Cúng Các Bác Ngày 16

Tổng hợp các bài viết thuộc chủ đề Cúng Các Bác Ngày 16 xem nhiều nhất, được cập nhật mới nhất ngày 26/01/2021 trên website Iseeacademy.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung Cúng Các Bác Ngày 16 để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, chủ đề này đã đạt được 2.178 lượt xem.

Có 64 tin bài trong chủ đề【Cúng Các Bác Ngày 16】

【#1】Cách Trình Bày Mâm Ngũ Quả Ngày Tết Nguyên Đán Đẹp Nhất 2021

Tết đến là dịp để con cháu thể hiện tấm lòng thành đối với Ông bà, Tổ tiên và cầu mong cho năm mới tốt đẹp hơn. Chính vì thế nên mâm ngũ quả đã trở thành nét văn hóa không thể thiếu của người Việt. Tuy nhiên, nói đến các loại quả và cách trình bày thì mỗi một vùng miền lại khác nhau. Điều này đã được Lala Shop tìm hiểu và để giúp bạn đọc có thể nắm rõ hơn thì mời bạn cùng Lala tham khảo cách trình bày mâm ngũ quả miền Bắc, miền Trung và miền Nam ngày Tết Nguyên đán đẹp và ý nghĩa nhất như sau đây.

Trình bày mâm ngũ quả miền Bắc, miền Trung và miền Nam ngày Tết Nguyên đán đẹp và ý nghĩa nhất đang được nhiều người tìm hiểu

Mỗi dịp xuân về thì mỗi gia đình người Việt đều không thể thiếu mâm ngũ quả trên bàn thờ Ông bà, Tổ tiên. Và mâm ngũ quả là một mâm có ít nhất năm loại trái cây khác nhau. Thông qua các loại trái cây này thì mỗi gia đình đã gửi gắm vào đó những mong muốn khác nhau cho một năm mới. Mỗi vùng miền sẽ có mỗi loại hoa quả khác nhau nhưng ý nghĩa thực sự mang đến đó là cầu mong sự giàu có, sang trọng, sức khỏe, bình yên và sống lâu.

Mỗi vùng miền sẽ có mỗi loại hoa quả khác nhau nhưng ý nghĩa thực sự mang đến đó là cầu mong sự giàu có, sang trọng, sức khỏe, bình yên và sống lâu

Theo phong thủy phương Đông thì Tết không thể thiếu mâm ngũ quả dâng lên Ông bà, Tổ tiên và ngũ quả ở đây thể hiện cho 5 yếu tố cấu thành nên vũ trụ đó là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.

Và mâm ngũ quả còn được xem là biểu tượng của thành quả sau một năm lao động miệt mài của gia đình. Những sản phẩm đều là công sức, sự chắt chiu để khi mùa xuân đẹp, thời tiết tốt lành nhất để thành kính dâng lên Tổ tiên. Bên cạnh đó thì năm loại quả này còn tượng trưng cho sự đầy đủ, ứng với mệnh của con người, chọn số lẻ để tượng trưng cho sự phát triển, sinh sôi.

Mâm ngũ quả biểu tượng cho 5 yếu tố cấu thành nên vũ trụ đó là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ theo quan niệm của phong thủy Phương Đông

Và thể hiện ước muốn đạt được ngũ phúc lâm môn là: Phú – Quý – Thọ – Khang – Ninh. Đây được xem là nguồn gốc bắt đầu của mâm ngũ quả nên dù là ở miền nào của đất nước Việt Nam bạn cũng sẽ dễ dàng thấy được mâm ngũ quả này.

Vâng, như đã đề cập ở trên thì tùy theo từng vùng miền với các loại trái cây và nét văn hóa đặc trưng riêng nên sẽ có các loại quả khác nhau để bày lên mâm ngũ quả. Nhưng thông thường sẽ có các loại trái cây như: Dừa, bưởi, thanh long, đu đủ, dưa hấu, mãng cầu, lựu, hồng, phật thủ, chuối, quất, đào, sung, phật thủ,.. Mỗi loại đều mang đến ý nghĩa khác nhau nên khi đã muốn dâng lên Ông bà, Tổ tiên thì bạn cần phải nắm để ước mong năm mới tốt đẹp hơn.

Nếu như bạn đang boăn khoăn không biết ngày Tết mâm ngũ quả miền Bắc gồm những trái gì thì có thể tham khảo như sau:

Thông thường miền Bắc sẽ có các loại quả như là chuối, lê, lựu, phật thủ, táo, bưởi, cam, quất, lê-ki-ma,… Đây sẽ là những loại trái cây có hương vị thơm ngon, bổ dưỡng và mang nhiều ý nghĩa khi dâng lên Ông bà, Tổ tiên nên được ưa chuộng rất nhiều.

Mâm ngũ quả của người miền Bắc

Nếu như miền Bắc đã phổ biến với các loại trái cây như trên thì miền Trung gồm những trái gì thì đây cũng là thắc mắc của không ít người. Và theo như tìm hiểu của Lala thì miền Trung sẽ bao gồm các loại quả là: Chuối, dừa, sung, đu đủ, lựu, thanh long, cam, quýt xoài, dưa hấu, sung,… rất ý nghĩa để mang đến mâm ngũ quả không chỉ đẹp mà còn đầy đủ, thể hiện được ước mong của gia đình vào dịp năm mới.

Mâm ngũ quả người miền Trung gồm chuối, cam, quýt, đu đủ, xoài,..

Miền nam gồm những trái gì ? Vâng, khác với 2 miền Bắc và Trung, mâm ngũ quả của người miền Nam cũng khá ấn tượng bởi sự đa dạng về các loại trái cây nhờ vào đất đai phì nhiêu, thời tiết thuận lợi nên khi đã đến nơi đây thì bạn sẽ có thể hình dung ra được rằng nơi đây rất phong phú, nhưng được chọn làm mâm ngũ quả thì sẽ có dưa hấu, sung, đu đủ, xoài, mãng cầu,…

Mâm ngủ quả ngày Tết của miền Nam

Chọn được loại quả theo đúng ước muốn của gia chủ sẽ mang đến nhiều ý nghĩa, nhưng để thực sự có được một mâm ngũ quả miền Bắc, Trung, Nam ngày Tết Nguyên đán đẹp nhất thì cách trình bày cũng khá quan trọng. Vậy cách trình bày ở 3 miền đất nước ta sẽ như thế nào?

Đối với người miền Bắc thì cách bầy mâm ngũ quả ngày Tết sẽ theo thuyết ngũ hành nên phải tương ứng với 5 màu đó là trắng, xanh, đen, đỏ, vàng. Và theo đó mà các gia đình sẽ sắm đủ và sắp xếp, bày trí sao cho đẹp mắt, từ nải chuối tiêu xanh ở dưới cùng đỡ lấy toàn bộ các loại quả. Chính giữa thường là quả bưởi, xung quanh còn lại sẽ được xen kẽ những loại quả khác.

Tuy nhiên, thay vì quá cứng nhắc với ngũ quả thì hiện nay người ta đã tăng lên thành bát, cửu, thập quả nhưng dù là được bày biên bao nhiêu quả đi chăng nữa thì vẫn có tên gọi làm mâm ngũ quả.

Cách trình bày mâm ngũ quả ngày Tết miền Bắc đẹp nhất 2021

Nếu như miền Bắc luôn đậm nét văn hóa thì người miền Trung quanh năm phải oằn mình gánh chịu thời tiết khắc nghiệt nên hoa quả thường sẽ không có nhiều nên khi chọn và trình bày thì cách sắp xếp mâm ngũ quả ngày Tết ở đây cũng đơn giản hơn, miễn sao đẹp mắt để thể hiện một năm mới đầy đủ, trọn vẹn và hạnh phúc.

Đơn giản nhưng vẫn rất đẹp đó là cách trình bày mâm ngũ quả của người miền Trung

Trong dịp Tết Nguyên đán thì người miền Nam cũng rất cầy kỳ trong cách trang trí mâm ngũ quả ngày Tết nên việc chọn các loại quả với mong ước cũng sẽ được thể hiện rõ. Ví như nhiều gia đình đã chọn mâm ngũ quả rất ý nghĩa đó là “cầu sung vừa đủ sài”. Đặc biệt, điểm đặc trưng mà bạn thường thấy ở đây đó là gia đình thường bày thêm cặp dưa hấu xanh vỏ, đỏ lòng để tượng trưng cho lòng trung nghĩa của người phương Nam.

Cách trình bày mâm ngũ quả nagày Tết “cầu sung vừa đủ sài” rất ý nghĩa của người miền Nam

Mặc dù mâm ngũ quả rất quan trọng nhưng do phong tục ở các vùng miền là khác nhau nên rất nhiều người đã băn khoăn biết nên đặt bát hương trước hay sau mâm ngũ quả? Vì thế, với nhiều kiến thức tổng hợp được thì trên bàn thờ Tổ tiên, 3 bát hương sẽ là vị trí được đặt chính giữa tượng trưng cho tinh tú và là trung tâm của bàn thờ.

Tiếp là 2 bên đặt 2 cầu đèn dầu hoặc nến tượng trưng cho mặt trăng và mặt trời. Đĩa mâm bồng đựng hoa quả hoặc đồ thờ cũng sẽ đặt phía sau bát hương, theo hướng người làm lễ cúng bái nhìn lên bàn thờ và đặt trước bát hương theo hướng bàn thờ nhìn về người cúng bái.

Tóm lại thì mâm ngũ qua nên đặt ở vị trí mâm bồng ở trên bàn thờ, ngang hàng với kỷ chén là phù hợp nhất với mọi người, mọi nhà và mọi vùng miền bạn nhé.

3 bát hương sẽ là vị trí được đặt chính giữa tượng trưng cho tinh tú và là trung tâm của bàn thờ

Với tầm quan trọng và ý nghĩa mà mâm ngũ quả ngày Tết mang đến thì để có thể giúp cho bạn đọc có thể hình dung ra được cách trang trí và những loại quả được dùng phổ biến trong mâm ngũ qua nên Lala Shop sẽ giới thiệu đến bạn bộ hình ảnh mâm ngũ quả ngày Tết đẹp nhất 2021 như sau:

Đây là mâm ngũ quả khá đặc trưng với hình ảnh 2 trái dưa vỏ xanh ruột đỏ được khắc chữ tinh tế, đi cùng mà mâm ngũ quả với đầy đủ trái cây để biểu tượng cho sự sung túc của gia đình nên đây là hình ảnh được đánh giá đẹp nhất 2021 mà bạn có thể tham khảo.

Không cầu kỳ trong cách trang trí song hình ảnh mâm ngũ quả với đầy đủ các loại trái cây là chuối xanh, phật thủ, thanh long, thơm, quýt, cam, táo, mận và còn tạo nên sự mới lạ hơn nhờ vào hình ảnh của những quả ớt đỏ xen kẽ đã gây ấn tượng cho người nhìn khi đặt lên bàn thờ. Bạn có thể thử nếu muốn có mâm ngũ quả đơn giản nhưng đẹp này.

Nổi bật nhờ vào màu sắc vàng của bưởi, xen kẽ là hình ảnh quả ớt đỏ rực và bên dưới còn được bao bọc bởi chuối xanh, xung quanh thêm thanh long, táo, xoài, dừa, phật thủ nên mâm ngũ quả được đánh giá đẹp nhất năm 2021 sẽ là đây. Hãy chọn ngay các loại trái cây này nếu bạn cũng muốn có mâm ngũ quả tuyệt vời này bạn nhé.

Sự kết hợp độc đáo của những cánh hoa cùng với chuối xanh, xoài, bưởi có hình dáng ấn tượng nên hình ảnh mâm ngũ quà này đã giúp cho người nhìn ấn tượng hơn rất nhiều. Vì thế nên, đây cũng là một trong những mâm ngũ quả đẹp nhất mà bạn có thể lựa chọn để làm phong phú hơn cho bàn thờ tổ tiên của gia đình.

Ngoài ra còn có rất nhiều hình ảnh bạn có thể chiêm ngưỡng sau đây:

Để đáp ứng nhu cầu cùa người dùng về dịch vụ tốt vào dịp Tết đến xuân về nên Lala Shop đã không ngừng tìm hiểu và săn lùng những sản phẩm đồ trang trí Tết đẹp, giá rẻ và thiết kế decal Tết theo yêu cầu khách hàng để cung cấp ra thị trường.

Với sự đa dạng mẫu mã, kiểu dáng cho đến màu sắc để giúp cho không khí Tết thêm rộn ràng và vui tươi hơn nên Lala Shop đã trở thành địa chỉ đáng tin cậy của quý khách hàng từ những cá nhân cho đến doanh nghiệp cần số lượng sỉ để sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau.

Bên cạnh đó thì chúng tôi còn hỗ trợ cho khách hàng một cách nhiệt tình từ những thông tin cần biết về mâm ngũ quả ngày Tết, cách chọn lựa sao cho phù hợp và cách trang trí sao cho đẹp nhất…vì thế nên một khi đã muốn mua đồ trang trí Tết giá rẻ uy tín tại Tphcm thì quý hàng vui lòng liên hệ để được đáp ứng nhanh nhất.

Lala Shop chuyên cung cấp đồ trang trí Tết giá rẻ đáp ứng mọi nhu cầu người dùng tại Tphcm

Toàn bộ thông tin trên về mâm ngũ quả cũng như là cách trình bày mâm ngũ quả ở miền Bắc, Trung, Nam ngày Tết cổ truyền đẹp và ý nghĩa nhất xuân Tân Sửu 2021. Dù là ở vùng miền nào thì chắc chắn đây sẽ là yếu tố không thể thiếu giúp nhiều người thể hiện được tấm lòng, gìn giữ nét văn hóa truyền thống tốt đẹp của người Việt. Mâm ngũ quả sẽ là nơi hội tụ tinh túy của đất trời và ý nguyện sự bình an, tốt lành trong năm mới mà gia đình gửi gắm. Vì thế, Lala Shop rất vui và tự hào đã giúp quý khách có thể hiểu thêm về ý nghĩa mâm ngũ quả là gì cũng như biết cách trình bày mâm ngũ quả ngày Tết sao cho đẹp nhất. Chúc quý khách sức khỏe và thành công trong năm mới, ấm áp và vui vẻ bên người thân.

– 112 Nguyễn Súy, Tân Quý, Tân Phú, TPHCM

– 89/11 Đồng Tâm – Phường 4 – Đà Lạt

– Mở cửa các ngày thứ 2 – 7 từ 8h – 21h, chủ nhật từ 9h – 18h

– Miễn phí giao hàng tại nội thành HCM, nhận hàng sau 2 – 3 ngày

– Hỗ trợ phí giao hàng cho đơn hàng tỉnh và ngoại thành, nhận hàng sau 4 – 7 ngày

– Hotline: (028) 66873579, 0907160184

– Nhận giao hàng toàn quốc và thanh toán sau khi nhận hàng


【#2】Các Món Ăn Trong Bữa Cơm Miền Bắc Trong Có Gì Hấp Dẫn? Địa Chỉ Quán Ăn Bắc Ngon Tại Sài Gòn

Trong thời đại công nghiệp 4.0 phương châm “sống nhanh, ăn nhanh” đang dần dà chiếm ưu thế, thì những bữa cơm gia đình càng chứng tỏ được vị trí quan trọng trong cuộc sống hiện đại này..

Bữa cơm là nơi gắn kết các thành viên trong gia đình, nơi chia sẻ, trao đổi mọi thứ, nơi trút đi gánh nặng, âu lo mệt mỏi của guồng quay tất bật ngoài xã hội. Đặc biệt là với một nơi coi trọng truyền thống như Hà Nội, không chỉ xem trọng bữa ăn mà các món ăn trong bữa cơm miền Bắc cũng được trau chuốt không kém.

Và với người Việt bữa cơm gia đình mọi thành viên quây quần bên nhau chính là giây phút hạnh phúc và đáng để lưu giữ, trân trọng nhất. Miền Bắc – một nơi của cội nguồn, mảnh đất bốn nghìn năm văn hiến đã luôn giữ gìn và coi trọng truyền thống này, xem đó như một nét đẹp của người Việt, vì thế các món ăn trong bữa cơm miền Bắc cũng được nấu nướng, trang trí một cách đầy đủ, đẹp mắt.

Bao nhiêu năm qua, hình ảnh người phụ nữ bên căn bếp vẫn là một hình ảnh đẹp trong mắt người Việt chúng ta. Mặc dù xã hội ngày càng phát triển, nam giới cũng đã biết cách san sẻ công việc bếp núc với vợ mình, mẹ mình nhưng hình ảnh đó sẽ không bao giờ bị quên lãng hay phai nhòa trong tâm trí bất kì ai.

Sau một ngày làm việc học tập vất vả ông bà cha mẹ con cái quây quần bên mâm cơm với những món ăn giản đơn thôi, không cầu kì nhưng đầy ắp tiếng cười, chan chứa tình cảm. Đó chính là cái nôi của mỗi gia đình, nơi gắn kết tình yêu thương, nơi dạy dỗ nhân cách của một đứa trẻ, hay nơi để mọi người bỏ lại sau lưng tất cả những trăn trở, nỗi niềm.

Đặc điểm khác biệt của người Việt chúng ta chính là bữa cơm gia đình các món ăn được sắp xếp hết vào một mâm, dọn lên cùng lúc. Khác với phương Tây, họ ăn riêng biệt từng món, nào là khai vị, món chính, món ăn kèm và món tráng miệng,…và đặc biệt họ không dùng đũa. Cũng chính trong mâm cơm cũng là lúc rèn dũa những đứa trẻ phải biết kính trên nhường dưới, biết chia sẻ đồ ăn với mọi người, phải theo thứ tự mời ông bà cha mẹ ăn trước mới đến lượt con cháu.

Thức ăn chính trong mâm cơm, luôn hiện diện không thể thiếu chính là cơm trắng và chén nước chấm thích hợp với từng món ăn, còn lại sẽ là món mặn và canh, rau. Và tùy từng vùng miền mà sẽ có những thực đơn khác nhau, miền Bắc sẽ lễ nghi gia giáo và thanh đạm hơn, miền Trung cay mặn hơn, miền Nam đơn giản và ngọt béo hơn.

Bắc Bộ là vùng đất lịch sử lâu đời là nơi của tổ tiên và là cái nôi hình thành văn hóa của người Việt. Đây cũng là nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống nhất, ngày xưa người dân nơi đây sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nên ẩm thực cũng chủ yếu là những món ăn dân dã, dễ kiếm thanh đạm. Và nó di truyền tới hôm nay, các món ăn trong bữa cơm miền Bắc luôn nhẹ nhàng, có vị vừa phải, không quá cay cũng như không mặn như người miền Trung sương gió hay quá béo ngọt như người miền Nam hào sảng. Người nơi đây luôn chuộng vị chua, chua của trái sấu, trái me,….

Các món ăn trong bữa cơm miền Bắc thường rất đơn giản, dân dã với những món rau, canh có thể tự trồng tại nhà, món mặn thì đa số là các loại thủy sản nước ngọt như tôm, cá,…Và nền văn hóa ẩm thực nơi đây in đậm cốt cách của một nền văn hóa lâu đời với những món ăn ngon truyền thống như phở, bún chả, cốm làng vòng, bánh cuốn Thanh trì,…Mỗi một món ăn đều mang một phong cách, nét đặc trưng riêng, người đầu bếp luôn cố giữ được hương vị tự nhiên nhất của món ăn.

Nếu bạn đang muốn tìm các món ăn trong bữa cơm miền Bắc giữa lòng Sài Gòn thì nhà hàng cơm niêu Việt Nam chính là một trong những địa chỉ nhất định bạn phải ghé thử. Nhà hàng toát lên vẻ cổ xưa, sang trọng, gần gũi và ấm cúng với những món ăn không thể nào dân dã hơn được.

Góp phần đa dạng ở menu không thể không kể đến các món ăn như cơm niêu, Cá kho làng Vũ Đại, cá Diếc kho tương bần, cá lóc đồng om chuối đậu, tép đồng rang khế xúc bánh tráng, cá Bống sông Trà Khúc… cùng nhiều món đặc sản biển như mực Phú Quốc, cá Mú đỏ Côn Đảo…

Các nguyên liệu của món ăn đều được lấy từ những nơi cung cấp uy tín, đảm bảo chất lượng cũng như an toàn vệ sinh thực phẩm. Hơn nữa, phần trang trí bắt mắt, hấp dẫn chắc chắn sẽ khiến thực khách không rời mắt được khi ghé đến nhà hàng cơm niêu Việt Nam.

Ngoài ra, nhà hàng cơm niêu Việt Nam còn đem đến cảm giác bình yên giữa lòng Sài Gòn phồn hoa. Không gian rộng rãi, thoáng đãng cùng cách trang trí ấn tượng cộng thêm cách thể hiện một Hà Nội xưa cổ, nhà hàng cơm niêu Việt Nam chắc chắn sẽ là địa điểm lý tưởng cho thực khách yêu vẻ đẹp truyền thống cũng như đam mê “phong vị ” Việt, phù hợp kể cả bữa sum họp gia đình.

Bạn là người con xa xứ, đôi lúc bạn sẽ thèm lắm các món ăn trong bữa cơm miền Bắc và luôn đi tìm kiếm cho mình một địa chỉ quán ăn bắc ngon tại Sài Gòn, đúng vị, không bị pha lẫn. Vậy thì ghé ngay 234 Cộng Hòa, phường 12, quận Tân Bình để thưởng thức ngay những món ăn dân dã, truyền thống, c ác món ăn trong bữa cơm miền Bắc chính hiệu.

Nhằm đáp ứng nhu cầu ăn uống, họp mặt, liên hoan, thực đơn của nhà hàng cơm niêu Việt Nam được thiết kế rất đa dạng và vô cùng ấn tượng với những món đặc sản quen thuộc của vùng Bắc Bộ. Cùng với không gian ấm cúng, nơi đây trở thành điểm đến của những bữa tiệc đầm ấm, sum vầy. 234 Cộng Hòa, phường 12, quận Tân Bình từ lâu đã là một địa chỉ thưởng thức ẩm thực nổi tiếng, thu hút rất đông các thực khách sành ăn bởi thực đơn phong phú gồm các món ăn miền Bắc đặc sắc.

Thực khách thoải mái thưởng thức các món ăn trong bữa cơm miền bắc ngay tại SÀI GÒN

Nhà hàng CƠM NIÊU VIỆT NAM là một trong những quán ăn gần sân bay đem đến nhiều giá trị cho thực khách

+ Ví trị thuận lợi tọa lạc tại số 234 Cộng Hòa, phường 12 quận Tân Bình , đặc biệt gần khu vực sân bay chỉ cách 5 phút để di chuyển bằng taxi.

+ Phục vụ khách hàng và giá cả phù hợp, đặc biệt

+ Thực đơn đa dạng: nhà hàng có đến hơn 100 món, được chọn lọc từ các đặc sản tinh túy của 3 miền đặc biệt là miền bắc để phục vụ khách hàng.

+ Có bãi đỗ xe thuận lợi, rộng rãi thoái mái đặc biệt là bãi đổ xe rất thích hợp để đãi tiệc, tiếp khách, không lo lấn chiếm lề đường.

+ Với không gian rộng rãi, Quán chuyên phục vụ thức ăn truyền thống Việt Nam với các món dân giã quen thuộc rất thích hợp cho những vị khách từ các nơi sẵn tiện thưởng thức những đặc sản dân dã đồng quê ngay tại thành phố hoa lệ nay.

Nhà hàng Cơm Niêu với nét ẩm thực đặc trưng chuyên phục vụ những món ăn truyền thống của Việt Nam . Nổi bật nhất trong thực đơn chính là cơm niêu với cách nấu đặc biệt, đúng nguồn gốc và chuẩn vị nhất.

Hầu hết mọi người ưa thích các món ăn tại nhà hàng cơm niêu là nhờ hương vị đậm đà thơm ngon của đặc sản cơm niêu ăn kèm các món mang hương vị đồng quê như cá kho tộ, canh cua….

Không ồn ào như không khí của Sài Gòn hoa lệ tấp nập, nhà hàng Cơm Niêu mang phong cách cổ kính, sang trọng và ấm cúng với nhiều sản phẩm trang trí quen thuộc như: tre nứa, tranh gốm sứ, nón lá, chum sành.

Đã sinh sống tại chúng tôi thì không ai không biết đến nhà hàng cơm niêu VIỆT NAM – Quán ăn gần sân bay ngon, bổ rẻ. Chỉ có nơi đây mới sở hữu được món cơm niêu truyền thống độc đáo và ngon đến vậy.

Vì là quán mang đậm chất của ngoài Bắc nên những món ăn như cơm niêu, cá kho làng Vũ Đại, cá Diếc kho tương bần, cá lóc đồng om chuối đậu, tép đồng rang khế xúc bánh tráng, cá Bống sông Trà Khúc… cùng nhiều món đặc sản biển như mực Phú Quốc, cá Mú đỏ Côn Đảo,…luôn tạo cho người ăn cảm giác gần gũi, thân thuộc như đang ăn trong chính căn bếp của mẹ.

Ngoài việc món ăn được chế biến cẩn thận thì nhà hàng cũng khéo léo trang trí bắt mắt, đựng trong thố, trong nồi đất, mẹt đan tạo sự bắt mắt và gần gũi trong món ăn. Bạn sẽ được trở về với không gian Bắc Bộ xưa một cách đúng nghĩa.

Nhà hàng CƠM NIÊU VIỆT NAM – Quán ăn gần sân bay chuyên phục vụ ẩm thực dân tộc Việt các món ăn trong bữa cơm miền bắc


【#3】Cúng Ông Công Ông Táo Vào Ngày 22 Tháng Chạp

Lâu nay nhiều người vẫn thường làm lễ cúng ông Công ông Táo vào đúng ngày 23 tháng Chạp. Do năm nay ngày 23 tháng Chạp rơi vào ngày thường (thứ sáu) nên nhiều người băn khoăn hỏi tòa soạn chúng tôi rằng việc cúng lễ này có thể tiến hành trước một ngày (tức ngày 22 tháng Chạp) hay không.

Cúng ông Công ông Táo trước 1 ngày có được không?

Các chuyên gia phong thủy cho rằng, tùy theo điều kiện thời gian mà mỗi gia đình có thể chọn ngày, giờ cúng khác nhau. Các gia đình có thể cúng ông Táo trước 1-2 ngày đều được, nhưng tốt nhất nên cúng trước 12h trưa ngày 23 tháng Chạp. Tuy nhiên, thời điểm tốt nhất có thể tiến hành cúng bắt đầu từ trưa hoặc tối ngày 22 tháng Chạp để ông Táo thảnh thơi về chầu trời. Bởi họ quan niệm, đợi đến 23 nhà nào cũng cúng nên sợ ông Táo “tắc đường” không về kịp thiên đình. Việc cúng này tùy theo gia cảnh của mỗi gia đình và quan trọng là sự thành tâm, không nên quá câu nệ, rườm rà mà mất đi ý nghĩa tốt đẹp và cái tâm hướng thiện của mình.

Theo quan niệm truyền thống dân gian Việt Nam lưu truyền từ bao đời nay, cứ nhằm ngày 23 tháng Chạp âm lịch hàng năm, Táo quân lại cưỡi cá chép bay về thiên đình để trình báo mọi việc của gia đình dưới hạ giới xảy ra trong một năm với Ngọc hoàng. Vì thế mà có tục cúng tiễn ông Công ông Táo về chầu trời.

Dân gian cho rằng, mỗi năm chỉ duy nhất một ngày Ngọc hoàng nghe các Táo báo cáo. Táo quân nào lên thiên đình sớm thì cũng phải đợi ngày thiết triều. Táo quân lên muộn thì đã bãi triều rồi nên không gia đình nào cúng sau 23 tháng Chạp.

Ngày nay, trong thời kỳ hiện đại, các gia đình đi làm công sở cả ngày hoặc vướng bận chuyện công việc,… nên khó có thể thu xếp thời gian để cúng đúng ngày.

Cúng ông Công ông Táo ở bếp hay ban thờ gia tiên

Mâm lễ cúng ông Công ông Táo có thể là cỗ mặn hoặc chay.

Lễ vật cúng ông Công ông Táo

Mâm cỗ chay gồm:

– Ba bộ mũ áo gồm hai mũ đàn ông và một mũ đàn bà. Mũ dành cho các ông Táo thì có hai cánh chuồn, mũ Táo bà thì không có cánh chuồn. Mỗi Táo quân cần thêm hia, hài.

– Một hoặc ba cá chép sống để các ông và các bà Táo có phương tiện về chầu trời.

– Bánh kẹo, trầu, cau, rượu, hương, đèn (nến), lọ hoa tươi, đĩa ngũ quả tươi, tiền vàng. Các món chay.

– Ba bộ mũ áo gồm hai mũ đàn ông và một mũ đàn bà. Mũ dành cho các ông Táo thì có hai cánh chuồn, mũ Táo bà thì không có cánh chuồn. Mỗi Táo quân cần thêm hia, hài. Mâm cỗ mặn gồm:

Nam mô a di đà Phật! Nam mô a di đà Phật! Nam mô a di đà Phật! Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương Con kính lạy Ngài đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân. Tín chủ (chúng) con là: …………… Ngụ tại:………… Hôm nay, ngày 23 tháng Chạp tín chủ chúng con thành tâm sắp sửa hương hoa phẩm luật, xiêm hài áo mũ, kính dâng tôn thần. Thắp nén tâm hương tín chủ con thành tâm kính bái. Chúng con kính mời ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân hiển linh trước án hưởng thụ lễ vật. Cúi xin Tôn thần gia ân xá tội cho mọi lỗi lầm trong năm qua gia chủ chúng con sai phạm. Xin Tôn thần ban phước lộc, phù hộ toàn gia chúng con, trai gái, già trẻ sức khỏe dồi dào, an khang thịnh vượng, vạn sự tốt lành. Chúng con lễ bạc tâm thành, kính lễ cầu xin, mong Tôn thần phù hộ độ trì. Nam mô a di đà Phật! Nam mô a di đà Phật! Nam mô a di đà Phật!

back to top


【#4】Các Nghi Lễ Trong Thời Gian Tang Chế Cần Phải Tuân Thủ

Bàn thờ cần có một bát hương, lọ hoa, đài rượu và bài vị. Trong thời hiện đại, ngoài bài vị còn có một bức ảnh chân dung của người quá cố. Tại bàn thờ có treo trướng hoặc của chính gia chủ hay của người thân, bạn bè phúng viếng.

Một trong những nghi lễ trong thời gian tang chế Mát nhà

Tục xưa, đối với những nhà nghèo khó không làm được ở nhà thì cũng phải đến điện lễ để xin thầy cúng cho bùa đem về dán ỏ nhà.

Lễ mát nhà có mời thầy cúng tới bày đàn mũ mã cúng tống hung thần, ném gạo, muôi tiễn và thỉnh trấn trạch, yểm mả.

Bùa trấn trạch dán ở trên cửa ra vào và cửa buồng đế ngăn tà ma. Bùa yểm trừ trùng được cuộn gọn vào ổng tre vót nhọn một đầu, cắm ngập xuống trước mộ chí người chết.

Tính từ ngày chết đến 100 ngày, ngày nào gia chủ cùng cúng, còn gọi là lễ cúng cơm, mỗi ngày 2 bữa. Bữa ăn thường ngày của gia đình như thế nào thì cúng cho người đã khuất như thế. Cúng cơm mỗi ngày trong suốt thời kỳ để tang là 3 năm hoặc 100 ngày, hoặc một năm là tuỳ hoàn cảnh và quan niệm của từng gia đình. Điều quan trọng trong mỗi lần cúng, là bát đũa… phải dành lòng trong một bữa ăn của gia đình. Điều này mang ý nghĩa nhắc nhở bổn phận con cháu và để tỏ lòng hiếu thảo của con cháu đối vói người đã khuất.

Cũng tùy địa phương, có nơi chĩ cúng hết 49 ngày (lức là lễ chung thất): Theo thuyết của Phật giáo: qua 7 lần phán xét, mỗi lần 7 ngày đi qua một điện ở âm ty tức 1 tuần, nhưng không phải tuần lễ theo Dương lịch); sau 7 tuần vong hồn đã siêu thoát. Có nơi cúng hết 100 ngày (tức lễ tốt khốc, nghĩa là thôi khóc). Theo giải thíc của người xưa thì thời gian này âm hồn vẫn còn phảng phất luẩn quẩn trong nhà chưa đi xa.

Lễ cúng 3 ngày

Tục này không thông nhất, có nơi tính ba ngày sau mất, có nơi tính sau sau khi chôn. Xét trong “điển h thì không có lễ ba ngày mà chỉ có lễ tế ngu gồm có sơ ngu tái ngu, tam ngu. Ngu nghĩa là yên vui, tức là ba lần tế lễ cho yên hồn phách. Theo “Thọ mai gia lễ” thì khi chôn xong, rước linh vị về đến nhà người ta sẽ làm lễ tế sơ ngu.

Làm sơ ngu xong gặp ngày nhu (tức là Ât, Đinh , Kỷ, Tân, Quý) làm lễ tái ngu, gặp ngày cương (tức

ngày Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm) làm lễ tam ngu Phan Kê Bính cũng dẫn giải như trên.

Dần dần về sau người ta giản lược, kiêm cả ba lễ luôn, chỉ làm lễ tam ngu, vì thế nên gọi là lễ ba ngày.Vậy là tính ba ngày từ sau khi chôn, theo tục gọi là lễ mở cửa mả. Ngày đó con cháu ra sửa lại mồ mả, đắp cỏ, khơi rãnh thoát nước,… Ngu là tế ngu, tế chỉ tế người chết, tê thần. Theo phong tục cũ thì ít khi chết xong chôn ngay, thường còn để dăm bảy ngày trong nhà. Khi chưa chôn làm lễ triêu tịch điện, tức cúng cơm hàng ngày vẫn theo lễ thờ người sống. Vậy tế ngu phải tính từ sau khi chôn.

Còn có một lập luận khác: Có ba điều không yên khiến phải làm lễ tê ngu:

– Đang sống hoạt động, nay mọi hoạt động bỗng nhiên bị đình chỉ.

– Đang nhìn thấy bóng dáng, khi đã nhập quan không nhìn thấy bóng dáng nữa.

– Đang ở trên dương thế, nay xác về cõi âm, hồn vía vưởng lìa khỏi xác. Âm dương hoàn toàn cách biệt từ sau lễ thành phần. Sơ ngu, tái ngu, tam ngu là tế làm cho yên hồn phách, vậy phải tê sau khi mất, khi lễ nhập quan và sau khi lễ thành phần xong.

Thời nay cũng có trường hợp sau khi chết 4 – 5 ngày còn để trong nhà lạnh chưa chôn nên không thể làm lễ ba ngày trưoc lễ an táng.

Lễ cúng 7 ngày

Tính từ ngày chết, cứ 7 ngày tổ chức 1 lần lễ cầu siêu và cúng cơm. Tăng ni được mời tới nhà tụng kinh,

hoặc cũng có thể xin làm lễ tụng kinh tại chùa. Buổi cầu siêu sau 7 ngày lần thứ nhất gọi là sơ thất, tuần thứ hai tiếp theo gọi là nhị thất, rồi tam thất… cứ thế cho đến lần thứ 7 gọi là thất thất, đây là lần cuối cùng của việc cúng 7 ngày nên cũng được gọi là chung thất hoặc tứ cửu tức là cúng bốn mươi chín ngàỳ.

Nêu tụng kinh tại chùa thì từ lần sơ thất đến chung thất người ta phải rước hồn bạch hoặc thần chủ (nay là ảnh chân dung người chết) lên chùa.

Đến chung thất (bôn chín ngày) là tuần sau cùng,con cháu tang gia cúng tại nhà có tế lễ, còn mang lên lum làm chay để tụng kinh sám hối, có khi kéo dài ba ngày dêm để vong hồn người quá cố được siêu thoát. Có nơi làm lễ bốn chín ngày kéo dài 7 ngày đêm liền.

Theo quan niệm của Phật giáo, thì tuần chung thất hết sức quan trọng, nhằm đưa vong hồn người chết lên chùa nương cửa Phật.

Dưới cùng là bàn thờ chúng sinh. Trước bàn thờ là đàn mộng sơn dựng cao, để chủ lễ làm dấu hiệu siêu sinh cho vong hồn người đã khuất.

Nghi thức làm lễ chay:

– Lễ Phật: đế cầu từ bi hỉ xả.

– Lễ Tam phủ: xin xoá bỏ mọi tội lỗi.

– Lễ cầu vong: làm lễ để yêu cầu vong hồn người quá cố nhập vào một cô đồng để cho biết ý muôn của vong.

– Lễ phá ngục: mỏ cửa ngục tha cho các tội nhân.

– Lễ giải oan: để sửa chữa tội lỗi cũ, dứt bỏ dây oan nghiệt.

– Lễ phóng đăng (thả đèn), phóng sinh (thả chim).

Tức là thả đèn trên sông, thả chim lên trời hoặc thả cá xuống sông. Lễ này cốt để chuộc tội cho vong người quá cố.

– Lễ cúng cháo: để bố thí cháo cho chúng sinh.

Làm chay đủ lễ phải mất 7 ngày 7 đêm. Nêu làm chay ỏ chùa, đàn tràng bày trên hết thờ Phật, dưới là Thập điện Diêm vương, rồi đến các thần linh. Tục xưa tin rằng có người chết phải “giờ xấu, chạm tuổi” thì co trùng tang. Người chết bị trùng tra khao, dẫn về nhà bắt người thân, vì thế cần làm chay cúng để trừ trùng.

Lễ cúng 100 ngày

Tính từ ngày chết đến 100 ngày là tuần tốt khốc.Kể từ tuần này trở đi con cháu không khóc nữa. Và vào tuần này con cháu sẽ cúng tê lần cuối cùng trong thời ky tang chế.

Tuần tốt khốc còn gọi là tuần “bách nhật” (100 “gày).

Tuần tốt khốc có tế lễ và nghi thức cũng như các cuộc tế lễ khác, có văn tế. Mẫu văn tế như sau:

Ngày tháng thoi đưa, tới tuần tốt khốc

Cây lặng gió lay, khóc làm sao được

Cha (mẹ) từ khuất mặt, tưởng linh hồn

Như ở linh sàng (giường nằm)

Con khó lòng, thờ lúc chết, như thờ lúc sống

BUSINESS – CỔNG THÔNG TIN VỀ VẤN ĐỀ KINH DOANH , THƯƠNG MẠI, KHỞI NGHIỆP MỚI NHẤT, GƯƠNG MẶT DOANH NHÂN VÀ NHỮNG BÀI HỌC TRONG THỰC TIỄN QUẢN TRỊ CỦA DOANH NHÂN

BUSINESS BY chúng tôi – THÔNG TIN KINH DOANH – KHỞI NGHIỆP – MARKETING – DOANH NHÂN

Cùng Danh Mục

Liên Quan Khác


【#5】Khám Phá Mâm Cỗ Tết Đặc Trưng Của Ba Miền Bắc

Mâm cỗ Tết ba miền tuy có nhiều khác biệt nhưng tựu chung lại đều có cơm, xôi, bánh chưng, bánh tét ăn kèm với các loại dưa muối đặc trưng của từng miền, phản ánh bản sắc văn hóa, lịch sử, địa lý của một đất nước có nền văn minh lúa nước. Mâm cỗ Tết miền Bắc

Mâm cỗ Tết miền Bắc, đặc biệt là mâm cỗ Tết của người Hà Nội thường rất bài bản theo đúng nét cổ truyền của dân tộc. Mâm cỗ Tết miền Bắc thường có 4 bát, 4 đĩa tượng trưng cho tứ trụ, bốn mùa và bốn phương. Cỗ lớn thì 6 bát 6 đĩa hoặc 8 bát 8 đĩa tượng trưng cho phát lộc, phát tài. Có khi mâm cỗ lớn phải xếp cao đến 2, 3 tầng. Cỗ ngày xưa phải bày lên mâm gỗ hoặc mâm đồng, đi cùng với bát chiết yêu và đĩa cây mai.

Bốn bát gồm một bát chân giò lợn hầm măng lưỡi, một bát bóng thả, một bát miến và một bát mọc nấm thả. Ngoài ra, nhiều gia đình còn chuẩn bị thêm một bát su hào thái chỉ ninh kỹ, một bát chim hầm để nguyên cả con, một bát gà tần hay nhiều gia đình giàu có xưa còn bày thêm bào ngư, vi cá để mâm cỗ thêm đầy đặn, sang trọng.

Bốn đĩa gồm một đĩa thịt gà, một đĩa thịt lợn, một đĩa giò lụa, một đĩa chả quế. Thậm chí nhiều gia đình còn bày thêm đĩa thịt đông – món ăn đặc trưng cho những ngày lạnh miền Bắc, đĩa giò thủ, đĩa xào hạnh nhân, đĩa cá kho riềng, đĩa nộm su hào hoặc nộm rau cần và nem rán.

Bánh Tết ở miền Bắc phổ biến nhất là bánh chưng ăn kèm dưa hành. Món tráng miệng có mứt sen, mứt quất, mứt gừng, chè kho… Tuy là nhiều món nhưng mỗi món chỉ bày vào một bát hay đĩa nhỏ nên mâm cỗ Tết vừa đa dạng, hài hòa, lại đẹp mắt.

Mâm cỗ Tết miền Trung

Miền Trung với thời tiết khắc nghiệt và đặc điểm khí hậu đặc trưng nên nét văn hóa ẩm thực cũng có đôi phần khác biệt. Những món cơ bản thường thấy trong mâm cỗ miền Trung bao gồm gà luộc, thịt heo, bánh Tết, trứng chiên, đồ xào, ram cuốn, canh, rau sống, cơm trắng… với điểm đặc biệt là các món ăn được chia ra thành từng đĩa nhỏ, mỗi thứ một ít, bày biện trên chiếc mâm tròn, như một cách thể hiện sự chắt chiu và san sẻ.

Ngoài ra những món Tết của miền Trung còn chú trọng đến yếu tố lưu trữ nên thường có các món mặn như: tôm rim, thịt kho Tàu, cuốn ram, thịt hon, gà rán, thịt phay, nem, tré, thịt ngâm nước mắm…rồi có thêm các món đồ mộc như: măng khô xào thịt, mít trộn, giá xào nham… Thêm vào đó với thói quen “cuốn” trong văn hóa ấm thực nên dù trong mâm cỗ Tết ở miền Trung cũng thường xuất hiện các món cuốn từ thịt luộc cuốn bánh tráng, nem lụi cuốn bánh tráng, rồi thịt kho, cá kho, cá hấp cũng có thể cuốn chung với bánh tráng và rau sống.

Ngoài một số tỉnh Bắc Trung Bộ như: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh…vẫn mang sắc thái của cỗ miền Bắc với quan niệm “mâm cao cỗ đầy”, luôn đầy đủ giò, gà, bánh chưng…thì các tỉnh còn lại có nhiều điểm khác biệt với cỗ miền Bắc: món bánh chưng được thay bằng bánh tét, không ăn dưa hành mà là dưa món và nổi bật là các món bánh phong phú và đa dạng: bánh sen tán, bánh măng, bánh mận, bánh bó mứt, bánh tổ, bánh phục linh… được chế biến bằng cách hấp, nướng hoặc sấy kỹ, có vị ngọt đậm nên có thể để có thể để ăn dần đến cả tháng vẫn không hư hỏng.

Với Huế, mâm cỗ Tết có phần đặc sắc và công phu hơn, mang hơi hướng cung đình xưa. Bên cạnh các món gỏi vả, gà bóp rau răm, cơm bò nấu thưng, chả ram, nem, tré…cầu kỳ thì các món bánh mứt mới là điểm nhấn tạo nên sự tinh tế cho mâm cỗ: Có thể kể món bánh đậu xanh nặn hình trái cây, bánh bó mứt hoặc món mứt quất làm thành nguyên quả và các món mứt gừng xăm, gừng khô, mứt sen, mứt bát bửu vừa đẹp lại vừa ngon.

Mâm cỗ Tết miền Nam

Miền Nam với đặc trưng của một vùng đất có nhiều sản vật trù phú, thời tiết thuận lợi cho các loại cây, trái, gia súc, gia cầm hay thủy sản phát triển nên mâm cơm ngày Tết của miền Nam có phần phong phú và không gò bó về nghi thức. Tuy nhiên mâm cơm cúng ông bà ngày 30 Tết ở miền Nam lại luôn có thịt heo kho nước dừa với trứng hoặc cá lóc kèm dưa giá, canh khổ qua nhồi thịt. Ngoài ra mâm cỗ Tết của Nam bộ cũng không thể thiếu các món nguội như gỏi ngó sen, tai heo ngâm dấm, tôm khô – củ kiệu, giò heo nhồi, phá lấu, nem, lạp xưởng tươi…

Canh khổ qua là món ăn không thể thiếu trong mâm cỗ Nam bộ bởi theo dân gian thì khổ qua là món ăn mong muốn sự khổ cực trong năm cũ qua đi, để tiếp đón điều tốt đẹp trong năm mới.

Bánh tét của người miền Nam có đôi phần khác biệt so với bánh tét miền Trung. Bánh tét miền Trung gói chặt, nhân đậu xanh ít và chú ý đến yếu tố bảo quản cho được lâu thì bánh tét miền Nam đa dạng hơn về cả phần vỏ lẫn phần nhân. Phần nếp bên ngoài có khi được trộn lẫn với dừa nạo, có khi với đậu đen, hoặc là hạt điều, là cẩm, lá dứa tạo ra nhiều màu sắc khác nhau.

Phần nhân thì ngoài nhân đậu xanh với mỡ, còn có nhân chuối, nhân thập cẩm, nhân đậu xanh trứng muối. Một số nơi còn tạo hình bên trong bánh thành hoa mai, chữ thọ, chữ phúc, khi cắt ra trông rất đẹp và độc đáo. Tuy nhiên phổ biến nhất vẫn là loại bánh tét nhân đậu xanh với thịt mỡ và lòng đỏ trứng muối. Khi bày ra bàn sẽ dọn ra ăn kèm với dưa món, củ kiệu, tôm khô, lạp xưởng, cà rốt, củ cải ngâm nước mắm.

Mâm cỗ Tết của người miền Nam không thể thiếu bánh tét ăn kèm củ cải, cà rốt chua ngọt.

Cũng như ở miền Bắc và miền Trung, các món tráng miệng ở miền Nam cũng đa dạng với các loại mứt trái cây như: mứt dừa, mứt me, mứt mãng cầu, mứt củ năng, bánh ít ngọt, kẹo thèo lèo và kẹo chuối… Ngoài ra ở miền Nam còn có món tráng miệng rất đặc sắc đó là cơm rượu.

Theo Đỗ Linh / Trí Thức Trẻ


【#6】Dù Nhiều Của Ngon Vật Lạ Đến Mấy, Mâm Cỗ Tết Miền Bắc Cũng Chẳng Trọn Vẹn Nếu Thiếu 6 Món Ăn Này

Dù những năm gần đây Tết có phần giản tiện hơn, tuy vậy mâm cỗ Tết miền Bắc qua bao nhiêu năm vẫn cứ có những món ăn không thể thiếu.



1. Bánh chưng

Nhắc đến cỗ Tết miền Bắc phải kể đến bánh chưng, thứ bánh truyền thống được truyền lại từ đời các vua Hùng. Nằm chiếm vị trí trang trọng trong mâm cỗ, chiếc bánh chưng nhà làm nhiều thịt nhiều đậu, thơm mùi lá mùi nếp, xanh màu diệp lục của lá dong được xắt thành 8 miếng đều đặn bằng chính sợi lạt buộc bánh tước nhỏ.

Tết hiện đại no đủ, thỉnh thoảng lại nghe thấy tiếng “phàn nàn”: “Sợ bánh chưng quá rồi”. Nhưng nói là nói thế, chứ cỗ Tết là không được phép thiếu bánh chưng, thế nên cứ lúc bày mâm là lại nghe tiếng các mẹ các chị lại rộn ràng, gọi bảo người nhà “bóc cái bánh chưng đi”.

Bánh chưng vuông vức, thơm mùi nếp mùi đỗ. Người bóc bánh khéo chẳng ai dùng dao vì sẽ gây dính mà sẽ dùng ngay dây lạt buộc bánh tước nhỏ, xắt bánh thành tám miếng đều đặn.

2. Canh măng

Bát canh măng nóng hổi với những miếng măng khô làm kĩ, luộc đi luộc lại từ hôm trước nấu với móng giò hay sườn ngon. Lúc bê mâm, trên bát canh măng bao giờ cũng rắc lên trên mấy củ hành chần xanh xanh đẹp mắt.

Nhớ lại trong mâm cỗ, múc bát canh măng bao giờ măng cũng hết trước sườn hay móng giò. Có nhà kia nghe tiếng em bé phụng phịu “Phải ăn canh măng mấy ngày liền”, trong khi người mẹ vẫn dịu dàng giải thích: “Tết mà, tết là phải có canh măng chứ”.

3. Nem rán

Nem rán không chỉ dễ làm mà còn dễ ăn. Ngày Tết vui nhất là ngồi bên chậu nhân nem, trộn trộn rồi cuốn cuốn. Nem ngon một phần cũng phải kể đến nước chấm nem. Chấm miếng nem nóng giòn vào bát nước mắm chua ngọt khiến vị ngon càng thêm đưa đẩy.

Nem rán còn là món ăn trẻ em rất thích. Còn nhớ cảnh bé em chầu chực bên chảo rán nem của mẹ, nhìn những cái nem giòn tan vàng nâu gắp ra đĩa thèm thuồng và cố bấm bụng “chờ cúng cụ xong” như lời mẹ dặn.

Nói thế nhưng sắp mâm xong, thể nào mẹ cũng dấm dúi xe mẩu giấy báo bọc một chiếc nem cho khỏi nóng rồi đưa cho con.

4. Thịt đông

Người ta bảo, mâm cỗ Tết, nhìn đĩa thịt đông là biết chủ nhà khéo đến đâu. Sở dĩ nói vậy bởi thịt đông là một món rất cầu kì, dễ mà khó. Nấu một nồi thịt đông thì dễ, nhưng để nấu ngon, để bát thịt đông úp ra vừa đông đủ, phần nhựa trong suốt như pha lê không chảy nhão thì lại không phải dễ.

Đĩa thịt đông trông như viên ngọc nhỏ trên mâm cỗ Tết, trong thời tiết se lạnh, sắn một miếng thịt thật khéo để phần nhựa không rơi mất rồi ăn kèm cơm nóng mới tuyệt làm sao.

5. Giò xào

Cỗ Tết là dịp các loại giò khoe sắc, nào giò lụa hồng hào, giò bò nâu óng, đến giò tai, giò mỡ óng ả nhưng không thể bỏ sót món giò xào, món giò đặc biệt nhất vì thường có bốn cạnh vuông vức do được ép bằng các thanh tre.

Ảnh: bepnhatom

Làm từ thịt thủ, tai mũi lợn, mộc nhĩ nấm hương đem xào rồi ép chặt, miếng giò trông ngon thì mắt ăn mà ăn thì ngon miệng. Vị giòn sần sật của tai mũi lợn cũng mùi thơm của nấm hương của mộc nhĩ đã tạo nên một món ăn ngon tuyệt ngày Tết.

6. Dưa hành

Nếu ngày xưa cứ gần Tết là các bà các mẹ lại lục đục ra chợ mua về hàng cân hành ngồi tỉ mẩn bóc vỏ đem muối, vài ngày lại bỏ ra kiểm tra xem hành ăn được chưa hay còn hăng không thì bây giờ cơ chế gọn nhẹ, giản tiện hơn, hành muối được bán sẵn theo lọ cho chị em sắm Tết nhanh gọn.

Tuy nhiên dù xưa hay nay thì hành muối chưa bao giờ là món ăn có thể vắng mặt trên mâm cỗ Tết. Một bát hành nhỏ nơi góc mâm, những củ hành trắng muốt, đã hết mùi hăng chỉ còn một mùi chua nhẹ kích thích vị giác, ăn kèm với bánh chưng giải ngấy luôn là món ăn đắt hàng dịp Tết.


【#7】Mâm Cỗ Ngày Tết: Cỗ Cúng Gia Tiên Miền Bắc

Mâm cỗ ngày Tết cúng gia tiên thường có bánh chưng, dưa hành, các món xào món nấu, giò thủ giò lụa. Còn các món khác là gì?

1. Bánh chưng

Nhắc đến ngày Tết là nhắc đến bánh chưng, món ăn thể hiện sự kết tinh của đất trời, mang đến khát vọng cho một năm mới đầy đủ và sung túc. Để có được chiếc bánh chưng ngon đòi hỏi sự tinh tế, tỉ mỉ và khéo léo của người thực hiện. Sự kết hợp của vị thơm từ gạo, vị ngọt bùi của đổ kết hợp với vị béo của thịt mỡ, vị cay nhẹ của hạt tiêu sẽ mang đến những ngày Tết trọn vị.

2. Dưa hành

Dưa hành là một món ăn truyền thống, dân dã và bình dị trong mâm cỗ Tết của người miền Bắc và cũng là món đi vào ca dao tục ngữ Việt Nam. Có lẽ cũng vì thế mà một mâm cơm cúng ngày Tết cũng không thể thiếu món ăn giản dị này.

3. Thịt đông

Thịt đông là món ăn đặc trưng cho khí hậu của miền Bắc nên trong mâm cơm cúng của người miền Bắc luôn có món ăn lạ miệng này.

4. Nem rán

Đây là món ăn mang lại cho mọi người sự ấm áp, no đủ. Màu vàng của lớp vỏ nem tượng trưng cho tài lộc và thành đạt nên nem rán là món ăn độc đáo không thể thiếu được trong ngày Tết của người miền Bắc.

5. Thịt gà luộc

Có lẽ đây là món ăn “thường trực” trong mâm cỗ ngày Tết hay mâm cỗ cúng thông thường. Vị ngọt thơm của thịt gà ăn kèm lá chanh, chấm gia vị chanh ớt luôn tạo nên một hương vị riêng rất khó quên.

6. Khoanh giò

Khi nhắc đến mâm cỗ cổ truyền ngày Tết của người miền Bắc, chúng ta không thể không nhắc đến món giò. Đó có thể là giò nạc, giò thủ,… tùy theo sở thích của từng gia đình.

7. Canh măng khô hoặc canh bóng thả

Để có được một bát canh măng ngon, măng khô thường được ngâm trước Tết, sau đó luộc qua nhiều nước và nấu chung với móng giò. Bát canh măng nóng hổi, thơm lừng, béo ngậy luôn giữ một vị trí đặc biệt trong mâm cỗ ngày Tết.

Hoặc chúng ta có thể thay canh măng khô bằng canh bóng thả, một món ăn cổ truyền của người Việt. Miếng bóng vàng, cái thơm đặc trưng của nấm hương, độ cong quyến rũ của tôm và nổi bật của rau củ khiến bát canh hấp dẫn nhưng cũng mang đến ý nghĩa no đủ cho một năm sung túc.

8. Xào thập cẩm

xào thập cẩm là một trong các đĩa thắp hương quan trọng trong mâm cỗ Tết truyền thống của Hà nội xưa. Các bà, các mẹ vẫn luôn thích những món cổ truyền, bởi nó không chỉ mang lại sắc màu cho mâm cỗ mà còn phát lộc, phát tài, ấm no, hạnh phúc.

9. Xôi gấc hoặc đỗ xanh

Xôi gấc đỏ mang lại may mắn cho cả gia đình, xôi đỗ xanh có ý nghĩa no đủ. Đây là hai loại xôi thường có trên mâm cỗ ngày Tết và cũng là món ăn mang tin hỷ đối với người xưa.

An Mai


【#8】Cách Làm Mâm Ngũ Quả Gia Tiên Ngày Tết Đẹp Miền Nam Bắc Cầu Tài Lộc Cả Năm

Cách làm mâm ngũ quả gia tiên ngày tết đẹp miền nam bắc cầu tài lộc cả năm là những gợi ý mà chúng tôi muốn chia sẻ tới các bạn trong bài viết lần này nhằm cung cấp nhiều gợi ý thật hay giúp bạn có một cách bày trí mâm cúng tổ tiên đất trời sao cho trọn lòng hiếu thảo, thể hiện lòng thành kính với những người đã khuất một cách trọn vẹn nhất.

Tùy thuộc vào từng vùng miền khác nhau sẽ có cách trang trí mâm quả ngũ quả cúng khác nhau, nếu bạn đang phân vân không biết nên trình bày sao cho hợp phong thủy, hợp đất trời, mang ý nghĩa thể hiện sự sum vầy sung túc trong gia đình thì bài viết này chắc chắn sẽ là hướng tham khảo thật đầy đủ và chuẩn xác nhất dành cho bạn trong năm mới này đấy.

Ý nghĩa mâm ngũ quả thờ cúng gia tiên ngày Tết

  • Mâm ngũ quả thể hiện đạo lý thiêng liêng uống nước nhớ nguồn. Mỗi miền có một cách bài trí và bày biện khác nhau.
  • Mâm ngũ quả đặt trên bàn thờ tổ tiên dịp Tết theo 5 sắc màu tượng trưng cho mong ước được ngũ phúc: giàu có, sang trọng, sống lâu, khỏe mạnh, bình yên. Theo thuyết ngũ hành: Kim màu trắng, Mộc màu xanh, Thủy màu đen, Hỏa màu đỏ, Thổ màu vàng. Mâm ngũ quả thường theo 5 sắc màu đó để phối trí.
  • Tuy nhiên, trên thực tế, ở mỗi một vùng miền, người ta lại có những cách bày biện mâm ngũ quả khác nhau.

Mâm ngũ quả đặc trưng của ba miền

Miền Bắc

Ở miền Bắc, trên mâm ngũ quả thường có 5 loại quả với 5 màu khác nhau, cụ thể gồm chuối/táo màu xanh; bưởi (hoặc phật thủ), cam, quýt màu vàng; hồng hoặc táo tây, ớt màu đỏ; roi, mận, đào hoặc lê màu trắng; hồng xiêm hoặc nho đen, măng cụt, mận màu đen.

Miền Trung

  • Ở miền Trung, người dân không quá câu nệ hình thức của mâm ngũ quả mà chủ yếu có gì cúng nấy, thành tâm dâng kính tổ tiên. Mặt khác, do chịu sự giao thoa văn hóa hai miền Bắc – Nam nên mâm ngũ quả của người miền Trung bày biện đủ chuối, mãng cầu, sung, dừa, đu đủ, xoài…
  • Nhìn chung mâm ngũ quả bày trên ban thờ không cần nhiều về số lượng. Tất cả chỉ cần gọn gàng và sạch sẽ, vậy là đủ.

Miền Nam

  • Nếu như người miền Bắc, nải chuối xanh thường ít thiếu vắng trên mâm ngũ quả thì người miền Nam lại kiêng kỵ bày một số trái cây. Mâm ngũ quả của người miền Nam không bao giờ có chuối, vì loại quả này tên gọi có âm giống từ “chúi” thể hiện sự nguy khó. Quả cam cũng không được có mặt trong mâm ngũ quả ngày Tết, vì câu “quýt làm cam chịu”, hay như trái lê đồng nghĩa với “lê lết”…
  • Mâm ngũ quả người miền Nam thường mâm ngũ quả thường là: mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài, sung, đọc chệch thành các tên “cầu vừa đủ xài” hoặc “cầu vừa đủ sung”.
  • Bưởi: Phúc lộc, viên mãn
  • Thanh long: Rồng mây hội tụ
  • Dưa hấu: Tốt đẹp, viên mãn, trung thực
  • Đu đủ: Đầy đủ, thịnh vượng
  • Mãng cầu: Cầu chúc mọi điều như ý
  • Dứa (thơm): Thơm tho, đa phúc lộc
  • Hồng: Hồng hào, tươi tốt, tượng trưng cho sự thành đạt
  • Lựu: Đa phúc, đa lộc, con đàn cháu đống
  • Phật thủ: Bàn tay Phật che chở phù hộ cho con người
  • Chuối: Tượng trưng cho bàn tay ngửa, hứng lấy may mắn, bao bọc và che chở
  • Dừa: Viên mãn
  • Xoài:Ttiêu xài không thiếu thốn
  • Quất: Sung túc, lộc lá
  • Đào: Sự thăng tiến, danh lợi.

Tuy mỗi miền có sự khác biệt về văn hóa, song việc bày biện mâm ngũ quả ngày Tết luôn là một nét văn hóa đặc sắc, thể hiện lời cầu chúc cho một năm mới ấm no, hạnh phúc của người dân Việt Nam. Cho dù sinh sống ở phương trời nào, đã là người dân Việt Nam thì sẽ không bao giờ quên được tục lệ này trong dịp Tết nguyên đán nhằm gìn giữ bản sắc dân tộc cho bản thân và cho con cháu.

  • Mâm ngũ quả ngày tết gồm 5 loại quả có 5 màu sắc khác nhau. Con số 5 thể hiện ước muốn của người Việt Nam mới sẽ đạt ngũ phúc lâm môn: Phú, quý, thọ, khang, ninh. 5 màu sắc thể hiện ý nghĩa nguồn của cải năm phương đưa về kính lên tổ tiên. Như nải chuối có màu xanh tượng trưng Đông phương, quả bưởi có màu vàng tượng trưng Trung phương, quả hồng có màu đỏ tượng trưng Nam phương, quả lê có màu trắng tượng trưng Tây phương và một loại quả có màu sẫm khác tượng trưng Bắc phương. Năm màu sắc này cũng tượng trưng ngũ hành trong vũ trụ là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.
  • Con số 5 trong mâm ngũ quả còn thể hiện lịch sử tín ngưỡng dân tộc. Ví dụ, đạo Phật có ngũ giới, tức 5 điều quy định của đạo Phật. Đạo Lão với ngũ hành. Đạo Khổng là ngũ thường. Nguyên nhân chọn ngũ quả thay vì chọn các yếu tố khác bởi người xưa quan niệm hoa quả có nhiều hạt, múi, chùm. Điều này thể hiện mong ước sang năm mới sẽ sinh sôi phát triển cả trong sản xuất lẫn cuộc đời.
  • Số chẵn và lẻ
  • Hiện nay mâm ngũ quả cũng được bày biện phù hợp với tùy từng địa phương với đặc trưng về khí hậu, sản vật và quan niệm riêng. Ví dụ, mâm ngũ quả của người Bắc bao giờ cũng có nải chuối – thể hiện sự che chở của đất trời cho con người. Nhưng người Nam lại cho rằng từ chuối có âm đọc chệch nghe giống từ “chúi”, thể hiện sự đi xuống, không ngẩng lên được.
  • Người Nam cũng không trưng quả cam bởi câu “quýt làm cam chịu”. Mâm ngũ quả của người Nam thường có các loại quả mãng cầu, sung, dừa, đu đủ, xoài (là những loại quả có âm khi đọc chệch nghe như câu “cầu sung vừa đủ xài), thêm 3 trái thơm làm chân đế thể hiện sự vững vàng. Trong khi đó, với người Bắc, hầu như tất cả các loại quả đều có thể bày trên mâm ngũ quả, kể cả quả ớt, miễn sao đẹp mắt là được.
  • Ngày nay, do trái cây phong phú, nhiều loại, con cháu muốn thể hiện lòng hiếu thảo đối với ông bà, tổ tiên, đồng thời cũng thể hiện tính trình bày thẩm mỹ, nên mâm ngũ quả ngày càng phong phú hơn. Người ta không câu nệ cứng nhắc là 5 quả nữa mà có thể bày đến 8, 9 hay thậm chí 10 quả, không kén chọn số chẵn hay lẻ. Và dù có bày nhiều hơn nhưng người ta vẫn gọi là mâm ngũ quả.
  • Nhưng với các ý nghĩa trên nên khi bày mâm ngũ quả, người ta có những quy ước dân gian. Ví dụ, mâm ngũ quả chỉ bày quả, không đặt thêm hoa hoặc thực phẩm gì. Số lượng trên mâm ngũ quả chỉ tính loại, không tính quả. Ví dụ, chuối chỉ cần một nải mà không quan tâm số lượng là 15 hay 16 quả.

Chuẩn bị nguyên liệu bày mâm ngũ quả

Chuối xanh

  • Là loại quả chiếm vị trí quan trọng trong cách bày trí mâm ngũ quả. Chuối gần gũi với người dân Việt, đặc biệt với người dân miền Bắc, sự có mặt của lọai quả này không thể thiếu trong những ngày Tết.
  • Màu xanh của chuối biểu tượng cho mùa xuân, sự tinh túy của đất trời, mang ý nghĩa che chở bao bọc.

Phật thủ (bưởi )

Được đặt ở giữa mâm ngũ quả, loại quả này mang ý nghĩa cầu mong trời phật ban lộc, ban sự may mắn bình an nhân thế.

Đủ đủ, sung

Đây là hai thứ quả mà mọi người luôn muốn đặt lên bàn thờ gia tiên vào những ngày Tết, với mong muốn sự sung túc, đầy đủ sẽ đến với gia đình mình và tránh được sự khó khăn, bần hàn.

Cam, quýt chín, hồng, mận…

Mỗi loại quả tượng trưng cho các mùa khác nhau. Điều đó thể hiện sự mong muốn suốt năm gia đìnhsẽ được no đủ và hạnh phúc.

  • Quả bưởi thường được “ôm” trong “vòng tay” của nải chuối, xung quanh là hồng, quýt , đào mận, sung đan xen vào nhau tạo thành hình tháp… Và mâm ngũ quả sẽ ý nghĩa nhất nếu có đầy đủ những loại quả tượng trưng cho mỗi điều mong ước khác nhau, tượng trưng cho trời đất và các mùa trong năm
  • Để bày biện mâm ngũ quả đẹp mắt cũng tốn khá nhiều thời gian với nhiều người. Với kinh nghiệm cũng như quan niệm của cha ông ta thì nên bày những loại quả to nhất, thể hiện ý nghĩa nhiều nhất ở giữa như chuối, đu đủ, dưa hấu, dứa, hay dừa sẽ dễ dàng bày những loại quả xung quanh hơn.

Cách bày mâm ngũ quả miền Bắc

  • Chuẩn bị: Chuối, bưởi, đào, hồng, quýt.
  • Trình bày: Cách trình bày truyền thống sẽ là nải chuối được đặt dưới cùng, ở giữa để đỡ lấy toàn bộ các trái cây khác. Quả bưởi đặt giữa nải chuối, xung quanh là hồng, quýt, đào bày đan xen vào nhau.
  • Chuẩn bị: Mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài, sung.
  • Trình bày: Người ta thường chọn ba loại quả có hình dáng to và trọng lượng nặng là đu đủ, dừa, xoài đặt lên mâm trước để lấy thế. Sau đó, bày những quả khác chèn lên, để tạo thành một ngọn tháp.

【#9】Cách Bày Mâm Cỗ Cúng Gia Tiên Vào Ngày Tết Miền Bắc

Mâm cỗ cúng gia tiên ngày tết truyền thống của Việt Nam luôn được coi trọng và cũng được chuẩn bị một cách tỉ mỉ cũng như thật cẩn thận và đẹp mắt. Trong mâm cỗ cúng gia tiên thì cần phải có những món bắt buộc và những món làm thêm, số lượng món ăn trong mâm cỗ cúng tết như thế nào là hợp lý, trình bày chúng ra sao là hợp lý và có những món nào? Tất cả sẽ được chúng tôi chia sẻ với bạn ở bài viết này.

Mâm cơm truyền thống đầu năm mới của người Việt thường có bốn bát và bốn đĩa. Bốn bát gồm: 1 bát chân giò lợn nấu măng, 1 bát miến, 1 bát mọc nấm và 1 bát bóng thả. Bốn đĩa gồm: 1 đĩa thịt gà (thịt lợn), 1 đĩa giò (chả), 1 đĩa nem thính (có thể thay bằng đĩa xào) và 1 đĩa dưa muối. Ngoài ra còn có một đĩa xôi (bánh chưng) và bát nước chấm, tổng cộng là tròn mười món.

Mâm cỗ lớn thì có 6 bát 6 đĩa hoặc 8 bát 8 đĩa tượng trưng cho phát lộc, phát tài.

Mâm cơm đầu năm của người miền Bắc thường được chuẩn bị rất công phu, kĩ càng. Thịt gà phải là thịt gà trống choai, được chọn lựa cẩn thận: mào gà, hình dáng gà, đặc biệt là cựa gà. Người Việt Nam quan niệm: cựa gà có đẹp thì cả năm mới sung túc, ấm no. Gà được thịt để cúng giao thừa, sau đó chia cho con cháu ăn hưởng lộc. Thịt lợn phải chọn được miếng thịt lợn đầy đặn, có đủ nạc, mỡ (thường 1/3 mỡ, 2/3 nạc), dầy mình, vuông vắn. Giò có thể là giò nạc, giò lụa, miếng giò chắc, thơm ngọt. Giò được gói tròn. Trong mâm cơm có bánh chưng vuông tượng trưng cho đất, khoanh giò tròn tượng trưng cho trời, thể hiện sự hoà hợp, cân bằng giữa trời đất và con người. Âm dương cân bằng, gia chủ mới mạnh khoẻ, con cháu ngoan hiền, làm ăn phát đạt. Mâm cơm đầu năm còn có đĩa xôi. Xôi đầu năm mới phải là xôi gấc hoặc xôi đỗ. Màu đỏ của gấc, màu vàng ruộm của đỗ thể hiện niềm tin, hi vọng của gia chủ vào một năm mới làm ăn thành công, gặp nhiều may mắn.

Cúng gia tiên là cúng tổ tiên trong nhà, là nghĩa vụ thiêng liêng của con cháu để tỏ lòng nhớ ơn nguồn cội của mình “Cây có cội nước có nguồn”.

Cúng gia tiên là một cái đạo “Đạo thờ cúng ông bà”, gọi tắt là đạo ông bà. Đạo ở đây không phải là tôn giáo vì không có giáo chủ, môn đệ… .mà chỉ là “đạo làm người” trong gia đình, lấy tình cảm và sự liên hệ máu mủ ruột thịt trong gia đình làm chủ yếu.

Cúng gia tiên là thể hiện sự hiếu thảo và tình thương yêu của con cháu đối với người quá cố. Cúng gia tiên trong 3 ngày Tết bày tỏ lòng tri ân, thương nhớ của con cháu đối với tổ tiên nguồn cội. Việc cúng kính không chú trọng ở hình thức mâm cao cỗ đầy mà chú trọng ở nội dung, đó là tấm lòng thành kính tri ân thương nhớ và noi gương. Vua Hùng Vương thứ 6 không chọn cao lương mỹ vị để cúng gia tiên mà chọn bánh chưng bánh dầy là món đơn sơ giản dị nhưng hàm chứa nội dung ý nghĩa sâu sắc.

Khi cúng, gia chủ phải ăn mặc chỉnh tề, lên đèn, đốt hương, đánh chuông, hai tay chắp lại đưa lên ngang trán và khấn, khi khấn nêu ngày tháng, làng xã, tên mình, tên vợ con, tên người quá cố, lễ vật cúng, lý do cúng, cầu nguyện… rồi tùy theo vị trí lớn nhỏ của mình đối với người quá cố, nếu nhỏ thì lạy 4 lạy hoặc vái 4 vái. Việc cúng kính tuỳ thuộc vào đức tin và đời sống đạo đức của mình.

Trình tự cúng 4 ngày Tết

Tết Nguyên đán thường tổ chức 4 ngày và lễ cúng gia tiên cũng được trình tự cúng trong 4 ngày với những ý nghĩa khác nhau.

Chiều 30 Tết có lễ cúng tất niên, tức là cúng trình với ông bà, tổ tiên năm cũ đã hết. Đêm 30 cúng giao thừa, thời điểm chuyển tiếp năm cũ sang năm mới.

Sáng mùng 1 Tết là cúng Nguyên đán, nghĩa là cúng sáng sớm của một ngày đầu năm. Chiều mùng 1 Tết cúng Tịch điện, tức là cúng cơm chiều.

Ngày mùng 2 Tết có 2 lễ cúng, buổi sáng cúng mời tổ tiên gọi là Chiêu điện, buổi chiều cúng Tịch điện.

Ngày mùng 3 là ngày cuối của tết, nên cúng Tạ Ông vải, với ý nghĩa 4 ngày tết đã đầy đủ.


【#10】Cúng Dường Thế Nào Cho Đúng?

“Cúng dường là dâng cúng các phẩm vật thiết yếu cho đức Phật và chư Tăng với lòng chân thành, cung kính. Cúng dường vốn là tiếng Trung Hoa, đọc theo âm Hán Việt là cung dưỡng hay cúng dưỡng, tiếng việt chúng ta đọc thành cúng dường, người miền bắc thì đọc là cúng dàng, Có lần, Một phật tử gửi cho tôi một bao thư, trong đó có một trăm nghìn đồng và một tờ giấy ghi:”Con xin cúng vườn Thầy”. Có lẽ, người này chưa phải Phật tử, nên nghỉ cúng dường là “cúng cái giường nằm”, ghi thành “cúng vườn” chắc sẽ đúng hơn. Thực ra, từ cúng dường nghĩa là cung cấp hoặc dâng cúng, đọc nghĩa với các từ bố thí, biếu, tặng, dâng, hiến, cho.

Nếu xét về mặt ngữ nghĩa, tất cả các từ trên đều có nghĩa là lấy những vật thuộc sở hữu của mình như tiền bạc, tài sản, nhà cửa, ruộng vườn, xe cộ,…đem cho người khác. Tuy nhiên, tùy theo đối tượng, địa vị, độ tuổi… mà sử dụng từ khác nhau. Đối với chư Tăng dùng từ cúng dường; đối với cha mẹ, những bậc tôn kính dùng từ biếu, dâng; đối với bạn bè dùng từ tặng; đối với những người dưới cùng từ cho hoặc bố thí; còn từ hiến dùng trong các trường hợp như: hiến máu, hiến xác, hiến tạng…Riêng từ bố thí, người Việt Nam chúng ta xem nó hơi thấp kém, thường sử dụng cho người dưới hoặc ăn xin. Tuy nhiên, nếu chúng ta tìm hiểu trong kinh tạng Nam Tông, từ bố thí được dùng cho cả chư Tăng, các vị bà la môn và những người tôn quý. Như vậy, bố thí ngày xưa với cúng dường bây giờ hoàn toàn giống nhau.

Thời đức Phật còn tại thế, các Phật tử cúng dường cho đức Phật và chư Tăng bốn thứ (tứ sự) là y phục, thuốc thang, ngọa cụ, và thức ăn. Về sau, họ còn cúng dường cả nơi ở như: tinh xá Trúc Lâm do vua Bình Sa cúng dường, tinh xá Kỳ Viên cho trưởng giả Cấp Cô Độc, vườn xoài do kỹ nữ Ambapali cúng dường… Những trú xứ của chư Tăng hiện tại, ngoài từ tinh xá ra, còn được gọi bằng rất nhiều từ khác, chẳng hạn như: tịnh xá, chùa, thiền viện, tu viện, tịnh viện, tịnh thất, già lam, niệm Phật đường…

Ngày xưa, vào mỗi buổi sáng, đức Phật và chư Tăng ôm bát đi khất thực, tức đi xin ăn. Vì đức Phật và chư Tăng xin về để ăn, chứ không tự nấu nên được gọi là khất sĩ. Tuy đều đi xin ăn, nhưng khất sĩ khác với khất cái. Khất cái thường là những người tàn tật, bệnh hoạn, đói khổ, lười biếng hoặc không làm ra tiền mà phải đi xin. Cách xin của họ là: đi ở ngoài đường hoặc đứng một chổ nào đó, năn nỉ, van lơn, thể hiện vẻ ngoài rất đau khổ để người khác động lòng thương mà cho. Họ nhận bố thí không giới hạn, người ta cho bao nhiêu thì nhận bấy nhiêu, đầy bát thì bỏ vào túi, đầy túi thì bỏ vào bao.

Sau khi đem về, họ có thể sử dụng tiền xin được để ăn chơi, cờ bạc, rượi chè, trai gái…Bản thân họ có thể làm những việc xấu ác như: sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu… Còn các vị khất sĩ là những người đầu đủ lục căn và sức khỏe, có khả năng làm ra tiền, thậm chí có vị còn thuộc dòng sát đế lợi (tầng lớp vua chúa) hoặc Bà la môn (tầng lớp trí thức). Vì hạnh nguyện khất sĩ nên các vị ấy xuất gia tu học Phật Pháp và nuôi thân mình bằng cách ôm bát đi khất thực. Cách khất thực của khất sĩ cũng khác khất cái: các vị ôm bát đi từng nhà, không quan tâm đến việc được hay không được cúng, nhà này không cúng thì sang nhà kia, không tỏ vẻ đói khổ để làm người khác động lòng mà cúng dường cho mình.

Bình bát của khất sĩ được gọi là Ứng Lượng Khí, nghĩa là khi đồ ăn đầy bát, vừa với sức ăn của mình, là các vị đi về, không phải đầy bát rồi bỏ vào túi đầy túi thì bỏ vào bao. Đặc biệt, chư Tăng thời đức Phật không nhận tiền bạc. Các vị sống một cuộc đời trong sạch, cao thượng, giữ gìn giới hạnh không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu… Có lần, sau một thời gian dài xuất gia, đức Phật trở về hoàng cung để thăm vua cha. Đầy là lần về thăm đầu tiên của ngài. Khi đến thành Ca tỳ la vệ thì trời cũng đã tối, Ngài nghỉ lại qua đêm tại công viên. Sáng hôm sau, cũng như mọi ngày cùng với chư Tăng tháp tùng, đức Phật ôm bát đi vào thành Ca tỳ la vệ khất thực. Hình ảnh oai nghi của những chiếc cào vàng thanh tịnh, trang nghiêm lần đầu xuất hiện ở thành Ca tỳ la vệ đã khiến cho dân chúng rất ngưỡng mộ. Vua tịnh Phạn nghe tin con mình về tới, vui mừng đi ra để đón con. Khi nhìn thấy đức Phật ôm bát đi xin, ông vừa mừng lại vừa buồn; mừng vì cha con bao nhiều năm nay mới gặp lại, nhưng buồn vì thấy con mình thuộc dòng dõi vua chúa, từng ăn cao lương mũ vị, dùng bát ngọc đũa ngà, có cơm bừng nước gót, kẻ hầu người hạ, thế nào bây giờ lại ôm bát đi xin thức ăn từ những người nghèo.

Vua cha cảm thấy có điều gì đó nhục nhã. Sau một lúc thăm hỏi, ông nói với đức Phật: “Sao con về tới đây không vào hoàng cung để ăn cơm lại đi xin thế này? Dòng dõi của chúng ta không bao giờ đi xin như vậy”. Đức Phật mỉm cười và ôn tồn nói:” Dạ đúng, dòng dõi của vua chúa thì không đi xin ăn nhưng dòng dõi của khất sĩ thì đi xin ăn”. Sau đó ngài phân tích phân tích cho vua cha lý do tại sao mà các vị khất sĩ đi xin ăn: Sở dĩ con người chúng ta hơn thua, đấu tranh, dây biết bao nhiêu tội lỗi là do chấp ngã (cái ta). Ôm bát đi xin ăn sẽ phá trừ được cái bản ngã của Mình. Đồng thời, đi như vậy cũng là để cho mọi người nhìn thấy hình ảnh cao quý mà phất tâm cúng dường, gieo cái duyên trong Phật pháp, sau khi được đức Phật phân tích cho hiểu, vua Tịnh Phạn rất hoan hỷ, không còn buồn việc con mình trở thành khất sĩ nữa.

Ban đầu, đức Phật và chư tăng ngày nào cũng phải đi khất thực. Nhưng về sau, đôi khi, Phật tử thỉnh các ngài về tư gia, hoặc họ đến thẳng tinh xá để cúng dường. Một số người đặt nghi vấn là:” Hiện nay, có một số vị ôm bát đi khất thực lại nhận tiền, họ đứng trước các cửa hàng, thậm chí đứng ngay nơi bán thịt, bán cá, đợi khi nào người ta cho tiền mới chịu đi. Những trường hợp này là như thế nào?”. Thực ra những người này chỉ là khất cái giả dạng khất sĩ, không phải là người tu chân chính. Khi đi qua Ấn độ, tôi gặp một vài “vị sư” người Ấn cũng cạo đầu, đắp y, ngồi ở nơi các thánh tích. Họ ngồi đó, người thì ôm bát, người thì đọc sách, người thì tọa thiền… Tôi hỏi dân địa phương:”Những vị sư này ở đâu? Họ tu như thế nào?”. Người ta trả lời rằng những vị đó tu theo mùa; nghĩa là, khi nào có khách hành hương, họ mới cạo đầu, đắp y và ra đó ngồi. Như vậy, họ cũng chỉ là khất cái mang hình dạng của khất sĩ, không phải là người chân tu, thật học.

Hình thức khất thực của chư Tăng thời đức Phật hiện nay vẫn còn tồn tại ở các nước như: Tích Lan, Thái lan, Cao Miên, Lào, Myanmar,… Riêng Việt Nam chúng ta, ngoài những vị khất sĩ bên Nam tông, còn có những vị khất sĩ là đệ tử, đệ tôn của tổ sư Minh Đăng Quang. Chư tăng bên bắc tông thì chỉ ở chùa, không ôm bát đi khất thực mà khuyết khích các Phật tử đem phẩm vật đến chùa để cúng dường.

Mục đích cúng dường Tam bảo của Phật tử là để nuôi chư Tăng tu học, xây dựng cơ sở tự viện, góp phần hoằng dương Phật pháp. Tuy có người tại gia, người xuất gia, nhưng tất cả chúng ta đều là đệ tử Phật, đều phải có trách nhiệm đóng góp cho sự nghiệp tu học và hoằng truyền chánh pháp. Người tại gia lo về hộ pháp, tức phần vật chất. Người xuất gia lo về hoằng pháp, tức phần tinh thần.

Về mặt quả báo, việc bố thí, cúng dường giúp chúng ta biết buôn xả, mở rộng lòng từ, trừ diệt tâm keo xẻn, ích kỷ, được nhiều người quý mến, được giàu có ở hiện đời cũng như đời sau. Trong kinh Tăng Chi Bộ, đức Phật có dạy năm lợi ích của việc bố thí:”Một là được nhiều người ưa thích. Hai là được bậc thiện nhân, chân nhân thân cận. Ba là tiếng đồn tốt đẹp được truyền đi. Bốn là không có sai lệch pháp của người gia chủ. Năm là khi thân hoại mạng chung, sinh lên cõi lành, thiện giới”. Và cũng trong kinh Tăng Chi Bộ, có ba phần thuộc về người bố thí:”Một là trước khi bố thí, ý được vui lòng, Hai là trong khi bố thí, tâm được tịnh tín. Ba là sau khi bố thí, cảm thấy hoan hỷ”. Như vậy, trước, trong và sau khi bố thí hoặc cúng dường, tâm của chúng ta phải vui vẻ. Ngoài ra, nếu không chấp có người cúng, không chấp có vật cúng và không chấp có người nhận thì chúng ta sẽ có phước báu vô lượng. Chúng ta hãy coi bố thí, cúng dường là việc đương nhiên, giống như đói thì ăn, khát thì uống. Hằng ngày, chúng ta cho thân thể của mình ăn ngon, uống bổ, đến khi thân thể này bị bệnh, có ai trách cứ, mắng chửi nó vì thấy tiếc những thức ăn, đồ uống mà mình đã dùng để nuôi dưỡng nó hay không? Chắc là không. Cũng như vậy, sau khi bố thí, cúng dường, chúng ta không nến chấp vào 3 việc nêu trên, đặc biệt là không nên chấp có vật cúng; làm được như thế, chúng ta sẽ không rơi vào phiền não nếu có sự việc bất như ý xảy ra.

Chẳng hạn, bây giờ chúng ta cúng dường cho một ông thầy nào đó, mai mốt ông ấy hoàn tục, mình tiếc nuối than rằng:”Trời ơi! Hồi đó tôi cúng cho ổng ăn, bây giờ ổng ra đời, thiệt là uổn quá!” Nghĩ như vậy là không được. Hoàn tục là việc rất bình thường, Người Thái Lan, người Campuchia, người Lào và cả người Khơ me ở miền tây, Việt Nam đi vào chùa như một nghĩa vụ, sau thời gian ở chùa, ai thích thì ở lại tu tiếp, ai không thích thì ra đời, lập gia đình, sống như người bình thường. Trong đạo Phật, tất cả đều tùy duyên, còn duyên thì ở chùa, hết duyên thì ra đời. Cho dù người mình từng cúng dường do phạm vào trọng giới mà bị buộc phải hoàn tục, chúng ta cũng không nên cảm thấy tiếc nuối, Khi người ta tu mình cúng dường cho người ta ăn, như vậy mình cũng có phước. Người ta có làm điều gì sai trái thì đó là chuyện của người ta. Chúng ta không nên chấp vì nếu chấp sẽ phát sinh phiền não, không tạo được phước, nhiều khi còn gây thêm tội. Tôi từng nghe một vị thầy kể rằng: Có một bà đem đồ cúng đến chùa cúng, một thời gian sau, vì Thầy đó không làm theo lời bà đề nghị, bà giận quá đòi hết tất cả đem về. Cúng dường mà chấp có vật cúng sẽ tự rước lấy phiền não như vậy đó!

Người Phật tử thuần thành phải cúng dường bằng của cải làm ra từ lao động chân chính, không nên làm những nghề bất chính để có tiền dâng cúng tam bảo. Đức Phật dạy trong kinh Tăng Chi Bộ rằng:”Có năm nghề buôn bán mà cư sĩ không nên làm: Một là buôn bán vũ khí. Hai là buôn bán người. Ba là buôn bán thịt. Bốn là buôn bán rượu. Năm là buôn bán thuốc độc”. Ngoài ra, trong các kinh khác, đức Phật cũng dạy không nên làm nghề đồ tể. Có người hỏi rằng làm những nghề trên để lấy tiền đi từ thiện hoặc cúng chùa có phước hay không? Tất nhiên, nhân nào quả nấy, làm phước thì có phước, làm tội thì có tội. Thí dụ, một người có công đức với đất nước, được nhà nước khen thưởng và ban tặng rất nhiều huân chương. Thế nhưng, nếu người đó phạm tội cướp của, giết người thì có bị xử hay không? Chắc chắn là có. Không thể nói rằng:”Tôi có công với đất nước, tôi muốn làm gì thì làm”. Có công được thưởng theo công, có tội phải xử theo tội. Phật dạy phải nuôi mạng chân chính, không tán đồng chúng ta làm nghề bất chính, lấy tiền đó để cúng Phật. Chúng ta cúng Phật, dù ít ỏi, vẫn là tốt. Nếu không có tiền, thấy người ta phát tâm cúng, mình tùy hỷ cũng có phước. Trong bài Văn Sám Hối có đoạn viết:”hoặc tự mình làm, hoặc bảo người làm, hoặc thấy người làm mình vui mừng theo”. Chỉ cần vui mừng theo việc cúng dường của người khác là chúng ta đã có phước bằng họ rồi. Ngược lại, nếu chúng ta làm nghề bất chính để có nhiều tiền cúng dường thì phước đó không bù đắp nổi tội.

Đời sống của đức Phật và chư Tăng ngày xưa không ở lâu một chỗ, mỗi sáng đi khất thực, chỉ ăn ngày một bữa, không cất giữ tiền bạc, đi bộ không đi xe. Ngày nay, việc tu hành của chư Tăng đã có nhiều thay đổi. Đối với Phật giáo Nam Tông, các vị vẫn ăn ngày một bửa, nhưng đã ở yên một chỗ, lâu lâu mới đi khất thực một lần, và có cất giữ tiền bạc. Riêng ở Việt Nam, có hệ phái Khất sĩ do tổ sư Minh Đăng Quang khai sáng. Lúc đầu, chư Tăng thuộc hệ phái này cũng thực hành theo hạnh của Phật: y áo giống Phật; ăn ngày một bửa; không tự nấu mà đi khất thực; không ở lâu một chỗ, nay ở chổ này, mai ở chỗ khác; đo đâu cũng đi bộ; và không cất giữ tiền bạc. Thế nhưng, bây giờ cũng đã thay đổi: thỉnh thoảng mới đi khất thực, nhiều người ăn ngày hai đến ba bữa, ở tại một trú xứ, và có cất giữ tiền bạc. Còn chư Tăng bên Bắc Tông, lâu nay ở chùa; ăn uống tự nấu, có thể ăn một, hai hoặc ba bữa tùy theo mỗi nơi; có cất giữ tiền bạc; đi đâu thì dùng phương tiện giao thông; y phục mặc không giống Phật hồi xưa. Y phục của Phật giáo Bắc Tông tùy theo quốc độ: Việt Nam, Nhật Bản, Đại Hàn, Trung hoa,…Mỗi nước mặc một kiểu khác nhau. Y phục của Phật giáo Nam tông vẫn giữ truyền thống nguyên thủy, Phật đắp y như thế nào thì họ đắp ý như thế đó, nên rất dễ nhận biết. Khi đi qua Thái Lan, Tích Lan, Lào, Campuchia, Myanmar… chúng ta sẽ thấy, dù ở nơi đâu, các vị sư Nam Tông cũng đều đắp y giống nhau cả.

Như vậy, việc sinh hoạt, tu học của chư Tăng thời Phật và thời nay có sự khác biệt. Ngày xưa, vì chư Tăng phải đi bộ khắp nơi để hoằng dương Phật pháp nên không ở lâu một chỗ. Còn ngày nay, nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật, chư tăng có thể thường trú một nơi mà vẫn hoằng pháp khắp thế giới. Ngày xưa, Phật tử xây dựng tinh xá để cúng dường đức Phật và chư Tăng. Còn ngày nay, việc này rất khó và rất hiếm, ít ai phát tâm xây hẳn một tinh xá, một ngôi chùa, một thiền viện để cúng dường, nên chư Tăng phải tự vận động để có tiền xây dựng. Ngày xưa, chư Tăng ăn ngày một bữa. Còn ngày nay, chư Tăng làm việc nhiều nên phải ăn ngày hai, ba bữa. Ví như chiếc xe, chạy nhiều phải đổ xăng nhiều, đổ ít xe không chạy được lâu, mà hết xăng thì xe nằm một chỗ. Cơ thể con người cũng vậy, nếu hoạt động nhiều thì phải ăn uống nhiều. Ngày xưa, chư Tăng đi bộ. Còn ngày nay chư Tăng phải sử dụng phương tiện giao thông, nếu đi bộ như đức Phật thì việc hoằng pháp sẽ gặp rất nhiều hạn chế. Chẳng hạn như, Phật tử ngoài miền bắc mời tôi ra đó giảng, nếu đi bộ chắc cũng phải mất mấy tháng trời, đi ra đi vào là hết nữa năm, tốn biết bao nhiêu thời gian. Trong khi đó, nếu đi máy bay thì cả đi lẫn về chỉ mất bốn giờ đồng hồ, còn nhiều thời gian để làm những việc khác.

Ngày nay, muốn độ chúng được đông, chúng ta phải có những cơ sở tu học rộng lớn và hiện đại. Ngay như hôm nay, quý vị về đây tu năm đến sáu nghìn người, chùa cũng phải có chỗ che mưa nắng, không thể để quý vị ngồi ngoài trời. Khi quý vị nghe giảng trực tiếp ở giảng đường chính này, phải có máy khuếch đại âm thanh thí tất cả mới nghe được. Còn những Phật tử ở các giảng đường khác, phải dùng máy quay phim truyền hình ảnh và âm thanh xuống dưới cho họ xem, nghe. Khi quý vị công phu, phải có chuông, mõ, kinh, kệ. Trong lúc ngồi tu học đông như thế này, chắc chắn là quý vị rất nóng, muốn mát thì phải có quạt hoặc máy điều hòa. Đó là chưa kể chùa chúng ta định kỳ có tổ chức khóa tu Phật thất, Phật tử về đây tham dự với số lượng hai đến ba nghìn người , phải có chỗ ăn, chỗ ngủ, chỗ tắm giặt, chỗ phơi đồ…Mà chỗ ăn phải có bàn ghế; chỗ ngủ phải có mùng, mền, chiếu, gối; chỗ tắm giặt phải có xô, chậu, bàn chải; chỗ phơi đồ phải có móc treo… Trong số người về tu, chắc chắn có những người đau bệnh, vì thế lại phải có bác sĩ, y tá để lo về thuốc men. Chưa nói đến những trường hợp bệnh nặng phải có xe đưa đi cấp cứu.

Tất cả những vật dụng làm phương tiên tu học đều từ tiền mà ra. Vì không thể nào mỗi thế đều đêm đến chùa, cho nên quý vị cúng tiền, quý thầy sẽ lấy tiền đó mua những thứ cần thiết để đáp ứng nhu cầu tu học của đại chúng. Để tiện việc cúng dường, quý thầy nghĩ ra một cái thùng, gọi là thùng phước điền, thùng phước sương hoặc thùng công đức. Phước điền hay phước sương có nghĩa là ruộng phước. Khi cúng, chúng ta chỉ cần bỏ tiền vào thùng, rất là thuận lợi. Ở miền Bắc Việt Nam, một số thiện nam tín nữ đem theo tiền lẻ để cúng, nếu không có tiền lẻ, họ cũng sẽ đổi khi đến chùa. Ở phía trước chùa có dịch vụ đổi tiền lẻ, mình đổi mười nghìn thì người ta ăn hai nghìn, đưa lại cho mình tám nghìn. Các thiện nam tín nữ này cầm xấp giấy bạc hai trăm, năm trăm đồng vào chánh điện, thành kín để lên bàn thờ Thánh một tờ, bàn thờ Hộ pháp một tờ; có người để lên dĩa trái cây ở phía trước tượng thờ; người cẩn thận hơn nữa thì để trên bàn tay của Phật và Bồ Tát. Nói chung, tâm của họ rất chân thật, họ nghĩ rằng mình cúng như vậy Phật mới nhận được, còn bỏ vô thùng phước sương, sợ Phật không nhận được.

Thật ra, ngay khi còn tại thế, đức Phật đã không nhận tiền. Bây giờ, mình có cúng thì ngài cũng không nhận. Chúng ta đến chùa cúng dường, đó là cúng cho chư Tăng hiện tiền. Quý thầy lấy tiền đó sinh hoạt, tu học, đồng thời lấy tiền đó để hoằng pháp lợi sinh. Chúng ta bỏ tiền vào thùng phước sương cũng giống như gieo hạt giống xuống ruộng phước, sau này hạt giống đó sẽ lên cây và ra hoa, kết quả. Chúng ta phải hiểu rằng, người cúng có phước chứ không phải người nhận có phước, quý Thầy chỉ là những người làm những việc phước báu thay cho mình. Do vậy, khi cúng dường, chúng ta đừng mong quý thầy phải cám ơn mình, mà ngược lại, mình phải cảm ơn quý thầy đã thay mình tạo phước.

Chúng ta bỏ tiền vào thùng phước điền sẽ khỏi phải mất công đổi tiền lẻ. Mà chúng ta đổi như thế, tính ra cũng mất đi rất nhiều phước. Một người đổi mười nghìn thì mất hai nghìn, như vậy, mười người là mất hai mươi nghìn, một trăm người là mất hai trăm nghìn. Hãy tưởng tượng một nghìn đồng là một hạt giống, nếu bỏ mười nghìn vào thùng phước điền thì chúng ta có trọn vẹn cả mười hạt, bây giờ đổi ra chỉ còn tám nghìn, như vậy là mất đi hai hạt. Một hạt giống gieo xuống đất, gặp duyên tốt sẽ cho lên cây và cho ra rất nhiều quả. Mất đi hai hạt là mấy đi biết bao nhiêu lợi ích của mình trong tương lai.

Có một bà Phật tử đến gặp tôi tâm sự rằng: Trước đây, bà đến chùa cùng dường đều bắt Thấy ghi giấy công đức; một thời gian sau, hiểu được Phật pháp rồi, bà không còn làm như vậy nữa. Bà nói:”Nghĩ lại ngày xưa cũng tội cho quý Thầy. Phật tử ở miền Bắc mỗi lần cúng dường đều bắt quý thầy phải ghi phiếu công đức. Quý Thầy in phiếu công đức cũng phải tốn tiền. Mình nhận cái phiếu đó về nhà chẳng để làm gì, rồi mai mốt đem đi đốt cũng phí”. Cho nên, sau khi hiểu Phật Pháp, bà nghĩ được rằng mình chỉ cần cúng là có phước rồi, đâu phải lấy cái phiếu công đức về mới có phước.

Ngoài cúng dường tiền, nếu cúng các phẩm vật khác, cần phải lưu ý xem chùa cần thứ gì thì chúng ta cúng những thứ đó. Có lần, một Phật tử đến chùa thưa với tôi là xin cúng một tượng Phật. Tôi nói:”Chùa bây giờ tượng cũng đã đủ rồi, Phật tử nên cúng thứ khác có lợi hơn”. Phật tử đó hỏi lại rằng:”Vậy con nên cúng cái gì?”. Lúc đó, các khu vực giảng đường phía dưới thiếu ti vi, nên tôi khuyên rằng:”Chùa chúng ta một ngày tu có năm đến sáu nghìn người, các giảng đường khác phải truyền hình xuống, cần có ti vi để mọi người ngồi xem và nghe pháp, Phật tử nên cúng ti vi sẽ lợi ích hơn”. Phật tử đó nói:”Dạ”. Thế rồi, đi về và mất tiêu luôn, không còn thấy lên chùa nữa. Mặc dù cũng biết rằng cúng ti vi có lợi hơn cho chùa, nhưng chắc Phật tử đó quan niệm rằng mình đã phát tâm cúng tượng là phải cúng tượng cho bằng được, không chịu đổi thứ khác. Đây là một thứ chấp. Khi cúng dường, chúng ta phải cúng sao cho có lợi ích, không nên cố chấp như vậy. Chùa đủ tượng rồi, cúng nữa là dư, không để làm gì hết. Người ta nói:”Thờ thì dễ, giữ lễ thì khó”. Một tượng Phật nếu mình chăm sóc cẩn thận cũng đã mất nhiều thời gian, hằng ngày phải lau chùi cho sạch sẽ, rồi thắp nhang, trưng hoa, thay nước, bày đồ thờ cúng… Bây giờ, thờ thêm tượng nữa thì phải mất thêm càng nhiều thời gian. Trong chùa, không cần thiết phải thờ nhiều tượng, một tượng Phật Thích Ca là đủ rồi, làm gì mà tới hai, ba tượng Phật Thích Ca? Một lần khác, có Phật tử đến xin cúng ghế đá, tôi cũng nói:”Chùa đủ ghế đá rồi, Phật tử nên cúng cái gì cần thiết hơn, có lợi hơn”. Phật tử đó hỏi:”Vậy thì cúng cái gì ạ?”. Tôi trả lời:”Bây giờ các vùng sâu, vùng xa thiếu kinh sách, băng đĩa để tu học, mình dùng tiền cúng ghế đá đó để in kinh sách, băng đĩa, đêm về cùng sâu, vùng xa cho mọi người xem sẽ có lợi ích hơn”. Phật tử đó cũng dạ lấy dạ để, nhưng về rồi là một đi không trở lại. Họ cố chấp như vậy đó!

Lại có người đem đến chùa cả trăm cuốn kinh Cứu Khổ để ấn tống. Đây là những cuốn kinh photo, bìa rất xấu, giấy không được tốt, chất lượng in ấn cũng không đảm bảo. Những cuốn kinh như thế này, cách đây năm, mười năm (tính từ năm 2009), mình cho người ta rất thích nhận, nhưng thời buổi này thì không ai muốn nhận nữa. Nếu ấn tống kinh sách gì, quý vị nên liên lạc với chùa, chùa sẽ in ấn đàng hoàng, như vậy thì khi cho ai cũng muốn nhận, vì nhìn cái bìa đẹp là người ta đã thấy thích và muốn đọc rồi. Còn thời buổi này mà ấn tống kinh sách photo thì chỉ phí tiền, không có lợi ích gì hết, người ta mới nhìn đã mất cảm tình, mà không có cảm tình là không muốn đọc. Ấn tống kinh sách là điều tôi rất tán thán. Thế nhưng, trước khi ấn tống, quý vị nên đến chùa gặp quý thầy hỏi thăm xem chùa cần kinh sách gì thì mình ấn tống kinh sách đó. Như vậy mới có lợi ích thiết thực. Khi đi thỉnh kinh sách, quý vị nên đến các phòng phát hành hay các cửa hàng văn hóa phẩm Phật giáo. Những nơi này có kinh sách bảo đảm về chất lượng in ấn, mặc dù thỉnh tốn nhiều tiền, nhưng sẽ có giá trị hơn. Nếu quý vị vì tiết kiệm mà đem đi photo, lỡ như chữ không rõ, thừa chỗ này thiếu chỗ kia, hay các trang bị sắp xếp lộn xộn…thì sẽ mất đi giá trị của cuốn kinh, cuốn sách.

Ngoài ra, tôi lưu ý một điều nữa là quý vị phải biết rõ nội dung của kinh sách mà mình ấn tống. Nếu quý vị không hiểu, không biết thì khi nghe người ta nói ấn tống kinh sách có phước, quý vị lại đi thỉnh, đi photo những kinh sách không đúng với Phật Pháp và không có giá trị về nội dung. Đem những kinh sách đó đến chùa chưa chắc quý thầy đã nhận. Thành ra, mình có tâm tốt, muốn ấn tống kinh sách nhưng cuối cùng lại bị lãng phí. Cho nên, tốt hơn hết là quý vị đến chùa hỏi quý thầy trước để biết chùa đang cần kinh sách nào. Ấn tống những kinh sách cần thiết mới mang đến lợi ích thiết thực. Quý vị nhất định phải lưu ý điều này.

Rồi lại có Phật tử cúng dường cho tôi một xâu chuỗi có hạt lớn bằng ngón chân cái. Chẳng lẽ từ nay đi đâu tôi cầm cái chuỗi đó đi? Chuỗi hạt tôi đang sử dụng cũng đã lớn hơn chuỗi của nhiều người, tôi cầm trên tay thấy như vậy là vừa rồi. Phật tử đó rất có tâm, nhưng cúng xâu chuỗi lớn như thế, tôi chỉ để treo chơi thôi chứ không thể sử dụng được.

Còn có trường hợp này nữa: nhiều thầy ở các chùa tâm sự với tôi rằng, những tháng khác không thấy ai cúng gì , cứ tới tháng bảy là Phật tử đem gạo đến cúng rất nhiều, chùa ăn không hết, đem đi bán thì ngại, để lâu thì mốc. Chúng ta cúng dường phải tùy theo nhu cầu, chùa cần cái gì thì mình cúng cái đó, như vậy việc cúng dường mới thực sự đem lại lợi ích. Có lần, tôi đến thăm một vị sư thấy trong phòng của sư có rất nhiều gói quà. Tôi thắc mắc hỏi:”Những gói quà này sư chuẩn bị cúng dường trai Tăng ở đâu:”. Sư cười nói:”Không phải, những gói quà này là do Phật tử cúng cho tôi”. Vào ba tháng an cư kết hạ, quý Phật tử thường đến cúng dường trai tăng; ngoài tiền và vật thực, mỗi vị còn cúng thêm một gói quà, trong đó có bàn chải, kem đánh răng, bột giặt, xà bông cục, khăn mặt… Tôi lại hỏi:”Số quà nhiều thế này sư dùng có hết không?”. Sư lắc đầu cười nói:”Không”. Tôi hỏi tiếp:”Vậy, sư để làm gì?”. Sư đáp:”Sau này có dịp đi từ thiện ở các vùng sâu vùng xa sẽ đem đến những nơi đó biếu cho dân nghèo”. Khi nghe sư nói vậy, tôi suy nghĩ rằng, cúng dường cũng phải có trí tuệ, nếu dồn vào ba tháng an cư mà cúng thì chư Tăng không thể dùng hết được. Quý Phật tử không nhận thức được là phải cúng những thứ cần thiết, để rồi những phẩm vật mình dâng cúng lên chư Tăng, mong muốn chư Tăng sử dụng lại bị đem đi biếu tặng cho người khác.

Những ngôi chùa ở thành phố lớn dã sung mãn, dư thừa về vật chất. Chúng ta nên đem tiền về cúng cho những ngôi chùa ở vùng sâu, vùng xa, nơi mà kinh tế còn khó khăn, dân chúng còn đói khổ. Những ngôi chùa đó chắc chắn rất thiếu thốn về điều kiện sinh hoạt và đời sống, cũng không có đủ phương tiện để hoằng pháp lợi sinh. Cho nên, thay vì tập trung cúng cho những chùa ở thành phố lớn, chúng ta nên cúng cho những chùa ở vùng sâu, vùng xa, góp phần giúp chư Tăng, Ni ở đó có điều kiện sinh sống và hoằng Pháp, như vậy thì đồng tiền của mình sẽ có nhiều giá trị.

Về vấn đề cúng dường tiền, quý Phật tử cũng phải sáng suốt. Khi cúng dường cho chư Tăng trong một ngôi chùa nào, ví dụ như chùa Hoằng Pháp, tốt nhất là quý vị nên bỏ vào thùng phước điền, quý thầy sẽ lấy tiền đó ra giao cho thủ quỹ của chùa. Vì chư Tăng sống chung, tất cả mọi sự ăn, mặc, ở, bệnh, học đều do chùa chi, nên việc cúng riêng cho một vị thầy nào đó sẽ gây ra sự bất hòa, ganh đua trong chư Tăng. Như quý vị đã biết, tiền bạc, sắc đẹp , danh lợi, ăn ngon, ngủ kỹ là năm thứ ham muốn, chúng có thể làm cho con người hư hỏng, ai mêm đắm vào chúng sẽ bị sa đọa và dễ gây ra tội lỗi. Chúng giống như miến mồi gắn vào lưỡi câu, ai cắn vào miếng mồi đó thì sẽ bị mắc câu. Người chăm chỉ càng có nhiều tiền thì càng làm ra của cải. Người làm biếng càng có nhiều tiền thì càng hư hỏng, sa đọa. Các vị xuất gia cũng vậy.

Từ số tiền mà Phật tử tại gia cúng dường, vị nào tu giỏi sẽ làm được nhiều điều lợi ích cho bản thân, cho thí chủ và cho tất cả mọi người; ngược lại, vị nào tu kém rất dễ dẫn đến hư hỏng sa đọa. Tiền bạc không có lỗi mà lỗi ở người sử dụng. Người xuất gia giữ tiền mà biết sử dụng thì nó là một tên đầy tớ tốt, còn không biết sử dụng thì nó sẽ là một ông chủ xấu. Bản thân tôi cũng đã thấy rõ sự tai hại của tiền bạc. Vì tiền là một trong năm thứ ham muốn làm say đắm con người, nên ngày xưa đức Phật đã ngăn cấm, không cho đệ tử xuất gia giữ tiền. Nhưng hiện nay, trên thực tế, cả tu sĩ Nam tông lẫn Bắc tông đều cất giữ tiền bạc. Theo tôi nghĩ, nếu tất cả người xuất gia bây giờ làm đúng như lời Phật dạy, không chất chứa tiền bạc thì chắc chắn sẽ được an lạc và giải thoát.

Ngoài ra, khi bỏ tiền vào thùng phước điền, người cúng sẽ không bị vướng mắc tình cảm với một vị thầy nào và người nhận cũng không bị lệ thuộc vào một cá nhân nào. Đối với người nữ, nếu cùng tiền riêng cho một vị Thầy quá nhiều lần sẽ gây bất lợi cho cả đôi bên. Lúc đầu, họ cúng cho quý thầy với lòng tôn kính; lâu dần sẽ sinh ra ái kính; lâu nữa sẽ phát sinh ái dục; lúc đó, lửa đã bén vào rơm rồi thì khó mà dập tắt được. Những phụ nữ còn trẻ đã có gia đình càng không nên quá chăm lo hoặc cúng dường riêng nhiều lần cho một vị thầy nào. Vì làm như vậy chồng mình sẽ nghi ngờ, rồi dẫn đến ghen tuông, phiền não, thậm chí sẽ coi các vị thầy như là kẻ thù. Do đó, chúng ta cúng dường phải có trí tuệ, nếu không hậu quả có thể sẽ cô cùng nghiêm trọng.

Trong kinh Tăng Chi Bộ, đức Phật dạy:”Có năm loại bố thí xứng đáng bậc chân nhân là bố thí có lòng tin, bố thí có kính trọng, bố thí đúng thời, bố thí với tâm không gượng ép, bố thí không làm thương tổn mình và người”. Thứ nhất, bố thí có lòng tin. Tức là khi làm việc bố thí, chúng ta phải tin tưởng rằng việc mình làm đã có nhân thì phải có quả. Thứ hai, bố thí có kính trọng. Tức là, khi bố thí cho một người nào đó, chúng ta phải làm với tâm kính trọng, nghĩ rằng họ cũng là vị Phật tương lai, không nên mang tâm cống cao ngã mạn, coi kinh người mình cho. Nói đúng ra, nếu trong cuộc sống này không có những người nghèo khổ thì làm sao mình có cơ hội để tạo phước. Giờ ai cũng giàu có thì mình cho người ta cũng không nhận. Có khi họ còn chửi mình nữa:”Tôi như vầy mà bà lại đem tiền cho tôi à?”. Vì thế, khi bố thí cho ai, mình phải cám ơn, phải cung kính, phải coi người ta như một vị Phật. Thứ ba, bố thí đúng thời. Tức là bố thí vào những lúc người ta đói khát, bệnh tật, tai nạn… Bố thí vào những lúc đó gọi là đúng thời. Thứ tư, bố thí với tâm không gượng ép. Tức là, chúng ta phải hoan hỷ, không bố thí một cách gượng ép. Thế nào là gượng ép? Ví dụ, mình đang ngồi đây, tự nhiên có ai đó kêu gọi mọi người bỏ tiền ra cúng dường, thật ra mình không muốn, nhưng biết bao nhiêu người ngồi xung quanh, mình không cúng thì cũng thấy ngại, nên vẫn bỏ tiền ra nhưng trong lòng thấy hơi xót. Đó gọi là gượng ép. Thứ năm, bố thí không làm thương tổn đến mình và người. Loại bố thí này chúng ta cần đặc biệt lưu ý. Như vừa nãy tôi có nói đến tình trạng người nữ cúng dường riêng cho quý thầy, nếu không khéo thì họ sẽ làm thương tổn cả mình và người. Bởi thế khi bố thí chúng ta phải làm được hết cả năm loại mà đức Phật đã dạy ở trên, như vậy thì việc làm của mình mới được viên mãn.

Trong kinh Tứ Thập Nhị Chương, đứt Phật có dạy rằng:”Cho một trăm người ác ăn, không bằng cho một người lành ăn, cho một ngàn người lành ăn, không bằng cho một người trì ngũ giới ăn; Cho mười ngàn người trì ngũ giới ăn, không bằng cúng dường cho một vị Tu Đà Hoàn ăn; cúng dường cho một trăm vị Tu Đà Hoàn ăn, không bằng cúng cho một vị Tư Đà Hàm ăn, Cúng dường cho một ngàn vị Tư Đà Hàm ăn, không bằng cúng dường cho một vị A Na Hàm ăn; cúng dường cho 100 000 vị A Na Hàm ăn không bằng cúng dường cho một vị A La Hán ăn; cúng dường cho 1000 000 vị A La Hán ăn, không bằng cúng dường cho một vị Bích Chi Phật ăn; cúng dường cho 10 000 000 vị Bích Chi Phật ăn không bằng cúng dường cho một Tam Thế Chư Phật ăn; cúng dường cho 100 000 000 Tam Thế Chư Phật ăn, không bằng cúng dường cho một vị Vô Niệm, Vô Trụ, Vô Tu, Vô Chứng Ăn.

Qua đoạn kinh trên, chúng ta thấy, đức Phật khẳng định rằng cho người ác ăn cũng vẫn có phước, nhưng không bằng cho người thiện ăn. Ví như chúng ta gieo hạt giống xuống một thửa ruộng cằn cỗi thì nó sẽ khó lên cây và khó ra quả. Ngược lại, nếu gieo hạt giống xuống một thửa ruộng màu mỡ thì nó sẽ lên cây dễ dàng và ra quả rất nhiều. Tương tự như vậy, chúng dường cho những vị tu hành chân chính chắc chắn sẽ có ích nhiều hơn là cúng dường cho những vị phá giới, phạm luật. Cũng qua đoạn kinh trên, đức Phật khuyên chúng ta nên bố thí cho mọi thành phần, nhưng để được lợi ích lớn cho mình và cho người thì chúng ta phải có trí tuệ. Nếu chúng ta biết gieo hạt giống vào đúng nơi, đúng chỗ thì phước báu có được sẽ nhiều vô lượng.

Trong kinh Tăng nhất A hàm, đức Phật dạy rằng:”Có ba căn lành chẳng thể cùng tận, tiến dần đến niết bàn. Thế nào là ba? Nghĩa là trồng công đức ở Như Lai, căn lành này chẳng thể cùng tận. Trồng công đức ở chánh Pháp, căn lành này chẳng thể cùng tận. Trồng công đức ở thánh chúng, căn lành này chẳng thể cùng tận”. Như vậy, theo lời Phật dạy, nếu chúng ta gieo hạt giống vào ruộng phước Tam Bảo, trồng căn lành đối với đức Phật, đối với chánh Pháp và đối với chư Tăng thì phước báu này là không cùng tận. Ngoài ra, trong kinh Pháp Cú, đức Phật còn dạy rằng: Có người bố thí nhiều mà phước ít, có người bố thí ít mà phước nhiều. Người nào bố thí cho người khác cũng tế thần linh, ăn nhậu, ca múa,… sẽ hao tốn nhiều tiền mà phước báu lại ít. Người nào cúng dường chư Tăng với tâm cung kính, giúp chư Tăng yên tâm tiến tu và làm lợi ích cho chúng sinh thì bỏ ra ít tiền mà phước báu rất nhiều.

Tóm lại, tất cả chúng ta, khi sinh ra và lúc từ giã cõi đời này đều chỉ có hai bàn tay trắng. Những gì của thế gian sẽ trả lại cho thế gian, không ai đem theo được một thứ gì. Tuy nhiên, bằng cách bố thí, cúng dường, người Phật tử và người có trí tuệ có thể giữ gìn và đem theo tất cả của cải mà mình làm ra. Chính bố thí, cúng dường là gieo cái nhân để mình hưởng quả về sau. Chúng ta gửi tiền vào ngân hàng của thế gian thì khi chết không thể mang theo, mà tiền lãi cũng chỉ được một vài phần trăm. Còn nếu biết đem số tiền đó bố thí, cúng dường, gởi vào ngân hàng nhân quả thì từ một nhân có thể tạo ra rất nhiều quả. Ví dụ như, gieo một hạt xoài, nếu chăm sóc tốt, nó sẽ lên cây, ra hoa, kết quả, từ một hạt xoài chúng ta có thể thu hoạch được hàng trăm, hàng nghìn, hàng vạn quả xoài. Do đó, gửi tiền vào ngân hàng nhân quả là bảo đảm nhất, không những thế cái quả nhận được còn gấp trăm ngàn lần cái nhân mà chúng ta đã gửi. Cuối lời, tôi sẽ đọc cho quý nghe một câu nói của vua Harsha, vị hoàng đế trị vì miền bắc Ấn Độ từ năm 606 đến năm 647. Quý vị nên lắng nghe và chiêm nghiệm câu nói rất hay này của ông:”Ngày xưa, khi góp nhặt những của cải này, lúc nào trẫm cũng áy náy, e sợ, phải tìm cách cất giấu vào những nơi vững chãi, kín đáo. Nhưng ngày nay, do bố thí, trẫm có thể gởi gắm tất cả những thứ đó trên cánh đồng của phước lạc, và trẫm coi như những của cải ấy được giữ gìn mãi mãi.”

Thích Chân Tính


Bạn đang xem chủ đề Cúng Các Bác Ngày 16 trên website Iseeacademy.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!