【#1】Văn Khấn Trong Lễ Tang

Trong phần này, chúng tôi xin giới thiệu văn khấn ở những nghi lễ quan trọng từ khi người mất tới khi được 100 ngày.

Phần văn khấn từ giỗ đầu (tròn một năm sau ngày mất) chúng tôi chuyển sang phần văn khấn khi cúng giỗ.

1) Văn khấn lễ Thiết Linh:

Lễ Thiết Linh là lễ sau khi lập xong bàn thờ tang, đặt linh vị

2) Văn khấn lễ Thành Phục:

Lễ Thành Phục là lễ sau khi gia đình thân nhân mặc đồ tang, tề tựu quanh linh cữu.

3) Văn khấn lễ Chúc Thực:

Lễ Chúc Thực là lễ dâng cơm khi còn để linh cữu ở nhà.

4) Văn khấn Lễ cáo Long Thần Thổ Địa:

Là lễ cúng Long Thần Thổ Địa trước khi đào huyệt.

5) Văn khấn lễ Thành Phần:

Lễ Thành Phần là lễ khi đắp xong mộ.

6) Lễ Hồi Linh:

Lễ Hồi Linh là lễ rước ảnh hoặc linh vị từ mộ về.

7) Vản khấn lễ Chầu Tổ (Triều Tổ lễ cáo):

Sau khi làm lễ Hồi Linh ở bàn thờ tang xong thì làm lễ cáo yết với Tổ Tiên ở bàn thờ chính, nếu là gia đình nhà con thứ thì yết cáo tại nhà thờ của chi họ, nơi thờ ông bà nội, hoặc cụ nội.

Lễ Tế Ngu là lễ ba ngày sau khi mất hoặc ba ngày sau khi chôn cất xong.

Theo tục xưa:

Ngày đầu là Sơ Ngu

Ngày thứ hai là Tái Ngu.

Ngày thứ ba là Tam Ngu.

8) Lễ Chung Thất và Tốt Khốc:

Lễ Chung Thất là lễ 49 ngày. Lễ Tốt Khốc là lễ 100 ngày.

9) Lễ Triệu tịch Điện văn:

Lễ Triệu tịch Điện văn là lễ cúng cơm trong 100 ngày.

10) Lễ Tiểu Tường, Đại Tường (Giỗ Đầu, Giỗ thứ Hai):

Giỗ Đầu và Giỗ thứ Hai là hai lễ giỗ rất quan trọng.

11) Văn khấn lễ Đàm Tế (Tức là lễ hết tang Trừ phục):

Sau 2 năm và 3 tháng dư ai, chọn một ngày tốt làm lễ: Đắp sửa mộ dài thành mộ tròn, cất khăn tang, huỷ đốt các thứ thuộc phần lễ tang, rước linh vị vào bàn thờ chính, bỏ bàn thờ tang.

12) Văn khấn lễ rước linh vị vào chính điện và yết cáo Tiên Tổ:

Cách tiến hành nghi lễ: chép sẵn linh vị mới phủ giấy (hoặc vải) đỏ, khi Đàm Tế ở bàn thờ tang xong, thì đốt linh vị cũ cùng với bảng đen phủ quanh khung ảnh và văn tế. Sau đó rước linh vị, bát hương và chân dung (nếu có) đưa lên bàn thờ chính, đặt ở hàng dưới. Trường hợp nhà không có bàn thờ chính thờ gia tiên bậc cao hơn thì không phải làm lễ này mà yết cáo gia thần và yết cáo Tổ ở nhà thờ tổ.

13) Lễ Cải Cát:

Lễ Cải Cát là lễ sang Tiểu, sửa mộ, dời mộ.

Văn khấn lễ Thiết Linh

Nam mô A Đi Đà phật

Nam mô A Đi Đà phật

Nam mô A Đi Đà Phật

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ

– Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ Kháo, Cao Tằng Tổ Tỷ họ………….

Hôm nay là ngày…… tháng…… năm …………………… Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là……… ……………. vâng theo lệnh mẫu thân (nếu là cha) và các chú bác, cùng với anh rể, chị gái và các em trai gái dâu rể con cháu nội ngoại kính lạy.

Nay nhân ngày lễ thiết Linh thích nghi lễ cổ truyền

Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.

Trước linh vị của: Hiển……………. chân linh.

Xin kính cấn trình thưa rằng:

Than ôi! Gió thổi nhà Thung

(nếu khóc cha hoặc Huyên nếu khóc mẹ)

Mây che núi Hỗ

(nếu khóc cha hoặc núi Dĩ nếu khóc mẹ.)

Dung mạo một mai vắng vẻ, bão xô cây,

nghĩ lại ngậm ngùi thay

Âm dương đôi ngả xa vời, mây phủ núi,

trông càng đau đớn nhẽ!

Sương bay chớp nhoáng, bạch vân nghi ngút,

cõi phù sinh;

Nến đỏ hương thơm, án toạ hắt hiu đồ sự tử.

Vài tuần nghi tiết, mong anh hồn thấu khúc tình văn;

Tấc dạ bi hoài, trông linh vị, tuôn dòng ai lệ!

Ôi! Thương ôi!!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Văn khấn lễ Thành Phục

Nam mô A Đi Đà Phật

Nam mô A Đi Đà Phật

Nam mô A Đi Đà Phật

– Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương

– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân

– Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ.

Hôm nay là ngày……. tháng…….. năm …………………

Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là. ……………………

vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ thân)và các chú bác, cùng với anh rể, chị gái và các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

Nay nhân ngày Lễ Thành Phục theo nghi lễ cổ truyền,

Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.

Trước linh vị của: Hiển………………….. chân linh

Xin kính cẩn trình thưa rằng:

Than ôi! Núi Hỗ (nếu khóc cha hoặc núi Dĩ nếu khóc mẹ) mây che

Chồi Thung (nếu khóc cha hoặc Huyên nếu khóc mẹ) gió bẻ.

Cõi trăm năm, trời khéo hẹp hòi thay;

Cơ một phút, đời sao mau mắn nhẽ !

Sân Lai tử, những mong ngày tháng rộng,

Bõ công ơn áo nặng cơm dàyl

Đồ Thôi y, đâu đã lạ lùng thay, càng cám cảnh

đầu tang tóc chế..

Ôi! Thương ôi!

Trời đất làm chi cực thế! Chạnh nhớ cha (hoặc mẹ) điều ăn nết ở, tấm lòng sầu chín khúc, rồi năm canh.

Ai xui nên nỗi này! Nỡ để con, rày nhớ mai mong, nước mắt chảy hai hàng, đầy một mẻ.

Nay vừa chế phục sẵn rồi; bày đặt tang nghi theo lệ

Gậy khăn tuân cứ lối thường;

Thành phục kính dâng tiền tế

Thương ôi!

Nam mô a di đà phật!

Nam mô a di đà phật!

Nam mô a di đà phật!

Văn khấn lễ Chúc Thực

Nam mô a di đà phật!

Nam mô a di đà phật!

Nam mô ai di đà phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.

– Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân.

– Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ họ………

Hôm nay là ngày…. Tháng…. Năm……

Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là……… vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ thân)và các chú bác, cùng với anh rể, chị gái và các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy

Nay nhân lễ Chúc Thực theo nghi lễ cổ truyền,

Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành,

Trước linh vị của: Hiển… chân linh

Xin kính cẩn trình thưa rằng:

Thiết nghĩ! Nhân sinh tại thế,

Họa mấy người sống tám, chín mươi,

Đôi ba mươi năm cũng kể một đời.

Song vận số biết làm sao tránh được

Nhớ hồn thuở trước: trong buổi xuân xanh

Ơn mẹ cha đạo cả sinh thành, đêm ngày dạy dỗ:

Đường ăn, nỗi ở, việc cửa việc nhà.

Lại lo bề nghi thất, nghi gia

Cho sum họp trúc, mai mấy đóa

Cương thường đạo cả, lòng những lo hiếu thảo đền ơn

Nếp kiệm cần hằng giữ sớm hôm.

May nối được gia đường cơ chỉ,

Ba lo bảy nghĩ, vất vả trăm bề

Cho vẹn toàn đường nọ lối kia,

Tuy khó nhọc chưa cam thỏa dạ;

Bỗng đâu gió cả, phút bẻ cành mai,

Hoa lìa cây, rụng cánh tơi bời.

Yến lìa tổ, kêu xuân vò võ.

Tưởng hồn trường thọ, dìu con em, khuyên nhủ nên người.

Ai ngơ trăng lặn sao dời, hồn đã biến về nơi Tây Trúc

Từ nay lấy ai chăm sóc, ngõ cúc, tường đào.

Từ nay quạnh bóng ra vào, cỗi Nam, cành Bắc.

Ngày chầy sáu khắc, đêm vắng năm canh:

Tưởng phất phơ thoáng hiện ngoài mành.

Tưởng thấp thoáng bóng hình trên khói

Hiên mai bóng rọi, vào ngẩn ra ngơ.

Hết đợi thôi chờ, nắng hồng giá lạnh

Ai hay số mệnh!

Thuốc trường sinh, cầu Vương mẫu chưa trao.

Bút Chú tử, trách Nam Tào sớm định.

Bùi ngùi cám cảnh, tuôn rơi hàng nước mắt dầm dầm

Nhớ nơi ăn, chốn ở, buồng nằm:

Như cắt ruột, xét lòng con trên trần thế.

Mấy dòng kể lể. Chiêu hồn về than thở nguồn cơn.

Cầu anh linh phù hộ cháu con. Cầu Thần Phật độ trì, cho vong hồn siêu thoát…

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Văn khấn Lễ cáo Long Thần Thổ địa

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Bản cảnh Hậu Thổ Thần chư vị.

Tang chủ là: ……………………………………………….

Ngụ tại:…………….

Hôm nay là ngày … tháng…. Năm, gia đình có táng cố phụ (hay cố mẫu) là họ………… húy hiệu…….. tiền tước là….. thọ chung ngày ….ở khu đất này, kính dâng lễ vật……..lễ nghi các thứ

Thiết nghĩ:

Đất có dữ lành

Đều do họa phúc

Kết phát dựa vào âm đức,

Cũng nhờ Thần lực hiển linh

Ấy thực thường tình

Xiết bao cảm cách.

Những mong mồ yên mả đẹp.

Vậy dâng lễ bạc tâm thành.

Nhờ ơn Đại đức

Thấu nỗi u tình

Khiến cho vong linh.

Được yên nơi chín suối.

Phù hộ dương trần con cháu nội, ngoại bình yên.

Chúng con lễ bạc tâm thành cúi xin được phù hộ độ trì

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Văn khấn lễ Thành Phần

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân

Con kính lạy chư gia tiên Cào Tằng Tổ khảo, Cao Tằng Tổ tỷ họ………

Hôm nay là ngày…. Tháng ……. Năm …….. Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là. ……………………

vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ thân)và các chú bác, cùng với anh rể, chị gái và các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

Nay nhân ngày Lễ Thành Phục theo nghi lễ cổ truyền,

Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.

Trước linh vị của: Hiển………………….. chân linh

Xin kính cẩn trình thưa rằng:

Than ôi!

Mây núi Hỗ mịt mờ, mờ mịt

(nếu khóc cha hoặc núi Dĩ nếu khóc mẹ)

Chữ vô thường ngán nhẽ cuộc phù sinh;

Cơn bể dâu thay đổi, đổi thay

Cơ huyền diệu, ghê thay vòng tạo hóa

Ôi! Thương ôi!

Người thế ấy, mà sao phận thế ấy, bỗng đâu số trời xui khiến, cõi âm dương, đôi ngả đã xa vời;

Vận đến đây, hay là mệnh đến đây, thắm đã nấm đất vun vùi, đường từ hiếu, trăm năm không gặp gỡ

Mắt trông thấy, đào sâu lấp kín, tủi nỗi lòng, chín khúc ngổn ngang;

Tai vẳng nghe, trống giục, chiêng hồi, đầy nước mắt hai hàng lã chã

Nay đã phân kim lập hướng, cầy được thỏa yên;

Gọi rằng bát nước nén hương, kính trần bái tạ

Hỡi ơi! Xin hưởng!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

(Nghỉ một lát đọc tiếp hai câu sau)

Xuất chủ kính dâng ba chén rượu, xem như còn sống ở cao đường;

Thành Phần xin đốt một tuần hương, kính rước hồi linh về bảo toạ.

Văng khấn lễ Hồi Sinh.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân

– Con kính lạy chư gia tiên Cào Tằng Tổ kHảo, Cao Tằng Tổ tỷ họ………

Hôm nay là ngày…. Tháng ……. Năm …….. Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là. ……………………

vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ thân) và các chú bác, cùng với anh rể, chị gái và các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

Nay nhân ngày Lễ Hồi linh theo nghi lễ cổ truyền,

Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.

Trước linh vị của: Hiển……….chân linh

Xinh kính cẩn trình thưa rằng:

Than ôi! Xót nghĩ phụ thân (hoặc mẫu thân)

Thân thi táng tất, hồn phách đã yên.

Xa nơi trần giới, về chốn cửu nguyên.

Nay hồi linh,phụng nghênh thần chủ, rước về linh điện

Để con cháu sớm hôm phụng sự

Tới hạn kỳ làm lễ cáo thiên.

Cha (hoặc mẹ) hỡi có thiêng!

Từ nay phách định hồn yên!

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật

Văn khấn lễ Chầu Tổ (Triều Tổ lễ cáo)

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân

– Con kính lạy chư gia tiên Cào Tằng Tổ kHảo, Cao Tằng Tổ tỷ họ………

Hôm nay là ngày…. Tháng ……. Năm ………..

Hậu duệ tôn là…………………………………………………………. Vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ thân nếu là cha) và các chú bác, cùng với anh rể, chị gái và các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại. Kính cáo Tổ Tiên:

Vì có: Hiển Khảo (hoặc Hiển Tỷ)……………………thọ chung ngày …….. nay đã an táng xong, làm lễ hồi linh.

Kính theo kễ nghi phong tục, xin kính dâng lễ vật gồm hương hoa chuối ỏan, trầu cau, đèn nến, xôi gà thịt rượu, gọi là lễ bạc tâm thành. (Nếu sắp lễ có những thứ khác thì khi khấn tùy theo đồ lễ mà kể ra).

Kính cẩn quỳ trước linh vị của: Cao Tằng Tổ Khảo Cao Tằng Tổ Tỷ, liệt vị Tiên linh. Trình thưa rằng:

Vật vốn nhờ trời

Người sinh nhờ Tổ.

Xót nay phụ thân (hoặc mẫu thân)

Theo Tiên theo Tổ

Sơ ngu vừa đặt tế điện

Nghĩ trước nghĩ sau

Vật mọn kính bày lễ số.

Ngửa trông chứng giám lòng thành;

Cúi nguyện phù trì bảo hộ.

Chúng con lễ bạc tâm thành tâm kính bái cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Văn khấn lễ Tế Ngu

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân

– Con kính lạy chư gia tiên Cào Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ tỷ.

Hôm nay là ngày…. Tháng ……. Năm ………..

Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là………vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ mẫu nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

Này nhân ngày lễ Tế Ngu theo nghi lễ cổ truyền,

Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.

Trước linh vị của:Hiển……………..chân linh

Xin kính cẩn trình thưa rằng.

Than ôi! Trên tòa Nam cực, lác đác sao thưa; (nếu khóc cha hoặc đổi là Bắc vụ nếu khóc mẹ).

Trước chốn Giao trì, tờ mờ mây khóa.

Cơ tạo hóa làm chi ngang ngửa thế, bóng khích câu,

khen khéo trêu người.

Chữ cương thường nghĩ lại ngậm ngùi thay,

tình hiếu đễ chưa yên thỏa dạ.

Ơn nuôi nấng áo dày cơm nặng, biển trời khôn xiết

biết công lao;

Nghĩ sớm hôm ấp lạnh quạt nồng, tơ tóc những

hiềm chưa báo quả;

Ngờ đâu! Nhà Thung (nếu là cha hoặc Nhà Huyên nếu là mẹ) khuất núi, trời mây cách trở muôn trùng;

Chồi Tử mờ sương, âm dương xa vời đôi ngả.

Trông xe hạc lờ mờ ẩn bóng, cám cảnh cuộc phù sinh chưa mấy, gót tiên du đã lánh cõi trần ai.

Rồi khúc tằm. áy náy trong lòng, thương thay hồn bất tử về đâu, cửa Phật độ biết nhờ ai hiện hóa.

Suối vàng thăm thẳm, sáng phụ thân (hoặc mẫu thân) một mình lìa khơi,

Giọt ngọc đầm đìa, đàn con cháu, hai hàng lã chã.

Lễ Sơ Ngu (hoặc Tái Ngu, Tam Ngu) theo tục cổ, trình bày:

Nhà đơn bạc, biết lấy gì để dóng dả.

Đành đã biết: đất nghĩa trời kinh, nào chỉ ba tuần nghi tiết,

đủ lễ báo đền

Cũng gọi là: lưng cơm chén nước, họa may chín suối anh linh,

được về yên thỏa

Ôi! Thương ôi!

Chúng con lễ bạc tâm thành, thành tâm kính lễ cúi xin được phù hộ độ trì.

Kính cáo!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Văn khấn Lễ Chung Thất và Tốt Khốc

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

Hôm nay là ngày….tháng….năm….., âm lịch tức ngày…..tháng….năm…………….dương lịch.

Tại (địa chỉ):……………………………………………………

Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là………vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ mẫu nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

Nay nhân ngày lễ Chung Thất (lễ Tốt Khốc) theo nghi lễ cổ truyền, có kính cẩn sắm các thứ lễ vật gồm:…………………………..

Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.

Trước linh vị của Hiển:………………… chân linh

Xin kính cẩn trình thưa rằng:

Núi Hỗ sao mờ, nhà Thung bóng xế. (Nếu là cha)/ Núi Dĩ sao mờ, nhà Huyên bóng xế. (nếu là mẹ)

Tình nghĩa cha sinh mẹ dưỡng, biết là bao;

Công ơn biển rộng, trời cao khôn xiết kể.

Mấy lâu nay: Thở than trầm mộng mơ màng;

Tưởng nhớ âm dương vắng vẻ.

Sống thời lai lai láng láng, hớn hở chừng nào!

Thác thời kể tháng kể ngày, buồn tênh mọi lẽ!

Ngày qua tháng lại, tính đến nay Chung Thất (hoặc Tốt Khốc) tới tuần;

Lễ bạc tâm thành gọi là có nén nhang kính tế.

Xin mời: Hiển………………………………………………

Hiển……………………………………………………………..

Hiển………………………………………………………………

Cùng các bị Tiên linh, Tổ Bá, Tổ Thúc, Tổ Cô và các vong linh phụ thờ theo Tiên Tổ cùng về hâm hưởng.

Kính cáo; Liệt vị Tôn thần: Táo Quân, Thổ Công, Thánh sư, Tiên sư, Ngũ tự Gia thần cùng chứng giám và phù hộ cho tòangia được mọi sự yên lành tốt đẹp.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Văn khấn lễ Triệu lịch Điện Văn

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân

– Con kính lạy chư gia tiên Cào Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ tỷ

Hôm nay là ngày…. Tháng ……. Năm ………..

Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là………vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ mẫu nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

Nay nhân ngày lễ cúng cơm trong trăm ngày theo nghi lễ cổ truyền.

Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.

Trước linh vị của: Hiển………………………………chân linh.

Xin kính cẩn trình thưa rằng:

Than ôi! Thương nhớ phụ thân, bỏ về cõi thọ

(hoặc Thương nhớ mẫu thân, bỏ về cõi thọ)

Gót thừa vân, nghĩ đã xa khơi;

Lòng ái nhật, nghĩ càng tủi hổ.

Lưng cơm bát nước, miếng trân cam, tỏ dạ kính thành;

Sớm rượu trưa trà, đạo thần hôn, giữ lòng ái mộ.

Ngậm ngùi, hồn phách biết về đâu;

Tưởng tượng bóng hình còn mãi đó.

Ôi! Thương ôi!

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật

Văn khấn Lễ Tiểu Tường, Đại Tường (Giỗ đầu, giỗ thứ 2)

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân

– Con kính lạy chư gia tiên Cào Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ tỷ

Hôm nay là ngày…. Tháng ……. Năm ………..

Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là………vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ mẫu nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

Nay nhân ngày Giỗ Đầu (Giỗ thứ Hai) theo nghi lễ cổ truyền,

Kính dâng lễ mọn biểu lòng thành.

Trước linh vị của: Hiển………………chân linh.

Xin kính cẩn thưa rằng:

Than rằng:

Mây che núi Hỗ (nếu là cha hoặc núi Dĩ nếu là mẹ)

muôn dặm mơ màng

Gió thổi cành Thung (nếu là cha hoặc cành Huyên nếu là mẹ)

một vùng nghi ngút

Nhớ thưở trước, một nhà sum họp, vui vầy những ước,

đặng trăm năm

Mà bấy nay, đôi ngả cách xa, nông nỗi nào ngờ, nên một phút.

Ơn chín chữ, trời cao biển rộng, hiểm chưa chút công đền nghĩa trả, gánh cương thường, nghĩ nặng trên vai;

Đêm năm canh, than vắn thở dài, những mơ màng tiếng nói điều ăn, lòng tưởng vọng, thấm đau trong ruột.

Cõi trần thế, xuân qua thu lại, ngày trời kể, chẵn một năm tròn; (hoặc hăm bốn tháng tròn).

Giỗ Tiểu Tường (hoặc Đại Tường) lễ bạc tâm thành, chén rượu dâng một vài tuần rót.

Nhà đơn bạc, còn nhiều bề khiếm khuyết, hương thơm, nến đỏ, việc lễ nghi, tạm gọi theo thời;

Bài văn ai kể mấy khúc nôm na, tâm động, thần tri, miền minh phủ, may chi thấu chút.

Xin kính mời:

Hiển:………………………………………….

Hiển:………………………………………….

Hiển:………………………………………….

Cùng các vị Tiên linh Tổ bá, Tổ Thúc, Tổ Cô và các vong linh phụ thờ theo Tiên Tổ về hâm hưởng.

Kính cáo: Liệt vị Tôn thần, Táo Quân, Thổ Công, Thánh Sư, Tiên Sư, Ngũ tư Gia thần cùng chứng giám và phù hộ cho tòan gia an ninh khang thái, vạn sự tốt lành.

Cúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Cẩn cáo!

Văn khấn Lễ Đàm tế

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân

– Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ tỷ

Hôm nay là ngày…. Tháng ……. Năm ………..

Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là………vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ mẫu nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

Nay nhân ngày Lễ Đàm Tế theo nghi lễ cổ truyền,

Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.

Trước linh vị của: Hiển……………………..chân linh

Xin kính cẩn trình thưa rằng:

Than ôi! Nhớ bóng phụ thân (hoặc mẫu thân);

Cách miền trần thế

Tủi mắt nhà Thung (nếu là cha hoặc nhà Huyền nếu là mẹ)

mây khóa, thăm thẳm sầu phiền.

Đau lòng núi Hỗ (nếu là cha hoặc núi Dĩ nếu là mẹ)

sao mờ, đầm đìa ai lệ

Kể năm đã quá Đại Tường;

Tính tháng nay làm Đàm Tế.

Tuy lẽ hung biến cát; tang phục kết trừ;

Song nhân tử sự thân, hiếu tâm lưu để.

Lễ bạc, kính dâng gọi chút, há dám quên, cây cội nước nguồn,

Suối vàng, như có thấu chăng, họa may tỏ,

trời kinh đất nghĩa.

Xin kính mời: Hiển……………………………………….

Hiển……………………………………….

Hiển……………………………………….

Cùng các vị Tiên linh Tổ bá, Tổ Thúc, Tổ Cô và các vong linh phụ thờ theo Tiên Tổ về hâm hưởng.

Kính cáo: Liệt vị Tôn thần, Táo Quân, Thổ Công, Thánh Sư, Tiên Sư, Ngũ tư Gia thần cùng chứng giám và phù hộ cho tòan gia an ninh khang thái, vạn sự tốt lành.

Chúng con lễ bạc tâm thành cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Văn khấn lễ rước linh vị vào chính điện và yết cáo Tiên Tổ

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân- –

– Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ tỷ

Hôm nay là ngày…. Tháng ……. Năm ……….., tại tỉnh……huyện……xã……thôn……………………………………….

Tín chủ là…………………(nếu lễ gia thần) hoặc Hậu duệ tôn là……………………(nếu lễ gia tiên, tự xưng hô với vị được liệt thờ cao nhất).

Quỳ trước linh vị của……………………………(đọc linh vị của vị thờ cao nhất), liệt chư Tiên linh.

Kính nghĩ:

Gót tiêu dao, mịt mù mù mịt, đâu hạc nội, đâu mây ngàn?

Cõi trần thế, thay đổi đổi thay, nay sương dâu, mai bãi bể.

Lá rụng về cội, phách tuy giáng, hồn lại được siêu thăng.

Nước chảy về nguồn, thác là quy, sinh chẳng qua tạm ký.

Nhân sinh do tổ, gốc phải vững, phúc quả mới mong bền;

Hiểu tử sự thân, tế như tại, nhân tâm nào dám phế.

Bày nhân: Hiển khảo(hoặc tỷ)……………………………..

(đọc linh vị bố hoặc mẹ)

Thọ chung ngày…………..tính đến nay đã:

Quý húy Đại Tường;

Đến tuần Đàm Tế.

Quá hai năm trừ phục, cáo Tiên linh;

Đủ ba tháng dư ai, theo cổ lệ.

Cầu gia thần chứng giám, cho từ đường phảng phất linh hồn;

Nguyện Tiên Tổ phù trì, để bạch triệu quy hồi phách thể.

Đến ngày giỗ chạp, con cháu nhớ tháng ngày,

làm lễ dâng hương;

Nối gót Tổ Tiên, ông cha tiếp thế thứ, theo hàng phối tế.

Lễ bạc, kính dâng gọi chút, há dám quên cây cội, nước nguồn;

Suối vàng, như thấu cho chăng, họa may tỏ trời kinh, đất nghĩa.

Xin kính mời: Hiển……………………………………….

Hiển……………………………………….

Hiển……………………………………….

Cùng các vị Tiên linh Tổ bá, Tổ Thúc, Tổ Cô và các vong linh phụ thờ theo Tiên Tổ về hâm hưởng.

Kính cáo: Liệt vị Tôn thần, Táo Quân, Thổ Công, Thánh Sư, Tiên Sư, Ngũ tư Gia thần cùng chứng giám và phù hộ cho tòan gia an ninh khang thái, vạn sự tốt lành.

Chúng con lễ bạc tâm thành cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Văn khấn lễ Cải Cát

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân

– Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ tỷ

Hôm nay là ngày…. Tháng ……. Năm ……….., tại tỉnh……huyện……xã……thôn……………………………………….

Hiển khảo (hoặc tỷ)………………………………………mộ tiền

Than rằng: Thương xót cha (hay mẹ)xưa, vắng xa trần thế.

Thác về, sống gửi, đất ba thước phải vùi chôn.

Phách lạc hồn bay, hình trăm năm khó gìn để;

Lúc trước việc nhà bối rối, đặt để còn chưa hợp hướng phương.

Tới nay, tìm đất tốt lành, sửa sang lại, cầu an hình thể.

Rày thân: Phần mộ dời xong, lễ Ngu kính tế.

Hồn thiêng xin hưởng, nguyện cầu vĩnh viễn âm phần.

Phúc để di lưu, phù hộ vững bền miêu duệ.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Xin lưu ý: Theo phong tục trước và sau khi dời mộ phải khấn trình với Long mạch, Sơn thần và Thổ thần nơi cũ và nơi mới. Sau đây là văn khấn Long Mạch, Sơn thần và Thổ thần.

Văn khấn Long Mạch, Sơn Thần và Thổ Thần

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Con kính lạy Đức Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy các ngài Long Mạch, Sơn Thần, Thổ địa, Thần linh cai quản trong xứ này.

Hôm nay là ngày……tháng…..năm……………………….

Tín chủ (chúng)con là:……………………………………..

Ngụ tại………………………………………………………..

Nhân hôm nay ngày Cải Cát (dời mộ, sửa mộ) của…………… mộ phần tại…………………………

Chúng con cùng tòan thể gia quyến tuân theo nghi lễ sắn sửa hương hoa lễ vật dâng lên án toạ Tôn thần cùng chư vị uy linh, kính cẩn tâu trình.

Kính cáo Sơn Thần, Thổ Thần, Long Mạch và các vị Thần linh, cúi xin chứng minh, phù hộ cho tòan gia chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

【#2】Văn Khấn Sửa Mộ, Khởi Công Xây Mộ Theo Chuẩn Phong Thủy

Văn khấn sửa mộ, xây mộ giúp người trần truyền tải thông điệp đến những người đã khuất. Tạ mộ sau khi khởi công xây dựng là một trong những nét đẹp truyền thống văn hóa Việt được lưu giữ từ ngàn đời. Cùng Iseeacademy.com tìm hiểu kỹ hơn qua bài viết sau đây nhé.

Ý nghĩa văn khấn sử mộ, khởi công xây mộ

Mọi người đều biết đó là văn khấn là những lời con cháu muốn trình mang đến tổ tiên, những người đã khuất về ngày cúng liên quan tới tên người quá cố như: Ngày tháng năm (dương lịch và âm lịch), tên địa phương mình ở, tên mình và tên những người trong gia đình, lý do cúng và lời cầu nguyện,… Thế nhưng để khấn như thế nào cho đúng bài, chuẩn phong thủy thì chẳng mấy ai nắm được.

Văn khấn sửu mộ thường được đọc trong nghi lễ khấn tạ sau khi ngôi mộ được khởi công xây dựng hoặc sửa chữa xong.

Theo văn hóa tâm linh Việt Nam, bài văn khấn được xem là cách để con, cháu thể hiện lòng biết ơn đối với những người đã sinh thành, nuôi dưỡng, từng yêu thương họ hay người thân của họ khi còn sống mà khi đã mất đi.

Lễ vật cần chuẩn bị

Trước hết, để lễ tạ mộ được diễn ra hoàn chỉnh, chuẩn phong thủy và theo đúng quy trình, gia chủ cần chuẩn bị đủ bộ nghi lễ dành riêng cho nghi thức này . Đây cũng là một trong những nét văn hóa truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam theo truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của ông cha vẫn duy trì tới ngày nay vẫn còn được lưu giữ.

Lễ vật cần chuẩn bị cho nghi lễ tạ mộ thường bao gồm lễ mã và mâm lễ mặn, thường bao gồm:

  • Một cây hoa vàng hoa đỏ
  • Năm con ngựa năm màu khác nhau
  • Năm bộ (mũ, áo, hia) loại to có kèm ngựa, cờ lệnh, kiếm và roi

Lưu ý: Đặt 10 lễ tiền vàng trên ưnng mỗi ông ngựa. Tất cả có 4 đĩa để tiền vàng riêng. Trong đó lưu ý vong nam, phụ, lão, ấu và từng mùa mà dâng áo quần sao cho phù hợp.

  • 3 lá trầu và quả cau đẹp, không sâu, nát
  • Rượu gạo và 5 ly đựng rượu
  • Mâm ngũ quả
  • Một ván xôi gà
  • Thuốc lá, chè thơm
  • Hoa tươi
  • Đèn dầu hoặc nến cốc

Trên đây là những lễ vật mà người dân nhiều địa phương thường hay sắm để cúng tạ mộ xây, tuy nhiên cũng tùy thuộc theo tập tục,tập quán của mỗi địa phương khác nhau mà có thể có cách sắm lễ khác nhau.

Sau khi đã sắm lễ vật cúng tạ mộ mới xây thì một người con trai, cháu trai trong gia đình, dòng họ,dòng tộc đứng ra để đọc bài văn khấn tạ mộ sau khi xây xong. Nếu gia đình nào cẩn thận hơn thì có thể thuê hoặc mượn thầy cúng về đứng ra đọc thay cho con cháu.

Văn khấn sửa mộ , khởi công xây mộtheo chuẩn phong thủy

“Nam mô A Di Đà Phật !

Nam mô A Di Đà Phật !

Nam mô A Di Đà Phật ! (3 lạy)

Kính lạy hương linh (Hiển khảo, Hiển tỷ, Tổ khảo hoặc tên người đã khuất)

Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm …..

Tín chủ con là: ………………..

Cùng gia quyến ngụ tại (địa chỉ của quý vị)

Nhân tiết (tiết Thanh Minh, tiết Xuân, tiết Thu, tiết Đông hay nhân ngày gì đó tức là lý do quý vị ra thắp hương. Hoặc ra xây, tu sửa mộ)

Chúng con cùng toàn thể gia đình con cháu, nhờ công ơn võng cực, nền đức cao dày, gây dựng cơ nghiệp của…..chạnh lòng nghĩ đến âm phần ở nơi hoang vắng nên thành tâm sửa soạn hương hoa lễ vật cúng dâng, cáo yết tôn thần, hiến cúng hương linh (tên như trên), lại xin sửa sang phần mộ, bồi xa bồi thổ cho được dầy bền, tu sửa minh đường hậu quỷ cho thêm vững chắc. Nhờ ơn Phật Thánh phù trì, đội đức trời che đất chở, cảm niệm thần linh phù hộ, khiến cho được chữ bình an, âm siêu dương thái. Cầu tiên tổ phách thể bình yên, mộ vững bền tựa núi non hùng vĩ. Con cháu chúng con xin vì hương linh (tên như trên) phát nguyện tu nhân tích đức, làm duyên làm phúc cúng dâng Tam Bảo, giúp đỡ cô nhi quả phụ, tế bần cứu nạn, hiếu thuận tông nhân để lấy phúc này hướng về tổ tiên.

Cúi xin linh thiêng chứng giám, thụ hưởng lễ vật, phù hộ độ trì cho con cháu, qua lại soi xét cửa nhà, che tai cứu nạn, ban tài tiếp lộc, điềm lành mang đến, điềm giữ xua đi. Độ cho gia đạo hưng long, quế hòe tươi tốt, cháu con vui hưởng lộc trời, già trẻ nhuần ơn Phật Thánh.

Giãi tấm lòng thành, cúi xin chứng giám!

Nam mô A Di Đà Phật !

Nam mô A Di Đà Phật !

Nam mô A Di Đà Phật ! (3 lạy)”

【#3】Văn Khấn Cúng Rằm Tháng 7 Vào Dịp Lễ Vu Lan, Cúng Cô Hồn

Văn khấn cúng Rằm tháng 7

Văn khấn cúng Rằm tháng 7 vào dịp Lễ Vu Lan, cúng cô hồn.

Tâm thức của người dân Việt Nam trong mùa Lễ Vu Lan báo hiếu và tháng xá tội vong nhân.

Tùy theo phong tục tập quán của mỗi vùng miền khác nhau, nhưng cứ đến ngày Rằm tháng Bảy mọi người khắp nơi lại tưng bừng tổ chức ngày lễ Vu Lan với tâm nguyện nhắc nhở các thế hệ con cháu nhớ tới công ơn dưỡng dục sinh thành của cha mẹ, ông bà, tổ tiên.đặc biệt là tháng bảy Âm lịch còn gọi là tháng ” xá tội vong nhân“, tức là thời gian các vong hồn được thả tự do.Những ngày này, người dân thường lập đàn cầu siêu hoặc cúng thí ( cúng cô hồn) cúng thức ăn cho các cô hồn để mong họ phù hộ cho mình.

Trên đây là 5 bài văn khấn cúng Rằm tháng Bảy, lễ Vu lan, cúng cô hồn

Văn khấn Cúng Phật.

Vào ngày rằm tháng Bảy, sắp một mâm cơm chay hoặc đơn giản hơn là mâm ngũ quả để cúng Phật rồi thụ lộc tại nhà. Khi cúng, tốt nhất là đọc một khoá kinh – Kinh Vu Lan – để hiểu rõ về ngày này, hồi hướng công đức cho những người thân trong quá khứ được siêu sinh. Kinh Vu Lan khá dài, nhưng không đến mức quá dài, lại thuộc thể thơ song thất lục bát nên đọc cũng nhanh thôi.

– Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Hôm nay là ngày….. tháng….. năm……………………………………………

Tín chủ con là …………………………………………………………………………………………..

Ngụ tại…………………………………………………………………………………

Cùng toàn thể gia đình thành tâm trước Đại Hùng Bảo Điện, nơi chùa.

Đức Phật Thích Ca, Đức Phật Di Đà, Mười phương chư Phật, Vô thượng Phật pháp, Quan Âm Đại sỹ, cùng hiền Thánh Tăng.

Đệ tử lâu đời lâu kiếp

Nghiệp chướng nặng nề

Nay đến trước Phật đài,

Thành tâm sám hối

Thề Tránh điều dữ

Nguyện làm việc lành,

Ngửa trông ơn Phật,

Quán Âm Đại sỹ,

Chư Thánh hiền Tăng,

Thiên Long Bát bộ,

Hộ pháp Thiên thần,

Từ bi gia hội.

Cúi xin các vị phù hộ cho chúng con và cả gia đình tâm không phiền não, thân không bệnh tật, hàng ngày an vui làm việc theo pháp Phật nhiệm màu, để cho vận đáo hanh thông, muôn thuở nhuần ơn Phật pháp.

Đặng xin cứu độ cho các bậc Tôn Trưởng cha mẹ, anh em, thân bằng quyến thuộc, cùng cả chúng sinh đều thành Phật đạo.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Văn khấn cúng thần linh tại gia Rằm tháng Bảy

Hằng năm, cứ đến tháng 7 âm lịch tháng xóa tội vong nhân. Để công việc được may mắn, người dân thường cầu xin thần linh, thổ địa… bắt giam những yêu ma, oan hồn lại cho khỏi quấy nhiễu.

Cũng vào ngày lễ vu lan người ta thường làm một lễ cúng tạ ơn các thần linh,một mâm tưởng nhớ ông bà tổ tiên để cầu nguyện cho các vong hồn siêu thoát, cầu bình an cho gia đình.

Nam mô A Di Đà Phật

Kính lạy: Ngài Kim niên Đương cai Thái tuế Chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân và chư vị thần linh cai quản xứ này.

Hôm nay là ngày rằm tháng 7 năm …. (Đinh Dậu)

Tín chủ chúng con tên là: … ngụ tại nhà số …., đường …., phường (xã) …., quận (huyện) …, tỉnh (thành phố) …. thành tâm sắm sửa hương hoa, lễ vật và các thứ cúng dâng, bày lên trước án.

Chúng con thành tâm kính mời: Ngài Kim niên Đương cai Thái tuế Chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân và tất cả các vị thần linh cai quản trong khu vực này. Cúi xin các ngài giáng lâm án tọa, soi xét chứng giám.

Nay gặp lễ Vu Lan, ngày vong nhân được xá tội, chúng con đội ơn Tam bảo, Phật trời phù hộ, thần linh các đấng chở che, công đức lớn lao nay không biết lấy gì đền đáp.

Do vậy, chúng con kính dâng lễ bạc, bày tỏ lòng thành, nguyện xin nạp thọ, phù hộ độ trì cho chúng con và cả gia đình chúng con, người người khỏe mạnh, già trẻ bình an hương về chính đạo, lộc tài vương tiến, gia đạo hưng long.

Giải tấm lòng thành cúi xin chứng giám.

Văn khấn cúng Tổ tiên ngày rằm tháng 7

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư vị Phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Tổ tiên nội ngoại và chư vị Hương linh

Tín chủ (chúng) con là:………………………………

Ngụ tại:…………………………………………………

Hôm nay là ngày Rằm tháng 7 năm ………….nhân gặp tiết lễ Vu Lan vào dịp Trung Nguyên, chúng con nhớ đến Tổ tiên ông bà cha mẹ đã sinh thành ra chúng con gây dựng cơ nghiệp, xây đắp nền nhân, khiến nay chúng con được hưởng âm đức.

Chúng con cảm nghĩ ơn đức cù lao khôn báo, cảm công trời biển khó đền nên tín chủ con sửa sang lễ vật, hương hoa, trà quả, kim ngân, vàng bạc, thắp nén tâm hương,thành tâm kính lên các cụ Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Bá Thúc, Đệ Huynh, Cô Di, Tỷ Muội và tất cả hương hồn trong nội tộc, ngoại tộc của họ…………., cúi xin các vị thương xót cháu con, linh thiêng hiện về, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho con cháu mạnh khoẻ bình an, lộc tài vượng tiến, vạn sự tốt lành, gia đạo hưng long, hướng về chính giáo.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Văn khấn cúng thí thực cô hồn

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con lạy Đức Phật Di Đà.

Con lạy Bồ Tát Quan Âm.

Con lạy Táo Phủ Thần quân Phúc đức chính thần.

Tiết rằm tháng 7 sắp thu phân

Ngày rằm xá tội vong nhân hải hà

Âm cung mở cửa ngục ra

Vong linh không cửa không nhà

Đại Thánh Khảo giáo A Nan Đà Tôn giả

Tiếp chúng sinh không mả, không mồ bốn phương

Gốc cây xó chợ đầu đường

Không nơi nương tựa đêm ngày lang thang

Quanh năm đói rét cơ hàn

Không manh áo mỏng, che làn heo may

Cô hồn nam bắc đông tây

Trẻ già trai gái về đây họp đoàn

Dù rằng: chết uổng, chết oan

Chết vì nghiện hút chết tham làm giàu

Chết tai nạn, chết ốm đâu

Chết đâm chết chém chết đánh nhau tiền tình

Chết bom đạn, chết đao binh

Chết đuối, chết vì sinh sản giống nòi

Chết vì sét đánh giữa trời

Nay nghe tín chủ thỉnh mời

Lai lâm nhận hưởng mọi lời trước sau

Cơm canh cháo nẻ trầu cau

Tiền vàng quần áo đủ màu đỏ xanh

Gạo muối quả thực hoa đăng

Mang theo một chút để dành ngày mai

Phù hộ tín chủ lộc tài

An khang thịnh vượng hoà hài gia trung

Nhớ ngày xá tội vong nhân

Lại về tín chủ thành tâm thỉnh mời

Bây giờ nhận hưởng xong rồi

Dắt nhau già trẻ về nơi âm phần

Tín chủ thiêu hoá kim ngân

Cùng với quần áo đã được phân chia

Kính cáo Tôn thần

Chứng minh công đức

Cho tín chủ con

Tên là:…………

Vợ/Chồng:……………

Con trai:……………

Con gái:……………

Ngụ tại:………………

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Văn khấn cúng phóng sinh

Nhân ngày rằm tháng 7 có thể phóng sinh chim, cá, tôm, cua v.v, tuyệt đối không phóng sinh rùa tai đỏ vì hủy hoại môi trường. Việc phóng sinh này tùy theo tín tâm và điều kiện của mỗi gia đình Phật tử, không bắt buộc.

Văn khấn cúng phóng sinh

Chúng sanh nay có bấy nhiêu

lắng tai nghe lấy những lời dạy răn

các ngươi trước lòng trần tục lắm

nên đời nay chìm đắm sông mê

tối tăm chẳng biết làm lành

gây bao tội ác, lạc vào trầm luân

do vì đời trước ác tâm

nên nay chịu quả khổ đau vô cùng

mang, lông, mai, vẩy, đội sừng

da trơn, nhám, láng, các loài súc sanh

do vì ghen ghét, tham sân

do vì lợi dưỡng hại người làm vui

do vì gây oán chuốc thù

do vì hại vật, hại sanh thoả lòng

do vì chia cách, giam cầm

do vì đâm thọc chịu bao khổ hình

cầu xin Phật lực từ bi

lại nhờ Phật tử mở lòng xót thương

nay nhờ Tăng chúng hộ trì

kết duyên Tam bảo thoát vòng khổ đau

hoặc sanh lên các cõi trời

hoặc liền thức tỉnh về nơi cõi lành

hoặc sanh lên được làm người

biết phân thiện ác, tránh điều lầm mê…

Chúng sanh quy y Phật

Chúng sanh Quy y Pháp

Chúng sanh Quy y Tăng…

Úm, ngâm ngâm ngâm (3 lần).

【#4】6 Bài Văn Khấn Cúng Rằm Tháng 7 Trong Nhà, Ngoài Trời

6 bài văn khấn cúng rằm tháng 7 trong nhà, ngoài trời…

6 bài văn khấn cúng rằm tháng 7 trong nhà, ngoài trời…

Kính chào quý độc giả!

Cũng sắp đến rằm tháng 7, Tháng Vu Lan Báo Hiếu, tháng cúng chúng sinh cô hồn. Trong bài viết này cơ sở đá mỹ nghệ Bảo Châu xin chia sẻ cùng quý độc giả những bài văn khấn cúng rằm tháng 7 để cúng gia tiên trong nhà, ngoài trời, tại nhà thờ họ hay ở chùa…

Văn khấn cúng thần linh thổ công thổ địa tại nhà và cơ quan vào rằm tháng 7

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Kính lạy!

– Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát

– Đức Mục Kiền Liên Tôn Giả.

Hôm hôm nay ngày rằm tháng 7 năm Mậu Tuất

Tín chủ con tên là: (đọc tên của gia chủ)

Ngụ tại: (đọc địa chỉ cụ thể của gia chủ)

Thành tâm sửa biện hương hoa, lễ vật đủ đầy cúng dâng bầy lên trước án!

Chúng con thành tâm kính mời:

Ngài Địa Đại Vương Bồ Tát; Ngài Mục Kiền Liên Tôn Giả.

Chúng con kính mời Ngài Kim Niên Đương cai Thái tuế chí đức tôn thần. Ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại Vương. Ngài Bản xứ thần linh thổ địa. Ngài Bản gia Táo quân và tất cả các vị thần linh cai quản trong khu vực này.

Cúi xin các ngài giáng lâm án tọa, xét soi chứng giám. Nay gặp tiết Vu Lan, ngày vong nhân được xóa tội. Chúng con đội ơn Tam bảo Phật trời phù hộ, thần linh các đấng chở che, công đức lớn lao nay không biết lấy gì đền đáp.

Do vậy, con xin kính dâng lễ bạc lòng thành nguyện mong nạp thụ. Phù hộ độ trì cho chúng con và cả gia đình, người người mạnh khỏe già trẻ bình anh, hướng về chính đạo. Lộc tài vượng tiến, gia đạo hưng long.

Giãi tấm lòng thành, cúi xin chứng giám!

Cẩn cáo!

Văn khấn rằm tháng 7 tại nhà thờ họ, gia tiên

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Kính lạy tổ tiên nội ngoại và chư vị hương linh!

Hôm nay là ngày rawmg tháng 7 năm Mậu Tuất.

Gặp tiết Vu Lan vào dịp Trung Nguyên, nhớ đến tổ tiên ông bà cha mẹ đã sinh thành ra chúng con, gây dựng cơ nghiệp, xây đắp nên nhân, khiến nay chúng con được hưởng âm đức.

Do vậy cho nên nghĩ đức cù lao khôn báo, cảm công trời biển khó đền. Chúng con sửa sang lễ vật, hương hoa kim ngân và các thứ lễ nghi bày trước linh tọa.

Thành tâm kính mời:

Các cụ Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Bá thúc đệ huynh, cô di tỷ muội và tất cả hương hồn trong nội tộc, ngoại tộc của họ…

Cúi xin thương xót cháu con, linh thiếng giáng về linh sàng chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho con cháu mạnh khỏe bình an, lộc tài vượng tiến, gia đạo hưng long, hướng về chính giáo.

Tín chủ lại mời: Các vị vong linh y thảo phụ mộc phảng phất ở trong đất này. Nhân lễ Vu Lan giáng tới linh tọa, chiêm ngưỡng tôn thần, hâm hưởng lễ vật, độ cho tín chủ muôn sự bình anh sở cầu xứng ý.

Giãi tấm lòng thành cúi xin chứng giám!

Cẩn cáo!

Văn khấn thần tài ngày rằm tháng 7

Nam Mô A Di Đà Phật!

Nam Mô A Di Đà Phật!

Nam Mô A Di Đà Phật!

Kính lạy:

Hoàng Thiên Hậu Thổ Chư Vị Tôn Thần

Đức Tài Thần Vị Tiền

Hôm nay là ngày rằm tháng 7 năm Mậu Tuất.

Tín chủ chúng chon là: (Tên gia chủ)

Cùng gia quyến ở tại: (Địa chỉ cụ thể)

Trước linh vị tài thần quỳ khấn rằng:

Thần quyền nảy mực ầm cân, giữ hết của kho trong thiên hạ, sẵn có sinh tài đạo lớn, thi ân cho cả mọi người. Từ nhà phú quý cho đến dân đen, chẳng ai không dốc lòng tôn kính thờ phụng ngài. Chúng con cũng đã được ban lợi lộc, để tỏ lòng biết ơn nay chuẩn bị xôi thịt, rượu trầu, vàng mã dâng cúng để tỏ chút chút lòng thành. Cúi mong đức tài thần giáng lâm trước án, thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho tín chủ chúng con, lộc tài thịnh vượng, công việc hanh thông, an minh khang thái. Mong được tôn thần chiếu cố.

Giãi tấm lòng thành cúi xin chứng giám!

Cẩn cáo!

Quý độc giả chú ý bài văn khấn thần tài này có thể áp dụng bất cứ khi nào cúng thần tài chứ không riêng gì ngày rằm tháng 7!

Bài văn khấn cúng cô hồn thập loại chúng sinh rằm tháng 7 ngoài trời

Tiết tháng 7 mưa dầm sùi sụt

Toát hơi may lạnh buốt xương khô

Não người thay, buổi chiều thu

Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng

Đường bạch dương bóng chiều man mác

Dịp đường lê lác đác sương sa

Lòng nào lòng chẳng thiết tha

Cõi dương còn thế nữa là cõi âm

Trong trường dạ tối tăm trời đất

Có khôn thiêng phảng phất u minh

Thương thay thập loại chúng sinh

Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người

Hương lúa đã không nơi nương tựa

Hồn mồ côi lần nữa đêm đen

Còn chi ai quý ai hèn

còn chi mà nói ai hiền ai ngu

Tiết đầu thu lập đàn giải thoát

Nước tịnh đàn rưới hạt dương chi

Muốn nhờ đức Phật từ bi

Giải oan cứu khổ hồn về Tây Phương

Cũng có kẻ tính đường kiêu hãnh

Chí những lăm cướp gánh non sông

Nói chi những buổi tranh hùng

Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau

Bỗng phút đâu mưa xa ngói lở

Khôn đem mình làm đứa sất phu

Lớn sang giàu, nặng oán thù

Máu tươi lai láng xương khô rã rời

Đoàn vô tự, lạc loài nheo nhóc

Quỷ không đầu, đớn khóc đêm mưa

Cho hay thành bại là cơ

Mà cô hồn biết bao giờ cho tan

Nào những kẻ màn lan trướng huệ

Những cậy mình cung quế Hằng Nga

Một phen thay đổi sơn hà

Mảnh thân chiếc lá, biết là về đâu?

Trên lầu cao, dưới cầu nước chảy,

Phận đã đành châm gãy bình rơi

Khi sao đông đúc vui cười

Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương

Đau đớn nhẽ! Không hương không khói

Luống ngẩn ngơ dòng suối rừng sim

Thương thay chân yếu tay mềm

Càng năm càng yếu một đêm một rầu

Kìa những kẻ mũ cao áo rộng

Ngọn bút son thác sống ở tay

Kinh luân găm một túi đầy

Đã đem quản nhạc lại ngày y chu

Thịnh mãn lắm oán thù càng lắm

Trăm loài ma mồ nấm chung quanh

Nghìn vàng khôn đổi được mình

Lầu ca viện hát tan tnahf còn đâu

Kẻ thân thích vắng sau vắng trước

Biết lấy ai bát nước nén nhang

Cô hồn thất thểu dọc ngang

Nặng oan khôn nhẽ tìm đường hóa sinh

Kìa những kẻ bày binh bố trận

Dấn mình vào cướp ấn nguyên nhung

Gió mưa sấm sét đùng đùng

Giãi thây trăm họ làm công một người

Khi thất thế tên rơi đạn lạc

Bãi xa trường thịt nát máu trôi

Mênh mông góc bể bên trời

Nắm xương vô chủ biết nơi chốn nào

Trời xây xẩm mưa gào gió thét

Khí âm huyền mờ mịt trước sau

Ngàn cây nội cỏ rầu rầu

Nào đâu điếu tế nào đâu chưng thường

Cũng có kẻ tính đường trí phú

Mình làm mình nhịn ngủ kém ăn

Ruột già không kẻ chí thân

Dẫu làm nên dễ dành phần cho ai

Khi nằm xuống không người nhắn nhủ

Của phù vân dẫu có như không

Sống thời tiền chảy bạc dòng

Thác không đem được một đồng nào đi

Khóc ma mướn thương gì hàng xóm

Hòm gỗ đa bó đóm đưa đêm

Ngẩn ngơ trong quãng đường chiêm

Nén hương giọt nước biết tìm vào đâu

Cũng có kẻ sắp cầu chữ quý

Dấn mình vào thành thị lân la

Mấy thu lìa cửa lìa nhà

Văn chương đã chắc đâu mà chen chân

Dọc hàng quán phải tuần mưa nắng

Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng

Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng

Anh em thiên hạ láng giềng người dưng

Bóng phần tử xa chừng hương khúc

Bãi tha ma kẻ dọc người ngang

Cô hồn nhờ gửi tha hương

Gió trăng hiu hắt lửa hương lạnh lùng

Cũng có kẻ vào sông ra bể

Cánh buồm bay chạy xế gió đông

Gặp cơn giông tố giữa dòng

Đem thân chôn rấp vào lòng kình nghê

Cũng có kẻ đi về buôn bán

Đòn gánh tre chín rạn hai vai

Gặp cơn mưa nắng giữa trời

Hồn đường vách xá lạc loại nơi nao

Cũng có kẻ mắc vào khóa lính

Bỏ cửa nhà đi gánh việc quan

Nước khe cơm ống gian nan

Giãi dầu nghìn dặm lầm than một đời

Buổi chiến trận mạng người như rác

Phận đã đành đạn lạc tên rơi

Lập lòe ngọn lửa ma chơi

Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương

Cũng có kẻ lỡ làng một kiếp

Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa

Ngẩn ngơ khi trở về già

Ai chồng con tá biết là cậy ai

Sống đã chịu một đời phiền não

Thác lại nhờ hớp cháo lá đa

Đau đớn thay phận đàn bà

Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu

Cũng có kẻ nằm cầu gối đất

Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi

Thương thay cũng một kiếp người

Sống nhờ hàng sứ chết vùi đường quan

Cũng có kẻ mắc oan tù rạc

Gửi mình vào chiếu lác một manh

Nắm xương chôn rấp góc thành

Kiếp nào cởi được oán thù ấy đi

Kìa những kẻ tiểu nhi tấm bé

Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha

Lấy ai bồng bế vào ra

U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng

Kìa những kẻ chìm sông lạc suối

Cũng có người xẩy cối ngã cây

Có người leo giếng đứt dây

Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành

Người thì mắc sơn tinh thủy quái

Người thì vương nanh khái ngà voi

Có người có đẻ không nuôi

Có người xa xẩy có người vong thương

Gặp phải lúc đi đường nhỡ bước

Cầu Nại Hà kẻ trước người sau

Mỗi người một nghiệp khác nhau

Hồn siêu phách lạc biết đâu bây giờ

Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi

Hoặc là nương ngọn suối chân mây

Hoặc là bãi cỏ bóng cây

Hoặc là quán nọ cầu này bơ vơ

Hoặc là nương thần thờ phật tự

Hoặc là nhờ đầu chợ cuối sông

Hoặc là trong khoảng đồng không

Hoặc nơi gò đống hoặc vùng lau tre

Sống đã chịu nhiều bề thảm thiết

Ruột héo kho da rét căm căm

Dãi dầu trong mấy mươi năm

Thở than dưới đất ăn nằm trong sương

Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn

Lặn mặt trời lẩn thẩn tìm ra

Lôi thôi bồng trẻ dắt già

Có khôn thiêng nhẽ lặng mà nghe kinh

Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ

Phóng hào quang cứu khổ độ u

Rắp hòa tứ hải quần chu

Não phiền rũ sạch oán thù rửa trong

Nhờ đức Phật thần thông quảng đại

Chuyển pháp luân trăm giới thập phương

Nhơn nhơn Tiêu Diện đại vương

Linh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh

Nhờ phép Phật uy linh dũng mãnh

Trong giấc mê khuya tỉnh chiêm bao

Mười loài là những loài nào

Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh

Kiếp phù sinh như hình bảo ảnh

Có chữ rằng vạn cảnh giai không

Ấy ai lấy phật làm lòng

Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi

Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo

Của có chi bát cháo nén hương

Gọi là manh áo thỏi vàng

Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên

Ai đến đây dưới trên ngồi lại

Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu

Phép thiêng biến ít thành nhiều

Trên nhờ tôn giả chia đều chúng sinh

Phật hữu tình từ bi phổ độ

Chớ ngại rằng có có không không

Nam mô phật, nam mô pháp, nam mô tăng

Nam mô nhất thiết siêu thăng thượng đài!

Văn khấn rằm tháng 7 tại chùa

Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Hôm nay là ngày….. tháng….. năm……………………………………………

Tín chủ con là …………………………………………………………………………………………..

Ngụ tại…………………………………………………………………………………

Cùng toàn thể gia đình thành tâm trước Đại Hùng Bảo Điện, nơi chùa.

Đức Phật Thích Ca, Đức Phật Di Đà, Mười phương chư Phật, Vô thượng Phật pháp, Quan Âm Đại sỹ, cùng hiền Thánh Tăng.

Đệ tử lâu đời lâu kiếp

Nghiệp chướng nặng nề

Nay đến trước Phật đài,

Thành tâm sám hối

Thề Tránh điều dữ

Nguyện làm việc lành,

Ngửa trông ơn Phật,

Quán Âm Đại sỹ,

Chư Thánh hiền Tăng,

Thiên Long Bát bộ,

Hộ pháp Thiên thần,

Từ bi gia hội.

Cúi xin các vị phù hộ cho chúng con và cả gia đình tâm không phiền não, thân không bệnh tật, hàng ngày an vui làm việc theo pháp Phật nhiệm màu, để cho vận đáo hanh thông, muôn thuở nhuần ơn Phật pháp.

Đặng xin cứu độ cho các bậc Tôn Trưởng cha mẹ, anh em, thân bằng quyến thuộc, cùng cả chúng sinh đều thành Phật đạo.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Sau cùng là văn khấn hóa vàng mã rằm tháng 7

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Kính lạy:

Hoàng Thiên Hậu Thổ Chư Vị Tôn Thần

Thần Vũ Lâm sứ giả

Hôm nay là ngày rằm tháng 7 năm Mậu Tuất

Tín chủ con là: (Tên gia chủ)

Ngụ tại: (Địa chỉ cụ thể nơi gia chủ ở)

Nay nhân tiết Vu Lan (ngày rằm tháng 7 năm Mậu Tuất) Âm dương cách trở ngày tháng vắng tăm. Lòng con cháu tưởng nhớ khôn nguôi, đã sắm sanh quần áo dụng cụ, tiện nghi khác chi lúc sống, nhưng xin theo lối đường âm, báo đáp ân thâm tỏ lòng hiếu kính. Xin được kính dâng Hương Linh gia tiên chúng con là:

Kể tên các Hương Linh, nơi an táng và tên đồ mã cúng…Mọi thứ được kê tên rành rõ trong giấy vong nhận, không lo ngại quỷ, chứng kiến chúng con trình lên trên sét, hội trí nhờ đức Vũ Lâm. Kính ngài cho phép vong linh được nhận.

Cẩn cáo!

【#5】Văn Khấn Và Mâm Lễ Cúng Giao Thừa Ngoài Trời Chuẩn Nhất

Cúng giao thừa là nghi lễ quan trọng của người Việt Nam trước khi Tết Nguyên Đán chính thức bắt đầu. Văn khấn Lễ giao thừa còn được gọi là văn khấn lễ Trừ Tịch, được cử hành vào thời khắc kết thúc năm cũ  và chuyển sang năm mới . Giây phút giao thời giữa năm cũ và năm mới luôn mang lại cảm giác khác lạ trong mỗi chúng ta. Ngoài việc cúng giao thừa trong nhà, mỗi gia đình thường chuẩn bị thêm mâm cúng giao thừa ngoài trời để cúng chào đón các vị quan hành khiển và phán quan năm mới.

Ý nghĩa lễ cúng giao thừa ngày tết nguyên đán

Mỗi năm có một vị hành khiển trông coi việc nhân gian, hết năm thì vị thần năm cũ lại bàn giao công việc cho vị thần năm mới, nên phải cúng giao thừa ở ngoài trời và đọc văn khấn cúng giao thừa ngoài trời để tiễn đưa thần năm cũ và đón rước thần năm mới. Có 12 vị hành khiển và 12 phán quan (phán quan là vị thần giúp việc cho các vị hành khiển). Mỗi vị làm một năm dưới dương gian và cứ sau 12 năm thì lại có sự luân phiên trở lại. Vương hiệu của 12 vị hành khiển và các phán quan là:

Năm Tý: Chu Vương Hành Khiển, Thiên Ôn hành binh chi thần, Lý Tào phán quan.

Năm Sửu: Triệu Vương Hành Khiển, Tam Thập lục thương hành binh chi thần, Khúc Tào phán quan.

Năm Dần: Nguy Vương Hành khiển, mộc tinh hành binh chi thần, tiêu tào phán quan.

Năm Mão: Trịnh Vương Hành khiển, thạch tinh hành binh chi thần, liễu tào phán quan.

Năm Thìn: Sở Vương Hành khiển, hoả tinh hành binh chi thần, biểu tào phán quan.

Năm Tị: Ngô Vương Hành khiển, thiên hao hành binh chi thần, hứa tào phán quan.

Năm Ngọ: Tần Vương Hành khiển, thiên mao hành binh chi thần, ngọc tào phán quan.

Năm Mùi: Tống Vương Hành khiên, ngũ đạo hành binh chi thần, lâm tào phán quan.

Năm Thân: Tề Vương Hành khiển, ngũ miếu hành binh chi thần, tống tào phán quan.

Năm Dậu: Lỗ Vương Hành khiển, ngũ nhạc hành binh chi thần, cự tào phán quan.

Năm Tuất: Việt Vương Hành khiển, thiên bá hành binh chi thần, thành tào phán quan.

Năm Hợi: Lưu Vương Hành khiển, ngũ ôn hành binh chi thần, nguyễn tào phán quan.

Chú ý là trong các bài cúng giao thừa ngoài trời đều khấn danh vị của các vị quan hành khiển cùng các vị phán quan nói trên, năm nào thì khấn danh vị của danh vị của quan hành khiển năm ấy.

Mâm cúng giao thừa giao thừa phải được chuẩn bị chu đáo, trang trọng với lòng thành kính.

Vào đúng thời điểm giao thừa, người chủ gia đình phải thắp đèn, nến, rót rượu, rồi khấn vái trước án.

Văn khấn cúng giao thừa có thể viết vào giấy để đọc, sau khi hết 3 tuần hương thì hoá tờ giấy viết văn khấn cùng vàng mã dâng cúng.

Nên cúng Giao thừa trong nhà hay ngoài trời trước?

Vấn đề cúng giao thừa như thế nào thì không phải ai cũng biết, lễ ngoài trời phải làm trước nhằm “nghênh tân, tiễn cửu” tức là đón quan hành khiển mới, tiễn quan hành khiển cũ.

Thông thường lễ cúng giao thừa ngoài trời sẽ có xôi gà và hoa quả, riêng lễ cúng này không cần dùng bát hương mà có thể cắm hương vào các đồ lễ cúng.

Chuẩn bị lễ vật cúng giao thừa ngoài trời

  • Rượu, bia và các loại đồ uống khác
  • Mâm cỗ mặn ngày Tết đầy đặn, thơm ngon, tinh khiết với bánh chưng; giò – chả; thủ lợn hoặc con gà trống luộc; các loại xôi; các món ăn mặn khác tùy theo nhu cầu của gia đình.

Bài văn khấn cúng giao thừa ngoài trời 

Bài văn khấn cúng giao thừa ngoài trời năm Tân Sửu số 1

Nam mô A di đà Phật (3 lần)

– Con kính lạy chín phương trời, mười phương chư phật, chư phật mười phương

– Con kính lạy Đức Đương Lai Hạ Sinh Di Lặc Tôn Phật

– Con kính lạy Đức Bồ-tát Quán Thế Âm cứu nạn cứu khổ chúng sinh

– Con kính lạy Hoàng thiên, Hậu thổ, chư vị tôn thần

– Con kính lạy ngài cựu niên đương cai Hành khiển

– Con kính lạy ngài đương niên Thiên quan

– Con kính lạy các ngài Ngũ phương, Ngũ hổ, Long mạch, Táo quân, chư vị tôn thần.

Nay là phút giao thừa năm Kỷ Hợi để bước sang năm Tân Sửu 2021

Chúng con là: ……………………………………………………….., sinh năm: ……………………….

Hành canh: ………………….. tuổi

Cư ngụ tại số nhà:………, ấp/khu phố:………………, xã/phường ………………………………..

Quận/huyện/ thành phố ……………………………tỉnh/thành phố …………………………………….

Nhân phút thiêng liêng giao thừa vừa tới, năm cũ qua đi, đón mừng năm mới, tam dương khang thái, vạn tượng canh tân. Nay ngài Thái Tuế tôn thần trên vâng lệnh Ngọc Hoàng Thượng đế, giám sát vạn dân, dưới bảo hộ sinh linh tảo trừ yêu nghiệt. Quan cũ về triều cửa khuyết, lưu phúc, lưu ân. Quan mới xuống thay, thể đức hiếu sinh, ban tài tiếp lộc. Nhân buổi tân xuân, tín chủ chúng con thành tâm, sửa biện hương hoa phẩm vật, nghi lễ cung trần, dâng lên trước án, cúng dàng Phật thánh, dâng hiến Tôn thần, đốt nén tâm hương, dốc lòng bái thỉnh.

Chúng con kính mời: Ngài cựu niên đương cái Thái tuế, ngài tân niên đương cai Thái tuế chí đức tôn thần, ngài bản cảnh Thành hoàng chư vị đại vương, ngài bản xứ thần linh Thổ địa, ngài Hỷ thần, Phúc đức chính thần, các ngài Ngũ phương, Ngũ thổ, Long mạch, Tài thần, chư vị bản gia Táo quân và chư vị thần linh cai quản ở trong xứ này, cúi xin giáng lâm trước án thụ hưởng lễ vật.

Nguyện cho tín chủ, minh niên khang thái, vạn sự tốt lành, bốn mùa tám tiết được chữ bình an, gia đạo hưng long thịnh vượng, bách sự hanh thông, ngày ngày được hưởng ơn trời, Phật, chư vị tôn thần. Chúng con kính cẩn tiến dâng lễ vật, thành tâm cầu nguyện. Cúi xin chín phương trời, mười phương chư phật cùng chư vị tôn thần chứng giám phù hộ độ trì.

Nam mô A di đà Phật (3 lần, 3 lạy)

Bài văn khấn cúng giao thừa ngoài trời 

Niên hiệu : Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

T.P (Tỉnh):………………………………..Quận (huyện):…………………………………………………….

Phường (Xã):……………..Khu phố (Thôn):……………Xứ đất:…………………………………………

(Hoặc: Số nhà :……… Đường:………… Khu phố :…………….Phường :

Quận :…………………….Tp:………………………………………………………………………………)

Hôm nay nhân lễ giao thừa năm Tân Sửu 2021

Tín chủ chúng con là:…………………………………………………………..Tuổi:……………………

– Ngài Cựu niên thiên quan Lỗ Vương Hành khiển, Ngũ Nhạc hành binh chi thần, Cự Tào phán quan. Ngài Đương niên thiên Chu Vương Hành Khiển, Thiên Ôn hành binh chi thần, Lý Tào phán quan.

– Bản gia Thổ công Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quan vị tiền.

– Nhân tiết Giao thừa, thời khắc huy hoàng, cung thiết hương đăng, nghênh hồi quan cũ. Cung đón tân quan, lai giáng phàm trần, nghênh xuân tiếp phúc. Tín chủ chúng con, thiết lễ tâm thành, nghênh tống lễ nghi.

* Cung thỉnh cựu quan Chu Vương Hành Khiển, Thiên Ôn hành binh chi thần, Lý Tào phán quan. về chầu đế khuyết.

* Cung nghênh tân quan Lưu Vương Hành khiển, Ngũ Ôn hành binh chi thần, Nguyễn Tào phán quan, lai giáng nhân gian, trừ tai, giải ách, lưu phúc, lưu tài.

Tín chủ chúng con, chí thiết tâm thành, cầu nguyện :

-Thế giới hoà bình, Quốc gia hưng thịnh, Xuân đa hỷ khánh, Hạ bảo bình an, Thu miễn tai ương, Đông nghênh bá phúc.

– Gia nội tăng tứ trinh tường chi phúc thọ. Phù hộ độ trì cho tín chủ chúng con nhân khang vật thịnh, bốn mùa hưởng chữ an vui, tâm thiết thái bình thịnh vượng.

– Gia trung khang thái, tài như xuyên chí, lộc tự vân lai, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, cầu bình an đắc như sở nguyện.

– Nam tử thanh cao, nữ nhi đoan chính, học hành tinh tiến, thương mại hanh thông, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

Thượng chúc Phật nhật tăng huy, Pháp luân thường chuyển, phong điều vũ thuận, quốc thái dân an.

Cánh nguyện canh tân xã hội, xứ xứ thường an thường thịnh, thế thế thuần phong mỹ tục vãn hồi, đạo đức cương duy, tăng long phúc thọ.

Âm siêu, dương khánh, hải yến hà thanh, pháp giới chúng sinh, tề thành Phật đạo.

Tín chủ chúng con thành tâm kính dâng văn sớ, cúi xin Phật thánh chứng minh, các quan thuỳ từ chiếu giám.

Phục duy cẩn cáo!

(Lạy ba lạy, đứng dậy xá ba xá)

Sau khi cúng Giao thừa xong, các gia chủ khấn Thổ Công, tức là vị thần cai quản trong nhà (thường bàn thờ tổ tiên ở giữa, bàn thờ Thổ Công ở bên trái) để xin phép cho tổ tiên về ăn Tết.

Trong các bài văn khấn giao thừa khi dâng hương ngoài trời đều khấn danh vị của các vị quan hành khiển cùng các vị phán quan nói trên, năm nào thì khấn danh vị của danh vị của quan hành khiển năm ấy. Vương hiệu vị Hành khiển và Phán quan năm Tân Sửu 2021 là Việt Vương Hành khiển, Thiên Bá hành binh chi thần, Thành Tào phán quan.

【#6】Cách Cúng Đám Giỗ: Lễ Vật, Văn Khấn, Thời Gian

Đám giỗ là một trong những nghi thức ngàn xưa mà ông bà ta để lại. Được con cháu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đây được xem là nét văn hóa truyền thống dân tộc Việt Nam. Đám giỗ là phong tục giúp con cháu ghi nhớ ngày mất của ông bà tổ tiên. Nhằm thể hiện lòng thành kính mà con cháu gửi đến công lao sinh thành dưỡng dục của ông bà, cha mẹ. Thường vào ngày đám giỗ, con cháu sẽ chuẩn bị lễ vật và m âm cơm cúng rất chu đáo nhằm dâng lên gia tiên. Mong tổ tiên phù hộ con cháu luôn gặp may mắn, tài lộc và bình an.

Cúng đám giỗ là gì?

Đám giỗ là ngày con cháu tưởng nhớ người đã chết theo phong tục truyền thống. Ngày cúng giỗ thường là ngày ra đi của người chết. Nhằm thể hiện sự thương xót, nhớ thương về người quá cố. Ngày đám giỗ còn được gọi là ngày đoàn kết. Bởi vào ngày này thường tất cả các thành viên trong gia đình sẽ sum họp bên nhau. Dù có bận rộn đến mấy thì con cháu luôn sắp xếp thời gian để vào tham dự ngày tưởng nhớ bậc sinh thành ra đi.

Theo phong tục truyền thống thì đám giỗ sẽ chia thành rất nhiều ngày cúng bái để tưởng nhớ người mất. Nhưng sẽ có 4 ngày cúng giỗ quan trọng mà bạn và gia đình không nên bỏ qua.

  • Cúng giỗ 49 ngày
  • Cúng giỗ 100 ngày
  • Cúng giỗ đầu( Tiểu đường)
  • Cúng giỗ thường( Cát Kỵ)

Ý nghĩa ngày đám giỗ trong phong tục người Việt

Trong phong tục truyền thống của dân tộc, đám giỗ là ngày con cháu tưởng nhớ đến ngày mất của ông bà, cha mẹ. Vào ngày này, con cháu sẽ sum vầy bên nhau để chuẩn bị mâm lễ vật dâng lên các bậc sinh thành. Mong ông bà, gia tiên phù hộ con cháu được bình an, gặp nhiều may mắn và tài lộc đông đầy.

Tùy theo điều kiện kinh tế của mỗi gia đình mà mâm lễ vật cúng đám giỗ hoàn toàn khác nhau. Có gia đình chuẩn bị rất tươm tất lại có gia đình chuẩn bị rất đơn giản. Chủ yếu là lòng thành mà con cháu dâng lên gia tiên. Mong gia tiên yên nghỉ và phù hộ con cháu mọi việc đều thuận lợi và hanh thông.

Cách cúng đám giỗ chuẩn nhất

1. Cúng đám giỗ vào ngày nào là đúng

Đám giỗ là phong tục mà con cháu tưởng nhớ đến người đã mất. Ngày đám giỗ cũng chính là ngày ra đi của người đã mất. Sau khi người mất ra đi, sẽ có rất nhiều phong tục cúng bái nhưng bạn và gia đình không quên những ngày cúng giỗ sau đây:

Cúng giỗ 49 ngày

Đây là ngày cúng giỗ sau đi người mất ra đi đúng 49 ngày. Cách cúng này giúp linh hồn của người mất sớm được siêu thoát. Trong ngày cúng giỗ 49 ngày này, con cháu sẽ chuẩn bị hoa quả, mâm lễ vật chay hoặc mặn dâng lên tổ tiên. Nhằm mong muốn người đã mất ra đi thanh thản và thoát tục. Bên cạnh đó, vào ngày cúng 49 ngày bạn và gia đình nên tụng đọc kinh Phật hoặc đọc bài văn khấn cúng ông bà tổ tiên nhằm cầu bình an, may mắn.

Cúng giỗ 100 ngày

Sau khi cúng giỗ 49 ngày thì bạn và gia đình nên chuẩn bị mâm lễ vật cúng giỗ 100 ngày. Ngày cúng giỗ này thường cúng vào ngày 100 kể từ người mất ra đi. Ngày này thường con cháu sum vầy rất đông đủ, nhằm tưởng nhớ những kỉ niệm về người quá cố.

Cúng giỗ đầu( Tiểu đường)

Ngày đám giỗ đầu tiên còn gọi là ngày giỗ giáp năm. Tức là ngày cúng giỗ sau 1 năm của người mất ra đi. Thường ngày giỗ giáp năm này được con cháu chuẩn bị mâm lễ vật rất chu đáo và tươm tất.

Cúng giỗ thường( Cát Kỵ)

Sau khi chấm dứt tang kỳ, sau mỗi năm con cháu sẽ tưởng nhớ ngày người mất ra đi gọi là ngày giỗ thường. Thường lễ cúng giỗ thường này sẽ cách ngày người mất ra đi đúng 3 năm. Tùy theo điều kiện kinh tế của mỗi gia đình mà mâm lễ vật cúng giỗ khác nhau. Chủ yếu là lòng thành mà con cháu dâng lên gia tiên, ông bà cha mẹ đã mất. Mong tổ tiên phù hộ con cháu được bình an, may mắn.

2. Chuẩn bị lễ vật cúng đám giỗ

Tùy theo điều kiện kinh tế của mỗi gia đình mà mâm lễ vật cúng đám giỗ có sự khác biệt. Có gia đình chuẩn bị mâm cơm chay lại có gia đình chuẩn bị mâm cơm mặn.

Thường trong các lễ cúng đám giỗ mâm lễ vật đa phần giống nhau.

  • Các món ăn được làm từ món mặn hoặc món chay
  • Hoa tươi
  • Trái cây
  • Hương thắp
  • Rượu trà
  • Bánh ngọt
  • Vàng mã hóa sớ

3. Vân khấn cúng đám giỗ

Cúng giỗ 49 ngày Nam mô a di Đà Phật! (3 lần) Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương. Hôm nay là ngày….tháng….năm….., âm lịch tức ngày…..tháng….năm…………….dương lịch. Tại (địa chỉ): …………….. Con/cháu/ phu/ thê là………cùng các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy. Nay nhân ngày lễ Chung Thấtt heo nghi lễ cổ truyền, có kính cẩn sắm các thứ lễ vật gồm có:………………………….. Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành. Trước linh vị của …tên người đã khuất… Xin kính cẩn trình thưa rằng: Cha/ mẹ/vợ/ chồng/con/cháu… đi đâu, vội vàng chi mấy; Trời cao có thấy, thảm thiết muôn phần thương thay! Đời người giấc mộng, hình ảnh phù vân; Ngày tựa chim hay, tiết vừa bốn chín (hoặc trăm ngày); Thoi đưa thấm thoát nay đã bảy tuần (hoặc trăm ngày). Cây lặng gió lay, khóc làm sao được; Lưng cơm đĩa muối, gọi chút đền ân. Xin cha (mẹ) về thượng hưởng. Cúng giỗ 100 ngày Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật! Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương. Hôm nay là ngày….tháng….năm….., âm lịch tức ngày…..tháng….năm…………….dương lịch. Tại (địa chỉ):……………………… Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là………vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ mẫu nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy. Nay nhân ngày lễ Chung Thất (lễ Tốt Khốc) theo nghi lễ cổ truyền, có kính cẩn sắm các thứ lễ vật gồm:………………………….. Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành. Trước linh vị của Hiển:………………… chân linh Xin kính cẩn trình thưa rằng: Núi Hỗ sao mờ, nhà Thung bóng xế. (Nếu là cha)/ Núi Dĩ sao mờ, nhà Huyên bóng xế. (nếu là mẹ) Tình nghĩa cha sinh mẹ dưỡng, biết là bao; Công ơn biển rộng, trời cao khôn xiết kể. Mấy lâu nay: Thở than trầm mộng mơ màng; Tưởng nhớ âm dương vắng vẻ. Sống thời lai lai láng láng, hớn hở chừng nào! Thác thời kể tháng kể ngày, buồn tênh mọi lẽ! Ngày qua tháng lại, tính đến nay Tốt Khốc tới tuần; Lễ bạc tâm thành gọi là có nén nhang kính tế. Hiển…………………………… Hiển…………………………… Hiển…………………………… Cùng các bị Tiên linh, Tổ Bá, Tổ Thúc, Tổ Cô và các vong linh phụ thờ theo Tiên Tổ cùng về hâm hưởng. Kính cáo; Liệt vị Tôn thần: Táo Quân, Thổ Công, Thánh sư, Tiên sư, Ngũ tự Gia thần cùng chứng giám và phù hộ cho tòa ngia được mọi sự yên lành tốt đẹp. Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật! Cúng giỗ đầu( Tiểu đường) Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. – Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương. – Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân. – Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này. – Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ tiên nội ngoại họ Tín chủ (chúng) con là:…………………………………………………. Tuổi……………………………………………. Ngụ tại:…………………………………………………………………………………………………………………………. Hôm nay là ngày……………tháng……….năm…………….(Âm lịch). Chính ngày Giỗ Đầu của:…………………………………………………………………………………………………… Năm qua tháng lại, vừa ngày húy lâm. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Nhân ngày chính giỗ, chúng con và toàn gia con cháu, nhất tâm sắm sửa lễ vật kính dâng, đốt nén tâm hương dãi tỏ tấc thành. Thành khẩn kính mời:……………………………………………………………………………………………………….. Mất ngày tháng năm (Âm lịch):……………………………………………………………………………………………. Mộ phần táng tại:……………………………………………………………………………………………………………… Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu bình an, gia cảnh hưng long thịnh vượng. Tín chủ con lại xin kính mời các cụ Tổ Tiên, nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá thúc, Cô Di và toàn thể các Hương linh gia tiên đồng lai hâm hưởng. Tín chủ lại mời vong linh các vị Tiền chủ, Hậu chủ trong đất này cùng tới hâm hưởng. Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì. Phục duy cẩn cáo! Cúng giỗ thường( Cát Kỵ) Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật! Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con kính lạy Đức Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân.

Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

Con kính lạy Tổ Tiên nội ngoại họ: ………………… Tín chủ (chúng) con là: ……………………

Ngụ tại: ……………………

Hôm nay là ngày ……… tháng ………. Năm…………

Là chính ngày Cát Kỵ của ………………………………

Thiết nghĩ ………. (dài) vắng xa trần thế, không thấy âm dung. Năm qua tháng lại ngày húy lâm. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Ngày mai Cát Kỵ, hôm nay chúng con và toàn gia con cháu thành tâm sắm lễ, quả cau, lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án thành khẩn kính mời ………………

Mất ngày …………….. tháng …………. năm ……………

Mộ phần táng tại: ……………………

Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia cảnh hưng long thịnh vượng. Con lại xin kính mời các vị Tổ Tiên nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá Thúc, Huynh Đệ, Cô Di, và toàn thể các Hương linh gia tiên đồng lai hâm hưởng. Tín chủ con lại xin kính mời ngài Thổ Công, Táo Quân và chư vị Linh thần đồng lai giám cách thượng hưởng. Tín chủ lại mời các vị vong linh Tiền chủ, Hậu chủ nhà này, đất này cùng tới hâm hưởng. Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì. Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

【#7】Văn Khấn Thánh Sư

Văn khấn Thánh sư – Ông Tổ một nghề

Cúng tổ nghề sân khấu – Mỗi nghề có một vị Thánh sư. Các vị Thánh sư trước đây có thể cũng chỉ là những người thường, vì có công dạy nghề cho dân nên được tôn thờ cho đến ngày nay. Để tỏ lòng biết ơn đến Ông Tổ nghề.

Hàng tháng, bên cạnh những ngày cúng sóc vọng, tuần tiết, giỗ tết, trong khi cúng gia tiên và Thổ công, người ta còn cúng Thánh sư. Trong một năm, lễ cúng Thánh sư quan trọng nhất nhằm vào ngày kỵ nhật của Thánh sư.

Các vị Thánh sư (ông tổ nghề) được mọi người tôn trọng. Tại nhiều nơi, những người cùng làm một nghề, cùng buôn một thứ, hợp nhau thành phường, có miếu thờ Thánh sư riêng, giỗ Thánh sư gọi là giỗ phường. Tuy nhiên, tại các tư gia, người ta vẫn cúng riêng để tỏ lòng tưởng nhớ tới ông tổ nghề mình.

Mỗi nghề có một vị Thánh sư. Các vị Thánh sư trước đây có thể cũng chỉ là những người thường, vì có công dạy nghề cho dân nên được tôn thờ.

Những người hành nghề, mỗi khi gặp việc trắc trở, đều làm lễ cầu khẩn Thánh sư phù hộ cho gặp may mắn.

Bài văn khấn cúng Tổ nghề sân khấu:

Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật!

Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ thần quân.

Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quan trong xứ này.

Tín chủ con là …………………………………………………………………….

Ngụ tại…………………………………………………………………………………

Hôm nay là ngày… tháng….. năm……….. tín chủ con thành tâm sắm lễ, hương hoa trà quả, đốt nén tâm hương dâng lên trước án, thành tâm kính mời: Đức Hoàng thiên hậu Thổ Chư vị Tôn Thần, ngài Bản cảnh Thành Hoàng, ngài Bản xứ Thổ Địa, ngài Bản gia Táo Quân cùng Chư vị Tôn thần.

Con kính mời ngài Thánh sư nghề……………………………………………..

Cúi xin Chư vị Tôn thần Thánh sư nghề……………………………………… thương xót tín chủ, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù Trì tín chủ chúng con toàn gia an lạc, công việc hanh thông. Người vượng, lộc tài tăng tiến, tâm đạo mở mang, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật!

Các tổ ngành sân khấu Việt Nam

  • Phạm Thị Trân là bà tổ nghề hát chèo Việt Nam.
  • Liêu Thủ Tâm, Đào Tấn là các vị tổ của nghệ thuật sân khấu tuồng.
  • Tống Hữu Định (1896-1932) là ông tổ Cải Lương. Năm Tú (Châu Văn Tú) ở Mỹ Tho, cũng là người được cho là có công nhất trong việc gây dựng lối hát Cải lương buổi ban đầu.
  • Vũ Đình Long tổ nghề kịch nói.
  • Trần Quốc Đĩnh tổ nghề hát xẩm.
  • Đinh Dự tổ nghề ca trù Việt Nam. Ông được nhiều vùng có di sản ca trù thờ phụng như Hà Nội, Hải Dương, Bắc Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình.] Ca trù sau này còn có một số vị tổ nghề địa phương như: Phan Tôn Chu tổ nghề ca trù Cổ Đạm ở Nghi Xuân, Hà Tĩnh; Đào Thị Huệ tổ nghề ca trù Đào Đặng, Hưng Yên.
  • Nguyễn Lan Hương (1887 – 1949) tổ nghề nhiếp ảnh (chủ cửa hiệu Hương Ký, là một hiệu ảnh ở phố Hàng Trống, bây giờ là khách sạn Phú Gia). Có thông tin khác lại cho là Đặng Huy Trứ là tổ nghề nhiếp ảnh.

Giỗ tổ sân khấu năm 2021 ngày mấy?

Hằng năm vào 3 ngày 11, 12, 13 Tháng Tám Âm Lịch, các ca nghệ sĩ cử hành giỗ Tổ, trong đó ngày 11 là cúng chay, ngày 12 cúng mặn và 13 là cúng mời các vong linh của những nghệ sĩ đã khuất trở về cùng kỷ niệm ngày giỗ tổ.

Thường vào ngày 12 tháng Chạp hằng năm, mọi thợ may trên khắp cả nước lại thành tâm kính tổ chức Giỗ Tổ để ngưỡng vọng công đức Tổ nghề may và các vị tiền bối có công lưu truyền thủ nghệ. Giỗ tổ nghề may ngày càng trở thành thông lệ và là một cách hàng xử văn hóa của bộ phận người lao động đối với truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc chúng ta.

Văn khấn cúng giỗ Tổ ngành xây dựng (thợ nề, thợ xây) vào ngày 20 tháng Chạp hằng năm, cách cúng Tổ ngành xây dựng, mâm cúng và lễ vật gồm những gì? Bài cúng tổ ngành xây dựng như nào? Mời các bạn tham khảo qua đường link trên.

Với bài văn khấn tổ nghề, tổ nghiệp bên trên, các bạn có thể áp dụng để cúng tổ nghề mình muốn:

  • Cúng tổ nghề Rèn
  • Cúng tổ nghề Mộc
  • Cúng tổ nghề Đúc Đồng
  • Cúng tổ nghề Trang điểm
  • Cúng tổ nghề Khảm trai
  • Cúng tổ nghề Gốm sứ
  • Cúng tổ nghề làm bún
  • Cúng tổ nghề vàng bạc…

Đôi điều về tín ngưỡng thờ Tổ nghề

Tổ nghề (còn gọi là Tổ Sư , Thánh sư, Nghệ sư – người phát minh, sáng lập, gây dựng nên một nghề (thường là nghề thủ công mỹ nghệ) hoặc là người thứ nhất đem nghề ở nơi khác truyền lại cho dân chúng trong một làng hay miền nào đó, được người đời sau tôn thờ như bậc thánh. Tổ nghề có thể là nam giới hoặc nữ giới.

Nghề thủ công mỹ nghệ ở nước ta rất phát triển, có truyền thống lâu đời, sản phẩm phong phú, đa dạng về chất liệu, kiểu loại. Có thể kể một số nghề như: Nghề dệt chiếu cói, dệt the, dệt lụa, dệt nhiễu, thêu, thợ may, thợ mộc, nghề kim hoàn, chạm bạc, khảm xà cừ, nghề giấy, nghề mây tre, làm nón, nghề sơn, chạm khắc đá, đúc đồng, nghề gốm…. Những người làm nghề thường ở thành phường nhóm, làng (làng nghề). Biết ơn những vị sáng lập truyền nghề cho mình và di dưỡng đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, họ thờ phụng các vị Tổ của nghề mình đang làm. Có thể lập bàn thờ Tổ nghề tại gia, và vào ngày tuần tiết, sóc, vọng, giỗ tết, đều có cúng cấp. Nhưng phổ biến hơn cả là các phường nghề, làng nghề lập miếu, đền riêng để thờ Tổ nghề riêng của nghề mà phường, làng mình đang làm. Đặc biệt, nhiều vị Tổ nghề còn được thờ làm thành hoàng làng.

Trong một năm, lễ cúng Tổ nghề quan trọng nhất là nhằm vào ngày kỵ nhật của vị Tổ nghề, đối với những vị mọi người đều biết hoặc là một ngày nhất định mà mọi người trong phường, trong làng cùng theo một nghề kể là ngày kỵ nhật của Tổ nghề mình.

Thờ phụng Tổ nghề, người ta cầu mong Ngài phù hộ cho công việc được suôn sẻ, buôn may bán đắt hoặc lúc đi xa tránh được mọi sự rủi ro. Sau khi công việc có kết quả, người ta làm lễ tạ ơn. Ngày kỵ nhật Tổ nghề tại các phường còn gọi là ngày giỗ phường.

Các Tổ Sư ngành nghề

Bà chúa nghề tằm

Thời vua Lê Thánh Tông, một viên quan trong triều khi già về Nghi Tàm mở trường dạy học. Một hôm ra ngắm cảnh hồ, ông bỗng thiu thiu ngủ. Trong mộng, ông lạc vào thiên đình, thấy một vị quan quỳ xuống tâu xin Ngọc Hoàng cho công chúa Quỳnh Hoa xuống đầu thai họ Trần. Ngọc Hoàng chấp thuận, Trần Vĩ được viên quan trao vào tay một cô con gái.

Chẳng bao lâu sau, vợ ông có mang sinh một đứa con gái đúng như trong mộng. Ông bèn đặt tên là Quỳnh Hoa. Lớn lên, Quỳnh Hoa được gả cho Liễu Nghi, tri phủ Hà Trung.

Khi Chiêm Thành sang xâm lược, vợ chồng Liễu Nghi đều ra trận đánh giặc. Thắng trận, vua phong cho Liễu Nghi chức Đô Đài Ngự sử và Quỳnh Hoa là quận phu nhân. Khi Liễu Nghi mất, Quỳnh Hoa xin về Nghi Tàm. Vốn là người thạo việc trồng dâu, nuôi tằm, về Nghi Tàm, bà chuyên tâm lo nghề ấy rồi phổ biến cho dân chúng. Nhờ vậy dân toàn vùng biết nghề này. Sau khi mất, Quỳnh Hoa được tôn là bà chúa nghề tằm, hiện có gần 60 làng thờ bà.

Tổ Sư nghề dệt

Ông Nguyễn Diệu, người ái Châu, Thanh Hoá, cùng vợ họ Mai tới kinh thành Thăng Long làm ăn buôn bán. Hai vợ chồng cùng nhau mở xưởng dệt, công việc ngày càng phát đạt. Vài năm sau, ông bà sinh được một cô con gái đặt tên là Nguyễn Thị La. Lớn lên nàng nối nghiệp cha. Với đôi bàn tay khéo léo, vải nàng dệt đã bền lại đẹp, ai thấy cũng phải thán phục.

Năm 18 tuổi, nàng kết hôn cùng Trần Thưởng người Hồng Châu, Hưng Yên. Vài năm sau, Trần Thưởng thi đỗ được bổ làm quan coi sóc việc hộ. Với mong muốn được mở mang nghề dệt, chàng xin vua cho lập một phường dệt ở ven Hồ Tây. Nàng La chuyển về đó lo đảm đương việc dạy dỗ dân làng nghề dệt vải. Từ đó, nghề dệt vải ở đây được phát triển, danh tiếng vang xa.

Trong một lần cầm quân ra trận, Trần Thưởng không may tử trận. Được tin chồng, nàng La liền tự vẫn chết theo.

Vua Huệ Tông thương xót cho lập miếu thờ nàng ở phường Nhược Công, phong cho nàng làm Thụ La công chúa. Ghi nhớ công ơn dạy nghề của bà, dân chúng gọi bà là Bà chúa dệt.

Nghề nhuộm

Ông Tổ nghề nhuộm không rõ tên được thờ ở số 18 phố Thợ Nhuộm, Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Nghề nhuộm có ở rất nhiều nơi tại Hà Nội như: Hàng Đào, làng Đồng Lầm, Võng Thị. Không rõ cụ thể tên Tổ nghề nhuộm. Nghề nhuộm phố Hàng Đào có gốc làng Đan Loan, phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Nghề nhuộm làng Võng Thị có gốc làng Quần Anh, tỉnh Nam Hà.

Nghề thêu

Ông Tổ nghề thêu là Lê Công Hành, tên thật là Trần Quốc Khái, người làng Nguyên Bì: xã Quất Động, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây (nay là thôn Quất Động, xã Hồng Thái, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây). Ông sinh ngày 18 tháng giêng năm Bính Ngọ (1606) mất ngày 12 tháng 6 năm Tân Sửu (1661), từng đỗ tiến sĩ. Trong một chuyến đi sứ phương Bắc, nhờ mưu mẹo và trí thông minh, ông đã học được nghề thêu và nghề làm lọng. Về nước, ông truyền bá nghề này cho dân làng Quất Động và một số làng lân cận như: Đào Xá, Tầm Xá, Hướng Dương… Dân thợ thêu các làng này di cư ra Thăng Long hành nghề cư trú tập trung tại hai nơi: phố Yên Thái và đoạn cuối phố Hàng Trống (trước kia gọi là phố Hàng Thêu), và rải rác ở các phố Hàng Nón, Hàng Mành, Hàng Chỉ…

Nghề đúc đồng

Tổ Sư nghề đúc đồng là ông Khổng Minh Không được thờ ở số 5 phố Châu Long, quận Hoàn Kiếm. Trong các tài liệu lịch sử không có tên Khổng Minh Không. Đây có lẽ là dân gian hoà nhập Dương Không Lộ và Nguyễn Minh Không làm một thành Khổng Minh Không. Dương Không Lộ và Nguyễn Minh Không đều được coi là Tổ Sư nghề đồng của nước ta. Lĩnh nam chích quái có viết về Dương Không Lộ như sau: Ông họ Dương tên Không Lộ, vốn xưa làm nghề đánh cá. Một hôm, ông đang đứng ở bến sông, bỗng thấy có một người hình dung cổ quái, đứng bên đường, nhìn ông rất lâu, rồi cười mà nói: Người là người cõi tiên sao không học đạo mà lại đi câu cá? Nói xong, liền phất tay áo ra đi. Không Lộ định hỏi thêm thì không thấy đâu nữa. Từ đó, ông bỏ nghề đánh cá vào tu ở chùa Nghiêm Quang – Thanh Hoá lấy tên là Không Lộ thiền sư. Sau đến thời Lý Thánh Tông về tu ở chùa Hà Trạch – Hà Bắc. Ông có pháp thuật cao siêu có thể bay trên không, đi trên mặt nước, sai khiến cả thú dữ, biến hoá muôn hình vạn trạng. Đặc biệt ông rất giỏi nghề đúc chuông nặn tượng.

Một lần ông đi sang Trung Quốc, quyên đồng được hàng trăm vạn tạ, đựng vào một cái bao lớn mà các thuyền phương Bắc không thể chở nổi. Ông bèn hoá phép lấy nón làm thuyền, lấy gậy làm chèo, cứ thế chèo chống, chở đồng về, đúc thành bốn đồ quý (Tứ bảo) gọi là Yên nam tứ quý.

Sự tích của Không Lộ dân gian nhập vào với Minh Không. Điều này còn tìm thấy trong văn bia chùa Keo (Thái Bình), chùa Keo (Hành Thiện – Nam Hà), chùa Quỳnh Lâm (Đông Triều – Quảng Ninh), chùa La Vân (Quỳnh Phụ – Thái Bình). Nên sau này ông Tổ nghề đúc đồng lúc thì được gọi là Nguyễn Minh Không, lúc thì lại được coi là Không Lộ.

Nghề làm bún

Ông Tổ nghề làm bún được thờ tại Mễ Trì, Nam Từ Liêm, Hà Nội.

Bún là một loại thực phẩm được nhiều người Hà Nội ưa thích. Nó góp phần làm phong phú thêm cho nghệ thuật ẩm thực của người Hà Nội. Người Hà Nội có nhiều món ăn đặc trưng từ bún như bún thang, bún ốc, bún riêu… mỗi món một hương vị khác nhau. Ngày đầu xuân, người dân Hà Nội vẫn lưu truyền tục ăn bún ốc lấy may.

Ngày nay, bún không là một loại thực phẩm của riêng Hà Nội, nhưng bún Hà Nội vẫn nổi tiếng vừa trắng, sợi nhỏ, giòn và dai. Xã Mễ Trì (vùng Kẻ Quánh xưa) có nghề làm bún truyền thống. Bún Mễ Trì được coi là bún ngon nhất “ăn mát môi, trôi mát cổ”. Tương truyền ông Tổ của nghề này là Hồ Nguyên Thơ, không rõ sống ở đời nào. Ngày nay, người dân Mễ Trì thờ ông ở đình làng. Vào những ngày hội làng, dân làng lại Tổ chức hội thi làm bún. Vật phẩm dâng cúng ở đình vào những ngày này cũng không thể thiếu mâm bún.

Nghề vàng bạc

Tổ Sư nghề vàng bạc là ba anh em họ Trần: Trần Hoà, Trần Điện, Trần Điền sống tại làng Định Công, huyện Thanh Trì vào cuối thế kỷ thứ 6. Ba ông học được nghề này trong một cuộc lưu lạc tại một nước láng giềng khi về đem nghề truyền dạy lại cho dân làng. Sau này thợ làng Định Công di chuyển về Thăng Long cư trú tại phố Hàng Bạc.

Ngoài ba anh em họ Trần, nghề vàng bạc Thăng Long còn do Tổ nghề Nguyễn Kim Lân truyền dạy. Ông là người vùng nào đến nay không xác định được, sau ông đến làng Đồng Xâm, huyện Kiên Xương, Thái Bình: ông dạy nghề cho dân làng Đồng Xâm, sau này một số dân làng Đồng Xâm lên Thăng Long cư trú tại phố Hàng Bạc làm nghề kim hoàn.

Nghề làm giấy

Ông Tổ nghề làm giấy không rõ họ tên được thờ tại các làng Hồ Khẩu, Đông Xã, Yên Thái, Nghĩa Đô, Hà Nội. Không rõ họ tên Tổ nghề. Từ thế kỷ 13, nghề làm giấy đã có tại thôn Dịch Vọng. Sau đó, nghề này lan truyền dần qua các địa phương ven sông Tô Lịch như: Yên Hoà (tục gọi là làng giấy), Hồ Khẩu, Đông Xã, Yên Thái, Nghĩa Đô, trong đó tập trung và phát triển nhất là thôn Yên Thái. Truyền thuyết ghi lại, đầu tiên ông Tổ nghề giấy truyền nghề cho dân làng Yên Hoà, rồi lần lượt qua các làng khác.

Nghề gốm sứ

Tổ Sư nghề gốm sứ Bát Tràng là Hứa Vĩnh Kiều. Hứa Vĩnh Kiều cùng với Tổ Sư hai làng gốm khác là Đào Trí Tiến làng Thổ Hà và Lưu Phong Tú làng Phù Lãng cùng khởi nghề ở Bát Tràng, sau đi học men gốm tại Thiểm Châu, Quảng Đông, Trung Quốc về truyền nghề cho dân làng.

Nghề khảm trai

Ông Tổ nghề khảm trai là Nguyễn Kim, người làng Thuận Nghĩa, tỉnh Thanh Hoá sống vào thời Lê Hiển Tông. ông rất giỏi nghề khảm, vì bị sách nhiễu đã lánh nạn ra làng Chuyên Mỹ, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây và truyền dạy nghề cho dân làng này. Sau dân làng Chuyên Mỹ di cư ra Thăng Long cư trú tại phố Hàng Khay. Trước kia, phố Hàng Khay có đền thờ ông. Một vài truyền thuyết khác cho rằng Tổ nghề khảm là ông Vũ Văn Kim hoặc Trương Công Thành sống vào thời Lý.

Nghề quạt

Tổ Sư nghề quạt họ Đào, tên nôm là Đầu Quạt, người làng Đào Xá, huyện Ân Tri, tỉnh Hải Hưng. Dân làng Đào Xá sau ra Thăng Long cư trú tại phố Hàng Quạt. Họ lập đình Phiến Thị thờ ông Tổ họ Đào ở số 4 phố Hàng Quạt.

Nghề làm quạt là nghề truyền thống của người dân Đào Xá. Đến nay, không ai biết chính xác nghề quạt vùng này có từ bao giờ, nhưng nó gắn bó mật thiết với đời sống vật chất và tinh thần của người dân nơi đây.

Quạt của người làng Đào Xá có nhiều loại. Quạt ngà dùng để thờ hay dành cho vua chúa. Loại quạt này thường được trang trí tinh xảo với rồng, lân, phượng… Ngoài ra, còn có các loại quạt giấy, quạt the… Nguyên liệu giấy được dùng là loại giấy bản, giấy dó của làng Yên Thái.

Nghề rèn

Tổ Sư nghề rèn Hoa Thị (ở xã Xuân Phương, huyện Từ Liêm – ngoại thành Hà Nội) là ông Nguyễn Đức Tài. Ông người làng Hoa Thị, học nghề rèn của một người tên là Thanh Hoa không rõ người vùng nào, về truyền dạy lại cho dân làng nghề này sau được dân làng thờ làm Tổ Sư .

Dân làng Hoa Thị vào cuối triều Lê đầu triều Nguyễn tức khoảng cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 đã vào Thăng Long lập nghiệp tại phố Hàng Bừa (nay là phố Lò Rèn) và phố Sinh Từ (nay là phố Nguyễn Khuyến). Một số ít tập trung tại các phố Kim Mã, Hàng Bột (nay là Tôn Đức Thắng), Ô Cầu Dền, phố Huế (khu vực giao giữa phố Huế và Đại Cồ Việt hiện nay).

Trước kia, thợ rèn Hoa Thị chuyên sản xuất các công cụ phục vụ nông nghiệp như: cày, bừa, liềm, hái, cuốc, thuổng, xẻng, mai, móng… Trong kháng chiến, các thợ rèn ở phố Lò Rèn rèn các loại vũ khí thô sơ phục vụ kháng chiến như: kiếm, mã tấu, mác… và cả nòng súng, cò súng… Hiện nay, trong thời kỳ cơ chế thị trường cạnh tranh gay gắt, nhưng sản phẩm rèn của Hoa Thị vẫn được người tiêu dùng chấp nhận. Sản phẩm được ưa chuộng nhất hiện nay là kéo thợ may. Tại phố Nguyễn Khuyến hiện có khá nhiều hàng kéo của thợ rèn Hoa Thị.

Trên khắp đất nước ta, còn có rất nhiều nghề thủ công truyền thống, mỗi nghề đều có một, hai hoặc nhiều hơn các vị Tổ nghề – người có công mở mang tri thức ngành nghề. Trên đây chỉ xin giới thiệu một số vị Tổ nghề tiêu biểu.

【#8】Văn Khấn Vong Linh Thai Nhi Cầu Cho Linh Hồn Bé Siêu Thoát

Còn gì tuyệt vời hơn nếu gia đình bạn may mắn được thượng đế trao tặng thiên thần nhỏ. Tuy nhiên, không phải ai cũng giữ được điều tuyệt vời ấy cho đến ngày bé cất tiếng khóc chào đời. Cùng Iseeacademy.com tìm hiểu về văn khấn vong linh thai nhi giúp bé được siêu thoát qua bài viết dưới đây nhé.

Khi thai nhi mất, cha mẹ nên làm gì?

Đặt tên cho vong linh thai nhi

Đức Dalai Lama đã từng khẳng định: “Phật giáo quan niệm rằng ý thức xâm nhập ngay từ phút giây đầu tiên của sự thụ thai”. Do vậy, dù cho bào thai mới được hình thành cũng được xem như một con người, được tôn trọng và yêu thương. Thai nhi cũng mang nhiều xúc cảm khi bị bỏ rơi, khi không được đến với cõi đời. Một trong những cảm xúc ấy là tủi thân, tủi phận về số kiếp của mình đã không may mắn được làm người.

Trong trường hợp người mẹ phá bỏ thai nhi là gây tội nghiệp. Người mẹ đã vô tình khiến mình thiếu nợ vong linh thai nhi. Đặt một cái tên gọi cho bé được xem là một trong những hành động nhỏ chuộc lỗi. Nó nói lên cái tâm hối lỗi và muốn chuộc tội của cha mẹ, như vậy thôi đã để lại sự cảm thông của vong linh thai nhi nhiều rồi.

Nếu cha mẹ nào không biết, chưa kịp đặt cho con mình một cái tên thì hãy nhanh chóng sửa sai. Đứa nhỏ sinh ra dù chưa hình thành đủ các bộ phận trên cơ thể, dù chưa một lần nhìn thấy ánh mặt trời cũng nên có được một cái tên, có được tình yêu thương bù đắp. Nên nhớ có những “vong” thai nhi không những theo cha mẹ kiếp này mà cho đến những kiếp khác nữa. Cuộc sống của ta trải qua mấy mươi năm rồi ra đi, nhưng nếu lúc sống mà ta lỡ phạm vào nghiệp này mà chưa hóa giải được, có khi “vong thai nhi” đó theo qua đến kiếp khác.

Sắm lễ cầu siêu cho vong linh thai nhi

Lễ cầu siêu cho vong linh được cúng dường 2 ngày trong tháng ( Vào ngày 16 âm lịch & mùng 2 âm lịch). Cha mẹ đặt mâm cúng trang nghiêm trên cái bàn nhỏ phía trước cửa, nửa trong nửa ngoài, tức là nửa trong nhà,nửa ngoài bậc thềm cửa. Tuyệt đối không được đặt trên bàn thờ.) Thai nhi chưa được xác nhận, chưa được nhập khẩu trong gia đình nên gia tiên chưa thể nhận cháu. Bởi vậy thổ thần cũng ngăn cản, không cho phép con vào nhận đồ. Quý vị lưu ý chỉ cần thụ thai được khoảng 13 ngày thì thai nhi đã có linh hồn chứng thai rồi nhé.

Ba mẹ cũng có thể đến chùa để cúng vong linh nên như không thể tự mình làm ở nhà. Tuy nhiên không cúng trước mặt tượng PHẬT hay Thần Thánh, vong thai nhi sẽ không dám nhận. Một vị trí khuất để cúng vong là tốt nhất

Đồ cúng cần chuẩn bị thường bao gồm:

  • Sữa ông thọ pha hoặc sữa tươi đóng hộp có ống hút.
  • Bánh kẹp loại ngon, là loại bánh có vị dâu, socala thì càng tốt.
  • Quần áo giấy thai nhi nam, nữ và tiền vàng (Tùy bạn bỏ bao nhiêu vong linh mà chuẩn bị bấy nhiêu lễ vật)

Văn khấn vong linh thai nhi cầu cho linh hồn bé siêu thoát

“OM AH HUNG Xin nhờ lửa làm tan chảy không còn sót những món diệu dục đơn giản nhưng quí giá này hóa một đám mây vô tận trong không gian thành một tiệc cúng dường không chấp trước, xin cho con dâng cúng lên chín phương Trời mười Phương Phật chư Phật mười phương.

Hôm nay là ngày… tháng… năm… Tín chủ con là… ở tại số nhà… thành kính dâng lên cúng dường Chư Phật mong Chư Phật ban phước cho toàn thể chúng sinh không chừa sót một ai những điều an lành nhất. Con cũng xin nhờ vào tiệc cúng dường này, ánh sáng từ bi và trí tuệ của Chư phật sẽ hiện hữu trong tâm con và tất cả mọi người đồng thời chiếu sáng tất thảy các cõi khác để tất thảy hướng về Phật Pháp. Con nguyện với lòng thành tâm của mình trước Chư Phật xin được sám hối mọi lỗi lầm do thân khẩu ý con đã phạm phải từ trước tới nay.

Con xin cúng dường tới các chư thiên, thiện thần, hộ pháp mong các ngài che chở cho con cùng gia đình luôn an lành, thoát khỏi mọi thế lực xấu và ác của cõi dương và cõi âm.

Con cũng xin được nhờ vào lễ hỏa cúng này, hồi hướng cầu siêu cho tất cả các chúng sinh không chừa sót một ai đang lang thang trong cõi thân trung ấm hay cõi âm để họ bớt sợ hãi, đau khổ và nhanh chóng được chuyển nghiệp. Con cầu xin được cầu siêu cho cửu huyền thất tổ gia tiên gia tộc họ… cho cha…, mẹ… hay…. được hoan hỉ và sớm siêu thoát về nơi cực lạc hay cõi an lành khác”.

(Bỏ đồ cúng cho vong nhi vào đốt… rồi khấn tiếp): “Đặc biệt con xin được thành tâm sám hối cho nghiệp sát con phạm phải đối với các hài nhi đã từng kết duyên cùng con mà con chối bỏ. Cầu mong các hài nhi tha thứ và xóa bỏ mọi tâm tư oán hờn gây chướng ngại tới con, cầu mong các vong nhi buông bỏ và sớm chuyển đầu thai vào các cõi an lành mới. Cầu mong tất cả các vong nhi khác cũng đều hoan hỉ và siêu thoát như vậy.

Con nguyện sẽ gắng làm những điều thiện để hồi hướng, trợ duyên cho các vong nhi sớm được siêu thoát (nguyện thêm gì tùy tâm khấn ra…). Cầu mong cho lời nguyện lành của con được thành sự thật. Nếu đã tu thì đọc mật chú, nếu không biết thì đọc thần chú sáu âm của Bồ tát Quán Thế Âm “OM MA NI PADE ME HUM” 108 lần. [Cách đọc: “ôm ma ni pát đờ (đờ đọc thầm âm gió) mê hum”. (Không bắt buộc đọc câu này).

Sau khi cúng xong hãy nói: “Lễ hỏa cúng đến đây là kết thúc, xin được mời các ngài và các chư vị an tọa về nơi trụ xứ của mình và chỉ trở lại khi gia chủ có lời thỉnh mời. Xin các vong hãy hoan hỷ đón nhận tấm lòng thành của gia chủ mà sớm được siêu thoát”. Cũng xin che chở cho gia chủ mọi sự được tốt đẹp an lành. Gia chủ xin cảm tạ.”

Đặc biệt lưu ý: Ba mẹ không nên cúng bỏ dở giữa chừng. Khi cúng phải đủ 7 lần rồi mới gửi vong linh lên chùa. Tuyệt đối không nên làm chậm quá trình này kẻo vong linh vất vưởng không nơi nương tựa. Như vậy sẽ gây khó khăn cho việc cúng kiếng sau này. Tâm nguyện của các vong cũng như những đứa trẻ bình thường,muốn được ăn ngon và mặc đẹp.Trách nhiệm của cha mẹ là xót thương và hết lòng sám hối.Cho vong toại nguyện như những đứa con đang sống của mình.Khi vong đã được đầy đủ tình thương,được gia đình gửi đi học sẽ không quay về quấy phá nữa.

【#9】Văn Khấn Cúng Cơm Cửu Huyền Thất Tổ

Cúng cơm cửu huyền thất tổ không phải là điều gì đó xa lạ với tất cả mọi gia đình. Trong quá trình cúng gia chủ (người đại diện) sẽ đọc bài văn khấn. Việc này rất quan trọng giúp việc thờ cúng thêm ý nghĩa. Văn khấn cúng cơm cửu huyền thất tổ rất nhiều người đang thắc mắc nó có nội dung như thế nào? Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu ngay sau đây:

Theo nguồn gốc hiếu đạo được truyền lại từ bao đời nay có tổ tiên mới sanh ra ông bà và có ông bà mới sanh ra cha mẹ. Nhiệm vụ của con cái phải lo phụng dưỡng ông bà cha mẹ khi còn sống và phải tôn thờ cúng kỵ khi người đã khuất bóng.

Có thể nói cúng thờ cúng cửu huyền thất tổ là một trong những phong tục tập quán được truyền từ rất nhiều thế hệ.

Cội nguồn của mỗi chúng ta đó là tổ tiên, ông bà, cha mẹ của chúng ta. Họ là những người đã dầy công giáo dưỡng chúng ta khôn lớn nên người. Công lao to lớn mà ở thế gian nầy không gì có thể so sánh được.

Mâm cơm cửu huyền thất tổ bày biện khá công phúc Mâm cơm cúng cửu huyền thất tổ bao gồm

+ Món bánh chưng (bánh tét) tượng trưng cho sự sinh sôi nảy nở của muôn loài và con người mỗi năm một tuổi.

+ Thịt lợn chế biến thuộc về âm, dưa hành (củ kiệu) thuộc về dương, âm dương hài hoà tượng trưng cho sự phát triển.

+ Cơm trắng là lương thực hàng ngày, nên trong mâm cỗ có nếp, có tẻ cũng như có âm có dương đầy đủ lẽ sinh sôi.

+ Bát nước chấm đặt giữa mâm hình tròn với 4 bát cơm đặt 4 góc mâm, tượng trưng cho trời đất vũ trụ, mà con người dù ở cõi âm hay dương đều có cuộc sống trong đó.

Cúng cơm cửu huyền thất tổ nên lưu ý điều gì?

Khi làm mâm cơm cửu huyền thất tổ ,cúng gia tiên, thường không bày bằng mâm cao cỗ đầy mà do tấm lòng thành của gia chủ. Ngoài ra không được vi phạm một số điều sau đây:

1/ Trên mâm cơm cúng cửu huyền thất tổ không chứa những món gỏi, sống hay tanh

2/ Không nêm nếm thức ăn, hay ăn thử thức ăn dùng để làm cơm cúng cửu huyền thất tổ

3/ Mâm cơm cúng phải được đặt riêng, bày trên những bát đĩa, đĩa mới, hoặc để dùng riêng, không dùng chung với chén đũa thừa ngày sử dụng.

4/ Không cúng cơm cửu huyền thất tổ như món như cá mè, cá sông.

5/ Cúng cơm cửu huyền thất tổ Không sử dụng đồ đóng hộp, các món ăn đặt sẵn ngoài nhà hàng để thờ cúng.

Bộ đồ thờ cần thiết trên bàn thờ cửu huyền thất tổ

Trên bàn thờ của người Việt thường có: bát hương, lọ hoa, mâm trái cây, kỷ nước

Ngoài lễ vật thường bầy hai ngọn đèn dầu. Bởi khi cúng trên bàn thờ cửu huyền thất tổ cần phải thắp sáng lên tượng trưng cho mặt trời, mặt trăng, gọi là “nhật nguyệt quang minh”. Phải có ngọn đèn dầu soi tỏ con đường để thế giới hữu hình biết lối đi về, chứng giám và phù hộ cho con cháu sức khoẻ dồi dào, làm ăn thịnh vượng. Nếu không có đèn dầu các bạn có thể thay bằng nến.

Ý nghĩa của số nén hương: Đốt một nén hương là “tâm hương”, thể hiện sự đốt cháy niềm tin vào những ước vọng trong sự thờ cúng. Đốt 3 nén hương thể hiện cho khái niệm tam tài “thiên, địa, nhân” là trời, đất và con người trong mối đồng giao cộng cảm.

Hôm nay, ngày…. tháng…. năm…

Tín chủ con là….. cùng với toàn gia kính bái..

Kính cẩn sắm một lễ gồm… gọi là lễ mọn lòng thành, kính dâng lên:

Đông trù Tư mệnh Táo phủ thần quân, bản gia tiên sư, bản viên thổ công, liệt vị tôn thần.

Và các vị tổ bá, tổ thúc, tổ cô, cùng các vong linh phụ thờ theo tiên tổ.

Kính cẩn thưa rằng: Năm cũ sắp hết, ngày Tết tới gần, chuẩn bị mừng xuân.

Kính cáo: thô, địa, chư vị linh thần.

Kính mời: Vong linh tiên tổ về với gia đình để cháu con phụng sự.

Thành kính lạy Cửu Huyền Thất Tổ,

Ngỏ đáp ơn báo bổ sanh thành,

Cửu Huyền Thất Tổ lòng thành chứng tri.

Noi theo hạnh từ bi của Phật,

Bỏ dứt đi những tật xấu xa,

Trau giồi đức hạnh thuận hòa,

Ðạo thành cứu độ Mẹ, Cha, Cửu Huyền.

Nay phẩm vật hiện tiền dâng cúng,

Hương, đăng, hoa chúc tụng cầu xin,

Cửu Huyền Thất Tổ hương linh,

Chứng lòng hiếu thảo ân sinh thuở đầu.

Công dạy dỗ cao sâu thăm thẳm,

Công dưỡng nuôi khó gẫm gì hơn,

Ăn cay, uống đắng không sờn,

Vì con đau khổ không hờn phiền chi.

Nội ngoại đồng bác ái tình thương,

Cửu Huyền Thất Tổ đồng nương,

Từ đời vô thỉ khôn lường kiếp sinh.

Ân dưỡng dục minh minh như hải,

Ân sanh thành tợ Thái Sơn cao,

Con nay muốn đáp công lao,

Ðền ơn trả nghĩa thế nào cho xong.

Lời Phật dạy mênh mông biển khổ,

Cõi Ta bà không chỗ dựa nương,

Chúng sanh vì bởi tình thương,

Tình ân, tình ái mà vương nghiệp sầu.

Sanh tử mãi biết đâu mà kể,

Cứ trầm luân trong bể ái hà,

Tham lam, sân giận, cùng là si mê.

Những tội lỗi không hề dứt bỏ,

Ðường tử sanh nên khó bước qua,

Cửu Huyền Thất Tổ, ông bà đền ân.

Ðem phẩm vật cúng dâng Tam Bảo,

Nhờ chư Tăng tâm đạo cầu nguyền,

Cầu cho Thất Tổ Cửu Huyền,

Siêu sinh Tịnh độ phước duyên đủ đầy.

Ai muốn đáp công thầy dạy dỗ,

Hay đền ơn Thất Tổ Cửu Huyền,

Chúng sanh tất cả các miền,

Thì nên phát đại lời nguyền độ tha.

Trước xuất thế lìa xa cõi tục,

Sau diệt tiêu lòng dục, tánh phàm,

Chẳng còn ưa chuộng, muốn ham,

Thân tâm thanh tịnh, Già lam dựa kề.

Tu chứng đắc Bồ đề Phật quả,

Ðộ chúng sanh tất cả siêu thăng,

Vượt lên cửu phẩm thượng tầng,

Là phương trả nghĩa đáp bằng công lao.

Ai hiếu tử mau mau ghi nhớ,

Muốn đáp đền mối nợ từ xưa,

Công dầy quả mãn phước thừa báo ân

Bài văn cúng giỗ ông bà như thế nào

Con lạy chín phương trời, con lạy mười phương Chư phật, con lạy Chư phật mười phương.

Con kính lạy Đức Hoàng Thiên Hậu Thổ và chư vị Tôn Thần

Con xin kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Tảo phủ Thần Quân

Con xin kính lạy ngài Đông Trù tư mệnh Táo thủ Thần Quân

Con xin kính lạy các ngài Thần linh và các Thổ địa cai quản trong xứ này

Con xin kính lạy Tổ tiên nội ngoại họ: Nêu tên họ

Tín chủ con là: Nêu đầy đủ họ và tên của người chủ gia đình tổ chức cúng giỗ

Hôm nay là ngày tháng năm (âm lịch)

Chính là ngày giỗ của: Đọc họ và tên của người hưởng giỗ

Con thiết nghĩ rằng: Vắng xa trần thế không thấy âm dung

Năm qua tháng lại đến ngày húy lâm. Ơn võng cực được xem như trời biển. Nghĩa sinh thành không bao giờ quên, càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp được bao nhiêu càng cảm thấy thâm tình mà không bề dãi tỏ. Ngày mai là ngày Cát Kỵ, hôm nay chúng con toàn gia con cháu trong nhà nhất tâm sắm sửa lễ vật kính dâng và đốt nén hương dãi tỏ tấm lòng thành.

Mất ngày tháng năm (âm lịch)

Cúi xin linh thiêng giáng thế về linh sàng và chứng giám lòng thành, để thụ hường lễ vật độ cho cháu trong nhà được an ninh khang thái, vạn sự được tốt lành, gia cảnh được hưng long thịnh vượng.

Con cũng xin kính mời các vị Tiên Tổ hai bên nội ngoại, các vị Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá Thúc, Huynh Đệ, Cô Di, Tỷ Muội và toàn thể các Hương hồn gia tiên nội ngoại cùng đồng lai lâm hưởng.

Con cũng xin kính mời các ngài Thần Linh, các ngài Thổ Địa, ngài Thổ Công, ngài Táo Quân và các chư vị Linh thần đồng lai để giám cách thượng hưởng.

Con cũng xin mời các vong linh là các vị Tiền chủ, vị Hậu chủ nhà này và đất này cùng tới để âm hưởng.

Chúng con lễ bạc tâm thanh xin cúi xin được phù độ trì.

【#10】Các Tục Lệ Cúng Giỗ Việt Nam: Sắm Lễ, Văn Khấn, Cách Cúng Đầy Đủ

Đám giỗ của người Việt không chỉ là một ngày mà con cháu thể hiện lòng thành kính, hiếu thảo đối với tổ tiên ông bà cha mẹ, mà còn thể hiện nét đẹp văn hóa với truyền thống uống nước nhớ nguồn của người Việt mình.

Cúng giỗ vào ngày nào là đúng?

Ngày giỗ hay còn gọi là kỵ nhật, là ngày hàng năm người sống làm đám giỗ mời gia tiên cùng với người thân đã khuất trở về nhà. Đồng thời cũng là dịp để con cháu tụ họp bày tỏ sự thương nhớ, hiếu kính đến cha mẹ ông bà và cầu mong sự phù hộ che chở đến toàn thể con cháu dòng họ mình.

Có nhiều ngày cúng giỗ dành cho người khuất như: cúng 49 ngày, cúng 100 ngày, ngày giỗ đầu, giỗ cuối hay giỗ thường. Liệu có thể cúng giỗ trước 2 ngày có được không hay phải đúng ngày? Nên cúng giỗ lúc mấy giờ và nên làm món gì là câu hỏi nhiều người băn khoăn. Nếu như ngày giỗ thường có thể tổ chức cúng giỗ trước 1 ngày, hoặc 2 ngày thì những đám giỗ còn lại buộc phải tuân thủ những nghi thức cúng giỗ theo thọ mai gia lễ hoặc sắm cúng giỗ đầu theo phật giáo với những bài văn khấn ngày giỗ kiểu mẫu.

Cúng 49 ngày sau ngày mất là gì?

Theo quan niệm của phật giáo, sau khi chết linh hồn đi xuống địa ngục sẽ trải qua 7 quan môn địa ngục, mỗi cửa sẽ được xét hỏi trong 7 ngày bởi Diêm vương, vì thế sau 7×7 là 49 ngày, linh hồn mới được siêu thoát. Cúng giỗ trước hay sau ngày mất giúp người đã khuất được nhận hương quả để trải qua những kiếp nạn cõi âm.

Trong thời gian 49 ngày này, người nhà của người đã khuất phải cúng kiếng hoa quả, tìm hiểu cách bày mâm cúng giỗ đúng lễ nghi, dọn mâm cơm cúng hàng ngày mời người chết về nhà. Đây là một nghi thức vô cùng quan trọng đối với tang gia, giúp người thân đã khuất của mình được thanh thản, thoát tục. Về phần con cháu, họ thường tụng đọc kinh Phật hoặc bài văn khấn cúng ông bà tổ tiên bằng âm hán vào ngày giỗ 49 ngày này.

Ngoài những nghi lễ cúng giỗ trên ban thờ gia tiên, thông thường người nhà hay làm những mâm cơm đãi khách rất to. Một mặt để thể hiện lòng thành với người chết, mặt khác để cảm ơn anh em, bạn hữu, hàng xóm đã đến tiễn đưa thân nhân của họ trong tang lễ trước đó. Đây là một cách đáp lễ vô cùng ý nghĩa và tế nhị, thường thấy ở người Việt.

Đám giỗ 100 ngày

Theo thông lệ người ta cúng 49 ngày để giúp người mất thanh thản siêu thoát sau khi trải qua quãng thời gian xét xử nơi cửa ngục, thì đến 100 ngày, việc cúng giỗ sẽ giúp phúc phần của người đã khuất thêm sâu dày hơn.

Không tổ chức linh đình như các ngày giỗ khác, ngày giỗ 100 ngày thường tổ chức trong phạm vi gia đình. Mâm cỗ cúng bày gia tiên vẫn được sửa soạn chu đáo, các bài văn khấn, kinh chú tụng dành cho người mất được con cháu cầu đọc. Thậm chú gia chủ có thể mời các nhà sư về để cúng dường tăng trai cho người mất. Dù không khí bi thương đã bớt đi phần nào nhưng tình cảm và lòng thành dành cho người đã khuất không hề mất đi.

Ngày giỗ đầu, hay còn gọi là ngày giỗ Tiểu Tường

Nhiều người chưa biết liệu cúng giỗ đầu vào ngày nào là chính xác? Cúng giỗ đầu là gì và cúng giỗ như thế nào? Câu trả lời là: ngày đầu tiên sau một năm mất. Trong quãng thời gian này, không khí tang thương vẫn còn trong gia đình. Con cháu vẫn mặc áo tang hoặc đeo khăn tang trong ngày giỗ đầu (1 năm), thậm chí vì quá thương nhớ người thân mà con cháu vẫn khóc thương buồn bã.

Trong ngày cúng giỗ 1 năm đầu này, người nhà thường làm đám giỗ rất trang nghiêm và đủ lễ. Khách mời đến cũng phải ăn mặc kín đáo lịch sự,mang theo lễ vật cúng giỗ, bày tỏ sự kính lễ đối với người đã khuất.

Ngày giỗ hết tang (lễ Đại Tường)

Tròn 2 năm sau ngày mất là lễ cúng giỗ hết, là ngày đánh dấu sự kết thúc của tang kỳ. Một thời gian dài trước đây, sau ngày giỗ hết, người nhà phải để tang thêm 3 tháng nữa mới là chính thức hết tang. Khi đó thân nhân của họ được bỏ ban thờ vong để chuyển bài vị lên ban thờ chung với gia tiên ông bà.

Tuy nhiên ngày nay nhiều gia đình sau đúng 2 năm đã chức thức chuyển bát hương người mất lên ban thời, chấm dứt để tang. Sau ngày lễ đại tường này, gia đình người đã khuất có thể trở lại sinh hoạt, tham gia hội hè, giao lưu văn hóa như bình thường. Gia chủ cũng có thể bày trí đồ đạc lại cho hợp phong thủy mà không sợ bất kính với người mất như lúc còn tang kỳ.

Ngày giỗ thường, ngày giỗ năm thứ 3 trở đi.

Sau khi chấm dứt tang kỳ, đến ngày giỗ năm sau của người mất gọi là ngày giỗ thường. Cách làm đám giỗ hay thủ tục sắm lễ cúng, văn khấn nôm ngày giỗ thường cho ông bà, cha mẹ cũng khác hơn so với những năm trước.

Vào ngày giỗ thường (Cát Kỵ), gia chủ sắm sửa chuẩn bị đồ lễ cúng giỗ bày ban thờ, lên thực đơn nấu nướng những món mặn đãi khách, chuẩn bị những bài văn khấn gia tiên ngày giỗ, bài văn khấn ngày cúng giỗ bố mẹ, cúng giỗ cụ là những việc cần phải làm.

3 năm sau khi người thân mất, sự đau đớn tiếc thương cũng đã vơi đi phần nào, vì vậy ngày giỗ không chỉ là nghi lễ dành cho người mất mà còn là dịp để con cháu họ hàng tề tựu đông đủ với nhau. Chính những dịp như vậy đã giúp cho sợi dây tình thân được đan kết bền chặt hơn.

Đôi khi người ta cũng tự hỏi liệu làm cúng giỗ trước 1, 2 ngày có được không? Hay cúng giỗ vào giờ nào thì tốt nhất? Với ý nghĩa của ngày giỗ cộng với nếp văn hóa hiện đại, việc làm đám giỗ đúng ngày cũng không quá cứng nhắc nữa. Nhiều gia đình làm ngày giỗ sớm cho trùng với ngày nghỉ để con cháu có cơ hội được tham dự đông đủ hơn cũng không có gì sai. Vì vậy làm giỗ sớm trong nhiều nhà là điều dễ chấp nhận.

Giỗ họ

Trong các dòng họ lớn, thường có ngày giỗ họ. Ngày giỗ này thường được tổ chức hàng năm với sự tham gia của tất cả các con cháu trong dòng tộc. Việc giỗ họ thường được trưởng họ đứng lên đảm nhiệm và các thành viên trong họ có trách nhiệm đóng góp. Có họ chỉ tính suất đóng góp theo đinh, tức là nhà có con trai mới phải đóng, nhưng cũng có họ yêu cầu góp giỗ bình đẳng.

Ngày nay để duy trì những dòng họ lớn còn sinh hoạt với nhau là điều hiếm thấy, vì vậy, việc giỗ họ không chỉ nằm trong phạm vi của họ mà còn còn là một nét văn hóa đặc sắc cần được duy trì và kế tục.

Hướng dẫn sắm lễ, cách cúng đám giỗ đúng cách

Đám giỗ là cách mà con cháu thể hiện sự hiếu kính, tôn trọng đối với ông bà cha mẹ đã khuất, vì thế việc chuẩn bị lễ cúng giỗ gồm những gì, bài văn khấn thế nào, cách ghi sớ, cách ghi giấy cúng giỗ sao cho đúng là việc cần phải lưu ý.

Cúng 49 ngày

Từ ngày mất cho đến 49 ngày, việc cúng lễ cần phải sửa soạn thường xuyên và đầy đủ hàng ngày. Bao gồm mâm cơm với các món mặn và hoa quả, hương nến trên ban thờ. Cho đến ngày thứ 49,gia chủ có thể chưa biết lễ vật cúng giỗ cần những gì? Mua đồ cúng giỗ chay gồm những gì? Chỉ cần chuẩn bị những thứ sau:

+ Mâm lễ cúng trong nhà và cúng giỗ ngoài mộ: gồm các món cúng giỗ dễ làm như gà luộc cánh tiên, xôi, các món ăn mặn tùy theo cách làm mâm cơm cúng giỗ với các món cúng giỗ miền Bắc, Trung, Nam mà các món này sẽ khác nhau. Hoa quả, bánh kẹo cũng được bày biện gọn gàng.

+ Tiền vàng mã,hình nhân, cách viết sớ cúng giỗ.

+ Bài văn khấn nôm cho 49 ngày, bài cúng giỗ tại nhà.

Thông thường, cúng trong nhà trước, sau đó mới ra mộ cúng, đọc văn khấn cáo giỗ ngoài mộ và hóa vàng ngay cạnh mộ. Theo tín ngưỡng thì như vậy người đã khuất mới nhận được các lễ vật mà người ở trên gửi xuống. Nếu đơn giản, gia chủ đứng trước ban thờ, đọc văn khấn cho người đã khuất, đợi hết 3 tuần hương là có thể hạ lễ mời khách ăn cỗ. Nhưng cũng có gia đình mời các vị sư thầy trong chùa đến để tụng kinh siêu thoát cho người đã mất rồi mới được hạ lễ.

Cách cúng giỗ 100 ngày

Như đã nói ở trên, cúng 100 ngày là ngày giỗ đơn giản hơn so với 49 ngày và các ngày giỗ khác. Lễ vật cúng cũng tương tự như 49 ngày nhưng thường không mời khách ăn uống mà chỉ hạ lễ cho con cháu nhận lộc.

Cách cúng cũng đơn giản hơn, gia chủ ăn mặc chỉnh tề trang nghiêm, các con cháu đứng đằng sau chắp tay lễ 3 vái để gia chủ đọc văn khấn. Sau khi khấn thì lễ tạ 4 lễ là xong.

Cách cúng giỗ đầu

Ngày giỗ đầu dù ở gia đình nào, địa phương nào cũng rất được chú trọng, không kém gì lễ 49 ngày. Các lễ vật gia chủ cần chuẩn bị là mâm cơm cúng gồm xôi, gà, 2 mặn, 2 canh, hoa quả, hương nến, tiền vàng, quần áo giấy, ngựa giấy, hình nhân,v..v..

Đám giỗ cúng mấy mâm? Vì là ngày giỗ đầu nên cũng phải làm vài mâm cơm ít nhiều phụ thuộc vào gia cảnh của chủ nhà để mời khách. Khách có lòng sẽ tự đến đặt lễ thắp hương cho người đã mất.

Trước ngày giỗ 1 ngày bày 1 mâm lễ mời người mất và gia tiên về dự lễ, ngày hôm sau mới chính thức tổ chức đám giỗ,

Cúng giỗ hết

Giỗ hết cũng sắm sang đồ cúng tương tự như giỗ đầu, chỉ có một điều khác là trong ngày giỗ sẽ hóa hết những đồ tang như quần áo, khăn tang, phướn, cờ, gậy chống, rèm xô. Như một cách thể hiện rằng tang kỳ đã kết thúc.

Cúng giỗ hết là dấu hiệu của kết thúc tang kỳ

Cúng giỗ thường

Ngày giỗ thường được tổ chức hàng năm, còn gọi là cũng giỗ 3 năm sau khi mất, quy mô vì thế cũng nhỏ gọn đơn giản hơn. Chủ yếu là lòng thành của con cháu là chính. Thông thường sẽ chia ra 2 ngày, 1 ngày trước giày giỗ gọi là lễ tiên thường, và ngày hôm sau là lễ chính kỵ.

Ngày tiên thường, gia chủ cùng với mâm lễ vật đã sắm sửa đầy đủ, đứng nghiêm trang chắp tay lễ 3 lần rồi đọc văn khấn mời gia tiên trước, sau mới đến người đã mất về dự lễ chính kỵ vào hôm sau. Đọc xong lễ 3 lễ kết thúc.

Ngày hôm sau lễ chính kỵ thì khấn mời người đã mất trước, rồi đến mời tổ tiên về dự giỗ. Sau 3 tuần hương thì hạ lễ cho con cháu thụ lộc. Cúng giỗ buổi sáng hay chiều tùy thuộc thời gian của chủ nhà.

Cùng là một ngày giỗ nhưng mỗi miền lại có cách làm cơm cúng và đãi khách khác nhau. Cúng giỗ nên cúng chay hay mặn đều được, phụ thuộc vào lệ mỗi nhà.

Như ở miền bắc, cơm cúng không thể thiếu con gà luộc và đĩa xôi, có thể là xôi trắng, xôi gấc hay xôi vò đều được. Tiếp đến là khoanh giò lụa hoặc giò bò, miếng bánh chưng xanh, một đĩa nem rán và một món xào thập cẩm. Tùy hoàn cảnh kinh tế từng nhà có thể làm thêm nhiều món hơn như các món nộm, món rau. Cách xới cơm cúng ngày giỗ phải xới đầy ắp chén cơm để thể hiện âm dương hòa hợp. Khi cúng giỗ xới 1 chén cơm là đủ.

Mâm cơm cúng miền Bắc tiêu biểu

Mâm cơm miền Trung có đôi chút khác so với miền Bắc. Người miền Trung thay bánh chưng bằng bánh tét, không dùng các loại nộm mà thay bằng đồ muối chua như hành kiệu.

Cơm cúng giỗ miền Trung chỉ có đôi chút khác biệt so với 2 miền Nam Bắc

Còn cơm cúng miền Nam thường giản dị hơn vì người ta quan niệm người đã khuất thì cũng đã khuất rồi, người ở lại quan trọng là lòng thành. Vì vậy dù mâm cơm có giản dị, nhưng khi đã đến ngày giỗ của ông bà cha mẹ, các con cháu dù ở xa cũng phải tề tựu cho đông đủ.

Mâm cơm cúng của người miền nam giản dị nhưng chân thành Tham khảo thêm: Cách cắm hoa cúng bàn thờ tổ tiên, loại hoa tối kỵ không nên chưng

Các bài văn khấn cúng giỗ

Khi tổ chức các nghi thức cúng giỗ không thể thiếu các bài văn khấn, bài cúng giỗ cha mẹ, bài cúng ông bà tổ tiên cũng như cách viết sớ cúng giỗ đúng đủ theo nguyên tắc. Có sự khác nhau giữa văn khấn cúng giỗ cha mẹ, vợ, chồng với văn khấn cúng giỗ ông bà nội ngoại, khác nhau giữa văn khấn giỗ bà cô tổ, ông mãnh với văn khấn cúng giỗ cậu bé đỏ, trẻ sơ sinh. Thậm chí, bài cúng giỗ em gái, em trai, trẻ sơ sinh cũng cần riêng biệt. Sau đây là một số bài khấn nôm, văn cúng giỗ theo từng dịp.

Bài cúng ngày giỗ 49 ngày

Con cháu đứng trang nghiêm đọc bài cúng giỗ ông bà, giỗ chú bác như mẫu sau:

Nam mô a di Đà Phật! (3 lần) Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương. Hôm nay là ngày….tháng….năm….., âm lịch tức ngày…..tháng….năm…………….dương lịch. Tại (địa chỉ): …………….. Con/cháu/ phu/ thê là………cùng các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy. Nay nhân ngày lễ Chung Thấtt heo nghi lễ cổ truyền, có kính cẩn sắm các thứ lễ vật gồm có:………………………….. Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành. Trước linh vị của …tên người đã khuất… Xin kính cẩn trình thưa rằng: Cha/ mẹ/vợ/ chồng/con/cháu… đi đâu, vội vàng chi mấy; Trời cao có thấy, thảm thiết muôn phần thương thay! Đời người giấc mộng, hình ảnh phù vân; Ngày tựa chim hay, tiết vừa bốn chín (hoặc trăm ngày); Thoi đưa thấm thoát nay đã bảy tuần (hoặc trăm ngày). Cây lặng gió lay, khóc làm sao được; Lưng cơm đĩa muối, gọi chút đền ân. Xin cha (mẹ) về thượng hưởng.

Bài cúng 100 ngày

Gia chủ đứng nghiêm trang, cách xưng hô khi cúng giỗ phải trịnh trọng.

Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật! Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương. Hôm nay là ngày….tháng….năm….., âm lịch tức ngày…..tháng….năm…………….dương lịch. Tại (địa chỉ):……………………… Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là………vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ mẫu nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy. Nay nhân ngày lễ Chung Thất (lễ Tốt Khốc) theo nghi lễ cổ truyền, có kính cẩn sắm các thứ lễ vật gồm:………………………….. Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành. Trước linh vị của Hiển:………………… chân linh Xin kính cẩn trình thưa rằng: Núi Hỗ sao mờ, nhà Thung bóng xế. (Nếu là cha)/ Núi Dĩ sao mờ, nhà Huyên bóng xế. (nếu là mẹ) Tình nghĩa cha sinh mẹ dưỡng, biết là bao; Công ơn biển rộng, trời cao khôn xiết kể. Mấy lâu nay: Thở than trầm mộng mơ màng; Tưởng nhớ âm dương vắng vẻ. Sống thời lai lai láng láng, hớn hở chừng nào! Thác thời kể tháng kể ngày, buồn tênh mọi lẽ! Ngày qua tháng lại, tính đến nay Tốt Khốc tới tuần; Lễ bạc tâm thành gọi là có nén nhang kính tế. Hiển…………………………… Hiển…………………………… Hiển…………………………… Cùng các bị Tiên linh, Tổ Bá, Tổ Thúc, Tổ Cô và các vong linh phụ thờ theo Tiên Tổ cùng về hâm hưởng. Kính cáo; Liệt vị Tôn thần: Táo Quân, Thổ Công, Thánh sư, Tiên sư, Ngũ tự Gia thần cùng chứng giám và phù hộ cho tòangia được mọi sự yên lành tốt đẹp. Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật!  Mâm lễ cúng giỗ và văn khấn cần chuẩn bị cẩn thận, tránh thất lễ với người đã mất

Bài cúng giỗ đầu (Tiểu tường)

Bài cúng giỗ ngoài sân hay trong nhà đều dùng được. Cách vái cúng đám giỗ thường là 3 vái chào, 4 vái tạ. Ghi sớ cúng giỗ theo mẫu chữ hán hoặc nôm.

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. – Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương. – Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân. – Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này. – Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ tiên nội ngoại họ Tín chủ (chúng) con là:…………………………………………………. Tuổi……………………………………………. Hôm nay là ngày……………tháng……….năm…………….(Âm lịch). Chính ngày Giỗ Đầu của:…………………………………………………………………………………………………… Năm qua tháng lại, vừa ngày húy lâm. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Nhân ngày chính giỗ, chúng con và toàn gia con cháu, nhất tâm sắm sửa lễ vật kính dâng, đốt nén tâm hương dãi tỏ tấc thành. Thành khẩn kính mời:……………………………………………………………………………………………………….. Mất ngày tháng năm (Âm lịch):……………………………………………………………………………………………. Mộ phần táng tại:……………………………………………………………………………………………………………… Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu bình an, gia cảnh hưng long thịnh vượng. Tín chủ con lại xin kính mời các cụ Tổ Tiên, nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá thúc, Cô Di và toàn thể các Hương linh gia tiên đồng lai hâm hưởng. Tín chủ lại mời vong linh các vị Tiền chủ, Hậu chủ trong đất này cùng tới hâm hưởng. Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì. Phục duy cẩn cáo!

Bài cúng giỗ thường ( ngày Cát Kỵ)

Đây là bài văn cúng giỗ hàng năm thường được sử dụng:

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật! Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con kính lạy Đức Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân.

Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

Con kính lạy Tổ Tiên nội ngoại họ: ………………… Tín chủ (chúng) con là: ……………………

Ngụ tại: ……………………

Hôm nay là ngày ……… tháng ………. Năm…………

Là chính ngày Cát Kỵ của ………………………………

Thiết nghĩ ………. (dài) vắng xa trần thế, không thấy âm dung. Năm qua tháng lại ngày húy lâm. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Ngày mai Cát Kỵ, hôm nay chúng con và toàn gia con cháu thành tâm sắm lễ, quả cau, lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án thành khẩn kính mời ………………

Mất ngày …………….. tháng …………. năm ……………

Mộ phần táng tại: ……………………

Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia cảnh hưng long thịnh vượng. Con lại xin kính mời các vị Tổ Tiên nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá Thúc, Huynh Đệ, Cô Di, và toàn thể các Hương linh gia tiên đồng lai hâm hưởng. Tín chủ con lại xin kính mời ngài Thổ Công, Táo Quân và chư vị Linh thần đồng lai giám cách thượng hưởng. Tín chủ lại mời các vị vong linh Tiền chủ, Hậu chủ nhà này, đất này cùng tới hâm hưởng. Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì. Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Những kiêng kị trong ngày giỗ cần tránh

– Không nếm thức ăn. Khi chuẩn bị mâm cỗ cho đám giỗ, không nêm nếm trước thức ăn rồi mới bày lên, như vậy là tỏ ý bất kính với người mất.

– Không đặt lên mâm cúng các món sống như gỏi cá, món tanh như lươn, cũng không nên cúng các loại thịt như thịt chó, mèo, vịt… Không cúng mắm tôm hoặc các món mà người mất khi còn sống không ăn được.

– Bày chén bát riêng. Khi cúng giỗ, cần chuẩn bị bát đũa mới, không dùng những đồ mà người sống đang dùng.

– Không cúng hoa quả giả. Chuẩn bị hoa tươi quả ngọt để thắp hương cho người đã khuất là bày tỏ lòng thành kính với họ, vì thế đại kị dùng hoa giả, quả giả thắp hương trong ngày giỗ.

– Đám giỗ cho người chết trẻ (chết yểu) theo tập quán thường không được tổ chức. Sau khi hết tang, chuyển di ảnh lên ban thờ coi kết thúc việc cúng giỗ. Tuy nhiên ngày nay các gia đình vẫn làm giỗ cho con cháu không may chết trẻ để bày tỏ lòng thương xót.