng dường Tam Bảo Đạo Tâm

    Con xin kính lễ ân thâm mọi người

    Chư Phật Bồ Tát khắp Hư Không

    Biến hóa Thần Thông độ chúng sinh

    Khắp cõi vi trần đều có đủ

    Tất cả các Thời, con kính lễ

    Mười Phương tất cả Thế Giới đây

    Ba đời chư Phật hiện ra nay

    Con dùng thân khẩu ý trong sạch

    Cúi đầu đỉnh lễ các Như Lai

    Phổ Hiền hạnh nguyện thật oai thay

    Trước Phật Như Lai hiện đủ đầy

    Một hiện ra trăm, trăm hiện ức

    Thảy đều có đủ lễ Như Lai

    Ở trong tất cả ở mười phương

    Phật Hội Bồ Tát Chúng hiện đương

    Tin Phật rất sâu đầy đủ cả

    Tận khắp vi trần thật khó lường

    Hay dùng tất cả mọi âm thanh

    Vô tận lời hay ý đẹp lành

    Khen Phật vô cùng công đức lớn

    Tận vi trần kiếp khắp nơi sinh

    Lại dùng tất cả các tràng hoa

    Âm nhạc và cùng các thứ hương

    Đầy đủ trang nghiêm không có sót

    Xin đều dâng hiến Phật mười phương

    Tất cả y phục, tất cả hương

    Hương bột, hương đốt, đèn đuốc trong

    Tất cả chứa đầy như núi lớn

    Cúng dường chư Phật hết lòng thành

    Lại dùng rộng lớn Thắng Giải Tâm

    Tin Phật sâu xa chẳng đổi lòng

    Y Đức Phổ Hiền hạnh nguyện đó

    Cúng dường khắp hết Phật mười phương

    Con xưa đã tạo các Ác Nghiệp

    Đều do vô thủy Tham Sân Si

    Từ thân miệng ý phát sinh ra

    Tất cả con đều xin sám hối

    Mười Phương tất cả các chúng sinh

    Nhị Thừa Hữu Học và Vô Học

    Tất cả Như Lai và Bồ Tát

    Có bao Công Đức đều tùy hỷ

    Mười Phương tất cả Thế Gian Đăng

    Đầu tiên thành tựu Đạo Bồ Đề

    Nay con thảy đều xin khuyến thỉnh

    Cầu Ngài xoay chuyển bánh xe Pháp

    Chư Phật nếu muốn vào Niết Bàn

    Con nguyện chí thành xin khuyến thỉnh

    Cầu Phật ở lâu tại nơi đời

    Lợi lạc tất cả các chúng sanh

    Tất cả lễ tán, cúng dường phước

    Thỉnh Phật nơi đời chuyển Pháp luân

    Tùy hỷ sám hối các Thiện căn

    Hồi hướng chúng sanh và Phật đạo

    (Chắp tay đọc lời Bồ Tát rằng: )

    _ Nhớ xưa Đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác như người dạy ngựa, dạy voi, chỗ đáng làm đã làm xong, thệ nguyện đủ đầy, lợi mình lợi người, hết các kiết sử, đủ các giải thoát, đủ các trí huệ. Nay vì chúng con, vì lợi ích, vì giải thoát, vì xa lìa tật bệnh, xa lìa đói khát, vì đầy đủ các phương tiện, vì Chánh Đẳng Bồ đề làm Pháp giải thoát. Chúng con … từ lúc này cho đến lúc mặt trời mọc, xin thọ Bồ Tát.

    Bắt đầu từ đây không sát hại

    Lại cũng không trộm cướp của người

    Lại cũng không làm chuyện dâm dục

    Lại cũng không nói dối mọi lời

    Lại cũng nguyện xin chừa bỏ rượu

    Mọi tội phát sinh bởi đây thôi

    Chẳng nằm giường rộng ngồi chỗ ao

    Chẳng có thèm ăn uống trái thời

    Cũng chẳng đeo hoa xoa phấn sáp

    Chẳng cần ca hát nhạc vui chơi

    Như Phật xưa kia cũng đã làm

    Nay con theo Phật chẳng sát sanh

    Tất cả việc trên đều theo học

    Nguyện thành vô thượng chứng kim thân

    Nguyện sớm thoát ly qua biển khổ

    Nguyện ban an lạc cứu quần sanh

    Ngạc ma a ma hắc hợp tí y lạp, tát ma bạt hợp lặc tát ma bạt hợp lạt, bạt hợp lạt, bạt hợp lạt, ma hợp a thư bạt đạt hợp tát linh ba đạt ma tất bất lương y đáp bất tạp đạt hợp lặt đạt hợp lặc tát mạn đáp a oát la cơ đắc hồng phì dà sa a hợp a (21 lần)

    Giữ gìn giới cấm lìa ô nhiễm

    Thanh tịnh đầy đủ chẳng ngại ngăn

    Xa lìa cấm giới bị chấp trước

    Giới Ba La Mật giữ gìn luôn

    Quy y mười phương ba đời các Như Lai công đức của ba nghiệp Thân, Khẩu, Ý, tự nơi tự tánh sanh tám vạn bốn ngàn Pháp. Tất cả Thánh Tăng để làm Thân giáo sư (A Xà Lê) và các Ngài có đủ oai đức tự tại.

    Quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, qu y Thế Tôn và tám Như Lai trong hội Dược Sư cùng các quyến thuộc.

    Phát tâm Bồ đề:

    Vì các hữu tình nguyện thành Phật quả. Do tu trì tám đại Như Lai Phật hội, cùng các quyến thuộc cúng dường lễ thỉnh. Dùng ý phát nguyện lần lượt theo thứ tự :

    Từ trong bản tánh Chân như phát bốn Tâm Vô lượng

    Ta cùng các hữu tình Pháp tánh bổn lai không khác

    Do vì không hiểu lý này, nguyện cho tất cả chúng sanh thường được an lạc và các nghiệp thanh tịnh

    Nguyện khiến xa lìa khổ não và các nhân khổ

    Nguyện khiến dứt các khổ thường được an lạc

    Nguyện khiến bỏ các nhân ác chấp trước được an ẩn thường lạc, luôn có tâm bình đẳng.

    Cúi mong Tam Bảo, tất cả Chư Phật và Bồ Tát nhiếp thọ, hai món đầy đủ, lực Pháp giới thanh tịnh không thể nghĩ bàn. Nguyện bảy Phật Như Lai bổn nguyện như trong kinh đã nói, mười phương Như Lai chứng cho đệ tử, các Thánh Hộ Pháp nơi đàn cùng các cúng vật, nguyện oai lực của Phật Bồ Tát biến thành cõi Phật thanh tịnh như cõi Cực Lạc của Phật A Di Đà đầy đủ tất cả công đức trang nghiêm. Đất này đều do các thứ báu mà thành, bằng phẳng sạch sẽ rộng rãi, ánhsáng vi diệu chiếu khắp mọi nơi, hoa trời tán rải các mùi hương Ngưu Đầu, Chiên Đàn xông khắp, vàng bạc các báu rải lát nơi đất, các ao báu có nước tám công đức, các thứ chim chóc đủ màu bay nhảy hót lên các âm thanh vi diệu. Lại có cây báu Như ý nghiêm sức bằng các báu ma ni, trân châu, san hô, treo thòng các ngọc báu, nở các hoa quả, khi có gió thổi rung động các chuông vàng phát ra âm thanh vi diệu đầy đủ các món như vậy, tự nhiên thành tựu.

    Lại nơi giữa đất do bảy báu thành tựu, có vô lượng cung điện phóng ánh sáng rực rỡ chiếu khắp vô lượng thế giới, các cảnh như thế, thế gian không gì sánh kịp, dùng các món thiện căn thanh tịnh oai đức tự tại lễ nơi Đức Như Lai ngự cùng các chư Bồ Tát, Thánh Tăng, Thiên Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Dà, Nhân, Phi nhân vô số qua lại giỡn chơi, lại phát ra các Pháp vị độ tất cả hữu tình thảy đều an lạc, xa lìa các phiền não cấu chướng, vĩnh viễn không có việc ma. Tất cả việc như trên thành tựu không nghi thế gian không bì được cũng như cõi Tịnh độ của Phật, được đại trí huệ quyết định chứng ngộ Đại thừa chỉ quán nhập vào cửa Giải thoát, tự tánh không tướng, vô lượng tòa sen báu, vô lượng công đức, vô lượng bảo điện tự nhiên thành tựu.

    Lại nơi trong đàn tòa Liên Hoa Sư tử Thiện Danh Xưng Cát Tường Vương Như Lai, Bảo Nguyệt Liên Hoa Trí Nghiêm Quang Âm Vương Như Lai, Kim Sắc Vô Cấu Bảo Quang Diệu Hạnh Thành Tựu Như Lai, Vô Ưu Tối Thắng Cát Tường Như Lai, Pháp Hải Lôi Âm Như Lai, Pháp Hải Thắng Huệ Du Hý Thần Thông Như Lai, Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai, Thích Ca Mâu Ni Như Lai và mười phương Như Lai, Bồ Tát Thánh thần Hộ Pháp chúng hội các vị đều nơi tòa của mình an trụ theo thứ lớp tự nhiên thành tựu đầy đủ.

    Lại nữa trong ngoài tất cả mọi nơi, tùy lực các món thắng diệu uống ăn nơi cõi trời người y phục âm nhạc các thứ vật cúng như trong kinh đã nói nơi phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện đầy như mây biển cúng dường khắp Thánh chúng. Xin nguyện nạp thọ.

    Chỉ ngạt ma nạp ma bạt hợp hắc oác đắc bạt nan lặc tát a lặc ba lặc ma lặc đạt nạp đáp tháp a hắc đáp a nha a lặc hợp đắc tát ma nha ưu tát ma phổ đạt đạt hợp nha đáp đạt nha tháp a chỉ ngạc ma bạt tạp phù bạt tạp phù ma lạp a tất đạt nha a bạt tạp phù, ma lạp a bạt đề tư đáp đáp bạt tạp phù ma cáp a bạt đề mạn đốt ba tang kiết lạt ma na bạt tạp phù tát lạt oát kiết lạt ma a a oát lạt ma tất thạc đạt cáp nạp bạt tạp phù sa a cáp a.

    Lại xin tất cả Chư Phật Bồ Tát nhiếp thọ hai món tư lương đầy đu sức tối thắng, lực bất khả tư nghị tối thắng của Pháp giới như vậy thành tựu.

    Thiện Danh Xưng Cát Tường Vương Như Lai, Bảo Nguyệt Liên Hoa Trí Nghiêm Quang Âm Vương Như Lai, Kim Sắc Vô Cấu Bảo Quang Diệu Hạnh Thành Tựu Như Lai, Vô Ưu Tối Thắng Cát Tường Như Lai, Pháp Hải Lôi Âm Như Lai, Pháp Hải Thắng Huệ Du Hý Thần Thông Như Lai, Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai, Thích Ca Mâu Ni Như Lai … Ba đời mười phương tất cả Như Lai Ứng Cúng Cháng Đẳng Giác cùng tất cả chư Bồ Tát xót thương chứng giám. Thế Tôn đầy đủ đại từ bi do vì khi Tượng Pháp chuyển năm trăm năm sau, tất cả chúng sanh bị các nghiệp chướng ràng buộc, tất cả ác bệnh bức bách, tất cả khổ não làm hại cùng sự nghèo khổ vì muốn cứu vớt các hữu tình như vậy và vì lợi ích trời người được an lạc. Tất cả Như Lai đủ các phương tiện khéo léo và đủ các đại nguyện do các lực tối thắng này nhiếp thọ không cùng, khiến cho … tên … cầu … và tất cả chúng sanh làm chỗ dựa nương. Nguyện xin giáng lâm tại Đạo tràng này thọ các cúng dường từ bi nhiếp thọ gia hộ cho.

    Bổn sư hiện tại của chúng con Thích Ca Mâu Ni Văn Phật phân thân biến hóa khắp mười phương cõi du hý thần thông làm lợi ích chúng sanh. Nguyện Thế Tôn đại từ đại bi không bỏ lời thệ nguyện thương xót con và tất cả chúng sanh thời Mạt Pháp làm chỗ nương dựa giáng lâm Đạo tràng thọ lãnh cúng dường ban cho thành tựu.

    Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma Ha Tát, Cứu Thoát Bồ Tát, Kim Cang Thủ Bồ Tát … và tất cả các Bồ Tát từng ở nơi Hội của bảy Như Lai, khi nghe kinh Bổn nguyện Công đức ở trong đại hội nhiép thọ kinh nghĩa vì thành tựu Diệu Pháp của Như Lai mà phát tâm, nay vì tên … cùng chúng con và tất cả chúng sanh làm nơi nương dựa xin thỉnh giáng lâm tại đạo tràng này thương xót nạp thọ.

    Cực Ý Dạ Xoa Đại Tướng

    Kim Cang Dạ Xoa Đại Tướng

    Chấp Nghiêm Dạ Xoa Đại Tướng

    Chấp Tinh Dạ Xoa Đại Tướng

    Chấp Phong Dạ Xoa Đại Tướng

    Cư Xử Dạ Xoa Đại Tướng

    Chấp Lực Dạ Xoa Đại Tướng

    Chấp Ẩm Dạ Xoa Đại Tướng

    Chấp Ngôn Dạ Xoa Đại Tướng

    Chấp Tưởng Dạ Xoa Đại Tướng

    Chấp Động Dạ Xoa Đại Tướng

    Viên Tác Ý Dạ Xoa Đại Tướng

    Các vị Dạ Xoa Đại Tướng xưa đã có ý cao đẹp nay vì …. (tên … ) con và tất cả chúng sanh làm nơi nương dựa xin phụng thỉnh giáng lâm đạo tràng thọ nạp cúng dường, xót thương gia hộ.

    Chẳng có tới lui thân bất hoại

    Tùy cơ mà hiện các Hóa thân

    Như vầng trăng sáng ở trên không

    Chiếu rọi thế gian trừ tăm tối

    Phụng thỉnh Thế Tôn Xuất Hữu Họai

    Con nay có chút phần công đức

    Cầu xin từ bi thương nạp thọ

    Chư Tôn Pháp thân vốn thanh tịnh

    Xa lìa tham ái các buộc ràng

    Thương xót chúng con trừ các chướng

    Nước trong sạch này xin gội rửa

    Tất cả Chư Tôn đều đầy đủ

    Nước thơm con chứa bình báu này

    Viên mãn tràn đầy xin hiến cúng

    Lại xin các món kỹ nhạc đây

    Dâng cúng tối thắng vô tỷ y

    Ứơp tẩm hương thơm trùm thân Phật

    Lại nguyện dâng hoa đủ sắc màu

    Hương thơm vô cùng xin hiến cúng

    Lại dùng các món của cõi trời

    Cúng dâng Bất hoại Kim Cang thể

    Con dùng tâm bền không lui sụt

    Xin nguyện đắc được Kim Cang thân

    Phiền não làm khô các hữu tình

    Nước Pháp làm cho được đầy đủ

    Thành tựu tất cả các nghiệp duyên

    Nay xin dâng hiến bình nước sạch

    Tại nơi thanh tịnh đạo tràng này

    Oai đức tòa sen xin phụng cúng

    Ở nơi Thiền định không lay động

    Cầu thỉnh Chư Tôn nguyện an trụ

    Ngồi trên tòa báu, quý không lường

    Hiển hóa thần thông không chướng ngại

    An nơi bình đẳng tánh kiên cố

    Phẩm vật nơi đây xin nạp thọ

    Tám đại Như Lai ở tại quốc độ mình dùng thần thông nương hư không mà lại nơi đạo tràng an nhiên trụ nơi tòa Sư tử báu nơi trung ương. Chư Bồ Tát quyến thuộc Phạm Thiên Đế Thích, Hộ Pháp, Thập Nhị Dạ Xoa Đại Tướng, mỗi vị đều y nơi bổn tòa của mình an trụ.

    Tưởng xong dâng các món cúng dường ..v…v… các món dâng cúng tùy sức bày biện.

    Cứu độ Trời người chúng sanh con Đại Phạm

    Văn Thù Sư Lợi là con của Pháp Vương

    Đạo giáo gốc rễ Đức Phật thường nuôi dưỡng

    Ngay ngắn đoan trang chí thành con kính lễ

    Thánh thiên chi tử Tát trì nạp lặc y

    Giải thích đính chánh các văn tự

    Hay Nhẫn Khổ hành thiên phổ Kim Cang Đức

    Chủ Tể hộ quang bốn vị con đảnh lễ

    Tôn sùng Tam Bảo Tối thượng đức bền chắc

    Thành kính Thánh giáo an đế nhật quang tôn

    Chúa tể các đại diệu Pháp cát tường đế

    Thượng sư nơi đời bốn vị con đảnh lễ

    Chấp Tài tự hộ Thiên trung đế

    Chúng tôn tộc tánh đại đức quang minh đế

    Tuyết lảnh tối thân nhất Thiên đảnh tôn đế

    Phan địa hàng oan bốn vị con đảnh lễ

    Đại Thiện tri thức Thư an Trí huệ xưng

    Dương địa độc tuyền mậu thạnh Pháp tràng sư

    Phù xuyên Thành giáo Nhật quang trác ma xa

    Chánh giác tu quán bốn vị con đảnh lễ

    Cao tộc giáng sanh tâm tạng Kiết tường tràng

    Vô tỉ lạc phổ biến hoan nguyện hộ túc

    Thảo xá Thượng sư danh xưng Kiết Tường hiền

    Thượng sư Phước xưng bốn vị con đảnh lễ

    Pháp phổ Đại sư Bảo danh kiết tường phan

    Như Ngài Văn Thù Bồ Tát trí huệ đủ

    Trì luật tối thượng tôn đủ các nghi tắc

    Biến hỷ trí huệ bốn vị con đảnh lễ

    Giữ gìn giới luật ngừa tội phước lục sư

    Diệt vọng ngữ Phổ Hiền lực oai mãnh sư

    Quyết định tất cả chủng trí thật đầy đủ

    Tự tại bền chắc bốn vị con kính lễ

    Thế Tôn phước đức đầy đủ thật an lành

    Pháp sư ân nghĩa gối rễ sạ rô ba

    Cư xử Pháp sư ý tứ quảng bác sư

    Tu Bảo Thần Hải ba vị con kính lễ

    Diệu ngữ cụ tư lệ tạng thắng trí huệ

    Trụ trì Kim Cang tối thượng hai vị sư

    Nên được tên Pháp ân Ngữ vương trí huệ

    Hiền nhận Diệu hải hai vị con kính lễ

    Chánh giác tu quán tùy trì hư không xưng

    Đại Thiện trí thức phước đức trí huệ đủ

    Chánh biến tri giác gọi là Phước Đức hòa thượng

    Vô tỉ hàng chỉ ba vị con kính lễ

    Thánh giác Căn bản pha đề tát anh tôn

    Thí chủ Pha đề tát anh là sau xửa

    Ở trong tát hòa lặc là vua Thiện kiết tường

    Để y bà ma kiết a lặc bốn vị con kính lễ

    Thánh giáo mạng Mộc Thiên đức Bồ đề quang

    Cứu độ hữu tình Đế tư Quảng đại hiệu

    Bồ Tát ma cáp a tát anh nguyệt tràng sư

    Công bà Thích sư bốn vị con kính lễ

    Thắng tràng sư hay diệt phiền não các báu

    Gia oát tự tại Diệu mỹ tên lừng lẫy

    Gia oát Đức diệu nói giới đủ các hành

    Oai đức tự tại bốn vị con kính lễ

    Quảng đại công đức Thương ba trì Luật sư

    Các Pháp sư Bồ Tát hoà thượng được khen

    Tám đại Như Lai bổn nguyện nghi quỹ kinh

    Cùng các Đại sư danh xưng con kính lễ

    Tuuyết lảnh lợi ích phước lục là chỗ sanh

    Thắng liệt tu hành đều có thể lâm đạo

    Kim Bổn Nguyện Công Đức của Đấng Pháp Vương

    Các vị Hộ pháp giúp lưu truyền con kính lễ

    Nhị lợi cứu cánh Phật đạo sư chánh đẳng

    Nhị đế lưỡng trùng Thánh giáo Chánh diệu pháp

    Nhị túc thọ trì Tối thắng chúng Tăng già

    Quy y tất cả Tam Bảo con kính lễ

    (Phần kệ này do các Lạt Ma soạn vào đời Thanh có những câu xưng tán bằng tiếng Tây Tạng nên không cần phải thọ trì và hơn nữa có tên các vị của Tây Tạng trong này. Vì dịch thuật nên phải dịch ra.)

    Đảnh lễ cúng dường quy y ba đời mười phương các Thiện Thệ và chúng đệ tử

    Đảnh lễ cúng dường quy y Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác Thiện Danh Xưng Kiết Tường Vương Như Lai cùng trăm ngàn vạn ức vô lượng vô biên các chúng Bồ Tát đoanh vây.

    Đảnh lễ cúng dường quy y Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác Bảo Nguyệt Liên Hoa Trí Nghiêm Oai Âm Vương Như Lai cùng các Bồ Tát đoanh vây.

    Đảnh lễ cúng dường quy y Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Kim Sắc Vô Cấu Bảo Quang Diệu Hạnh Thành Tựu Như Lai cùng trăm ngàn vạn ức Bồ Tát đoanh vây.

    Đảnh lễ cúng dường quy y Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác Vô Ưu Tối Thắng Kiết Tường Như Lai cùng vô lượng ức Bồ Tát đoanh vây.

    Đảnh lễ cúng dường quy y Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác Pháp Hải Lôi Âm Như Lai cùng vô lượng Bồ Tát quyến thuộc đoanh vây.

    Đảnh lễ cúng dường quy y Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác Pháp Hải Thắng Huệ Du Hý Thần Thông Như Lai cùng vô lượng Bồ Tát đoanh vây.

    Đảnh lễ cúng dường quy y Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai cùng quyến thuộc Bồ Tát, Nhật Quang Biến Chiếu, Nguyệt Quang Biến Chiếu, vô lượng Bồ Tát.

    Thân thể sáng xanh màu ngọc báu

    Quang minh tướng hảo thể hư không

    Biến khắp mọi nơi ban thành tựu

    Dược Sư Như Lai con kính lễ

    Pháp ngữ nhiều lời làm lợi ích

    Phạm âm thanh tịnh đủ lời hay

    Đủ đầy giải thoát các Pháp tạng

    Dược Sư Diệu ngữ con kính lễ

    Trí huệ thâm sâu như biển cả

    Vô duyên từ bi cứu mọi loài

    Tất cả Thệ nguyện vì độ chúng

    Dược Sư Thắng ý con kính lễ

    Đảnh lễ cúng dường quy y Bản Sư Thế Tôn Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Chán Giác Thích Ca Mâu Ni Văn Phật cùng các quyến thuộc ba vạn sáu ngàn Bồ Tát.

    Diệt mọi tối tăm đuốc tối thắng

    Trừ các bệnh khổ thuốc thang hay

    Tất cả các Pháp bảo vi diệu

    Đảnh lễ quy mạng và cúng dường

    Đảnh lễ cúng dường quy y Thánh giả Văn Thù đồng tử Cứu Thoát, Kim Cang Thủ các Bồ Tát ma ha tát.

    Đảnh lễ cúng dường quy y Đại Phạm, Đế Thích, Tứ Đại Thiên Vương, tất cả các Hộ Pháp. Đảnh lễ cúng dường quy y Cực Úy Dạ Xoa Đại Tướng, mười hai vị Dạ Xoa Đại Tướng nơi Thánh hội này. Phụng cúng nước công đức, hương thoa, hoa đẹp thơm, hương xông, đèn sáng, đồ ăn, thuốc thang, bảo cái, tràng phan, tận lực bày biện dâng cúng, thêm thượng nhơn gian có các món tốt đẹp nào thảy đều dâng cúng với lòng thành kính đầy đủ như mây biển giống như Phổ Hiền hạnh nguyện phẩm trong kinh đã nói rõ như hư không, như biển lớn không có bờ bến, tất cả đều dâng hiến. Nay vì tên … con và tất cả hữu tình từ vô thủy lại đây ở trong luân hồi thọ các thứ thân không làm các việc lành, việc không đáng làm lại làm, việc đáng làm lại không làm ..v…v… Tất cả mọi việc phải trái trên thảy đều thành tâm sám hối, ba đời phàm thánh chỗ có các việc lành, tất cả phước đức thảy đều tùy hỷ, mười phương Chư Phật xin thỉnh chuyển bánh xe Pháp làm đèn sáng nơi đời. Nếu có vị nào muốn nhập Niết Bàn chí thành cầu khẩn các Ngài thườg ở mãi nơi đời làm lợi ích an lạc chúng sanh như vậy tất cả phước đức của mình của người thảy đều hồi hướng. Xin nguyện làm nhơn chứng đắc Vô thượng bồ đề.

    (Lại mỗi khi cúng dường đều phát nguyện, đảnh lễ tám Như Lai, Diệu Pháp, Tăng già, xin thành tựu Tổng trì bảo bình … tám Như Lai bắt đầu từ Thiện Danh Xưng …

    Thứ nhất niệm danh hiệu Thiện Danh Xưng Kiết Tường Vương Như Lai dâng cúng và phát nguyện.

    Đảnh lễ cúng dường quy y Thế Tôn Ứng Cúng chánh Đẳng Chánh Giác Thiện Danh Xưng Kiết Tường Vương Như Lai (7 lần)

    Các Phật tử nay tại đạo tràng trước Đức Thiện Danh Xưng Kiết Tường Vương Như Lai nghe tên nhớ niệm tụng 7 lần cúng dường xưng tán Thiện Danh Xưng Kiết Tường Vương Như Lai đã từng phát nguyện: Ta sẽ vì tất cả chúng sanh nếu ai bị các thứ bệnh khổ, nóng lạnh, quỷ mị, chú khởi thi quỷ, các nạn bức bách, tai họa, bệnh tật tức thời tiêu diệt cho đến cứu cánh Bồ đề không bị các bệnh nóng, quỷ mị, tội chướng thảy đều trừ diệt.

    Ta nguyện vì tất cả chúng sanh nếu bị điên cuồng lác hủi các bệnh, ta sẽ cứu cho đến cứu cánh Bồ đề các căn đầy đủ, tất cả khổ não tật bệnh thảy đều chấm dứt đoạn tuyệt.

    Ta nguyệnvì tất cả chúng sanh nếu bị tham sân ngu muội hoặc làm các tội ngũ nghịch làm các hành phi pháp, phỉ báng Chánh Pháp, tạo các tội nghiệp chẳng lành đọa vào tam đồ Địa ngục, các chúng sanh đó ở nơi Điạ ngục thọ khổ nhớ niệm tên ta tất cả các tội ngũ nghịch, các ác nghiệp chướng thảy đều tiêu trừ cho đến chứng được Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác không bị đọa vào các ác đạo, Địa ngục, thường sanh Chư Thiên hưởng các điều vui sướng.

    Ta nguyện vì tất cả chúng sanh nếu ai bị nghèo cùng đồ ăn thức uống món mặc tiền bạc lúa gạo …v…v… nguyện cho tất cả cho đến khi chứng đạo Bồ đề, vàng bạc, lúa gạo, quần áo …v…v… tất cả các thứ cần dùng đều đầy đủ, lại nếu bị cùm trói lao ngục, chiến đấu, thân thọ các thứ khổ, nguyện cho tất cả cho đến khi được đạo Bồ đề thường được giải thoát các khổ, diệt trừ tất cả phiền não nơi thân.

    Ta nguyện vì tất cả chúng sanh nếu không nơi nương dựa, thân bị sa vào các chỗ Sư tử, hổ lang, gấu, rắn độc, hầm lửa khiến cho nguy hiểm tánh mạng, nguyện cho tất cả cho đến Bồ đề , hầm lửa dập tắt các loài ác thú đều khởi lòng từ được đến chỗ an ổn.

    Ta nguyện vì tất cả chúng sanh nếu có kiện cáo đấu tranh làm não loạn sợ sệt, nguyện cho tất cả đến khi cứu cánh Bồ đề, kiện cáo đấu tranh đều tiêu diệt lại khởi lòng thương xót lẫn nhau.

    Ta nguyện vì tất cả chúng sanh nếu đi thuyền bè vào trong sông lửa gặp các hiểm nghèo, muốn đoạt mạng sống bị các thứ khổ, nguyện cho tất cả đến cứu cánh Bồ đề ở nơi sông biển an nhiên vào ra không có sợ sệt.

    Nguyện con khi hết thân này được sanh nơi cõi Phật Thiện Danh Xưng Kiết Tường Vương Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Giác, nơi tòa Liên Hoa Sư tử đầy đủ các Pháp Tổng trì thiền định …v…v… tất cả công đức. Hiện tiền được Vô thượng Đạo sư Thiện Danh Xưng Kiết tường vương và mười phương Chư Phật xoa đầu thọ ký, tâm sanh vui vẻ trong khoảng chốc lát dạo chơi các cõi Phật vô ngại tự tại.

    Từ xưa tối thắng Phật Như Lai

    Đã phát rộng sâu tám đại nguyện

    Y Phật từ bi nhiếp thọ cho

    Tất cả chúng sanh đều thành tựu

    Xin nguyện Phật Pháp thường còn mãi

    Khiến cho hữu tình mãi an vui

    Tối tăm phiền não đều tiêu trừ

    Mau được vô thượng Bồ đề đạo

    Thứ hai niệm danh hiệu và phát nguyện dâng cúng Oai Âm Vương Như Lai.

    Đảnh lễ cúng dường quy y Thế Tôn Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác Bảo Nguyệt Liên Hoa Trí Nghiêm Oai Âm Vương Như Lai (7 lần)

    Các Phật tử nay tại đạo tràng này trước Đức Bảo Nguyệt Trí Nghiêm Oai Âm Vương Như Lai nghe danh và nhớ niệm 7 lần, xưng tán cúng dường các căn lành. Đức Bảo Nguyệt Trí Nghiêm Oai Âm Vương Như Lai khi xưa đã có phát nguyện:

    Ta vì tất cả chúng sanh nếu có người kinh doanh buôn bán làm các nghề nghiệp, tâm bị các lo rầu bỏ quên các Pháp lành và tâm Bồ đề ham ưa nơi Luân hồi thọ các thứ khổ não sanh lão bệnh tử, thương yêu ghét muốn các khổ không được an lạc,vô lượng vô biên các lo buồn, nguyện cho tất cả thảy đều tiêu trừ cho đến Chánh Đẳng Bồ đề Ứng Chánh Đẳng Giác, đồ ăn thức uống y phục các thứ cần dùng đều đầy đủ, tiền tài lúa gạo vàng bạc giàu có, lại khiến các Pháp lành tăng trưởng, không xa lìa tâm Bồ đề, các loài ác đạo, Địa ngục, các luân hồi khổ nạn đều được giải thoát.

    Ta vì tất cả chúng sanh nếu có nóng lạnh đói khát làm cho thân bị các khổ não đáng thương xót. Nguyện cho tất cả túc nghiệp chướng đều được tiêu trừ cho đến nơi thân này và thân cuối cùng và cho đến Vô thượng Bồ đề, tất cả các khổ đều được giải thoát thọ các điều vui sướng nơi cõi trời.

    Lại nữa nếu có người nữ bị các thứ bệnh tật bức bách muốn bỏ thân nữ hoặc bị các khổ sanh đẻ. Nguyện cho tất cả hết thảy các khổ não đều đoạn trừ sạch, từ thân này cho đến thân cuối và cho đến Vô thượng Bồ đề thường làm thân nam. Ta nguyện vì tất cả chúng sanh bị các nạn sáu đời chết chóc, vào các chỗ hiểm nạn bị giặc cướp và cha mẹ anh em chị em bà con quyến thuộc thọ các khổ não bức bách nơi thân, nguyện cho tất cả đều được giải thoát cho đến cứu cánh Bồ đề, tử ách oán nạn, các chỗ thọ khổ thảy đều tiêu trừ mau được xa lìa.

    Ta nguyện vì tất cả chúng sanh nếu trong ban đêm đi vào các chỗ tối tăm hoặc vì các nhân duyên sự nghiệp bị các ác quỷ thần làm cho sợ sệt não loạn, lớn tiếng la hết kêu gào. Nguyện cho tất cả thảy đều tiêu trừ cho đến cứu cánh Bồ đề, không còn các hcỗ tối tăm ác quỷ thần thảy đều giải thoát đều cúng dường thừa sự làm các việc lành tốt.

    Ta nguyện vì tất cả chúng sanh ngu si đần độn không có trí huệ đối với các Pháp lành, Bồ đề giác chi Thiền định các môn Tổng trì và Phật Pháp Tăng hay quên mất. Nguyện cho tất cả đều được giác ngộ cho đến cứu cánh Bồ đề, Thiền định, chánh niệm, các môn Tổng trì, Bồ đề giác chi hiện tiền thành tựu, được trí huệ lớn, việc làm không có ngăn ngại.

    Ta nguyện vì tất cả chúng sanh vị nghĩ tưởng hạ liệt, muốn cầu Thanh Văn và Độc Giác thừa tu hành theo đó, không ham ưa Vô thượng thắng diệu Bồ đề. Nguyện cho tất cả thảy đều tiêu trừ cho đến cứu cánh Bồ đề nơi Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác không có thối chuyển các địa vị Độc Giác Thanh Văn đều vượt khỏi làm đạo Bồ đề không lìa bỏ.

    Ta nguyện vì tất cả chúng sanh hoặc gặp lúc đại kiếp tận, lửa lớn nổi dậy thiêu đốt tất cả khiến bị lo rầu do bị ác nghiệp đời trước nay chịu báo khổ không có chỗ dựa nương. Nguyện cho tất cả các khổ não lo rầu đều được xa lìa được mát mẻ.

    Nguyện thân này lúc lâm chung được sanh về cõi của Đức Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác Bảo Nguyệt Liên Hoa Trí Nghiêm Oai Âm Vương Như Lai liên hoa hóa sanh nơi tòa Sư tử, lại được các môn Tổng trì thiền định công đức hiện tiền, Vô thượng Đạo sư Bảo Nguyệt Liên Hoa Trí Nghiêm Oai Âm Vương Như Lai và mười phương Chư Phật thảy đều thọ ký tâm sanh vui vẻ, trong khoảng chốc lát đi đến các cõi Phật tự tại vô ngại.

    Thế Tôn oai đức Diệu Âm Vương

    Đã từng phát tám lời thệ nguyện

    Y theo Phật từ bi nhiếp thọ

    Tất cả chúng sanh đều thành tựu

    Duy nguyện Phát Pháp luôn hưng thạnh

    Khiến cho hữu tình được an lạc

    Vô minh phiền não đều tiêu trừ

    Mau được Vô thượng Bồ đề đạo

    Kim Sắc Vô Cấu Như Lai

    Đảnh lễ cúng dường quy y Thế Tôn Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác Kim Sắc Vô Cấu Bảo Quang Diệu Hạnh Thành Tựu Như Lai (7 lần)

    Các Phật tử nay tại đạo tràng này trước Đức Kim Sắc Vô Cấu Bảo Quang Diệu Hạnh Thành Tựu Như Lai được nghe và niệm danh hiệu Ngài 7 lần xưng tán cúng dường đảnh lễ các căn lành, Kim Sắc Vô Cấu Bảo Quang Diệu Hạnh Thành Tựu Như Lai đã từng phát nguyện:

    Ta nguyện vì tất cả chúng sanh nếu tạo các việc sát hại không lành, đoạn mạng các loài chúng sanh, do các nghiệp ác này bị đoản mạng, nhiều bệnh tật, nước lửa, đao, độc, các bệnh làm cho phải chết. Nguyện cho tất cả các ác nghiệp chướng ràng buộc thảy đều tiêu diệt, sống lâu không bệnh, bất cứ ở đâu lúc nào cũng không bị phi thời mà chết.

    Nguyện vì tất cả chúng sanh làm tất cả các nghiệp tội ác, trộm tiền của người nên bị bần cùng hạ tiện, thiếu quần thiếu áo bị đói khát, thân bị các khổ. Nguyện cho tất cả các tội tiêu trừ cho đến cứu cánh Bồ đề giàu có tự tại không có thiếu thốn.

    Nguyện vì tất cả chúng sanh nếu có tâm độc hại làm các việc đấu tranh giết hại lẫn nhau. Nguyện cho tất cả đều được tiêu sạch cho đến Vô thượng Chánh Đẳng Bồ đề thương yêu lẫn nhau xem như cha mẹ.

    Nguyện vì tất cả chúng sanh nếu bị tham sân si phạm các giới cấm, làm các tội lỗi nơi các học xứ, thọ lãnh của tín thí đọa vào tam đồ Địa ngục. Nguyện cho tất cả nghiệp chướng đều tiêut rừ xa lìa tất cả phiền não cho đến khi ngồi nơi Bồ đề đạo tràng giữ gìn Giới luật, hay phòng hộ ba nghiệp Thân, Khẩu, Ý không xa lìa tâm Bồ đề.

    Đáp đạt nha tháp a, tây đạt đắc tây đạt đắc ma tạp ni ma ưu sát nisam ưu đắc tất sam ưu đắc a ma lặc, tất ma lặc ma ma hắc lạp diệp, hy lặc ra nha yết lặc bạch, lặt đáp nạp hắc lặc bạch tát lợi oát a lặc tháp tát ha đạt cáp ni ma nạp tắc, ma cáp a ma nạp tắc, a đạt bất đắc a đáp nha đạt bất đắc, tất y đáp bạt cáp nha tô bạt lạt nạp ba lạt cát ma quách khái ba lặc cáp ma a đạt cáp khê đắc, tát lạp oát a lặc trì quật, a ba lặt a tư đắc tạp da tư tạp tạp si phố đạt đạt cáp oa chi bạt cáp a khê đắc nạp ma ma tát lặc oát đát tháp a hắc đáp a nan a bà a cáp a.

    TADYATHÀ: SIDDHE SIDDHE SUSIDDHE, MOCANI MOKSANI, MUKTE VIMUKTE , AMALE VIMALE MAMGALI HIRANYAGARBHE RATNAGARBHE SARVÀRTHA SÀDHANI, PARAMÀRTHA SÀDHANI, MANAS MAHÀMANAS, ADBHUTE ATYADBHUTE, VÌTABHAYESU BHANI BRHMA-GHOSE , BRAHMA-JUSTE, SARVÀRTHASU APARAJITE, SARVATRA APRATIHATE CATURSASTI BUDDHA KOTI BHASITE , NAMA SARVA TATHÀGATÀNÀM SVÀHÀ

    Thế tôn Vô Cấu Bảo Quang Diệu Hạnh Thành Tựu Như Lai khi xưa nơi tòa Bồ đề quán xét các hữu tình bị Tham, Sân, Si làm chướng ngại, các ác tật bệnh làm cho khổ não, oan gia các nạn làm chết chóc, bị nạn nơi các chỗ nguy hiểm, vào Địa ngục cả kiếp thọ các thứ khổ, vì muốn lợi ích các hữu tình khiến họ vào đạo Bồ đề ứng chánh tri giác tiêu trừ tất cả nghiệp chướng nên nói ra căn bản Tổng trì, tụng chân ngôn này nhiếp thọ chúng con và tất cả chúng sanh các tội Vô Gián thảy đều tiêu trừ, tất cả các nguyện vọng đều đầy đủ, khi mạng chung lại được Kim Sắc Bảo Quang Diệu Hạnh Thành Tựu Như Lai hộ niệm, nguyện cho thân này kho xả bỏ được vãng sanh cõi Phật Kim Sắc Bảo Quang Diệu Hạnh Thành Tựu hoa sen hóa sanh nơi tòa Liên hoa Sư tử, lại được các môn Tổng trì thiền định các công đức đầy đủ, hiện tiền Vô Thượng Đạo Sư Kim Sắc Bảo Quang Diệu Hạnh Thành Tựu Như Lai cùng mười phương Chư Phật thọ ký cho, tâm sanh hoan hỷ trong khoảng chốc lát dạo chơi các cõi Phật được tự tại vô ngại.

    Thế Tôn Kim Sắc Vô Cấu Quang

    Đã từng phát ra bốn nguyện lớn

    Y Phật từ bi sức nhiếp thọ

    Tất cả chúng sanh đều thành tựu

    Duy nguyện Phật Pháp thường hưng thạnh

    Khiến khắp hữu tình an lạc

    Vô minh phiền não thảy tiêu trừ

    Mau được Vô thượng Bồ đề đạo

    Vô Ưu Tối Thắng Như Lai

    Đảnh lễ cúng dường quy y Thế Tôn Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác Vô Ưu Tối Thắng Kiết Tường Như Lai (7 lần)

    Các Phật tử nay tại nơi đạo tràng được nghe và nhớ niệm danh hiệu Vô Ưu Tối Thắng Kiết Tường Như Lai cung kính ngợi khen niệm tụng 7 lần, Đức Phật kia đã từng phát nguyện.

    Nguyện vì tất cả chúng sanh bị thọ các khổ não, tâm ý không vui sướng, nhiều thứ buồn khổ. Nguyện cho tất cả các thứ buồn rầu, tâm ý không ưa các buồn khổ đều được tiêu trừ, vĩnh viễn xa lìa không còn bị nữa, thường được an vui vừa ý sống lâu.

    Nguyện vị tất cả chúng sanh nếu tạo các nghiệp ác bị đọa vào Địa ngục Vô Gián, các chỗ tối tăm. Nguyện khi bị sanh vào các chốn đó gặp được ánh quang nơi thân của Vô Ưu Tối Thắng Kiết Tường Vương Như Lai chiếu đến thân, tất cả các tội chớng đều được tiêu diệt, giải thoát các khổ nơi Địa ngục cho đến Bồ đề thường hưởng các điều vui sướng nơi cõi trời người.

    Nguyện vì tất cả chúng sanh khi xưa đã từng làm các nghiệp ác đoạt tiền của kẻ khác nên sanh vào nhà nghèo cùng áo quần đồ ăn thức uống các tư cụ đều bị thiếu thốn, thường bị khổ vì nóng lạnh đói khát bức bách, thân hình tiều tụy. Nguyện cho tất cả cho đến cứu cánh Bồ đề y phục, ẩm thực, ngọa cụ thọ dụng đều được đầy đủ như các chư Thiên thân có ánh sáng đẹp đẽ đáng ưa đầy đủ các thứ nghiêm sức.

    Nguyện vì tất cả chúng sanh bị các ác quỷ thần đoạt lấy tinh khí khiến bị các thứ bệnh khổ. Nguyện cho tất cả cho đến Bồ đề các loại ác quỷ thần đoạt lấy tinh khí thảy đều bỏ chạy, lại khởi lòng từ giải thoát tất cả bệnh tật khổ não. Nguyện thân này khi lâm chung được sanh về cõi Phật Vô Ưu Tối Thắng Kiết Tường Như Lai Ứng Cúng Chánh Chánh Giác hoa sen hóa sanh nơi tòa Liên hoa Sư tử, sau đó lại được các môn Tổng teì thiền địnhc ác thứ công đức, Vô Thượng Đạo sư Vô Ưu Tối Thắng Kiết Tường Như Lai và mười phương Chư Phật thọ ký cho, tâm sanh hoan hỷ, trong hoảng giây lát dạo đi các nước Phật tự tại vô ngại.

    Thế Tôn Vô Ưu Tối Thắng Vương

    Từ xưa đã phát bốn nguyện lớn

    Y Phật từ bi sức nhiếp thọ

    Tất cả chúng sanh đều thành tựu

    Quy nguyện Phật Pháp thường hưng thạnh

    Khiến khắp hữu tình được an lạc

    Vô minh phiền não thảy tiêu trừ

    Mau thành Vô thượng bồ đề đạo

    Pháp Hải Lôi Âm Như Lai

    Đảnh lễ cúng dường quy y Thế Tôn Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác Pháp Hải Lôi Âm Như Lai (7 lần)

    Các Phật tử nay tại đạo tràng này được nghe và xưng niệm nhớ nghĩ sanh hiệu của Pháp Hải Lôi Âm Như Lai 7 lần, cung kính xưng tán cúng dường Đức Phật kia đã từng phát nguyện.

    Nguyện vì tất cả chúng sanh nếu sanh vào các nhà tà kiến, không tin Phật, Pháp, Tăng, xa lìa tâm Bồ đề. Nguyện cho tất cả nghiệp chướng thảy đều tiêu trừ cho đến cứu cánh Bồ đề thành tựu chánh kiến nơi Phật, Pháp, Tăng kính tín đầy đủ tâm Bồ đề không thối chuyển.

    Nguyện vì tất cả chúng sanh, nếu không nghe Phật, nghe Pháp, nghe Tăng, sanh vào các chỗ biên địa, gần gũi các ác tri thức làm các tội, sau khi mạng chung đọa vào ba nẻo ác, không tu các các việc lành. Nguyện danh hiệu của Đức Pháp Hải Lôi Âm Như Lai lọt được nơi tai tự nhiên phát sanh như tiếng Pháp, tất cả các nghiệp chướng đều được tiêu trừ cho đến cứu cánh Bồ đề không bỏ tâm Bồ đề.

    Nguyện vì tất cả chúng sanh bị các khổ não vì thiếu thốn y phục, các thứ trang nghiêm nơi thân, hương xoa, hương đốt, đồ nằm, thuốc thang, làm các việc ác. Nguyện cho tất cả y phục trang nghiêm, hương xoa, hương đốt, đồ nằm, thuốc thang, các vật cần dùng tùy ý mong cầu đều được cho đến cứu cánh bồ đề bất cứ món gì thảy đều đầy đủ.

    Nguyện vì tất cả chúng sanh vì các nghiệp quá khứ đã chín muồi tranh đấu sát hại lẫn nhau khiến phải chết chóc, cung, tên, đao, gậy làm cho thương hại, bị các đại nạn khổ não. Nguyện cho tất cả cung, tên, đao, gậy đều quay ngược lại, tất cả oan gia đều khởi lòng từ tôn trọng mạng sống không còn sát hại cho đến cứu cánh Bồ đề các thứ cần dùng tự tại đầy đủ.

    Nguyện thân này khi mạng chung được vãng sanh nơi cõi Phát Pháp hải Lôi Âm Như Lai hoa sen hóa sanh nơi tòa Liên hoa Sư tử, lại được các Pháp môn Tổng trì, Thiền định các công đức. Hiện tiền Pháp Hải Lôi Âm Như Lai và mười phương Chư Phật thọ ký, tâm sanh hoan hỷ, trong khoảng chốc lát dạo chơi các cõi Phật được tự tại vô ngại.

    Thế Tôn Pháp Hải Lôi Âm Thắng

    Từ xưa đã phát bốn nguyện lớn

    Y Phật từ bi sức nhiếp thọ

    Tất cả chúng sanh đều thành tựu

    Duy nguyện Phật Pháp thường hưng thạnh

    Khiến khắp hữu tình được an lạc

    Vô minh phiền não thảy tiêu trừ

    Mau chứng Vô thượng Bồ đề đạo

    Thần Thông Vương Như Lai

    Đảnh lễ cúng dường quy y Thế Tôn Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác Pháp Hải Thắng Huệ Du Hý Thần Thông Như Lai (7 lần)

    Các Phật tử nay ở tại nơi đạo tràng này được nghe và nhớ niệm danh hiệu Pháp Hải Thắng Huệ Du Hý Thần Thông Như Lai 7 lần, xưng tán cúng dường …v…v… Phật Pháp Hải Thắng Huệ Du Hý Thần Thông Như Lai đã từng phát nguyện:

    Nguyện vì tất cả chúng sanh vì cày cấy canh tác buôn bán giao dịch mà tranh chấp lẫn nhau tạo ra các nghiệp ác. Ta nguyện cho tất cả món cần dùng cho dời sống đều tùy tâm mong muốn đầy đủ, tiêu trừ các việc ác, thường làm các việc lành.

    Nguyện vì tất cả chúng sanh do tạo mười nghiệp bất thiện nên bị đọa vào Địa ngục. Nguyện cho tất cả ở nơi mười nghiệp lành đều tu hành đầy đủ, vô lượng chúng sanh đều không bị đọa vào các nẻo ác.

    Nguyện vì tất cả chúng sanh vì đi đến chỗ công, thân bị đánh đập cột trói, giam giữ lao tù cho đến bị chết. Nguyện cho tất cả thảy đều tiêu trừ cho đến cứu cánh Bồ đề tất cả trói buộc lao ngục thảy đều giải thoát, được tự tại giàu có đầy đủ.

    Nguyện vì tất cả chúng sanh hoặc tạo các nghiệp ác khiến cho phải bị chết non chết yểu. Nguyện cho tất cả tất cả tội nghiệp thảy được tiêu trừ, không bị vĩnh viễn các nạn tử vong, thường được sống lâu, khi chết được nghe danh hiệu của Phật Pháp hải Thắng Huệ Du Hý Thần Thông lọt vào tai, tùy theo ý niệm tức được sanh về các cõi lành, được địa vị cao quý, cho đến cứu cánh Bồ đề thường hưởng các điều vui sướng cõi Trời người.

    Nguyện khi hết thân này được sanh về cõi Phật Pháp Hải Thắng Huệ Du Hý Thần Thông hoa sen hóa sanh nơi tòa Liên hoa Sư tử sau đó các môn Tổng trì, Thiền định công đức thảy đều hiện tiền Vô thượng Đạo sư Pháp Hải Thắng Huệ Du Hý Thần Thông Như Lai và mười phương Chư Phật thảy đều thọ ký, tâm sanh vui vẻ, trong khoảng chốc lát dạo đi đến các cõi Phật được tự tại vô ngại.

    Thế Tôn Pháp Hải Thần Thông Phật

    Từ xưa đã phát bốn nguyện lớn

    Y Phật từ bi sức nhiếp thọ

    Tất cả chúng sanh đều thành tựu

    Duy nguyện Phật Pháp thường hưng thạnh

    Khiến khắp hữu tình được an lạc

    Vô minh phiền não thảy tiêu trừ

    Mau được Vô thượng Bồ đề đạo

    Dược Sư Như Lai

    Đảnh lễ cúng dường quy y Thế Tôn Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai (7 lần)

    Chư Phật tử nay tại đạo tràng này được nghe và xưng niệm danh hiệu Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai 7 lần cúng dường xưng tán Đức Phật kia khi xưa đã từng phát nguyện.

    Nguyện vì tất cả chúng sanh 32 tướng đại trượng phu, 80 tướng tốt, thân tướng trang nghiêm của Ta thế nào, tất cả chúng sanh cũng đều được như vậy.

    Hào quang nơi thân của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai chiếu khắp vô lượng vô biên thế giới oai đức rực rỡ thân như ngọc lưu ly báu, tướng Ngài thế nào chúng sanh cũng được như vậy. Trong ngoài sáng suốt quang minh chói lọi rộng lớn, oai đức kiết tường an trụ rơi lưới diệm võng trang nghiêm sáng hơn nhật nguyệt, Ngài như thế nào tất cả chúng sanh đều y như vậy, phàm các hữu tình sanh ở khoảng giữa hai thế giới nơi chốn tối tăm, ở nơi thế giới kia ban đêm đi đứng, nguyện cho tất cả thấy được oai quang an lành sung sướng tùy ý làm các sự việc.

    Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai dùng vô lượng trí huệ phương tiện lợi ích, nguyện vì tất cả chúng sanh chỗ cần các vật thọ dùng đều không thiếu thốn bất cứ lúc nào cũng được đầy đủ.

    Nguyện vì tất cả chúng sanh hoặc hành tà đạo, hoặc hành Thanh Văn Độc Giác đạo, nguyện cho tất cả đều được an trụ nơi đạo Bồ đề trong Pháp Đại thừa.

    Nguyện vì tất cả chúng sanh cho đến cứu cánh Bồ đề gìn giữ ba nghiệp tất cả học xứ không có sai phạm, nếu có hủy phạm giới luật cũng không bị đọa ác thú.

    Nguyện vì tất cả chúng sanh thân thể xấu ác, các căn không đủ, xú lậu ngoan ngu, thân hình cong quẹo, bối lũ bạch lại, loan tích điên cuồng, tất cả các bệnh khổ bức bách. Nguyện cho tất cả các nghiệp chướng đời trước đều được tiêu trừ, thân thể các căn đều đoan chánh trang nghiêm.

    Nguyện vì tất cả chúng sanh bị các chứng bệnh bức bách, không nơi dựa nương, không ai nuôi dưỡng, không thuốc thang, không bà con thân thích nghèo cùng khốn khổ. Nguyện cho tất cả các bệnh đều trừ thảy đều tiêu tán cho đến cứu cánh Bồ đề không còn bị bệnh tật não hại, các thứ cần dùng đầy đủ giàu có.

    Nếu có người nữ vì thân nữ có các điều ác làm cho phiền não, không ham thân nữ muốn thành thân nam. Nguyện cho tất cả chuyển nữ thành nam cho đến đầy đủ Bồ đề thơng làm thân nam. Nguyện vì tất cả chúng sanh bị lọt lưới ma cột trói đều được giải thoát, tất cả các dị kiến,c ác lý bất đồng thảy đề đoạn dứt lại được chánh kiến các hạnh Bồ đề rộng lớn thảy đều thành tựu.

    Nguyện vì tất cả chúng sanh hoặc phạm pháp vua nhốt vào tù ngục, xiềng xích đánh đập, lại có chúng sanh bị khổ vì bức thiết Thân, Khẩu, Ý ưu phiền tán loại. Nguyện cho tất cả do phước lực của Ta tất cả tai hại đều được giải thoát.

    Nguyện vì tất cả chúng sanh vì bị đói khát tìm cầu miếng ăn tạo các nghiệp ác. Nguyện cho tất cả đều được đầy đủ các món ăn ngon, sau đó lại dùng Pháp vị khiến được an vui sung sướng.

    Nguyện vì tất cả chúng sanh, thân thể không y phục, nghèo cùng khổ não, nóng lạnh ruồi muỗi ngày đêm bức bách. Nguyện cho tất cả thảy đều được như ý mong cầu tức được quần áo tốt đẹp các đồ trang sức quý báu hương xoa, tràng hoa, các thức kỹ nhạc, các thứ chúng sanh mong muốn thảy đều đầy đủ vui vẻ giữ gìn Thánh giới, các khổ não đều được giải thoát thường được an lạc.

    Nguyện hết thân này tức được vãng sanh về cõi Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai hoa sen hóa sanh nơi tòa Liên hoa Sư tử, sau đó các môn Tổng trì Thiền định công đức thảy đều hiện tiền, Vô thượng Đạo sư Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai và mười phương Chư Phật thảy đều thọ ký, tâm sanh vui vẻ, trong khoảng giây lát dạo đi các cõi Phật được tự tại vô ngại.

    Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang

    Từ xưa đã phát mười hai nguyện

    Y Phật từ bi sức nhiếp thọ

    Tất cả chúng sanh đều thành tựu

    Duy nguyện Phật Pháp thường hưng thạnh

    Khắp vì lợi ích các hữu tình

    Vô minh phiền não tận tiêu trừ

    Mau được Vô thượng Bồ đề đạo

    Thích Ca Như Lai

    Đảnh lễ cung kính quy y Thế Tôn Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác Oai Thắng Thích Ca Mâu Ni Như Lai (7 lần)

    Các Phật tử nay tại đạo tràng này được nghe và nhớ niệm danh hiệu Thích Ca Mâu Ni Như Lai 7 lần cung kính cúng dường ngợi khen. Đạo sư Thích Ca Mâu Ni Phật vì chúng ta và tất cả chúng sanh bị các nghiệp ác ràng buộc các thứ tật bệnh, buồn khổ bức bách nghèo cùng thiếu thốn rất đáng thương xót vì các hữu tình, lợi ích trời người kiến được an lạc mới nói phương tiện thiện xảo cùng các bổn nguyện nhiếp thọ của bảy Đức Phật mà bảo Mạn Thù Thất Lợi rằng : “Nếu người muốn cầu các công đức được thành tựu, phải xa lìa phiền não niệm danh hiệu của 7 Đức Như Lai ngày 3 thời đêm 3 thời, ý niệm bền chắc, cung kính tin trọng, hết lòng tạo hình tượng Phật, hương hoa đèn nến các món ăn uống kỹ nhạc, các thứ phẩm vật dâng cúng, thọ tám phần trai giới, trong 7 ngày ở nơi thanh tịnh, phát nguyện cầu sanh nơi cõi Phật kia, khởi lòng từ bi xem khắp chúng sanh, lại tụng chú này:

    Đát đạt nha tháp a Đề tắc đề tắc y mặc ni mật kì ma cô ma cô tát ba đáp đáp tháp a hắc đáp tát ma a đạt cáp nha, đề từ si đắc, a đắc ma đắc ba a lặc ba a lặc thạc đạt cáp ni tát lặc oát ba a ba ma nạp ha sa nha, ma ma bố đạt đắc phố đạt đá đáp đát mặc ô mặc cô mặc phố đạt đạt cáp kiết vi đát lặc ba lịt hạc đạt cáp ni, đạt cáp mặc ni đạt cáp mặc, mặc rô mặc rô mặc rô bái dung hồ tát lặc át a kiết a lạp mật lạt đáp ứ ni bạt a lặc ni phố đạt đác tô phố đạt đắc phố đạt đạt cáp a đề tư xoa a nạp lặc kiết ky bộ mặc tát lặc oát đức oát tát mặc a tát mặc tát a mặc oát a cáp lam bộ tát lặc oát phố đạt đạt cáp pha đề tát cưu sa mặc sa mặc ba đế sa mạn đô mặc, tát lặc oát y đáp ứ ba đạt lặc oát bạt nha a đáp nha tư phổ ô lặc nạp phổ ô lặc ni phổ ô lặc nha mặc tát lặc oát a a sa a nha tự ách châu nha ba lặc đề bạt cáp a mặc tát lặc oát ba a bạt ma kiết sát ương kiết lị sa a cáp kha.

    TADYATHÀ: KUME KUME, INIME NIHI , MATI MATI, SAPTA TATHÀGATA SAMÀDHI ÀDHISTHITE

    ATE MATE PARIPÀPA SODHANE, SARVA PÀPA NÀSAYA

    BUDDHE BUDDHOTTAME, UME KUME BUDDHAKSATRA PARISODHANE

    DHARMINI DHARME MERO MERO, MERUSIKHARE, SARVA KÀLA MRTYU NIVÀRÀNI

    BUDDHISU BUDDHE BUDDHA ADHISTHANENA RAKSATU ME

    SARVA DEVÀ SAME ASAME, SAMAN-VÀ- HARANTU ME

    SARVA BUDDHA BODHISATTVA SAME SAME PRASAMYANTU ME

    SARVA ÌTÌ, UPADHÀVA

    SARVA VYÀDHANA SARVA SATVÀNÀMCA PÙRANE PÙRANE PÙRAYA ME

    SARVA ÀSÀ VAIDÙRYAPRABHÀSE

    SARVA PÀPA KSAYAM KARE SVÀHÀ

    Thế Tôn, Chánh Đẳng Thích Ca Phật

    Nói chú Dược Sư được lợi quả

    Y phật từ bi sức nhiếp thọ

    Tất cả chúng sanh đều thành tựu

    Duy nguyện Phật Pháp thường hưng thạnh

    Khắp cả hữu tình được an lạc

    Vô minh phiền não đều tiêu trừ

    Mau chứng Vô thượng Bồ đề đạo

    Pháp Bảo

    Phá dẹp tối tăm duốc tối thắng

    Trừ các bệnh khổ thuốc thang hay

    Tất cả ly dục các Pháp Bảo

    Đảnh lễ quy mạng và cúng dường (7 lần)

    Diệu chỉ của Phật là chân thật không thay đổi, xin cho chúng con hiện tiền được như bổn nguyện đúng nghĩa chân thật.

    Nghe danh tiêu tội sanh công đức

    Như Lai đã nói không sai khác

    Y Phật từ bi sức nhiếp thọ

    Tất cả chúng sanh đều thành tựu

    Duy nguyện Phật Pháp thường hưng thạnh

    Khiến khắp hữu tình được an lạc

    Vô minh phiền não thảy tiêu trừ

    Mau chứng Vô thượng Bồ đề đạo

    Tăng Bảo MạnThù Bồ Tát

    Đảnh lễ cúng dường quy y Thánh giả Văn Thù Thất Lợi Bồ Tát ma ha tát.

    Tâm xa lìa tất cả phiền não cấu uế tội lỗi, thân đầy đủ oai đức thanh tịnh sáng sửa, oai nghi trang nghiêm, như hoa sen sạch đẹp, Trời, người, A Tu La, Rồng, các Trì Minh Tiên vi nhiễu, đầu đội mão báu phá 3 đường ác và các khổ chúng sanh (7 lần)

    Thế Tôn, Ngài Mạn Thù Thất Lợi thương xót chúng sanh nơi đời bị các nghiệp chướng ngăn che, các bệnh tật ràng buộc buồn rầu, khổ não bức bách, các tà kiến làm mê hoặckhiến bị đọa lạc vào các chốn ác. Vì thương xót các hữu tình hoặc nếu người nghe được kinh này, ở nơi Vô thượng Bồ đề không bị thối chuyển, tiêu trừ tội chướng, ma quỷ không não, tai hoạ, các việc không vừa ý thảy đều tiêu tan, các việc mong cầu đều được thuận duyên, tùy ý thành tựu Bảy danh hiệu của Phật Dược Sư và Bổn Nguyện Công Đức Kinh ở nơi Pháp hội mà thưa cùng Đức Thích Ca Như Lai rằng: “Bạch Thế Tôn! Sau khi Tượng Pháp chuyển, nếu có người tụng trì Kinh Bổn Nguyện Công Đức, rộng nói cho người khác hoặc tự chép, hoặc bảo người chép tạo thành bản tiếng Phạn, kính tín tôn trọng, dùng các hoa thơm, hương bột, hương xoa, hương đốt, vòng hoa, phướng lọng cúng dường, con sẽ vì người kia xưng danh hiệu của Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai cho đến trong giấc ngủ cũng nói nơi tai cho rõ biết, lại dùng lụa năm màu làm đãy đựng kinh này để nơi sạch sẽ, tức thì chỗ đó có bốn Đại Thiên Vương và các quyến thuộc và vô lượng trăm ngàn các vị Trời lại nơi đó. Người thọ trì kinh này không bị hoạnh tử, các quỷ thần không thể đoạt lấy tinh khí, giả sử có bị đoạt sẽ được hồn lại như cũ . Tất cả lời trên đều là lời Thánh chân thật không có nói dối. Nay tại Đàn này dâng cúng các phẩm vật cúng dườnghải hội các Như Lai, chắc có tiền duyên tu theo nghi quỹ, vệc Thánh lưu thông trong kinh đã nói tất cả mọi việc lợi ích con và chúng sanh đều thành tựu.

    Văn Thù thâm rộng Bổn nguyện Kinh

    Ân cần thưa hỏi các lợi ích

    Y Phật từ bi sức nhiếp thọ

    Tất cả chúng sanh đều thành tựu

    Duy nguyện Phật Pháp thường hưng thạnh

    Khắp cả hữu tình đều an lạc

    Vô minh phiền não thảy tiêu trừ

    Mau chứng Vô thượng Bồ đề đạo

    Cứu Thốt Bồ Tát

    Đảnh lễ cúng dường quy y Cứu Thốt Bồ Tát ma ha tát (7 lần)

    Thế Tôn ! Ngài Cứu Thốt thương xót chúng sanh đời ác bị các nhân khổ nên khởi lòng từ nơi trước Thế Tôn trong hải hội chúng mà nói rằng: ” Đại Đức Thế Tôn! Nơi đời sau này khi Tượng Pháp chuyển, nếu có chúng sanh bị các bệnh khổ bức bách, thân hình gầy ốm không ăn uống được, môi cổ khô khốc tướng chết hiện ra, cha mẹ bà con bạn bè quên biết vây quanh khóc lóc mặt nhìn không rõ, thấy Sứ giả của vua Diêm Ma Pháp Vương dẫn thần thức đi đến chỗ Vua Diêm Ma, các thần Cu Sanh ghi rõ các việc làm Thện Ác đầy đủ dâng lên vua Diêm Ma. Diêm Ma Pháp Vương y theo Pháp luật hỏi các tội phước mà xử đốn.

    Nếu vì người bệnh quy y Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai như Pháp cúng dường, thần thức người kia hoặc qua 7 ngày, hoặc 21 ngày, 35 ngày, 49 ngày như chiêm bao tỉnh dậy thấy rõ Thiện Ác đều có quả báo, do tự thấy biết nên cho đến chết cũng không làm ác.

    Pháp tắc cúng dường: Lại bảo Đức A Nan, nếu có người muốn khỏi các bệnh nạn lớn phải vì người bệnh kia bảy ngày đêm đọc tụng bố thí giữ tám trai giới, dùng các món ẩm thực và các món cần dùng tùy sức cúng dường phụng sự các chúng Tỳ Kheo, ngày đêm sáu thời đọc tụng danh hiệu Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, lại tụng này 49 lần, thắp đèn đủ 49 ngày, tạo 7 tượng trước mỗi tượng để 7 ngọn đèn, mỗi ngọn đèn lớn như bánh xe cho đến 49 ngày đêm thắp sáng luôn, lại làm 49 cái phướng ngũ sắc. Đại Đức A Nan! Nếu Sát Đế Lợi, Hốn Đảnh Vương …v….v… có các bệnh nạn, hoặc trong nước hoặc nước ngồi xâm lăng phản nghịch, tinh tú biến quái, nhật nguyệt bạt thức, mưa gió trái mùa, quá thời không mưa, dân chúng tật bệnh, tất cả các ách không được an ổn; thời Sát Đế Lợi, Hốn Đảnh Vương kia … bấy giờ nên khởi lòng từ đối với tất cả hữu tình, mở các tù ngục, giải bớt khổ nạn như Pháp thức trên cúng dường Dược Sư Lưu Ly quang Vương Phật. Do căn lành này và công đức bổn nguyện lực của Phật Dược Sư khiến trong nước an ổn, mưa gió thuận thời, lúa thóc được mùa, nhân dân không bịnh, an lạc vui vẻ, tất cả bạo ác quỷ thần không nhiễu loạn, tất cả ác tướng đều tiêu diệt, quán đảnh vua kia được sống lâu tăng trưởng sắc lực, không bệnh, tự tại. Tất cả lời trên là lời của Thánh chắc thật không sai, nay xin dâng cúng tất cả phẩm vật nơi Đàn này lên hải hội Như Lai, nghĩ nhớ duyên xưa có tu Nghi quỹ nên mới được nghi quỹ này trong kinh nói đến các thứ lợi ích khiến con và tất cả chúng sanh đều được thành tựu, cúi mong nhiếp thọ.

    Cứu Thốt thương xót bệnh nạn thời

    Trừ diệt ban cho được an lạc

    Y Phật từ bi sức nhiếp thọ

    Tất cả chúng sanh đều thành tựu

    Duy nguyện Phật Pháp thường hưng thạnh

    Khiến khắp hữu tình được an lạc

    Vô minh phiền não thảy tiêu trừ

    Mau thành Vô thượng Bồ đề đạo

    Kim Cang Thủ

    Đảnh lễ cúng dường quy y oai đức Kim Cang Thủ Bồ Tát ma ha tát (7 lần)

    Đảnh lễ cúng dường quy y Đại Phạm Thiên Đế Thích, Trì Quốc Quảng Mục Tăng Trưởng, Đa Văn bốn Đại ThiênVương, các Trời gần gũi, Hộ Pháp Thiện Thần (7 lần)

    Đát đạp nha tháp a, a cô ma cô đáp lặc cô ma ma cô cô phù cáp hô ha ma lặc ma lặc ma lặc ma lặc đát đát phù sa ha cáp a

    * ) TADYATHÀ : AKU MAKU TARAKU MAMAKU KURE HA HO HE_ MARA MARA MARA MARA PUCURE PURE_ SVÀHÀ

    Đát đạp nha tháp a ngạc ma bạt tạp phù bạt tạp phù ma cáp a bạt tạp phù bạt tạp lặc ba a thương đạt cáp ba lặc ni y tát ma tát ma tát mạn đáp a ba lặc đề cáp đáp bạt tạp phù sa ma sa ma ba lặc sa mạn đô tát lặc ốt bạt nha a đạt cáp nha ma nổ tát ma lặc bạt cáp hắc ốt a nạp bạt tạp ma lặc ba a ni tát lặc ốt a thương mặc ba lị phổ ô lặc điệp sa ha cáp a.

    TADYATHÀ : OMÏ_ VAJRE VAJRE MAHÀ VAJRE_ VAJRA PÀ’SA DHÀRANÏI_ SAMA ASAMA SAMANTA APRATIHATA VAJRE_ ‘SAMA ‘SAMA PRA’SAMYANTU_ SARVA VYÀDHAYA KURU KURU_ SARVA KARMA APRÀNÏANÌ KSÏAYA ‘SAMAYA MÀNU’SA MARA _ BHAGAVAMÏ VAJRAPÀNÏI_ SARVA À’SÀ ME PARIPÙRAYA_ SVÀHÀ

    Thế Tôn! Nếu có người niệm danh hiệu bảy Phật và Bổn Nguyện Kinh trì tụng Chú này, con khiến họ thành tựu các mong cầu, tất cả Pháp lành đều được thành tựu. Nếu muốn thấy con nên chép kinh này, tạo 7 tượng Phật và tượng Chấp Kim Cang, dùng Xá Lợi Phật để nơi phụng tượng y theo Như Lai đã nói các Pháp tắc trên, dùng các hương hoa đèn nến, anh lạc, kỹ nhạc trang nghiêm cúng dường, lại tụng chú này nơi tất cả chúng sanh làm các việc lợi ích, thọ tám phần trai giới, ba thời tắm rửa, ba thời thay áo quần, từ ngày Tám cho đến ngày Mười Lăm mỗi ngày tụng 108 lần, con ở nơi mộng tức tự hiện thân cùng nhau nói chuyện tùy ý cầu xin, con sẽ ban cho. Các lời ở trên đều là lời Thánh không có sai khác. Nay tại Đàn này các món phẩm vật cúng dường dâng lên hải hội Như Lai chắc do nhân duyên đời trước được gặp đạo Thánh lưu thông tu theo nghi quỹ như Bổn Kinh nói các việc lợi ích, xin cho con và tất cả chúng sanh mau được thành tựu. Cúi xin nạp thọ.

    Lại nguyện Kinh Bổn Nguyện Công Đức của bảy Phật các Pháp vi diệu thâm sâu luôn luôn hưng thạnh, tất cả ma chướng làm gián đoạn sự tu hành ở tại phương này hoặc làm người, súc vật bệnh tật, gió mưa sương tuyết hại mùa màng hoa màu, tất cả tai nạn ác tướng, các việc không tốt làm cho hữu tình lo lắng buồn rầu, tất cả tà ma lị mị vọng lượng ở trong thế giới này, hoặc ở hoặc đi khắp nơi tất cả các đẳng loại nay vì … con hoặc có oan cừu đời trước, hoặc nay kết các ác duyên hoặc do địa lý làm ngại, hoặc do ông bà để lại các tai ách họa ương. Nay vì … con và tất cả hoặc hại mạng kẻ khác hoặc trong quốc giới quyến thuộc lấy vật của người, tất cả ma quái ma quỷ làm các tai ương não hại hữu tình thảy đều dùng phương tiện khéo léo điều phục khiến cho các tâm tổn hại kia thảy đều khởi lòng từ, xa lìa tất cả sự xấu ác, lại không tạo các điều ác nữa được vào Thánh hội, Thánh giáo lưu thông. Cúi xin nạp thọ.

    Mật Chú chư Thiên phát nguyện thề

    Nói chú Pháp tu Kim Cang Thủ

    Y Phật từ bi sức nhiếp thọ

    Tất cả chúng sanh được thành tựu

    Duy nguyện Phật Pháp thường hưng thạnh

    Cầu cho tất cả các Đàn việt

    Nghiệp chướng tiêu trừ nguyện đầy đủ

    Tà ma tiêu tán duyên thuận lợi

    Mười hai Dạ Xoa Đại Tướng

    Đảnh lễ cúng dường quy y Cực Úy Dạ Xoa Đại Tướng

    Đảnh lễ cúng dường quy y Kim Cang Dạ Xoa Đại Tướng

    Đảnh lễ cúng dường quy y Chấp Nghiêm Dạ Xoa Đại Tướng

    Đảnh lễ cúng dường quy y Chấp Tinh Dạ Xoa Đại Tướng

    Đảnh lễ cúng dường quy y Chấp Phong Dạ Xoa Đại Tướng

    Đảnh lễ cúng dường quy y Cư Xử Dạ Xoa Đại Tướng

    Đảnh lễ cúng dường quy y Chấp Lực Dạ Xoa Đại Tướng

    Đảnh lễ cúng dường quy y Chấp Ẩm Dạ Xoa Đại Tướng

    Đảnh lễ cúng dường quy y Chấp Ngôn Dạ Xoa Đại Tướng

    Đảnh lễ cúng dường quy y Chấp Tưởng Dạ Xoa Đại Tướng

    Đảnh lễ cúng dường quy y Chấp Động Dạ Xoa Đại Tướng

    Đảnh lễ cúng dường quy y Viên Tác Ý Dạ Xoa Đại Tướng

    (3 lần)

    Lại nguyện công đức bổn nguyện kinh, các Pháp thậm thâm vi diệu, luôn được hưng thạnh, tất cả chướng nạn tu hành nửa chừng bỏ lỡ, tất cả ma chướng ở tại nơi đây làm người bệnh tật, hoặc mưa gió sương tuyết phá hại hoa màu, tất cả tai nạn ác tướng, việc không lành làm cho hữu tình phải bị buồn rầulo lắng, tất cả tà ma lị, mị, vọng lượng ở tại cõi này hoặc đi khắp chốn các đẳng loại, nay vì … chúng con hoặc do oan báo đời trước, hoặc kết ác duyên đời này hoặc do địa lý ngăn ngại, hoặc do Tổ Tông truyền lại, nên bị các tai ương họa hoạn làm não loạn, nhân vì … và chúng con hoặc hại thân mạng hoặc các quyến thuộc lấy của người, tất cả ma quỷ yêu quái làm các tai ương thảy đều dùng phương tiện khiến cho điều phục bỏ các tâm tổn hại khởi lòng từ, các thứ xấu ác, các tà hạnh đều được xa lìa, không còn tạo các ác nghiệp nữa. Nguyện cho tất cả đều vào Thánh Hội nơi tại Đạo Tràng không quên lời thề làm cho Thánh giáo lưu thông. Cúi xin nạp thọ.

    Dạ Xoa nghe thấy Bổn Nguyện Kinh

    Lập thệ bảo hộ cứu quần sanh

    Y Phật từ bi nhiếp thọ lực

    Tất cả chúng sanh đều thànhtựu

    Duy nguyện Phật Pháp thường hưng thạnh

    Cầu cho tất cả các Đàn việt

    Chúng sanh tiêu chướng mãn nguyện cầu

    Thối tán tà ma được thuận duyên

    Địa thần

    Nay đem ngũ dục, các món công đức đầy đủ thí thực rộng lớn, phụng hiến Kiên Lao Địa Thiên Thần Nữ là vị trên hết, nơi nơi chốn chốn hộ quốc an dân, tất cả thần kỳ ở tại nơi đây, các vị Trời Rồng, mười hai vị Thần đầy đủ sức lực, tất cả đại lực Phi nhân, các vị thọ hưởng thí thực, gia hộ cho … và quyến thuộc đại chúng khi tu đạo chướng duyên tiêu trừ, tùy ý đầy đủ.

    Đát đạp nha tháp a cô mặc cô mặc y mặc ni mật hi ma đề ma đề tát ba đáp tháp hắc đáp tát ma a đạt cáp nha đề tạp si đắc a đắc ma đắc ba a lặc ba a ba thạc đạt cáp ni tát lặc ốt ba a ba ma nạp a s nha ma ma phố đạt đắc phố đạt đà nạp nạp mặc, ô mặc cô mặc phố đạt đạt cáp kiết vi đạp lặc ba lị thạc đạt cáp ni, đạt cáp mặc ni đạt cáp mặc, mặc rô mặc rô mặc rô thí tạp phù tát lặc ốt a kiết a lạp mật lặc đạt ứ ni bạt a lặc ni, phố đạt đắc tô phố đạt đắc phố đạt đạt cáp a đề tạc xoa a nạp lặc kiết đảm cô mặc a lặc ốt đức ốt tát mặc a tát mặc, tát ma nạp ốt a cáp dủ bộ tát lặc ốt phố đạt đạt cáp bạt đề tát anh sa mặc sa mặc ba lặc sa mạn đô mặc tát lặc ốt y đáp ứ ba ma đạt lặc ốt bạt nha a đáp nha tư, phổ ô lặc nạp phổ ô lặc ni, phố ô lặc nha mặc tát lặc ốt a a sa a nhạ tự ách chu ô lặc nha ba lặc đề bạt cáp a mặc a lặc ốt ba a bạt ma kiết sát ương kiết lỵ sa a cáp a.

    Nạp ma bạt hắt ốt đắc tự ách tạc tạp diệp cô rô tự ách chu ô lặc nha ba lặc bạt cáp lặc a tạp a nha đát tháp a hắt đáp nha a lặc cáp đắc tát ma nha kiết tát ma phố bạt cáp nha đát đạp nha tháp a, ngạc ma tự ách tạc tạp diệp lặc a tạp a tát sa đạt hắc đắt sa a cáp a.

    (Chú đọc càng nhiều càng tốt)

    Do sức chú lực, tám Như Lai và quyến thuộc từ nơi thân phóng ra vô lượng ánh sáng chiếu vào trong các bìn đựng nước nhiếp thọ gia trì.

    Đảnh lễ các chư Tôn Thượng Sư của Tông phái

    Tướng tốt thanh tịnh như sen báu

    Tám mươi vẻ đẹp kết thành thân

    Nếu được thấy nghe đều hộ niệm

    Đạo Sư Thiện Danh con kính lễ

    Bảo Nguyệt Liên Hoa Thắng trang nghiêm

    Trí huệ cao vời hiểu tất cả

    Lời nói thâm sâu dường biển rộng

    Oai Âm Vương Phật con kính lễ

    Đảm bộ hà Kim Thắng quang minh

    Oai đức sáng hơn ngàn mặt Phật

    Thân đẹp còn hơn công báu tốt

    Kim Sắc Vô Cấu con kính lễ

    Đắc được Niết Bàn thường an lạc

    Tiêu trừ khổ não của hữu tình

    Ở trong sáu đường làm chúa tể

    Vô Ưu Thắng Phật con kính lễ

    Pháp âm truyền khắp phá các nạn

    Sâu như biển cả lời chân thật

    Diệt trừ chúng sanh ba món độc

    Pháp Vương Hải Âm con kínhl ễ

    Pháp huệ xét thấu các lý màu

    Du hý ở trong cảnh Pháp giới

    Trước mặt thấy khắp tánh các lồi

    Thần Thông Như Lai con kính lễ

    Đại bi Thế Tôn nhiếp hết thảy

    Nghe tên tức trừ các nẻo khổ

    Trừ ba độc bệnh Phật Dược Sư

    Lưu Ly Quang Vương con kính lễ

    Đại bi phương tiện sanh dòng Thích

    Dẹp trừ tất cả các lồi Ma

    Thân vàng như thể núi Tu Di

    Thích Ca Mâu Ni con kính lễ

    Phương Đông xa cách bốn hằng sa

    Cõi Phật thanh tịnh Vô Thắng

    Vô lượng Bồ Tát thảy đoanh vây

    Thiện Danh Thắng Vương con kính lễ

    Phương Đông xa các năm hằng sa

    Cõi Phật thanh tịnh hiệu Diệu Bảo

    Vô lượng Bồ Tát thảy đoanh vây

    Bảo Nguyệt Như Lai con kính lễ

    Phương Đông xa các sáu hằng sa

    Cõi Phật thanh tịnh hiệu Hương Tích

    Vô lượng Bồ Tát thảy đoanh vây

    Vô Cấu Kim Sắc con đảnh lễ

    Phương Đông xa các bảy hằng sa

    Cõi Phật thanh tịnh hiệu Vô Ưu

    Vô lượng Bồ Tát thảy đoanh vây

    Thắng Đức Vô Ưu con kính lễ

    Phương Đông xa các tám hằng sa

    Cõi Phật thanh tịnh hiệu Pháp Tràng

    Vô lượng Bồ Tát thảy đoanh vây

    Pháp Hải Lôi Âm con kính lễ

    Phương Đông xa các chín hằng sa

    Cõi Phật thanh tịnh hiệu Bảo Hải

    Vô lượng Bồ Tát thảy đoanh vây

    Thắng Huệ Như Lai con kính lễ

    Phương Đông xa các mười hằng sa

    Cõi Phật thanh tịnh hiệu Lưu Ly

    Vô lượng Bồ Tát thảy đoanh vây

    Dược Sư Như Lai con kính lễ

    Đại bi tinh tấn hơn các Thánh

    Đời ác năm trược khó điều phục

    Kham nhẫn ra đời cứu chúng sanh

    Đạo Sư Thích Ca con kính lễ

    Hay trừ thế gian các tối tăm

    Tiêu diệt trần lao các khổ nhân

    Phật Mẫu trí huệ đến bờ Giác

    Ba thừa Diệu Pháp con kính lễ

    Trí Tạng Đồng Chân con Pháp Vương

    Thương con có đủ trăm bức bách

    Thỉnh Phật cầu xin Pháp vi diệu

    Văn Thù Bồ tát con kính lễ

    Phương tiện vì con bị trầm luân

    Quốc thái dân an tăng phước thọ

    Nên nói các Pháp tu cúng dường

    Cứu Thốt Bồ Tát con kính lễ

    Trang nghiêmchúng hội trươc Như Lai

    Phát nguyện giữ gìn kinh điển Phật

    Mỗi Vị thảy đều vâng lịnh Phật

    Mật chư các Thánh con kính lễ

    Rộng nghe danh hiệu Phật Dược Sư

    Rộng phát từ tâm hộ kinh điển

    Mỗi Vị có bảy ức quyến thuộc

    Mười hai Đại Tướng con kính lễ

    Lại lễ mười phương tất cả cõi

    Tin sâu tất cả các công đức

    Vô cùng biến hóa khắp các thân

    Đảnh lễ khắp cả các cõi Phật

    Ở trong thế giới có bao nhiêu

    Ba đời hết thảy các Đức Phật

    Con dùng thanh tịnh Thân Ngữ Ý

    Đảnh lễ hết thảy không thiếu sót

    Phổ Hiền hạnh nguyện sức oai thần

    Hiện thân đầy khắp trước Như Lai

    Một thân biến hiện hết thảy thân

    Mỗi thân lễ lạy hết thảy Phật

    Nơi trong tất cả các cõi Phật

    Và nơi chúng hội các Bồ Tát

    Vô tận Pháp giới nhiều như thế

    Tin Phật sâu xa đều có đủ

    Lại dùng tất cả thứ tiếng tăm

    Phát ra tất cả lời cao đẹp

    Tận cùng vị lai vô số kiếp

    Xưng tán công đức của Chư Phật

    Lại dùng tất cả các tràng hoa

    Kỹ nhạc, hương xoa, cùng phướng lọng

    Như vậy các thứ để trang nghiêm

    Thảy đều dâng cúng lên Chư Phật

    Áo quần sạch tốt hương thơm ngát

    Hương bột hương xoa đèn đuốc sáng

    Tất cả chất đầy như núi cao

    Hết thảy cúng dường đến Chư Phật

    Lại dùng thắng giải tâm rộng lớn

    Tin sâu ba đời các Đức Phật

    Đều dùng hạnh nguyện của Phổ Hiền

    Rộng khắp cúng dường khắp Như Lai

    Con xưa đã tạo các vọng nghiệp

    Đều do vô thủy Tam Sân Si

    Từ Thân Miệng Ý phát sanh ra

    Hết thảy con đều xin sám hối

    Mười phương hết thảy các chúng sanh

    Nhị Thừa Hữu học và Vô học

    Tất cả Như Lai và Bồ Tát

    Chỗ có công đức đều tùy hỷ

    Mười phương tất cả thế gian đăng

    Đầu tiên thành tựu đạo Bồ đề

    Con đều chí thành xin khuyến thỉnh

    Cầu Phật chuyển Vô thượng Pháp luân

    Chư Phật khi muốn nhập Niêt Bàn

    Con nguyện chí thành xin khuyến thỉnh

    Cầu Phật ở mãi nơi thế gian

    Lợi ích tất cả lồi quần sanh

    Tất cả lễ tán phước cúng dường

    Cầu Phật ở đời chuyển Pháp luân

    Tùy hỷ sám hối các Thiện căn

    Hồi hướng chúng sinh và Phật đạo

    Như thế, Bảy Phật Công Đức Bổn Nguyện Kinh đã nói. Cung kính bày biện trần thiết đạo tràng dâng các món cúng dường, cung kính chí thành phụng thỉnh bảy Đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Đảng Chánh Giác và Phật Thích Ca mâu Ni cùng các quyến thuộc giáng lâm đạo tràng chứng minh nạp thọ. Nơi trước Chư Phật con xin sám hối các tội lỗi, trước Chư Phật con xin tùy hỷ các căn lành, lại nương vào sức của các căn lành, sức nhiếp thọ oai thần của Phật, Bồ Tát, cầu xin các Đạo sư hoằng Pháp lợi sanh, các tội lỗi từ vô thủy trở lại đây thảy đều tiêu trừ, không bệnh, sống lâu, thân thường an ổn, làm các sự nghiệp thế gian xuất thế gian đều cát tường, giàu có đầy đủ, hai món tư lương cứu cánh đầy đủ, chứng được thân bền chắc, mau được vô thượng Phật đạo, tất cả tai nạn trong ngồi ở thế gian đều tiêu tan, vui sướng giàu có, mau chứng Vô thượng Bồ đề. Lại nguyện tất cả mọi nơi người vật không tai ương bệnh tật, không có đói nghèo, tất cả ách nạn thảy đều vĩnh viễn tiêu trừ, mưa hòa gió thuận, lúa cốc được mùa, tất cả chúng sanh an cư lạc nghiệp, đời sau được vãng sanh nơi các cõi Phật, được thấy Phật được nghe Pháp được thọ ký, phước huệ hai món tư lương đầy đủ, chứng được quả vị Đại giác. Lại nguyện Pháp bảo ở đời lâu dài khiếnc ho nhân gian đều được khai hiểu.

    Xuất Hữu Hoại Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác bảy vị Phật và quyến thộc cùng Đức Thích Ca Mâu Ni và quyến thuộc trong Thánh hội. Nay vì … chúng con vì lợi lạc tất cả chúng sanh, trì tụng kinh này không đúng giờ khắc làm các ác hạnh, việc làm thiếu sót vì không hiểu biết hết được, phiền não sâu dày hoặc vật cúng ít, hoặc không sạch sẽ, hoặc làm các Pháp tắc không đầy đủ, tất cả mọi việc như trên cúi xin đại từ đại bi thương xót nạp thọ, vĩnh viễn xa lìa chướng nạn, cúi xin nạp thọ.

    Không được và sai phạm

    Do nhân ngã ngu si

    Tự làm hoặc bảo người

    Thảy đều xin thương xót

    Các hữu tình đời ác

    Ít phước nhiều tối tăm

    Không hiểu trọn ý Thánh

    Thảy đều xin thương xót

    Không trí do tham lam

    Vật cúng không đầy đủ

    Cúi xin Đấng Đại bi

    Thảy đều xin thương xót

    Việc làm có thiếu sót

    Không y như nghi quỹ

    Không vừa ý Như Lai

    Thảy đều xin thương xót

    Tất cả mọi lỗi lầm

    Không y nơi nghi quỹ

    Có các điều sai lầm

    Thảy đều xin thương xót

    Phụng tống (tiễn đưa)

    Thế Tôn lợi ích các hữu tình

    Hạnh nguyện công đức đều thành tựu

    Xin Phật trở về nơi bổn độ

    Tái thỉnh xin Ngài lại giáng lâm

    Đại từ đại bi Chư Phật Thế Tôn, đã làm các việc lợi ích xong, cúi xin Ngài dùng sức thần thông cùng các quyến thuộâc trở về bổn độ.

    ρ Hồi Hướng

    Văn Thù Sư Lợi trí mạnh mẽ

    Phổ Nguyện hạnh nguyện cũng như nhau

    Con xin hồi hướng các Thiện căn

    Cầu cho tất cả đều tu học

    Ba đời Chư Phật xin khen ngợi

    Hết thảy nguyện lớn của các Ngài

    Con xin hồi hướng các Thiện căn

    Nguyện làm Phổ Hiền Văn Thù hạnh

    Đem các công đức thí chúng sanh

    Phước đức trí huệ đã tu tập

    Phát sanh các món trí phước đức

    Nguyện được tối thắng hai thứ tâm

    Thuốc thang hay trừ các bệnh nạn

    Tất cả an lạc được phát sanh

    Nguyện được cúng dường và cung kính

    Thánh giáo, luôn luôn mãi trường tồn

    Chư Phật Bồ Tát sức nhiếp thọ

    Bốn duyên đầy đủ lực chân thật

    Dùng sức thanh tịnh sức tin sâu

    Tất cả mong cầu đều đầy đủ

    Kiết Tường kệ

    Từ quang chiếu rọi hết tối tăm

    Oai đức lẫy lừng bảy Như Lai

    Bổn nguyện tôn kinh đầy đủ cả

    Chư Phật an lành xin tập hội

    Kinh lọt vào tai trừ các khổ

    Thậm thâm diệu pháp cứu chúng sanh

    Bổn nguyện gồm thâu tám trăm Tạng

    Các Pháp an lành xin tập hội

    Kinh đây ban cho đầy đủ cả

    Hộ trì khiến được thảy lưu thông

    Bồ Tát Thanh Văn các Thần Tướng

    Đại chúng an lành xin tập hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư
  • Tượng Phật Dược Sư Lưu Ly
  • Bán Tượng Phật Dược Sư Uy Tín, Chất Lượng Nhất Trên Thị Trường Hiện Nay
  • Địa Điểm Nào Cung Cấp Tượng Phật Dược Sư Cao Cấp Đẹp Và Tốt Nhất?
  • Tượng Phật Di Lặc Đặt Ở Đâu Sao Cho Đúng Phong Thủy
  • Cách Cúng Giỗ Tổ Hùng Vương Tại Nhà

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Cúng Đầy Tháng Cho Bé Trai Bé Gái Gồm Những Gì
  • Mâm Cúng Đầy Tháng Bé Gái Gói Cơ Bản
  • Cúng Đầy Tháng Cho Bé Gái Mẹ Cần Chuẩn Bị Những Gì?
  • Hướng Dẫn Cúng Đầy Tháng Cho Bé Gái Miền Nam Đúng Chuẩn
  • Hướng Dẫn Làm Lễ Cúng Đầy Tháng Miền Nam Cho Bé Từ A
  • BTV

    Cách cúng giỗ tổ Hùng Vương tại nhà, ông cha ta có câu “Dù ai đi ngược về xuôi nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba”. Là một người con Việt Nam luôn phải có tâm hướng về cội nguồn.

    Cách cúng giỗ tổ Hùng Vương tại nhà, ông cha ta có câu “Dù ai đi ngược về xuôi nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba”. Là một người con Việt Nam luôn phải có tâm hướng về cội nguồn, chân lý này đã ngấm sâu vào máu của mỗi con người. Ngày này mỗi gia đình nếu không về được quê cha đất tổ cũng sẽ cố gắng chuẩn bị một buổi giỗ thật tươm tất để nhớ về cội nguồn.

    Giỗ tổ Hùng Vương là ngày gì?

    “Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng mười tháng ba Khắp miền truyền mãi câu ca Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm”

    Câu ca dao đậm đà tình nghĩa đã đi vào lòng mỗi người dân Việt Nam từ thế hệ này sang thế hệ khác. Hàng ngàn năm nay, Đền Hùng – nơi cội nguồn của dân tộc, của đất nước luôn là biểu tượng tôn kính, linh nghiêm quy tụ và gắn bó với dân tộc Việt Nam.

    Theo truyền thuyết thì Lạc Long Quân và Âu Cơ được xem như là Thủy Tổ người Việt, cha mẹ của các Vua Hùng. Lễ hội Đền Hùng còn được gọi là ngày Giỗ Tổ Hùng Vương.

    Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương diễn ra vào ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch hàng năm tại Đền Hùng, Việt Trì, Phú Thọ. Trước đó hàng tuần, lễ hội đã diễn ra với nhiều hoạt động văn hoá dân gian và kết thúc vào ngày 10 tháng 3 âm lịch với Lễ rước kiệu và dâng hương tại Đền Thượng.

    Từ xa xưa Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương đã có vị thế đặc biệt trong tâm thức của người Việt. Bản ngọc phả viết thời Trần, năm 1470 đời vua Lê Thánh Tông và đời vua Lê Kính Tông năm 1601 sao chép đóng dấu kiềm để tại Đền Hùng, nói rằng: “…Từ nhà Triệu, nhà Đinh, nhà Lê, nhà Lý, nhà Trần đến triều đại ta bây giờ là Hồng Đức Hậu Lê vẫn cùng hương khói trong ngôi đền ở làng Trung Nghĩa. Những ruộng đất sưu thuế từ xưa để lại dùng vào việc cúng tế vẫn không thay đổi…”.

    Như vậy, có thể hiểu từ thời Hậu Lê trở về trước các triều đại đều quản lý Đền Hùng theo cách giao thẳng cho dân sở tại trông nom, sửa chữa, cúng bái, làm Giỗ Tổ ngày 10 tháng 3 âm lịch. Bù lại họ được miễn nộp thuế 500 mẫu ruộng, miễn đóng sưu, miễn đi phu đi lính.

    Đến đời nhà Nguyễn vào năm Khải Định thứ 2 (1917), Tuần phủ Phú Thọ Lê Trung Ngọc đã trình bộ Lễ định ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm làm ngày Quốc tế (Quốc lễ, Quốc giỗ). Điều này được tấm bia Hùng Vương từ khảo do Tham tri Bùi Ngọc Hoàn, Tuần phủ tỉnh Phú Thọ, lập năm Bảo Đại thứ 15 (1940) cũng đang đặt ở Đền Thượng trên núi Hùng, xác nhận: “Trước đây, ngày Quốc tế lấy vào mùa thu làm định kỳ. Đến năm Khải Định thứ hai (dương lịch là năm 1917), Tuần phủ Phú Thọ là Lê Trung Ngọc có công văn xin bộ Lễ ấn định ngày mồng Mười tháng Ba hằng năm làm ngày Quốc tế, tức trước ngày giỗ tổ Hùng Vương đời thứ 18 một ngày. Còn ngày giỗ (11 tháng Ba) do dân sở tại làm lễ”. Kể từ đây, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm được chính thức hóa bằng luật pháp. Sau cách mạng tháng Tám (1945) Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm tới Đền Hùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đều đã về thăm viếng tại đây. Kế tục truyền thống cao đẹp của cha ông, nhất là đạo đức “uống nước nhớ nguồn”, ngay sau cách mạng thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh của Chủ Tịch nước số 22/SL – CTN ngày 18 tháng 2 năm 1946 cho công chức nghỉ ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm để tham gia tổ chức các hoạt động Giỗ Tổ Hùng Vương – hướng về cội nguồn dân tộc.

    Trong ngày Giỗ Tổ năm Bính Tuất (1946) – năm đầu tiên của Chính phủ mới được thành lập, cụ Huỳnh Thúc Kháng – Quyền Chủ tịch nước đã dâng một tấm bản đồ Tổ quốc Việt Nam và một thanh gươm quý nhằm cáo với Tổ tiên về đất nước bị xâm lăng và cầu mong Tổ tiên phù hộ cho quốc thái dân an, thiên hạ thái bình cùng nhau đoàn kết, đánh tan giặc xâm lược, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã có hai lần về thăm Đền Hùng (19/9/1954 và 19/8/1962). Tại đây Người đã có câu nói bất hủ: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước – Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Người còn nhắc: “Phải chú ý bảo vệ, trồng thêm hoa, thêm cây cối để Đền Hùng ngày càng trang nghiêm và đẹp đẽ, thành công viên lịch sử cho con cháu sau này đến tham quan”.

    Năm 1995, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương đã được Ban Bí thư ghi trong thông báo là ngày lễ lớn trong năm. Ngành Văn hóa thông tin – thể thao phối hợp với các ngành chức năng đã tổ chức lễ hội trong thời gian 10 ngày (từ 1/3 đến 10/3 âm lịch).

    Tại Nghị định số 82/2001/NĐ-CP ngày 06/11/2001 về Nghi lễ Nhà nước, trong đó có nội dung quy định cụ thể về quy mô tổ chức Giỗ Tổ Hùng Vương, cụ thể như sau:

    – “Năm chẵn” là số năm kỷ niệm có chữ số cuối cùng là “0”; Bộ Văn hoá – Thông tin và Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ tổ chức Lễ hội; mời đại diện lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể dự Lễ dâng hương.

    – “Năm tròn” là số năm kỷ niệm có chữ số cuối cùng là “5”; Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ tổ chức lễ hội; mời đại diện lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể dự Lễ dâng hương.

    – “Năm lẻ” là số năm kỷ niệm có các chữ số cuối cùng còn lại. Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ tổ chức lễ hội; mời lãnh đạo Bộ Văn hoá – Thông tin dự lễ dâng hương và tổ chức các hoạt động trong lễ hội.

    Ngày 02/4/2007, Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã phê chuẩn sửa đổi, bổ sung Điều 73 của Luật Lao động cho người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch). Kể từ đây, ngày 10/3 âm lịch hàng năm đã trở thành ngày lễ lớn – QUỐC LỄ mang ý nghĩa bản sắc văn hóa dân tộc.

    Ngày giỗ Tổ Hùng Vương hằng năm là ngày hội chung của toàn dân, ngày mà mọi trái tim dù đang sống và làm việc ở muôn nơi vẫn đập chung một nhịp, mọi cặp mắt đều nhìn về cùng một hướng. Trong ngày này, nhân dân cả nước còn có điều kiện để tham gia vào các hoạt động văn hóa thể hiện lòng thành kính tri ân các Vua Hùng đã có công dựng nước và các bậc tiền nhân đã vì dân giữ nước.

    Trong hồ sơ đề trình UNESCO công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” là di sản văn hoá thế giới đã nêu rõ giá trị của di sản là thể hiện lòng tôn kính đối với tổ tiên, theo tinh thần “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam. Theo đánh giá của các chuyên gia UNESCO, “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” đã đáp ứng được tiêu chí quan trọng nhất trong 5 tiêu chí, đó là, di sản có giá trị nổi bật mang tính toàn cầu, khích lệ ý thức chung của mọi dân tộc trong việc thúc đẩy giá trị đó. Vì vậy, ngày 6/12/2012, UNESCO đã chính thức công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ”, biểu tượng của tinh thần đại đoàn kết, truyền thống đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

    Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng còn là dịp để giáo dục truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, lòng biết ơn sâu sắc các Vua Hùng đã có công dựng nước và các bậc tiền nhân kiên cường chống giặc ngoại xâm giữ nước, đồng thời còn là dịp quan trọng để chúng ta quảng bá ra thế giới về một Di sản vô cùng giá trị, độc đáo, đã tồn tại hàng nghìn năm, ăn sâu vào tâm hồn, tình cảm, trở thành đạo lý truyền thống của đồng bào cả nước, kiều bào ta ở nước ngoài, là ngày để toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta cùng nguyện một lòng mãi mãi khắc ghi lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước – Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

    Ngày Giỗ tổ Hùng Vương hay Lễ hội Đền Hùng là một ngày lễ của Việt Nam. Đây là ngày hội truyền thống của dân tộc Kinh tưởng nhớ công lao dựng nước của Hùng Vương. Nghi lễ truyền thống được tổ chức hàng năm vào mồng 10 tháng 3 âm lịch tại Đền Hùng, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ nhưng được dân Việt trong cũng như ngoài nước đều kỷ niệm.

    Ngày giỗ Hùng Vương từ lâu đã được công nhận là một trong những ngày quốc lễ của Việt Nam. Từ thời xưa, các triều đại quân chủ và phong kiến Việt Nam đã quản lý Đền Hùng theo cách giao thẳng cho dân sở tại trông nom, sửa chữa, cúng bái, làm Giỗ Tổ vào ngày 10 tháng 3 âm lịch; đổi lại dân địa phương được triều đình miễn cho những khoản thuế ruộng cùng sưu dịch và sung vào lính.

    Giỗ Tổ Hùng vương bắt đầu từ bao giờ?

    Sang thế kỷ 20, năm 1917 triều vua Khải Định, Bộ Lễ chính thức gửi công văn ghi ngày 25 Tháng 7 phái quan hàng tỉnh của tỉnh Phú Thọ lấy ngày mồng 10 Tháng 3 âm lịch thì cử hành “quốc tế” hàng năm, tức là sức cho các quan phải mặc phẩm phục lên đền Hùng thay mặt triều đình Huế cúng tế.

    Ngày 10 Tháng 3 từ đó được dùng cho toàn quốc. Khi nền quân chủ cáo chung thì ngày Giỗ Tổ Hùng Vương vẫn được Việt Nam Cộng hòa công nhận là ngày nghỉ lễ chính thức cho đến năm 1975.

    Đối với nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì năm 2007 mới chính thức quy định ngày nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương.

    UNESCO đã công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng vua Hùng” là “kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại đại diện của nhân loại”.

    Trong dân gian Việt Nam có câu lục bát lưu truyền từ xa xưa:

    “Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba”

    Cứ đến ngày này, người dân Việt Nam lại nô nức về với Phú Thọ để Đền Hùng là tên gọi khái quát của Khu di tích lịch sử Đền Hùng – quần thể đền chùa thờ phụng các Vua Hùng và tôn thất của nhà vua trên núi Nghĩa Lĩnh, gắn với Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng được tổ chức tại địa điểm đó hàng năm vào ngày 10 tháng 3 âm lịch. Hiện nay, theo các tài liệu khoa học đã công bố đa số đều thống nhất nền móng kiến trúc đền Hùng bắt đầu được xây dựng từ thời vua Đinh Tiên Hoàng trị vì. Đến thời Hậu Lê (thế kỷ 15) được xây dựng hoàn chỉnh theo quy mô như hiện tại.

    Quần thể di tích đền Hùng nằm từ chân núi đến đỉnh ngọn núi Nghĩa Lĩnh cao 175 mét (núi có những tên gọi như Núi Cả, Nghĩa Lĩnh, Nghĩa Cương, Hy Cương, Hy Sơn, Bảo Thiếu Lĩnh, Bảo Thiếu Sơn), thuộc địa phận xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, trong khu rừng được bảo vệ nghiêm ngặt giáp giới với những xã thuộc huyện Lâm Thao, Phù Ninh và vùng ngoại ô thành phố Việt Trì, cách trung tâm thành phố Việt Trì khoảng 10 km. Khu vực đền Hùng ngày nay nằm trong địa phận của kinh đô Phong Châu của quốc gia Văn Lang cổ xưa. Theo cuốn Ngọc phả Hùng Vương, đương thời các Vua Hùng đã cho xây dựng điện Kính Thiên tại khu vực núi Nghĩa Lĩnh này.

    Đền Hùng được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng là khu di tích đặc biệt của quốc gia vào năm 1962. Đến năm 1967, Chính phủ Việt Nam đã quyết định khoanh vùng xây dựng khu rừng cấm Đền Hùng. Ngày 8 tháng 2 năm 1994, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt dự án quy hoạch tổng thể Khu di tích lịch sử Đền Hùng lần thứ nhất, tạo tiền đề cho việc đầu tư xây dựng nhiều công trình hạng mục trong khu di tích.

    Ngày 6 tháng 1 năm 2001, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 82/2001/NĐ-CP, quy định về quy mô, nghi lễ tổ chức giỗ Tổ Hùng Vương và lễ hội Đền Hùng hàng năm. Ngày 10 tháng 3 trở thành ngày quốc lễ, ngày giỗ Tổ Hùng Vương.Khu di tích lịch sử Đền Hùng đã không ngừng lớn mạnh, được thể hiện sâu sắc và rõ nét hơn qua hàng loạt công trình kiến trúc văn hóa đầu tư xây dựng. Nổi bật nhất là từ sau Quyết định số 84/2004/QĐ-TTg ngày 30 tháng 3 năm 2004 về việc phê duyệt quy hoạch phát triển Khu di tích lịch sử Đền Hùng đến năm 2022.

    Nhiều công trình tiếp tục được xây dựng tại khu di tích Đền Hùng như Đền thờ Lạc Long Quân, đường hành lễ tại trung tâm lễ hội, trụ sở làm việc và nhà tiếp đón khách của khu di tích, đài tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ…Trước sự phát triển và quy mô ngày càng lớn, đòi hỏi phải có một bộ máy quản lý tương xứng. Ngày 23 tháng 2 năm 2005, UBND tỉnh Phú Thọ đã ban hành Quyết định số 525/2005/QĐ-UB về việc nâng cấp Ban quản lý Khu di tích Đền Hùng thuộc Sở Văn hóa thông tin Phú Thọ thành Khu di tích lịch sử Đền Hùng trực thuộc UBND tỉnh.

    Ngày 6 tháng 12 năm 2012, UNESCO công nhận Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại với những yếu tố thuộc đời sống tâm linh của người Việt Nam đã tồn tại từ hàng nghìn năm nay, thể hiện nền tảng tinh thần đại đoàn kết dân tộc và gắn kết cộng đồng. Tính độc đáo của tín ngưỡng này thể hiện rất rõ ở yếu tố thờ Hùng Vương chính là thờ Quốc tổ. Đây là hiện tượng văn hóa không phải dân tộc nào cũng có.

    Các di tích trong quần thể di tích Đền Hùng

    Đền Hạ: Tương truyền là nơi Âu Cơ… sinh hạ bọc trăm trứng, sau nở thành 100 người con.

    Nhà bia: Nhà bia nằm ngay cạnh đền Hạ có kiến trúc hình lục giác với 6 mái. Trong nay đặt tấm bia đá khắc dòng chữ quốc ngữ: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Đây là câu nói nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến thăm Đền Hùng ngày 19 tháng 9 năm 1954.

    Đền Trung: Tương truyền là nơi các Vua Hùng cùng các Lạc hầu, Lạc tướng du ngoạn Nghĩa Lĩnh ngắm cảnh và họp bàn việc nước.

    Đền Thượng: Đền được đặt trên đỉnh núi, nơi ngày xưa theo truyền thuyết các Vua Hùng thường lên tiến hành các nghi lễ, tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp thờ trời đất, thờ thần lúa, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, nhân khang vật thịnh. Ngoài cổng đền có dòng đại tự: “Nam Việt triệu tổ” (tổ tiên của Việt Nam).

    Cột đá thề: Bên phía tay trái đền Thượng có một cột đá gọi là cột đá thề, tương truyền do Thục Phán dựng lên khi được Vua Hùng thứ 18 truyền ngôi để thề nguyện bảo vệ non sông đất nước mà Hùng Vương trao lại và đời đời hương khói trông nom miếu vũ họ Vương.

    Lăng Hùng Vương (Hùng Vương lăng) tương truyền là mộ của Vua Hùng thứ 6. Lăng mộ nằm ở phía đông đền Thượng, mặt quay theo hướng Đông Nam. Xưa đây là một mộ đất, thời Tự Đức năm thứ 27 (năm 1870) đã cho xây mộ dựng lăng. Thời Khải Định tháng 7 (năm 1922) trùng tu lại.

    Đền Giếng: Tương truyền là nơi công chúa Tiên Dung và công chúa Ngọc Hoa (con gái của Vua Hùng thứ 18) thường soi gương, vấn tóc khi theo cha đi kinh lý qua vùng này. Đền được xây dựng vào thế kỷ thứ 18.

    Đền Mẫu Âu Cơ: Là một ngôi đền mới, được bắt đầu xây dựng vào năm 2001 và khánh thành tháng 12 năm 2004. Đền được xây dựng trên núi Ốc Sơn (núi Vặn)

    Đền thờ Lạc Long Quân: Theo truyền thuyết, Lạc Long Quân là con của Kinh Dương Vương Lộc Tục và con gái Động Đình Quân tên là Thần Long. Lạc Long Quân được xem là vị vua nước Xích Quỷ, trước nhà nước Âu Lạc. Lạc Long Quân và Âu Cơ được xem như là thủy tổ của dân tộc Việt Nam, gắn liền với truyền thuyết “bọc trăm trứng”. Con trai cả của ông là người đã lập ra nước Văn Lang, thống nhất 15 bộ lạc, lấy hiệu là Hùng vương đời thứ nhất. Hiện nay đền thờ Lạc Long Quân nằm tại núi Sim của khu di tích lịch sử Đền Hùng, cách núi Nghĩa Lĩnh (hay còn gọi là núi Hùng) khoảng 1km về phía Đông Nam.

    Khu di tích lịch sử đền Hùng bao gồm bốn đền chính là đền Hạ, đền Trung, đền Thượng và đền Giếng. Từ những bậc đầu tiên dưới chân núi, du khách sẽ qua cánh cổng, bước nhiều bậc đá lên thắp hương và thăm thú các đền, kết thúc tại đền Thượng trên đỉnh Nghĩa Lĩnh, nơi có lăng mộ vua Hùng thứ 6.

    Lễ hội đền Hùng và những nghi thức

    Lễ hội đền Hùng còn gọi là Giỗ tổ Hùng Vương là một lễ hội lớn mang tầm vóc quốc gia ở Việt Nam, tưởng nhớ và tỏ lòng biết ơn công lao lập nước của các vua Hùng, những vị vua đầu tiên của dân tộc. Lễ hội diễn ra vào ngày 10 tháng 3 âm lịch, tuy nhiên, lễ hội thực chất đã diễn ra từ hàng tuần trước đó với những phong tục như đâm đuống (đánh trống đồng) của dân tộc Mường, hành hương tưởng niệm các vua Hùng và kết thúc vào ngày 10 tháng 3 âm lịch với lễ rước kiệu và dâng hương trên đền Thượng. Lễ hội đền Hùng hiện được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nâng lên thành giỗ quốc Tổ tổ chức lớn vào những năm chẵn.

    Có 2 lễ được cử hành cùng thời điểm ngày chính hội:

    Lễ rước kiệu vua: Đám rước kiệu với màu sắc sặc sỡ của bạt ngàn cờ, hoa, lọng, kiệu, trang phục truyền thống xuất phát từ dưới chân núi rồi lần lượt qua các đền để tới đền Thượng, nơi làm lễ dâng hương. Đám rước như một con rồng uốn lượn trên những bậc đá dưới những tán lá cây để tới đỉnh núi Thiêng.

    Lễ dâng hương: Người hành hương tới đền Hùng chủ yếu vì nhu cầu của đời sống tâm linh. Mỗi người đều thắp lên vài nén hương khi tới đất Tổ để nhờ làn khói thơm nói hộ những điều tâm niệm của mình với tổ tiên. Trong tâm hồn người Việt thì mỗi nắm đất, gốc cây nơi đây đều linh thiêng và chẳng có gì khó hiểu khi nhìn thấy những gốc cây, hốc đá cắm đỏ những chân hương.

    Phần hội có nhiều trò chơi dân gian đặc sắc. Đó là những cuộc thi hát xoan (tức hát ghẹo), một hình thức dân ca đặc biệt của Phú Thọ, những cuộc thi vật, thi kéo co, hay thi bơi trải ở ngã ba sông Bạch Hạc, nơi các vua Hùng luyện tập các đoàn thủy binh luyện chiến.

    Từ năm 2001, giỗ tổ Hùng Vương trở thành quốc lễ. Từ ngày 10/3/ 2007 âm lịch hàng năm là ngày nghỉ lễ. Lê hội đền Hùng những năm lẻ sẽ do tỉnh Phú Thọ đứng ra tổ chức. Các năm chẵn sẽ có quy mô ở các cấp trung ương. Lễ hội đền Hùng không chỉ diễn ra ở khu di tích lịch sử đền Hùng Phú Thọ mà sẽ diễn ra ở nhiều địa phương trong cả nước như thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Đà Nẵng.v.v.

    Theo nghị định 82/2001/NĐ-CP về việc quy ước lễ hội đền Hùng thì:

    “Năm chẵn” là số năm kỷ niệm có chữ số cuối cùng là “0”,Năm tròn” là số năm kỷ niệm có chữ số cuối cùng là “5 “; Trung ương, Bộ Văn hoá – thể thao và du lịch cùng Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ tổ chức Lễ hội; mời đại diện lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể dự lễ dâng hương.

    “Năm lẻ” là số năm kỷ niệm có các chữ số cuối cùng còn lại. Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ tổ chức lễ hội; mời lãnh đạo Bộ Văn hoá – Thông tin dự lễ dâng hương và tổ chức các hoạt động trong lễ hội.

    Những nghi lễ tại lễ hội Đền Hùng được tổ chức rất trang nghiêm và có hệ thống chính vì vậy cứ mỗi dịp này người người nhà nhà lại nô nức về nơi đây để vãn cảnh, tham gia ngày giỗ lớn nhất trong năm.

    Coi như một ngày giỗ ông bà cha mẹ đẻ, giỗ Tổ Hùng vương được các gia đình đặc biệt chú ý tới và tổ chức một ngày rất trang trọng. Đây là một nghi lễ không thể thiếu của người dân Việt Nam, đặc biệt là người Kinh.

    Vào ngày này, mỗi gia đình cũng sẽ làm những mâm cơm nho nhỏ để dâng lên, về ghi thức ngày này được tổ chức không khác những ngày giỗ bình thường khác trong gia đình. Tuy nhiên văn khấn sẽ có sự khác biệt so với những ngày giỗ khác:

    Nam mô a di đà Phật! ( 3 lần ) Kính lạy chín phương trời đất, Mười phương chư Phật, Thánh hiền. Lạy các Vua Hùng linh thiêng, Gây dựng đất này Tiên tổ. Con tên là…… địa chỉ…………… Nhân ngày Giỗ tổ con xin gởi đến đấng bề trên chút hương hoa lễ phẩm thể hiện lòng thành của gia đình con đến các Vua Hùng và các bậc tổ tiên. Kính xin độ trì phù hộ, Mọi chuyện tốt lành bình an. Bách bệnh giảm trừ tiêu tan, Điều lành mang đến vẹn toàn. Điều dữ mang đi, yên ổn. Đi đến nơi, về đến chốn, Tai qua nạn khỏi tháng ngày. Cầu được ước thấy, gặp may, Mọi điều hanh thông, thuận lợi. Con cái học hành tấn tới, Ngoan ngoãn nghe lời mẹ cha. Thi đỗ lớp gần, trường xa, Mát mặt gia đình làng nước. Tình duyên gặp người kiếp trước, Ý trung nhân… xứng muôn phần. Tình xa duyên thắm như gần, Suốt đời yêu thương nhất mực. Đi làm… thăng quan tiến chức, Buôn bán một vốn bốn lời. Hạnh phúc thanh thản một đời, Nam mô a di đà Phật! Kính lạy cao xanh Trời đất, Lạy các Vua Hùng linh thiêng. Đức Thánh Trần cõi người hiền, Muôn đời độ trì phù hộ! Nam mô a di đà Phật! ( cúi lạy 3 cái )

    Để nhớ về cội nguồn và cũng là ngày giỗ Tổ của dân tộc, chính vì vậy mọi công tác chuẩn bị đều được các cấp lãnh đạo chuẩn bị chu đáo. Vào ngày này hàng năm đều tổ chức những buổi bắn pháo hoa để ghi nhớ công ơn các vị vua của dân tộc.

    Năm nay Lễ hội Đền Hùng năm 2022 có nhiều hoạt động mới

    So với mọi năm. Lễ hội Đền Hùng sẽ có một số hoạt động mới như Triển lãm tư liệu, ảnh, về Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương; lễ hội dân gian đường phố; bắn pháo hoa. Sáng 30/3, tại Hà Nội UBND tỉnh Phú Thọ phối hợp với Bộ Thông tin Truyền thông tổ chức họp báo, thông báo kế hoạch Giỗ Tổ Hùng Vương-Lễ hội Đền Hùng năm 2022. Theo kế hoạch, Giỗ Tổ Hùng Vương-Lễ hội Đền Hùng năm Bính Thân 2022 sẽ diễn ra trong 5 ngày từ 12-16/4/2016 (tức từ ngày 6-10/3 âm lịch) tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng và các xã, phường vùng ven Đền Hùng. Lễ hội do tỉnh Phú Thọ chủ trì, có sự tham gia của tỉnh Hưng Yên, Bình Thuận và Cà Mau. Họp báo, thông báo kế hoạch Giỗ Tổ Hùng Vương-Lễ hội Đền Hùng năm 2022.

    Giỗ Tổ Hùng Vương-Lễ hội Đền Hùng năm 2022, nhằm tôn vinh các giá trị văn hóa thời đại Hùng Vương; tiếp tục tuyên truyền, quảng bá rộng rãi về di sản Hát Xoan và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương; xây dựng Khu di tích lịch sử Đền Hùng xứng tầm là di tích đặc biệt cấp quốc gia; xây dựng Việt Trì trở thành thành phố lễ hội về với cội nguồn dân tộc; đồng thời thúc đẩy phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ…

    Năm nay, thời gian địa điểm bắn pháo hoa lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương 2022 vẫn diễn ra như mọi năm. Theo đó lịch bắn pháo hoa Giỗ Tổ Hùng Vương tầm cao diễn ra vào hồi 21h30 ngày 12/4 (tức mùng 6/3 năm bính thân) tại Hồ Công viên Văn Lang, thành phố Việt Trì (Phú Thọ).

    Ban Quản lý di tích cũng đã công bố 2 số điện thoại đường dây nóng được dán kèm thông báo công khai tại các bãi giữ xe và nhiều địa điểm xung quanh khu vực Đền Hùng để tiếp nhận thông tin các trường hợp bị trộm cắp, chặt chém giá cả. Số điện thoại đường dây nóng: 0210.3860026 hoặc 0210.6551666. Trước đó, trao đổi trên báo chí, ông Huy đã khẳng định, năm nay, Ban Quản lý di tích Đền Hùng đã lên kế hoạch chặt chẽ và nhất quyết không để xảy ra những chương trình văn nghệ, ca nhạc gây phản cảm như một số lần trước đây.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 93. Lễ Cúng Giỗ Vào Ngày Nào?
  • Bài Văn Cúng Giỗ Tổ Tiên Vào Ngày Mồng 1 Và Ngày Rằm
  • Tổng Hợp Các Bài Cúng Thần Tài Đầy Đủ Nhất
  • Giỗ Tổ Ngành Mộc Ngày Nào Là Chính Xác Nhất?
  • Giỗ Tổ Ngành Mộc Ngày Nào? Đọc Ngay Để Để Vận May Về Tới Tấp!
  • Thờ Phật, Lạy Phật, Cúng Phật

    --- Bài mới hơn ---

  • Bước Đầu Học Đạo (Dành Cho Tân Tín Đồ Cao Đài)
  • Đi Đám Ma Lạy Mấy Lạy Là Đúng Phong Tục Của Người Việt Nam.
  • Sự Cúng Lạy Của Người Cư
  • Lá Phép Vải Mẹ Ngoắc Nangkwak
  • Đừng Mê Muội Tin Bùa Ngải
  • A. MỞ ÐỀ

    Xưa nay, những bậc có công ơn lớn đối với quốc gia, xã hội đều được tôn sùng, ngưỡng mộ. Sự tôn sùng ngưỡng mộ này do nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính là lòng tri ân và sự mong muốn được noi theo gương sáng. Tục ngữ có câu: “Ăn trái phải nhớ kẻ trồng cây, Uống nước phải nhớ người đào giếng”. Lòng tri ân là một đức tính quí báu, mà những người có chút công bằng không thể thiếu được. Một xã hội gồm những phần tử phi ân bội nghĩa, ăn cháo đá bát, không có thể tồn tại được lâu dài, vì nó làm chán nản những kẻ có lòng, và làm khô cạn nguồn hy sinh. Vả lại, nếu con người thấy điều tốt, người hiền mà chẳng hâm mộ, thấy điều xấu, người ác mà không tránh xa, thì con người ấy là người thiếu căn bản đạo đức, thiếu mầm thiện, khó có thể tiến bộ.

    Vì những lý do trên, ta thấy trên thế giới, bất luận ở phương trời nào, dân tộc nào, thời đại nào, hễ kẻ có công với làng xóm, thì được làng xóm tôn thờ, kẻ có công với quốc gia, dân tộc, thì được quốc gia, dân tộc tôn thờ, kẻ có công đức với nhân loại, thì được nhân loại sùng thượng.

    Sự thờ cúng trong các tôn giáo cũng không ra ngoài những lý do đã kể trên. Nhưng ở các tôn giáo, sự thờ cúng có tính cách thường trực và thiết tha hơn, vì các vị giáo chủ là những bậc có công ơn lớn đối với nhân loại và là những gương sáng mà tín đồ cần đặt luôn luôn ở trước mắt để soi sáng đời mình. Trong các vị giáo chủ, thì đức Phật là vị được nhiều tín đồ sùng mộ nhất. Sự sùng mộ ở đây biểu hiện trong sự thờ, lạy và cúng Phật.

    B. CHÁNH ÐỀ

    I. THỜ PHẬT

    1) Phật là bậc đáng tôn thờ.

    Phật là những bậc đã dày công tu luyện phước đức và trí tuệ, cho nên đã được hoàn toàn sáng suốt và có đầy đủ đức hạnh cao quý. Các Ngài đã dùng đức và trí ấy để dẫn dắt chúng sinh ra ngoài biển khổ sinh tử luân hồi, và đưa đến địa vị sáng suốt an vui. Trong công việc độ sinh ấy, các Ngài lại không bao giờ thối chuyển ngã lòng mặc dù gặp trở lực khó khăn. Các Ngài đã nguyện độ cho toàn thể chúng sinh, cho đến khi nào không còn một chúng sinh nào để độ nữa mới thôi. Thật là đúng với câu: “Tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn”.

    Một bậc có đủ ba đức tính quý báu là Bi, Trí, Dũng, ba đức tính căn bản mà một con người muốn được toàn thiện, toàn mỹ, toàn chân, không thể thiếu được. Một bậc siêu phàm xuất chúng, có những lời dạy quý báu, những cử chỉ cao thượng, những hành động sáng suốt, một đời sống gương mẫu như Phật, mà chúng ta không tôn thờ, thì còn tôn thờ ai nữa?

    2) Nhưng chúng ta phải thờ Phật như thế nào mới đúng ý nghĩa?

    Như trên đã nói, chúng ta thờ Phật là để tỏ lòng tri ân của chúng ta đối với một vị đã có ân đức lớn với nhân loại. Chúng ta thờ Phật là để có luôn luôn ở trước mặt một gương mẫu sáng suốt trọn lành để khuôn rập tư tưởng, lời nói và hành động của chúng ta được chân, thiện, mỹ như Phật vậy. Người ta thường nói: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”. Chúng ta thờ Phật là muốn luôn luôn được có bên mình ngọn đèn trí tuệ của Ngài, cái hương từ bi của Ngài để được sáng lây, thơm lây, chứ không phải chúng ta có mục đích cầu cạnh Ngài để Ngài ban phước, trừ họa, để Ngài che chở cho chúng ta mua may bán đắt một cách bất lương, hay để chúng ta dựa vào thế lực của Ngài, tha hồ làm những điều bất chính. Nếu chúng ta thờ Ngài với mục đích sai lạc như vừa nói ở trên, thì không những chúng ta đã phỉ báng đức Phật, mà chúng ta còn tự tạo tư tưởng không tốt cho chúng ta nữa.

    3) Phải thờ đức Phật nào?

    Ðức Phật nào cũng có nghĩa vô lượng quang, vô lượng thọ bao la cùng khắp và công đức tu hành phước trí vô lượng vô biên cả; nên hễ thờ một đức Phật là thờ tất cả các đức Phật.

    Nhưng chúng ta cũng nên tuỳ theo thời kỳ giáo hóa của mỗi đức Phật và pháp môn tu hành mà thờ cho xứng lý, hợp cơ. Thí dụ như hiện nay, chúng ta ở vào thời kỳ giáo hóa của đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni, thì lẽ cố nhiên, chúng ta phải thờ Ngài trước hết.

    Nếu tín đồ nào tu về “Tịnh độ tông”, chuyên về pháp môn “trì danh niệm Phật” để cầu vãng sinh, thì tín đồ ấy phải thờ đức Phật A Di Ðà. Hoặc giả, nếu Phật tử muốn thờ tất cả Phật trong ba đời, thì nên thờ đức Phật Thích-Ca, đức A Di Ðà, và Ðức Di Lặc, gọi là thờ “Tam thế Phật”.

    4) Cách thức thờ Phật.

    Như vậy trong nhà tín đồ, nếu muốn thờ tượng Phật, thì nhiều nhất là ba vị. Và nên nhớ rằng, trong khi thờ Tam thế Phật, phải sắp đặt chung một bàn. Nếu tượng lồng kiếng thì nên treo ngay thẳng, không được cái cao, cái thấp, cũng không được cái to, cái bé; còn như tượng gỗ, tượng đồng tượng sành, thì để ngang hàng đồng bực, không nên để từng trên, cấp dưới. Bàn thờ Phật phải đặt chính giữa nhà, bàn thờ ông bà ở phía dưới hoặc sau đúng câu: “Tiền Phật hậu Linh, hay Thượng Phật hạ Linh”. Nếu nhà lầu thì thờ Phật ở tầng trên. Tại bàn thờ Phật không nên để tạp vật nào khác, ngoài bình bông, lư hương,, chân đèn và dĩa quả. Những vật này mỗi ngày đều chăm sóc lau quét sạch sẽ luôn.

    Lần đầu tiên thỉnh tượng Phật, tín đồ phải làm lễ thượng tượng, cũng gọi là lễ an vị Phật. Lễ này không bắt buộc phải tổ chức linh đình, chỉ nên làm một cách đơn giản, nhưng không kém vẻ trang nghiêm và tinh khiết. Muốn được hai đặc điểm ấy, chủ nhà phải dọn mình sạch sẽ: ăn chay, giữ giới và mời thêm thiện hữu tri thức đến hộ niệm một thời kinh.

    Và bắt đầu từ ngày làm lễ an vị Phật trở đi, tất cả mọi người trong nhà, mỗi ngày ra vô trông thấy tượng Phật, nên nghĩ nhớ đến đức hạnh cao cả của Ngài mà chỉnh đốn lại thân tâm mình. Mỗi ngày đều lo cải thiện lại sự cư xử với nhau, đối nội cũng như đối ngoại, phải luôn luôn thấm nhuần tinh thần từ bi, bác ái và bình đẳng. Như thế mới xứng đánh với danh nghĩa của một gia đình có thờ Phật. Thờ phụng lâu năm, tượng Phật bị hư rách, không thể sơn phết hay sửa chữa lại được, thì nên thay đổi tượng mới. Khi có tượng mới rồi thì tượng cũ phải dâng vào chùa chờ dịp nhập tháp, chớ không nên bạ đâu bỏ đó mà mang tội.

    II. LẠY PHẬT 

    1) Ý nghĩa lạy Phật.

    Ngày xưa, khi đức Phật còn tại thế, các đệ tử từ vua quan, đến dân chúng, mỗi lần được may mắn gặp đức Phật Thích-Ca, đều cúi xuống ôm chân Phật và đặt trán mình lên chân Ngài để tỏ lòng ngưỡng mộ, tôn thờ một bậc tối thượng: Bi, Trí siêu phàm. Cử chỉ ấy là một cử chỉ vô cùng khiêm tốn, nhu thuận và hoàn toàn tin cậy đối với đức Phật.

    Sau khi Phật nhập diệt, toàn thể tín đồ vẫn xem Ngài như còn tại thế, và cái cử chỉ cúi xuống ôm chân Phật vẫn còn tiếp nối tồn tại cho đến ngày nay và muôn ngàn năm sau. Cái cử chỉ ấy chỉ có cái công dụng làm cho tín đồ bao giờ cũng hình dung như Ðức Phật còn ngồi trước mặt mình để chứng giám cho tấm lòng thành kính thiết tha của mình.

    2) Phải lạy Phật như thế nào mới đúng ý nghĩa.

    Ðể cho đúng với ý nghĩa trên, khi lạy Phật phải quỳ xuống, ngửa hai bàn tay ra như đang nâng hai chân Phật và cúi lưng xuống đặt trán mình trên hai lòng bàn tay.

    Trước khi lạy Phật, phải dọn mình cho sạch sẽ: rửa mặt, súc miệng, lau tay chân, thay y phục và mặc áo tràng. Xong xuôi, mới đốt hương ra trước bàn Phật, đứng ngay thẳng, tay chắp để trước ngực, mắt nhìn tượng Phật, tâm tưởng đến các tướng tốt và những đức hạnh cao cả của Ngài, và tỏ bày nguyện vọng chân chánh của mình, xá rồi cắm hương vào lư, đánh tiếng chuông và lạy Phật ba lạy.

    Lễ Phật như thế mới đúng pháp; trong kinh gọi là “thân tâm cung kính lễ”, nghĩa là thân thì hăng hái tề chỉnh, nghiêm trang, tâm thì hớn hở vui mừng và hết lòng thành kính như gặp được Phật còn tại thế. Trái lại, chúng ta lễ Phật với lòng ngã mạn (trong kinh gọi là ngã mạn lễ), hay với tâm cầu danh (trong kinh gọi là cầu danh lễ), thì đã không có kết quả gì, mà còn mang thêm tội.

    Ngã mạn lễ, là khi lạy Phật mà trong tâm còn ngạo nghễ, kiêu căng, năm vóc (đầu, hai tay, hai chân) không sát đất, đứng lên cúi xuống một cách cẩu thả, qua loa cho có chuyện.

    Cầu danh lễ, là khi thấy có đông người thì miệng liền to tiếng dài hơi xưng danh hiệu Phật, thân lại siêng năng lạy không ngừng nghỉ, có ý để được mọi người khen ngợi. Trái lại khi không có người thì thân lại biếng nhác, tâm lại giải đãi, không muốn lễ bái gì cả.

    3) Bốn phép lạy (thuộc về lý).

    Về phương diện lý thì có bốn phép lễ.

    a) Phát trí thanh tịnh lễ: Trong phép này, người hành lễ phải thấu suốt rằng cảnh giới của chư Phật đều tùy tâm hiện bày, nên lạy một đức Phật, tức là lạy tất cả chư Phật, lạy một lạy, tức là lạy tất cả Pháp giới, vì Pháp thân của Phật dung thông.

    b) Biến nhập pháp giới lễ: Trong pháp này, người hành lễ phải tự quán thân, tâm cùng tất cả các pháp, từ hồi nào đến giờ đều không rời pháp giới.

    c) Chánh quán lễ: Trong pháp này, người hành lễ lạy đức Phật ngay nơi tự tâm của mình, chứ không duyên với đức Phật nào khác, vì tất cả chúng sinh từ xưa đến nay, đều sẵn có Phật tánh viên mãn, bình đẳng và chân giác.

    d) Thật tướng bình đẳng lễ: Trong pháp lễ này, người hành lễ không thấy có tự, có tha; người và mình là một, phàm và thánh nhứt như, thế và dụng không hai. Do đó, Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ tát có nói: “Năng lễ, sở lễ tánh không tịch”, nghĩa là người lạy, và đấng mình lạy, thể tánh đều vẳng lặng. Như thế mới thấu đáo và hợp lý Bát Nhã.

    Bốn cách lễ này, lý cao khó nghĩ bàn, nếu chẳng phải là bực thượng căn thượng trí, thì không thấu nổi và khó làm theo được.

    III. CÚNG PHẬT

    Cúng Phật là nói tắt, nói cho đủ là cúng dường Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng. Cúng dường có nghĩa là cung cấp và nuôi dưỡng.

    1. Ý nghĩa về cúng Phật

    Có người sẽ hỏi: Tại sao đức Phật đã là bất sinh, bất diệt mà lại còn phải cúng dường? Thật ra, đức Phật đã thoát ra ngoài vòng sinh tử, thì đâu còn hạn cuộc trong sự ăn uống. Nhưng đây chỉ là một hình thức để ngụ ý rằng, mặc dầu Phật đã nhập diệt lâu rồi, nhưng đối với chúng ta, bao giờ cũng xem như Ngài còn tại thế. Xưa, các đệ tử, các đàn-na thí chủ đã cúng dường Ngài như thế nào, nay chúng ta vẫn tiếp tục cái cử chỉ ấy. Sự cúng dường này làm cho chúng ta gần với Phật, có cảm tưởng như bao giờ cũng ở bên cạnh Phật. Cũng nhơn sự thờ phụng, lễ bái cúng dường này mà chúng ta được kết duyên lành với Phật, hình dung rõ rệt cuộc đời của Ngài để quyết noi theo bước chân của Ngài.

    2. Phải cúng Phật với những gì? (Về sự).

    Vẫn biết rằng chúng ta nên cúng dường Phật để hình dung như Ngài còn tại thế, nhưng nếu chúng ta, mỗi khi cúng Phật, lại bày biện đủ thức ăn uống, nào yến tiệc cỗ bàn linh đình thì thật là phí của, phí công mà lại còn làm sai lạc ý nghĩa sâu xa của sự cúng Phật.

    Vậy muốn cúng Phật đúng ý nghĩa thì chỉ nên dùng hương thơm, đèn sáng, hoa tươi, trái tốt, nước trong và đôi khi thêm cơm trắng là đủ.

    3. Năm món diệu hương để cúng Phật.

    Ðoạn trên là nói về Sự, về hình tướng bên ngoài để cúng Phật. Còn về phương diện Lý, thì phải dùng năm món diệu hương để cúng Phật như sau:

    a) Giới hương: Pháp thân của Phật rất thanh tịnh, nếu về mặt Sự, chúng ta đã dùng hương trầm đốt cúng, thì về mặt Lý, chúng ta cũng phải trì giới cho trang nghiêm thanh tịnh, để cúng dường được đủ cả về Sự và Lý.

    b) Ðịnh hương: Thân tâm chúng ta bị mê nhiễm và thường loạn động trong mọi hoàn cảnh. Nếu để buông trôi mãi trong tình trạng ấy, thì chúng ta chẳng tu hành gì được. Vậy hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, hằng giây, hằng sát-na chúng ta phải cố gắng tập định tĩnh tâm hồn, đừng để cho những ý nghĩ, hành động xấu xa xâm chiếm tâm hồn và làm cho chúng ta phải loạn động. Làm cho tâm tư lắng xuống, như thế là dùng Ðịnh hương cúng Phật.

    c) Huệ hương: Huệ hương cúng Phật là lúc nào cũng phải lưu tâm vào ba món sáng tỏ: Văn huệ, Tư huệ, và Tu huệ. Văn huệ là lắng nghe lời giáo hóa quý báu của chư Phật và thánh hiền Tăng; Tư huệ là đem những lời quý báu nói trên ra suy xét, nghiền ngẫm, biết thế nào là phải, thế nào là quấy, cái nào là chân thật, cái nào là luống dối để khỏi lầm lạc vào đường tà; Tu huệ là quyết tâm thực hành những điều mình cho là phải, trừ bỏ những điều mình cho là trái, thực hiên đúng đắn giáo lý sáng suốt của Ðức Phật.

    d) Giải thoát hương: Giải thoát hương cúng Phật là quyết tâm phá trừ ngã chấp, nguồn gốc của bao sự đau khổ luân hồi. Chúng ta phải luôn luôn quán vô ngã, không nhận chiếc thân tứ đại này là mình, cũng không nhìn cái nghiệp thức phân biệt là mình, để được thoát ly ra ngoài vòng sinh tử luân hồi.

    đ) Giải thoát tri kiến hương: Chúng ta đã biết quán vô ngã, để phá trừ ngã chấp thì được giải thoát, song vẫn còn “Pháp chấp” ràng buộc, nên chưa đến được cảnh giới tự tại, vô ngại như Phật. Còn Pháp chấp nghĩa là còn thấy các pháp như: đất, nước, gió, lửa là có thật; còn thấy vui buồn sướng khổ là có thật. Khi nào chúng ta thể nhận được rằng tứ đại sở dĩ in tuồng có thật là vì chúng ta còn ở trong nghiệp người, chớ đối với các loài khác, như cá chẳng hạn, thì nước đâu phải là nước như chúng ta quan niệm, mà chính là lâu đài, nhà cửa; đối với loài mọt, thì gỗ đâu phải như chúng ta quan niệm, mà là những thức ăn và nhà ở; cho đến vui, buồn, sướng, khổ đều là đối đãi với nhau mà sinh ra. Vậy thì Pháp cũng như Ngã, đều là giả dối, không có thật, mà chỉ là những danh từ suông mà thôi. Luôn luôn, quán như thế, để được giải thoát ra khỏi sự chấp Pháp, như thế gọi là “Giải thoát tri kiến hương” cúng Phật.

    4. Cúng dường Pháp bảo.

    5. Cúng dường Tăng bảo.

    Nếu chúng ta đã thành tâm thờ cúng Phật, thì tất nhiên chúng ta phải kính trọng Tăng. Chư Tăng đã thay Phật mà truyền giáo lý của Ngài lại cho chúng ta, lẽ nào chúng ta lại làm ngơ không biết đến? Chúng ta không nên phân biệt Tăng ở xứ nào, chùa nào hay phái nào. Vị Tăng nào có đủ giới đức chúng ta cũng sẵn sàng cung phụng cả, như thế gọi là cúng dường Tăng bảo.

    C. KẾT LUẬN

    1. Lợi ích của sự thờ lạy và cúng Phật

    Như các đoạn trên đã nói, chúng ta thờ lạy và cúng Phật là do lòng tri ân sâu xa của chúng ta đối với bậc đã hy sinh tất cả hạnh phúc vĩnh cửu cho chúng sinh. Lý do thứ hai của sự thờ lạy và cúng, ấy là để cho chúng ta luôn luôn có trước mắt, trên đầu chúng ta, một cái gương mẫu hoàn toàn chân, thiện, mỹ để noi theo. Sự thờ lạy và cúng Phật, nếu thực hành một cách thành tâm, thiện chí và đúng ý nghĩa, thì sẽ đem lại cho người rất nhiều lợi ích trong hiện tại và vị lai:

    a) Trong hiện tại: Mỗi chúng ta và gia đình chúng ta, bao giờ cũng như sống trong bầu không khí xán lạn, trong ảnh hưởng tốt lành, đạo vị của chư Phật. Chúng ta luôn luôn sống trong nghiêm chỉnh, trong lễ nghi, trên thuận dưới hòa, vì mỗi ý nghĩ, mỗi cử chỉ, mỗi lời nói của chúng ta đều được đôi mắt sáng suốt của đức Phật soi xuống. Chúng ta không dám sống bừa bãi, làm xằng, nghĩ quấy khi đức Phật đang ngự trị trong gia đình và trong lòng mỗi chúng ta. Chỉ những tâm hồn trống rỗng, không tin tưởng, không tôn thờ một vị thiêng liêng cao cả nào, mới dễ sa ngã, trụy lạc.

    Cho nên trong gia đình, nếu muốn có hạnh phúc trong hiện tại, muốn sống một đời sống có ý nghĩa, muốn con em đừng bê tha, trụy lạc, thì người gia chủ nên thiết bàn Phật, để ngày ngày lễ bái và cúng dường Ngài và tập cho con em sống một đời sống hiền lương và có đạo vị.

    b) Khi lâm chung: Nghiệp lành mà chúng ta đã huân tập trong hằng ngày sẽ cảm ứng đến lòng từ bi vô hạn của chư Phật và Bồ tát. Do “Luật đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, chư Phật và Bồ tát sẽ phóng quang đến tiếp dẫn giác linh chúng ta về cõi Tịnh độ an vui, tự tại.

    2. Khuyên phát tâm chánh tín trong sự thờ, lạy và cúng Phật, Pháp, Tăng.

    Muốn có được kết quả tốt đẹp như trên, chúng ta phải phát tâm chánh tín. Nếu thờ, lạy và cúng dường Tam bảo một cách sai lạc thì không những không ích lợi gì cho ta mà lại còn mang thêm tội, và trôi lăn mãi trong cảnh sinh tử luân hồi. Chúng ta phải tin tưởng một cách mạnh mẽ rằng:

    a) Ðức Phật là bực hoàn toàn giác ngộ, siêu sinh, thoát tử, có năng lực độ thoát chúng sinh khỏi nẻo luân hồi, và xứng đáng làm thầy chúng sinh trong ba cõi. Vì thế nên chúng ta thờ Ngài.

    b) Phật pháp là phương thuốc thần diệu, trừ được tất cả nguyên nhân đau khổ của chúng sinh, vì thế cho nên chúng ta thờ Phật pháp.

    c) Chư Tăng, nếu có đủ giới hạnh thanh tịnh, là những thầy sáng, bạn lành của chúng ta. Vì thế, chúng ta kính thờ, thân cận các Ngài để học hỏi đường lối tu hành.

    d) Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh sáng suốt, nếu chí tâm tu tập theo Phật pháp, thì chắc chắn sẽ thành Phật.

    đ) Lý nhân quả không hề sai chạy, nếu tạo nhân lành thì hưởng quả tốt. Trong các nhân lành, không có nhân lành nào thù thắng hơn là nhân “thờ Phật, lạy Phật, và cúng dường Tam Bảo”, đủ cả Sự và Lý. Vẫn biết thờ, lạy và cúng Phật đủ cả hai phương diện Sự và Lý là khó, nhưng chung quanh chúng ta, ở trong thế giới này sẵn có vô lượng vô biên Kim Cang Bồ tát và Hộ Pháp thần vương, đồng phát tâm giúp đỡ, hộ niệm cho tất cả người phát tâm chánh tín thờ cúng Phật, thì lo gì công của chúng ta không tròn, quả của chúng ta không mãn?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đồ Cúng Khai Trương Tiệm Nail Xem Nhiều Nhất,【Xem 23,265】
  • Cách Cúng Khai Trương Quán Nhậu Đúng Chuẩn Mang Lại May Mắn Cho Gia Chủ
  • Tượng Mẹ Hồ Ly 9 Đuôi
  • Nghi Quỹ Cúng Dường Khói Hương Tịnh Hóa Phúc Lạc Cát Tường ( Riwo Sangchod)
  • Heo Quay Có Ý Nghĩa Như Thế Nào Trong Ngày Cúng Thần Tài?
  • Có Nên Thờ Quan Công Chung Với Phật?

    --- Bài mới hơn ---

  • Có Nên Thờ Quan Công Chung Với Phật Không?
  • Có Nên Hay Không Nên Chuyển Đồ Trước Khi Nhập Trạch Là Đúng Hay Sai?
  • Miếu Bà Chúa Xứ “vỡ Trận” Ngày Tết, Ai Cũng Đeo Khẩu Trang Giữa Đại Dịch Corona
  • Cụ Thể Các Bước Chuyển Bàn Thờ Về Nhà Mới Chuẩn Xác
  • Cách Chuyển Bàn Thờ Về Nhà Mới Đúng Cách
  • Ngày nay, mọi người thường thờ cúng Quan Công để được hộ thuẫn về mặt phong thủy, được Ngài che chở, trấn trạch và bảo vệ nhà cửa, đất đai. Với người làm kinh doanh, tượng Quan Công còn có tác dụng phù giúp cho công việc thuận lợi, buôn may bán đắt. Khi tìm hiểu về bức tượng này, nhiều gia chủ đặt ra câu hỏi có nên thờ Quan Công chung với Phật hay không? Đồ Đồng Quang Hà cho rằng đây là một câu hỏi rất hay bởi việc thờ cúng là vô cùng quan trọng, gia chủ nên và cần tìm hiểu kỹ để tránh những sai xót không đáng có xảy ra, dẫn đến những hậu quả khôn lường.

    Ý nghĩa thờ Quan Công theo lịch sử và Phật giáo

    Với hình tượng dữ dằn, mạnh mẽ, cương quyết, tượng Quan Công được xem là thần bảo vệ cho gia đình, gia chủ. Người ta quan niệm Tượng Quan Công có gương mặt càng dữ thì hiệu quả bảo vệ càng mạnh với vũ khí bên mình là cây đại đao và thanh gươm khiến cho quỷ dữ phải khiếp sợ.

    Tượng Quan Công mang đến năng lượng rất mạnh cho mọi người sức sống, vượng khí để làm việc không ốm đau, bệnh tật.

    Ý nghĩa thờ Quan Công còn mang lại sự bình an, hòa khí, sự đoàn kết trong gia đình và thu hút tài lộc cho gia đình. Nhất là các nhà lãnh tụ hay doanh nhân khi đặt tượng Quan Công sau lưng, tại nơi làm việc, họ sẽ nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ.

    Quan Công cũng là một vị anh hùng, tượng trưng cho lẽ phải. Theo Phật giáo, Quan Công, Thổ Địa và Thần Tài chính là những vị hộ pháp, thiện thần, tài thần hỗ trợ cho con người. Việc thờ Quan Công cũng khá phổ biến trong những gia đình hiện nay.

    Tượng Quan Công bằng đồng

    Tượng Quan Vân Trường là vật trang trí phong thủy nên phù hợp với mọi tuổi giáp nhưng người thờ được tượng này phải là nam giới, từ 25 tuổi trở nên vì mang dương khí và trưởng thành, chín chắn trong mọi quyết định thì mới việc thờ Quan Công hiệu nghiệm, linh thiêng.

    Trước khi mang về trưng bày, gia chủ phải phải khai quang điểm nhãn nếu không bức tượng cũng chỉ là một vật trang trí thông thường. Việc này nên chọn ngày giờ đẹp và nhờ thầy phong thủy có kinh nghiệm thực hiện.

    Tượng Quan Công mang ý nghĩa rất lớn, tốt cho gia chủ

    Gia chủ có thể đặt tượng Quan Công bằng đồng trên bàn làm việc hoặc thư phòng để có những kế sách hay, ý chí quyết tâm sắt đá và giúp con cháu sau này học hành giỏi giang văn võ toàn tài. Cần đặt theo hướng nhìn ra cửa chính hoặc ở các vị trí Sát tinh chiếu sẽ giải vận như: hoạ hại, lục sát, ngũ quỷ, tuyệt mệnh… Không nên đặt tượng Quan Công ở những vị trí ẩm thấp, thiếu tôn trọng, sạch sẽ.

    Các ngày tốt để lễ thờ ông Quan Công là: ngày 13/1 – ngày quy y Tam Bảo; ngày 13/5 – ngày cúng chúng sinh; ngày 13/6 – ngày cúng tử; ngày 24/6 – ngày Cúng vía quan công ở Hội An. Trong các ngày thường gia chủ chỉ cần thắp nhang cho Ngài là được. Tuyệt đối không được cúng thịt gà vì gà là ân nhân cứu mạng của ông ngày xưa.

    Thờ Quan Công cũng khá phổ biến trong các gia đình người Việt hiện nay. Có nên thờ Quan Công chung với Phật không cũng có nhiều ý kiến trái chiều khác nhau.

    Tượng Phật Bà Quan Âm

    Có người cho rằng thần linh, thánh phật đều là những bậc thánh nhân phù hộ độ trì cho con người có cuộc sống tốt đẹp, viên mãn, giúp con người thoát khỏi ưu tư muộn phiền. Trong đó, việc thờ Phật tại gia cũng có chư thiên, chư vị hộ pháp và các thiện thần theo hộ trì cho mọi người. Quan Công là vị hộ pháp, thiện thần, tài thần bảo vệ cuộc sống bình an cho con người. Vì vậy, theo tinh thần thờ thần phật chung thì có thể thờ , chung với Quan Công.

    Ngược lại, nhiều người phản đối, bác bỏ ngay suy nghĩ có nên thờ Quan Công chung với Phật bởi họ cho rằng Phật là cao nhất, Quan Công là thần, xét về thứ bậc thì Phật ở bậc trên của Quan Công, nên không thể thờ chung một vị trí hai vị này với nhau được.

    Việc thờ thần linh, thánh phật trong nhà chủ yếu xuất phát từ cái tâm của con người, một lòng hướng thiện, chăm nom phần âm của gia đình, có hiểu với bề trên,…. thì việc thờ cúng, sắp xếp ban thờ sẽ không quá cầu kì, yêu cầu cao ngoài những vật dụng, cần thiết.

    Tượng Quan Công bằng đồng thiết kế tinh xảo, cao cấp tại cơ sở Quang Hà

    Là mẫu tượng thờ, trưng bày nên ai cũng muốn lựa chọn được sản phẩm tượng Quan Công bằng đồng đẹp, chất lượng. Hiểu được nhu cầu và tâm lý của khách hàng, các nghệ nhân của Đúc đồng Quang Hà luôn trau chuốt, tỉ mỉ vào từng chi tiết để tạo nên bức tượng đặc sắc, sống động, có hồn toát lên được sự uy nghi, sức mạnh của vị tướng.

    Đồng có độ bền vĩnh cửu, để lâu ngày cũng không bị oxy hóa, phai màu nên sử dụng trong mục đích thờ cúng, trưng bày là rất hợp lý. Trong tâm linh, kiêng kỵ tối đa việc thay thế, di chuyển, sửa chữa đồ đang thờ cúng nên thờ tượng Quan Công bằng đồng là hợp lý nhất.

    Nếu quý khách có nhu cầu về bất kì mẫu tượng Quan Công hay thắc mắc có nên thờ Quan Công chung với Phật, hãy liên hệ ngay với Đúc đồng Quang Hà để được giải đáp chi tiết nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tín Ngưỡng Thờ Quan Công
  • Những Lưu Ý Khi Thờ Quan Công Không Phải Ai Cũng Biết
  • Cách Đặt Tượng Thờ Quan Công Trong Nhà Và Trên Bàn Làm Việc Chuẩn Nhất
  • Tượng Quan Công Đặt Ở Vị Trí Nào? Cách Thờ Quan Thánh Đế Quân
  • Cách Đặt Bàn Thờ Thần Tài Và Ông Địa Sao Cho Đúng
  • Cách Thờ Cúng Phật Di Lặc Trong Nhà

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Đặt Bàn Thờ Thổ Công, Thổ Địa Thần Tài
  • Hướng Dẫn Cách Lập Bàn Thờ Cửu Huyền Thất Tổ Hợp Phong Thủy Bạn Nên Biết
  • Cách Lập Bàn Thờ Cửu Huyền Thất Tổ
  • Cách Bài Trí, Sắp Xếp Trên Bàn Thờ Gia Tiên
  • 5+ Cách Trưng Bày Bàn Thờ Gia Tiên Đúng Phong Thủy Của Người Việt
  • Tượng Phật Di Lặc bằng gỗ nu nghiến

    Để thờ Phật Di Lặc thì đầu tiên bắt buộc bạn phải có tượng. Tốt nhất bạn nên thỉnh tượng ở chùa về, nếu không có điều bạn có thể mua tượng ở những nơi uy tín rồi gửi ở chùa một thời gian.

    Theo một số nhà sư thì Phật có ở mọi nơi, Phật vì chúng ta mà khai quang nên chỉ cần tâm cùng lòng thành thì việc thờ cúng đã trọn vẹn. Nếu bạn muốn an tâm hơn thì sau khi có tượng bạn có thể làm lễ khai quang bằng cách chọn ngày lành tháng tốt và nhờ các sư thầy để làm lễ, niệm chú cho tượng. Bạn phải chuẩn bị thật kỹ để làm lễ, không được làm qua loa mà phải thật chu đáo.

    Tượng Phật Di Lặc gỗ bách xanh

    Vị trí đặt bàn thờ Phật Di Lặc

    Bàn thờ phải đặt ở những nơi trang nghiêm, trang trọng. Nếu có không gian gia chủ nên đặt bàn thờ tại một gian riêng. Nếu hạn hẹp về diện tích, có thể bàn thờ đặt đối diện với của chính để thu hút tài lộc và cách mặt đất ít nhất 1m.

    Ngoài ra, bạn nên đặt bàn thờ về hướng đông hoặc hướng tây. Hướng đông là hướng Phật quay mặt ra để thiền định, còn hướng tây tượng trưng cho Trời, hướng của tây phương cực lạc.

    Phật là đấng tối cao không thể xem ngang bằng với gia tiên, như vậy là bất kính, gây không tốt đến gia đình. Trường hợp bạn thờ Phật Di Lặc cùng với gia tiên thì không được để tượng thấp hơn hay ngang hàng với bài vị, bát hương của gia tiên, bàn thờ Phật phải cao hơn.

    Lưu ý không được sử dụng đồ gỗ đã qua sử dụng để làm bàn thờ.

    Khi làm lễ cúng Phật Di Lặc phải có một số thứ như sau:

    – Hương: phải thắp số hương lẻ 1, 3, 5, 7, 9 nén

    – Hoa: hoa sử dụng để cúng nên là những loại hoa màu sáng như hoa sen, hoa mẫu đơn, hoa huệ

    – Trà: nước trà phải tươi, luôn giữ trà được nóng ấm.

    – Quả: nên sử dụng các loại quả chín, tránh để hoa quả bị hư hỏng.

    – Thức ăn: phải là các món chay, không nên bày quá nhiều món lên bàn thờ.

    Đặc biệt bạn không được dâng tiền hay vàng lên bàn thờ, không cúng đồ mặn và rượu bia.

    Tượng gỗ Di lặc nu huyết long

    Thay đổi tượng Phật Di Lặc

    Khi thờ Phật Di Lặc cũng như những vị Phật khác, bạn phải lau chùi thường xuyên, tránh để bụi bẩn. Khi vệ sinh tượng bạn nên dùng rượu hay nước ấm, tuyệt đối không đặt tượng dưới đất.

    Mỗi bức tượng thường có tuổi thọ rất cao, tuy nhiên có thể do nhu cầu hoặc do tượng bị hỏng bạn có thể thay một tượng mới. Nếu tượng bị hỏng, bạn nên mời sư thầy về làm lễ rước thả sông mà không được tùy tiện bỏ đi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Chi Tiết Cách Thờ Cúng Phật Bà Quan Âm Tại Nhà
  • Cách Thờ Cúng, Hướng Đặt Bàn Thờ Phật Bà Quan Âm Treo Tường Tại Nhà
  • Bật Mí Cách Thờ Cúng Ông Cóc Đem Lại Tài Lộc Gia Chủ
  • Cách Thờ Cúng Ông Cóc Trên Bàn Thờ Thần Tài Thổ Địa
  • Cách Trang Trí Bàn Thờ Ông Địa Thần Tài “đúng Phong Thủy”
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100