Lễ Cúng Mụ Theo Phật Giáo

--- Bài mới hơn ---

  • 3 Điều Nên Nhớ Để Có Mâm Cúng Đầy Tháng Chay Hoàn Hảo
  • Bài Cúng Rằm Tháng Giêng Và Mâm Lễ Đầy Đủ Nhất
  • Mâm Cỗ Cúng Rằm Tháng Giêng 2022 Đầy Đủ Nhất
  • Bài Văn Khấn Cúng Rằm Tháng Giêng Tại Nhà Đầy Đủ Và Chuẩn Nhất
  • Danh Sách Lễ Vật Cúng Đầy Tháng Trẻ Sinh Đôi Chuẩn Nhất
  • Lễ cúng Mụ theo Phật giáo

    Cúng Mụ là tên gọi chung cho các lễ cúng đầy cữ (3 ngày sau sinh), đầy tháng (1 tháng sau sinh), đầy tuổi tôi (trẻ sinh ra được 100 ngày) và thôi nôi (trẻ tròn 1 tuổi) chứ không đơn giản chỉ riêng một lễ nào đó. Đó là lý do nhiều người thắc mắc sao lại có nhiều ngày cúng Mụ thế?

    Cúng Mụ là lễ cúng thể hiện sự thành kính, cảm tạ và cầu phước từ các bà Mụ. Theo tín ngưỡng thờ cúng các vùng của Châu Á, trong đó có Việt Nam thì em bé được hình thành là do các bà Mụ nhào nặn từng cơ quan, bộ phận. Sau đó họ sẽ cùng Bà Chúa đưa bé đến thế giới này một cách khỏe mạnh, dạy dỗ bé trong những năm tháng đầu đời và luôn đi theo bảo vệ bé.

    Bà Mụ chính là các vị tiên nương đầu thai và còn có tên gọi khác là Mẹ sanh hoặc Mẹ sinh.

    Theo sự tích dân gian, các bà Mụ được Ngọc Hoàng giao phó cho chuyện sinh sản trong nhân gian, có trách nhiệm nặn, nắn chỉnh cơ thể hoàn chỉnh trước khi cho đi đầu thai.

    Theo sự tích là có tất cả 12 Bà Mụ và 1 Bà Chúa cùng nhau chịu trách nhiệm trong việc tạo thành con người. Cũng có cách giải thích khác là mỗi bà Mụ sẽ lo một việc: người nặn chân tay, người nặn tai, người nặn mắt,… người dạy trẻ cười, người dạy trẻ đi,…

    Nhưng theo quan niệm của miền Nam thì 12 Bà Mụ này lại phân công nhau lo việc sinh nở, giáo dưỡng. Trong 12 năm 12 Bà Mụ luân phiên nhau trông coi các việc: sanh đẻ, thai nghén, thụ thai, nặn hình hài, an thai, chuyển dạ, hộ sản, dưỡng sanh, chăm sóc trẻ, bế bồng trẻ, trông coi trẻ,…

    Quan niệm vùng miền mặc dù có chút khác nhau như lễ cúng Mụ luôn được các gia đình coi trọng mỗi khi em bé chào đời.

    Lễ cúng Mụ theo Phật giáo vừa là lễ tạ ơn và cũng là lễ cầu phước lành cho bé. Vì thế các ngày lễ cúng Mụ cho bé vẫn luôn là một nét đẹp truyền thống trong văn hóa Việt được lưu truyền qua bao thế hệ.

    Lễ cúng Mụ theo Phật giáo

    Lễ cúng Mụ theo Phật giáo

    Cúng Mụ là tên gọi chung cho các lễ cúng đầy cữ (3 ngày sau sinh), đầy tháng (1 tháng sau sinh), đầy tuổi tôi (trẻ sinh ra được 100 ngày) và thôi nôi (trẻ tròn 1 tuổi) chứ không đơn giản chỉ riêng một lễ nào đó. Đó là lý do nhiều người thắc mắc sao lại có nhiều ngày cúng Mụ thế?

    Cúng Mụ là lễ cúng thể hiện sự thành kính, cảm tạ và cầu phước từ các bà Mụ. Theo tín ngưỡng thờ cúng các vùng của Châu Á, trong đó có Việt Nam thì em bé được hình thành là do các bà Mụ nhào nặn từng cơ quan, bộ phận. Sau đó họ sẽ cùng Bà Chúa đưa bé đến thế giới này một cách khỏe mạnh, dạy dỗ bé trong những năm tháng đầu đời và luôn đi theo bảo vệ bé.

    Bà Mụ chính là các vị tiên nương đầu thai và còn có tên gọi khác là Mẹ sanh hoặc Mẹ sinh.

    Theo sự tích dân gian, các bà Mụ được Ngọc Hoàng giao phó cho chuyện sinh sản trong nhân gian, có trách nhiệm nặn, nắn chỉnh cơ thể hoàn chỉnh trước khi cho đi đầu thai.

    Theo sự tích là có tất cả 12 Bà Mụ và 1 Bà Chúa cùng nhau chịu trách nhiệm trong việc tạo thành con người. Cũng có cách giải thích khác là mỗi bà Mụ sẽ lo một việc: người nặn chân tay, người nặn tai, người nặn mắt,… người dạy trẻ cười, người dạy trẻ đi,…

    Nhưng theo quan niệm của miền Nam thì 12 Bà Mụ này lại phân công nhau lo việc sinh nở, giáo dưỡng. Trong 12 năm 12 Bà Mụ luân phiên nhau trông coi các việc: sanh đẻ, thai nghén, thụ thai, nặn hình hài, an thai, chuyển dạ, hộ sản, dưỡng sanh, chăm sóc trẻ, bế bồng trẻ, trông coi trẻ,…

    Quan niệm vùng miền mặc dù có chút khác nhau như lễ cúng Mụ luôn được các gia đình coi trọng mỗi khi em bé chào đời.

    Lễ cúng Mụ theo Phật giáo vừa là lễ tạ ơn và cũng là lễ cầu phước lành cho bé. Vì thế các ngày lễ cúng Mụ cho bé vẫn luôn là một nét đẹp truyền thống trong văn hóa Việt được lưu truyền qua bao thế hệ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặt Mâm Cúng Đầy Tháng Ở Đâu Vừa Tiết Kiệm, Vừa Đảm Bảo Chất Lượng?
  • Nên Đặt Mâm Cúng Đầy Tháng Ở Đâu?
  • Mâm Cúng Đầy Tháng Bé Gái
  • Những Lưu Ý Quan Trọng Lễ Cúng Đầy Tháng Cho Bé: Đặt Tên,…
  • Cúng Đầy Tháng Ở Đâu Là Chính Xác Phù Hợp Nhất?
  • Tang Lễ Theo Nghi Thức Phật Giáo

    --- Bài mới hơn ---

  • Người Sinh 16 Tháng 4 Là Cung Hoàng Đạo Gì?
  • Sinh Ngày 16/4 Là Cung Gì
  • Sinh Ngày 16/11 Là Cung Gì?
  • Bói Sinh Ngày 16/1 Là Cung Gì
  • Sinh Ngày 16/4 Cung Gì
  • – Liên lạc Nhà Quàn để di chuyển xác, tắm rửa và tẩm liệm A/.Các Việc Liên Quan Khi Có Người Qua Đời

    – Chọn Quan Tài (Áo Quan), gói dịch vụ mai táng.

    – Coi ngày giờ tẩm liệm, động quan.

    – Thỉnh chư tăng, ni, ban hộ niệm.

    – Phóng Di Ảnh lớn của Người Quá Cố.

    – Chọn Nghĩa Trang, Mộ Huyệt, Bia Đá (nếu an táng – chôn)

    – Thông Báo cho họ hàng thân quyến, bà con bạn hữu, xóm làng quen biết.

    – Đặt các Vòng Hoa tưởng nhớ.

    – In Tiểu Sử Người Quá Cố

    – Sổ Ghi Nhớ cho Khách Viếng Thăm

    – Chụp hình, quay phim

    – Giấy Chứng Thực Qua Đời (chứng tử)

    – Đăng Cáo Phó, Cảm Tạ (nhà quàn thực hiện).

    – Chuẩn bị đồ tang (nhà quàn chuẩn bị).

    B/.TANG LỄ THEO TINH THẦN PHẬT GIÁO

    Chết là điều mà con người không thể tránh khỏi.

    Trong Kinh có ghi”Tử hoàn toàn không đáng sợ,

    vì”Tử”là bắt đầu của”Sanh”

    (Nên biết sanh sanh, tử tử là Luật Nhân Quả.

    Làm Tang – Lễ theo người xưa thật là phiền phức, tốn hao nhiều mê tín. Do đó, tại gia phải y theo chánh pháp hành trì, bãi bỏ những hủ tục mê lầm, chỉ tổ chức trang nghiêm yên tĩnh và đơn giản để tránh tốn hao thì giờ và tiền bạc. người Phật tử

    Tang chế không thể làm cầu thả mà phải chuẩn bị trước lúc sanh thời. Không cần linh đình mà cần phải giản dị chừng nào hay chừng nấy. Mặc người ta đam tiếu. Kẻ ngu thường cười người trí. Đây là việc thường của bọn ngu phu.

    Nghi thức Tang Lễ theo Phật giáo nhằm mục đích đơn giản gọn gàng, ít tốn kém, không theo tập tục mê tín của thế gian, như đốt giấy tiền vàng bạc, nhà kho v.v…

    Tang Lễ cần được cử hành trang nghiêm, yên tịnh, đơn giàn ít tốn kém tiến bạc thì giờ, không nên cậy giàu khoe của, tổ chức linh đình, hoặc không tiền mà cầu danh cố làm cho thiên hạ khen là đám ma lớn, con cháu có hiếu, rồi đi vay mượn nợ nần phải bán nhà bán đất để trả thì thật là khờ dịa vô cùng.

    Hiếu hay bất hiếu là do tâm của mình đối xử lúc cha mẹ còn sống, nếu lúc sống mà không săn sóc phụng dưỡng tươm tất, đến khi chết bày ra cúng tế linh đình thì là trò giả đối che miệng thế gian mà thôi. chúng tôi

    Trong Kinh có nói:”Sanh bất hiếu thân, tử tế vô ích”nghĩa là khi cha mẹ còn sống không hiếu thảo nuôi dưỡng, đến khi chết rồi làm heo bò cúng tế bao nhiêu cũng vô ích.

    Các Phật tử nên lưu ý mỗi khi trong nhà có hữu sự về Tang tế thì thường có những người quen đến chỉ biểu bày vẽ thế này thế nọ, nhiều người biểu cắt móng tay bỏ vào miệng người chết, hoặc biểu xuống sông múc nước về tắm cho thi hài người chết, hoặc xúi mua giấy tiền vàng bạc về đốt cho nhiều và khi di Quan phải rải cho nhiều cho ma quỷ lượm xài khỏi cản trở đám tang, hoặc hù doạ là chết ngày trùng, gặp cung xấu.v.v….rồi xúi đi rước thầy Pháp về ếm đối Vong Linh làm tốn hao vô ích mà mắc tội với người quá cô.

    Quý vị Phật tử cần phải nhận xét việc nào không đúng Chánh Pháp thì đừng nghe theo, dầu lời xúi biểu đó của người thế gian hay của các thầy đám cũng cương quyết không nghe theo.

    3.Cúng dường cho những Người đến Hộ Niệm:

    Những Người đến Hộ Niệm, ta nên vì Người chết mà cúng dường cho họ. Nếu họ không nhận, thì nên vì Người chết mà lễ tạ 3 lạy.

    IV.Ban Tổ chức tang lễ:

    Khi trong nhà có người qua đời, thì gia chủ nên họp gia quyến lại để thành lập Ban Tổ Chức Tang Lễ:

    1.Trưởng Ban Tang Lễ: là chủ gia đình chỉ đạo toàn Ban.

    2.Phó Ban Tang Lễ: đại diên cho Trưởng Ban sắp xếp và tiếp khách.

    3.Hộ Tang (1 vị): thay mặt Tang Chủ tiếp lễ Phúng điếu và Cảm tạ.

    4.Thư Ký (1 vị): ghi chép Chi-Thu và danh sách bà con Phúng điếu.

    5.Thủ Bổn (1vị): Chi và Thu tiền bạc theo lệnh của Trưởng Ban.

    6.Mãi Hiện và Trai Soạn (2 vị): đi chợ và nấu nướng cơm nước.

    chúng tôi Khách: mượn bà con lớn tuổi trong gia quyến.

    8.Hành đường trà nước: mượn các cháu thanh niên nam nữ dọn bàn cơm nước.

    9.Phụ tá Nghi Lễ (1 vị): lo việc hương đăng cúng kiến hầu lễ tụng Kinh.

    10.Thông Sư (1 vị): đi liên lạc, mua sắm và lo xe cộ.v.v……bên ngoài.

    * Ban Tang Lễ phân công sắp xếp cho cuộc Lễ Tang được trang nghiêm và trật tự.

    Trước ngày Di Quan, toàn Ban phải họp lại để sắp xếp chương trình Lễ Di Quan và sắp xếp đoàn Đưa Tang cho có thứ tự trước sau. Cử người giữ trật tự trên lộ trình Đưa tang.

    V.Phụ tá nghi lễ:

    Nhiệm vụ của vị đặc trách về Nghi Lễ Tụng Niệm và tiếp đãi Chư Tăng, Ni:

    1.Hướng dẩn gia chủ đến Chùa Lễ Tổ, thỉnh Chư Tăng, Ni và Ban Hộ Niệm.

    *Trong trường hợp này, vị đắc trách phải sắp sửa bàn ăn riêng và chỗ nghỉ ngơi thanh tịnh cho Chư Tăng, Ni nghỉ.

    2.Sắm sửa Khai Lễ để rước Chư Tăng và hướng dẫn Tang gia cảm tạ. Bưng Khai Lễ ra tiếp nghinh khi Chư Tăng đến.

    chúng tôi khi Chư Tăng an toạ, hướng dẫn Tang Chủ đến tác bạch thỉnh tụng Kinh. Khi Chư Tăng, Ni đắp ý đến bàn Phật tụng Kinh, thì đánh trống Bát Nhã. Gia quyến đến trước Phật niệm hương, lễ lạy.

    4.Phải sắp sẵn nhang đèn, hoa quả trên bàn Phật. Khi tụng Kinh, nếu gặp trời nóng bức thì mở quạt máy hoặc quạt tay, vì Chư Tăng, Ni đắp y nhiều lớp dễ bị nựa nội.

    chúng tôi khi tụng Kinh xong, hướng dẫn Tang Chủ bưng Khai Lễ đến lễ tạ Chư Tăng, Ni và Ban Hộ Niệm. Khi Chư Tăng, Ni ra về cũng phải bưng Khai Lễ tiễn đưa.

    6.Thông thường, Chư Tăng, Ni và Ban Hộ Niệm chỉ dùng nước giải khát chớ không thọ thực tại Tang gia, nhưng nếu có trường hợp ngoại lệ, nhà xa không thể về Chùa được, thì có thể ở lại thọ thực và nghỉ đêm.

    C/. TANG LỄ THEO NGHI THỨC PHẬT GIÁO

    Lễ phát tang cho gia quyến Đại tướng Võ Nguyên Giáp theo nghi thức Phật giáo

    Có những hình thức mai táng khác nhau tuỳ tập quán của từng nơi, từng cư dân. Một nghi thức tiễn biệt người quá cố theo truyền thống Phật giáo Việt Nam qua các lễ lược như sau:

    1 – Trị quan nhập liệm: Một người mất (chết), trút hơi thở cuối cùng. Sau đó ít nhất là 4 giờ, tốt hơn hết là sau 24 giờ, được tắm rửa sạch sẽ, đưa vào một cái hòm gỗ (quan tài) bằng một nghi thức như sau: Dùng một chén nước trong, một cây đèn nến (sáp) gắn vào một cái cây gác trên một góc hòm. Vị gia trì sư dùng tam mật tương ưng (tay kiết ấn, khẩu đọc thần chú, Ý quán tưởng Phật) tẩy sạch quan tài và vật dụng tẩm liệm. Ðưa thi hài vào quan tài. Thi hài thường được mặt một chiếc áo Quan Âm (mền Quang Minh). Theo cổ tục có nơi còn bỏ gạo hay vàng ngọc vào miệng thi thể.

    2 – Phục hồn: Thiết lập một bàn thờ Linh có linh ảnh, bài vị, bát nhang. Thỉnh vong linh an vị, để cho thần thức định tỉnh nhận rõ sự việc đang phải lìa thể xác. Vì theo quan niệm thần thức của người mất lúc bấy giờ đang bơ vơ, sợ sệt, chưa ý thức được đang gặp sự việc gì. Theo cổ tục dân tộc có một bát cơm (hai chén úp một), cắm lên hai chiếc đũa và một quả trứng luộc.

    3 – Khai kinh – Tiến linh: Thiết lập bàn Phật, thỉnh Phật chứng minh và siêu độ sự ra đi của vong giả. Tụng kinh để hương linh làm tư lương hướng Phật. Khuyến tấn hương linh quy y Phật, dứt nghiệp trần lao.

    4 – Phát tang: Ðể cho bà con thân bằng quyến thuộc có cơ hội từ giả biệt luận với vong giả. Một hình thức ghi nhớ ơn đức, hiếu hạnh trong gia tộc. Ðặc biệt trong nghi thức này vị gia trì sư lại dùng tam mật tương ưng chú nguyện vào tang phục và xướng: “Ngũ phục chi nhơn các thọ kỳ phục” trao cho tang gia mặc vào người. Từ giờ phút này mới chính thức báo tang, bà con thân hữu mới thăm viếng với tư cách tang lễ.

    5 – Triêu điện: Trong thời gian chưa chôn, các lễ cúng cho hương linh gọi là “điện”. Vậy triêu điện là một lễ cúng buổi sáng gần ngày đưa đám, thường dành riêng cho bà con muốn làm một lễ cúng riêng, đọc ai điếu, lời từ biệt.

    6- Tịch điện: Lễ cúng buổi tối gần ngày đưa đám, thường giành cho con cháu nội tộc, để con cháu có cơ hội nói lên ơn nghĩa, những hình ảnh thân thương, tưởng niệm đến công hạnh của người quá cố. Còn thường ngày 3 buổi: sáng cúng trà; trưa, chiều cúng cơm dùng hình thức nghi lễ đơn giản gọi là “tiến linh”.

    7 – Triệu tổ: Lễ này thường được cử hành trước ngày di quan khoảng 2 hôm trở lại. Tang quyến thỉnh linh vị, di ảnh, bát nhang đầy đủ lễ vật đến tự đường (nhà thờ họ). Ðặt linh vị trên một cái bàn nhỏ đối diện án thờ gia tiên. Thí dụ án thờ ở phía tây, linh vị ở phía đông, con cháu tang quyến ở phía nam; cất gậy, mũ mấng đi để làm lễ cáo tổ tiên.

    8 – Sái tịnh, nhiễu quan và quy y linh: Trong lúc đại chúng đang tụng chú Ðại Bi, vị chủ sám dùng bình Cam Lồ vào tẩy tịnh quan tài, chú Ðại Bi vừa dứt, sám chủ thán: “Giác tánh viên minh, tùng lai trạm tịch; bổn lai nhơn ngã chi huyễn tướng, hà hữu sanh tử chi giả danh? Nhơn tối sơ nhất niệm sái thù, tùng mộng tưởng hữu tư sanh diệt.

    9 – Cáo đạo lộ: Lễ này thường nhờ một người hộ tang đứng cúng, được cử hành trước một hôm đưa đám, đặt bàn cúng trước cữa ngõ, ý nghĩa xin hộ đàng cho đám táng được yên ổn thuận lợi. Có gia đình tổ chức lễ cúng thí thực và phóng sanh nữa.

    10 – Khiển điện: Lễ này cúng trước khi di quan, thường dành cho bằng hữu tỏ bày tâm sự, tình cảm với hương linh qua điếu văn.

    11 – Di quan (động quan): Lễ di chuyển quan tài đi chôn hay hỏa táng, một lễ có nhiều xúc động nhất. Trong lễ này Gia trì sư thường đội nón Tỳ Lư và cầm tích trượng để hướng dẩn hương linh. Sau nghi thức cúng cấp xong, Gia trì sư xướng: – Cung thối, thỉnh bổngg danh sanh, thần vị, linh ảnh thăng xa.

    12 – Tế độ trung: Cúng giữa đường, lễ này với ý nghĩa: Trước tiên vì đường sá xa xôi, nghỉ xả hơi cho âm công (người gánh đám) lấy sức, đãi đằng ăn uống. Thứ đến để cho con cháu có dịp lễ lạy tỏ lòng hiếu thảo trong lúc nghỉ giải lao.

    13 – Trị huyệt: Một lễ làm tinh sạch huyệt, trước khi hạ quan tài.

    Sái tịnh, trị quan, trị huyệt với ý nghĩa dùng nước Cam lồ làm tinh sạch nơi chỗ để xếp đặt thi thể, hay nơi thờ cúng. Còn có nghĩa chúng sanh nào đang ẩn trú vào nơi ấy xin đi nơi khác.

    14 – Tạ thổ thần: Lễ khấn vái thổ thần và những hương linh của những ngôi mộ chung quanh. Nay có huơng linh. . . cùng chung cư trú tại địa phận này.

    15 – Nhiễu mộ: Lễ này cử hành sau khi an táng xong; bái biệt hương linh, tạ chư Tăng, và quan khách đi dự đám táng.

    16 – An linh: Khi về đến nhà, chùa, an vị hương linh để hương khói thờ phụng. Ngày trước đưa về nhà, phải thiết bàn thờ riêng trong hai năm hoặc ít nhất là 100 ngày, sau mới được nhập vào bàn thờ chung với tổ tiên. Ngoài ra còn có lễ đề phan vị, đề thần chú, lễ khai môn (mở cửa mã): sau khi chôn ba ngày làm lễ khai môn để hương linh được phép ra vào.

    Ngày trước vấn đề tang chế được xem rất quan trọng nên việc để tang được ấn định rõ ràng từng cấp phải để tang như thế nào, bao lâu đã được ghi trong sách Thọ Mai. Nên có rất nhiều lễ xã tang vào các thời kỳ như: bách nhật, một năm, hai năm, ba năm…

    Trong nghi xả tang có các điểm trọng yếu như sau:

    Sái tịnh: Người thọ tang quỳ trước bàn linh, Gia trì sư rãi nước Cam Lồ, lấy kéo cắt tượng trưng đồ tang hay lấy khăn tang xuống.

    Xướng: Ngũ phục chi nhơn, cát tựu trừ phục.

    Giải kết, giải kết, giải oan kết,

    Giải liễu tiền sanh an hòa hiệp,

    Tẩy tâm địch lự phát kiền thành

    Cung đối án tiền cầu giải kết.

    Nam mô Giải oan kết Bồ Tát (3 lần)

    Sau này thời gian bận rộn, cuộc sống vội vàng, không cho phép làm đám lâu ngày; Ðể phù hợp với nếp sống, chỉ còn một vài nơi như ở Huế còn giữ cổ lệ lễ lược như xưa, còn đại đa số nghi lễ được giản lược. Thông thường được gom lại làm các lễ chính như sau:1 – Phát tang, 2 – Cầu siêu, 3 – Lễ táng (hỏa táng hay thổ táng).

    Việc ứng xử tùy theo hoàn cảnh và thời gian, gộp lại như vậy xem ra cũng gọn nhẹ về phần bày biện. Nhưng có nơi không giữ được ý nghĩa của cuộc lễ: Ba buổi lễ xem như giống nhau, trước bàn Phật, bàn linh, bài bản xướng tán không rõ rệt; đơn điệu, không diễn tả được nghi lễ đích thực nói lên hết ý nghĩ chư tôn cổ đức đưa ra nêu cao việc hiếu hạnh của con người.

    Theo: chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghi Thức Tổ Chức Lễ Quốc Tang
  • Nghi Thức Tang Lễ Theo Truyền Thống Phật Giáo
  • Nguồn Gốc, Ý Nghĩa Ngày Vía Thần Tài Mùng 10 Tháng Giêng
  • Luận Giải Ý Nghĩa Cung Tài Bạch Trong Tử Vi
  • Sao Thái Âm Tọa Cung Mão, Là Người Được Quý Nhân Phù Trợ
  • Quan Điểm Phật Giáo Về Việc Cúng Giỗ

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Tính Ngày Cũng Giỗ Đầu Cho Bố Mẹ Đã Mất Vào Ngày Nào?
  • Thờ Cúng Tổ Tiên Sao Cho Đúng Và Đủ ?
  • Các Món Ăn Đãi Tiệc Đám Giỗ Lạ Miệng, Dễ Làm
  • Các Món Ăn Đãi Tiệc Đám Giỗ Giúp Chị Em Trổ Tài Khéo Léo
  • Giỏ Hoa Quả Thắp Hương, Giỏ Hoa Quả Lễ, Giỏ Hoa Quả Cúng Rằm
  • Theo truyền thống của người Việt Nam, việc cúng giỗ là điều rất tốt, nhưng nên được xem như là ngày tưởng niệm, ngày nhớ tưởng đến người đã khuất…

    Trước là nói lên lòng thành kính tưởng nhớ, sau là nhắc nhở con cháu nên tiếp nối mỹ tục biết cảm ơn các bậc sinh thành.

    Trước khi trình bày quan điểm Phật giáo với việc cúng giỗ, thiết tưởng chúng ta cần tìm hiểu xem đạo Phật quan niệm như thế nào về sự sinh và sự tử.

    Trước hết, người Phật tử không xem bàn thờ gia tiên là “nơi ở” của ông bà, tổ tiên, những người thân đã khuất nói chung (vì biết rõ chư vị đã theo nghiệp tái sinh trong lục đạo rồi). Bàn thờ gia tiên được lập ra để tưởng niệm, ghi nhớ ân đức sinh dưỡng của tổ tiên, ông bà. Bàn thờ gia tiên biểu trưng cho cội nguồn huyết thống (song hành với cội nguồn tâm linh – bàn thờ Phật), cây có cội, nước có nguồn, con người có tổ tông. Kính thờ tổ tiên để bày tỏ lòng hiếu thảo, thể hiện tâm nhớ ơn và hoài nguyện đền đáp ơn sâu nghĩa nặng, chính điều này đã un đúc và hình thành nên truyền thống hiếu nghĩa quý báu của người Phật tử.

    Theo quan điểm chung của Phật giáo, con người sau khi chết không phải là mất hẳn, đó chỉ là một trạng thái biến dạng của nghiệp thức. Thể xác phân tán nhưng phần tâm thức qua nghiệp lực dẫn giắt vẫn tiếp tục tìm về cảnh giới tương ứng. Và cứ như thế con người chúng ta khi chưa đạt đạo giải thoát, thì vẫn mãi luẩn hồi trong vòng tử sinh. Về sự sinh và sự tử này, Phật giáo có hai quan điểm, một là tái sinh tức thời và hai là tái sinh qua giai đoạn chuyển tiếp “thân trung ấm” tùy theo nghiệp lực của mỗi chúng sinh.

    Quan điểm đầu cho rằng tái sinh xảy ra tức thời chỉ trong một sát na niệm tưởng, không để trống khoảnh khắc nào trong trạng thái lưng chừng như làn sóng điện lan trong không gian, tức khắc được phát sinh trong máy thu thanh hay thu hình. Sự sinh tử theo quan điểm này xảy ra cực kỳ nhanh chóng và được xem là một tiến trình liên tục.

    Còn quan điểm thứ hai cho rằng có một số trường hợp phải qua giai đoạn chuyển tiếp, ở đó chúng sinh mang dạng “thân trung ấm” lưu lại trong khoảng thời gian từ một đến bảy tuần lễ, thông thường thời gian thọ sinh là bảy ngày, tuy cũng có thể lâu hơn nữa do sở duyên chưa thích hợp.

    Thờ cúng ông bà tổ tiên là phong tục tốt đẹp của các nước Á Đông, trong đó có Việt Nam. Khi đạo Phật được du nhập vào thì có sự giao thoa, tiếp biến có chọn lọc với các tín ngưỡng bản địa, và phong tục thờ cúng ông bà tổ tiên vẫn được trân trọng, duy trì trong đời sống tâm linh của người Phật tử Việt từ xưa cho đến tận ngày nay. Bấy giờ, người Phật tử vẫn thờ cúng ông bà tổ tiên nhưng với cái nhìn mới, đa văn hóa, vừa phù hợp với truyền thống dân tộc và vừa thuận hợp với quan điểm Phật giáo.

    Tuy nhiên, theo truyền thống của người Việt Nam, việc cúng giỗ là điều rất tốt, nhưng nên được xem như là ngày tưởng niệm, ngày nhớ tưởng đến người đã khuất, trước là nói lên lòng thành kính tưởng nhớ, sau là nhắc nhở con cháu nên tiếp nối mỹ tục biết cảm ơn các bậc sinh thành.

    Chúng ta có thể tổ chức cúng giỗ tại nhà, hoặc tại chùa chỉ với mục đích tưởng niệm, không thiết lễ cầu siêu dâng sớ và đốt vàng mã theo văn hoá Trung Hoa (vì tin chắc là ông bà hoặc đã lên các cõi Tịnh hay đã tái sanh làm người ngay từ lúc nhắm mắt lìa đời).

    Nếu đủ phương tiện có thể tổ chức cúng giỗ tại chùa thì rất tốt. Trước nhất, đây là một duyên lành giữa thân nhân người chết đối với nhà Phật, có dịp cho con cháu, họ hàng tiếp cận với các vị Sư, nhân đó, họ có thể tìm hiểu để học hỏi thêm về Phật pháp. Thứ nữa là thân nhân người chết có thể tạo chút phước qua việc cúng dường Tam Bảo, để nhà chùa có thêm khả năng ấn tống kinh sách, phổ biến Phật pháp rộng rãi, thêm phương tiện để hoàn thành các Phật sự. Các vị Sư là những Trưởng Tử Như Lai, là những Ðạo Sư, có nhiệm vụ thiêng liêng là hoằng dương Chánh Pháp song song với việc tu tập bản thân để giải thoát luân hồi. Phật tử tại gia cũng vậy, ngoài việc lo cho gia đình, xã hội cũng cần phải tu tập bản thân và giúp phương tiện cho các vị Ðạo Sư trong công cuộc hoằng truyền và bảo vệ sự trong sáng của đạo Phật.

    Nguồn: thuvienhoasen.org

    --- Bài cũ hơn ---

  • Có Nên Cúng Giỗ Trước Ngày Mất Không?
  • Phong Tục Thờ Cúng Ngày Tết Của Người Việt Có Gì Đặc Biệt Bạn Có Biết?
  • Phong Tục Thờ Cúng Trong Ngày Tết Ở Việt Nam
  • 13 Phong Tục Truyền Thống Trong Dịp Tết Cổ Truyền Của Người Việt
  • Phong Tục Thờ Cúng Trong Ngày Tết Của Người Việt
  • Cách Thờ Cúng Tổ Tiên Theo Quan Điểm Phật Giáo

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguyên Tắc Khấn,cúng,vái Và Lạy
  • #2 Cách Vái Và Cách Xếp Tiền Cúng Cô Hồn Thành Tâm Nhất
  • Cách Khấn Vái Khi Đi Chùa Chùa Đúng Cách
  • Ngày Vía Mẹ Quan Âm Là Ngày Nào? Cách Cúng Cần Lưu Ý Gì?
  • Hướng Dẫn Cách Cúng Xả Xui Hiệu Quả Nhất?
  • Thờ cúng tổ tiên để bày tỏ lòng hiếu thảo, thể hiện tâm nhớ ơn sâu nghĩa nặng. Đây là phong tục tốt đẹp của các nước Á Đông. Trong đó có Việt Nam. Chính điều này đã ươm mầm và hình thành nên truyền thống hiếu nghĩa quý báu của người Phật tử.

    Kinh sách Phật giáo Bắc tông nói chung đều xác định người chết sau khoảng thời gian tối đa 49 ngày thì theo nghiệp mà tái sinh. Vào cõi tương ứng trong lục đạo. Dĩ nhiên, tái sinh vào cõi nào thì theo nghiệp của cõi ấy sống hết thọ mạng. Khi chết lại tùy nghiệp tái sinh vào cõi khác nữa, gọi là luân hồi trong sáu nẻo.

    Phật tử thờ cúng tổ tiên được không?

    Người Phật tử vẫn thờ cúng ông bà tổ tiên. Nhưng với cái nhìn mới vừa phù hợp với truyền thống dân tộc vừa thuận hợp với quan điểm Phật giáo. Người Phật tử không xem bàn thờ gia tiên là “nơi ở” của ông bà, tổ tiên.

    Người Phật tử không nên xem việc thờ cúng ông bà là “thờ quỷ”. Một số người vong ơn, bội nghĩa, bất hiếu, tà kiến quan niệm. Thờ cúng gia tiên để liên kết với quá khứ và phát huy các giá trị sống tốt đẹp cho hiện tại.

    Phật giáo khuyến khích Phật tử làm phước để hồi hướng cho người thân đã khuất. Dầu họ tái sinh vào đâu cũng nhận được phước đức do con cháu hiếu thảo hồi hướng đến.

    Vì vậy người Phật tử không quá chú trọng đến mâm cao cỗ đầy. Rồi thù tạc linh đình trong những ngày tưởng niệm, giỗ chạp. Chủ yếu là tạo phước để hồi hướng, trao truyền hiếu đạo cho người sau.

    Bàn thờ gia tiên được lập ra để tưởng niệm, ghi nhớ ân đức sinh dưỡng của tổ tiên, ông bà. Bàn thờ gia tiên biểu trưng cho cội nguồn huyết thống. Song hành với cội nguồn tâm linh – bàn thờ Phật.

    Vật phẩm trên bàn thờ cúng tổ tiên có ăn được không?

    Người Phật tử nên biết rõ, nếu ông bà tổ tiên tái sinh ngoài cõi ngạ quỷ – quỷ thần thì không thể ăn uống hay thọ dụng những lễ phẩm dâng cúng ấy.

    Chư thiên không ăn được vì họ thấy dơ bẩn, không xứng với họ. Còn các loài trong địa ngục dù đói khát đến mấy cũng không thể thoát ngục để tới ăn uống. Chỉ riêng loài ngạ quỷ – quỷ thần là có thể ăn được đồ cúng của loài người.

    Nếu người thân của chúng ta chết rồi tái sinh làm ngạ quỷ thì cúng kiếng cho họ sẽ thọ dụng được. Nhưng hầu hết chúng ta lại không thể biết người thân của mình chết rồi tái sinh về đâu. Thành ra lễ phẩm dâng cúng ông bà tổ tiên chủ yếu nhằm thể hiện lòng thành, là bổn phận của con cháu, còn thọ dụng được hay không thì tùy nhân duyên.

    Ý nghĩa việc thờ cúng tổ tiên

    Như vậy cách thờ cúng tổ tiên là để bày tỏ tâm hiếu thảo, biết ơn và đền ơn công đức sinh dưỡng sâu nặng của cha mẹ, ông bà, tổ tiên. Truyền thống của tổ tông, gia tộc là một sợi chỉ đỏ kết nối quá khứ với hiện tại.

    Việc thờ cúng ông bà cha mẹ là để thực tiễn hóa ý niệm tri ân và báo đáp công ân dưỡng dục. Thờ cúng đồng thời cũng là cách giáo dục lòng hiếu thảo cho con cháu về sau.

    Nếu mất gốc rễ, không thờ cúng, quên dấu vết cội nguồn huyết thống là một sự vong bản, phi đạo đức. Đó là lợi ích đầu tiên của việc thờ cúng tổ tiên.

    Giáo lý đạo Phật cho cách thờ cúng tổ tiên là đề cao tinh thần hiếu đạo, kính thờ và phụng dưỡng cha mẹ mang lại phước báo lớn… với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt để trở thành nếp sống đạo đức, hiếu thảo của người Phật tử Việt hiện nay.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mâm Cúng Giỗ Tổ Nghề Nail Ngày 3 Tháng 10 Âm Lịch
  • Hướng Dẫn Làm Mâm Cúng Thôi Nôi Cho Bé
  • Chuẩn Bị Lễ Cúng Thổ Công Gồm Những Gì? Với Cách Cúng Đúng.
  • Hướng Dẫn Nghi Thức Lễ Cúng Thí Thực Tại Nhà
  • Cúng Ngày Thần Tài Thế Nào Cho Đúng?
  • Nghi Thức Tang Lễ Theo Truyền Thống Phật Giáo

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghi Thức Tổ Chức Lễ Quốc Tang
  • Tang Lễ Theo Nghi Thức Phật Giáo
  • Người Sinh 16 Tháng 4 Là Cung Hoàng Đạo Gì?
  • Sinh Ngày 16/4 Là Cung Gì
  • Sinh Ngày 16/11 Là Cung Gì?
  • Tang lễ thường gắn liền với những quy định, nghi thức, thờ cúng, kiêng cữ nhất định. Lễ tang được thực hiện theo những tập quán cổ truyền của dân tộc và thể hiện quan niệm của cộng đồng về cái chết, thế giới người chết, quan hệ giữa người chết và người sống. Có những hình thức mai táng khác nhau tuỳ tập quán của từng nơi, từng cư dân. Một nghi thức tiễn biệt người quá cố theo truyền thống Phật giáo Việt Nam qua các lễ lược như sau:

    1 – Trị quan nhập liệm: Một người mất (chết), trút hơi thở cuối cùng. Sau đó ít nhất là 4 giờ, tốt hơn hết là sau 24 giờ, được tắm rửa sạch sẽ, đưa vào một cái hòm gỗ (quan tài) bằng một nghi thức như sau: Dùng một chén nước trong, một cây đèn nến (sáp) gắn vào một cái cây gác trên một góc hòm. Vị gia trì sư dùng tam mật tương ưng (tay kiết ấn, khẩu đọc thần chú, Ý quán tưởng Phật) tẩy sạch quan tài và vật dụng tẩm liệm. Ðưa thi hài vào quan tài. Thi hài thường được mặt một chiếc áo Quan Âm (mền Quang Minh). Theo cổ tục có nơi còn bỏ gạo hay vàng ngọc vào miệng thi thể.

    2 – Phục hồn: Thiết lập một bàn thờ Linh có linh ảnh, bài vị, bát nhang. Thỉnh vong linh an vị, để cho thần thức định tỉnh nhận rõ sự việc đang phải lìa thể xác. Vì theo quan niệm thần thức của người mất lúc bấy giờ đang bơ vơ, sợ sệt, chưa ý thức được đang gặp sự việc gì. Theo cổ tục dân tộc có một bát cơm (hai chén úp một), cắm lên hai chiếc đũa và một quả trứng luộc.

    3 – Khai kinh – Tiến linh: Thiết lập bàn Phật, thỉnh Phật chứng minh và siêu độ sự ra đi của vong giả. Tụng kinh để hương linh làm tư lương hướng Phật. Khuyến tấn hương linh quy y Phật, dứt nghiệp trần lao.

    4 – Phát tang: Ðể cho bà con thân bằng quyến thuộc có cơ hội từ giả biệt luận với vong giả. Một hình thức ghi nhớ ơn đức, hiếu hạnh trong gia tộc. Ðặc biệt trong nghi thức này vị gia trì sư lại dùng tam mật tương ưng chú nguyện vào tang phục và xướng: “Ngũ phục chi nhơn các thọ kỳ phục” trao cho tang gia mặc vào người. Từ giờ phút này mới chính thức báo tang, bà con thân hữu mới thăm viếng với tư cách tang lễ.

    5 – Triêu điện: Trong thời gian chưa chôn, các lễ cúng cho hương linh gọi là “điện”. Vậy triêu điện là một lễ cúng buổi sáng gần ngày đưa đám, thường dành riêng cho bà con muốn làm một lễ cúng riêng, đọc ai điếu, lời từ biệt.

    6- Tịch điện: Lễ cúng buổi tối gần ngày đưa đám, thường giành cho con cháu nội tộc, để con cháu có cơ hội nói lên ơn nghĩa, những hình ảnh thân thương, tưởng niệm đến công hạnh của người quá cố. Còn thường ngày 3 buổi: sáng cúng trà; trưa, chiều cúng cơm dùng hình thức nghi lễ đơn giản gọi là “tiến linh”.

    7 – Triệu tổ: Lễ này thường được cử hành trước ngày di quan khoảng 2 hôm trở lại. Tang quyến thỉnh linh vị, di ảnh, bát nhang đầy đủ lễ vật đến tự đường (nhà thờ họ). Ðặt linh vị trên một cái bàn nhỏ đối diện án thờ gia tiên. Thí dụ án thờ ở phía tây, linh vị ở phía đông, con cháu tang quyến ở phía nam; cất gậy, mũ mấng đi để làm lễ cáo tổ tiên.

    8 – Sái tịnh, nhiễu quan và quy y linh: Trong lúc đại chúng đang tụng chú Ðại Bi, vị chủ sám dùng bình Cam Lồ vào tẩy tịnh quan tài, chú Ðại Bi vừa dứt, sám chủ thán: “Giác tánh viên minh, tùng lai trạm tịch; bổn lai nhơn ngã chi huyễn tướng, hà hữu sanh tử chi giả danh? Nhơn tối sơ nhất niệm sái thù, tùng mộng tưởng hữu tư sanh diệt.

    Diệt nhi bất diệt, Tằng Ðạt Ma chích lý Tây quy.

    Sanh nhi bất sanh, Nãi Thích Tôn song lâm thị tịch.

    Nhược phi nhất nhơn, hiểu liễu nan miễn tứ đại tương man,

    Cố nhơn thiên thượng, hữu luân hồi khởi phận, thử đắc vô sanh diệt.

    Kim vị tang chủ: . . . Thống duy:

    Hương hồn quyên tam xích chi xu, nhập cữu tuyền chi lộ.

    Lâm thời hoảng hốt, phách tán hồn phiêu.

    Tuy nhiên, thuận thế gian:

    Sanh viết ký, tử viết quy, bất xuất tử sanh chi nội; nãi nhược thăng vu thiên nhi giáng vu địa. Tổng quy lục đạo chi trung, u quan ảm đạm minh tiền đồ, triễn nghiệp lực na năng giải thoát.”

    Thỉnh linh yết Phật qui y, thuyết linh.

    9 – Cáo đạo lộ: Lễ này thường nhờ một người hộ tang đứng cúng, được cử hành trước một hôm đưa đám, đặt bàn cúng trước cữa ngõ, ý nghĩa xin hộ đàng cho đám táng được yên ổn thuận lợi. Có gia đình tổ chức lễ cúng thí thực và phóng sanh nữa.

    10 – Khiển điện: Lễ này cúng trước khi di quan, thường dành cho bằng hữu tỏ bày tâm sự, tình cảm với hương linh qua điếu văn.

    11 – Di quan (động quan): Lễ di chuyển quan tài đi chôn hay hỏa táng, một lễ có nhiều xúc động nhất. Trong lễ này Gia trì sư thường đội nón Tỳ Lư và cầm tích trượng để hướng dẩn hương linh. Sau nghi thức cúng cấp xong, Gia trì sư xướng: – Cung thối, thỉnh bổngg danh sanh, thần vị, linh ảnh thăng xa.

    Triệt linh sàng.

    Thán: Quy khứ lai hề quy khứ lai,

    Tây phương tịnh độ bạch liên khai.

    Nhất trận hương phong xuy hốt đáo,

    Hương linh thừa thử bộ kim giai.

    Ngưỡng bạch Di Ðà từ bi phóng quang tiếp độ.

    Nam mô tiếp dẫn đạo sư A Di Ðà Phật.

    12 – Tế độ trung: Cúng giữa đường, lễ này với ý nghĩa: Trước tiên vì đường sá xa xôi, nghỉ xả hơi cho âm công (người gánh đám) lấy sức, đãi đằng ăn uống. Thứ đến để cho con cháu có dịp lễ lạy tỏ lòng hiếu thảo trong lúc nghỉ giải lao.

    13 – Trị huyệt: Một lễ làm tinh sạch huyệt, trước khi hạ quan tài.

    Sái tịnh, trị quan, trị huyệt với ý nghĩa dùng nước Cam lồ làm tinh sạch nơi chỗ để xếp đặt thi thể, hay nơi thờ cúng. Còn có nghĩa chúng sanh nào đang ẩn trú vào nơi ấy xin đi nơi khác.

    14 – Tạ thổ thần: Lễ khấn vái thổ thần và những hương linh của những ngôi mộ chung quanh. Nay có huơng linh. . . cùng chung cư trú tại địa phận này.

    15 – Nhiễu mộ: Lễ này cử hành sau khi an táng xong; bái biệt hương linh, tạ chư Tăng, và quan khách đi dự đám táng.

    16 – An linh: Khi về đến nhà, chùa, an vị hương linh để hương khói thờ phụng. Ngày trước đưa về nhà, phải thiết bàn thờ riêng trong hai năm hoặc ít nhất là 100 ngày, sau mới được nhập vào bàn thờ chung với tổ tiên. Ngoài ra còn có lễ đề phan vị, đề thần chú, lễ khai môn (mở cửa mã): sau khi chôn ba ngày làm lễ khai môn để hương linh được phép ra vào.

    Ngày trước vấn đề tang chế được xem rất quan trọng nên việc để tang được ấn định rõ ràng từng cấp phải để tang như thế nào, bao lâu đã được ghi trong sách Thọ Mai. Nên có rất nhiều lễ xã tang vào các thời kỳ như: bách nhật, một năm, hai năm, ba năm…

    Trong nghi xả tang có các điểm trọng yếu như sau:

    Sái tịnh: Người thọ tang quỳ trước bàn linh, Gia trì sư rãi nước Cam Lồ, lấy kéo cắt tượng trưng đồ tang hay lấy khăn tang xuống.

    Xướng: Ngũ phục chi nhơn, cát tựu trừ phục.

    Tán hay tụng:

    Giải kết, giải kết, giải oan kết,

    Giải liễu tiền sanh an hòa hiệp,

    Tẩy tâm địch lự phát kiền thành

    Cung đối án tiền cầu giải kết.

    Nam mô Giải oan kết Bồ Tát (3 lần)

    Sau này thời gian bận rộn, cuộc sống vội vàng, không cho phép làm đám lâu ngày; Ðể phù hợp với nếp sống, chỉ còn một vài nơi như ở Huế còn giữ cổ lệ lễ lược như xưa, còn đại đa số nghi lễ được giản lược. Thông thường được gom lại làm các lễ chính như sau:1 – Phát tang, 2 – Cầu siêu, 3 – Lễ táng (hỏa táng hay thổ táng). Việc ứng xử tùy theo hoàn cảnh và thời gian, gộp lại như vậy xem ra cũng gọn nhẹ về phần bày biện. Nhưng có nơi không giữ được ý nghĩa của cuộc lễ: Ba buổi lễ xem như giống nhau, trước bàn Phật, bàn linh, bài bản xướng tán không rõ rệt; đơn điệu, không diễn tả được nghi lễ đích thực nói lên hết ý nghĩ chư tôn cổ đức đưa ra nêu cao việc hiếu hạnh của con người.

    Chúng tôi có cơ hội tham gia lễ lược giúp quý thầy, quý gia đình thân hữu: ở Huế trước và sau 1975 (quy y với thượng tọa Thích Ðôn Hậu năm1956, sinh hoạt khu vực chùa Ba La, Phú vang); ở Sàigòn (Gò vấp- Bình thạnh) trong đạo tràng Từ Quang thuộc chùa Vạn Hạnh (Hoà thượng Thích Minh Châu) từ 1984-1994, ở nam Cali trong ban hộ niệm chùa Bát Nhã (Thượng tọa Thích Nguyên Trí) tứ 1995-2002. Có lúc có thầy nhiều hệ phái khác nhau, có lúc vì hoàn cảnh, thời thế khó khăn không có thầy, nhất là vùng thôn quê hẻo lánh. Hơn nữa qua giao thiệp bạn bè khác tôn giáo, chúng tôi cũng có dịp tham dự lễ táng của các tôn giáo bạn như: Thiên chúa giáo mặc dù việc làm lễ mới vay mượn phong tục tập quán Việt Nam sau này, nhưng các nhà thờ làm khá đồng nhất hài hòa. Nhất là Tin Lành mới đây làm theo trào lưu, nhưng sự sắp xếp khá đồng bộ. Trong lúc Phật giáo chúng ta, phải nói là thừa kế một rừng nghi thức, đơn có, kép có, lễ nhạc có. Chúng ta bình tâm nhận xét lối hành lễ mỗi đám một khác không đồng bộ, hài hòa, trong cộng đồng nhất là giới trẻ khó tiếp thu.

    Thiết nghĩ đã đến lúc chúng ta nên chấn chỉnh cung cách cử hành tang lễ. Nắm vững các nét đặt trưng của tang lễ, giữ mối đạo, thu phục nhân tâm. Một tang lễ phải bao gồm các lễ chính như sau:

    1 – Phát tang:

    a/ Khai kinh bạch Phật: Thiết bàn Phật, cung kính, nghiêm trang. khấn nguyện rõ ràng.

    b/ Trị quan nhập liệm: Ấn chú nghiêm minh, tẩy tịnh kỹ lưỡng với ý niệm lấy nước Cam lồ rửa sạch ô uế hoặc mời những chúng sanh nào còn ẩn trú trong quan tài xin lui ra.

    c/ Phục hồn, thành phục: Thiết bàn linh, thỉnh linh an vi, trong lúc này thần thức hương linh rất nhạy bén, nhưng rất sợ hải và dễ bị sân hận. Quy cách mặc đồ tang, chỉ cho tang quyến hiểu rõ ý niệm hiếu thảo qua cách để tang, cúng cơm.

    2 – Cầu siêu:

    a/ Sái tịnh: Gia trì sư làm phép tẩy tịnh quan tài lần này với ý nghĩa rửa sạch trần lao. Thán: Nhắc nhở hương linh ý thức sự sanh tử chỉ là giả tướng, không nên lưu luyến huyễn cảnh trần lao nữa. Nên thuận thế gian, nghiệp lực, phát tâm quy hướng Phật.

    b/ Thỉnh linh quy y: Thỉnh bát nhang, linh ảnh qua bàn Phật đảnh lễ và quy y, thuyết linh nhiễu quan, hoàn cựu sở.

    c/ Tịch điện: Cúng cơm tối, con cháu dâng điếu văn cảm niệm.

    3 – Lễ táng:

    a/ Khiển điện, di quan: Cúng cơm, đọc điếu văn bằng hữu, hội hè. Làm lễ di quan.

    b/ Trị huyệt, nhiễu mộ: Làm lễ trị huyệt, hạ quan tài, nhiễu mộ, lời cám ơn. Nếu hỏa táng tụng kinh kỳ siêu .

    c/ An linh: Sau khi chôn hay làm lễ hỏa táng xong, thỉnh bát nhang, linh ảnh về chùa hay nhà, an linh để hương khói thờ phụng ít nhất trong vòng 7 tuần lễ.

    Qua thời gian, hoàn cảnh và nếp sinh hoạt hiện nay đã hình thành 3 lễ chính như trên. Có nhiều thời gian kéo dài thì làm lễ từng mục một. Thông thường tang lễ 3 ngày thì làm thứ tự như trên. Nếu thời gian bức bách vội vàng trong một ngày, một buổi thì nắm những ý chính châm chước để hoàn thành tang lễ.

    Thực ra tang lễ ngày xưa rất rõ ràng chi tiết, có từng nghi thức, sớ điệp, tán thán thâm hậu, thống thiết. Nhưng với mục đích ứng phó đạo tràng, qua thời gian tôi xin ghi lại những điều cần thiết phải làm cho phù hợp với nếp sống ngày nay. Nếu khi không có Thầy, cư sĩ theo nghi thức rút gọn cũng có thể giúp nhau trong tang lễ.

    Những nghi lễ, hoạt động, ứng xử đối với người chết. Tang lễ được thực hiện theo những tập quán cổ truyền của dân tộc và thể hiện quan niệm của cộng đồng về cái chết, thế giới người chết, quan hệ giữa người chết và người sống. Dân tộc nào cũng coi tang le là việc rất hệ trọng.

    Có những hình thức maitang khác nhau tuỳ tập quán của từng nơi, từng cư dân. Theo đó, tử thi được chôn xuống đất hay trong hang (địa táng), chôn xuống nước (thuỷ táng), đặt lộ thiên trên cây hay giàn cao (thiên táng), thiêu đốt (hoả táng). Ngoài ra còn có tục ướp xác. Về chôn cất, có mồ cá nhân, mồ tập thể. Khi chôn cất, người ta thường chôn theo các vật tuỳ táng. Căn cứ vào đó có thể suy đoán về sự phân hoá xã hội, về văn hoá tộc người, vv. Khâm liệm người chết cũng có nhiều cách: dùng cói chiếu, vải lụa,… Quan tài nhiều loại: gỗ, kẽm…, hình chữ nhật, hình thuyền, có khi chôn cất trong chum, vò. Vua chúa quan lại cao cấp, người giàu có thì trong quan, ngoài quách. Ở nhiều dân tộc, có tục để tang người chết một thời gian dài hay ngắn rồi mới kết thúc việc ma chay. Có nơi dựng nhà mồ với các tượng gỗ mộc mạc, sinh động (Tây Nguyên). Tuỳ theo tập tục, có nơi chỉ chôn một lần, có nơi sau một thời gian phải cải táng.

    Tang lễ thường gắn liền với những quy định, nghi thức, thờ cúng, kiêng cữ nhất định và cả việc chu cấp thức ăn nước uống cho người chết. Thường có sự khác biệt giữa tangle người chết bình thường và tangle người chết không bình thường (bất đắc kì tử). Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây, nhất là ở thành phố Hà Nội đã bắt đầu thực hiện hình thức đốt xác ở Đài hoá thân hoàn vũ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguồn Gốc, Ý Nghĩa Ngày Vía Thần Tài Mùng 10 Tháng Giêng
  • Luận Giải Ý Nghĩa Cung Tài Bạch Trong Tử Vi
  • Sao Thái Âm Tọa Cung Mão, Là Người Được Quý Nhân Phù Trợ
  • Sao Thái Dương Tọa Cung Mão, Hào Phóng Và Sung Túc.
  • Sao Thái Dương Trong Lá Số Tử Vi Là Gì?
  • ‘oan Gia Trái Chủ’ Theo Quan Điểm Phật Giáo

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Lễ Vật Cúng Ông Công Ông Táo Trong Ngày 23 Tháng Chạp
  • Những Lễ Vật Tuyệt Đối Không Được Thiếu Khi Cúng Ông Công Ông Táo Trong Năm 2022
  • Năm 2022 Nên Cúng Ông Công, Ông Táo Vào Ngày Nào Là Tốt Nhất
  • Cúng Ông Công Ông Táo 2022: Văn Khấn, Sắm Lễ, Ngày…
  • Mâm Cỗ Cúng Ông Công Ông Táo 2022 Đầy Đủ Theo Nhà Nghiên Cứu Văn Hóa
  • Mỗi chúng ta từ vô thỉ cho đến nay, do vô minh tạo nghiệp nên có rất nhiều Oan Gia, làm ma chướng. Người không học Phật, không biết hóa giải oán thù, vì vậy oan oan tương báo khổ không kham nổi.

    Oan Gia Trái Chủ là gì?

    Kiếp trước, nếu bạn sát sinh, hại người thì một kiếp nào đó khi đủ duyên họ sẽ quay trở về để báo thù. Đó gọi là Oan Gia Trái Chủ. Nhà Phật dạy, trong gia đình cha mẹ, anh em, vợ chồng, con cháu… tất cả là có duyên rất lớn trong tiền kiếp nên mới tìm về để sống chung một nhà, chứ không phải là ngẫu nhiên. Con cháu ta cũng vậy, được đầu thai vào gia đình ta với 2 mục đích sau:

    Một là, báo ơn: Vì tiền kiếp nó và ta đã gặp nhau. Nhưng không nhất thiết chỉ trong quan hệ cha mẹ, con cháu… trong phạm vi gia đình, và ta đã từng cứu giúp, thương yêu nó. Hay chỉ vì một lời thề nguyện nào đó nên lần này do nhân duyên hội đủ nên liền về đầu thai vào nhà để trả lại cái ơn đó cho ta. Những đứa trẻ trường hợp này lớn lên sẽ rất ngoan hiền và hiếu thảo.

    Hai là, cũng như trên nhưng ở tình huống ngược lại là nó về để trả thù hay báo oán vì trước đây ta đã từng hại nó. Những đứa con này thường rất ngỗ nghịch, phá tan nhà nát cửa mà chính nó và gia đình cũng không hay biết. Nếu đã biết đạo lý này thì không nên oán trách mà phải thầm sám hối, thông cảm và dần khuyên bảo thì sự việc thường sẽ kết thúc tốt đẹp. Đức Phật dạy, oán cần phải cởi, không nên kết. Nếu lấy ân báo oán thì oán kia liền được cởi. Nếu lấy oán báo oán thì oan oan tương báo không biết kiếp nào mới xong. Không hiểu rõ đạo lý này thì thật là đáng tiếc.

    Ngày nay, do không hiểu biết về đạo lý Oan gia Trái chủ này nên có nhiều người đã phá thai thì sự việc mang lại hậu quả rất lớn. Vì trong cả hai trường hợp trên, trường hợp thứ nhất là con cháu về báo ơn ta mà ta lại giết hại nó thì ân liền bị kết thành oán. Thật là thảm thương và quá oan uổng. Trường hợp thứ hai, là nó về báo thù mà ta giết hại nó một lần nữa thì oán thù thêm chồng chất. Chúng ta hãy khuyên con cháu, bạn bè mình phải hết sức thận trọng để không phạm vào điều này. Nếu không, phiền phức sẽ rất lớn, cả đời này và có thể nhiều kiếp về sau sẽ vô cùng lao đao, lận đận với quả báo này.

    Thực tế cho thấy, đôi lúc trong gia đình đông con, ta vẫn thấy có đứa rất ngoan hiền, lại có đứa rất khó bảo, đôi khi lại còn rất ngỗ nghịch, cố tình phá hoại, gây nhiều phiền não cho ta. Trường hợp phá thai, nếu đã lỡ lầm rồi thì cũng có cách hoà giải bằng cách là đoạn ác tu thiện và tu tạo nhiều công đức để hồi hướng, nhưng hiệu quả là không cao, đòi hỏi ta phải thật sự biết ăn năn sám hối và thành tâm mà làm thì mới mong có được hiệu quả. Kinh Địa Tạng cũng có dạy những cách làm rất hay. Kể cả cách làm ngay từ khi ta biết mình mang thai em bé, sao cho biến oán thành ân, hay có thể sẽ giúp tiêu trừ nghiệp chướng cho bé. Sinh ra, đứa bé thường rất dễ nuôi, lớn lên sẽ ngoan hiền, hiếu thảo và thành người có ích. Kinh Trường Thọ Diệt Tội Hộ Chư Đồng Tử Đà-la-ni cũng nói về quả báo khốc liệt của sự phá thai và một số nguyên nhân của bệnh tật.

    Hiểu được đạo lý này rồi gia đình bạn sẽ càng hiểu nhau, biết thông cảm và thương yêu nhau hơn, hoá thù thành bạn, biến oán thành ân. Gia đình sẽ hoà thuận một cách rất dễ dàng. Chúng ta hãy tin, việc hiểu biết và áp dụng Phật pháp vào thực tiễn cuộc sống hằng ngày sẽ mang lại lợi ích to lớn, thiết thực không thể nghĩ bàn.

    Gặp oan gia trái chủ, hãy đến Tam Bảo sám hối

    Hiện nay, một số gia đình có tình trạng là một người phát tâm đi chùa và tu hành nhưng người khác lại ngăn cản. Nếu gặp nghịch cảnh này, ta liền nghĩ đến đó có thể là Oan Gia Trái Chủ của mình. Vì có thể kiếp trước ta đã từng ngăn cản họ tu hành nên lần này cản lại mà chính họ cũng không biết. Nhận thức được việc này rồi, ta không cần phải lo lắng nữa mà hãy đến trước Tam Bảo bộc bạch và sám hối. Đồng thời làm nhiều việc thiện lành và tu hành tinh tấn hơn để hồi hướng công đức ấy cho người mà ta muốn hoá giải. Điều tối quan trọng là phải tuyệt đối giữ bí mật với đối phương thì mới có hiệu quả.

    Điều quan trọng là chúng ta phải biết nhẫn nhục, kiên trì để dìu dắt cho cả gia đình cùng đi theo một chí hướng thì mọi việc sẽ trở nên thuận duyên ở hiện tại và cho ngày vị lai của mình.

    Ra đường cũng vậy! Đã khi nào ta gặp một người chưa hề quen biết trừng trợn, gây gổ hay chửi mắng vô cớ chưa? Có thể đây chính là Oan Gia Trái Chủ. Gặp trường hợp này thì ta chỉ cần âm thầm niệm”A Di Đà Phật” trong tâm là có thể hoá giải. Không cần phải hơn thua, không cần phải cau có cãi lại. Cứ như vậy mà làm thì ngay trong kiếp này ta có thể sẽ trả được rất nhiều món nợ. Hãy thường quán về Nhân Quả và thầm nghĩ: “Người khác không có lỗi, lỗi là ở chính mình”.

    Hơn nữa, hiểu về đạo lý Oan Gia Trái Chủ, chúng ta sẽ biết ăn năn hối cải hơn về những việc sai lầm, tội lỗi của mình, từ đó mà phát tâm sám hối. Lục Tổ có dạy rất rõ về Sám Hối trong Kinh Pháp Bảo Đàn: “Sám là sám những lỗi về trước, từ trước có những nghiệp ác do vô minh, các tội thảy đều sám, nguyện một thời tiêu diệt và không bao giờ khởi lại những niệm ấy, tội ấy. Đó gọi là sám. Hối là hối những lỗi về sau, nay đã giác ngộ nên không bao giờ phạm lại. Người phàm phu, mê muội chỉ biết sám lỗi trước mà chẳng biết hối lỗi sau. Do vì không hối nên tội trước chẳng diệt, lỗi sau lại sinh. Như vậy thì chưa gọi là sám hối được”.

    Đức Phật dạy, có hai hạng người dũng mãnh: “Một là, không bao giờ phạm lỗi. Hai là có lỗi nhưng biết ăn năn và sửa chữa”. Và Đức Phật cũng đã từng tán thán hai hạng người sau: “Một là, từ sáng vào sáng. Hai là, từ tối vào sáng”.

    Và bên cạnh sám hối cho riêng mình, chúng ta cũng cần phải hướng dẫn tất cả mọi người cùng sám hối và cầu mong họ đừng gây nên tội lỗi để rồi phải gánh chịu quả báo khổ đau nữa. Đó mới là siêu đẳng của sám hối!

    Khai thị và hộ niệm người lúc lâm chung

    Oan Gia Trái Chủ còn có một khía cạnh khác nữa là do ta đã từng sát sinh, hại người. Đợi đến lúc lâm chung, thập tử nhất sinh những oan hồn chưa siêu thoát ấy mới quay về để đòi nợ. Thực tế cho thấy, cũng có người do ít Oan Gia nên ra đi nhẹ nhàng như một giấc ngủ, da thịt vẫn đỏ tươi, thân hình mềm mại. Bên cạnh đó cũng có người chết với nét mặt rất khủng khiếp, hoặc trước khi chết kêu nói như súc vật. Có người lại nằm bệnh trên giường, ăn uống như đời sống thực vật, đại tiểu tiện một chỗ, muốn sống không được mà muốn chết cũng không xong. Tình trạng này có thể kéo dài rất nhiều năm, khiến cho thân tâm chính họ và người thân rất đau đớn và khổ sở. Thường những bệnh này là do nghiệp lực nên y học rất khó chữa hết mà chỉ còn cách y theo Phật pháp để tự sám hối, giải nghiệp cho mình. Nghiệp hết thì bệnh sẽ giảm. Trong những tình huống này, nếu gặp bậc chân tu, nghiêm trì giới luật khai thị và hoà giải Oan Gia Trái Chủ thì thường một trong hai khả năng có thể sẽ xảy ra: Nếu thọ mạng còn thì bệnh hết, sẽ mau chóng khoẻ lại. Hai là, nếu thọ mạng đã hết thì sẽ ra đi rất nhanh chóng, nhẹ nhàng.

    Do vậy, hiện nay có một số chùa đã xây dựng Phòng Vãng Sinh hay lập ra Ban Hộ Niệm là vì mục đích này. Những phút giây cuối cùng của cuộc đời mà gặp được Quý Thầy hay Thiện Trí Thức khai thị là điều thật may mắn. Ban Hộ Niệm sẽ đến tận nhà để Khai thị và Hộ niệm giúp. Khai thị là nói cho chúng ta biết quy luật sinh tử là vô thường và tất yếu. Chết chỉ là một sự thay đổi báo thân, chứ thực sự thì không có chết. Làm chúng ta yên tâm hơn, không còn phải sợ cái chết nữa. Vì biết ngay khi xả bỏ báo thân này, mình có chỗ tốt hơn để đi.

    Khai thị là chỉ ra cho chúng ta biết Đại Nguyện cốt tuỷ thứ 18: “Mười niệm được vãng sinh” trong Kinh Vô Lượng Thọ là vô cùng thù thắng. Kinh Quán Vô Lượng Thọ cũng nói về đạo lý khai thị. Khai thị là chỉ chúng ta biết buông xuống vạn duyên để nhất tâm niệm Phật và nguyện cầu Đức Phật A Di Đà hiện ra tiếp dẫn. Phút lâm chung việc giữ được chánh niệm để niệm Phật, tâm không tán loạn là rất cần thiết. Kinh dạy, tâm không tán loạn, đầy đủ Tín Nguyện, liền thấy Đức Phật A Di Đà cùng chư Bồ-tát và Thánh chúng hiện ra tiếp dẫn vãng sinh Cực Lạc. Vì vậy, người khai thị rất quan trọng.

    Việc làm này của Ban Hộ Niệm là xuất phát từ tâm chân thành. Chỉ có một điều tối quan trọng là nếu đã mời Ban Hộ Niệm đến nhà thì gia đình phải tuyệt đối tin tưởng và nghe theo lời hướng dẫn của Ban Hộ Niệm thì mới mong có hiệu quả.

    Thực tế cho thấy, gần đây rất nhiều ca hộ niệm, nhất là đối với những căn bệnh nan y như ung thư rất thành công. Sau khi Ban Hộ Niệm trợ giúp gia đình để làm lễ hoà giải Oan Gia Trái Chủ, thành tâm sám hối, phóng sinh, làm các công đức hồi hướng và niệm Phật. Nếu thọ mạng hết, người bệnh sẽ ra đi thanh thản nhẹ nhàng. Thọ mạng còn thì bệnh sẽ hết và khoẻ lại. Vì nếu nhất tâm niệm Phật thì trong tâm niệm Phật đã có đầy đủ vô lượng công đức không thể nghĩ bàn. Nói “Niệm Phật là tội diệt, phước sinh” cũng là nhờ như vậy! Chỉ có điều là mọi người chịu tin và thành tâm mà làm hay không.

    Tuy vậy, mười niệm không phải dễ làm trong lúc cơ thể đau đớn. Các cảnh giới thiện ác đồng thời sẽ hiện về. Do đó, đòi hỏi chúng ta phải có công phu tu tập và niệm Phật từ lúc còn khoẻ. Hơn nữa, những phút cuối cuộc đời không dễ gì tìm được Thiện Tri Thức hay Ban Hộ Niệm đến khai thị. Nếu được như vậy thì gia đình này cũng đã từng gieo trồng căn lành từ nhiều đời nhiều kiếp với Tam Bảo rồi, không phải là điều ngẫu nhiên mà có được duyên lành thù thắng ấy.

    Về gia đình, cũng nên hiểu rằng, tuy người thân đã tắt thở, nhưng theo Duy Thức thì các dây thần kinh vẫn hoạt động ít nhất tám giờ sau mới thật sự chết. Do vậy, không được vội vàng đụng chạm cơ thể như thay áo quần, lo hậu sự. Vì nếu là người ít định lực, không có nguyện gì (vãng sinh hay hiến xác…) thì sẽ vô cùng đau đớn nên nổi sân, có thể đọa súc sinh. Phải giữ trong nhà thật thanh tịnh, không khóc than, nói chuyện ồn ào. Lúc này, nên tập trung niệm Phật A Di Đà cho đến ít nhất 8 giờ sau mới thay đồ và lo hậu sự. Được vãng sinh về cõi Phật thì cơ thể sẽ mềm mại, hoả thiêu thường sẽ có xá lợi.

    Nếu chỗ nào cứng thì dùng khăn tẩm nước ấm lau qua sẽ mềm trở lại. Nếu được trợ lực hộ niệm tốt thì ít khi cơ thể bị cứng mà thường trở nên mềm mại. Nếu thấy cần, kiểm tra hơi ấm cơ thể cũng biết được nơi tái sinh của người thân. Duy Thức học nói, nếu ấm nơi đỉnh đầu, sinh về cõi Phật, Thánh. Mắt là cõi Trời, ngực là người, bụng là ngạ quỷ, dưới chân trở xuống là súc sinh và nơi bàn chân là địa ngục.

    Việc kiểm tra hơi ấm cũng nên nhờ người có đức hạnh, trì chay, giữ giới kỹ và chân tu thì từ lực sẽ tốt hơn. Và giữ ít nhất cho đến tuần thất 49 ngày gia đình không được sát sinh hay cúng, đãi mặn. Vì người thân, gia đình nên phát tâm ăn chay suốt 49 ngày thì công đức rất lớn cho cả kẻ còn, người khuất.

    Quảng Huy

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lễ Oan Gia Trái Chủ
  • Lễ Oan Gia Và Trái Chủ
  • Cách Sắm Lễ, Bài Cúng Dâng Sao Giải Hạn Rằm Tháng Giêng Giải Vận Hạn
  • Cúng Sao Giải Hạn Ngày Rằm Tháng Giêng: Cách Sắm Lễ Và Thời Gian Cúng Chuẩn Nhất
  • Chuyển Đến Nhà Mới Thuê Có Cần Làm Lễ Nhập Trạch Không
  • Các Ngày Lễ Phật Giáo Trong Năm (Theo Âm Lịch)

    --- Bài mới hơn ---

  • Bí Quyết Để Có Một Buổi Lễ Khai Trương Công Ty Hoàn Hảo
  • Hướng Dẫn Lập Bàn Thờ Thần Tài Thổ Địa Chuẩn Để Hút Tài Lộc Vào Đầy Nhà
  • Hỏi Đáp 5. Lấp Giếng
  • Các Nghi Lễ Cần Thiết Tuyệt Đối Không Được Bỏ Qua Khi Xây Nhà
  • Thủ Tục Chuộc Nhà Khi Mượn Tuổi Chính Xác Nhất Cho Gia Chủ
  • Các ngày Lễ Phật giáo trong năm (theo Âm lịch)

    Trong quá trình phát triển, tuy Phật giáo được phân chia thành nhiều hệ phái và tông phái khác nhau, nhưng những ngày lễ lớn của Phật giáo vẫn được duy trì, được tổ chức trọng thể trong từng quốc gia theo đạo Phật, đặc biệt là một số quốc gia xem Phật giáo là quốc giáo.

    Trước đây, những quốc gia theo Phật giáo đều tổ chức lễ Phật đản vào ngày rằm tháng tư âm lịch. Trước năm 1963, ở Việt Nam, Phật giáo Bắc tông tổ chức lễ Phật đản kéo dài từ mồng 8 tháng 4 đến rằm tháng 4. Từ sau năm 1975, ngày lễ Phật đản ở Việt Nam được chính thức tổ chức vào ngày rằm tháng tư, cũng là ngày mở đầu cho mùa an cư kiết hạ của các tăng ni theo Phật giáo Bắc tông.

    Theo kinh điển của Phật giáo Nam tông, ngày đức Phật đản sinh, thành đạo và niết bàn đều diễn ra vào ngày trăng tròn. Ngoài đại lễ mừng Phật đản sinh, trong năm từng hệ phái còn có ngày đại lễ riêng.

    Đối với Phật giáo Nam tông, lễ hội rằm tháng giêng, rằm tháng tư, rằm tháng sáu, rằm tháng bảy và rằm tháng chín có ý nghĩa lớn. Lễ hội rằm tháng giêng có hai ý nghĩa chính: Đức Phật tuyên hứa và khẳng định với Ma vương ba tháng nữa sẽ nhập niết bàn, là ngày đại hội thánh tăng tại Trúc Lâm tịnh xá (Ấn Độ) Phật thuyết pháp cho 1.250 vị tỳ kheo.

    Lễ hội rằm tháng tư của Phật giáo Nam tông kỷ niệm ngày Phật đản sinh. Đây là ngày trọng đại của Phật giáo trên thế giới và của Phật giáo Nam tông, kỷ niệm một lúc ba sự kiện Bồ tát đản sinh, Bồ tát thành đạo và Phật nhập niết bàn.

    Lễ hội rằm tháng sáu là ngày Phật giáo Nam tông mở đầu mùa an cư kiết hạ, đánh dấu những sự kiện quan trọng trong cuộc đời và sự nghiệp đạo pháp của Đức Phật.

    Lễ hội rằm tháng bảy là ngày Phật giáo Nam tông tổ chức lễ Vu lan báo hiếu nhưng theo nghi thức của Nam tông.

    Lễ hội rằm tháng chín đối với Phật giáo Nam tông là ngày mãn mùa an cư kiết hạ, là khởi điểm mùa dâng y Kathina trong vòng một tháng, từ 16.9 đến 15.10 âm lịch. Ngày này, Phật tử chuẩn bị vật phẩm cúng dường cho chư tăng. Tăng sĩ vui mừng vì ngày này đánh dấu thêm một tuổi đạo. Trong ngày này, tăng sĩ cũng nói rõ những sai lầm, khuyết điểm của mình, trước sự chứng minh của chư tăng để sám hối. Đây là hình thức sinh hoạt tốt đẹp, thể hiện tinh thần tập thể góp ý, phê bình. Cá nhân tiếp thu ý kiến và sửa đổi, không tái phạm.

    Lễ nghi của Phật giáo Bắc tông và Nam tông cũng có sự khác biệt.

    Phật giáo Nam tông có chín nghi thức hành lễ riêng biệt quan trọng như: nghi thức Quy y và thọ giới, nghi thức thờ Phật, nghi thức tụng kinh, nghi thức sám hối, nghi thức trai tăng, nghi thức thuyết pháp, nghi thức hành thiền, nghi thức khất thực, nghi thức hôn nhân.

    Lễ nghi của Phật giáo Bắc tông có khác biệt, do không chủ trương đi khất thực và trong thờ phụng, do có quan niệm, ngoài thờ Phật còn có các vị bồ tát, các thần linh cần được sự hỗ trợ, nên nghi lễ trong Phật giáo Bắc tông có lễ cúng dành cho các vị bồ tát, cho những oan hồn uổng tử, không có thân nhân cúng bái. Mỗi chiều từ 16 giờ đến 17 giờ mỗi chùa theo hệ phái Bắc tông đều có buổi lễ cúng Môn Sơn thí thực dành cho cho những người này. Trong chùa còn có các nghi lễ như lễ Chúc tán (ca ngợi Phật và các bồ tát), lễ Bố tát (đọc giới luật cho những người thọ giới nghe), lễ Tự tứ (kiểm điểm trước tăng chúng)…

    Nhìn chung, những ngày lễ lớn và những nghi lễ chính của Phật giáo là những sinh hoạt Phật giáo mang tính chung nhất trên thế giới, tuy có một ít khác biệt theo hệ phái Bắc tông và Nam tông, đã tồn tại hàng ngàn năm nay, tạo cho Phật giáo một sức sống bền bỉ, vững chắc.

     

    THÁNG GIÊNG

     

    Ngày mùng 1

    Ngày Đức Phật Di-lặc đản sanh; ngày tu tập và làm phước của toàn thể Phật tử, theo Bắc tông.

    Ngày rằm

    Theo Nam tông, đây là ngày Pháp Bảo (Māghapūjā), kỷ niệm Đức Phật nói Kinh Giải Thoát Giáo (Ovādapāṭimokkha) và là ngày Đức Phật tuyên bố sẽ viên tịch. – Theo Bắc tông, ngày rằm thượng ngươn này là ngày lễ hội lớn, tu tạo các công đức.

    Ngày 22

    Tổ Thập Tháp (tức tổ Phước Huệ), Chứng Minh Đạo Sư, Hội Phật giáoTrung Phần, viên tịch.

    Ngày 30

    Tổ Khánh Anh, Pháp Chủ Tăng-già Việt Nam, nhiệm kỳ 2, viên tịch.

    THÁNG 2

     

    Ngày mùng 8

    Ngày Đức Phật Thích-ca Mâu-ni xuất gia, theo Bắc tông. – Vía tôn giả A-nan-đa , theo Bắc tông.

    Ngày rằm

    Ngày Đức Phật Thích-ca Mâu-ni nhập diệt, theo Bắc tông.

    Ngày 19

    Vía Đức Bồ-tát Quán Thế Âm, theo Bắc tông.

    Ngày 21

    Vía Đức Bồ-tát Phổ Hiền, theo Bắc tông.

    THÁNG 3

     

    Ngày 02

    Hòa thượng Thích Trí Thủ, ngày 02 tháng 4 năm 1984

    Ngày 16:

    Vía Đức Bồ-tát Chuẩn-đề, theo Bắc tông.

    THÁNG 4

     

    Ngày mùng 4

    Vía Đức Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi.

    Ngày mùng 8

    Ngày Đức Phật Thích-ca Mâu-ni đản sanh và ngày lễ tắm Phật, theo Bắc tông.

    Ngày rằm

    Theo Nam tông, đây là ngày Đại Lễ Tam Hợp hay còn gọi ngày Phật Bảo(Visākhapūjā) kỷ niệm ba sự kiện trọng đại của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni: đản sinh, thành đạo và viên tịch. Từ năm 1956, Phật giáo thế giới chọn ngày này làm ngày tưởng niệm đức Phật giáng sanh.

    Ngày 16

    Ngày an cư kiết hạ của Tăng Ni, truyền thống Bắc tông.

    Ngày 20

    Ngày Bồ-tát Thích Quảng Đức vị pháp thiêu thân (nhằm ngày 11-6-1963)

    THÁNG 6

     

    Ngày rằm

    Theo Nam tông, đây là ngày Đức Phật chuyển Pháp Luân tại Lộc Uyển, và là ngày an cư kiết hạ của chư Tăng, Nam tông. – Ngày Đại đức Thích Nguyên Hương vị pháp thiêu thân (nhằm ngày 4-8-1963)

    Ngày 19

    Vía Đức Bồ-tát Quán Thế Âm, theo Bắc tông. – Vía tổ Khánh Hoà, tổ thứ nhất của phong trào chấn hưng Phật giáo miền Nam.

    Ngày 24

    Ngày Đại đức Thích Thanh Tuệ vị pháp thiêu thân (nhằm ngày 13-8-1963)

    Ngày 26

    Ngày Sư Cô Thích Nữ Diệu Quang vị pháp thiêu thân (nhằm ngày 15-8-1963)

    Ngày 27

    Ngày Đại đức Thích Tiêu Diêu vị pháp thiêu thân (nhằm ngày 16-8-1963)

    Ngày 13

    Vía Đức Bồ-tát Đại Thế Chí.

    Ngày rằm

    Ngày Tự tứ và Mãn hạ của Tăng Ni, cũng là ngày dâng cúng y công đức, và ngày đại lễ Vu-lan-bồn hay còn gọi là ngày báo hiếu công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ, theo Bắc tông.

    Ngày 30

    Vía Đức Bồ-tát Địa Tạng Vương.

    THÁNG 9

     

    Ngày mùng 2

    Ngày Đại đức Thích Quảng Hương vị pháp thiêu thân (nhằm ngày 5-10-1963).

    Ngày 11

    Ngày Đại Đức Thích Thiện Mỹ vị pháp thiêu thân (nhằm ngày 27-10-1963).

    Ngày rằm

    Ngày Mãn hạ và dâng y công Đức (Kathina) hay còn gọi là ngày Tăng Bảo, theo Nam tông.

    Ngày 19

    Vía Đức Bồ-tát Quán Thế Âm, theo Bắc tông.

    Ngày 30

    Vía Đức Phật Dược Sư.

    THÁNG 11

     

    Ngày mùng 1

    Tổ Huệ Quang, Pháp Chủ GHPGVN, nhiệm kỳ I, viên tịch.

    Ngày 17

    Vía Đức Phật A-di-đà, theo Bắc tông.

    THÁNG CHẠP

     

    NGày 8

    Vía Phật Thích-Ca thành đạo.

    Ngày rằm

    Ngày Hiệp kỵ, tức ngày tưởng niệm các bậc tiền bối đã dày công xây dựng và phát huy đạo Phật Nguyên thủy tại Việt Nam.

    Ngày 20

    Hoà thượng Thích Thiện Hoa, viện trưởng Viện Hoá Đạo, GHPGVNTN,viên tịch.

    PHỤ LỤC:

    NGÀY TƯỞNG NIỆM CÁC CƯ SĨ TIỀN BỐI HỬU CÔNG

    Cư sĩ Nguyễn Hữu Kha, pháp danh Thiều Chửu, nNgày 15.7.1954, tức ngày 16.6 năm Giáp Ngọ

    Cư sĩ Tâm Minh - Lê Đình Thám, ngày 23-4-1969 (nhằm 7-3 âl, năm Kỷ Dậu)

    Cư sĩ Mai Thọ Truyền, ngày 17-4-1973 tức rằm tháng ba năm Quý Sửu

    Cư sĩ Nguyễn Văn Hiểu, ngày mùng 2 tháng 5 năm 1979, tức ngày mùng 7 tháng 4 năm Kỷ Mùi

    Cư sĩ Đoàn Trung Còn, ngày 15 tháng 3 năm 1988 ngày 28 tháng Giêng năm Mậu Thìn

    Cư sĩ Nguyễn Đăng Thục, ngày 3 tháng 6 năm 1999

    (Tổng hợp bài viết từ https://thuvienhoasen.org và https://phapthihoi.org)

    Thiện Đạo (Ban TTTT GHPGVN tỉnh Đăk Lắk)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cúng Động Thổ Là Gì? Lễ Cúng Động Thổ Có Ý Nghĩa Gì?
  • Thực Đơn Mâm Chay Đơn Giản – Dễ Làm Cúng Ngày Rằm Tháng Giêng
  • Nằm Mơ Thấy Mình Thắp Hương Là Điềm Gì, Đánh Số Gì
  • Sắm Lễ Tảo Mộ Tết Thanh Minh Năm 2022 Như Thế Nào Mới Đúng?
  • Cúng Dường Trai Phạn Và Hộ Trì Cho Khóa Tu (Gn1)
  • Bài Cúng Đạo Phật Giáo Hòa Hảo, Phật Giáo Hòa Hảo

    --- Bài mới hơn ---

  • Phật Giáo Hòa Hảo Thờ Gì ? 8 Điều Răn Cấm Phật Giáo Hòa Hảo !
  • Ý Nghĩa Bài Cúng Giỗ Mẹ Chồng, Văn Khấn Ngày Giỗ Bố Mẹ (Cha Mẹ) Đơn Giản, Dễ Nhớ
  • Làm Gì Khi Bé Đủ 3 Tháng 10 Ngày: Một Số Mẹo Hay Cho Mẹ
  • Bàn Thờ Thần Linh Gồm Những Gì Và Cách Lập Theo Phong Thủy
  • Văn Khấn Rước Ông Táo Về Nhà Mới – Lập Bàn Thờ Ông Táo
  • 4.5

    /

    5

    (

    2

    bình chọn

    )

    SỰ CÚNG LẠY của người cư sĩ Tại Gia – PHẬT GIÁO HOÀ HẢOBÀI NGUYỆN TRƯỚC BÀN THỜ ÔNG BÀ (Bài Cúng Cửu Huyền Thất Tổ),BÀI NGUYỆN TRƯỚC BÀN THỜ PHẬT (Bài Cúng Ngôi Tam Bảo),BÀN THÔNG THIÊN,NIỆM PHẬT.

    Đang xem: Bài cúng đạo phật giáo hòa hảo

    SỰ CÚNG LẠY CỦA NGƯỜI CƯ SĨ TẠI GIA – PHẬT GIÁO HOÀ HẢO :

    Cúng lạy của người cư sĩ tại gia

    BÀI NGUYỆN TRƯỚC BÀNTHỜ ÔNG BÀ (Bài Cúng Cửu Huyền Thất Tổ) :

    Cầm hương xá 3 xá, quỳ xuống chấp tay đưa lên trán nguyện:Cúi kính dưng hương trước Cữu Huyền,Cầu trên Thất Tổ chứng lòng thiềng.Nay con tỉnh ngộ quy y Phật,Chí dốc tu hiền tạo phước duyên”.Cấm hương rồi đứng ngay thẳng chắp tay vào ngực đọc tiếp:Cúi đầu lạy tạ Tổ Tông,Báo ơn sanh dưỡng dày công nhọc nhằn.Rày con xin giữ Đạo hằng,Tu cầu Tông Tổ siêu thăng Phật đài.Nguyện làm cho đẹp mặt mày;Thoát nơi khổ hải Liên đài được lên.Mong nhờ Đức Cả bề trên,Độ con yên ổn vững bền cội tu”. (lạy 4 lạy)

    BÀI NGUYỆN TRƯỚC BÀN THỜPHẬT (Bài Cúng Ngôi Tam Bảo):

    Cầm hương xá 3 xá, qùy xuống chắp tay đưa lên trán đọc bài Quy y :Nam Mô Thập Phương Phật.Nam Mô Thập Phương Pháp.Nam Mô Thập Phương Tăng”. “Nam Mô Phật Tổ, Phật Thầy, Quan Thượng Đẳng Đại thần, chư quan cựu thần, chưvị sơn thần, chư vị Năm Non Bảy Núi, cảm ứng, chứng minh, nay con nguyện cảihối ăn năn, làm lành lánh dữ, quy y theo mấy Ngài, tu hiền theo Phật Đạo”.Cắm hương, lạy 4 lạy cũng được, hoặc cắm hương đứng ngay thẳng chắp tay vàongực đọc: “Nam Mô Tây Phương Cực lạc thế giới Đại từ Đại bi phổ độ chúng sanh A Di ĐàPhật”.“Nam Mô nhứt nguyện cầu: Thiên Hoàng, Địa Hoàng, Nhơn Hoàng, Liên Hoa hải hội,thượng Phật từ bi, Phật vương độ chúng, thế giới bình an”.“Nam Mô nhị nguyên cầu: Cữu Huyền Thất Tổ Tịnh độ siêu sanh”.“Nam Mô tam nguyện cầu: Phụ Mẫu tại đường tăng long phước thọ, Phụ Mẫu quá khứtrực vãng Tây Phương”.“Nam Mô tứ nguyện cầu: Bá tánh vạn dân từ tâm bác ái, giải thoát mê ly”.“Nam Mô ngũ nguyện cầu: Phật Tổ, Phật Thầy từ bi xá tội đệ tử tiêu tai tịnh sự,trí huệ thông minh, giai đắc đạo quả”. Lạy 4 lạy rồi xá:1 xá chính giữa niệm: “Nam Mô A Di Đà Phật”.1 xá bên trái niệm: “Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát”.1 xá bên phải niệm: “Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát”.

    BÀN THÔNG THIÊN:

    Cầu nguyện bàn Phật xong, ra bàn Thông Thiên cầu nguyện 4 hướng (lấy bàn ThôngThiên làm hướng chánh) trước mặt, sau lưng, hai bên vai.Hướng chánh bàn Thông Thiên có nguyện, đọc bài Quy Y, còn ba hướng kia chỉ đọcbài Tây Phương ngũ nguyện. (mỗi hướng đọc rồi lạy 4 lạy – Khi cầu nguyện nếukhông thể lạy được thì xá 3 xá) Lạy đứng hay lạy quỳ tùy theo lúc yếu mạnh.

    NIỆM PHẬT:

    Cúng xong, muốn niệm Phật cũng được. Ngồi bán già thẳng lưng niệm: “Nam Mô A DiĐà Phật“. Hay niệm: “Nam Mô Tây Phương Cực lạc thế giới tam thập lục vạn ức,nhứt thập nhứt vạn, cữu thiên ngũ bá đồng danh đồng hiệu đại từ đại bi phổ độchúng sanh A Di Đà Phật”.

    (Niệm Phật nhiều ít tùy theo sức mình, lúc cầu nguyện và niệm Phật chỉ niệmtrong tâm) “Nam Mô-A-Di-Đà-Phật”, đi, đứng, nằm, ngồi rán niệm chớ quên khôngđợi gì thời khắc.

    KHI ĂN CƠM

    Mỗi khi ăn cơm với mắm muối chi cũng vậy, đều nguyện vái Cữu Huyển, Thất Tổ,Ông Bà, Cha Mẹ quá vãng về ăn với mình để tỏ lòng hiếu thảo.

    ĂN CHAY

    Đến ngày đơm quảy có chi cúng nấy.Ăn chay ngày 14-15, 29-30, tháng thiếu 29 – 1, có nhang thì đốt, không có thìnguyện không.Hàng năm, đến ba ngày xuân nhựt thì ngày 29-30 và mồng 1 phải ăn chay, trongmấy ngày ăn chay phải cúng chay, qua đến ngày mồng 2 có chi cúng nấy cũng được,đến ngày mồng 3 ra mắt không nên sát sanh loài vật mà cúng tế Trời Phật, chỉdùng bông hoa mà cúng thôi.

    ĐI XA NHÀ

    Đi làm ruộng đến thời cúng, ngó về hướng Tây nguyệnrồi xá.

    Còn đi xa thì nguyện tưởngtrong tâm cũng được.Xem tiếpCách Thờ Phượng Và Hành Lễ Của Người Tín Đồ PGHHCỬU HUYỀN THẤT TỔ LÀ GÌ?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top Bài Văn Khấn Cúng Sửa Chữa Nhà, Bếp, Chung Cư Ở T.p Hcm
  • Thực Trạng Nghi Lễ Phật Giáo Hiện Nay – Phần 4
  • Mâm Cúng Khai Trương Văn Phòng Mới Cần Có Những Gì ❤️
  • Văn Khấn Lễ Dâng Sao Giải Hạn Rằm Tháng Giêng Năm Tân Sửu 2022 – Hanoi News
  • Cách Tính Tuổi Cúng Căn, Cách Cúng Căn Cho Bé 3 Tuổi
  • Văn Khấn Cúng Ông Công Ông Táo Theo Quan Điểm Của Phật Giáo

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Rằm Tháng Chạp Chuẩn Nhất Cho Phật Tử Tại Gia
  • Văn Khấn Tất Niên Chiều 30 Tết Chuẩn Nhất
  • Văn Khấn Ông Công Ông Táo Chuẩn Nhất
  • Văn Khấn Mùng 2 Tết Chuẩn Nhất
  • Lễ Cúng Ông Công Ông Táo Như Thế Nào Là Chuẩn Nhất?
  • Theo tục lệ, ngày 23 tháng Chạp, người Việt thường làm lễ tiễn ông Công ông Táo về trời. Bên cạnh những lễ vật, mâm cỗ, các gia đình cũng cần quan tâm tới văn khấn. Văn cúng khấn ông Công, ông Táo chính là một nghi thức không thể thiếu trong ngày con cháu làm cơm cúng tiễn đưa ông Táo về chầu.

    Dưới góc nhìn của Phật giáo, việc thờ ông Địa, thần Tài hay ông Công ông Táo là tập tục, tín ngưỡng dân gian. Từ xa xưa, người ta tin rằng, mỗi lĩnh vực của đời sống con người đều có một vị thần cai quản nên thờ phụng, cúng bái các vị thần ấy thì sẽ được phù hộ.

    Người Phật tử sau khi quy y Tam bảo đều biết rõ “quy y Phật không quy y trời thần quỷ vật”. Tuy nhiên, tập tục thờ thần đã in sâu vào tâm thức, phổ biến trong dân gian Việt Nam nên một số Phật tử vẫn duy trì các hình thức thờ thần này.

    Trong tinh thần phương tiện và bao dung của Phật giáo, những vị Phật tử nào chưa đủ Chánh kiến để phụng hành chỉ ba ngôi Tam bảo thì vẫn có thể duy trì tập tục thờ các vị thần này. Nhưng cần lưu ý rằng, đạo Phật không chủ trương thờ thần, mặt khác, những thành tựu trong đời sống đều do phước đức của tự thân đã gieo trồng trong quá khứ và hiện tại mà được, chứ không phải nhờ thần linh phù hộ.

    Ngày 23 tháng Chạp hàng năm là ngày Táo Quân về trời báo cáo với Ngọc Hoàng thượng đế. Phương tiện để Táo Quân lên chầu trời chính là cá chép vàng. Sau khi mâm cỗ được bày biện đầy đủ, đến giờ hành lễ là lúc con cháu bắt đầu đọc bài văn cúng khấn ông Công, ông Táo để tỏ lòng thành kính. Dù thế, không phải ai cũng biết bài khấn nào là đúng, là chuẩn xác nhất.

    Sau đây, là hai bài văn cúng khấn ông Công, ông Táo phổ biến của người Việt ta:

    Bài 1: Theo Văn khấn cổ truyền Việt Nam – NXB Văn hóa Thông tin

    Nam mô a di đà Phật! (3 lần)

    Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương

    Con kính lạy Ngài đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân.

    Tín chủ (chúng) con là: ……………

    Ngụ tại:…………

    Hôm nay, ngày 23 tháng Chạp tín chủ chúng con thành tâm sắp sửa hương hoa phẩm luật, xiêm hài áo mũ, kính dâng tôn thần. Thắp nén tâm hương tín chủ con thành tâm kính bái.

    Chúng con kính mời ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân hiển linh trước án hưởng thụ lễ vật.

    Cúi xin Tôn thần gia ân xá tội cho mọi lỗi lầm trong năm qua gia chủ chúng con sai phạm. Xin Tôn thần ban phước lộc, phù hộ toàn gia chúng con, trai giá, già trẻ sức khỏe dồi dào, an khang thịnh vượng, vạn sự tốt lành.Chúng con lễ bạn tâm thành, kính lễ cầu xin, mong Tôn thần phù hộ độ trì.

    Nam mô a di đà Phật! (3 lần)

    Bài 2: Văn khấn ông Táo, bài cúng ông Táo được lưu truyền trong dân gian

    Nam mô a di đà Phật! (3 lần)

    Kính lạy Ngài Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân!

    Tín chủ con là :………….

    Ngụ tại :…………………..

    Nhằm ngày 23 tháng Chạp , tín chủ chúng con thành tâm , sửa biện hương hoa phẩm vật , xiêm hài áo mũ , nghi lễ cung trần , dâng lên trước án , dâng hiến Tôn Thần, đốt nén Tâm Hương dốc lòng bái thỉnh.

    Chúng con kính mời :

    Ngài Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân giáng lâm trước án thụ hưởng lễ vật.

    Phỏng theo lệ cũ, Ngài là vị chủ, Ngũ Tự Gia Thần, soi xét lòng trần, Táo Quân chứng giám.

    Trong năm sai phạm, các tội lỗi lầm, cúi xin Tôn Thần, gia ân châm chước. Ban lộc, ban phước, phù hộ toàn gia, trai gái trẻ già, an ninh khang thái.

    Dãi tấm lòng thành, cúi xin chứng giám.

    Cẩn cáo.

    Nam mô a di đà Phật! (3 lần)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Khấn Cúng Tại Đền Bà Chúa Kho
  • Bài Cúng Tất Niên Trường Học
  • Văn Khấn Thánh Sư – Ông Tổ Một Nghề
  • Bài Văn Khấn Cúng Lễ Sao Giải Hạn Sao La Hầu
  • Bài Văn Khấn Cúng Lễ Sao Giải Hạn Sao Kế Đô
  • Phật Giáo: Nghi Cúng Lễ Phật Thành Đạo

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghi Cúng Đại Lễ Đức Phật Thành Đạo Ngày Mồng 08.12.âl
  • Những Kiêng Kỵ Và Cách Thờ Cúng Tượng Phật A Di Đà
  • Tượng Phật A Di Đà
  • Sự Tích Đức Phật A Di Đà
  • 5. Nghi Cúng Vía Phật A Di Đà
  • * Tiết thứ làm nghi:

    – Cử nhạc khai đàn.

    – Chủ lễ đăng điện.

    – Chủ lễ niệm hương.

    CÚNG HƯƠNG(chủ lễ xướng):

    Nguyện đem lòng thành kính,

    Phưởng phất khắp mười phương,

    Cúng dường ngôi Tam Bảo.

    Cùng pháp giới chúng sanh,

    TÁN PHẬT( Tán dương công đức Phật):

    Đấng Pháp vương vô thượng,

    Thầy dạy khắp trời người,

    Cha lành chung bốn loại.

    Xưng dương cùng tán thán,

    Ức kiếp không cùng tận!

    Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng,

    Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn,

    Lưới Đế châu ví đạo tràng,

    Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời .

    Trước bảo tọa thân con ảnh hiện,

    Cúi đầu xin thệ nguyện qui y.

    Tánh không tám đức sạch trần gian,

    Pháp giới rộng thênh thang,

    Lửa đỏ hóa sen vàng.

    Nam mô Thanh Lương Địa Bồ Tát. (3 lần)

    Nam mô hắc ra đát na, đa ra dạ da. Nam mô a lị gia bà lô kiết đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tả. Nam mô tất kiết lật đỏa, y mông a lị gia bà lô kiết đế, thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà đà, ma phạt đặt đậu đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê lị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô kiết mông, độ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà la đà là, địa rị ni, thất Phật ra da, giá ra gía ra. Mạ mạ phạt ra ma, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắt ni na, ba dạ ma na ta bà ha, tất đà dạ ta bà ha. Ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ ta bà ha. Na ra cẩn trì ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khư gia, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ ta bà ha. Ba đà ma kiết tất đà dạ ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ ta bà ha. Ma bà rị thắng kiết ra dạ ta bà ha.

    Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da bà lô kiết đế thước bàn ra dạ, ta bà ha.

    Án tất điện đô mạn đà ra bạt đà dạ ta bà ha.

    Trên trời dưới đất không bằng Phật,

    Thế giới mười phương cùng không sánh.

    Thế gian có gì con đã thấy,

    TỤNG BÀI Ý NGHĨA NGÀY THÀNH ĐẠO:

    Chúng con cung kính nghe rằng:

    Khổ hạnh sáu năm quả mãn;

    Hân hoan muôn đức công thành!

    Muôn loài hưởng phước!

    Và chư Phật tử chúng con.

    Giờ này:

    Cung kính quỳ trước Phật đường,

    Chí thành dâng lên pháp cúng.

    Cúng dường đấng từ bi cứu thế,

    Tôn vinh ngôi trí tuệ siêu trần.

    Cỏ hoa hoan hỷ muôn phần,

    Người, vật thiết tha một dạ.

    Gọi hồn thế giới ba ngàn.

    Soi sáng nước non tám vạn.

    Trước đài nhất tâm qui mạng,

    Trên tọa bách bảo chứng minh.

    Một Bồ Tát xuất thế,

    Con vua Tịnh Phạn vương,

    Người liền tuyên lời phán:

    Chúng sanh Thánh sẽ thành,

    Vì tất cả chúng sanh,

    Thành Chảng đẳng Chánh giác,

    Cùng thiên nhạc thiên hương,

    Xin Pháp Vương thuyết pháp.

    Nhưng người chưa vội đáp,

    Không thể được vội truyền,

    Pháp thiêng của chư Phật.

    Cùng với các phương tiện,

    Trong trí thường nghĩ suy,

    Người đến vườn Lộc Thú (Lộc Uyển),

    Sống cuộc đời triền miên,

    Là “Khổ, Tập, Diệt, Đạo”.

    Muốn dứt (diệt) các khổ nhơn,

    Hết các thứ nghiệp khiên,

    Hết tham sân “sử triền”, (1)

    Sống cuộc đời giải thoát,

    Với “ngã tịnh thường lạc”, (2)

    Vui hơn các trời cao!

    Kính bạch Đức Bổn Sư Từ phụ!

    Nhìn lại ánh sáng sao Mai,

    Nhớ thuở Bổn Sư thành đạo,

    Nghĩ tới lời vàng dạy bảo,

    Nhớ ngày trời đất hân hoan.

    Muôn thuở hào quang rạng rỡ,

    Tỏa hương ngào ngạt nhơn gian.

    Cầu cho đất nước bình an,

    Nguyện cho nhân dân hạnh phúc.

    Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (30 lần)

    Nam mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. (3 lần)

    Nam mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát. (3 lần)

    LỄ 12 LỄ LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT.

    ( Chủ lễ xướng đến: Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật thì nhịp khánh hướng dẫn Phật tử đồng hòa: Bổn Sư Thích Ca …)

    A tỳ ngục tốt, mới phát lòng lành,

    Một đời Bổ xứ, hiện ở Suất Đà,

    Từ trời Đâu Suất, ứng mộng Ma Gia,

    Dưới cây Vô Ưu, đản sanh thị hiện,

    Hiện hưởng dục lạc, chán cảnh vô thường,

    Nửa đêm vượt thành, xuất gia tìm đạo,

    Dưới cây Đạo thọ, hàng phục ma quân,

    Bốn mươi chín năm, độ sanh thuyết pháp

    Dưới cây Ta La, Niết Bàn thị hiện,

    Hiện tọa đạo tràng, Ta Bà giáo chủ,

    Đạo sư ba cõi, Từ phụ bốn loài. Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

    (1 lễ)

    Tham thiền nhập định giữa rừng xanh,

    MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH.

    Quán tự tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

    “Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc. Thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị”.

    Xá Lợi Tử! Thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; thanh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới; vô vô minh diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo, vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố, Bồ đề tát đỏa y Bát nhã ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết Bàn. Tam thế chư Phật, y Bát nhã Ba la đa cố, đắc A nậu đa la Tam miệu tam Bồ đề. Cố tri Bát nhã ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chơn thiệt bất hư, cố thuyết Bát nhã ba la mật đa chú. Tức thuyết chú viết:

    “Yết đế, yết đế, Ba la yết đế, Ba la Tăng yết đế, Bồ đề tát bà ha”.

    Hào quang chiếu diệu.

    Sáng tỏ mười phương,

    Ngộ lý chơn thường,

    Phá màn hôn ám.

    Đệ tử lòng thành bài sám,

    Trước điện dâng hoa,

    Cúng dường Phật Tổ Thích Ca,

    Ba ngôi thường trú.

    Đệ tử chúng con,

    Nhân lành chưa đủ,

    Nghiệp báo theo hoài.

    Nay nhờ Văn Phật Như Lai,

    Giáng trần cứu độ,

    Sáu năm khổ hạnh,

    Bảy thất tham thiền,

    Ma oán dẹp yên,

    Thần long che chở,

    Tâm quang rực rỡ.

    Chứng lục thần thông.

    Lộ chiếu minh tinh,

    Đạo thành Chánh giác,

    Trời, người hoan lạc,

    Dậy tiếng hoan hô.

    Năm mươi năm hóa độ,

    Ba trăm hội đàm Kinh,

    Cứu phàm ngu thoát khỏi mê đồ,

    Tiếp Hiền Thánh siêu sinh Tịnh độ

    Muôn đời xưng tán,

    Vạn đức hồng danh,

    Đệ tử chí thành,

    Lễ bày kỷ niệm.

    Tâm hương phụng hiến,

    Gọi chút báo ân,

    Ngửa trông Vô thượng Pháp vương

    Từ bi gia hộ.

    Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (3 lần)

    Nam mô Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. (3 lần)

    Nam mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát. (3 lần)

    Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. (3 lần)

    Nam mô Đạo Tràng Hội Thượng Bồ Tát. (3 lần)

    Vừa rồi bao nhiêu công đức,

    Thích Ca Bổn Sư Hòa thượng,

    Thành Đạo Thánh lễ tôn vinh,

    Thùy từ tác đại chứng minh,

    Cúng dường Thánh lễ đã viên hoàn,

    Công đức ban cho khắp thế gian,

    Phật tánh mọi loài đều sẵn có,

    Khắp xin tất cả hãy hồi quang.

    Nguyện tiêu ba chướng trừ phiền não,

    Nguyện chơn trí tuệ thường sáng tỏ,

    Nguyện bao tội chướng thảy tiêu trừ,

    Kiếp kiếp thường tu Bồ Tát hạnh.

    Nguyện sanh Tịnh độ cảnh Tây phương,

    Chín phẩm hoa sen là cha mẹ,

    Hoa nở thấy Phật chứng vô sanh,

    Bất thoái Bồ Tát là bạn hữu,

    Đều trọn thành Phật đạo.

    Tự qui Phật, xin nguyện chúng sanh, thể theo đạo cả, phát lòng vô thượng. (1 lễ)

    Tự qui y Pháp, xin nguyện chúng sanh thấu rõ kinh tạng, trí tuệ như biển. (1 lễ)

    Tự qui y Tăng, xin nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, hết thảy không ngại. (1 lễ)

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Đại Từ Đại Bi Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (1 lễ)

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Lộc Uyển Ngũ Vị Đại Tỳ Kheo A La Hán. (1 lễ)

    Cúi đầu lễ tất.

    (1) Sử triền: xuôi khiến, ràng buộc.

    (2) Bốn Đạo quả Niết Bàn.

    Nghi cúng lễ Phật Thành Đạo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghi Cúng Lễ Phật Thành Đạo
  • Phật Giáo Không Có Nghi Lễ Cúng Sao Giải Hạn
  • Dâng Hương Cúng Phật Trong Nghi Lễ Phật Giáo Bắc Truyền
  • Nghi Lễ Cúng Phật Thành Đạo
  • Các Nghi Thức Thỉnh Phật, Thờ Phật Và Cúng Phật
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100