【#1】Cung Quan Lộc, Thăng Quan Tiến Chức Miếu Đài Hiển Vinh

Cung Quan Lộc biểu thị khí số sự nghiệp của đời người. Hội được Cát tinh thì sự nghiệp hanh thông. Gặp đa Sát diệu thì công việc thăng giáng vô thường

Mộ phùng Tả Hữu đồng lai.

Thăng quan tiến chức miếu đài hiển vinh.

Đồng, Lương hội chiếu Dần Thân

Khi xưa tay trắng mà nay sang giàu.

Lộc phùng Tử, Mã nhất ban

Phong vân tế hội Mã Long Hỉ Đồng.

Cho nên trong tinh bàn của Đẩu Số. “Cung Quan Lộc” và “Cung Phu Thê” xung chiếu nhau. Đó là vì quan lộc sự nghiệp của một người có thể ảnh hưởng đến địa vị của vợ con.

Ngày nay xã hội đã hoàn toàn khác. Địa vị của giới doanh nhân rất cao, tất cả đều coi trọng tiền bạc, học hành để ra làm quan không còn là con đường lý tưởng duy nhất.

Bởi lý do đời sống hiện đại không còn quá quan trọng quan chức. Thành đạt trong kinh doanh cũng là mục tiêu mà rất nhiều người hướng tới. Hơn nữa, “tài vượng” còn có thể “sinh quan”. Nên “Cung Quan Lộc” được một số nhà đẩu số hiện đại đổi lại gọi là “Cung Sự Nghiệp”. Mà “Cung Quan Lộc” và “Cung Phu Thê” xung chiếu nhau, cũng có nghĩa là xem sự nghiệp và gia đình mâu thuẫn nhau. Vì vậy cần quan sát các sao của hai cung này xem có điều hòa hay không.

Trong bối cảnh như vậy, cổ nhân đã định ra một số nguyên tắc luận đoán “Cung Quan Lộc”. Có thể nói là không còn hợp thời, như

Những luận đoán này ít nhiều đã lỗi thời ở thời hiện đại.

Vương Đình Chi từng thử căn cứ các sao của Cung Quan Lộc để luận đoán về nghề nghiệp. Kết quả do tư liệu chưa được đầy đủ nên trong bài viết này chỉ thuật những nguyên tắc phổ quát.

Ví dụ như gặp Thiên Lương hội sao tài thì có thể đoán là kiểm toán viên, cũng có thể là chuyên viên kiểm định trong ngành kiến trúc. Nhưng cũng có khả năng là chủ quản bộ môn tổng vụ, hoặc bộ môn nhân sự của công ty.

Nói một cách thẳng thắn, chúng ta có thể biết tính chất tổ hợp các sao phù hợp với nghề gì. Nhưng lại không thể dựa vào các sao mà nói ra nghề nghiệp cụ thể của nó. Ngày nay đúng là có rất nhiều nghề nghiệp khác nhau, mong rằng bạn đọc có thể hiểu cho.

Ngoài ra, phán đoán nghề nghiệp của một con người còn phải tham khảo các sao của Cung Mệnh và Cung Phúc Đức, điểm này cũng cần hết sức chú ý.

Cung Quan Lộc đối nhau với cung phu thê, và tương hội với cung mệnh và cung tài bạch ở tam phương. Quan hệ giữa Cung Quan Lộc với cung mệnh và cung tài bạch, không nói cũng biết, còn quan hệ với cung phu thê, ở thời cổ đại, là vì có chế độ phong cáo. Nam mệnh ở cung thê gặp các sao chủ về quý, tức là điềm tượng vợ được phong cáo, nhờ vậy người này có thể gián tiếp được quan lộc.

Ý nghĩa này ở thời hiện đại đã không còn, nhưng vẫn có thể dựa vào đó để luận đoán ảnh hưởng của hôn nhân đối với sự nghiệp. Nhất là lúc các sao ở cung phu thê có tính chất quý báu, có lúc là điềm tượng lợi về vợ chồng hợp tác sáng lập sự nghiệp.

Vợ chồng đồng cam cộng khổ, từ xưa đã vậy. Các sao ở Cung Quan Lộc có thể ảnh hưởng đến hôn nhân, ý nghĩa không nói cũng biết. Nhưng nhìn từ phương diện khác, các sao ở cung phu thê cũng có thể ảnh hưởng đến sự nghiệp, ngoại trừ căn cứ tình huống “chồng nhờ vợ mà phú quý” hay “vợ nhờ chồng mà phú quý”, để luận đoán về công danh lợi lộc, còn phải lưu ý một điều, sự thành bại của sự nghiệp không phải là sự thành bại của hôn nhân. Cho nên các sao ở bản cung quan trọng hơn các sao ở đối cung.

Nếu Cung Quan Lộc là các sao cát, cung phu thê cũng là các sao cát, sẽ chủ về vợ chồng cùng nhau lập nên sự nghiệp, hoặc hai bên phát triển thành công, mà quan hệ vợ chổng cũng hạnh phúc. Nếu Cung Quan Lộc là các sao cát, mà cung phu thê là các sao hung, thì vợ chồng nên tự phát triển sự nghiệp của mình. Nếu Cung Quan Lộc là các sao hung, mà ở cung phu thê cũng là các sao hung, thì sự nghiệp của hai người không trợ giúp lẫn nhau, tuyệt đối không nên hợp tác.

Ví dụ như cung mệnh là “Tử Vi Thiên Phủ”, cung tài bạch là Vũ Khúc độc tọa, Cung Quan Lộc là “Liêm Trinh Thiên Tướng”. Nếu Vũ Khúc Hóa Quyền, cung thiên di có Lộc Tồn, thì nên căn cứ theo nhóm sao của cung mệnh và các sao của cung tài bạch, có thể buôn bán kinh doanh. Nhưng do Cung Quan Lộc là “Liêm Trinh Thiên Tướng”, vì vậy nên hợp tác với người khác để làm ăn, và cần phải đích thân đương số tham gia công việc kinh doanh.

Nếu cung mệnh là Tử Vi Hóa Quyền, mà cung tài bạch là Vũ Khúc Hóạ Kỵ, thì nên làm việc hưởng lương ở công ty, tập đoàn lớn hoặc nhà nước, hơn nữa, còn nên đảm nhiệm bộ môn hành chính. Đây là căn cứ tính chất của “Liêm Trinh, Thiên Tướng” ở Cung Quan Lộc.

Cung Quan Lộc đối nhau với cung phu thê, ở thời cổ đại còn có một ý nghĩa quan trọng khác, người xưa thường nói “trai sợ chọn nhầm nghề, gái sợ chọn nhầm chồng”, cho nên cổ nhân cho rằng nam mệnh nên xem trọng Cung Quan Lộc (gọi là “cung cường”), nữ mệnh thì nên xem trọng cung phu thê. Ý nghĩa này, về cơ bản không nên phân biệt hai cung này thành “cung cường” và “cung nhược”.

Hai Cung Quan Lộc và phu thê, rất kỵ một cung có Địa Không, một cung có Địa Kiếp (chỉ hai cung Dần và Thân là có chúng, chủ về vì bị ảnh hưởng của bạn đời mà sự nghiệp bất lợi). Ví dụ như vì chiều theo người bạn đời, mà hi sinh một công việc khá tốt, v.v… nhung hai bên lại không thể cả nể nhau mãi, vì vậy cũng ảnh hưởng đến hạnh phúc trong hôn nhân.

Cung Quan Lộc gặp Địa Kiếp, Địa Không, trong các tình huống thông thường thì thích hợp làm những nghề nghiệp hiếm gặp, hoặc những nghề nghiệp có tính đột xuất và phương pháp làm ăn ngoài dự liệu của mọi người, nhưng tối kỵ chí lớn mà tài không đủ, suốt đời sự nghiệp khó hưng phát. Đây là một ví dụ về hành động của con người tuy thuộc về hậu thiên, nhưng lại có thể ảnh hưởng đến sự thành bại của đời người.

Cung Quan Lộc gặp sát tinh, cổ nhân cho rằng thích hợp làm về thương nghiệp, hoặc thợ thuyền. Đối với con người thời hiện đại không thể luận chung chung như vậy được. Vì có không ít nhà buôn lớn mà cung sự nghiệp không có sát tinh. Đây là vì gặp sát tinh sẽ chủ về địa vị xã hội khá thấp, hoặc từ địa vị thấp mà phát triển lên địa vị cao, cho nên ở thời cổ đại thì thích hợp kinh doanh buôn bán (thời xưa địa vị xã hội của thương nhân khá thấp, nếu sau khi thành giàu có, đóng vai của một thân sĩ thì địa vị cũng nhờ đó mà được nâng cao). Ở thời hiện đại đương nhiên không hoàn toàn như vậy.

Cổ nhân nói “thợ thuyền”, ở thời hiện đại thường là nhân tài chuyên nghiệp. Điều này chúng ta cần lưu ý.

Cung sự nghiệp có các sao hung, chưa chắc là sự nghiệp không tốt, cần phải nắm vững tính hung của nó để luận đoán nên làm những nghề nghiệp nào, tức là vận dụng phép “theo cát tránh hung”. Như Thái Dương hội Cự Môn Hóa Kỵ, chủ về nên “dùng tài ăn nói để kiếm tiền”. Vì vậy nên làm công việc dạy học, hoặc luật sư, lại ví dụ như trường hợp “Hình kỵ giáp ấn”, thì có thể làm những công việc có tính chất “hình pháp, kỷ luật”.

Cung Quan Lộc có Lộc Tồn, lại không luận giàu có, thông thường chỉ nên kinh doanh sự nghiệp có sẵn, hoặc làm việc hưởng lương. Nếu gặp thêm Địa Không, Địa Kiếp đồng cung, sẽ chủ về có phản ứng sai lầm, tiến thoái không hợp thời cơ, thường thường không chịu ở yên trong công việc hưởng lương, hoặc không cam tâm với sự nghiệp kinh doanh có sẵn, gắng gượng thay đổi, kết quả là rơi vào cảnh khốn khó.

Luận đoán về công danh sự nghiệp, có lúc cần phải tham khảo Cung Quan Lộc của đại vận trung niên để định. Nếu Cung Quan Lộc của nguyên cục rất tốt, nhưng Cung Quan Lộc của đại hạn trung niên lại chủ về có phá tán hay thất bại lớn, thì không nên tự lập sự nghiệp riêng quá sớm. Đây cũng là phép “theo cát tránh hung”.

Sao Tử Vi thủ Cung Quan Lộc, chủ về một mình đảm trách công việc, nhưng lại chẳng thể tự kinh doanh, cũng không chủ về người này có thể làm lãnh đạo. Trong các tình huống thông thường chỉ chủ về công tác độc lập hoặc phụ trách bộ môn.

Tử Vi gặp sát tinh, cổ nhân cho rằng có thể kinh doanh làm ăn. Ở đây cũng có ý nói sau khi trải qua tranh đấu trên đường đời mà có thành tựu, nhờ thành tựu mà địa vị xã hội mới được nâng cao. Ở thời hiện đại địa vị xã hội của con người đã khác trước, cho nên tuy không có sát tinh, mà còn không có “bách quan triều củng”, cũng chưa chắc không thể tự kinh doanh làm ăn, và từ kinh doanh làm ăn mà dẫn đến phú quý. Xã hội cổ kim khác nhau, không thể luận chung chung.

  • Tử Vi Hóa Quyền ở Cung Quan Lộc, chỉ chủ về có thể một mình đảm trách công việc, hoặc lúc làm việc có tính độc lập rất mạnh, nhưng chưa chắc phú quý.
  • Tử Vi Hóa Khoa ở Cung Quan Lộc, chủ về danh lớn hơn lợi, cho nên thích hợp với nghề tự do hoặc chuyên nghiệp, cũng có thể làm việc trong chính giới, nhưng e rằng chỉ quý mà không phú.

Tử Vi được “trăm quan đứng chầu”, lại không có sát tinh, có thể làm việc trong chính giới, ắt sẽ có thể thăng tiến cao, nếu cung mệnh gặp tổ hợp nhiều cát tinh, thì càng chủ về làm quan lớn.

  • Nếu Tử Vi không có sát tinh đồng độ, lại có sao phụ, tá cát hội hợp, còn gặp “Lộc Mã giao trì”, hoặc hội Liêm Trinh Hóa Lộc, Tham Lang Hóa Lộc, hay Vũ Khúc Hóa Lộc, chủ về chức vụ nắm quyền tài chính, làm việc trong chính giới cũng là quan thuế.
  • Tử Vi Hóa Khoa mà có Lộc Tồn đồng độ hoặc vây chiếu, chủ về danh lợi song thu, thích hợp làm việc trong chính giới hoặc chủ trì công ty lớn, lợi nhất là những ngành nghề tiếp cận thị trường, công chúng (như điện thoại, thức ăn nhanh, hàng không, du lịch, v.v… xã hội hiện đại có rất nhiều nghề nghiệp).

Tử Vi độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, thủ Cung Quan Lộc, lấy trường hợp cung mệnh hoặc cung tài bạch có sao lộc là quý. Nếu cung mệnh gặp “Lộc Mã giao trì”, bất kể tự kinh doanh làm ăn hoặc làm việc hưởng lương trong ngành kinh tế tài chính, đều có thể hơn mọi người. Nếu cung tài bạch là Liêm Trinh Hóa Lộc, thì nên hợp tác với người khác để sáng lập sự nghiệp, nhưng bản thân đương số phải phụ trách quản lý nghiệp vụ.

Tử Vi độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, ưa Tả Phụ và Hữu Bật một sao ở Cung Quan Lộc, một sao ở cung phu thê, (Văn Xương, Văn Khúc cũng vậy), sẽ chủ về vợ chồng giúp đỡ lẫn nhau, dù có thể không hợp tác trong công việc.

Tử Vi Hóa Quyền, độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, thì lợi về sự nghiệp mà bất lợi về hôn nhân, nữ mệnh càng đúng. Cho nên vợ chồng tuyệt đối không nên hợp tác trong sự nghiệp. Hễ nữ mệnh có Quyền tinh ở Cung Quan Lộc thì cần phải chú ý vấn đề hôn nhân, Tử Vi Hóa Quyền thì càng phải lưu ý.

Tử Vi Hóa Khoa, độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, lại gặp Địa Không, Địa Kiếp, chủ về sự nghiệp một đời luôn có đối thủ. Vì vậy không thích hợp làm việc trong chính giới, mà nên làm nghề tự do. Bất kể có sát tinh hay không, đều chủ về danh lớn hơn lợi. Nếu có “bách quan triều củng”, sẽ chủ về có địa vị trong giới nghề nghiệp. Không gặp Thiên Hình, Đại Hao, Địa Không, Địa Kiếp, thì có thể làm việc trong chính giới, thích hợp bộ môn quản lý hành chính.

Tử Vi độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, có các sao đào hoa đồng độ, cần phải xem có Văn Xương, Văn Khúc hay không. Nếu có Văn Xương, Văn Khúc thì nghề nghiệp nho nhã, không có thì nghề nghiệp dung tục.

“Tử Vi Phá Quân” thủ Cung Quan Lộc mà có sát tinh đồng độ, chủ về vất vả thân xác, có Văn Xương, Văn Khúc đồng cung, chủ về vất vả tinh thần. Nếu Phá Quân Hóa Lộc, thì sự nghiệp một đời nhiều biến động, còn thường gánh vác công việc quá mức. Phá Quân Hóa Quyền, thì sự nghiệp gặp nhiều sóng gió, trắc trở, sau khi lập ra cục diện mới lại không được hưởng.

“Tử Vi, Phá Quân” hội Vũ Khúc Hóa Lộc, Liêm Trinh Hóa Lộc hoặc Tham Lang Hóa Lộc, đều chủ về nhờ khai sáng mà trở nên giàu có. Nếu không thể khai sáng cục diện mới, thì chỉ chủ về sự nghiệp chìm nổi thất thường với biên độ lớn. Nhưng bất kể như thế nào, đều chủ về sinh hoạt sa hoa, mà thực tế thì thu nhập không lớn.

“Sức khai sáng” của “Tử Vi Phá Quân” là từ chỗ không có gì mà mở ra cục diện mới hoàn toàn, hoặc có sáng kiến rất mới trong phong cách làm ăn. Cho nên ưa Tả Phụ, Hữu Bật đồng độ, đương nhiên có nhiều trợ lực.

“Tử Vi Phá Quân” có Hỏa Tinh và Linh Tinh giáp cung, chủ về công việc rất bận rộn. Có Địa Không, Địa Kiếp đồng cung mà không có các sao sát, hình, thì sức khai sáng của nó sẽ là từ chỗ không có gì mà xây nên lâu đài. Nhưng nếu gặp các sao sát, hình, hao, thì sự nghiệp một đời thường thường sắp thành lại hỏng, hơn nữa còn tổn thương nguyên khí.

“Tử Vi Thiên Phủ” đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân, cần phải gặp “bách quan triều củng” mới có thành tựu. Nếu không có sao cát, thì thường thường phản ứng sai lầm, tiến thoái không hợp thời cơ, hoặc chí lớn mà tài không đủ.

“Tử Vi Thiên Phủ” có Lộc Tồn, Thiên Mã đồng độ, hoặc gặp “Lộc Mã giao trì”, ở thời hiện đại thì thích hợp tự kinh doanh làm ăn, cũng nên làm việc trong kinh doanh tài chính, tiền tệ, ngân hàng.

“Tử Vi Thiên Phủ” thủ Cung Quan Lộc, mà Tử Vi Hóa Khoa, chủ về tay trắng sáng lập sự nghiệp. Nếu Thiên Phủ Hóa Khoa, sẽ chủ về sáng tạo và hưng phát trong cục diện có sẵn.

Nếu Tử Vi Hóa Quyền, thường thường lý tưởng quá cao, năng lực tài chính không đủ để chống đỡ công việc theo ý muốn, làm việc trong chính giới hay kinh doanh buôn bán đều có tính chất này. Nếu gặp sao hình, thì thích hợp theo võ nghiệp, rất nặng về quyền lực.

Thời hiện đại, “Tử Vi Thiên Phủ” thủ Cung Quan Lộc cũng có thể làm việc trong ngành sản xuất. Nhưng lúc Tử Vi Hóa Quyền thì không nên có lý tưởng quá cao, xa rời thực tế. Tử Vi Hóa Khoa, thì cuộc đời gặp nhiều cạnh tranh. Ví dụ như chế tạo ra một sản phẩm mới liền bị người ta mô phỏng.

“Tử Vi Tham Lang” đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh, chủ về sự nghiệp có đột phá, nhưng nếu đồng thời gặp thêm Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Đại Hao, thì bạo phát bạo bại.

“Tử Vi Tham Lang” hội Liêm Trinh Hóa Kỵ, thích hợp làm nghề tự do, hội Liêm Trinh Hóa Lộc, cũng có thể làm việc trong chính giới.

“Tử Vi Tham Lang” thủ Cung Quan Lộc, Tử Vi không nên Hóa Khoa, nếu không, tuy có năng lực kêu gọi, động viên nhưng lại thiếu năng lực tổ chức, trừ phi được “bách quan triều củng” mới có thể bù đắp khuyết điểm.

“Tử Vi Tham Lang” đồng cung với Tả Phụ hoặc Hữu Bật, đối cung là Hữu Bật hoặc Tả Phụ, cấu tạo thành cách cục tốt, chủ về có nhiều người dưới quyền, nhưng cần phải chia.quyền lợi với thuộc cấp thì sự nghiệp mới có thể kéo dài.

“Tử Vi Tham Lang” có Hỏa Tinh và Linh Tinh giáp cung, cũng chủ về đột phá. Nếu giáp cung Tham Lang Hóa Kỵ thì cuộc đời bạo phát bạo bại.

“Tử Vi Thiên Tướng” ở hai cung Thìn hoặc Tuất, về cơ bản cũng chủ về chìm nổi bất thường. Có điều khác với tình hình chìm nổi của “Tử Vi Phá Quân”.

  • “Tử Vi Phá Quân” chìm nổi là do chủ quan muốn thay đổi hoàn cảnh.
  • Chìm nổi của “Tử Vi Thiên Tưởng” thường thường là bị ảnh hưởng của hoàn cảnh khách quan, thường có cảm giác anh hùng không có đất dụng võ.

“Tử Vi Thiên Tướng” thủ Cung Quan Lộc, thường nên ở vị trí phó, tuy thực tế công tác là đảm đương một mình, mà danh nghĩa thì không bằng thực tế.

“Tử Vi Thiên Tướng” thủ Cung Quan Lộc, cũng nên hợp tác với người khác, nhưng cần phải tham gia lãnh đạo công việc thực tế.

“Tử Vi Thiên Tướng” bị “Hình kị giáp ấn”, không có sát tinh, chủ về sự nghiệp gặp trắc trở, có sát tinh, thì chỉ thích hợp ngành công nghệ.

“Tử Vi Thiên Tướng” có các sao khoa văn đồng độ, lại gặp thêm các sao sát, hao, thì thích hợp văn nghệ, nghề tự do.

“Tử Vi Thất Sát” không nên gặp Liêm Trinh Hóa Kỵ, nếu không sẽ dễ sinh phá tán, thất bại, thường do xử sự nặng tình cảm mà ra.

“Tử Vi Thất Sát” thủ Cung Quan Lộc còn chủ về thân tâm vất vả. Gặp sát tinh, thì thường bị đồng nghiệp hay đồng sự khiêu chiến, ứng phó rất vất vả.

“Tử Vi Thất Sát” gặp “Lộc Mã giao trì”, cuộc đời phải đổi nghề hai ba lần mới ổn định. Hội Phá Quân Hóa Lộc thì kiêm hai ba chức vụ, hoặc thường gánh vác công việc quá mức.

“Tử Vi Thất Sát” rất ưa Tử Vi Hóa Khoa, có thể làm mạnh thêm năng lực quản lý, lãnh đạo. Nếu được “bách quan triều củng”, cũng có thể làm việc trong chính giới, hoạt động trong thương giới cũng là nhân vật lãnh đạo.

“Tử Vi Thất Sát” gặp các sao sát, kỵ, cuộc đời ắt sẽ có phá tán, thất bại, nếu các sao sát, kỵ quá nặng thì khó gây dựng lại.

Nếu Sao Thiên Cơ nhập miếu, có Sao Hóa Lộc, Sao Hóa Quyền, Sao Hóa Khoa hội chiếu, lại gặp thêm Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt, thì nên làm việc trong chính giới. Nhưng nếu Thiên Cơ lạc hãm, hoặc đồng thời gặp sát tinh thì chỉ nên làm việc trong công ty lớn. Làm những công việc có tính phục vụ công cộng.

Thiên Cơ Hóa Lộc hay Hóa Khoa ở Cung Quan Lộc, gặp Thiên Vu, Thiên Lương, Cự Môn thì có thể khởi nghiệp bằng khoa tinh tướng (Bói toán). Nếu lại gặp Hoa Cái thì có thể hành nghề tôn giáo.

Có tứ sát tinh hội chiếu sẽ làm tăng tính biến động, tính không ổn định của Thiên Cơ. Chủ về thường thạy đổi công việc hoặc nghề nghiệp, hoặc làm những nghề nghiệp có tính lưu động. Cương vị công tác luôn bị điều động.

Thiên Cơ ở Cung Quan Lộc có Địa Không, Địa Kiếp, Đại Hao hội hợp, thích hợp theo ngành công nghiệp, đầu cơ ắt sẽ thất bại.

“Thiên Cơ Thái Âm” ở Cung Quan Lộc, làm tăng tính lưu động của Thiên Cơ, khiến sự nghiệp của mệnh tạo có nhiều biến động. Nếu là “Cơ Nguyệt Đồng Lương” hội hợp, thì nên làm công chức, hoặc làm việc trong các công ty, tập đoàn lớn, có tính phục vụ.

Thiên Cơ và Cự Môn ở Cung Quan Lộc, dù có cát tinh hoặc có các sao Thiên Tài, Long Trì, Phượng Các, vẫn chủ về có kỹ năng chuyên môn nhưng không giữ một nghề, văn hoặc võ đều thay đổi đa đoan.

Phàm “Thiên Cơ, Thiên Lương” cùng thủ Cung Quan Lộc, chủ về thường kiêm mấy chức vụ nhưng hay thay đổi. Bất kể có phải là cách “Cơ Nguyệt Đồng Lương” hay không, đều không nên tự mình kinh doanh làm ăn, mà nên làm việc trong một công ty, tập đoàn lớn có tính phục vụ công chúng. Hoặc làm công tác xã hội, cũng có thể theo ngành y dược.

Gặp các sao sát, ki hình, hao, thì dễ vì sự nghiệp mà dính vào tranh chấp, kiện tụng, phạm pháp. Nên suy tính đến việc theo ngành pháp luật, công tác tư pháp. nếu sát tinh quá nặng, mà cung mệnh không cát tường, thì chủ về giang hồ phiêu bạt, nghèo nàn, văn nhân thất chí.

Thái Dương nhập miếu ở Cung Quan Lộc. Trường hợp ở cung Ngọ sự nghiệp rất lớn, nhưng cần phải gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt, hoặc được Văn Xương, Văn Khúc, mà không gặp sát tinh, Địa Không, Địa Kiếp mới là thượng cách. Nếu không gặp cát tinh, mà gặp Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Đại Hao, thì sự nghiệp tuy lớn, nhưng vẫn chủ về trống rỗng, dễ bị sụp đổ.

Thái Dương nhập miếu, được các cát tinh vây chiếu, không gặp các sao ác sát, có thể làm việc trong chính giới, cũng có thể kinh doanh buôn bán. Đều chủ về sự nghiệp hưng thịnh, có địa vị cao trong xã hội, hoặc chủ về có rất nhiều học trò.

Thái Dương nhập miếu, có cát tinh vây chiếu, lại có Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa hội hợp, có Văn Xương đồng độ, là kết cấu tốt nhất. Chủ về mệnh tạo làm việc trong chính giới hay kinh doanh buôn bán, đều là nhân tài lãnh đạo, có thể phú quý. Ở cung Ngọ, không có sát tinh, được “bách quan triều củng”, là lương đống của quốc gia, nhân vật quan trọng trong chính giới. Có sát tinh, thì trong thành công có thất bại. Thái Dương rất ưa có Cự Môn hội chiếu, gặp cát tinh là nhân tài ngoại giao, nhân tài trong ngành tư pháp.

Nếu Thái Dương lạc hãm, dù gặp “tam hóa cát”, hoặc được “bách quan triều củng”. Thì sự nghiệp trước sau vẫn trống rỗng. nếu Thái Dương Hóa Kỵ, thì một khi sự nghiệp tiến triển, thị phi oán ghét sẽ theo đó mà đến. Không thích hợp làm việc trong chính giới, mà thích hợp với ngành tư pháp, pháp luật, cũng nên làm giáo chức. Nếu gặp Văn Xương, Văn Khúc, có thể làm công việc mang tính quảng bá. Nếu gặp Long Trì, Phượng Các, thì thích hợp nghiên cứu khoa học. Nếu gặp Địa Không, Địa Kiếp, lại nên khởi nghiệp bằng óc tưởng tượng, là nhân tài phát minh.

Thái Dương lạc hãm, mà sát tinh nặng, thì bôn ba vất vả, ít có thành tựu.

“Thái Dương Thái Âm” ở Cung Quan Lộc, nếu được cát tinh vây chiếu hay hội hợp, thì có thể phú quý. Thích hợp làm việc trong chính giới, thương nghiệp. Gặp sát tinh thì sự nghiệp, nghề nghiệp hay thay đổi. Thích hợp làm tham mựu, cố vấn. Hoặc làm việc trong lãnh vực quan hệ công cộng, quảng bá, công tác phục vụ xã hội.

Hai sao “Thái Dương Cự Môn” đồng cung, ở cung Dần thì tốt hơn. Không có sát tinh thì đại phú đại quý, là nhân vật quan trọng trong giới ngoại giao. Có các sao sát, kỵ, thì thích hợp ngành pháp luật, tư pháp, giáo dục.

Thái Dương và Cự Môn đồng cung không ưa có sát tinh mà gặp đủ Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, là nhân vật cao cấp trong chính giới. Nếu đồng thời gặp sát tinh, làm kinh doanh buôn bán cũng là lãnh đạo một phương. Hoặc là nhân sĩ mà xã hội biết tên. Trường hợp ở cung Thân thì hơi kém hơn.

“Thái Dương Thiên Lương” cùng ở Cung Quan Lộc, gặp cát tinh, thích hợp làm công việc giám sát, kiểm toán.

  • Nếu có sát tinh, thì nên khởi nghiệp bằng nghề nghiệp hưởng lương, nghiên cứu khoa học.
  • Gặp Kình Dương, Thiên Hình, có thể là nhân tài trong lãnh vực y dược, trị liệu.
  • Nếu Thái Dương và Thiên Lương gặp Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc. Có Văn Xương hoặc Văn Khúc hội hợp, thì nên tham gia các cuộc thi tuyển, trở thành nhân tài chuyên nghiệp.

Nhưng bất kể thế nào, đều không nên tự mình bỏ vốn ra làm ăn kinh doanh.

Nếu Vũ Khúc không có sát tinh đồng độ, nhưng lại ở tam phương hội hợp, còn gặp Phá Quân, Thất Sát, thì tính chất kim thuộc chuyển thành công cụ bén nhọn, thích hợp với những nghề nghiệp dùng công cụ bén nhọn để kiếm tiền, như quân nhân, cảnh sát, bác sĩ ngoại khoa, nha sĩ, v.v…

Vũ Khúc ở sáu cung Dần, Thân, Mão, Dậu, Tị, Hợi, là Vũ Khúc tọa nhàn cung, cổ nhân cho rằng phần nhiều là có tay nghề. Trường hợp đồng cung với sát tinh là đúng. Cách cục này lại ưa gặp Văn Xương, Văn Khúc. Ở thời hiện đại, bác sĩ sản khoa, bác sĩ ngoại khoa, nha sĩ, thầy thuốc cũng thuộc loại “có tay nghề”, chưa chắc là thợ thuyền.

Vũ Khúc đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh, thì không ưa rơi vào hai cung Tị hoặc Ngọ, cũng không ưa gặp các sao thuộc hỏa. Nếu không, cuộc đời ít nhất cũng có một lần mất chức hoặc thất nghiệp. Đến cung hạn Quan Lộc gặp lại Vũ Khúc, còn bị các sao sát, kị của đại hạn hoặc lưu niên xung khởi, là thời kì ứng nghiệm.

Vũ Khúc Hóa Khoa, chủ về tiếng tăm, cho nên bất kể làm nghề nghiệp gì cũng đều lấy việc tạo dựng tiếng tăm làm nhiệm vụ hàng đầu. Như thiết kế một kiểu đồ trang sức, hành động ngân hàng đầu tư, đều có mục tiêu tạo dựng tiếng tăm.

Vũ Khúc Hóa Kỵ, chủ về người tự kinh doanh làm ăn thường cảm thấy thiếu vốn, không thể phát triển theo lí tưởng. Vì vậy thích hợp làm nghề kĩ thuật. Gặp Vũ Khúc Hóa Kỵ thủ cung Quan Lộc của đại vận hoặc lưu niên, cũng phải cẩn thận đề phòng hiện tượng thiếu hụt tài chính trong việc phát triển sự nghiệp.

Vũ Khúc rất ngại đồng độ với Đà La, vì Đà La cũng là sao kỵ. Nhưng lúc Vũ Khúc Hóa Kỵ hoặc có Đà La đồng độ, lại thích hợp làm những nghề nghiệp có tính chất hung hiểm, mạo hiểm, như thợ lặn, tang nghi, diễn viên đóng thế, v.v… Chỉ cần có cát tinh đồng thời hội hợp thì cũng có thể phát lên rồi biến thành hanh thông.

Muốn định Vũ Khúc ở cung Quan Lộc có cách cục cao hay thấp, phải lấy có nhập miếu hay không làm tiêu chuẩn. Có cát hóa và các sao phụ, tá hay không, làm tư liệu tham khảo. Có điều, Vũ Khúc rất ưa hội Liêm Trinh Hóa Lộc, tức lúc này Vũ Khúc cũng đồng thời Hóa Khoa. Trường hợp cát hóa này sẽ giúp biến thành thượng cách.

“Vũ Khúc Thiên Phủ” ở hai cung Tí hoặc Ngọ, đối cung là Thất Sát, không có các sao sát, kị, hình, mà có sao lộc, là quan thuế. Nếu gặp thêm các sao phụ, tá, thì địa vị của người này ắt khá cao. Có điều, nếu ở tam phương gặp sát tinh, là võ nghiệp, đồng thời ở tam phương còn gặp thêm các sao phụ, tá thì lấy công trạng để khởi nghiệp.

“Vũ Khúc Thiên Phủ” có sát tinh đồng độ, thì nên theo ngành nghề khoa học kĩ thuật. Cũng lấy trường hợp có sao lộc là tốt.

“Vũ Khúc Thiên Phủ”, mà Thiên Phủ Hóa Khoa, tuy không có sao lộc, cũng thích hợp ngành kinh tế tài chính.

“Vũ Khúc Thiên Phủ” ở cung Tí tốt hơn ở cung Ngọ. Trường hợp ở cung Tí, đối cung là Thất Sát ở cung Ngọ, là tượng hỏa luyện âm kim, có thể ảnh hưởng đến tính chất của “Vũ Khúc, Thiên Phủ”, trải qua tôi luyện mà thành hữu dụng. Nếu gặp các sao phụ, tá đồng cung hay vây chiếu, thì nên xuất thân quân ngũ.

“Vũ Khúc Tham Lang” đồng độ ở hai cung Sửu hoặc Mùi, mà Tham Lang Hóa Kỵ, suốt đời không được nhàn hạ, phải bôn ba vất vả, sự nghiệp đa đoan, thậm chí là “nửa quan gia nửa thương nhân”, kiếm tiền là nhiệm vụ.

“Vũ Khúc Tham Lang”, mà Tham Lang Hóa Lộc, không có sát tinh, nhưng có các sao phụ, tá cát, có thể trở thành cự phú. Có điều, nếu tự kinh doanh làm ăn thì khó tránh bạo phát. Vì vậy chỉ cần hơi có các sao sát, hình, thì liền bạo bại. Không phải chỉ có cách cục “Hỏa Tham”, “Linh Tham” mới như vậy.

“Vũ Khúc Tham Lang” cũng có thể làm quan thuế, hoặc làm việc ở công ty kinh tế tài chính. Nhưng “Hỏa Tham”, “Linh Tham” đều chủ về tham ô, chỉ trường hợp Vũ Khúc hóa làm sao khoa mới có thể tránh vì tham mà chuốc họa.

“Vũ Khúc Tham Lang”, mà Vũ Khúc Hóa Lộc, Tham Lang Hóa Quyền, sự nghiệp cũng có liên quạn đến kinh tế tài chính, nhưng đồng thời cũng thích hợp kinh doanh theo trào lưu xã hội, ở thời hiện đại bây giờ gọi là theo trend – xu hướng.

“Vũ Khúc Tham Lang” thủ cung Quan Lộc, ưa hợp tác với người khác, cho nên sự nghiệp cũng không chỉ có một đầu mối.

“Vũ Khúc Thiên Tướng” đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân, chủ về chức văn mà làm việc võ, hoặc chức võ mà làm việc văn. Ở thời hiện đại, văn võ khó phân biệt. Đại khái là, nội vụ thuộc văn, ngoại vụ thuộc võ, kinh tế tài chính thuộc văn, khoa học kĩ thuật thuộc võ.

“Vũ Khúc Thiên Tướng” có các sao đào hoa đồng độ, lại đồng cung với Văn Khúc, là diễn viên. Nhưng không được cát hóa và có sao cát mới đúng. Nếu có sát tinh trùng trùng, sẽ chủ về gió sương cay đắng, giang hồ phiêu bạt.

“Vũ Khúc Thiên Tướng” được “Tài ấm giáp ấn”, rất thích hợp làm việc hưởng lương ở bộ môn kinh tế tài chính. Nếu thuộc loại “Hình kị giáp ấn” cũng không thích hợp tự kinh doanh làm ăn.

“Vũ Khúc Thiên Tướng” thủ cung Quan Lộc, có cát hóa, cũng chủ về hợp tác với người khác, nhưng cần phải gánh vác trách nhiệm thực tế.

“Vũ Khúc Thiên Tướng” có sát tinh hội hợp, thích hợp với khoa học kĩ thuật.

“Vũ Khúc Thất Sát” đồng độ ở hai cung Mão hoặc Dậu, có sát tinh ở tam phương, thích hợp xuất thân quân ngũ. Gặp các sao phụ, tá cát, ắt có thể vinh thân. Nếu sát tinh ở bản cung, thì chỉ chủ về khoa học kĩ thuật.

“Vũ Khúc Thất Sát” đồng cung với tứ sát và Địa Không, Địa Kiếp, bất kể gia nhập quân đội hay làm việc trong ngành sản xuất, đều chủ về sự nghiệp trắc trở.

“Vũ Khúc Thất Sát” ở cung Dậu ưa có Hỏa Tinh đồng độ, ở cung Mão thì không ưa.

  • Trường hợp ở cung Dậu là “Vũ Khúc, Thất Sát” được Hỏa Tinh tôi luyện, chủ về trải qua trắc trở mà được thành tựu.
  • Trường hợp ở cung Mão là thuộc mộc, Hỏa Tinh ngại hỏa quá vượng, rất kỵ nạp âm thuộc hỏa, nên chủ về vất vả mà không có kết quả.

“Vũ Khúc Thất Sát” có sao lộc, cũng thích hợp ngành kinh tế tài chính, mà còn giỏi buôn bán. Trường hợp được cát hóa và có sao cát là tốt, trường hợp.sát tinh nặng thì cần phải đề phòng trắc trở.

“Vũ Khúc, Thất Sát” gặp các sao sát, hình, chủ về phẫu thuật ngoại khoa, trật đả,

Vũ Khúc độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, đối nhau với Tham Lang, tính chất đại khái tương đồng với trường hợp “Vũ Khúc, Tham Lang”, nhưng do Vũ Khúc rơi vào “Thiên La Địa Võng”, nên tính tham lam hơi giảm. Nếu thành cách “Hỏa Tham”, “Linh Tham” thì sự nghiệp cũng có sắc thái hám lợi hoặc tham ô, cho nên chủ về bạo phát bạo bại. Rất ngại có Địa Không, Địa Kiếp đồng cung, chủ về cuộc đời ít nhất phải trải qua một lần trắc trở, nếu không khó thành người hữu dụng.

“Vũ Khúc Phá Quân” đồng độ ở hai cung Tị hoặc Hợi, chủ về ưa nhúng tay vào nghề nghiệp nào đó mà không suy tính đến sở trường của bản thân. Cho nên gặp sao cát thì nhiều nghề , gặp sao hung thì sự nghiệp nhiều biến động. Có Thiên Hình đồng độ thì thích hợp gia nhập quân ngũ hoặc đơn vị kỉ luật, hoặc đảm trách về trị an. Lấy trường hợp gặp các sao phụ, tá cát là nên, nếu có các sao sát, kị trùng trùng, thì cần phải đề phòng hung nguy.

“Vũ Khúc Phá Quân” ở cung Quan Lộc, có Linh Tinh, Đà La, Âm Sát, Hoa Cái, Thiên Hình đồng độ, chủ về nghề nghiệp không chính đáng hoặc nghề tay trái.

“Vũ Khúc Phá Quân” gặp sát tinh nhẹ, cũng thích hợp khởi nghiệp bằng khoa học kĩ thuật. Nếu “Vũ Khúc Phá Quân” được cát hóa, đồng thời lại gặp Liêm Trinh Hóa Lộc hay Tham Lang Hóa Lộc, cũng có thể tự kinh doanh làm ăn, tuy khá chú tâm về sinh kế, nhưng sinh hoạt rất xa hoa.

“Vũ Khúc Phá Quân”, mà Phá Quân Hóa Lộc, giỏi khai sáng mà không giỏi thủ thành, chủ ý nhiều mà không ưa vụ thực. Cho nên cần phải có Thiên Khôi, Thiên Việt hội hợp, mới có cơ hội, có Tả Phụ, Hữu Bật hội hợp, mới chủ về có nhiều trợ lực.

“Vũ Khúc Phá Quân” gặp Liêm Trinh Hóa Kỵ, thường chủ về nạn tai chảy máu, không thích hợp gia nhập quân ngũ.

Thiên Đồng thủ Cung Quan Lộc, chủ về tay trắng làm nên. Trong các tình hình thông thường, thích hợp với những nghề nghiệp có tính mĩ quan và hưởng thụ. Như hướng dẫn du lịch, làm tóc, trang trí, trang điểm và làm đẹp, nấu ăn,

  • Thiên Đồng có Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa hội chiếu. Hoặc Lộc Mã giao trì thì chủ về sự nghiệp phát triển từ nhỏ thành lớn, dần dần hanh thông, trở thành nhân tài lãnh đạo trong nghề nghiệp.
  • Thiên Đồng lạc hãm, không thích hợp kinh doanh buôn bán, chỉ thích hợp làm thuê hưởng lương. Hoặc làm công chức, làm việc trong công ty lớn.
  • Thiên Đồng nếu có Đà La, Thiên Mã hội chiếu, thì cuộc đời sự nghiệp sẽ xảy ra nhiều thay đổi. Hoặc hay thay đổi nghề nghiệp.
  • Thiên Đồng nếu có Kình Dương, Thiên Hình hội chiếu, phần lớn chủ về vì sự nghiệp mà gây ra bất hòa, tranh chấp, hoặc bị kẻ xấu cạnh tranh.
  • Thiên Đồng nếu có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ, thì chủ về sự nghiệp gặp nhiều nghịch cảnh. Nên làm thuê thì hơn, không nên tự đứng ra kinh doanh.
  • Thiên Đồng nếu gặp Địa Không, Địa Kiếp, thì nhờ tài nghệ mà tay trắng làm nên.

“Thiên Đồng Thái Âm” cùng ở Cung Quan Lộc. Chỉ nên phát triển trong cục diện đã hình thành. Vì vậy rất nên được người đề bạt, hoặc kế thừa công việc hay sự nghiệp của người khác. Cũng có thể suy tính việc tiếp tục công cuộc làm ăn kinh doanh của người nào đó. Nhưng cần phải có Lộc Tồn, Thiên Mã hội chiếu mới có thể làm ăn kinh doanh. Nếu có Văn Xương, Văn Khúc hội hợp, thì nên theo đuổi sự nghiệp văn nghệ. Không có Văn Xương, Văn Khúc cũng có thể làm công chức.

“Thiên Đồng Cự Môn” cùng thủ Cung Quan Lộc, dù gặp cát tinh, cũng phải trải qua gian khổ, phấn đấu mới thành công. Nếu không có cát tinh, ở tam phương tứ chính gặp sát tinh, thì chủ về làm việc thiếu nghị lực, không kiên nhẫn, dẫn đến sự nghiệp giữa đường bị phế.

“Thiên Đồng Thiên Lương” cùng thủ Cung Quan Lộc. Bất kể kinh doanh buôn bán hay làm việc trong chính giới, đều chủ về nên làm người vạch kế sách.

Nhưng gặp cát tính, lại có Kình Dương, Thiên Hình hội hợp, thì có thể đảm nhiệm công tác vệ sinh phòng dịch, trị liệu hoặc nhân viên hải quan, nhân viên bưu cục.

Liêm Trinh thủ Cung Quan Lộc, nhập miếu, thông thường đều nên theo võ nghiệp, Liêm Trinh Hóa Kỵ thì càng đúng. Nếu làm những nghề nghiệp khác, thì sẽ gặp nhiều trở ngại hoặc biến động thay đổi rất lớn. Có Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phụ, Hữu Bật vây chiếu hoặc đồng độ, gia thêm Tử Vi hội chiếu, thì từ văn chức mà nắm quyền của võ chức.

Liêm Trinh nếu có Vũ Khúc, Văn Xương, Văn Khúc hội hợp. Đều thích hợp làm việc trong chính giới, gia nhập quân đội. Hoặc các công việc giám sát về kỉ luật, chủ về chức văn mà làm việc võ. Hoặc chức võ mà làm việc văn, là nhân tài kiêm văn võ.

  • Nếu kinh doanh buôn bán, thì nên xem kĩ các sao hội chiếu để định nghề nghiệp hoặc hướng kinh doanh.
  • Có Thất Sát hội chiếu, gặp Thiên Trù, có thể theo ngành ẩm thực, thực phẩm.
  • Có Thiên Phủ hội chiếu, có thể theo ngành tiền tệ, ngân hàng.
  • Có Thiên Tướng hội chiếu, là nhân tài thương nghiệp chuyên vạch kế sách, hoặc nhân tài kế hoạch kinh tế.
  • Có Văn Xương, Văn Khúc đồng độ, thì thích hợp theo đuổi sự nghiệp nghệ thuật.

“Liêm Trinh Thiên Tướng” thủ Cung Quan Lộc. Gặp cát tinh thì thích hợp gia nhập quân đội hay cảnh sát, công tác hải quan. Làm việc trong chính giới cũng sẽ chức văn mà làm việc võ. Gặp các sao ác, sát, hình, kỵ, hao hội hợp, thì có nguy cơ bị bãi chức hoặc thất nghiệp, vỡ nợ, sập tiệm. Gặp sát tinh nhẹ thì thích hợp kinh doanh buôn bán, theo ngành công nghiệp, có thể dựa vào kĩ thuật mà khởi nghiệp.

“Liêm Trinh Phá Quân” cùng thủ Cung Quan Lộc, kết cấu này khá xấu. Nếu theo ngành kinh doanh buôn bán, hoặc công nghiệp, đều chủ về cuộc đời ít nhất cũng có một lần thất bại hay gặp trắc trở. Vì vậy cần xem xét kĩ đại hạn và lưu niên để ứng phó một cách thiết thực. Nếu làm việc trong chính giới, thì đảm nhiệm về văn thư. gặp cát tinh, cũng có thể nhờ sự kinh lịch mà lên chức, thăng tiến. Gặp sát tinh thì ở mãi một chỗ. Nếu kinh doanh buôn bán, cũng nên lấy ẩm thực làm nghề nghiệp. Hoặc làm những nghề có tính nguy hiểm, cũng có thể gia nhập quân đội hay cảnh sát, làm công tác bảo an, hải quan.

“Liêm Trinh Tham Lang” cùng thủ Cung Quan Lộc, rất nên làm những nghề nghiệp nhiều giao tế thù tạc. Hoặc có tính tiêu dùng, có tính vui chơi giải trí, nghệ thuật. Gặp Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Tài hội hợp, thì thích hợp làm công tác văn nghệ. Nếu gặp Hàm Trì, Thiên Diêu, Hồng Loan, Thiên Hỉ, thì nên theo ngành nghệ thuật biểu diễn. Gặp Thiên Mã thì thích hợp làm nghề hướng dẫn du lịch.

Thiên Phủ thủ Cung Quan Lộc, nhập miếu, được cát tinh vây chiếu, chủ về sự nghiệp phát triển, có thành tựu. Nếu ở hãm địa, hội Văn Xương, Văn Khúc, cổ nhân cho rằng bất quá chỉ là viên thư lại. Tức người trông coi về văn thư của huyện phủ.

Nếu Thiên Phủ ở Cung Quan Lộc, gặp Lộc Tồn, Thiên Mã, chủ về có thể làm ăn kinh doanh mà trở nên giàu có. Nhưng không nên sáng lập sự nghiệp mới, chỉ nên tiệm tiến từ cục diện đã có.

Thiên Phủ Hóa Khoa, thích hợp làm việc trong ngành tiền tệ, tài chính, ngân hàng, hoặc tự kinh doanh. Ít nhất cũng một mình đảm trách công việc, nhưng không nên đầu cơ.

Thiên Phủ gặp sát tinh, thích hợp theo ngành công nghiệp. Có Địa Không, Địa Kiếp đồng độ, trái lại sẽ chủ về có nghị lực kinh người trong việc phát triển sự nghiệp trong giới công nghiệp.

Thiên Phủ có hai thượng cách giàu có trong sự nghiệp như sau:

  • Một là “Thiên Phủ, Vũ Khúc” ở cung Ngọ, tương hội với “Tử Vi Thiên Tướng” ở cung Tuất hay ở cung Dần được Lộc Tồn. Không có các sao sát, kỵ, gặp cát tinh phù trợ, chủ về đại quý. Thích hợp làm việc trong chính giới.
  • Hai là Thiên Phủ ở cung Sửu, có Lộc Tồn ở cung Dậu đến hội hợp, không có sát tinh, gặp cát tinh, cũng chủ về đại quý.

Thái Âm thủ Cung Quan Lộc, tính chất biến hóa đa đoan, cần phải xem xét kĩ các sao hội hợp để định đoán. Nếu nhập cách “Cơ Nguyệt Đồng Lương” thì không thích hợp kinh doanh, mà thích hợp làm việc trong chính giới hoặc công ty lớn. Rất nên làm việc ở những cơ cấu có tính phục vụ công cộng. Gặp Hóa Lộc, Lộc Tồn, Thiên Mã, tuy có thể làm ăn kinh doanh, nhưng phải tổ chức thành công ty trách nhiệm hữu hạn, không nên một mình bỏ vốn ra kinh doanh.

Cách “Cơ Nguyệt Đồng Lương” gặp tam cát hóa cùng chiếu, không có sát tinh. Thì thích hợp đảm nhiệm chức vụ nắm giữ quân quyền. Nếu có thêm các sao phụ tá hội chiếu, thì chủ về là người của chính giới lẫn quân đội.

Nếu Thái Âm có Thiên Lương tương hội, gặp Đại Hao, Thiên Vu, Kiếp Sát, thích hợp làm trong ngành thuế vụ.

Thái Âm có Thiên Đồng hoặc Thiên Cơ đồng độ, đều thích hợp làm những nghề không có cơ sở căn bản cố định, nếu không sự nghiệp sẽ nhiều biến động.

Thái Âm có hai cách cục thích hợp với ngành công nghiệp:

  • Một là, có Thiên Cơ đồng độ, được Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa hội chiếu.
  • Hai là, có Địa Không, Địa Kiếp đồng độ.

Trường hợp trước phát triển thuận lợi, trường hợp sau thì gặp nhiều biến động. Nhưng đều thích hợp theo ngành phát minh khoa học kĩ thuật. Hoặc dựa vào nghề chuyên môn để khởi nghiệp.

Thái Âm có Văn Xương, Văn Khúc, Long Trì, Phượng Các, Thiên Tài đồng độ hoặc hội chiếu, là thiên tài nghệ thuật. Có thể phát triển nghề nghiệp ở lãnh vực nghệ thuật. Nếu gặp thêm Hồng Loan, Thiên Hỉ, Hàm Trì, Thiên Diêu, thì thích hợp theo ngành nghề có tính giải trí, vui chơi hoặc chủ về thành danh trong giới nghệ thuật biểu diễn.

Sao Tham Lang ở cung Quan Lộc, chủ về nghề nghiệp có khuynh hướng tiêu dùng, giao tiếp, hoặc nhờ xã giao mà thành sự nghiệp. Tham Lang Hóa Lộc hay Hóa Quyền, tính chất này càng nặng, cho nên rất thích hợp về ngoại vụ.

Tham Lang có Văn Xương, Văn Khúc đồng độ, nghề nghiệp rất thích hợp lãnh vực giải trí, vui chơi, quảng bá.

Tham Lang cũng có tính chất nghệ thuật, nhưng Liêm Trinh là “tĩnh”, còn Tham Lang là “động”, hai tính chất cơ bản khác nhau. Ớ thời hiện đại, Tham Lang cũng chủ về vận động, hoặc vận động có tính nhịp điệu (như múa ba lê). Cho nên nếu Tham Lang Hóa Quyền, gặp sát tinh nhưng không nhiều, thường chủ về vận động viên (có tính cạnh tranh ở sân vận động).

Tham Lang có cát hóa, và sao cát hội hợp, lại gặp thêm các sao cát như Tam Thai, Bát Tọa, Đài Phụ, Phong Cáo, Thiên Quan, Thiên Phúc, Ân Quang, Thiên Quý, cũng có thể làm việc trong chính giới, còn là nhân vật điều hòa các phe phái (hay làm việc trong các công ty lớn, tập đoàn lớn cũng vậy).

Thành cách “Hỏa Tham”, “Linh Tham” ở bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, là chủ về nắm giữ binh quyền, hoặc làm việc trong các cơ cấu “hình pháp, kỉ luật”.

Tham Lang có Tả Phụ, Hữu Bật đồng độ, sẽ chủ về có nhiều người dưới quyền, cho nên sự nghiệp kinh doanh ắt có khí quý phái.

Tham Lang cũng là sao ẩm thực (Liêm Trinh chủ về máu, còn Tham Lang chủ về thịt), không Hóa Kị, càng chủ về ẩm thực có phẩm vị, gặp Hỏa Tinh, Thiên Phủ, có thể làm việc trong ngành ẩm thực.

Tham Lang Hóa Kỵ ở cung quan lộc, chủ về hễ nhúng tay vào sự nghiệp ắt sẽ gây ra tranh chấp, có sát tinh đồng độ thì càng nặng, có Địa Không, Địa Kiếp đồng cung sẽ chủ về vì tranh chấp mà sự nghiệp gặp trắc trở.

Nếu Tham Lang Hóa Kỵ, có sao cát hội hợp, thì lí tưởng sự nghiệp tuy không thể đạt tớimục đích, nhưng lại có khoảng không gian riêng để sáng tạo.

Nếu gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, và sao phụ, tá cát, thì thích hợp làm việc trong chính giới. Có điều, nếu có Kình Dương, Đà La hội chiếu, hoặc Kình Dương đồng độ, thì dễ tham ô.

Tham Lang ở hai cung Tí hoặc Ngọ, có Thiên Hình đồng độ, cũng chủ về “hình pháp”, hoặc làm đạo diễn, biên đạo trong nghệ thuật biểu diễn (người biểu diễn phải hoàn toàn tuân theo kịch bản, cho nên cũng có ý vị kỉ luật, nguyên tắc).

Tham Lang ở hai cung Dần hoặc Thân, đối nhau với Liêm Trinh, rất kỵ Đà La đồng độ, gặp sát tinh (Hỏa Tinh, Linh Tinh cũng vậy), chủ về là tham ô, do đó gặp họa. Có điều, nếu là thương nhân hám lợi, tuy có nguy cơ thất bại, nhưng lại không bị tai họa “hình pháp”.

Tham Lang ở hai cung Dần hoặc Thân, thích hợp những nghề nghiệp có tính khai sáng. Hoặc làm một nghề nghiệp nào, lại có thể mở ra một hướng khác, có tác phong kinh doanh rất đặc biệt, do đó dễ đi đến thành công.

Tham Lang ở hai cung Dần hoặc Thân, thủ cung quan lộc, có khuynh hướng hợp tác với người khác, nhưng phần nhiều giữa chừng lại thay đổi.

Tham Lang ở hai cung Thìn hoặc Tuất, đồng cung với Vũ Khúc, cần phải Vũ Khúc Hóa Lộc, Tham Lang Hóa Quyền, ở tam phương tứ chính không có Kình Đương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp (có Thiên Hình thì không sao), hoặc có Hỏạ Tinh, Linh Tinh hội chiếu, mới chủ về làm nhân vật cao cấp trong quân đội hay cảnh sát, có thể một mình đảm trách công việc, chấp chưởng đại quyền. Nếu không có cát hóa, nhưng có sao cát, cũng có thể làm việc trong chính giới, là quan thuế (nhất là khuynh hướng thuế vụ).

Nếu có sát tinh đồng độ, thì thích hợp tự kinh doanh buôn bán, sự nghiệp sẽ phát triển theo nhiều phương hướng, không chỉ một mối. Nếu đối cung là Vũ Khúc Hóa Kỵ, kinh doanh buôn bán sẽ xoay chuyển tiền bạc khó khăn, cũng không thích hợp gia nhập quân đội hay cảnh sát.

Cự Môn thủ Cung Quan Lộc, nhập miếu, chủ về tay trắng sáng lập sự nghiệp. Rất thích hợp dùng kĩ năng chuyên môn hoặc tri thức chuyên môn làm cho gia vận hưng thịnh. Như làm việc trong các ngành nghề y khoa, pháp luật, nghệ thuật

biểu diễn, ngoại giao, quan hệ công cộng, quảng bá. Gặp Thiên Cơ, thì chủ về chuyên viên máy tính, kế toán. Gặp Văn Xương, Văn Khúc, có thể theo ngành nghệ thuật, hoặc khoa thuật số.

Cự Môn thủ Cung Quan Lộc, nếu các sao sát, kỵ mà nặng, lại gặp Thiên Mã, là khách giang hồ phiêu bạt. Nếu gặp văn tinh, thì cũng nghèo nàn, là văn nhân thất chí.

Thiên Tướng thủ Cung Quan Lộc, ưa hội chiếu với Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Lộc Tồn, và các sao phụ tá. Chủ về là nhân vật trọng yếu trong chính giới, hay nhân vật lớn trong giới công thương nghiệp.

Thiên Tướng có Tử Vi hội chiếu, nên lập thân trong chính giới.

Thiên Tướng có các sao cát hội chiếu, mà không có sát tinh. Chủ về lập thân trong chính giới cũng tốt, nhưng không nên mưu tính giành vị trí tối cao. Nếu không sẽ thành bia cho người ta nhắm, lúc đến niên hạn có vận trình không tốt sẽ dễ ngã ngựa.

Thiên Tướng có Vũ Khúc hoặc Liêm Trinh đồng độ, thích hợp gia nhập quân đội hay cảnh sát, hải quan, cũng có thể theo ngành công nghiệp.

Thiên Tướng nếu có “Vũ Khúc, Phá Ouân” vây chiếu. Chủ về sự nghiệp lên xuống vô thường, không thích hợp làm việc trong chính giới, có thể dựa vào nghề chuyên môn để phát triển. Gặp Long Trì, Phượng Các, Thiên Tài thì càng có lợi.

Thiên Tướng có tứ sát tinh hội chiếu, chủ về sự nghiệp gặp nhiều tình huống rối bời, dù đang ở trong thuận cảnh cũng có lúc lúc bị trở ngại. Nếu gặp thêm các sao hình, kỵ, hao, chủ về làm việc trong chính giới sẽ có nguy cơ bị bãi chức. Trong thương trường thì bị phá tán, thất bại, hoặc thậm chí ngừng kinh doanh, vỡ nợ, sập tiệm.

Thiên Lương thủ Cung Quan Lộc, trường hợp độc tọa ở cung Ngọ là cách cục lớn nhất. Không gặp các sao sát, kỵ, được Thiên Khôi, Thiên Việt, Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Lộc Tồn vây chiếu hoặc đồng độ. Chủ về theo ngành kinh doanh buôn bán hay làm việc trong chính giới đều là nhân vật lãnh đạo.

Thiên Lương hội Lộc Tồn, Thiên Mã, đại lợi làm ăn kinh doanh, chủ về được người ngoại quốc (hoặc người ở nơi khác) tín nhiệm.

Thiên Lương thủ Cung Quan Lộc, thông thường nên đảm nhiệm các chức vị giám sát. Cũng có thể làm chuyên viên về máy tính, kiểm toán, thiết kế, v.v… Nếu có Thiên Đồng hội chiếu, là nhân tài tham mưu, cố vấn hoặc làm công tác kế hoạch.

Thiên Lương thủ Cung Quan Lộc, gặp các sao sát, hình, có thể theo ngành y. Nếu gặp nhiều sát tinh, lại gặp thêm Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Đại Hao, thì nên làm những công việc có tính nguy hiểm. Nếu không dễ sinh tai họa, hoặc phạm pháp mà dẫn đến phá tán hao tài.

Thiên Lương ở cung Tị, phần nhiều làm những nghề nghiệp đặc biệt.

Thất Sát thủ Cung Quan Lộc, thích hợp theo ngành công nghiệp. Nên lấy sức người làm nguồn vốn là chính, tuyệt đối không nên đầu cơ. Bởi vì Thất Sát ở Cung Quan Lộc, cuộc đời ắt sẽ có một lần bị trắc trở nghiêm trọng, nếu đầu cơ thì khó dựng lại cục diện mới.

Thất Sát có Vũ Khúc hoặc Liêm Trinh đồng độ, có Tả Phụ, Hữu Bật, Thiêrt Khôi, Thiên Việt, Tam Thai, Bát Toạ, Thiên Vu, Thiên Phúc hội hợp. Chủ về quyền uy xuất chúng, theo võ nghiệp có thể vinh thân. Nếu theo ngành công nghiệp cũng chủ về danh tiếng có thể truyền ra nước ngoài.

Thất Sát không sợ tứ sát tinh. Nếu có tứ sát tinh đồng độ hoặc hội chiếu, thì chủ về lập nghiệp trong gian khổ, nhưng cuộc đời gặp nhiều thị phi, sóng gió.

Thất Sát có Địa Không, Địa Kiếp đồng độ, thích hợp lập thân bằng kĩ thuật, công nghệ. Nếu không sẽ bị phá tán, thất bại.

Phàm Thất Sát thủ Cung Quan Lộc, bất kể gặp cát tinh hay gặp sát tinh, đều không nên theo ngành văn hóa giáo dục. Vì mệnh tạo giỏi quản lý người dưới quyền, chỉ thích hợp hoạt động trong quân đội hay cảnh sát, hoặc lãnh đạo công xưởng.

Phá Quân nhập miếu thủ Cung Quan Lộc, thích hợp làm công việc quản lý hoặc kinh doanh công xưởng, hoặc theo võ nghiệp.

Phá Quân nếu có Lộc, Quyền, Khoa hội hợp, là người có quyền uy trong võ nghiệp. Cổ nhân gọi là “Uy trấn Hoa Di”.

Phá Quân thủ Cung Quan Lộc, không thích hợp kinh doanh, nếu không ắt sẽ gặp sóng gió, trắc trở. Dù có cát tinh hội hợp, cũng lúc thành lúc bại, lên xuống vô thường. Có điều, nếu Phá Quân Hóa Lộc, hoặc có Lộc Tồn đồng độ, thì chủ về có tính cương nghị hơn người, một lần thất bại là một lần đứng lên. Có cát tinh hội chiếu thì cuối cùng cũng thành tựu. Nếu không có cát tinh, thì áp lực rất nặng, lại gặp Địa Không, Địa Kiếp, thì trong cuộc đời ắt sẽ có một lần vỡ nợ, sập tiệm hoặc phá sản. Nếu theo ngành công nghiệp, có thể dựa vào sản phẩm mới hoán chuyển nguy cơ.

Phá Quân thủ Cung Quan Lộc, tuyệt đối không được đầu cơ, nếu không ắt sẽ thất bại.

Phá Ouân cũng thích hợp ngành giao thông vận tải, gặp Lộc Tồn, Thiên Mã thì càng tốt.

Hai sao nhập Miếu, có danh tiếng địa vị, gặp Thái Dương, Thái Âm đồng cung hội chiếu thì chủ quyền quý, chức vị cấp tỉnh bộ. Gặp nhiều sao tốt như Tử Vi, Thiên Phủ, Vũ Khúc, Hóa Khoa, Tả Phù Hữu Bật thì là người tài năng văn võ, phú quý bất phàm. Hai sao này cùng với cát tinh đồng thủ thì tăng may mắn tốt đẹp, kỵ gặp Phá Quân. Nếu Hãm địa thì không đẹp, thích hợp phát triển ở các phương diện văn hóa, học thuật, nghệ thuật, tôn giáo, chiêm bốc.

Có tài năng quản lý ưu việt, làm việc ổn định chắc chắn, công việc thuận lợi, có thể được đại chúng cổ vũ. Kinh Doanh hoặc làm công chức đều tốt, nếu được cát tinh đồng cung càng tốt, có các sao tốt Tử Vi Thiên Phủ củng chiếu thì văn võ đều giỏi, Tài Quan đều đẹp. Đồng cung với Thiên Đồng, Văn Xương thì là kỳ cách văn chương, nổi danh thiên hạ. Gia Tứ Sát thì thành bại bất nhất, nếu gặp Không Kiếp thì chủ bị giáng chức.

Trong công việc luôn gặp quý nhân, đặc biệt nhận được sự giúp đỡ của cấp trên, bậc tôn trưởng. Gặp khó khăn gì cũng từ hung thành cát. Nếu được nhiều cát tinh thủ chiếu thì chủ quý. Gia Tứ Sát thì thành bại thăng trầm, gia Không Kiếp Hình Kỵ là người bình thường.

Là điềm đại cát, trong công việc có thể nhận được sự trợ giúp về vật chất, là người giỏi quản lý, sử dụng tiền bạc, không thích hoang phí, dễ tích lũy tiền bạc, công việc phát triển thuận lợi. Có thể đảm nhận chức vị cao, hoặc kinh doanh xí nghiệp quy mô lớn. Lộc Tồn độc thủ, thường làm trong bộ Tài chính, Ngân hàng, hoặc làm các công việc quản lý tài chính, là quan chức về tài phú. Lộc Tồn nếu được nhiều cát tinh miếu vượng thủ chiếu thì tất là bậc tài năng văn võ, lương đống quốc gia, Tài Quan đều đẹp. Gia Hỏa Linh Không Kiếp thì thăng trầm, tốt xấu bất nhất, đặc biệt kỵ gặp Không Kiếp.

Điềm hung, một đời sự nghiệp nhiều trắc trở, hay thay đổi, không thuận lợi. Thường gặp phiền phức, dễ đối lập với cấp trên, gây phản cảm với đồng nghiệp, người dưới mà bị ép từ chức hoặc mất việc, hoặc thu nhập thấp. Nhập Miếu thì lợi cho Võ chức hoặc kinh doanh, cũng có thể làm những ngành có tính thay đổi, nguy hiểm hoặc tiêu hao thể lực, không lợi cho các công việc Văn chức. Nếu được nhiều cát tinh thủ chiếu thì chủ có quyền quý.

Hai sao trên hãm địa thì bôn ba vất vả qua ngày. Trong sự nghiệp thường gặp tổn hại, sự cố, làm công việc bình thường, địa vị không cao, chuyển chức, không ổn định, thu nhập ít, môi trường làm việc khắc nghiệt, một đời làm nhiều mà thành ít, hãm địa gia cát tinh thì chỉ có hư danh, khó có thể phát triển mạnh. Gia Hỏa Linh Không Kiếp chủ người bình thường, nghèo khó.

Điềm không tốt, công việc làm nhiều thành ít, bị đối xử bạc bẽo, môi trường khắc nghiệt, tuy rằng có công việc nhưng khó dài lâu.

Hai sao này nhập miếu thì tuổi trẻ thành bại thất thường, tuổi già công việc toại ý. Hội Tử Vi, Tham lang miếu vượng thì chủ cát lợi. Nhập miếu hội nhiều cát tinh thủ chiếu thì chủ quyền quý hiển hách.

Hai sao này Hãm địa thì cả đời địa vị thấp kém, sự nghiệp không ổn định, hay bị chuyển chức, khó được dùng đúng chỗ, thường không hài lòng với công việc hiện tại. Gặp Dương Đà Không Kiếp thì một đời khốn đốn, khó khăn, nhiều phong ba.

Điềm hung về sự nghiệp hư không, một đời công việc không ổn định. Thường thay đổi công việc, việc làm chẳng có ít nhiều lợi ích gì đáng nói, thường gặp trở ngại hoặc thất bại, khó có thể thành đại sự đại nghiệp. Mệnh có cát tinh mà gặp Không Kiếp dù có phú quý nhất thời cũng nhất định có thất bại tương đối lớn. Hoặc là tiền tài bị phá tán, hoặc là đắc tội với cấp trên mà bị trách phạt, hoặc học nhằm cái không dùng được nên khó phát huy. Xấu nhất là 2 sao này đồng cung tại Cung Quan Lộc hoặc cùng tại tam phương của cung mệnh. Nếu chỉ gặp 1 trong 2 sao mà trong cung có chính tinh Miếu Vượng thì độ hung tương đối nhỏ.

  • Cung Quan Lộc còn chủ về năng lực học tập, trường hợp có Hóa Khoa, là chủ về mệnh tạo rất có hứng thú đối với học vấn và kiến thức, có tinh thần tự tìm hiểu, nghiên cứu một cách bền bỉ. Mà mục đích tìm hiểu, nghiên cứu không phải là vì muốn nâng cao địa vị, phần nhiều xuất phát từ niềm hứng thú của bản thân. Hóa Khoa còn có tác dụng “bền bỉ”, “lâu dài”, làm cho việc học không phải lúc nóng lúc nguội.
  • Bổ túc ý (1) và (3), do mệnh tạo là người có thực lực, lúc làm việc có nhòm trước ngó sau. Nên trong tình huống Hóa Lộc và Hóa Kỵ ở vị trí thích đáng, thường thường với cách làm việc bằng thái độ nghiêm túc, mệnh tạo có thể nhờ học vấn và năng lực hơn người của mình mà có thanh danh hiển hách.
  • Cung Quan Lộc còn là nơi dùng để xem khí tiết của mỗi người. Trường hợp Hóa Khoa ở Cung Quan Lộc, thông thường là mẫu người quang minh lỗi lạc, không phải tầm thường. Bất luận trong môi trường làm việc hay lúc còn đi học. Thậm chí trong cuộc sống thường ngày, mệnh tạo cũng đều sinh hoạt rất có quy luật, có quy củ, cho nên thường được mọi người xem là mẫu mực.
  • Cung Quan Lộc còn là cung vị chủ về tâm lý ở tầng thâm sâu, trường hợp có Hóa Khoa, là chủ về nội tâm của mệnh tạo có sức mạnh ổn định, bên ngoài dù sóng to gió lớn cũng rất khó dao động. Lại vì Hóa Khoa chủ về ngăn nắp, có lớp lang, ổn định, cho nên phần nhiều là người có tâm tính bình hòa, biết tiến thoái, không thích gây sự với ai, là người rất biết “minh triết bảo thân”.
  • Cũng do các tính chất đã thuật ở trên. Người có Hóa Khoa ở Cung Quan Lộc, nếu không có các tình huống tự hóa hay tứ hóa khác. Về bản chất, họ thiếu tính thích ra oai, phách lối và không có tâm lý “kẻ cả”, cũng ít khi có thái độ ra lệnh (trừ phi cung mệnh thấy Hóa Quyền). Thông thường cũng thiếu tinh thần toan tính cho tương lai, sáng lập cơ nghiệp, chỉ trong tình huống cung tài bạch và Cung Quan Lộc phi hóa lẫn nhau, mới làm thay đổi các tính chất này.
  • Lực tác động của Hóa Khoa còn bao gồm “làm giảm nhẹ”, “làm hòa hoãn”, “làm bớt căng thẳng”, “cải thiện”. Còn chủ về quý nhân và hóa giải tai ách. Nên trong môi trường làm việc họ tạo được sự đồng tình của cấp trên, chưa nói đến hành vi ổn định, vững vàng của họ thường thường đã có ý “minh triết bảo thân”, có tác dụng “phù hộ” trong môi trường làm việc. Thêm vào đó, mệnh tạo có lúc thiếu tinh thần toan tính cho tương lai, nên nếu làm việc trong một cơ cấu dạng lớn là rất thích hợp (trời sập xuống cũng khó làm tổn thương mệnh tạo).
  • Cung Quan Lộc là cung vị khí số của sinh mệnh, thấy Hóa Khoa ở đó, là tác dụng bảo vệ của mệnh bàn trên cung vị khí số của sinh mệnh. Vì vậy mệnh tạo thường thường có sức sống và sức mạnh tinh thần rất ngoan cường. Hơn nữa, vì Hóa Khoa là lực tác động phù hộ sinh mệnh, nên cuộc đời mệnh tạo ít khi gặp nguy cơ tức thời, dù gặp nguy hiểm, thường thường cũng có thể chuyển nguy thành an.
  • Vì Hóa Khoa ở Cung Quan Lộc, là cung tam hợp của cung mệnh, là chủ về có năng lực, còn rất được sự đồng tình của hoàn cảnh bên ngoài. Nhất là trong đánh giá về năng lực chuyên nghiệp của mệnh tạo. Xét ở góc độ này, mệnh tạo cũng rất thích được người ta khen ngợi và khẳng định. Vì tác dụng của Hóa Khoa có thiên hướng lâu dài, nên khi được “gãi đúng chỗ ngứa”, đối với họ, có thể nói sẽ khiến họ vui rất lâu.

Lúc xem Cung Quan Lộc là cung vị thiên di của Cung Phu Thê, là cái nhìn về tương lai của người phối ngẫu, trường hợp Cung Quan Lộc có Hóa Khoa là người phối ngẫu có tính toán quy hoạch tiền đồ bằng lý tính.

Hóa Quyền là hành vi, lực hành động, lúc lực hành động nằm trong tay mệnh tạo, hơn nữa còn lấy Cung Quan Lộc làm trọng tâm. Nên mệnh tạo sẽ rất nỗ lực vì muốn nâng cao bản thân, mệnh tạo cũng tin vào năng lực của mình, rất kì vọng vào bản thân. Nếu sống lâu với người này bạn sẽ phát hiện họ là người có thực lực.

  • Cung Quan Lộc dùng để xem về năng lực cao hay thấp. Còn có thể dùng để xem người này tốt hay xấu. Vì Hóa Quyền có tính định hướng, nên có tác dụng tiết chế. Hóa Quyền ở Cung Quan Lộc. Tuy nội tâm có tính vội vàng, trong lòng hay lo lắng, không yên, nhưng người dạng này phần nhiều đều sống theo nguyên tắc, tuân thủ quy củ.
  • Trường hợp Hóa Quyền ở Cung Quan Lộc, người này còn có tính ép buộc, tính cầu toàn. Hơn nữa, Hóa Quyền có năng lực tiết chế, nên người này có thể làm đến chức vụ cao trong công ty lớn. Phần nhiều sẽ vì tính cầu toàn mà làm việc vất vả, là đại biểu cho mẫu bạo gan, làm việc quá sức. Cũng nhờ vậy mà phần nhiều họ là người ở cấp chủ quản trung hoặc cao.
  • Tiếp theo trên, nếu có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng cung với sao Hóa Quyền, sẽ khiến cho tính định hướng của Hóa Quyền bị ảnh hưởng, mất đi năng lực tiết chế, sẽ khiến cho người ta cảm thấy họ thích ra oai, phách lối và đầy toan tính, nhưng đồng thời cũng nhờ đó mà họ có thể tự sáng lập cơ nghiệp .
  • Tiếp theo trên, Cung Quan Lộc còn tượng trưng cho trạng thái tâm lý lúc giải quyết sự việc, đối mặt với vấn đề. Trường hợp Cung Quan Lộc có sao Hóa Quyền đồng cung với Hỏa Tinh, Linh Tinh thì mệnh tạo có tính hấp tấp, dễ bị kích động, dùng thủ đoạn để xử lý sự việc. Nhất là trường hợp tổ hợp sao ở cung điền trạch không tốt, tâm tình đột nhiên thay đổi kiểu này sẽ làm cho người ta khó mà chịu nổi.
  • Trường hợp Hóa Quyền ở Cung Quan Lộc. Nếu Hóa Lộc và Hóa Kỵ , chủ về sau khi kết hôn mệnh tạo và đối tượng hôn phối dễ xảy ra hiện tượng “dịch động”. Cung Quan Lộc là cung vị thiên di của người phối ngẫu, tượng trưng cho viễn cảnh mà người phối ngẫu có thể thấy được. Trường hợp có Hóa Quyền, thì người phối ngẫu sẽ vì cuộc sống hôn nhân mà tìm ra hướng đế nỗ lực, đối mặt với mục tiêu của đời người.

    Hóa Lộc ở Cung Quan Lộc, vì Hóa Lộc có hàm ý là “nhiều” đương nhiên trong lòng cũng muốn nâng cao và đa dạng hóa năng lực của mình, mà mục tiêu họ muốn nỗ lực theo đuổi cũng nhiều.

    • Cung Quan Lộc đã là đại biểu cho lãnh vực tinh thần. Lúc Sao Hóa Lộc ở Cung Quan Lộc tượng trưng về tình cảm, là chủ về nội tâm của người này không thích cô đơn tịch mịch. Về cách suy nghĩ cũng không phải là quá ư cứng ngắc, không biết tùy cơ ứng biến, cách đối nhân xử thế đương nhiên là có tình người.
    • Cung Quan Lộc cũng tượng trưng cho phương thức giải quyết sự tình, cách đối mặt với vấn đề của một người. Trường hợp Hóa Lộc ở Cung Quan Lộc, thì bản tính không tệ, sẽ không dùng thủ đoạn quá khích để đối phó người khác, mà ít nhiều đều xét đến mặt tình cảm.
    • Hóa Lộc ở Cung Quan Lộc là chủ về rất hứng thú học tập, hiểu biết rộng. Họ xem học tập hay biết một thứ gì đó mới cũng là một kiếu hưởng thụ.
    • Nhưng nếu Hóa Kỵ ở “ngã cung”. Là chủ về mệnh tạo có lý tưởng, còn có tinh thần trách nhiệm và biết được hướng nỗ lực. Trong tình hình như vậy, Hóa Kỵ ở Cung Quan Lộc, là sẽ vì lý tưởng mà chuyên tâm trì chí, làm việc khắc khổ. Bất kể trong học vấn hay công việc, thường thấy họ bỏ ra rất nhiều thời gian, tinh thần vào việc bồi đắp bản thân, nâng địa vị lên. Có khuynh hướng làm việc điên cuồng.
    • Trường hợp Hóa Lộc ở “ngã cung”, về phương diện năng lực tinh thần vẫn bị tình trạng thái quá hay bất cập, dễ có tính cưỡng ép, bắt buộc. Trường hợp Hóa Lộc , hoặc Cung Quan Lộc của đại vận tự Hóa Kỵ, là ý tượng: sức sống bị đình đốn, dễ gặp nguy hiểm về sinh mệnh.

      Cung Quan Lộc chủ về lĩnh vực tinh thần mà mệnh tạo có thể ý thức được. Hóa Kỵ ở Cung Quan Lộc cũng giống như một cái hố không có đáy. Trong lĩnh vực tinh thần, học thuật, sẽ khiến cho mệnh tạo luôn cảm thấy không đủ. Cũng vì ảnh hưởng về tinh thần, nên bất kể Hóa Lộc [năm sinh] ở “ngã cung” hay “tha cung”, đều sẽ khiến mệnh tạo cảm thấy thiếu tự tin, sẽ bỏ ra rất nhiều thời gian để không ngừng bồi đắp bản thân. Ngoại trừ tình trạng thiếu lòng tự tin, đương sự còn dễ có cảm giác bất lợi, trở ngại. Thường thường người ngoài nhìn thì thấy đương sự đã làm rất khá, nhưng bản thân mệnh tạo vẫn cho rằng còn quá tệ.

      Tiếp theo trên, vì vấn đề tâm lý đã thuật ở trên, mệnh tạo sẽ luôn lo lắng không biết sự tình có được xử lý tốt hay không. Tuy hướng chính đã được xác định, nhưng mệnh tạo vẫn cứ chú trọng những chuyện lặt vặt, cũng hay kiểm tra tới kiểm tra lui các tiểu tiết. Có lúc làm cho những người chung quanh không cách nào chịu nổi.

      Tổng hợp những điều đã thuật ở trên, mệnh tạo là người không chủ động tranh thủ, bất kể đó là tiền bạc, chức vị, thậm chí là tình yêu. Luôn có tâm lý cho rằng chuyện tốt sẽ không đến với mình.

      Nếu Hóa Lộc ở “tha cung”, là chủ về khả năng làm việc có hiệu quả kém, dễ bị tình trạng tìm không ra mục tiêu ở viễn cảnh tương lai. Ngoài ra, Cung Quan Lộc còn là cung vị biểu hiện của cung tài bạch, là chủ về mệnh tạo thiếu sức bật trong công việc, sự nghiệp. Vì cảm giác thiếu an toàn, nên thường thấy mệnh tạo sẽ tử thủ ở cương vị của mình. Tuy về cá tính, mẫu người này rất thích hợp làm công chức để cầu yên ổn, nhưng cũng vì Cung Quan Lộc có Hóa Kỵ, nên muốn vào công môn là hơi khó.

      Thông thường, Tuần Triệt là sao phá, đóng ở cung nào thì gây trở ngại cho cung đó:

      • Ở Mệnh, thì thiếu thời lận đận
      • Ở Thân thì trắc trở, gian truân.
      • Ở Phu Thê thì hỏng một duyên nợ.
      • Ở Tử thì hao con.
      • Ở Tài thì kém tiền bạc.
      • Chỉ có Tật, Tuần Triệt phá tán bệnh tật, họa, tạo sức khỏe cho đương số.

      Vì vậy, Tuần Triệt đóng ở Quan tiên quyết gây trục trặc cho quan trường, thể hiện dưới nhiều hình thái:

      • Hoặc chậm công danh.
      • Hoặc công danh phải lận đận, chật vật.
      • Hoặc công danh không mấy cao, thăng giáng thất thường.
      • Hoặc không bền vững.

      Nếu gặp Triệt, công danh chậm phát lúc thiếu thời, chỉ về già mới hanh thông. Nếu gặp Tuần, sự trục trặc có tính cách triền miên, tuy không nặng như Triệt nhưng kéo dài suốt đời.

      Trường hợp cung Quan có chính tinh

      Nếu chính tinh sáng sủa, Tuần Triệt làm cho bớt sáng, có thể trở thành tối. Do đó, công danh có thể bị trở ngại, hoặc chậm phát hoặc trục trặc, hoặc không lâu bền, hoặc có nhiều hung sự xảy ra, có thể là mất chức, mất quyền, bị thay đổi, bằng không thì cũng bất toại, hay gặp những sự bực mình, bất mãn, tài năng không thi thố được. Nếu tại Quan mà có Thiên Tướng hay Tướng Quân thì càng bất lợi: vào công quyền ắt phải có lần mất chức, bị cách chức.

      Cung Quan có Sát Phá Liêm Tham hay bại tinh sáng sủa gặp Tuần Triệt thì tương đối bền vững, chức vụ tương đối cao, không đến nỗi phải lụn bại, thăng trầm.

      Những sao Tử Phủ, Cự Nhật, Cơ Nguyệt Đồng Lương đi với sao sáng sủa khác gặp Tuần Triệt thì công danh thất thường, không bền, gặp hung sự.

      Cung Quan ở Sửu, Mùi có Âm Dương tọa thủ đồng cung: quan lộc được rực rỡ. Đặc biệt là về sau vì tại Sửu Mùi, Âm Dương tương đối xấu, gặp Tuần, Triệt thì sáng lại và tại Sửu Mùi vốn là âm cung nên tốt cho hậu vận.

      Nếu chính tinh ở Quan mà hãm địa, Tuần Triệt phục hồi sức sáng cho chính tinh, công danh sẽ quý hiển nhưng không tránh khỏi trắc trở: quan trường chỉ phát lúc hậu vận. Đặc biệt nếu Sát Phá Liêm Tham hay bại tinh hãm địa gặp Tuần Triệt đồng cung thì lại phát nhanh và mạnh hơn những bộ sao khác hãm địa. Duy đối với Thiên Tướng, dù đắc hay hãm địa, Tuần Triệt bao giờ cũng gây thảm tử, như quân nhân chết trận, viên chức bị cách, giáng.

      Cung Quan vô chính diệu, dù được chính tinh đối diện sáng sủa chiếu vào, quan lộc cũng không toàn mỹ (công danh tầm thường, chức vị không mấy cao) huống hồ gặp chính tinh đối diện hãm địa. Duy có hai biệt lệ quan trọng làm khởi sắc cho cung Quan vô chính diệu:

      Cung Quan có Tuần hoặc Triệt án ngữ: cách này nói chung không hoàn hảo nhưng cũng đỡ xấu. Quan trường tuy nhiều trở ngại nhưng vẫn có thể hiển đạt trong vãn vận. Nếu tảo đạt và phát nhanh thì lại sớm tàn và hoạnh tán.

      Cung Quan được Nhật Nguyệt cùng sáng sủa hợp chiếu hay xung chiếu: cách này trở thành đắc lợi nhờ ánh sáng phối hợp của hai nguồn năng lực Nhật Nguyệt: công danh sáng lạn, chức vụ lớn, quyền hành cao, có triển vọng đắc phú, tóm lại vừa giàu vừa sang. Nếu cung Quan có Tuần hay Triệt trấn thủ tại đó thì phú quý sẽ tăng tiến nhiều hơn nữa.

      Biểu tượng cho quyền hành và thế lực, đặc biệt nếu đắc địa ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Nếu bình thường hoặc hãm địa (ở Tý, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi) thì quyền không cao, không nhiều, không quan trọng, hoặc chỉ có hư quyền hoặc quyền chỉ có trong bóng tối hoặc có thế lực mà không có quyền hoặc quyền tước hàm.

      Hóa Quyền có nhiều địa hạt: võ quyền, văn quyền, giáo quyền tùy theo cách làm quan nhưng cách nào có Quyền cũng đều hiển hách. Nếu đi với Hóa Kỵ trong bối cảnh cung Quan tốt đẹp thì hai sao này chỉ người có quyền và có mưu, hết sức quyền biến, không ngoan nhưng do có Kỵ nên thường bị người ta e ngại.

      Nếu đi với Kiếp Không ở Tỵ Hợi, Quyền càng phát nhanh và phát lớn do sự đưa đẩy của thời thế để tạo ra anh hùng nhưng vì có Kiếp Không nên có thể không lâu bền. Thông thường, người có Hóa Quyền hay tự đắc, tự tôn, kiêu căng, lấn lướt, hiếu thắng cho nên sao này tuy có lợi cho công danh nhưng không mấy hay về tính nết. Phải có thêm các sao đức hạnh thì Quyền mới hướng thiện.

      Nếu gặp hung tinh, vận xấu, Hóa Quyền tác họa cấp kỳ cho đương số. Hóa Quyền ở Quan tượng trưng cho sự tham chính, cho cách làm quan hiển đạt, đặc biệt là khi đi với Khoa và Lộc.

      Chỉ người có chính chức và có quyền vị. ý nghĩa của ấn giống như Quyền nhưng không mạnh bằng. Nếu ấn đi chung với Binh, Hình, Tướng thì võ nghiệp rất vinh hiển: đó là quân nhân có binh, có quyền, có uy. Người có ấn ở Quan là viên chức có công, được thưởng công bằng sự thăng chức, thăng trật, hoặc bằng sắc phong huy chương, tưởng lục. Nếu ấn ở vị trí các cung ban đêm, có thể là sự khen ngợi thông thường, cũng có thể là sự truy tặng (sau khi chết). Dù sao, Quốc ấn ở Quan, Mệnh, Thân là người dễ tiến đạt, được trọng vọng, được ghi công trên đường hoan lộ.

      Là quý cách khá cao, do những biểu tượng đi kèm.

      Tượng trưng cho quyền tước, tài năng được dùng đúng chỗ.

      Chỉ bằng sắc, công trạng, huy chương, quyền hành nhưng không mạnh bằng Quyền hay ấn. Đường Phù có nghĩa kém nhất.

      Cung Quan trước giáp Hoa Cái sau giáp Thiên Mã là một biểu tượng của quyền uy, có lọng (Cái), có ngựa (Mã) theo chầu. Duy cách này nên đóng ở cung ban ngày mới rạng.

      Biểu tượng cho chức vị, quyền hành (là cái đai). Chức quyền có thể cao.

      Hai sao này họp thành cách hổi đội hòm sắt, cũng khá tốt cho công danh. Ngụ ý được tín nhiệm, trọng dụng, nhất là đồng cung và ở cung Dần (hổ cư hổ vị).

      Chỉ công danh thăng tiến dễ dàng, nhất là ngành võ.

      Chỉ cách làm quan võ có cầm quân nhưng thuộc loại thấp, chỉ huy đơn vị nhỏ. Nếu đi cùng với

      Tướng Quân là võ quan cao cấp và có nắm quyền chỉ huy. Cách quan của Tướng Quân tuy có can đảm, hiên ngang nhưng táo bạo, có tinh thần sứ quân, tự tôn, tự phụ, sử dụng binh quyền đôi khi sai mục đích nên

      Tướng Quân gặp sao xấu dễ bị nguy kịch. Đi với cát tinh, Tướng Quân rất đắc dụng: đó là viên chức hay quân nhân rất tháo vát, có tinh thần xung phong, tình nguyện làm việc khó, có sáng kiến, đôi khi có quá nhiều sáng kiến nên đi sai lệch đường lối ở trên. Đi với Thiên Tướng, nhất là ở thế xung chiếu thì rất hiển hách trong binh nghiệp.

      Thiên Mã: ngụ ý tháo vát, may mắn, đa năng, thao lược, xông pha. Người có Thiên Mã ở Quan hay Mệnh thường nhậm lẹ, lanh lợi, lăn lóc, từng trải nên đa hiệu, đa nhiệm.

      Đây là bộ sao rất cần cho công danh, rất lợi và rất hợp với các công việc có tính lưu động. Vì đa hiệu, Mã là sao có rất nhiều phối cách rất hay với một số phụ tinh khác để làm cho năng tài đắc dụng hơn.

      Ví dụ như cách Mã Tử Phủ, Mã Nhật Nguyệt, Mã Lộc Tồn, Mã Hỏa hay Linh, Mã Tướng, Mã Khốc Khách. Mặt khác, cách hay trên còn tùy vị trí của Thiên Mã. Nếu ở Dần (Mộc) và Tỵ (Hỏa) thì tốt đẹp thêm, ở Thân (Kim) thì vất vả, còn ở Hợi (Thủy) thì lu mờ. Tốt khi Mã ở Dần (Mộc) mà Bản Mệnh thuộc Mộc, Mã ở Tỵ (Hỏa) với Hỏa Mệnh, Mã ở Thân (Kim) với Kim Mệnh, Mã ở Hợi với (Thủy Mệnh).

      Bao giờ gặp nghịch khắc giữa hai hành thì kém hoặc xấu: tài năng sút kém, trở ngại gia tăng, công danh không rạng.

      Lộc Tồn: chỉ tài năng, đặc biệt là tài tổ chức, tài thích ứng với hoàn cảnh. Lộc Tồn có nhiều sáng kiến, biết tùy theo nhu cầu mà quyền biến, xử sự tùy hoàn cảnh, lúc cương lúc nhu, một cách chừng mực. Đi với Thiên Mã,

      Lộc Tồn là người khai sơn phá thạch, mở đường cho kẻ khác đi theo, rất đắc dụng trong các trách nhiệm tiền phong, khai quang an vị, tổ chức cơ sở. Đặc biệt, sao này chỉ về tiền bạc nên rất lợi cho nhà kinh doanh khai thác tài nguyên kinh tế, tổ chức nền móng sản xuất.

      Đi với Hóa Lộc, Lộc Tồn chuyên đoán, có óc lãnh tụ, độc quyền và tập quyền. Gặp Tuần, Triệt hay sát tinh đồng cung, Lộc Tồn mất nhiều cơ hội hoạt động, bị khiếm dụng, bị dùng phí phạm, bị dùng không đúng chỗ, tài năng bị tiêu mòn hoặc bị dùng vào việc sái đạo đức. Trong lãnh vực tài chính, sao này chỉ sự tiết kiệm, xài kỹ, xài có quy tắc, sự chắt mót, giữ của, có lợi cho các chức vụ quản trị ngân sách.

      Thiên Khôi, Thiên Việt: Miễn là đừng gặp Tuần, Triệt hay Hóa Kỵ, Khôi Việt chỉ năng tài xuất chúng, uy tín và hậu thuẫn, phần lớn nhờ ở tài văn học, mô phạm, tính tình cao thượng, thanh khiết, tinh thần cạnh tranh và thi đua.

      Bạch Hổ, Tang Môn đắc địa ở Dần: chỉ sự tài giỏi, quyền biến, thao lược, ứng phó được nhiều nghịch cảnh, đồng thời cũng có khả năng xét đoán, lý luận, hùng biện phù hợp với các chức vị chính trị, ngoại giao, tư pháp, sư phạm.

      Ngoài ra Tang Hổ đắc địa còn có khả năng về võ, có khí phách lãnh đạo, chỉ huy nhất là khi được sao võ đi kèm. Do đó, Tang Hổ đặc biệt là Hổ có nhiều phối cách rất hay với Tấu Thư, với Phi Liêm, với

      Long Phượng Cái, với Kình Hình. Với Tấu Thư, Bạch Hổ chỉ năng tài hùng biện rất khích động, xuất sắc về tâm lý chiến, vận động quần chúng. Với Phi Liêm, Bạch Hổ rất tháo vát, lanh lợi như Thiên Mã lại được thời cơ thuận lợi.

      Với Kình hay Hình, Bạch Hổ có chí khí, mưu lược cả văn lẫn võ. Với Long Phượng Cái, Bạch Hổ chỉ sự hiển đạt về uy danh, sự nghiệp, khoa giáp.

      Thiên Khốc, Thiên Hư đắc địa ở Tý, Ngọ: chỉ người có chí lớn, có văn tài hùng biện cùng năng khiếu hoạt động chính trị, đặc biệt là về hậu vận. Khốc Hình Mã thì hiển đạt võ nghiệp, nhất là ở Dần và Tỵ. Khốc Hư Sát hay Phá đắc địa thì có quyền cao chức trọng, uy danh lừng lẫy, được thiên hạ nể phục.

      Ân Quang, Thiên Quý: Đóng ở Mệnh, Quan, Thân, Di viên chức được tín nhiệm, trong dụng nâng đỡ, che chở của người trên. Ngoài ra, Quang Quý có nghĩa là viên chức đó trung tín, hết lòng, có lương tâm chức nghiệp, xứng đáng với sự tín nhiệm của thượng cấp dành cho.

      Quang Quý có nghĩa gặp nhiều dịp may trong hoạn lộ, cụ thể như được thời thế thích hợp, được sử dụng đúng năng khiếu, làm việc vừa ý, được hạnh phúc trong nghề nghiệp.

      Thanh Long, Lưu Hà hay Hóa Kỵ đồng cung: có vận may tốt, cơ may lớn để ra làm quan, không cần cầu cạnh và lúc ra làm quan thì đắc dụng, đắc thời theo ba ý nghĩa nêu trên của Quang Quý. Ngoài ra, Thanh Long gặp Long Đức ở Thìn cũng rất tốt đẹp vì rồng đóng ở cung Thìn chỉ đắc danh, đắc lộc mà không cần cầu cạnh, được nhiều may mắn trên hoạn lộ.

      Tràng Sinh, Đế Vượng: chỉ sự phong phú. áp dụng vào quan trường, công danh sẽ dồi dào, năng tài đa diện trong nhiều lĩnh vực, chức quyền tương đối cao. Người có Sinh, Vượng ở Quan có nhiều sáng kiến trong công vụ, được giao phó nhiều trách nhiệm, dễ thăng tiến.

      Đào Hoa, Hồng Loan: ở Quan, Đào Hoa và Hồng Loan rất hợp cách: chỉ làm quan lúc tuổi trẻ, tuổi trẻ tài cao, công danh tảo đạt, nhẹ bước thang mây, không phải bôn ba cầu cạnh.

      Phụ tinh chỉ nhân sự trợ giúp

      Tả Phù, Hữu Bật: chủ sự giúp đỡ của người đời, đặc biệt là đồng sự, đồng song. Người có Tả Hữu ở Quan có tài giao tế nhân sự, có đức tính khéo léo thu được thiện cảm của người trên, có sự mềm mỏng cần thiết để được người ngang hàng cộng lực.

      Ngoài ra, cũng có nghĩa là quyền tước hiển vinh, nhờ có nhiều người phục tùng. Tả thuộc văn tinh nên hợp với Tử Phủ, Hữu chiếu vào Tử Phủ thì tốt hơn đồng cung. Trong cả hai trường hợp, Tả Hữu không nên đi chung với sát tinh. Tả Hữu còn có nghĩa là đa nghệ, là hệ số của tài năng, của quyền hành.

      Thiên Mã, Tràng Sinh, Đế Vượng: là bộ sao phụ tùy cho quan cách.

      Binh, Hình, Tướng, ấn: chỉ cộng sự đắc lực và có quyền, trợ uy cho võ cách.

      Hung sát tinh đắc địa gặp Sát Phá Liêm Tham đắc địa hay Vũ Tướng đắc địa: báo hiệu sự hiển đạt của võ nghiệp trong thời loạn, nhờ đức tính táo bạo, mạo hiểm, bất khuất trong những hoàn cảnh hết sức khó khăn.

      Bộ sao này có cả phú lẫn quý, tức là vừa có danh vừa có lợi. Nhưng công danh không được lâu bền, phát nhanh nhưng cũng tàn lẹ. Gặp bộ Vũ Tướng đắc địa thì toàn mỹ về cả công danh lẫn tiền bạc trong suốt thời gian sinh tiền, không bị ảnh hưởng của sự thăng trầm, hoạch phá. Nếu hai bộ này hãm địa, sát tinh dù có đắc địa cũng không quân bình được bất lợi: công danh nhỏ, chức vụ thấp, thăng giáng thất thường.

      Hung sát tinh hãm gặp Sát Phá Liêm Tham hãm hoặc Vũ Tướng hãm: giảm chế công danh khiến quân nhân khó thăng tiến, trở thành bất đắc chí, càng tung hoành càng gặp hung họa lớn lao. Nếu bốn sao chính mà sáng sủa thì quan cách tương đối cao hơn, nhưng thiếu thuộc hạ đắc lực vì hung sát tinh hãm địa, thậm chí còn gây họa cho chính mình. Gặp Vũ Tướng hãm địa thì cũng dưới mức trung bình và gặp nhiều hung họa. Trái lại nếu Vũ Tướng đắc địa thì rất hay: chẳng những có uy danh mà còn khắc phục được trở ngại và những âm mưu bất chính của đối thủ.

      Hung sát tinh với Tử Phủ Cự Nhật và Cơ Nguyệt Đồng Lương (văn cách): văn cách trong mỗi bộ sao này phải né tránh sát tinh thì mới hiển đạt. Gặp sát tinh, quan trường phải cạnh tranh, đối chọi, đấu trí, gian nan, chưa kể những hung họa hiểm nghèo khả hữu. Để thắng những sát tinh đó thì mỗi sao trong bộ phải đắc địa trở lên. Nếu chính tinh trong mỗi bộ sao mà hãm địa nốt thì quan cách chẳng những không ra gì mà còn gặp nhiều hiểm nguy đến bổn mạng.

      Qua Quan Lộc cung khả dĩ tìm thấy sự cát hung về chức nghiệp, địa vị và công danh. Như câu phú:

      Quyền cao trọng chấn biên cương

      Ngọ cung Thất Sát, Tử, Lương, Vũ, Đồng (đóng Quan Lộc)

      Rồi những câu sau đây:

      Cung Quan Thất Sát uy hùng

      Miếu thời chức trưởng vẫy vùng quân công

      Cung Quan Tham Vũ đồng tông

      Công danh hẹn bước ruổi dong lên đường

      Nhật Nguyệt cư Quan rất hay

      Chức quyền số đã sẵn tay trời dành

      Cung Quan Dần Mão Thiên Hình

      Trị dân trọng chức, chưởng binh cao quyền

      Thiên Quan Thiên Tướng miếu viên

      Hiển vinh đức trọng tài hiền ấy ai

      Hỏa Linh Mùi Sửu an bài

      Chiến công đã hẹn đức tài binh nhung

      Cung Quan mà gặp Đào Hồng

      Thiếu niên đã thỏa tang bồng chí trai

      Kình tứ Mộ Mã triều lai Biên cương ắt hẳn ra tài võ công

      Cung Quan giáp Phượng giáp Long

      Giáp Xương Giáp Khúc một dòng hanh thông

      (Phượng Long chức vị, Xương Khúc đỗ cao)

      Tuế Hổ Phù hợp Văn Xương

      Có tài hùng biện văn chương hơn người

      Phá Quân Phá Toái một nơi

      Tính ưa mạo hiểm việc thời chiến chinh

      Giáp Liêm giáp Sát tung hoành

      Tuổi già mới rạng công danh đó mà

      Hỏa Linh hợp Mã một nhà

      Hoặc nghề cơ khí hoặc là chở chuyên

      Quan Lộc Tử Mã nhất ban

      Khốc Hư Tí Ngọ đồng sàng hoạnh thương

      Mã Long Thiên Hỉ thuận đường

      Hoặc là Lộc Mã hợp phường tốt thay

      Tấu Thư Bác Sĩ xem qua

      Rộng đường văn học con nhà trâm anh

      Phong Cáo Thiên Tướng chính tinh

      Ơn nhờ lộc nước hiển vinh muôn phần

      Không Kiếp Thiên Tướng gian truân

      Khoa tinh niên thiếu giữ phần đăng khoa

      Cung Quan hội hợp cát tường

      Một rằng Tử Phủ ba phương Hóa chầu

      Hai rằng Khôi Việt đáng yêu

      Ba rằng Tả Hữu hợp chiều Âm Dương

      Miếu thì văn võ vẹn toàn

      Hãm cung cũng giữ được phần công danh

      Hình Riêu Cơ Tấu Vũ cùng

      Khéo nghề thuyền thợ vững đường sinh nhai

      Khúc Xương Long Phượng phát văn

      Vũ Tham Sát Phá lại rằng võ công

      Nhật Nguyệt Quan Lộc bất thông

      Chỉ hiềm một nỗi đồng cung Sửu Mùi

      Những ai đai ấn triệt hồi

      Thiên Tướng Không Kiếp đứng ngồi một bên

【#2】Lá Số Tử Vi Giới Tính Nữ, Sinh Giờ Mùi, Ngày 17, Tháng 1, Năm Bính Dần

Cung Điền trạch tự Hóa khoa

Trung Châu tử vi đẩu số – Tứ Hóa Phái – Nguyễn Anh Vũ dịch

Dự đoán chỉ số IQ đương số: 475

Linh khu thời mệnh lý – Lê Hưng VKD

Người tọa Mệnh ở cung Mùi

– Không dễ tiếp nhận ý kiến của người khác.

– Ngoài thì nhu thuận nhưng trong lòng sắt đá.

– Hành sự cẩn thận, làm việc nhẫn nhịn.

– Có nhiều ý tưởng, thực hiện được ít, mẫn cảm, thường hay tức giận.

– Nhất cử nhất động thường rụt rè.

– Cô độc, có chí khí không lớn, không cậy nhờ được lục thân.

– Nên rời xa quê, tự thân vận động, gây dựng sự nghiệp.

Tử vi đẩu số giải mã đời người – Phan Tử Ngư

Tuổi BÍNH DẦN ứng với quẻ dịch PHONG SƠN TIỆM (漸 jiàn)

Quẻ dịch nói lên ý nghĩa của cuộc đời và phải sống thế nào để có lợi cho sự nghiệp. Quẻ PHONG SƠN TIỆM có ý nghĩa là: “Dục tốc bất đạt, loài chim biển khi cất cánh bay lên phải biết giữ sức để bay xa vì sông nước quá mênh mông”.

Nghiên cứu của hội Thiên lương

Thống kê cung Mệnh ở Mùi hành THỔ, can Ất, cục KIM

Thống kê cung Huynh đệ ở Ngọ hành HỎA, can Giáp, cục KIM

Thống kê cung Phu thê ở Tị hành HỎA, can Quý, cục THỦY

Thống kê cung Thiên di ở Sửu hành THỔ, can Tân, cục THỔ

– Có 3 sao hành THỔ: Thiên phủ (B), Quốc ấn, Quả tú

– Có 3 sao hành KIM: Trực phù, Đế vượng, Thai phụ

– Có 1 sao hành MỘC: Tướng quân

– Có 3 sao hành THỦY: Thiên riêu, Thiên y, Hồng loan

– Sao chính tinh Thiên phủ là Nam đẩu tinh

– Đại vận 64 – 73 tuổi, tiểu vận năm Tị, lưu niên năm Sửu

– Điểm “cung khí”: 2

– Điểm “huyền khí”: 2

– Cung THIÊN DI phi hóa: HÓA LỘC nhập cung TỬ TỨC, HÓA QUYỀN nhập cung NÔ BỘC, HÓA KHOA nhập cung QUAN LỘC, HÓA KỴ nhập cung TÀI BẠCH

Thống kê cung Nô bộc ở Tí hành THỦY, can Canh, cục THỔ

– Có 3 sao hành HỎA: Thái dương (H), Điếu khách, Thiên phúc

– Có 2 sao hành THỔ: Thiên thương, Thiên trù

– Có 1 sao hành KIM: Tấu thư

– Có 1 sao hành THỦY: Suy

– Sao chính tinh Thái dương là Nam đẩu tinh

– Đại vận 74 – 83 tuổi, tiểu vận năm Ngọ, lưu niên năm Tí

– Điểm “cung khí”: 0

– Điểm “huyền khí”: 0

– Cung NÔ BỘC phi hóa: HÓA LỘC nhập cung NÔ BỘC, HÓA QUYỀN nhập cung QUAN LỘC, HÓA KHOA nhập cung TẬT ÁCH, HÓA KỴ nhập cung ĐIỀN TRẠCH

– Sao Thiên phúc tọa thủ: chắc chắn chủ điểm của cung Nô bộc có điều bất trắc, bất hạnh, bất toàn .. (Độ tin cậy 70%. Theo Linh khu thời mệnh lý – Lê Hưng VKD)

Thống kê cung Phúc đức ở Dậu hành KIM, can Đinh, cục HỎA

Thống kê cung Phụ mẫu ở Thân hành KIM, can Bính, cục HỎA

– Đây là cung Lai Nhân Cung của lá số

– Có 5 sao hành HỎA: Tuế phá, Đại hao (Đ), Thiên giải, Thiên mã, Văn tinh

– Có 3 sao hành THỔ: Tuyệt, Thiên quý, Phượng các

– Có 2 sao hành MỘC: Tam thai, Giải thần

– Có 1 sao hành THỦY: Thiên hư

– Đại vận 114 – 123 tuổi, tiểu vận năm Tuất, lưu niên năm Thân

– Điểm “cung khí”: 0

– Điểm “huyền khí”: 0.74

– Cung PHỤ MẪU phi hóa: HÓA LỘC nhập cung ĐIỀN TRẠCH, HÓA QUYỀN nhập cung TẬT ÁCH, HÓA KHOA nhập cung TÀI BẠCH, HÓA KỴ nhập cung MỆNH

– Sao Thiên hư tọa thủ: chắc chắn chủ điểm của cung Phụ mẫu có điều bất trắc, bất hạnh, bất toàn .. (Độ tin cậy 70%. Theo Linh khu thời mệnh lý – Lê Hưng VKD)

【#3】Kinh Nghiệm Tử Vi: Giải Đoán Cung Phu Thê

(Trần Việt Sơn – thuật theo kinh nghiệm cụ Thái dương)

Về cung Phu thê, các vị đương số thường rất muốn biết rõ, vì thường thường hạnh phúc đời người có thể không do tiền bạc nhà cửa, công danh, mà do đường vợ chồng, con cái. Ôm tiền bạc nhiều, công danh thật lớn, mà đường vợ con, chồng con hỏng thì cũng không đáng gì. Trái lại, làm chức nhỏ, nghèo, nhưng sống vui với chồng con, vợ con đề huề thì cũng thú.

Về việc giải đoán cung Phu thê, các vị cao thủ Tử vi Lê Ốc Mạch, Phong Nguyên, Thiên Lương từng cho biết ý kiến trên Khoa học huyền bí. Về số phận chúng tôi, công việc thuật kinh nghiệm trở nên dễ dàng hơn sau khi các cụ cao thủ đã cho kinh nghiệm của mình. Sau khi được kinh nghiệm quý cụ, chúng tôi còn gì thắc mắc đem hỏi cụ Thái dương, chúng tôi được biết những điều xin trình bày như sau:

Xem Phu thê, phải xét Mệnh, Thân, Phúc

Các sự kiện trong cung Phu thê mà nhà thuật số cân nhắc thuộc về các phương diện hạnh phúc đời người.

1- Vợ chồng lấy nhau có dễ dàng hay bị cản trở?

2- Có sự hình khắc, tử biệt sanh ly không?

3- Có xung khắc nhau không (những độ xung khắc khác nhau) hay được hòa hợp đến già?

4- Có mấy đời vợ chồng? Đàn ông có mấy vợ?

5- Vợ hay chồng có tốt không? (vợ đẹp ngoan, đứng đắn hay dâm dật, xấu xa, chồng khá giả hay chồng bần tiện).

Muốn biết đại cương cung Phu thê tốt xấu, phải xem các sao trong cung đó, nhưng trước hết, cũng phải xem Mệnh, Thân và Phúc đức.

Sở dĩ phải xem Mệnh, Thân và Phúc đức, là bởi vì người có Mệnh, Thân và Phúc đức tốt, tất được hưởng ảnh hưởng tốt và hạnh phúc và cái đó phải ảnh hưởng vào cung Phu thê (đó là chưa kể rằng cung Phu thê thuộc nhóm cung Mệnh, Thân và có các cung Phúc, Quan, Di chiếu tới).

Nếu cung Phu thê xấu mà được cung Mệnh, Thân và Phúc đức tốt, thì cũng giải trừ được nhiều sự xấu (bớt sự xung khắc, bớt hình khắc chia ly).

Nếu cung Phu thê tốt, mà cung Mệnh, Thân và Phúc đức xấu, thì những cái tốt của cung Phu thê cũng giảm đi.

Cũng có trường hợp Mệnh xấu, Phu thê xấu, lấy vợ lấy chồng gặp toàn cảnh ngộ tệ hại, thế nhưng sang đến Thân tốt, thì cũng Phu thê ấy, mà lại được hưởng tốt (Thân ăn về hậu vận, từ 30 tuổi trở ra: đương số lấy vợ lúc trẻ tuổi, gặp vợ lăng loàn, chịu xung khắc rồi phải ở góa; nhưng sang đến Thân được ảnh hưởng tốt, lại lấy được vợ tốt, hiền hòa, ăn nên làm ra, vợ chồng hòa hợp).

Cần nắm vững Mệnh, Thân và Phúc đức mới giải đoán được đúng cung Phu thê.

Ảnh hưởng chính tinh

Quý vị có thể coi các sách Tử vi, đã soạn sẵn những cách và ý nghĩa khi gặp những chính tinh miếu hay hãm, rồi lại có những cách trung tinh. Xin tóm tắt sau đây ý nghĩa các cách ở cung Phu thê:

– Tử vi tại Ngọ: hòa hợp đến già, khá giả.

– Tử Phủ đồng cung: hòa hợp đến già, khá giả.

– Tử Tướng đồng cung: cùng cứng cỏi, xích mích. Nhưng khá giả, ăn ở được với nhau.

– Tử Sát đồng cung: tiên trở hậu thành và lập gia đình trễ mới tốt.

– Tử Phá đồng cung: hình khắc hoặc kém thuận hòa.

– Tử Tham đồng cung: thành hôn trễ mới tốt, ghen tuông.

– Liêm đơn thủ Dần Thân: mấy lần lập gia đình.

– Liêm Phủ đồng cung: trễ mới tốt. Chung sống tốt, khá giả.

– Liêm Tướng đồng cung: bất hòa.

– Liêm Sát đồng cung: hình khắc, muộn mới tốt.

– Liêm Phá đồng cung: bất hòa.

– Liêm Tham đồng cung: xung khắc.

– Đồng tại Mão: trễ mới tốt.

– Đồng tại Dậu: bất hòa.

– Đồng tại Tý: dễ gần, dễ xa.

– Đồng tại Thìn, Tuất: xung khắc

– Đồng Nguyệt đồng cung tại Tý: đẹp đôi, khá giả, cưới sớm.

– Đồng Lương đồng cung: đẹp đôi, khá giả, cưới sớm.

– Đồng Nguyệt tại Ngọ: trễ mới tốt.

– Đồng Cự: xa nhau một thời rồi mới đoàn tụ.

– Vũ khúc tại Thìn Tuất: trễ mới tốt.

– Vũ Phủ đồng cung: có bất hòa, nhưng khá giả đến già.

– Vũ Tướng đồng cung: vợ đảm, chồng sang. Có xích mích, nhưng khá giả đến già.

– Vũ Tham đồng cung: trễ mới tốt.

– Vũ Phá đồng cung: giỏi, trễ mới tốt.

– Vũ Sát đồng cung: hình khắc, dễ xa nhau.

– Thái dương sáng: hòa hợp, khá giả đến già.

– Thái dương tối: cưới xin trắc trở, trễ mới tốt.

– Nhật, Cự đồng cung tại Dần: bất hòa nhưng chung sống đến già.

– Nhật Cự đồng cung tại Thân: trễ mới tốt.

– Nhật Nguyệt đồng cung: khá giả, nhưng trễ mới tốt.

– Thiên cơ ở Tý, Ngọ, Mùi: thành hôn sớm, khá giả, ở được với nhau.

– Thiên cơ ở Hợi, Tý, Sửu: trễ mới tốt.

– Cơ Lương đồng cung: lấy dễ, khá giả hòa thuận đến già.

– Cơ Cự đồng cung: người xứng đáng, trễ mới tốt.

– Cơ Nguyệt đồng cung ở Thân: người xứng đáng, cưới sớm.

– Cơ Nguyệt đồng cung ở Dần: hay khó khăn, trễ mới tốt.

– Thiên phủ ở Tỵ Hợi: khá giả, hòa thuận đến già.

– Thiên phủ ở Sửu, Mùi, Mão, Dậu: khá giả và chung sống đến già nhưng hay cãi nhau.

– Thái âm sáng: khá giả, cưới sớm, chung sống bạc đầu.

– Thái âm tối: bất hòa, hôn phối không tốt, trễ mới tốt.

– Tham lang ở Thìn, Tuất, Tý, Ngọ: tốt nhưng hay ghen, trễ mới tốt.

– Cự môn tại Tý, Ngọ, Hợi: khá giả, ở được với nhau, nhưng hay bất hòa.

– Cự môn tại Thìn, Tuất, Tỵ: xung khắc, hay bỏ nhau.

– Thiên tướng: trai nể vợ, gái lấn áp chồng, trễ mới tốt.

– Thiên lương ở Tý, Ngọ: vợ đẹp, chồng sang, khá giả.

– Thất sát: trễ mới tốt, sớm thì hình khắc chia ly.

– Phá quân: trễ mới tốt, sớm thì hình khắc chia ly.

Ảnh hưởng trung tinh

Các trung tinh tốt cho thêm ảnh hưởng tốt, về vợ hay chồng khá giả và về sự hòa thuận: Xương, Khúc, Khôi, Việt.

Sát tinh (Không Kiếp Kình Đà Linh Hỏa): miếu vượng thì chủ bất hòa hoặc chia ly thời gian ngắn; hãm thì hình khắc, họa hại người hôn phối xấu xa, bậy bạ. Cũng phải xét thêm ở chỗ giao ảnh hưởng với các sao khác.

– Tả Hữu: tăng ảnh hưởng cho các sao tốt hay xấu.

– Hóa lộc: hôn phối giàu.

– Hóa quyền: vợ lấn quyền, chồng sang.

– Hóa khoa: hôn phối có học, có chức.

– Hóa kỵ: bất hòa.

– Lộc tồn, Cô Quả, nên cưới trễ sẽ tránh chia ly.

– Thiên Mã: nên duyên ở nơi xa.

– Phục binh: đi lại với nhau rồi mới cưới.

– Tướng quân: đi lại trước, cưới sau.

– Quang Quý: vì ân tình mà lấy nhau.

– Song Hao: cưới dễ hoang toàn.

– Cô Quả: bất hòa, hay xa cách.

– Đào Hồng: cưới xin dễ nhưng nếu Đào Hồng hãm: hình khắc, chia ly.

– Thiên Diêu: hoang dâm, bất chính.

– Tuần, Triệt: trễ mới tốt (để khỏi bị hình khắc).

Ảnh hưởng chính tinh so với ảnh hưởng trung tinh

Trong cung Phu thê, có cả chính tinh và trung tinh gặp nhau, thì ảnh hưởng chính tinh mạnh hay trung tinh mạnh?

Xin thưa: ảnh hưởng chính tinh mạnh hơn ảnh hưởng trung tinh.

Vậy nên chính tinh mà tốt, gặp trung tinh xấu thì cái tốt được giảm đi chứ không bị xấu.

Nếu chính tinh có ảnh hưởng xấu gặp trung tinh tốt, thì cái xấu bớt đi chứ cái tốt chưa có.

Tuy nhiên, cũng có những cách cố định, gặp phải là có một ảnh hưởng nhất định, hoặc có những trung tinh, hung sát tinh mạnh thì có ảnh hưởng lấn át chính tinh.

Vài dữ kiện thí dụ

Phu thê có Cô, Quả, Đào Hồng hãm, Tả Hữu, Không Kiếp là báo hiệu sự hình khắc chia ly.

Lộc tồn, Vũ khúc, Cự Kỵ cũng thường báo hiệu sự chia ly.

Một người có Tử Phủ, Không Kiếp ở Thê, là cái tốt bị phá mất, mai mối nhiều lần không xong. Nhưng nếu sang Thân (ứng về hậu vận) tốt thì lại đỡ. Người đó lập gia đình muộn, vào năm 35 tuổi, được tốt.

Sự kiện được ghi ở các cách chính tinh bên trên (trễ mới tốt) được nghiệm ra là rất đúng. Gặp những chính tinh đó lập gia đình sớm là bị hình khắc chia ly. Nhưng lập gia đình trễ thì không sao, tức là tránh được hình khắc chia ly.

Xem về vợ bé, phải xem cung Nô.

Tuy nhiên, cũng có cách người góa vợ, lấy vợ sau, phải đoán ra. Như gặp Tả Hữu, Hồng Đào hãm, Không Kiếp, Cô Quả là cách góa vợ, nhưng lấy vợ sau thì khác đi.

Có Tuần Triệt thì lập gia đình gặp cản trở. Hai người chê nhau, hoặc gặp khó, nhưng chỉ khó lần đầu thôi. Không phải có Tuần Triệt là không có vợ chồng. Còn Tuần Triệt gặp Tướng thì hình khắc (Tướng ngộ Tuần hay Triệt là cách độc).

Một người Mệnh có Liêm trinh đắc địa, Thiên không, Hồng loan tại Dần Thân Tỵ Hợi, là người đứng đắn, lòng chỉ muốn tu, thì không nghĩ đến việc lập gia đình. Tuy nhiên đến năm 35 tuổi gặp Đào, Thai, Phục, Vượng, Tướng, lòng tự nhiên thấy mở rộng ra tình yêu, hoặc gặp trường hợp đặc biệt, thế là thành vợ thành chồng. Có sao đứng đắn, phải gặp lúc có những sao thật bay bướm mới thành hôn.

Hạn lấy vợ, lấy chồng

Xưa lập gia đình, nay trễ. Như vậy, cũng những người đó, những lá số đó, hoàn cảnh đất nước (chiến tranh, đời sống khó khăn, việc lập sự nghiệp đeo đẳng kéo dài) có thể làm lệch lạc số mạng chăng? Cũng không hẳn thế, là vì có số mạng, nhưng cũng có con người quyết định mới được.

Vả chăng, số vẫn có, bởi vì những cách báo hỉ vẫn xuất hiện, không năm này thì qua năm khác. Năm nay không báo hỉ, không hôn nhân thì thi đậu, hay đi làm, không thi đậu, đi làm, thì hôn nhân.

– Đại tiểu hạn trùng phùng tại cung Phu thê.

– Hạn có Nhật Nguyệt chiếu.

– Hạn có Đào, Hồng, Hỉ.

– Hạn có Sát, Phá, Liêm, Tham.

Tức là những hạn có hỉ tinh. Phải xem cả đại hạn và tiểu hạn. Đại hạn có cách bảo hỉ. Tiểu hạn cũng có cách báo hỉ, thì đó là hạn thành hôn.

Trường hợp Thân cư Thê và chồng sợ vợ

Người đời thường bảo rằng Thân đóng ở Thê là người sợ vợ, hay nói nhẹ đi là người nể vợ, điều đó rất sai.

Thân cư Thê không phải sợ vợ.

Thân cư Thê cũng không đương nhiên là nhờ vợ, cũng không phải Thân cư Phu là đương nhiên nhờ chồng. Thật thế, cung Phu thê mà xấu thì nhờ được nỗi gì đâu? Họa chăng là cung đó tốt, nghĩa là chồng hay vợ được giàu sang, mình mới nhờ.

Vậy Thân cư Thê có nghĩa là gì? Có nghĩa là cuộc đời đương số chịu ảnh hưởng của vợ. Thân cư Phu cũng vậy. Chịu ảnh hưởng thỉ rời ra không được. Một ông Thân cư Thê mà chúng tôi biết được bà xã rất tháo vát, một tay quán xuyến việc nhà, ông không phải lo gì hết. Một ông khác cũng Thân cư Thê, giao hết con cái cho vợ để ông đi làm chính trị, đôi khi ông cũng léng phéng, nhưng các cô mèo chỉ đi thoáng qua và ông vẫn coi vợ trọng hơn hết. Cũng có thể là ảnh hưởng bà xã mạnh ông chồng nể vợ là ở chỗ đó.

Thế tại sao chồng lại sợ vợ? Gặp cách nào thì chồng sợ vợ? Đó là khi cung Thê có quyền tinh. Vợ mà có quyền thì ông chồng phải sợ. Các cách quyền tinh ở cung Thê là những cách đứng đắn và quyền hành:

– Thiên tướng, Quốc ấn (mạnh)

– Tướng quân, Quốc ân (mạnh vừa)

– Hóa quyền

– Khôi Việt

– Tử vi, Tả Hữu

– Thiên phủ, Tả Hữu

Chúng tôi có biết một ông có quyền chức lớn, ra ngoài hét ra lửa, ai cũng phải sợ. Thế mà ở nhà, khi bà hét, ông run lên cầm cập, len lét rút vào một xó không dám ho he. Chỉ tại ở cung Thê của ông, có mấy cách quyền tinh chập lại. Lý thứ nhất là lúc bà nổi giận mà phạt ông sau lần bắt được ông léng phéng với nữ thư ký. Bà quát:

– Nằm xuống giường.

Ông len lét nằm xấp xuống giường.

Bà hỏi:

– Mấy roi?

Ông thưa:

– Xin bà ba roi.

Bà cầm lấy cây chổi phất trần, quất xuống 3 roi thật mạnh vào mông đít. Ông kêu van xin chừa.

Câu chuyện đó thật 100%. Cả ông, cà bà cũng không cười trong lúc diễn ra cảnh đó. Ông sợ thật và bà cũng thật sự biểu lộ quyền oai theo sở thích của bà.

KHHB 74-K2 – Thanh Mai

【#4】Cách Sử Dụng Đúng Cách Và Lưu Ý Khi Dùng Mầm Đậu Nành Cho Nữ Giới

Đậu nành là hay đỗ tương, đậu tương (tên khoa học Glycine max) là loại cây họ Đậu (Fabaceae) giàu hàm lượng chất đạm, protein, được trồng để làm thực phẩm. Sản phẩm từ cây đậu nành được sử dụng rất đa dạng như dùng trực tiếp hạt thô hoặc chế biến thành đậu phụ, ép thành dầu đậu nành, nước tương, làm bánh kẹo, sữa đậu nành, okara…đáp ứng nhu cầu đạm trong khẩu phần ăn hàng ngày.

Không chỉ là thực phẩm thơm ngon, bổ dưỡng, mầm của đậu nành còn có nhiều công dụng hơn thế. Mầm đậu nành (mầm đậu tương) là hạt đậu nành sau khi được ươm (sử dụng nhiệt độ và độ ẩm) để kích thích hạt nảy mầm. Gần đây, mầm đậu nành còn được sử dụng như một biện pháp bổ sung chất dinh dưỡng như bào chế dưới dạng bột mầm đậu nành hay tinh chất mầm đậu nành (viên uống).

3 dạng bào chế mầm đậu nành

Mầm đậu nành hiện nay được bào chế dưới ba dạng chính như sau:

Mầm đậu nành tươi

Đây là dạng bào chế cơ bản nhất của mầm đậu nành, chỉ cần làm cho hạt đậu nảy mầm qua các bước ngâm và ủ hạt (tương tự như cách làm giá đỗ). Mặc dù vậy, mầm đậu nành tươi chứa đựng hàm lượng Isoflavone khá thấp, lại không được tối ưu về mặt hấp thu. Do đó, chỉ nên xem dạng bào chế này là một loại thực phẩm thông thường.

Bột mầm đậu nành

Như đúng tên gọi, dạng bào chế cho ra đời sản phẩm bột mầm đậu nành. Uống trực tiếp bằng cách hòa tan với nước. Bột mầm đậu nành cũng chứa hàm lượng Isoflavone thấp, vì nó chỉ là dạng bào chế thô sơ.

Theo thống kê, chỉ có khoảng 0,1-0,2 hàm lượng Isoflavone ở dạng này. Ưu điểm duy nhất của bột mầm đậu nành là dễ bảo quản.

Tinh chất mầm đậu nành

Chỉ cần nghe đến cụm từ “tinh chất”, chị em cũng có thể mơ hồ nhận ra tác dụng của dạng bào chế này. Đây là dạng bào chế thông qua quá trình chiết xuất từ hoạt chất Isoflavone của mầm đậu nành.

Do đó, đa phần các tạp chất như các chất nhầy, chất xơ đều được loại bỏ, chỉ giữ lại hoạt chất Isoflavone, có khả năng hấp thụ cao. Hàm lượng Isoflavone kết hợp với khả năng hấp thu tối ưu, chắc chắn sẽ phát huy được công dụng lớn nhất có thể. Đây là cách bào chế giúp hấp thu tinh chất tốt nhất.

Tác dụng của mầm đậu nành

PGS.TS. Nguyễn Thị Lâm (Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia) cho biết: Mầm đậu nành có chứa Isoflavon hay còn gọi là nội tiết tố nữ thực vật. Các nghiên cứu trên thế giới đã khuyến nghị, mỗi ngày, các chị em (ngay cả phụ nữ mang thai) cần hấp thu khoảng 45 mg Isoflavon. Bạn có thể bổ sung Isoflavon từ việc ăn đậu phụ uống sữa đậu nành, bột đậu tương hoặc uống các chế phẩm từ tinh chất mầm đậu nành.

PGS.TS Lâm cũng nhấn mạnh: Isoflavon từ mầm đậu nành rất tốt cho sức khỏe, giúp dự phòng mỡ máu cao, đặc biệt, những người có nguy cơ mỡ máu cao, uống bổ sung Isoflavon là điều cần thiết. Hơn nữa, những người tăng huyết áp, khi dung nạp Isoflavon sẽ giảm huyết áp, hạ mỡ máu. Ngoài ra, Isoflavon cũng có tác dụng đặc biệt tốt với các chị em phụ nữ nhất là phụ nữ mãn kinh, tiền mãn kinh – lứa tuổi đã suy giảm nồng độ estrogen. Bởi Isoflavon có trong tinh chất mầm đậu nành sẽ giúp duy trì các chuyển hóa, ví dụ, tăng cường chuyển hóa hấp thụ canxi khi hấp thu Isoflavon.

Cụ thể, mầm đậu nành có những tác dụng sau:

Đối với sức khỏe

Hoạt chất Isoflavones có nhiều công dụng đối với sức khoẻ, cụ thể:

Bổ sung dinh dưỡng cho cơ thể

Mầm đậu nành chứa đựng nhiều axit amin quan trọng, các khoáng chất, vitamin, hàm lượng đạm cao,… sẽ là tiền đề bổ sung dinh dưỡng cho cơ thể.

Giúp ngăn ngừa nguy cơ bị loãng xương

Hoạt chất Isoflavone mang sức mạnh liên kết vitamin D và canxi vào xương, phát huy tác dụng trong quá trình thúc đẩy xương chắc khỏe.

Tăng cường sinh lý ở nữ giới

Estrogen có trong mầm đậu nành làm gia tăng chất nhờn, giúp âm đạo “mềm mại” hơn. Ngoài ra, chúng còn giúp điều hòa chu kỳ kinh, thúc đẩy sự ham muốn, gia tăng sinh lý ở chị em phụ nữ.

Giúp ngăn ngừa mầm bệnh ung thư vú

Dùng mầm đậu nành đều đặn, đúng cách và thường xuyên còn được nhiều thống kê chỉ ra công dụng giảm ung thư cổ tử cung và ung thư vú ở phụ nữ.

Hạn chế tối đa tỷ lệ mắc bệnh tim

Chất xơ và các hoạt chất protein có trong mầm đậu nành sẽ làm hạn chế hàm lượng đường trong máu, xóa bỏ những hoạt chất cholesterol nguy hại. Chính vì vậy, lâu dài sẽ là giải pháp giảm thiểu tối đa nguy cơ có các bệnh về tim mạch.

Đối với chăm sóc sắc đẹp

Mầm đậu nành được ví như “phương thuốc thần kỳ” giúp cải thiện nhiều khía cạnh về nhan sắc. Có thể kể đến như:

  • Làm giảm các triệu chứng giai đoạn mãn kinh: Isoflavone làm giảm các triệu chứng ở giai đoạn mãn kinh như: đổ mồ hôi đêm, bốc hỏa, trầm cảm,…
  • Mầm đậu nành kích thích tăng vòng một: Hoạt chất Isoflavone có trong mầm đậu nành sẽ kích thích sự phát triển ở các mô ngực. Vòng một từ đó trở nên săn chắc và nở nang.
  • Hạn chế tình trạng rụng tóc, giúp tóc săn và chắc khỏe: Không chỉ điều chỉnh vóc dáng thon gọn, Isoflavone còn phát huy tác dụng ở bộ phận tóc. Giúp giảm tình trạng gãy tóc, rụng tóc, xơ tóc,… và làm tóc trở nên suôn mượt, mềm mại hơn.
  • Hạn chế nguy cơ lão hóa, nám và sạm: Mầm đậu nành giúp hạn chế nguy cơ lão hóa sớm, làm giảm nếp nhăn, mang lại một làn da chất lượng, căng tràn sức sống.

Những ai nên và không nên sử dụng mầm đậu nành?

Đối tượng nên sử dụng:

Mầm đậu nành có chứa rất nhiều các dưỡng chất có lợi cho sức khỏe, sắc đẹp và cả sinh lý nữ. Tuy nhiên, những người nên sử dụng mầm đậu nành nhiều hơn so với những trường hợp còn lại đó là:

  • Phụ nữ sau tuổi 30
  • Phụ nữ thời kỳ tiền mãn kinh, mãn kinh, phụ nữ đang bị suy giảm chức năng sinh lý, âm đạo khô hạn, da sạm nám, tàn nhang,…sẽ cải thiện hiệu quả tình trạng này do tình trạng thiếu hụt estrogen trong cơ thể được bổ sung, cải thiện nhờ isoflavon mầm đậu nành.
  • Phụ nữ gặp phải các triệu chứng da không đều màu, nhiều vết thâm, da có mụn nhiều hay tóc khô xơ thường xuyên gãy rụng, mất ngủ, tiểu đêm nhiều, tích mỡ bụng và loãng xương, thoái hóa khớp xương hoặc bị viêm khớp dạng thấp.
  • Người bị u xơ tử cung, u tuyến vú, u lạc nội mạc tử cung không nên uống mầm đậu nành bởi isoflavon trong mầm đậu nành có thể kích thích sự phát triển của các khối u nhanh hơn.
  • Người dư thừa estrogen cũng không nên uống mầm đậu nành vì khi cơ thể đã dư thừa estrogen mà chúng ta vẫn tiếp tục bổ sung estrogen từ mầm đậu nành sẽ khiến cơ thể dễ xảy ra các tác dụng phụ. Do lượng estrogen vượt mức quá lớn, không thể đào thải bởi estrogen liên tục được hấp thu vào cơ thể. Trong khi đó hoạt chất isoflavon mầm đậu nành trong các sản phẩm đã qua quá trình sản xuất hiện đại, tiên tiến khi được bổ sung vào cơ thể đã đủ estrogen cần thiết sẽ tự đào thải ra bên ngoài mà không bị tích tụ lại gây ra những rối loạn tiêu cực.
  • Phụ nữ đang mang thai và cho con bú cũng không nên uống mầm đậu nành vì lượng estrogen trong mầm đậu nành có thể ảnh hưởng đến giới tính của trẻ cũng như làm tăng lượng estrogen không cần thiết.

Cách sử dụng mầm đậu nành hiệu quả

Khi kết hợp mầm đậu nành với Collagen sẽ giúp hiệu quả bổ sung Collagen được tăng gấp đôi, bởi isoflavone trong đậu nành có tác dụng thức đẩy cơ thể tăng tổng hợp Collagen trên da, giúp tăng đàn hồi và chống lão hóa cho làn da.

Sử dụng cùng với Vitamin E và lô hội

Sự kết hợp này giúp tăng gấp 3 lần khả năng làm giảm nám, tàn nhang cho chị em. Bổ sung isoflavone kết hợp với 2 thành phần này sẽ làm tăng nội tiết tố nữ cho cơ thể, làm ức chế hormone kích thích sản xuất melanin MSH làm giảm nám da, tàn nhang từ sâu bên trong.

Kết hợp với Canxi và Vitamin D

Sự kết hợp này giúp phòng chống loãng xương. Bởi Isoflavone giúp gắn canxi gắn chặt vào khung xương, giúp xương trở nên chắc khoẻ.

Sự kết hợp này sẽ tăng khả năng thúc đẩy sự phục hồi chức năng cơ thể, tăng cường miễn dịch, giúp tăng khả năng đề kháng của cơ thể.

Lưu ý khi sử dụng mầm đậu nành

Theo thống kê tại Việt Nam hơn 90% đậu nành trên thị trường đang sử dụng giống biến đổi gen (GMO). Mà thực tế cho thấy đậu nành làm biến đổi gen gia tăng về năng suất, cải thiện giá thành,… Nhưng nếu mang vào phục vụ trong lĩnh vực dược phẩm thì lại tiềm ẩn nhiều rủi ro. Do đó, với những sản phẩm được sản xuất dành cho các chị em, đậu nành phải ở dạng thuần chủng nhất, không làm biến đổi gen.

Nước ta chỉ có một vùng trồng đậu nành không làm biến đổi gen duy nhất ở Nam Định, đáp ứng tiêu chuẩn GACP-WHO. Có trung bình khoảng 300 sản phẩm mầm đậu nành đang được phân phối trên thị trường, tồn tại ở cả ba dạng bào chế. Chính vì lẽ đó, chị em nên cân nhắc khi lựa chọn sử dụng các sản phẩm phù hợp, có xuất xứ, nguồn gốc và đến từ những thương hiệu uy tín.

Ngoài ra, khi sử dụng mầm đậu nành, cần tuyệt đối không kết hợp với những nguyên liệu sau:

  • Đường đỏ: Mầm đậu kết hợp với đường đỏ gây ảnh hưởng đến tiêu hóa và khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng của cơ thể.
  • Trứng: Trứng dùng với mầm đậu nành gây đầy bụng, khó hấp thụ và phá vỡ cấu trúc chất dinh dưỡng trong mầm đậu.

Nữ giới bước vào giai đoạn mãn kinh, tiền mãn kinh có thể sử dụng mầm đậu nành để giúp duy trì tuổi xuân. Tuy nhiên, chị em nên cẩn trọng khi lựa chọn loại mầm phù hợp để sử dụng. Đồng thời, khi uống mầm đậu nành, nên kết hợp với một số dược phẩm khác và tuân thủ một số lưu ý để đạt hiệu quả tốt nhất.

Hỏi đáp về mầm đậu nành cùng chuyên gia Hoàng Vân

【#5】Mùng 3 Tháng 3 Ngày Giỗ Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh

Mộ phần Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh tại thôn Vân Cát huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định.

Từ trung tâm Hà Nội, du khách lái xe hướng qua ra đường CT 01/ CT Pháp Vân – Cầu Giẽ. Đến đoạn giao giữa CT Hà Nội – Ninh Bình và CT Pháp Vân – Cầu Giẽ, lái xe qua vòng xuyến sang QL 21B vào Đại lộ Thiên Trường. Tại vòng xuyến Big C Nam Định, dẽ phải vào QL10/QL38B qua cầu Lộc An tới Đại Lộ Lê Đức Thọ qua cầu Nam Định dẽ phải vào ĐT490/ ĐT 490C, dẽ trái vào ĐT487 đến ngã rẽ phải thứ 5 dẽ vào và đi thẳng đến ngã dẽ thứ 4 bên trái dẽ vào đi thẳng theo đường làng Phú Hào là tới đền Phủ Giày.

Đền Phủ Giày thờ ai?

Đền là một quần thể gồm nhiều ngôi đền nhỏ ghép lại. Đặc biệt phải nói đến kiến trúc quan trọng nhất là đền thờ bà chúa Liễu Hạnh (phủ chính), ngay sát chợ Viềng. Các kiến trúc còn lại là Tiên Hương, Vân Các, Công Đồng từ, đền thờ Lý Nam Đế, chùa Linh Sơn, lăng bà chúa Liễu Hạnh. Phủ Tiên Hương được coi là đền chính của Mẫu Liễu Hạnh và thờ bên chồng của Mẫu, còn phủ Vân Cát và Phủ Tổ là nơi thờ Mẫu và bên ngoại (bên bố mẹ đẻ) của Mẫu.

Lịch sử đền Phủ Giày

Đền Phủ Dầy có truyền thuyết kể lại rằng xưa kia vì nhớ thương chồng con trước khi về trời mà bà chúa Liễu Hạnh đã để lại chiếc giày ở trần gian. Cũng có truyền thuyết kể lại rằng vua đi qua vùng này và nghỉ đêm ở quán hàng của bà chúa Liễu Hạnh, sau đó được tặng một đôi giầy nên đã lập nơi thờ tự và gọi đó là Phủ Dầy. Khi gọi Phủ Dầy còn vì chính nơi này có món bánh dày – giò nổi tiếng, lại có người cho rằng: Kẻ Dày xuất phát từ nơi có gò đất nổi lên hình bánh dầy trước cửa phủ.

Phủ Dầy bắt nguồn từ tên một làng cổ là “Kẻ giầy”. Theo “Sự tích công chúa Liễu Hạnh” của Trọng Nội, Xuất bản năm 1959 thì: đời Vua Anh Tông (1557) làng kẻ Giầy đổi thành xã An Thái gồm: Vân Cát, Vân Cầu, Vân La (Vân Đình) và Vân Miếu. Đến đời Gia Long, Vân Cát chia thành 2 xã là Vân Cát và Kim Thái. Sang đời Tự đức (1860) xã An Thái đổi thành 2 thôn Vân Cát và Tiên Hương xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Tỉnh Nam định.

Vân Cát là nơi sinh ra, Tiên Hương là quê chồng và là nơi chôn cất Mẫu Liễu Hạnh khi Bà qua đời sau lần giáng trần thứ nhất. Phủ Dầy chính là “cái nôi” sinh ra Thánh Mẫu Liễu Hạnh và là tên gọi chung cho một quần thể các di tích của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở huyện Vụ Bản Nam định. Tên di tích được gọi theo địa danh ở địa phương.

Kiến trúc đền Phủ Giày

Đền Phủ Giày gồm 3 quần thể chính:

Phủ Tiên Hương thuộc thôn Tiên Hương, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định; nằm cạnh đường giao thông liên xã. Đây là phủ chính trong quần thể di tích Phủ Dầy. Phủ được xây dựng từ thời Lê – Cảnh Trị (1663 – 1671), trải qua bao thăng trầm lịch sử, phủ vẫn giữ được nét cổ kính thời xưa.

Năm 1996 Phủ Tiên Hương đã được sửa chữa lớn để thờ phụ thân của Mẫu Liễu Hạnh và thờ cả đức Thánh Trần. Phủ Tiên Hương còn lưu giữ được một số sắc phong, sớm nhất là đời Lê Chính Hòa, rồi đến Lê Vĩnh Thịnh, Lê Vĩnh Khánh đầu thế kỷ XVIII.Thánh Mẫu được tôn là “Mạ vàng công chúa”, “Mẫu nghi thiên hạ”.

Cảnh quan của phủ rất rộng rãi và thoáng đãng. Mới bước vào, du khách sẽ thấy một giếng nước tròn bên trong là ụ đất để cắm cờ khi diễn ra lễ hội. Cán cờ bằng gậy gỗ, trên đầu buộc túm lá hoặc quạ đen làm thiên sứ của trời. Lá cờ thần được treo trên đỉnh. Tiếp đến là sân lớn diễn ra các trò chơi hay là nơi những sập bán hàng được bày bán trong mùa lễ hội. au sân lớn là ba phương đình với phương du ở giữa và hai bên phương đình làm nơi gác chuông, gác trống. Tiếp nối 3 phương đình là hồ bán nguyệt, xuống hồ bán nguyệt có hai cầu được lát bằng đá, đối xứng qua hồ, bên phải là nhà bia và lầu Cậu, bên trái là nhà bia và lầu Cô.

Kiến trúc các dãy nhà tại Phủ được nối liền nhau tạo thành thể thống nhất. Mỗi nhà sẽ có phòng riêng gọi là cung, có tất cả 4 cung: Cung đệ tứ thờ Tứ phủ công đồng hay còn gọi là ban Công Đồng. Đối xứng với cung Đệ Tứ bên trái là Ban Quan lớn Thủ phủ và bên phải là Ban Chầu Thủ phủ; cung đệ tam thờ Đức Vua cha Ngọc Hoàng và Hội Đồng các quan hay Ngũ vị vương quan; Cung đệ nhị thờ Tứ Vị Chầu bà và ba bộ long ngai; Cung Đệ nhất là cung thờ Tam Tòa Thánh Mẫu. Cung này ở trong cùng. Tuy nhiên, đa phần nơi thờ Mẫu Tứ phủ có nội cung (cung cấm).

Cung cấm có khám kính đặt tượng đồng Mẫu Liễu Hạnh cùng với hai Mẫu Quang cung Quế Anh phu nhân và Quỳnh cung Duy Tiên phu nhân đều được phong thần và sắc phong. Tuy nhiên, không phải lúc nào bạn cũng có thể vào đó được mà phải có sự cho phép của ban quản lý khu di tích mới được đặt chân vào đó.

Bên cạnh các dãy nhà thờ có 1 dãy nhà nữai là Ban Trần Triều. Trong dãy nhà này có đặt ban thờ Ban Trần Triều và Ban Đức Vương Phụ, Vương Mẫu. Đằng sau nơi thờ chính là Động Sơn Trang, nơi này thờ bà Chúa Đệ Nhị Thượng ngàn Hai Chầu và mười hai cô Sơn Trang.

Phủ nằm phía bắc thôn Vân Cát xã Kim Thái, cách phủ Tiên Hương chừng 1 km. Phủ nằm giữa đền làng Vân Cát và chùa Long Vân nơi thờ Phật, vì thế tạo nên một quần thể thờ Phật – Mẫu – Thần.

Văn bia “Thánh Mẫu cố trạch linh từ bi ký” được đặt ở Ngũ Vân Lâu trước phủ do Tổng tài quốc sư quán đời Nguyễn là Cao Xuân Dục soạn năm Thành Thái Tân Sửu (1901) viết về quá trình xây dựng phủ Vân Cát: ” .. .là một lầu cổ miếu, chọn đất dựng nền từ thời Lê Cảnh Trị (1633- 1671), làm đơn giản mà đẹp, Khoảng đời Cảnh Thịnh (1794- 1800) hội nguyên Trần Gia Du, thiếu tả giám Trần Công Bản đã mở rộng ra. đến năm Kỷ Mão (1879) đời Tự đức, quan huyện Lê Kỳ đã sửa lợp lại, đến năm Thành Thái thứ 12(1900) thì hoàn thành “.

Từ cổng bước vào, du khách sẽ gặp Ngũ Vân Lâu, gác chuông với 5 cổng lớn xây dựng từ năm Tự Đức. Phía trong là hồ bán nguyệt xây bằng đá. Giữa hồ bán nguyệt có phương du nằm ở giữa và có hai cầu đá dẫn ra ngoài. Phương du gồm có ba gian làm bằng gỗ lim, mái có góc uốn cong, xung quanh lan can được ghép bằng những tường hoa bằng đá với những mảng phù điêu trạm khắc một số loài hoa và những con voi. Phương du có bốn mặt thoáng, là nơi khách đứng xem kéo chữ vào ngày hội.

Bên trong phủ có 4 cung thờ: kết câu hai cung đệ nhất và đệ nhị đều có 3 gian, và cả 2 đều được xây từ năm Tự Đức (1879). Cả hai cung đều bị giặc Pháp phá hủy mãi về sau mới được tôn tạo lại.

Cung đệ nhất là chính cung khép kín thờ Tam Tòa Thánh Mẫu, tượng bằng đồng gồm có Mẫu Thượng Thiên ngồi giữa, Mẫu Thượng Ngàn bên trái, Mẫu Thoải bên phải.

Cung đệ nhị thờ Tứ vị chầu Bà và Tam tòa quan lớn, đặc biệt có hai khám hai bên thờ Ông Hoàng Mười (bên phải) và Ông Hoàng Ba (bên trái).

Trong Phủ còn dấu tích nhiều câu đối, đại tự, hoành phi có giá trị. Ngoài ra, nét độc đáo còn nằm ở văn bia cùng ngũ vân lâu ngay tại mặt chính của đền, các công trình bố trí chặt chẽ tạo thành thể thống nhất, giữ lại nét giá trị từ ngàn đời.

Lăng mộ Thánh Mẫu Liễu Hạnh

Lăng mộ Thánh Liễu Hạnh nằm ở thôn Tiên Hương trên cồn cá chép. Ngôi mộ trước kia là bãi đất với lùm cây xanh lá, sau đó được xây thành khu nhỏ gồm gạch lát đá. Sau đó, vua Bảo Đại cầu tự được con và được thánh Mẫu báo mộng cho, năm 1938, vua Bảo Đại biết ơn mẫu và cho trùng hưng lại lăng mộ với chất liệu bằng đá xanh và 60 búp sen hồng quy mô như hiện nay.

Hướng chính của lăng là hướng Tây quay về phía núi Tiên Hương. Từ ngoài vào bước theo bậc tam cấp lên đến mộ phải qua 5 lớp tường toàn bằng đá được chạm khắc, mỗi lớp tường vuông đều có cửa, cửa được bổ trụ bằng đá vuông với ba mặt đều khắc câu đối và phía trên đặt các nụ sen bằng đá hồng nhạt tới 60 nụ sen đá.

Xung quanh lăng mộ là hàng cây 4 mùa xanh mát, 4 cột trụ chính đặt 4 góc khiến lăng mộ càng thêm long trọng và trang nghiêm. Ngôi mộ được đặt ngay chính trung tâm và ở chỗ cao nhất của cả khu lăng. Tại bốn cửa ở bậc cuối cùng đều có một bức bình phong bằng đá án ngữ. Phía sau cửa chính, nằm về hai phía góc đối diện với cửa ra vào là hai nhà bia với bốn cột vươn lên.

Bên cạnh khu lăng mộ còn có một gian nhà thờ tự với kết cấu sau: Ban thờ Mẫu nằm chính giữa, từ ngoài bước vào thì bên phải ngay cạnh ban thờ Mẫu là ban thờ Bà Cai Bản mệnh, tiếp là ban thờ đức Thánh Trần. Bên trái của Ban thờ Mẫu là ban thờ quan lớn đệ nhất và ban thờ Nhị Vị Cô Nương.

Hàng năm vào mùa lễ hội, đền đón hàng ngàn khách du lịch về trẩy hội. Hòa chung không khí tấp nập của mùa lễ hội, dân làng và du khách càng thấy hứng khởi đón chào một năm mới đầy thắng lợi./

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Trong tín ngưỡng của người Việt và của một số dân tộc thiểu số khác ở trên lãnh thổ Việt Nam, việc tôn thờ nữ thần, thờ mẫu thần, thờ mẫu tam phủ tứ phủ là hiện tượng khá phổ biến và có nguồn gốc lịch sử và xã hội sâu xa. Tuy tất cả đều là sự tôn sùng thần linh nữ tính, nhưng giữa thờ nữ thần, mẫu thần, mẫu tam phủ tứ phủ không hoàn toàn đồng nhất.

Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam là một tín ngưỡng bản địa cùng với những ảnh hưởng ngoại lai từ đạo giáo, tín ngưỡng lấy việc tôn thờ Mẫu (Mẹ) làm thần tượng với các quyền năng sinh sôi, bảo trữ và che chở cho con người. Tín ngưỡng mà ở đó đã được giới tính hoá mang khuôn hình của người Mẹ, là nơi mà ở đó người phụ nữ Việt Nam đã gửi gắm những ước vọng giải thoát của mình khỏi những thành kiến, ràng buộc của xã hội Nho giáo phong kiến. Vào hồi 17h15 giờ địa phương (21h15 giờ Việt Nam) ngày 1/12/2016, tại Phiên họp Uỷ ban Liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 11 của UNESCO diễn ra tại thành phố Addis Ababa, Cộng hòa dân chủ Liên bang Ethiopia, di sản “Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” đã chính thức được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại./

Các dạng thức thờ Mẫu Thờ Mẫu ở Bắc bộ

Bắt nguồn từ tục thờ Nữ thần có nguồn gốc xa xưa từ thời tiền sử, tới thời phong kiến một số Nữ thần đã được cung đình hoá và lịch sử hoá để thành các Mẫu thần tương ứng thời kỷ từ thế kỷ 15 trở về trước với việc phong thần của nhà nước phong kiến, hình thức thờ Mẫu thần với các danh xưng như Quốc Mẫu, Vương mẫu, Thánh Mẫu như hiện tượng thờ Âu Cơ, Ỷ Lan, Mẹ Thánh Gióng, Tứ vị Thánh nương,…

Thờ Mẫu ở Trung Bộ Thờ Mẫu ở Nam bộ

So với ở Bắc Bộ, tục thờ Nữ thần và Mẫu thần có sự phân biệt nhất định với biểu hiện rõ rệt là thông qua tên gọi và xuất thân của các vị thần thì ở Nam Bộ sự phân biệt giữa hình thức thờ Nữ thần và Mẫu thần ít rõ rệt hơn, hiện tượng này được giải thích với nguyên nhân Nam Bộ là vùng đất mới của người Việt, khi di cư vào đây họ vừa mang các truyền thống tín ngưỡng cũ lại vừa tiếp nhận những giao lưu ảnh hưởng của cư dân sinh sống từ trước tạo nên bức tranh không chỉ đa dạng trong văn hoá mà còn cả trong tín ngưỡng

Những Nữ thần được thờ phụng ở Nam Bộ như Bà Ngũ Hành, Tứ vị Thánh nương, Bà Thuỷ Long, Bà Chúa Động, Bà Tổ Cô,…và những Mẫu thần được thờ phụng như Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Bà Chúa Ngọc, Bà Thiên Hậu,…

Liễu Hạnh công chúa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

(đổi hướng từ Mẫu Liễu Hạnh)

Bài viết này cần thêm chú thích nguồn gốc để kiểm chứng thông tin. Mời bạn giúp hoàn thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn đáng tin cậy. Các nội dung không có nguồn có thể bị nghi ngờ và xóa bỏ.

Đền thờ Thánh Mẫu, đường Ngô Quyền, thành phố Thông tin chung Đà Lạt

Tên thật Phạm Tiên Nga

Liễu Hạnh Công chúa ( chữ Hán: 柳杏公主) là một trong những vị thần quan trọng của tín ngưỡng Việt Nam. Bà còn được gọi bằng các tên: Bà Chúa Liễu, Liễu Hạnh (柳杏), Mẫu Liễu Hạnh (母柳杏) hoặc ở nhiều nơi thuộc vùng Bắc Bộ bà được gọi ngắn gọn là Thánh Mẫu.

Truyền thuyết

Theo truyền thuyết trong dân gian Việt Nam, Liễu Hạnh là một trong bốn vị thánh Tứ bất tử. Bà vốn là con gái thứ hai của Ngọc Hoàng Thượng đế, 3 lần giáng trần. Bà đã được các triều đại phong kiến từ thời nhà Hậu Lê đến thời nhà Nguyễn cấp nhiều Sắc, tôn phong là “Mẫu nghi thiên hạ – Mẹ của muôn dân” và cuối cùng quy y cửa Phật.

Lần giáng sinh đầu tiên

Căn cứ vào ” Quảng Cung linh từ phả ký”, ” Quảng Cung linh từ bi ký” và ” Cát Thiên tam thế thực lục” hiện đang lưu giữ ở địa phương do Ban quản lý di tích – danh thắng của tỉnh Nam Định sưu tầm và một số tài liệu trong Hội đồng khoa học lịch sử Nam Định thẩm định thân thế và sự tích bà Liễu Hạnh như sau:

Vào đầu thời nhà Hậu Lê, tại ấp Quảng Nạp, xã Vỉ Nhuế, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, trấn Sơn Nam; có ông Phạm Huyền Viên, người xã La Ngạn kết duyên cùng bà Đoàn Thị Hằng, người ấp Nhuế Duệ, cũng xã Vỉ Nhuế (nay là thôn Vỉ Nhuế, xã Yên Đồng, Ý Yên, tỉnh Nam Định).

Hai ông bà là những người hiền lành, tu nhân tích đức nhưng hiềm một nỗi đã ngoài 40 mà chưa có con. Một đêm rằm tháng hai, ông bà được thần báo mộng là Ngọc Hoàng sẽ cho con gái thứ hai là Công chúa Hồng Liên đầu thai làm con, từ đó bà có thai. Trước khi sinh, vào đêm ngày 6 tháng 3 năm Quý Sửu, trời quang mây vàng như có ánh hào quang. Ông Huyền Viên ngồi đợi tin mừng, bỗng như có một nàng tiên từ trong đám mây bước xuống thềm nhà, và bà sinh một bé gái. Vì vậy ông đặt tên con là Phạm Tiên Nga.

Phạm Tiên Nga càng lớn càng xinh đẹp, mọi việc nữ công gia chánh đều thành thạo, đảm đang. Đến năm 15 tuổi đã có nhiều người đến dạm hỏi nhưng nàng đều khước từ vì nàng còn phải ở nhà chăm sóc cha mẹ già yếu, canh cửi quán xuyến công việc gia đình.

Ngày 10 tháng 10 năm Nhâm Ngọ ( 1462), cha của nàng qua đời. Hai năm sau mẹ của nàng cũng về nơi tiên cảnh. Phạm Tiên Nga đã làm lễ an táng cha mẹ ở phía đông nam phủ Nghĩa Hưng (nay là thôn La Ngạn, ở đây có đền thờ cha và mẹ của Phạm Tiên Nga).

Sau ba năm để tang cha mẹ, lo mồ yên mả đẹp, Phạm Tiên Nga bắt đầu chu du khắp nơi làm việc thiện (lúc này Tiên Nga vừa tròn 35 tuổi).

Cùng với việc đắp đê, bà còn cho làm 15 cây cầu đá, khơi ngòi dẫn nước tưới tiêu, khai khẩn đất ven sông, giúp tiền bạc cho người nghèo, chữa bệnh cho người ốm, sửa đền chùa, cấp lương bổng cho các vị hương sư, khuyên họ cố sức dạy dỗ con em nhà nghèo được học hành.

Năm 36 tuổi, bà đến bờ Sông Đồi dựng một ngôi chùa trên mảnh vườn nhỏ, đặt tên là Chùa Kim Thoa. Bên trên thờ đức Nam Hải Quan Thế Âm Bồ Tát, bên dưới thờ cha và mẹ.

Sau đó hai năm, bà tới tu sửa chùa Sơn Trường – Ý Yên, Nam Định, chùa Long Sơn – Duy Tiên, Hà Nam, chùa Thiện Thành ở Đồn xá – Bình Lục, Hà Nam. Tại chùa Đồn xá, Bà còn chiêu dân phiêu tán, lập ra làng xã, dạy dân trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải.

Tháng Giêng năm Nhâm Thìn ( 1472), bà trở lại chùa Kim Thoa, và tháng 9 năm ấy, Bà trở về quê cũ cùng các anh chị con ông bác tu sửa đền thờ Tổ họ Phạm khang trang bề thế (nay còn đền thờ ở phía nam xóm Đình thôn La Ngạn). Sau đó Bà lại đi chu du ở trong hạt, khuyên răn bà con dân làng những điều phải trái.

Lần giáng sinh thứ hai

Ngay sau khi bà mất, nhân dân xã La Ngạn, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng đã lập đền thờ trên nền nhà cũ, gọi là Phủ Đại La Tiên Từ, Đồng thời quê mẹ của Người là xã Vỉ Nhuế cũng lập đền thờ để tưởng nhớ công lao của bà, gọi là Phủ Quảng Cung.

Lần này, Bà kết duyên với ông Trần Đào, sinh được một người con trai, tên là Nhân, một con gái tên là Hoà. Giữa lúc cả gia đình đang đầm ấm vui vẻ thì bỗng nhiên, vào đúng ngày, Bà mất ngày 3 tháng 3 năm Đinh Sửu, thời Lê Gia Thái thứ 5 ( 1577). Năm ấy, Bà mới 21 tuổi, tuyệt nhiên không bệnh tật gì. Lăng mộ và đền thờ ở Phủ Dầy, thôn Thiên Hương – Vân Cát, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định.

Hành thiện giúp đời

Giáng Tiên về trời đúng hạn định theo lệnh của Ngọc Hoàng. Nhưng khi nàng đã ở trên trời thì lòng trần lại canh cánh, ngày đêm da diết trong lòng nỗi nhớ cha mẹ, chồng con nên nàng muốn xuống trần gian lần nữa. Khi về đến nhà vừa đúng lúc gia đình đang làm giỗ mãn tang cho nàng, mọi người đều hết sức ngạc nhiên và vô cùng sung sướng. Nàng ôm lấy mẹ mà khóc, rồi kể hết sự tình, dặn anh hãy gắng lo chăm sóc cha mẹ, vì lần này xuống trần nàng không thể ăn ở như lần trước, rồi trở về nhà chồng. Liễu Hạnh gặp chồng, con cái mừng mừng tủi tủi. Nàng cũng kể rõ mọi chuyện cho chồng biết, khuyên chồng hãy cố gắng luyện chí, yên tâm theo đuổi sự nghiệp công danh, đừng quên chăm sóc con thơ, phụng dưỡng cha mẹ. Nàng quét dọn, sửa sang nhà cửa, may vá quần áo cho chồng cho con, rồi bỗng chốc lại thoắt biến lên mây… Cứ như thế, thỉnh thoảng nàng lại hiện về, làm xong các việc rồi lại biến đi. Ròng rã hàng chục năm sau, cho đến khi con cái khôn lớn và Đào Lang công thành danh toại, nàng mới từ biệt để đi chu du thiên hạ.

Tương truyền, ông đã gặp thần nữ là Liễu Hạnh công chúa cả thảy hai lần, và đều có xướng họa thơ: một lần gặp ở chùa Thiên Minh ( Lạng Sơn) khi ông đi sứ về, một lần ở Hồ Tây (nay thuộc Hà Nội) khi ông cùng với hai bạn họ Ngô và họ Lý đi chơi thuyền. Lần ở Hồ Tây, người tiên kẻ tục bèn làm thơ xướng họa liên ngâm, sau được nữ sĩ Đoàn Thị Điểm chép trong truyện “Vân Cát thần nữ” ở tập Truyền kỳ tân phả của bà. Theo nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân, thì bài thơ ấy được đặt tên là Tây Hồ quan ngư (Xem cá Hồ Tây). Bản tiếng Việt do Phan Kế Bính dịch có tên là Cảnh Hồ Tây.

Ông bèn lên tiếng ghẹo: 三木森庭,坐著好兮女子 – Tam mộc sâm đình, tọa trước hảo hề nữ tử.

Người con gái nghe vậy, đối ngay: 重山出路走來使者吏人 – Trùng sơn xuất lộ, tẩu lai sứ giả lại nhân.

Phùng Khắc Khoan hết sức kinh ngạc bèn nói tiếp: 山人憑一几,莫非仙女臨凡 – Sơn nhân bàng nhất kỷ, mạc phi tiên nữ tâm phàm.

c âu này có nghĩa: cô sơn nữ ngồi ở ghế, phải chăng là tiên nữ giáng trần? Nhưng lắt léo ở chỗ: chữ sơn và chữ nhân ghép lại thành chữ tiên . Chữ bàng có bộ kỷ . Chữ nhất và chữ kỷ ghép lại thành chữ phàm .

Cuộc tái hợp với Đào Lang- Người chồng kiếp trước

Hiện nay những câu đối, những dấu tích về 2 lần gặp gỡ tại Lạng Sơn và Phủ Tây Hồ còn lưu lại ở Đền Mẫu Đồng Đăng (nơi Phùng Khắc Khoan gặp Liễu Hạnh lần đầu) và Phủ Tây Hồ (lần gặp thứ hai)

Sau khi hóa về trời,do vẫn còn tâm nguyên giúp đời nên Tiên Chúa khẩn thiết xin Ngọc Hoàng Thượng đế cho trở lại cõi trần gian. Ngọc Hoàng Thượng đế lắng nghe và hiểu rõ tất cả. Ngài cho gọi hai thị nữ tin cậy là Quỳnh Hoa và Quế Hoa bảo cùng đi với Tiên Chúa.

Những sự việc ấy lọt đến tai vua Lê chúa Trịnh. Hai vị vua chúa cho rằng trước kia tiên vương thả “yêu nữ” ra là một sai lầm, bây giờ đã đến lúc cần phải thẳng tay trừng trị. Bởi vì không thể có luật lệ nào khác ngoài luật lệ của vua chúa và ai muốn làm gì cũng không được tự quyền. Thế là hai vị cho triệu hồi các thuật sĩ tài giỏi trong nước đến kinh đô trong đó có Tiền Quân Thánh (vốn là tướng nhà trời, do mắc lỗi, đã bị đày xuống trần làm con trai thứ ba của một vị thượng sư, sư tổ của phái Nội đạo tràng), giao cho dẫn một đội quân hùng mạnh, đến thẳng miền Phố Cát để đánh dẹp.

Biết là không thể chống cự lại được, Tiên Chúa bảo Quỳnh Hoa, Quế Hoa tìm cách trốn đi, còn tự mình cũng hóa phép thành đứa trẻ, rồi lại hóa phép thành con rồng có vẩy vàng vẩy bạc múa lượn trên không.

Lễ hội

Tiền Quân Thánh lúc ấy ngồi trên voi chín ngà niệm thần chú tung lưới sắt ra chụp lấy. Tiên Chúa bị bắt rồi hiện nguyên hình trở lại.

Cung thờ Sơn Trang trong Phủ Tây Hồ

Lễ hội Thánh Mẫu Liễu Hạnh hàng năm được tổ chức vào ngày 3 tháng 3 Âm lịch – ngày giỗ của bà.

Địa điểm là:

Đền Sòng Sơn ở đường Hàng Bột, Hà Nội

Lễ hội thường kéo dài vài tuần lễ. Riêng lễ hội Phủ Dầy, còn gắn liền với Hội chợ Viềng, họp vào ngày 7 tháng giêng./

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Tứ phủ công đồng hay Tứ phủ là một tín ngưỡng nằm trong của tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam. Tứ phủ bao gồm:

  • Thiên phủ (miền trời): mẫu đệ nhất (mẫu Thượng Thiên) cai quản bầu trời, làm chủ các quyền năng mây mưa, gió bão, sấm chớp.
  • Nhạc phủ (miền rừng núi): mẫu đệ nhị (mẫu Thượng Ngàn) trông coi miền rừng núi, ban phát của cải cho chúng sinh.
  • Thuỷ phủ (miền sông nước): mẫu đệ tam (mẫu Thoải) trị vì các miền sông nước, giúp ích cho nghề trồng lúa nước và ngư nghiệp.
  • Địa phủ (miền đất): mẫu đệ tứ (mẫu Địa Phủ) quản lý vùng đất đai, là nguồn gốc cho mọi sự sống.

Tam phủ và Tứ phủ Hát Chầu Văn

Tứ phủ được thờ tại hầu hết các chùa chiền ở miền Bắc Việt Nam. Tại điện Hòn Chén ở Huế, Thiên Y A Na, nguyên là một nữ thần của người Chăm, được nhập vào hệ thống tứ phủ và thờ làm Mẫu Thiên . Trong khi đó, nhiều tài liệu cho rằng ở miền Bắc, Mẫu Thiên lại là Liễu Hạnh Công chúa.

Đó là hình thức hầu đồng với 36 giá chầu:

Thỉnh Mẫu Và Quan Đệ Nhất

【#6】Cúng Rằm Tháng 7 Vào Ngày Nào, Giờ Nào?

Cúng rằm tháng 7 tháng cô hồn vào ngày nào, giờ nào cũng nên lựa chọn kỹ lưỡng để phù hợp với mỗi gia đình.

Vì sao phải cúng rằm tháng 7?

Vào tháng 7 Âm Lịch, dân gian ta thường gọi là tháng cô hồn hay cũng là tháng Vu Lan – mùa báo hiếu cho cha mẹ ông bà. Theo quan niệm của cha ông ta, tuỳ theo những việc khi còn sống làm mà người mất sẽ được đầu thai kiếp khác thay vì bị đày xuống địa ngục hay lang thang quấy rối người thường.

Việc cúng cô hồn tháng 7 không chỉ để tránh bị người khác quấy phá mà muốn làm những điều phúc tốt đẹp, giúp những cô hồn lang thang có được một ngày no nê và đỡ tủi thân khi ở dưới địa ngục. Nó mang tính nhân văn cao trong văn hoá truyền thống Việt Nam cũng như quan niệm ngày xá tội vong nhân đó là: con người dù gây ra những tội ác gì trong quá trình chịu sự trừng phạt, quả báo cũng có 1 ngày xá tội để đỡ chịu khổ cực, đau đớn.

Theo truyền thuyết người Xưa, Diêm Vương cai quản địa ngục sẽ mở cửa Quỷ môn quan tháng 7 hàng năm.

Cúng rằm tháng 7 tháng cô hồn vào ngày nào, giờ nào là tốt nhất?

Cúng cô hồn tháng 7 vào ngày nào luôn là thắc mắc của nhiều người. Theo truyền thuyết dân gian, Quỷ Môn được ra ra từ ngày 2 tới ngày 15/7 âm lịch, đây là khoảng thời gian trên dương gian có nhiều cô hồn dã quỷ nhất. Từ 12 giờ đêm ngày 15/7 âm lịch cửa địa ngục sẽ đóng và cô hồn buộc phải quay về lại nơi chốn mình thuộc về.

Vì vậy nên có hai luồng ý kiến khác nhau về thời điểm tổ chức lễ cúng cô hồn. Một mặt, có người cho rằng có thể cúng cô hồn từ ngày 2 tới ngày 15/7 âm lịch vì lúc này cô hồn đã vào dương gian, cúng lễ thì chúng sẽ nhận được ngày. Cũng có ý kiến lại tin tưởng, nhất định cúng cô hồn phải vào đúng ngày Rằm mới là chuẩn.

Thực chất lễ cúng cô hồn hiện nay không chỉ cúng chúng sinh mà còn cúng lễ gia tiên, không chỉ giúp những vong hồn vất vưởng có thêm chút đồ lễ mà con cháu cũng muốn gửi cho ông bà tổ tiên nhà mình đồ cúng để đủ đầy hơn.

Theo nhà nghiên cứu văn hóa Trịnh Sinh, cúng cô hồn tháng 7 là tục truyền miệng, không có bất cứ một quy tắc hay nghi lễ chính thức nào nên có rất nhiều dị bản. Thông thường, quan niệm dân gian là cúng lễ tổ tiên vào trước ngày Rằm vì dịp này vong hồn nhiều, nhiều vong không nơi nương tựa không được gia đình cúng tiến sẽ cướp mất đồ lễ của gia tiên nhà mình. Cúng trước và ghi rõ tên tuổi vào đồ lễ để ông bà nhận được đồ của con cháu.

Cúng vào ngày Rằm tháng 7 là tốt nhất, chính lễ nhất nhưng nếu không có điều kiện thì từ 10 tới 15/7 âm lịch chính là thời điểm thích hợp để cúng cô hồn. Mọi nhà nên tùy vào hoàn cảnh và khả năng của mình mà tiến hành, không nên quá câu nệ.

Nhiều người cũng băn khoăn cúng Rằm tháng Bảy vào giờ nào thì hợp lý. Theo quan niệm dân gian, do ban ngày có nhiều ánh sáng mà ánh sáng mặt trời rất mạnh trong khi các cô hồn mới được “thả ra” rất yếu nên đối với lễ cúng bố thí cho các cô hồn khi tại thế thất cơ lỡ vận, không nơi nương tự, chịu nhiều oan trái trong xã hội… thì nên thực hiện vào buổi chiều tối hoặc tối hẳn.

Cũng theo một vị Đại đức – người từng tham gia nhiều lễ cúng chúng sinh, cúng cô hồn thì ở nhiều nơi, các chùa hay làm lễ vào buổi chiều tối, thậm chí là tối hẳn bởi theo quan niệm dân gian, vào ban ngày, ánh nắng sẽ làm suy yếu, làm bạt các vong hồn và phải đến gần tối thì các vong hồn mới tích tụ lại được. Vì thế, nên cúng cô hồn vào buổi tối hoặc chiều tối thì các cô hồn mới có thể dễ dàng nhận được đồ mà các gia chủ cúng cho.

Tuy nhiên, dù chọn giờ nào thì việc cúng cô hồn cũng đều phải diễn ra vào trước 12 giờ đêm ngày 15/7 âm lịch.

Theo Giadinhvietnam

【#7】Các Món Chay Cúng Nhà Mới Không Thể Thiếu

Ăn chay, cúng chay dường như đang là xu hướng của xã hội hiện đại. Một phần do ảnh hưởng trong văn hoá tâm linh người Việt. Một phần nữa là ăn chay cũng rất tốt cho sức khoẻ. Ngày nay người ta thường làm các món chay cúng nhà mới thay cho các mâm cỗ mặn. Cùng tìm hiểu thêm nếu bạn muốn nấu món chay trong tiệc tân gia nhé!

Tại sao mâm cỗ chay là lựa chọn của nhiều gia đình?

Ăn chay có từ lâu đời được bắt nguồn từ những người tu hành, theo đạo Phật. Một số người không theo đạo nhưng hướng Phật cũng ăn chay vào một số ngày trong tháng. Mâm cỗ chay có từ bao giờ không ai biết chính xác nhưng nó đáp ứng phần tinh thần về tâm linh, văn hoá.

Không chỉ làm các món chay cúng nhà mới, người ta còn làm các món chay cho mâm cỗ cúng, đám giỗ, đám tiệc…Xuất phát từ quan niệm siêu thoát, đầu thai, “nghiệp” báo…từ giáo lý nhà Phật.

Nếu ai sát sinh nhiều, hoặc gián tiếp cho việc sát sinh thì sẽ tăng thêm phần nghiệp. Có thể là lúc còn sống nghiệp sẽ đến hoặc sau khi chết đi không được siêu thoát….Và còn ảnh hưởng tới đời sau, vì thế cúng chay là một việc làm để tăng thêm phước đức cho bản thân, gia đình.

Mâm cỗ chay cúng nhà mới còn có ý nghĩa cầu thổ địa phù hộ và cúng tiễn đưa cho các vong hồn trên đất về nơi khác. Mâm cúng nhà mới cũng là cúng để báo cho ông Táo, gia tiên phù hộ, cầu bình nn cho gia đình.

Gợi ý mâm cỗ chay cúng nhà mới

Các món chay cúng nhà mới cũng tương tự như một mâm cỗ cúng thông thường. Tuy nhiên gia chủ có thể thêm vào những món chay khác cầu kỳ hơn. Tuỳ điều kiện của mỗi gia đình, mỗi vũng miền mà mâm cỗ chay có thể khác nhau hoặc biến tấu thêm một chút.

Xôi gấc vừa ngon, vừa bắt mắt và không quá khó để thực hiện. Mâm cúng nguời Việt lúc nào cũng sẽ có xôi là món cúng, món ăn truyền thống. Nguyên liệu nấu xôi gấc đơn giản bao gồm: Gạo nếp, đường, dừa nạo, gấc, nước cốt dừa.

Nếu cúng nhà mới thì cải chíp sốt nấm sẽ là lựa chọn cho món xào đẹp mắt, ngon miệng. Nguyên liệu bao gồm: Cải chíp, nấm hương, dầu mè, dầu hào. Xếp cải chíp quanh dĩa và cho nấm hương đã sốt vào giữa sẽ tạo nên một tác phẩm đẹp mắt.

Món 3: Canh nấm nấu rau củ thập cẩm

Các món chay cúng nhà mới phải có đầy đủ món khô, món mặn. Canh rau củ thập cẩm sẽ là lựa chọn hàng đầu vì dễ nấu và ngon miệng. Rau củ, nấm với độ ngọt tự nhiên, màu sắc bắt mắt sẽ làm cho cỗ cúng sinh động. Nguyên liệu bao gồm: cà rốt, nấm hương, khoai tây, bắp, hạt sen.

Món 4: Giò chay hoặc nem chay

Mâm cỗ chay cúng bao giờ cũng có dĩa nem rán hoặc giò. Các món này làm đơn giản thôi nhưng giúp mâm cỗ thêm đầy đủ. Nguyên liệu làm giò chay gồm váng đậu, tỏi tây, lá chuối để gói, gia vị. Nguyên liệu để làm nem chay khá dễ bao gồm đậu xanh ngâm luộc nhuyễn, cà rốt bào, đậu phụ, nấm, gia vị.

Món 5: Chè trôi nước

Đây là món cúng truyền thống bất kể trong cỗ chay hay cỗ mặn. Nguyên liệu gồm bột nếp, nhân đậu xanh, nhân nấm…tuỳ vào gia chủ.

Đặt mâm cỗ chay cúng nhà mới ở đâu Hà Nội?

Mâm cỗ chay cúng nhà mới ngày càng được ưa chuộng vì mang nhiều ý nghĩa. Nếu bạn chuẩn bị tân gia hãy chuẩn bị một mâm cúng thật tươm tất, đầy đủ để mọi việc được hanh thông. Mách bạn địa chỉ nấu các món chay cúng nhà mới ngon, hấp dẫn đó là Nấu cỗ 29.

Với nguồn nguyên liệu thực phẩm được lựa chọn kỹ càng, an toàn. Đội ngũ đầu bếp món chay chuyên nghiệp. Chắn chắn sẽ mang lại cho bạn những món chay vừa ngon, đẹp mắt, sang trọng với giá cả phải chăng. Hãy liên hệ ngay Nấu Cỗ 29 để có mâm cỗ chay cúng như ý nhé!

【#8】Bài Cúng Giỗ, Mùng 1, Cúng Rằm Năm 2021

Có hai cách khấn cúng:

1. Dành cho trường hợp cúng lễ, nhưng không có thời gian tụng kinh.

2. Dành cho trường hợp cúng lễ, có thời gian tụng kinh.

Tuỳ vào thời gian mà chọn cách cúng lễ.

Vị trí cúng lễ: trong nhà, tại ban thờ.

Đồ lễ: Hương, hoa, nước trà, quả, thực.

– Hương: Các loại hương đốt có hương thơm.

– Hoa: Các loài hoa có hương thơm (không kiêng về tên hoa và số lượng).

– Trà: Nước trà toả hương của sáu vị là đắng, cay, chua, chát, mặn, ngọt là sáu vị nuôi sống tất cả chúng sinh.

– Quả: Số lượng tuỳ ý không kiêng kị 2 quả hay 4 quả,… Nên cúng quả đã chín vì có hương từ vị để vong linh thọ hưởng, quả xanh chưa có hương thơm của vị (tránh tình trạng biến ban thờ thành chỗ cất đồ).

– Thực: Hiến cúng Phật bày lễ một bát cơm và một cốc nước. Hiến cúng chư Thiên, chư Thần bày lễ một bát cơm và một cốc nước chè. Hiến cúng gia tiên có cơm chay, nếu không có đồ chay thì làm một mâm cơm chay đơn giản bao gồm các đồ thức ăn từ rau củ quả, không có thịt của chúng sinh.

Lưu ý: Các đàn cúng lễ không sát sinh, không đốt tiền vàng, mã, giấy sớ.

B. Nghi thức cúng lễ

1. Cúng lễ không tụng kinh

Chúng con cũng nguyện cầu cho tất cả các chúng chư Thiên, chư Thần Linh, chư vong linh mà chúng con hiến cúng, được kết duyên pháp lữ với chúng con, đời đời kiếp kiếp trợ duyên cho nhau tu hành cho tới ngày thành Phật.

Chúng con cũng xin hồi hướng phúc lành đến cho gia đình chúng con (nguyện gì đọc nấy)….. và cùng nhau tinh tấn tu hành theo Chính Pháp của Phật, cho tới ngày liễu thoát luân hồi sinh tử. Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

Tam Tự Quy Y

Tự quy y Phật, nguyện cho chúng sinh, hiểu thấu đạo lớn, phát tâm vô thượng. (1 lễ)

Tự quy y Pháp, nguyện cho chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như biển. (1 lễ)

Tự quy y Tăng, nguyện cho chúng sinh, quản lý đại chúng, hết thảy không ngại. (1 lễ)

2. Cúng lễ có tụng kinh

Nguyện Hương

Nguyện đem lòng thành kính

Gửi theo đám mây hương

Phảng phất khắp mười phương

Cúng dường ngôi Tam Bảo

Thề trọn đời giữ đạo

Theo tự tính làm lành

Cùng pháp giới chúng sinh

Cầu Phật từ gia hộ

Tâm bồ đề kiên cố

Chí tu đạo vững bền

Xa biển khổ nguồn mê

Chóng quay về bờ giác

Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát

Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát

Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Ma Ha Tát!

Tán Pháp

Pháp Phật sâu mầu chẳng gì hơn,

Trăm ngàn muôn kiếp khó được gặp.

Nay con nghe thấy vâng gìn giữ,

Nguyện hiểu nghĩa chân đức Thế Tôn.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! (3 lần)

Một thời, Thế Tôn ở tại trú xứ của Bà la môn Cha-nu-sô-ni (Janussoni). Sau khi đi đến cung kính đảnh lễ, hỏi thăm và ngồi xuống một bên, Bà la môn Cha-nu-sô-ni (Janussoni) bạch Thế Tôn:

Thưa tôn giả Gotama, chúng tôi bố thí, làm các lễ cúng cho người chết. Mong rằng, bố thí này cho bà con huyết thống đã chết được lợi ích! Mong rằng, các bà con huyết thống đã chết, thọ hưởng sự bố thí này! Thưa tôn giả Go-ta-ma, bố thí như thế có lợi ích gì cho các bà con huyết thống đã chết không? Các bà con huyết thống đã chết có được thọ hưởng sự bố thí ấy hay không?

Này các Bà la môn, nếu có tương ưng xứ, thời có lợi ích; không có lợi ích nếu không có tương ưng xứ. Ở đây, này Bà la môn, những người nào… sau khi thân hoại mạng chung sinh vào địa ngục, sinh vào loại bàng sinh, sinh cộng trú với loài người, sinh cộng trú với chư Thiên. Những vị này, được nuôi sống và tồn tại với những món ăn ứng với cảnh giới của các vị ấy. Này Bà la môn, đây là không tương ưng xứ; trú ở những nơi ấy, các vị ấy không được sự lợi ích của bố thí ấy. Nhưng ở đây, này Bà la môn, người nào sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào cõi ngạ quỷ. Vị ấy được nuôi sống và tồn tại với các món ăn tại đấy. Món ăn nào, các bạn bè, thân hữu, hoặc bà con, hoặc người cùng huyết thống muốn hướng cúng cho vị ấy; tại đấy, vị ấy sống với món ăn đó, tồn tại với món ăn đó. Này Bà la môn, đây là tương ưng xứ; trú nơi đây, vị ấy được sự lợi ích của sự bố thí ấy.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

Một thời, Thế Tôn trú ở thành Xá Vệ (Sàvatthi), tại Kỳ Viên (Jetavana), khu vườn của ông Cấp Cô Độc (Anàthapindika). Lúc bấy giờ, mẹ của Nanda, nữ gia chủ người Velukandakì làm một thí vật gồm có sáu phần cúng dường chúng Tăng. Bấy giờ, Thế Tôn với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhiên thấy mẹ của Nanda làm một thí vật gồm có sáu phần liền bảo các Tỷ kheo:

Này các Tỷ kheo, có ba phần thuộc về người bố thí và có ba phần thuộc về người nhận vật phẩm bố thí. Thế nào là ba phần thuộc về người bố thí? Này các Tỷ kheo, người bố thí, trước khi bố thí, ý được vui lòng; trong khi bố thí, tâm được tịnh tín; sau khi bố thí, cảm thấy hoan hỷ. Đây là ba phần của người bố thí. Thế nào là ba phần của người nhận phẩm vật bố thí? Ở đây, này các Tỷ kheo, những người nhận vật bố thí, đã được ly tham hay đang thực hành hạnh ly tham; đã được ly sân hay đang thực hành hạnh ly sân; đã được ly si hay đang thực hành hạnh ly si. Đây là ba phần của người nhận phẩm vật bố thí. Như vậy, này các Tỳ kheo, đây là thí vật có sáu phần.

Này các Tỷ kheo, công đức của thí vật sáu phần thật vô lượng: “Là nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện, món ăn an lạc, thuộc thiên giới, là quả lạc dị thục, dẫn đến cõi Trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, hạnh phúc và an lạc”.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

(Chắp tay đọc)

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! Chúng con kính bạch chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng chứng minh, chư Hộ Pháp, chư Thiên, chư Thần Linh chứng giám, chư vong linh hoan hỷ. Trong bài kinh “BỐ THÍ VÀ CÚNG DƯỜNG NHƯ PHÁP”, Đức Phật dạy cúng dường Tam Bảo, nơi có chư Tăng tu hành phạm hạnh, đoạn trừ tham ái, sẽ được phúc lành lớn, chúng con xin vâng lời làm theo và thỉnh chư Thiên, chư Thần cùng các vong linh cùng tu tập gia hộ cho gia đình chúng con. Trong bài kinh “CÚNG LINH”, Đức Phật dạy cách cúng lễ cho người mất, hôm nay gia đình chúng con thực hành Pháp bố thí cúng dường, thành tâm sắm sửa vật thực, dâng lên cúng dường:

Thượng: Chúng con xin dâng lên cúng dường thập phương chư Phật chứng minh.

Trung: Chúng con xin phụng cúng chư Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng chứng minh.

Hạ: Chúng con xin cúng dường cho chư Thiên, chư Thần Linh, Thổ Địa tại nơi đây.

Sau: Chúng con xin được nương oai lực Tam Bảo, chúng con xin thỉnh mời và hiến cúng cho tất cả các vong linh gia tiên tiền tổ nội ngoại đôi bên họ:…… ( nếu ngày giỗ của vong linh nào thì đọc tên:……. và mất ngày… tháng… năm… nơi an táng… của vong linh đó) các vong linh thai nhi của (tên mẹ)…. cùng các vong linh có duyên tại nơi đất ở của gia đình và các vong linh oan gia trái chủ có duyên oán kết đang báo oán gia đình chúng con. Nguyện cho các vong linh được nương sự bố thí trong đàn lễ cúng này của con mà được thọ thực no đủ.

(Đọc Biến thủy, Biến thực)

(Nếu trong gia đình có người cần cầu sức khỏe hoặc công danh hoặc thi cử… thì đọc tiếp: Chúng con cúng dường Tam Bảo với số tiền là… để hồi hướng phúc đến cho (tên)… được…)

Chúng con cũng nguyện cầu cho tất cả các chúng chư Thiên, chư Thần Linh, chư vong linh mà chúng con hiến cúng, được kết duyên pháp lữ với chúng con, đời đời kiếp kiếp trợ duyên cho nhau tu hành cho tới ngày thành Phật.

Chúng con cũng xin hồi hướng phúc lành đến cho gia đình chúng con (nguyện gì đọc nấy) ….. và cùng nhau tinh tấn tu hành theo Chính Pháp của Phật, cho tới ngày liễu thoát luân hồi sinh tử. Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

Tam Tự Quy Y

Tự quy y Phật, nguyện cho chúng sinh, hiểu thấu đạo lớn, phát tâm vô thượng. (1 lễ)

Tự quy y Pháp, nguyện cho chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như biển. (1 lễ)

Tự quy y Tăng, nguyện cho chúng sinh, quản lý đại chúng, hết thảy không ngại. (1 lễ)

【#9】Mâm Lễ Cúng Đầy Tháng Cho Bé Trai Và Bé Gái Gồm Những Gì

Mâm Lễ Cúng đầy tháng cho bé trai lẫn bé gái gồm những gì là đúng chuẩn và đơn giản tiết kiệm sẽ được Cửa hàng Xôi Chè Cô Hoa với hơn 35 năm kinh nghiệm nấu các mâm cúng truyền thống ngày hôm chia sẽ với các bạn.

HOTLINE: 090.6606.377 – 034.221.6392

– Cúng đầy tháng cho bé trai và bé gái lúc bé tròn 30 ngày tuổi rất quan trọng trong văn hóa phương đông. Việc chọn ngày giờ cho tới cách bày tiệc cha mẹ cần phải tuân thủ đúng với văn hóa tín ngưỡng truyền thống cúng đầy tháng của dân tộc Việt Nam.

VIdeo 7 Cách bày trí mâm cúng đầy tháng cho bé gái và trai giá 1380 k/bàn.

I/ LỄ ĐẦY THÁNG CHO BÉ TRAI VÀ GÁI LÀ GÌ?

– Ông bà ta xưa cả bả miền Nam, Trung, Bắc quan niệm rằng: Hình hài em bé được sinh ra là do các vị Đại Tiên (Bà chúa Đầu thai), Tiên Mụ mà trực tiếp là 12 bộ Tiên Nương (12 bà Mụ) nặn ra.

– Vì vậy, khi đến ngày đầy tháng, gia đình phải bày tiệc cúng đầy tháng cho bé để tạ ơn các bà Mụ. Cầu xin các Bà Mụ, Đức Ông ban cho đứa trẻ nhiều điều may mắn tốt lành.

– Bé vừa mới sinh ra sẽ còn nhiều bỡ ngỡ với thế giới xung quanh. Vì vậy rất cần sự dạy dỗ của các vị Đại Tiên, Tiên Mụ… và hơi ấm của người mẹ từ trong bụng cho tới khi ra đời.

II/ CHUẨN BỊ LỄ CÚNG ĐẦY THÁNG NHƯ THẾ NÀO:

– Đầy tháng cho bé là ngày lễ truyền thống trong đời người và việc chọn những lễ vật đơn giản cũng cần phải đầy đủ & đúng truyền thống dâng lên các vị thần.

a) Lễ vật cúng đầy tháng cho bé trai và gái gồm có:

  • 1 Bộ xôi (12 xôi nhỏ 250 gram + 1 xôi lớn 500 gram).
  • 1 Bộ Chè Đậu (12 chén nhỏ 250 gram + 1 chén lớn 500 gram).
  • 1 Con gà luộc chéo cánh (có thể chọn vịt).
  • 1 Bộ trầu cau tiêm cánh phượng
  • 1 Bộ đồ thế cúng giải hạn.
  • 1 Bộ hài xanh quý phái – sang trọng.
  • 1 Bộ thỏi vàng cầu giàu sang.
  • 1 Phần cháo và gỏi.
  • 1 Giỏ trái cây ngũ quả.
  • Nhang 3 tấc + 14 đèn cày + trà rượu gạo muối.
  • Hoa cúng (hoa Cát Tường hoặc Đồng Tiền).
  • Dĩa bánh bao
  • 1 con heo quay nếu gia đình có điều kiện kinh tế tốt.

Bộ mâm cúng đầy tháng 10 món tiết kiệm đơn giản nhất

– Đối với con trai: Bộ đồ thế nam, chè chọn chè đậu.

– Đối với con gái: Bộ đồ thế nữ, chè thường chọn chè trôi nước

c/ Mâm cúng chư thần, tổ tiên:

– Đó là những lễ vật cúng Bà Mụ & Đức Ông. Ngoài ra, gia đình nên cúng những bàn Phật – Chúa, Tổ Tiên, Thần Tài – Thổ Địa, Ông Bà Táo.

– Những bàn này gia đình chỉ cần cúng đơn giản mỗi bàn 1 phần Xôi Chè lớn là đủ.

– Nếu có điều kiện thì có thể mua thêm trái cây, bánh trái, giò chả.

Mâm cúng đầy tháng cho bé đặc biết co heo quay

1 / Cách bày trí mâm cúng đầy tháng cho bé.

– Lễ vật cúng đầy tháng cho bé sẽ được xếp trên hai bàn: một bàn nhỏ xếp phía trước để bày lễ vật dâng lên Đức ông. Bàn lớn còn lại bày lễ vật dâng lên 12 Bà Mụ. 2 bàn trên và bàn dưới cách nhau không quá 10 phân (10 cm).

– Mâm cúng nên được sắp xếp theo nguyên tắc “Đông bình – Tây quả”, tức là ở phía đông đặt bình bông còn phía tây đặt lễ vật.

Mâm cúng đầy tháng cho bé trai trọn gói của Cửa hàng Xôi Chè Cô Hoa

– Tùy vào mỗi nhà sẽ có không gian rộng & hẹp khác nhau nhưng không gian cúng phải được quét dọn & sắp xếp đồ vật ngăn nắm trước khi bày lễ.

– Phần lễ là phần quan trọng nhất trong ngày đầy tháng cho cả bé gái và trai. Thực hiện đúng nghi lễ thể hiện lòng thành của gia đình & sự am hiểu về văn hóa dân tộc.

– Sau khi bày các mâm cúng đúng vị trí & đẹp mắt, nghi lễ cúng đầy tháng bé trai sẽ thực hiện đúng giờ.

Nghi thức khấn vái: Cha – mẹ sẽ bế bé ra, thực hiện nghi thức khấn vái. Trong ngày này, tất cả lòng thành đều hướng dâng lên Bà Mụ & Đức Ông. Văn khấn cũng được đọc trong lúc này.

Nghi thức khai hoa: Cho đứa trẻ nằm ở giữa bàn, cha mẹ bé thắp hương & bắt đầu mở lời xin phép khai hoa. Tiếp theo cha mẹ sẽ bế bé trên tay, cầm một cành hoa quơ ngang miệng bé & đọc những lời chúc.

Nghi thức đặt tên cho con: Cha mẹ thường đặt tên bé ngay lúc vừa sinh ra. Tuy nhiên, nhiều gia đình vẫn giữ tục này như một truyền thống gia tộc.

Bàn lễ cúng đầy tháng cho bé trai của Xôi Chè Cô Hoa.

– Sau khi thực hiện nghi lễ, phần còn lại là mọi người cùng nhau chung vui nhập tiệc.

– Mọi người quan khách đến dự sẽ chúc mừng, chia vui & gửi những lời chúc tốt đẹp đến bé & gia đình.

Mâm cúng đầy tháng cho bé gái 1350 k

1/ Đối với tiệc bé trai.

– Khi chọn chè cúng đầy tháng cho bé trai chúng ta sẽ chọn chè đậu.

– Người xưa quan niệm rằng đầy tháng bé trai cúng chè đậu. Vì họ mong muốn sau này con trai sẽ thi đậu, đỗ đạt công danh.

– Xôi thì gia đình có thể chọn: Xôi tam sắc chữ “Phúc”, xôi tam sắc chữ “Tài”, xôi tứ quý chữ “Phúc”, xôi tứ quý chữ “Tài”.

– Những loại xôi truyền thống được nấu từ nếp, gấc, lá cẩm, lá dứa, đậu xanh.

– Bé gái thường chọn chè trôi nước làm lệ vật chính trong bàn tiệc.

– Việc chọn loại chè này ngụ ý: cuộc sống luôn tròn đầy, có 1 cuộc đời trôi chảy bình yên.

Xôi tam sắc chữ “Phúc” & chè đậu trắng cúng đầy tháng cho bé trai của Xôi Chè Cô Hoa.

Xôi tứ quý cúng đầy tháng cho bé gái

Con kính lạy Đệ nhất Thiên tỷ đại tiên chúa.

Con kính lạy Đệ nhị Thiên đế đại tiên chúa.

Con kính lạy Đệ tam Tiên Mụ đại tiên chúa.

Con kính lạy Thập nhị bộ Tiên Nương

Con kính lạy Tam thập lục cung chư vị Tiên Nương

– Hôm nay là ngày…. Tháng….. năm….

– Vợ chồng con là ……………… sinh được con (trai, gái) đặt tên là …………..

– Chúng con ngụ tại:……………

– Nay nhân ngày đầy tháng chúng con thành tâm sửa biện hương hoa lễ vật và các thứ cúng dâng bầy lên trước án, trước bàn tọa chư vị Tôn thân kính cẩn tâu trình:

– Nhờ ơn thập phương chư Phật, chư vị Thánh hiền, chư vị Tiên Bà, các đấng thần linh, Thổ công địa mạch, Thổ địa chính thần, Tiên tổ nội ngoại, cho con sinh ra cháu tên là………… sinh ngày…… được mẹ tròn con vuông.

– Cúi xin chư vị tiên Bà, chư vị Tôn thần giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật, phù hộ độ trì, vuốt ve che chở cho cháu được ăn ngoan, ngủ yên, hay ăn chóng lớn, vô bệnh vô tật, vô tai, vô ương vô hạn, vô ách, phù hộ cho cháu bé được tươi đep, thông minh, sáng láng, thân mệnh bình yên, cường tráng, kiếp kiếp được hưởng vinh hoa phú quí.

– Gia đình con được phúc thọ an khang, nhân lành nảy nở, nghiệp dữ tiêu tan, bốn mùa không hạn ách nghĩ lo.

– Xin thành tâm đỉnh lễ, cúi xin được chứng giám lòng thành.Nam mô a di Đà Phật

– Theo truyền thống của người Việt, ngày đầy tháng sẽ không tính theo lịch dương mà sẽ tính theo lịch âm.

– Một số nơi còn tính ngày đầy tháng dựa vào giới tính của bé theo nguyên tắc “gái sụt 2 trai sụt 1”.

1 / Chọn ngày cúng đầy tháng cho bé trai:

– Nếu là bé trai thì sẽ tính ngày đầy tháng trước đó 1 ngày. Ví dụ: Bé trai sinh ngày âm là mùng 10 tháng 8 thì sụt 1 ngày, làm đầy tháng vào ngày mùng 9 tháng 9 âm lịch.

– Lý giải về cách tính ngày cúng đầy tháng như trên là vì quan niệm ngày xưa như sau:

+ Sở dĩ bé trai sụt 1 ngày là vì ông bà ta quan niệm con trai, nam nhi phải luôn là người đi trước, nhanh lẹ tiến thì mới công.

– Mặc dù quan điểm thời nay hiện đại hơn rất nhiều nhưng đây là lời ông bà ta đã dạy dỗ. Đây cũng là một nét đặc trưng của văn háo Việt Nam.

2/ Chọn ngày giờ cúng đầy tháng cho bé gái:

– Nếu là bé gái thì tính ngày đầy tháng sụt lại 2 ngày. Ví dụ: Bé gái sinh ngày âm là mùng 10 tháng 8 thì sụt lại 2 ngày, làm đầy tháng vào mùng 8 tháng 9 âm lịch.

– Còn bé gái sụt 2 ngày là vì ông bà cho rằng con gái phải biết nhường nhịn thì gia đình mới êm ấm, hạnh phúc.

3 / Việc chọn giờ trong cách cúng đầy tháng cho bé trai năm 2021:

– Thông thường lễ cúng đầy tháng cho bé sẽ được diễn ra vào lúc sáng sớm từ 5 h 30 – 12 h. Khung giờ tốt để cầu an cho bé, giúp bé đón ánh dương tốt đẹp

-Nhưng tốt nhất người nhà hãy xem giờ nào hợp với tuổi của bé rồi cúng. Cha mẹ của bé cũng nên dành 1 ngày ra để cho bé được trọn vẹn ngày đầy tháng.

VII/ LỄ CÚNG ĐẦY THÁNG CHO BÉ TRAI VÀ GÁI NÊN KIÊNG CỮ NHỮNG VIỆC GÌ?

1/ Việc nên làm khi làm lễ cúng đầy tháng cho bé:

– Việc đầu tiên cha mẹ nên tìm hiểu kỹ về những lễ vật làm mâm cúng đầy tháng cho bé để thực hiện đúng theo như trên đã hướng dẫn.

– Không gian cúng cần phải được sạch sẽ, thoáng & có nhiều ánh sáng.

– Cha mẹ nên mời đủ dòng họ 2 bên, các vị quan khách cũng nên được mời đến chứng giám.

– Cởi mở, vui vẻ & giành những lời chúc tốt đẹp cho nhau.

– Cần cúng các vị Thần linh, Tổ Tiên từ trước đến nay đã phù hộ gia đình.

– Khi làm lễ, mọi người hãy để lòng thành khẩn & thanh thản.

2/ Việc nên tránh trong lúc tổ chức lễ cúng đầy tháng cho bé:

– Cần tránh không gian cúng bị ẩm thấp, u tối.

– Tránh những câu nói không hay, làm mất hòa khí.

– Kiêng kị việc thiếu sót các lễ vật cúng đầy tháng.

Phản hồi của khách hàng về dịch vụ cúng đầy tháng cho bé của cửa hàng.

VIII/ NHỮNG LỜI CHÚC HAY KHI LÀM LỄ CÚNG ĐẦY THÁNG CHO BÉ.

* Mỗi người, mỗi nơi có cách cúng đầy tháng cho bé gái và trai khác nhau. Đồng thời, sẽ có những lời chúc riêng. Xôi Chè Cô Hoa hay gọi là cúng đầy tháng VN2VN sẽ gợi ý cho bạn một vài lời chúc thật hay:

– “Cảm ơn con trai, con gái đã đến với thế giới này và mang theo biết bao niềm vui và hạnh phúc. Chúc con luôn vui khỏe xinh tươi và rạng ngời như ánh bình minh. Yêu con thật nhiều”.

– “Chúc con mau ăn chóng lớn, có nhiều sức khỏe”.

– “Chúc con mau lớn thành tài”.

– “Chúc con sau này khỏe mạnh, thành công trong cuộc sống”.

H/ THÔNG TIN TƯ VẤN VÀ ĐẶT MÂM CÚNG ĐẦY THÁNG:

– Hệ Thống Cửa Hàng Xôi Chè Cô Hoa: 27/169, Đường Điện Biên Phủ, P15, Quận Bình Thạnh.

– VPĐD: 685 Âu Cơ, TTTM Big C, Hòa Thạnh, Tân Phú.

– HP: 090.6606.377 Hoặc 034.221.6392

– Giờ Trực Điện Thoại: 08 – 21 h mỗi ngày ( cả ngày chủ nhật và ngày lễ )

– Fanepage: XÔI CHÈ CÚNG ĐẦY THÁNG

( Cúng đầy tháng VN2VN luôn luôn lắng nghe và đồng hành cùng khách hàng

【#10】Mâm Cơm Cúng Giỗ Gồm Những Gì?

Cúng đám giỗ là một phong tục tập quán của người Việt chúng ta từ xưa đến nay, nhằm tưởng nhớ đến người đã mất. Ngày giỗ thường được tính đúng vào ngày mất Âm Lịch, thông thường có 3 ngày giỗ chính đó là giỗ đầu, giỗ hết và giỗ thường. Mỗi cúng giỗ đều có những điểm khác biệt riêng từ bài văn cúng khấn, đến mâm cổ dân lên ông bà cũng khác nhau. Vậy cách bày biện mâm cơm cúng giỗ như thế nào cho đúng? Ý nghĩa việc cúng giỗ

Từ xưa đến nay, phong tục cúng giỗ là một phong tục quan trọng được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ngày cúng giỗ là ngày thể hiện tấm lòng thương xót, tưởng nhớ của người sống đến người đã mất, thể hiện lòng hiếu đạo của con cháu đến tổ tiên.

Những ngày quan trọng trong cúng giỗ

1/ Giỗ đầu

Giỗ Đầu gọi là Tiểu Tường (chữ Hán: 小祥), là ngày giỗ đầu tiên sau ngày người mất đúng một năm, nằm trong thời kỳ tang, là một ngày giỗ vẫn còn bi ai, sầu thảm. Thời gian một năm vẫn chưa đủ để làm khuây khỏa những nỗi đau buồn, xót xa tủi hận trong lòng của những người thân. Trong ngày Giỗ Đầu, người ta thường tổ chức trang nghiêm không kém gì so với ngày để tang năm trước, con cháu vẫn mặc đồ tang phục. Lúc tế lễ và khấn Gia tiên, những người thân thiết của người quá cỗ cũng khóc giống như ngày đưa tang ở năm trước. Nhà có điều kiện thì có thể thuê cả đội kèn trống nữa.

2/ Giỗ hết

Giỗ Hết gọi là Đại Tường (chữ Hán: 大祥), là ngày giỗ sau ngày người mất hai năm, vẫn nằm trong thời kỳ tang. Thời gian hai năm cũng vẫn chưa đủ để hàn gắn những vết thương trong lòng những người còn sống. Trong lễ này, người ta vẫn tổ chức trang nghiêm. Lúc tế lễ người được giỗ và Gia tiên, con cháu vẫn mặc đồ tang phục và vẫn khóc giống như Giỗ Đầu và ngày đưa tang, vẫn bi ai sầu thảm chẳng kém gì Giỗ Đầu. Nhà có điều kiện thì có thể thuê cả đội kèn trống nữa.

3/ Giỗ thường

Giỗ Thường còn gọi là ngày Cát Kỵ (chữ Hán: 吉忌), là ngày giỗ sau ngày người mất từ ba năm trở đi. Cát kỵ nghĩa là Giỗ lành. Trong lễ giỗ này, con cháu chỉ mặc đồ thường phục, không khóc như ngày đưa ma nữa, không còn cảnh bi ai, sầu thảm, là dịp để con cháu người quá cố sum họp để tưởng nhớ người đã khuất và diện mời khách không còn rộng rãi như hai lễ Tiểu Tường và Đại Tường. Ngày giỗ thường được duy trì đến hết năm đời. Đến sau năm đời, vong linh người quá cố được siêu thoát, đầu thai hóa kiếp trở lại nên không cần thiết phải cúng giỗ nữa mà nạp chung vào kỳ xuân tế.

Mâm cơm cúng giỗ cần những gì?

1/ Mâm cúng giỗ ở miền Nam

Dịp cúng giỗ tổ tiên, chẳng ai hiểu rõ ông bà thời xa xưa khi vào Nam thích ăn món gì, chế biến các vật tư ra sao, nhưng tùy hoàn cảnh mà có bốn món : Hầm, Thịt luộc, Xào, Kho. Nên hiểu không phải là dâng cúng cho cha mẹ đã quá cố nhưng là cho tổ tiên đời ông cố của gia chủ, hiểu ngầm rằng những bà con xa gần thời xa xưa cũng được tham dự, vì vậy, nếu cúng 3 mâm ở 3 bàn thờ (giữa, bên trái, bên mặt), hoặc 1 bàn thờ, thì thức ăn phải giống nhau.

Món kho thường là thịt heo, cá lóc, kho với nước dừa để gợi phong vị miền Nam.

Món thịt luộc là thịt ba chỉ, xắt mỏng.

Món hầm, tức là thịt heo hầm, thường là giò heo hầm măng tre Mạnh Tông, loại măng ngon nhất của Nam Bộ (gợi tích ông Mạnh Tông trong nhị thập tứ hiếu).

Xào là món thịt bị câu thúc về hình thức: xào chua, xào mặn, với rau cải đồ lòng, hoặc tôm, gần như tuyệt đối không dùng thịt rừng.

2/ Mâm cúng giỗ ở miền Trung

Người miền Trung nổi tiếng cầu kỳ trong các món ăn, nhất là Huế có sự ảnh hưởng lớn từ cung đình Huế từ các triều đại xưa. Do đó món ăn cũng có phần cầu kỳ không kém khi làm mâm cúng giỗ. Các món cúng sẽ được phân ra làm 04 loại là: món xào, món canh, món ăn từ thịt, món từ tôm cá:

Thịt vịt luộc chấm nước mắm gừng

Thịt gà bóp với rau răm tiêu muối

Thịt heo luộc với mắm tôm, kèm với rau sống, vã xắt lát

Thịt heo quay

Thịt gà ru ty

Thịt bò nướng

Thịt heo kho rim

Thịt heo kho nước với sã và đậu phụng

Bánh tráng ram ( người Nam gọi là chả giò, loại bánh trán cuốn thịt băm rồi chiên dầu ăn cho vàng)

Nem chả

Cá chiên khúc

Cá thu hay cá to chặt khúc kho nước

Tôm rim hay tôm rang

Vã trộn với tôm,

Canh ổ khoa nhồi thịt

Canh bún nổi giò heo hay nấu với lòng gà, vịt

Canh củ hầm thịt bò

Thường là món củ hay légume xào với thịt heo nạc, có khi thịt bò hay tôm

Đậu cô ve, Su

Xà lách bóp thịt bò với dầu dấm

Đậu trắng, Khoai tây chiên

Món khoai Tây, với hành Tây nấu với thịt gà hay bò theo kiểu Ấn Độ gọi là món Ca ry.(người ta thường ăn với bánh mì)

Cơm trắng, Xôi gấc (ăn kèm với giò, chả)

Xôi vò, chè đường

Một con cua và một quả trứng bày chung trên một đĩa

Bánh dầy đậu

Chả quế

Thịt quay, Bê thui (chấm tương gừng)

Giò lụa hay giò bò thì là, Giò thủ, Giò bì

Thịt kho tầu

Chân giò (giò heo) hầm măng khô, mộc nhĩ

Chả giò cua bể + bún

Gà quay hay gà luộc (chặt miếng, sắp vào một chiếc đĩa sâu, những miếng đẹp và có da thì nằm sát đáy đĩa, rồi úp ngược đĩa gà này vào một chiếc đĩa trảng khác, cho ngon mắt)

Thịt đông, dưa chua (nếu cúng giỗ vào mùa lạnh)

Nem dê (làm bằng thịt bò nhưng gọi là nem dê)

Tôm sú hay tôm càng rim

Tôm thịt xào nấm đông cô, đậu ve, cà rốt, su hào

Lươn om với bắp chuối bào

Nộm măng (+ tôm, thịt, khế thái dọc, mè rang)

Miến xào lòng gà (+ mộc nhĩ)

Món bóng cá nhồi giò sống hay bóng lợn (canh bóng, nấu với rau củ, nấm, mộc nhĩ)

Xà lách búp, cà chua, dưa deo (chấm nước tôm rim)

Bài cúng đám giỗ như thế nào?

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Đức Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân.

– Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

– Con kính lạy Tổ Tiên nội ngoại họ………………………………………………….

Tín chủ (chúng) con là……………………………………Tuổi………………………

Ngụ tại………………………………………………………………………………….

Hôm nay là ngày ………tháng ………năm…………………………(Âm lịch).

Là chính ngày Cát Kỵ của……………………………………………………………

Thiết nghĩ…………………. vắng xa trần thế, không thấy âm dung.

Năm qua tháng lại ngày húy lâm. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Ngày Cát Kỵ, hôm nay chúng con và toàn gia con cháu thành tâm sắm lễ, quả cau, lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án thành khẩn kính mời…………………………………………………………

Mất ngày ……..tháng…….năm…………………………(Âm lịch).

Mộ phần táng tại…………………………………………………………………

Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia cảnh hưng long thịnh vượng.

Con lại xin kính mời các vị Tổ Tiên nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá Thúc, Huynh Đệ, Cô Di, Tỷ Muội và toàn thể các Hương hồn gia tiên đồng lai hâm hưởng.

Tín chủ con lại xin kính mời ngài Thổ Công, Táo Quân và chư vị Linh thần đồng lai giám cách thượng hưởng.

Tín chủ lại mời các vị vong linh Tiền chủ, Hậu chủ nhà này, đất này cùng tới hâm hưởng.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Phục duy cẩn cáo!

Bài viết mang tính chất tham khảo, hy vọng sẽ giúp ích được cho các gia đình đang quan tâm về việc bày biện mâm cơm cúng giỗ gia tiên.