【#1】Nên Làm Gì Với Quần Áo, Vật Dụng Của Người Thân Vừa Qua Đời?

Nói đến chết tức là nói đến sống, có sống có chết có sanh có diệt, có họai diệt rồi tiếp tục tái sanh theo nghiệp thức. Có sanh sôi nẩy nở, giải quyết việc sanh tử của đời người là bàn đến nhân sinh quan, việc lúc nào cũng hiện hữu đồng hành cùng con người.

Việc cúng 49 ngày cho người quá vãng có ý nghĩa gì?

Vấn: Gia đình con vừa có người thân qua đời nên phải lo chuyện cúng tế tang chay rất nhiều phiền não. Quả thật là gia đình nhà con rất khả giả và có điều kiện. Các vật dụng áo quần người vừa mất cũng toàn là hàng hiệu. Mọi người bảo đó là quần áo người mất nên đốt đi. Thay vào đó, cả nhà lại lo đi mua áo quần vàng mã đốt để thay thế vì bảo như vậy người thân không bị đói lạnh, có tất cả những điều họ cần nơi âm giới. Nếu không đốt họ sẽ về đòi. Có gia đình gần đó người thân hiện về bảo rất đói kém, cần phải đốt áo quần vàng mã nên gia đình họ đốt cả nhà lầu, xe hơi, điện thoại iphone, tiền đô la rất nhiều, kể cả người hầu như một vương phủ. Con không hiểu người đã mất rồi đốt vàng mã như vậy là có đúng không và người âm có nhận được hay không? Áo quần của người đã mất có phải đốt đi không? Nếu cho người khác mặc vậy người nhận áo quần ấy có bị làm sao không? Có cần phải cúng tế, trì chú, đọc kinh gì để hóa giải tất cả những điều này không? Con xin cảm ơn Sư.

Đáp: I. Việc sống chết

Bàn đến lễ tang là bàn đến việc chủ chánh của con người là: “Sống chết”. Nói đến chết tức là nói đến sống, có sống có chết có sanh có diệt, có họai diệt rồi tiếp tục tái sanh theo nghiệp thức. Có sanh sôi nẩy nở, giải quyết việc sanh tử của đời người là bàn đến nhân sinh quan, việc lúc nào cũng hiện hữu đồng hành cùng con người. Sống và chết bàn hết cả đời người, từ đời nầy sang đời khác cũng không xong chuyện, sự sống chết là sự chuyền nối nhau như mắc xích, như hạt giống lên mầm sanh ra cây, cây trở lại thành trái và cho ra hạt giống, con người cũng thế cứ chuyền nối nhau sanh sanh hóa hóa không hồi kết thúc (Việc tái sanh – Kinh Na Tiên Tỳ Kheo). Nói về nhân sanh và vũ trụ, Đức Phật hướng dẫn mọi người thật chi tiết về thân ngũ uẩn, nói đến thân ngũ uẩn thì lúc nào cũng đi theo một quy luật hòa hiệp rồi ly tan, nhân sự hiệp tan mà Phật có nhắc đến thân vô thường, khổ, không, vô ngã. Nhờ đó giúp cho mọi người hiểu và thường xuyên quán chiếu để giảm bớt khổ đau, tiến lần đến tâm không còn khổ đau hướng về thánh thiện.

Theo Phật giáo do con người còn mang thân tứ đại. Tứ đại hay lục đại là tấm thân mình hình thành bởi đất (Thịt, gân, xương), nước (Máu mủ và các loại nước trong thân), lửa (Hơi nóng), gió (Hơi thở), thức đại (Sự hiểu biết), không đại (Trí giác), có hình thành có tan rã . Do vô thường nên thấy có sống đó rồi chết đó, do vô ngã nên biết thân là duyên hợp, huyễn hoặc không tồn tại, chết rồi tái sanh không theo ý muốn. Cuộc sống con người chỉ trong một niệm (Sát na vô thường), một hơi thở (Nhất kỳ vô thường), thở ra không hít vào là chết. Thân người luôn nằm trong quy luật sanh, trụ, dị, diệt đó là vô thường có sống ắt có chết, có sanh tất có diệt. Chúng ta không thể có những đòi hỏi nào hơn khi con người được sanh ra thì mang lại niềm vui cho mọi người, khi con người chết thì đem lại sự khổ đau cho mọi người. Con người là trọng tâm của sự sống, có con người có trí giác, có huệ lực có tất cả, con người mà vô tâm dù có sống như xác không hồn. Ví như máy xe có nhiều bộ phận được lắp ráp bởi trí tuệ con người và con người điều khiển khối sắt tổng hợp ấy biết chạy trăm cây số giờ.

Trong 36.000 ngày trên hành tinh này con người là trung tâm của tham luận. Chính sự bàn luận đó cũng có khi đưa con người đến chân thiện mỹ, cũng có khi sự bàn luận đưa đến áp lực, o ép, ức chế, hận thù là chuyện trăm năm không bao giờ chấm dứt. Với con người nếu không có tôn giáo, không có tôn ti trật tự thì không có đạo đức. Con người không có phương hướng chống đỡ những thiên tai địch họa. Tôn giáo là trí tuệ và đạo đức, có trí tuệ con người mới có cơ sở tìm lối thoát, lối thoát cho chính bản thân và con người, lối thoát cho cộng đồng và xã hội. Trí tuệ là nền tảng đưa con người vượt sống chết, giải thoát những khổ đau phiền não trong giây phút hiện tại, có như thế con người mới rảnh tâm rảnh tay mà giải quyết việc cộng đồng.

Cúng cơm cho người đã mất có ăn được không? II. Sự sanh

Trước nhất chúng ta nói một ít về hành trình của con người khi được sanh ra và đến với thế gian. Con người được sanh ra trong cuộc đời, nói về đời sống thì rất đa dạng phong phú. Khi vừa được lọt lòng mẹ, người thân phải lo liệu cầu trời khẩn Phật váy van tứ phương, mẹ sanh mẹ độ cho trẻ lành mạnh, mẹ tròn con vuông, lo cho sự ấm áp của tấm thân Ông bà nội ngọai thì lo bảy lo ba làm sao cho mọi việc tốt lành đến với cháu, lo cho bà mẹ được lành lặn để nuôi con,. Mặc khác lại tìm cách đặt tên cho trẻ làm sao cho không trùng lấp với thân tộc, đến cơ quan hộ tịch lo giấy khai sanh, nhập hộ khẩu cho con mong sao trong tương lai con có vị trí vững vàng với xã hội. Theo tập tục cha me lúc nào cũng chăm hẳm với thời gian, bảo vệ con, tính tháng tính ngày mừng con được đầy tháng, rồi tròn một năm 12 tháng, sắm sanh lễ vật mừng lễ “Thôi nôi”. Nếu là gái, me phải lo cho việc “Xỏ lỗ tai đeo bông liền”, sắm cho con trẻ những vật dụng nhiều màu sắc giúp cho con có tầm nhìn xa, ngắm nghía những cái đẹp, là trai thì được sắm sanh xe cộ cho con tung tăng tập tành cho mau khôn lớn được vẫy vùng trong thiên hạ. Những ca dao nói về tình Cha nghĩa Mẹ như sau:

Đi khắp thế gian không ai sánh bằng mẹ

Gian khổ cuộc đời ai nặng gánh hơn cha.

Nước biển mênh mông không đong đầy tình mẹ

Mây trời lồng lộng không phủ kín công cha.

Tảo tần sớm hôm mẹ nuôi con khôn lớn

Đưa tấm lưng gầy cha che chở đời con

(Diễn đàn Lê Quý Đôn – Chúc Khả)

Trẻ mới sanh là trọng tâm của gia đình, con được sanh ra trong nhà giàu hay nghèo đều được cha mẹ lo cho con ăn học, nghèo giàu có khác nhau, nhưng cái lo liệu cho con thì không khác. Những ước mơ cho tương lai, sự ước mong trên hết là làm sao con có chí khí, có trí thông minh không thua sút mọi người, nên thân nên phận, thành nhân chi mỹ, gánh vác việc đời, việc xã hội, việc nhà.. Việc cuối cùng trông con đến tuổi “Thành nhân” là dựng vợ gã chồng mong sao cho con hạnh phúc an vui. Trai thì nối dòng tông phong vọng tộc, Gái thì làm tỏ rạng gia phong

Dạy cho con biết việc đời

Đi trong nhân thế rạng ngời gia phong

Trai thì nối dõi giống dòng

Gái thì đức hạnh sạch trong vẹn toàn

Nói đến sự chết, trong gia đình gọi là “Hữu sự”. “Hữu sự” tức là nhà có người qua đời (Chết) có lễ tang. Sự mất mát của người thân, một bước ngoặc của đời người, mọi người đau đớn vì từng hòa hiệp rồi nay lại ly tan, một cú xốc lớn trong đời người, nhất là những cái chết bất đắc kỳ tử, hoạch tử, trẻ chết, đẹp chết, ngoan chết, chết do thiên tai. Đối với người trẻ trung hay trẻ thơ, hoặc có những hiện tượng xảy ra như người thân cùng huyết thống dòng họ qua đời liên tục liên táng, gia đình sẽ cảm thấy lo âu, đơn phương đối diện với cuộc sống tẻ nhạt vô cùng. Tâm trí cứ mãi ưu tư sợ rằng gia đình mất đức thiếu phước nên cái chết liên tục đến, là một sư lo lắng có điều gì đó ập đến gia phong.

Sự chết đem lại tiếc nuối với một người đã được đào tạo thành nhân chi mỹ, đang có trách nhiệm phụng sự gia đình xã hội, giờ nầy lại qua đời, chết trong cái không thể chết, chắc chắn phải được người thân dù giàu hay nghèo cũng đều lo liệu tế lễ tang chế đặc biệt. Người Á đông nói chung, người Việt nói riêng lo tang chay cho người đã qua đời dường như là một vinh dự lớn trong đời người làm con cháu, làm người thân trong gia đình. Tại lễ tang mọi người có dịp gặp nhau phân định xưng hô thứ lớp trong gia đình, nhìn bà con, những người lớn chưa được nhiều người biết hôm nay được giới thiệu để mọi người biết. Lúc bấy giờ người chủ tang được coi như người có quyền lực và quan trọng nhất tại cuộc lễ. Người chết rồi thì được trưng bày một bàn thờ thật trang nghiêm, vong vị đường hoàng, mọi người đến viếng cúng đôi liễng, trướn, hoa cườm, hoa tươi treo giáp nhà, phúng điếu tiền để trong phong bì.

Ngày nay theo lễ nghi của miền Bắc, một ít ở miền Trung, Nam việc phúng viếng là quan trọng. Người phúng viếng sau khi dâng hương tường niệm người quá cố, rồi để phong bì tiền trong thùng kiếng. Khi có người xá hay lạy thì con cháu quỳ lạy đáp. Việc cúng cơm cũng không dám đơn sai trễ nải, sợ vong hồn người thân bi đói khát tội nghiệp. Sau lễ tang người có trách nhiệm xây mộ kiến thiết nhà mồ thật trang trọng, lúc nào cũng giữ sạch, dáng vẽ uy nghi tráng lệ nhằm để nói lên phần mộ nầy có con cháu báo hiếu chăm sóc hằng ngày. Cũng có gia đình hoàn cảnh đơn chiếc lắm, đau lòng khi người chết bị phủ phàng, hoặc không ai hương khói cúng quảy

Từ việc tế sống đến việc tế chết, cũng như mừng sinh nhựt (Sống), hay tang chế (Chết) có ảnh hưởng lớn đến đời sống con người. Từ vua chúa cho đến quan lại, từ hàng cửu phẩm đến hàng thứ dân, từ giàu đến nghèo ai ai cũng có bổn phận với trời đất, trời cha đất me, với tổ tiên ông bà cha me tại tiền cũng như khuất núi. Việc thiết lập đàn Nam giao, đàn Xã tắc ở cố đô Huế vào thế kỷ 17 của nhà Nguyễn, việc người dân xây dựng từ đường cũng thế đó, rất có ý nghĩa tôn trọng đạo trời đất, đạo ông bà có ảnh hưởng đến tâm linh rộng lớn, bao la của trời đất. Đó là tôn vinh 8 chữ vàng trung, tín, lễ, nghĩa, hiếu, để, liêm, sĩ.

Người Việt học Phật, có câu “Vạn hạnh Bồ tát hiếu nghĩa vi tiên”. Do quá trình du hóa hội nhập lễ tang theo nghi nhà Phật luôn có pha trộn ảnh hưởng văn hóa đa phương, một phần tư tưởng hình nhi hạ của Khổng tử, dân tình lúc nào trong lòng cũng kính thờ tổ tiên, những người đã khuất bóng. Trong sách Trung Dung của Tử Tư thường dạy: Kính trọng người chết cũng như người còn sống, trọng người đã mất như người còn sống, có câu:

“Sự tử như sự sanh,

Sự vong như sự tồn”,

Nghĩa là sự chết như sự sống, sự mất mát cũng như tồn tại, chết cũng không khác sống, những việc đã mất cũng không khác mấy như viện hiện hữu. Trong chốn thiền môn quý Sư Thầy thường giảng câu: “Dương gian Âm phủ đồng nhất lý”. Không đâu như người Á đông, nhất là người Việt Nam dù có đi xa quê hương xứ sở, dù có lỡ quên địa chỉ hình ảnh nơi chôn nhau cắt rún, dù có thay thiên đổi địa, dù có chiến tranh tàn khốc làm mất dấu vết quê hương, hoặc đi theo một ý tưởng nào xa lạ bên trời âu Mỹ đi nữa họ cũng vẫn thờ cúng tổ tiên ông bà cha mẹ ruột thịt. Lúc nào họ cũng hoài cổ, dòng họ huyết thống không bao giờ bị quên lãng.

III. Lễ tang

Tang chế là việc hiếu, là cơ hội cho con cháu báo ân báo hiếu. Tang chế diễn ra trong gia đình khi có người chết, người thân qua đời gọi là lễ tang. Lễ tang quan trọng theo sự chết của người thân, người lớn hay người nhỏ, ông bà cha me hay con cái, dù giàu hay nghèo, nam hay nữ, từ vua quan, cho đến hàng thứ dân đều không tránh khỏi quy luật sanh lão bệnh tử. Chết tức là lui về quá khứ, chuẩn bị cho cuộc sống mới ở tương lai. Chết như người cởi bỏ chiếc áo cũ và tái sanh, như người mặc chiếc áo mới. Cái chết nào của người thân cũng đem lại sự đau buồn nhất trong gia đình. Vì sao? Vì người ruột thịt chết là ra đi vĩnh viễn, trong nhà đột ngột vắng bóng một người, một cuộc xuất hành không bao giờ trở lại với gia đình.

Theo tự điển Việt Nam của Thanh Nghị từ ngữ Lễ tang như sau: Lễ là nghi lễ, tang là tang tóc, tang chế là một cuộc lễ có vẻ ảm đạm tang tóc sầu bi. Hình thức của lễ tang thì buồn lắm. Thập niên 1950 ở quê hương Sư, tại một lễ tang gia đình gia giáo, thuộc ấp Mỹ Thạnh, xã Hòa Định, Quận Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho, tang chủ có người thân là hiền thê 37 tuổi qua đời. Ông chồng cũng trạc chừng 37 tuổi vừa khổ não khóc lóc, cũng vừa lo nhờ người bạn thân khéo tay dùng kéo cắt mo cau thành một đàn chim dán vào mành trúc tạo thành cảnh vật đàn chim tung cánh giữa khung trời đang bay về núi, những con cò đi ăn đêm đậu lại cành cây lông cánh ũ rũ. Lễ tang nầy thật lớn, có nhiều bà con họ hàng thân thuộc, hàng xóm láng giềng tham dự đông dầy, các con các cháu đều tỏ lòng thương tiếc khóc lóc bi ai, kêu gào thảm thiết giải bày vãn than.

Đức Phật niết bàn, chư Trưởng lão do cảm thương Phật, nhớ Phật đã từng để kim quan của Ngài suốt môt tuần lễ, sau khi kết tập Kinh Luật lần thứ nhứt xong mới hỏa thiêu (Trích đoạn Lời tựa Nhị Khóa Hiệp Giải). Lúc bấy giờ có 7 Vương quốc lân bang và Vương quốc Câu Thi na đến canh chừng an ninh nghiêm nhặt, sau khi hỏa thiêu thâu lấy Xá lợi (Xương cốt) vô số. Có ông Trưởng giả Hương Tánh đứng ra ổn định cuộc lễ và phân Xá lợi Phật chia cho tám Vương quốc thờ tại quê hương của xứ mình, tháp thứ chín thờ cái bình, tháp thứ mười thờ tro hài cốt, và tháp thứ mười một thờ tóc Phật khi Ngài còn tại thế gian. Đặc biệt, Phật đản sanh, xuất gia, thành đạo, nhập Niết-Bàn đều nhằm vào ngày mùng 8 tháng hai âm lịch. (Thư viện Hoa Sen – Toàn Không)

Tang lễ của các vị vua chúa rất rườm rà rất hao tốn công sức thiên hạ, như lễ tang thời nhà Lê đã được thương nhân Pháp Jean Baptiste Tavernier thế kỷ 17 ghi lại. Khi vua Lê Hy Tông băng hà thì người ta đem ướp tử thi ngài ngay và đặt lên long sàng. Trong sáu mươi lăm ngày dân chúng mới được phép chiêm ngưỡng, vẫn hầu hạ, dâng cơm như khi vua còn sống. Cơm cúng xong thì một nữa đem biếu các Nhà Sư và một nửa đem bố thí cho người nghèo đói. Khi ngài vừa tắt nghỉ thì chúa Trịnh báo tin ngay cho các quan đầu các đạo và định thời hạn để tang là bao lâu. Thường thì quan võ và quan án ba năm; tôn thất sáu tháng; triều thần sáu tháng và dân sự ba tháng. Trong ba năm để tang vua, bỏ hết các cuộc vui, trừ lễ đăng quang tân quân. Những món ăn dâng vua mới đều đựng trong đĩa phủ sơn đen; vua cạo đầu và đội mũ gai. Các hoàng thân và bốn mươi quan đại thần cũng để tang như vậy đến khi nào rước linh cữu xuống thuyền đem đi an táng một nơi đã định mới thôi. Ba quả chuông đặt trên một ngọn tháp cũng đánh mãi đến khi linh cữu rước xuống thuyền. Ba ngày sau các quan mới được vào làm ai điếu tiên vương và đến ngày thứ mười trở đi hàng thứ dân mới được vào chiêm bái.

Lễ tang các cụ già thì đa phần có con cháu đông đầy, tang chủ rước quý Sư Thầy thuộc hàng giáo phẩm, mua áo quan thuộc loại “Hàng nhứt” bằng gỗ quý ở một nhà mai táng nổi tiếng. Thời gian lễ tang kéo dài cả tuần lễ để cho con cháu ở xa về. Việc đãi đằng ở nông thôn xưa thì giết heo, bò, trâu đãi khách đến viếng lễ tang. Việc tiếp tân cũng có nhiều cách thức đối với các bậc ông Cổ, ông Cả, ông Chủ trong làng đến phúng viếng có khác, các hiệp hội, những người thân, sui gia, bạn bè đến phúng viếng tiếp tân hình thức nhẹ hơn những người già cả. Khi có người phúng viếng thì nhạc lễ trỗi lên báo hiệu và rước người làm lễ phúng viếng. Người chết là Phật tử thì ngoài bàn vong còn có bàn thờ Phật bên cạnh. Các chùa đến viếng nếu có tụng kinh thì tụng ở bàn Phật, gia chủ sẽ trao cho vị chủ lễ 4 cây nhang, một cây dâng tưởng niệm trước bàn vong, còn 3 cây niệm hương tại bàn Phật, phía đại chúng mỗi thầy 2 cây nhang một cây tưởng niệm tại bàn vong, một cây dâng tại bàn Phật. Tùy theo lễ tang, lễ có ít người thì quý Sư Thầy thông báo gia chủ sẽ tụng một thời kinh ngắn cầu nguyện cho hương linh siêu sanh lạc quốc, nếu có đông người đến viếng thì chỉ chia buồn vài lời an ủi với gia chủ. Lễ tang ngày nay đối với các cụ già thì còn chôn cất theo đất nhà, nhưng cũng phải cầu xin lắm với cơ quan thẩm quyền địa phương mới cho phép, còn lại đa phần là thiêu hóa rải trong hư không, rải xuống sông biển, hoặc gởi vào chùa phụng thờ.

Ở Việt Nam người con thọ tang ông bà cha mẹ 3 năm (nói 3 năm chứ chỉ có 24 tháng). Trong 3 năm đó lúc cúng vong tiến linh con cháu phải mặc đồ tang. Ngoài ra người thọ tang dù đi bất cứ nơi nào trong trời đất, hay chỉ đi ra khỏi nhà phải đeo một miếng tang nhỏ màu đen hay trắng, độ chừng 2 cm x 1,5 cm trước ngực hay trên chiếc nón, tang có khi là tang màu đen, tang màu trắng. Trong nhà Phật người đệ tử xuất gia thọ tang Thầy Tổ màu vàng.. Theo một vị Thầy cúng nói về việc thọ tang, con cháu để tang ông bà, tính theo bên Nội, thuộc dòng họ cùng huyết thống, như sau: – Con trai và con gái thọ tang trắng – con trai Trưởng nam thọ tang trắng đội bích cân, có chống gậy (Trong gia đình chỉ có một trai dù là trai đầu lòng, ở giữa hay trai út cũng gọi là trưởng nam) – con rể, con dâu thọ tang trắng – cháu nội thọ tang trắng có chấm đỏ – cháu ngoại thọ tang trắng có chấm xanh – cháu cố thọ tang trắng có chấm vàng.

Việc thờ cúng, kỵ giỗ có phù hợp với giáo lý Phật giáo? Xem lịch số ngày giờ, cúng cơm cho người chết

Người thân qua đời, dù có đi coi Thầy nhằm ngày tốt hay xấu cũng chỉ là thời gian không còn cân đối nữa để cho gia đình quan tâm. Coi là coi vậy thôi chứ hiện nay lịch số thế gian không còn phù hợp và đúng nữa do ảnh hưởng thời tiết khí hậu diễn biến vô chừng, có cả sự nóng lạnh vô chừng theo hiện tượng Elnino, hiệu ứng nhà kín, nạn phá rừng, xây đập thủy điện xen vào…các hiện tượng. Sự tiến bộ của khoa học làm cho lịch số trở thành vô nghĩa, chệch hướng sai với ngày đêm, năm tháng nếu có xem cũng chỉ là nhờ Thầy xem giúp dùm vậy thôi. Vả lại, lịch số ở mỗi nơi có khác nhau, như ở tây bán cầu tính một thế kỷ là 100 năm, ở đông bán cầu tính một thế kỷ là 60 năm, người Maya một năm có 18 tháng, một tháng có 20 ngày, như vậy lịch số có sự trùng lấp với nhau chăng? Chẳng lẻ người Tây phương, người Á đông hay người Maya, người Hồi giáo sẽ chết theo vì những ngày xấu của đạo bên nầy hay xấu của đạo bên kia? Việc Thầy cúng coi ngày giờ năm tháng hiện nay có pha trộn giữa đông và tây, khi thì Việt, khi thì Trung, khi thì nương vào các tôn giáo nên không rõ ngày giờ nào là chuẩn, là xấu là tốt, không còn hiệu lực.

Nhà Phật khắp khuyên bà con Phật tử không nên khóc cho người đã chết, vì làm chấn động thần thức người chết khó mà siêu thoát. Người Hoa kiều ở Chợ Lớn rất sợ người chết dù đó là ông bà cha mẹ, nhưng khóc thì khóc cho người chết dữ lắm, có khi tang chủ mướn người khóc hộ. Năm 1967 tác già bài nầy có kết hợp đưa lễ tang người Hoa qua đời tại bệnh viện Chợ Rẫy, xe tang chỉ đưa từ nhà xác bệnh viện đến nghĩa trang. Khi đoàn tang lễ đi ngang qua nhà, tang chủ không cho đem vô nhà vì sợ ma mới nhập vào nhà, chỉ cho xe tang đi chậm chứ không được ghé, bên cạnh có người đi theo “Khóc mướn” thật thảm thiết bi ai vô cùng

Theo sách Liễu sanh thoát tử có hai dạng người mau đầu thai: Một là người niệm Phật chánh niệm khi lâm chung liền vãng sanh về cõi Phật A Di Đà, hai là người làm việc ác trong thế gian, khi thác liền theo nghiệp thức tái sanh vào kiếp khác ngay để trả quả báo. Số còn lại trung ấm thân chờ đợi thọ cảm nghiệp thức mà lần lượt tái sanh, tức 49 ngày.

Trong những ngày lễ tang, việc cúng cơm do Thầy chủ lễ tang thực hiện. Lúc bấy giờ tang chủ quỳ trước linh án để cúng dâng cơm cho vong linh người thân. Sau khi an táng có các lễ khai mộ (Nếu hỏa thiêu thì giảm việc khai mộ), lễ cúng thất (7 ngày), lễ cúng tuần chung thất (49 ngày), cúng 100 ngày, cúng giáp năm, lễ cúng mãn tang (Mãn khó, xả tang). Trong thời gian 3 năm thọ tang, hằng ngày con cháu cúng cơm 3 lần (Sáng, trưa, chiều) cho người qua đời không được sai sót, bỏ cuộc, cũng có thể cúng cơm hai lần trưa và chiều. Riêng buổi sáng có khi cúng nước trà, cà phê, cúng bánh trái theo sở ý của người chết lúc sanh tiền.

Xử lý vật dụng của người chết

Có những người chết còn để lại nhiều động sản, bất động sản giá trị được người thân tiếp nhận và chia sẻ đồng đếu, có chia sẻ mới hòa thuận lẫn nhau trong anh chị em ruột thịt. Như vậy tất cả áo quần mới may của người chết chưa mặc vẫn để lại cho người sau mặc không phải trở ngại, có người cũng chẳng để lại tài sản nào ở thế gian. Nhìn chung cũng chẳng ai muốn mặc đồ của người chết, lý do “Sợ người chết” hoặc mặc không vừa, cũng không ai mà dành quần áo của người chết.

Rất cần thiết đến người ruột thịt làm việc tắm rửa lau sạch cho người chết. Trường hợp người chết không có người thân thì mới nhờ đến người láng giềng thân thiết chăm sóc. Người chết phải được mặc quần áo mới, nam áo dài khăn đống, nữ áo dài, Phật tử mặc áo vạc hò, áo tràng lam hoặc nâu, quý Sư Thầy đến thăm dạy đọc bài:

Tẩy dục thân thể

Đương nguyện chúng sanh

Thân tâm vô cấu

Nội ngọai thanh khiết

Án bạt chiết ra, não ca tra tá ha (3 lần)

Sau đó đem toàn bộ quần áo cũ, đồ bệnh nhất là bệnh truyền nhiễm tất cả những vật dụng cũ không cần thiết, giường chỏng thiêu hóa, đọc bài:

Y quấn khâm phục tệ thân hình

Ngự thử phong hàn bảo vong vinh

Nục thể khinh an vô chướng ngại

Tây phương tưởng niệm đắc siêu sanh

Nam mô Giai Bảo Mãn Bồ Tát Ma ha tát (Đốt quần áo)

Lễ tang là việc buồn. Ngày nay đôi khi xảy ra việc buồn gấp trăm lần về tình cảm anh em. Nguyên nhân từ mỗi gia đình trước giờ nhà ai nấy lo, tình cảm ruột thịt không còn sâu đậm như thời thơ ấu, hoặc chấm dứt tình cảm ruột thịt do có dâu và rễ ở chung nhà. Một ít gia đình cha hay mẹ chết chưa đến ngày đi chôn, mà không lo việc tụng niệm cầu cho cha mẹ siêu sanh lạc quốc, lại nóng vội lo mời thừa phát lại đến làm giấy tờ thưa kiện lẫn nhau, anh em đòi chia động sản bất động sản nhanh gấp, tranh dành tài sản với nhau, thật đau buồn.

Việc đốt vàng mã, hình nhân người thế

Việc đốt vàng mả, người thế (Ở phương Đông), đốt hình nhân (Ở phương Tây), hình nộm (Của người làm nông vụ) là hủ tục trong các thời đại phong kiến xa xưa, xuất phát từ những câu chuyện dân gian địa phương, thuộc lọai truyền khẩu, không có thuyết minh. Một đôi khi sự việc trở thành phong tục tập quán, nhắc lại sự kiện lịch sử, nhưng dù phong tục tập quán đôi khi cũng không còn phù hợp với đời sống tiến bộ hiện tại, như:

Người Ecuador năm nào cũng làm những hình nhân to hơn người thật để đốt đêm giao thừa. Dân Anh quốc hằng năm cứ mùng 5 tháng 11 lại nổi lửa mừng ngày Guy Fawkes khủng bố hụt thượng viện năm 1605. Ở Hoa Kỳ hàng năm, có hàng chục nghìn người tụ tập lại giữa sa mạc, lột truồng ra rồi đốt một người gỗ tượng trưng cho “The Man”, những kẻ áp bức trong xã hội này, và lấy đấy làm vui và cho là việc hay lắm.

Người dân đảo Faroe ở Đan Mạch hàng năm dùng thuyền lùa vài trăm chú cá voi vào một eo biển hẹp, sau đó lấy mũi lao đâm chết. Họ coi thịt cá voi là một phần quan trọng của đời sống văn hóa và sẽ không từ bỏ nó.

Thời phong kiến các vua chúa như Tần Thủy Hoàng ((259-210) trước công nguyên), vừa lên ngôi năm 13 tuổi. Đến năm 22 tuổi đã cho xây cung điện thu nhỏ ở âm phủ, tạo thế đứng cho mình sau khi chết vẫn còn có cuộc sống như ờ dương gian, vàng son như sanh tiền. Có người đem theo cả tài sản, thê thiếp thật chôn theo, thật đau lòng và hao tốn (Thời nhà Chu, năm 1022 trước tây lịch). Tục lệ nầy được thực hiện tại các vùng Đông Á, Nam Á, Đông Nam Á, nhất là người dân Phù Nam, người Khmer, khi vua băng hà hoàng hậu hay phu nhân phải được chôn theo để tỏ lòng tôn kính thủy chung.

Trong sử học Việt Nam có Công nữ Ngọc Vạn làm Hoàng hậu thời vua Chetta đệ nhị, vương quốc Campuchia. Sau khi nhà vua băng hà, bà phải bị chôn theo vua, nhưng sau đó bà tìm cách trốn được về nước Đại Việt và đi tu Phật tại Long Cốc Thượng Tự, Tổ đình Linh Sơn, núi Dinh (Bà Rịa). Sau đó đến tu tại núi Chứa Chan, cuối đời bà đến tu và hộ trì tại Tổ đình Quốc Ân Kim Cang và qua đời tại đây, hiện nay tháp mộ ba vẫn còn. Công nữ Ngọc Vạn đã tìm cách thoát chết không phải bị chôn sống theo nhà vua.

Theo nhận định của người Phật giáo thì tục đốt vàng mã là phi Phật pháp, là một hủ tục có tính du nhập, học đòi, bắt chước, chứ không phải phong tục tập quán của một dân tộc, hủ tục được một vài người Trung Hoa địa phương bày vẽ. Theo sách Trực ngôn cảnh giáo, năm Văn Công thứ 4, vua Tấn Mục Công, tên là Khắc Nhâm băng hà. Ba anh em họ Tử Xa được vua yêu thương nên bị chôn theo. Nhân dân trong nước thấy vậy rất thương tiếc nên nghĩ ra phương cách tìm vật khác để thay thế, vật ấy được dùng bằng cỏ, bằng gỗ.

Năm Nguyên Hưng 105, đời Hán Hoa, ông Thái Lĩnh chế biến hình người chôn theo bằng hình nộm, ông Vương Dũ làm vàng bạc bằng giấy, mọi người sử dụng theo. Việc làm vàng mã lúc bấy giờ chỉ có ở trong cung cấm vua chúa và các quan.

Về sau, năm 762 đời nhà Đường, vua Đường Đạt Tôn có nhà Sư là Đạo Tăng nhân ngày rằm tháng bảy cho làm hàng mã xe cộ nhà cửa, vàng bạc bằng giấy phổ biến trong dân gian. Vua nhà Đường tùy thuận Phật giáo cho phép phát hành, từ đó có tục lệ đốt vàng mã trong dân chúng.

Vương Luân một thương nhân có mưu đồ, cho người giả người bệnh rồi chết, được tẩn liệm trong quan tài, có một kẻ hở để đưa nước và đồ ăn vào cho người “Giả bệnh chết” sử dụng. Lúc đó nhiều người đến phúng viếng lễ tang, ông Vương Luân tổ chức nhiều người đem những đồ vàng mã, hình nhân, tiền vàng bằng giấy đến cúng đốt cho người nằm trong quan tài, bỗng dưng quan tài nhúc nhích và sống lại. Từ đó mọi người đồn đãi từ gần đền xa, ông Vương Luân có dịp bán đắc “Đồ vàng mã” (Theo Mạc Vi – Xã hội và Gia đình – Web Báo Tiền phong, 30/7/2014). Tục đốt vàng mã trong dân gian Trung Quốc có từ đây.

Như vậy tục đốt vàng mã là hủ tục xa xưa, có động thái dối trá lường gạt mọi người vô cùng phải không các Bạn:

Việc tang việc lễ nói rồi

Việc nào nên tránh, việc thôi không làm

Tu theo chánh pháp Phật ban

Hủ tục nên bỏ nhẹ nhàng tấm thân

Nh ững câu chuyện ẩn chứa sau nét đẹp văn hóa của tổ tiên

HT. Thích Giác Quang

【#2】Rằm Tháng 7 Nên Cúng Cô Hồn Vào Giờ Nào?

1.Vì sao lại phải cúng rằm tháng 7

Vào tháng 7 âm lịch, dân gian ta thường gọi đây là tháng cô hồn hay còn gọi là ngày Vu Lan, mùa báo hiếu cho cha mẹ, ông bà. Theo quan niệm của cha ông ta ngày xưa thì khi còn sống, người mất sẽ được đầu thai kiếp khác thay vì bị đày xuống địa ngục, không cho họ đi lang thang để quấy rối những người thường.

Cúng cô hồn tháng 7 không chỉ để chúng ta tránh được việc bị người khác quấy rầy mà họ còn muốn làm những điều phúc tốt đẹp hơn. Cũng là điều để giúp cho những cô hồn lang thang có được một ngày no nê và đỡ tủi thân khi ở dưới địa ngục. Phong tục này mang đến một tính nhân văn cao trong văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam cũng như những quan niệm xá tội vong nhân. Quan niệm này cũng cho thấy rằng con người dù gây ra những tội ác gì trong quá trình chịu sự trừng phạt, quả báo cũng có 1 ngày xá tội để đỡ chịu khổ cực, đau đớn.

Truyền thuyết dân gian cho rằng từ ngày mùng 2/7 Diêm Vương ra lệnh bắt đầu mở Quỷ Môn Quan và đến rằm tháng 7 thì “thả cửa” để cho ma quỷ túa ra tứ phương, đến sau 12 giờ đêm ngày 14/7 thì kết thúc và các ma quỷ phải quay lại địa ngục. Theo truyền thuyết người Xưa, Diêm Vương cai quản địa ngục sẽ mở cửa Quỷ môn quan tháng 7 hàng năm.

2.Cúng rằm tháng 7 vào ngày nào?

Theo quan niệm dân gian truyền lại rằng, vào ngày rằm tháng 7 âm lịch, Phật tổ xá tội vong nhân trong vòng 1 ngày. Trong 1 ngày này, các linh hồn và quỷ dữ đều được tự do, vậy nên trong dân gian cũng quan niệm rằng nếu như cúng vào ngày này sợ rằng sẽ bị những linh hồn này phá phách, rước thêm âm binh và cô hồn vào trong nhà mình.

Do vậy, theo xu hướng chung các gia đình thường cúng Rằm tháng Bảy từ ngày mùng 10 tháng bảy âm lịch đến trước ngày chính rằm (tức là ngày 15/7 âm lịch).Còn ngày 15/7 sẽ chỉ để cúng các cô hồn vương vất, không nơi nương tựa, đang bị đói ăn. Lúc này mâm cũng được dọn ngoài đường, trước nhà… nhưng không được để trong nhà, tránh trường hợp các vong hồn theo vào.

Theo các nhà nghiên cứu cho biết, tục cúng cô hồn là một tục được truyền miệng, nó không có bất cứ một quy tắc nào cả nên có rất nhiều dị bản. Nên cúng vào ngày rằm tháng 7 là tốt nhất, chính lễ nhất nhưng nếu không có điều kiện thì từ 10 tới 15/7 âm lịch chính là thời điểm thích hợp để cúng cô hồn. Mọi nhà nên tùy vào hoàn cảnh và khả năng của mình mà tiến hành, không nên quá câu nệ.

Khi cúng cũng đọc rõ tên và xin phép các thần linh thổ địa cho phép vong vào nhận đồ, cúng trước và hóa trước để người thân dễ nhận được.

3.Nên cúng rằm tháng 7 vào giờ nào?

Tuy nhiên việc biết cúng rằm tháng 7 vào ngày nào nhưng lại có một số ý kiến băn khoăn không biết cúng vào khoảng thời gian nào là hợp lý.

Điều này theo quan niệm dân gian cho giải thích rằng, do ban ngày có nhiều ánh sáng mà ánh sáng mặt trời rất mạnh trong khi các cô hồn mới được “thả ra” rất yếu. Nên đối với những lễ cúng cô hồn này nên thực hiện vào lúc sẩm tối hoặc tối hẳn.

Còn với lễ Vu lan báo hiếu cha mẹ cầu siêu, báo hiếu tổ tiên, nên thực hiện vào ban ngày. Tuy nhiên, dù chọn giờ nào thì việc cúng cô hồn cũng đều phải diễn ra vào trước 12 giờ đêm ngày 15/7 âm lịch.

【#3】Nên Làm Lễ Cúng Đầy Tháng Cho Bé Trai Vào Giờ Nào Là Hợp Lý?

Một trong những sự kiện quan trọng trong giai đoạn phát triển của bé là đầy tháng để thông báo sự có mặt của thành viên mới trong gia đình bày tỏ lòng biết ơn và cầu mong các Bà Mụ, Đức Ông sẽ ban phước lành, may mắn cho đứa trẻ. Vì thế cúng đầy tháng cho bé trai vào thời gian nào là hợp ký được nhiều bố mẹ quan tâm.

Cùng đồng hành suốt khoảng thời gian dài ấy chính là người chồng, ông bà bố mẹ và song hành mang ý nghĩa tâm linh chính là tâm niệm theo dân gian có sự đỡ đầu, sự phù hộ độ trì của tổ tiên và nhất là 12 bà mụ, 1 bà Chúa Thiên Thai Và 3 Đức Ông để mẹ tròn con vuông.

Xem và chọn giờ tốt để làm lễ đầy tháng cho các bé là chọn giờ không xung khắc, hợp với tuổi của con để các con luôn khỏe mạnh và luôn gặp bình an trong cuộc sống sau này.

Cúng đầy tháng cho bé trai vào thời gian nào là tốt nhất

Nhiều người cho rằng cúng đầy tháng nên làm lễ vào buổi sáng vì thời tiết buổi sáng mát mẻ, ít nắng, nếu có nắng thì cũng diệu hơn so với buổi trưa và buổi chiều, như vậy sẽ mang lại nhều may mắn cho bé.

Còn theo sách cổ đại thì khi cúng đầy tháng cho bé trai hay bé gái cũng vậy, làm lễ vào buổi nào cũng được, chủ yếu là giờ cử hành phải tốt, không được xung khắc với tuổi, phải hợp với mạng và tuổi của bé. Vì vậy các bậc phụ huynh cũng nên quan tâm đến các khung giờ hoàng đạo của ngày để chọn giờ phù hợp nhất cho con.

Đây có lẽ là cách tính ngày phổ biến nhất hiện nay. Hầu hết khách hàng của chúng tôi tại Tp Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ, Bình Dương, Đồng Nai, Vũng Tàu đều tính theo cách này.

Ví dụ: Bé nhà bạn sinh ngày 16/7 đến 16/8 là đủ 30 ngày tuổi

Bé gái thì làm lễ đầy tháng ngày 14/8 (đủ 30-2 ngày)

Bé trai thì làm lễ đầy tháng ngày 14/8 (đủ 30-1 ngày)

Đây cũng là một cách tính được nhiều gia đình áp dụng. Với cách tính này thì Nam sẽ tính cộng thêm 1 ngày, nữ thì trừ đi 1 ngày

Ví dụ: Bé nhà bạn sinh ngày 14/3 đến 14/4 đủ 30 ngày tuổi

Bé trai thì làm lễ đầy tháng ngày 15/4 ( đủ 30+1 ngày)

Bé gái thì làm lễ đầy tháng ngày 13/4 ( đủ 30-1 ngày)

Chọn cúng đầy tháng lúc mấy giờ là tốt

Trong sách chiêm tinh và phong thủy học luôn có ghi rằng: Năm tốt không bằng tháng tốt, tháng tốt không bằng ngày tốt, ngày tốt không bằng giờ tốt. Do đó những việc quan trọng trong cuộc đời nếu không chọn được năm tốt, tháng tốt thì cũng cố gắng chọn được giờ tốt mà thực hiện.

Với cách tính này thì dựa vào cung hoàng đạo, tam hợp tứ hành xung để tính giờ cúng đầy tháng. Với cách tính này nhiều người không có kinh nghiệm rất khó để tính. Cụ thể cách tính như sau

Ví dụ: Con của bạn sinh vào 26/09/2019 (dương lịch) thì ngày âm lịch là ngày 28 tháng 8 năm Kỷ Hợi (âm lịch)

Với tuổi Hợi thì tam hợp có Hợi – Mùi – Mẹo còn tứ hành xung có Hợi – Tỵ – Dần – Thân

Dựa vào tam hợp và tứ hành xung thì tổ chức lễ cúng đầy tháng tốt nhất vào các giờ Hợi – Mùi – Mẹo ngoài ra đặc biệt tránh vào giờ tứ hành xung Hợi – Tỵ – Dần – Thân.

Cách tính giờ cúng đầy tháng cho thuận tiện

Đây là cách chọn giờ phù hợp với các gia đình bận rộn. Đây cũng là xu hướng mà các gia đình đang hướng tới trong thời đại này. Nếu gia đình Anh Chị bân rộn, để không ảnh hưởng tới công việc có thể chọn giờ nào thuận tiện cho gia đình mình để cúng đầy tháng.

Cách tính giờ cúng đầy tháng vào buổi sáng

Buổi sáng thời tiết mát mẻ, nhiều gia đình chọn cúng trong buổi sáng, trước 12h trưa là được. Nếu Anh Chị muốn cúng đầy tháng cho bé trong buổi sáng có thể bày mâm cúng trước và tới đúng giờ là cúng được. Cúng xong gia đình có thể xin lộc để cùng ăn uống trong bữa trưa.

【#4】Nên Cúng Giỗ Đến Mấy Đời Là Thôi?

Giỗ tính ngày Âm hay Dương?

Ngày giỗ theo âm Hán là huý nhật hay kỵ nhật, tức là lễ kỷ niệm ngày mất của tổ tiên, ông bà, cha mẹ, cũng có nghĩa là ngày kiêng kỵ.

Nguyên ngày trước, “Lễ giỗ” gọi là “Lễ chính kỵ”; chiều hôm trước lễ chính kỵ có “lễ tiên thường” (nghĩa là nếm trước), con cháu sắm sanh một ít lễ vật, dâng lên mời gia tiên nếm trước.

Ngày xưa, những nhà phú hữu mời bà con làng xóm ăn giỗ cả hai lễ tiên thường và chính kỵ. Dần dần hoặc vì bận việc hoặc vì kinh tế hoặc vì thiếu người phục dịch, người ta giản lược đi, chỉ mời khách một lần nhưng hương hoa, trầu rượu vẫn cúng cả hai lễ.

Tóm lại, nếu vận dụng đúng phong tục cổ truyền phổ biến trong cả nước thì trước ngày chết (lễ tiên thường) phải cúng chiều, cúng đúng ngày chết (lễ chính kỵ) phải cúng buổi sáng.

Ngày cúng giỗ được tính theo Âm lịch.

Cúng giỗ mấy đời?

Theo sách Thọ Mai Gia Lễ thì ông bà ta có tục lệ “Ngũ đại mai thần chủ”, tức việc cúng giỗ chỉ thực hiện trong 5 đời theo phép “Ngũ đại đồng đường”. 5 đời là tính cả đời người chịu trách nhiệm cúng giỗ, nên thực tế thì chỉ cúng có 4 đời là: Cao, Tằng, Tổ, Phụ, tức 4 đời tính từ dưới lên là:

Nhưng những ngày tết và những ngày giỗ khác, các vị từ đời thứ năm trở lên vẫn được tiến chủ (người đứng lễ) khấn, mời về “đồng hưởng” cùng vong linh những người đã khuất của gia đình.

Các đời trên Cao tổ khảo (tức kỵ/can) gọi chung là Tiên tổ thì không cúng giỗ nữa mà nhập chung vào kỳ xuân tế, hoặc phụ tế vào ngày giỗ của Thuỷ tổ. Người chịu trách nhiệm cúng giỗ sẽ mang thần chủ của cụ đời thứ 6 đem đi chôn và sửa lại thần chủ của các đời bên dưới bằng cách nâng lên một bậc, cụ đời 6 được rước vào nhà thờ họ để khấn chung với cộng đồng Gia tiên trong các dịp giỗ chạp, tết lễ.

Những người theo thuyết Luân hồi thì cho rằng, sau năm đời vong linh người quá cố được siêu thoát, đầu thai hóa kiếp trở lại nên không cần thiết phải cúng giỗ nữa mà nạp chung vào kỳ xuân tế.

Thủ tục góp giỗ

Theo tục lệ thì con trai trưởng là người chịu trách nhiệm lo cúng giỗ bố mẹ. Đến ngày giỗ, con cháu sẽ tập trung ở nhà ông trưởng để làm giỗ. Trường hợp con trai trưởng mất thì tổ chức tại nhà cháu đích tôn. Nếu người được giỗ là hàng cao thì con cái, cháu chắt đến nhà trưởng tộc làm giỗ.

Con gái và con trai thứ chịu trách nhiệm góp giỗ cho con trai trưởng. Các cháu, chắt cũng là những người đóng góp thêm để giảm bớt gánh nặng chi phí cho trưởng chi hay trưởng tộc. Lễ gửi góp giỗ lớn hay nhỏ tùy thuộc vào hoàn cảnh và mối quan hệ với người chết của từng gia đình. Trước đây, gần đến ngày giỗ, những người đóng giỗ thường đem tiền, gạo đến góp cho trưởng chi để chuẩn bị tổ chức giỗ. Một số gia đình, dòng họ còn có ruộng hương hỏa, cày cấy lấy phần lợi nhuận cho người làm giỗ.

Ngày nay có nhiều đổi khác, con cháu thường góp giỗ bằng tiền và các đồ lễ vật khác như: vàng hương, trái cây, bánh kẹo… Cũng có người gửi giỗ là những vật phẩm thuộc sở thích của người quá cố. Một số gia đình tổ chức giỗ trong phạm vi hẹp lại phân công mỗi anh chị em trong nhà chuẩn bị một vài món theo sở trường từng người rồi đem đến tập trung lại bày cỗ…

Những người sống ở xa không có khả năng về dự giỗ thì gửi đồ lễ cho trưởng họ và cúng vọng mời vong linh người quá cố về hưởng giỗ tại nhà mình. Bây giờ có nhiều người góp giỗ không đưa trực tiếp cho trưởng họ mà để phong bì thắp hương trên bàn thờ, điều này không đúng với tục lệ, mặt khác khi gia chủ thu dọn đồ lễ dễ rơi vãi, thất lạc.

Cơm cúng giỗ

Mâm cơm cúng giỗ miền Bắc theo truyền thống được người dân thực hiện khá đơn giản và tiết kiệm. Tuy nhiên, sự đơn giản và tiết kiệm này vẫn luôn đảm bảo sự thành tâm của con cháu dâng lên người đã khuất. Theo đó, mâm cơm cúng giỗ của người miền Bắc đầy đủ sẽ bao gồm những món sau đây:

  • Gà luộc (có thể thay thế bằng thịt lợn luộc)
  • Xôi gấc (hoặc có thể sử dụng xôi đỗ lạc, đỗ xanh)
  • Cơm trắng và trứng gà luộc
  • Giò chả
  • Bánh chưng
  • Chân giò hầm với măng khô, mộc nhĩ
  • Ngoài ra gia chủ còn có thể chuẩn bị thêm nem rán, tôm tẩm bột chiên giòn
  • Thịt đông cùng với dưa chua
  • Một số món xào như: giá đỗ xào, miến xào lòng gà
  • Các món rau củ quả dễ ăn như: rau luộc hay nộm

Miền Trung và miền Nam thì có phần đơn giản và đỡ cầu kỳ hơn. Tuy nhiên, tùy vào điều kiện kinh tế cụ thể của mỗi gia đình mà gia chủ có thể chế biến thêm một số món ăn khác hoặc giảm bớt một số món ăn sao cho phù hợp. Dù vậy, gia chủ luôn cần phải đảm bảo yếu tố sạch sẽ, tươm tất cho mâm cơm cúng để thể hiện lòng biết ơn và sự thành kính của mình dành cho người đã khuất.

Lời khấn vái khi cúng giỗ

Lời khấn vái là lời nói chuyện với người quá cố, do đó lời khấn là tấm lòng của người còn sống. thì muốn khấn sao cũng được. Tuy nhiên người xưa cũng đã đặt ra lễ khấn và lời khấn.

Lễ khấn gồm các thủ tục như sau:

  • – Sau khi mâm cỗ đã đặt xong thì gia trưởng ăn mặc chỉnh tề (ngày xưa thì khăn đống áo dài) đi ra mở cửa chính. Ở xứ lạnh thì cũng phải ráng hé cửa chứ không đóng được cửa kín mít.
  • – Sau đó phải khấn xin Thành Hoàng Thổ địa để họ không làm khó dễ vong Linh về hưởng lễ giỗ.

Lời văn khấn

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. Con kính lạy Đức Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần. Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân. Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này. Con kính lạy Tổ Tiên nội ngoại họ…………………………………………………. Tín chủ (chúng) con là……………………………………Tuổi……………………… Ngụ tại…………………………………………………………………………………. Hôm nay là ngày ………tháng ………năm…………………………( m lịch). Là chính ngày Cát Kỵ của…………………………………………………………… Thiết nghĩ…………………. vắng xa trần thế, không thấy âm dung. Năm qua tháng lại ngày húy lâm. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Ngày Cát Kỵ, hôm nay chúng con và toàn gia con cháu thành tâm sắm lễ, quả cau, lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án thành khẩn kính mời………………………………………………………… Mất ngày ……..tháng…….năm…………………………( m lịch). Mộ phần táng tại………………………………………………………………… Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia cảnh hưng long thịnh vượng. Con lại xin kính mời các vị Tổ Tiên nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá Thúc, Huynh Đệ, Cô Di, Tỷ Muội và toàn thể các Hương hồn gia tiên đồng lai hâm hưởng. Tín chủ con lại xin kính mời ngài Thổ Công, Táo Quân và chư vị Linh thần đồng lai giám cách thượng hưởng. Tín chủ lại mời các vị vong linh Tiền chủ, Hậu chủ nhà này, đất này cùng tới hâm hưởng. Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì. Phục duy cẩn cáo!

Thông tin chỉ mang tính tham khảo!

【#5】Cúng Đầy Tháng Lúc Mấy Giờ #nên Làm Khi Nào Thì Tốt Nhất

Một trong những sự kiện quan trọng trong việc giai đoạn phát triển của bé.Cúng Mụ (đầy cữ, đầy tháng, đầy năm) cho bé là một trong những nghi thức quan trọng để thông báo sự có mặt của một thành viên mới trong gia đình đồng thời bày tỏ lòng biết ơn và cầu mong các Bà Mụ, Đức Ông sẽ ban phước lành, may mắn cho đứa trẻ. Vì thế cúng đầy tháng với những ý nghĩa sau.

  • Kết thúc hành trình thiêng liêng của người mẹ mang trong mình một sinh linh bé bỏng cưu mang suốt chín tháng mười ngày, để rồi vượt qua cơn đau ” thập tử nhất sinh” để được nghe tiếng khóc chào đời của con đó là một sự hi sinh rất lớn.
  • Cùng đồng hành suốt khoảng thời gian dài ấy chính là người chồng, ông bà bố mẹ và song hành mang ý nghĩa tâm linh chính là tâm niệm theo dân gian có sự đỡ đầu, sự phù hộ độ trì của tổ tiên và nhất là 12 bà mụ, 1 bà Chúa Thiên Thai Và 3 Đức Ông để mẹ tròn con vuông.
  • Khẳng định vai trò của gia đình và xã hội đối với thành viên mới, thế hệ mới, sự cảm tạ, lòng biết ơn đối với những vị thần lình thầm phù hộ gia đình

2. CÚNG ĐẦY THÁNG LÚC MẤY GIỜ NGÀY NÀO THÌ TỐT NHẤT?

Tính ngày cúng đầy tháng cho bé

Theo cách truyền thống thì văn hóa mỗi vùng miền có sự khác nhau rõ rệt về ngày tính lễ đầy tháng. Hiện nay có 2 cách chọn ngày cúng đầy tháng phổ biến.

Đây có lẽ là cách tính ngày phổ biến nhất hiện nay. Hầu hết khách hàng của chúng tôi tại Tp Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ, Bình Dương, Đồng Nai, Vũng Tàu đều tính theo cách này.

Ví dụ: Bé nhà bạn sinh ngày 16/7 đến 16/8 là đủ 30 ngày tuổi

Bé gái thì làm lễ đầy tháng ngày 14/8 (đủ 30-2 ngày)

Bé trai thì làm lễ đầy tháng ngày 15/8 (đủ 30-1 ngày)

Đây cũng là một cách tính được nhiều gia đình áp dụng. Với cách tính này thì Nam sẽ tính cộng thêm 1 ngày, nữ thì trừ đi 1 ngày

Ví dụ: Bé nhà bạn sinh ngày 14/3 đến 14/4 đủ 30 ngày tuổi

Bé trai thì làm lễ đầy tháng ngày 15/4 ( đủ 30+1 ngày)

Bé gái thì làm lễ đầy tháng ngày 13/4 ( đủ 30-1 ngày)

Chọn cúng đầy tháng lúc mấy giờ là tốt

Trong sách chiêm tinh và phong thủy học luôn có ghi rằng: Năm tốt không bằng tháng tốt, tháng tốt không bằng ngày tốt, ngày tốt không bằng giờ tốt. Do đó những việc quan trọng trong cuộc đời nếu không chọn được năm tốt, tháng tốt thì cũng cố gắng chọn được giờ tốt mà thực hiện.

Cách tính giờ cúng đầy tháng theo tam hợp

Với cách tính này thì dựa vào cung hoàng đạo, tam hợp tứ hành xung để tính giờ cúng đầy tháng. Với cách tính này nhiều người không có kinh nghiệm rất khó để tính. Cụ thể cách tính như sau

Ví dụ: Con của bạn sinh vào 26/09/2019 (dương lịch) thì ngày âm lịch là ngày 28 tháng 8 năm Kỷ Hợi (âm lịch)

Với tuổi Hợi thì tam hợp có Hợi – Mùi – Mẹo còn tứ hành xung có Hợi – Tỵ – Dần – Thân

Dựa vào tam hợp và tứ hành xung thì tổ chức lễ cúng đầy tháng tốt nhất vào các giờ Hợi – Mùi – Mẹo ngoài ra đặc biệt tránh vào giờ tứ hành xung Hợi – Tỵ – Dần – Thân.

Mặc dù đây là cánh tính vô cùng cẩn thận mà tỉ mỉ nhưng hiện nay ít gia đình tính theo cách này. Vì hiện nay thời buổi hiện đại và thời gian làm việc của mỗi người mỗi nhà mỗi khác.

Cách tính giờ cúng đầy tháng cho thuận tiện

Đây là cách chọn giờ phù hợp với các gia đình bận rộn. Đây cũng là xu hướng mà các gia đình đang hướng tới trong thời đại này. Nếu gia đình Anh Chị bân rộn, để không ảnh hưởng tới công việc có thể chọn giờ nào thuận tiện cho gia đình mình để cúng đầy tháng.

Cách tính giờ cúng đầy tháng vào buổi sáng

Buổi sáng thời tiết mát mẻ, nhiều gia đình chọn cúng trong buổi sáng, trước 12h trưa là được. Nếu Anh Chị muốn cúng đầy tháng cho bé trong buổi sáng có thể bày mâm cúng trước và tới đúng giờ là cúng được. Cúng xong gia đình có thể xin lộc để cùng ăn uống trong bữa trưa.

Qua bài viết trên hi vọng các bạn đã tìm được ngày cúng hay giờ cúng chuẩn xác nhất cho việc cúng ngày đầy tháng ý nghĩa cho con mình để tổ chức được buổi đầy tháng ý nghĩa trọn vẹn.

Nếu bạn có nhu cầu tổ chức làm mâm cúng đầy tháng trọn gói hãy liên hệ với Đồ Cúng Việt theo để được đặt hàng và tư vấn chính xác nhất theo phong thủy.

【#6】Ngay Gio To Tien Nen Cung Chay Hay Cung Man

Trước hết, chúng ta cần thấu hiểu ý nghĩa của phong tục thờ cúng tổ tiên là một nét đẹp đặc sắc trong văn hóa ứng xử của người Việt ta. Phong tục này không chỉ thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn” mà còn mang giá trị giáo dục sâu sắc cho các thế hệ mai sau. Đây được xem là ngày tưởng niệm, ngày nhớ tưởng đến người đã khuất, trước hết là nói lên lòng thành kính tưởng nhớ, sau là nhắc nhở con cháu nên tiếp nối mỹ tục biết ơn đối với các bậc sinh thành.

Có thể nhận thấy tình trạng chung hiện nay tại những đám giỗ là tụ tập bạn bè hay người thân rồi cùng nhau tổ chức ăn uống linh đình và đặc biệt là sát sinh rất nhiều để phục vụ cho nhu cầu ăn uống ấy. Điều này nên hay chăng?

Theo thế gian thì việc này âu cũng là chuyện thường. Nhưng đối với những người Phật tử, được học và lĩnh hội những giáo lý tốt đẹp mà đức Phật truyền trao thì chúng ta nên phân biệt những việc nên làm và không nên, để những giá trị tốt đẹp trong kinh điển và lời dạy của đức Thế Tôn sẽ được tiếp tục lưu truyền theo đúng nguyên bản giá trị của nó.

Nếu người chết còn bị kẹt vào chỗ nào đó chưa được đầu thai, thì mỗi lần con cháu giết hại sanh vật để cúng tế, thì họ bị thêm tội. Vì nghiệp mà đang chịu trả nghiệp, nay bị con cháu gởi thêm nghiệp nữa, nghiệp sau chồng nghiệp trước, biết chừng nào trả cho xong. Thật tội nghiệp cho họ!

Nếu con cháu biết được đạo lý này thì nên làm lành làm thiện, những ngày cúng giỗ đều tổ chức niệm Phật tụng kinh, phóng sinh lợi vật để hồi hướng công đức. Ơn nghĩa này đối với họ lớn lao và quý hóa biết chừng nào!

Nhưng xin lưu ý, cúng giỗ chay nhưng xin hãy chay tịnh ngay từ trong tâm thức của chính mình, từ chính tấm lòng biết ơn của những người con, người cháu đối với tổ tiên, chứ không chỉ là trên hình thức. Đơn cử như việc “giỗ chay nhưng đãi mặn”, tiếng là giỗ chay nhưng chỉ với vài ba món để trên ban thờ, so với tràn ngập thịt cá trong bàn tiệc thì mấy món chay kia chỉ là hình thức giả tạm. Làm sao che lấp được rượu, thịt ê hề hay tiếng than khóc của những chúng sinh bị giết hại vô tội kia… Hình thức trống rỗng, tâm ý không thành, liệu có giải quyết được vấn đề gì?

Vậy thì chúng ta, những người con của Phật, hãy “tự thắp đuốc lên mà đi”, dùng chính sự giác ngộ của bản thân để quán chiếu và hành động mọi việc theo đúng giáo lý và lời dạy của đức Phật.

Vào những ngày giỗ kỵ tổ tiên, ông bà hay bố mẹ, người thân của mình nên làm chay thanh tịnh mới tốt. Tụng kinh niệm Phật hồi hướng công đức cho vong linh, cầu xin vong linh sớm siêu sanh, giải thoát, giác ngộ. Nên tiết giảm các hình thức ăn nhậu say sưa và tuyệt đối đừng sát hại sinh vật. Đừng nên lợi dụng ngày chết của ông bà, cha mẹ, mà giết hại sinh vật làm đám tiệc linh đình để trả ơn nghĩa thế gian. Nếu sơ ý, vừa tội nghiệp cho ông bà, vừa kết thêm nghiệp chướng cho chính mình. Nhân quả này không dễ gì có thể trả được.

Nhân ngày giỗ kỵ này, con cháu nên ăn chay, phóng sanh, làm các việc thiện lành để hồi hướng công đức, cầu cho vong linh được tiêu nghiệp tăng phước. Chỉ cần nhang đèn, hoa quả với vài món tinh khiết để tỏ lòng thành kính. Nếu không có điều kiện, thì chén nước lạnh tinh khiết với hoa quả, một nén hương thành tâm là đủ để thiết lễ tưởng niệm rồi. Cần chi đến hình thức linh đình mà bị khó khăn.

“Con ơi, mẹ chẳng cần chi Mong con ứng xử trong khi mẹ còn Chỉ mong con nhớ những điều Phật răn Ngày giỗ cũng chẳng cần chi Làm mâm cỗ lớn, mang đi cúng ruồi Mẹ đây phước mỏng tội dày Sát Sinh ngày giỗ tội mẹ nặng thêm Nên chăng con hãy cúng chay Tiệc mời chay tịnh giỗ mẹ thêm an Nhân quả phải giữ lấy lời Dù là cao quý, hèn đời con ơi! Cuộc đời thiện ác thế thôi Nhờ có nhân quả, mẹ thời an vui”

【#7】Các Lễ Cúng Chẩn Tế Hương Linh Khác Nhau Như Thế Nào? Có Nên Ăn Đồ Cúng Vong Không?

VẤN: Lâu lâu, con thấy các chùa hay những tổ chức Phật Giáo lại tổ chức cúng trai đàn chẩn tế, cúng Mông Sơn Thí Thực rất lớn gọi là để giải oan bạt mạng, cầu siêu cho anh hùng liệt sĩ, tai nạn giao thông, hoặc là cúng tế cô hồn. Vậy cúng trai đàn chẩn tế, Mông Sơn Thí Thực, cúng vong ở chùa khác nhau như thế nào? Ở những lễ cúng này con thấy trưng bày ra rất nhiều đồ ăn đủ thứ loại, đủ các loại bánh nước, nhiều vô số kể, sau khi cúng xong lại quăng rãi khắp nơi như vậy có lãng phí không? Có người bảo đó là đồ cúng cô hồn, không được ăn, họ đã vọc vào rồi, ăn vào sẽ bị cô hồn theo, vậy có đúng không? Con nghe nói là những người xuất gia các đồ cúng này là không được ăn vì là bất tịnh nhưng nếu ở chùa cúng hàng ngày thì chẳng lẽ sẽ bỏ đi hết sao? Phật tử tại gia có nên tổ chức những lễ cúng này không để có hiệu quả? Con xin cảm ơn Sư.

ĐÁP: I . Ý nghĩa trai đàn chẩn tế

Trước nhất chúng ta tìm hiểu về ý nghĩa trai đàn chân tế? Trai đàn là lễ hội cúng chay, chẩn tế là thí, cấp phát, phát chẩn gạo, thức ăn v.v..giúp người đói. Trong đạo Phật, lập đàn chẩn tế là một nghi thức cúng, để bố thí thức ăn cho cô hồn. Trai đàn chẩn tế còn là lễ hội “làm chay” bố thí cấp phát lương thực giúp cho người qua cơn bức ngặt đói khát, không còn thiếu thốn, ban phát thí thực cho cô hồn hưởng thọ, được no.

Trai đàn chẩn tế còn gọi là “trai đàn thủy lục” là một pháp hội cúng chay và cầu siêu cho những vong hồn người chết không có ai thờ tự, không có nơi nương tựa, đang sống vất vưỡng ở dưới nước và ở trên cạn.

Trai đàn chẩn tế còn gọi là trai đàn bạt độ. “Bạt” có nghĩa là nhổ lên, nhổ tận gốc rễ phiền não tham sân si, làm cho thế giới nhẹ nhàng thanh thản. “Độ” có nghĩa là vượt qua, thoát khỏi những chướng duyên mê si tăm tối, những sự việc xảy ra rắc rối hàng ngày, hằng giờ, hằng tâm niệm. Nhổ bật gốc rễ của lòng tham để vượt qua các nẻo luân hồi, đấy là mục đích chính của đạo Phật.. Giáo lý Phật dạy thì nhiều, gồm tam tạng thánh điển, như nấc thang từ thấp lên cao, từ giáo lý dạy cho Cư sĩ cho đến giáo lý dạy cho hàng xuất gia, từ tiểu thừa lên đại thừa, những giáo lý cao siêu đó, cuối cùng được đúc kết: “chỉ có một vị duy nhất là vị ly tham, vị giải thoát trần tục, xả bỏ vị kỷ, ích kỷ cá nhân mà sống chua, chia sẻ cùng cộng đồng…”

Các bậc Tổ sư xưa, trong đó có các bậc Thiền sư tu đắc đạo, các bậc Đại sư dạy tu niệm Phật, các bậc Pháp sư dạy niệm chú. Việc chủ yếu của ba nhà Phật học nầy là chế tác đấy đủ pháp môn tu, trong đó có tự lực và tha lực và cuối cùng Ngài Bất Động pháp sư. Ngài tu ở núi Mông Sơn, thời nhà Tống hoằng truyền phối hợp tự lực và tha lực gom thành một mối thành bài kinh gọi là Mông Sơn Thí Thực. Trong bài Mông Sơn có dạy niệm Kinh, niệm Phật, niệm chú, tạo thành một uy lực dũng mãnh đánh tan những tham sân si, những nghiệp lực của chúng sanh vạn lọai

Trai đàn chẩn tế thời xưa

Theo Ngài Đạo An (314-385), danh Tăng thế kỷ thứ IV thời Đông Tấn, hiện nay thuộc tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc thì tập tục cúng chẩn tế cho người chết không phải là tập tục của Phật giáo. Chỉ đến thế kỷ thứ VI, vua Lương Võ Đế (464-549) mộng thấy một vị Thần Tăng bảo rằng: “Bốn loại quần linh trong sáu đường bị khổ vô lượng, sao chẳng lập đàn Thuỷ lục mà phổ tế. Trong các công đức, đó chính là công đức lớn vậy.” Vua Lương Vũ Đế hỏi các sa môn, thảy đều không biết, riêng ngài Chí Công khuyên vua rộng tìm kinh luận ắt có nhân duyên. Vua bèn sưu tầm kinh bối diệp để ở điện Pháp Vân, sớm tối giở đọc. Y theo việc ngài A Nan gặp Diện Nhiên quỷ vương, vua thiết lập ý nghĩa bình đẳng hộc thực, chế tác nghi văn, ba năm mới xong, rồi cử hành Thủy lục trai đàn ở chùa Kim Sơn, thuộc Trấn Giang, Giang Tô, Trung Quốc ngày nay

Thời đại nhà Đường (618 – 907), đến nhà Tống (960-1279) bên Trung Hoa, mỗi đàn có một hay nhiều trai chủ đóng góp, cùng chung thực hiện.

Tại Việt Nam, sách Phật “Thiền uyển tập anh”: Tăng thống Huệ Sinh (-1064) đời vua Lý Thánh Tông (1023 – 1072), có để lại tác phẩm “Pháp Sự Trai Nghi” nói đến nghi thức chẩn tế.

Đến thế kỷ thứ XVIII sau khi chiến thắng quân Thanh vua Quang Trung (1753 – 1792), vua Gia Long (8/2/1762 – 3/2/1820) sau khi thống nhất sơn hà, đổi tên nước là Việt Nam, lên ngôi đem triều đình và trăm họ gom về một mối. Nhà vua liền tổ chức trai đàn bạt độ “tạo cho không khí chết chóc, cảnh tàn sát lẫn nhau” sự điêu tàn “khí chết” không còn quây quần bên triều đình dòng họ Nguyễn Phúc sau thời chiến.

Vào năm Giáp ngọ, Chúa Nguyễn Phúc Chu (1675-1725) cho tổ chức trai đàn tại chùa Linh mụ cầu cho quốc thái dân an, cho các quân lính tử trận được siêu thoát. Và vào những năm đầu thập niên 70, do chiến tranh gây ra nhiều cảnh chết chóc hãi hùng, khoa nghi chẩn tế được thực hiện rất nhiều, nhất là tại Huế. Hầu như tháng nào ở đây cũng có ít nhất một đàn.

Trai đàn tại các tự viện

Năm 1961 (Tân Sửu) tại Tổ Đình Linh Sơn, núi Bồng Lai, Đức Tôn sư Thiện Phước – Nhựt Ý cũng tổ chức lễ cầu an cầu siêu, trai đàn bạt độ 7 ngày. Cầu nguyện anh linh chiến sĩ, anh linh liệt sĩ, các chư vị, chư thần, trăm quan thần cựu hy sinh vì đại nghĩa, các vong hồn yểu tử, kẻ chết sông người chết suối, tại nạn trên không, dưới biển. Lễ chẩn tế rất quy mô có cả 4.000 tín đồ Phật tử tham dự ghi danh cầu nguyện, các đàn của các tự viện chùa Linh Sơn, Nhứt Nguyên bửu tự, chùa Phổ Hiền, chùa Phước Thiện An ở dưới thế cũng đăng sơn, rước các vong linh, thập lọai cô hồn câu hội nghe kinh, thọ hưởng phước lạc.

Tháng 7 năm Nhâm Dần (1962) Linh Sơn cổ tự do Hòa Thượng Thích Hồng Quang làm Trụ trì, gần chân núi Bồng Lai, hiện nay từ năm 2000 do Sư cô Thích nữ Hiếu Hạnh làm Trụ trì. Lúc bấy giờ Hòa Thượng tổ chức trai đàn bạt độ cầu siêu thập lọai cô hồn có khoảng 800 người tham dự, lúc bấy giờ Sư cũng tham dự làm công quả chuyển lương thực cho chùa. Một cuộc thí thực bao giờ cũng tốn kém, Phật tử phải sắm sanh bánh nếp, bánh cấp, bánh cúng, bánh tét, bánh ngọt, các lọai giấy vãng sanh, giấy tiền, giấy vàng bạc, tất cá các lọai bánh ngọt được sắp xếp lên đến hàng chục nia, các lọai trái cây xẻ sẵn, muối gạo, tiền xu, tiền đồng, tiền bạc cắc, tiền giấy được đổi thành tiền nhỏ được đặt vào các nia trống, tất cả đều được sắp xếp đặt lên giàn dựng thật cao khoảng 12 mét. Đến 12 giờ trưa ngày 14 tháng 7 năm đó, chư vị Pháp Sư, chư sơn thiền đức, chư Tăng đều lên trên giàn tác pháp, tụng kinh Mông sơn cho đến 15 giờ hồi hướng, đổ giàn. Dùng từ đổ giàn tức là xả lưỡi ông tiêu, thí các lọai bánh, tiền, trái cây đã cúng và được làm phép mở miệng cho các cô hồn ngạ quỷ đến nhận phần thọ thực, ăn uống. Người dương chủ yếu là trẻ em, thay mặt các gia đình người lớn đến xin lưỡi ông tiêu, xin bánh, nói là xin, chứ thật ra rất nhiều những hình ảnh chỉ là chụp giựt, ai giỏi thì lấy được nhiều, ai dở yếu hơn thì lấy được ít. Quan niệm của các vị là đem của thí nầy về nhà ăn sẽ hết bệnh, khỏi bị tà ma quấy nhiễu. Đây là truyền thống thí thực có từ thời nhà Đường, nhà Tống do chư Tăng bên Trung Hoa thực hiện.

Truyền thống chẩn tế trai đàn bạt độ vẫn còn giữ truyền thống tại chân núi Bồng Lai, Tổ Đình Linh Sơn (Bà Rịa Vũng Tàu), các nơi khác trong tông phong Tịnh Độ Non Bồng còn tác pháp như chùa Thiền Tịnh (Dakao 1964), Long Sơn cổ tự (Bình Dương), Quan Âm Tu Viện (Đồng Nai), Nhứt Nguyên Bửu Tự (Bình Dương), chùa Phước Thiện An (Tp.Hồ Chí Minh), chùa Phước Ân (Long An), chùa Phước An (Gò Công, Tiền Giang) hằng năm đều có cúng trai đàn bạt độ. Năm 1971, 1972 hai năm liền Đức Tôn sư tổ chức lễ trai đàn bạt độ cầu nguyện cho những người chết vì chiến tranh, mỗi lễ trai đàn tổ chức 7 ngày, mỗi ngày có khoảng 5.000 lượt tín đồ Phật tử khắp nơi về tham dự, ghi danh cúng kiếng cầu nguyện chư vong linh.

Cúng trai đàn chẩn tế có tâm vóc quy mô, quy tụ nhiều gia đình gọi là đại lễ. Cúng vong là nghi lễ các tự viện xưa cũng như nay cúng hàng ngày, hoặc ở gia đình có nhu cầu cúng kiếng, chỉ thỉnh một vị Thầy để chủ trì lễ cúng vong theo nghi thức Tiểu Mông Sơn.

Cúng vong còn là nghi lễ cúng kiếngg cầu siêu cho vong linh người thân vừa qua đời, cúng thất, tuần chung thất, cúng 100 ngày, cúng giáp năm, cúng mãn khó, cúng kỵ giỗ theo nghi thức cúng cửu huyền.

Lợi ích trai đàn chẩn tế

Cúng trai đàn chẩn tế xong các gia đình rất vui mừng vì đã làm được việc phước thí lớn lao. Việc tổ chức trai đàn có 2 ý nghĩa chánh:

Một là, giúp các gia đình Phật tử có dịp gặp nhau, làm việc phước thí theo tâm nguyện của ông bà, của gia đình. Việc cúng kiếngg đem lại lợi ích, đoàn kết hòa hợp trong các giới Phật tử, tuy là Phật tử nhưng ít gặp nhau, nay được gặp lại trong lễ cúng trai đàn làm việc bố thí, sinh khí đạo đức sanh khởi, mọi gia đình an vui, an cư lạc nghiệp.

Hai là tạo cho tâm Phật tử ngày càng được rộng lòng từ, biết thương yêu muôn loài vạn vật, muốn thấy nó sống, không muôn thấy nó chết. Việc trai đàn bạt độ, giúp cho Phật tử mở rộng tầm nhìn ngòai thế giới chúng ta đang ở còn có rất nhiều thế giới khác, thế giới vô hình, hai hình, có chân, không chân, nhiều chân, những chúng sanh khổ đau rất cần đến chúng ta. Người Phật tử tập lần xả bỏ những vị kỷ, những ích kỷ cá nhân, những pháp bất thiện như ích kỷ, cá nhân, hung bạo, dữ dằn lần lượt sẽ không còn, mọi người thương yêu nhau tạo cho tình nghĩa xóm làng được nhân rộng, hận thù tiêu tan, sự an lành luôn xuất hiện như trong thế giới nhà Phật.

Ba là, Đạo Phật tiếp nhận Phật sự trai đàn chẩn tế từ các vua chú thời nhà Đường, nhà Tống, đem đạo vào đời, gần gũi quần chúng, đạo đức tăng trưởng, giúp cho mọi người gần gũi nhau hơn, xóm làng an cư lạc nghiệp.

II. Người tu không ăn đồ cúng vong, cúng cửu huyền?

Nói chung là “người con Phật”, đây là sự tín ngưỡng có phần sâu sắc: “mọi người đều nghĩ có người bên kia thế giới, có cuộc sống bên kia thế giới, nên khi cúng kiếng cho chư vị bên đó, người cúng nghĩ rằng: mọi người bên kia thế giới đã “hưởng rồi”, trong dương gian thường nói là “hưởng mùi vị”, hay “hưởng hơi”, xúc thực. Do đó còn gì để mọi người bên đây ăn uống, nên nói không ăn là vậy.

Đứng về mặt đạo đức, người “dương thế”, mắt thịt phàm phu không ăn đồ cúng vì thức ăn đó không phải dành cho người “dương thế”, mà dành cho người bên kia thế giới được cúng. Đây cũng là một trong các lễ của nghi lễ cúng kiếng.

Nói thế thôi, chứ trong nhà của mỗi người Việt Nam nhà nào cũng có làm lễ giỗ, kỷ niệm những người đã khuất, gọi là cửu huyền thất tổ, những người được cúng giỗ đều được thờ chung với bàn thờ cửu huyền. Người Việt rất quan trọng lễ kỵ giỗ, thường là làm trâu, bò, làm heo, nhiều gà vịt để sau khi cúng ông bà xong, đãi bà con, xóm giềng. Làm gì thì làm, ngày cúng giỗ ông bà, mọi người không sợ tốn hao tiền của, nghĩa là gia chủ sẽ đem hết tấm lòng tốt của mình mà đãi khách, cho đến buổi chiều thức ăn không còn, gia quyến phải ăn thịt “xà bần”, tức là đồ ăn dư cũng không sao.

Chư Tăng Ni không thọ dụng đồ cúng vong, cúng cửu huyền. Lý do chư Tăng Ni thuộc bậc thọ Thiên Nhơn cúng, bậc Ứng cúng, tức là người được cung cấp dưỡng nuôi, cúng dường. Muốn dâng cúng chư Tăng Ni người cúng hết sức cung kính mà lễ bái dâng cúng dường phẩm vật, thức ăn. Do vậy đồ cúng vong, cúng cửu huyền rồi không bao giờ đem dâng cho chư Tăng Ni, đó là do lòng thành kính bổn phận, có truyền thống lâu đời của Phật tử, nên có câu:

Tín chủ cúng dường Phật Pháp Tăng

Chứng minh công đức nhờ Tam bảo

Chú tâm nguyện độ thiện duyên nầy

Tín chủ đời đời thêm phước báo.

Sở cầu sở ỳ đều thành tựu

Tín nhớ hạnh y nguyện trở về

Nay mới gieo nhơn nhơn chánh giác

Sau nầy chứng quả quả bồ đề.

(Bài học Khất sĩ)

Tại các chùa hằng ngày đều có lễ cúng vong, một là cúng thí thực, nhà Sư tụng Tiểu Mông Sơn thí gạo muối, nước sau thời công phu chiều (thí muối gạo, nước trước chánh điện), hai là cúng vong (những vị mới qua đời) nơi nhà cửu huyền. Tất cả những thức ăn cúng tại nhà cửu huyền, mỗi món một ít, sau khi cúng xong, do thời gian cúng lâu quá, thức ăn nguội lạnh, nên đem hấp lại cho nóng và đơm thêm thức ăn mới vào, dành đãi cho tín đồ Phật tử và mọi người cùng ăn rất quý và trọng thị. Riêng chư Tăng hoặc chư Ni khi thọ thực, bắt buộc phải cúng quả đường dâng cúng lên Phật và cập Tăng, thọ thực tại trai đường, do đó chư Tăng Ni không bao giờ gặp thức ăn cúng vong, cúng cửu huyền. Lý do không ăn đồ cúng là vậy.

Do nền nếp sinh họat của giáo đoàn và các tự viện, tịnh xá như trên, nên không có câu nói: “người xuất gia không ăn đồ cúng.” Chúng ta cũng không nên gán ghép cho người xuất gia thành ngữ “chư Tăng Ni không ăn đồ cúng”, một câu nói có thể làm mất tinh thần lục hòa, chưa thật sự tôn kính chư tôn đức Tăng già và giáo đoàn của Phật.

Thành kính là phước báo

Quên mình là cội phước

Cầu xin cho tín chủ

Mau đắc quả thanh tịnh

HT Thích Giác Quang

【#8】Thực Đơn Món Chay Cho Ngày Giỗ Nên Cúng Món Nào Cho Hợp Lý Nhất?

1. Nét đẹp đằng sau thực đơn món chay

Là người dân Việt Nam, không mấy ai không biết đến phong tục cúng giỗ ông bà, tổ tiên hay những người đã khuất. Mọi người thường tổ chức cúng vào những ngày lễ Tết, hay những ngày giỗ. Đây không chỉ là một nét đẹp văn hóa của con người Việt Nam, mà còn thể hiện được sự thành kính, tôn trọng dành cho người đã khuất. Bởi vậy, tập tục cúng giỗ tổ tiên thực chất bắt nguồn từ lòng thành kính, báo hiếu ông bà, cha mẹ của con người.

Việc cúng giỗ có ảnh hưởng rất lớn đến vong linh của người đã khuất. Chính vì thế, việc lựa chọn thực đơn món chay cho ngày giỗ là điều vô cùng quan trọng. Trong mâm chay cúng giỗ, người ta lựa chọn những món ăn chay bởi rất nhiều lý do khác nhau. Một phần vì để tâm hồn của mình được thanh tịnh, an nhiên. Phần còn lại, cũng là phần lớn để tránh liên can đến linh hồn của người đã khuất. Nếu như trong ngày cúng giỗ mà chúng ta còn sát sinh thì ảnh hưởng rất lớn đến linh hồn. Trong trường hợp người thân của bạn đang bị mắc ở một nơi nào đó và chưa được đầu thai, mỗi lần con cháu sát sinh, họ lại phải chịu thêm nghiệp. Vậy nên, thực đơn món chay ngày giỗ là điều tất yếu.

2. Những món không thể thiếu trong thực đơn món chay cho ngày giỗ

Thực đơn món chay vô cùng phong phú và đa dạng. Thế nhưng, trong thực đơn món chay cho ngày giỗ bạn không thể thiếu những món ăn chay truyền thống, đặc trưng. Đó là những món ăn chay nào? Chúng ta không thể không kể đến các món như: giò lụa chay, xôi chay, cháo chay, nem chay.

Nem là một món ăn rất quen thuộc trong những thực đơn các món cỗ, cúng, giỗ, lễ tết thông thường. Ở thực đơn các món chay ngày giỗ, nem được làm chủ yếu từ nguyên liệu là các loại nấm, rau củ quả. Chúng mang lại được vị đậm đà, tự nhiên nhưng cũng không mất đi hương vị đặc trưng của vị nem chay thông thường. Mặc dù chúng không được làm từ thịt, tôm, trứng như các loại nem mặn khác.

Giò lụa chay là một món ăn chay trong mâm cỗ giỗ được làm từ các nguyên liệu rất đơn giản. Nguyên liệu chính và chủ yếu là phù trúc và váng đậu. Cách làm chúng cũng không có gì khó khăn lại tốn ít thời gian. Đây là một trong những món ăn rất phù hợp trong thực đơn món chay cho ngày giỗ.

Từ xưa đến nay, món chay vẫn là món luôn được nhắc đến đầu tiên trong các dịp lễ, tết hay cúng ông bà, tổ tiên. Bạn có thể lựa chọn rất nhiều nguyên liệu để làm nên món xôi chay. Tuy nhiên, xôi đậu xanh vẫn là món được yêu thích và dùng nhiều nhất. Ngoài ra, nhiều gia đình cũng biến tấu món xôi này thành các món như xôi dừa, xôi ngô…

Một bát miến chay sẽ giúp cho thực đơn món chay cho ngày giỗ của bạn thêm đủ đầy. Thông thường, mộc nhĩ và thịt chính là nguyên liệu chính để làm nhân miến. Đối với những món miến chay, để chúng ngon hơn bạn có thể thay thịt bằng các loại nấm hay các loại rau củ quả.

3. Gợi ý một vài mâm cỗ chay cho ngày giỗ đơn giản

Để có được một thực đơn món chay đám giỗ hoàn chỉnh, trước hết, bạn cần phải chuẩn bị những món ăn chay nhất thiết phải có trong mâm cỗ. Sau đó, tùy vào sở thích của từng người cũng như điều kiện của từng gia đình mà bạn có thể làm thêm các món chay khác. Điều này làm phong phú và đa dạng hơn cho thực đơn chay ngày giỗ của bạn.

Trong mâm chay cúng giỗ 1, Iseeacademy.com muốn giới thiệu đến các bạn những món chay sau: Cơm sen thập cẩm, xôi chay cốm dừa, nấm sốt xì dầu, salad hoa quả, đậu hũ non chiên xù, rau củ xào thập cẩm, đậu sốt cà chua, canh chay, chè hạt sen long nhãn, chè bơ, bánh trôi nước nhân đậu xanh.

Bạn có thể chuẩn bị các món chay sau đây trong mâm chay ngày giỗ: xôi cốm hạt sen dừa, đậu sốt nấm, phở cuốn rau, salad hoa quả, mó xào thập cẩm, cơm sen, nấm rơm kho xả ớt, bánh bí đỏ nhân đậu xanh, canh nấm chay…

Các món ăn chay như: nem chay, đậu sốt cà chua, khoai tây chiên, giò chay, chả chay, salad hoa quả, canh chua, ớt xào, chè đậu đỏ, rau xào thập cẩm…là những món ăn chay trong thực đơn chay ngày giỗ mà Iseeacademy.com muốn giới thiệu đến bạn.

Như vậy, Iseeacademy.com đã cùng bạn tìm hiểu xong về thực đơn món chay cho ngày giỗ. Với thực đơn như vậy, chắc chắn bạn sẽ có một mâm cỗ giỗ hoàn chỉnh với sự phong phú và đa dạng các món chay.

Ghi rõ nguồn bài viết ẩm thực chay Việt Nam khi Copy từ website này!

An Nhiên – Đam mê ẩm thực chay, kiến thức chay và phật pháp. Tôi tạo website này muốn chia sẻ tới mọi người kiến thức ăn chay, cách làm món chay ngon nhất..

【#9】Văn Khấn Cúng Bốc Bát Hương Mới

1. Sắm lễ vật thay bàn thờ, bốc bát hương

– 1 chân giò trước làm sạch luộc chín,

– 5 quả trứng gà ta (để sống) 2 lạng thịt vai (để sống), lễ xong phải luộc chín luôn

– 1 đĩa gạo mối (không trộn lẫn),

– 1 lạng chè ngon + 1 bao thuốc lá,

– 1 bộ quần áo quan thần linh đỏ, hia, mũ, ngựa đỏ, kiếm trắng,

– 1 mâm cơm canh (không hành tỏi).

2. Bốc bát hương

Chọn bát hương đáy lồi lên phía miệng, hai đầu rồng chầu vào một thái cực. Rửa sạch bát hương bằng nước sạch, để khô. Lấy một lễ vàng tiền lau trong ngoài, xong hoá lễ đó, tay cầm bát hương úp xuống, ngón tay cái bịt mắt hai con rồng hơ quay 3 vòng trên lửa vàng tiền. Bốc toàn bộ tro tiền bỏ vào bát hương (đấy là cốt), cho một viên ngọc có màu tương sinh với cung Sinh của mệnh chủ vào đáy bát hương (chọn ngọc có hình đồng tiền càng tốt). Cho tro rơm nếp vào, không được vỗ hay ấn.

3. Cách bày bát hương

Để bát hương cách tường 5cm, bát hương thần linh ở giữa, bát hương gia tiên bên tay trái (theo chiều từ trong tường nhìn ra), bát hương bà tổ cô ông mãnh bên tay phải. Các bát hương cách nhau 10cm đến 15cm.

Cách thắp hương: Bát hương thần linh thắp 9 nén hương, hai bát hương còn lại thắp 5 nén hương. Hết tuần hương này thì thắp thêm một tuần nữa, mỗi bát chỉ cần 3 nén. Khi cháy hết hương nếu hương thông thì được việc, nếu tắt hương là việc không thành. Nếu chân giò hoặc thịt cúng xong có mùi thơm như mùi cơm nếp là rất tốt (Có mùi tanh thì phải làm lễ hoá giải).

4. Văn khấn bốc bát hương mới

Con lạy chín phương trời mười phương Phật. Con kính lạy các chư vị thần linh, hiển linh, hiển pháp, pháp thuật vô biên.

Hôm nay là ngày …. tháng …. năm ….

Tên con là ………… (Tín chủ của ………. địa chỉ ………..)

Con làm lễ bốc bát hương mới (thay bàn thờ mới), mục đích con xin cầu………, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, ăn nên làm ra, cầu được ước thấy, vạn sự như ý.

Con xin kính lạy các cụ tổ tiên nội ngoại sống khôn thác thiêng, hôm nay con làm lễ bốc bát hương mới (thay bàn thờ mới), kính xin các cụ về phù hộ độ trì cho con cho cháu mạnh khoẻ, an ninh khang thái, mọi việc được hanh thông.

Con kính lạy các bà cô tổ ông mãnh nội ngoại sống khôn chết thiêng cho con cầu ……………………

Cúng xong, hương cháy hết đợt thứ nhất, sau khi thắp đợt thứ hai thì bắt đầu hóa tiền vàng, tờ văn khấn. Vãi gạo, muối ra trước cửa ngõ (vãi riêng từng thứ). Lúc tàn hết hương thì xin hạ lễ. Lúc tàn hết hương thì xin hạ lễ, đem thịt và trứng sống luộc chín.

【#10】Bài Văn Khấn Cúng Lễ Đổ Bê Tông (Cất Nóc)

Tổng hợp những bài văn khấn, bài cúng cất nóc, đổ mái nhà.

Làm nhà, xây nhà là một trong những việc quan trọng nhất của một đời người. Để việc xây dựng được diễn ra thuận lợi, các thành viên sống trong nhà được khỏe mạnh, mọi sự tốt lành thì từ khi chuẩn bị làm nhà đều phải xem ngày tốt, chọn giờ Hoàng Đạo để tiến hành.

Một ngôi nhà từ lúc khởi công cho đến lúc hoàn thành được phân chia thành nhiều giai đoạn khác nhau. Mỗi giai đoạn đều quan trọng và được gia chủ lưu tâm từ việc tìm ngày giờ tốt, chuẩn bị lễ vật cúng, văn khấn… để mong thần linh và gia tiên chứng giám, phù hộ độ trì.

Cúng Cất nóc, đổ mái là khâu cuối cùng trong việc hình thành lên một khung nhà hoàn chỉnh, không có nóc thì không thành nhà, nên lễ cúng cất nóc là vô cùng quan trọng. Để lễ cất nóc diễn ra thành công, thì gia chủ cần chọn được ngày giờ tốt, phù hợp với tuổi, sau đó chuẩn bị các thủ tục cúng cất nóc, đổ mái nhà sao cho thành tâm và đúng nghi thức nhất.

Lễ cất nóc hay còn gọi là lễ Thượng lương, khi làm lễ này, gia chủ cần sắm lễ và chuẩn bị văn khấn đổ mái nhà như sau.

Nam mô a di Đà Phật

Nam mô a di Đà Phật

Nam mô a di Đà Phật

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương

Con kính lạy Hoàng thiên Hậu thổ chư vị Tôn thần

Con kính lạy quan Đương niên

Con kính lạy các tôn thần bản xứ.

Tín chủ (chúng) con là: ………

Ngụ tại: ………

Hôm nay là ngày ….. tháng ……… năm ……

Tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương, dâng lên trước án, có lời thưa rằng: Vì tín chủ con khởi tạo …………….. cất nóc căn nhà ở địa chỉ: …………… ngôi dương cơ trụ trạch để làm nơi cư ngụ cho gia đình, con cháu.

Nay chọn được ngày lành tháng tốt, kính cáo chư vị linh thần, cúi mong soi xét và cho phép được động thổ (cất nóc, chuyển nhà, sửa chữa, mở cổng, xây thêm…)

Tín chủ con thành tâm kính mời:

Ngài Kim Niên Đường cai Thái Tuế chí đức tôn thần,

ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại vương,

ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa,

ngài Định phúc Táo quân,

các ngài Địa chúa Long Mạch tôn thần và tất cả các vị Thần linh cai quản trong khu vực này.

Cúi xin các Ngài, nghe thấu lời mời, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho chúng con được vạn sự tốt lành, công việc hanh thông, chủ – thợ được bình an, ngày tháng hưởng phần lợi lạc, âm phù dương trợ, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

Tín chủ lại xin phổ cáo với các vị Tiền chủ, Hậu chủ và các vị Hương linh, cô hồn y thảo phụ mộc, phảng phất quanh khu vực này, xin mời các vị tới đây thụ hưởng lễ vật, phù trì tín chủ, cũng như chủ thợ đôi bên khiến cho an lành, công việc chóng thành, muôn sự như ý.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật

Nam mô a di Đà Phật

Nam mô a di Đà Phật

Nội dung của bài khấn đổ mái nhà tầng 3, bài khấn đổ mái nhà tầng 2 cũng tương tự như bài cúng đổ mái tầng 1. Gia chủ chỉ cần thay đổi nội dung phần tầng sẽ đổ mái trong bài văn cúng cất nóc nhà là được. Khi thực hiện khoa cúng cất nóng, gia chủ có thể viết thêm sớ đổ mái.

Nếu gia chủ cảm thấy bài cúng lễ đổ trần nhà dài và không thể nhớ ngay lập tức thì có thể viết, hoặc in bài văn khấn lễ cúng cất nóc nhà ra giấy rồi đọc. Trước khi đọc văn khấn lễ đổ mái cất nóc, đổ trần nhà, gia chủ cần tắm gội sạch sẽ, áo quần tề chỉnh, thành tâm kính lễ.

Cũng giống như khi đọc các bài văn khấn khác, khi đọc bài khấn đổ trần cất nóc, bạn không nên đọc to thành tiếng mà chỉ nên đọc lầm rầm vừa đủ cho chính mình nghe. Tốc độ đọc bài văn cúng đổ mái nhà cũng không nên quá nhanh hoặc quá chậm mà nên vừa phải.

Trong trường hợp gia chủ không được tuổi làm lễ cất nóc mà mượn tuổi làm lễ thì việc đọc văn cúng đổ trần nhà, văn khấn gác đòn dông sẽ được chuyển cho người được mượn tuổi thực hiện. Trong trường hợp này, bạn cần lưu ý, phần tên tín chủ trong bài văn khấn cất nóc lễ đổ trần nhà sẽ là tên của người được mượn tuổi.

Trên đây là những thông tin chi tiết về ý nghĩa của lễ cất nóc nhà, cách xem ngày tốt đổ trần nhà theo tuổi, các lễ vật cúng đổ mái nếu như bạn chưa biết lễ cúng cất nóc nhà cần gồm những gì, cùng với nội dung bài cúng đổ trần nhà tầng 1, văn khấn đổ trần tầng 2, tầng 3 đầy đủ nhất.

Hi vọng với bài khấn đổ mái nhà tầng 1, bài cúng lễ cất nóc và những đồ cần sắm lễ đổ mái nhà, thủ tục làm lễ đổ trần trong bài sẽ giúp gia chủ giải đáp được câu hỏi cất nóc nhà có phải cúng không và chuẩn bị thật tốt để nghi lễ cúng đổ mê tầng 1 tiến hành suôn sẻ.