Lễ Mở Cửa Mả Là Gì?

--- Bài mới hơn ---

  • Mua Khóa Cửa Thông Minh Ở Hà Nội Cần Lưu Ý Những Gì?
  • Các Loại Khóa Cửa Thông Minh Hiện Nay? Cần Lưu Ý Gì Khi Mua?
  • Giờ Mở Cửa, Lịch Làm Việc Của Bưu Điện
  • Chùa Trấn Quốc Mở Của Lúc Mấy Giờ
  • Phủ Tây Hồ Mở Đóng Cửa Đến Mấy Giờ?
  • Buổi lễ này chính là nghi thức khai mộ, được du nhập vào Việt Nam từ Trung Quốc. Sau đó, nó nhanh chóng trở thành một trong những buổi lễ quan trọng trong văn hóa của nước ta.

    Việc cúng khai mộ sẽ được tiến hành sau khi chôn cất người chết 3 ngày. Điều này khởi nguồn từ quan niệm sau 3 ngày nằm dưới đất, người thân phải mở cửa mả thì linh hồn người đã khuất mới ra khỏi mộ, siêu thăng về nơi tịnh độ, yên bình.

    Theo quan điểm Nho gia, việc mở cửa mộ cho vong hồn đi ra là không đúng. Buổi lễ này là bởi sau 3 ngày tang lễ con cháu nên ra mộ khóc lóc để tỏ lòng thương tiếc đối với người đã chết.

    Đạo Phật quan niệm thế nào về lễ mở cửa mả

    Trong đạo Phật không có lễ mở cửa mộ, kinh và giáo lí chỉ nhắc đến buổi lễ an vị mộ. Quan niệm Phật giáo cho rằng trong ngày tang lễ, vong hồn người chết đã được rước về nhà để thực hiện nghi lễ an sàng chứ không còn ở dưới mộ nữa. Lễ tam chiêu được thực hiện với ý nghĩa khác chứ không phải mở cửa mả để gọi linh hồn người chết.

    Trong ngày an táng, do bận quá nhiều công việc nên gia đình không chăm chút được cho mộ phần của người đã khuất. Việc đắp mộ, chôn cất đều được thực hiện bởi người ngoài. Sau khi làm lễ địa táng được 3 ngày, con cháu trở ra mộ thăm viếng, đắp lại mộ phần, dọn cỏ xung quanh, thắp hương mới cho thật chu đáo. Đồng thời, làm lễ cúng để tỏ lòng thương nhớ đến người đã khuất.

    Có thể thấy rằng, mỗi tôn giáo lại có cái nhìn hoàn toàn khác về lễ cúng mở cửa mả nói riêng cũng như phong thủy mộ phần nói chung. Tuy nhiên, tựu chung lại thì buổi lễ này cũng được thực hiện với mong muốn bày tỏ lòng tiếc thương và hi vọng người đã chết được siêu thoát. Qua đó, thể hiện một nét đẹp trong văn hóa tâm linh của người Việt Nam.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lễ Mở Cửa Mả Có Ý Nghĩa Như Thế Nào?
  • Microsoft Mở Cửa Dữ Liệu Mật Cho Nsa Như Thế Nào?
  • Mã Vạch Của Nhật Bản Là Bao Nhiêu Và Cách Check Mã Vạch Như Thế Nào?
  • Khóa Cửa Vân Tay Hoạt Động Như Thế Nào?
  • Khóa Cửa Mã Số Sử Dụng Như Thế Nào?
  • Mở Cửa Mả Là Gì ? Cúng Mở Cửa Mả Như Thế Nào ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Hỏi Cách Làm Lễ Mua Phần Đất Âm
  • Văn Khấn Rằm Tháng 7 Ngoài Trời Cúng Chúng Sinh
  • Các Nghi Lễ Cúng Xây Nhà Mới
  • Thủ Tục, Văn Khấn Và Mâm Cúng Lễ Nhập Trạch Nhà Chung Cư
  • Cách Thờ Cúng Tổ Tiên Như Thế Nào Cho Đúng Và Chuẩn Nhất ?
  • Việt Nam ta vốn không có tục mở cửa mả, sau này được du nhập từ tập tục của Trung Quốc vào nước ta. Tục mở cửa mả mang đậm màu sắc của Nho giáo. Mở cửa mả còn được gọi là lễ khai mộ, là loại lễ làm trước khi vào các lễ chính thức trong các đám tang.

    Ngày nay, dù nhiều nơi đã không còn giữ tục này nhưng với người dân Nam Bộ đây là một lễ không thể thiếu khi trong gia đình có người mất đi.

    Nghi thức mở của mả được nhiều người cho rằng sẽ giúp người đã khuất siêu thoát thường được làm sau 3 ngày. Tính từ ngày người mất nhập quang nên còn gọi là Ngày Tam Chiêu (chiêu vong linh người mất sau 3 ngày).

    Quan niệm của họ là sau 3 ngày thì hồn người chết dần dần hội lại nhưng vẫn chưa tỉnh táo, không thể tìm được đường siêu thoát dưới nhiều tầng phía trên như thế nên dù là chôn dưới mộ đất hay mộ được làm từ xi măng thì gia đình của người mất phải thực hiện lễ mở cửa mả để giúp vong linh tìm được đường ra.

    Nếu không vong linh không được siêu thoát sẽ phải đau khổ, chịu nhiều đày ải. Chỉ có thể quanh quẩn quanh mộ phần của mình, không thể tiến vào của luân hồi, đầu thai kiếp khác.

    Nghi thức này thể hiện sự lo lắng, thương yêu của gia đình có tang đối với người thân. Mong người đã khuất sẽ không phải chịu đau đớn, mà an yên chuyển sang kiếp sau tốt đẹp hơn.

    Cúng mở cửa mả cần chuẩn bị những gì ?

    Lễ mở của mả thông thường cần chuẩn bị các vật sau đây: 1 con gà con, 3 ống trúc, 1 cái thang đôi khi cần cả 1 cây lao hoặc cây mía. Gà con được buộc dây vào chân để gia chủ dắt đi quanh mộ phần 3 vòng, nên chọn con có tiếng kêu vang và kêu nhiêu. Tiếng gà con gọi gà mẹ tượng trưng cho hình ảnh người con gọi cha mẹ đã mất của mình. Thể hiện sự tiếc thương, thiếu mất một phần tình thân nhân trong cuộc sống của gia chủ.

    Một số người quan niệm, người đã khuất chỉ khi nghe được tiếng gà con của gia đình mình mới hồi hồn, tỉnh táo mà đi chuyển kiếp được. Đối với những người mất lúc còn trẻ hoặc mất lúc chưa có vợ (chồng) thì không bắt buộc phải dắt gà con vào mộ phần.

    Ba ống trúc được dùng trong nghi lễ mở của mả của người dân Nam Bộ tượng trưng cho Tam Cang nghĩa là các mối liên hệ giữa người với người theo quan niệm của các nhà Nho giáo thời xưa, bao gồm: Quân – Thần (mối quan hệ giữa vua và thần tử trong nước). Phụ – Tử (quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong nhà). Phu – Thê (mối quan hệ giữa vợ chồng với nhau).

    Ống trúc có chiều dài khoảng 4 tấc (40cm) được vót nhọn 1 đầu để cắm xuống đất. 1 đầu bằng để đựng lần lượt: nước, muối, nước. Phía trên miệng ống trúc phải được bọc lại bằng bao nilon và dây chun.

    Cây thang tượng trưng cho Ngũ Thường theo đạo Nho ngày trước: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Cây thang thường dài 5 tấc (50cm) được làm bằng tre, trúc hoặc đôi khi là cây chuối. Nhân gian quan niệm cây thang này sẽ giúp người mất leo lên khỏi mộ phần của mình, có tác dụng như vật dẫn đường.

    Số lượng bậc thang của cây thang giả này cũng được quy định theo quan niệm số vía được phân theo giới tính của người xưa – nam thập nữ cửu, tức là cây thang sẽ có 7 bậc nếu là đàn ông, 9 bậc thang nếu là phụ nữ.

    Chuẩn bị mâm cúng mở cửa mả

    Cây lao hoặc cây mía được sử dụng trong lễ mở cửa mả để thể hiện công ơn dưỡng dục của cha mẹ đối với con cái khi còn sống. Giống như hình ảnh cha mẹ cực khổ, gầy gò giống như cây lao, cây mía vì chăm sóc, nuôi dạy đứa con. Đối với người chưa có con thì không cần phải chuẩn bị thứ này.

    Vật dụng dùng để cúng thì gồm: 2 bình hoa, 2 đĩa trái cây, 6 chén chè, 2 đĩa xôi, 1 bộ tam sênh, 7 cái chén nhỏ, 1 bình trà thơm, 250 ml rượu. Hai bình hoa và hai đĩa trái cây để cúng đất đai và vong hồn. Bộ tam sênh có: trứng, thịt, tôm.

    Trong đó, trứng tượng trưng cho Thiên, thịt tượng trưng cho Thổ. Tôm tượng trưng cho Thủy. Ngoài ra, còn phải chuẩn bị 18 con chim còn sống dùng để phóng sanh cầu phước lành. Mong hướng công đức cho người đã khuất, giúp vong linh sớm siêu thoát, an lạc.

    Tục mở cửa mả là nét riêng biệt thuộc về văn hóa nhân gian miền Nam Bộ. Thể hiện tính trọng tình cảm của người dân nơi đây dù là với người còn sống hay đã khuất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lễ Nhập Trạch Về Nhà Mới
  • Lễ Cúng Thần Tài Ngày 10 Tháng Giêng Gồm Những Gì? Vàng Mã, Gạo, Đèn D
  • Mâm Cúng Cô Hồn Hàng Tháng Mùng 2 & 16
  • Mâm Cúng Về Nhà Mới Trọn Gói
  • Thầy Cúng Nhập Trạch Về Nhà Mới Khai Trương Động Thổ Tại Hà Nội
  • 6/1. Đất Nam Kỳ Trước Khi Cao Đài Xuất Thế / Đất Nam Kỳ − Tiền Đề Pháp Lý Mở Đạo Cao Đài

    --- Bài mới hơn ---

  • Lich Su Dao Cao Dai, 1926
  • Phong Tục Tín Ngưỡng Của Người Kinh…
  • 2903. Chi Phái Tây Ninh 1997 Thảm Bại….
  • Chống Sao Chép Mã Mở Cửa Cuốn Bằng Công Nghệ Austmatic Rolling Code
  • Big C Mở Cửa Mấy Giờ? Giờ Mở Cửa, Đóng Cửa Của Big C Cụ Thể Ra Sao?
  • TRƯỚC KHI CAO ĐÀI XUẤT THẾ

    Sau khi chiếm xong ba tỉnh miền Đông gồm Gia Định, Định Tường, Biên Hòa (1862) và ba tỉnh miền Tây gồm Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên (1867), thực dân Pháp xóa bỏ cách phân chia địa giới hành chánh cũ của triều Nguyễn.

    Lúc đầu Pháp gọi département thay cho phủ, gọi arrondissement thay cho huyện. Khoảng năm 1868, Nam Kỳ Lục Tỉnh có hơn hai mươi arrondissement (gọi là hạt hay địa hạt, do tham biện cai trị, cơ quan hành chánh gọi là tòa tham biện, chịu dưới quyền thống đốc đóng ở Sài Gòn, thư ký địa hạt cũng gọi là bang biện tức là secrétaire d’arrondissement).

    Nghị định ngày 07-6-1871 thu hẹp hai mươi hạt lại còn mười tám hạt; rồi tăng lên mười chín hạt (1876); tăng lên hai mươi hạt (1880); bỏ hạt hai mươi (1881); rồi lại lập thêm hạt Bạc Liêu (1882) và hạt Cap Saint-Jacques (1895) thành hai mươi mốt hạt.

    Nghị định ngày 16-01-1899 đổi tên hạt thành tỉnh (province), tham biện đổi thành chủ tỉnh (chef de province), tòa tham biện gọi là tòa bố (cơ quan hành chánh cấp tỉnh).

    Vài chục năm sau mới chia tỉnh ra quận (délégation) dưới quyền chủ quận; quận chia ra tổng (canton), đứng đầu là cai tổng (chef de canton). Tổng chia thành .

    – Gia Định chia thành năm tỉnh: Chợ Lớn, Gia Định, Gò Công, Tân An, Tây Ninh.

    – Biên Hòa chia thành bốn tỉnh: Bà Rịa, Biên Hòa, Cap Saint-Jacques (tức Vũng Tàu), Thủ Dầu Một.

    – Định Tường đổi thành Mỹ Tho.

    – Vĩnh Long chia thành ba tỉnh: Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long.

    – An Giang chia thành năm tỉnh: Cần Thơ, Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc, Sóc Trăng.

    – Hà Tiên chia thành ba tỉnh: Bạc Liêu, Hà Tiên, Rạch Giá.

    Chia lại đất Nam Kỳ thành hai mươi mốt tỉnh, có lẽ thực dân Pháp muốn xóa nhòa hai chữ Lục Tỉnh trong lòng người Việt, cũng là cách cắt đứt lòng lưu luyến với truyền thống, một thủ đoạn tâm lý bên cạnh các cuộc đàn áp những phong trào yêu nước kháng chiến. Nhưng dân Nam Kỳ vẫn hoài vọng Lục Tỉnh. Nên mãi đến năm Mậu Thân (1908) trên tờ báo Lục Tỉnh tân văn do ông Gilbert Trần Chánh Chiếu (1868-1919) làm chủ bút, vẫn xuất hiện thường xuyên tên Lục Tỉnh, Lục Châu. Mùa Thu năm Bính Dần (1926), khi khởi đầu công cuộc phổ độ ở miền Nam, các vị tiền bối khai đạo Cao Đài đã gọi đó là cuộc phổ độ Lục Tỉnh.Mãi đến hai thập niên 1950 và 1960, ở miền Nam cũng còn nói, nhắc đến hai chữ xa xưa này.

    Đúng đầu bộ máy hành chánh Nam Kỳ thời Pháp chiếm là Thống đốc Nam Kỳ (Gouverneur de la Cochinchine). Viên chức này do Toàn quyền Đông Pháp (tức Đông Dương thuộc Pháp) giới thiệu và được Tổng trưởng Thuộc địa bổ nhiệm.

    Toàn quyền còn cử thêm một viên chức lưu động, hàng năm thanh tra các tỉnh một lần và báo cáo cho Thống đốc. Đó là Thanh tra chánh trị và hành chánh sự vụ (Inspecteur des affaires politiques et administratives).

    3. Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ

    Hội đồng Tư vấn (Conseil privé) còn gọi là Hội đồng Chính phủ Đông Dương (Conseil de Gouvernement de l’Indochine), làm tư vấn cho Toàn quyền Đông Dương, gồm ba mươi hai thành viên người Pháp, và năm thành viên người Việt trong đó Toàn quyền chỉ định ba.( Tiền bối Lê Văn Trung từng là thành viên Hội đồng này.

    Đây là tên gọi thường gặp trong tiểu sử tiền bối Lê Văn Trung, vì tiền bối từng là ủy viên (sách sử Cao Đài thường viết là nghị viên) của tổ chức này. Tổ chức có tên Conseil supérieur de l’Indochine (Hội đồng Tối cao Đông Dương), được thành lập do sắc lệnh của Tổng thống Pháp ngày 17-10-1887, cùng ngày thành lập Liên bang Đông Dương ( Union indochinoise). Đứng đầu Hội đồng là Toàn quyền Đông Dương.Thành viên Hội đồng gồm có: Tổng tư lệnh Bộ binh Pháp ở Đông Dương, Tổng tư lệnh Hải quân Pháp ở Viễn Đông, Tổng thơ ký Phủ Toàn quyền Đông Dương, Chánh quan Tư pháp, Giám đốc Thương chánh và Độc quyền, Thống đốc Nam Kỳ, Tổng trú sứ Trung-Bắc Kỳ, Khâm sứ ở Cao Miên. Khi Tổng trú sứ Trung-Bắc Kỳ bị bãi bỏ (09-5-1889) thì thay vào là Thống sứ Bắc Kỳ và Khâm sứ Trung Kỳ. Khi Lào có chức Khâm sứ (19-4-1899) thì Hội đồng có thêm ủy viên là Khâm sứ Lào.

    Hội đồng có chức năng tư vấn ( consultatif) cho Toàn quyền Đông Dương các vấn đề về ngân sách, thuế khóa, thiết lập các thành phố, các phòng thương mại, các phòng canh nông, chế độ báo chí… Hội đồng ngưng hoạt động năm 1894. Ngày 03-7-1897 Tổng thống Pháp ra sắc lệnh tái lập Hội đồng. Ngày 20-10-1911 Tổng thống Pháp ra sắc lệnh đổi tên Hội đồng là Conseil de Gouvernement de l’Indochine, tức là Hội đồng Chánh phủ Đông Dương. Với tên gọi mới này, Hội đồng có thêm ba ủy viên người bản xứ do Toàn quyền chỉ định hàng năm, chọn trong số các kỳ hào ( notables) ở Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ và Cao Miên (mỗi nơi chọn một ủy viên). Có lẽ đó là lý do tiền bối Lê Văn Trung có chân trong Hội đồng Chánh phủ Đông Dương từ ngày 10-12-1914.

    Tỉnh ở Nam Kỳ chia thành nhiều nh chia thành nhiều quận, đứng đầu là phủ, đứng đầu là tri phủ; phủ chia thành nhiều huyện, đứng đầu là tri huyện. chủ quận. Trong khi đó, ở Bắc Kỳ, tỉ

    Ở Nam Kỳ, quận chia thành nhiều tổng, đứng đầu là cai tổng (chef de canton). Tổng chia thành nhiều làng.

    Chủ tỉnh là người Pháp. Do Nghị định ngày 15-02-1898, chủ quận được tuyển trong số viên chức hành chánh người Việt nào đã có ngạch huyện, phủ, đốc phủ sứ. Cho nên tri huyện, tri phủ ở Nam Kỳ chỉ là ngạch trật về hành chánh, không phải là quan chức như ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, mặc dù người miền Nam quen gọi chủ quận là quan phủ, quan huyện. Những viên chức người Việt này xuất thân là thơ ký, có thể có một ít vốn chữ Nho, học ở trường làng trước khi vào học chương trình Pháp ở Collège de Mỹ Tho, và trường Bổn quốc ở Sài Gòn, tức là Collège Chasseloup Laubat. Phần lớn các bậc tiền bối có công khai đạo Cao Đài đã xuất thân từ hai trường học này. Hai trường trung học lớn khác là Petrus Ký ở Sài Gòn và Collège de Cần Thơ.

    IV. VÀI ĐẶC ĐIỂM ĐÁNG CHÚ Ý Ở NAM KỲ

    Đầu thế kỷ 20, Sài Gòn và Chợ Lớn là hai khu vực riêng biệt. Riêng Sài Gòn rộng chừng 780 mẫu tây.

    Số dân toàn Nam Kỳ (từ 15 tuổi trở lên) năm 1905 là 2.876.417; năm 1909 là 2.975.838. Số dân tăng lên vì có nhiều người từ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Quảng Đông, Phước Kiến vào miền Nam làm ăn. Cho đến năm 1920, số dân Nam Kỳ ước độ 3.600.000, và riêng số người Việt ở vùng Sài Gòn (không kể Chợ Lớn) vào năm 1921 là 308.512 người.Năm 1930 tổng số dân miền Nam khoảng bốn triệu người.

    Sài Gòn đến thế kỷ 20 chưa liệt vào “Hòn ngọc Viễn Đông” − la perle de l’Extrême-Orient . Sơn miêu tả: “Ánh đèn điện chỉ rọi sáng khu trung tâm thành phố. Phía ngoại ô từ rạch Thị Nghè đi Bà Chiểu, nhà cửa thưa thớt, ban đêm tối om.” Nhiều tin đồn ma quỷ hiện ở Cầu Bông, và khu Lăng ông Bà Chiểu. Tại Thủ Đức, Hóc Môn còn có cọp xuất hiện.

    “Xe lửa nối liền ra ngoại ô còn dùng hơi nước đến 1913 mới cải tiến chạy bằng sức điện.”

    “Về mặt hành chánh, đô thành Sài Gòn lần lần nới rộng, bao gồm vùng bên này Cầu Bông, Tân Định, rồi Khánh Hội, Chánh Hưng. Diện tích thành phố Sài Gòn (không có Chợ Lớn) vào năm 1907 là 1.674 héc-ta. Tuy thêm nhà cửa, dinh thự nhưng khu vực náo nhiệt vẫn chưa phát triển ra khỏi đường Cách mạng Tháng Tám, đường Nguyễn Thái Học. Giữa Sài Gòn và ở phần đất cao còn nhiều chòm tre, cây da, mồ mả to xen vào những đám rẫy trồng rau cải và bông hoa, những xóm nhà ổ chuột; bầy bò dê đi lang thang ăn cỏ. Phương tiện xê dịch thông dụng là xe kiếng khi đổ mưa; người đánh xe mặc áo tơi bằng lá giống như áo tơi của nông dân vậy thôi. Chở chuyên hàng hóa thì dùng xe bò.”

    Theo Sơn Nam, “Việc thờ phượng Quan công, thờ Phật, việc tin tưởng vào chư tiên chư thánh đã có sẵn từ lâu ở miền …”

    Nhận xét về “giới bình dân đông đảo ở nông thôn và lớp nghèo thành thị”, Sơn thấy rằng họ đã “xây dựng một nếp sống tinh thần khá ấm áp, bình đẳng, lấy tình nghĩa huynh đệ làm trọng, sống chết có nhau, giữ trung cang nghĩa khí lúc khó khăn, hiếu động. Đúng là nếp sống tinh thần kết tinh đạo Phật, Lão, Khổng.”

    Những nhận xét này cho thấy trước khi đạo Cao Đài xuất thế, ở Nam Kỳ đã có sẵn mảnh đất tốt cho một tín ngưỡng tổng hợp Tam giáo phát triển. Tuy nhiên, khi xét về chiều sâu, thì ảnh hưởng Tam giáo ở Nam Kỳ hầu như chưa đủ để đáp ứng nhu cầu tâm linh của người dân Nam Kỳ.

    Sơn Nam viết: ” Lúc thực dân đang thắng thế, người ở Bộ là từ bốn tới bốn triệu rưỡi.” (

    Ai theo thời mới thì “Trừ một số ít được theo Tây học, làm công chức (từ thơ ký thi tuyển lên huyện, phủ) ưa mặc Âu phục còn đại đa số (luôn cả người theo Tây học) thích xuất hiện, ăn tiệc, chụp ảnh với cái khăn đóng, áo dài đen, quần trắng, đi giày hàm ếch, tay chống ba-ton, để râu trái ấu vuốt sáp; giới quan quyền mặc áo dài lụa xanh thêu chữ thọ, mang giày da buộc dây.” “mặc Âu phục, đội nón Tây, thắt nơ, râu vuốt sáp, tóc ngắn.” Bên cạnh đó, “công chức hạng nghèo thuở ấy mặc áo dài đen.” Đấy cũng là hình ảnh các tiền bối Cao Đài thời mở đạo. Còn những người thuộc “giới công nhân và lao động chịu hớt tóc ngắn, nhưng còn giữ búi tóc, bịt khăn đầu rìu hoặc ở trần, đi chân đất không phải ít.”

    Nhận xét tâm lý quần chúng ở Nam Kỳ dưới chế độ khắc nghiệt của thực dân Pháp, tuần báo Lục Tỉnh tân văn số 46, ngày 01-10-1908 viết: “Tánh người An mình hay sợ sệt lắm…” Do đó, khi chủ xướng những công cuộc lớn lao, muốn vận động, thu hút quần chúng, trong thành phần nhân sự nòng cốt bao giờ cũng cần có các công chức. Sơn nêu ra lý do là dân chúng “tin rằng công chức luôn luôn đàng hoàng, không làm quốc sự.” Ngay cả trong chuyện kinh doanh, điều này vẫn đúng, cho nên số báo nói trên viết rằng trong thương mại “hễ có các ông nha môn [công chức] ra làm đầu thì đâu đâu ai cũng xin vô hùn.”

    Tìm hiểu thời kỳ khai nguyên đạo Cao Đài nên lưu ý yếu tố tâm lý này. Trong số các vị môn đồ của buổi đầu khai sơn phá thạch, có đủ thành phần: nông dân, nhà tu xuất gia, cư sĩ, nghệ sĩ, nhà báo, nhà giáo, nhà buôn… và một con số không ít gồm các công chức. Các công chức này đã góp phần lớn trong việc thu hút đông đảo dân chúng nhập môn đạo Cao Đài, nhất là khi nhân cách của các vị chinh phục được tình cảm của rất nhiều dân chúng địa phương. Có thể nêu một trường hợp tiêu biểu là tiền bối Nguyễn Ngọc Tương (1881-1951), Giáo tông Hội thánh Ban Chỉnh Đạo, đã từng làm chủ quận Châu Thành (tỉnh Cần Thơ), quận Hòn Chông (tỉnh Hà Tiên), quận Cần Giuộc (tỉnh Chợ Lớn), quận Xuyên Mộc (tỉnh Bà Rịa).

    Nổi bật ở Nam Kỳ đầu thế kỷ 20 là phong trào Minh tân do ông Gilbert Trần Chánh Chiếu (1867-1919) và các đồng chí như Dũ Thúc Lương Khắc Ninh (1862-1943), Mạnh Tự Trương Duy Toản (1885-1957)… lãnh đạo. Phong trào bị thực dân Pháp đàn áp.

    Trên tuần báo Lục Tỉnh tân văn, ông chủ bút Gilbert Chiếu thường gọi các đồng chí của mình là “vị Minh tân” hay “tay Minh tân”. Tiền bối Lê Văn Trung (1876-1934)được Lục Tỉnh tân văn số 27, ngày 21-5-1908 giới thiệu là “người Minh tân”, và Sơn Nam ghi nhận tiền bối Lê Văn Trung ” về sau này là vị Quyền giáo tông của Đại đạo Tam kỳ Phổ độ (đạo Cao Đài), một tôn giáo mới tổng hợp Đông Tây thâu hút đồng bào Minh tân lúc trước, khiến thực dân Pháp lo ngại.”

    Tiền bối Phạm Công Tắc (1890-1959) suýt cũng bị Pháp bắt trong vụ thất bại của phong trào Minh tân. Lúc ấy, phong trào tổ chức đưa thanh niên ra nước ngoài học (Đông du), ba chuyến đầu trót lọt. Tiền bối Phạm Công Tắc được bố trí đi chuyến thứ tư. Lần này bị lộ, Pháp ập đến trụ sở Minh tân Công nghệ xã, nhờ ông Dũ Thúc Lương Khắc Ninh kịp thủ tiêu hồ sơ và chứng tích nên không ai bị bắt.

    Đã đành có rất đông tín đồ buổi đầu khai Đạo cũng là những người yêu nước chống thực dân, như nhà sử học Phạm Văn Sơn đánh giá: “Ngày nay dù sao chúng ta cũng không thể phủ nhận lòng ái quốc chân thành của các nhà lãnh đạo Cao Đài…” nhưng yêu nước chỉ mới là một trong nhiều nội dung của giáo lý Cao Đài, và được đạo Cao Đài coi là một tiêu chuẩn luân lý của đạo làm người (thế đạo hay nhân đạo). Tuy vậy không thể đơn thuần chỉ xét cạnh khía này rồi đồng hóa đạo Cao Đài với các phong trào chính trị, không khách quan nhìn thấy đạo Cao Đài là một tín ngưỡng độc đáo của dân tộc Việt .

    Tình hình chính trị ở Nam Kỳ đầu thế kỷ 20 vô cùng phức tạp, gay gắt. Có những biến cố lớn như sau:

    – 1903: Sào Nam Phan Bội Châu (1867-1940) vào tận Châu Đốc để tìm hiểu phong trào cách mạng ở Nam Kỳ.

    – 1908: Pháp đàn áp phong trào Minh tân.

    – 1913: Kỳ ngoại hầu Cường Để (1882-1951) vào Nam Kỳ, lưu lại ba tháng. Phan Xích Long (1893-1916) xưng là hoàng đế, khởi nghĩa ở vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, rồi bị bắt giam ở khám Lớn (Sài Gòn).

    – 1914: Thế chiến thứ Nhất bùng nổ ở châu Âu.

    – 1915: Pháp bại trận. Phát xít Đức chiếm . các phong trào yêu nước ở Việt hy vọng có thể lợi dụng tình thế này để giành lại độc lập.

    – 1916: Dân chúng đánh khám Lớn giải cứu Phan Xích Long, nhưng thất bại. Mười ba tỉnh của Nam Kỳ cực kỳ xáo trộn vì loạn lạc, và bị giặc Pháp khủng bố.

    – 1920: Toàn quyền Maurice Long tổ chức lại Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ, tức Hội đồng Quản hạt ( Conseil colonial), là nơi các nhóm tư bản Hoa, Pháp và tư sản Nam Kỳ tranh giành quyền lợi. Sự xâu xé ấy lan ra báo chí, chiếm chỗ trên các báo: La tribune indigène củaBùi Quang Chiêu (1872-1945) và Nguyễn Phú Khai (1887-?), L’Indochine của luật sư Paul Monin, La Voix libre của Edgar Ganofsky (1880-1943), La Cloche fêlée của Nguyễn An Ninh (1900-1943), L’Écho annamite của Bùi Quang Chiêu và Nguyễn Phan Long (1889-1960)…

    Trong lúc giới trí thức Nam Kỳ gần như lạc vào trận đồ bát quái thì quần chúng bình dân thế nào? Các thanh tra chánh trị và hành chánh sự vụ của thực dân báo động rằng các cuộc cầu cơ hỏi chuyện “quốc sự”, nói sấm tiên tri thời cuộc đang lan tràn khắp Lục Tỉnh. Có câu rằng:

    Người ta đoán đến một năm Ngọ nào đó “thằng Tây” sẽ thua ( thầy tăng hết thời), và tại một vùng sông nước linh thiêng nào đó sẽ xuất hiện vị cứu tinh của dân tộc Việt :

    Người ta chờ, hy vọng sẽ thấy minh vương (vua sáng suốt):

    Có lẽ do đức tin đó, năm 1913, Phan Xích Long khi khởi nghĩa cho thêu trên lá cờ những chữ Nho bí hiểm: , và Bửu sơn kỳ hương 寶山奇香 Thánh minh vương phật 聖明王佛 .

    Còn những người an phận, thích tìm nơi hoang vắng tu hành, chịu khổ hạnh đợi hội Long hoa, chờ Phật vương ra đời.

    Không khí tín ngưỡng dân gian nhuộm khắp Lục Châu. Giới trí thức ở thành thị cũng không kém.

    Thanh tra Lalaurette, trong phúc trình ” Le Caodaïsme ” (1932), báo cáo rằng những năm đầu thập niên 1920, trong giới công tư chức Nam Kỳ nổi lên một phong trào tìm hiểu và thực hành thông công với thế giới siêu hình qua sách vở chữ Pháp của các tác giả Thông linh học như Allan Kardec (Pháp, 1804-1869), Nicolas Camille Flammarion (nhà thiên văn Pháp, 1842-1925), và các tác giả Thông thiên học như Helena Petrovna Blavatsky (1831-1891), Henry Steel Olcott (1832-1907), Annie Besant (nữ sĩ Anh, 1847-1933), v.v…

    Các đàn tiên tri quy tụ những người hầu đàn cơ gồm đủ mọi tầng lớp trong xã hội, do nhiều mục đích khác nhau. Có thể chia ra ba nhóm chính:

    – Nhóm sĩ phu ưu thời mẫn thế, mượn đàn cơ để hỏi việc thiên cơ, hầu biết vận mệnh đất nước ra sao. Những đàn này thường lập rất kín đáo.

    Nhóm bình dân, gồm những người cần xin thuốc chữa bịnh, cầu thọ … Những đàn này phổ biến hơn cả, rất đa dạng. Qua sự linh ứng nhãn tiền, đông đảo dân chúng đã có đức tin nơi siêu hình. Những đàn này thường chỉ hoạt động trong một thời gian nhất định, tại một địa phương nào đó, rồi ngưng hẳn (bế đàn). Ở Nam Kỳ hồi đầu thế kỷ 20 có một số đàn hữu danh thuộc loại này, như đàn Hiệp Minh (ở Cái Khế, tỉnh Cần Thơ), đàn Minh Thiện (ở Thủ Dầu Một, Bình Dương), đàn Chợ Gạo (tỉnh Chợ Lớn)… Trước khi biết đạo Cao Đài, tiền bối Ngô Văn Chiêu (1878-1932) đã nhiều lần đến các đàn tiên Hiệp Minh, Minh Thiện để cầu thọ hoặc xin thuốc tiên cho mẹ.(

    Trong số các đàn tiên tri sự xuất hiện của đạo Cao Đài, có thể dẫn lại ba trường hợp tiêu biểu như sau:

    Thứ Sáu, ngày 03-01-1913 (26-11 Quý Sửu), tại quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc, một nhóm sĩ phu lập đàn tại nhà ông Lê Quang Hiển (1872-1950), mục đích hỏi về thiên cơ, quốc sự. Chơn linh nhà Nho yêu nước Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân (1841-1875) giáng cơ ban cho bài thơ chữ Nho như sau:

    Ngài lại ban cho bài thơ dịch:

    Chạm mắt Cao Đài khoẻ tấm thân.

    Hai chữ Cao Đài được nhắc tới bốn lần nhưng không ai hiểu ngụ ý gì. Gia đình ông Lê Quang Hiển sao lại hai bài thơ, cất lên trang thờ làm kỷ niệm.

    Tháng 10-1926 (tháng 9 Bính Dần), khi các tiền bối Cao Quỳnh Cư (1888-1929), Cao Hoài Sang (1901-1971), Lê Bá Trang (1878-1936), Vương Quan Kỳ (1880-1940)… trong đợt phổ độ Lục Tỉnh đến truyền đạo Cao Đài tại quận Cao Lãnh, bấy giờ mọi người mới nhớ hai bài thơ mười ba năm trước.

    Miễu Nổi (Phù Châu miếu 浮州廟 ) không biết có từ bao giờ, nằm trên một cồn nhỏ nổi giữa sông Vàm Thuật, Bến Cát, nay thuộc phường 5, quận Gò Vấp (bên kia bờ là An Phú Đông, quận 12).

    Đế quân giáng hạ, nhữ vô tai.

    Bài thơ khoán thủ thành Huê Quang Đại đế 華光大帝 , là vị giáng đàn. Câu một nói tiên tri từ năm 1926 trở đi khắp nơi sẽ nhìn thấy cờ của đạo Cao Đài gồm ba màu vàng, xanh, đỏ, tượng trưng cho Tam giáo (Phật, Lão, Nho). Câu ba nói tới “Tam kỳ Đạo dĩ khai” (Đạo kỳ Ba đã mở rồi) ám chỉ việc tiền bối Ngô Văn Chiêu (1878-1932) đã học đạo với Đức Cao Đài Tiên ông trước đó hai, ba năm (1920-1921). Câu hai nói “tứ hướng thướng tam tài” (bốn phương đều kéo cờ ba màu) “kim đơn” nhằm ngụ ý liên hệ tới phần nội giáo tâm truyền (tu thiền hay tịnh luyện, esotericism) của đạo Cao Đài.(

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phong Tục Đám Tang Đạo Cao Đài
  • Những Lưu Ý Khi Mua Xe Máy Mới
  • Chị Em Thích Xe Tay Ga Nên Mua Xe Nhập Khẩu Hay Chọn Xe Mới?
  • Có Nên Mua Xe Máy Trả Góp Không? Những Điều Cần Biết Trước Khi Mua
  • Bỏ Túi Kinh Nghiệm Mua Xe Máy Cũ Để Tránh Bị Lừa Gạt!
  • Mở Cửa Mả Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Mở Cửa Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Phong Tục Ma Chay Của Người Huế
  • Vì Sao Tháng 7 Âm Lịch Gọi Là ‘Tháng Cô Hồn’?
  • Mơ Thấy Mồ Mả Đánh Đề Con Gì
  • Hướng Dẫn Thành Công 100%
  • Rate this post

    Mở cửa mả là gì ? Cúng mở cửa mả như thế nào 

    Tìm hiểu về tục mở cửa mả

    Việt Nam ta vốn không có tục mở cửa mả, sau này được du nhập từ tập tục của Trung Quốc vào nước ta. Tục mở cửa mả mang đậm màu sắc của Nho giáo. Mở cửa mả còn được gọi là lễ khai mộ, là loại lễ làm trước khi vào các lễ chính thức trong các đám tang.

    Ngày nay, dù nhiều nơi đã không còn giữ tục này nhưng với người dân Nam Bộ đây là một lễ không thể thiếu khi trong gia đình có người mất đi.

    Nghi thức mở của mả được nhiều người cho rằng sẽ giúp người đã khuất siêu thoát thường được làm sau 3 ngày. Tính từ ngày người mất nhập quang nên còn gọi là Ngày Tam Chiêu (chiêu vong linh người mất sau 3 ngày).

    Quan niệm của họ là sau 3 ngày thì hồn người chết dần dần hội lại nhưng vẫn chưa tỉnh táo, không thể tìm được đường siêu thoát dưới nhiều tầng phía trên như thế nên dù là chôn dưới mộ đất hay mộ được làm từ xi măng thì gia đình của người mất phải thực hiện lễ mở cửa mả để giúp vong linh tìm được đường ra.

    Nếu không vong linh không được siêu thoát sẽ phải đau khổ, chịu nhiều đày ải. Chỉ có thể quanh quẩn quanh mộ phần của mình, không thể tiến vào của luân hồi, đầu thai kiếp khác.

    Nghi thức này thể hiện sự lo lắng, thương yêu của gia đình có tang đối với người thân. Mong người đã khuất sẽ không phải chịu đau đớn, mà an yên chuyển sang kiếp sau tốt đẹp hơn.

    Cúng mở cửa mả cần chuẩn bị những gì

    Lễ mở của mả thông thường cần chuẩn bị các vật sau đây: 1 con gà con, 3 ống trúc, 1 cái thang đôi khi cần cả 1 cây lao hoặc cây mía. Gà con được buộc dây vào chân để gia chủ dắt đi quanh mộ phần 3 vòng, nên chọn con có tiếng kêu vang và kêu nhiêu. Tiếng gà con gọi gà mẹ tượng trưng cho hình ảnh người con gọi cha mẹ đã mất của mình. Thể hiện sự tiếc thương, thiếu mất một phần tình thân nhân trong cuộc sống của gia chủ.

    Một số người quan niệm, người đã khuất chỉ khi nghe được tiếng gà con của gia đình mình mới hồi hồn, tỉnh táo mà đi chuyển kiếp được. Đối với những người mất lúc còn trẻ hoặc mất lúc chưa có vợ (chồng) thì không bắt buộc phải dắt gà con vào mộ phần.

    Tục mở cửa mả ở Việt Nam

    Ba ống trúc được dùng trong nghi lễ mở của mả của người dân Nam Bộ tượng trưng cho Tam Cang nghĩa là các mối liên hệ giữa người với người theo quan niệm của các nhà Nho giáo thời xưa, bao gồm: Quân – Thần (mối quan hệ giữa vua và thần tử trong nước). Phụ – Tử (quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong nhà). Phu – Thê (mối quan hệ giữa vợ chồng với nhau).

    Ống trúc có chiều dài khoảng 4 tấc (40cm) được vót nhọn 1 đầu để cắm xuống đất. 1 đầu bằng để đựng lần lượt: nước, muối, nước. Phía trên miệng ống trúc phải được bọc lại bằng bao nilon và dây chun.

    Cây thang tượng trưng cho Ngũ Thường theo đạo Nho ngày trước: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Cây thang thường dài 5 tấc (50cm) được làm bằng tre, trúc hoặc đôi khi là cây chuối. Nhân gian quan niệm cây thang này sẽ giúp người mất leo lên khỏi mộ phần của mình, có tác dụng như vật dẫn đường.

    Số lượng bậc thang của cây thang giả này cũng được quy định theo quan niệm số vía được phân theo giới tính của người xưa – nam thập nữ cửu, tức là cây thang sẽ có 7 bậc nếu là đàn ông, 9 bậc thang nếu là phụ nữ.

    Chuẩn bị mâm cúng mở cửa mả

    Cây lao hoặc cây mía được sử dụng trong lễ mở cửa mả để thể hiện công ơn dưỡng dục của cha mẹ đối với con cái khi còn sống. Giống như hình ảnh cha mẹ cực khổ, gầy gò giống như cây lao, cây mía vì chăm sóc, nuôi dạy đứa con. Đối với người chưa có con thì không cần phải chuẩn bị thứ này.

    Vật dụng dùng để cúng thì gồm: 2 bình hoa, 2 đĩa trái cây, 6 chén chè, 2 đĩa xôi, 1 bộ tam sênh, 7 cái chén nhỏ, 1 bình trà thơm, 250 ml rượu. Hai bình hoa và hai đĩa trái cây để cúng đất đai và vong hồn. Bộ tam sênh có: trứng, thịt, tôm.

    Trong đó, trứng tượng trưng cho Thiên, thịt tượng trưng cho Thổ. Tôm tượng trưng cho Thủy. Ngoài ra, còn phải chuẩn bị 18 con chim còn sống dùng để phóng sanh cầu phước lành. Mong hướng công đức cho người đã khuất, giúp vong linh sớm siêu thoát, an lạc.

    Tục mở cửa mả là nét riêng biệt thuộc về văn hóa nhân gian miền Nam Bộ. Thể hiện tính trọng tình cảm của người dân nơi đây dù là với người còn sống hay đã khuất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Người Mới Mất Có Hay Về Nhà Không? Đi Về Đâu Trong 49 Ngày?
  • Ấn Tống 70.000 Quyển Các Nghi Thức Tụng Hằng Ngày
  • Theo Nghi Thức Công Giáo
  • Nghi Lễ Vòng Đời Người Công Giáo Việt Nam – Giáo Phận Cần Thơ
  • Gia Lễ Công Giáo – Cựu Chủng Sinh
  • Phong Tục Đám Tang Đạo Cao Đài

    --- Bài mới hơn ---

  • 6/1. Đất Nam Kỳ Trước Khi Cao Đài Xuất Thế / Đất Nam Kỳ − Tiền Đề Pháp Lý Mở Đạo Cao Đài
  • Lich Su Dao Cao Dai, 1926
  • Phong Tục Tín Ngưỡng Của Người Kinh…
  • 2903. Chi Phái Tây Ninh 1997 Thảm Bại….
  • Chống Sao Chép Mã Mở Cửa Cuốn Bằng Công Nghệ Austmatic Rolling Code
  • Lời đầu, Trại Hòm Đức Thịnh xin chia sẻ đôi điều thông tin cơ bản về Đạo Cao Đài hiện nay tại Việt Nam.

    Tổng Quan Về Đạo Cao Đài

    Đạo Cao Đài hay còn được gọi là Cao Đài Giáo, được thành lập vào khoảng năm 1926 tại miền Nam Việt Nam.

    Và để tỏ lòng tôn kính, một số Tín Đồ thường gọi tôn giáo của mình là Đạo Trời.

    Đạo Cao Đài là một tôn giáo mới, dung hòa nhiều yếu tố từ các tôn giáo lớn gồm Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo, Hồi giáo, Cơ Đốc giáo, Thần đạo và cả 1 số tôn giáo đa thần thời cổ đại, thể hiện qua Ngũ Chi Đại Đạo.

    Giáo Lý Cơ Bản của Đạo Cao Đài gồm: Tam Kỳ Phổ Độ, Tam Giáo Quy Nguyên và Thiên Nhãn.

    Một tộc Đạo Cao Đài có thể thờ tự là “Thánh Thất” và “Điện Thờ Phật Mẫu” và đều có chương trình truyền bá giáo lý.

    Nội dung bài chia sẻ khó tránh được sự sai xót, kính mong quý độc giả, quý cao niên, quý học giả chỉ giáo thêm.

    Nghi Thức Tang Lễ Đạo Cao Đài

    Cầu Hồn Khi Hấp Hối

    Là tụng kinh cầu nguyện Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng cho linh hồn của người đang hấp hối được nhẹ nhàng xuất ra khỏi thể xác & được cứu giúp siêu thăng về Cõi Thiên Liêng Hằng Sống.

    Cầu Hồn Khi Đã Chết Rồi

    Ban Trị Sự hành lễ y như hành lễ Cầu Hồn Khi Hấp Hối.

    Rồi sau đó, tang quyến hoặc Ban Trị Sự sẽ đến Đền Thánh (nếu người quy vị là Chức Sắc) hay Thánh Thất để báo tử.

    Đến đây sẽ rung chuông báo tử.

    Nếu là Chức Sắc thì tùy vào Phẩm Cấp để rung chuông và đánh trống tại Đền Thánh

    • Phẩm Giáo Hữu và tương đương: rung 2 hồi chuông và đánh 2 hồi trống
    • Phẩm Lễ Sanh và tương đương: rung 1 hồi chuông và đánh 1 hồi trống

    Nếu là Chức việc Ban Trị Sự và Đạo Hữu và các phẩm tương đương thì không đánh trống mà chỉ rung chuông

    Thượng Sớ Tân Cố

    Là dâng sớ lên Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng báo cáo 1 tín đồ Cao Đài mới vừa Quy Liễu, cầu xin Đức Chí Tôn, Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát, và các Đấng thiêng liêng cứu độ vong hồn vị tín đồ vừa mới Quy Liễu được siêu thăng tịnh độ.

    Thượng Sớ Tân Cố, có thể thực hiện tại Đền Thánh, tại Thánh Thất hoặc tại Thiên Bàn nơi tư gia người chết.

    • Người chết là Phẩm Chánh Trị Sự xuống Đạo Hữu hoặc tương đương thì người chứng đàn cầu nguyện là Chánh Trị Sự hương đạo sở tại.
    • Người Chết là Phẩm Lễ Sanh hoặc tương đương trở lên thì người chứng đàn cầu nguyện là Đầu Tộc, Đầu Phận Đạo, Khâm Châu Đạo hoặc Khâm Thành Thánh Địa.

    Còn những việc khác thì Ban Trị Sự hành lễ theo nghi thức quy định.

    Tẩn Liệm (Nhập Mạch)

    Sau khi dâng sớ Tân Cố tại Đền Thánh, Thánh Thất hay tại gia đường thì chuẩn bị Lễ Tẩn Liệm.

    Người thân dùng nước thơm ( nước nấu với các loại lá cây có mùi thơm) lau rửa vệ sinh sạch sẽ cho người chết, thay đồ cho người chết và mặc đạo phục theo Phẩm Vị, đắp 1 miếng vải trắng hình tam giác trên mặt người chết, bề đứng 33cm và góc nhọn để trên.

    Tất cả người thân quỳ lạy Đức Chí Tôn và cầu nguyện, sau đó đến chỗ người chết nằm quỳ lạy người chết 1 lần.

    Vị chứng đàn và 2 vị hầu lễ đến trước Thiên Bàn cầu nguyện Thầy.

    Đốt 2 cây nến cho 2 vị hầu lễ cầm, vị chứng đàn bắt ấn Tý đến đứng trước đầu người chết, ra lệnh cho đồng nhi bắt đầu tụng kinh Tẩn Liệm, tụng 3 lần, khi niệm xong câu chú của Thầy 3 lần, vị chứng đàn và 2 vị hầu lễ trở lại trước Thiên Bàn xá Chí Tôn, rồi xả ấn Tý và tắt 2 cây nến.

    Người thân lạy người chết 1 lần nữa, rồi đội Tẩn Liệm bắt đầu tiến hành Liệm Xác rồi đưa vào hòm.

    Tấm Phủ Quan

    Sau khi hòm được đặt đúng vị trí rồi thì dùng tấm Phủ Quan đắp lên hòm, tiếp sau là đặt giá đèn lên trên.

    Tấm Phủ Quan (có 5 màu: vàng, xanh, đỏ, trắng, đen) là tấm vải để phủ lên hòm, là hình vuông với mỗi cạnh là 1m2, 4 mặt đều may ren, chính giữa thêu 1 Thiên Nhãn lớn với 12 ánh hào quang.

    Trước khi đắp lên hòm cho người chết, người chứng lễ đem Tấm Phủ Quan đặt trước Thiên Bàn cầu nguyện đức Chí Tôn ban ơn cho người chết.

    Màu sắc của Tấm Phủ Quan để phân biệt người chết là Nam hay Nữ, hoặc là phân biệt cơ quan, Chức Sắc Cửu Trùng Đài:

    Chức Sắc và Chức Việc phái nữ Cửu Trùng Đài

    Chức Sắc Hiệp Thiên Đài và Ban Thế Đạo

    Chức Sắc Cửu Trùng Đài phái Thái

    Chức Sắc Phước Thiện từ Phẩm Hiền Nhơn trở lên

    Chức Sắc Cửu Trùng Đài phái Thượng

    Chức Sắc Phước Thiện nam nữ đeo dây sắc lệnh màu xanh: Chí Thiện, Đạo Nhơn, Chơn Nhơn

    Chức Sắc Cửu Trùng Đài phái Ngọc, Ban Trị Sự nam phái và các Phẩm tương đương,

    Chức Sắc Ban Kiến Trúc, Bộ Nhạc

    Chức Sắc Phước Thiện nam nữ đeo dây sắc lệnh màu đỏ: Thính Thiện, Hành Thiện, Giáo Thiện, Bảo Thể, Đầu phòng văn.

    Đạo hữu nam nữ, đạo sở, minh đức, tân dân (Phước Thiện), thư ký, trật tự viên, v.v…

    Ý nghĩa của Tấm Phủ Quan có ý nghĩa giống với việc thờ Thiên Nhãn tại Khách Đình

    Tấm Phủ Quan màu gì thì khi hòm đưa lên Thuyền Bát Nhã thì tấm Diềm Treo cũng màu đó.

    Đốt Đèn Trên & Dưới Hòm

    Trên Giá Đèn đặt trên nắp Hòm, đốt đủ 9 cây nến, không dư không thiếu và không được để tắt đi.

    Phía dưới hòm đốt 1 ngọn đèn để khử trược lưu thanh.

    Lập Bàn Vong – Khai Vong – Linh Vị

    Lập Bàn Vong

    Đặt 1 cái bàn trước Hòm làm Bàn Vong: 1 cặp chân đèn, 1 lư hương, 1 dĩa trái cây, 1 bình hoa, 1 chung rượu, 1 chung trà, 1 tấm Linh Vị (Bài Vị), 1 cây đèn, 1 tấm di ảnh có mặc đạo phục, 1 cây phướn Thượng Sanh đặt bên trái phía trong nhà nhìn ra cửa.

    Nếu người chết ở Phẩm Lễ Sanh hoặc tương đương thì có thêm cây lộng.

    Trước Bàn Vong dán tấm phủ màu trắng ghi chữ ví dụ như: Sanh Ký Tử Qui, Sanh Tiền Giác Ngộ Tam Kỳ Đạo, v.v…

    Bên cạnh đó dán 1 miếng giấy nhỏ ghi: xin cầu nguyện cho: “Phẩm Tước, họ tên người chết, tuổi” để cho người viếng đám cầu nguyện.

    Nơi Thiên Bàn cũng dán vậy: Nam dán dưới bình hoa hoặc các chuông, Nữ dán dưới dĩa trái cây hoặc cái mõ, để ban đạo cầu nguyện

    Chuẩn bị khay hình vuông để đặt: 1. Linh Vị, 2. Dĩa trái cây nhỏ, 3. Bình hoa nhỏ, 4. Đèn Vọng, 5. Lư Hương nhỏ.

    Khi hành lễ luôn đốt 3 cây nhang cắm vào. Khay Vong tượng trưng cho vị trí của Vong Linh.

    Linh Vị (Bài Vị)

    Là 1 miếng giấy nhỏ ghi: Họ tên người chết, Phẩm vị, tuổi, ngày tháng năm sinh, nơi sinh, ngày tháng năm chết, nơi chết, ngày nhập môn cầu Đạo.

    Cáo Từ Tổ – Thành Phục – Tang Phục

    Chuẩn bị 2 mâm chay: 1 cúng Cửu Huyền Thất Tổ, 1 cúng Thần Hoàng Bổn Cảnh, phải có đủ hoa, rượu, nước trà.

    Đặt đồ tang ngay ngắn trong 1 cái mâm (Mâm Tang Phục) để trước bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ. Trên Mâm Tang Phục đốt 2 cây nến.

    Trước tiên, Chức Việc và người nhà đến trước Thiên Bàn cúng Đức Chí Tôn, không đọc kinh, chỉ cầu nguyện cho người nhà Thọ Tang.

    Tiếp sau, đến bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ thiết lễ Cáo Từ Tổ

    Sau cuối đến bàn vong làm lễ Thành Phục phát tang.

    Thời Gian Để Tang Đạo Cao Đài

    • Để tang 81 ngày: tới Chung cửu thì mãn tang.
    • Để tang 281 ngày: tới Tiểu tường thì mãn tang.
    • Để tang 581 ngày: tới Đại tường thì mãn tang.

    Cúng Vong Triêu – Tịch

    Nghi Tế Điện có 6 lễ sĩ hiến lễ, mặc áo lễ màu xanh đậm.

    Việc Tế Điện và 4 bái thài hiến lễ có sự quy định khác nhau tùy Phẩm Cấp của người chết.

    Lễ Cầu Siêu thực hiện trước Bàn Vong.

    Tất cả người thân quỳ trước Bàn Vong.

    Chức Sắc, Chức Việc, chư đồng đạo dự Lễ Cầu Siêu đứng 2 bên Bàn Vong, phân ra 2 bên nam nữ, tay bắt ấn Tý.

    Sau Lễ Cầu Siêu là chư đồng đạo vào bái vong. Khi bái vong thì tay bắt ấn Tý, cầu nguyện cho vong linh rồi quỳ lại 3 lạy. Chức Sắc lớn Phẩm hơn người chết thì không lạy vong mà chỉ niệm hương cầu nguyện trước Bàn Vong.

    Buổi tối tổ chức hòa nhạc trước Bàn Vong và luân phiên tụng kinh Di Lạc trước Thiên Bàn.

    Lễ Chèo Hầu Tại Khách Đình

    Phẩm Lễ Sanh chết làm lễ tang tại Khách Đình có chèo hầu vào buổi tối.

    Các Phẩm Chánh Trí Sự trở xuống không có chèo hầu.

    Việc Chèo Hầu được thực hiện trước hòm người chết ở Phẩm Vị Lễ Sanh làm tăng thêm phần Long Trọng của tang lễ của 1 vị Chức Sắc của Đạo.

    Đối với Chức Sắc trên Phẩm Lễ Sanh,tức Giáo Hữu trở lên còn có Chèo Đưa, nghi lễ Long Trọng Hơn nữa.

    Hành Pháp Độ Hồn: Phép Xác – Đoạn Căn – Độ Thăng

    1 vị Chức Sắc Phẩm Giáo Hữu đến thực hiện Phép Xác – Đoạn Căn – Độ Thăng cho chơn hồn người chết, do gia đình thỉnh cầu, có sắp đặt trước.

    Là tẩy rửa chơn thần người chết cho hết ô trược để nhẹ nhàng bay đến cõi linh thiêng

    Là cắt đứt 7 dây oan nghiệp, không còn ràng buộc chơn thân người chết

    Là đưa chơn hồn người chết bay lên Cửu Trùng Thiên (9 tầng trời)

    Chi tiết về các nghi thức này sẽ được vị Chức Sắc Phẩm Giáo Hữu trở lên hướng dẫn.

    Lưu Ý: Nếu người chết là Chức Sắc Phẩm Giáo Hữu trở lên thì việc hành pháp độ thăng được thực hiện tại Tòa Thánh.

    Đối với trường hợp ở xa không có Chức Sắc hành pháp: cả Chức việc Ban Trị Sự cùng với gia đình tang quyến, bưng Khay Vong đến cúng trước Thiên Bàn, cầu nguyện Đấng Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng ban ân và tha thứ tội tình cho người chết rồi trở lại bàn vong tụng kinh cầu siêu nối tiếp kinh khi đã chết rồi. tụng 3 hiệp rồi niệm chú Thầy 3 lần, sau đó động quan đưa Linh Cữu ra Thuyền Bát Nhã.

    Lễ Động Quan – Khiển Điện

    Có nhạc và lễ. Đầu tiên là thực hiện Lễ Khiển Điện, Lễ Xướng:

    Lễ An Táng Tại Nghĩa Trang

    Tang chủ bưng Khay Vong đến trước Thiên Bàn xá 3 xá rồi đi theo Phướn Thượng Sanh, tiếp theo sau là Linh Cữu. Khi đưa ra tới đường lộ thì phải trật tự.

    – Bảng Đại Đạo

    – Phướn Thượng Sanh

    – Đồng nhi tụng kinh đưa Linh Cữu, có đàn và tụng cho đến khi đến Huyệt mộ

    – Bàn hương án có 1 lọng và 2 lễ sĩ theo hầu

    – Vãng lụy và tràng hoa

    – Thuyền Bát Nhã

    – Gia đình tang quyến

    – Chức Sắc – Chức Việc – Đạo Hữu đưa tang

    – Phướn Thượng Sanh

    – Trật tự đưa đám giống như trên nhưng không có Bàn hương án và Dàn Nam

    Điếu Văn Cảm Tạ – Hạ Huyệt

    Khi đến nghĩa trang, đặt hòm kê trên huyệt.

    Vị chủ lễ đến trước Linh Cữu, trải chiếu và bài mâm cúng Thần Hoàng Bổn Cảnh.

    Thân bằng quyến thuộc đọc điếu văn và lời cảm tạ. (Nếu có)

    Gia đình tang quyến quỳ trước đầu Huyệt, tay bắt ấn Tý, đồng nhi bắt đầu tụng kinh Hạ Huyệt – 3 lần , tiếp sau đó đọc Vãng Sanh thần chú 3 lần rồi lại niệm câu chú của Thầy 3 lần.

    Vị chủ lễ đúng ngang hòm, xá 3 xá rồi thu hồi Tấm Phủ Quan giao cho đội đạo tỳ.

    Đội đạo tỳ bắt đầu tiến hành hạ hòm xuống huyệt.

    *** Chú Ý: Đạo Cao Đài không mở cửa mả, không đem Linh Vị ra huyệt mộ để cúng, không rước vong về nhà thờ, không đốt giấy tiền vàng mã.

    Riêng Đạo Cao Đài còn một số nghi thức sau đám tang như sau:

    • Tuần cửu – Tiểu tường – Đại tường – Xả Tang
    • Nghi Tiết Tang Lễ Hàng Thiên Thần
    • Nghi Tiết Tang Lễ Hàng Nhơn & Địa Thần

    Ngoài ra, còn những trường hợp khác như sau:

    • Tang Lễ Của Đạo Hữu Giữ Lục Trai
    • Tang Lễ Bạt Tiến
    • Trường hợp khác: Tự tử – Sét đánh – Nhi đồng

    Sẽ không thể tránh khỏi thiếu xót vì mỗi nơi sẽ có đôi chút khác biệt. Thành mong quý độc giả góp ý thêm để cải thiện chỉnh sửa cho hợp lý với Phong Tục và Điều Răn của Đạo Cao Đài.

    Tham Khảo Thêm: Báo Giá Dịch Vụ Phục Vụ Tang Lễ Trọn Gói – Xem Tại Đây

    Tham Khảo Thêm: Phong Tục Đám Tang Đạo Phật – Xem Tại Đây

    Tham khảo Thêm: Phong Tục Đám Tang Đạo Công Giáo – Xem Tại Đây

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Lưu Ý Khi Mua Xe Máy Mới
  • Chị Em Thích Xe Tay Ga Nên Mua Xe Nhập Khẩu Hay Chọn Xe Mới?
  • Có Nên Mua Xe Máy Trả Góp Không? Những Điều Cần Biết Trước Khi Mua
  • Bỏ Túi Kinh Nghiệm Mua Xe Máy Cũ Để Tránh Bị Lừa Gạt!
  • Sinh Viên Nhập Học Có Nên Mua Xe Máy Cũ? Giá Xe Bao Nhiêu Thì Phù Hợp?
  • Giới Thiệu Khái Quát Về Đạo Cao Đài

    --- Bài mới hơn ---

  • Phap Mon Tinh Do Trong Dao Cao Dai
  • Nguồn Gốc Hai Bài Niệm Hương Và Khai Kinh Của Đạo Cao Đài
  • Tamduyen.com ” Luận Giải: Về Ý Nghĩa, Công Dụng, Và Xuất Xứ Của Kinh Nhựt Tụng Trong Đạo Cao Đài
  • Mùng 1 Thắp Hương Hoa Gì Để Phúc Lộc Đầy Nhà?
  • Ngày Mùng 1 Thắp Hương Hoa Gì Để Phúc Lộc Ùn Ùn Kéo Tới?
  • Phong trào Thông linh học của phương Tây phát triển nhanh tại Nam bộ, tạo thành phong trào cầu cơ, chấp bút gọi tắt là “cơ bút”. Trong các đàn cơ này, có hai nhóm chính hình thành đạo Cao đài. Nhóm thứ nhất do ông Ngô Minh Chiêu cầu cơ tại các đền, chùa thuộc các nhóm Ngũ chi Minh đạo. Nhóm thứ hai gồm ba ông: Cao Quỳnh Cư, Cao Hoài Sang, Phạm Công Tắc tổ chức xây bàn cầu cơ nhằm mục đích giải trí.

    Đến ngày 12/2/1926, trong một bài cơ Đức Thượng đế đã phán dạy hai nhóm cơ bút thống nhất hình thành đạo Cao đài. Ông Ngô Minh Chiêu được Thiên phong phẩm vị Giáo tông đầu tiên của đạo Cao đài.

    Ngày 7/10/1926, 28 người đại diện cho 247 tín đồ đã thống nhất ký tên vào Tờ khai đạo gửi chính quyền Pháp. Giữa tháng 11/1926, những chức sắc Thiên phong đầu tiên của đạo Cao đài tổ chức lễ khai đạo tại chùa Gò Kén, Tây Ninh, chính thức cho ra mắt Đại đạo Tam kỳ Phổ độ, gọi tắt là đạo Cao đài.

    Tôn chỉ của đạo Cao đài là “Tam giáo quy nguyên, Ng̣ũ chi hiệp nhất”, lấy sự thương yêu làm nền tảng, lấy nhân nghĩa làm phương châm hành đạo, lấy việc phụng sự chúng sinh làm hành động, lấy sự cứu rỗi các chơn linh làm cứu cánh, phấn đấu xây dựng một xã hội đạo đức, an lạc bằng tinh thần thương yêu đồng đạo. Giáo lý của đạo Cao đài đề cao tính thiêng liêng, sự huyền diệu của cơ bút. Luật lệ của đạo Cao đài thực hiện theo Tân luật, Pháp Chánh truyền. Lễ nghi của đạo Cao đài khá cầu kì thể hiện tinh thần Tam giáo đồng nguyên. Đạo Cao đài thờ Thiên nhãn, có nghĩa là “mắt trời”, biểu tượng Đức Chí Tôn của đạo Cao đài. Cơ sở thờ tự có Toà thánh ở Trung ương giáo hội và thánh thất (thánh tịnh, điện thờ Phật Mẫu) ở Họ đạo cơ sở.

    Mô hình tổ chức của đạo Cao đài theo 3 đài: Bát Quát đài là đài vô vi thờ Đức Chí Tôn (Thiên nhãn) và Phật, Tiên, Thánh, Thần; Hiệp Thiên đài là cơ quan bảo pháp có hai chức năng thông công giữa Bát Quát đài và Cửu Trùng đài và bảo vệ pháp luật Đạo, đồng thời giám sát các hoạt động của cơ quan Cửu Trùng đài, đứng đầu Hiệp Thiên đài là phẩm Hộ pháp; Cửu Trùng đài là cơ quan hành pháp, tổ chức hữu hình của đạo Cao đài, gồm 09 Viện và 9 phẩm, đứng đầu Cửu Trùng đài là phẩm Giáo tông.

    Sau ngày khai đạo, những chức sắc lãnh đạo giáo hội Cao đài tiến hành xây dựng Toà thánh, phát triển các thánh thất, điện thờ, xây dựng giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức Giáo hội. Trong 2 năm 1926 – 1927, thông qua cơ bút đạo Cao đài đã tập trung xây dựng xong hai văn bản quan trọng qui định luật lệ, lễ nghi và tổ chức Giáo hội là Pháp Chánh truyền và Tân luật. Vì vậy, đến năm 1930 hoạt động tại Toà thánh dần dần đ­ược củng cố và đi vào nề nếp, những chức sắc thư­ờng trực đã thực hiện theo đúng chức năng nhiệm vụ, các cơ sở đạo phát triển, tổ chức Giáo hội hình thành từ Trung ương đến cơ sở theo 5 cấp hành chính đạo.

    Từ 1931 đến 1934, mâu thuẫn giữa một số chức sắc Hiệp Thiên đài và Cửu Trùng đài ngày càng nặng nề, tình hình nội bộ Giáo hội mất đoàn kết ngày càng tăng, một số chức sắc cao cấp bất đồng với Toà thánh đã tự hoạt động theo ý riêng, tiến hành lập nhiều đàn cơ để lôi kéo tín đồ. Vì vậy, nội bộ chức sắc xuất hiện t­ư tư­ởng ly khai khỏi Toà thánh như­ các ông Nguyễn Văn Ca, Nguyễn Hữu Chính, Trần Đạo Quang, Nguyễn Ngọc T­ương, Lê Bá Trang, các vị chức sắc rời Toà thánh Tây Ninh về các địa phư­ơng lập ra các chi phái Cao đài mới như: Cao đài Ban Chỉnh đạo, Cao đài Tiên Thiên, Cao đài Chơn lý, Cao đài Minh Chơn đạo, Cao đài Bạch y…

    Giai đoạn từ 1935 đến 1975, đạo Cao đài phát triển mạnh mẽ nhất nhưng cũng xảy ra tình trạng phân chia thành nhiều chi phái, đã có lúc lên đến hơn 30 phái Cao đài khác nhau. Số lượng tín đồ đạo Cao đài cũng phát triển nhanh chóng đến hơn 2 triệu người, tập trung chủ yếu ở Nam bộ và một vài tỉnh ở miền Trung, miền Bắc.

    Giai đoạn từ năm 1975 đến nay: sau năm 1975, các phái Cao đài không hoạt động theo mô hình tổ chức cũ. Các Hội thánh Cao đài xây dựng tổ chức hành chính đạo theo hai cấp: cấp Trung ương là Hội thánh, cấp cơ sở là Họ đạo. Từ năm 1995 đến năm 2000, lần lượt 09 Hội thánh Cao đài có đông chức sắc, tín đồ tổ chức Đại hội thông qua Hiến chương, chương trình hành đạo, xây dựng tổ chức giáo hội 2 cấp, hoạt động theo 3 Hội: Thượng hội, Hội thánh, Hội Nhơn sanh và xác định đường hướng hành đạo “Nước vinh, Đạo sáng”.

    Hiện nay, đạo Cao đài có 09 Hội thánh có tổ chức giáo hội gồm: Cao đài Tây Ninh, Cao đài Ban Chỉnh đạo, Cao đài Tiên Thiên, Cao đài Minh Chơn đạo, Truyền giáo Cao đài, Cao đài Cầu Kho Tam Quan, Cao đài Chơn lý, Cao đài Chiếu Minh Long Châu, Cao đài Bạch y.

    Ngoài ra, đạo Cao đài còn có tổ chức Pháp môn Cao đài Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi là pháp môn tu hành của đạo Cao đài theo “Nội giáo tâm truyền” không có chức sắc, không lập giáo hội, chỉ chuyên tu tâm, luyện tánh theo truyền dạy của ông Ngô Minh Chiêu (được công nhận năm 2010). Giáo hội Cao đài Việt Nam (Bình Đức) cũng là một phái Cao đài có tổ chức giáo hội 02 cấp nhưng mới được cấp đăng ký hoạt động tôn giáo năm 2009.

    Bên cạnh các tổ chức giáo hội, đạo Cao đài còn có trên 20 tổ chức Cao đài hoạt động độc lập không phụ thuộc vào các tổ chức Hội thánh nêu trên như: Cao đài Thượng đế, Cao Thượng Bửu Toà, Nam Thành Thánh Thất, Cơ quan Phổ thông giáo lý Đại đạo, Liên Hoa Cửu Cung Thiên đạo học đường, Thánh tịnh Tân Minh Quang, Thánh tịnh Huỳnh Quang Sắc, Thánh tịnh Thiên Trước, Thánh thất Bàu Sen.

    Theo thống kê năm 2009 của các tổ chức Cao đài, đến nay đạo Cao đài có trên 1 vạn chức sắc, gần 3 vạn chức việc, khoảng 2,4 triệu tín đồ, với 958 tổ chức Họ đạo cơ sở được công nhận ở 35/38 tỉnh, thành phố có đạo Cao đài, thành lập 65 Ban Đại diện, 1.290 cơ sở thờ tự (hàng năm có khoảng 4 ngàn tín đồ mới nhập môn vào đạo Cao đài).

    Trong hai cuộc kháng chiến cứu nước, đông đảo chức sắc, tín đồ đạo Cao đài đã tích cực tham gia đóng góp sức người, sức của vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, đồng bào đạo Cao đài đang cùng toàn dân tham gia vào công cuộc đổi mới, góp phần xây dựng đất nước./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mối Liên Hệ Giữa Đức Phật Và Thánh Mẫu
  • 30 Ngày Thiền Thất Bên Trong Vạn Phật Thánh Thành
  • Tả Một Ngày Mới Bắt Đầu Ở Quê Em
  • Thần Cấp Căn Cứ Chương 158: Yêu Tinh Nước Trái Cây
  • Cúng Thần Tài Ngày Rằm: Nhẩm Khấn Đúng Bài Để Thần Ưng Bụng Mở Túi Ban Phát Lộc Lá, Làm Gì Cũng Gặp May
  • Cách Cúng, Văn Khấn, Bài Cúng Mở Cửa Mả

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Cúng Khấn Gia Thần Ở Ngày Mồng 1 Và Ngày Rằm
  • Lễ Cúng Ông Công Ông Táo Gồm Những Gì, Bài Khấn Cúng Sao ?
  • Bài Văn Khấn Cúng Giao Thừa Trong Nhà Và Ngoài Trời
  • Bài Cúng Và Mâm Lễ Cúng Rằm Tháng Giêng Đầy Đủ Và Đúng Cách
  • Văn Khấn Lễ Tạ Mộ
  • Một trong những nghi thức trong tục cúng của người Việt Nam chính là lễ cũng mở cửa mả. Đây là nghi thức được tiến hành sau khi chôn cất người đã khuất sau 3 ngày, với mục địch là giúp vong linh của họ được siêu thoát. Và để có thể thực hiện nghi thức này một cách đúng đắn, bài viết sau đây sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vấn đề: Cách cúng, văn khấn, bài cúng mở cửa mả.

    Cách cúng mở cửa mả

    Đối với việc cách cũng mở cửa mả, tuy là nghi thức quen thuộc, nhưng đối với nhiều người thì điều này vẫn còn khá mơ hồ, chính vì vậy, việc tiến hành nghi thức này vẫn còn nhiều thiếu sót. Và sau đây là cách cúng mở cửa mả hợp lý.

    Đầu tiên là gia chủ cần chủ bị lễ vật hết sức tươm tất, cụ thể như sau:

    • Một cái than bằng bẹ chuối (nam 7 bặc, nữ 9 bặc), môt cây mía lao để cả ngon, một ít tiêng vàng mã
    • Hai bình bông, hai đĩa trái cây (1 cúng đất đai, 1 cúng vong)
    • Ba ống trúc dài khoảng bốn tấc vót nhọn một đầu: 1 đựng muối, 1 đựng nước, 1 đựng nước – bịt lại bằng nilon trên đầu
    • Bốn cây đèn cầy
    • Năm thứ đậu (100 gram chung cho 5 thứ), năm thẻ tre dài 4 tấc vót nhọn 1 đầu (để làm bài vị cúng ngũ phương ngũ thổ tôn thần)
    • Sáu chén chè, hai đĩa xôi, một bộ tam sênh (trứng, thịt, tôm)
    • Bảy cái chung, một bình trà, một xị rượu
    • Mười tám con chim để phóng sanh (thay cho gà)

    Sau khi đã chuẩn bị những lễ vật cần thiết trên xong xuôi, thì tiếp theo bạn cần biết cách để sắp đặt chúng một cách hợp lý. Dưới đây là cách sắp xếp lễ cũng hợp lý mà các gia chủ cần tham khảo.

    • Đối với ba ống trúc có chứa gạo, muối và nước thì nên đặt ở dưới chân mộ, phần uống đặt dựa vào 3 ông trúc với nhau và để phái trên bài vị của người đã khuất.
    • Tiếp đến, các gia chủ nên dọn những lễ vật đã chuẩn bị trước đó như: chè, xôi, bông, trái cây, chung cúng trà rượu, giấy tiêng vàng mã trước mộ (dưới chân) để cúng vong và ở một nơi sạch sẻ gần đó để cúng thần.
    • Tiếp theo, tiến hành cắm năm thẻ trẻ đã dán bài vị ngũ phương ngũ tôn thần ở bốn gốc của mộ người khuất.
    • Cuối cùng, tiến hành thắp hương trước mộ và mân cúng thần cùng các bài vị tôn thần và những bài vị xung quanh đó.

    Nghi thức cúng

    Sau khi thực hiện xong xuôi những bước làm trên, thì tiếp theo các gia chủ sẽ bắt đầu thắp nhang và khấn xin những vị tôn thần dẫn dắt linh hồn người chết về nghe kinh, chứng minh lễ khai mộ.

    Cùng lúc đó, các vị sư thầy sẽ tiến hành tụng kinh và thỉnh tôn thần và triệu linh, làm phép sái tịnh.

    Trong khi các sư thầy tụng kinh là làm pháp thf các thành viên trong gia đình hãy lần lượt chia nhau mỗi người một ít đậu, một người đại diện cầm cây mía, lồng chim theo thầy đi quanh mộ vừa niệm phật, vừa rải đậu.

    Khi đi đủ 3 vòng thì các thành viên trở lại vị trí ban đầu, rồi tiến hành phóng sanh chim, đốt giấy tiền vàng mã, lạy tạ tôn thần và dẫn vong trở về nhà cúng an linh.

    Ý nghĩa của lễ cúng cửa mã

    Tất nhiên mỗi nghi thức cúng lễ đều mang những ý nghĩa khác nhau, và tất nhiên cúng cửa mả cũng không phải là ngoại lệ. Theo quan niệm của ông cha ta, thì sau khi khi chôn người mất được 3 ngày, thì những người thân của người đã mất phải tiến hành mở cửa mả, để vong linh của người mất nhanh chóng siêu thoát.

    • Theo đó, cây thang nam bảy nấc, nữ chín nấc là để người chết leo ra khỏi huyệt mồ.
    • Năm thứ đậu và gạo muối cùng nước dùng để hồn người chết ăn uống cho no dạ.
    • Còn cây miá lau chín đốt là tượng trưng cho chín chữ cù lao, vì lau là lao đồng âm.
    • Còn con gà con để tượng trưng các con nay côi cút như gà con lìa mẹ.
    • Gà con còn được hiểu là gà linh, khi bị đánh nó kêu lên làm vong hồn người chết đang mê muội chưa biết mình đã chết, tỉnh ra.

    Rất nhiều người thắc mắc rằng, liệu lễ cũng cửa mả có phải là nghi thức xuất phát từ phật giáo hay không? Câu trả lời cho vấn đề này chính là không, mà nghi thức này bắt nguồn từ lúc Lão giáo du nhập vào Việt Nam.

    Với những người đã mất, chúng ta tuy có tâm hiếu đạo nhưng làm các việc không đúng Chánh pháp, tức không khéo chính mình trực tiếp xô đẩy người thân vào cảnh giới ác đạo. Đối với vòng luân hồi bất tận, thì chúng ta đã mang quá nhiều ân oán với người xấu số. Chính vì lẽ đó, mà những nghi thức đối với những người đã mất, phải được tiến hành hết sức quy củ và đúng đắng, để những vong linh của họ nhanh chóng siêu thoát và đầu thai.

    Hy vọng rằng, với những chia sẻ cụ thể của bài viết: Cách cúng, văn khấn, bài cúng mở cửa mả trên đây, thì sẽ giúp cho những gia chủ có được sự hiểu biết cần thiết khi chuẩn bị nghi thức này, sao cho đúng đắn và tươm tất nhất, để cho vong linh của những người đã mất được ra đi nhẹ nhàng mà không còn ván vương quá nhiều với trần gian hiện tại.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Cúng Xe Mới (Xe Máy, Xe Ô Tô, Xe Khách, Xe Tải)
  • Bài Cúng Khai Trương Cửa Hàng, Quán Shop, Nhà Xưởng
  • Bài Cúng, Văn Khấn Cho Ngày 16 Hàng Tháng
  • Cách Cúng Giỗ Ông Bà, Cha Mẹ – Văn Khấn, Bài Cúng
  • Hướng Dẫn Cách Cúng Căn 12 Tuổi Cho Trẻ
  • Pháp Môn Cúng Tứ Thời Của Đạo Cao Đài

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghi Thức Tụng Kinh Nam Mô A Di Đà Phật
  • Dâng Cúng Hoa Tươi Thế Nào Khi Lễ Chùa Mới Được Nhiều Phúc Báu?
  • Một Số Người Cho Rằng Bất Cứ Bông Hoa Gì Cũng Dùng Để Cúng Phật Được
  • Công Đức Mua Hoa Cúng Phật
  • Hoa Cẩm Chướng Có Cúng, Thờ Tết Được Không?
  • Bài viết được cập nhật lần cuối vào ngày 11/04/2011

    Cúng tứ thời

    Pháp môn cúng tứ thời

    Do chúng sanh căn trí vô lượng nên có vô lượng pháp môn. Pháp môn là phương tiện để con người tu học và thực hành nơi thế gian nhằm đạt đến một cứu cánh nào đó. Pháp môn Cao Đài nhằm giúp người tín hữu tu tiến trong trường tiến hóa nhằm đặt đến mục đích của Đại Đạo là thế đạo đại đồng và thiên đạo giải thoát. Pháp môn căn bản của đạo cao Đài là pháp môn Tam công bao gồm Công quả, Công trình và Công phu được thực hiện dưới nhiều hình thức, trong đó, Cúng Tứ thời cũng được xem là một trong những hình thức thực hiện pháp môn Tam công.

    Điều thứ hai mươi của Tân Luật có qui định Chức sắc giữ Thánh thất mỗi ngày phải làm tiểu lễ bốn lần theo tứ thời là Tý (từ 11 giờ khuya đến 1 giờ sáng), Mẹo (từ 5 giờ đến 7 giờ sáng), Ngọ (từ 11giờ đến 12 giờ trưa), và Dậu (từ 5 giờ chiều đến 7 giờ tối). Tín đồ tại tư gia cũng cúng tứ thời theo giờ qui định nêu trên. Có sự khác biệt về giờ khởi sự cúng tứ thời giữa các thánh thất Cao Đài. Tòa thánh Tây Ninh qui định cúng đúng 12 giờ khuya, 6 giờ sáng, 12 giờ trưa và 6 giờ chiều; trong khi đó một số Hội thánh khác (trong đó có Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo) bắt đầu cúng tứ thời vào lúc 11 giờ khuya, 5 giờ sáng, 11 giờ trưa và 5 giờ chiều.

    Bốn giờ Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu có vị trí rất đặc biệt; giờ Tý và Ngọ nằm trên trục thẳng đứng, trong khi giờ Mẹo và Dậu nằm trên trục ngang. Hai trục thẳng đứng và nằm ngang giao tiếp với nhau tạo thành hình chữ thập; cho nên, có thể nói đây là biểu tượng của “nhứt âm nhứt dương chi vị Đạo”. Do đó, tứ thời là bốn thời khắc rất quan trọng đối với vũ trụ bên ngoài; cho nên, người tín hữu Cao Đài cúng vào bốn giờ nầy sẽ tạo ra sự hiệp nhất giữa tiểu vũ trụ của nhơn thân và đại vũ trụ ngoại giới. Con người sẽ hấp thu được năng lượng của vũ trụ bên ngoài vào nội thân, tiếp nhận được hồng ân của Đức Chí Tôn nhiều nhất trong một ngày so với các giờ khác.

    Cúng tứ thời bao gồm cả Tam công

    * Công quả

    Khi cúng tứ thời với tâm thanh tịnh và lòng thành kỉnh sẽ tạo ra công năng cứu độ có thể xoa dịu hoàn cảnh khổ đau bên ngoài, hóa giải những ác nghiệp kết tụ, ban vui cứu khổ cho bá tánh chúng sanh và đồng thời tác động trở lại bản thân ngõ hầu giúp cho người tín hữu được minh tâm kiến tánh, thân thể mạnh khỏe, tinh thần an vui.

    Kết thúc buổi cúng là phần cầu nguyện gồm năm điều: Nhứt nguyện Đại Đạo hoằng khai, nhì nguyện phổ độ chúng sanh, tam nguyện xá tội đệ tử, tứ nguyện thiên hạ thái bình, và ngũ nguyện thánh thất an ninh. Khi người tín hữu cầu nguyện với tinh thần vô ngã, thanh tịnh, và kỉnh thành thì nguyện lực vô cùng linh ứng. Lúc ấy, sự cầu nguyện tạo ra công đức vô lượng.

    Nếu cúng tứ thời tại tịnh thất với số lượng đạo hữu càng đông sẽ tạo nên một tấm lưới thiêng vẹt tan mọi chướng duyên giúp chúng sanh cải ác tùng lương, hồi đầu hướng thiện; công đức càng thâm sâu.

    * Công trình

    Cúng tứ thời có tác dụng giúp cho người tín hữu khắc phục tính lười biếng. Giờ Tý và giờ Mẹo phải vượt qua sự buồn ngủ của xác thân, giờ Ngọ và Dậu do tại bị chuyện nầy chuyện nọ. Như vậy cúng tứ thời giúp cho đạo hữu tinh tấn trên đường tu.

    Lại nữa, khi cúng tứ thời tại tịnh thất đạo hữu sẽ có động lực của tập thể thúc đẩy bản thân mình vượt qua những lúc biếng lười, mệt mỏi. Như vậy, nhờ có sức mạnh của tập thể nên từng cá nhân có thể dựa vào đó tự thắng bản thân.

    Cúng tứ thời với tâm chí thành, thanh tịnh sẽ tạo công năng đại định giúp cho đạo hữu phát huy được tác phong đạo hạnh thuần thành đạo đức. Đây chính là việc vun bồi gốc rễ, tất nhiên sẽ sum suê cành lá. Khi tâm an định tất yếu đức hạnh sẽ hiện bày ra bên ngoài.

    * Công phu

    Việc cúng tứ thời sẽ đạt kết quả rất mầu nhiệm khi đạo hữu chú ý tập trung vào lời kinh; ngoài ra, người tín hữu cũng cần hiểu được ý nghĩa của kinh để có thể “tinh nghĩa nhập thần” vào từng câu của bài kinh cúng tứ thời. Như vậy, cúng tứ thời chính là thực hành công phu. Bởi lẽ, lúc ấy thân và tâm của đạo hữu hiệp nhất với nhau. Trong lúc thân (miệng) đọc kinh, tâm của đạo hữu chuyên chú vào từng câu và nghĩa lý của câu kinh đó. Đây chính là quá trình công phu vậy.

    Ích lợi của việc cúng tứ thời

    Khi cúng tứ thời, đạo hữu tập trung hết tinh thần vào việc nhìn Thiên nhãn và hiểu ý nghĩa từng câu kinh. Thiên nhãn chính là Thần của Đức Chí Tôn nơi cõi thế gian trong Tam kỳ Phổ độ, thị hiện tại đền thờ Đức Chí Tôn là Thiên bàn. Nhìn Thiên nhãn tức là sự hiệp thần giữa tiểu thiên địa và đại thiên địa, giữa con người và Thượng Đế. Chính sự hiệp thần nầy sẽ tạo ra sự giao cảm thiêng liêng vô cùng mầu nhiệm. Nhờ tập trung thần lực nhìn vào Thiên nhãn nên con người đã nhận được sự hộ trì thiêng liêng từ Đức Chí Tôn ngõ hầu giúp cho thân thể khỏe mạnh, bệnh tật tiêu trừ, trí huệ phát sinh, tâm linh mẫn tuệ, v.v.

    “Cúng tứ thời có ích cho các con lắm, chớ không phải ích chi cho Thầy. Nếu cúng được thường thì lòng dạ nở nang, tứ chi luân chuyển, có nhiều khi tật bệnh tiêu diệt.”

    Khi đạo hữu đến Chánh điện nơi thánh thất hoặc Thiên bàn tại tư gia cúng tứ thời tức là đến hành lễ trước Đức Chí Tôn, Đức Diêu Trì Kim Mẫu và các Đấng Thiêng liêng. Con người đọc các bài kinh xưng tụng để phần nào hiểu được đại ân sinh thành dưỡng dục của Thầy Mẹ và đại ân cứu độ giáo hóa của các bậc Giáo Tổ. Qua việc cúng tứ thời hàng ngày, con cái của Đức Chí Tôn đặt trọn đức tin và lòng chí thành lên Đức Đại Từ Phụ và các Đấng thiêng liêng để thực hiện sự cộng thông giữa hai cõi hữu hình và vô sắc giới. Thầy khuyên con cái của Ngài cần siêng năng cúng tứ thời để trừ nghiệp thân, miệng đọc kinh với lòng chí thành để trừ nghiệp khẩu, tâm thường cầu nguyện để trừ tà niệm, mắt nhìn Thiên nhãn để thần trụ tâm an.

    Sự cúng lạy con nên sốt sắng,

    Trừ nghiệp thân cho đặng tinh anh,

    Kệ kinh miệng đọc lòng thành,

    Để trừ nghiệp khẩu, khỏi sanh não phiền.

    Con ngày đêm tâm thiền cầu nguyện,

    Để diệt trừ vọng niệm ý tà,

    Tứ thời trẻ ráng gần Cha,

    Nhìn ngay Thiên Nhãn thì là thần gom.

    Đức Quan Âm Bồ Tát nêu lên bốn lợi ích của việc cúng tứ thời gồm: giúp chơn thần được minh mẫn; cầu xin tha thứ tội lỗi; cảm ứng hiệp thông giữa con người và Thượng Đế, giữa con người và các Đấng Thiêng liêng; lương tri lương năng ngày càng thêm mẫn tuệ.

    “Các em phải lo cúng kiếng thường:

    – Một là lập cho chơn thần được gần gũi các Đấng Thiêng liêng cho đặng sáng láng.

    – Hai là cầu khẩn với Đức Đại Từ Bi tha thứ tội tình cho các em và cả chúng sanh.

    – Ba là có tế lễ thì tâm phải có cảm, cảm rồi mới ứng là lẽ tự nhiên.

    – Bốn là tâm có cảm thì lòng bác ái mới mở rộng, mà nhứt là khiếu lương tri, lương năng của các em cũng nhờ đó mà lần hồi thành ra mẫn huệ. Các em nhớ à!”

    Ngoài ra, cúng tứ thời tại thánh thất với số lượng đạo hữu càng đông, càng thanh tịnh sẽ tạo ra được công năng càng lớn lao. Đó chính là tấm lưới thiêng có thể đem lại điển lành bố hóa cho bá tánh chúng sanh; đồng thời thắt chặt tình huynh đệ trong nội bộ thánh thất càng thêm gắn bó.

    Thực hành việc cúng tứ thời

    Ban đầu, người tín hữu Cao Đài cúng tứ thời hàng ngày tại tư gia cần vượt qua một số trở ngại như trạng thái buồn ngủ vào thời Tý và thời Mẹo, bận rộn công việc vào thời Ngọ và thời Dậu. Khi thực hành một thời gian, việc cúng tứ thời sẽ trở thành một nếp sinh hoạt hay thói quen hàng ngày. Lúc đó, đạo hữu không cần phải cố gắng mà vẫn giữ theo khuôn phép. Song, từ chỗ chưa cúng một thời nào trong ngày, người tín hữu cần bắt đầu khởi sự cúng một thời bất kỳ nào thuận tiện nhất trong ngày (Tý, Ngọ, Mẹo, hay Dậu). Đây là bước khởi đầu rất có ý nghĩa để gieo ý thức và tạo thói quen. Sau đó tăng dần lên hai thời, ba thời và đạt đến bốn thời trong ngày. Tuy nhiên, khi tín hữu cúng tứ thời tại thánh thất sẽ có một lợi thế do từng cá nhân có thể nương tựa vào tập thể để vượt qua những điều trở ngại nêu trên. Bởi lẽ, con người thường có tâm lý hay dựa vào lý do nầy hoặc lý do nọ để tạm ngưng một buổi cúng như: nhức đầu, mệt mỏi, bận rộn, v.v. Nếu không vượt qua được chướng ngại tâm lý nầy, người tín hữu lần hồi mất đi thói quen cúng tứ thời nữa. Ngược lại, mỗi lần vượt qua rào cản tâm lý, thói quen cúng thời càng được củng cố thêm vững chắc.

    Lại nữa, Đức Chí Tôn đã gom tụ cả Càn khôn thế giới vào trong cách bày trí phẩm vật trên bàn thờ Thầy. Mỗi lần cúng tứ thời, môn đệ Đức Chí Tôn nhìn Thiên bàn hiểu được con đường tu hành để hiệp nhứt cùng Thầy.

    “Tôn chỉ đạo Cao Đài tỏ rõ,

    Mượn hữu hình bày tỏ chỗ vô,

    Thiên bàn làm cái bản đồ,

    Coi ngoài mà biết điểm tô trong mình.”

    Thiên bàn hay bàn thờ Đức Chí Tôn gồm có 12 phẩm vật: Thánh tượng Thiên nhãn, đèn Thái cực, dĩa trái cây, bình bông, tách nước trà, ba ly rượu, tách nước trắng, hai cây đèn, và lư hương. Số 12 nầy tượng trưng cho Thập nhị Khai thiên là Đức Thượng Đế. Một cách tóm tắt, Thánh tượng Thiên nhãn và đèn Thái cực tượng trưng Đức Thượng Đế và ngôi Thái cực. Hai cây đèn tượng trưng cho lưỡng nghi, âm dương, nhựt nguyệt, tức là từ Thái cực sinh lưỡng nghi. Lư hương gồm năm cây nhang tượng trưng cho năm giai đoạn của người tu gồm: Giới hương (cây hương ở giữa) là giữ trọn giới luật qui điều; Định hương (cây hương bìa bên trái) là thiền định; Huệ hương (cây hương bìa bên phải) là trí huệ phát sinh do thiền định; Tri kiến hương (cây hương hàng ngoài bên trái) là đắc lục thông; Giải thoát hương (cây hương hàng ngoài bên phải) là giải thoát khỏi luân hồi sanh tử. Tách nước trà (bên phải thuộc âm) tượng trưng cho Thần của con người, tách nước trắng (bên trái thuộc dương), tượng trưng cho Khí của con người. Cúng hai chén nước âm dương tượng trưng cho sự hòa hiệp giữa âm dương. Ba ly rượu tượng trưng cho Khí, tức là Hư Vô chi khí do Đức Diêu Trì Kim Mẫu chưởng quản. Ba ly rượu còn tượng trưng cho ba cõi là Hạ giới, Trung giới và Thượng giới; và ba bực tu hành là Hạ thừa, Trung thừa và Thượng thừa.

    “Hai chén nước là âm dương (động và tịnh). Âm dương là cơ động tịnh của Trời đất tức là Thần Khí của các con. Tu hành không nhờ Thần Khí lấy gì luyện đắc Thánh thai? Trời đất không có âm dương làm sao hóa sanh vạn vật? Muôn vật không trống mái làm sao sanh sản thêm ra?

    Vậy âm dương là cái diệu động tịnh của Trời đất vậy.

    Âm dương lại có thêm cái thể dụng của âm dương nữa là nhựt, nguyệt, tức là cặp đèn (lưỡng nghi). Người tu hành biết cách hồi quang phản chiếu thì đắc kim đơn, cơ tại mục là vậy.

    Trên có lư hương tức là Tiên thiên lập đảnh, tượng ngũ khí, ngũ hành. Dưới có lư trầm là hậu thiên an lư, hóa ngũ linh, ngũ đức. Trên đầu là đảnh, dưới đơn điền là lư.

    Còn Hoa, Quả, Trà là Tam bửu của các con. Ngày nào hiệp Tam bửu rồi là thành Đạo.”

    Tân Luật qui định rằng, người tín hữu mỗi tháng phải đến thánh thất hiến lễ trong hai ngày Sóc Vọng.

    Tạm kết

    Cúng tứ thời là một pháp môn tuy đơn giản, nhưng khi thực hành đều đặn hàng ngày sẽ giúp cho người tín hữu được thân an, thần định, trí huệ. Cúng tứ thời cũng chính là pháp môn tu hành của người tín hữu Cao Đài. Bởi lẽ, cúng tứ thời gồm đủ tam công: công quả do cầu nguyện cho cơ đạo hoằng khai, cho thiên hạ thái bình, cho thánh thất an ninh; công trình do sự trì chí tinh tấn trong việc cúng tứ thời hàng ngày; công phu do thân tâm hiệp nhứt trong việc nhìn Thiên nhãn và tinh nghĩa nhập thần từng câu kinh.

    Trước tiên, người tín hữu Cao Đài cần bắt đầu việc cúng kính một thời trong ngày và duy trì đều đặn không gián đoạn. Khi có điều kiện sẽ gia tăng hai thời, ba thời và sau cùng là bốn thời trong ngày.

    Khi cúng tứ thời, người tín hữu Cao Đài ý thức cách bày trí trên Thiên bàn là cái bản đồ để hiểu được guồng máy thiên cơ và con đường phối thiên của tiểu thiên địa.

    Thiện Hạnh

    04-3-2011

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sớ Cúng Bổn Mạng I (Phương Phi Tiên Nữ)
  • Sớ Cúng Đáp Nguyện Lành Bệnh (Vô Thượng Y Vương)
  • Có Nên Khắc Tên Người Hiến Cúng Vào Tượng Phật, Kinh Sách Không?
  • Nghi Thức Hiến Cúng Vu Lan
  • Quy Nhơn: Phật Tử Cải Táng Mộ Để Hiến Đất Cúng Chùa
  • Nghi Thức Khai Mộ (Mở Cửa Mả)

    --- Bài mới hơn ---

  • Sao Vân Hớn Là Gì Và Cách Cúng Sao Giải Hạn Năm 2022
  • Văn Khấn Cúng Sao Giải Hạn Sao Vân Hán
  • Dâng Sao, Cúng Sao Giải Hạn: Tránh Rơi Vào Bẫy Mê Tín
  • Xem Sao Hạn Năm 2022 Cho 12 Con Giáp
  • Cúng Sao Giải Hạn Đầu Năm Nên Hay Không ?
  • Nghi thức khai mộ (Mở cửa mả) – 2 nghi

    I. Chuẩn bị: Các thức cúng gồm:

    1. Một cái thang bằng bẹ chuối (Nam 7 bậc, Nữ 9 bậc), một Cây Mía Lao để cả ngọn, một ít tiền Vàng Mã

    2. Hai Bình Bông, hai đĩa Trái Cây (1 cúng Đất Đai, 1 cúng Vong)

    3. Ba ống Trúc dài khoảng bốn tấc vót nhọn một đầu: 1 đựng Muối, 1 đựng Gạo, 1 đựng Nước – bịt lại bằng Nilon trên đầu

    4. Bốn cây Đèn Cầy, một bó Nhang lớn, 3 cây Nhang trung (Cở ngón tay út)

    5. Năm thứ Đậu (100 gram chung cho 5 thứ), năm Thẻ Tre dài 4 tấc vót nhọn 1 đầu (Để làm Bài Vị cúng Ngũ Phương Ngũ Thổ Tôn Thần)

    6. Sáu Chén Chè, hai Đĩa Xôi, một bộ Tam Sênh(Trứng, Thịt, Tôm)

    7. Bảy cái Chung, một bình Trà, một xị Rượu

    8. Mười tám con Chim để phóng sanh (Thay cho Gà)

    * Lưu ý: Nên sử dụng chén, đĩa.. bằng nhựa dùng một lần – Cúng xong để lại tại Mộ luôn không dọn về.

    Khi đi ra mộ Gia Quyến nhớ mặc Đồ Tang, mang theo cái Bài Vị.

    Chuẩn bị sẵn Ba Mâm Cơm Canh để về nhà Cúng An Linh

    II. Sắp đặt lễ cúng:

    Cắm ba ống Trúc có Gạo, Muối, Nước dưới Chân Mộ, dựa cái thang vào 3 ống Trúc, đằng sau phía Trên để cái Bài Vị.

    Bày hai mâm lễ cúng có Chè, Xôi, Bông, Trái Cây, chung cúng Trà Rượu, Giấy Tiền Vàng Mã, một mâm trước Mộ (Dưới chân) để cúng Vong và một mâm ở một nơi sạch sẽ gần đó để cúng Thần.

    Cắm Năm Thẻ Tre đã được dán Bài Vị Ngũ Phương Ngũ Thổ Tôn Thần ở bốn góc và giữa Mộ.

    Thắp nhang trước Mộ, mâm cúng Thần và các Bài Vị Tôn Thần cũng như ở các ngôi Mộ xung quanh.

    Để Cây Mía và Lồng Chim phía bên phải ngôi Mộ.

    III. Nghi thức cúng:

    Thắp nhang khấn xin Chư Vị Tôn Thần dẫn dắt Linh Hồn người chết về nghe Kinh, chứng minh Lễ Khai Mộ.

    Thầy tụng Kinh thỉnh Chư Vị Tôn Thần và triệu Linh, làm phép Sái Tịnh

    Gia đình chia nhau mỗi người một ít Đậu, một người đại diện cầm Cây Mía, Lồng Chim theo Thầy đi quanh mộ vừa niệm Phật, vừa rải Đậu.

    Sau khi đi đủ ba vòng trở lại vị trí cũ, phóng sanh Chim, đốt Giấy Tiền Vàng Mã, lạy tạ Tôn Thần và dẫn Vong trở về nhà cúng An Linh.

    (Dọn 2 mâm cúng, mỗi mâm có đèn nhang riêng để cúng Vong và Thần Mả; sắm 5 ống tre: 1 ống đựng Mè, 1 ống đựng Đậu, 1 ống đựng Gạo, 1 ống đựng Muối, 1 ống đựng Nước, đầu ống bịt vải cột dây, đuôi ống vót nhọn để cắm ngang đầu Mả; 1 cây Mía Lau cột chân một con Gà Giò; 5 cây Thẻ sơn vôi trắng có vẽ Bùa Trấn Mả cắm bốn góc Mả và giữa núm Mả; 1 cây Thang ba nấc bằng cọng chuối dựng vô đầu Mả; 1 gói năm thứ Đậu để Sư rải quanh Mả ).

    XƯỚNG: Tựu vị – Niệm hương – Lễ tam bái – Bình thân quỳ.

    TÁN: Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát ma ha tát. ( 3 lần)

    ĐỒNG DẪN: Hương đăng thỉnh, hương đăng triệu thỉnh.

    DẪN: Nhứt tâm triệu thỉnh: Đương sơn bổn xứ, Thổ Địa chánh thần, Ngũ Phương Mộ Trạch sứ giả, lai đáo chứng tri, thọ thử cúng dường, thùy từ gia hộ.

    DUY NGUYỆN: Thượng tuân Phật sắc, hạ mẫn phàm tình, khai Mộ dẫn Vong, nguyện thùy chứng giám.

    ĐỒNG DẪN: Hương hoa thỉnh, hương hoa triệu thỉnh.

    DẪN: Nhứt tâm triệu thỉnh, Thượng Hạ truy hồn tam sứ giả, Đông Tây thủ mạng nhị Thần Quan, tiếp dẫn phục vì Vong, tánh … nhứt vị Thần (Nữ: Chánh) Hồn. Lai phó Mộ phần, thọ tài hưởng thực.

    DUY NGUYỆN: Tam đồ lộ viễn, thích triệu lai lâm, thính Pháp văn Kinh, siêu thăng Lạc Quốc.

    DẪN: Thiết dĩ: Diêm, mễ, thủy thạnh tam đồng, tiểu trúc giá chủng nhứt chi, ức Phụ Mẫu dưỡng nhi chi lao khổ.

    DẪN: Thần thê đăng Tam Cấp, niệm Tam Cang, xuất Tam giới vãng Lạc Bang.

    DẪN: Thiết dĩ: Ngũ chủng đậu tượng Ngũ Thường chi lý, phối Đại Thừa chủng trí chi duyên, tiền Phật Gia tứ chủng ư Tây Thiên, Chư Tôn Giả chủng vu Đông Độ, tung thử Thiền Gia vi Tổ, chủng miêu căn xứ xứ tục truyền, tế độ chư Phật Tử hữu duyên, tiếp dẫn chúng sơ đăng Giác Lộ. Ngô kim phụng pháp, sái đậu thanh miêu. ( Hốt đậu rải bốn phía nấm Mộ).

    • Nhứt sái đậu Hương Hồn siêu Tịnh Độ.

    • Nhì sái đậu Hương Hồn vãng Tây Phương.

    • Tam sái đậu đồng kiết diệp miêu căn, hộ Tang Chủ tăng long phước thọ.

    DẪN: Thiết dĩ: Kê thinh ốc ốc, sầu thất mẫu, thống lạc quần, hốt đại minh Khai Mộ chi môn, nguyện Vong Giả Thần Hồn định tĩnh.

    TỤNG: ( Sư đi trước, Chủ Tang cầm cây Mía có cột Con Gà nơi gốc Mía kéo đi theo Sư quanh mộ 3 vòng, Sư vừa đi vừa tụng):

    * Công đức bảo sơn thần chú: Nam mô Phật đà da, Nam mô Đạt mạ da, Nam mô Tăng già da, Án, tất đế hộ rô rô, tất đô rô, chỉ rị ba, yết rị bà, tất đạt rị, bố rô rị, ta bà ha ( 3 lần).

    XƯỚNG: (Thả gà) Án, linh linh tốc xuất hồng hồng tá ha. ( Bạt tai cho con Gà chu chéo lên rồi thả ra).

    TỤNG: Biến thực biến thủy chơn ngôn, cẩn đương trì tụng:

      Nẳng mồ tát phạ đác tha nga đa, phạ lồ chỉ đế. Án tam bạt ra, tam bạt ra hồng. (3 lần).

    XƯỚNG: Trà châm – Lễ nhị bái – Bình thân quỳ.

    TỤNG:

      Nẳng mồ tô rô bà da, đác tha nga đa da, đát điệt tha. Án tô rô, tô rô, bác ra tô rô, bác ra tô rô, ta bà ha. (3 lần).

    XƯỚNG: Tái hiến trà châm – Lễ nhị bái – Bình thân quỳ.

    TỤNG:

      Án nga nga nẳng tam bà, phạ phiệt nhựt ra hồng. (3 lần).

    XƯỚNG: Chung hiến trà châm – Lễ nhị bái – Bình thân quỳ.

    * TỤNG CHÚ VÃNG SANH

    Nẳng mồ a di đá bà dạ, đá tha già đá dạ, đá địa dạ tha, a di lị đô bà tỳ, a di lỵ đá tất đam bà tỳ, a di lỵ đá tỳ ca lan đế, a di lỵ đá tỳ ca lan đá, già di nhị già già na, chỉ đá ca lệ ta bà ha.

    TÁN: Ngũ phương Đồng Tử khai minh lộ, Thần Kê linh hiển dẫn Hồn quy, kim thời sái Đậu Hồn siêu thoát, Khai Mộ giải Tà vĩnh an ninh.

    Nam mô Tiêu Tai Giáng Kiết Tường Bồ Tát ma ha tát. ( 3 lần)

    XƯỚNG: Khai Mộ Môn sự tất, Tang Chủ kiền thiềng lễ tứ bái.

    – Tang chủ tựu vì. Lễ tam … bái. Bình thân giai quì.

    Ngũ phương Tôn Thần lai văn triệu thỉnh lai lâm.

    I). HƯƠNG HUÊ THỈNH:

    * Nam mô nhứt tâm phụng thỉnh: Đương Sơn bổn Xứ phước Đức chánh thần. Ngũ Phương mộ trạch sứ giả Tôn Thần, lai đáo Đàn Tiền chứng minh pháp sự. Thọ thử cúng dường thùy từ gia hộ, tiếp triệu phục vì Vong chánh …

    Duy nguyện: Thừa Tam Bảo lực, trượng bí mật ngôn. Vong Linh lai đáo Mộ Phần, thính Pháp văn Kinh, thọ tài hưởng thực.

    – Kiềng thiềng tửu châm sơ tuần. Lễ nhị … bái.

    II). HƯƠNG HUÊ THỈNH:

    * Nam mô nhứt tâm phụng thỉnh: Thượng Hạ Truy Hồn tam sứ giả, Đông Tây thủ mạng nhị Thần Quan. Tiếp độ phục vì Vong chánh …

    Duy nguyện: Tam đồ lộ viễn, tiếp triệu lai lâm. Vong Linh lai đáo Đàn Tiền, thính Pháp văn Kinh, thọ tài hưởng thực.

    – Kiềng thiềng tửu châm nhị tuần. Lễ nhị … bái.

    III). HƯƠNG HUÊ THỈNH:

    * Nam mô nhứt tâm phụng thỉnh: Ngũ Phương Ngũ Đế, Chúa Ngung Phương Thần, cập tùng Bộ Hạ lai đáo Đàn Tiền chứng minh pháp sự, thọ thử cúng dường, thùy từ gia hộ. Tiếp triệu phục vì Vong Chánh … . Lai đáo Mộ Phần, thính Pháp văn Kinh, thọ tài hưởng thực.

    – Kiềng thiềng tửu châm tam tuần. Lễ nhị … bái.

    * Giáo hữu biến thực biến thủy chơn ngôn:

    • Nẳng mồ tát phạ đác tha nga đa, phạ lồ chỉ đế. Án tam bạt ra, tam bạt ra hồng. (3 lần).

    • Nẳng mồ tô rô bà da, đác tha nga đa da, đát điệt tha. Án tô rô, tô rô, bác ra tô rô, bác ra tô rô, ta bà ha. (3 lần).

    • Án nga nga nẳng tam bà, phạ phiệt nhựt ra hồng. (3 lần).

    Nhất đích thanh lương thủy, năng trừ cơ khát tai.

    – Kiềng thiềng trà châm bảo mãn. Lễ nhị … bái.

    A-Di-Ðà Phật thân kim sắc

    Tướng hảo quang-minh vô đẳng-luân

    Bạch hào uyển-chuyển ngũ tu-di

    Cám mục trừng thanh tứ đại hải.

    Quang trung hóa Phật vô số ức,

    Hóa Bồ-tát chúng diệc vô-biên

    Tứ thập bát nguyện độ chúng-sanh

    Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn

    Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

    • Nam mô A Di Đà Phật. (108 lần)

    • Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát. (3 lần)

    • Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát. (3 lần)

    • Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. (3 lần)

    • Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. (3 lần)

    (Vừa niệm Phật vừa dẫn Gia Đình kéo Gà đi quanh Mộ).

  • Thần Kê nhất thượng từng đàng Chư Phật chứng minh.
  • Thần Kê nhì thượng từng đàng Vong Giả siêu sanh Tịnh Độ.
  • Thần Kê tam thượng từng đàng Tang Chủ phước thọ tăng long.
  • (Cho Gà ăn đậu, uống rượu. Thả gà)

    * Tụng Chú Táng Sa: (Rải đậu, Mè)

    Án a mộ già vĩ lô tả nẵng, ma ha mẫu nại ra ma nễ, bát nạp ma, nhập phạ lã, bát ra mạt đá dã hồng. (3 lần)

    Kiềng thiềng dĩ kim ngân phần hóa.

    * TỤNG CHÚ VÃNG SANH

    Nẳng mồ a di đá bà dạ, đá tha già đá dạ, đá địa dạ tha, a di lị đô bà tỳ, a di lỵ đá tất đam bà tỳ, a di lỵ đá tỳ ca lan đế, a di lỵ đá tỳ ca lan đá, già di nhị già già na, chỉ đá ca lệ ta bà ha. (3 biến )

    – Khai Mộ dẫn Vong sự tất. Tang Chủ kiềng thiềng lễ tất tứ … bái.

    (Lấy 3 cây Nhang cắm vào Bài Vị).

    Thỉnh Vong về nhà.

    Qui khứ lai hề qui khứ lai.

    Tây phương Tịnh độ bạch liên khai.

    Nhứt trận hương phong xuy hốt đáo,

    Hương hồn thừa thử bộ kim giai.

    Số người đang online: 656

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Khấn Nôm Cúng Ông Công Ông Táo 23 Tháng Chạp
  • Sớ Cúng Vớt Đất ( Hoàng Thiên Giáng Phúc )
  • Văn Tế Cúng Ông Táo
  • Chùa Vạn Niên Tây Hồ
  • Tết Ông Công Ông Táo: Chuẩn Bị Mâm Cỗ Cúng, Cúng Ở Đâu Và Văn Khấn Như Thế Nào?
  • Tục Mở Cửa Mả Ở Nam Bộ

    --- Bài mới hơn ---

  • Đại Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung
  • Đặc Sắc Đại Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung Của Cao Đài Tây Ninh
  • Nhập Trạch Là Gì? Thủ Tục Làm Lễ Nhập Trạch Nhà Mới, Chung Cư
  • Lễ Nhập Trạch Về Nhà Mới Cần Chuẩn Bị Những Gì
  • Cúng Rằm Tháng Giêng Gồm Những Lễ Vật Gì, Giờ Nào Tốt?
  • Thông thường sau khi chôn cất người quá cố khoảng 3 ngày thì gia chủ tổ chức mở cửa mả tại mộ phần người chết. Nhiều người còn nặng sự mê tín thì quan niệm rằng: người chết sau khi được an táng dưới mộ dù là mộ đất hay mộ xi măng thì vong linh sẽ không được siêu thoát, họ sẽ bị khổ sở, đày ải quanh quẩn dưới mộ sâu, vì vậy cần phải mở cửa mả để vong hồn họ ra khỏi huyệt mộ về chốn siêu thoát.

    Trong khi làm lễ, gia chủ phải có con gà con dắt theo để nó kêu lên khiến hồn người chết nghe tiếng gà thức dậy bởi họ quan niệm người chết sẽ ngủ mãi mãi nếu không có tiếng gà đánh thức. Con gà con còn biểu tượng cho hình ảnh thiếu vắng tình thương của cha mẹ. Nếu người quá cố còn trẻ và chưa có vợ (chồng) thì không nhất thiết phải có con gà con.

    Ảnh : Mâm cúng (Ảnh tư liệu)

    Song song đó, người ta còn làm cái thang nhỏ bằng tre, trúc, hay bằng cây chuối có 7 thanh chắn ngang (nếu người mất là đàn ông), 9 thanh (nếu người chết là đàn bà) với quan niệm để người chết có thể leo lên khỏi huyệt một cách dễ dàng hơn. Cây thang năm tấc biểu trưng cho ngủ thường, ba ống trúc tượng trưng tam cang. Cạnh đó gia chủ còn đem theo cây mía lau tượng trưng cho việc cha mẹ nuôi con khổ nhọc mà ốm o gầy mòn như cây lau, cây sậy (?)

    Cạnh đó người cúng còn chuẩn bị hai bình bông, hai đĩa trái cây (1 cúng đất đai, 1 cúng vong); 3 ống trúc dài khoảng 4 tấc vót nhọn một đầu: 1 đựng muối, 1 đựng nước, 1 đựng nước – bịt lại bằng nilon trên đầu ống trúc và 4 cây đèn cầy, 5 thứ đậu, 5 thẻ tre dài 4 tấc vót nhọn 1 đầu (để làm bài vị cúng ngũ phương ngũ thổ tôn thần); 6 chén chè, 2 đĩa xôi, một bộ tam sên (trứng, thịt, tôm), 7 cái chung, một bình trà, một xị rượu, 18 con chim để phóng sanh.

    Theo đạo Phật, không có lễ mở cửa mả mà chỉ có lễ an vị mộ. Nghĩa là sau khi chôn cất ba ngày, con cháu trở ra mộ thăm viếng đắp sửa phần mộ cho chu đáo, vì trong ngày an táng gia quyến bận rộn nên mọi việc đắp mộ đều giao cho đạo tỳ. Trong khi tang quyến phải rước vong về nhà làm lễ an sàng, sợ rằng đạo tỳ làm không kỹ lưỡng, do đó mới ra thăm mộ kiểm tra sửa sang lại. Đồng thời tang quyến nhân đây làm lễ cúng vái tỏ lòng thương nhớ. Lễ này có thể gia chủ tự cúng, không nhất thiết mời thầy. Hơn nữa, hôm an táng xong đã rước vong về nhà làm lễ an sàng thì đâu còn hồn nào dưới mộ mà phải mở cửa mả cho hồn lên.

    Ảnh: Mở cửa mả (Ảnh tư liệu)

    Không cần đem theo gà, mía vì đó chỉ là hình thức tượng trưng hiếu đạo của nhà Nho, chỉ cần hoa trái xôi chè để cúng ở mộ là đủ. Riêng quan điểm của Nho gia, 3 ngày sau khi có người thân qua đời thì gia tộc phải khóc than tỏ lòng thương tiếc. Nhiều gia đình có người ở xa thường làm lễ “xả tang” trong ngày mở cửa mả để không phải có mặt trong những lần cúng tiếp theo như cúng 7 ngày, 21, 49. 100 ngày; không phải để tang người chết nữa. Khi đó, thầy tụng vừa tụng kinh vừa lấy cây lược chải đầu và cắt một nhúm tóc nhỏ của người được xả tang.

    Đạo Phật không đặt nặng hình thức chỉ chú trọng vào thực tế, người sống nếu thật lòng thương nhớ người chết thì phải làm các việc phước thiện như tụng kinh niệm Phật, cúng dường Tam bảo, bố thí, phóng sanh… hồi hướng công đức cho người chết, như thế vong linh mới an lạc, siêu thoát.

    Tuy có phần nặng về tâm linh siêu nhiên nhưng tục lệ nầy đã và đang được rất nhiều cư dân Nam bộ duy trì từ hàng trăm năm qua như một sự tưởng nhớ với người quá cố.

    Trần Trấn Giang

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuẩn Bị Mâm Cúng Động Thổ Xây Nhà, Công Trình
  • Thủ Tục, Lễ Vật Và Bài Cúng Động Thổ Khởi Công Làm Nhà
  • Các Nghi Lễ Cúng Xây Nhà Tại Việt Nam
  • Tổng Hợp Các Nghi Lễ Cúng Khi Xây Nhà Tại Việt Nam
  • Phong Thủy Cổng, Cửa Nhà: Kích Thước, Hướng Bố Trí Theo Tuổi
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100