【#1】Tìm Hiểu Về Hai Sao Cô Thần Và Quả Tú Qua 12 Cung

Như vậy chắc là hai sao Cô Quả chiếu mạng, Thân toàn là xấu chăng? Tôi xin thưa ngay là không. Nếu quý bạn gặp trường hợp Cô Quả hội đủ bộ sao tốt, quyền quí như bộ Tử, Phủ, Vũ, Tướng, Quang Quý, Long Phượng, Khôi Việt, Khoa, Quyền, Lộc… thì phải nói rằng Cô Quả đã đứng đúng chỗ, đã có môi trường làm cho công danh của mình lên cao mạnh mẽ. Đó là cách vua chúa, lãnh tụ, chỉ huy (vua chúa ngày xưa, nhất là trong các truyện Tàu, thường tự xưng là cô- gia hoặc quả-nhân), nhưng có điều là độc tài thái quá vì hai sao Cô Quả lúc đó chủ về “duy ngã độc tôn” rồi. Còn vấn đề cô đơn thì gần như không có xẩy ra, vì Cô Quả đã có môi trường khác (vua chúa ngày xưa có bao nhiêu cung tần mỹ nữ không có lẽ còn bị cô đơn).

Cô Quả tại Phụ Mẫu

Nhiều vị đoán tử-vi cho rằng hai sao này khi ở cung Phụ Mẫu có nghĩa là cha mẹ ít khi sống gần nhau hoặc dễ bị ly di, nhưng theo kinh nghiệm riêng tôi nhận thấy trường hợp cung Phụ Mẫu có Cô Quả thường chủ về:

– Cha hoặc mẹ ít anh em trai (không kể gái), nhất là khi có thêm Vũ Khúc hoặc Lộc Tồn đồng cung. Nếu có Thái Dương đồng cung thì chắc chắc cha ít anh em trai, nếu có Thái Âm thì chính mẹ ít anh em trai.

– Cha hoặc mẹ là con trưởng trong gia đình, trong trường hợp có nhiều em trai, nhất là khi có Tử-Vi hoặc Thiên Phủ hội Hóa Quyền hoặc Khôi Việt đồng cung. Về điểm muốn phân biệt cha hoặc mẹ thì có vị cho rằng khi Tử-Vi hoặc Thiên Phủ cư cung Dương thì cha là con trưởng, còn cư cung Âm là mẹ. Tuy nhiên điểm này tôi nghiệm thấy không đúng mấy. Chỉ dễ đoán khi có Nhật hay Nguyệt. Nếu 4 sao trên đều không có thì hơi bí.

Cô Quả tại Phúc Đức

Về cung này, các sách đều nói là trong giòng họ hiếm người nhưng tôi nghiệm thấy nhiều trường hợp không phải hiếm người, mà thực ra vì dòng họ phân tán đi các nơi nên mới hiếm, hoặc là có trường hợp không phân tán thì mạnh ai người ấy sống, chẳng ai giúp ai được việc gì, anh em “kiến giải nhất phận”. Ngoài ra, tôi cần nói thêm rằng nếu có thêm Đào Hồng, Nhật Nguyệt hội chiếu thì phải đoán rằng trong dòng họ có nhiều đàn bà hiếm con trai, hoặc sống trong cảnh góa bụa, độc thân suốt đời. Tôi chưa nghiệm được sao gì thì chủ về đàn ông trong giòng họ bị như vậy, tuy có vị cho rằng khi có Nam Đẩu Tinh (chính tinh) thì chủ về đàn ông, nhưng nhiều khi sai.

Cũng vì 2 sao này có ý nghĩa nêu trên, cho nên khi cung Phúc Đức của mình nếu có Cô Quả thì tuyệt đối mình không nên sống chung đụng với họ hàng, kể cả anh em ruột thịt để tránh sự hiềm khích, va chạm có thể đi tới chỗ tuyệt tình. Ở xa thì 2 sao này đã có môi trường hoạt động nên trong giòng họ có thể thuận hòa với nhau được, tuy không ai hết lòng với ai.

Cô Quả tại Điền Trạch

Thường thường trong các sách tôi đã có dịp đọc, tôi nhận thấy sách nào cũng chỉ nói rằng: Cô Quả rất lợi ích cho cung Điền và Tài (Cô Quả yếu thủ Điền Tài) mà thôi, nhưng tôi cho rằng cần phải phân biệt như sau để biết lợi hại ra sao:

– Nếu Cô Quả hội với nhiều sao tốt như Vũ Khúc, Thiên Phủ, Hóa Quyền, Long Phượng, Thai Tọa, Khôi Việt, Đào Hồng (nhưng cần Mệnh là Hỏa hoặc Thổ mới tốt) thì có nghĩa là mình có biệt thự khang trang, nguy nga, đồ sộ, có vườn cây xung quanh, ở nơi thanh tịnh, biệt lập, vì Cô Quả lúc đó ứng vào cô-gia, và vẫn có nghĩa giữ vững được nhà cửa lâu dài. Như thế mới thực là tốt đẹp. Cũng có khi ứng vào việc mua bán nhà với một người góa, hoặc được thừa hưởng tài sản nhà cửa của chú bác, cô dì không có con thừa tự (với điều kiện cung Điền có chính tinh tốt và hợp mệnh, đồng thời không bị Tuần Triệt án ngữ).

– Còn trường hợp Cô Quả hội với các sao xấu, hãm địa, khắc Mệnh và cung Mệnh Thân, Tài Quan cũng không được tốt thì thực là bất hạnh, nghĩa là mình phải ở một căn nhà lụp xụp, vừa ở nơi hẻo lánh, xa xôi (vùng ngoại ô chẳng hạn), mà lại không bao giờ bán đi được, như thế chứng tỏ là mình nghèo hèn suốt đời. Vì vậy đừng có thấy Cô Quả cư Điền đã vội mừng.

Cô Quả tại Quan Lộc

Tôi không thấy trong các sách Tử-vi nói đến Cô-Quả ở cung Quan-Lộc một cách rõ rệt, do đó tôi lấy kinh nghiệm riêng mà bàn với quý bạn như sau:

– Bình thường Cô Quả ở cung Quan chủ về soi mình làm việc không có những người đồng liêu hoặc đồng nghiệp, đồng chí hướng với mình, mà đa số đều ích kỷ, hay giấu nghề, giấu việc. Nếu không thì chính những người trên của mình đều khắt khe, tỉ mỉ quá làm cho mình mất hết tự do, sáng kiến. (gặp trường hợp này mà xin thăng cấp, tăng lương chắc là hơi khó và hơi lâu).

– Bù lại, nếu Cô Quả gặp các sao quyền quý như Khoa Quyền Lộc, Tướng Ấn, Long Phượng, Quang Quý, Thai Tọa, Khôi Việt, Tả Hữu… thì lại rất tốt, như thế có nghĩa là mình làm chức lớn ngồi riêng một văn phòng đẹp đẽ, khang trang. (như bây giờ có máy lạnh là cái chắc), không phải ngồi chung với nhân viên, có điều gì cần là bấm chuông gọi.

Cô Quả tại Nô Bộc

Thường thường cung Nô Bộc nếu có bộ sao Cô Quả chiếu được giải đoán như sau:

– Nếu không hội với nhiều sao tốt, mình nên dùng những người dưới quyền góa bụa, độc thân, thì họ trung thành hơn. Nhất là trường hợp có thêm Thiên Hình, Đẩu Quân thì lại càng chắc chắn hơn nữa, nhưng những người này cần phỉa có mang tật gì ở thân thể (như vết thẹo ở mặt, chân, tây, mắt lé, thọt chân…) thì họ sẽ trở thành những người dưới quyền có lương tâm, làm ăn cẩn thận.

– Nếu hội với nhiều sao tốt, nhất là có thêm Hóa Quyền, thì người dưới tay, hay âm mưu phản phúc, lấn quyền một cách khéo léo, gián tiếp (vì lúc đó Cô Quả chủ về thâm trầm, ích kỷ, kín đáo…)

– Nếu hội với Nhật Nguyệt, lúc mình sa cơ thất thế, chẳng có đàn em nào giúp đỡ, đoái hoài tới, nhất là có thêm Hóa kỵ mà không có sao nhân hậu hội chiếu như Thai Tọa, Tả Hữu, Quan Phúc.

Cô Quả tại Thiên Di

Thường thường những người có địa vị cao trong xã hội ít khi có sao Cô Quả chiếu Thiên Di, vì những sao này chủ về vấn đề ít giao thiệp, ít người cộng tác, hoặc cùng nữa là chính mình không ưa giao thiệp rộng một điều trái ngược với cách làm lớn. Ngoài ra, về phương diện tình cảm, nếu Cô Quả chiếu Thiên Di lại hội với Đào Hoa, Hóa Kỵ thì hết hy vọng chinh phục được những người khác phái, dù cho mình đẹp trai hoặc có nhan sắc diễm lệ (đối với nữ) chăng nữa. Tôi đã từng được coi những người mệnh có nhiều sao thu hút được người khác phái (như Tham Lang, Đào Hồng Hỷ, Quang, Quý, Thanh Long….) mà lúc nào cũng bị thất bại trong vấn đề chinh phục người yêu, chỉ vì cung Thiên Di có Cô Quả (I) có chàng chinh phục được thì lại bị người yêu bỏ đi lấy chồng, vì gia đình bắt buộc, có nàng làm cho ý trung nhân say mê mình được thì đùng một cái bị một cô khác đẹp hơn cướp mất chồng tương lai của mình…, Vì vậy thanh thiếu nên nam nữ bây giờ nếu muốn có tài ” thu hút” ở ngoài xã hội thì phải tránh được hai sao Cô Quả chiếu Thiên Di. Thà rằng hai sao này chiếu Mệnh còn đỡ hơn, vì như thế mình chỉ cô đơn khi ở nhà, còn khi bước chân ra ngoài là ” hấp dẫn” (Nếu Thiên Di có Đào Hoa chẳng hạn).

Cô Quả tại Giải Ách

Vì Cô Quả là các sao tiết chế, giới hạn nên khi chiếu cung Giải Ách lại thành ra hay, có nghĩa là mình ít bệnh tật, tai nạn, nhất là khi hội với Thiên Không lại càng tốt thêm nữa. Tuy nhiên, vì hai sao này vẫn có tính cách, duy trì, gìn giữ nên mình vẫn dễ bị những bệnh tuy không hiểm nghèo nhưng triền miên suốt đời mà người ngoài không nhận thấy. Thí dụ như hội với Hóa Kỵ (tượng trưng cho bộ tiêu hóa, ruột) lại thêm Song Hao thì nhất định phải đeo bịnh đau bụng, khó tiêu, no hơi lu bù, vì Cô Quả dù là Hỏa hay Thổ cũng đều không hợp với Hóa Kỵ, là thủy và Song Hao nếu có là thủy chăng nữa vẫn không hợp với Cô Quả là Thổ ( thường thường ta đều cho rằng Song Hao thuộc Hỏa, và nếu như vậy còn hùa với Cô Quả khác Hóa Kỵ nữa). Ngoài những điểm trên, Cô Quả chiếu Giải Ách còn chủ về vấn đề ưu tư trong thâm tâm, những nỗi buồn xa xôi mà chỉ có tiềm thức của mình mới nhận thấy, và nhiều khi mình lại khó khăn với chính mình.

Cô Quả tại Tài Bạch

Trong khi Hóa Khoa được tôn là đệ nhất giải thần, thì Cô Quả được tôn là thần giữ của, cho nên ở cung Tài Bạch là hợp. Đó là một nhân định chủ quan quá, vì tôi đã nghiệm thấy những người muốn buôn to bán lớn cần phải có sự hùn hạp, cộng tác với người khác về tiền tài nếu có Cô Quả thì cứ khư khư giữ tiền làm sao có thể khuếch trương lớn, như vậy chỉ có thể giới hạn trong một tiệm buôn nhỏ hoặc một lãnh vực thu hẹp mà thôi. Nếu may ra có Phá Quân (cư Tý Ngọ mới tốt) hoặc Song Hao hội chiếu lại rất hay, vì như thế mỗi khi mình muốn tung tiền ra kinh doanh, bao giờ cũng chắc ăn, thận trọng nhờ sao Cô Quả.

Tuy nhiên, đối với những người không có óc thương mại, nếu Cô Quả lại hội với Thiên Phủ, Vũ Khúc (đều tượng trưng cho kho chứa). Tướng Ấn, Tả Hữu, Thai Tọa… thì lại chủ về những người chuyên về giữ tiền bạc, tài chánh (nếu có thêm Song Lộc và một số cách tốt nữa có thể làm chủ ngân hàng). Nếu quý bạn làm giám đốc xí nghiệp, học cơ quan nào, nên giao cho những người có cách này giữ két bạc thì chẳng sợ thất thóat, sai lầm với điều kiện đừng có Hỏa Linh, Không Kiếp đi với Tham Lang chiếu cung Tài Bạch của những người đó.

Cô Quả tại Tử Tức

Chiếu cung Tử Tức,Cô Quả thường chủ về một trong những điểm như sau (ít khi ứng nghiệm cùng một lượt):

– Con cái lúc mới sinh, nhất là đối với đứa đầu lòng, hay bị bịnh tật, tai nạn làm cho cha mẹ phải vất vả, lo âu. Nhưng khi lớn lên thì vẫn dễ nuôi nếu không có thêm hung sát tinh. Về điểm này có câu phú “Cô thần, Quả tú hai sao, gian truân vất vả về hài nhi sinh”.

– Sinh con trễ, nghĩa là sau khi lập gia đình thường thường không thai nghén liền, mà ít ra cũng phải nhiều tháng sau mới có tin mừng.

– Thận trọng và hay kiêng cữ để tiết giảm sinh đẻ. Nhưng cặp vợ chồng nào có Cô Quả tại cung Tử Tức, có thể áp dụng mọi phương pháp hạn chế sinh đẻ một cách hữu hiệu mà không trái số. Nếu thêm nhiều sao xấu đừng kiêng cữ nữa kẻo bị tuyệt tự.

– Nếu có nhiều sao văn học, quyền quý, con cái khi lớn lên hay ở xa cha mẹ, vì chức vụ, hoặc ngay trong thời gian đi học cũng dễ xuất ngoại hoặc ở nội trú.

Cô Quả tại Thê Thiếp (hay Phu Quân)

Cũng giống như trường hợp tại cung Phụ Mẫu, Cô Quả ở cung Thê Thiếp (hay Phu Quân) chủ về người vợ (hay chồng) ít anh em trai hoặc làm con trưởng trong gia đình. Ngoài ra hai sao này còn có nghĩa là vợ chồng, hay có thời gian xa cách nhau. Nếu có sao tốt là vì công vụ nghề nghiệp, nếu có nhiều sao xấu vợ chồng có thể bị cảnh chia ly vĩnh viễn. Trong trường hợp có sao tốt mà vợ chồng không bao giờ xa cách nhau thì phải hiểu rằng vợ chồng giữ gìn nhau rất chặt chẽ, khó lòng có chuyện ngoại tình nổi và nhất là cả đôi bên cùng độc đoán, cương quyết và đa nghi. Nếu có Đào Hồng đồng cung thì rất có thể gặp phải người dở duyên (nghĩa là có vợ hoặc chồng rồi) đang ở góa. Trường hợp Đào Hồng tại Mệnh Thân thì rất khó kết hôn sớm hoặc có sớm được cũng không bền, như sương đọng ban mai mà thôi. Đây mới đúng là cách “trăm mối tối nằm không”.

Cô Quả tại Huynh Đệ

Về cung này tôi chưa tìm ra được điều gì khác lạ, chỉ có điểm là anh em không nên sống gần nhau, hoặc phải có người sống xa cách hoặc vì ngoại cảnh gây nên (như vấn đề di cư khiến cho anh em kẻ nam người bắc chẳng hạn). Ngoài ra hai sao này cũng tiết chế bớt số anh em, chị em. Nếu có Đào Hồng, Thiên không thì chị em gái dễ bị dang dở, trắc trở nhiều lần về hôn phối, hoặc lấy chồng không cưới hỏi.

Trước khi chấm dứt bài này tôi thấy cần nêu ra một điểm nữa: nhiều người nhờ tôi coi dùm tử – vi có thành kiến xấu về hai sao Cô Quả đến mức là khi thấy tới Đại Tiểu Hạn có Cô Quả chiếu là đâm lo về vấn đề chia ly, cô đơn, hạnh phúc vợ chồng xáo trộn. Thậm chí có những quân nhân thấy gặp hạn Cô Quả là lo bị cắm trại 100% thực sự, bị đổi đi xa, bị giam giữ tại quân lao v..v…

Kể ra họ lo ngại như thế cũng đúng vì ít khi gặp hai sao này ở đại tiểu nguyệt hạn mà thật yên lành, ngoại trừ trường hợp có nhiều sao tốt hội chiếu thì có nghĩa là mình có chức lớn được ở phòng riêng (như đã nói ở cung Quan Lộc), được chính phủ cấp nhà ở, hoặc mình tạo được nhà ra ở riêng không sống chung với cha mẹ, anh em nữa, tùy theo trường hợp đại tiểu hạn liên hệ tới cung nào (về điểm này nên kết hợp địa bàn với thiên bàn mới đúng). Ngoài ra, dù biết rằng mình bị ảnh hưởng xấu của hai sao này rồi vẫn còn phải xét tới ngũ hành, nghĩa là xem Cô Quả (Thổ) nếu sinh mạng mình (như Kim chẳng hạn) hoặc khắc mạng mình (như Thủy) thì mới đáng ngại, còn trường hợp mạng mình khác hai sao đó thời vấn đề cô đơn, chia ly không còn đáng ngại nữa. Nếu mạng mình sinh hai sao là xấu nhất, thì mình đã bị tiết khí nhiều lại còn bị hai sao đó quặt ngược trở lại, thì kể như chắc chắn cô đơn, chia lìa nếu Mệnh Thân có thêm cách khắc khổ, cô độc (như có Vũ Khúc, Lộc Tồn, Kiếp Sát, Thái Tuế..v..v…).

【#2】Ý Nghĩa Ngày Rằm Tháng 6 Trong Phật Giáo Nam Tông

Ngày Rằm tháng Sáu, có lẽ đối với người Việt Nam thì chỉ là một ngày Rằm bình thường, chẳng có chút gì gọi là quan trọng, nếu không nói là quá xa lạ với người Việt chúng ta.

Tuy nhiên, với Tăng Tín đồ Phật Giáo Nam truyền, ngày Rằm tháng Sáu có rất nhiều ý nghĩa quan trọng trong cuộc đời lịch sử và hoằng pháp của Đức Phật. Ngày Rằm tháng Sáu còn được gọi là ngày Āsaḷhapūjā.

Pūjā nghĩa là tôn kính, quý kính, còn có nghĩa là sự dâng cúng, cúng dường. Ở đây, Pūjā còn có nghĩa là ngày lễ lớn. Āsaḷha là tên một tháng trong lịch của Ấn Độ. So với âm lịch Việt Nam, Āsaḷha tương ứng với tháng Sáu.

Āsaḷhapūjā là ngày lễ Rằm tháng Sáu, ngày kỷ niệm trọng đại một lúc bốn sự kiện lịch sử:

1/ Bồ tát giáng trần

2/ Bồ tát xuất gia

3/ Ðức Phật chuyển Pháp Luân

4/ Ðức Phật thị hiện song thông nhiếp phục ngoại đạo

5/ Và sau ngày này, chư Tăng phật giáo Nam truyền bắt đầu mùa An cư Kiết hạ.

Mơ màng ứng hiện mộng lành

Uy nghiêm bạch tượng hóa thành thánh thai

Theo Buddhavaṃsa (Phật sử), Bồ tát tu hạnh Trí tuệ phải thực hành pháp độ khoảng 20 A tăng kỳ và 100 ngàn đại kiếp. Tiền kiếp của Phật Thích Ca là Ngài Vessantara thực hành pháp bố thí ba-la-mật bậc thượng (Dānaparamatthapāramī) thành tựu viên mãn. Sau đó hết tuổi thọ, Ngài tái sanh vào cõi Trời Tusita có tên là Santusita. Trong những ngày trai giới, Chư Thiên các nơi vân tập về đây để nghe đức Bồ tát Setaketu thuyết pháp. Thường thường Ngài giảng về bố thí, trì giới, tham thiền, tội ngũ trần, đề cao hạnh xuất gia, ba tướng của vũ trụ… giọng nói của Ngài thanh tao như trời Phạm thiên, y phục chỉnh tề, hào quang sáng chói. Sau thời giảng, Chư Thiên vô cùng hoan hỷ, chấp thọ lời dạy của Ngài và cáo biệt trở về cung điện của mình.

Riêng đức Bồ tát lúc nào cũng trầm tư mặc tưởng về chí nguyện độ đời của mình. Vì thế Ngài lúc nào cũng trong tư thế sẵn sàng giáng phàm để thành đạo. Thông lệ các vị Bồ tát mặc dù tu hạnh nào trước khi thành Phật cũng phải ngụ trên cõi Trời này để chờ thời gian thích hợp giáng phàm. Bồ tát Setasetu sống trên cõi Trời Ðâu suất khoảng thời gian rất lâu thì đến thời gian sắp hết tuổi thọ. Lúc đó, trời Ðế Thích và Chư Thiên đã đồng nhau cung thỉnh Ngài giáng phàm để sau này cứu độ chúng sinh. Ngài quán chiếu năm điều:

Thời kỳ (Kāla): Tuổi thọ chúng sanh thời này không quá 1000 tuổi mà cũng không kém 100 tuổi. Lý do là, nếu sống lâu thì con người đâm ra dãi đãi, bất chấp tội phước; còn như yểu số thì con người chỉ lo mưu cầu danh lợi, thỏa mãn vật chất, không đủ thời gian tu niệm. Do đó, Ngài xuất hiện ở thời kỳ này.

Quốc độ (Desa): Ngài chọn Trung Ấn Độ, ở đấy không quá giàu mà cũng không quá nghèo, sự bất công và sự phủ phàng lúc nào cũng hiện diện trong cuộc sống. Hơn nữa, có nhiều sự bất đồng về giai cấp, nghèo khổ, bệnh hoạn luôn là mối đe dọa con người, nhờ thế loài người dễ hướng thiện.

Dòng dõi (Kula): Ngài chọn hoàng tộc Sakya. Vì trong 30 tục lệ của chư Phật, tất cả các vị Chánh đẳng giác kiếp cuối không được tái sanh trong dòng dõi thấp hèn, vì nếu tái sanh vào đó thì sẽ bất lợi cho việc hoằng pháp độ đời. Còn như giáng phàm trong giòng dõi cao quý thì việc hoằng pháp sẽ thuận lợi trong việc hoằng pháp.

Châu (Padīpa): Loài người đang sống và tồn tại ở bốn châu thiên hạ: Đông thắng thần châu (Pubbavideha), Tây ngưu hóa châu (Āparagoyāna), Bắc cưu lưu châu (Uttarakuru) và Nam thiệm bộ châu (Jambudīpa). Ngài chọn Nam thiệm bộ châu vì ở châu này loài người không văn minh kiêu kỳ mà cũng không quá lạc hậu đần độn. Nhờ vậy khi gặp Phật, họ dễ dàng lãnh hội giáo lý, tu hành mau đắc đạo.

Cha mẹ (Mātara): Đức Phật là thầy của tam giới nên Ngài phải chọn người có đại duyên, đại nguyện với Ngài trong vô lượng kiếp. Vua Suddhodana và chánh hậu Mahāmāyādevī, hai người này đã từng là cha mẹ của Ngài trong nhiều kiếp nên Ngài chọn hai vị này làm quyến thuộc.

Sau khi quan sát năm điều thích hợp trên, Ngài đồng ý giáng sanh xuống trần gian để sau này thành đạo tiếp độ chúng sinh. Hôm đó là ngày Rằm tháng Sáu, năm 624 trước tây lịch.

Xa nhau chẳng phải phụ nhau

Quyết tìm phương dứt khổ đau muôn loài

Một ngày vẻ vang kia, thái tử ra khỏi hoàng cung để nhìn xem thế gian bên ngoài và trực tiếp tiếp xúc với sự thật phũ phàng của đời sống. Trong phạm vi nhỏ hẹp của cung điện, Ngài chỉ thấy phần tươi đẹp, nhưng đám đông nhân loại thì biết bề đen tối, đáng ghê sợ của đời. Chính cặp mắt quan sát của thái tử đã nhận thấy một cụ già chân mỏi gối dùn, một người bệnh hoạn đau khổ, một thây ma hôi thúi và một đạo sĩ nghiêm trang khả kính. Ba cảnh già, bệnh và chết, hùng hồn xác nhận quan điểm của thái tử về đời sống đau khổ của nhân loại. Hình ảnh thong dong từ tốn của nhà tu sĩ thoáng cho Ngài hé thấy con đường giải thoát, con đường an vui hạnh phúc thật sự. bốn quang cảnh bất ngờ ấy càng thúc giục thái tử ghê tởm và sớm thoát ly thế tục.

Nhận định rõ ràng rằng những thú vui vật chất mà phần đông tranh nhau tìm kiếm đều không thể đem lại lợi ích, chỉ có sự xuất gia, sự từ bỏ tất cả mùi danh bã lợi của trần gian này mới thật là chân giá trị, Thái Tử Siddhattha nhất định rời bỏ cung điện đền đài để ra đi tìm chân lý, nơi không còn phải tái sanh, già đau, bệnh, chết như thế.

Giữa lúc ấy thì có tin đưa đến rằng Công Chúa Yasodharā, vợ Ngài, vừa hạ sanh hoàng nam. Đối với thế gian, đó là một tin lành. Nhưng, trái hẳn với mọi dự đoán, Ngài không quá đỗi vui mừng vì thấy đó là thêm trở ngại. Thế thường, khi sanh được người con đầu lòng, cha mẹ cảm nghe trong lòng chớm nở lần đầu tiên một tình thương mặn nồng sâu sắc, một tình thương mới mẻ đậm đà, vô cùng trong sạch. Nỗi vui mừng của người làm cha đầu tiên thật không sao tả được. Nhưng Thái Tử Siddhattha không phải là một người cha thường, Ngài than: “Lại thêm một trở ngại, lại thêm một dây trói buộc”. Do đó, Đức Vua Suddhodana đặt tên cháu nội là Rāhula.

Ngài truyền lệnh cho Channa, người đánh xe yêu chuộng, thắng yên ngựa Kaṇṭhaka và thẳng đến điện của công chúa. Ngài khẽ hé cửa nhìn vợ và con đang yên giấc với một tấm lòng từ ái nhưng bình thản, không chao động, không trìu mến. Tình thương đối với vợ, con thật mặn nồng sâu sắc. Nhưng đối với nhân loại trầm luân đau khổ, lòng trắc ẩn của Ngài lại càng thâm thậm vô ngần. Ra đi, Ngài không lo sợ cho tương lai của công chúa và hoàng tử, vì biết chắc chắn rằng vợ và con sẽ có đầy đủ tiện nghi và đảm bảo để sống an toàn và sung sướng. Ra đi, không phải vì kém tình thương vợ, thương con, mà vì tình thương của Ngài mở rộng cho mọi người, bao trùm tất cả nhân loại và chúng sanh.

Thái Tử Siddhattha ra đi giữa đêm khuya, để lại sau lưng tất cả đền đài cung điện, người cha yêu quý, vợ đẹp, con thơ, và cả một tương lai huy hoàng rực rỡ. Ngài trốn ra khỏi thành và giục ngựa thẳng xông trong đêm tối. Cùng đi với Ngài chỉ có Channa. Không tiền của, không cửa nhà, nay đây mai đó, Ngài bắt đầu lần bước trên đường đi tìm chân lý. Thế là Ngài từ bỏ thế gian.

Đây không phải là sự từ bỏ của một cụ già đã trải qua hầu hết cuộc đời của mình, hay của người bần cùng nghèo đói không còn gì để bỏ lại phía sau, nhưng là sự khước từ của một hoàng tử vinh quang giữa thời niên thiếu, trong cảnh ấm no, sung túc và thịnh vượng. Một sự thoát ly chưa từng có trong lịch sử. Lúc ấy thái tử Siddhattha được 29 tuổi, vào năm 234 trước tây lịch.

3/ Ðức Phật chuyển Pháp Luân.

Sau khi giác ngộ, vị trời Phạm thiên Sahampati cung thỉnh Thế tôn vì lòng từ bi thuyết pháp độ đời. Ngài quan sát thế gian và nhận lời thuyết pháp. Ðầu tiên Ngài nghĩ sẽ thuyết pháp cho ai, người được nghĩ đến là đạo sĩ Ālārakālāma và đạo sĩ Uddakarāmaputta, hai vị này là thầy dạy đạo cho Ngài khi còn là Bồ tát, nhưng Chư Thiên báo là hai vị này đã qua đời. Tiếp đến Ngài nghĩ đến năm người bạn Kiều Trần Như đồng tu khổ hạnh với Ngài và hiện giờ họ đang ở vườn Lộc Uyển Isipatana gần thành Bārāṇasī.

Từ Bồ đề đạo tràng sang vườn Lộc Uyển rất xa, khoảng 18 do tuần, chư Phật trong quá khứ chuyển bánh xe Pháp lần đầu thường đi bằng thần thông. Nhưng đức Phật Thích Ca quan sát thấy du sĩ Upaka có duyên với Ngài, nếu Ngài đi bằng thần thông thì du sĩ sẽ không có cơ hội gặp gỡ Ngài, mặc dù cuộc hạnh ngộ với đức Phật ngắn ngủi nhưng là một túc duyên cho Upaka sau này giác ngộ. Chính vì thế nên Ngài quyết định đi bộ. Ðường xá xa xôi, đường đi hiểm trở, tất cả cũng vì tình thương và sự giác ngộ của chúng sinh. Không màng những khó khăn cực nhọc trên một đoạn đường dài như vậy và cuối cùng Ngài đến vườn Lộc Uyển đúng vào ngày Rằm tháng Sáu, năm 228 trước tây lịch.

Ðây là bài pháp nồng cốt trong triết lý Phật Giáo, là bài pháp đầu tiên mà Đức Phật thuyết giảng sau khi Ngài giác ngộ, cũng còn gọi là Kinh Chuyển Pháp Luân – Dhammacakkappavattanasutta.

Nội dung bài pháp đầu tiên, gồm có bốn vấn đề:

1. Khổ đế: trình bày tất cả những nỗi đau khổ trên trần gian

2. Tập đế: chỉ rõ nguyên nhân của đau khổ là Ái dục

3. Diệt đế: là trạng thái tịch tịnh, vắng lặng, Níp-bàn

4. Ðạo đế: là con đường Trung đạo có tám ngành.

Tóm lại, Ngài chỉ cho chúng sinh thấy niềm đau nỗi khổ trên cuộc đời và nguyên nhân đưa đến đau khổ. Ðồng thời Ngài giới thiệu sau khi hết khổ sẽ có hạnh phúc, an lạc, tự do và thoải mái và sau đó Ngài chỉ cho thấy những con đường phải đi để thành tựu được niềm hạnh phúc vĩnh cửu.

Kinh ghi lại trước khi Ngài bắt đầu thuyết pháp Tứ diệu đế, Ngài giảng hai điều mà các thầy cần phải tránh xa, đó là khổ hạnh và lợi dưỡng. Khổ hạnh ép xác thái quá và sống lợi dưỡng thái quá cũng không đưa đến giải thoát. Mà tránh xa hai con đường này đó là con đường Trung đạo – Majjhimapaṭipadā. Kết quả sau thời giảng là năm vị Koṇḍañña mở pháp nhãn, giác ngộ đạo quả Tu đà hườn, trở thành 5 vị Thánh Tăng đầu tiên trong Phật giáo

4/ Ðức Phật thị hiện song thông nhiếp phục ngoại đạo.

Trong 30 tục lệ của chư Phật, dùng thần thông để nhiếp phục ngoại đạo là một trong ba mươi tục lệ đó. Ðã là tục lệ thì vị Phật tổ nào cũng phải thực thi đúng như vậy. Tục lệ có nghĩa là luật lệ, quy định, điều lệ đã định sẵn để dành cho những vị Phật tổ trong quá khứ, hiện tại và tương lai thi hành đúng niêm luật. Cho nên câu chuyện Đức Phật nhiếp phục ngoại đạo bằng thần thông là một chuyện bình thường vì đây chỉ là một việc làm kế thừa truyền thống của chư Phật.

Từ khi thành đạo dưới cội Bồ đề và Ngài thuyết pháp giảng đạo, có rất nhiều người hữu duyên tìm đến với Ngài. Pháp của Ngài giảng hoàn hảo đoạn đầu, đoạn giữa và đoạn cuối, chúng sinh nào có duyên chắc chắn giác ngộ ngay trong kiếp hiện tiền. Do đó nhiều đệ tử của Ngài xuất gia, đắc đạo mặc dù họ đã có nhiều năm tu hành theo sáu vị lãnh đạo của lục đại môn phái nổi tiếng khắp nơi tại xứ Ấn Độ bấy giờ. Các vị lãnh đạo đó nhìn thấy đệ tử của mình mỗi ngày mỗi ít, đa số đã từ giã mình đi theo thọ giới với Sa môn Cồ Ðàm. Không nói được, nhưng càng nhìn đệ tử từ giã ra đi lại càng thêm căm phẫn. Thế nên hình ảnh đức Phật và đệ tử của Ngài là một sự căm thù đối với nhóm lục sư ngoại đạo trên. Mọi sinh hoạt của Ngài đều bị họ theo dõi để tìm khuyết điểm xuyên tạc, nhục mạ, hạ uy tín… nhưng tất cả đều như gió thoảng mây bay.

Có một ông trưởng giả tìm được một khối trầm, cho tạc thành một bình bát và ông ta treo giải thưởng nếu ai lấy được bát ông sẽ trọng thưởng và cả gia đình theo nương nhờ làm học trò. Nhóm lục sư ngoại đạo nghe vậy cho người môi giới đến xin nhưng ông từ chối. Họ nói với ông trưởng giả chẳng lẽ vì một cái bát mà phải dùng thần thông thì không xứng đáng. Họ tìm nhiều mưu mô để đoạt được bát trầm nhưng không được. Ông trưởng giả nghĩ rằng trong nước mình đang ở có nhiều tôn giáo họ tự xưng là A-la-hán cho nên ông treo giải thưởng như vậy người nào lấy được mới quả là A-la-hán. Nhưng bảy ngày trôi qua nhóm lục sư ngoại đạo không người nào thi hành theo tâm nguyện của ông trưởng giả.

Khi đức Phật cấm chế điều luật đó, nhóm lục sư ngoại đạo hay biết được và cho người đi tuyên truyền rằng: đệ tử của Sa môn Gotama còn vì danh lợi nên mới đi lấy bát còn chúng tôi là A-la-hán không vì danh lợi nên không lấy bát theo lời yêu cầu của trưởng giả. Sa môn Cồ Ðàm còn đập bát và cấm chế điều luật, không cho đệ tử sử dụng thần thông. Do đó họ quyết định thi thố thần thông với ông Sa môn Cồ Ðàm.

Vua Ajātasattu hay tin ngoại đạo nói như vậy, vội vã vào yết kiến Thế tôn và bạch rõ vấn đề những vị lãnh đạo tôn giáo đó muốn thách thức so tài thần lực với Thế tôn. Ðức Thế tôn trầm lặng trong giây lát, Ngài nói với nhà vua rằng Như Lai đồng ý so tài thần thông với họ. Vua nói:

– Bạch Thế tôn, còn việc Ngài cấm sử dụng thần thông thì sao?

– Tâu Ðại vương, Như Lai cấm đệ tử chứ Như Lai đâu có cấm Như Lai đâu!

Thế là đức Phật báo rõ địa điểm và thời gian để so tài thần thông với nhóm Lục sư ngoại đạo. Ngày đó là Rằm tháng Sáu tại Sāvatthī.

Khi ngoại đạo hay tin đức Phật đồng ý so tài thần thông với họ, nên họ rất sợ và hoang mang. Vì họ nghĩ rằng, Ngài cấm chế không cho đệ tử sử dụng thần thông thì chắc Ngài cũng không được phép sử dụng, ai ngờ bây giờ ông ta đồng ý đấu thần thông với chúng ta thì chúng ta tính sao đây? Nhưng dù sao thì đã lỡ công bố rồi! Nhóm Lục sư ngoại đạo cùng nhau kéo về Sàvatthì và họ kêu gọi tín đồ hùn tiền để xây tháp đài để so tài thần lực với Sa môn Gotama, nên họ thu được một số tiền rất lớn. Vua Pasenadi hay biết tín đồ của nhóm lục sư ngoại lo lắng cho thầy như vậy Ngài cũng nao nao trong lòng. Hôm sau vua vào lễ Phật và xin Phật cho Ðại vương xây một tháp đài giống như ngoại đạo để Thế tôn so tài với họ. Ðức Phật khước từ và Ngài bảo sẽ hiện thần thông dưới gốc cây xoài.

Ngoại đạo biết được cuộc nói chuyện giữa đức Phật và vua Pasenadi, nên họ cho đệ tử chặt hết những cây xoài trong thành Sāvatthī. Ðã đến ngày giờ so tài với ngoại đạo, Phật ngự vào thành nhưng chưa đến thành thì có một người giữ vườn Thượng Uyển thấy xoài chín hái dâng cho Phật. Phật hoan hỷ thọ lãnh và tìm một chỗ thích hợp ngồi thọ xoài, còn hạt xoài Ngài bảo người giữ vườn đào lỗ trồng và chính tay Ngài tưới nước. Chẳng bao lâu hạt xoài mọc lên một cây xoài xanh tươi nhiều hoa lá và có nhiều trái thơm ngon.

Dân chúng đến tham dự cuộc so tài của đức Phật và ngoại đạo, họ thấy xoài có nhiều trái chín nên họ hái cùng nhau ăn. Họ ăn xoài thấy hương vị ngon lạ lùng, càng ngon họ càng nguyền rủa bọn ngoại đạo vô cớ chặt hết những cây xoài trong thành Sāvatthī, nên họ thấy bọn ngoại đạo ở đâu họ dùng hạt xoài ném vào bọn ngoại đạo.

Sắp đến giờ so tài, bọn ngoại đạo khủng hoảng tinh thần trước quần chúng. Liền sau đó đức Phật hóa một con đường bằng ngọc báu, rồi Ngài đi thiền hành trên con đường đó.Tiếp theo, Ngài hóa thân, từ một thân thành nhiều thân, lúc đó quần chúng thấy nhiều Phật, Phật ngồi, nằm hoặc hai vị thuyết pháp với nhau… Cuối cùng, Ngài thị hiện song thông (yamakapāṭihāriya), với năng lực này chỉ có đức Chánh đẳng Chánh giác mới có thể thực hiện được.

Thần thông này cùng một lúc hiện ra hai điều kỳ diệu: từ thân vừa phún tia nước, vừa phún tia lửa; từ thân phát hào quang xanh và đỏ… Trước uy lực của một vị Phật như vậy, bọn ngoại đạo kiếp sợ và rút lui chạy tán loạn chỉ còn lại dân chúng đang hướng về đức Phật thành kính lễ bái. Ðồng thời Ngài thuyết một bài pháp đúng vào tâm lý của từng chúng sinh, nên hôm đó Chư thiên và nhân loại đắc đạo chứng quả nhiều vô số kể.

Trong giây lát, đức Phật chiêm nghiệm bằng tuệ giải thoát, Ngài thấy chư Phật trong quá khứ sau khi dùng thần thông thắng ngoại đạo là ngự lên cõi Trời Tāvatiṃsā thuyết pháp độ Phật mẫu bằng tạng Vi Diệu Pháp (Abhidhamma). Hôm ấy đúng vào ngày Rằm tháng Sáu.

5/ Chư Tăng phật giáo Nam truyền bắt đầu mùa An cư Kiết hạ.

Một ngày sau lễ Rằm tháng Sáu, chư Tăng trong truyền thống Phật giáo Nam truyền bắt đầu mùa An cư Kiết hạ. Trong chương “Vào Mùa Mưa”, Đại Phẩm, Tạng Luật, có ghi:

Đức Thế Tôn ngự tại thành Vương-xá, Trúc Lâm. Lúc bấy giờ, việc an cư mùa mưa chưa được đức Thế Tôn quy định cho các Tỳ-kheo. Các vị Tỳ-kheo đi du hành trong mùa lạnh, trong mùa nóng và cả trong mùa mưa nữa. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

– Vì sao các Sa-môn Thích Tử lại đi du hành trong mùa lạnh, trong mùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa? Ngay cả các du sĩ ngoại đạo, dù có giáo lý được thuyết tồi tệ, vẫn sống cố định một chỗ trong mùa mưa, ngay cả những con chim sau khi làm tổ trên các ngọn cây cũng sống cố định trong mùa mưa. Còn các sa-môn Thích Tử thì lại đi du hành trong mùa lạnh, trong mùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa. Các vị ấy đang dẫm đạp lên các loại cỏ xanh, đang hãm hại mạng sống của loài chỉ có một giác quan, và đang gây nên việc giết hại hàng loạt chúng sanh nhỏ nhoi.

Các Tỳ-kheo nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Vì thế, các vị đã đem sự việc ấy trình lên đức Thế Tôn. Đức Phật nhân sự việc này mà bảo các Tỳ-kheo rằng:

– Này các Tỳ-kheo, ta cho phép an cư trong mùa mưa. Đây là hai thời điểm vào mùa an cư: thời điểm trước và thời điểm sau.

Thời điểm trước là ngày kế của ngày trăng tròn tháng Āsaḷha, thời điểm sau là vào ngày sau trăng tròn tháng sau. Tính theo âm lịch của Việt Nam nếu không có tháng nhuần thì thời điểm trước là ngày 16 tháng 6, thời điểm sau là ngày 16 tháng 7. Ngài dạy tiếp:

– Này các Tỳ-kheo, trong mùa an cư ba tháng thì không nên ra đi du hành. Vị nào ra đi thì phạm tội tác ác (dukkata).

Tuy nhiên, nếu có chuyện cần kíp và được thỉnh mời, vị Tỳ-kheo được phép rời trú xứ trong thời hạn không quá bảy ngày. Đức Phật dạy:

– Này các Tỳ-kheo, ta cho phép đi khi được thỉnh mời với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày; và không nên đi, nếu không được thỉnh mời.

Mùa an cư bắt đầu từ ngày rằm tháng Āsaḷha (rằm tháng Sáu). Tuy nhiên, đức Phật cũng cho phép bất kỳ một Tỳ-kheo nào khởi sự chậm hơn một tháng, vào ngày rằm tháng Bảy – gọi là “hậu An cư”. Việc đình chỉ du hành chấm dứt vào ngày rằm tháng Chín (Āssina). Nếu vị nào khởi sự chậm hơn một tháng, thì chấm dứt vào tháng Mười (Kattikā). Chư Tăng tổ chức lễ sám hối Bố-tát (Uposatha) đặc biệt, gọi là lễ Tự tứ (Pavāraṇā), đánh dấu kết thúc mùa an cư. Sau đó, các Tỳ-kheo công bố hoàn tất các phận sự trong Giới luật, rời nơi an cư và bắt đầu du hành truyền đạo.

Như vậy, chúng ta thấy rằng: nếu như mình bỏ quên ý nghĩa của ngày rằm tháng sáu là mình đã bỏ quên một phần quan trọng trong lịch sử hoằng pháp của đức thế tôn.

Kính chúc chư Tăng, Tu nữ và quý Phật tử một mùa an cư nhiều sức khỏe, thật an lạc và tràn đầy hạnh phúc trong Giáo Pháp của Đức Thế Tôn.

theo: Báo Giác Ngộ Online

【#3】Luận Án: Quá Trình Hình Thành Lễ Hội Cung Đình Ở Huế, Hay

, ZALO 0932091562 at BÁO GIÁ DV VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

Published on

Download luận án tiến sĩ với đề tài: Quá trình hình thành, phát triển và biến đổi lễ hội cung đình ở Huế từ năm 1802 đến năm 1945, cho các bạn làm luận án tham khảo

  1. 1. 1 MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1.1. Triều Nguyễn là triều đại cuối cùng của chế độ quân chủ ở Việt Nam, đã chọn Huế làm kinh đô trong suốt 143 năm (1802 – 1945). Song song với việc thiết lập bộ máy nhà nước theo thể chế quân chủ trung ương tập quyền, các vua Nguyễn đã xây dựng, thực thi quy chế tế tự và lễ tiết theo hướng ngày một phong phú, chặt chẽ, bài bản, nhằm khẳng định và củng cố tính chính danh, chính thống của hoàng đế, của triều đại cũng như địa vị cao quý của Hoàng gia. Vai trò tư tưởng chủ đạo của bộ Lễ ở đây cần được khẳng định điểm then chốt là hệ thống lễ hội cung đình ấy đã làm nổi bật khát vọng độc lập tự chủ trong đời sống tư tưởng, tâm linh, nhân sinh quan, thế giới quan của triều Nguyễn với tinh thần “văn hiến thiên niên quốc, xa thư vạn lý đồ” của một quốc gia độc lập khác biệt với Trung Quốc và cả với Nhật Bản, Hàn Quốc đồng văn. Di sản lễ nghi tế tự đó thường được gọi là lễ hội cung đình triều Nguyễn. Từ những ảnh hưởng bởi nguồn gốc Trung Hoa, trải qua các triều đại quân chủ Đại Việt, tất cả đã có sự tích hợp hài hòa với các yếu tố bản địa phương Nam, kể cả yếu tố phương Tây từ thế kỷ XVIII-XIX…, để định hình nên di sản lễ hội cung đình triều Nguyễn đặc trưng, đầy bản sắc và bản lĩnh Việt Nam. Cho nên, lễ hội cung đình là thành tố quan trọng cấu thành văn hóa Huế, tạo nên giá trị bản sắc điển hình của Huế trong tương quan so sánh với các vùng văn hóa trong cả nước. Nhưng cho đến nay, nhận định và nghiên cứu về lễ hội cung đình triều Nguyễn vẫn chưa được đầy đủ. Thống kê về lễ hội khắp cả nước của Bộ Văn hóa Thông tin từ năm 2003, lại không đề cập đến lễ hội cung đình triều Nguyễn. Qua đó có thể thấy suốt một thời gian dài, lễ hội cung đình triều Nguyễn đã bị lãng quên. Cho nên, việc nghiên cứu về triều Nguyễn nói chung và lễ hội cung đình Huế nói riêng đã thiếu đi nhiều cơ sở để đảm bảo tính toàn diện và khách quan. Vấn đề đặt ra là cần nghiên cứu về lễ hội cung đình triều Nguyễn, khẳng định các giá trị lịch sử và tư tưởng, bên cạnh đó hệ thống hóa các lễ hội và bổ khuyết vào kho tàng lễ hội văn hóa Việt Nam. 1.2. Những năm gần đây, đã có nhiều tác giả quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu về lễ hội cung đình, bước đầu chú trọng tới một số nghi lễ tế tự diễn ra dưới triều Nguyễn, và việc nhìn nhận về lễ hội cung đình triều Nguyễn trong mối quan hệ biện chứng với sự phát triển của lịch sử dân tộc vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Vì vậy, tiếp cận lễ hội cung đình triều Nguyễn từ góc nhìn lịch sử là rất cần thiết, nhằm
  2. 3. 3 định chọn vấn đề: Quá trình hình thành, phát triển và biến đổi lễ hội cung đình ở Huế từ năm 1802 đến năm 1945 làm luận án tiến sĩ. 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận án là các lễ hội cung đình triều Nguyễn, bao gồm các lễ nghi, lễ tiết, nghi thức của triều đình Việt Nam, Đại Nam cũng như của Hoàng gia triều Nguyễn. Hơn nữa, luận án còn so sánh giữa lễ hội cung đình triều Nguyễn với lễ hội cung đình của các triều đại trước trong lịch sử Việt Nam và xem xét tác động ảnh hưởng, mối quan hệ qua lại giữa lễ hội cung đình và lễ hội dân gian. 2.2. Phạm vi nghiên cứu – Không gian nghiên cứu của luận án tại Huế, tập trung chính ở các địa điểm là không gian vốn có của lễ hội cung đình triều Nguyễn, như Hoàng cung, đàn Nam Giao, đàn Xã Tắc, các lăng tẩm của vua Nguyễn ở Huế, các miếu thờ… – Thời gian nghiên cứu của luận án được tính từ năm 1802 đến năm 1945, trong đó tập trung làm sáng tỏ sự hình thành và phát triển của lễ hội cung đình triều Nguyễn ở giai đoạn nhà nước quân chủ trung ương tập quyền mạnh, từ năm 1802 đến năm 1885, đánh dấu bằng sự kiện Thất thủ Kinh đô. Chính sự thịnh trị trong giai đoạn này là nền tảng để triều đình nhà Nguyễn ban hành và hoàn thiện điển chế để tổ chức lễ hội cung đình một cách chặt chẽ và qui mô hơn so với các triều đại trước. Từ năm 1885 cho đến năm 1945, dưới tác động của bối cảnh chính trị xã hội cùng một số yếu tố khách quan khác, đã làm cho lễ hội cung đình Huế có nhiều biến đổi mạnh mẽ. 3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3.1. Mục đích nghiên cứu – Mục đích chung: Nghiên cứu về Quá trình hình thành, phát triển và biến đổi lễ hội cung đình ở Huế từ 1802 đến 1945 nhằm nhìn nhận đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện về hệ thống lễ hội cung đình thời Nguyễn trong giai đoạn cuối cùng của chế độ quân chủ Việt Nam, từ đó khẳng định những giá trị to lớn của chúng, đối với lịch sử, những ý nghĩa tác động của chúng đối với đời sống văn hóa hiện nay. – Mục tiêu cụ thể: + Xác định cơ sở hình thành, tính kế thừa và những đặc điểm, giá trị đặc trưng của lễ hội cung đình Huế khi xem xét diễn trình hình thành và phát triển của lễ hội cung đình trong suốt các triều đại quân chủ Việt Nam cho đến hết thời Nguyễn.
  3. 6. 6 Nguyễn nhằm xác định chính xác nội dung niên đại, lai lịch và hiện trạng của môi trường diễn xướng cũng như nguồn tài liệu thành văn hiện còn ở ngay chính các di tích. Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu hỗ trợ khác nhằm tái hiện một số nghi lễ cung đình và không gian diễn xướng của các lễ hội cung đình thời Nguyễn. Phương pháp so sánh ở cả góc độ lịch đại và đồng đại được áp dụng ở những lúc cần thiết, nhằm làm nổi bật một số vấn đề của lễ hội cung đình triều Nguyễn, trong sự kế thừa, sự sáng tạo hay điểm khác biệt so với các triều đại trước, hay so sánh với Trung Quốc. Phương pháp thống kê được sử dụng để tổng hợp và phân loại các lễ hội cung đình trong lịch sử Việt Nam và nhất là dưới triều Nguyễn. Trong quá trình thực hiện đề tài, các phương pháp nghiên cứu trên không chỉ được sử dụng đơn lẻ mà có sự vận dụng tương hỗ linh hoạt đồng thời nhiều phương pháp với nhau cho phù hợp. Chẳng hạn khi nghiên cứu về lễ tế Giao, tế Xã Tắc của triều Nguyễn, tác giả đồng thời sử dụng các phương pháp so sánh đồng đại, lịch đại và phương pháp đối chiếu để nêu bật yếu tố bản sắc, tính kế thừa giữa lễ tế Giao, lễ tế Xã Tắc của triều Nguyễn so với các triều đại trước Nguyễn, và so với triều Thanh (Trung Quốc). Nhờ đó, mới có thể xem xét đánh giá về những biến đổi và quy mô của lễ tế dưới triều Nguyễn một cách khách quan và toàn diện hơn. 5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, luận án Quá trình hình thành, phát triển và biến đổi lễ hội cung đình ở Huế từ năm 1802 đến năm 1945 sẽ có một số đóng góp hết sức ý nghĩa về khoa học và thực tiễn, nhất là tính thời sự trong giai đoạn hiện nay. 5.1. Đóng góp về mặt tư liệu Luận án là kết quả của quá trình nghiên cứu công phu, có tính hệ thống của NCS, được hoàn thiện và bổ sung bằng các nguồn tư liệu mới phát hiện và hệ thống hóa các công trình nghiên cứu đã có về vấn đề này. Đó là các bản gốc Châu bản, các thư tịch Hán Nôm ghi chép lại các điển chế của lễ hội đang lưu trữ trong kho của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Trung tâm Lưu trữ quốc gia I (Hà Nội), Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV (Đà Lạt). Trước đây, do nhiều nguyên nhân, các tài liệu đó ít được quan tâm khai thác thì nay NCS dành nhiều công sức sưu tầm, phiên dịch để sử dụng có hiệu quả, phục vụ trực tiếp cho luận án cũng như công tác chuyên môn. Bên cạnh đó, NCS khai thác nhiều tư liệu thơ văn trên di tích kiến trúc cung đình Huế cũng như cập nhật các tài liệu mới từ kết quả nghiên cứu của các đề tài khoa học các cấp, hội thảo khoa học, các bài viết trong thời gian gần đây. Vì vậy, luận án
  4. 7. 7 sẽ cung cấp một nguồn tư liệu phong phú, đa dạng, có hệ thống, có giá trị sử liệu cao về lễ hội cung đình triều Nguyễn. 5.2. Đóng góp về nội dung Luận án xác định được cơ sở hình thành và phát triển, đỉnh cao dưới thời vua Minh Mạng của lễ hội cung đình triều Nguyễn trên nhiều phương diện. Đây là đóng góp quan trọng của luận án. Việc thống kê và phân tích các lễ hội cung đình được hình thành dưới triều Nguyễn (1802 – 1945), có thể khẳng định tính chính danh, chính thống của triều đại, đặc biệt là trên phương diện tư tưởng độc lập, tự chủ của quốc gia dân tộc, mang nhiều giá trị bản sắc và bản lĩnh đặc trưng, có tính tư tưởng của thời đại. Qua đó, luận án chỉ ra được đặc điểm riêng, những khía cạnh tích cực và vai trò đặc biệt quan trọng của lễ hội cung đình triều Nguyễn, góp phần giải quyết được khoảng trống trong việc nghiên cứu lễ hội cung đình Việt Nam. Hơn nữa, luận án còn làm rõ được sự biến đổi của lễ hội cung đình triều Nguyễn dưới tác động của nhiều yếu tố khách quan, chủ quan trong giai đoạn 1885 – 1945. Từ đó, đánh giá tính chất cũng như vai trò của lễ hội trong sinh hoạt văn hóa cung đình triều Nguyễn, trở thành tác nhân quan trọng có ảnh hưởng chi phối, làm nên giá trị bản sắc văn hóa Huế. 5.3. Đóng góp về tư vấn chính sách Kết quả nghiên cứu của luận án cũng sẽ cung cấp cho ngành văn hóa, du lịch và các cơ quan nhà nước hữu quan những bài học hữu ích trong việc xây dựng chủ trương chính sách, giải pháp phù hợp trong vấn đề quản lý và nghiên cứu phục hồi, phát huy giá trị của lễ hội, đặc biệt là lễ hội cung đình Huế. Từ đó, luận án cũng đồng thời mang tính gợi mở cho nhiều đề tài nghiên cứu khoa học tiếp theo khi nghiên cứu về lễ hội cung đình triều Nguyễn. Những kết quả nghiên cứu của luận án, trên cơ sở phân tích sự ra đời, vận hành và biến đổi của lễ hội cung đình, cả về tư liệu thành văn lẫn kết hợp hài hòa với nghiên cứu khảo sát thực địa (môi trường diễn xướng của lễ hội), xem xét trong mối quan hệ chi phối bởi quan điểm phục hồi lễ hội cung đình Huế hiện nay. NCS cũng đưa ra những luận cứ mới cho việc đề xuất phục dựng lễ hội cung đình triều Nguyễn một cách phù hợp, có tính khả thi cao trong bối cảnh đất nước hiện nay.
  5. 11. 11 1.1.3. Nguồn tài liệu thơ văn khắc trên các kiến trúc cung đình Huế Trong việc nghiên cứu về các lễ hội cung đình triều Nguyễn, ngoài việc khai thác các nguồn tư liệu chính sử, NCS cũng đã tiếp cận được nhiều tác phẩm thơ văn của hoàng đế Minh Mạng, Thiệu Trị,… được khắc trực tiếp trên kiến trúc cung đình Huế, cụ thể là trên liên ba, đố bản các công trình Triệu Miếu, Thế Miếu, lăng Minh Mạng, lăng Thiệu Trị, lăng Dục Đức… Nguồn tư liệu này có nội dung đề cao các vị thần linh, ca ngợi sự che chở của thần linh thông qua lễ hội và công lao của hoàng đế, ghi chép nhạc lễ, các nghi thức cầu đảo và các nghi lễ khuyến nông… Tất cả đã phản ánh nhiều nội dung về nghi lễ tế hưởng, được thể hiện trên thơ, văn, mà các loại hình tư liệu khác không đề cập, nên đó là những tư liệu gốc, có giá trị đặc biệt trong nghiên cứu lễ hội cung đình. Ngày 19/5/2016, Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế, đã được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, lại càng khẳng định giá trị đặc biệt và độc đáo của nguồn tư liệu này. 1.1.4. Nguồn tài liệu tiếng Pháp Trong quá trình khảo sát tư liệu, NCS đặc biệt quan tâm đến nguồn tư liệu tiếng Pháp, nhất là qua các nguồn tài liệu dưới dạng hồi ức, du ký và các chuyên khảo được thực hiện công phu, đăng tải trên các tập san uy tín hồi đầu thế kỷ XX. Trước tiên, phải kể đến công trình Souvenir de Hué (Hồi ức Huế) của Michel Đức Chaigneau, mô tả khá kỹ đời sống lễ nghi cung đình Huế thời Gia Long cho đến đầu thời vua Minh Mạng. Qua đó, giúp NCS có thêm cứ liệu, góc nhìn mới về nghi lễ cung đình Huế trong mối quan hệ đồng đại, lịch đại . Luận án kế thừa nguồn tài liệu quí giá được đăng tải trên Bulletin des Amis du Vieux Hué (Tập san của Hội Đô thành hiếu cổ – BAVH), La revue indochinoise (Tạp chí Đông Dương)… Đáng lưu ý là các tác giả L.Cadière, R.Orband, H.Coserat đã có những bài khảo cứu công phu, trên nhiều khía cạnh về lễ hội cung đình, nhất là với sự mô tả kỹ lưỡng về nghi thức, phẩm vật, trai giới, diễn trình các lễ hội, sơ đồ lễ tế Giao… Đặc biệt là ở đó, còn có những ghi chép kỹ lưỡng về trang phục của vua, quan, ở những vị trí, thời điểm cụ thể, để nhấn mạnh điển chế, tính thiêng và lòng trung quân qua nghi lễ, hay H.Délétie (1916) đi sâu giới thiệu về nghi thức lên đồng qua lễ rước sắc thần Thiên Y A Na ở điện Huệ Nam , bài viết rất sinh
  6. 15. 15 trên Tạp chí Nam Phong, tập trung mô tả nghi lễ tế Giao thời các vua đầu triều Nguyễn từ vua Gia Long đến vua Tự Đức. Đáng tiếc là ở đây, các tác giả chưa chú trọng phân tích, đối chiếu đến những thay đổi của nghi lễ dưới ảnh hưởng của bối cảnh chính trị xã hội đương thời. Đến năm 1942, trên Tạp chí Đông Dương số 83, có một số bài viết về Nam Giao như “Le Nam Giao” của P.Boudet, “Le Nam Giao” của Nguyễn Khoa Toàn, “Le Nam Giao – Sacrifice au ciel et à la terre” (Lễ Nam Giao – Tế trời và đất) của P.Boudet ghi chép chi tiết lễ tế Giao ngày 29/3/1942. Qua đó, có thể thấy tác giả đã mô tả lại lễ tế Giao năm 1942 và có một số chi tiết thay đổi về thời gian tế lễ, tế phẩm, đoàn ngự đạo… Dù hoàn cảnh kinh tế, chính trị của đất nước gặp nhiều khó khăn, xáo trộn, nhưng các nghi lễ vẫn được thực hiện theo điển chế của triều đình. Nhìn chung, các nghiên cứu trên đã tập trung làm sáng tỏ các khía cạnh khác nhau của nghi lễ tế Giao từ việc chuẩn bị lễ tế, trai giới, phẩm vật, nghi thức, diễn biến lễ tế, sơ đồ đàn tế…, giúp NCS tiếp cận và hiểu kỹ hơn về lễ tế Giao. Tuy nhiên, các tác giả cũng chưa lý giải rõ vai trò của đế quyền và triết lý được thể hiện trong nghi lễ và phân tích những tác động của bối cảnh xã hội làm biến đổi lễ hội; chỉ cung cấp thông tin sơ lược mà chưa chú trọng phân tích, đánh giá về vai trò và ý nghĩa của chúng đối với triều Nguyễn nhìn từ góc độ chính trị, xã hội và văn hóa. Hầu hết các bài viết chỉ tập trung nói về đàn Nam Giao và lễ tế Giao chứ không nghiên cứu riêng về các lễ tiết triều Nguyễn. Ở khía cạnh khác, một số tác giả người Pháp còn khảo cứu về nghi lễ Đại triều, tiêu biểu như “Les grands Lais à la Cour d’Annam” (Lễ Đại triều ở triều đình Việt Nam) của E.Gras; và “Les grands Lais” (Lễ Đại triều) của Jacques Altar, trên BAVH, số 2/1915. Các tác giả mô tả một cách chi tiết về lễ Đại triều và phác họa nên không gian nghi lễ trang nghiêm chốn triều nghi. Điểm đáng tiếc là bài viết chỉ dừng lại ở việc mô tả nghi lễ Đại triều mà chưa nhấn mạnh quan điểm về triết lý Nho giáo thể hiện trong nghi lễ. Mặc dù vậy, đây vẫn là nguồn thông tin giúp NCS tiếp cận và hiểu rõ hơn khung cảnh một nghi lễ quan trọng thời Nguyễn. Về các nghi lễ khác, có thể kể đến bài viết “Le sacrifice au Drapeau” (Lễ tế Đạo kỳ) của Đặng Ngọc Oánh (BAVH, số 4/1915), tập trung mô tả chi tiết, làm rõ nguồn gốc cũng như nêu bật lên được ý nghĩa của lễ tế Đạo kỳ. Ông cũng là tác giả của bài viết về lễ tức vị của hoàng đế Khải Định “L’intronisation de l’Empereur”, càng làm nổi bật diễn trình và ý nghĩa của nghi lễ thông qua quá trình đối sánh với lễ tức vị của vua Hàm Nghi “L’intronisation du roi Hàm Nghi” của chúng tôi Marchant de Trigon, hay Lễ Đại triều nghi
  7. 16. 16 “La grande cérémonie de cour dite Dai Trieu Nghi” của SE. Le Ministre de Rites và Lê Bính (BAVH, Số 2/1917). Đề cập rộng hơn về lễ hội Huế, cần chú ý đến bài viết “Les fêstes à Hué” (Lễ hội ở Huế) của R.Orband (BAVH, số 2/1916), hay Vân Thạch giới thiệu “Lễ Nghênh xuân” và Tiên Đàm với vấn đề “Tục thờ cúng tổ tiên” (Tạp chí Tri Tân, số 34/1942). Qua đó, có thể giúp phác thảo nên tổng thể văn hóa truyền thống Việt Nam nhìn từ những biểu hiện lễ nghi có tính chất đặc trưng, xuyên suốt nhất. Nhìn chung, trong giai đoạn trước năm 1945, đã có nhiều học giả, nhất là người Pháp, quan tâm tìm hiểu về lễ hội, với nhiều bài viết về các khía cạnh khác nhau của một số lễ hội cung đình triều Nguyễn. Tuy nhiên, tất cả vẫn chỉ dừng lại ở mức độ mô tả các sự kiện trong diễn trình lễ hội, đặc biệt là nghi lễ tế Giao, mà thiếu hẳn những công trình đi sâu khảo sát về lễ hội cung đình triều Nguyễn, nhất là ngoài việc mô tả, còn chưa đi sâu nghiên cứu quá trình hình thành và biến đổi của lễ hội cung đình để khái quát nên nguyên nhân, tính chất, đặc điểm, giá trị đặc trưng trong từng bối cảnh lịch sử xã hội tương ứng, trong mối quan hệ tác động qua lại, nhiều chiều của tổng thể các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội. Từ đó, dẫn đến sự biến đổi của một số lễ hội cung đình truyền thống và hình thành nên một số lễ hội cung đình mới, cả về qui mô, thời gian, tính chất, đặc điểm… 1.2.2. Các công trình nghiên cứu từ năm 1945 đến trước năm 1975 Trong giai đoạn này, có nhiều tác giả nghiên cứu về lễ hội hơn, nhất là ở miền Nam, tập trung vào các lễ hội lớn, thuộc hàng đại tự như lễ tế Giao, lễ tế Xã Tắc. Đáng chú ý là các bài viết về “Đám rước Thần Nông” (Bửu Kế, Tạp chí Bách Khoa, số 98/1961) và bài “Nhìn qua các nghi lễ triều đình Huế” (Bửu Kế, Tạp chí Bách Khoa, số 5/1967). Cũng với cái nhìn tương tự, tác giả Phan Khoang đề cập đến “Lễ tiến xuân, nghênh xuân dưới triều Nguyễn” (Tập san Văn Sử Địa, tập 5/1967), hay Nguyễn Đổng Chi xem xét “Một số tục cổ và trò chơi của người Việt Nam trong tết Nguyên đán và Mùa xuân” (Tập san Văn Sử Địa, số 37/1958). Trong Việt sử tân biên Phạm Văn Sơn năm 1952 -1969, viết về lịch sử nhà Nguyễn trong bối cảnh đất nước đương thời khá đầy đủ, nhất là chú trọng phân tích những điều kiện khách quan tác động trực tiếp đến tình hình xã hội, đặc biệt là nghi lễ cung đình Huế , nghiên cứu nghiêm túc và bài bản về lễ hội cung đình Việt Nam khi khảo cứu và giới thiệu 36 đại lễ từng được tổ chức dưới các triều Lý – Trần – Lê – Tây Sơn – Nguyễn và 11 vũ khúc cung đình, chủ yếu là vũ khúc cung đình thời Nguyễn. Điểm đáng tiếc là các số liệu, tư liệu, sự kiện… được sử dụng trong sách không
  8. 21. 21 cụ thể. Ở đây, tác giả cũng nêu lên ý kiến hỗ trợ công tác bảo tồn, phục dựng, đáp ứng nhu cầu du lịch văn hóa, đặc biệt là văn hóa tâm linh vùng đất Huế. Nhìn chung, từ năm 1975 đến nay, vấn đề lễ hội cung đình triều Nguyễn dần dần đã được các nhà nghiên cứu quan tâm, đạt được nhiều kết quả trên nhiều khía cạnh, góc độ tiếp cận. Tuy nhiên, có thể nhận thấy những kết quả đó vẫn mới dừng lại mô tả hiện tượng lễ hội trong từng thời điểm rời rạc, các nhà nghiên cứu chỉ tập trung vào các bài viết về một số nghi lễ thuộc lễ Đại tự như lễ tế Giao, tế Xã Tắc, tế Miếu, hay đề cập sơ lược đến các lễ hội mùa xuân, đặc biệt là trong bối cảnh nhiều lễ hội cung đình đã được phục dựng, tái hiện trong những năm gần đây. Do vậy mà cho đến nay, đề tài lễ hội cung đình triều Nguyễn (từ 1802 đến 1945) vẫn chưa được xem như một đối tượng hoàn chỉnh để tìm hiểu, nghiên cứu thấu đáo, nhất là về sự hình thành và biến đổi của nó theo dòng chảy của lịch sử. Xét một cách tổng thể, nhất là về việc nhìn nhận, đánh giá và quản lý nhà nước thì lễ hội cung đình trong một thời gian dài hầu như bị lãng quên. Chính vì vậy mà khi thống kê 403 lễ hội trên khắp cả nước của Bùi Thiết (Từ điển hội lễ Việt Nam, Nxb Văn hóa, HN, 1993), hay 385 lễ hội của Lê Trung Vũ và Nguyễn Hồng Dương (Lịch lễ hội, Nxb VHTT, HN, 1997) thì ở cả hai công trình, đều không đề cập đến những lễ hội cung đình đã từng tồn tại trong lịch sử Việt Nam. Hơn nữa, trong thống kê di sản lễ hội ở Việt Nam năm 2003 của Cục Văn hóa Thông tin Cơ sở (thuộc Bộ Văn hóa Thông tin, nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) thì cả nước có 8.902 lễ hội, với 25 lễ hội du nhập từ nước ngoài, 7.005 lễ hội dân gian, 1.399 lễ hội tôn giáo, 409 lễ hội lịch sử cách mạng, 64 lễ hội khác, nhưng cũng không đề cập đến lễ hội cung đình . Ngược lại, các tài liệu chính sử để lại cho chúng ta thấy triều Nguyễn rất quan tâm tổ chức các lễ Tiết và Tế tự, như Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (Chính biên) đã dành 68 quyển trong tổng số 263 quyển để bàn về các quy thức, điển chế tổ chức thực hiện nghi lễ, tế tự. Chúng tôi thống kê có hơn 100 lễ hội cung đình, không phải đều do triều Nguyễn đặt ra mà đó là kết quả của một quá trình kế thừa, tiếp thu, bổ túc và điều chỉnh liên tục suốt thời Nguyễn. Điều đó khẳng định tế lễ là hoạt động quan trọng trong chính sự của triều Nguyễn, đồng thời cho thấy sự phong phú của các loại hình lễ hội cung đình Huế.
  9. 22. 22 1.3. KẾ THỪA KẾT QUẢ TỪ CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 1.3.1. Kế thừa kết quả của các công trình đã nghiên cứu Vấn đề về lễ hội cung đình triều Nguyễn từ đầu thế kỷ XX đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, trong đó có đóng góp rất lớn của các học giả người Pháp, dù rằng kết quả nghiên cứu chưa đầy đủ, thiếu tính toàn diện, chỉ tập trung vào các nghi lễ đại tự. Từ sau năm 1945 đến những năm cuối thế kỷ XX, hầu như không có công trình nào nghiên cứu về lễ hội cung đình một cách toàn diện, trừ bản tiểu luận cao học Sử của Lê Văn Phước nghiên cứu về lễ tế Giao. Đến đầu thế kỷ XXI, việc tìm hiểu lễ hội cung đình triều Nguyễn nói chung và các nghi lễ tế tự nói riêng được nhà nước chú trọng, thu hút nhiều nhà nghiên cứu tham gia thông qua các hoạt động hội thảo, nghiên cứu tư liệu để phục dựng các lễ tế Đại tự (như lễ tế Giao, lễ tế Xã Tắc) cùng một số nghi lễ khác như Vinh quy bái tổ, lễ Đổi gác, lễ Niêm hương… Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, luận án đã kế thừa một số nội dung cơ bản như sau: – Về phương pháp luận trong nghiên cứu lễ hội: Từ các kết quả nghiên cứu đã có, tác giả luận án nhận thấy muốn nghiên cứu thành công lễ hội cung đình triều Nguyễn, phải áp dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic, kết hợp phương pháp nghiên cứu liên ngành để đối chiếu, so sánh; đồng thời kế thừa kết quả nghiên cứu khảo cổ học, khảo sát điền dã và khảo cứu các hiện vật trong bảo tàng để nghiên cứu toàn diện về hình thức tế lễ, nghi thức, trang phục, âm nhạc… Từ đó, tổng hợp nhiều yếu tố để thấy rõ vai trò của hoàng đế, khẳng định vị thế chính danh, tính tự tôn và tư tưởng độc lập tự chủ của hoàng đế, của triều đại. – Về nội dung: Kế thừa thành tựu nghiên cứu của các tác giả đi trước, tìm ra điểm bất cập, khiếm khuyết để bổ sung, làm rõ các vấn đề, khía cạnh quan trọng trong nghiên cứu về lễ hội cung đình trên cơ sở tổng hợp, so sánh, phân tích, đánh giá về lễ hội cung đình dưới sự chi phối chung của bối cảnh kinh tế, chính trị – xã hội đương thời. Từ đó, khẳng định giá trị đặc trưng, sức sống và sự vận động của lễ hội cung đình triều Nguyễn trong diễn trình lịch sử dân tộc, trải qua các triều đại trước triều Nguyễn cho đến giai đoạn hiện nay. – Về tư liệu: Kế thừa các nguồn tài liệu về lễ hội cung đình của các tác giả đi trước để có phương thức khai thác bổ sung, hệ thống hóa trở thành cơ sở dữ liệu, phục vụ đắc lực cho việc nghiên cứu chuyên sâu về lễ hội cung đình nói chung và lễ hội cung đình triều Nguyễn nói riêng. Thông qua phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp, luận án đặc
  10. 24. 24 nhiều khía cạnh khi xem xét nó trong bối cảnh Kinh đô Huế của nước Đại Nam. Chính sự thay đổi của bối cảnh lịch sử, tất yếu làm cho lễ hội cung đình triều Nguyễn cũng chịu sự biến đổi tương ứng qua các thời kỳ, cho nên sẽ góp phần tham chiếu phù hợp cho vấn đề nghiên cứu, tái hiện lễ hội cung đình ở Huế trong giai đoạn hiện nay, với vai trò là một trung tâm văn hóa và du lịch. – Về nội dung: Luận án rút ra những đặc điểm then chốt nhất của lễ hội cung đình triều Nguyễn và đánh giá, nhìn nhận giá trị đặc trưng, vai trò, tính chất của lễ hội dưới thời quân chủ và xem xét tác động ảnh hưởng của nó trong đời sống đương đại. Điều này khẳng định tính chính danh, chính thống của lễ hội cung đình triều Nguyễn ở Huế trong vai trò, và tư cách là một di sản văn hóa độc đáo, đặc trưng, hội tụ nhiều tinh hoa bản sắc văn hóa truyền thống và bản lĩnh Việt Nam, được thể hiện trên nhiều khía cạnh, nhiều hình thái đặc trưng. Chính đó là cơ sở thiết thực cho việc tham vấn, đề xuất kiến nghị đến các cơ quan hữu quan để nghiên cứu, tái hiện và quản lý lễ hội cung đình trong bối cảnh hiện nay. Sức sống của lễ hội cung đình triều Nguyễn thể hiện rõ ở chỗ luôn vận động thích ứng với hoàn cảnh lịch sử vốn có nhiều biến động, đổi thay, đặc biệt là trong mối quan hệ giao lưu ảnh hưởng mạnh mẽ, có lúc phức tạp đến căng thẳng, cực đoan với văn minh Pháp. Điều đó được thể hiện trên hai phương diện: một số nghi lễ được rút gọn cho phù hợp tình hình mới, đồng thời càng củng cố bản lĩnh quốc gia, ý thức dân tộc, đặc biệt là về phương diện đời sống lễ nghi để hình thành nên những nghi lễ mới, đáp ứng nguyện vọng cấp thiết, mục đích tối thượng của nhà vua và của cả vương triều.
  11. 25. 25 CHƯƠNG 2 LỄ HỘI CUNG ĐÌNH TRIỀU NGUYỄN GIAI ĐOẠN 1802 – 1885 2.1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH 2.1.1. Một số khái niệm Lễ nghi tế tự: Theo điển chế triều Nguyễn qui định, lễ nghi tế tự bao gồm tất cả các lễ tế, được tổ chức hằng năm do triều đình thiết đặt tại các đàn, miếu và đền, để phụng thờ các vị thần linh (thiên thần, nhân thần), được định ra thành ba bậc là Đại tự, Trung tự và Quần tự1 . Lễ tiết2 : theo điển chế triều Nguyễn, lễ tiết bao hàm các nghĩa thời tiết (một năm chia làm 24 tiết, như Lập xuân, Xuân phân …), khánh tiết (tiết Vạn thọ, Thánh thọ, Thiên xuân, Thiên thu, Từ cung thánh thọ…) và có khi được kết hợp hài hòa giữa thời tiết và khánh tiết, như các ngày lễ tết Nguyên đán, Tam nguyên (Thượng nguyên, Trung nguyên, Hạ nguyên), Đoan ngọ… Nghi thức triều hội: bao gồm các nghi thức hoạt động trọng đại của triều đình như lễ Đăng quang, lễ Tấn tôn, lễ Đại triều, lễ Thường triều, lễ Truyền lô, lễ Tiếp đãi sứ thần… Lễ hội cung đình triều Nguyễn hay lễ hội cung đình ở Huế: Ở đây, luận án xem xét hệ thống nghi lễ cúng tế hay lễ tiết và nghi thức triều hội chốn cung nội luôn bao gồm hoạt động lễ và hội, có giá trị đặc trưng trong những không gian, hoàn cảnh và thời điểm lịch sử cụ thể, nên được gọi là lễ hội cung đình triều Nguyễn. Huế là kinh đô của triều đại nhà Nguyễn nên cũng có thể gọi đó là lễ hội cung đình Huế. 1 Ở mỗi cấp độ, bao gồm các lễ: – Đại tự: Tế Giao, Triệu Miếu, Thái Miếu, Hưng Miếu, Thế Miếu, điện Phụng Tiên, điện Hiếu Tư, điện Long An, miếu Triệu Tường, miếu Trừng Quốc công, các lăng tẩm của các vị chúa Nguyễn và các vua triều Nguyễn, đàn Xã Tắc. – Trung tự: Miếu Lịch đại đế vương, miếu Lê Thánh Tông, Văn Miếu, đàn Tiên Nông. – Quần tự: Tế tại đền Khải Thánh, Võ Miếu, miếu Quan Công, miếu Quốc vương Chiêm Thành, miếu Quốc vương Chân Lạp, miếu Khai quốc Công thần, miếu Trung Hưng công thần, miếu Trung tiết công thần, miếu Đô Thần hoàng, miếu Hội đồng, miếu Thai Dương phu nhân, miếu Nam Hải long vương, miếu Hậu thổ, miếu Tiên y, miếu Vũ sư, miếu Phong bá, miếu Thiên phi, miếu Sơn thần, miếu Tiên nương, miếu Phong bá, miếu Hỏa thần, miếu thờ thần Hổ, miếu thờ thần các đảo, đàn Âm hồn, đàn Sơn xuyên, miếu thờ Thổ kỳ, từ đường thờ các thần huân; từ đường thờ gia tiên các phi tần có công lao, đức hạnh lớn với hoàng gia… 2 Chữ tiết (節): có nghĩa là chữ được dùng trong cuốn Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ do Nội các triều Nguyễn biên soạn, hàm chứa các nghĩa sau: “Thời tiết, một năm chia ra làm 24 tiết, như: xuân phân, lập xuân”, “ngày thọ của vua” và “ngày Tết”.
  12. 26. 26 2.1.2. Các lễ hội cung đình trước triều Nguyễn (968-1802) 2.1.2.1. Lễ hội cung đình thời Đinh (968-980) và Tiền Lê (980-1009) Thời Đinh, kinh đô nước Đại Cồ Việt đóng ở Hoa Lư, gắn liền xu hướng hình thành thể chế quân chủ độc lập ở phương Nam, nên bộ máy nhà nước được kiện toàn, xây dựng cung điện, thiết lập triều nghi và định phẩm hàm quan văn võ, tăng quan. Việc đặt niên hiệu Thái Bình của Đinh Tiên Hoàng đế năm 970 là biểu trưng cho ý chí độc lập của triều đại mới, để rồi từng bước tái lập trật tự trong nước sau nhiều năm xáo trộn, ngoài việc củng cố triều chính, ban hành một số điều luật nghiêm khắc, triều đình còn chế định nhiều nghi lễ để củng cố triều nghi, suy tôn và khẳng định đế quyền. Theo xu hướng phong kiến hóa và chuẩn mực Nho giáo, triều đình Tiền Lê tổ chức lễ Tịch điền năm 987: “Vua lần đầu cày ruộng tịch điền ở núi Đọi được một hũ vàng nhỏ. Lại cày ở núi Bàn Hải, được một hũ bạc nhỏ, nhân đó đặt tên là ruộng Kim Ngân” , hay nhân dịp sinh nhật nhà vua, triều đình tổ chức nhiều cuộc vui chơi, đặc biệt là lễ đua thuyền: “Ngày rằm là ngày sinh của vua, sai người làm thuyền ở giữa sông, lấy tre làm núi giả đặt trên thuyền, gọi làm Nam Sơn, rồi làm lễ vui đua thuyền, về sau thành lệ ” .
  13. 27. 27 2.1.2.2. Lễ hội cung đình thời Lý (1010 -1225) Dấu ấn nổi bật cho sự khởi đầu của nhà Lý là dời đô về Đại La và đổi tên thành Thăng Long (năm 1010), gắn liền với việc xây dựng kinh đô, kiện toàn tổ chức bộ máy nhà nước, chú trọng đầu tư phát triển lễ nghi và lễ hội ở Kinh thành Thăng Long. Để khuyến khích nghề sông nước và khích lệ lòng tin của người dân, triều đình thường tổ chức lễ hội đua thuyền: “Vua ngự điện Linh Quang xem đua thuyền, đặt lễ yến tiệc mùa thu” . Từ việc lấy ngày sinh nhật vua, triều đình định nên tiết Thiên thành, tổ chức thành lệ theo đúng qui thức (tháng 2/1021), “…lấy tre kết làm một ngọn núi gọi là Vạn Thọ Nam Sơn ở ngoài cửa Quảng Phúc, trên núi làm nhiều hình chim bay thú chạy, muôn vẻ lạ kỳ. Lại sai người bắt chước tiếng cầm thú làm vui để ban yến cho bề tôi” . Đến mùa xuân, năm 1032, vua Lý Thái Tông ngự đến Tín Hương ở Đỗ Động Giang cày ruộng Tịch điền, gặp nhà nông dân có một cây lúa chiêm chín bông, nên xuống chiếu đổi gọi đó là ruộng Ứng Thiên . Gắn liền với ruộng Tịch điền là đàn Xã Tắc, được vua Lý Thái Tông cho lập nên từ năm 1048 ở ngoài cửa Trường Quảng, bốn mùa cầu đảo cho mùa màng bội thu . Để khẳng định tính chính danh của triều đại, vua Lý Thái Tông cho rước thần Đồng Cổ từ Thanh Hóa về Thăng Long, xây đền Đồng Cổ (nay thuộc Phường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội) để thờ phụng và hàng năm, các quan phải đến đây để đọc lời thề: “Làm con phải hiếu, làm tôi phải trung, ai bất hiếu, bất trung, xin quỷ thần trị tội” . Ngày cuối năm, vua ngồi giữa cửa Đoan Củng, các quan đều tới hành lễ, trong khi người dân Kinh thành mở cửa đốt pháo, la hét, cỗ bàn, trà rượu để thờ cúng tổ tiên. Vào khoảng canh năm của ngày đầu năm, nhà vua ngự điện Vĩnh Thọ, con cháu hoàng gia cùng các quan cận thần tới mừng tuổi rồi vào cung Trường Xuân vọng bái tiên tổ. Buổi sáng, vua ngự điện Thiên An, giữa các phi tần và các quan trong nội, có ca nhạc trước đại đình. Con cháu và các quan đều sắp hàng bái hạ qua ba lần rót rượu dâng vua. Đêm về, vua cùng bề tôi tới dự yến tại đài Chúng Tiên. Trước và sau yến tiệc, các quan làm lễ chín lạy và chín tuần rượu. Ngày mồng hai tết, các quan đều làm lễ riêng ở nhà. Ngày mồng ba tết, vua ngự ở gác Đại Hùng xem con cháu cùng các quan nội cung chơi ném bóng cầu được thêu trên lụa màu. Sau tiệc khai hạ ngày mồng năm Tết, quan dân đi lễ chùa miếu và du ngoạn các vườn hoa nổi tiếng. Ngày Lập xuân, vua truyền cho tông trưởng dùng roi mây đánh vào một con trâu bằng đất, rồi các quan mặc triều phục vào cung dự tiệc. Nghi lễ này đánh dấu việc đồng áng bắt đầu. Đặc biệt là ngày rằm tháng Giêng diễn ra lễ Triều đăng. Một cây đèn được đặt giữa sân rộng, với nhiều ngọn đèn sáng rực xung quanh, thầy tu đứng dưới cây đèn tụng kinh và các quan bái lạy. Thời Trần Thái Tông, các lễ hội lớn được tổ chức, như ngày mồng 4/4 hàng năm, nhà vua đến đền thờ thần núi Đồng Cổ, cùng uống máu ăn thề, trai gái bốn phương đứng xem chật ních bên đường như ngày hội lớn. Đến ngày 5/5, người ta dựng một cái tháp ở giữa sông và vua tới ngự xem đua thuyền . Trong khi đó thì đương thời, lễ tế Văn Miếu được tiến hành thường xuyên theo Xuân Thu nhị kỳ, do vua chủ tế hoặc các hoàng thân, đại thần khâm mạng. Theo đó thì gần đến ngày tế, bộ Lễ phải kê khai lễ vật (lụa, tiền, gạo nếp) để giao bộ Hộ phát cho các quan giám hạ, giám tri, thái quan, lương uẩn để mua sắm đầy đủ, rồi quan bộ Lễ kiểm tra kỹ càng. Tuy nhiên, đến thời Hồ Quý Ly, đã có sự thay đổi hoàn toàn nghi lễ hoàng triều theo ảnh hưởng của nhà Minh. Có thể kể đến lễ tế Thiên khi được cử hành tại đàn thờ ở phía Nam Tây Đô (Thanh Hóa). Đàn Nam Giao được xây dựng năm 1402 trên núi Đốn
  14. 30. 30 Sơn (xã Vĩnh Thành, huyện Vĩnh Lộc) và trong lễ tế Giao, nhà vua ngồi kiệu, các quan văn võ và cung tần, mệnh phụ theo hầu. Việc này từng bị Phan Huy Chú coi là “làm nhảm cả lễ mà khinh thường cả Trời” theo quan điểm Nho giáo chính thống, coi đó như Trời bất bình và trừng phạt . Sau đó, trang phục trong nghi lễ của triều Hồ kế thừa chế độ mũ áo nhà Trần với những chiếc mũ Khước phi, Viễn du, Thái tổ, Cao sơn… vốn là mũ của bá quan nhà Hán, thể hiện rõ tâm lý sùng cổ, nhấn mạnh yếu tố văn vật của nhà Hồ, dù triều đại chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn. 2.1.2.4. Lễ hội cung đình thời Lê Sơ (1428 – 1527), Mạc (1527 – 1592), Lê Trung Hưng (1533 – 1789). Nếu như nghi lễ ở các triều đại trước còn đơn giản thì đến đời Lê, lễ chế đã được kiện toàn, phong phú và tường tận hơn cho phù hợp với nhu cầu lễ nghĩa của thời đại đặt ra và tất cả đều được chép thành điển lễ. Ngay từ ngày đầu khởi nghĩa (đầu năm 1418), quân Lam Sơn đã cho đắp đàn tế trời đất ở phía Nam núi Thiên Nhẫn (huyện Nga Lạc, Thanh Hóa) để chuẩn bị cho lễ đăng quang. Tháng 9 năm đó, công việc hoàn tất, Nguyễn Trãi cho bày nghi trượng, cờ xí, trước đài dựng 5 lá cờ ứng với ngũ hành; giữa bày 28 khẩu thần công ứng với nhị thập bát tú; phía ngoài đàn dàn 8 đội binh mã, ứng với bát quái. Trên đàn đặt hương án bày ấn kiếm, Lê Lợi cùng các quan văn đứng bên hữu, Nguyễn Trãi và các võ tướng đứng bên tả. Các quan rước Lê Lợi lên đàn quỳ đốt hương khấn: “Lợi vi thần dân sở bách, suy tôn vương, tương cử nghĩa binh, cứu dân tảo tặc Phục kỳ thiên địa chứng minh mặc tướng quốc gia, phúc trăn trường cửu” (Lợi phải thần dân nài ép, tôn lên ngôi vương, sắp khởi nghĩa binh, mong ra cứu dân dẹp giặc. Dám xin trời đất chứng minh, giáng phúc cho nhà nước lâu dài) . Năm 1467, nhà vua cho “làm lễ tế Văn Miếu” [35; 2, tr.414], và dần dần, đã có sự điều chỉnh theo hướng điển

【#4】Chứng Kiến Người Yêu Lên Giường Với Đàn Ông Lạ, Tôi Phát Điên Hủy Hôn Ngay, Cho Đến 3 Năm Sau Cùng Anh Ta Đến Một Địa Điểm Khó Tưởng Tượng Tôi Mới Hiểu Ra Tất Cả (P3)

Xe của Việt dừng trước cửa một bệnh viện tâm thần. Tôi chần chừ không dám bước chân vào vì không dám tin vào sự thật đau lòng ấy. Hóa ra đây là bí mật khó tin mà anh ta muốn chia sẻ cho tôi.

Bác sĩ nhận ra Việt ngay lập tức vì anh ta đến đây hàng tháng. Nghe Việt nói, vợ anh cũng quen Hiền và từng cùng anh đến thăm cô ấy nhiều lần. Hiền lúc tỉnh lúc mơ màng, khi phát bệnh thì khóc lóc ôm con búp bê vải và làm những hành động như mẹ bảo vệ con. Nói chung là cô ấy từng được cho về, xong lại phải đưa vào.

Bố mẹ Hiền suy sụp sau sự việc nên bố đã mất cách đây 1 năm, còn mẹ cô ấy vướng bận cháu nhỏ nên cũng chỉ lên thăm con gái rồi về. Hơn nữa, bà ấy cũng chẳng biết làm gì với cô con gái điên này nữa.

Tôi đứng chết trân trước cửa, nhìn Hiền ngồi lặng lẽ cô độc trong căn phòng trắng toát. Hiền nhận ra tôi, cô ấy bật khóc như một đứa trẻ, gọi tên tôi. Sau đó cô ấy lại có vẻ sợ hãi khi tôi tiến lại gần. Cô ấy tóm lấy cánh tay Việt rồi trốn sau anh ta. Đôi mắt đẹp của cô ấy năm xưa giờ ngơ ngẩn đúng kiểu người xa rời cuộc sống thực tại.

Tôi nhìn kỹ, thắt lòng vì tình cảnh tồi tệ của cô ấy. Hiền rất gầy, trên cổ tay còn rõ vết sẹo rạch sần lên. Cổ cô ấy cũng có chi chít vết cào đỏ xước. Hẳn cô ấy đã phải sống khổ sở lắm trước khi phát điên lên thế này.

Việt mỉm cười rồi đưa cho tôi những trang nhật ký viết vội của cô ấy đã nhòe chữ từ cách đây 3 năm. Khi dọn dẹp đồ cho Hiền, Việt đã mang theo nó với niềm hy vọng sau này cô ấy tỉnh lại sẽ dùng nó để nhớ ra mọi chuyện. Cũng vì cuốn nhật ký ấy nên anh ta mới căm ghét tôi.

Tôi run rẩy đọc từng trang chữ, đầu tiên là những ngày hạnh phúc của chúng tôi, rồi đến chuyện cô ấy bị sếp làm nhục, đến lúc cô ấy phát hiện cái thai. Tôi đọc được nhưng hoang mang, suy nghĩ của Hiền về đứa con tội lỗi.

Tiếp đến là kế hoạch rời xa tôi, nghỉ việc. Rồi cuộc sống sau khi cô ấy bị tung ảnh khắp công ty. Cô ấy chất vấn lão sếp, lão ta cười khả ố bảo hãy về hỏi lại bạn trai – tức là tôi. Hóa ra lão ấy còn đổ tội cho tôi nữa.

Cô ấy đã từ chối tình cảm của lão, không chịu sống cảnh làm “phòng nhì” mà nộp đơn thôi việc. Có lẽ lão ta tức giận nên tung ảnh nhạy cảm của cô ấy ra, có vẻ như tự bêu xấu mình nhưng thực ra đàn bà mới là người thiệt. Công ty của lão, quyền sinh sát trong tay, nhân viên có nói xấu cùng dăm ba ngày là im hết.

Cô ấy mất ngủ nhiều đêm, không ăn được. Bố mẹ thì ghét bỏ vì nghĩ cô ấy lăng loàn. Cô ấy tự vấn chính mình, rồi lại giận tôi ra tay tàn ác. Thật nực cười, một người hiểu biết như Hiền lại không hề nghi ngờ lão sếp kia, mà tin ngay rằng tôi hại cô ấy. Dần dần, sức khỏe Hiền yếu và sảy thai. Khi đứa con mất đi, cô ấy không bình tĩnh được nữa. Cô ấy ngơ ngẩn rồi phát điên.

Nghe Việt nói, cô ấy ôm mãi con búp bê tôi từng tặng năm xưa, đặt tên là Kun. Đó là tên chúng tôi từng nghĩ ra cho con của mình trong tương lai.

Việt thuyết phục tôi chăm sóc Hiền. Anh ta bảo bác sĩ đã tìm nhiều biện pháp điều trị mà không thành công. Bác sĩ tâm lý nói Hiền có thể thoát ra được nếu người làm cô ấy đau đớn xuất hiện và chăm sóc, hồi tỉnh cô ấy bằng kỷ niệm đẹp. Tôi là người duy nhất có khả năng giúp Hiền trở lại cuộc sống bình thường.

Tôi trở về trong trạng thái nặng nề. Nỗi đau của tôi không là gì so với những gì cô ấy liên tiếp trải qua. Tôi không biết mình có thể giúp cô ấy được hay không? Tôi chẳng hiểu gì về cuộc sống của cô ấy sau khi chia tay. Tôi đã mất 2 tuần nhưng không lại gần được Hiền nên càng hoang mang hơn.

Bí mật khó tin về chuỗi ngày bất hạnh của cô ấy khiến tôi đau lòng nhưng không đủ niềm tin vực cô ấy dậy. Tôi phải làm sao bây giờ mọi người ơi?

(toodie14…@gmail.com)

【#5】Xôi Chè Cúng Đầy Tháng Bé Trai

Lễ cúng đầy tháng bé trai

Khi nói về nguồn gốc của lễ cúng đầy tháng, ở mỗi nơi sẽ có những câu chuyện khác nhau. Tuy nhiên, hầu hết đều là những câu chuyện về các bà Mụ và Đức ông, đồng thời cũng là nghi lễ khẳng định sự hiện hữu của một thành viên mới.

Câu chuyện thường được các bà mẹ truyền tai nhau về tục này đó là: Mỗi đứa trẻ sơ sinh đều do các vị Đại Tiên (Bà Chúa Đầu thai) hay còn gọi là 12 Bà Mụ nặn ra. Mỗi Mụ Bà sẽ có trách nhiệm nặn ra một bộ phận cho đứa trẻ như mắt, mũi, tay, chân, tóc, miệng, v.v… Khi bé yêu tròn một tháng và khỏe mạnh, cha mẹ nên thực hiện nghi lễ cúng cảm ơn Bà Mụ và Đức ông đã đem đứa trẻ đến nhà, giúp mẹ tròn con vuông.

12 bà mụ trong lễ cúng đầy tháng là những ai?

12 bà Mụ là các thần giúp việc cho Ngọc Hoàng, mỗi bà kiêm một việc trong sinh nở giáo dưỡng, được gọi tên như sau:

  • Mụ bà Trần Tứ Nương coi việc sanh đẻ (chú sanh)
  • Mụ bà Vạn Tứ Nương coi việc thai nghén (chú thai)
  • Mụ bà Lâm Cửu Nương coi việc thụ thai (thủ thai)
  • Mụ bà Lưu Thất Nương coi việc nặn hình hài nam, nữ cho đứa bé (chú nam nữ)
  • Mụ bà Lâm Nhất Nương coi việc chăm sóc bào thai (an thai)
  • Mụ bà Lý Đại Nương coi việc chuyển dạ (chuyển sanh)
  • Mụ bà Hứa Đại Nương coi việc khai hoa nở nhụy (hộ sản)
  • Mụ bà Cao Tứ Nương coi việc ở cữ (dưỡng sanh)
  • Mụ bà Tăng Ngũ Nương coi việc chăm sóc trẻ sơ sinh (bảo tống)
  • Mụ bà Mã Ngũ Nương coi việc ẵm bồng con trẻ (tống tử)
  • Mụ bà Trúc Ngũ Nương coi việc giữ trẻ (bảo tử)
  • Mụ bà Nguyễn Tam Nương coi việc chứng kiến và giám sát việc sinh đẻ (giám sanh).

Cúng đầy tháng bé trai cần chuẩn bị những gì?

Khi chuẩn bị cúng đầy tháng cho bé trai, các bậc cha mẹ nên lưu ý chuẩn bị những điều sau đây: hoa cúng đầy tháng, mâm cúng đầy tháng, bài cúng đầy tháng, cách chọn ngày cúng đầy tháng cho bé trai, đặt mâm cúng đầy tháng bé trai ở đâu giá rẻ, chất lượng

Hoa cúng đầy tháng bé trai

Theo quan niệm truyền thống dân gian, có một số loại hoa có tên, màu sắc, có mùi hương không thích hợp thì không nên dâng lên bàn thờ.

1. Ý nghĩa hoa Cát Tường trong lễ cúng đầy tháng:

Loài hoa cát tường có nguồn gốc từ miền Tây nước Mỹ, sau đó được du nhập đến nhiều quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, hoa cát tường được trồng chủ yếu ở Đà Lạt.

Do cái tên “cát tường” có ý nghĩa là “may mắn”, mà trong ngày đầy tháng loài hoa này cũng thường được chọn như một món quà với thông điệp về một lời cầu chúc may mắn, như ý, thanh bình trong cuộc sống

2. Ý nghĩa hoa đồng tiền trong mâm cúng đầy tháng cho bé trai:

Loài hoa đồng tiền tượng trưng cho hạnh phúc, nó mang ý nghĩa về vẻ đẹp và sự diệu kì. Nó mang đến cho chúng ta sự tươi sáng và vui vẻ.

  • Hoa đồng tiền trắng: thể hiện sự trong trắng tinh khiết
  • Hoa đồng tiền vàng: thể hiện niềm hạnh phúc
  • Hoa đồng tiền hồng: thể hiện sự ca ngợi khích lệ
  • Hoa đồng tiền đỏ: thể hiện tình yêu thắm đượm

Nhưng dù là màu gì đi nữa thì loài hoa này đều tượng trưng cho sự hạnh phúc. Nó còn mang ý nghĩa về vẻ đẹp và điều kỳ diệu.

3. Ý nghĩa hoa ly trong lễ đầy tháng bé trai:

Hoa Ly từ lâu đã được mệnh danh là một loài hoa thanh cao và quý phái, nó không những tượng trưng cho sắc đẹp, đức hạnh mà còn là sự kiêu hãnh và cả tình yêu cao thượng, chung thủy.

  • Ly Trắng: Hoa Ly trắng tượng trưng cho sự trong trắng và đức hạnh. Do đó, hoa Ly trắng được cắm trong nhà thờ suốt mùa lễ Phục Sinh và được dùng để dâng lên Đức Mẹ. Và khi gửi tặng ai đó một bó ly trắng, còn có nghĩa là bạn đang người đó hạnh phúc, thịnh vượng.
  • Ly Vàng: Là loài hoa đại diện cho những người đàn ông hào hoa, phong nhã. Vậy nên,hãy dành tặng loài hoa này cho người đàn ông luôn giúp đỡ bạn trong công việc.
  • Ly hồng (Ly Tiger) : biểu trưng cho sự giàu sang, lòng kiêu hãnh.

Mâm cúng đầy tháng cho bé trai cần những gì?

Để lễ cúng đầy tháng đúng lễ nghi, cha mẹ nên chuẩn bị những món lễ vật sau:

Bài cúng đầy tháng cho bé

VĂN KHẤN MÂM CÚNG ĐẦY THÁNG BÉ TRAI

Bài Văn Khấn Cúng Đầy Tháng Cho Bé Trai Nam mô A Di Đà Phật!Con lạy Đệ nhất Thiên tỷ đại tiên chúaHôm nay, là ngày …… tháng ……. năm ……………(Âm lịch) Vợ chồng con là …………………………………… ………………………………………… sinh được con Trai đặt tên là ………………………………………………………………. Chúng con ngụ tại …………………………………………………………………………… Nay, nhân ngày đầy tháng chúng con thành tâm sửa biện hương hoa lễ vật và các thứ cúng dâng bày lên trước án, trước bàn toạ chư vị Tôn thần kính cẩn tâu trình: Nhờ ơn thập phương chư Phật, chư vị Thánh hiền, chư vị Tiên Bà, các đấng Thần linh, Thổ công địa mạch, Thổ địa chính thần, Tiên tổ nội ngoại, cho con sinh ra cháu, tên …………………………………………. sinh ngày ………………………… được mẹ tròn, con vuông. Cúi xin chư vị tiên Bà, chư vị Tôn thần giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật , phù hộ độ trì, vuốt ve che chở cho cháu được ăn ngon, ngủ yên, hay ăn chóng lớn, vô bệnh vô tật, vô ương, vô hạn, vô ách, phù hộ cho cháu bé được tươi đẹp, thông minh, sáng láng, thân mệnh bình yên, cường tráng, kiếp kiếp được hưởng vinh hoa phú quý. Gia đình con được phúc thọ an khang, nhân lành nảy nở, nghiệp dữ tiêu tan, bốn mùa không hạn ách nghĩ lo. Xin thành tâm đỉnh lễ, cúi xin được chứng giám lòng thành.

Mở miệng ra cho có bông, có hoa, Mở miệng ra cho kẻ thương, người nhớ, Mở miệng ra cho có bạc, có tiền, Mở miệng ra cho xóm giềng quý mến… Con kính lạy Đệ nhị Thiên đế đại tiên chúa

Con kính lạy Đệ tam Thiên Mụ đại tiên chúa

Con kính lạy Tam thập lục cung chư vị Tiên Nương

Nam mô A Di Đà Phật!Cúng mụ đầy tháng tính theo lịch âm hay dương?

Cách tính ngày đầy tháng cho bé gái và bé trai Nam mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ tát

Sau nghi thức cúng đầy tháng là nghi thức khai hoa còn gọi là “bắt miếng”. Đứa bé được đặt ngay trên bàn giữa, chủ lễ rót trà thấp hương xin phép bắt miếng. Xong, bồng đứa trẻ một tay, tay kia cầm một nhánh hoa điệp (có thể hoa khác) vừa quơ qua, quơ lại trên miệng cháu bé vừa dạy những lời tốt đẹp như sau:

(Sau nghi thức khai hoa hay “bắt miếng” gia đình mang vàng mã, váy áo đi hóa, vảy rượu lúc đang hóa. Cuối cùng gia đình, bạn bè cùng thụ lộc chúc cho cháu bé mọi điều tốt lành)

Nghi thức đặt tên cho con trai

Sau khi thắp nhang khấn cúng xong sẽ đến nghi thức đặt tên. Người cúng sẽ khấn với tổ tiên một tên họ đầy đủ của bé mà cha mẹ và gia đình đã chọn sẵn. Sau đó gieo 2 đồng tiền lên đĩa, nếu 1 úp, 1 ngửa nghĩa là cái tên đinh đặt cho con đã được tổ tiên chấp nhận. Nếu 2 mặt đều úp hoặc ngửa thì phải làm lại và tuân thủ quy tắc quá tam ba bận. Sau ba lần gieo quẻ mà không được, bạn sẽ chọn tên khác cho con.

Kết thúc lễ này mọi người trong gia đình, họ hàng ăn uống sum vầy và gửi những lời chúc tốt đẹp, may mắn, lì xì cho con để hoàn tất tiệc đầy tháng. Ngoài ra một số nơi còn có nghi thức khai hoa còn gọi là “bắt miếng”. Đứa bé được đặt ngay trên bàn giữa hoặc nằm trong nôi bên cạnh bàn cúng, người cúng rót trà thấp hương xin phép bắt miếng. Khi đó sẽ bồng đứa trẻ trên một tay, tay kia cầm một nhánh hoa quơ qua, quơ lại trên miệng bé và dạy những lời tốt đẹp như sau: “Mở miệng ra cho có bông, có hoa – Mở miệng ra cho kẻ thương, người nhớ – Mở miệng ra cho có bạc, có tiền – Mở miệng ra cho xóm giềng quý mến”.

Cách tính ngày làm đầy tháng cho bé gái, bé trai

Ngày cúng đầy tháng cho bé tưởng đơn giản nhưng lại trở thành thắc mắc của nhiều người bởi: lễ cúng đầy tháng làm ngày âm hay dương hay cách tính đầy tháng cho bé trai và cách tính đầy tháng cho bé gái khác nhau. Hay cúng đầy tháng có cần đúng ngày cũng là điều mà nhiều người quan tâm.

Phong tục cúng đầy tháng cho bé từ xưa đến nay đều giống như mọi nghi thức tâm linh khác nên vẫn tính dựa theo lịch âm (ngày âm lịch). Vì vậy cách tính ngày đầy tháng là ngày dương hay âm lịch thì chắc chắn nó luôn luôn là ngày theo lịch âm.

  1. Ngày đầy tháng tính như thế nào?
  2. Đầy tháng bé gái làm ngày nào?
  3. Cúng mụ đầy tháng bé trai ngày nào?
  4. Cúng đầy tháng đúng ngày được không?

Theo quan niệm thì cách tính ngày đầy tháng ngoài tính theo âm lịch thì có khác nhau trong cách tính đầy tháng bé trai và bé gái. Cụ thể, ngày đầy tháng em bé theo quan niệm “nam trồi 2 nữ sụt 1“. Vì cách tính ngày làm đầy tháng con trai, con gái theo quan niệm trên bởi quan niệm rằng: con trai đi trước, mạnh mẽ thì mới thành công, con gái cần biết nhường nhịn mới có gia đình êm ấm và hạnh phúc. Điều này có nghĩa là:

  • Cúng mụ đầy tháng cho bé gái: Ngày cúng đầy tháng trước 1 ngày so với ngày sinh âm lịch của e bé tháng trước. Ví dụ: bé gái sinh ngày 11/4 âm lịch thì ngày đầy tháng sẽ là ngày 10/5 âm lịch.
  • Cúng mụ đầy tháng cho bé trai: Ngày cúng đầy tháng sau 2 ngày so với ngày sinh âm lịch của e bé tháng trước. Ví dụ: bé trai sinh ngày 11/4 âm lịch thì ngày đầy tháng sẽ là ngày 13/5 âm lịch.

Cách tính cúng đầy tháng là bao nhiêu ngày sau sinh không cố định phụ thuộc tháng đủ, tháng thiếu nhưng thuận theo nguyên tắc trên. Đồng thời theo cách tính cúng đầy tháng ngày nào như trên thì chắc chắn thủ tục cúng đầy tháng có cần đúng ngày sinh hay không? Câu trả lời là cúng đầy tháng không đúng ngày, ngày cúng đầy tháng không đúng với ngày sinh âm lịch của trẻ em ở tháng sau.

Bởi vậy, việc xem ngày cúng đầy tháng là ngày nào, như thế nào sẽ căn cứ vào ngày sinh theo lịch âm và giới tính trai hay gái của trẻ.

Những lời chúc đầy tháng hay nhất dành cho bé

Trong ngày đầy tháng của bé, lời chúc tốt đẹp đến từ cha mẹ, cô gì chu bác, họ hàng, quan khách dành cho bé là điều vô cùng quan trọng và không thể thiếu, vậy chúc mừng đầy tháng bé như thế nào là hay và ý nghĩa, kính mời quý độc giả tham khảo 20 lời chúc hay nhất trong ngày đầy tháng bé:

  1. Chúc mừng đầy tháng bé, chúc đầy tháng con vui vẻ, hay ăn chóng lớn. Chúc gia đình hạnh phúc.
  2. Chúc mừng con yêu tròn 1 tháng mới ra đời. Chúc con luôn xinh đẹp và có đôi chân dài, để mẹ con đi đâu cũng hãnh diện. Và quan trọng nhất, chúc con luôn vui vẻ, mạnh khoẻ và hạnh phúc.
  3. Mừng đầy tháng con. Chúc con gái luôn xinh tươi, mạnh khỏe, liên tục phát triển. Chúc gia đình chị Hai luôn hạnh phúc và tràn ngập nụ cười tít mắt.
  4. Chúc mừng đầy tháng Sóc nâu mắt bồ câu! Chúc con gái trở thành cô gái xinh đẹp, ngoan ngoãn và luôn hạnh phúc. Yêu thương gửi tới con 1000 nụ hôn!
  5. Chúc con gái của bố nhiều nhiều sức khoẻ, hay ăn chóng lớn và mọi điều tốt đẹp nhất luôn đến với con trong cuộc sống.
  6. Tròn 1 tháng nữa Cô chú , anh Bom và em Bin chúc Michael hay ăn, chóng lớn, mạnh khoẻ và luôn ngoan ngoãn để Ba Me vui ha.
  7. Chúc bé đầy tháng vui vẻ, nhận được nhiều quà và nhiều lời chúc dễ thương.
  8. Chúc con gái yêu luôn vui khỏe, rạng rỡ như ánh mặt trời, mạnh mẽ như sư tử hay ăn như gấu và hát hay như họa mi Yêu con rất nhiều!
  9. Chúc con trai luôn vui khỏe, dũng cảm, yêu đơi, mạnh mẽ, tự tin, thành công và hạnh phúc.
  10. Chúc con gái luôn vui khỏe, rạng rở, đáng yêu, thông minh, hài hước, chăm ngoan, luôn là niềm tự hào của gia đình. Yêu con rất nhiều.
  11. Chúc mừng đầy tháng bé yêu! Cảm ơn con trai đã đến với thế giới này và mang theo biết bao niềm vui và hạnh phúc. Chúc con trai luôn vui khỏe xinh tươi và rạng ngời như ánh bình minh. Yêu con thật nhiều!

Đặt mâm cúng đầy tháng bé trai ở đâu giá rẻ, uy tín, chất lượng

Dịch vụ đặt mâm cúng Online tại Mâm Cúng Việt sẽ đảm bảo cho quý khách hàng dịch vụ trọn gói, tận tâm, uy tín, chất lượng. Giao hàng tận nhà tại HCM, Đồng Nai, Bình Dương. Miễn phí ship. Có quà tặng cho bé.

Phần kế tiếp kính mời quý khách tham khảo một số mâm cúng cùng giá cả của dịch vụ đặt mâm cúng việt – Mâm Cúng Việt.com

【#6】Gợi Ý Cách Chuẩn Bị Mâm Cúng Thôi Nôi Cho Bé Trai Đơn Giản?

Mâm cúng thôi nôi cho bé trai bao gồm những lễ vật gì được xem là đầy đủ nhất? Những lễ vật này được sắp đặt như thế nào? Khi cúng mụ cho bé nên sử dụng bài cúng đầy tháng là đúng cách nhất?

Đối với gia đình Việt thì việc cúng thôi nôi cho bé (cúng mụ) được xem là một trong nghi thức không thể thiếu. Thế nhưng không phải ai cũng biết nên sắp xếp mâm cúng đầy tháng như thế nào là hợp lý. Đặc biệt là đối với những cặp vợ chồng trẻ.

Bài viết hôm nay sẽ chia sẻ cho mọi người biết rõ hơn về cách bày trí mâm cúng thôi nôi bé traiđúng chuẩn nhất.

Ai trong số chúng ta cũng đều biết rằng lễ cúng thôi nôi hay còn gọi là lễ cúng mụ, lễ cúng đầy tháng. Sẽ được thực hiện vào lúc trẻ đã đủ 12 tháng tuổi. Đây cũng được xem là một trong những phong tục đã tồn tại từ rất lâu đời của người dân Việt Nam.

Hai chữ “thôi nôi” chính là biểu hiện cho sự việc bé sẽ không ngủ trong nôi nữa. Đây cũng chính là ngụ ý thể hiện rằng bé đã lớn, phát triển.

Theo quan niệm của ông bà ta ghi chép lại thì mỗi đứa trẻ được sinh ra đời đều do 12 bà mụ nặn. Thành cùng với sự chấp thuận của Bà chúa Đầu Thai và các vị Đức Ông. Mỗi bà mụ sẽ đảm nhiệm việc nặng nên một bộ phận trên cơ thể của đứa trẻ như mắt, mũi, tay chân,.. Đứa trẻ nào mang hình hài xấu hay đẹp cũng đều do các bà mụ này nặn ra.

Chính vì lẽ đó mà vào những thời điểm như trẻ được 3 ngày tuổi, trẻ đầy 1 tháng tuổi và 1 năm tuổi. Gia đình sẽ tiến hành sửa soạn mâm cúng. Những mâm cúng này dùng để tạ ơn các bà mụ đã nặn ra hình hài của đứa bé. Cảm ơn các vị thần linh đã che chở, bảo hộ cho đứa trẻ.

Đồng thời lễ cúng đầy tháng cho bé đây cũng là dịp để gia đình tạ ơn ông bà tổ tiên. Cầu mong những sự tốt lành nhất sẽ đến với đứa trẻ trong những năm tháng về sau.

Mâm cúng mụ, mâm cúng thôi nôi bé trai cần phải chuẩn bị những lễ vật gì?

Lễ cúng thôi nôi đã tồn tại từ rất lâu đời và chúng cũng đang rất phổ biến hiện nay. Đây là một trong những nghi thức đánh dấu mốc quan trọng cho sự phát triển của một đứa trẻ.

  • Đầu tiên bạn cần phải chuẩn bị đầy đủ các lễ vật cúng đầy tháng, cúng mụ cho bé. Sau đó bạn sắp xếp lễ vật sao cho đầy đủ và đẹp mắt nhất.
  • Bạn nên chuẩn bị 2 chiếc bàn để tiến hành bày biện lễ vật cúng đầy tháng. Theo kinh nghiệm của người xưa để lại thì chiếc bàn lớn. Được dùng để bày lễ vật cúng 12 bà mụ và bà chúa. Còn chiếc bàn nhỏ thì dùng để cúng 3 đức ông. Một lưu ý cũng không kém phần quan trọng là cần phải kế chiếc bàn lớn cao hơn. Chiếc bàn nhỏ một chút, tối thiểu là 10cm.
  • Tiến hành thắp hương, đốt đèn để mời các mụ bà, đức ông, các vị thần linh hiện diện. Chứng giám cho lòng thành của gia đình.
  • Đại diện gia đình tiến hành đọc bài văn khấn để thể hiện lòng thành kính.
  • Sau đó đợi hương cháy gần hết, gia đình lạy tạ và đem giấy tiền vàng đi đốt.

Ai trong số chúng ta cũng đã từng nghe qua câu ” Đông Bình, Tây Quả” ít nhất một lần trong đời. Vậy bạn có biết được ý nghĩa của câu nói này không? Theo quan niệm của người xưa thì khi sắp xếp mâm cúng thì phía Đông sẽ bày biện bình hoa. Còn phía Tây là nơi để đặt dĩa trái cây.

Những lễ vật khác có thể sắp xếp sao cho hợp lý và đẹp mắt.Với những thông tin đã được chia sẻ về mâm cúng thôi nôi bé trai ở trên. Thì các bậc phụ huynh đã có thể chuẩn bị cho con của mình một mâm cúng đầy đủ nhất rồi. Bạn cũng nên ghi nhớ những lưu ý để có thể chuẩn bị buổi lễ được chu đáo nhất.

Vì đây được xem là buổi lễ quan trọng nhất của đứa trẻ trong những năm đầu đời. Nếu bạn chưa tự tin về vấn đề này thì hãy liên hệ ngay với những đơn vị chuyên tổ chức để được hỗ trợ tốt nhất.

Lựa chọn ngày âm hay ngày dương để tổ chức thôi nôi cho bé trai?

Khi chúng ta tổ chức tiệc thôi nôi cho bé trai thì nên lựa chọn ngày âm hay ngày dương? Và khi tổ chức tiệc thôi nôi, lễ cúng đầy năm cho bé trai có nên thực hiện thêm nghi lễ phóng sanh hay không?

Để có thể tổ chức được tiệc thôi nôi cho bé trai thì chúng ta cần phải lựa chọn ngày và giờ tổ chức. Rất nhiều bố mẹ lần đầu tổ chức lễ cúng mụ cho bé lần đầu tiên. Đã gặp rắc rối khi không biết cúng thôi nôi ngày âm hay dương? Đây là một trong những vấn đề được rất nhiều cha mẹ quan tâm khi lựa chọn ngày và giờ.

Xuất phát từ văn hóa vùng miền cũng như quan niệm cá nhân mà mỗi nơi có cách lựa chọn ngày và giờ khác nhau. Nên lựa chọn ngày âm hay ngày dương để tổ chức tiệc thôi nôi cho bé trai? Và khi chúng ta tổ chức tiệc thôi nôi cho bé trai có nên thực hiện nghi lễ phóng sanh hay không?

Vì sao cúng thôi nôi cho bé trai thường lựa chọn ngày âm?

Ngày âm là ngày được tính dựa trên quy luật của mặt trăng. Còn ngày dương được tính dựa trên quy luật của mặt trời. Thông thường thì các nước phương tây họ sử dụng lịch dương để tính. Còn các nước phương đông sẽ sử dụng lịch âm để tính ngày và giờ quan trọng.

Ông bà cha mẹ ta thường tổ chức lễ cúng đầy năm cho bé trai dựa trên lịch âm. Đây là một trong những cách tính lâu đài chịu ảnh hưởng sâu sắc của Trung Quốc. Việt Nam là một trong những quốc gia bị Trung Hoa đô hộ hơn 1000 năm. Chính vì lý do đó mà văn hóa cũng như truyền thống của Việt Nam. Bị ảnh hưởng sâu sắc bởi văn hóa và truyền thống của Trung Quốc.

Do đó ông bà cha mẹ ta thường có thói quen là lựa chọn ngày tổ chức thôi nôi cho bé trai là ngày âm. Và tục lệ này đã truyền từ đời này sang đời khác đến nay. Thì người ta vẫn lựa chọn ngày âm để tổ chức sinh nhật 1 tuổi và lễ cúng mụ cho bé. Nếu như gia đình có tục lệ là sử dụng ngày âm thì chúng ta có thể lựa chọn ngày và giờ tổ chức lễ cúng thôi nôi cho bé trai, bé gái theo lịch âm.

Cha mẹ có thể lựa chọn ngày và giờ tổ chức vào đúng ngày mà bé được sinh ra cách đây 1 năm. Ngoài ra cũng tùy thuộc vào quan niệm tính của từng địa phương. Mà chúng ta có thể tăng hoặc giảm số ngày sao cho phù hợp nhất. Tiệc thôi nôi làm ngày âm hay dương để tổ chức tiệc thôi nôi cho bé không quan trọng? Quan trọng là trong buổi lễ cúng đầy năm cho bé trai chúng ta cần phải thể hiện. Được lòng thành kính của mình đối với 12 Bà Mụ.

Cúng thôi nôi ngày dương được không?

Có nên lựa chọn ngày dương để tổ chức tiệc thôi nôi cho bé trai hay không? cúng thôi nôi ngày dương được không? Cũng là một trong những vấn đề được nhiều người thắc mắc. Thông thường thì theo quan niệm truyền thống người ta lựa chọn ngày âm để làm lễ cúng mụ cho bé. Tuy nhiên cũng có nhiều cha mẹ không chú ý đến ngày sinh nhật tính theo lịch âm của bé.

Nên chúng ta vẫn có thể tổ chức lễ cúng thôi nôi cho bé trai dựa trên sinh nhật tính theo lịch dương. Việc lựa chọn ngày dương để tính ngày tổ chức tiệc thôi nôi có thể trùng với ngày sinh nhật của bé. Và cha mẹ có thể kết hợp tổ chức luôn tiệc sinh nhật 1 tuổi cho bé để mời người thân và bạn bè đến dự.

Cúng thôi nôi cho bé trai có nên thực hiện nghi lễ phóng sanh hay không?

Có rất nhiều gia đình khi chúng ta tổ chức xong tiệc thôi nôi cho bé trai. Sẽ tổ chức lễ phóng sanh. Thông thường thì họ sẽ phóng sanh 7 con vật đại diện cho bé trai. Việc chúng ta đã phóng sinh sau cúng thôi nôi cho bé là không bắt buộc. Tùy theo điều kiện của mỗi gia đình mà chúng ta có thể thực hiện nghi lễ phóng sanh.

Nghi lễ phóng sanh xuất phát từ tính từ bi của đạo Phật. Và đây cũng là một trong những cách để giúp cho chúng ta. Làm thêm nhiều việc thiện và tăng thêm p. Thì chúng ta vẫn có thể tổ chức lễ phóng sanh. Đồng thời đây cũng là một trong những cách giáo dục của gia đình. Để trẻ biết yêu động vật và sống chan hòa hơn.

Đặt mâm cúng thôi nôi cho bé trai đơn giản ở đâu là tốt nhất?

Không phải đơn vị nào cung cấp dịch vụ đặt mâm cúng đầy năm cho bé trai cũng là đơn vị uy tín và chất lượng. Do đó khi chúng ta có nhu cầu đặt mâm cúng thôi nôi cho bé trai. Thì nên lựa chọn đơn vị cung cấp kỹ càng. Đây là một trong những yếu tố quan trọng để giúp cho chúng ta. Có thể sở hữu được mâm cúng thôi nôi bé trai chất lượng và đầy đủ.

Với kinh nghiệm nhiều năm trong việc cung cấp mâm cúng thôi nôi cho bé trai. Chúng tôi cam kết sẽ mang đến sự hài lòng cao nhất cho khách hàng. Tùy theo yêu cầu cũng như điều kiện của mỗi gia đình. Mà chúng tôi sẽ giới thiệu những gói dịch vụ mâm cúng mụ, cúng thôi cho bé phù hợp.

Hỗ trợ giao lễ vật cúng thôi nôi cho bé trai tận nhà cho khách hàng. Để giúp cho cha mẹ dễ dàng tổ chức. Đội ngũ nhân viên của chúng tôi sẽ hỗ trợ sắp xếp lễ vật. Trên mâm cúng thôi nôi cho bé hài hòa và đẹp mắt cho gia chủ.

Chiết khấu cao và tặng kèm nhiều phần quà giá trị đối với những gia đình. Có nhu cầu đặt mâm cúng cao cấp. Chỉ cần liên hệ với chúng tôi thông qua số hotline là sẽ được hỗ trợ tư vấn tận tình và chuyên nghiệp.

【#7】Giải Đáp Mọi Thắc Mắc Về Phật Di Lặc Trong Thờ Cúng & Phong Thủy

❂ Cách thỉnh Đức Phật Di Lặc về thờ cúng trong nhà

❂ Những kiến thức về Ban Thờ Thần Tài

Nói về Đức Phật Di Lặc chúng ta cần phải quay lại lịch sử Phật Pháp từ Ấn Độ tới Trung Quốc. Trước kia, có nhiều tà thuyết lấy hình ảnh Đức Phật Di Lặc làm tiêu chuẩn để họ tìm cách lôi kéo Phật Tử. Đức Phật Di Lặc là tên dịch từ thuở xưa. Sau này, vị bồ tát này được dịch ra nhiều tên khác nhưng do chúng ta đã quá quen gọi Ngài là Đức Phật Di Lặc rồi nên người ta dùng luôn tên này để gọi Ngài.

Chữ Di Lặc là phiên âm theo tiếng Phạn, Trung Quốc dịch là Từ Thị (Họ là Thị, Từ có nghĩa là Từ Bi). Có truyền thuyết nói rằng khi mẹ của Phật Di Lặc mang thai Ngài, khởi phát từ lòng thương nên bà không bao giờ nỡ giết hại chúng sanh và không hề ăn cá thịt cho nên gọi là “Từ” – Từ Bi. Vì Phật Di Lặc sinh ra từ bà mẹ có đức tính như vậy nên được gọi là Từ Thị. Lại có truyền thuyết khác nói rằng, vì thuở xưa, Phật Di Lặc tu về từ bi “tam muội” cho nên Ngài có tên gọi là Từ Thị. Tên thật sự của Ngài là A-Dật-Đa cũng chính là phiên âm tiếng Phạn. Dịch theo tiếng Trung Quốc là Vô Nan Thắng (Vô có nghĩa là Không, Nan có nghĩa là Khó) nghĩa là: Không thể nào hơn được. Đức Phật Di Lặc là một người xuất chúng, rất hiếm người có thể vượt qua Ngài về trí tuệ và hạnh tu. Vì vậy, Ngài có tên là Vô Nan Thắng. Đó là theo thói quen của chúng ta khi nói về Đức Phật còn nếu nói theo kinh Phật thì gọi là Bồ tát Di Lặc. Khi Ngài còn tại thế, Bồ tát Di Lặc là một người được sinh ở miền Nam Thiên Trúc. Sau khi gặp Phật, Ngài xuất gia, tu theo hạnh Bồ Tát.

Tôi đã khảo qua nhiều kinh phật, đầu tiên, tôi xin dẫn kinh A-hàm. Trường A-hàm có nói rằng: Đức Phật có dạy:

“Sau này ở cõi Ta-bà, tâm của con người sẽ càng ngày càng ác, mười nghiệp thiện con người họ sẽ đều bỏ qua mà luôn tạo ra nhiều nghiệp ác. Đến khi nào con người quý mười nghiệp ác giống như khi xưa họ quý mười nghiệp thiện và tuổi thọ con người giảm xuống chỉ còn 10 tuổi thì Đức Phật Di Lặc sẽ ra đời.”

Khi con người nghiệp ác càng nhiều thì tuổi thọ cũng sẽ theo đó càng giảm. Giảm cho đến bao giờ tuổi thọ của con người chỉ còn là 10 tuổi. Hiện nay, tuổi thọ của chúng ta đang được coi như là 100 tuổi thì khi đó, tuổi thọ chúng ta sẽ chỉ còn 10 tuổi vì cả thế giới lúc đó sẽ có những tai nạn đao binh. Đao binh ở đây không phải là sự việc do con người chúng ta chém giết lẫn nhau, mà chính là những lá cây, cây cỏ cũng có thể biến thành đao gươm, chúng ta sẽ bị chặt, bị cắt mà chết.

Qua khỏi nạn đao bình sẽ tới nạn dịch bệnh từ là đau ốm trở thành bệnh dịch. Chính vì vậy mà đại đa số chúng sanh trên Thế giới sẽ chỉ còn sót lại rất ít những người tu hành ở ẩn tại trên non, trên núi. Khi họ sống qua cái thời chết chóc đó, họ tìm thấy họ hàng dòng tộc của họ đã chết, chỉ còn lại lưa thưa vài người. Khi đó, họ mới biết rằng từ trước đến giờ, dòng tộc của mình do đã làm quá nhiều điều ác nên đã gặp phải quả báo và phải chết như vậy. Cho nên họ càng nỗ lực tu hành, phải tu mười điều thiện. Khi cứ tu được mười điều thiện thì tuổi thọ họ càng tăng lên. Cứ 100 năm thì tăng lên 1 tuổi. Đến khi tuổi thọ của họ lên tới 64.000 tuổi, lúc đó, chúng sanh đông đảo làm lành, thuần hậu thì Phật ra đời ở dưới gốc cây Long Hoa – được gọi là hội Long Hoa.

Như vậy, Quý vị độc giả hãy thử tưởng tượng. Hiện tại, chúng ta đang ở mức tuổi thọ là 80 mà cứ 100 năm giảm xuống 1 tuổi, giảm tới khi còn 10 tuổi, rồi sẽ tăng lên cho đến khi 64.000 tuổi. Thì thời gian từ đây cho tới khi đó sẽ còn bao xa?

Theo sách Phật thì khi Phật Thích-Ca nhập diệt thì Đức Phật Di Lặc cũng sẽ nhập Niết-bàn. Ngài sanh lên cung trời Đâu-suất ở nội điện sống 4.000 tuổi. Sau đó, Ngài mới được sanh trong Thế giới Ta-bà, thành đạo dưới gốc cây Long Hoa và giáo hóa chúng sinh kế tiếp Đức Phật Thích Ca. Vậy tưởng chừng bao lâu Phật Di Lặc ra đời?

Vậy mà vẫn có một số người đọc trong kinh nói Đức Phật Di Lặc ra đời, và rồi họ bịa ra chuyện rằng ít nữa Đức Phật Di Lặc ra đời, ít nữa hội Long Hoa sẽ đến, … Đó thật sự đó đều là những tà tuyết để lừa bịp những Phật tử không hiểu Phật pháp, tệ hơn là có người còn tự xưng là Phật Di Lặc hoặc cổ động rằng mình sẽ chờ đón đức Phật Di Lặc.

Nếu chúng ta tin rằng Phật Di Lặc chỉ còn một lần lên cung trời Đâu-suất, sau này sẽ hạ sanh tại thế giới Ta-bà thành Phật. Chúng ta đã tin lời Phật Thích-ca nói trong kinh về Phật Di Lặc thì chúng ta cũng phải tin cả thời gian định ngày Phật Di Lặc ra đời. Chúng ta tin Đức Phật Di Lặc, tin rằng có hội Long Hoa mà lại quên đi thời gian hội Long Hoa. Chúng ta không nên hờ hững, cứ nghe ai nói Đức Phật Di Lặc ra đời thì lại vội vàng đến đó để đảnh lễ mong cầu. Đó là sự sai lầm rất lớn của chúng ta để những tà thuyết lợi dụng vào đó, lợi dụng vào cái danh của Phật giáo để tuyên truyền những mê tín dị đoan. Một người Phật Tử chân chính phải hiểu rõ những điều đó.

Đức Phật Di Lặc sang Trung Hoa vào thời điểm nào? Nếu dựa theo hình ảnh Phật Di Lặc mà chúng ta đang thờ thì không hề có hình ảnh của Bồ Tát Phật Di Lặc ở Ấn Độ, mà đó là hình ảnh Đức Phật Di Lặc tại Trung Hoa. Hình ảnh Đức Phật Di Lặc đã già và bụng lớn, mập mạp đó không phải hình ảnh Phật Di Lặc của Ấn Độ mà là hình ảnh Phật Di Lặc của Trung Hoa. Có nhiều thuyết nói rằng Bồ tát Phật Di Lặc hiện đang ở trên cung trời Đâu-suất. Ngài chưa tới thời kỳ giáo hóa con người. Với tinh thần của một người nghiên cứu Phật giáo, tôi xin chia sẻ. Bồ-tát có báo thân, ứng thân và hóa thân. Tùy vào căn cơ chúng sanh mà Bồ-tát ứng hóa vô lượng thân, chúng ta không thể đoán được. Trong sử sách của Trung Hoa có truyền lại thì có 2 hóa thân của Bồ tát Di Lặc.

Phật Di Lặc bên Ấn Độ

Một hôm, sau khi Phật tử dùng xong bữa trưa, các Phật tử trong chùa đều đi nghỉ hết. Hai người trèo lên cổ của ngài Văn Thù và Phổ Hiền. Một ông tăng nhìn thấy, vội chạy đi báo ngay cho trụ trì. Trụ trì tới kéo hai người xuống rồi quở trách đủ thứ.

Hai người đó là bạn thân của Ngài Tăng Can. Một ngày, Chủ Huyện có bệnh nặng. Ông nằm chiêm bao thấy Ngài Tăng Can tự xưng là Đức Phật Di Lặc bảo ông chủ huyện tới đảnh lễ Bồ tát Văn Thù và Phổ Hiền rồi Ngài sẽ chỉ cho ông phương thuốc để chữa hết bệnh. Và để đảnh lễ hai vị Bồ Tát đó thì hãy vào chùa Quốc Thanh và hỏi tên Hàn Sơn, Thập Đắc vì đó chính là Bồ tát Văn Thù và Phổ Hiền. Ông chủ huyện đã nghe theo lời của Ngài liền tới chùa Quốc Thanh để gặp hai vị Bồ Tát Hàn Sơn, Thập Đắc. Khi trụ trì thấy ông chủ huyện tới hỏi hai người ăn xin trong chùa thì trụ trì ngại quá không muốn gọi nhưng do ông chủ huyện rất mong mỏi và thành ý muốn gặp hai vị đó nên buộc lòng trụ trì phải gọi hai vị ra.

Hai vị nắm tay đi ra. Ông chủ huyện vừa nhìn thấy hai vị ông chủ huyện đã quỳ rạp xuống lạy. Hai vị mới cười rồi nói rằng: “Cái lão Tăng Can bày đặt làm cho ta phải bại lộ rồi.” Rồi hai Ngài cõng nhau chạy tuốt vào rừng và biến mất. Do đó, tăng ni Phật Tử mới biết hai vị chính là hiện thân của Bồ tát Văn Thù và Bồ tát Phổ Hiền, còn ngài Tăng Can chính là hiện thân của Đức Phật Di Lặc. Nhưng khi biết thì đã không còn cơ hội gặp các Đức Ngài nữa rồi. Vậy là không ai có thể đảnh lễ các Ngài được hết.

Một vị Bồ tát khác vào thế kỷ thứ 10 đời Ngũ Đại của Trung Hoa gọi là Bố Đại Hòa Thượng. Vị Bồ Tát này gần gũi với chúng ta nhất, ngày chính là vị Bồ Tát luôn mang theo chiếc túi lớn, mặt tròn trịa, bụng lớn, áo phanh ngực, miệng luôn cười một cách sảng khoái. Ngài Bố Đại Hòa Thường lúc nào cũng mang theo chiếc túi lớn đi khắp nơi nhân gian, đi tới đâu có cái gì, Ngài đều xin bỏ vào túi. Đến chỗ có trẻ con đông, Ngài ngồi xuống chơi đùa với chúng rồi mang ra phân chia cho. Người ta thấy lúc nào cũng miệng Ngài cũng nở nụ cười vui vẻ, thích thú. Đó chính là hình tượng Đức Phật Di Lặc mà ngày nay chúng ta vẫn hay thờ cúng, một vị Hòa thượng có chiếc bụng lớn, mập mạp, miệng cười sảng khoái.

Đó là tất thảy những gì về sự tính Đức Phật Di Lặc mà tôi khảo được để chia sẻ cho quý độc giả.

Thật ra tướng mạo của Đức Phật Di Lặc không biết thật sự như thế nào (theo sách Đàm Thiên Thuyết Địa Nhân Luận). Mà lấy hình ảnh của Bố Đại Hòa Thượng có thân hình vừa lùn lại vừa mập mạp, bụng thì lớn lộ ra, miệng thì luôn luôn cười sảng khoái, lưng thì đeo thêm túi vải, tự do và phóng khoáng đi khắp mọi nơi, giúp cho đời ngộ đạo hơn nữa lại có tài đoán hung cát cho mọi người.

Đặc điểm nổi bật, ai nhìn vào cũng được truyền sự sảng khoái từ nụ cười của Ngài. Có người nói: “Miệng rộng hay cười, cười là sự đáng cười tại nhân thế”. Đức Phật Di Lặc luôn cười dù cho có những đứa trẻ tinh nghịch dùng tay mà ngoáy vào miệng, dùi vào lỗ rốn. Điều này có ý răn rằng dù cho bất cứ rơi vào các nghịch cảnh nào thì ta cũng nên phải tĩnh lại, trong lòng luôn có hoa nở rạng rỡ và sảng khoái trên môi như Đức Phật Di Lặc.

Bụng phệ chính là đặc điểm nổi bật thứ hai. ” Bụng lớn năng dung, dung những điều khó dung của thế gian.” Những điều khó dung của thế gian ý nói ở đây những chuyện buồn nơi nhân thế, là tất thảy những gì người đời khó dung chứa. Ngoài ra còn có Đại Bố ( túi vải) cũng chính là đựng vô lượng diệu pháp đi bố thí cho chúng sanh. Đó chính là lòng đại từ bi, lòng bao dung cao thượng, cũng là lý do tại sao ngài có nụ cười sảng khoái tới thế. Bởi thế mà nhân gian truyền tai nhau rằng nếu được xoa bụng Đức Phật Di Lặc sẽ mang lại vận may mắn.

Ngoài nụ cười rạng rỡ ra chúng ta còn thấy đôi tai của ngài. Đôi tay này được gọi là đôi tai nhà Phật. Các nhà nhân tướng học gọi là Thùy Kiên Nhĩ. Đó là đôi tai mà có Thùy Châu ( tức dái tai) lớn và đầy đặn kéo trễ tới vai. Đôi tai nhà Phật đó có ý nghĩa là một đôi tai luôn luôn lắng nghe tiếng lòng nơi nhân thế, dù có chuyện xấu tới đâu Ngài cũng dung giải chúng thành những tiếng cười tự do, phóng khoáng, vô tư lự. Điều này có ý răn rằng dù cho chuyện đời có thế nào, có người nói thế này, lại có người nói thế kia, nói tốt về ta hay không thì hãy cứ nghe nhưng tâm phải sáng, lòng phải luôn sảng khoái thì đời mới tươi đẹp được.

Trong tranh hay tượng chúng ta sẽ thấy có hình ảnh ngài ngồi trên mặt đất, hai chân xếp nhau nhưng với tư thế sẵn sàng đứng dậy mang ý nghĩa sẵn sàng độ hóa cho nhân gian, tạo phúc cho thiên hạ.

Chính hình ảnh Đức Ngài ở Trung Quốc, đã tạo nên Đức Phật Di Lặc có nhân tướng mập, tròn vui vẻ, miệng cười tai lớn với trẻ con vây quanh. Đó chính là hình ảnh của vị Bố Đại Hòa Thượng hóa thân của Đức Phật Di Lặc tại xứ này vào thế kỷ thứ 10. Quan điểm này chính là quan điểm lịch sử nói lên nhân tướng của Đức Phật Di Lặc được thờ cúng phổ biến ngày nay.

Do đó nếu muốn có tâm rộng lượng thái độ hoan hỉ ta nên học theo ngài, học thần thái luôn hoan hỉ của Đức Phật Di Lặc giúp cho tâm thanh tịnh, tâm đã thanh tịnh thì mọi việc sẽ vô thường.

II. Ý nghĩa của Tượng Phật Di Lặc trong phong thủy

Ý nghĩa lớn đời thường chúng ta có thể thấy được ở tượng hoặc tranh Đức Phật Di Lặc chính là nụ cười hoan hỉ một cách bất diệt giúp cho chúng ta cảm nhận được sự bao dung không bờ bến. Bởi thế mà Đức Phật Di Lặc còn được gọi một tên gọi nữa đó là “Phật Cười”, cũng là nói lên niềm vui lớn nhất của vị “Phật Cười” chính là hóa giải những căng thẳng, u uất, buồn phiền của con người thành niềm hạnh phúc, cũng là khi chúng ta cảm nhận được khi ngắm nhìn hình tượng của ngài qua hình ảnh Bố Đại Hòa Thượng đó là sự nhẹ nhàng và thanh thản nơi tâm hồn.

Thật ra, theo tôi thái độ của chúng ta phản ứng với hoàn cảnh làm nên con người ta chứ không phải nghịch cảnh quyết định ta. Điều này chứng tỏ chúng ta có thể quyết định, điềuk hiển thái độ của mình khi đối diện với một sự kiện xảy đến trong cuộc đời. Và điều ta học được từ Đức Phật Di Lặc chính là phản ứng khi vượt qua nghịch cảnh một cách hoan hỉ. Hãy cười để quyết định cuộc sống của chính mình. Đó cũng là điều mà Đạo Phật luôn ước mong là gửi gắm tới nhân gian.

Tuy nhiên cười rất dễ mà lại rất khó, cười không gây cho chúng ta mất đi điều gì mà mang lợi nhiều hơn. Nhưng cái khó là trong xã hội hiện đại con người đối mặt với đầy dẫy những áp lực trong cuộc sống. Thật hiếm thấy khi nào chúng ta nụ cười sảng khoái, có chăng cũng chỉ là nụ cười gượng gạo. Cũng đúng thôi, khi mà còn bị đè nặng bởi những siêu áp lực thì tâm trí ta nào có cách nào để sảng khoái mà cười tự nhiên cho được. Nói cách khác chính là con người có cười được sảng khoái tự nhiên thì tâm phải nhẹ nhàng, thanh thản mà không vướng bận lo âu điều gì.

Đời vốn dĩ là bể khổ, mà càng khổ chúng ta càng nên cười bởi vì chính nụ cười là chìa khóa giúp chúng ta vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống, cười làm cho cách nhìn thế giới sẽ an nhiên, mang lại những sự thông cảm giữa con người với con người, mở rộng trái tim để sẵn sàng kết nối. Cười là một yếu tố lây lan, nó giúp lây lan những xúc cảm tích cực, ai mà có thể vui được khi bạn mình còn đang buồn, còn đang gắt gỏng giận hờn. Nhưng khi chúng ta tặng nhau những nụ cười tức là đang giúp nhau cùng nhau vượt qua “bể khổ”.

Cười có mang lại cuộc sống tươi đẹp như vậy nhưng làm cách nào mà chúng ta luôn có được điều này. Đó là khi tâm hồn đã buông bỏ được những sự phiền muộn, ưu tư, hờn giận… Đó là khi ta biết cười tán dương cho hạnh phúc của người khác, khi thế gian có nhiều chuyện dù khó cũng không thể làm ta khó cười. Giống như Đức Phật Di Lặc có nụ cười sảng khoái đến thế, thể hiện cho sự hạnh phúc tại Tâm, hoan hỷ và lòng bao dung con người.

Chỉ mới ngắm thần thái Đức Phật Di Lặc mà chúng ta đã rút ra được các chân lý cuộc đời, đó cũng chính là một trong những ý nghĩa phong thủy của ngài “Phật Cười” mang lại.

Khi chọn tượng, người ta rất thích chọn pho tượng Phật Di Lặc nào mà có thần thái cười hả hê. Chính là thể hiện ước muốn được nhiều niềm vui và vạn sự như ý. Ngoài ra Ngài cũng chính là biểu tượng của sự thịnh vượng. Chúng ta thường thấy những hình ảnh tạc tượng Đức Phật Di Lặc với xung quanh là vàng bạc, tiền đồng và người ta cho rằng túi vải của Phật Cười chứa rất nhiều châu báu. Ngoài ra hình ảnh người cầm gậy như ý biểu tượng của quyền lực.

Như vậy mỗi hình ảnh tượng Phật Di Lặc sẽ mang một ý nghĩa riêng biệt khác nhau, có 6 hình tượng Phật Di Lặc được miêu tả phổ biến như sau:

Gậy như ý chính là sự tượng trưng cho quyền lực, do đó có ý nghĩa mang lại những sự thuận lợi về con đường công danh.

Bình Hồ Lô tượng trưng cho sức khỏe và tuổi thọ kéo dài. Ý nghĩa mang lại cuộc sống an nhiên và sức khỏe.

Bên cạnh hình tượng Đức Phật Di Lặc xung quanh còn có 5 đứa trẻ, đứa thì vặt mũi, đứa thì xoa đầu, đứa thì dùi rốn…. ý nghĩa thỏa ước mong con đàn cháu đống, cuộc sống gia đình hòa thuận bền vững.

Hình ảnh ngài ngồi dưới gốc cây đào, gốc cây tùng, mặt cười vô lo có ý nghĩa mang lại sự mãn nguyện, bình yên, hài lòng với hoàn cảnh hiện tại. Ngoài ra khi hình tượng ngài ngồi dưới gốc cây Tùng có ý nghĩa xua đuổi ta ma ngoại đạo.

Đó là hình ảnh mà Ngài sẽ giúp đỡ chúng sinh, mang đi những “Tảng đá” oán hận đi để lại niềm vui và sức mạnh vượt qua mọi khó khăn.

Đây chính là hình ảnh có ý nghĩa thỏa mong ước tài vận, thỏa cầu giàu sang phú quý.

Suy cho cùng ý nghĩa của tượng Phật Di Lặc mang lại về sự sung túc về con cháu, cuộc sống an nhiên, hạnh phúc, tài chính vững bền may mắn, sức khỏe tốt, cuộc sống trường thọ… nên tùy từng ý nghĩa phong thủy mà quý độc giả ước muốn, mà tìm tượng phù hợp.

【#8】Bàn Về Chuyện Tái Sinh, Đầu Thai Và Cúng Cơm

H. Bạn có tin tái sinh không? Nếu tin là có tái sinh thì vì sao bạn lại tin?

Đ. Tin vào Thánh ngôn lượng. Lịch sử Đức Phật cho biết chính Ngài đã có những kiếp sống quá khứ. Trong cuối bài Đức Phật có nói: ” Trải qua vô lượng kiếp Luân Hồi, Như Lai đã phải đi lạc đường, trong khi muốn tìm cho ra người thợ cất nhà này; khốn khổ thay, Như Lai đã phải sanh đi, sanh lại triền miên”. kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakka sutta) Đức Phật đã thuyết: “Đây là kiếp sống cuối cùng của Như Lai. Từ đây Như Lai không còn tái sanh nữa”. Tương tự như trong Kinh Pháp Cú

H. Nếu tin là có tái sinh, vậy có người nào chết mà không tái sinh không?

Câu trả lời là có. Có người chết tái sinh và cũng có người chết không tái sinh.

H. Vậy điều kiện nào để một người được tái sinh và một người không được tái sinh?

H. Nếu tin là có tái sinh, vậy cái gì dẫn dắt chúng ta đi tái sinh?

Đ. Thân mạng của con người được được kết hợp bởi năm nhóm, mà Phật giáo gọi là ( “Năm uẩn“. Năm uẩn là những yếu tố vật chất và tinh thần, gồm: SắcThọThức( chỉ thân và sáu giác quan hay còn gọi là lục căn, bao gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý, do Tứ đại chủng tạo thành, đó là bốn yếu tố đất, nước, gió, lửa. Sắc tạo nên các giác quan và đối tượng của chúng), là những hoạt động tâm lí sau khi có tưởng, ví dụ chú ý, đánh giá, vui thích, ghét bỏ, quyết tâm, tỉnh giác. Hành là đối tượng đã tạo nên nghiệp thiện ác...) và bao gồm sáu dạng ý thức liên hệ tới sáu giác quan: Ý thức của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Thức phụ thuộc vào sáu căn tiếp xúc với sáu trần để hình thành nên sáu thức. Nếu không có thức người ta sẽ không phân biệt được màu sắc hay âm thanh v.v).

Khi mệnh chung, thân mạng mất đi, những nhóm đó tan rã, nhưng kết quả của những hành động do thân, khẩu, ý tạo nên vẫn còn tác động. Cái “còn tác động” sau đó Phật giáo gọi là “”, và nghiệp lực này dẫn dắt chúng ta đi tái sinh.

Mặc dù nghiệp lực dẫn dắt chúng ta đi tái sinh nhưng phải có một cái gì đó để mà đi tái sinh. Cái gì đó, theo Phật Giáo chính là cái thức tái sanh (Đạt Lai Lạt Ma là “một cái ý thức” xuất hiện ngay chính vào thời điểm thụ thai. ( Ngài trả lời trong một dịp trả lời phỏng vấn về ngừa thai)patisandhivinnâna), hay theo cách gọi của Đức

H. Vậy cái thức tái sanh này là gì và từ đâu ra, tại sao lại đợi đến lúc thụ tinh mới xuất hiện?

H. Khi được tái sanh trở lại làm người, vậy người trong kiếp này và người của kiếp sau có phải cùng là một người không hay là hai người khác nhau?

– Ví như kẻ trộm xoài, chủ nhà bắt được quả tang dẫn đến đại vương nhờ xử trị. Bị cáo cãi rằng: “Hạ thần không hái xoài của người ấy. Trái xoài của anh ta trồng hồi trước chỉ là hạt mầm ở dưới gốc còn trái mà hạ thần hái là trái to ở trên cành. Hạ thần không có ăn trộm.” Tâu đại vương! Với lý lẽ như thế, đại vương có xử phạt y được không?

– Thưa đại đức, dẫu có ngụy biện hay ho, trẫm vẫn xử phạt tên ăn trộm kia như thường!

– Sao lại thế được? Y đâu có hái cắp trái của người kia trồng đâu mà xử tội, hở đại vương?

– Đành rằng thế, nhưng mà trái cây y hái trộm ấy cũng do từ trái kia sanh ra, nó nẩy mầm, tăng trưởng mà thành.Cho nên người ki a cũng không thoát khỏi tội.

– Cũng như thế đó là danh sắc cũ và danh sắc mới, tâu đại vương. Việc tái sanh từ đời này sang đời kia cũng vậy. Các nghiệp thiện ác trong đời giống như đã gieo hạt giống, nẩy mầm, tăng trưởng, mai sau tất có quả báo.”

( http://thuvienhoasen.org/p19a1000/tu-cau-hoi-so-021-den-048 )

Nếu ta trong kiếp này và ta ở kiếp sau là một, thì ta là một linh hồn trường cửu bất biến. Đó là quan điểm của nhất thần giáo, tin có một đấng sáng tạo, có một linh hồn sống mãi.

Nói một cách khác dễ hiểu hơn, một người nào đó sau khi tái sinh thì sẽ không còn giống như trước nữa thế nhưng cũng không phải là hoàn toàn khác hẳn.

H. Khi con người chết đi, nghĩa là thân tâm () bị hoại diệt, ngũ uẩn tan rã, không còn gì cả, vậy xin hỏi rằng những lễ cầu siêu cúng cơm, thân nhân đã chết có được hưởng gì không?

Đối với một cơ thể đã chết, bộ phận cơ thể, là Căn, đã ngưng hoạt động, có nghĩa là bộ ba đã mất một phần, thế thì những sinh hoạt về vật chất như ăn uống, hiển nhiên là không thể tiếp tục.

Có người cho rằng sau khi đã qua đời, người chết vẫn còn ăn, gọi là Thức thực. Như chúng ta đã biết, Thức vốn vô hình, nếu có Thức thực thì cũng chỉ là “cảm” được những tâm niệm thương ghét, an ủi, v.v… không thể “ăn” được món ăn vật chất như xôi chè, hoa quả. Nếu quả thật là còn có sự thèm ăn, thấy thân nhân bầy những món ngon, mà thần thức lại không thể ăn được, thì chỉ thêm thèm thuồng đau khổ mà thôi!

H. Chúng sinh chết rồi tái sinh, tái sinh rồi chết, vậy khoảng thời gian dài ngắn sau khi chết để đi tái sinh là như thế nào?

Đ. Theo Phật Giáo Nam Truyền, việc tái sinh xảy ra tức khắc chỉ trong một sát na niệm tưởng, không để trống khoảnh khắc nào trong trạng thái lưng chừng giống như làn sóng điện lan trong không gian, tức khắc được phát sinh trong máy thu thanh hay thu hình. Sự sinh tử xảy ra cực kỳ nhanh chóng và được xem là một tiến trình liên tục.

【#9】Những Điều Cần Biết Về Việc Cúng Thần Tài

Nguồn gốc của Thần Tài – Thổ Địa

Thần Tài, Thổ Địa là hai vị thần đại diện cho 10 vị thần. Thần Tài đại diện cho Hoàng Thần Tài, Bạch Thần Tài, Xích Thần Tài, Thanh Thần Tài, Hắc Thần Tài. Thần Thổ địa đại diện cho 5 vị thần là Đông Phương Thanh Đế, Tây Phương Bạch Đế, Bắc Phương Hắc Đế, Nam Phương Xích Đế, Trung Ương Huỳnh Đế.

Nguồn gốc của Thần Tài

Tục thờ Thần Tài xuất hiện ở nước ta từ khoảng đầu thế kỷ XX. Tương truyền tục thờ thần tài có nguồn gốc xuất xứ từ Trung Quốc. Theo truyền thuyết thì xưa kia có một người lái buôn Trung Quốc có tên gọi là Âu Minh đi qua một cái hồ tên Thanh Thảo thì vô tình gặp được Thủy Thần và được Thủy Thần cho một gia nhân về nhà nuôi tên là Như Nguyện. Từ khi đem người gia nhân ấy về nuôi thì công việc làm ăn của Âu Minh ngày càng suôn sẻ, thuận lợi, phát đạt. Nhưng sau đó, vào một ngày Tết không biết vì lý do nào đó mà Âu Minh đã đánh Như Nguyện khiến cho người này sợ hãi chui vào đống rác và biến mất. Kể từ khi Như Nguyện biến mất thì công việc của Âu Minh bỗng gặp nhiều khó khăn, làm ăn thua lỗ và trở nên nghèo xơ xác. Từ đó, mà người ta truyền rằng Như Nguyện chính là thần Tài và họ lập bàn thờ Như Nguyện cũng chính là thờ Thần Tài, bàn thờ Thần Tài được lập ở dưới đất trong một góc khuất của ngôi nhà. Kể từ đó, trong những ngày Tết con người ta kiêng quét nhà, hót rác bởi sợ thần Tài ẩn trong đống rác nếu quét và hót rác sẽ làm mất Thần Tài.

Theo một điển tích khác thì người ta quan niệm Thần Tài là một dạng thần Thổ Địa (thần Đất). Đây được coi là vị thần hộ mệnh của làng xóm giúp con người cai quản đất đai. Thần Thổ Địa giống như một vị thần bảo hộ giúp con người làm ăn, trông coi tiền tài, vàng bạc.

Theo một điển tích khác lại cho rằng Thần Tài chính là Bố Đại La Hán hay còn gọi là Nhân Yết Đà Tôn Giả (một trong thập bát La Hán). Đây chính là người chuyên đi bắt rắn với túi vải to trên lưng, sau khi bắn rắn độc thì ông nhổ bỏ răng độc của chúng rồi thả rắn đi. Theo tương truyền, người Trung Quốc cho rằng Bố Đại được đầu thai tại nước Lương, có tên gọi là Phó Đại Sĩ. Ông này tính tình thoải mái, vui vẻ, ăn mặc xốc xếch, trên vai thường đeo túi vải to, ai cho gì cũng lấy và dồn vào túi vải để đem phân phát cho trẻ con. Chính vì thế mà Thần Tài thường có hình tượng là một người to béo, mang túi vải, hai tay đưa cao, thẳng lên trời, mặt mũi vui vẻ, tươi cười thoải mái biểu trưng cho sự may mắn, tài lộc, thành công.

Về Thần Thổ Địa thì đây được coi là Thổ Công – một vị thần chăm sóc, cai quản đất đai. Trong mỗi gia đình đều có một vị Thổ Công, Thổ Công là vị thần giúp trông coi nhà cửa, đất đai, dự định họa phúc của gia đình ấy. Việc thờ cúng Thần Thổ Địa có nguồn gốc xuất phát từ thời thượng cổ khi nền nông nghiệp phát triển bởi có đất đai mới có thể làm nông nghiệp, làm ra của cải, vật chất để đảm bảo cuộc sống. Qua thời gian, con người càng trở nên tin tưởng, sùng bái và tôn thờ thần Thổ Địa là một trong những vị thần tối cao. Ngày nay, tùy theo văn hóa từng vùng miền thì thần Thổ Địa được biến hóa dưới nhiều hình tượng khác nhau. Thần Thổ Địa có thể là một ông già to béo, bụng phệ, ngực lớn, tay cầm quạt hoặc điếu thuốc lá, mặt mũi hiền lành, miệng cười thoải mái, trông rất phương phi, phong thái kèm theo chút hài hước. Có khi thần Thổ Địa lại được thể hiện với hình tượng là một ông già râu tóc bạc phơ, đội khăn mỏ quạ, áo dài, râu tóc dài trắng như cước.

Cách bài trí và sắp xếp bàn thờ Thần Tài – Thần Thổ Địa theo phong thủy

Bàn thờ Thần Tài và Thổ Địa thường được làm chung trong một tủ thờ đặt ở dưới nền nhà, thường là trong góc khuất nhưng cần sạch sẽ. Tủ thờ thường được làm bằng gỗ đặt ở nơi có vách dựa vào và hướng thẳng ra cửa đặc biệt là đối với những người làm ăn kinh doanh họ rất chú trọng việc này nhằm mong muốn việc kinh doanh của mình luôn phát đạt.

Bàn thờ Thần Tài – Thổ Địa thường được dán một lá bùa màu đỏ viết bằng mực nhũ kim với nội dung “Ngũ phương Ngũ thổ Long thần, Tiền hậu địa Chúa Tài thần” và được sơn son thiếp vàng, phía bên trong thì được khảm hoặc dán bài vị của Thần Tài. Bên trái bàn thờ đặt Thần Tài, bên phải đặt Thần Thổ Địa, ở giữa hai vị thần đặt một hũ gạo, một hũ muối, một hũ nước đầy. Ba hũ được đặt trên bàn thờ thì sẽ được dùng thờ quanh năm đến cuối năm mới được thay mới.

Giữa bàn thờ hai vị thần này được đặt một bát hương, trước khi đặt bát hương thì cần phải chọn ngày lành tháng tốt, giờ đẹp và tuân thủ một số quy định. Bát hương cần được cố định tránh bị xê dịch sẽ ảnh hưởng tới gia chủ vì vậy mà người ta thường dùng keo để gắn bát hương vào bàn thờ.

Theo phong thủy thì trên bàn thờ sẽ thường đặt lọ hoa ở phía bên phải và thường là các loại hoa như hoa cúc, hoa hồng, hoa đồng tiền. Mâm ngũ quả hoặc đĩa trái cây sẽ được đặt ở phía bên trái. Trên bàn thờ còn có 5 chén nước xếp theo hình chữ thập tượng trưng cho sự tương sinh của ngũ hành và cũng là đại diện cho 5 vị Thần Tài và 5 vị thần Thổ Địa.

Bên cạnh đó, trên bàn thờ còn có thể đặt một bó tỏi hoặc một đĩa tỏi 5 củ còn tươi, đẹp với ý nghĩa giúp bài trừ đạo chích, vong bình, chông tà sư phá hoại bàn thờ bằng bùa, ngải. Trên nóc tủ thờ thì gia chủ nên đặt tượng Phật Di Lặc hoặc các câu chú Phạn Tự (tượng trưng cho cơ quan chủ quản của các Thần) nhằm quản lý không cho các thần làm điều sai trái.

Thờ cúng Thần Tài – Thần Thổ Địa vào thời gian nào?

Ngày xưa thì người ta thường chỉ thờ cúng Thần Tài – Thần Thổ Địa vào những ngày lễ Tết. Nhưng hiện nay, người ta không chỉ cúng vào những ngày Tết mà họ còn cúng quanh năm. Đặc biệt là đối với những gia đình làm ăn, buôn bán thì họ cúng hàng ngày, vào sáng sớm họ đã thắp hương các vị thần để xin phù hộ việc làm ăn, buôn bán được suôn sẻ, phát đạt, thịnh vượng.

Ngoài ra, người ta còn cúng ngày vía Thần Tài, một ngày rất quan trọng với mục đích tưởng nhớ Thần Tài nên vào ngày mùng 10 tháng Giêng âm lịch hàng năm. Ngày này, tất cả mọi nhà, cửa hàng, công ty,.. thờ Thần Tài thì đều sắm lễ vật để cúng cầu xin một năm làm ăn phát đạt, may mắn, thuận lợi, thịnh vượng.

Thờ cúng Thần Tài – Thần Thổ Địa bằng những lễ vật gì?

Thông thường hàng ngày thì chỉ cần cúng nước, hoa quả, trái cây đơn giản nhưng vào những ngày lễ tết, sóc vọng thì lễ vật thường cầu kỳ hơn kèm theo lễ mặn. Đối với Thần Tài thì lễ vật để cúng thường là vịt quay, heo quay, cua biển, chuối chín. Đối với Thần Thổ Địa thì lễ vật thường dùng là chuối xiêm, cà phê, thuốc lá.

Đặc biệt, trong ngày vía Thần Tài thì lễ vật để cúng sẽ bao gồm: một bình hoa, một con cua biển, một miếng thịt lợn quay, một con cá lóc nướng, một con tôm, một đĩa hoa quả, một mâm ngũ quả, một hũ rượu, một tệp tiền vàng.

Những lưu ý cần thiết khi thờ cúng Thần Tài – Thần Thổ Địa

– Lễ vật dùng để cúng Thần Tài – Thần Thổ Địa không cần quá cầu kỳ, tránh lãng phí chỉ cần sắp lễ đơn giản gồm hoa quả tươi, nước sạch.

– Vào những ngày cuối tháng và 14 âm lịch hàng tháng đặc biệt là vào ngày vía Thần Tài mùng 10 tháng Giêng thì gia chủ nên dùng nước hoa bưởi hoặc rượu pha nước để lau bàn thờ sạch sẽ. Khăn dùng để lau bàn thờ và tắm cho các vị thần thì không được dùng làm các việc khác.

– Cách thắp hương: đối với các gia đình kinh doanh làm ăn buôn bán thì người ta thường thắp hương, khấn vái vào buổi sáng sớm khi vừa mới mở cửa hàng bắt đầu một ngày làm việc mới. Nhưng việc thắp hương này không quy định thời gian, một số gia đình có thể thắp hương vào buổi tối hoặc bất cứ khi nào. Chỉ cần lựa chọn giờ tốt lành để hành lễ thì sẽ có thể kích hoạt trường khí cầu may mắn, tài lộc.

– Trên bàn thờ cần có đủ 5 chén nước tượng trưng cho 5 vị thần Tài và thần Thổ Địa. Trước khi lấy nước đổ vào chén thì cần rửa sạch chén sau đó đổ nước vào thì không nên đổ đầy quá để tránh nước bị tràn ra bàn thờ như thế sẽ rất không tốt vì vậy nên đổ nước cách miệng chén cách chừng khoảng 1 cm là vừa.

– Về thờ quả thì nên lựa chọn những loại hoa quả tươi, đẹp, không bị dập héo mà còn nguyên trạng. Có thể lựa chọn các loại trái cây như chuối, lê, táo, quýt, bưởi, cam,.. tùy theo mùa mà lựa chọn loại trái cây phù hợp. Sau khi thắp hương xong thì nên tạ lễ xuống, không được để lễ vật, hoa quả héo úa, thối hỏng trên bàn thờ điều đó sẽ rất xấu, gây khó khăn ảnh hưởng đến công việc làm ăn kinh doanh của gia chủ.

– Về việc sử dụng đèn, nến thờ cúng trên bàn thờ: chúng ta không nên sử dụng bóng đèn điện hoặc đèn nhấp nháy để trên bàn thờ bởi điều này sẽ dễ tạo ra trường khí xấu ảnh hưởng không tốt tới việc thờ cúng các vị thần. Hãy lựa chọn đèn dầu hoặc dùng nến thắp trên bàn thờ Thần Tài – Thần Thổ Địa.

– Sau khi cúng gạo, muối thì không đem rải, rắc, ném ra bên ngoài mà nên giữ lại, còn rượu sau khi cúng xong thì nên đứng ở ngoài cửa tưới vào trong nhà. Những điều có có hàm nghĩa mong muốn đem tài lộc vào trong nhà.

– Lễ vật, lộc cúng trên bàn thờ Thần Tài – Thổ Địa thì chỉ nên cho người nhà ăn, không nên chia cho người ngoài bởi quan niệm cho đi sẽ mất lộc.

– Không cho các con vật như chó, mèo,… nghịch quanh bàn thờ Thần Tài – Thổ Địa để tránh chúng sẽ quấy phá làm ô uế ảnh hưởng đến sự thanh tịnh của nơi thờ cúng.

– Vị trí đặt bàn thờ Thần Tài – Thần Thổ Địa được đặt ở dưới thấp, ngay trên nền nhà nhưng yêu cầu luôn phải sạch sẽ thoáng mát. Gia chủ nên thường xuyên tắm rửa cho hai vị thần bằng nước pha rượu hoặc nước hoa bưởi. Đặc biệt nếu vào những ngày mưa to thì gia chủ nên đặt Thần Tài, Thần Thổ Địa vào chậu sạch để ngoài trời mưa tắm mưa khoảng 15 phút sau đó đưa vào trong nhà lau rửa khô, sạch sẽ, xịt nước thơm rồi cho lên bàn thờ thắp hương cầu khấn sẽ rất linh nghiệm.

– Khi gia chủ đã lập bàn thờ Thần Tài – Thần Thổ Địa thì nên thắp hương liên tục trong vòng 100 ngày để bàn thờ có thể tụ khí tốt. Trong khoảng thời gian ấy không nên tắt đèn, điện ở bàn thờ để tránh tạo ra không gian tối bởi quan niệm ánh sáng sẽ giúp chỉ đường cho các vị thần giáng xuống trần gian phù hộ cho gia chủ. Trong một trong ngày đầu ấy nên thay nước trên bàn thờ mỗi ngày một lần. Nếu như muốn cầu xin điều gì thì gia chủ hãy thắp 3 nén hương hàng ngày sau đó khấn rồi vái.

– Vào những ngày rằm, mùng một, lễ tết thì gia chủ nên thắp hương bàn thờ Thần Tài – Thần Thổ Địa 5 mỗi lần 5 nén hương được thắp theo hình chữ thập. Về loại hương để thắp thì nên chọn loại hương cuốn tàn bởi sẽ giữ được tàn hương, sau một thời gian thắp thì bát hương sẽ có thế rất đẹp và tụ khí tốt.

– Vào mỗi ngày 23 tháng Chạp âm lịch hàng năm thì gia chủ nên rút chân hương trong bát hương ở bàn thờ Thần Tài – Thần Thổ Địa đi chỉ để lại ít chân hương sau đó đem chân hương đã rút đi hóa vàng sau khi thành tro thì gia chủ nên đổ một ít rượu vào tro đã hóa.

【#10】Bài Cúng Mùng 1, Rằm Năm 2021

A. HƯỚNG DẪN

CÓ HAI CÁCH KHẤN CÚNG

1. Dành cho trường hợp cúng lễ, nhưng không có thời gian tụng kinh.

2. Dành cho trường hợp cúng lễ, có thời gian tụng kinh.

Tuỳ vào thời gian mà chọn cách cúng lễ.

VỊ TRÍ CÚNG LỄ: trong nhà, tại ban thờ.

ĐỒ LỄ: Hương, hoa, nước trà, quả, thực.

– Hương: Các loại hương đốt có hương thơm.

– Hoa: Các loài hoa có hương thơm (không kiêng về tên hoa và số lượng).

– Trà: Nước trà toả hương của sáu vị là đắng, cay, chua, chát, mặn, ngọt là sáu vị nuôi sống tất cả chúng sinh.

– Quả: Số lượng tuỳ ý không kiêng kị 2 quả hay 4 quả,… Nên cúng quả đã chín vì có hương từ vị để vong linh thọ hưởng, quả xanh chưa có hương thơm của vị (tránh tình trạng biến ban thờ thành chỗ cất đồ).

– Thực: Hiến cúng Phật bày lễ một bát cơm và một cốc nước. Hiến cúng chư Thiên, chư Thần bày lễ một bát cơm và một cốc nước chè. Hiến cúng gia tiên có cơm chay, nếu không có đồ chay thì làm một mâm cơm chay đơn giản bao gồm các đồ thức ăn từ rau củ quả, không có thịt của chúng sinh.

LƯU Ý: Các đàn cúng lễ không sát sinh, không đốt tiền vàng, mã, giấy sớ.

Hướng dẫn nghi thức lễ cúng thí thực tại nhà

Hướng dẫn nghi thức lễ cúng phóng sinh tại nhà

B. NGHI THỨC CÚNG LỄ

1. CÚNG LỄ KHÔNG TỤNG KINH

(Nếu phát tâm cúng dường Tam Bảo về chùa thì đọc tiếp, nếu không cúng dường thì không đọc phần in đậm:

Nhân duyên ngày này, chúng con muốn cho gia đình được tăng trưởng phúc lành, tiêu trừ nghiệp chướng, nên chúng con thành tâm tu bồi cội phúc bằng cách cúng dường hộ trì Tam Bảo, để hưởng phúc lành từ nơi tu tập của chư Tăng tại chùa… (nếu tại Chùa Ba Vàng thì đọc: Chùa Ba Vàng, Phường Quang Trung, Tp Uông Bí, Tỉnh Quảng Ninh) với tâm nguyện cho chư Tăng được tứ sự như ý phù hợp với việc tu tập để hồi hướng công đức cúng dường của chúng con đến các vị chư Thiên, chư Thần Linh và các vong linh.

– Chúng con cúng dường Tam Bảo với số tiền là… để hồi hướng phúc đến cho chư Thiên, chư Thần Linh tại nơi đất của gia đình.

– Chúng con cúng dường Tam Bảo… với số tiền là… để hồi hướng cho chư vong linh gia tiên tiền tổ nội ngoại đôi bên họ:…… và vong linh

– Chúng con cúng dường với số tiền là… để hồi hướng cho chư vong linh có duyên tại nơi đất ở của gia đình tại địa chỉ…

– Chúng con cúng dường Tam Bảo với số tiền là… để hồi hướng phúc đến cho chư vong linh oan gia trái chủ, hợp duyên, oán kết của cả gia đình.)

Nếu trong gia đình có người cần cầu sức khỏe hoặc công danh hoặc thi cử… thì đọc tiếp:

Chúng con cúng dường Tam Bảo với số tiền là… để hồi hướng phúc đến cho (tên)… được…)

Chúng con cũng nguyện cầu cho tất cả các chúng chư Thiên, chư Thần Linh, chư vong linh mà chúng con hiến cúng, được kết duyên pháp lữ với chúng con, đời đời kiếp kiếp trợ duyên cho nhau tu hành cho tới ngày thành Phật.

Chúng con cũng xin hồi hướng phúc lành đến cho gia đình chúng con(nguyện gì đọc nấy)… và cùng nhau tinh tấn tu hành theo Chính Pháp của Phật, cho tới ngày liễu thoát luân hồi sinh tử. Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

TAM TỰ QUY Y

Tự quy y Phật, nguyện cho chúng sinh, hiểu thấu đạo lớn, phát tâm Vô Thượng.(1 lễ)

Tự quy y Pháp, nguyện cho chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như biển.(1 lễ)

Tự quy y Tăng, nguyện cho chúng sinh, quản lý đại chúng, hết thảy không ngại.(1 lễ)

HẾT

2. CÚNG LỄ CÓ TỤNG KINH

(Cắm hương xong, quỳ gối, chắp tay đọc)

NGUYỆN HƯƠNG

Nguyện đem lòng thành kính

Gửi theo đám mây hương

Phảng phất khắp mười phương

Cúng dường ngôi Tam Bảo

Thề trọn đời giữ đạo

Theo tự tính làm lành

Cùng pháp giới chúng sinh

Cầu Phật từ gia hộ

Tâm Bồ đề kiên cố

Chí tu đạo vững bền

Xa biển khổ nguồn mê

Chóng quay về bờ giác

Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát

Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát

Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Ma Ha Tát!

TÁN PHÁP

Pháp Phật sâu mầu chẳng gì hơn,

Trăm ngàn muôn kiếp khó được gặp.

Nay con nghe thấy vâng gìn giữ,

Nguyện hiểu nghĩa chân đức Thế Tôn.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!(3 lần)

(Ngồi đọc kinh)

BÀI KINH: CÚNG LINH

(ĐTKVN, Tăng Chi Bộ V, Chương 10, Phần Janussoni,

VNCPHVN ấn hành, 1997, tr.595)

Một thời, Thế Tôn ở tại trú xứ của Bà la môn Cha-nu-sô-ni (Janussoni). Sau khi đi đến cung kính đảnh lễ, hỏi thăm và ngồi xuống một bên, Bà la môn Cha-nu-sô-ni (Janussoni) bạch Thế Tôn:

Thưa tôn giả Gotama, chúng tôi bố thí, làm các lễ cúng cho người chết. Mong rằng, bố thí này cho bà con huyết thống đã chết được lợi ích! Mong rằng, các bà con huyết thống đã chết, thọ hưởng sự bố thí này! Thưa tôn giả Go-ta-ma, bố thí như thế có lợi ích gì cho các bà con huyết thống đã chết không? Các bà con huyết thống đã chết có được thọ hưởng sự bố thí ấy hay không?

Này các Bà la môn, nếu có tương ưng xứ, thời có lợi ích; không có lợi ích nếu không có tương ưng xứ. Ở đây, này Bà la môn, những người nào… sau khi thân hoại mạng chung sinh vào địa ngục, sinh vào loại bàng sinh, sinh cộng trú với loài người, sinh cộng trú với chư Thiên. Những vị này, được nuôi sống và tồn tại với những món ăn ứng với cảnh giới của các vị ấy. Này Bà la môn, đây là không tương ưng xứ; trú ở những nơi ấy, các vị ấy không được sự lợi ích của bố thí ấy. Nhưng ở đây, này Bà la môn, người nào sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào cõi ngạ quỷ. Vị ấy được nuôi sống và tồn tại với các món ăn tại đấy. Món ăn nào, các bạn bè, thân hữu, hoặc bà con, hoặc người cùng huyết thống muốn hướng cúng cho vị ấy; tại đấy, vị ấy sống với món ăn đó, tồn tại với món ăn đó. Này Bà la môn, đây là tương ưng xứ; trú nơi đây, vị ấy được sự lợi ích của sự bố thí ấy.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

BÀI KINH: BỐ THÍ VÀ CÚNG DƯỜNG NHƯ PHÁP

(ĐTKVN, Tăng Chi Bộ III, phẩm Chư Thiên, phần Bố thí, VNCPHVN ấn hành, 1996, tr.91)

Một thời, Thế Tôn trú ở thành Xá Vệ (Sàvatthi), tại Kỳ Viên (Jetavana), khu vườn của ông Cấp Cô Độc (Anàthapindika). Lúc bấy giờ, mẹ của Nanda, nữ gia chủ người Velukandakì làm một thí vật gồm có sáu phần cúng dường chúng Tăng. Bấy giờ, Thế Tôn với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhiên thấy mẹ của Nanda làm một thí vật gồm có sáu phần liền bảo các Tỷ kheo:

Này các Tỷ kheo, có ba phần thuộc về người bố thí và có ba phần thuộc về người nhận vật phẩm bố thí. Thế nào là ba phần thuộc về người bố thí? Này các Tỷ kheo, người bố thí, trước khi bố thí, ý được vui lòng; trong khi bố thí, tâm được tịnh tín; sau khi bố thí, cảm thấy hoan hỷ. Đây là ba phần của người bố thí. Thế nào là ba phần của người nhận phẩm vật bố thí? Ở đây, này các Tỷ kheo, những người nhận vật bố thí, đã được ly tham hay đang thực hành hạnh ly tham; đã được ly sân hay đang thực hành hạnh ly sân; đã được ly si hay đang thực hành hạnh ly si. Đây là ba phần của người nhận phẩm vật bố thí. Như vậy, này các Tỳ kheo, đây là thí vật có sáu phần.

Này các Tỷ kheo, công đức của thí vật sáu phần thật vô lượng: “Là nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện, món ăn an lạc, thuộc thiên giới, là quả lạc dị thục, dẫn đến cõi Trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, hạnh phúc và an lạc”.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

(Chủ sám chắp tay đọc)

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! Chúng con kính bạch chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng chứng minh, chư Hộ Pháp, chư Thiên, chư Thần Linh chứng giám, chư vong linh hoan hỷ. Trong bài kinh “BỐ THÍ VÀ CÚNG DƯỜNG NHƯ PHÁP”, Đức Phật dạy cúng dường Tam Bảo, nơi có chư Tăng tu hành phạm hạnh, đoạn trừ tham ái, sẽ được phúc lành lớn, chúng con xin vâng lời làm theo và thỉnh chư Thiên, chư Thần cùng các vong linh cùng tu tập gia hộ cho gia đình chúng con. Trong bài kinh “CÚNG LINH”, Đức Phật dạy cách cúng lễ cho người mất, hôm nay gia đình chúng con thực hành Pháp bố thí cúng dường, thành tâm sắm sửa vật thực, dâng lên cúng dường:

Thượng: Chúng con xin dâng lên cúng dường thập phương chư Phật chứng minh.

Trung: Chúng con xin cúng dâng lên chư Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng chứng minh.

Hạ: Chúng con xin cúng dường cho chư Thiên, chư Thần Linh, Thổ Địa tại nơi đây.

Sau: Chúng con xin được nương oai lực Tam Bảo, chúng con xin thỉnh mời và hiến cúng cho tất cả các vong linh gia tiên tiền tổ nội ngoại đôi bên họ:…các vong linh thai nhi của (tên mẹ)… cùng các vong linh có duyên tại nơi đất ở của gia đình và các vong linh oan gia trái chủ có duyên oán kết đang báo oán gia đình chúng con. Nguyện cho các vong linh được nương sự bố thí trong đàn lễ cúng này của con mà được thọ thực no đủ.

(Đọc Biến thực, Biến thủy)

(Nếu phát tâm cúng dường Tam Bảo về chùa thì đọc tiếp, nếu không cúng dường thì không đọc phần in đậm:

Nhân duyên ngày này, chúng con muốn cho gia đình được tăng trưởng phúc lành, tiêu trừ nghiệp chướng, nên chúng con thành tâm tu bồi cội phúc bằng cách cúng dường hộ trì Tam Bảo, để hưởng phúc lành từ nơi tu tập của chư Tăng tại chùa…… (nếu tại Chùa Ba Vàng thì đọc: Chùa Ba Vàng, Phường Quang Trung, Tp Uông Bí, Tỉnh Quảng Ninh) với tâm nguyện cho chư Tăng được tứ sự như ý phù hợp với việc tu tập để hồi hướng công đức cúng dường của chúng con đến các vị chư Thiên, chư Thần Linh và các vong linh.

– Chúng con cúng dường Tam Bảo với số tiền là… để hồi hướng phúc đến cho chư Thiên, chư Thần Linh tại nơi đất ở của gia đình.

– Chúng con cúng dường Tam Bảo… với số tiền là… để hồi hướng cho chư vong linh gia tiên tiền tổ nội ngoại đôi bên họ:…

– Chúng con cúng dường với số tiền là… để hồi hướng cho chư vong linh có duyên tại nơi đất ở của gia đình tại địa chỉ…

– Chúng con cúng dường Tam Bảo với số tiền là… để hồi hướng phúc đến cho chư vong linh oan gia trái chủ, hợp duyên, oán kết của cả gia đình.)

(Nếu trong gia đình có người cần cầu sức khỏe hoặc công danh hoặc thi cử… thì đọc tiếp:

Chúng con cúng dường Tam Bảo với số tiền là… để hồi hướng phúc đến cho (tên)… được…)

Chúng con cũng nguyện cầu cho tất cả các chúng chư Thiên, chư Thần Linh, chư vong linh mà chúng con hiến cúng, được kết duyên pháp lữ với chúng con, đời đời kiếp kiếp trợ duyên cho nhau tu hành cho tới ngày thành Phật.

Chúng con cũng xin hồi hướng phúc lành đến cho gia đình chúng con(nguyện gì đọc nấy) ….. và cùng nhau tinh tấn tu hành theo Chính Pháp của Phật, cho tới ngày liễu thoát luân hồi sinh tử. Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

TAM TỰ QUY

Tự quy y Phật, nguyện cho chúng sinh, hiểu thấu đạo lớn, phát tâm Vô Thượng.(1 lễ)

Tự quy y Pháp, nguyện cho chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như biển. (1 lễ)

Tự quy y Tăng, nguyện cho chúng sinh, quản lý đại chúng, hết thảy không ngại.(1 lễ)

HẾT

Nếu các Phật tử ở xa, muốn cúng dường về chùa Ba Vàng, nhưng không có điều kiện để về chùa, thì quý Phật tử khi cúng lễ xong, gom cất phần tịnh tài (tiền), để gửi ngay hoặc sau khoảng mấy tháng thì gửi.

Chùa Ba Vàng và Thầy Thích Trúc Thái Minh không dùng bất kỳ một tài khoản ngân hàng nào khác. Nếu quý vị muốn cúng dường, công đức về chùa Ba Vàng thì chỉ chuyển khoản vào một tài khoản duy nhất sau đây:

Quý vị kiểm tra thông tin cung cấp tài khoản tại trang chùa Ba Vàng ở đường link sau:

Thông Báo Số Tài Khoản Của Chùa Ba Vàng

Lưu ý: Nếu như sách nào có in số tài khoản mà không in đường link, mong quý vị xem xét và kiểm tra lại.

Tài khoản chùa Ba Vàng

– Số tài khoản: 0141005656888.

– Tên tài khoản: Chùa Ba Vàng.

– Ngân hàng: Vietcombank Quảng Ninh.

– Mã SWIFT (mã số khi chuyển khoản quốc tế): BFTV VNVX014.

Khi gửi xong thì nhắn tin vào số điện thoại để thầy biết 0981392858 (Sư thầy Thích Trúc Bảo Việt).

Nội dung tin nhắn

Nam mô A Di Đà Phật, con kính bạch Thầy! Tên con là… ở tại… Hôm nay là ngày… /…/… con vừa gửi vào tài khoản của nhà chùa số tiền là… để hồi hướng cho các vong linh… Con xin gửi danh sách để sư Thầy thỉnh vong linh ạ. Con cũng xin sư Thầy chứng minh và hồi hướng cho cả gia đình con luôn được sự gia hộ của chư Phật, hiện tại được… Con xin thành kính tri ân Thầy ạ! Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

LIÊN HỆ

Nếu có bất cứ vấn đề gì thắc mắc, kính mời quý đạo hữu liên hệ với:

Phật tử: Phạm Thị Yến (Tâm Chiếu Hoàn Quán):

– Ban Liên Lạc của Phật tử Phạm Thị Yến (Tâm Chiếu Hoàn Quán): 0984243810

– Nhắn tin vào facebook:

Phạm Thị Yến (Tâm Chiếu Hoàn Quán):

facebook.com/PhamThiYen.TamChieuHoanQuan1970

– Đăng lên nhóm facebook:

Tâm Sự Cùng Cô Phạm Thị Yến (Tâm Chiếu Hoàn Quán):

facebook.com/groups/PhamThiYenTCHQ

– Email: [email protected]

-HẾT-