Bát Cơm Cho Người Đã Khuất

--- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Chuẩn Bị Mâm Cỗ Cúng Mùng 1 Tết Đầy Đủ
  • Gợi Ý Món Ngon Cho Mâm Cỗ Chay Cúng Rằm Tháng Giêng
  • Những Món Canh Ngày Tết
  • Các Món Chay Cúng Tết: 7 Món Ăn Chay Cho Ngày Tết Nguyên Tiêu
  • Tìm Hiểu Các Món Ăn Chay Ngày Tết Không Thể Bỏ Qua
  • Anh Bảng, giám đốc, là cựu tù binh đảo Phú Quốc. Người trong Bảo tàng đều là cựu tù binh cùng nhân viên phục vụ là con em trong gia đình. Báo chí đã nói nhiều về Bảo tàng này, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị… đều đã đến thăm Bảo tàng.

    Bữa trưa giản dị, chúng tôi thân mật ngồi bên nhau. Chờ ai nữa? Tôi hỏi vì thấy còn ba chiếc bát, ba đôi đũa để cạnh mâm cơm. Anh Bảng vừa gắp thức ăn bỏ vào từng bát, vừa nói:

    – Đây là bát của đồng đội. Bữa nào chúng tôi cũng nhớ mời các liệt sĩ, các đồng đội đã hi sinh trong lao tù về ăn cơm.

    Tôi lặng người, cảm thấy như có những ai đó đứng bên, di động quanh phòng. Không khí trầm hẳn xuống trong khi cốc bia vẫn lăn tăn sủi bọt.

    Phong tục Việt Nam khi nhà có người chết thì làm lễ cúng cơm trong ba ngày. Việc tang ma xong thì mỗi ngày một lần, đến bữa ăn, gia chủ bày lên ban thờ người chết một bát, cơm hoặc canh, nói theo lễ nghĩa trong nhà có thức gì cúng thức ấy, cúng cho đến 49 hoặc đủ 100 ngày. Nhiều gia đình còn đặt trên ban thờ đĩa nhỏ muối và gừng, với ngụ ý sâu xa “gừng cay muốn mặn xin đừng quên nhau”. Trong mâm cơm cúng thường có quả trứng luộc, “quả” là có ý nhắc “ăn quả nhớ người trồng cây”; trứng ngụ ý truyền nối thế hệ, dòng tộc “từ trong trứng nở ra”.

    Những phong tục, lễ nghĩa, nghi thức… sâu đậm nhân văn, giáo dục cộng đồng, thế hệ con cháu hôm nay.

    Bát cơm nhớ về đồng đội ở Bảo tàng các chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày cũng mang ý nghĩa tâm linh như thế. Anh Bảng nói thêm: Đi các nơi dự liên hoan chúng tôi vẫn không quên đồng đội. Một lần dự tiệc ở Cung văn hóa Hữu nghị vì chờ mãi không thấy nhân viên phục vụ đáp ứng nên chúng tôi bày lên bàn ba chiếc bát, ba đôi đũa mang theo trong túi xách. Bát của chúng tôi thì nhận ra ngay, cô phục vụ có ý coi thường, xô đẩy thế nào đó, cả ba chiếc bát rơi vỡ tan. Khi biết là bát cho người đã khuất, cô gái sợ run người. Tôi trấn tĩnh: Không sao. Rồi nói đùa:

    – Các anh ấy chỉ nhắc khéo chứ không biết giận dữ gì đâu.

    Anh Bảng nói thêm:

    – Ở đây cũng vậy, bữa nào quên không bày thêm ba chiếc bát là y như rằng, có chuyện.

    Thăm bảo tàng di tích qua phòng nào khách tham quan cũng thấy tấm biển nhắc nhở ” Xin nhẹ bước chân, không sờ hiện vật/Kẻo đụng vào người đứng quanh đây“…

    Qua hai phòng lớn trưng bày cảnh toàn cảnh nhà tù Phú Quốc khủng khiếp cùng những hiện vật gốc rất có hồn, những phục dựng cảnh giam cầm, tra tấn ghê rợn dưới ánh sáng mờ mờ như chốn địa ngục âm ti, chúng tôi bước vào khu điện thờ các anh hùng liệt sĩ, thắp hương. Mặt trước điện là hồ nước. Lối đi có đá núi, cỏ xanh, bóng cây râm mát. Tượng liền anh khăn đóng áo the đứng bên liền chị áo tứ thân thắt lưng bỏ múi đang hát quan họ. Dưới lầu treo quả chuông đồng, bên cây ổi mang từ nghĩa trang nhà tù Phú Quốc về là tượng đá trắng một cô gái đang kéo vĩ cầm. Suốt ngày đêm cô kéo đàn cho các anh vui.

    Trên đường về, ba chiếc bát, ba đôi đũa dành cho các đồng đội bên mâm cơm mãi ám ảnh tôi. Bảo tàng không chỉ là nơi trưng bày những hiện vật. Có lẽ điều khác biệt là do những cựu tù binh, cựu chiến sĩ bị địch bắt tù đày tự lập nên và trông coi, gìn giữ, có sức thu hút đông đảo người trong nước khách quốc tế tham quan.

    Tôi lặng người, cảm thấy như có những ai đó đứng bên, lởn vởn quanh phòng. Không khí trầm hẳn xuống trong khi cốc bia vẫn lăn tăn sủi bọt.

    Lê Văn Ba

    --- Bài cũ hơn ---

  • Diễn Đàn Rao Vặt Tổng Hợp: Bạn Có Thắc Mắc Tại Sao Cúng Giỗ Phải Có Bát Cơm Quả
  • Bạn Có Thắc Mắc Tại Sao Cúng Giỗ Phải Có Bát Cơm Quả Trứng?
  • Cúng Đất Đai Mấy Chén Cơm Và Kết Hợp Với Lễ Vật Gì?
  • Mâm Cúng Giỗ Mấy Chén Cơm
  • Phong Thủy Thờ Cúng Tại Căn Hộ Chung Cư
  • Cúng Cơm Bao Nhiêu Ngày? Những Lưu Ý Cúng Cơm Cho Người Đã Khuất

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Lập Bàn Thờ Cửu Huyền Thất Tổ Hợp Phong Thủy
  • Cúng Dường Mandala Và Guru Yoga – Ripa Việt Nam
  • Cúng Dường Mandala – Biểu Trưng Của Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới
  • Nghi Thức Cúng Dường Trong Kim Cang Thừa
  • Nghi Thức Cúng Lễ Trong Kim Cương Thừa
  • 18/12/2020 – 11:38 AM

    Admin

    6881 Lượt xem

    Những luật tục nào mà bạn cần chú ý sau khi có một người trong nhà đã mất. Cách bạn để tang và thực hiện các nghi lễ có thực sự đúng thuần phong mỹ tục. Đặc biệt là nghi thức cúng cơm cho người đã khuất. Điều đặc biệt cơ bản đó là nên cúng cơm bao nhiêu ngày là đúng. Cúng cơm chính là cách bạn tỏ lòng thương nhớ với vong hồn đã khuất. Cúng cơm nói cách khác là “bữa cơm gia đình” dành cho vong linh. 

    CÚNG CƠM LÀ GÌ? NÊN CÚNG CƠM BAO NHIÊU NGÀY CHO VONG LINH?

     

    Cúng cơm là gì? Nên cúng cơm bao nhiêu ngày cho vong linh

    Tập tục cúng cơm phát triển và ra đời từ rất lâu rồi. Theo châm ngôn nhà Phật thì cúng cơm như một nghi lễ “báo hiếu”. Hay nói cách khác đó là “đạo nghĩa” ứng xử của con cháu đối với người đã khuất. Cách bạn bài trí và sắp xếp những công việc trong khoảng thời gian cúng cơm là cực kỳ quan trọng. 

    Cúng cơm là gì?

    Theo tập tục của Việt Nam. Cứ tính từ ngày người đã mất cho tới 100 ngày sau đó thì ngày nào gia chủ cũng cần cúng cơm cho người quá cố. Chu trình bữa cơm cúng là khoảng 2 bữa/ngày. Hiểu đơn giản là khi cúng thì cúng những gì? Đó là bạn chỉ cần cúng đúng như bữa ăn bình thường mà gia đình hay ăn. 

    Cúng cơm là gì?

    Cúng cơm là một nghi lễ khởi nguồn từ phương Đông. Đây là nghi thức cúng tế bài vị vong linh vào những bữa ăn gia đình trong vòng 100 ngày đầu. Nghi thức diễn ra trong quy mô gia đình là chính. Mỗi bữa ăn chính của gia chủ có người đã khuất đều phải làm một phần lễ (cơm) dâng cúng lên bài vị người đã mất. 

    Nên cúng cơm bao nhiêu ngày cho vong linh?

    Như đã nói qua ở trên thì cúng cơm diễn ra khoảng 100 ngày từ ngày để tang người đã khuất. Hiện nay thì tùy vào quan niệm và cách đánh giá của từng gia đình. Nhưng tựu chung lại thì 100 ngày là con số phổ biến để tiến hành nghi thức cúng cơm. 

    Ở những địa phương khác nhau, các dân tộc khác nhau có ngày cúng cơm khác nhau. Có những nơi có những người chỉ cúng đúng 49 ngày là đủ (dựa theo lễ Chung Thất). Theo thuyết của Phật gia thì 49 ngày là đủ để vong hồn siêu thoát khỏi trần tục.  Vì thế ở những địa phương như ở miền Bắc. Mọi người thường có những ngày “49 ngày” cho người đã khuất.

    Có những nơi người dân sẽ cúng hết 100 ngày, hay còn gọi là lễ thốt khóc (thôi khóc). 100 ngày còn là con số theo ý niệm là đủ để cho vong hồn có thể nhập tràng (tức siêu thoát hoàn toàn).

    NHỮNG LƯU Ý KHI CÚNG CƠM CHO NGƯỜI ĐÃ KHUẤT

     

    Phật từng dạy chúng ta đó là “Vạn hạnh Bồ tát hiếu nghĩa vi tiên”. Câu này có ý nghĩa là “trong các hạnh của Bồ tát thì hiếu nghĩa là hạnh đạo quan trọng nhất”. Vì vậy có thể nói, ngay cả những nghi thức cúng tế như “cúng cơm” cũng là một nghi thức đạo lễ quan trọng bậc nhất. 

    Những lưu ý khi cúng cơm cho người đã khuất

    Cúng mở cửa mộ 

    Nghi thức mở cửa mộ hay còn gọi là khai mộ. Nghi thức này được hiểu đó là khi đã chôn cất đến ngày thứ 3. Mọi người trong gia đình người đã khuất mang theo vật lễ cúng ra trước cửa mộ để cúng tế. 

    Nghi thức cúng trước cửa mộ vong linh

    Các vật dụng đặc biệt cần có khi tiến hành nghi lễ mở cửa mộ đó là: cây thang 9 bậc và cây thang 5 bậc, 3 ống trúc đựng gạo trắng, cây mía lau. Ngoài ra còn có các vật dụng khác như tam sên, chè xôi, trái cây, rượu trắng, hoa quả, …

    Đồng thời với việc cúng mở cửa mộ đó là ở nhà bạn nên chuẩn bị 4 mâm cơm cúng lần lượt đó là: ông bà, đất đai, cô hồn, vong linh. 4 mâm cơm đại diện cho việc bạn đang đáp đền và chứng giám về nghi thức cúng cơm với những người tối quan trọng trong ngũ thường.

    Cúng Thất

    Nghi lễ cúng Thất nhập tràng cho linh hồn

    Thời gian tiến hành lễ Cúng Thất đó là khoảng từ ngày người quá cố mất cho tới đủ 7 ngày. Nghi lễ này được diễn ra từ buổi chiều ngày hôm trước (trước hôm sống). Bạn cần chuẩn bị một số thứ quan trọng như: thầy cúng Sinh là không thể thiếu, hoa quả đèn nhang, chè xôi, hoặc các loại hoa cúng.

    Cúng 21 ngày, 49 ngày và 100 ngày

    Cúng 21 ngày được gọi với cái tên là Tuần Tam Thất. Cúng 49 ngày để giúp vong hồn người đã khuất được siêu thoát, nghi thức cúng 49 ngày còn được gọi là Tuần Chung Thất. Cúng 100 ngày hay còn gọi là Tuần Thốt Khóc, nghi lễ này được xem là cuối cùng trong nghi thức cúng cơm cổ truyền cho người đã mất. 

    Nghi lễ cúng 21, 49 và 100 ngày cho vong hồn người khuất

    Nghi lễ cúng 100 ngày là nghi lễ giúp phôi phai đi sự buồn đau của gia chủ đối với người đã khuất. Nghi thức cúng cơm cũng toàn vẹn ý nghĩa khi kết thúc lễ 100 ngày cho vong hồn. Vong hồn lúc này sẽ được nhập tràng và không còn buồn lau lưu luyến với trần tục nữa.

    Tổng kết

    Nghi thức cúng cơm là một phần không thể thiếu đối với bất cứ đám tang lễ nào. Nó là hiện thân cho sự tôn trọng và đạo nghĩa của gia chủ đối với vong linh người đã khuất. Cúng cơm bao nhiêu ngày thì bấy nhiêu ngày hướng sự quan tâm về bài vị và người quá cố. 

    Nghi thức lễ nghĩa phương Đông luôn luôn đề cao tính thảo hiền và hiếu nghĩa, tức đạo làm người, công ơn báo hiếu dưỡng dục. Chính vì thế mà sự khởi sắc trong nghi lễ cúng cơm cũng ngày một văn minh hơn, khoa học hơn. 

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Lưu Ý Khi Đọc Bài Văn Khấn Cúng Căn Cho Bé Gái 3, 6, 9, 12 Tuổi
  • Hướng Dẫn Cách Tính Tuổi Cúng Căn Cho Bé 3 Tuổi Chính Xác Nhất?
  • Cúng Cô Hồn Có Gọi Là Mê Tín Không?
  • Cách Xếp Giấy Tiền Vàng Mã Thành Cây Tiền Đẹp Như Thế Nào?
  • Hướng Dẫn Đặt Tên Và Cầu Siêu Thai Nhi Tại Chùa
  • Cúng Dường Người Đã Khuất

    --- Bài mới hơn ---

  • Thừa Thiên Huế: Chùa Từ Lâm Tổ Chức Pháp Hội Trai Tăng Cúng Dường
  • Hướng Dẫn Cách Xem Ngày Tốt Chuyển Nhà Trong Năm 2022
  • Chọn Ngày Tốt Về Nhà Mới Theo Tuổi 2022
  • Cách Bày Mâm Cúng Mùng 1, 2, 3 Đúng Nhất Để Có Một Năm Mới Bình An, Thuận Lợi ~ Ẩm Thực Thông Thái
  • Hướng Dẫn Cúng Rằm Trung Thu Đúng Phong Thủy?
  •  

     

    Thực ra việc cúng 7 thất chỉ có ở một số quốc gia, như Trung Hoa, Việt Nam, chớ không phải ở toàn thể các nước theo Phật giáo. Tuy nhiên, chúng ta có thể duy trì những cuộc lễ nầy như những cơ hội tốt để người Phật tử làm mười điều tạo phước báu, nhứt là bố thí cúng dường, lợi ích cho mình, cho người hiện tiền và quá vãng.

     

    Thường thì người còn sống tổ chức nấu nướng những món ăn, thức uống thịnh soạn để cúng người quá vãng, họ tin tưởng rằng người quá cố sẽ trở về thọ hưởng những vật thực họ cúng. Việc làm nầy như thế nào đứng trên quan điểm của Phật giáo? Chúng ta nên đọc lại trong kinh tạng, xem Ðức Phật dạy như thế nào. Kinh Tăng Chi Bộ, Chương Mười Pháp, III, 177, Phẩm Jànussoni có ghi lại cuộc đối thoại giữa Ðức Phật với Bà la môn Jànussoni cho biết không phải lúc nào sự cúng dường cũng đến được với người đã khuất.

     

    Một lần nọ, Bà la môn Jànussoni đến bạch hỏi Ðức Thế Tôn. Ðại ý như sau:

     

    – Bạch Tôn giả Gotama, chúng tôi là các Bà la môn chuyên làm các lễ cúng những người chết với mục đích mong rằng sẽ đem lại lợi ích cho người chết. Thưa Tôn giả Gotama, việc chúng tôi cúng người chết như vậy thật sự có lợi ích không ? Những người đã chết rồi có thọ hưởng được của bố thí cúng dường của thân nhân không ?

     

    Ðức Phật trả lời:

     

    – Nầy Bà la môn, nếu việc cúng dường người đã khuất đó có tương xứng xứ thì mới có lợi ích. Ngược lại nếu không có tương xứng xứ thì không có lợi ích cho người chết.

     

    – Thưa Tôn giả Gotama, thế nào là tương xứng xứ? Thế nào là không tương ứng xứ?

     

    – Nầy Bà la môn, ai sống sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời vô ích, có tham ái, có sân, có tà kiến, sau khi mạng chung sanh vào địa ngục. Tại đây, y được nuôi sống và tồn tại bằng thức ăn của địa ngục. Cúng thức ăn của con người là không tương xứng xứ. Vị nầy không hưởng được lợi ích gì từ thức ăn của người thân thuộc cúng kiến.

     

    Cũng vậy, Ðức Phật giảng giải thêm rằng một người do làm mười điều ác như trên, sau khi thân hoại mạng chung, người nầy sanh vào loài bàng sanh. Tại đây, y được nuôi sống và tồn tại bằng thức ăn của loài bàng sanh. Do đó, không tương xứng, khi thân quyến đem thức ăn của con người để cúng quải, sẽ không được lợi ích gì từ thức ăn của người thân cúng .

     

    Với những người khi sống biết tu tập mười nghiệp lành: từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ sống tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không tham ái, không sân hận, có chánh kiến, sau khi chết được tái sanh làm người, hoặc có phước báu hơn thì tái sanh làm chư Thiên, thì tại đấy, tùy theo là con người, hoặc là chư Thiên, họ có thức ăn riêng ở cảnh giới đó để nuôi sống họ. Cả 2 trường hợp nầy đều là không tương ứng xứ. Họ không  thọ hưởng sự bố thí, cúng dường của người thân còn hiện tiền.

     

    Kế tiếp Ðức Phật cho biết: đối với người nào từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, có tham ái, có sân, có tà kiến, sau khi chết tái sanh vào cõi ngạ quỷ. Chỉ riêng một loài ngạ quỷ mới có thể thọ hưởng sự bố thí cúng dường thức ăn uống của bạn bè, bà con. Món ăn nào mà thân quyến hiến cúng cho ngạ quỷ thì họ sẽ hưởng được món đó. Ðây là trường hợp tương xứng duy nhứt.

     

    Sau khi Ðức Phật giải thích như thế, Bà la môn Jànussoni tiếp tục hỏi: nếu bà con huyết thống đã chết ấy không sanh vào loài ngạ quỷ thời ai sẽ hưởng việc bố thí cúng dường đó ?

     

    – Nầy Bà la môn, các bà con huyết thống khác đã chết nay đang ở cảnh giới ấy sẽ thọ hưởng.

     

    Bà la môn Jànussoni lại hỏi tiếp:

     

    – Thưa Tôn giả Gotama, nếu cả dòng họ bà con huyết thống của người cúng, không một ai tái sanh vào ngạ quỷ thời ai sẽ hưởng việc bố thí cúng dường ấy?

     

    Ðức Phật trả lời:

     

    – Không có trường hợp nầy, rằng chỗ ấy có thể trống không trong một thời gian dài mà không có một ai trong huyết thống bị tái sanh vào đó. Nhưng nầy Bà la môn, người bố thí vẫn hưởng quả tốt.

     

    Sau đó, Ðức Phật dạy thêm về phước báu của sự bố thí.

     

    Ngài dạy rằng người nào trong đời sống tuy có sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, có tham, có sân, có tà kiến, nhưng lại biết bố thí cho Sa môn, cho Bà la môn, các món ăn thức uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Người ấy sau khi mạng chung sẽ sanh vào loài voi, nhưng là con voi được ăn uống, chăm sóc và trang phục đầy đủ. Nếu sanh làm ngựa, bò hay các loài gia cầm khác thì vẫn thọ hưởng đầy đủ đồ ăn uống, được chăm sóc và đeo vòng hoa, đầy đủ đồ trang phục, tương xứng với phước duyên bố thí của họ khi còn làm người.

     

    – Ðối với những người đầy đủ mười hạnh lành như từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ sống tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ lời phù phiếm, từ bỏ tham ái, từ bỏ sân, có chánh kiến, lại còn biết trau dồi hạnh bố thí, cúng dường các Sa môn, Bà la môn các món ăn, thức uống, vải mặc, xe cộ, các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Sau khi thân hoại mạng chung, người nầy sanh làm người, được hưởng năm dục công đức của loài người, hoặc được sanh làm chư Thiên và tại đấy được hưởng năm dục công đức của chư Thiên.

     

    Cuối cùng Ðức Phật xác định người bố thí đương nhiên có kết quả, chứ không phải không có kết quả.

     

    Tóm lại, bài kinh nầy cho chúng ta biết rằng chỉ có chúng sanh ở cõi ngạ quỷ, trong một giới hạn nào đó, mới có thể thọ hưởng những gì người sống bố thí cúng dường.

     

    Trong kinh Singàlovàda Ðức Phật dạy người con phải làm tròn 5 bổn phận. Phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già, làm công việc thay thế cha mẹ, gìn giữ truyền thống tốt đẹp của gia đình, tỏ ra xứng đáng thọ hưởng di sản của ông cha và điều cuối cùng là đặt bát cúng dường Tam bảo, hồi hướng phước báu đến những thân nhân quá vãng. Không phải chỉ tổ chức cúng dường hồi hướng phước trong tang lễ, mà còn phải tinh tấn tu tập, làm nhiều việc lành trong suốt cuộc sống, và trong những dịp giỗ, hoặc bất cứ khi nào thuận tiện cũng phải tạo cơ hội để làm nhiều phước sự và hồi hướng đến người đã mất.

     

    Trong dân gian, do tập nhiễm những tục lệ lỗi thời lâu đời của Trung Hoa xưa, thay vì làm phước đúng theo pháp để hồi hướng cho người quá cố, người ta phung phí tiền bạc mua các loại vàng mã đốt cúng người chết. Ngày nay với kỹ thuật hiện đại người ta in những đồng dollars Mỹ, rất giống tiền thiệt, để cúng người chết, phải nhìn thật kỹ mới biết đó là tiền giả. Trên thế gian nầy tiền nước nào thì phải do ngân hàng chính phủ nước đó in ấn phát hành. Giấy bạc nào không do ngân hàng của nước đó phát hành thì xem như bất hợp pháp. Việc lưu hành và sử dụng tiền giả là một trọng tội. Giả sử ở cảnh giới mới, người thân của chúng ta sử dụng được tiền của chúng ta đốt cúng đó, thì có phải người thân quá vãng của chúng ta sẽ phạm tội của luật pháp nơi cõi đó hay không. Người ta cũng có thể làm được những nhà cửa, tivi, thẻ tín dụng, telephone, các vật dụng khác .v.v… trông như thật, thậm chí làm những hình người rất đẹp đốt cúng người chết xem như để cưới vợ cho con của mình đã chết. Giả sử người đã khuất sẽ nhận được một tivi, một chiếc xe hơi, telephone, hay các vật dụng khác .v.v…, tất cả đều là cái vỏ không có ruột, không có máy móc bên trong, không có nhiên liệu, không pin, không điện v.v… họ có thể sử dụng được hay không ? Hay là một người vợ bằng giấy, chỉ có da, không có lục phủ ngũ tạng, không có thần kinh, không máu .v.v…thì có lợi ích gì cho người chết hay không ?

     

    Lại nữa thông thường người Việt chúng ta khi nghĩ đến người thân quá vãng, nhứt là lúc họ vừa mới qua đời, chúng ta chỉ nghĩ đến việc cúng dường thức ăn thôi. Làm sao nấu nướng và dọn lên bàn những thức ăn ngon, mâm cao cổ đầy để cúng người quá vãng, mà chúng ta không nghĩ đến phần tinh thần. Chúng sanh vừa cần đến đời sống vật chất mà cũng cần đến đời sống tinh thần. Chúng ta nên phân biệt về sự cúng tế của nhân gian và cách tạo phước để hồi hướng, phù hợp với lời dạy của Ðức Phật. Sự tạo phước của người Phật tử không thuần là lễ nghi. Lễ nghi chỉ làm đẹp, làm trang nghiêm, làm cho tâm chúng ta hoan hỷ thêm, nhưng điều cốt yếu là chúng ta tạo những phước lành. Ðức Phật dạy chúng ta những pháp mà khi thực hành chúng ta tạo ra những phước báu, để rồi chúng ta đem những phước báu đó hồi hướng cho người quá vãng. Ðó là mười phước nghiệp sự, tạo phước báu bằng: bố thí, trì giới, tu thiền, cung kính, phục vụ, thính pháp, thuyết pháp, hồi hướng phước, tùy hỷ phước, cải thiện tri kiến.

     

    Trong việc tạo phước hồi hướng đến người quá vãng, từ ngàn xưa trong truyền thống Phật giáo, chúng ta thường quan trọng trong việc để bát, trai tăng. Chẳng hạn vua Bimbisàra nằm mộng thấy thân nhân bị khổ quả đói lạnh, vua đến bạch hỏi Thế Tôn. Ðức Ðiều Ngự bi mẫn chỉ dạy cách tạo phước hồi hướng các vong linh thoát ly mọi khổ ách, được sanh vào cõi chư Thiên. Hay là chẳng hạn, Tôn giả Sariputta gặp một ngạ quỷ thân mình trần truồng, hình dung xấu xí, gầy guộc và thân thể nổi gân, người yếu ớt, xương sườn lộ rõ, trong kiếp thứ năm về trước đã là mẹ của ngài Sariputta. Chồng của ngạ quỷ nầy trong kiếp đó là đại phú gia thường xuyên bố thí cúng dường thực phẩm, y phục, sàng tọa, nhiều vật dụng đến người nghèo, du sĩ, lữ khách, hành khất và nhất là các Sa môn, Bà la môn. Vị đại phú gia nầy dặn vợ mỗi khi ông vắng nhà, bà nên bố thí, cúng dường rộng rãi như vậy. Mặc dầu bà đã hứa với chồng, bà sẽ giúp đỡ, bố thí rộng rãi như lời ông căn dặn, nhưng khi ông đại phú gia đi vắng thì bà cắt giảm tục lệ cúng dường chư Tăng. Ðối với các khách lỡ đường đến xin tạm trú, bà chỉ cho ở túp lều xiêu vẹo bị bỏ phế sau nhà. Khi đám du sĩ đến xin thực phẩm nước uống và các thức ăn khác, bà thường buông lời nguyền rủa như: hãy ăn phân đi! Hãy uống nước tiểu đi! Hãy uống máu đi! Hãy ăn óc của mẹ ngươi đi! Do ác hạnh nầy, sau khi từ trần bà tái sanh làm nữ ngạ quỷ có thân hình đáng ghê như trên. Nữ ngạ quỷ nầy than với tôn giả Sariputta, do ác nghiệp đã tạo, nữ ngạ quỷ phải ăn hoặc uống những thứ gì từ sự nôn tháo, bọt mồm, nước mũi, nước đờm dãi, chất mỡ rỉ ra từ xác chết bị thiêu, máu sản phụ lâm bồn, máu mủ của các loài thú và máu của người nam người nữ. Ngạ quỷ phải ăn tất cả những gì cấu uế khác trong người nam và người nữ, mặc dầu vậy vẫn đói khát vô cùng. Lại nữa, không nơi cư trú, không nhà cửa, chỗ nằm là chiếc giường đen ở nghĩa địa.

     

    Nữ ngạ quỷ thỉnh cầu tôn giả cúng dường chư Tăng, tạo phước bố thí hồi hướng để từ đó ngạ quỷ giải thoát khỏi cảnh khổ phải ăn uống dơ bẩn, và đày đọa như vậy. Hôm sau, tôn giả Sariputta, cùng với tôn giả Moggallanà (Mục Kiền Liên), Anurudha (A na luật đà), và Kappina (Kiếp tân na) đến gặp vua Bimbisàra (Tần bà sa). Tôn giả Mục Kiền Liên trình bày những việc xảy ra về nữ ngạ quỷ nầy. Nghe xong, sau đó vua cho xây 4 am thất, có đủ bóng mát và nước. Sau khi am thất được hoàn tất, nhà vua đem chúng cùng các vật dụng cần thiết trong cuộc sống cúng dường tôn giả Sàriputta. Tôn giả nhận xong, đem dâng đến tất cả chư Tăng có Ðức Phật làm thượng thủ, và hồi hướng phước đến nữ ngạ quỷ nhờ vậy nữ ngạ quỷ liền tái sanh lên thiên giới thân hình đẹp đẽ, có đầy đủ thức uống, thức ăn, lẫn áo quần. (xem chú giải Ngạ Quỷ Sự, Chương II, chuyện ngạ quỷ Mẹ Xá Lợi Phất)

     

    Một số người chỉ lo tạo chùa to tượng lớn, nhưng lãng quên, hoặc xem nhẹ việc đào tạo tăng tài và làm sao duy trì Tăng đoàn.Vận mạng Phật giáo không nằm ở chùa to, Phật lớn, những cái nầy rất cần nhưng vẫn là việc phụ. Phật Pháp tồn tại và hưng thạnh nằm ở đạo cao đức trọng của tập thể chư Tăng. Tăng tài có thể tạo ra chùa lớn và gìn giữ giáo pháp lâu dài. Chớ chùa lớn không tạo ra chư Tăng. Việc bố thí cúng dường cho tập thể quan trọng hơn cá nhân. Nếu không có sự cúng dường của thiện tín thì chư Tăng Ni phải lo cái ăn mặc …không có thì giờ, không thể an tâm tu tập, học pháp, hành pháp, hoằng pháp. Từ đó không có người gìn giữ giáo pháp và hoằng pháp, Phật Pháp sẽ mai một, suy đồi. Một khi nền tảng đạo đức suy đồi thì người làm ác sẽ gia tăng, xã hội sẽ bất ổn. Lúc đó chúng sanh sẽ sống bất an, đau khổ gia tăng. Do vậy, một chén cơm, một bộ y, một trú xứ thích hợp, một viên thuốc mà người thiện tín cúng dường đến Tăng già có ý nghĩa bảo vệ Phật Pháp, bảo vệ an ninh cho mọi người. Thế thì, việc cúng dường trai tăng quả là có phước báu vô lượng, đem lại an vui cho mình, cho người, cho muôn loài. Việc bố thí cúng dường quan trọng không phải ở số lượng lễ vật nhiều và sang trọng mà cốt yếu ở tấm lòng. Tấm lòng vì mình, vì người, vì an vui của muôn loài. Vật thí phải hợp đạo tức là không do sự trộm cắp, không do tà mạng. Một vật thí hợp đạo đó nếu được xuất ra với tấm lòng, đó là một hành động sống vị tha.

     

    Sống vị tha là sự vĩ đại. Một người biết mở lòng mình ra bao trùm đến tha nhân thì tâm của họ không chật hẹp, tù túng. Một đại nhân là người sống bằng cái tâm bao trùm đại thể, sống biết mình mà cũng biết người. Người như vậy thì tâm của họ rất nhẹ nhàng, rất an vui, đây là nguồn phước báu vô vàn. Trái lại, một người sống chỉ biết mình thôi thì có thể còn tệ hơn loài bàng sanh. Một người sống bằng tâm trạng ích kỷ hẹp hòi, không biết tùy hỷ với việc tốt của người thì khi chết rất khó nhận được phước báu của người khác hồi hướng cho mình. Bởi vậy biết bố thí, cúng dường, san sẻ cho kẻ khác là phước báu lớn lao. Chúng ta tổ chức một buổi lễ trai tăng trang nghiêm đó là lễ cúng dường rất tốt. Những khi khác không có chư Tăng, chúng ta nên san sẻ những gì chúng ta có cho một người nghèo đói đang thực sự cần những thứ đó, đấy là việc làm đặc biệt quý báu. Thậm chí thực phẩm mình cho chim hay những con vật khác ăn cũng là một điều chúng ta nên làm và làm thường xuyên để hồi hướng cho người đã khuất.

     

    Một nếp sống đạo đức, có giới hạnh là một hạnh phúc cho chính mình mà cũng là một niềm an lành cho xã hội, cho chúng sanh, một phước báu lớn, nếu được hồi hướng là điều vô cùng thanh cao và lợi ích. Hành thiền, giữ chánh niệm tỉnh giác là phước báu cũng rất lớn. Trong đời sống, biết cung kính quý trọng, biết phục vụ tha nhân là phước báu quan trọng có thể hồi hướng được. Thấy người khác được hoan hỷ, chúng ta tùy hỷ với họ cũng là một phước báu vô lượng. Người mà biết tùy hỷ với người khác thì sau nầy người khác hồi hướng cho mình, mình mới có khả năng nhận được phước hồi hướng. Bây giờ nếu mình không tùy hỷ với người khác, sau nầy khi có ai hồi hướng cho mình, mình không khả năng nhận được, vì mình đã không biết tùy hỷ. Nghe Pháp, nói Pháp, giúp người khác những ý kiến đem lại hạnh phúc chân thật và lâu dài, hoặc giả một khóa lễ tụng kinh cho mình và người khác nghe và cho phi nhân nghe để sống hợp với Pháp và cải thiện tri kiến là những phước báu khác cũng vô cùng cần thiết để hồi hướng cho người quá vãng. Chúng ta có thể làm, làm hoài vì lợi ích cho chính mình và cho người hiện tiền lẫn người quá vãng. Làm phước hoài mà không bao giờ thấy đủ và khi làm xong chúng ta hồi hướng đến tất cả. Một ngọn nến nếu được mồi cho ngọn nến khác, ngọn lửa nơi ngọn nến ban đầu vẫn còn sáng, nhưng thêm ngọn lửa nơi ngọn nến thứ hai sẽ làm ánh sáng trong phòng tăng thêm. Nếu mồi cho nhiều ngọn nến nữa thì không những ngọn lửa ban đầu vẫn còn, mà bây giờ càng có thêm nhiều ngọn nến cháy thì ánh sáng nơi đó sẽ càng tăng thêm nữa. Việc hồi hướng cũng như việc mồi lửa cho nhiều ngọn nến khác, nó giúp cho thiện tâm được phát triển, phước báu được tăng trưởng nơi người. Ðó là những việc làm hợp với Pháp, hợp lẽ đạo.

     

    Một người muốn trị lành bệnh cho người khác, trước hết phải học về y khoa để có khả năng trị bệnh. Một người muốn cứu kẻ khác sắp chết đuối, người ấy phải biết bơi, hoặc phải có các phương tiện thích nghi chẳng hạn ghe thuyền, phao …Muốn cúng dường người đã khuất và muốn sự cúng dường đó có thể đến được với người đã khuất thì tối thiểu phải có những phẩm vật tương xứng. Phẩm vật đó nên là những phước báu do sự huân tu, làm các thiện sự, nhứt là việc làm phước đến tăng già. Bởi vì chư Tăng “là phước điền vô thượng trong đời”, nếu gieo giống vào “ruộng phước” phì nhiêu đó đương nhiên sẽ có lợi ích lớn, quả lớn.

     

    Sau khi chúng ta làm được những điều phước, chúng ta nên đem hồi hướng cho những người thân trong kiếp nầy, mà hơn thế nữa cũng hồi hướng đến tất cả thân bằng quyến thuộc từ nhiều đời nhiều kiếp đến kiếp hiện tại nầy. Ðó là những lễ vật cúng dường có lợi ích, hợp đạo, sẽ thành tựu đến người quá vãng.

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cúng Rằm Tháng 7 Thế Nào Cho Đúng Với Tư Tưởng Của Đạo Phật
  • Cúng Dường, Nhận Cúng Dường Đúng Pháp
  • Công Đức Phóng Sanh Không Thể Nghĩ Bàn
  • Bố Thí Và Cúng Dường Như Pháp – Lời Phật Dạy Trong Kinh Tạng Nikàya
  • 7 Thủ Ấn Nhà Phật – 7 Trạng Thái Của Tâm
  • Cách Thực Hành Cầu Siêu Cho Người Đã Khuất

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Khấn Và Cách Sắm Lễ Cầu Duyên Trước Bàn Thờ Mẫu
  • Giáo Hội Phật Giáo Lên Tiếng Về Việc Cúng Dường, Cầu An Qua Ví Điện Tử
  • Ý Nghĩa Cầu Siêu Trong Phật Giáo
  • Phong Tục Cúng Mát Nhà Của Đồng Bào Dao
  • Cúng Mát Nhà Đầu Xuân Của Đồng Bào Tày Chiêm Hóa
  • Theo quan kiến của đạo Phật, xúc tình tiêu cực bắt nguồn từ tham sân si là nguyên nhân chính đưa đến sự đọa lạc vào các cảnh giới khổ đau. Cho nên ý nghĩa cầu siêu cần được luận giải từ tâm, vạn pháp duy tâm tạo, bao gồm cả hiện tượng sống chết, luân hồi và giải thoát. Chính kiến trong việc cầu siêu là đem tâm thanh tịnh, thành kính, trải rộng lòng từ bi để kiến tạo công đức hồi hướng siêu độ cho vong linh.

    Mối nhân duyên giữa người sống và người đã khuất

    Nghiệp lực làm nhân duyên cho người đã khuất lưu luyến đến người thân, đến gia đình, dòng tộc, quốc gia và xã hội và cả nhân loại nói chung. Cho nên trách nhiệm cầu siêu và báo ân đối với người đã khuất là chung của tất cả mọi người trong xã hội. Bởi tất cả chúng sinh đều từng có nhân duyên nghiệp lực với nhau nhiều đời kiếp trong chốn sinh tử này. Đức Phật dạy: “Vô thủy luân hồi, này các Tỳ-kheo, không dễ gì tìm thấy một chúng sinh trong một thời gian dài lại không một lần nào làm mẹ làm cha” (trích Kinh Trường bộ, HT. Thích Minh Châu dịch). Qua mối nhân duyên tương hữu đó mà Phật giáo đề cao việc báo ân cha mẹ, ân Tam bảo, ân quốc gia xã hội và ân cả pháp giới chúng sinh.

    Chúng ta và người đã khuất vẫn còn mối quan hệ bởi sống chết đều chỉ là tương đối và đang chuyển biến. Chấm dứt thân thể vật lý này gọi là chết, tâm thức đang đi vào một thế giới mới. Khổ đau hay hạnh phúc thì do nghiệp quyết định, tất cả chúng sinh là sản phẩm của nghiệp: “Các loài hữu tình là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp. Nghiệp là những hành động tạo tác của thân khẩu ý, là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa, nghiệp phân chia các loài hữu tình; nghĩa là có liệt, có ưu” (trích Kinh Trung bộ số 135, HT. Thích Minh Châu dịch).

    Chúng sinh trong cõi Ngã quỷ

    Tất cả chúng sinh đều từ nghiệp mà sinh ra, nghiệp ấy do tâm tạo, chuyển nghiệp cũng từ tâm mà chuyển. Do vậy ý nghĩa siêu độ, cứu giúp người chết thoát khỏi khổ đau có hiệu quả hay không là do tâm lượng con người quyết định. Giải thoát các loại cô hồn đang chịu nhiều khổ đau, vất vưởng và luôn bị đói khát hành hạ thì cần có cái tâm hướng về đạo đức giải thoát. Bản chất  tâm giác ngộ nuôi dưỡng hai yếu tố từ bi và trí tuệ. Từ góc độ tu tâm như thế mà khởi các hạnh lành trong pháp siêu độ thì mới có hiệu quả.

    Tâm thành kính cầu siêu cứu độ sẽ mang lại lợi lạc cho vong linh

    Người phát tâm làm nghi thức cầu siêu phải có tâm thương xót vong linh cô hồn vất vưởng và lòng thành kính, niềm tin với chư Phật và hiền thánh tăng. Trong kinh dạy rằng, chư Phật và Bồ-tát thường ứng thân vào trong các loài chúng sinh mà cứu độ. Nghi thức chẩn tế hay cúng thí thực trước thỉnh Phật và Bồ-tát chứng minh, sau đó thỉnh các chân linh, vong linh và cô hồn về thọ nhận phẩm vật là như vậy. Chúng sinh do nghiệp lực sai biệt nên thọ dụng thức ăn cũng sai biệt. Hương hoa phẩm vật trần gian nhờ Phật lực gia trì mà biến thành cam lồ khiến cho họ được no đủ.

    Tuy nhiên, dù biểu hiện dưới hình thức nghi lễ nào, hành giả cần phải có lòng thành thanh tịnh, tam nghiệp thân khẩu ý tương mật mới nhập vào cảnh giới nhất tâm. Tâm cảm được Phật lực mới có sự lợi ích cho việc siêu độ thân nhân quá vãng, cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp. Đó là điều chắc thật mà Đức Phật từng dạy trong kinh điển: “Hãy phát tâm rộng lớn vì cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp đến nay, khắp vì muôn loại chúng sinh ở tinh tú thiên tào, âm ty địa phủ, diêm ma quỷ giới, côn trùng nhỏ nhít máy động, tất cả hàm linh mà bày ra sự cúng dàng vô giá quảng đại, mời đến phó hội, để nương oai quang của Phật, gột rửa ruộng thân, được lợi thù thắng, hưởng vui nhân thiên” (trích Kinh Trung bộ số 135, HT. Thích Minh Châu dịch). Như vậy, cầu siêu cho vong linh qua phương pháp cúng thí thực được gọi là pháp Vô giá quảng đại, nương oai đức cùng lòng từ bi của chư Phật, dựa trên tâm Bồ-đề của hành giả có khả năng cứu độ hết thảy chúng sinh. Hình thức nghi lễ nào mà thiếu tâm cao thượng đó là đi ngược lại với xu hướng giác ngộ của Phật dạy.

    Cầu siêu cho người đã khuất là triết lý sống mang tính nhân văn

    Chúng ta cần nhận thức sâu sắc rằng sống không phải là bắt đầu và chết không phải là kết thúc. Đây cũng là cốt tủy của triết lý sống Phật giáo. Điều này giúp con người sống có trách nhiệm với hành động của chính mình trong hiện tại và tương lai. Đó là nền tảng đạo đức mà cá nhân, gia đình, xã hội và nhân loại đang cần phải nỗ lực dựng xây. Quan niệm này là tri thức cần được phổ cập trong sự giáo dục về đời sống con người. Vì sự bế tắc của số đông người hiện nay là ý thức hệ cực đoan, không tin luật nhân quả luân hồi, tái sinh. Từ đó mà bao nhiêu tệ nạn xấu ác xảy ra, sống là hưởng thụ, chà đạp quyền sống của nhau. Thái độ sống như thế làm cho cuộc đời khổ đau và đen tối hơn, vì họ tin rằng chết là hết!

    Còn người học Phật tin vào nhân quả nghiệp báo,  lấy từ bi và trí tuệ làm sự nghiệp giác ngộ. Ý nghĩa siêu độ thể hiện tinh thần lợi tha, như là phương tiện hành đạo. Lẽ sống ấy đem tâm Phật chan hòa vào lòng đời, vào thế giới người đã khuất với tình thương và lòng ân nghĩa.

    (Nguồn: www.giacngo.vn)

    CHƯƠNG TRÌNH ĐẠI LỄ VÍA ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ VÀ CẦU SIÊU CÁC ANH HÙNG CHIẾN SỸ TỈNH VĨNH PHÚC

    Thời gian: Thứ Năm ngày 17 tháng 11 năm Bính Thân (tức ngày 15/12/2016)

    • 7h30: Chào mừng Quý Quan khách cùng chư Phật tử thiện hữu xa gần về dự lễ.

    • 8h30: Nghi thức triệu thỉnh đức Phật A Di Đà

    • Vũ điệu triệu thỉnh Ngũ trí Như Lai hội nhập Mạn Đà La

    • Lễ gia trì rót đồng chuông hồng chung 3 tạ

    • Cúng dường Ganachakara (Tshog) để tích lũy công đức.

    • 11h00: Ngọ trai

    • Chương trình từ thiện

    • Lễ khai chuông

    • Khóa lễ Changwa cầu siêu độ chư hương linh anh hùng chiến sĩ tỉnh Vĩnh Phúc.

    • Cúng dường tạ ơn Thiên long Bát bộ Hộ pháp.

    • Cầu nguyện gia trì Cát tường.

    • Hồi hướng công đức

     

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghi Lễ Đọc Bài Kinh Cầu Siêu Người Chết Ra Sao?
  • 9 Địa Chỉ Cầu Tài Lộc Nổi Tiếng Cho Dân Kinh Doanh (Tổng Hợp Hai Miền Nam, Bắc)
  • Khoá Lễ Cầu An Đầu Năm
  • Lý Do Tình Duyên Trắc Trở? 2 Cách Cầu Tình Duyên Hiệu Quả Nhất
  • Sắm Lễ Văn Khấn Tại Nhà Khi Cầu Siêu Cho Thai Nhi
  • Bạn Đã Biết Về Nội Dung Của Bài Văn Khấn Cúng Cơm Cho Người Mới Khuất Chưa?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Cúng Tất Niên Cuối Năm (Chiều 30 Tết)
  • Văn Cúng Lễ Tất Niên
  • Cúng Tất Niên Tết Nguyên Đán Canh Tý 2022: Văn Khấn, Mâm Cúng Tất Niên
  • Văn Khấn Lễ Dâng Sao Giải Hạn Đầu Năm 2022
  • Bài Văn Khấn Cúng Lễ Sao Giải Hạn Sao La Hầu Năm 2022
  • Bạn đã biết gì về nội dung của bài văn khấn cúng cơm cho người mới khuất chưa?

    Như chúng ta đã biết, dân tộc Việt Nam từ xưa đến nay có rất nhiều truyền thống được gìn giữ và lưu truyền đến ngày nay. Trong đó, có các tập tục thờ cúng thần linh, thờ cúng ông bà, tổ tiên và những người đã khuất là cực kỳ quan trọng. Đặc biệt phải kể đến phong tục cúng cơm cho người đã mất có ý nghĩa rất tốt đẹp. Vậy bạn đã biết gì về nội dung của bài văn khấn cúng cơm cho người khuất chưa?

    Xemm thêm: Bài Văn Khấn Cúng Giỗ Bố

    Phong tục cúng cơm cho người đã mất

    Nghi lễ cúng cơm thường được tiến hành vào những ngày giỗ người thân đã mất lâu, ông bà, tổ tiên. Nhưng được dùng nhiều nhất là đối với người mới mất. Dù được áp dụng thường xuyên nhưng nhiều người vẫn không biết về ý nghĩa và cách thực hiện nghi lễ này.

    Nghi lễ cúng cơm cho người mới khuất được thực hiện từ ngày mất đến 49 ngày, tức lễ Chung Thất. Tuy nhiên, theo cách riêng của từng gia đình thì có nhà sẽ cúng đến 100 ngày hay còn gọi là lễ tốt khốc – thôi khóc. Nghĩa là đến ngày đó người thân của người ra đi phải kìm nén nỗi buồn, không được khóc nữa để họ có thể thanh thản ra đi, không lưu luyến nhân gian.

    Trong vòng 100 ngày hay 49 ngày đó, ngày nào gia chủ cũng cúng cơm cho người mới mất. Ngày sẽ cúng 2 lần bao gồm bữa trưa và bữa tối. Bữa cơm thường ngày của gia đình là gì thì có thể bày lên bàn thờ cho người khuất như vậy nhưng tốt nhất là nên dùng đồ chay. Đặc biệt, khi cúng phải chuẩn bị bát và đũa riêng để thể hiện sự tôn trọng cũng như lòng thành của người ở lại.

    Bài văn khấn cúng cơm cho người mới mất

    Có người cho rằng, trong các nghi lễ thờ cúng thì chỉ cần chuẩn bị tốt vật phẩm để thờ, còn những thứ khác không quan trọng. Vậy mà họ lại không nhận ra rằng bài văn khấn dùng trong việc cúng là rất cần thiết.

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    – Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư phật, Chư Phật mười phương.

    – Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.

    – Con kính lạy ngài Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần quân.

    – Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ họ………

    Hôm nay là ngày…… Tháng…… Năm………

    Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là………

    Vâng theo lệnh của mẫu thân/phụ thân và các chú bác, cùng với anh rể, chị gái và các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

    Nay nhân lễ Chúc Thực theo nghi lễ cổ truyền,

    Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành,

    Trước linh vị của: Hiển… chân linh

    Xin kính cẩn trình thưa rằng:

    Thiết nghĩ! Nhân sinh tại thế,

    Họa mấy người sống tám, chín mươi,

    Đôi ba mươi năm cũng kể một đời.

    Song vận số biết làm sao tránh được

    Nhớ hồn thuở trước: trong buổi xuân xanh

    Ơn mẹ cha đạo cả sinh thành, đêm ngày dạy dỗ:

    Đường ăn, nỗi ở, việc cửa việc nhà.

    Lại lo bề nghi thất, nghi gia

    Cho sum họp trúc, mai mấy đóa

    Cương thường đạo cả, lòng những lo hiếu thảo đền ơn

    Nếp kiệm cần hằng giữ sớm hôm.

    May nối được gia đường cơ chỉ,

    Ba lo bảy nghĩ, vất vả trăm bề

    Cho vẹn toàn đường nọ lối kia,

    Tuy khó nhọc chưa cam thỏa dạ;

    Bỗng đâu gió cả, phút bẻ cành mai,

    Hoa lìa cây, rụng cánh tơi bời.

    Yến lìa tổ, kêu xuân vò võ.

    Tưởng hồn trường thọ, dìu con em, khuyên nhủ nên người.

    Ai ngờ trăng lặn sao dời, hồn đã biến về nơi Tây Trúc

    Từ nay lấy ai chăm sóc, ngõ cúc, tường đào.

    Từ nay quạnh bóng ra vào, cõi Nam, cành Bắc.

    Ngày chầy sáu khắc, đêm vắng năm canh:

    Tưởng phất phơ thoáng hiện ngoài mành.

    Tưởng thấp thoáng bóng hình trên khói

    Hiên mai bóng rọi, vào ngẩn ra ngơ.

    Hết đợi thôi chờ, nắng hồng giá lạnh

    Ai hay số mệnh!

    Thuốc trường sinh, cầu Vương mẫu chưa trao.

    Bút Chú tử, trách Nam Tào sớm định.

    Bùi ngùi cám cảnh, tuôn rơi hàng nước mắt dầm dầm

    Nhớ nơi ăn, chốn ở, buồng nằm:

    Như cắt ruột, xét lòng con trên trần thế.

    Mấy dòng kể lể. Chiêu hồn về than thở nguồn cơn.

    Cầu anh linh phù hộ cháu con.

    Cầu Thần Phật độ trì, cho vong hồn siêu thoát

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cúng Cô Hồn Tháng 7 Thế Nào Là Chuẩn? Đồ Cúng, Bài Văn Khấn
  • Chia Sẻ Cách Cúng Cô Hồn Hàng Tháng Chuẩn Nhất Để Tránh Rước Vong Vào Nhà
  • Văn Khấn Cúng Cô Hồn Mùng 2 Và 16 Âm Lịch Hàng Tháng
  • Văn Khấn Bài Cúng Chuyển Bàn Thờ Thần Tài
  • Bài Cúng Chuyển Bàn Thờ Về Nhà Mới Chuẩn Nhất
  • Cúng 49 Ngày Cho Người Đã Khuất Và Những Điều Cần Biết

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Món Chay Cúng 100 Ngày Có Ý Nghĩa Như Thế Nào?
  • Phần 6: Tang Lễ Những Điều Cần Biết (Cúng 100 Ngày)
  • Mâm Cơm Chay Cho Ngày Rằm Tháng 7
  • Mâm Cơm Chay Ngày Rằm Đẹp Mắt Ngon Miệng Ai Cũng Làm Được!
  • Mâm Cỗ Chay Cúng 49 Ngày Cho Người Mất: Ý Nghĩa Và Cách Làm
  • Đã từ rất lâu, người Việt Nam luôn thực hiện tục lệ cúng tế người đã khuất sau khi họ qua đời được 49 ngày. Tuy nhiên không phải ai cũng hiểu rõ về tục lệ này, tại sao phải thực hiện giỗ 49 ngày, ý nghĩa của việc cúng thất và những gì cần chuẩn bị. Tháp Long Thọ sẽ chia sẻ đến bạn đọc những thông tin thú vị tại bài viết sau đây.

    Tương truyền theo thuyết của Phật giáo, người đã chết sau khi trút hơi thở cuối cùng, hồn sẽ lìa khỏi xác. Lúc này, âm hồn của họ phải đi qua một điện lớn ở âm ty, trải qua 7 lần phán xét, mỗi lần kéo dài 7 ngày thành 49 ngày. Sau 7 tuần tùy theo nghiệp báo lúc còn sống mà tái sinh vào cảnh giới tương ứng.

    Nếu đương thời làm việc thiện, sống tu tâm dưỡng đức, ắt sẽ được họa sanh vào cảnh lành. Ngược lại đương thời còn sống chỉ làm điều ác thì họa sanh vào cảnh khổ. Đạo lý của Phật giáo luôn cho rằng nhân quả luân hồi, những gì mỗi người nhận được ở kiếp này là dựa vào phước phần của kiếp trước. Ngoại trừ những bậc đại giác như Đức Phật, Bồ Tát,…đã sớm giác ngộ, thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi thì thế giới còn có những cảnh giới khác tính từ dưới lên trên sẽ là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a-tu-la, nhân và thiên.

    Như vậy trong vòng 49 ngày, âm hồn sẽ phải trải qua thời gian “phán xét” để quyết định việc tái sinh vào cảnh giới nào. Lễ cúng 49 ngày “ra đời” như một cột mốc quan trọng của người chết.

    Tục lệ này còn có tên gọi khác là chung thất, là tín ngưỡng để tang của người Việt và là nghi lễ quan trọng không chỉ đối với người còn sống mà còn đối với người đã mất.

    Đối với những âm hồn sau 49 ngày đã được phán quyết vãng sanh vào cảnh giới nào thì nghi lễ này như một buổi lễ thể hiện sự tưởng nhớ, tôn kính của người còn sống dành cho họ.

    Tuy nhiên đối với những âm hồn vẫn chưa được quyết định họa sanh vào cõi giới nào, việc cúng chung thất nhằm để tạo phước đức, hướng âm hồn người chết nghĩ đến điều thiện, điều tốt lành. Ngoài ra, gia đình thân quyến người đã mất còn mong muốn dựa vào sức chú niệm của chư tăng ni mà giúp âm hồn người chết sớm được vãng sanh vào cảnh lành.

    Do vậy, giỗ 49 ngày vô cùng quan trọng. Thân quyến của người quá vãng phải tổ chức ngày cúng tế nghiêm trang, thành tâm và tránh phạm phải những điều cấm kị.

    Người đã chết sau khi hỏa táng hoặc chôn cất sẽ trải qua giai đoạn trung gian, thọ thân trung ấm trong vòng 49 ngày. Âm hồn của họ trong thời gian này vẫn có thể hưởng được những vật phẩm mà thân nhân cúng nhưng chỉ hưởng được mùi vị của thức ăn. Cho nên trong thời gian cúng 49 ngày, gia đình thân quyến cần chuẩn bị kĩ càng, chỉn chu để người đã mất được ăn no, đủ đầy trước khi vãng sanh vào cảnh giới tương ứng với nghiệp báo của họ.

    • Mâm cơm cúng
    • Hoa, bánh kẹo, trái cây.
    • Nhang đèn.
    • Tiền, vàng từ 15 sấp trở lên
    • Quần, áo từ 2 đến 3 bộ cho người đã khuất.
    • Bài văn cúng tế.

    Ngoài những lễ vật cần chuẩn bị đã nêu trên, trong thời gian diễn ra buổi lễ gia đình thân quyến cần phải đọc bài văn cúng tế để cầu siêu cho người quá vãng. Hoặc trong những ngày cúng tuần thất quan trọng, thân nhân có thể đến chùa thỉnh Chư Tăng về để cúng cầu siêu.

    Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

    Hôm nay là ngày ………… tháng …………… năm …… âm lịch.

    Tức ngày …….. tháng …….. năm ………. dương lịch.

    Tại:…………………

    Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là………vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ mẫu nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

    Nay nhân ngày lễ Chung Thất (lễ Tốt Khốc) theo nghi lễ cổ truyền, có kính cẩn sắm các thứ lễ vật gồm:…………….

    Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.

    Trước linh vị của Hiển:………………………………………. chân linh

    Xin kính cẩn trình thưa rằng:

    Núi Hỗ sao mờ, nhà Thung bóng xế. (Nếu là cha)/ Núi Dĩ sao mờ, nhà Huyên bóng xế. (nếu là mẹ)

    Tình nghĩa cha sinh mẹ dưỡng, biết là bao;

    Công ơn biển rộng, trời cao khôn xiết kể.

    Mấy lâu nay: Thở than trầm mộng mơ màng;

    Tưởng nhớ âm dương vắng vẻ.

    Sống thời lai lai láng láng, hớn hở chừng nào!

    Thác thời kể tháng kể ngày, buồn tênh mọi lẽ!

    Ngày qua tháng lại, tính đến nay Chung Thất (hoặc Tốt Khốc) tới tuần;

    Lễ bạc tâm thành gọi là có nén nhang kính tế.

    Xin mời:

    Hiển……………………

    Hiển…………………….

    Hiển…………………….

    Cùng các bị Tiên linh, Tổ Bá, Tổ Thúc, Tổ Cô và các vong linh phụ thờ theo Tiên Tổ cùng về hâm hưởng.

    Kính cáo liệt vị Tôn thần: Táo Quân, Thổ Công, Thánh sư, Tiên sư, Ngũ tự Gia thần cùng chứng giám và phù hộ cho toàn gia được mọi sự yên lành tốt đẹp.

    Có rất nhiều câu hỏi thắc mắc xoay quanh vấn đề cúng chung thất, Tháp Long Thọ xin giải đáp một số thắc mắc sau đây.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Blogger Gợi Ý Mâm Cơm Chay Cúng Rằm Tháng 7 Âm Lịch Tươm Tất, Chị Em Khỏi Phải Nghĩ
  • Mẹ Chồng Chiều Con Dâu Nhất Mxh Gợi Ý Mâm Cơm Chay Tuyệt Ngon Cúng Rằm Tháng 7
  • Gợi Ý Chị Em Mâm Cơm Chay Cúng Rằm Tháng 7 Đầy Đủ Ngon, Đẹp Mắt.
  • Gợi Ý 3 Mâm Cỗ Chay Cúng Rằm Tháng 7 Đơn Giản Nhất
  • Thực Đơn Hàng Ngày: Gợi Ý Mâm Cơm Chay Cúng Rằm Tháng 7
  • Những Ngày Quan Trọng Của Người Đã Khuất

    --- Bài mới hơn ---

  • Lễ Hạ Huyệt, Những Điều Cần Biết
  • Tìm Hiểu Về Lễ Hạ Huyệt
  • Lễ Hạ Huyệt Là Gì
  • Tại Sao Đại Lễ Cúng Dàng Hỏa Tịnh Có Thể Tiêu Trừ Chướng Ngại Khó Khăn Trong Cuộc Sống?
  • Lập Bàn Thờ Thần Tài, Ông Địa Mang Lại Tài Lộc Cho Gia Chủ
  • Thờ cúng tổ tiên là một phong tục, tín ngưỡng đẹp của nhiều dân tộc Đông Nam Á. Đó là nghĩa cử thể hiện sự biết ơn và đạo hiếu của người còn sống đối với người đã khuất. Những ngày quan trọng của người đã khuất nhiều người chưa được biết đến

    Đặc biệt, đối với người Việt Nam, đó trở thành một tôn giáo. Do đó những mốc quan trọng của người mất hầu như người Việt đều biết và thực hiện. Tuy nhiên, với mỗi giai đoạn nó có thể được thay đổi để đơn giản và phù hợp với điều kiện của từng gia đình. Nó có thể khác về nghi thức, lễ vật nhưng các mốc ấy vẫn được thực hiện một cách nghiêm túc và thành tâm.

    Ngày phát dẫn là ngày đưa tang. Con trai trưởng phải chống gậy đi đầu tiên, con trai thứ thì chống gậy đi sau con trai trưởng. Tang cha thì chống gậy tre vót tròn, tang mẹ thì chống gậy vông đẽo vuông. Đầu tiên, có hai thần phương tướng làm bằng giấy đặt hai bên, dáng vẻ giữ tợn cầm đồ qua mâu để đuổi ma quỷ. Có hai người khiêng thể kỳ, đặt một bức mành vải trướng làm bằng vóc nhiễu, đề dòng chữ Hồ sơn vân ám nếu là tang cha hoặc Dĩ lĩnh vạn mê nếu là tang mẹ. Hai bên treo đèn lồng đề chức tước, húy hiệu người đã mất. Sau nữa đến minh tinh, được làm bằng vóc nhiễu, trên đề họ tên thụy hiệu người mất bằng phấn trắng treo lên cành tre. Tiếp đến là hương án lớn đặt giá hương, độc bình, đồ tam sự và mâm ngũ quả. Tiếp theo là thực án bày chiếc tam sinh và linh xa để rước hồn bạch, rồi theo sau là phường bát âm và những đồ minh khí, gồm có: Đèn làm bằng giấy, tấm biển đan triệu đề hai chữ trung tín nếu là đàn ông hoặc trung tiết nếu là đàn bà, đặt những bức trướng, câu đối viếng của con cháu và người phúng viếng sang hai bên.

    Sau đó đến cờ công bố, đèn chứ á. Nhà phú quý thì có thêm nghị trượng sứ thần, đồ bộ lộ, áo mũ đại trào, chiêng, trống cà rùng… Nhà bình dân thì chỉ cần phường kèn trống thổi nhạc đưa ma. Cuối cùng là đại dư rước linh cữu, trên linh cữu đặt nhà táng bằng giấy. Thân nhân, theo thứ tự nhân sơ quy định, tang phục theo gia lễ, đều xếp hàng đi theo sau linh cữu hoặc ngồi hai bên linh cữu. Thời xưa có cái bạt bằng vải trắng che trên đầu gọi là bạch mạc. Người con trưởng đi trước hoặc kèm sau xe quan tài theo tục Cha đưa mẹ đón. Nhiều nơi còn có thêm các sư vãi cầm phướn đi hai bên tụng kinh niệm Phật để linh hồn được về nơi Tây phương cực lạc. Trên đường đi, rắc vàng giấy sang hai bên đoàn đưa tang làm lộ phí cho ma quỷ.

    Lễ an táng (gọi là hạ huyệt)

    Giờ hạ huyệt thường chọn giờ hoàng đạo. Trước lúc hạ huyệt phải cúng thổ thần nơi hạ huyệt, đồ lễ gồm trầu rượu, đĩa xôi, vàng hương, thủ lợn hoặc chân giò… Tất cả mọi người cầm một nén hương, đi một vòng xung quanh huyệt thả một hòn đất xuống dưới, sau đó đắp mộ thành vòng rồi trồng cỏ. Đắp mộ xong, mọi người đứng vòng quanh mộ, người hộ tang, người chấp sự tiến hành lễ thành phần, tiếp đãi trà, thuốc lá cho người qua đường. Kể từ ngày này, chủ nhà thắp hương cơm canh vào hai bữa chính hằng ngày cho đến hết 100 ngày thì dừng lại.

    Lễ 3 ngày (tế ngu)

    Sau 3 ngày chôn cất, con cháu sẽ đến mộ để sửa sang lại mộ phần, đắp lại mộ tròn, sửa soạn cỗ bàn để tiếp đãi họ hàng thân thuộc, khách khứa đến dự, gọi là lễ tế ngu. Con cháu chỉ lấy đất đắp vào những chỗ bị hở và khơi rãnh thoát nước, kiêng động cuốc hay chèo lên mộ vì làm thế mộ dễ bị sập trong thời gian áo quan và thi hài đang bị tan rữa. Việc viếng mộ ngày này không cần thiết phải đi đầy đủ con cháu tang gia mà chỉ cần vài ba người cũng được, nhưng bắt buộc phải có trưởng nam hay cháu đích tôn thừa trọng. Nếu trưởng nam hay cháu đích tôn thừa trọng có việc bận hay bị đau ốm thì phải nhờ người khác vào thay thế. Buổi lễ này tính theo âm lịch.

    Lễ 49 ngày (chung thất)

    Lễ cúng 49 ngày còn gọi là lễ chung thất hay tứ cửu dựa theo thuyết của Phật giáo: Âm hồn sau khi chết phải trải qua tất cả là 7 lần phán xét, mỗi lần mất 7 ngày (tương đương 1 tuần), đi qua một điện lớn dưới âm ty, sau 7 tuần vong hồn người chết mới được siêu thoát. Tuần chung thất là tuần quan trọng, đưa linh hồn người chết lên nương nhờ cửa Phật.

    Lễ 100 ngày (tốt khốc)

    Khi người chết đã được 100 ngày là đến tuần tốt khốc. Từ tuần này trở đi, con cháu người mất sẽ thôi không khóc nữa. Tuần tốt khốc thì con cháu cũng làm lễ để cúng và làm cỗ bàn mời họ hàng thân thuộc. Sau lễ trăm ngày, hằng năm con cháu lấy ngày chết là ngày làm giỗ.

    Giỗ Đầu gọi là Tiểu Tường nó là những ngày quan trọng của người đã khuất, là ngày giỗ đầu tiên sau ngày người mất đúng một năm, nằm trong thời kỳ tang, là một ngày giỗ vẫn còn bi ai, sầu thảm. Thời gian một năm vẫn chưa đủ để làm khuây khỏa những nỗi đau buồn, xót xa tủi hận trong lòng của những người thân. Trong ngày Giỗ Đầu, người ta thường tổ chức trang nghiêm không kém gì so với ngày để tang năm trước, con cháu vẫn mặc đồ tang phục. Lúc tế lễ và khấn Gia tiên, những người thân thiết của người quá cỗ cũng khóc giống như ngày đưa tang ở năm trước. Nhà có điều kiện thì có thể thuê cả đội kèn trống nữa.

    Giỗ Hết gọi là Đại Tường, là ngày giỗ sau ngày người mất hai năm, vẫn nằm trong thời kỳ tang. Thời gian hai năm cũng vẫn chưa đủ để hàn gắn những vết thương trong lòng những người còn sống. Trong lễ này, người ta vẫn tổ chức trang nghiêm. Lúc tế lễ người được giỗ và Gia tiên, con cháu vẫn mặc đồ tang phục và vẫn khóc giống như Giỗ Đầu và ngày đưa tang, vẫn bi ai sầu thảm chẳng kém gì Giỗ Đầu. Nhà có điều kiện thì có thể thuê cả đội kèn trống nữa.

    Giỗ Thường còn gọi là ngày Cát Kỵ, là ngày giỗ sau ngày người mất từ ba năm trở đi. Cát kỵ nghĩa là Giỗ lành. Trong lễ giỗ này, con cháu chỉ mặc đồ thường phục, không khóc như ngày đưa ma , không còn cảnh bi ai, sầu thảm, là dịp để con cháu người quá cố sum họp để tưởng nhớ người đã khuất và diện mời khách không còn rộng rãi như hai lễ Tiểu Tường và Đại Tường.

    Ngày giỗ thường được duy trì đến hết năm đời. Đến sau năm đời, vong linh người quá cố được siêu thoát, đầu thai hóa kiếp trở lại nên không cần thiết phải cúng giỗ nữa mà nạp chung vào kỳ xuân tế. Nhưng quan trọng hơn là con cháu còn nhớ đến tổ tiên và người đã khuất, thể hiện lòng thành kính. Cúng giỗ không nhất thiết phải quá đắt đỏ, linh đình hay quá cầu kỳ, nhà nghèo chỉ cần có đĩa muối, bát cơm úp, quả trứng luộc thì cũng đã giữ được đạo hiếu với tổ tiên.

    Hoạt động này nhiều nơi còn được gọi là bốc mộ, cát cải. Sau từ 3 đến 4 năm, người ta sẽ làm lễ Cát táng tức đem táng ở nơi khác. Vì người ta quan niệm rằng, trong thời gian hung táng thì người mất hay bị ma quỷ quấy nhiễu, sau khi cát táng thì mới không bị ma quỷ quấy nhiễu nữa. Cải táng phải chọn một ngày thích hợp, không nên xung khắc với người mất. Trước khi cát táng, người ta sẽ cúng Thổ thần Thiên địa nơi đào mả lên, rồi lại cúng Thổ thần Thiên địa nơi sẽ đem chôn cất. Người ta sẽ dùng cuốc đào đất, lấy hài cốt người chết cho vào Tiểu nhỏ làm bằng sành (giống hình cái lọ hoa), đem chôn ở vị trí khác. Sau đó sẽ xây mộ kiên cố. Còn quan tài nếu cũ nát thì có thể đem bỏ đi, nếu còn tốt thì có thể đem về dùng làm việc khác.

    Việc cải táng các bạn phải xem tuổi bốc mộ thật chính xác để làm sao cho ngày cải táng là ngày quan trọng nhất trong những ngày quan trọng của người đã khuất

    Bài viết do nghĩa trang Lạc Hồng Viên sưu tầm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghi Lễ Cúng Tết Đoan Ngọ Đầy Đủ Theo Gs Lương Ngọc Huỳnh
  • Cách Bày Trí Mâm Lễ Cúng Phá Dỡ Nhà Cũ
  • Cách Chuyển Bàn Thờ Thần Tài Về Nhà Mới
  • Di Chuyển Bàn Thờ Thần Tài, Ông Địa Đúng Cách Mang Lại Tiền Tài, Phúc Lộc Cho Gia Chủ
  • Tp.hcm: Tổ Đình Ngọc Phương Đón Tiếp Các Phái Đoàn Cúng Dường Trường Hạ
  • Bài Cúng Giỗ Người Đã Khuất Như Thế Nào?

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Gia Tiên Tại Nhà Đầy Đủ Và Chuẩn Nhất
  • Văn Khấn Lập Bàn Thờ Thần Tài
  • Bài Văn Cúng Mùng 1 Và Ngày Rằm Hằng Tháng
  • Văn Khấn Thần Tài Thổ Địa Hàng Ngày Và Mùng 10 Hàng Tháng
  • Bài Văn Khấn Cúng Động Thổ Xây Dựng Nhập Trạch Nhà Ở
  • Giỗ là nghi thức theo phong tục tập quán của người Việt Nam nhằm tưởng nhớ những người đã khuất. Ngày giỗ được tổ chức đúng ngày mất theo ngày âm lịch của người được thờ cúng. Ý nghĩa của ngày giỗ là để con cháu nhớ về những người đã đi trước; gắn kết tình cảm giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ, đôi khi lại trong cùng nghề.

    Ý nghĩa của ngày cúng giỗ trong gia đình Việt

    Cúng giỗ là lễ kỷ niệm ngày mà người mất qua đời, mang lại ý nghĩa quan trọng của người Việt, ngày làm cúng giỗ được tính theo âm lịch. Ngày cúng giỗ là ngày để thể hiện lòng thủy chung, thương xót của người còn sống đối với người đã khuất, thể hiện đạo lý với tổ tiên.

    Nhà giàu thì làm đám giỗ linh đình, mời hết người thân trong dòng họ, bạn bè gần xa, anh bằng hữu về dự đám giỗ. Còn nhà nghèo thì chỉ cần lưng cơm, đĩa muối, quả trứng, ba nén hương, một đôi nến và vài món ăn giản dị để cúng cũng là đã có lòng thành kính với người đã khuất.

    Lòng thủy chung, thương xót với người đã khuất chỉ phụ thuộc vào việc con cháu phải nhớ ngày của người mất để làm đám giỗ, không quan trọng hóa việc làm giỗ lớn hay nhỏ.

    Thân bằng, cố hữu của người đã khuất nếu vẫn còn lưu luyến thì đến dự đám giỗ theo ngày đã được định sẵn từ trước, không cần phải chờ có thiệp mời đến dự như tiệc cưới, lễ mừng, không nên có tư tưởng ” hữu thỉnh hữu lai, vô thỉnh bất đáo“, câu này có nghĩa là ” Mời thì đến, không mời thì thôi “.

    Cách khấn trong ngày lễ cúng giỗ:

    • Nếu bố đã mất thì phải khấn Hiển khảo;
    • Nếu mẹ đã mất thì phải khấn Hiển tỷ;
    • Nếu ông đã mất thì phải khấn Tổ khảo;
    • Nếu bà đã mất thì phải khấn Tổ tỷ;
    • Nếu cụ ông đã mất thì phải khấn Tằng Tổ khảo;
    • Nếu cụ bà đã mất thì phải khấn Tằng Tổ tỷ;
    • Nếu anh hoặc em trai đã mất thì phải khấn Thệ huynh, Thệ đệ;
    • Nếu chị hoặc em gái đã mất thì phải khấn Thệ tỵ, Thệ muội;
    • Nếu cô, dì, thím, mợ, chú, bác, cậu đã mất thì phải khấn Bá thúc, cô dì, tỷ muội;
    • Có thể khấn chung Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ đối với nội ngoại gia tiên.

    Những hoạt động chính trong buổi lễ cúng giỗ

    Sau khi làm lễ và đọc bài cúng giỗ xong, gia đình thường dọn thức ăn vừa cúng xong để mọi người cùng ăn, coi như là hưởng lộc của tiền nhân. Bạn bè thân thuộc cũng có thể được mời đến để dùng bữa, có nghĩa là đi ăn đám giỗ.

    Một biến thể khác của cúng giỗ chính là tục thờ ” hậu ” do nhà chùa hay đình làng đảm nhiệm. Trong trường hợp này thì người quá cố đã cúng tiền hay ruộng vào chùa hay đình làng để được hưởng lễ vật trong những ngày kỵ nhật.

    Trước khi hạ xuống, chủ nhà vái 3 vái ngắn (còn được gọi là lễ tạ). Phải làm như vậy để tạ ơn gia tiên đã về thừa hưởng những lễ vật mà con cháu đã dâng lên cho người đã khuất.

    Dịp này là để con cháu trong dòng họ tề tựu lại về cùng ăn đám giỗ, thăm hỏi tình hình lẫn nhau trong nội bộ dòng họ. Ngày Cát Kỵ thường mời khách là những người chỉ nằm trong gia đình, dòng tộc đến ăn giỗ (không rộng như Tiểu Tường và Đại Tường).

    Gia chủ phải ăn mặc khăn áo chỉnh tề, bước vào để đọc bài cúng giỗ khấn tổ tiên. Khách đến dự đám giỗ thì đặt đồ lễ lên bàn thờ, cùng với gia chủ vái 4 lạy 3 vái. Sau khi gia chủ, khách mới và bạn bè thân hữu khấn lễ xong, đợi hết ba tuần hương nữa thì gia chủ đứng trước bàn thờ để lễ tạ bằng ba vái ngắn rồi đem đi đốt vàng mã.

    Cuối cùng, gia chủ bày bàn để mời khách cùng ăn giỗ, để ôn lại những kỷ niệm xưa về người đã mất, đồng thời hỏi thăm sức khỏe và công việc lẫn nhau. Sau khi ăn đám giỗ xong, gia chủ hạ tất cả các lễ vật được bày trên bàn thờ, chia đều mỗi túi một hay nhiều thứ cho từng gia đình dự đám giỗ gọi là lộc của tổ tiên, lễ vật được tặng bao gồm hoa quả, bánh kẹo,….

    Những ngày quan trọng trong ngày lễ cúng giỗ:

    Trong việc thờ cúng tổ tiên, có ba ngày giỗ quan trọng là: Giỗ đầu, giỗ hết, giỗ thường.

    Theo phong tục tập quán, dân ta thường lấy ngày giỗ (ngày qua đời của người đã mất) làm trọng tâm, nên vào ngày đó, ngoài việc đi thăm mộ, tùy gia cảnh và vị trí của người đã khuất mà thực hiện cúng giỗ.

    Đây cũng là dịp để gặp mặt những người thân trong gia đình dòng họ, họp mặt để tưởng nhớ người đã khuất và bàn công việc người còn sống để giữ gìn gia phong.

    Vào dịp đó, người ta thường tổ chức ăn uống, nên mới gọi là đi ăn đám giỗ, là trước cúng sau ăn, và cũng là để cho cuộc gặp mặt thêm phần đậm đà ấm cúng, kéo dài thời gian sum họp gia đình, cùng nhau kể chuyện tâm tình và chuyện làm ăn. Điều quan trọng nhất với ngày cúng giỗ chính là mang ý nghĩa ” Uống nước nhớ nguồn “, việc đó còn có thể được xếp vào loại thuần phong mỹ tục.

    Bài cúng giỗ thông thường

    Con lạy chín Phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần QuânCon kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ nàyCon kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ tiên nội ngoại họ: Xưng họ của bạn.Tín chủ con là: Xưng đầy đủ họ tên và tuổi.Ngụ tại: Đọc nơi bạn đang sốngHôm nay là ngày/tháng/năm (âm lịch)Chính là ngày giỗ của người được cúng giỗNăm qua tháng lại vừa ngày húy lâm, Ơn võng cực xem bằng trời biển. Nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Nhân ngày chính giỗ chúng con và toàn gia con cháu. Nhất tâm sắm sửa lễ vật kính dâng đốt nén nhang hương dãi tỏ tấc thành.Thành khẩn kính mời: Họ tên người được cũng giỗMất ngày/tháng/năm (âm lịch)Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu bình an, gia cảnh hưng thịnh vượng.Xin mời các vị Tổ tiên, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá Thúc, Cô Di và toàn thể các hương kinh gia tiên đồng lai hâm hưởng.Xin mời vong linh các vị Tiền Chủ, Hậu chủ trong đất này với tâm hưởng.Chúng con với lễ bạc lòng thành xin cúi đầu được phụ trì,Phục duy cẩn cáo.Nam mô A di đà phật! (3 lần)

    Bài cúng theo văn khấn ba ngày sau khi mất

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)Con lạy chín Phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.Con kính lạy ngài Đông trù tư mệnh Táo phủ thần quân.Con kính lạy chư vị gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ.Hôm nay là ngày …………….. tháng …………… năm …………………Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là …………………………………. vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ mẫu nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.Nay nhân ngày lễ Tế Ngu theo nghi lễ cổ truyền, Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.Trước linh vị của: Hiển …………………………………… chân linh.Xin kính cẩn trình thưa rằng.Than ôi! Trên tòa Nam cực, lác đác sao thưa; (nếu khóc cha hoặc đổi là Bắc cực nếu khóc mẹ).Trước chốn Giao trì, tờ mờ mây khóa.Cơ tạo hóa làm chi ngang ngửa thế, bóng khích câu, khen khéo trêu người.Chữ cương thường nghĩ lại ngậm ngùi thay, tình hiếu dễ chưa yên thỏa dạ.Ơn nuôi nấng áo dày cơm nặng, biển trời khôn xiết biết công lao;Nghĩ sớm hôm ấp lạnh quạt nồng, tơ tóc những hiềm chưa báo quả;Ngờ đâu! Nhà Thung (nếu là cha hoặc Nhà Huyên nếu là mẹ) khuất núi, trời mây cách trở muôn trùng;Chồi Tử mờ sương, âm dương xa vời đôi ngả.Trông xe hạc lờ mờ ẩn bóng, cám cảnh cuộc phù sinh chưa mấy, gót tiên du đã lánh cõi trần ai.Rồi khúc tằm áy náy trong lòng, thương thay hồn bất tử về đâu, cửa Phật độ biết nhờ ai hiện hóa.Suối vàng thăm thẳm, sáng phụ thân (hoặc mẫu thân) một mình lìa khơi,Giọt ngọc đầm đìa, đàn con cháu, hai hàng lã chã.Lễ Sơ Ngu (hoặc Tái Ngu, Tam Ngu) theo tục cổ, trình bày:Nhà đơn bạc, biết lấy gì để dóng dả.Đành đã biết: đất nghĩa trời kinh, nào chỉ ba tuần nghi tiết, đủ lễ báo đền.Cũng gọi là: lưng cơm chén nước, họa may chín suối anh linh, được về yên thỏa.Ôi! Thương ôi!Chúng con lễ bạc tâm thành, thành tâm kính lễ cúi xin được phù hộ độ trì.Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

    Bài văn khấn cúng lễ 49 ngày và 100 ngày sau khi mất

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)Con lạy chín Phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.Hôm nay là ngày ……….. tháng ………….. năm ……………….. âm lịch tức ngày ………… tháng ………… năm ………… dương lịch.Tại (địa chỉ): ………………………………………Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là: ……………………………….. vâng theo lệch của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ mẫu nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái, dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.Nay nhân ngày lễ Chung Thất (lễ Tốt Khốc) theo nghi lễ cổ truyền, con kính cẩn sắm các thứ lễ vật gồm: ……………………………………………..Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.Trước linh vị của Hiển: ……………………………… chân linh.Xin kính cẩn trình thưa rằng:Núi Hỗ sao mờ, nhà Thung bóng xế. (Nếu là cha) Núi Dĩ sao mờ, nhà Huyên bóng xế (Nếu là mẹ)Tình nghĩa cha sinh mẹ dưỡng, biết là bao;Công ơn biển rộng, trời cao khôn xiết kể.Mấy lâu nay: Thở than trầm mộng mơ màng;Tưởng nhớ âm dương vắng vẻ.Sống thời lai lai láng láng, hởn hở chừng nào!Thác thời kể tháng kể ngày, buồn tênh mọi lẽ!Ngày qua tháng lại, tính đến nay Chung Thất (hoặc Tốt Khốc) tới tuần.Lễ bạc tâm thành gọi là có nén hương kính tế.Xin mời: Hiển ………………………………………Hiển …………………………………………………Hiển …………………………………………………Cùng các vị Tiên linh, Tổ Bá, Tổ Thúc, Tổ Cô, và các vong linh phụ thờ theo Tiên Tổ cùng về hâm hưởng.Kính cáo: Liệt vị Tôn thần: Táo Quân, Thổ Công, Thánh Sư, Tiên Sư, Ngũ tự Gia thần cùng chứng giám và phù hộ cho toàn gia được mọi sự yên lành tốt đẹp.Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

    Cúng giỗ là nghi thức rất đáng trân trọng và cần được giữ gìn trong văn hóa của người Việt. Hi vọng qua bài viết cúng giỗ này, sẽ giúp bạn đã biết được bài cúng giỗ người đã khuất như thế nào và chuẩn bị cho một buổi lễ cúng giỗ đúng chuẩn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Khấn Rước Ông Táo Về Nhà Đêm 30 Tết
  • Văn Khấn Cúng Tạ Đất Đầu Năm 2022
  • [Taimienphi.vn] Bài Văn Cúng Tất Niên Ngoài Trời, Trong Nhà 2022
  • Cúng Tạ Đất Cuối Năm: Chi Tiết Thời Gian Cúng, Sắm Lễ, Văn Khấn
  • Văn Khấn Yên Vị Bát Hương Thần Tài
  • Đốt Vàng Mã Có Gửi Tới Người Đã Khuất?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Khấn 100 Ngày Cho Người Mới Mất Chuẩn Nhất
  • Văn Khấn Tạ Đất Chuẩn Tâm Linh Năm 2022
  • Lễ Cúng 49 Ngày Quan Trọng Như Thế Nào?
  • Những Điều Cần Lưu Ý: Cúng Động Thổ Xây Nhà Van Khan Cung Dong Tho Khi Xay Nha Va Nhung Dieu Can Luu Y Docx
  • Văn Khấn Lễ Động Thổ Công Trình
  • Đốt vàng mã đã trở nên phổ biến, nhất là trong mùa lễ hội với tâm niệm gửi tới người đã khuất.Vậy, Phật giáo có quy định về đốt vàng mã hay không?

    Đốt vàng mã và những vật dụng, đồ dùng… hàng mã (gọi chung là hóa vàng) đã thành thói quen tràn lan trong các dịp lễ hội, ma chay… Người hóa vàng thường quan niệm “trần sao âm vậy” nên đốt vàng mã, hàng mã càng nhiều càng tốt với đủ vật dụng, nào là ô tô, đô la, vàng, căn biệt thự…. Họ mong muốn gửi xuống cõi âm cho người đã khuất. Tuy nhiên, các vị chức sắc Phật giáo khẳng định, đạo Phật không khuyên chúng sinh làm vậy, theo quan niệm của Phật giáo, việc làm đó sẽ chẳng thể đến được với người đã khuất.

    Thượng tọa Thích Thanh Huân- Phó Văn phòng Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trụ trì chùa Pháp Vân (TP.Hà Nội) khẳng định, Phật pháp cũng như Đức Phật không hề có việc đốt vàng mã, hàng mã. Phật giáo chỉ khuyên người còn sống làm nhiều việc tốt, việc thiện để siêu độ cho người thân đã mất. Hành giáo bằng việc giúp đỡ người khác vừa có ích thiết thực cho đời vừa “chỉ” cho người đã khuất sớm được siêu độ vong linh.

    Trao đổi với chúng tôi, Thượng tọa Thích Quảng Hà, trụ trì chùa Cẩm (xã Yên Dương, huyện Ý Yên, Nam Định), Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự Trung ương giáo hội Phật giáo Việt Nam, Trưởng ban Trị sự giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Nam Định cũng khẳng định, Phật giáo không quy định phải đốt vàng mã, hàng mã hay cúng tiền cho Đức Phật, cho vong linh người đã khuất. Tục lệ đốt vàng mã, hàng mã xuất phát từ thời nhà Đường (Trung Quốc), sau đó du nhập vào Việt Nam và đến nay đã trở thành thói quen của nhiều người với tâm niệm muốn gửi những đồ dùng, tiền bạc cho người cõi âm. Việc làm đó không giúp được người đã khuất, vì chết là giải thoát rồi, không cần đến những vật chất như nơi trần gian nữa, không giải thoát thì phải giam cầm nơi địa ngục, chẳng thể dùng đến những thứ đó. Từ phân tích này, Thượng tọa Thích Quảng Hà khẳng định: Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra Thông bạch khuyên Phật tử không đốt vàng mã là hoàn toàn đúng đắn và rất cần thiết. Thượng tọa cho biết, thực tế, từ nhiều năm nay, ngài đã khuyên bảo Phật tử, người dân đến lễ chùa hạn chế, không đốt vàng mã; thay vì dùng tiền thật mua tiền giả để đốt, người dân nên dùng tiền thật đó để làm việc bác ái giúp đỡ người khác để được cả đạo lẫn đời.

    Nhân đây, Thượng tọa Thích Quảng Hà cũng lưu ý, người dân khi đi lễ chùa không nên đặt tiền lên bàn thờ hoặc lễ vật vì Phật cũng như các vị thánh không dùng đến tiền bạc. Tiền công đức chỉ để con người tu sửa đền chùa mà thôi. Hơn nữa, đồng tiền chuyền tay hết người này đến người khác ở chợ nên rất dơ bẩn, đặt lên bàn thờ sẽ mất tôn kính, nếu muốn công đức bao nhiêu tiền chỉ cần bỏ số tiền đó vào một hòm công đức là được, không cần phải đổi thành nhiều tờ tiền lẻ để đặt nhiều nơi.

    Theo nhiều vị chức sắc Phật giáo khác, đốt vàng mã, hàng mã không thể gửi tới được cõi âm, bởi con người khi chết, sau 49 ngày sẽ thác vào những cảnh giới khác nhau, cảnh giới khác nhau thì vật dụng mà họ thọ dụng cũng khác nhau, vì thế không thể đem vật dụng ở cõi dương gian mà cung cấp cho chúng sinh ở cõi âm được. Lễ chùa, giỗ ông bà, tổ tiên là để tôn kính, tưởng nhớ và tìm lại cái tâm mà tỉnh thức để làm nhiều việc tốt hơn, qua đó mà “lập công” để siêu độ vong linh ông bà gia tiên, tích đức cho bản thân để khi từ giã cõi đời được đầu thai vào cảnh giới tương ứng với việc làm phúc thiện của mình khi ở trần gian.

    Như vậy, đốt vàng mã không những không đúng với quan niệm Phật giáo mà còn tốn kém, lãng phí tiền của, thậm chí ở các lễ hội, đông người đốt với số lượng nhiều còn ảnh hưởng tới môi trường và sức khỏe cộng đồng, do vậy, nên sớm bỏ việc đốt vàng mã như khuyến cáo trong Thông bạch của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam vừa ban hành./

    Theo An Luých Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Lễ Chung Thất 49 Ngày Và Tốt Khốc 100 Ngày
  • Văn Khấn 49 Ngày Ngoài Mộ
  • Văn Khấn Thần Thổ Công Và Các Vị Thần Linh
  • Văn Khấn Các Vị Thần Linh Trước Ngày Giỗ Hết (Lễ Đại Tường) Chuẩn Phong Tục
  • Bài Văn Khấn Đầy Tháng Cho Trẻ
  • Bài Văn Khấn Cúng Giỗ Người Đã Khuất Như Thế Nào?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Cúng Đầy Tháng Cho Con Theo Phong Tục Của Người Việt
  • Bài Cúng Nhập Trạch Và Những Điều Cần Chú Ý
  • Bài Cúng Xe Mới Và Cúng Xe Hàng Tháng Chuẩn
  • Bài Văn Khấn Ngoài Mộ Ngày Giỗ Đầu, Giỗ Thường, Giỗ Hết Chuẩn Xác Nhất
  • Văn Khấn Tạ Mộ Tiết Thanh Minh Và Cách Sắm Đồ Cúng Lễ Thanh Minh Ở Mộ
  • Giỗ là nghi thức theo phong tục tập quán của người Việt Nam nhằm tưởng nhớ những người đã khuất. Ngày giỗ được tổ chức đúng ngày mất theo ngày âm lịch của người được thờ cúng. Ý nghĩa của ngày giỗ là để con cháu nhớ về những người đã đi trước; gắn kết tình cảm giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ, đôi khi lại trong cùng nghề.

    Hãy cùng tìm kiểu về ngày giỗ và bài văn khấp cúng giỗ nào đúng chuẩn nhé!

    Ý nghĩa của ngày cúng giỗ trong gia đình Việt

    Cúng giỗ là lễ kỷ niệm ngày mà người mất qua đời, mang lại ý nghĩa quan trọng của người Việt, ngày làm cúng giỗ được tính theo âm lịch. Ngày cúng giỗ là ngày để thể hiện lòng thủy chung, thương xót của người còn sống đối với người đã khuất, thể hiện đạo lý với tổ tiên.

    Nhà giàu thì làm đám giỗ linh đình, mời hết người thân trong dòng họ, bạn bè gần xa, anh bằng hữu về dự đám giỗ. Còn nhà nghèo thì chỉ cần lưng cơm, đĩa muối, quả trứng, ba nén hương, một đôi nến và vài món ăn giản dị để cúng cũng là đã có lòng thành kính với người đã khuất.

    Lòng thủy chung, thương xót với người đã khuất chỉ phụ thuộc vào việc con cháu phải nhớ ngày của người mất để làm đám giỗ, không quan trọng hóa việc làm giỗ lớn hay nhỏ.

    Thân bằng, cố hữu của người đã khuất nếu vẫn còn lưu luyến thì đến dự đám giỗ theo ngày đã được định sẵn từ trước, không cần phải chờ có thiệp mời đến dự như tiệc cưới, lễ mừng, không nên có tư tưởng “hữu thỉnh hữu lai, vô thỉnh bất đáo”, câu này có nghĩa là “Mời thì đến, không mời thì thôi”.

    Cách khấn trong ngày lễ cúng giỗ:

    Sau đây là cách khấn khi đọc bài cúng giỗ theo vai vế trong gia đình mà bạn nên biết:

    • Nếu bố đã mất thì phải khấn Hiển khảo;
    • Nếu mẹ đã mất thì phải khấn Hiển tỷ;
    • Nếu ông đã mất thì phải khấn Tổ khảo;
    • Nếu bà đã mất thì phải khấn Tổ tỷ;
    • Nếu cụ ông đã mất thì phải khấn Tằng Tổ khảo;
    • Nếu cụ bà đã mất thì phải khấn Tằng Tổ tỷ;
    • Nếu anh hoặc em trai đã mất thì phải khấn Thệ huynh, Thệ đệ;
    • Nếu chị hoặc em gái đã mất thì phải khấn Thệ tỵ, Thệ muội;
    • Nếu cô, dì, thím, mợ, chú, bác, cậu đã mất thì phải khấn Bá thúc, cô dì, tỷ muội;
    • Có thể khấn chung Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ đối với nội ngoại gia tiên.

    Những hoạt động chính trong buổi lễ cúng giỗ

    Sau khi làm lễ và đọc bài cúng giỗ xong, gia đình thường dọn thức ăn vừa cúng xong để mọi người cùng ăn, coi như là hưởng lộc của tiền nhân. Bạn bè thân thuộc cũng có thể được mời đến để dùng bữa, có nghĩa là đi ăn đám giỗ.

    Một biến thể khác của cúng giỗ chính là tục thờ “hậu” do nhà chùa hay đình làng đảm nhiệm. Trong trường hợp này thì người quá cố đã cúng tiền hay ruộng vào chùa hay đình làng để được hưởng lễ vật trong những ngày kỵ nhật.

    Trước khi hạ xuống, chủ nhà vái 3 vái ngắn (còn được gọi là lễ tạ). Phải làm như vậy để tạ ơn gia tiên đã về thừa hưởng những lễ vật mà con cháu đã dâng lên cho người đã khuất.

    Dịp này là để con cháu trong dòng họ tề tựu lại về cùng ăn đám giỗ, thăm hỏi tình hình lẫn nhau trong nội bộ dòng họ. Ngày Cát Kỵ thường mời khách là những người chỉ nằm trong gia đình, dòng tộc đến ăn giỗ (không rộng như Tiểu Tường và Đại Tường).

    Gia chủ phải ăn mặc khăn áo chỉnh tề, bước vào để đọc bài cúng giỗ khấn tổ tiên. Khách đến dự đám giỗ thì đặt đồ lễ lên bàn thờ, cùng với gia chủ vái 4 lạy 3 vái. Sau khi gia chủ, khách mới và bạn bè thân hữu khấn lễ xong, đợi hết ba tuần hương nữa thì gia chủ đứng trước bàn thờ để lễ tạ bằng ba vái ngắn rồi đem đi đốt vàng mã.

    Cuối cùng, gia chủ bày bàn để mời khách cùng ăn giỗ, để ôn lại những kỷ niệm xưa về người đã mất, đồng thời hỏi thăm sức khỏe và công việc lẫn nhau. Sau khi ăn đám giỗ xong, gia chủ hạ tất cả các lễ vật được bày trên bàn thờ, chia đều mỗi túi một hay nhiều thứ cho từng gia đình dự đám giỗ gọi là lộc của tổ tiên, lễ vật được tặng bao gồm hoa quả, bánh kẹo,….

    Những ngày quan trọng trong ngày lễ cúng giỗ:

    Trong việc thờ cúng tổ tiên, có ba ngày giỗ quan trọng là: Giỗ đầu, giỗ hết, giỗ thường.

    Theo phong tục tập quán, dân ta thường lấy ngày giỗ (ngày qua đời của người đã mất) làm trọng tâm, nên vào ngày đó, ngoài việc đi thăm mộ, tùy gia cảnh và vị trí của người đã khuất mà thực hiện cúng giỗ.

    Đây cũng là dịp để gặp mặt những người thân trong gia đình dòng họ, họp mặt để tưởng nhớ người đã khuất và bàn công việc người còn sống để giữ gìn gia phong.

    Vào dịp đó, người ta thường tổ chức ăn uống, nên mới gọi là đi ăn đám giỗ, là trước cúng sau ăn, và cũng là để cho cuộc gặp mặt thêm phần đậm đà ấm cúng, kéo dài thời gian sum họp gia đình, cùng nhau kể chuyện tâm tình và chuyện làm ăn. Điều quan trọng nhất với ngày cúng giỗ chính là mang ý nghĩa “Uống nước nhớ nguồn”, việc đó còn có thể được xếp vào loại thuần phong mỹ tục.

    Bài cúng giỗ thông thường

    Sau đây là bài cùng giỗ thông thường dành cho mọi gia đình Việt.

    Con lạy chín Phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

    Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.

    Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân

    Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này

    Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ tiên nội ngoại họ: Xưng họ của bạn.

    Tín chủ con là: Xưng đầy đủ họ tên và tuổi.

    Ngụ tại: Đọc nơi bạn đang sống

    Hôm nay là ngày/tháng/năm (âm lịch)

    Chính là ngày giỗ của người được cúng giỗ

    Năm qua tháng lại vừa ngày húy lâm, Ơn võng cực xem bằng trời biển. Nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Nhân ngày chính giỗ chúng con và toàn gia con cháu. Nhất tâm sắm sửa lễ vật kính dâng đốt nén nhang hương dãi tỏ tấc thành.

    Thành khẩn kính mời: Họ tên người được cũng giỗ

    Mất ngày/tháng/năm (âm lịch)

    Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu bình an, gia cảnh hưng thịnh vượng.

    Xin mời các vị Tổ tiên, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá Thúc, Cô Di và toàn thể các hương kinh gia tiên đồng lai hâm hưởng.

    Xin mời vong linh các vị Tiền Chủ, Hậu chủ trong đất này với tâm hưởng.

    Chúng con với lễ bạc lòng thành xin cúi đầu được phụ trì,

    Phục duy cẩn cáo.

    Nam mô A di đà phật! (3 lần)

    Bài cúng theo văn khấn ba ngày sau khi mất

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

    Con lạy chín Phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

    Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.

    Con kính lạy ngài Đông trù tư mệnh Táo phủ thần quân.

    Con kính lạy chư vị gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ.

    Hôm nay là ngày …………….. tháng …………… năm …………………

    Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là …………………………………. vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ mẫu nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

    Nay nhân ngày lễ Tế Ngu theo nghi lễ cổ truyền,

    Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.

    Trước linh vị của: Hiển …………………………………… chân linh.

    Xin kính cẩn trình thưa rằng.

    Than ôi! Trên tòa Nam cực, lác đác sao thưa; (nếu khóc cha hoặc đổi là Bắc cực nếu khóc mẹ).

    Trước chốn Giao trì, tờ mờ mây khóa.

    Cơ tạo hóa làm chi ngang ngửa thế, bóng khích câu, khen khéo trêu người.

    Chữ cương thường nghĩ lại ngậm ngùi thay, tình hiếu dễ chưa yên thỏa dạ.

    Ơn nuôi nấng áo dày cơm nặng, biển trời khôn xiết biết công lao;

    Nghĩ sớm hôm ấp lạnh quạt nồng, tơ tóc những hiềm chưa báo quả;

    Ngờ đâu! Nhà Thung (nếu là cha hoặc Nhà Huyên nếu là mẹ) khuất núi, trời mây cách trở muôn trùng;

    Chồi Tử mờ sương, âm dương xa vời đôi ngả.

    Trông xe hạc lờ mờ ẩn bóng, cám cảnh cuộc phù sinh chưa mấy, gót tiên du đã lánh cõi trần ai.

    Rồi khúc tằm áy náy trong lòng, thương thay hồn bất tử về đâu, cửa Phật độ biết nhờ ai hiện hóa.

    Suối vàng thăm thẳm, sáng phụ thân (hoặc mẫu thân) một mình lìa khơi,

    Giọt ngọc đầm đìa, đàn con cháu, hai hàng lã chã.

    Lễ Sơ Ngu (hoặc Tái Ngu, Tam Ngu) theo tục cổ, trình bày:

    Nhà đơn bạc, biết lấy gì để dóng dả.

    Đành đã biết: đất nghĩa trời kinh, nào chỉ ba tuần nghi tiết, đủ lễ báo đền.

    Cũng gọi là: lưng cơm chén nước, họa may chín suối anh linh, được về yên thỏa.

    Ôi! Thương ôi!

    Chúng con lễ bạc tâm thành, thành tâm kính lễ cúi xin được phù hộ độ trì.

    Kính cáo!

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

    Bài văn khấn cúng lễ 49 ngày và 100 ngày sau khi mất

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

    Con lạy chín Phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

    Hôm nay là ngày ……….. tháng ………….. năm ……………….. âm lịch tức ngày ………… tháng ………… năm ………… dương lịch.

    Tại (địa chỉ): ………………………………………

    Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là: ……………………………….. vâng theo lệch của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ mẫu nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái, dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

    Nay nhân ngày lễ Chung Thất (lễ Tốt Khốc) theo nghi lễ cổ truyền, con kính cẩn sắm các thứ lễ vật gồm: ……………………………………………..

    Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.

    Trước linh vị của Hiển: ……………………………… chân linh.

    Xin kính cẩn trình thưa rằng:

    Núi Hỗ sao mờ, nhà Thung bóng xế. (Nếu là cha) Núi Dĩ sao mờ, nhà Huyên bóng xế (Nếu là mẹ)

    Tình nghĩa cha sinh mẹ dưỡng, biết là bao;

    Công ơn biển rộng, trời cao khôn xiết kể.

    Mấy lâu nay: Thở than trầm mộng mơ màng;

    Tưởng nhớ âm dương vắng vẻ.

    Sống thời lai lai láng láng, hởn hở chừng nào!

    Thác thời kể tháng kể ngày, buồn tênh mọi lẽ!

    Ngày qua tháng lại, tính đến nay Chung Thất (hoặc Tốt Khốc) tới tuần.

    Lễ bạc tâm thành gọi là có nén hương kính tế.

    Xin mời: Hiển ………………………………………

    Hiển …………………………………………………

    Hiển …………………………………………………

    Cùng các vị Tiên linh, Tổ Bá, Tổ Thúc, Tổ Cô, và các vong linh phụ thờ theo Tiên Tổ cùng về hâm hưởng.

    Kính cáo: Liệt vị Tôn thần: Táo Quân, Thổ Công, Thánh Sư, Tiên Sư, Ngũ tự Gia thần cùng chứng giám và phù hộ cho toàn gia được mọi sự yên lành tốt đẹp.

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

    Cúng giỗ là nghi thức rất đáng trân trọng và cần được giữ gìn trong văn hóa của người Việt. Hi vọng qua bài viết cúng giỗ này, sẽ giúp bạn đã biết được bài cúng giỗ người đã khuất như thế nào và chuẩn bị cho một buổi lễ cúng giỗ đúng chuẩn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Cúng 100 Ngày Bốc Bát Hương Như Thế Nào?
  • Bài Văn Cúng 49 Ngày – Lễ Cúng 49 Ngày Như Thế Nào
  • Tìm Hiểu Bài Cúng Đám Giỗ Họ, Giỗ Thường
  • Bài Văn Cúng Giỗ Bố ( Cha ) – Tìm Hiểu Nghi Lễ Giỗ Bố
  • Bài Văn Khấn Cúng Giỗ Ông Bà Hàng Năm
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100