【#1】Ngày Vía Thần Tài Mồng 10 Tháng Giêng

Những năm gần đây xuất hiện trào lưu người dân đổ xô đi mua vàng trong ngày “vía thần tài” mùng 10 tháng Giêng, mong được may mắn tài lộc trong năm mới. Thực tế, ngày này chỉ là do một số người kinh doanh tuyên truyền nhằm thúc đẩy việc bán hàng đầu năm, chứ không có tài liệu nào ghi chép, cũng như phong tục trong dân gian. Người dân có thể đi mua bán nhưng không nhất thiết phải chen lấn, mua giá cao trong ngày này.

Đầu năm, hầu hết các gia đình người Việt đều có lễ đón Thần tài theo phong tục dân gian cho rằng đầu năm cần chào đón thần tài từ thiên đình về hạ giới. Lịch trình cụ thể là mùng 2 làm lễ đón Hỷ thần (thần may mắn, hạnh phúc), mùng 3 đón Tài thần (thần tài lộc), mùng 4 là đón tiếp các vị thần khác từ thiên đình về hạ giới, mùng 5 là ngày phá trừ, dỡ bỏ đồ cúng. Riêng với các cửa hàng kinh doanh thì cúng thần tài hàng ngày.

Trong ngày vía Thần Tài mọi người thường mua: 1 bình hoa, 1 con tôm, 1 con cá lóc nướng, 1 con cua, 1 miếng heo quay, 1 bộ giấy tiền vàng mã, 1 đĩa ngũ quả, chum rượu để cúng lấy vía Thần Tài, cầu xin cho năm mới làm ăn phát đạt.

Lệ mua vàng cầu may trong ngày vía Thần Tài – mua vàng ngày vía thần tài

Thông thường, những người làm ăn buôn bán ngày nào cũng thắp nhang cho Thần Tài vào buổi sáng sớm khi vừa mở cửa. Ngày 10 âm lịch hàng tháng cũng được xem là ngày vía Thần Tài, vào ngày này họ sẽ cúng Thần Tài cẩn thận để khỏi mất tài lộc trong tháng đó. Tuy nhiên, vào ngày vía Thần Tài quan trọng nhất trong năm – ngày 10/1, mọi người còn có truyền thống mua vàng để cầu may cho cả năm.

Chưa thấy tài liệu nào chứng minh lệ này hình thành từ khi nào, chỉ biết là đã nhiều năm nay, việc mua vàng đầu năm mới luôn diễn ra tấp nập và sôi động trên khắp cả nước.

Đúc kết từ những kinh nghiệm của dân gian và cả khoa học phong thủy, việc mua vàng ngày vía Thần Tài đã được chứng minh là cách cầu may mắn về tài lộc rất hữu hiệu. Những ai nhanh chân mua vàng trong ngày 10 tháng Giêng âm lịch thì sẽ được suôn sẻ cả năm, làm ăn thuận lợi, bạc tiền rủng rỉnh.

Cách lễ cúng thần tài như thế nào?Nơi cúng lễ

Việc làm lễ đón thần tài được cho là rất quan trọng vì theo dân gian, có đón thần tài mới bổ sung thêm được tài lộc trong năm. Người làm kinh doanh, không làm kinh doanh đều làm lễ giống nhau, chỉ khác là địa điểm. Người làm kinh doanh thờ thần tài nên làm lễ ở nơi kinh doanh chứ không nên làm ở đình, chùa. Người không kinh doanh có thể cúng ở nhà hay đình chùa đều được, vì bản thân “thổ địa” thờ tại nhà cũng kiêm chức năng của thần tài.

Nhiều người lễ ở nhà riêng thường đặt mâm cúng trước cửa, hay ngoài sân, ban công. Thực tế, cúng ngoài sân hay ngoài cửa dễ có “vãng vong”, dân gian gọi là vong lang thang vào phá. Tốt nhất ở nhà riêng nên đặt mâm cúng trong nhà.

Thờ thần bao nhiêu thì vừa

Nhà đã có ban thờ thần linh, gia tiên thì không nên làm thêm ban thờ thần tài. Thờ nhiều thần thánh trong nhà sẽ làm gia đình bất hòa, con cái khó bảo hoặc gây ra những trục trặc khác. Nhiều nhà đặt cả Phật Di Lặc ngồi trên ban thờ thần tài, hay ban thờ thổ địa đặt riêng trên ban thờ thần tài… là không cần thiết và không nên, trong tâm linh là bất kính. Thực tế đo đạc bằng máy móc khoa học cũng thấy những trường hợp này gây ra trường khí nhiễu loạn, không ổn định. Nếu trót đặt nhiều ban thờ, nhiều bát hương nên làm lễ để thu gọn bớt lại.

Đồ lễ

Đồ lễ đơn giản, lễ vừa phải, không xa xỉ lãng phí mới được thần tài chú ý. Đa phần chỉ cần hoa tươi, quả tươi, nước sạch. Nhiều nơi làm lễ cúng thần tài to hơn cả cúng tất niên là không cần thiết. Một số lưu ý:

– Hương: Có nơi cho rằng thắp vào sáng, có nơi cho rằng cần thắp vào chiều tối, thực ra là không cần thiết và không có quy định cụ thể. Có thể chọn giờ tốt cho cúng lễ trong ngày hoặc chọn ngày giờ tốt có sao tốt đến để kích hoạt trường khí dễ hơn.

– Nước: Chén để nước cần rửa sạch trước khi lấy nước mới. Chỉ cần một chén nước là đủ, chứ không phải ba hay năm chén. Nước không để quá đầy, cần cách miệng chén khoảng 1 cm. Cẩn thận không để nước tràn ra hoặc đổ lên bàn.

– Hoa: Bình hoa có thể bằng thủy tinh, gốm sứ… đều được. Chỉ nên chọn hoa tươi, hoa có nụ và có hương thơm càng tốt. Không nên dùng hoa giả.

– Quả: Quả nên chọn loại tươi, ngon, nhìn nguyên vẹn, thường dùng táo, lê, chuối, cam, quýt… Cũng như hoa, không dùng quả nhựa, quả nhân tạo không ăn được.

– Đèn, nến: Đèn cúng là đèn thật như đèn dầu, nến. Không dùng đèn nhấp nháy, đèn điện… vì đều tạo ra trường khí xấu, ảnh hưởng đến việc thờ cúng.

Nội dung văn khấn (chỉ để tham khảo)

Kính lạy: Thần linh Thổ địa, Phúc đức Chính thần, Tài thần (nếu làm ở nơi kinh doanh, hay ngoài sân), Gia tiên họ …., bà cô ông mãnh, chư vị tiên linh (nếu làm trong nhà, ở ban thờ gia tiên thì thêm phần này).

Hôm nay là ngày …… tháng ….. năm ….(âm lịch)

Chúng con là…………………………………………………

Ngụ tại………………………………………………………

Chúng con thành tâm, bày biện hương hoa, nghi lễ cung trần, dâng hiến Tôn Thần, đốt nén tâm hương, dốc lòng bái thỉnh.

Kính xin phù hộ độ trì, con cháu mạnh khỏe, gia đạo bình an, phát tài phát lộc, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

Phục duy cẩn cáo!

【#2】Vị Trí, Cách Bài Trí Ban Thờ Thần Tài Để Mang Lại Tài Lộc Quanh Năm

(Thethaovanhoa.vn) – Theo truyền thuyết, chuyển kể rằng ngày xưa dưới trần gian không Thần Tài mà chỉ có Thần Tài ở trên trời, người là vị thần cai quản tài lộc, tiền bạc.

Vào ngày vía Thần tài, hầu như tất cả mọi người đều làm lễ cúng để cầu xin một năm mới làm ăn được tấn tài tấn lộc.

Do một lần đi chơi, nhậu xỉn, Thần Tài say quá không làm chủ bản thân nên đã rơi xuống trần gian, ngất xỉu do đầu va vào đá. Mọi người thấy Thần Tài ăn mặc như diễn viên tuồng cải lương thì lột sạch quần áo, mũ nón đem bán. Thần Tài tỉnh dậy không nhớ mình là ai nên đi lang thang ăn xin khắp nơi.

Đến một cửa hàng kinh doanh nọ, ông thấy chủ cửa hàng buôn bán gà vịt ế ẩm, Thần Tài được mời ông chủ vào ăn. Kỳ lạ thay, từ khi Thần Tài vào ăn thì khách ở đâu ùn ùn kéo tới, người bán hàng thấy vậy, ngày nào cũng mời thầy tài đến ăn. Có lẽ từ đây mà có câu Thần Tài gõ cửa. Mọi người dân buôn bán quanh vùng coi Thần Tài như báu vật, liền lập bàn thờ để cúng.

Ban thờ Thần tài – Thổ địa rất được coi trọng bởi đây là các vị thần cai quản tài lộc, tiền bạc và may mắn.

Tại sao lại thờ Thần tài và Thổ địa chung?

Theo giân dan, Thần tài là vị thần cai quản tiền tài, vàng bạc còn Thổ địa (Ông địa) được xem là vị thần hộ mệnh, cai quản vùng trời, đất đai, phù hộ cho mùa màng tươi tốt, con người và cả gia súc. Một vị gắn liền với đời sống kinh tế, buôn bán, một vị mang đặc trưng của kinh tế nhà nông. Vì thế, hai vị thần thường được thờ cúng chung với nhau và việc thờ cúng cũng được thực hiện quanh năm. Tuy nhiên, việc cúng lễ hai vị thần này được coi trọng hơn cả là vào ngày Thần tài về trời 10 tháng Giêng âm lịch hàng năm.

Vị trí đặt ban thờ Thần tài thế nào mới đúng?

Việc đặt ban thờ Thần tài là điều được coi trọng nhất và thường được đặt theo hướng tốt đối với từng gia chủ hoặc hướng đón Khí (Lộc) từ ngoài vào. Đối với những người buôn bán, kinh doanh, ban thờ Thần tài được đặt hướng thuộc cung Thiên Lộc hoặc Quý Nhân.

Cung Thiên Lộc mang lại may mắn về tiền bạc, tài sản thăng tiến, thịnh vượng. Bên cạnh đó, việc đặt ban thờ theo cung này còn khiến gia chủ làm ăn tấn tới, phát đạt, kinh doanh thuận lợi. Tuy nhiên, cần phải tránh hướng chịu sự ảnh hưởng của các sao xấu: Không vong, Tử, Tuyệt.

Cung Quý Nhân: Quý Nhân Thiên Ất là vị thần đứng đầu cát thần, được tương truyền là vô cùng linh thiêng, có thể trấn và chế ngự được mọi chỗ động vì thế, hướng Quý Nhân thường mang lại sự bình an, cát khánh, thuận hòa, may mắn cho gia đạo. Không chỉ thế, sao Quý Nhân còn mang ý nghĩa cứu trợ, giải tai ách nên ban thờ đặt theo hướng này gia chủ sẽ gặp hung hóa cát, gặp nhiều thuận lợi trên con đường công danh, học hành.

Thông thường, khi đặt ban thờ Thần tài, trước mặt phải quang đãng, sạch sẽ; sau lưng tựa vào vách tường chắc chắn, kiên cố và không được trổ lỗ, tránh các góc nhọn ở phía sau lưng ban thờ.

Ngoài ra, việc đặt ban thờ cần được đặt theo hướng phù hợp với tuổi của gia chủ.

Ý nghĩa các đồ vật được đặt trên ban thờ Thần tài?

Để gia chủ hay cơ sở kinh doanh luôn gặp may mắn, thuận lợi, việc bài trí ban thờ Thần tài cũng được chú trọng hết mực.

Trên ban thờ Thần tài thường được đặt các đồ vật, lễ vật sau:

– Ban thờ Thần tài: kích cỡ phù hợp với từng địa điểm, vị trí, trên vách dán một tấm bài vị.

– Tượng Thần tài – Thổ địa: thường được làm bằng sứ, đặt hai bên ban thờ. Theo nguyên tắc, vị trí đặt (nhìn từ ngoài vào) sẽ là: tượng Thần tài bên trái, tượng Thổ địa bên phải.

– Tượng Phật Di Lặc: là vị thần quản lý và ngăn chặn các vị thần làm những điều sai trái, thường được đặt bên trên ban thờ Thần tài.

– Hũ gạo, hũ muối, hũ nước đầy: được đặt ở giữa hai tượng Thần tài – Thổ địa. Đây là những vật tượng trưng cho cuộc sống no đủ, êm ấm và được đặt từ đầu năm cho tới cuối năm mới được đem thay.

– Bát nhang: được đặt giữa ban thờ và tuyệt đối không được xê dịch, di chuyển.

– Lọ hoa tươi: đặt bên phải ban thờ (không nên sử dụng hoa giả). Các loại hoa thường được sử dụng: hoa hồng, hoa cúc, hoa đồng tiền… và quan trọng không được để hoa, lá bị héo trên ban thờ.

– Quả tươi: thường là mâm/đĩa ngũ quả.

– 5 chén nước xếp hình chữ thập: tượng trưng cho ngũ hành và ngũ phương phát triển.

– 5 củ tỏi: đặt vào trong một chiếc đĩa nhỏ với ý nghĩa xua đuổi ma quỷ.

– Bát nước đầy rắc cánh hoa hồng ở trên: mang ý nghĩa giữ cho tiền bạc không bị trôi đi. Thường được đặt trên nền đất ngoài cùng ban thờ.

– Tượng Ông Cóc: đặt bên trái ban thờ với ý nghĩa đón sinh khí, tài lộc. Ban ngày quay tượng ra ngoài và tối quay vào trong.

Việc thờ cúng Thần tài cần được thực hiện quanh năm, đặc biệt là các ngày mùng 1 (âm lịch), ngày rằm và ngày 10 (âm lịch) hàng tháng là ngày vía thần tài. Xung quanh vị trí đặt ban thờ cũng như tượng các vị thần cần được giữ gìn, lau chùi, tắm rửa sạch sẽ thường xuyên.

【#3】Cách Bày Bàn Thờ Thần Tài Đón Tài Lộc

Trong văn hóa thờ cúng của người dân Việt Nam có rất nhiều những vị thần, phật có xuất phát từ tôn giáo hoặc là được người dân xây dựng từ những tín ngưỡng trong đời sống. Những vị thần đều nắm giữ một vai trò nhất định trong đời sống tinh thần giúp chúng ta có thể yên tâm trong canh tác, sinh hoạt hằng ngày. Có những vị thần cai quản sông núi, nước non, có những vị thần cai quản thời tiết, có những vị thần xua đuổi tà ma và cũng có những vị thần cầu tài lộc cho gia đình. Thờ tranh thần tài là một trong số những mong muốn gia đình sung túc, có nhiều tài lộc và là một nét văn hóa trong đời sống của người dân Việt Nam.

Ý nghĩa của hình ảnh ông Thần Tài

Như chúng ta đã nhắc đến ở trên, việc thờ cúng Thần Tài không chỉ dành cho những đối tượng kinh doanh mà ngay cả những gia đình bình thường cũng có thể thờ cúng được. Ý nghĩa của hình ảnh ông Thần Tài đã được thể hiện ở ngay cái tên. Tuy nhiên mỗi một tạo hình lại có sự khác nhau đáng kể như : Thần Tài văn và Thần Tài võ.

Đối với hình ảnh Thần Tài văn được chia thành hai loại là “Tài Bạch Tinh Quân” và tam tinh “Phúc Lộc Thọ”. Cả hai loại này để có ngụ ý con đàn cháu đống, gia đình phát đạt hạnh phúc luôn được các vị thần che chở và đảm bảo cuộc sống giàu sang về tiền tài, về sức khỏe.

Hình ảnh thần tài võ chủ yếu là tạo hình Quan Công hoặc Triệu Công Minh. Cả hai vị này đều là những nhân vật có thật được dân gian kiểm chứng có thể giúp gia chủ xua đuổi những tai ương, bảo vệ các thành viên trong gia đình được bình yên, gia tài sung túc.

Như vậy chúng ta có thể thấy được Thần Tài không chỉ là một nét của đời sống tâm linh mà còn giúp cho các gia đình luôn được bình an, cuộc sống ấm no, xung túc.

Cách thỉnh tượng thần tài ông địa về nhà

Thờ cúng tượng thần tài ông địa có thể được thấy các cửa hàng kinh doanh, các đơn vị hoạt động thương mại hoặc là các gia đình có làm ăn buôn bán. Tuy nhiên ngay cả những gia đình bình thường cũng có thể thờ cúng thần tài với nhiều mục đích khác nhau. Việc thỉnh tượng thần tài về nhà cũng có những lưu ý nhất định để có thể đảm bảo được tính trang nghiêm, sự tôn trọng của gia chủ đối với các vị thần phật.

Đầu tiên khi gia chủ thỉnh tranh hoặc tượng thần tài từ cửa hàng về nên bọc lại bằng một tấm khăn màu đỏ hoặc là để trong hộp kín sạch sẽ. Điều này để tránh cho vị thần nhìn thấy người khác mà không phải là gia chủ. Khi đã thỉnh được thần tài gia chủ nên đến thẳng ngôi chùa gần đấy hoặc là ngôi chùa gia đình đã theo nhiều năm để nhờ các sư thầy trên chùa “Chú Nguyện Nhập Thần” vào tranh hoặc tượng. Gia chủ nên gửi thần tài tại chùa và xin nhà chùa xem ngày tốt mới mang thần tài về an vị tại nhà.

Một điểm lưu ý đối với các gia chủ khi thỉnh thần tài về đến nhà của mình nên sử dụng nước lá bưởi rửa. Theo quan điểm dân gian lá bưởi có tác dụng xua đuổi tà ma, đem lại may mắn cho người sử dụng. Chính vì thế rửa tượng thần tài bằng nước lá bưởi trước khi đưa lên bàn thờ là để cho tượng không vướng vào những bụi trần hay điểm xấu gì cả.

Khi đặt tượng thần tài lên bàn thờ gia chủ mới đem những đồ cúng lễ đã chuẩn bị trước đó bày lên, các lần sau thì cúng lễ như bình thường.

Cách Bày Bàn Thờ Thần Tài

Việc đặt bàn thờ thần tài như thế nào? hướng ra sao cũng cần gia chủ tính toán rất kỹ lưỡng thì mới mong phát huy được những giá trị vốn có.

Đầu tiên khi đặt bàn thờ thần tài chúng ta đều thấy là đặt dưới đất, chưa bao giờ có đặt bàn thờ thần tài thổ địa ở trên cao cả. Bởi lẽ thần tài là cầu tài lộc vào gia đình đặt dưới đất sẽ là một cách để các vị thần cai quản được dòng khí lưu ra vào trong nhà, phân biệt được xấu đẹp, hung cát. Ngoài ra đặt bàn thờ thần tài thường được đặt ngay tại gần cửa ra vào trang nghiêm.

Một điều đặc biệt khi lựa chọn tượng thần tài gia chủ cần lưu ý những tượng thần tài mặt sáng sủa, toát lên vẻ phú quý. Các tượng thần tài luôn cần có nụ cười sáng, rực rỡ hiền hòa và đặc biệt là màu sắc phù hợp với cung mệnh của gia chủ. Có những gia chủ có thỉnh tượng thần tài về nhà thờ cúng nhưng lại không đạt được kết quả như mong muốn hoặc gia đình vẫn hao tài tốn của là do việc lựa chọn tượng thần tài chưa phù hợp với gia chủ.

Lưu ý đối với các gia chủ không nên đặt bàn thờ thần tài hướng vào trong hoặc là hướng nhà vệ sinh, nhà bếp mà hãy đặt bàn thờ hướng ở cửa ra vào. Ngoài ra không được đặt bàn thờ thần tài cùng bàn thờ gia tiên, cũng không được đặt dưới gầm cầu thang, trong phòng ngủ….Chúng ta có thể thấy hầu hết những gia chủ hoặc cửa hàng kinh doanh đều đặt bàn thờ thần tài ngay cửa ra vào hoặc trong phòng khách để có thể dễ dàng đón tài lộc, bảo vệ tiền tài cho gia chủ.

Khi đặt bàn thờ, phải sử dụng la bàn để xác định rõ 2 cung này, tùy theo tuổi của chủ nhà. Việc đặt bàn thờ theo tuổi sẽ giúp cho gia chủ luôn có thể nhận được những điều tốt nhất từ cung mệnh, hướng bát quái…Trước khi đặt tượng thần tài lên bàn thờ thì mặt bàn thờ phải quang đãng, sạch sẽ.

Nếu gia chủ có thờ thần Cóc (Thiềm Thừ), tốt nhất là nên đặt chéo với cửa ra vào, tránh đặt đối diện, ban ngày nên xoay thần Cóc ra ngoài, nhưng ban đêm thì quay vào bên trong.

Những lưu ý và bàn thờ cúng Thần Tài gồm những gì ?

Khi đã lựa chọn được tượng thần tài như ý, gia chủ đã làm tất cả những bước như trên và lựa chọn được hướng đặt bàn thờ thì việc sắm lễ, trang trí bàn thờ cũng rất quan trọng.

Đầu tiên là nơi đặt bàn thờ thần tài cần phải có bức tường vững chắc, đằng sau bàn thờ không được trổ cửa hoặc là có lỗ thông khí vì như vậy là sẽ đem tài vận trong nhà thoát li hết. Chính vì thế các gia chủ cần lưu ý để có thể đặt bàn thờ thần tài vào vị trí chắc chắn, chỉ có vào không có ra.

Thông thường các gia chủ thường thờ thần tài chung với thổ địa vì cách bày trí bàn thờ, cách đặt của hai vị này gần giống nhau. Nhìn từ bên ngoài nhìn vào thì có thể thấy thần tài sẽ ở bên phải và bên trái là ông thổ địa. Ở giữa hai vị thần này sẽ có ba hũ lần lượt là gạo, muối và nước. Ba hũ này cuối năm mới thay một lần. Ở ngay chính giữa là một bát hương, và theo quan niệm dân gian thì khi lau dọn bàn thờ cần tránh đụng hoặc xê dịch bát nhang.

Ngoài bát hương thì trên bàn thờ còn cần có hoa quả và việc sắp xếp cũng có những quy luật của nó. Đối với lọ hoa cần đặt bên tay phải, đĩa trái cây bên tay trái. Thông thường hoa cúng Thần Tài nên là hoa hồng, hoa cúc, hoa đồng tiền. Trái cây nên chọn ngũ quả như chúng ta xếp bàn thờ cúng gia tiên. Một điều khác trong việc cúng thần tài so với việc cúng bàn thờ gia tiên là việc xếp 5 chén nước thành hình chữ thập để tượng trưng cho ngũ phương và ngũ hành phát sinh phát triển. Ông Cóc để bên trái, sáng quay Cóc ra, tối quay Cóc vào. Đây là một quan điểm dân gian góc hay còn gọi là thiềm thử là điều may mắn, quay cóc ra để có thể đón lộc vào nhà tối quay cóc vào để những điều may mắn, tài lộc không ra khỏi nhà.

Ngoài cùng trên mặt đất, nên chọn một cái bát hoặc đĩa sâu sứ hoặc thuỷ tinh thật đẹp, đổ đầy nước và rắc những cánh hoa hồng trên mặt (đĩa hoa này biểu trưng cho việc giữ tiền bạc khỏi trôi đi).

Bên trên bàn thờ Thần Tài, có thể đặt thêm tượng Phật Di Lặc. Di Lặc Phật Vương sẽ quản lý và ngăn chặn các vị thần làm điều sai trái. Như vậy sẽ làm cho gia chủ thịnh vượng, xua đuổi được tà ma và luôn đón nhận được những điều may mắn trong cuộc sống, bảo vệ tất cả các thành viên trong gia đình.

Văn khấn thần tài thổ địa

Để có thể nhận được sự phù hộ của các vị thần tài thì gia chủ cần có bài văn khấn đầy đủ, đúng chuẩn.

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Kính lạy ngài Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân.

– Con kính lạy Thần Tài vị tiền.

– Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

Tín chủ con là:…………………………………Tuổi:…………………

Ngụ tại………………………………………………………………………

Hôm nay là ngày…….tháng…….năm…………………(âm lịch).

Tín chủ con thành tâm sửa biện, hương hoa, lễ vật, kim ngân, trà quả và các thứ cúng dâng, bầy ra trước án kính mời ngài Thần Tài tiền vị và chư vị tôn Thần.

Cúi xin Thần Tài thương xót tín chủ, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật phù trì tín chủ chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia đạo hưng long thịnh vượng, lộc tài tăng tiến, tâm đạo mở mang, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ cúi xin được phù hộ độ trì.

Phục duy cẩn cáo!

Muốn có tài lộc cho gia đình thì các gia chủ ngoài việc sắm lễ đầy đủ, khấn cúng thường xuyên thì cũng cần phải có lòng thành. Các vị thần tài chỉ phù hộ cho những gia đình có lòng thành, làm ăn lương thiện, nhân phẩm chính trực. Chính vì thế mà không phải ai thờ cúng thần tài đều có thể làm ăn phát đạt. Những người có tâm thuật bất chính, làm ăn phi pháp sẽ bị trừng trị thích đáng, các gia chủ nên lưu ý điều này.

【#4】2 Việc Nên Làm Vào Ngày Vía Thần Tài Hàng Tháng (Ngày 10 Âm Lịch)

Ngày 10 âm lịch hàng tháng vẫn được xem là ngày vía Thần Tài. Tuy nhiên, ngày mùng 10 tháng giêng được cho là quan trọng nhất vì nó mở đầu cho một năm mới. Theo quan niệm, trong ngày này xuất tiền mua vàng sẽ được may mắn, đắc tài đắc lộc, tiền bạc rủng rỉnh cả năm.

Theo quan điểm dân gian vàng là kim loại quý, là tài sản đảm bảo, của để dành. Chính vì vậy, trong nhà của nhiều người dân Việt luôn có vài ba chỉ vàng để dành. Đặc biệt, có không ít người có niềm tin rằng, mua vàng vào ngày Thần Tài sẽ có thêm nhiều may mắn, thuận lợi trong việc làm ăn, đầu tư và sinh lời trong cả năm.

Khi đi mua vàng trong ngày Vía Thần Tài, mọi người nên mua nhẫn tròn trơn 0,5-2 chỉ, chọn loại ép vỉ để thuận tiện sau này đi bán sẽ không mất giá.

Đây là việc không bắt buộc nếu cần thiết chỉ cần mua một lần trong năm vào tháng ngày này tháng giêng âm lịch

Lễ cúng ngày 10 âm lịch hàng tháng

Vào ngày thần Tài, mùng 10 Tết âm lịch gia chủ cần sắm sửa bày biện những lễ vật sau đây để cúng lấy vía thần Tài cầu lộc lá cả năm (nên thực hiện nghi thức cúng hàng tháng vào ngày này nhưng quan trọng nhất vẫn là vào tháng giêng âm lịch)

  • 5 loại trái cây
  • 5 cây nhang
  • 5 chén rượu
  • 2 đèn cầy ( hoặc nến cốc)
  • 2 điếu thuốc
  • 1 đĩa gạo
  • 1 đĩa muối hột
  • 2 miếng vàng bạc ( theo quan niệm ngày này mua vàng để lấy vía may. Không phải là đồ cúng bắt buộc )
  • 1 bộ tam sên đều đã luộc gồm: một miếng thịt ba chỉ, quả trứng, một con tôm hoặc cua. Có nhiều nơi còn thắp hương cả cá nướng
  • 1 bộ vàng tiền thần tài

Bộ tam sên gồm thịt, trứng và tôm hoặc cua tương truyền đây là 3 món mà thần Tài ngày còn ở nhân gian rất thích.

Văn khấn vía thần Tài ngày 10 âm lịch hàng tháng

Kính lạy ngài Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân.

Con kính lạy Thần Tài vị tiền.

Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

Tín chủ con là:……………………… Tuổi:……..

Ngụ tại ………………………………

Hôm nay là ngày……. tháng……. năm…… (âm lịch).

Tín chủ con thành tâm sửa biện, hương hoa, lễ vật, kim ngân, trà quả và các thứ cúng dâng, bầy ra trước án kính mời ngài Thần Tài tiền vị và chư vị tôn Thần.

Cúi xin Thần Tài thương xót tín chủ, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật phù trì tín chủ chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia đạo hưng long thịnh vượng, lộc tài tăng tiến, tâm đạo mở mang, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ cúi xin được phù hộ độ trì.

Phục duy cẩn cáo!

Lưu ý với bàn thờ thần tài

Theo tập tục từ xưa, bàn thờ Thần tài là một chiếc khảm nhỏ sơn son thếp vàng, bên trong khảm là bài vị Thần tài. Bàn thờ Thần tài nên được lập nơi góc nhà, chỗ thoáng mát.

Trước bài vị Thần tài là bát hương kê trên một khay vàng giấy, hai bên bát hương là hai cây đèn nhỏ, một khay nước gồm 3 cốc nước và 2 chén rượu. Trên bàn thờ có thể đốt 3 nén nhang hướng vào hướng Tây.

  • Bàn thờ Thần tài không được đặt sát nhà tắm, nếu không sẽ làm mất không khí tôn nghiêm.
  • Nên đặt bàn thờ ở gần cửa. Đặt dưới đất hướng ra cửa để đón tài lộc
  • Không đặt bàn thờ Thần tài nhìn ra hướng Ngũ Quỷ: Đông Bắc, hướng Tây Nam

Ngay từ sáng ngày mùng 10, các gia đình nên có những việc làm biểu thị sự chào đón Thần tài, chào đón tài lộc.

Gia chủ nên tắm gội sạch sẽ, mặc quần áo chỉnh tề và mở tất cả các cửa nhà, cửa sổ đối diện với hướng Tây (hướng Tài Lộc) để đón nhận nguồn năng lượng tích cực và tài lộc cho cả nhà.

Đèn cúng là đèn thật như đèn dầu, nến, không dùng đèn nháy, điện.

Đọc đúng bài văn khấn Thần Tài là một trong những việc rất quan trọng, để cung thỉnh thần tài về, mọi nhà khi hành lễ nên đọc to bài văn khấn trong ngày cúng vía thần tài để mọi việc được thanh thông, gia chủ làm ăn buôn bán phát tài phát lộc.

Ngoài ra, khi chuẩn bị lễ cúng Thần tài, cần hết sức lưu ý những điều sau:

  • Hoa đặt trên bàn thờ Thần tài nên là hoa tươi, có nụ và hương thơm.
  • Đèn cúng là đèn thật như đèn dầu, nến, không dùng đèn nháy, điện.
  • Gạo, muối sau khi cúng cần cất vào nhà cho có lộc, không được vãi ra ngoài

Trước ngày cúng Vía thần tài, bạn cần phải lau dọn bàn thờ Thần tài thật sạch sẽ. Vừa lau dọn cả bàn thờ lẫn tượng thờ Thần tài.

Tuy nhiên, việc này không chỉ được thực hiện vào ngày Vía thần tài mà phải được làm thường xuyên, đều đặn trong năm.

Không chỉ vậy, 3 cốc nước đặt nơi này cũng phải được rửa sạch, thay nước mới và nước trong cốc không nên quá đầy.

Nếu bàn thờ Thần tài có đặt những vật thờ cúng khác như Cóc thiềm thừ, bạn cũng cần phải lau sạch sẽ cho vật thờ này.

Có thể bạn chưa biết

Thần tài quen thuộc nhất trong dân gian là Triệu Công Minh. Ngày sinh của Triệu Công Minh có nhiều thuyết, thông dụng nhất là hai ngày: 15 tháng 3 (theo Nam Sơn cư sỹ đời Tần) và 22 tháng 7 (trùng với thuyết của Hứa Chân Quân ở trên), đồng thời các nhà thiên văn cổ cho rằng đây là ngày “mặt trời sáng nhất”. Do đó, ngày vía thần tài nếu có sẽ là ngày 22 tháng 7 hàng năm. Nhưng hiện nay theo quan điểm dân gian ở nước ta là vào ngày 10 âm lịch hàng tháng.

【#5】Cung Quan Lộc, Thăng Quan Tiến Chức Miếu Đài Hiển Vinh

Cung Quan Lộc biểu thị khí số sự nghiệp của đời người. Hội được Cát tinh thì sự nghiệp hanh thông. Gặp đa Sát diệu thì công việc thăng giáng vô thường

Mộ phùng Tả Hữu đồng lai.

Thăng quan tiến chức miếu đài hiển vinh.

Đồng, Lương hội chiếu Dần Thân

Khi xưa tay trắng mà nay sang giàu.

Lộc phùng Tử, Mã nhất ban

Phong vân tế hội Mã Long Hỉ Đồng.

Cho nên trong tinh bàn của Đẩu Số. “Cung Quan Lộc” và “Cung Phu Thê” xung chiếu nhau. Đó là vì quan lộc sự nghiệp của một người có thể ảnh hưởng đến địa vị của vợ con.

Ngày nay xã hội đã hoàn toàn khác. Địa vị của giới doanh nhân rất cao, tất cả đều coi trọng tiền bạc, học hành để ra làm quan không còn là con đường lý tưởng duy nhất.

Bởi lý do đời sống hiện đại không còn quá quan trọng quan chức. Thành đạt trong kinh doanh cũng là mục tiêu mà rất nhiều người hướng tới. Hơn nữa, “tài vượng” còn có thể “sinh quan”. Nên “Cung Quan Lộc” được một số nhà đẩu số hiện đại đổi lại gọi là “Cung Sự Nghiệp”. Mà “Cung Quan Lộc” và “Cung Phu Thê” xung chiếu nhau, cũng có nghĩa là xem sự nghiệp và gia đình mâu thuẫn nhau. Vì vậy cần quan sát các sao của hai cung này xem có điều hòa hay không.

Trong bối cảnh như vậy, cổ nhân đã định ra một số nguyên tắc luận đoán “Cung Quan Lộc”. Có thể nói là không còn hợp thời, như

Những luận đoán này ít nhiều đã lỗi thời ở thời hiện đại.

Vương Đình Chi từng thử căn cứ các sao của Cung Quan Lộc để luận đoán về nghề nghiệp. Kết quả do tư liệu chưa được đầy đủ nên trong bài viết này chỉ thuật những nguyên tắc phổ quát.

Ví dụ như gặp Thiên Lương hội sao tài thì có thể đoán là kiểm toán viên, cũng có thể là chuyên viên kiểm định trong ngành kiến trúc. Nhưng cũng có khả năng là chủ quản bộ môn tổng vụ, hoặc bộ môn nhân sự của công ty.

Nói một cách thẳng thắn, chúng ta có thể biết tính chất tổ hợp các sao phù hợp với nghề gì. Nhưng lại không thể dựa vào các sao mà nói ra nghề nghiệp cụ thể của nó. Ngày nay đúng là có rất nhiều nghề nghiệp khác nhau, mong rằng bạn đọc có thể hiểu cho.

Ngoài ra, phán đoán nghề nghiệp của một con người còn phải tham khảo các sao của Cung Mệnh và Cung Phúc Đức, điểm này cũng cần hết sức chú ý.

Cung Quan Lộc đối nhau với cung phu thê, và tương hội với cung mệnh và cung tài bạch ở tam phương. Quan hệ giữa Cung Quan Lộc với cung mệnh và cung tài bạch, không nói cũng biết, còn quan hệ với cung phu thê, ở thời cổ đại, là vì có chế độ phong cáo. Nam mệnh ở cung thê gặp các sao chủ về quý, tức là điềm tượng vợ được phong cáo, nhờ vậy người này có thể gián tiếp được quan lộc.

Ý nghĩa này ở thời hiện đại đã không còn, nhưng vẫn có thể dựa vào đó để luận đoán ảnh hưởng của hôn nhân đối với sự nghiệp. Nhất là lúc các sao ở cung phu thê có tính chất quý báu, có lúc là điềm tượng lợi về vợ chồng hợp tác sáng lập sự nghiệp.

Vợ chồng đồng cam cộng khổ, từ xưa đã vậy. Các sao ở Cung Quan Lộc có thể ảnh hưởng đến hôn nhân, ý nghĩa không nói cũng biết. Nhưng nhìn từ phương diện khác, các sao ở cung phu thê cũng có thể ảnh hưởng đến sự nghiệp, ngoại trừ căn cứ tình huống “chồng nhờ vợ mà phú quý” hay “vợ nhờ chồng mà phú quý”, để luận đoán về công danh lợi lộc, còn phải lưu ý một điều, sự thành bại của sự nghiệp không phải là sự thành bại của hôn nhân. Cho nên các sao ở bản cung quan trọng hơn các sao ở đối cung.

Nếu Cung Quan Lộc là các sao cát, cung phu thê cũng là các sao cát, sẽ chủ về vợ chồng cùng nhau lập nên sự nghiệp, hoặc hai bên phát triển thành công, mà quan hệ vợ chổng cũng hạnh phúc. Nếu Cung Quan Lộc là các sao cát, mà cung phu thê là các sao hung, thì vợ chồng nên tự phát triển sự nghiệp của mình. Nếu Cung Quan Lộc là các sao hung, mà ở cung phu thê cũng là các sao hung, thì sự nghiệp của hai người không trợ giúp lẫn nhau, tuyệt đối không nên hợp tác.

Ví dụ như cung mệnh là “Tử Vi Thiên Phủ”, cung tài bạch là Vũ Khúc độc tọa, Cung Quan Lộc là “Liêm Trinh Thiên Tướng”. Nếu Vũ Khúc Hóa Quyền, cung thiên di có Lộc Tồn, thì nên căn cứ theo nhóm sao của cung mệnh và các sao của cung tài bạch, có thể buôn bán kinh doanh. Nhưng do Cung Quan Lộc là “Liêm Trinh Thiên Tướng”, vì vậy nên hợp tác với người khác để làm ăn, và cần phải đích thân đương số tham gia công việc kinh doanh.

Nếu cung mệnh là Tử Vi Hóa Quyền, mà cung tài bạch là Vũ Khúc Hóạ Kỵ, thì nên làm việc hưởng lương ở công ty, tập đoàn lớn hoặc nhà nước, hơn nữa, còn nên đảm nhiệm bộ môn hành chính. Đây là căn cứ tính chất của “Liêm Trinh, Thiên Tướng” ở Cung Quan Lộc.

Cung Quan Lộc đối nhau với cung phu thê, ở thời cổ đại còn có một ý nghĩa quan trọng khác, người xưa thường nói “trai sợ chọn nhầm nghề, gái sợ chọn nhầm chồng”, cho nên cổ nhân cho rằng nam mệnh nên xem trọng Cung Quan Lộc (gọi là “cung cường”), nữ mệnh thì nên xem trọng cung phu thê. Ý nghĩa này, về cơ bản không nên phân biệt hai cung này thành “cung cường” và “cung nhược”.

Hai Cung Quan Lộc và phu thê, rất kỵ một cung có Địa Không, một cung có Địa Kiếp (chỉ hai cung Dần và Thân là có chúng, chủ về vì bị ảnh hưởng của bạn đời mà sự nghiệp bất lợi). Ví dụ như vì chiều theo người bạn đời, mà hi sinh một công việc khá tốt, v.v… nhung hai bên lại không thể cả nể nhau mãi, vì vậy cũng ảnh hưởng đến hạnh phúc trong hôn nhân.

Cung Quan Lộc gặp Địa Kiếp, Địa Không, trong các tình huống thông thường thì thích hợp làm những nghề nghiệp hiếm gặp, hoặc những nghề nghiệp có tính đột xuất và phương pháp làm ăn ngoài dự liệu của mọi người, nhưng tối kỵ chí lớn mà tài không đủ, suốt đời sự nghiệp khó hưng phát. Đây là một ví dụ về hành động của con người tuy thuộc về hậu thiên, nhưng lại có thể ảnh hưởng đến sự thành bại của đời người.

Cung Quan Lộc gặp sát tinh, cổ nhân cho rằng thích hợp làm về thương nghiệp, hoặc thợ thuyền. Đối với con người thời hiện đại không thể luận chung chung như vậy được. Vì có không ít nhà buôn lớn mà cung sự nghiệp không có sát tinh. Đây là vì gặp sát tinh sẽ chủ về địa vị xã hội khá thấp, hoặc từ địa vị thấp mà phát triển lên địa vị cao, cho nên ở thời cổ đại thì thích hợp kinh doanh buôn bán (thời xưa địa vị xã hội của thương nhân khá thấp, nếu sau khi thành giàu có, đóng vai của một thân sĩ thì địa vị cũng nhờ đó mà được nâng cao). Ở thời hiện đại đương nhiên không hoàn toàn như vậy.

Cổ nhân nói “thợ thuyền”, ở thời hiện đại thường là nhân tài chuyên nghiệp. Điều này chúng ta cần lưu ý.

Cung sự nghiệp có các sao hung, chưa chắc là sự nghiệp không tốt, cần phải nắm vững tính hung của nó để luận đoán nên làm những nghề nghiệp nào, tức là vận dụng phép “theo cát tránh hung”. Như Thái Dương hội Cự Môn Hóa Kỵ, chủ về nên “dùng tài ăn nói để kiếm tiền”. Vì vậy nên làm công việc dạy học, hoặc luật sư, lại ví dụ như trường hợp “Hình kỵ giáp ấn”, thì có thể làm những công việc có tính chất “hình pháp, kỷ luật”.

Cung Quan Lộc có Lộc Tồn, lại không luận giàu có, thông thường chỉ nên kinh doanh sự nghiệp có sẵn, hoặc làm việc hưởng lương. Nếu gặp thêm Địa Không, Địa Kiếp đồng cung, sẽ chủ về có phản ứng sai lầm, tiến thoái không hợp thời cơ, thường thường không chịu ở yên trong công việc hưởng lương, hoặc không cam tâm với sự nghiệp kinh doanh có sẵn, gắng gượng thay đổi, kết quả là rơi vào cảnh khốn khó.

Luận đoán về công danh sự nghiệp, có lúc cần phải tham khảo Cung Quan Lộc của đại vận trung niên để định. Nếu Cung Quan Lộc của nguyên cục rất tốt, nhưng Cung Quan Lộc của đại hạn trung niên lại chủ về có phá tán hay thất bại lớn, thì không nên tự lập sự nghiệp riêng quá sớm. Đây cũng là phép “theo cát tránh hung”.

Sao Tử Vi thủ Cung Quan Lộc, chủ về một mình đảm trách công việc, nhưng lại chẳng thể tự kinh doanh, cũng không chủ về người này có thể làm lãnh đạo. Trong các tình huống thông thường chỉ chủ về công tác độc lập hoặc phụ trách bộ môn.

Tử Vi gặp sát tinh, cổ nhân cho rằng có thể kinh doanh làm ăn. Ở đây cũng có ý nói sau khi trải qua tranh đấu trên đường đời mà có thành tựu, nhờ thành tựu mà địa vị xã hội mới được nâng cao. Ở thời hiện đại địa vị xã hội của con người đã khác trước, cho nên tuy không có sát tinh, mà còn không có “bách quan triều củng”, cũng chưa chắc không thể tự kinh doanh làm ăn, và từ kinh doanh làm ăn mà dẫn đến phú quý. Xã hội cổ kim khác nhau, không thể luận chung chung.

  • Tử Vi Hóa Quyền ở Cung Quan Lộc, chỉ chủ về có thể một mình đảm trách công việc, hoặc lúc làm việc có tính độc lập rất mạnh, nhưng chưa chắc phú quý.
  • Tử Vi Hóa Khoa ở Cung Quan Lộc, chủ về danh lớn hơn lợi, cho nên thích hợp với nghề tự do hoặc chuyên nghiệp, cũng có thể làm việc trong chính giới, nhưng e rằng chỉ quý mà không phú.

Tử Vi được “trăm quan đứng chầu”, lại không có sát tinh, có thể làm việc trong chính giới, ắt sẽ có thể thăng tiến cao, nếu cung mệnh gặp tổ hợp nhiều cát tinh, thì càng chủ về làm quan lớn.

  • Nếu Tử Vi không có sát tinh đồng độ, lại có sao phụ, tá cát hội hợp, còn gặp “Lộc Mã giao trì”, hoặc hội Liêm Trinh Hóa Lộc, Tham Lang Hóa Lộc, hay Vũ Khúc Hóa Lộc, chủ về chức vụ nắm quyền tài chính, làm việc trong chính giới cũng là quan thuế.
  • Tử Vi Hóa Khoa mà có Lộc Tồn đồng độ hoặc vây chiếu, chủ về danh lợi song thu, thích hợp làm việc trong chính giới hoặc chủ trì công ty lớn, lợi nhất là những ngành nghề tiếp cận thị trường, công chúng (như điện thoại, thức ăn nhanh, hàng không, du lịch, v.v… xã hội hiện đại có rất nhiều nghề nghiệp).

Tử Vi độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, thủ Cung Quan Lộc, lấy trường hợp cung mệnh hoặc cung tài bạch có sao lộc là quý. Nếu cung mệnh gặp “Lộc Mã giao trì”, bất kể tự kinh doanh làm ăn hoặc làm việc hưởng lương trong ngành kinh tế tài chính, đều có thể hơn mọi người. Nếu cung tài bạch là Liêm Trinh Hóa Lộc, thì nên hợp tác với người khác để sáng lập sự nghiệp, nhưng bản thân đương số phải phụ trách quản lý nghiệp vụ.

Tử Vi độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, ưa Tả Phụ và Hữu Bật một sao ở Cung Quan Lộc, một sao ở cung phu thê, (Văn Xương, Văn Khúc cũng vậy), sẽ chủ về vợ chồng giúp đỡ lẫn nhau, dù có thể không hợp tác trong công việc.

Tử Vi Hóa Quyền, độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, thì lợi về sự nghiệp mà bất lợi về hôn nhân, nữ mệnh càng đúng. Cho nên vợ chồng tuyệt đối không nên hợp tác trong sự nghiệp. Hễ nữ mệnh có Quyền tinh ở Cung Quan Lộc thì cần phải chú ý vấn đề hôn nhân, Tử Vi Hóa Quyền thì càng phải lưu ý.

Tử Vi Hóa Khoa, độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, lại gặp Địa Không, Địa Kiếp, chủ về sự nghiệp một đời luôn có đối thủ. Vì vậy không thích hợp làm việc trong chính giới, mà nên làm nghề tự do. Bất kể có sát tinh hay không, đều chủ về danh lớn hơn lợi. Nếu có “bách quan triều củng”, sẽ chủ về có địa vị trong giới nghề nghiệp. Không gặp Thiên Hình, Đại Hao, Địa Không, Địa Kiếp, thì có thể làm việc trong chính giới, thích hợp bộ môn quản lý hành chính.

Tử Vi độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, có các sao đào hoa đồng độ, cần phải xem có Văn Xương, Văn Khúc hay không. Nếu có Văn Xương, Văn Khúc thì nghề nghiệp nho nhã, không có thì nghề nghiệp dung tục.

“Tử Vi Phá Quân” thủ Cung Quan Lộc mà có sát tinh đồng độ, chủ về vất vả thân xác, có Văn Xương, Văn Khúc đồng cung, chủ về vất vả tinh thần. Nếu Phá Quân Hóa Lộc, thì sự nghiệp một đời nhiều biến động, còn thường gánh vác công việc quá mức. Phá Quân Hóa Quyền, thì sự nghiệp gặp nhiều sóng gió, trắc trở, sau khi lập ra cục diện mới lại không được hưởng.

“Tử Vi, Phá Quân” hội Vũ Khúc Hóa Lộc, Liêm Trinh Hóa Lộc hoặc Tham Lang Hóa Lộc, đều chủ về nhờ khai sáng mà trở nên giàu có. Nếu không thể khai sáng cục diện mới, thì chỉ chủ về sự nghiệp chìm nổi thất thường với biên độ lớn. Nhưng bất kể như thế nào, đều chủ về sinh hoạt sa hoa, mà thực tế thì thu nhập không lớn.

“Sức khai sáng” của “Tử Vi Phá Quân” là từ chỗ không có gì mà mở ra cục diện mới hoàn toàn, hoặc có sáng kiến rất mới trong phong cách làm ăn. Cho nên ưa Tả Phụ, Hữu Bật đồng độ, đương nhiên có nhiều trợ lực.

“Tử Vi Phá Quân” có Hỏa Tinh và Linh Tinh giáp cung, chủ về công việc rất bận rộn. Có Địa Không, Địa Kiếp đồng cung mà không có các sao sát, hình, thì sức khai sáng của nó sẽ là từ chỗ không có gì mà xây nên lâu đài. Nhưng nếu gặp các sao sát, hình, hao, thì sự nghiệp một đời thường thường sắp thành lại hỏng, hơn nữa còn tổn thương nguyên khí.

“Tử Vi Thiên Phủ” đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân, cần phải gặp “bách quan triều củng” mới có thành tựu. Nếu không có sao cát, thì thường thường phản ứng sai lầm, tiến thoái không hợp thời cơ, hoặc chí lớn mà tài không đủ.

“Tử Vi Thiên Phủ” có Lộc Tồn, Thiên Mã đồng độ, hoặc gặp “Lộc Mã giao trì”, ở thời hiện đại thì thích hợp tự kinh doanh làm ăn, cũng nên làm việc trong kinh doanh tài chính, tiền tệ, ngân hàng.

“Tử Vi Thiên Phủ” thủ Cung Quan Lộc, mà Tử Vi Hóa Khoa, chủ về tay trắng sáng lập sự nghiệp. Nếu Thiên Phủ Hóa Khoa, sẽ chủ về sáng tạo và hưng phát trong cục diện có sẵn.

Nếu Tử Vi Hóa Quyền, thường thường lý tưởng quá cao, năng lực tài chính không đủ để chống đỡ công việc theo ý muốn, làm việc trong chính giới hay kinh doanh buôn bán đều có tính chất này. Nếu gặp sao hình, thì thích hợp theo võ nghiệp, rất nặng về quyền lực.

Thời hiện đại, “Tử Vi Thiên Phủ” thủ Cung Quan Lộc cũng có thể làm việc trong ngành sản xuất. Nhưng lúc Tử Vi Hóa Quyền thì không nên có lý tưởng quá cao, xa rời thực tế. Tử Vi Hóa Khoa, thì cuộc đời gặp nhiều cạnh tranh. Ví dụ như chế tạo ra một sản phẩm mới liền bị người ta mô phỏng.

“Tử Vi Tham Lang” đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh, chủ về sự nghiệp có đột phá, nhưng nếu đồng thời gặp thêm Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Đại Hao, thì bạo phát bạo bại.

“Tử Vi Tham Lang” hội Liêm Trinh Hóa Kỵ, thích hợp làm nghề tự do, hội Liêm Trinh Hóa Lộc, cũng có thể làm việc trong chính giới.

“Tử Vi Tham Lang” thủ Cung Quan Lộc, Tử Vi không nên Hóa Khoa, nếu không, tuy có năng lực kêu gọi, động viên nhưng lại thiếu năng lực tổ chức, trừ phi được “bách quan triều củng” mới có thể bù đắp khuyết điểm.

“Tử Vi Tham Lang” đồng cung với Tả Phụ hoặc Hữu Bật, đối cung là Hữu Bật hoặc Tả Phụ, cấu tạo thành cách cục tốt, chủ về có nhiều người dưới quyền, nhưng cần phải chia.quyền lợi với thuộc cấp thì sự nghiệp mới có thể kéo dài.

“Tử Vi Tham Lang” có Hỏa Tinh và Linh Tinh giáp cung, cũng chủ về đột phá. Nếu giáp cung Tham Lang Hóa Kỵ thì cuộc đời bạo phát bạo bại.

“Tử Vi Thiên Tướng” ở hai cung Thìn hoặc Tuất, về cơ bản cũng chủ về chìm nổi bất thường. Có điều khác với tình hình chìm nổi của “Tử Vi Phá Quân”.

  • “Tử Vi Phá Quân” chìm nổi là do chủ quan muốn thay đổi hoàn cảnh.
  • Chìm nổi của “Tử Vi Thiên Tưởng” thường thường là bị ảnh hưởng của hoàn cảnh khách quan, thường có cảm giác anh hùng không có đất dụng võ.

“Tử Vi Thiên Tướng” thủ Cung Quan Lộc, thường nên ở vị trí phó, tuy thực tế công tác là đảm đương một mình, mà danh nghĩa thì không bằng thực tế.

“Tử Vi Thiên Tướng” thủ Cung Quan Lộc, cũng nên hợp tác với người khác, nhưng cần phải tham gia lãnh đạo công việc thực tế.

“Tử Vi Thiên Tướng” bị “Hình kị giáp ấn”, không có sát tinh, chủ về sự nghiệp gặp trắc trở, có sát tinh, thì chỉ thích hợp ngành công nghệ.

“Tử Vi Thiên Tướng” có các sao khoa văn đồng độ, lại gặp thêm các sao sát, hao, thì thích hợp văn nghệ, nghề tự do.

“Tử Vi Thất Sát” không nên gặp Liêm Trinh Hóa Kỵ, nếu không sẽ dễ sinh phá tán, thất bại, thường do xử sự nặng tình cảm mà ra.

“Tử Vi Thất Sát” thủ Cung Quan Lộc còn chủ về thân tâm vất vả. Gặp sát tinh, thì thường bị đồng nghiệp hay đồng sự khiêu chiến, ứng phó rất vất vả.

“Tử Vi Thất Sát” gặp “Lộc Mã giao trì”, cuộc đời phải đổi nghề hai ba lần mới ổn định. Hội Phá Quân Hóa Lộc thì kiêm hai ba chức vụ, hoặc thường gánh vác công việc quá mức.

“Tử Vi Thất Sát” rất ưa Tử Vi Hóa Khoa, có thể làm mạnh thêm năng lực quản lý, lãnh đạo. Nếu được “bách quan triều củng”, cũng có thể làm việc trong chính giới, hoạt động trong thương giới cũng là nhân vật lãnh đạo.

“Tử Vi Thất Sát” gặp các sao sát, kỵ, cuộc đời ắt sẽ có phá tán, thất bại, nếu các sao sát, kỵ quá nặng thì khó gây dựng lại.

Nếu Sao Thiên Cơ nhập miếu, có Sao Hóa Lộc, Sao Hóa Quyền, Sao Hóa Khoa hội chiếu, lại gặp thêm Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt, thì nên làm việc trong chính giới. Nhưng nếu Thiên Cơ lạc hãm, hoặc đồng thời gặp sát tinh thì chỉ nên làm việc trong công ty lớn. Làm những công việc có tính phục vụ công cộng.

Thiên Cơ Hóa Lộc hay Hóa Khoa ở Cung Quan Lộc, gặp Thiên Vu, Thiên Lương, Cự Môn thì có thể khởi nghiệp bằng khoa tinh tướng (Bói toán). Nếu lại gặp Hoa Cái thì có thể hành nghề tôn giáo.

Có tứ sát tinh hội chiếu sẽ làm tăng tính biến động, tính không ổn định của Thiên Cơ. Chủ về thường thạy đổi công việc hoặc nghề nghiệp, hoặc làm những nghề nghiệp có tính lưu động. Cương vị công tác luôn bị điều động.

Thiên Cơ ở Cung Quan Lộc có Địa Không, Địa Kiếp, Đại Hao hội hợp, thích hợp theo ngành công nghiệp, đầu cơ ắt sẽ thất bại.

“Thiên Cơ Thái Âm” ở Cung Quan Lộc, làm tăng tính lưu động của Thiên Cơ, khiến sự nghiệp của mệnh tạo có nhiều biến động. Nếu là “Cơ Nguyệt Đồng Lương” hội hợp, thì nên làm công chức, hoặc làm việc trong các công ty, tập đoàn lớn, có tính phục vụ.

Thiên Cơ và Cự Môn ở Cung Quan Lộc, dù có cát tinh hoặc có các sao Thiên Tài, Long Trì, Phượng Các, vẫn chủ về có kỹ năng chuyên môn nhưng không giữ một nghề, văn hoặc võ đều thay đổi đa đoan.

Phàm “Thiên Cơ, Thiên Lương” cùng thủ Cung Quan Lộc, chủ về thường kiêm mấy chức vụ nhưng hay thay đổi. Bất kể có phải là cách “Cơ Nguyệt Đồng Lương” hay không, đều không nên tự mình kinh doanh làm ăn, mà nên làm việc trong một công ty, tập đoàn lớn có tính phục vụ công chúng. Hoặc làm công tác xã hội, cũng có thể theo ngành y dược.

Gặp các sao sát, ki hình, hao, thì dễ vì sự nghiệp mà dính vào tranh chấp, kiện tụng, phạm pháp. Nên suy tính đến việc theo ngành pháp luật, công tác tư pháp. nếu sát tinh quá nặng, mà cung mệnh không cát tường, thì chủ về giang hồ phiêu bạt, nghèo nàn, văn nhân thất chí.

Thái Dương nhập miếu ở Cung Quan Lộc. Trường hợp ở cung Ngọ sự nghiệp rất lớn, nhưng cần phải gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt, hoặc được Văn Xương, Văn Khúc, mà không gặp sát tinh, Địa Không, Địa Kiếp mới là thượng cách. Nếu không gặp cát tinh, mà gặp Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Đại Hao, thì sự nghiệp tuy lớn, nhưng vẫn chủ về trống rỗng, dễ bị sụp đổ.

Thái Dương nhập miếu, được các cát tinh vây chiếu, không gặp các sao ác sát, có thể làm việc trong chính giới, cũng có thể kinh doanh buôn bán. Đều chủ về sự nghiệp hưng thịnh, có địa vị cao trong xã hội, hoặc chủ về có rất nhiều học trò.

Thái Dương nhập miếu, có cát tinh vây chiếu, lại có Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa hội hợp, có Văn Xương đồng độ, là kết cấu tốt nhất. Chủ về mệnh tạo làm việc trong chính giới hay kinh doanh buôn bán, đều là nhân tài lãnh đạo, có thể phú quý. Ở cung Ngọ, không có sát tinh, được “bách quan triều củng”, là lương đống của quốc gia, nhân vật quan trọng trong chính giới. Có sát tinh, thì trong thành công có thất bại. Thái Dương rất ưa có Cự Môn hội chiếu, gặp cát tinh là nhân tài ngoại giao, nhân tài trong ngành tư pháp.

Nếu Thái Dương lạc hãm, dù gặp “tam hóa cát”, hoặc được “bách quan triều củng”. Thì sự nghiệp trước sau vẫn trống rỗng. nếu Thái Dương Hóa Kỵ, thì một khi sự nghiệp tiến triển, thị phi oán ghét sẽ theo đó mà đến. Không thích hợp làm việc trong chính giới, mà thích hợp với ngành tư pháp, pháp luật, cũng nên làm giáo chức. Nếu gặp Văn Xương, Văn Khúc, có thể làm công việc mang tính quảng bá. Nếu gặp Long Trì, Phượng Các, thì thích hợp nghiên cứu khoa học. Nếu gặp Địa Không, Địa Kiếp, lại nên khởi nghiệp bằng óc tưởng tượng, là nhân tài phát minh.

Thái Dương lạc hãm, mà sát tinh nặng, thì bôn ba vất vả, ít có thành tựu.

“Thái Dương Thái Âm” ở Cung Quan Lộc, nếu được cát tinh vây chiếu hay hội hợp, thì có thể phú quý. Thích hợp làm việc trong chính giới, thương nghiệp. Gặp sát tinh thì sự nghiệp, nghề nghiệp hay thay đổi. Thích hợp làm tham mựu, cố vấn. Hoặc làm việc trong lãnh vực quan hệ công cộng, quảng bá, công tác phục vụ xã hội.

Hai sao “Thái Dương Cự Môn” đồng cung, ở cung Dần thì tốt hơn. Không có sát tinh thì đại phú đại quý, là nhân vật quan trọng trong giới ngoại giao. Có các sao sát, kỵ, thì thích hợp ngành pháp luật, tư pháp, giáo dục.

Thái Dương và Cự Môn đồng cung không ưa có sát tinh mà gặp đủ Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, là nhân vật cao cấp trong chính giới. Nếu đồng thời gặp sát tinh, làm kinh doanh buôn bán cũng là lãnh đạo một phương. Hoặc là nhân sĩ mà xã hội biết tên. Trường hợp ở cung Thân thì hơi kém hơn.

“Thái Dương Thiên Lương” cùng ở Cung Quan Lộc, gặp cát tinh, thích hợp làm công việc giám sát, kiểm toán.

  • Nếu có sát tinh, thì nên khởi nghiệp bằng nghề nghiệp hưởng lương, nghiên cứu khoa học.
  • Gặp Kình Dương, Thiên Hình, có thể là nhân tài trong lãnh vực y dược, trị liệu.
  • Nếu Thái Dương và Thiên Lương gặp Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc. Có Văn Xương hoặc Văn Khúc hội hợp, thì nên tham gia các cuộc thi tuyển, trở thành nhân tài chuyên nghiệp.

Nhưng bất kể thế nào, đều không nên tự mình bỏ vốn ra làm ăn kinh doanh.

Nếu Vũ Khúc không có sát tinh đồng độ, nhưng lại ở tam phương hội hợp, còn gặp Phá Quân, Thất Sát, thì tính chất kim thuộc chuyển thành công cụ bén nhọn, thích hợp với những nghề nghiệp dùng công cụ bén nhọn để kiếm tiền, như quân nhân, cảnh sát, bác sĩ ngoại khoa, nha sĩ, v.v…

Vũ Khúc ở sáu cung Dần, Thân, Mão, Dậu, Tị, Hợi, là Vũ Khúc tọa nhàn cung, cổ nhân cho rằng phần nhiều là có tay nghề. Trường hợp đồng cung với sát tinh là đúng. Cách cục này lại ưa gặp Văn Xương, Văn Khúc. Ở thời hiện đại, bác sĩ sản khoa, bác sĩ ngoại khoa, nha sĩ, thầy thuốc cũng thuộc loại “có tay nghề”, chưa chắc là thợ thuyền.

Vũ Khúc đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh, thì không ưa rơi vào hai cung Tị hoặc Ngọ, cũng không ưa gặp các sao thuộc hỏa. Nếu không, cuộc đời ít nhất cũng có một lần mất chức hoặc thất nghiệp. Đến cung hạn Quan Lộc gặp lại Vũ Khúc, còn bị các sao sát, kị của đại hạn hoặc lưu niên xung khởi, là thời kì ứng nghiệm.

Vũ Khúc Hóa Khoa, chủ về tiếng tăm, cho nên bất kể làm nghề nghiệp gì cũng đều lấy việc tạo dựng tiếng tăm làm nhiệm vụ hàng đầu. Như thiết kế một kiểu đồ trang sức, hành động ngân hàng đầu tư, đều có mục tiêu tạo dựng tiếng tăm.

Vũ Khúc Hóa Kỵ, chủ về người tự kinh doanh làm ăn thường cảm thấy thiếu vốn, không thể phát triển theo lí tưởng. Vì vậy thích hợp làm nghề kĩ thuật. Gặp Vũ Khúc Hóa Kỵ thủ cung Quan Lộc của đại vận hoặc lưu niên, cũng phải cẩn thận đề phòng hiện tượng thiếu hụt tài chính trong việc phát triển sự nghiệp.

Vũ Khúc rất ngại đồng độ với Đà La, vì Đà La cũng là sao kỵ. Nhưng lúc Vũ Khúc Hóa Kỵ hoặc có Đà La đồng độ, lại thích hợp làm những nghề nghiệp có tính chất hung hiểm, mạo hiểm, như thợ lặn, tang nghi, diễn viên đóng thế, v.v… Chỉ cần có cát tinh đồng thời hội hợp thì cũng có thể phát lên rồi biến thành hanh thông.

Muốn định Vũ Khúc ở cung Quan Lộc có cách cục cao hay thấp, phải lấy có nhập miếu hay không làm tiêu chuẩn. Có cát hóa và các sao phụ, tá hay không, làm tư liệu tham khảo. Có điều, Vũ Khúc rất ưa hội Liêm Trinh Hóa Lộc, tức lúc này Vũ Khúc cũng đồng thời Hóa Khoa. Trường hợp cát hóa này sẽ giúp biến thành thượng cách.

“Vũ Khúc Thiên Phủ” ở hai cung Tí hoặc Ngọ, đối cung là Thất Sát, không có các sao sát, kị, hình, mà có sao lộc, là quan thuế. Nếu gặp thêm các sao phụ, tá, thì địa vị của người này ắt khá cao. Có điều, nếu ở tam phương gặp sát tinh, là võ nghiệp, đồng thời ở tam phương còn gặp thêm các sao phụ, tá thì lấy công trạng để khởi nghiệp.

“Vũ Khúc Thiên Phủ” có sát tinh đồng độ, thì nên theo ngành nghề khoa học kĩ thuật. Cũng lấy trường hợp có sao lộc là tốt.

“Vũ Khúc Thiên Phủ”, mà Thiên Phủ Hóa Khoa, tuy không có sao lộc, cũng thích hợp ngành kinh tế tài chính.

“Vũ Khúc Thiên Phủ” ở cung Tí tốt hơn ở cung Ngọ. Trường hợp ở cung Tí, đối cung là Thất Sát ở cung Ngọ, là tượng hỏa luyện âm kim, có thể ảnh hưởng đến tính chất của “Vũ Khúc, Thiên Phủ”, trải qua tôi luyện mà thành hữu dụng. Nếu gặp các sao phụ, tá đồng cung hay vây chiếu, thì nên xuất thân quân ngũ.

“Vũ Khúc Tham Lang” đồng độ ở hai cung Sửu hoặc Mùi, mà Tham Lang Hóa Kỵ, suốt đời không được nhàn hạ, phải bôn ba vất vả, sự nghiệp đa đoan, thậm chí là “nửa quan gia nửa thương nhân”, kiếm tiền là nhiệm vụ.

“Vũ Khúc Tham Lang”, mà Tham Lang Hóa Lộc, không có sát tinh, nhưng có các sao phụ, tá cát, có thể trở thành cự phú. Có điều, nếu tự kinh doanh làm ăn thì khó tránh bạo phát. Vì vậy chỉ cần hơi có các sao sát, hình, thì liền bạo bại. Không phải chỉ có cách cục “Hỏa Tham”, “Linh Tham” mới như vậy.

“Vũ Khúc Tham Lang” cũng có thể làm quan thuế, hoặc làm việc ở công ty kinh tế tài chính. Nhưng “Hỏa Tham”, “Linh Tham” đều chủ về tham ô, chỉ trường hợp Vũ Khúc hóa làm sao khoa mới có thể tránh vì tham mà chuốc họa.

“Vũ Khúc Tham Lang”, mà Vũ Khúc Hóa Lộc, Tham Lang Hóa Quyền, sự nghiệp cũng có liên quạn đến kinh tế tài chính, nhưng đồng thời cũng thích hợp kinh doanh theo trào lưu xã hội, ở thời hiện đại bây giờ gọi là theo trend – xu hướng.

“Vũ Khúc Tham Lang” thủ cung Quan Lộc, ưa hợp tác với người khác, cho nên sự nghiệp cũng không chỉ có một đầu mối.

“Vũ Khúc Thiên Tướng” đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân, chủ về chức văn mà làm việc võ, hoặc chức võ mà làm việc văn. Ở thời hiện đại, văn võ khó phân biệt. Đại khái là, nội vụ thuộc văn, ngoại vụ thuộc võ, kinh tế tài chính thuộc văn, khoa học kĩ thuật thuộc võ.

“Vũ Khúc Thiên Tướng” có các sao đào hoa đồng độ, lại đồng cung với Văn Khúc, là diễn viên. Nhưng không được cát hóa và có sao cát mới đúng. Nếu có sát tinh trùng trùng, sẽ chủ về gió sương cay đắng, giang hồ phiêu bạt.

“Vũ Khúc Thiên Tướng” được “Tài ấm giáp ấn”, rất thích hợp làm việc hưởng lương ở bộ môn kinh tế tài chính. Nếu thuộc loại “Hình kị giáp ấn” cũng không thích hợp tự kinh doanh làm ăn.

“Vũ Khúc Thiên Tướng” thủ cung Quan Lộc, có cát hóa, cũng chủ về hợp tác với người khác, nhưng cần phải gánh vác trách nhiệm thực tế.

“Vũ Khúc Thiên Tướng” có sát tinh hội hợp, thích hợp với khoa học kĩ thuật.

“Vũ Khúc Thất Sát” đồng độ ở hai cung Mão hoặc Dậu, có sát tinh ở tam phương, thích hợp xuất thân quân ngũ. Gặp các sao phụ, tá cát, ắt có thể vinh thân. Nếu sát tinh ở bản cung, thì chỉ chủ về khoa học kĩ thuật.

“Vũ Khúc Thất Sát” đồng cung với tứ sát và Địa Không, Địa Kiếp, bất kể gia nhập quân đội hay làm việc trong ngành sản xuất, đều chủ về sự nghiệp trắc trở.

“Vũ Khúc Thất Sát” ở cung Dậu ưa có Hỏa Tinh đồng độ, ở cung Mão thì không ưa.

  • Trường hợp ở cung Dậu là “Vũ Khúc, Thất Sát” được Hỏa Tinh tôi luyện, chủ về trải qua trắc trở mà được thành tựu.
  • Trường hợp ở cung Mão là thuộc mộc, Hỏa Tinh ngại hỏa quá vượng, rất kỵ nạp âm thuộc hỏa, nên chủ về vất vả mà không có kết quả.

“Vũ Khúc Thất Sát” có sao lộc, cũng thích hợp ngành kinh tế tài chính, mà còn giỏi buôn bán. Trường hợp được cát hóa và có sao cát là tốt, trường hợp.sát tinh nặng thì cần phải đề phòng trắc trở.

“Vũ Khúc, Thất Sát” gặp các sao sát, hình, chủ về phẫu thuật ngoại khoa, trật đả,

Vũ Khúc độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, đối nhau với Tham Lang, tính chất đại khái tương đồng với trường hợp “Vũ Khúc, Tham Lang”, nhưng do Vũ Khúc rơi vào “Thiên La Địa Võng”, nên tính tham lam hơi giảm. Nếu thành cách “Hỏa Tham”, “Linh Tham” thì sự nghiệp cũng có sắc thái hám lợi hoặc tham ô, cho nên chủ về bạo phát bạo bại. Rất ngại có Địa Không, Địa Kiếp đồng cung, chủ về cuộc đời ít nhất phải trải qua một lần trắc trở, nếu không khó thành người hữu dụng.

“Vũ Khúc Phá Quân” đồng độ ở hai cung Tị hoặc Hợi, chủ về ưa nhúng tay vào nghề nghiệp nào đó mà không suy tính đến sở trường của bản thân. Cho nên gặp sao cát thì nhiều nghề , gặp sao hung thì sự nghiệp nhiều biến động. Có Thiên Hình đồng độ thì thích hợp gia nhập quân ngũ hoặc đơn vị kỉ luật, hoặc đảm trách về trị an. Lấy trường hợp gặp các sao phụ, tá cát là nên, nếu có các sao sát, kị trùng trùng, thì cần phải đề phòng hung nguy.

“Vũ Khúc Phá Quân” ở cung Quan Lộc, có Linh Tinh, Đà La, Âm Sát, Hoa Cái, Thiên Hình đồng độ, chủ về nghề nghiệp không chính đáng hoặc nghề tay trái.

“Vũ Khúc Phá Quân” gặp sát tinh nhẹ, cũng thích hợp khởi nghiệp bằng khoa học kĩ thuật. Nếu “Vũ Khúc Phá Quân” được cát hóa, đồng thời lại gặp Liêm Trinh Hóa Lộc hay Tham Lang Hóa Lộc, cũng có thể tự kinh doanh làm ăn, tuy khá chú tâm về sinh kế, nhưng sinh hoạt rất xa hoa.

“Vũ Khúc Phá Quân”, mà Phá Quân Hóa Lộc, giỏi khai sáng mà không giỏi thủ thành, chủ ý nhiều mà không ưa vụ thực. Cho nên cần phải có Thiên Khôi, Thiên Việt hội hợp, mới có cơ hội, có Tả Phụ, Hữu Bật hội hợp, mới chủ về có nhiều trợ lực.

“Vũ Khúc Phá Quân” gặp Liêm Trinh Hóa Kỵ, thường chủ về nạn tai chảy máu, không thích hợp gia nhập quân ngũ.

Thiên Đồng thủ Cung Quan Lộc, chủ về tay trắng làm nên. Trong các tình hình thông thường, thích hợp với những nghề nghiệp có tính mĩ quan và hưởng thụ. Như hướng dẫn du lịch, làm tóc, trang trí, trang điểm và làm đẹp, nấu ăn,

  • Thiên Đồng có Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa hội chiếu. Hoặc Lộc Mã giao trì thì chủ về sự nghiệp phát triển từ nhỏ thành lớn, dần dần hanh thông, trở thành nhân tài lãnh đạo trong nghề nghiệp.
  • Thiên Đồng lạc hãm, không thích hợp kinh doanh buôn bán, chỉ thích hợp làm thuê hưởng lương. Hoặc làm công chức, làm việc trong công ty lớn.
  • Thiên Đồng nếu có Đà La, Thiên Mã hội chiếu, thì cuộc đời sự nghiệp sẽ xảy ra nhiều thay đổi. Hoặc hay thay đổi nghề nghiệp.
  • Thiên Đồng nếu có Kình Dương, Thiên Hình hội chiếu, phần lớn chủ về vì sự nghiệp mà gây ra bất hòa, tranh chấp, hoặc bị kẻ xấu cạnh tranh.
  • Thiên Đồng nếu có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ, thì chủ về sự nghiệp gặp nhiều nghịch cảnh. Nên làm thuê thì hơn, không nên tự đứng ra kinh doanh.
  • Thiên Đồng nếu gặp Địa Không, Địa Kiếp, thì nhờ tài nghệ mà tay trắng làm nên.

“Thiên Đồng Thái Âm” cùng ở Cung Quan Lộc. Chỉ nên phát triển trong cục diện đã hình thành. Vì vậy rất nên được người đề bạt, hoặc kế thừa công việc hay sự nghiệp của người khác. Cũng có thể suy tính việc tiếp tục công cuộc làm ăn kinh doanh của người nào đó. Nhưng cần phải có Lộc Tồn, Thiên Mã hội chiếu mới có thể làm ăn kinh doanh. Nếu có Văn Xương, Văn Khúc hội hợp, thì nên theo đuổi sự nghiệp văn nghệ. Không có Văn Xương, Văn Khúc cũng có thể làm công chức.

“Thiên Đồng Cự Môn” cùng thủ Cung Quan Lộc, dù gặp cát tinh, cũng phải trải qua gian khổ, phấn đấu mới thành công. Nếu không có cát tinh, ở tam phương tứ chính gặp sát tinh, thì chủ về làm việc thiếu nghị lực, không kiên nhẫn, dẫn đến sự nghiệp giữa đường bị phế.

“Thiên Đồng Thiên Lương” cùng thủ Cung Quan Lộc. Bất kể kinh doanh buôn bán hay làm việc trong chính giới, đều chủ về nên làm người vạch kế sách.

Nhưng gặp cát tính, lại có Kình Dương, Thiên Hình hội hợp, thì có thể đảm nhiệm công tác vệ sinh phòng dịch, trị liệu hoặc nhân viên hải quan, nhân viên bưu cục.

Liêm Trinh thủ Cung Quan Lộc, nhập miếu, thông thường đều nên theo võ nghiệp, Liêm Trinh Hóa Kỵ thì càng đúng. Nếu làm những nghề nghiệp khác, thì sẽ gặp nhiều trở ngại hoặc biến động thay đổi rất lớn. Có Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phụ, Hữu Bật vây chiếu hoặc đồng độ, gia thêm Tử Vi hội chiếu, thì từ văn chức mà nắm quyền của võ chức.

Liêm Trinh nếu có Vũ Khúc, Văn Xương, Văn Khúc hội hợp. Đều thích hợp làm việc trong chính giới, gia nhập quân đội. Hoặc các công việc giám sát về kỉ luật, chủ về chức văn mà làm việc võ. Hoặc chức võ mà làm việc văn, là nhân tài kiêm văn võ.

  • Nếu kinh doanh buôn bán, thì nên xem kĩ các sao hội chiếu để định nghề nghiệp hoặc hướng kinh doanh.
  • Có Thất Sát hội chiếu, gặp Thiên Trù, có thể theo ngành ẩm thực, thực phẩm.
  • Có Thiên Phủ hội chiếu, có thể theo ngành tiền tệ, ngân hàng.
  • Có Thiên Tướng hội chiếu, là nhân tài thương nghiệp chuyên vạch kế sách, hoặc nhân tài kế hoạch kinh tế.
  • Có Văn Xương, Văn Khúc đồng độ, thì thích hợp theo đuổi sự nghiệp nghệ thuật.

“Liêm Trinh Thiên Tướng” thủ Cung Quan Lộc. Gặp cát tinh thì thích hợp gia nhập quân đội hay cảnh sát, công tác hải quan. Làm việc trong chính giới cũng sẽ chức văn mà làm việc võ. Gặp các sao ác, sát, hình, kỵ, hao hội hợp, thì có nguy cơ bị bãi chức hoặc thất nghiệp, vỡ nợ, sập tiệm. Gặp sát tinh nhẹ thì thích hợp kinh doanh buôn bán, theo ngành công nghiệp, có thể dựa vào kĩ thuật mà khởi nghiệp.

“Liêm Trinh Phá Quân” cùng thủ Cung Quan Lộc, kết cấu này khá xấu. Nếu theo ngành kinh doanh buôn bán, hoặc công nghiệp, đều chủ về cuộc đời ít nhất cũng có một lần thất bại hay gặp trắc trở. Vì vậy cần xem xét kĩ đại hạn và lưu niên để ứng phó một cách thiết thực. Nếu làm việc trong chính giới, thì đảm nhiệm về văn thư. gặp cát tinh, cũng có thể nhờ sự kinh lịch mà lên chức, thăng tiến. Gặp sát tinh thì ở mãi một chỗ. Nếu kinh doanh buôn bán, cũng nên lấy ẩm thực làm nghề nghiệp. Hoặc làm những nghề có tính nguy hiểm, cũng có thể gia nhập quân đội hay cảnh sát, làm công tác bảo an, hải quan.

“Liêm Trinh Tham Lang” cùng thủ Cung Quan Lộc, rất nên làm những nghề nghiệp nhiều giao tế thù tạc. Hoặc có tính tiêu dùng, có tính vui chơi giải trí, nghệ thuật. Gặp Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Tài hội hợp, thì thích hợp làm công tác văn nghệ. Nếu gặp Hàm Trì, Thiên Diêu, Hồng Loan, Thiên Hỉ, thì nên theo ngành nghệ thuật biểu diễn. Gặp Thiên Mã thì thích hợp làm nghề hướng dẫn du lịch.

Thiên Phủ thủ Cung Quan Lộc, nhập miếu, được cát tinh vây chiếu, chủ về sự nghiệp phát triển, có thành tựu. Nếu ở hãm địa, hội Văn Xương, Văn Khúc, cổ nhân cho rằng bất quá chỉ là viên thư lại. Tức người trông coi về văn thư của huyện phủ.

Nếu Thiên Phủ ở Cung Quan Lộc, gặp Lộc Tồn, Thiên Mã, chủ về có thể làm ăn kinh doanh mà trở nên giàu có. Nhưng không nên sáng lập sự nghiệp mới, chỉ nên tiệm tiến từ cục diện đã có.

Thiên Phủ Hóa Khoa, thích hợp làm việc trong ngành tiền tệ, tài chính, ngân hàng, hoặc tự kinh doanh. Ít nhất cũng một mình đảm trách công việc, nhưng không nên đầu cơ.

Thiên Phủ gặp sát tinh, thích hợp theo ngành công nghiệp. Có Địa Không, Địa Kiếp đồng độ, trái lại sẽ chủ về có nghị lực kinh người trong việc phát triển sự nghiệp trong giới công nghiệp.

Thiên Phủ có hai thượng cách giàu có trong sự nghiệp như sau:

  • Một là “Thiên Phủ, Vũ Khúc” ở cung Ngọ, tương hội với “Tử Vi Thiên Tướng” ở cung Tuất hay ở cung Dần được Lộc Tồn. Không có các sao sát, kỵ, gặp cát tinh phù trợ, chủ về đại quý. Thích hợp làm việc trong chính giới.
  • Hai là Thiên Phủ ở cung Sửu, có Lộc Tồn ở cung Dậu đến hội hợp, không có sát tinh, gặp cát tinh, cũng chủ về đại quý.

Thái Âm thủ Cung Quan Lộc, tính chất biến hóa đa đoan, cần phải xem xét kĩ các sao hội hợp để định đoán. Nếu nhập cách “Cơ Nguyệt Đồng Lương” thì không thích hợp kinh doanh, mà thích hợp làm việc trong chính giới hoặc công ty lớn. Rất nên làm việc ở những cơ cấu có tính phục vụ công cộng. Gặp Hóa Lộc, Lộc Tồn, Thiên Mã, tuy có thể làm ăn kinh doanh, nhưng phải tổ chức thành công ty trách nhiệm hữu hạn, không nên một mình bỏ vốn ra kinh doanh.

Cách “Cơ Nguyệt Đồng Lương” gặp tam cát hóa cùng chiếu, không có sát tinh. Thì thích hợp đảm nhiệm chức vụ nắm giữ quân quyền. Nếu có thêm các sao phụ tá hội chiếu, thì chủ về là người của chính giới lẫn quân đội.

Nếu Thái Âm có Thiên Lương tương hội, gặp Đại Hao, Thiên Vu, Kiếp Sát, thích hợp làm trong ngành thuế vụ.

Thái Âm có Thiên Đồng hoặc Thiên Cơ đồng độ, đều thích hợp làm những nghề không có cơ sở căn bản cố định, nếu không sự nghiệp sẽ nhiều biến động.

Thái Âm có hai cách cục thích hợp với ngành công nghiệp:

  • Một là, có Thiên Cơ đồng độ, được Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa hội chiếu.
  • Hai là, có Địa Không, Địa Kiếp đồng độ.

Trường hợp trước phát triển thuận lợi, trường hợp sau thì gặp nhiều biến động. Nhưng đều thích hợp theo ngành phát minh khoa học kĩ thuật. Hoặc dựa vào nghề chuyên môn để khởi nghiệp.

Thái Âm có Văn Xương, Văn Khúc, Long Trì, Phượng Các, Thiên Tài đồng độ hoặc hội chiếu, là thiên tài nghệ thuật. Có thể phát triển nghề nghiệp ở lãnh vực nghệ thuật. Nếu gặp thêm Hồng Loan, Thiên Hỉ, Hàm Trì, Thiên Diêu, thì thích hợp theo ngành nghề có tính giải trí, vui chơi hoặc chủ về thành danh trong giới nghệ thuật biểu diễn.

Sao Tham Lang ở cung Quan Lộc, chủ về nghề nghiệp có khuynh hướng tiêu dùng, giao tiếp, hoặc nhờ xã giao mà thành sự nghiệp. Tham Lang Hóa Lộc hay Hóa Quyền, tính chất này càng nặng, cho nên rất thích hợp về ngoại vụ.

Tham Lang có Văn Xương, Văn Khúc đồng độ, nghề nghiệp rất thích hợp lãnh vực giải trí, vui chơi, quảng bá.

Tham Lang cũng có tính chất nghệ thuật, nhưng Liêm Trinh là “tĩnh”, còn Tham Lang là “động”, hai tính chất cơ bản khác nhau. Ớ thời hiện đại, Tham Lang cũng chủ về vận động, hoặc vận động có tính nhịp điệu (như múa ba lê). Cho nên nếu Tham Lang Hóa Quyền, gặp sát tinh nhưng không nhiều, thường chủ về vận động viên (có tính cạnh tranh ở sân vận động).

Tham Lang có cát hóa, và sao cát hội hợp, lại gặp thêm các sao cát như Tam Thai, Bát Tọa, Đài Phụ, Phong Cáo, Thiên Quan, Thiên Phúc, Ân Quang, Thiên Quý, cũng có thể làm việc trong chính giới, còn là nhân vật điều hòa các phe phái (hay làm việc trong các công ty lớn, tập đoàn lớn cũng vậy).

Thành cách “Hỏa Tham”, “Linh Tham” ở bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, là chủ về nắm giữ binh quyền, hoặc làm việc trong các cơ cấu “hình pháp, kỉ luật”.

Tham Lang có Tả Phụ, Hữu Bật đồng độ, sẽ chủ về có nhiều người dưới quyền, cho nên sự nghiệp kinh doanh ắt có khí quý phái.

Tham Lang cũng là sao ẩm thực (Liêm Trinh chủ về máu, còn Tham Lang chủ về thịt), không Hóa Kị, càng chủ về ẩm thực có phẩm vị, gặp Hỏa Tinh, Thiên Phủ, có thể làm việc trong ngành ẩm thực.

Tham Lang Hóa Kỵ ở cung quan lộc, chủ về hễ nhúng tay vào sự nghiệp ắt sẽ gây ra tranh chấp, có sát tinh đồng độ thì càng nặng, có Địa Không, Địa Kiếp đồng cung sẽ chủ về vì tranh chấp mà sự nghiệp gặp trắc trở.

Nếu Tham Lang Hóa Kỵ, có sao cát hội hợp, thì lí tưởng sự nghiệp tuy không thể đạt tớimục đích, nhưng lại có khoảng không gian riêng để sáng tạo.

Nếu gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, và sao phụ, tá cát, thì thích hợp làm việc trong chính giới. Có điều, nếu có Kình Dương, Đà La hội chiếu, hoặc Kình Dương đồng độ, thì dễ tham ô.

Tham Lang ở hai cung Tí hoặc Ngọ, có Thiên Hình đồng độ, cũng chủ về “hình pháp”, hoặc làm đạo diễn, biên đạo trong nghệ thuật biểu diễn (người biểu diễn phải hoàn toàn tuân theo kịch bản, cho nên cũng có ý vị kỉ luật, nguyên tắc).

Tham Lang ở hai cung Dần hoặc Thân, đối nhau với Liêm Trinh, rất kỵ Đà La đồng độ, gặp sát tinh (Hỏa Tinh, Linh Tinh cũng vậy), chủ về là tham ô, do đó gặp họa. Có điều, nếu là thương nhân hám lợi, tuy có nguy cơ thất bại, nhưng lại không bị tai họa “hình pháp”.

Tham Lang ở hai cung Dần hoặc Thân, thích hợp những nghề nghiệp có tính khai sáng. Hoặc làm một nghề nghiệp nào, lại có thể mở ra một hướng khác, có tác phong kinh doanh rất đặc biệt, do đó dễ đi đến thành công.

Tham Lang ở hai cung Dần hoặc Thân, thủ cung quan lộc, có khuynh hướng hợp tác với người khác, nhưng phần nhiều giữa chừng lại thay đổi.

Tham Lang ở hai cung Thìn hoặc Tuất, đồng cung với Vũ Khúc, cần phải Vũ Khúc Hóa Lộc, Tham Lang Hóa Quyền, ở tam phương tứ chính không có Kình Đương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp (có Thiên Hình thì không sao), hoặc có Hỏạ Tinh, Linh Tinh hội chiếu, mới chủ về làm nhân vật cao cấp trong quân đội hay cảnh sát, có thể một mình đảm trách công việc, chấp chưởng đại quyền. Nếu không có cát hóa, nhưng có sao cát, cũng có thể làm việc trong chính giới, là quan thuế (nhất là khuynh hướng thuế vụ).

Nếu có sát tinh đồng độ, thì thích hợp tự kinh doanh buôn bán, sự nghiệp sẽ phát triển theo nhiều phương hướng, không chỉ một mối. Nếu đối cung là Vũ Khúc Hóa Kỵ, kinh doanh buôn bán sẽ xoay chuyển tiền bạc khó khăn, cũng không thích hợp gia nhập quân đội hay cảnh sát.

Cự Môn thủ Cung Quan Lộc, nhập miếu, chủ về tay trắng sáng lập sự nghiệp. Rất thích hợp dùng kĩ năng chuyên môn hoặc tri thức chuyên môn làm cho gia vận hưng thịnh. Như làm việc trong các ngành nghề y khoa, pháp luật, nghệ thuật

biểu diễn, ngoại giao, quan hệ công cộng, quảng bá. Gặp Thiên Cơ, thì chủ về chuyên viên máy tính, kế toán. Gặp Văn Xương, Văn Khúc, có thể theo ngành nghệ thuật, hoặc khoa thuật số.

Cự Môn thủ Cung Quan Lộc, nếu các sao sát, kỵ mà nặng, lại gặp Thiên Mã, là khách giang hồ phiêu bạt. Nếu gặp văn tinh, thì cũng nghèo nàn, là văn nhân thất chí.

Thiên Tướng thủ Cung Quan Lộc, ưa hội chiếu với Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Lộc Tồn, và các sao phụ tá. Chủ về là nhân vật trọng yếu trong chính giới, hay nhân vật lớn trong giới công thương nghiệp.

Thiên Tướng có Tử Vi hội chiếu, nên lập thân trong chính giới.

Thiên Tướng có các sao cát hội chiếu, mà không có sát tinh. Chủ về lập thân trong chính giới cũng tốt, nhưng không nên mưu tính giành vị trí tối cao. Nếu không sẽ thành bia cho người ta nhắm, lúc đến niên hạn có vận trình không tốt sẽ dễ ngã ngựa.

Thiên Tướng có Vũ Khúc hoặc Liêm Trinh đồng độ, thích hợp gia nhập quân đội hay cảnh sát, hải quan, cũng có thể theo ngành công nghiệp.

Thiên Tướng nếu có “Vũ Khúc, Phá Ouân” vây chiếu. Chủ về sự nghiệp lên xuống vô thường, không thích hợp làm việc trong chính giới, có thể dựa vào nghề chuyên môn để phát triển. Gặp Long Trì, Phượng Các, Thiên Tài thì càng có lợi.

Thiên Tướng có tứ sát tinh hội chiếu, chủ về sự nghiệp gặp nhiều tình huống rối bời, dù đang ở trong thuận cảnh cũng có lúc lúc bị trở ngại. Nếu gặp thêm các sao hình, kỵ, hao, chủ về làm việc trong chính giới sẽ có nguy cơ bị bãi chức. Trong thương trường thì bị phá tán, thất bại, hoặc thậm chí ngừng kinh doanh, vỡ nợ, sập tiệm.

Thiên Lương thủ Cung Quan Lộc, trường hợp độc tọa ở cung Ngọ là cách cục lớn nhất. Không gặp các sao sát, kỵ, được Thiên Khôi, Thiên Việt, Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Lộc Tồn vây chiếu hoặc đồng độ. Chủ về theo ngành kinh doanh buôn bán hay làm việc trong chính giới đều là nhân vật lãnh đạo.

Thiên Lương hội Lộc Tồn, Thiên Mã, đại lợi làm ăn kinh doanh, chủ về được người ngoại quốc (hoặc người ở nơi khác) tín nhiệm.

Thiên Lương thủ Cung Quan Lộc, thông thường nên đảm nhiệm các chức vị giám sát. Cũng có thể làm chuyên viên về máy tính, kiểm toán, thiết kế, v.v… Nếu có Thiên Đồng hội chiếu, là nhân tài tham mưu, cố vấn hoặc làm công tác kế hoạch.

Thiên Lương thủ Cung Quan Lộc, gặp các sao sát, hình, có thể theo ngành y. Nếu gặp nhiều sát tinh, lại gặp thêm Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Đại Hao, thì nên làm những công việc có tính nguy hiểm. Nếu không dễ sinh tai họa, hoặc phạm pháp mà dẫn đến phá tán hao tài.

Thiên Lương ở cung Tị, phần nhiều làm những nghề nghiệp đặc biệt.

Thất Sát thủ Cung Quan Lộc, thích hợp theo ngành công nghiệp. Nên lấy sức người làm nguồn vốn là chính, tuyệt đối không nên đầu cơ. Bởi vì Thất Sát ở Cung Quan Lộc, cuộc đời ắt sẽ có một lần bị trắc trở nghiêm trọng, nếu đầu cơ thì khó dựng lại cục diện mới.

Thất Sát có Vũ Khúc hoặc Liêm Trinh đồng độ, có Tả Phụ, Hữu Bật, Thiêrt Khôi, Thiên Việt, Tam Thai, Bát Toạ, Thiên Vu, Thiên Phúc hội hợp. Chủ về quyền uy xuất chúng, theo võ nghiệp có thể vinh thân. Nếu theo ngành công nghiệp cũng chủ về danh tiếng có thể truyền ra nước ngoài.

Thất Sát không sợ tứ sát tinh. Nếu có tứ sát tinh đồng độ hoặc hội chiếu, thì chủ về lập nghiệp trong gian khổ, nhưng cuộc đời gặp nhiều thị phi, sóng gió.

Thất Sát có Địa Không, Địa Kiếp đồng độ, thích hợp lập thân bằng kĩ thuật, công nghệ. Nếu không sẽ bị phá tán, thất bại.

Phàm Thất Sát thủ Cung Quan Lộc, bất kể gặp cát tinh hay gặp sát tinh, đều không nên theo ngành văn hóa giáo dục. Vì mệnh tạo giỏi quản lý người dưới quyền, chỉ thích hợp hoạt động trong quân đội hay cảnh sát, hoặc lãnh đạo công xưởng.

Phá Quân nhập miếu thủ Cung Quan Lộc, thích hợp làm công việc quản lý hoặc kinh doanh công xưởng, hoặc theo võ nghiệp.

Phá Quân nếu có Lộc, Quyền, Khoa hội hợp, là người có quyền uy trong võ nghiệp. Cổ nhân gọi là “Uy trấn Hoa Di”.

Phá Quân thủ Cung Quan Lộc, không thích hợp kinh doanh, nếu không ắt sẽ gặp sóng gió, trắc trở. Dù có cát tinh hội hợp, cũng lúc thành lúc bại, lên xuống vô thường. Có điều, nếu Phá Quân Hóa Lộc, hoặc có Lộc Tồn đồng độ, thì chủ về có tính cương nghị hơn người, một lần thất bại là một lần đứng lên. Có cát tinh hội chiếu thì cuối cùng cũng thành tựu. Nếu không có cát tinh, thì áp lực rất nặng, lại gặp Địa Không, Địa Kiếp, thì trong cuộc đời ắt sẽ có một lần vỡ nợ, sập tiệm hoặc phá sản. Nếu theo ngành công nghiệp, có thể dựa vào sản phẩm mới hoán chuyển nguy cơ.

Phá Quân thủ Cung Quan Lộc, tuyệt đối không được đầu cơ, nếu không ắt sẽ thất bại.

Phá Ouân cũng thích hợp ngành giao thông vận tải, gặp Lộc Tồn, Thiên Mã thì càng tốt.

Hai sao nhập Miếu, có danh tiếng địa vị, gặp Thái Dương, Thái Âm đồng cung hội chiếu thì chủ quyền quý, chức vị cấp tỉnh bộ. Gặp nhiều sao tốt như Tử Vi, Thiên Phủ, Vũ Khúc, Hóa Khoa, Tả Phù Hữu Bật thì là người tài năng văn võ, phú quý bất phàm. Hai sao này cùng với cát tinh đồng thủ thì tăng may mắn tốt đẹp, kỵ gặp Phá Quân. Nếu Hãm địa thì không đẹp, thích hợp phát triển ở các phương diện văn hóa, học thuật, nghệ thuật, tôn giáo, chiêm bốc.

Có tài năng quản lý ưu việt, làm việc ổn định chắc chắn, công việc thuận lợi, có thể được đại chúng cổ vũ. Kinh Doanh hoặc làm công chức đều tốt, nếu được cát tinh đồng cung càng tốt, có các sao tốt Tử Vi Thiên Phủ củng chiếu thì văn võ đều giỏi, Tài Quan đều đẹp. Đồng cung với Thiên Đồng, Văn Xương thì là kỳ cách văn chương, nổi danh thiên hạ. Gia Tứ Sát thì thành bại bất nhất, nếu gặp Không Kiếp thì chủ bị giáng chức.

Trong công việc luôn gặp quý nhân, đặc biệt nhận được sự giúp đỡ của cấp trên, bậc tôn trưởng. Gặp khó khăn gì cũng từ hung thành cát. Nếu được nhiều cát tinh thủ chiếu thì chủ quý. Gia Tứ Sát thì thành bại thăng trầm, gia Không Kiếp Hình Kỵ là người bình thường.

Là điềm đại cát, trong công việc có thể nhận được sự trợ giúp về vật chất, là người giỏi quản lý, sử dụng tiền bạc, không thích hoang phí, dễ tích lũy tiền bạc, công việc phát triển thuận lợi. Có thể đảm nhận chức vị cao, hoặc kinh doanh xí nghiệp quy mô lớn. Lộc Tồn độc thủ, thường làm trong bộ Tài chính, Ngân hàng, hoặc làm các công việc quản lý tài chính, là quan chức về tài phú. Lộc Tồn nếu được nhiều cát tinh miếu vượng thủ chiếu thì tất là bậc tài năng văn võ, lương đống quốc gia, Tài Quan đều đẹp. Gia Hỏa Linh Không Kiếp thì thăng trầm, tốt xấu bất nhất, đặc biệt kỵ gặp Không Kiếp.

Điềm hung, một đời sự nghiệp nhiều trắc trở, hay thay đổi, không thuận lợi. Thường gặp phiền phức, dễ đối lập với cấp trên, gây phản cảm với đồng nghiệp, người dưới mà bị ép từ chức hoặc mất việc, hoặc thu nhập thấp. Nhập Miếu thì lợi cho Võ chức hoặc kinh doanh, cũng có thể làm những ngành có tính thay đổi, nguy hiểm hoặc tiêu hao thể lực, không lợi cho các công việc Văn chức. Nếu được nhiều cát tinh thủ chiếu thì chủ có quyền quý.

Hai sao trên hãm địa thì bôn ba vất vả qua ngày. Trong sự nghiệp thường gặp tổn hại, sự cố, làm công việc bình thường, địa vị không cao, chuyển chức, không ổn định, thu nhập ít, môi trường làm việc khắc nghiệt, một đời làm nhiều mà thành ít, hãm địa gia cát tinh thì chỉ có hư danh, khó có thể phát triển mạnh. Gia Hỏa Linh Không Kiếp chủ người bình thường, nghèo khó.

Điềm không tốt, công việc làm nhiều thành ít, bị đối xử bạc bẽo, môi trường khắc nghiệt, tuy rằng có công việc nhưng khó dài lâu.

Hai sao này nhập miếu thì tuổi trẻ thành bại thất thường, tuổi già công việc toại ý. Hội Tử Vi, Tham lang miếu vượng thì chủ cát lợi. Nhập miếu hội nhiều cát tinh thủ chiếu thì chủ quyền quý hiển hách.

Hai sao này Hãm địa thì cả đời địa vị thấp kém, sự nghiệp không ổn định, hay bị chuyển chức, khó được dùng đúng chỗ, thường không hài lòng với công việc hiện tại. Gặp Dương Đà Không Kiếp thì một đời khốn đốn, khó khăn, nhiều phong ba.

Điềm hung về sự nghiệp hư không, một đời công việc không ổn định. Thường thay đổi công việc, việc làm chẳng có ít nhiều lợi ích gì đáng nói, thường gặp trở ngại hoặc thất bại, khó có thể thành đại sự đại nghiệp. Mệnh có cát tinh mà gặp Không Kiếp dù có phú quý nhất thời cũng nhất định có thất bại tương đối lớn. Hoặc là tiền tài bị phá tán, hoặc là đắc tội với cấp trên mà bị trách phạt, hoặc học nhằm cái không dùng được nên khó phát huy. Xấu nhất là 2 sao này đồng cung tại Cung Quan Lộc hoặc cùng tại tam phương của cung mệnh. Nếu chỉ gặp 1 trong 2 sao mà trong cung có chính tinh Miếu Vượng thì độ hung tương đối nhỏ.

  • Cung Quan Lộc còn chủ về năng lực học tập, trường hợp có Hóa Khoa, là chủ về mệnh tạo rất có hứng thú đối với học vấn và kiến thức, có tinh thần tự tìm hiểu, nghiên cứu một cách bền bỉ. Mà mục đích tìm hiểu, nghiên cứu không phải là vì muốn nâng cao địa vị, phần nhiều xuất phát từ niềm hứng thú của bản thân. Hóa Khoa còn có tác dụng “bền bỉ”, “lâu dài”, làm cho việc học không phải lúc nóng lúc nguội.
  • Bổ túc ý (1) và (3), do mệnh tạo là người có thực lực, lúc làm việc có nhòm trước ngó sau. Nên trong tình huống Hóa Lộc và Hóa Kỵ ở vị trí thích đáng, thường thường với cách làm việc bằng thái độ nghiêm túc, mệnh tạo có thể nhờ học vấn và năng lực hơn người của mình mà có thanh danh hiển hách.
  • Cung Quan Lộc còn là nơi dùng để xem khí tiết của mỗi người. Trường hợp Hóa Khoa ở Cung Quan Lộc, thông thường là mẫu người quang minh lỗi lạc, không phải tầm thường. Bất luận trong môi trường làm việc hay lúc còn đi học. Thậm chí trong cuộc sống thường ngày, mệnh tạo cũng đều sinh hoạt rất có quy luật, có quy củ, cho nên thường được mọi người xem là mẫu mực.
  • Cung Quan Lộc còn là cung vị chủ về tâm lý ở tầng thâm sâu, trường hợp có Hóa Khoa, là chủ về nội tâm của mệnh tạo có sức mạnh ổn định, bên ngoài dù sóng to gió lớn cũng rất khó dao động. Lại vì Hóa Khoa chủ về ngăn nắp, có lớp lang, ổn định, cho nên phần nhiều là người có tâm tính bình hòa, biết tiến thoái, không thích gây sự với ai, là người rất biết “minh triết bảo thân”.
  • Cũng do các tính chất đã thuật ở trên. Người có Hóa Khoa ở Cung Quan Lộc, nếu không có các tình huống tự hóa hay tứ hóa khác. Về bản chất, họ thiếu tính thích ra oai, phách lối và không có tâm lý “kẻ cả”, cũng ít khi có thái độ ra lệnh (trừ phi cung mệnh thấy Hóa Quyền). Thông thường cũng thiếu tinh thần toan tính cho tương lai, sáng lập cơ nghiệp, chỉ trong tình huống cung tài bạch và Cung Quan Lộc phi hóa lẫn nhau, mới làm thay đổi các tính chất này.
  • Lực tác động của Hóa Khoa còn bao gồm “làm giảm nhẹ”, “làm hòa hoãn”, “làm bớt căng thẳng”, “cải thiện”. Còn chủ về quý nhân và hóa giải tai ách. Nên trong môi trường làm việc họ tạo được sự đồng tình của cấp trên, chưa nói đến hành vi ổn định, vững vàng của họ thường thường đã có ý “minh triết bảo thân”, có tác dụng “phù hộ” trong môi trường làm việc. Thêm vào đó, mệnh tạo có lúc thiếu tinh thần toan tính cho tương lai, nên nếu làm việc trong một cơ cấu dạng lớn là rất thích hợp (trời sập xuống cũng khó làm tổn thương mệnh tạo).
  • Cung Quan Lộc là cung vị khí số của sinh mệnh, thấy Hóa Khoa ở đó, là tác dụng bảo vệ của mệnh bàn trên cung vị khí số của sinh mệnh. Vì vậy mệnh tạo thường thường có sức sống và sức mạnh tinh thần rất ngoan cường. Hơn nữa, vì Hóa Khoa là lực tác động phù hộ sinh mệnh, nên cuộc đời mệnh tạo ít khi gặp nguy cơ tức thời, dù gặp nguy hiểm, thường thường cũng có thể chuyển nguy thành an.
  • Vì Hóa Khoa ở Cung Quan Lộc, là cung tam hợp của cung mệnh, là chủ về có năng lực, còn rất được sự đồng tình của hoàn cảnh bên ngoài. Nhất là trong đánh giá về năng lực chuyên nghiệp của mệnh tạo. Xét ở góc độ này, mệnh tạo cũng rất thích được người ta khen ngợi và khẳng định. Vì tác dụng của Hóa Khoa có thiên hướng lâu dài, nên khi được “gãi đúng chỗ ngứa”, đối với họ, có thể nói sẽ khiến họ vui rất lâu.

Lúc xem Cung Quan Lộc là cung vị thiên di của Cung Phu Thê, là cái nhìn về tương lai của người phối ngẫu, trường hợp Cung Quan Lộc có Hóa Khoa là người phối ngẫu có tính toán quy hoạch tiền đồ bằng lý tính.

Hóa Quyền là hành vi, lực hành động, lúc lực hành động nằm trong tay mệnh tạo, hơn nữa còn lấy Cung Quan Lộc làm trọng tâm. Nên mệnh tạo sẽ rất nỗ lực vì muốn nâng cao bản thân, mệnh tạo cũng tin vào năng lực của mình, rất kì vọng vào bản thân. Nếu sống lâu với người này bạn sẽ phát hiện họ là người có thực lực.

  • Cung Quan Lộc dùng để xem về năng lực cao hay thấp. Còn có thể dùng để xem người này tốt hay xấu. Vì Hóa Quyền có tính định hướng, nên có tác dụng tiết chế. Hóa Quyền ở Cung Quan Lộc. Tuy nội tâm có tính vội vàng, trong lòng hay lo lắng, không yên, nhưng người dạng này phần nhiều đều sống theo nguyên tắc, tuân thủ quy củ.
  • Trường hợp Hóa Quyền ở Cung Quan Lộc, người này còn có tính ép buộc, tính cầu toàn. Hơn nữa, Hóa Quyền có năng lực tiết chế, nên người này có thể làm đến chức vụ cao trong công ty lớn. Phần nhiều sẽ vì tính cầu toàn mà làm việc vất vả, là đại biểu cho mẫu bạo gan, làm việc quá sức. Cũng nhờ vậy mà phần nhiều họ là người ở cấp chủ quản trung hoặc cao.
  • Tiếp theo trên, nếu có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng cung với sao Hóa Quyền, sẽ khiến cho tính định hướng của Hóa Quyền bị ảnh hưởng, mất đi năng lực tiết chế, sẽ khiến cho người ta cảm thấy họ thích ra oai, phách lối và đầy toan tính, nhưng đồng thời cũng nhờ đó mà họ có thể tự sáng lập cơ nghiệp .
  • Tiếp theo trên, Cung Quan Lộc còn tượng trưng cho trạng thái tâm lý lúc giải quyết sự việc, đối mặt với vấn đề. Trường hợp Cung Quan Lộc có sao Hóa Quyền đồng cung với Hỏa Tinh, Linh Tinh thì mệnh tạo có tính hấp tấp, dễ bị kích động, dùng thủ đoạn để xử lý sự việc. Nhất là trường hợp tổ hợp sao ở cung điền trạch không tốt, tâm tình đột nhiên thay đổi kiểu này sẽ làm cho người ta khó mà chịu nổi.
  • Trường hợp Hóa Quyền ở Cung Quan Lộc. Nếu Hóa Lộc và Hóa Kỵ , chủ về sau khi kết hôn mệnh tạo và đối tượng hôn phối dễ xảy ra hiện tượng “dịch động”. Cung Quan Lộc là cung vị thiên di của người phối ngẫu, tượng trưng cho viễn cảnh mà người phối ngẫu có thể thấy được. Trường hợp có Hóa Quyền, thì người phối ngẫu sẽ vì cuộc sống hôn nhân mà tìm ra hướng đế nỗ lực, đối mặt với mục tiêu của đời người.

    Hóa Lộc ở Cung Quan Lộc, vì Hóa Lộc có hàm ý là “nhiều” đương nhiên trong lòng cũng muốn nâng cao và đa dạng hóa năng lực của mình, mà mục tiêu họ muốn nỗ lực theo đuổi cũng nhiều.

    • Cung Quan Lộc đã là đại biểu cho lãnh vực tinh thần. Lúc Sao Hóa Lộc ở Cung Quan Lộc tượng trưng về tình cảm, là chủ về nội tâm của người này không thích cô đơn tịch mịch. Về cách suy nghĩ cũng không phải là quá ư cứng ngắc, không biết tùy cơ ứng biến, cách đối nhân xử thế đương nhiên là có tình người.
    • Cung Quan Lộc cũng tượng trưng cho phương thức giải quyết sự tình, cách đối mặt với vấn đề của một người. Trường hợp Hóa Lộc ở Cung Quan Lộc, thì bản tính không tệ, sẽ không dùng thủ đoạn quá khích để đối phó người khác, mà ít nhiều đều xét đến mặt tình cảm.
    • Hóa Lộc ở Cung Quan Lộc là chủ về rất hứng thú học tập, hiểu biết rộng. Họ xem học tập hay biết một thứ gì đó mới cũng là một kiếu hưởng thụ.
    • Nhưng nếu Hóa Kỵ ở “ngã cung”. Là chủ về mệnh tạo có lý tưởng, còn có tinh thần trách nhiệm và biết được hướng nỗ lực. Trong tình hình như vậy, Hóa Kỵ ở Cung Quan Lộc, là sẽ vì lý tưởng mà chuyên tâm trì chí, làm việc khắc khổ. Bất kể trong học vấn hay công việc, thường thấy họ bỏ ra rất nhiều thời gian, tinh thần vào việc bồi đắp bản thân, nâng địa vị lên. Có khuynh hướng làm việc điên cuồng.
    • Trường hợp Hóa Lộc ở “ngã cung”, về phương diện năng lực tinh thần vẫn bị tình trạng thái quá hay bất cập, dễ có tính cưỡng ép, bắt buộc. Trường hợp Hóa Lộc , hoặc Cung Quan Lộc của đại vận tự Hóa Kỵ, là ý tượng: sức sống bị đình đốn, dễ gặp nguy hiểm về sinh mệnh.

      Cung Quan Lộc chủ về lĩnh vực tinh thần mà mệnh tạo có thể ý thức được. Hóa Kỵ ở Cung Quan Lộc cũng giống như một cái hố không có đáy. Trong lĩnh vực tinh thần, học thuật, sẽ khiến cho mệnh tạo luôn cảm thấy không đủ. Cũng vì ảnh hưởng về tinh thần, nên bất kể Hóa Lộc [năm sinh] ở “ngã cung” hay “tha cung”, đều sẽ khiến mệnh tạo cảm thấy thiếu tự tin, sẽ bỏ ra rất nhiều thời gian để không ngừng bồi đắp bản thân. Ngoại trừ tình trạng thiếu lòng tự tin, đương sự còn dễ có cảm giác bất lợi, trở ngại. Thường thường người ngoài nhìn thì thấy đương sự đã làm rất khá, nhưng bản thân mệnh tạo vẫn cho rằng còn quá tệ.

      Tiếp theo trên, vì vấn đề tâm lý đã thuật ở trên, mệnh tạo sẽ luôn lo lắng không biết sự tình có được xử lý tốt hay không. Tuy hướng chính đã được xác định, nhưng mệnh tạo vẫn cứ chú trọng những chuyện lặt vặt, cũng hay kiểm tra tới kiểm tra lui các tiểu tiết. Có lúc làm cho những người chung quanh không cách nào chịu nổi.

      Tổng hợp những điều đã thuật ở trên, mệnh tạo là người không chủ động tranh thủ, bất kể đó là tiền bạc, chức vị, thậm chí là tình yêu. Luôn có tâm lý cho rằng chuyện tốt sẽ không đến với mình.

      Nếu Hóa Lộc ở “tha cung”, là chủ về khả năng làm việc có hiệu quả kém, dễ bị tình trạng tìm không ra mục tiêu ở viễn cảnh tương lai. Ngoài ra, Cung Quan Lộc còn là cung vị biểu hiện của cung tài bạch, là chủ về mệnh tạo thiếu sức bật trong công việc, sự nghiệp. Vì cảm giác thiếu an toàn, nên thường thấy mệnh tạo sẽ tử thủ ở cương vị của mình. Tuy về cá tính, mẫu người này rất thích hợp làm công chức để cầu yên ổn, nhưng cũng vì Cung Quan Lộc có Hóa Kỵ, nên muốn vào công môn là hơi khó.

      Thông thường, Tuần Triệt là sao phá, đóng ở cung nào thì gây trở ngại cho cung đó:

      • Ở Mệnh, thì thiếu thời lận đận
      • Ở Thân thì trắc trở, gian truân.
      • Ở Phu Thê thì hỏng một duyên nợ.
      • Ở Tử thì hao con.
      • Ở Tài thì kém tiền bạc.
      • Chỉ có Tật, Tuần Triệt phá tán bệnh tật, họa, tạo sức khỏe cho đương số.

      Vì vậy, Tuần Triệt đóng ở Quan tiên quyết gây trục trặc cho quan trường, thể hiện dưới nhiều hình thái:

      • Hoặc chậm công danh.
      • Hoặc công danh phải lận đận, chật vật.
      • Hoặc công danh không mấy cao, thăng giáng thất thường.
      • Hoặc không bền vững.

      Nếu gặp Triệt, công danh chậm phát lúc thiếu thời, chỉ về già mới hanh thông. Nếu gặp Tuần, sự trục trặc có tính cách triền miên, tuy không nặng như Triệt nhưng kéo dài suốt đời.

      Trường hợp cung Quan có chính tinh

      Nếu chính tinh sáng sủa, Tuần Triệt làm cho bớt sáng, có thể trở thành tối. Do đó, công danh có thể bị trở ngại, hoặc chậm phát hoặc trục trặc, hoặc không lâu bền, hoặc có nhiều hung sự xảy ra, có thể là mất chức, mất quyền, bị thay đổi, bằng không thì cũng bất toại, hay gặp những sự bực mình, bất mãn, tài năng không thi thố được. Nếu tại Quan mà có Thiên Tướng hay Tướng Quân thì càng bất lợi: vào công quyền ắt phải có lần mất chức, bị cách chức.

      Cung Quan có Sát Phá Liêm Tham hay bại tinh sáng sủa gặp Tuần Triệt thì tương đối bền vững, chức vụ tương đối cao, không đến nỗi phải lụn bại, thăng trầm.

      Những sao Tử Phủ, Cự Nhật, Cơ Nguyệt Đồng Lương đi với sao sáng sủa khác gặp Tuần Triệt thì công danh thất thường, không bền, gặp hung sự.

      Cung Quan ở Sửu, Mùi có Âm Dương tọa thủ đồng cung: quan lộc được rực rỡ. Đặc biệt là về sau vì tại Sửu Mùi, Âm Dương tương đối xấu, gặp Tuần, Triệt thì sáng lại và tại Sửu Mùi vốn là âm cung nên tốt cho hậu vận.

      Nếu chính tinh ở Quan mà hãm địa, Tuần Triệt phục hồi sức sáng cho chính tinh, công danh sẽ quý hiển nhưng không tránh khỏi trắc trở: quan trường chỉ phát lúc hậu vận. Đặc biệt nếu Sát Phá Liêm Tham hay bại tinh hãm địa gặp Tuần Triệt đồng cung thì lại phát nhanh và mạnh hơn những bộ sao khác hãm địa. Duy đối với Thiên Tướng, dù đắc hay hãm địa, Tuần Triệt bao giờ cũng gây thảm tử, như quân nhân chết trận, viên chức bị cách, giáng.

      Cung Quan vô chính diệu, dù được chính tinh đối diện sáng sủa chiếu vào, quan lộc cũng không toàn mỹ (công danh tầm thường, chức vị không mấy cao) huống hồ gặp chính tinh đối diện hãm địa. Duy có hai biệt lệ quan trọng làm khởi sắc cho cung Quan vô chính diệu:

      Cung Quan có Tuần hoặc Triệt án ngữ: cách này nói chung không hoàn hảo nhưng cũng đỡ xấu. Quan trường tuy nhiều trở ngại nhưng vẫn có thể hiển đạt trong vãn vận. Nếu tảo đạt và phát nhanh thì lại sớm tàn và hoạnh tán.

      Cung Quan được Nhật Nguyệt cùng sáng sủa hợp chiếu hay xung chiếu: cách này trở thành đắc lợi nhờ ánh sáng phối hợp của hai nguồn năng lực Nhật Nguyệt: công danh sáng lạn, chức vụ lớn, quyền hành cao, có triển vọng đắc phú, tóm lại vừa giàu vừa sang. Nếu cung Quan có Tuần hay Triệt trấn thủ tại đó thì phú quý sẽ tăng tiến nhiều hơn nữa.

      Biểu tượng cho quyền hành và thế lực, đặc biệt nếu đắc địa ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Nếu bình thường hoặc hãm địa (ở Tý, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi) thì quyền không cao, không nhiều, không quan trọng, hoặc chỉ có hư quyền hoặc quyền chỉ có trong bóng tối hoặc có thế lực mà không có quyền hoặc quyền tước hàm.

      Hóa Quyền có nhiều địa hạt: võ quyền, văn quyền, giáo quyền tùy theo cách làm quan nhưng cách nào có Quyền cũng đều hiển hách. Nếu đi với Hóa Kỵ trong bối cảnh cung Quan tốt đẹp thì hai sao này chỉ người có quyền và có mưu, hết sức quyền biến, không ngoan nhưng do có Kỵ nên thường bị người ta e ngại.

      Nếu đi với Kiếp Không ở Tỵ Hợi, Quyền càng phát nhanh và phát lớn do sự đưa đẩy của thời thế để tạo ra anh hùng nhưng vì có Kiếp Không nên có thể không lâu bền. Thông thường, người có Hóa Quyền hay tự đắc, tự tôn, kiêu căng, lấn lướt, hiếu thắng cho nên sao này tuy có lợi cho công danh nhưng không mấy hay về tính nết. Phải có thêm các sao đức hạnh thì Quyền mới hướng thiện.

      Nếu gặp hung tinh, vận xấu, Hóa Quyền tác họa cấp kỳ cho đương số. Hóa Quyền ở Quan tượng trưng cho sự tham chính, cho cách làm quan hiển đạt, đặc biệt là khi đi với Khoa và Lộc.

      Chỉ người có chính chức và có quyền vị. ý nghĩa của ấn giống như Quyền nhưng không mạnh bằng. Nếu ấn đi chung với Binh, Hình, Tướng thì võ nghiệp rất vinh hiển: đó là quân nhân có binh, có quyền, có uy. Người có ấn ở Quan là viên chức có công, được thưởng công bằng sự thăng chức, thăng trật, hoặc bằng sắc phong huy chương, tưởng lục. Nếu ấn ở vị trí các cung ban đêm, có thể là sự khen ngợi thông thường, cũng có thể là sự truy tặng (sau khi chết). Dù sao, Quốc ấn ở Quan, Mệnh, Thân là người dễ tiến đạt, được trọng vọng, được ghi công trên đường hoan lộ.

      Là quý cách khá cao, do những biểu tượng đi kèm.

      Tượng trưng cho quyền tước, tài năng được dùng đúng chỗ.

      Chỉ bằng sắc, công trạng, huy chương, quyền hành nhưng không mạnh bằng Quyền hay ấn. Đường Phù có nghĩa kém nhất.

      Cung Quan trước giáp Hoa Cái sau giáp Thiên Mã là một biểu tượng của quyền uy, có lọng (Cái), có ngựa (Mã) theo chầu. Duy cách này nên đóng ở cung ban ngày mới rạng.

      Biểu tượng cho chức vị, quyền hành (là cái đai). Chức quyền có thể cao.

      Hai sao này họp thành cách hổi đội hòm sắt, cũng khá tốt cho công danh. Ngụ ý được tín nhiệm, trọng dụng, nhất là đồng cung và ở cung Dần (hổ cư hổ vị).

      Chỉ công danh thăng tiến dễ dàng, nhất là ngành võ.

      Chỉ cách làm quan võ có cầm quân nhưng thuộc loại thấp, chỉ huy đơn vị nhỏ. Nếu đi cùng với

      Tướng Quân là võ quan cao cấp và có nắm quyền chỉ huy. Cách quan của Tướng Quân tuy có can đảm, hiên ngang nhưng táo bạo, có tinh thần sứ quân, tự tôn, tự phụ, sử dụng binh quyền đôi khi sai mục đích nên

      Tướng Quân gặp sao xấu dễ bị nguy kịch. Đi với cát tinh, Tướng Quân rất đắc dụng: đó là viên chức hay quân nhân rất tháo vát, có tinh thần xung phong, tình nguyện làm việc khó, có sáng kiến, đôi khi có quá nhiều sáng kiến nên đi sai lệch đường lối ở trên. Đi với Thiên Tướng, nhất là ở thế xung chiếu thì rất hiển hách trong binh nghiệp.

      Thiên Mã: ngụ ý tháo vát, may mắn, đa năng, thao lược, xông pha. Người có Thiên Mã ở Quan hay Mệnh thường nhậm lẹ, lanh lợi, lăn lóc, từng trải nên đa hiệu, đa nhiệm.

      Đây là bộ sao rất cần cho công danh, rất lợi và rất hợp với các công việc có tính lưu động. Vì đa hiệu, Mã là sao có rất nhiều phối cách rất hay với một số phụ tinh khác để làm cho năng tài đắc dụng hơn.

      Ví dụ như cách Mã Tử Phủ, Mã Nhật Nguyệt, Mã Lộc Tồn, Mã Hỏa hay Linh, Mã Tướng, Mã Khốc Khách. Mặt khác, cách hay trên còn tùy vị trí của Thiên Mã. Nếu ở Dần (Mộc) và Tỵ (Hỏa) thì tốt đẹp thêm, ở Thân (Kim) thì vất vả, còn ở Hợi (Thủy) thì lu mờ. Tốt khi Mã ở Dần (Mộc) mà Bản Mệnh thuộc Mộc, Mã ở Tỵ (Hỏa) với Hỏa Mệnh, Mã ở Thân (Kim) với Kim Mệnh, Mã ở Hợi với (Thủy Mệnh).

      Bao giờ gặp nghịch khắc giữa hai hành thì kém hoặc xấu: tài năng sút kém, trở ngại gia tăng, công danh không rạng.

      Lộc Tồn: chỉ tài năng, đặc biệt là tài tổ chức, tài thích ứng với hoàn cảnh. Lộc Tồn có nhiều sáng kiến, biết tùy theo nhu cầu mà quyền biến, xử sự tùy hoàn cảnh, lúc cương lúc nhu, một cách chừng mực. Đi với Thiên Mã,

      Lộc Tồn là người khai sơn phá thạch, mở đường cho kẻ khác đi theo, rất đắc dụng trong các trách nhiệm tiền phong, khai quang an vị, tổ chức cơ sở. Đặc biệt, sao này chỉ về tiền bạc nên rất lợi cho nhà kinh doanh khai thác tài nguyên kinh tế, tổ chức nền móng sản xuất.

      Đi với Hóa Lộc, Lộc Tồn chuyên đoán, có óc lãnh tụ, độc quyền và tập quyền. Gặp Tuần, Triệt hay sát tinh đồng cung, Lộc Tồn mất nhiều cơ hội hoạt động, bị khiếm dụng, bị dùng phí phạm, bị dùng không đúng chỗ, tài năng bị tiêu mòn hoặc bị dùng vào việc sái đạo đức. Trong lãnh vực tài chính, sao này chỉ sự tiết kiệm, xài kỹ, xài có quy tắc, sự chắt mót, giữ của, có lợi cho các chức vụ quản trị ngân sách.

      Thiên Khôi, Thiên Việt: Miễn là đừng gặp Tuần, Triệt hay Hóa Kỵ, Khôi Việt chỉ năng tài xuất chúng, uy tín và hậu thuẫn, phần lớn nhờ ở tài văn học, mô phạm, tính tình cao thượng, thanh khiết, tinh thần cạnh tranh và thi đua.

      Bạch Hổ, Tang Môn đắc địa ở Dần: chỉ sự tài giỏi, quyền biến, thao lược, ứng phó được nhiều nghịch cảnh, đồng thời cũng có khả năng xét đoán, lý luận, hùng biện phù hợp với các chức vị chính trị, ngoại giao, tư pháp, sư phạm.

      Ngoài ra Tang Hổ đắc địa còn có khả năng về võ, có khí phách lãnh đạo, chỉ huy nhất là khi được sao võ đi kèm. Do đó, Tang Hổ đặc biệt là Hổ có nhiều phối cách rất hay với Tấu Thư, với Phi Liêm, với

      Long Phượng Cái, với Kình Hình. Với Tấu Thư, Bạch Hổ chỉ năng tài hùng biện rất khích động, xuất sắc về tâm lý chiến, vận động quần chúng. Với Phi Liêm, Bạch Hổ rất tháo vát, lanh lợi như Thiên Mã lại được thời cơ thuận lợi.

      Với Kình hay Hình, Bạch Hổ có chí khí, mưu lược cả văn lẫn võ. Với Long Phượng Cái, Bạch Hổ chỉ sự hiển đạt về uy danh, sự nghiệp, khoa giáp.

      Thiên Khốc, Thiên Hư đắc địa ở Tý, Ngọ: chỉ người có chí lớn, có văn tài hùng biện cùng năng khiếu hoạt động chính trị, đặc biệt là về hậu vận. Khốc Hình Mã thì hiển đạt võ nghiệp, nhất là ở Dần và Tỵ. Khốc Hư Sát hay Phá đắc địa thì có quyền cao chức trọng, uy danh lừng lẫy, được thiên hạ nể phục.

      Ân Quang, Thiên Quý: Đóng ở Mệnh, Quan, Thân, Di viên chức được tín nhiệm, trong dụng nâng đỡ, che chở của người trên. Ngoài ra, Quang Quý có nghĩa là viên chức đó trung tín, hết lòng, có lương tâm chức nghiệp, xứng đáng với sự tín nhiệm của thượng cấp dành cho.

      Quang Quý có nghĩa gặp nhiều dịp may trong hoạn lộ, cụ thể như được thời thế thích hợp, được sử dụng đúng năng khiếu, làm việc vừa ý, được hạnh phúc trong nghề nghiệp.

      Thanh Long, Lưu Hà hay Hóa Kỵ đồng cung: có vận may tốt, cơ may lớn để ra làm quan, không cần cầu cạnh và lúc ra làm quan thì đắc dụng, đắc thời theo ba ý nghĩa nêu trên của Quang Quý. Ngoài ra, Thanh Long gặp Long Đức ở Thìn cũng rất tốt đẹp vì rồng đóng ở cung Thìn chỉ đắc danh, đắc lộc mà không cần cầu cạnh, được nhiều may mắn trên hoạn lộ.

      Tràng Sinh, Đế Vượng: chỉ sự phong phú. áp dụng vào quan trường, công danh sẽ dồi dào, năng tài đa diện trong nhiều lĩnh vực, chức quyền tương đối cao. Người có Sinh, Vượng ở Quan có nhiều sáng kiến trong công vụ, được giao phó nhiều trách nhiệm, dễ thăng tiến.

      Đào Hoa, Hồng Loan: ở Quan, Đào Hoa và Hồng Loan rất hợp cách: chỉ làm quan lúc tuổi trẻ, tuổi trẻ tài cao, công danh tảo đạt, nhẹ bước thang mây, không phải bôn ba cầu cạnh.

      Phụ tinh chỉ nhân sự trợ giúp

      Tả Phù, Hữu Bật: chủ sự giúp đỡ của người đời, đặc biệt là đồng sự, đồng song. Người có Tả Hữu ở Quan có tài giao tế nhân sự, có đức tính khéo léo thu được thiện cảm của người trên, có sự mềm mỏng cần thiết để được người ngang hàng cộng lực.

      Ngoài ra, cũng có nghĩa là quyền tước hiển vinh, nhờ có nhiều người phục tùng. Tả thuộc văn tinh nên hợp với Tử Phủ, Hữu chiếu vào Tử Phủ thì tốt hơn đồng cung. Trong cả hai trường hợp, Tả Hữu không nên đi chung với sát tinh. Tả Hữu còn có nghĩa là đa nghệ, là hệ số của tài năng, của quyền hành.

      Thiên Mã, Tràng Sinh, Đế Vượng: là bộ sao phụ tùy cho quan cách.

      Binh, Hình, Tướng, ấn: chỉ cộng sự đắc lực và có quyền, trợ uy cho võ cách.

      Hung sát tinh đắc địa gặp Sát Phá Liêm Tham đắc địa hay Vũ Tướng đắc địa: báo hiệu sự hiển đạt của võ nghiệp trong thời loạn, nhờ đức tính táo bạo, mạo hiểm, bất khuất trong những hoàn cảnh hết sức khó khăn.

      Bộ sao này có cả phú lẫn quý, tức là vừa có danh vừa có lợi. Nhưng công danh không được lâu bền, phát nhanh nhưng cũng tàn lẹ. Gặp bộ Vũ Tướng đắc địa thì toàn mỹ về cả công danh lẫn tiền bạc trong suốt thời gian sinh tiền, không bị ảnh hưởng của sự thăng trầm, hoạch phá. Nếu hai bộ này hãm địa, sát tinh dù có đắc địa cũng không quân bình được bất lợi: công danh nhỏ, chức vụ thấp, thăng giáng thất thường.

      Hung sát tinh hãm gặp Sát Phá Liêm Tham hãm hoặc Vũ Tướng hãm: giảm chế công danh khiến quân nhân khó thăng tiến, trở thành bất đắc chí, càng tung hoành càng gặp hung họa lớn lao. Nếu bốn sao chính mà sáng sủa thì quan cách tương đối cao hơn, nhưng thiếu thuộc hạ đắc lực vì hung sát tinh hãm địa, thậm chí còn gây họa cho chính mình. Gặp Vũ Tướng hãm địa thì cũng dưới mức trung bình và gặp nhiều hung họa. Trái lại nếu Vũ Tướng đắc địa thì rất hay: chẳng những có uy danh mà còn khắc phục được trở ngại và những âm mưu bất chính của đối thủ.

      Hung sát tinh với Tử Phủ Cự Nhật và Cơ Nguyệt Đồng Lương (văn cách): văn cách trong mỗi bộ sao này phải né tránh sát tinh thì mới hiển đạt. Gặp sát tinh, quan trường phải cạnh tranh, đối chọi, đấu trí, gian nan, chưa kể những hung họa hiểm nghèo khả hữu. Để thắng những sát tinh đó thì mỗi sao trong bộ phải đắc địa trở lên. Nếu chính tinh trong mỗi bộ sao mà hãm địa nốt thì quan cách chẳng những không ra gì mà còn gặp nhiều hiểm nguy đến bổn mạng.

      Qua Quan Lộc cung khả dĩ tìm thấy sự cát hung về chức nghiệp, địa vị và công danh. Như câu phú:

      Quyền cao trọng chấn biên cương

      Ngọ cung Thất Sát, Tử, Lương, Vũ, Đồng (đóng Quan Lộc)

      Rồi những câu sau đây:

      Cung Quan Thất Sát uy hùng

      Miếu thời chức trưởng vẫy vùng quân công

      Cung Quan Tham Vũ đồng tông

      Công danh hẹn bước ruổi dong lên đường

      Nhật Nguyệt cư Quan rất hay

      Chức quyền số đã sẵn tay trời dành

      Cung Quan Dần Mão Thiên Hình

      Trị dân trọng chức, chưởng binh cao quyền

      Thiên Quan Thiên Tướng miếu viên

      Hiển vinh đức trọng tài hiền ấy ai

      Hỏa Linh Mùi Sửu an bài

      Chiến công đã hẹn đức tài binh nhung

      Cung Quan mà gặp Đào Hồng

      Thiếu niên đã thỏa tang bồng chí trai

      Kình tứ Mộ Mã triều lai Biên cương ắt hẳn ra tài võ công

      Cung Quan giáp Phượng giáp Long

      Giáp Xương Giáp Khúc một dòng hanh thông

      (Phượng Long chức vị, Xương Khúc đỗ cao)

      Tuế Hổ Phù hợp Văn Xương

      Có tài hùng biện văn chương hơn người

      Phá Quân Phá Toái một nơi

      Tính ưa mạo hiểm việc thời chiến chinh

      Giáp Liêm giáp Sát tung hoành

      Tuổi già mới rạng công danh đó mà

      Hỏa Linh hợp Mã một nhà

      Hoặc nghề cơ khí hoặc là chở chuyên

      Quan Lộc Tử Mã nhất ban

      Khốc Hư Tí Ngọ đồng sàng hoạnh thương

      Mã Long Thiên Hỉ thuận đường

      Hoặc là Lộc Mã hợp phường tốt thay

      Tấu Thư Bác Sĩ xem qua

      Rộng đường văn học con nhà trâm anh

      Phong Cáo Thiên Tướng chính tinh

      Ơn nhờ lộc nước hiển vinh muôn phần

      Không Kiếp Thiên Tướng gian truân

      Khoa tinh niên thiếu giữ phần đăng khoa

      Cung Quan hội hợp cát tường

      Một rằng Tử Phủ ba phương Hóa chầu

      Hai rằng Khôi Việt đáng yêu

      Ba rằng Tả Hữu hợp chiều Âm Dương

      Miếu thì văn võ vẹn toàn

      Hãm cung cũng giữ được phần công danh

      Hình Riêu Cơ Tấu Vũ cùng

      Khéo nghề thuyền thợ vững đường sinh nhai

      Khúc Xương Long Phượng phát văn

      Vũ Tham Sát Phá lại rằng võ công

      Nhật Nguyệt Quan Lộc bất thông

      Chỉ hiềm một nỗi đồng cung Sửu Mùi

      Những ai đai ấn triệt hồi

      Thiên Tướng Không Kiếp đứng ngồi một bên

【#6】Luận Giải Cung Tài Bạch

Xem cung Tài Bạch để biết rõ sự giàu nghèo, và sinh kế.

Trước khi nhận định ảnh hưởng những sao thuộc cung Tài Bạch, phải luận đoán cẩn thận những cung Mệnh, Thân, Phúc Đức, Quan Lộc và Thiên Di.

Nếu những cung trên sáng sủa tốt đẹp, thì dù cung Tài Bạch có mờ ám xấu xa, cũng chẳng đáng lo ngại nhiều về sự thiếu thốn hay quẫn bách. Trái lại, những cung trên mờ ám xấu xa, thì dù cung Tài Bạch có rực rỡ tốt đẹp chăng nữa, cũng chưa đáng mừng. Có thể là sẽ giàu có, sinh kế dễ dàng, nhưng chẳng may chết non. Như vậy phải chăng Tài Bạch cũng thành vô vị.

– Đơn thủ tại tại Ngọ, Tướng đồng cung: giàu có súc tích, tiền của chất đống trong kho đụn.

– Đơn thủ tại Tý: giàu có, nhưng không được rực rỡ như ở trên.

– Phủ đồng cung: rất nhiều của cải, thường làm quan về tài chánh, được coi giữ kho tàng.

– Sát đồng cung: kiếm tiền rất nhanh, làm giàu rất chóng.

– Phá đồng cung: buổi đầu chật vật nhưng về sau rất dễ kiếm tiền, và cũng được sung túc.

– Tham đồng cung: bình thường, được hưởng của hương hỏa để lại, nhưng về sau cũng suy kém.

– Độc thủ tại Dần, Thân: phải cạnh tranh ráo riết mới kiếm được tiền, làm giàu chậm chạp nhưng chắc chắn.

– Phủ hay Tướng đồng cung: giàu có lớn, giữ của bền vững.

– Sát đồng cung: đi kiếm tiền trong lúc náo loạn nhưng tai ương thường đi liền với tiền bạc.

– Phá đồng cung: tiền tài thất thường, hay hoang phí hao tán nhưng hết lại có.

– Tham đồng cung: túng thiếu, suốt đời khổ sở vì tiền. Hay mắc tai họa vì tiền, nhất là kiện tụng và hình ngục.

– Đơn thủ tại Mão, Nguyệt đồng cung tại Tý: tay trắng làm giàu, càng về sau càng lắm của.

– Đơn thủ tại Dậu: tiền tài tụ tán thất thường.

– Đơn thủ tại Tỵ, Hợi: lang thang nay đây mai đó đi kiếm tiền nhưng lại rất hoang phí và bị hao tán nên không giữ được của.

– Đơn thủ tại Thìn, Tuất: túng thiếu

– Lương đồng cung: tất giàu có, buôn bán kinh doanh càng ngày càng phát đạt.

– Nguyệt đồng cung tại Ngọ: phải vất vả mới kiếm đượс tiền, về già mới có của.

– Cự đồng cung: tiền tài tụ tán thất thường nhưng hay túng chiếu và thường mắc thị phi, kiện tụng vì tiền. Có xa nhà hay lưu lạc nơi đất khách quê người mới phát đạt.

– Đơn thủ tại Thìn, Tuất: giàu có lớn.

– Phủ đồng cung: rất giàu có, giữ của bền vững, thường làm quan về tài chính hay giữ kho tàng.

– Tham đồng cung: từ ngoài 30 trở đi, mới giàu.

– Tướng đồng cung: của cải chồng chất, hay gặp qúy nhân nâng đỡ.

– Sát đồng cung: tay trắng lập nghiệp, buổi đầu vất vả khó khăn, về sau mới được dễ dàng

– Phá đồng cung: tiền vào tay này sang tay kia, trước không sau có. Nên chuyên về kỹ nghệ hay thương mại.

– Tọa thủ từ Dần đến Ngọ: giàu có lớn, dễ kiếm tiền.

– Tọa thủ từ Thân đến Tý: vất vả mới kiếm được tiền, phải gặp thời loạn hay phải đi ngang về tắt mới kiếm được đủ tiêu dùng, về già mới sung túc.

– Nguyệt đồng cung: trước ít sau nhiều, nếu gặp Kỵ đồng cung hay Tuần, Triệt án ngữ lại càng dễ làm giàu.

– Đơn thủ tại Ty, Ngọ, Mùi: tiền tài sung túc.

– Đơn thủ tại Hợi, Tý, Sửu : kiếm tiền chậm chạp và khó khăn.

– Lương đồng cung: làm giàu dễ dàng.

– Cự đồng cung: kinh doanh, hoạt động, cạnh tranh ráo riết mà trở nên giàu có.

– Nguyệt đồng cung tại Thân: tay trắng lập nghiệp nhưng khá giả.

– Nguyệt đồng cung tại Dần: thành bại, thất thường, kiếm tiền khó khăn và chậm chạp.

– Đơn thủ tại Tỵ, Hợi: rất giàu có và giữ của bền vững

– Đơn thủ tại Sửu, Mùi, Mão, Dậu: giàu có, nhưng không được rực rỡ như trên.

– Tử đồng cung: rất nhiều của cải, thường làm quan về tài chánh, được coi giữ kho tàng.

– Liêm đồng cung: giàu có lớn, giữ của bền vững.

– Vũ đồng cung: rất giàu có, giữ của bền vững, thường làm quan về tài chính hay giữ kho tàng.

– Đơn thủ tại Dậu, Tuất, Hợi: giàu có lớn, dễ kiếm tiền.

– Đơn thủ tại Mão, Thìn, Tỵ: vất vả mới kiếm được tiền, phải gặp thời loạn hay phải đi ngang về tắt mới kiếm được đủ tiêu dùng, về già mới sung túc

– Đồng đồng cung tại Ngọ: phải vất vả mới kiếm đượс tiền, về già mới có của.

– Cơ đồng cung tại Thân: tay trắng lập nghiệp nhưng khá giả.

– Cơ đồng cung tại Dần: thành bại, thất thường, kiếm tiền khó khăn và chậm chạp.

– Đơn thủ tai Thìn, Tuất: hoạnh phái tiền tài, kiếm tiền nhanh chóng và dễ dàng, càng về già càng giàu có.

– Đơn thủ tại Tý, Ngọ: hoang phí, chơi bời nên hao tán, suốt đời túng thiếu.

– Đơn thủ tại Dần, Thân: tiền vào tay này sang tay kia.

– Tử đồng cung: bình thường, được hưởng của hương hỏa để lại, nhưng về sau cũng suy kém.

– Liêm đồng cung: túng thiếu, suốt đời khổ sở vì tiền. Hay mắc tai họa vì tiền, nhất là kiện tụng và hình ngục.

– Vũ đồng cung: từ ngoài 30 trở đi, mới giàu.

– Đơn thủ tại Hợi, Tý, Ngọ: tay trắng lập nghiệp, hoạnh phái tiền tài, nhất là trong lúc náo loạn, cạnh tranh.

– Đơn thủ tại Tỵ, Thìn, Tuất: tiền tài tụ tán thất thường, hay túng thiếu và thường mắc thị phi, kiện tụng vì tiền.

– Nhật đồng cung tại Dần: giàu có lớn, dễ kiếm tiền.

– Nhật đồng cung tại Thân: vất vả mới kiếm được tiền, phải gặp thời loạn hay phải đi ngang về tắt mới kiếm được đủ tiêu dùng, về già mới sung túc.

– Đồng đồng cung: tiền tài tụ tán thất thường nhưng hay túng chiếu và thường mắc thị phi, kiện tụng vì tiền. Có xa nhà hay lưu lạc nơi đất khách quê người mới phát đạt.

– Cơ đồng cung: kinh doanh, hoạt động, cạnh tranh ráo riết mà trở nên giàu có.

– Đơn thủ tại Tỵ, Hợi, Sửu, Mùi: tiền tài sung túc, hay gặp những mối lợi tự nhiên đưa đến.

– Đơn thủ tại Mão. Dậu: bình thường, nên chuyên về công nghệ.

– Tử đồng cung: giàu có súc tích, tiền của chất đống trong kho đụn.

– Liêm đồng cung: giàu có lớn, giữ của bền vững.

– Vũ đồng cung: của cải chồng chất, hay gặp qúy nhân nâng đỡ.

– Đơn thủ tại Tý, Ngọ: giàu có lớn, suốt đời không phải bận tâm lo nghĩ về sinh kế hàng ngày.

– Đơn thủ tại Sửu, Mùi: bình thường.

– Đơn thủ tại Tỵ, Hợi: lang thang nay đây mai đó đi kiếm tiền nhưng lại rất hoang phí và bị hao tán nên không giữ được của.

– Nhật đồng cung tại Mão: giàu có lớn, dễ kiếm tiền.

– Nhật đồng cung tại Dậu: vất vả mới kiếm được tiền, phải gặp thời loạn hay phải đi ngang về tắt mới kiếm được đủ tiêu dùng, về già mới sung túc.

– Đồng đồng cung: tất giàu có, buôn bán kinh doanh càng ngày càng phát đạt.

– Cơ đồng cung: làm giàu dễ dàng.

– Đơn thủ tại Dần, Thân: trước ít sau nhiều, lúc đứng tuổi kiếm tiền một cách nhanh chóng, dễ dàng.

– Đơn thủ tại Tý, Ngọ: tiền tài tụ tán thất thường nhưng hay tìm được những mối lợi và hay kiếm được những món tiền một cách bất ngờ, thường gọi là hoạnh tài.

– Đơn thủ tại Thìn, Tuất: suốt đời thiếu thốn.

– Tử đồng cung: kiếm tiền rất nhanh, làm giàu rất chóng.

– Liêm đồng cung: đi kiếm tiền trong lúc náo loạn nhưng tai ương thường đi liền với tiền bạc.

– Vũ đồng cung: tay trắng lập nghiệp, buổi đầu vất vả khó khăn, về sau mới được dễ dàng

– Đơn thủ tại Tỷ Ngọ: giàu có súc tích, kiếm tiền nhanh chóng và dễ dàng. Rất hay phóng tiền tiêu pha nhưng sau đó lại thu về những mối lợi rất lớn. Kinh doanh buôn bán liều lĩnh và bạo tay.

– Đơn thủ tại Thìn, Tuất: tiền tài tụ tán thất thường những hết lại có.

– Đơn thủ tại Dần, Thân: kiếm tiền khó khăn, thu vào ít phóng ra nhiều, nên làm nghề thủ công hay mỹ thuật.

– Tử đồng cung: buổi đầu chật vật nhưng về sau rất dễ kiếm tiền, và cũng được sung túc.

– Liêm đồng cung: tiền tài thất thường, hay hoang phí hao tán nhưng hết lại có.

– Vũ đồng cung: tiền vào tay này sang tay kia, trước không sau có. Nên chuyên về kỹ nghệ hay thương mại.

– Sáng sủa tốt đẹp: kiếm tiền trong lúc náo loạn, dễ dàng và nhanh chóng.

– Mờ ám xấu xa: thiếu thốn và phá tán, phải xoay sở một cách ám muội và phi nghĩa mới có tiền.

– Sáng sủa tốt đẹp: kiếm tiền rất nhanh, nhưng hao tán rất chóng, thường gọi là hoạnh phát hoạnh phá.

– Mờ ám xấu xa: túng thiếu, nếu cố được chút ít, sau cũng phá tán đến hết.

– Sáng sủa tốt đẹp: hoạnh phát nhưng hoạnh phá, buổi đầu làm nên giàu có một cách nhanh chóng nhưng về sau lại lụn bại một cách bất ngờ. Thường hay buôn bán một cách táo bạo và ám muội.

– Mờ ám xấu xa: túng thiếu, cùng khốn.

– Nhiều sao sáng sủa tốt đẹp: giàu có lớn.

– Nhiều sao mờ ám xấu xa: phá tán, hao tài, hay buồn bực vì tiền nhưng vẫn có người giúp đỡ.

Dễ kiếm tiền, hay gặp qúy nhân giúp đỡ.

Dễ làm giàu, luôn luôn gặp người giúp đỡ về tiền bạc.

Dễ kiếm tiền, suốt đời sung túc

Làm giàu mau chónh, hay gặp người giúp đỡ.

Dễ kiếm tiền ở phương xa.

Hà tiện, khéo giữ của.

Sẵn tiền, đàn bà phải nhờ nhan sắc mới dễ kiếm tiền, đàn ông phải nhờ vợ hay nhân tình.

– Thích đánh bạc, tiêu hoang, hay nghiện (ghiền) một thứ gì.

– Sáng sủa tốt dẹp: dễ kiếm tiền nhưng lại tiêu pha hoang phí, hay bị hao tán hết.

– Mờ ám xấu xa: suốt đời thiếu thốn.

Hay có người giúp tiền, thường được hưởng của thừa tự.

Giữ của vững bền.

Hay bị mất cắp, mất trộm.

Có của chôn giấu.

– Nhiều sao sáng sủa tốt đẹp: hay buôn thuốc rất phát tài.

– Nhiều sao mờ ám xấu xa: chơi bời, phá tán.

Cờ bạc dông dài.

– Nhiều sao sáng sủa tốt đẹp: kiếm tiền khó khăn, vào tay này sang lay kia, không được hưởng của tiền nhân để lại, suốt đời túng thiếu.

– Nhiều sao mờ ám xấu xa: trước khó kiếm tiền, sau rất dễ nhưng không thể giàu có lớn được.

35. Liêm, Kình, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp

Tính gian lận và keo bẩn nhưng lại hay tán tài.

36. Không, Kiếp giáp cung Tài Bạch, Không, Kiếp, Phục

Kẻ trộm cướp rình mò ở gần nhà, hay ở ngay bên hàng xóm.

Lừa đảo, lấy của người khác để làm giàu.

38. Không, Kiếp, Tả, Hữu, Sát tinh, Tướng, Phục

Đi cướp của người khác.

Của đến tận tay.

Trai tiêu tiền của vợ, gái nhờ nhan sắc mà dễ kiếm tiền.

Kiếm tiền ít, nhưng lại tiêu nhiều và rất hoang phí. Không những thế lại còn bị hao tán, mất mát.

Được của thừa tự của một người trong họ để lại.

Tính ích kỷ, biến lận nhưng lại hay bị hao tốn tiền tài rất nhiều.

Buôn bán phát tài, đi kiếm tiền, nhất là kinh doanh ở nơi xa, nay đây mai đó, lại cũng chóng trở nên giàu có.

Mắc nghiện, nếu không cũng say mè cờ bạc, phá tán rất nhiều tiền của.

Tốn tiền vì chuyện trai gái, đàn ông thường bị vợ hay nhân tình bòn của, đàn bà thường bị chồng hay nhân tình lợi dụng, dễ làm tiền.

47. Song Hao, Không, Kiếp

Mất trộm lớn, mất cướp hay bị lừa đảo sạt nghiệp.

Được hưởng của tiền nhân dể lại.

Buôn bán giỏi, được nhiều người tin cậy, nói rа tiền.

Hay gặp sự tranh chấp về tiền tài, có mắc thị phú kiện tụng mới kiếm ra tiền.

Làm thợ khéo, kiếm tiền dề dàng.

Hay đi ăn trộm.

Làm nghề thủ công, rất phát đạt.

54. Lưu Hà, Kiếp Sát, Hình

Vì tiền mà mang họa vào thân, thường mất cướp, bị đánh đập rất đau đớn.

55. Thiên Không, Kiếp đồng cung

Coi Chính diệu xung chiếu như Chính diệu tọa thủ. Dù có nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp cũng không thể giàu to lớn được ngoại trừ hai trường hợp đặc biệt sau đây:

– Tuần, Triệt án ngữ: buổi đầu kiếm tiền khó khăn, nhưng về sau dễ dàng, càng về già lại càng sung túc.

– Nhật, Nguyệt (cùng sáng sủa) xung chiếu hay hợp chiến: giàu có lớn. Cũng trong trường hợp này, nếu cung Tài Bạch vô chính điệu lại có Tuần, Triệt án ngữ, thật là tốt đẹp bội phần.

TỬ VI ĐẨU SỐ TÂN BIÊN của Vân Đằng Thái Thứ Lang

Mời thư giãn với nhạc phẩm TIỀN LÀ CÁT BỤI

của Trương Phi Hùng, qua tiếng hát Trường Sơn:

(Bài viết không thể hiện quan điểm của trang Đặng Xuân Xuyến)

【#7】Sự Tích Và Ý Nghĩa Tết Nguyên Tiêu (Rằm Tháng Giêng)

Sự tích 1: Truyền thuyết về con thiên nga

Sự tích xưa ghi lại câu truyện về một con thiên nga vốn là giống thiên nga trên trời, được Ngọc hoàng yêu quý. Một hôm, thiên nga từ trên thiên đình bay xuống hạ giới rong chơi.

Thật không may, một người thợ săn nhìn thấy và đã vô tình bắn chết con thiên nga. Việc này đến tai Ngọc Hoàng thượng đế, người rất tức giận và thay vì trừng phạt người thợ săn, Người ra lệnh trừng phạt tất cả muôn loài dưới hạ giới. Ngọc Hoàng sai một đội quân Thiên binh thiên tướng đúng ngày 15 tháng 1 hàng năm xuống thiêu rụi mặt đất, không cho con người và động vật sống.

May thay, trên thiên đình vẫn có những vị thần không tán thành cách làm của Ngọc Hoàng, lệnh trừng phạt này quá khắt khe và nặng nề. Họ đã liều mình, bí mật xuống hạ giới và bầy cho chúng sinh kế để thoát nạn. Thế là vào ngày 15 tháng Giêng hàng năm, nhà nhà đều treo đèn lồng đỏ và bắn pháo hoa để khi Ngọc Hoàng nhìn xuống tưởng rằng nhà cửa, làng mạc ở dưới đã bị phóng hỏa, thiêu rụi. Nhờ đó mà loài người và muôn thú mới thoát khỏi họa diệt vong.

Kể từ đó đến nay, ngày 15 tháng 1 hàng năm đã được nhân dân chọn làm ngày Tết Nguyên Tiêu và hình thành phong tục treo đèn lồng trong ngày này. Mọi người nấu cỗ, bày tiệc, sum họp bên gia đình, mừng một năm mới bắt đầu bình an, may mắn. Đèn lồng cũng vì thế mà phát triển ra nhiều loại khác nhau như đèn lồng cá chép, đèn rồng, phượng,…

Sự tích 2. Nàng cung nữ hiếu thảo Nguyên Tiêu và đại thần Đông Phương Sóc thời Tây Hán.

Tương truyền Hán Vũ Đế có một sủng thần tên là Đông Phương Sóc, tính tình lương thiện, khôi hài. Mùa đông năm nọ, tuyết rơi liền mấy hôm, Đông Phương Sóc đến ngự hoa viên, chợt phát hiện có một cung nữ nước mắt đầm đìa đang định nhảy xuống giếng tự vẫn. Đông Phương Sóc vội chạy đến ngăn lại, hỏi rõ sự tình. Thì ra, cô cung nữ tên là Nguyên Tiêu, từ khi vào cung đến nay cô chưa được gặp mặt người thân, mỗi năm khi Xuân đến lại càng nhớ nhà, cảm thấy mình không báo hiếu được cho song thân nên tìm đến cái chết. Đông Phương Sóc cảm động, liền hứa rằng nhất định sẽ tìm cách để cô đoàn tụ với gia đình.

Một ngày nọ, Đông Phương Sóc xuất cung, bày một gian hàng xem bói trong kinh thành Trường An. Nhiều người tranh nhau nhờ xem quẻ. Quẻ của mỗi người đều là ” ngày rằm tháng Giêng lửa bén đến thân“. Trong phút chốc, cả kinh thành Trường An hoảng sợ, mọi người tranh nhau cầu xin, tìm cách giải trừ tai ương. Đông Phương Sóc bảo rằng:

Chiều tối ngày rằm tháng Giêng, Hoả thần sẽ phái một thần nữ áo đỏ xuống phàm trần tra xét. Thần nữ chính là sứ giả phụng theo ý chỉ thiêu đốt kinh thành Trường An. Ta sao lục lại lời kệ đưa cho mọi người, có thể vào ngày hôm đó nghĩ ra được biện pháp“.

Nói xong liền vất xuống đất một tờ thiếp đỏ rồi sải bước ra đi. Mọi người vội nhặt lên đem đến hoàng cung bẩm báo Hoàng thượng. Hán Vũ Đế cầm xem, chỉ thấy bên trên viết rằng:

Trường An gặp nạn, lửa thiêu Đế khuyết, ngày 15 lửa trời, đỏ rực suốt đêm“.

Vũ Đế kinh hãi liền cho mời Đông Phương Sóc túc trí đa mưu đến. Đông Phương giả vờ suy nghĩ rồi nói:

Thần nghe nói Hoả thần rất thích ăn bánh trôi, nàng Nguyên Tiêu trong cung chẳng phải là người thường nấu cho bệ hạ ăn đó sao“?

Đêm rằm tháng Giêng bệ hạ bảo nàng Nguyên Tiêu làm bánh trôi, bệ hạ thắp hương dâng cúng, truyền lệnh cho nhà nhà trong kinh thành đều làm bánh trôi đồng loạt dâng cúng Hoả thần. Truyền dụ cho thần dân vào đêm đó treo đèn, khắp thành đốt pháo, nổi lửa, giống như cả thành có lửa, làm như vậy có thể qua mặt được Thượng Đế. Ngoài ra, thông báo cho dân chúng ngoài thành vào đêm rằm tháng Giêng vào thành xem hoa đăng, để tiêu tai giải nạn“.

Hán Vũ Đế nghe qua liền mừng rỡ, thực thi y lời Đông Phương Sóc. Đến ngày rằm tháng Giêng, trong thành Trường An treo đèn kết hoa, người người vui chơi vô cùng náo nhiệt. Cha mẹ nàng Nguyên Tiêu cũng dẫn em gái của nàng vào thành. Khi họ nhìn thấy trên đèn treo trong cung viết hai chữ “Nguyên Tiêu” liền hét lớn: “Nguyên Tiêu! Nguyên Tiêu!” Nàng Nguyên Tiêu nghe được và cuối cùng đoàn tụ với gia đình.

Ý nghĩa của đêm rằm tháng giêng

Rằm tháng Giêng được xem là ngày lễ quan trọng sau dịp Tết Nguyên Đán, theo tín ngưỡng, tôn giáo và ngành nghề, thì lễ bái của từng gia đình lại khác nhau, có gia đình theo Đạo Phật thì họ sẽ Bái Phật, có gia đình cúng Thổ Công Thần Tài hoặc âm hồn các đẳng… Nhưng điểm chung nhất và điều bắt buộc phải có ở mỗi gia đình đó là cúng Gia Tiên, bày tỏ lòng thành kính với ông bà, cha mẹ, cảm ơn những người trên đã phù hộ cho gia đình, con cháu được mạnh khỏe, làm ăn phát đạt trong năm.

Theo lời các cụ xưa kể lại rằng, rằm tháng Giêng vốn là ngày Tết Trạng Nguyên. Vào dịp đêm trăng sáng đầu tiên của năm, vua mở đại tiệc ở vườn thượng uyển, mời các Trạng Nguyên đến tham dự, trong bữa tiệc họ sẽ cùng ngắm hoa, làm thơ xướng họa, ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên và ca tụng ân huệ của nhà vua đã đem lại thái bình cho muôn dân bách tính.

Kể từ đó, những buổi họp mặt vào ngày rằm tháng Giêng càng được mở rộng, các buổi họp mặt được của các văn nhân thi sỹ tổ chức. Buổi họp mặt không chỉ dừng lại ở vườn thượng uyển của nhà vua, mà được mở rộng ra nhiều nơi hơn, việc xem hoa ngắm cảnh dưới trăng khi không có vua thoải mái hơn, những bài thơ, câu đối xứng trở trên phong phú hơn.

Tết Nguyên Tiêu trở thành một nét văn hóa sinh hoạt tao nhã mang nhiều ý nghĩa tuyệt vời trong khung cảnh thơ mộng hữu tình: Trong ngày này, ngoài việc ngắm trăng, đọc thơ, ăn bánh trôi thì còn có rất nhiều những hoạt động lý thú khác như vui chơi, giải trí, múa lân….

Ở Việt Nam, phật giáo được du nhập vào theo đó những phong tục tập quán của người Việt được gắn kết với các quốc gia khác, hòa nhập nhưng không hòa tan, biết gìn giữ những nét văn hóa Việt và tiếp thu thêm những nền văn hóa mới vào Việt Nam, và ngày rằm tháng Giêng là một ví dụ cụ thể. Đây là một ngày lễ có nguồn gốc xuất phát từ Trung Hoa, nước ta đã du nhập thành một ngày Tết mang đậm bản sắc riêng của người Việt, thấm nhuần tư tưởng Phật Pháp.

Tết nguyên tiêu là ngày rằm đầu tiên trong năm mới, đây là thời điểm thích hợp để mỗi gia đình chúng ta có thể cầu nguyện cho một năm an lành, hạnh phúc, vì thế lễ hội này được rất nhiều sự quan tâm và tham gia của rất nhiều người giới phật tử và toàn thể dân chúng. Thành ngữ ” Lễ phật quanh năm không bằng rằm tháng Giêng” qua câu tục ngữ đó đã nói lên tầm quan trọng của ngày rằm tháng Giêng trong tâm thức của người Việt.

【#8】Tìm Hiểu Về Ý Nghĩa Tết Trung Thu Vào Rằm Tháng Tám Hàng Năm

Tết Trung Thu hay còn được gọi là Tết đoàn viên, là một trong những ngày tết truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc. Cùng tìm hiểu về ý nghĩa Tết Trung Thu vào rằm tháng Tám hàng năm

1. Tết Trung Thu truyền thống tại Việt Nam

Tết Trung Thu vào ngày nào? Tết Trung Thu vào ngày rằm tháng Tám âm lịch hàng năm, là Tết đoàn viên của người dân Việt Nam. Các gia đình cùng chuẩn bị mâm cỗ dâng cúng lên tổ tiên, đồng thời cùng nhau chuẩn bị những mâm ngũ quả, bánh kẹo để cùng nhau phá cỗ đêm trăng rằm.

Tết Trung Thu Tết đoàn viên được xem là thời điểm ngày lành tháng tốt con cháu quây quần, báo hiếu ông bà tổ tiên với những món quà nhỏ, những lời chúc tụng hỏi thăm sức khỏe.

Tết Trung Thu vốn được lưu truyền với truyền thuyết trong dân gian: Chuyện nhà vua dạo chơi cung trăng vào Rằm tháng Tám, sự tích chị Hằng Nga, sự tích chú Cuội, sự tích Thỏ Ngọc… Tết Trung Thu cũng được xem là Tết của thiếu nhi, ngày này ở khắp mọi miền của tổ quốc, các trẻ em cùng nhau tổ chức cắm trại thu, rước đèn ông sao, xem múa lân, múa hát, ngắm trăng và phá cỗ linh đình.

Hình ảnh trăng đêm rằm cũng mang những ý nghĩa nhất định, người xưa quan niệm rằng nếu trăng thu màu vàng thì năm đó sẽ trúng mùa tằm tơ, nếu trăng thu màu xanh hay lục thì năm đó sẽ có thiên tai và nếu trăng thu màu cam trong sáng thì đất nước sẽ thịnh trị.

2. Tìm hiểu Tết Trung Thu Trung Quốc

Không chỉ ở Việt Nam, mà một số nước Châu Á cũng có chung ngày Tết Trung thu truyền thống như ở Trung Quốc.

Người dân Trung Quốc cùng gia đình sẽ ngắm trăng đêm rằm, hình ảnh trăng tròn vạnh và sáng trong. Vào ngày này, người dân Trung Quốc có tục lệ tặng bánh trung thu cho người thân trong gia đình hoặc đãi khách khi đến nhà. Trong đêm trăng rằ, người dân cùng liên hoan, nhảy múa, rước đèn, thả đèn dưới sông… họ quan niệm rằng theo tâm linh việc cầu nguyện và thả rèn trôi sông sẽ giúp cho điều ước nguyện sớm trở thành hiện thực.

3. Tìm hiểu ngày Tết Trung Thu Hàn Quốc

Hàn Quốc cũng là một trong những nước lấy ngày Tết trung thu là ngày Tết lớn của dân tộc. Người dân Hàn Quốc còn coi trọng hơn cả ngày tết âm lịch. Tết Trung Thu tại Hàn Quốc được tổ chức trọng đại, linh đình.

Ở Hàn Quốc, Tết Trung Thu được gọi là lễ hội Chuseok, người dân được nghỉ ít nhất 3 ngày, có các cơ quan, trường học còn nghỉ lễ tới 10 ngày. Đây là thời điểm người dân Hà Quốc ăn mừng mùa mang bội thu, người dân ở xa thu xếp về bên gia đình quây quần. Trong những ngày này, họ nấu những món ăn truyền thống như bánh songpyeon, bánh gạo Hàn Quốc nhân đậu, bánh kếp Jeon, miến trộn Hàn Quốc, thịt bò xào, cơm cuộn, kim chi … Các gia đình cùng nhau ăn uống, liên hoan nhảy múa, thưởng thức rượu baekju vui vẻ.

Người dân Hàn Quốc chuẩn bị mâm cơm tròn đầy, sắp xếp theo trình tự thể hiện sự tôn kính, lòng biết ơn đối với ông bà tổ tiên. Bên cạnh đó, các gia đình cùng nhau còn đi tảo mộ.

4. Ý nghĩa của một số hoạt động trong Tết Trung Thu truyền thống

Phong tục rước đèn: Dưới ánh trăng rằm các em nhỏ cùng nhau sắm những chiếc đèn lồng nhiều màu sắc, hoặc các gia đình treo đồng đèn trước cửa nhà mang ý nghĩa mang lại sự bình an may mắn.

Phong tục ngắm trăng: mang ý nghĩa biểu hiện cho sự sum vầy, đoàn viên, đoàn kết của các thành viên trong gia đình. Mọi người cùng vui vẻ thưởng trăng và cùng nhau múa hát.

Phá cỗ Trung Thu: sau khi rước đèn xong, mọi người già trẻ gái trai cùng quây quần phá cỗ trung tru cầu mong cuộc sống tốt lành, mùa màng bội thu và sự đoàn viên trong gia đình.

【#9】Con Giáp Phát Tài Sau Rằm Tháng 10, Cơ Hội Làm Giàu Ập Đến!

1. Người cầm tinh con Gà

Xem bói tử vi thấy rõ dấu hiệu được nhiều cát tinh hỗ trợ, từ sau Rằm tháng 10/2020 âm lịch trở đi, cát khí của tuổi Dậu tăng lên mạnh mẽ, thậm chí có thời điểm theo cấp số nhân. Bởi thế mà mưu sự thuận lợi hơn rất nhiều.

Công việc suôn sẻ, kinh doanh, buôn bán đắt hàng, một số khoản đầu tư sinh lời thụ động, người cầm tin con Gà nắm trong tay nhiều nguồn thu, tài lộc dồi dào, tiền bạc kiếm như hái.

Đây chính là thời điểm mà tuổi Dậu sẽ đón nhận những thay đổi tích cực trong cuộc sống, sự nghiệp đi lên, tiền bạc dồi dào và có thể hoàn thành mục tiêu tài chính trong năm 2021 cũng như thực hiện những ước mơ bấy lâu nay ấp ủ.

Thêm một tin vui khác cho tuổi Dậu, với những ai đang mong chờ việc sinh con đẻ cái, từ thời điểm Rằm tháng 10 trở đi sẽ sớm được thỏa nguyện ước mong. Có câu “Con cái chính là tài sản quý giá nhất của cha mẹ”, đến lúc bạn cầu được ước thấy rồi.

2. Người cầm tinh con Hổ

Kể từ sau thời điểm Rằm tháng 10 âm lịch, với sự xuất hiện và hỗ trợ của nhiều sao chủ về tài lộc, người cầm tinh con Hổ tha hồ lựa chọn những cơ hội tốt trên con đường thăng tiến cũng như làm giàu.

Dù là người làm công ăn lương, làm tư hay làm chủ, tất cả đều đạt được mục tiêu lớn về tiền bạc, hoàn thành kế hoạch sớm trong năm 2021 này.

Thời điểm cát khí đang bừng bừng thế này, tuổi Dần có thể tiếp tục nghĩ tới những kế hoạch lớn hơn, dùng tiền để đầu tư cho những dự án yêu thích hoặc có kỳ vọng tăng mạnh vào cuối năm Canh Tý hoặc đầu năm Tân Sửu sắp tới, tỷ lệ thành công rất cao.

3. Người cầm tinh con Ngựa

Kể từ sau Rằm tháng 10 âm lịch, công việc tuổi Ngọ có nhiều bước tiến sáng tạo, mới mẻ, chấm dứt tình trạng nhàm chán trước kia, từ đó mà mưu sự dễ thuận hơn. Cảm giác gặt hái được thành tựu lại càng khiến con giáp này phấn đấu mạnh mẽ trong sự nghiệp.

Mặt khác, cung tài lộc của người cầm tinh con Ngựa cũng sáng sủa, hứa hẹn nhiều cơ hội kiếm tiền, làm giàu, điều quan trọng là cần phải quyết đoán, chọn đúng thời điểm thì tỷ lệ thành công mới cao.

Vì lẽ đó, tuổi Ngọ cần thận trọng hơn trước khi đưa ra quyết định. Tuy nhiên, không cần đến mức phải suy xét quá lâu để rồi bỏ lỡ cơ hội tốt. Nếu có thể, hãy tham khảo ý kiến của người thân hay đồng nghiệp đáng tin cậy để có thể quyết định dứt khoát hơn.

4. Người cầm tinh con Lợn

Thời điểm từ sau Rằm tháng 10 trở đi, người tuổi Hợi sẽ được quý nhân chiếu cố nồng hậu, công việc những ngày tháng trước tưởng không thể vận hành trơn tru nhưng bất ngờ hanh thông.

Bản thân con giáp này cũng chán ngán những gì quá ư là bình ổn, nhàm chán rồi, theo đó mà tư duy hành động mới mẻ, có sức đột phá lớn.

Bản mệnh sẽ gặp được nhiều cơ hội tốt về cả công việc và tiền bạc, 10 người hết 9 người thành công, “cá kiếm” được khoản tiền lớn, tha hồ sống sung túc và chi tiêu thoải mái cho các dịp lễ tết lớn sắp tới.

Có điều, nắm tiền trong tay rồi tuổi Hợi đừng vội cho người khác (nhất là người thân quen) vay mượn chỉ vì tính cả nể của mình. Cẩn thận kẻo tiền 1 đi không trở lại. Nếu có tiền nhàn rỗi, nên tìm hiểu các kênh đầu tư để giúp tiền đẻ ra tiền, sinh sôi nảy nở không ngừng cho chính bạn.

*Thông tin chỉ mang tính tham khảo, chiêm nghiệm!

【#10】Tại Sao Chọn Rằm Tháng 8 Là Trung Thu?

Tháng nào trong năm cũng có rằm, nhưng tại sao người ta lại chọn tháng 8 là Trung thu và truyền thống này có từ khi nào?

Trung Thu là giữa Thu, tên của nó đã nói lên điều đó… – (Minhha)

1 năm có 4 mùa: mùa xuân từ tháng 1 đến tháng hết tháng 3, mùa hè từ tháng 4 đến hết tháng 6, mùa thu từ tháng 7 đến hết tháng 9, mua đông từ tháng 10 đến hết thang 12.

Vây trung thu cò nghĩa là giữa mùa thu thi 15 tháng 8 la trung thu vậy thôi – (nguyen doan huan)

Cái truyền thống này có xuất xứ từ Trung Quốc bạn à. Do 1000 năm đô hộ nên đa phần nền văn hóa của nước ta, đều giống của Trung Quốc, ví dụ như: Lễ Vu Lan, Tết Nguyên Đán, Tết Nguyên Tiêu, Tết Trung Thu… Vì nó đã ăn sâu vào tiềm thức của nhân dân ta từ bao đời nay, nên khó bỏ lắm, nước ta cũng tự động “biến của người ta thành của mình”, và tự thừa nhận nó là “bản sắc văn hóa dân tộc”, tốt nhất là bạn cũng nên chấp nhận vậy đi – (alo)

theo âm lịch và khí hậu 4 mùa của miền bắc thì mùa thu là tháng 7,8,9. vậy Trung thu là giữa thu thì phai là rằm tháng 8 rồi – (dvt)

TRUNG là giữa, THU là mùa thu. Tháng 8 là chính giữa mùa thu (tháng 7, 8, 9). Và ngày 15 là giữa tháng 8. Có thế thôi. – (PT)

Vậy thì tại sao Tết Thanh Minh lại rơi vào tháng 3 và ngày Cô Hồn lại là Rằm Tháng 7? – (tinytdpqn)

Thực ra truyền thống này bị ảnh hưởng bởi 1000 năm đồng hóa mà có, kể cả những phong tục cúng lễ ngày giằm, mùng một,… Nhưng tại sao lại chọn vào ngày giằm tháng tám (15-8 âm lịch) thực chất là bởi khí hậu và tiết trời đẹp, trăng tròn nhất trong các ngày giằm; mặt khác vì đây là ngày hội của các em thiếu nhi nên nó là hoạt động để động viên khích lệ sự học tập cho một năm học mới. Ngày hội này chính giữa mùa Thu nên có tên là Trung Thu. – (Quang Huy)

1. Mùa thu theo âm lịch là từ tháng 7 đến hết tháng 9 vậy tháng 8 là giữa mùa thu (trung thu) nên rằm của tháng giữa thu gọi là rằm giữa thu (rằm trung thu) ^^

2. Truyền thống này có từ trước khi bạn sinh ra ^^ – (google)

Vì mùa thu rơi vào tháng 7,8,9 âm lịch, Trung thu nghĩa là thời điểm giữa mùa thu cho nên lấy 15/8 là chính xác. Truyền thống này có lẽ ra đời từ khi con người sáng tạo ra lịch mà thôi! – (huyen26truongxuan)

Đã gọi là trung thu thì tất nhiên là giữa mùa thu rồi, chả lẽ đầu và cuối sao? – (khanh hong)

Người Việt ta ăn Tết Trung Thu vào ngày rằm tháng tám âm lịch là do ta phỏng theo phong tục của người Tàu. Chuyện xưa kể rằng vua Đường Minh Hoàng (713-741 Tây Lịch) dạo chơi vườn Ngự Uyển vào đêm rằm tháng tám âm lịch. Trong đêm Trung Thu, trăng rất tròn và trong sáng. Trời thật đẹp và không khí mát mẻ. Nhà vua đang thưởng thức cảnh đẹp thì gặp đạo sĩ La Công Viễn còn được gọi là Diệp Pháp Thiện. Đạo sĩ có phép tiên đưa nhà vua lên cung trăng. Ở đấy, cảnh trí lại càng đẹp hơn. Nhà vua hân hoan thưởng thức cảnh tiên và du dương với âm thanh ánh sáng huyền diệu cùng các nàng tiên tha thướt trong những xiêm y đủ màu xinh tươi múa hát. Trong giờ phút tuyệt vời ấy nhà vua quên cả trời gần sáng. Đạo sĩ phải nhắc, nhà vua mới ra về nhưng trong lòng vẫn bàng hoàng luyến tiếc.

Về tới hoàng cung, nhà vua còn vấn vương cảnh tiên nên đã cho chế ra Khúc Nghê Thường Vũ Y và cứ đến đêm rằm tháng tám lại ra lệnh cho dân gian tổ chức rước đèn và bày tiệc ăn mừng trong khi nhà vua cùng với Dương Quí Phi uống rượu dưới trăng ngắm đoàn cung nữ múa hát để kỷ niệm lần du nguyệt điện kỳ diệu của mình. Kể từ đó, việc tổ chức rước đèn và bày tiệc trong ngày rằm tháng tám đã trở thành phong tục của dân gian. – (lanbui1983)

Thứ nhất ngay trong tên cái tết cũng nói lên khá nhiều, TRUNG THU. Ở đây theo Hán Việt nghĩa là giữa mùa thu. Và Dằm tháng 8 được chọn là ngày đẹp nhất với trăng tròn nhất.

Có rất nhiều truyền thuyết xoay quanh Trung Thu, nhưng xét theo địa lý, người á đông làm mùa nhìn trăng. Và trăng dằm tháng tám thể hiện được sự tốt đẹp của thời tiết. Cũng bằng nhìn trăng tháng 8 người ta biết năm tới phải làm ăn ra làm sao. Nói một cách khác nó có thể coi như một lễ hội cầu mùa nơi mà người lao động thành kính với ông bà tổ tiên thể hiện sự cảm ơn mùa qua, cũng như ban phát lộc cho con cháu thể hiện sự sung túc.

Bánh nướng và bánh dẻo là đặc chưng cho tết trung thu. Trong bánh cổ truyền thông thường có nhiều loại thịt, bò, gà, lợn, trứng, xá xíu, lạc sưởng cũng như có loại hạt tinh túy của trời đất hạt sen, tất cả thể hiện sự khá giả ấm no. Nướng và Dẻo thể hiện cho mặt trời mặt trăng hay là thể hiện thời tiết tốt đẹp. Bánh ngày nay thay vào đó các loại nhân khác là sai vì là du nhập từ vùng khác dùng loại lương thực khác thể hiện sự phồn vinh. Thực tế chứng minh, không nơi nào có nhân truyền thống giống ta. – (Chiến Trần)

Theo tôi, có 4 nguyên nhân sau:

Thứ nhất: 15/8 âm lịch là giữa mùa thu theo cách chia mùa của các nước khu vực quanh ta và nước ta.

Thứ hai: Thời tiết giai đoạn này đẹp và phù hợp nhất; như: Trời cao xanh hơn, mặt trăng sáng nhất và to nhất so với các đêm rằm v v…

Thứ 3: Ở một nền văn minh lúa nước như chúng ta thì thời điểm này cho phép ghi nhận, đánh dấu những biến đổi của thời tiết, ví dụ: Xem trăng để biết năm tới có rét, có nhiều sâu bọ phá hoại mùa màng hay có hạn hán không (Muốn ăn lúa tháng năm, xem trăng rằm tháng 8), xem vụ mùa có năng suất không vì thời điểm này bão gió đã giảm, lúa đã uốn câu v v …

Thứ tư: Lúc này nhà nông cũng là lúc nông nhàn vì vậy ngoài tổ chức ngắm trăng còn có nhiều lễ hội khác kết hợp – (Vũ Trung Thành)

Trung thu là giữa mùa thu, tết trung thu như tên gọi đến với chúng ta đứng giữa mùa thu, mùa mát mẻ đẹp đẽ nhất trong năm với trăng trong gió mát. Cho đến bây giờ, vẫn chưa xác minh rõ ràng được Tết Trung thu bắt nguồn từ văn minh lúa nước của Việt Nam hay tiếp nhận từ văn hóa Trung Hoa. Theo các nhà khảo cổ thì hình ảnh về Trung thu đã được in trên mặt trống đồng Ngọc Lũ. Có lẽ Trung thu được bắt đầu từ nền văn minh lúa nước của đồng bằng Nam Trung Hoa và đồng đồng bằng châu thổ sông Hồng của Việt Nam. Có ba truyền thuyết chính được người ta biết đến nhiều nhất để nói về Trung thu đó là Hằng Nga và Hậu Nghệ, vua Đường Minh Hoàng lên cung trăng và Sự tích về chú Cuội của Việt Nam. Nhưng có lẽ sự tích về vua Đường Minh Hoàng lên cung trăng là thuyết phục nhất, mặt dù nó cũng có chúc hư cấu và hơi hoang đường.

Theo sách cổ thì tết Trung thu bắt đầu từ đời nhà Đường, thời vua Duệ Tôn, niên hiệu Văn Minh. Tục truyền rằng: Nguyên năm đó, vào đêm rằm tháng tám trời thật là đẹp, trăng thanh gió mát trước cảnh đẹp của đất trời, nhà vua ngự chơi ngoài thành tới mãi khuya. Lúc đó có một ông già đầu bạc phơ trắng như tuyết, chống gậy đến bên nhà vua. Trông người và theo cử chỉ, nhà vua đoán ngay là một vị thượng tiên giáng thế.

Ông già kính cẩn chào vua rồi hỏi: Bệ hạ có muốn lên thăm cung trăng không?

Nhà vua trả lời có.

Ông tiên liền đưa chiếc gậy lên trời, hoá phép ra một chiếc cầu vồng, một đầu giáp cung trăng, còn một đầu ăn xuống đất. Tiên ông đưa nhà vua lên cầu vồng, chẳng bao lâu đã đến cung trăng. Phong cảnh nơi đây thật là đẹp, một vẻ đẹp khác xa nơi trần thế, có những nàng tiên nữ nhan sắc với những xiêm y cực kỳ lộng lẫy, xinh như mộng, đẹp như những bài thơ hay, nhảy múa theo những điệu vô cùng quyến rũ, đủ muôn hồng ngàn tía.

Nhà vua đang say sưa với những cảnh đẹp thì tiên ông lại đưa nhà vua trở lại cung điện. Về tới trần thế, nhà vua còn luyến tiếc cảnh trên cung trăng và những giờ phút đầy thơ mộng nhà vua đã được ở nơi đó. Để kỷ niệm ngày du nguyệt điện, nhà vua đặt tên là tết Trung thu. – (quốc thịnh)

Ngày Tết này có xuất xứ từ Trung Quốc, ban đầu là theo phong tục dân gian, Tết trung thu vào giữa rằm tháng 8, thời điểm này thời tiết mát mẻ, mùa màng đang chờ thu hoạch. Nông dân nghỉ ngơi và vui chơi sau một vụ mùa.

Theo sách cổ thì Tết Trung Thu bắt đầu từ đời nhà Ðường, thời vua Duệ Tôn, niên hiệu Văn Minh. Năm ấy vào đêm khuya rằm tháng tám, gió mát, trăng tròn thật đẹp, trong khi ngự chơi ngoài thành, nhà vua gặp một vị tiên giáng thế trong lốt một ông lão đầu bạc phơ như tuyết. Vị tiên hóa phép tạo một chiếc cầu vồng, một đầu giáp cung trăng, một đầu chám mặt đất, và nhà vua trèo lên cầu vồng đi đến cung trăng và dạo chơi nơi cung Quảng. Trở về trần thế, vua luyến tiếc cảnh cung trăng đầy thơ mộng, nhà vua đặt ra tết Trung Thu. Trong ngày tết này, lúc đầu chỉ uống rượu trông trăng nên còn gọi là Tết Trông Trăng. Trong đêm 15 tháng 8 âm lịch hằng năm, khi trăng rằm tỏa sáng, lễ tế thần mặt trăng bắt đầu. Trên bàn thờ có hoa quả, có bánh hình mặt trăng còn gọi là bánh “đoàn viên”, bởi lẽ, trong dịp này, cả gia đình có dịp đoàn tụ để cùng ăn bánh và cùng thưởng thức ánh trăng thu trong trẻo và bầu không khí ấm áp của đêm rằm đến với mọi nhà. – (c1vt2013)

Tết Trung thu bắt nguồn từ văn minh lúa nước của Việt Nam, cụ thể là từ Sự tích về chú Cuội – (thanh phong nguyen)

Nguồn gốc tết TRUNG THU

Tết Trung-Thu đã có từ thời Đường Minh Hoàng bên Trung-Hoa, vào đầu thế kỷ thứ tám (713-755).

Sách xưa chép rằng, nhân một đêm rằm tháng tám, khi cùng các quan ngắm trăng, vua Đường ao-ước được lên thăm cung trăng một lần cho biết. Pháp-sư Diệu Pháp Thiên tâu xin làm phép đưa vua lên cung trăng. Lên tới cung trăng, Minh Hoàng được chúa tiên tiếp rước, bày tiệc đãi đằng và cho hàng trăm tiên nữ xinh tươi mặc áo lụa mỏng nhiều màu sắc rực rỡ, tay cầm tấm lụa trắng tung múa trên sân, vừa múa vừa hát, gọi là khúc Nghê-Thường vũ y. Vua Đường thích quá; nhờ có khiếu thẩm âm nên vừa trầm trồ khen ngợi vừa lẩm nhẩm học thuộc lòng bài hát và điệu múa mong đem về hoàng cung bày cho các cung nữ trình diễn. Cuối năm đó, quan Tiết Độ Sứ cai trị xứ Tây Lương mang về triều tiến dâng một đoàn vũ nữ với điệu múa Bà-la-môn. Vua thấy điệu múa có nhiều chỗ giống Nghê-Thường vũ y, liền chỉnh đốn hai bài hát và hai điệu làm thành Nghê-Thường vũ y khúc. Về sau các quan cũng bắt chước vua mang điệu múa hát về các phiên trấn xa xôi nơi họ cai trị rồi dần dần phổ biến khắp dân gian. Tục ngắm trăng, xem ca múa sau biến thành thú vui chơi đêm rằm Trung Thu . – (vuducduongvp91)

chon Trung thu la giua mua thu – (dungnv)

thang 7-8-9 là mùa thu, chon tháng 8 là giữa mùa thu và ngày rằm là giữa của tháng! đúng theo nghĩa của từ Trung Thu!!! – (phanthanh_thang)

Tết trung thu diễn ra vào ngày 15 của tháng 8 trong Âm Lịch và đã có từ ngàn năm nay, đây là thời gian mặt trăng tròn nhất và sáng nhất, đây cũng là thời gian người Châu Á thu hoạch xong mùa vụ và bắt đầu tổ chức những lễ hội mà tiêu biểu trong đó là lễ hội trăng rằm. Món ăn được người Á Đông lưu tâm nhất trong mùa lễ hội này đó là Bánh Trung Thu. Cho đến bây giờ, vẫn chưa xác minh rõ ràng được Tết Trung thu bắt nguồn từ văn minh lúa nước của Việt Nam hay tiếp nhận từ văn hóa Trung Hoa. Có ba truyền thuyết chính được người ta biết đến nhiều nhất để nói về Trung thu đó là Hằng Nga và Hậu Nghệ, vua Đường Minh Hoàng lên cung trăng và Sự tích về chú Cuội của Việt Nam – (Cưng Lê)

Một năm chia làm 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông, mổi mùa có 3 tháng, Mùa thu ứng với các tháng 7,8,9 . Nên Trung thu phải vào giữa tháng 8 tức 15/08 âm lich.

Anh Vũ Cà Mau – (Anh Vũ Cà Mau)

Haizz, “trung” là “giữa” tức là giữa thu; 1 năm có 4 mùa, tháng 8 là giữa mùa thu, đơn giản thế thôi. – (Nam Trung)

Trung thu tức là “giữa Thu”. Vì vậy, nó không thể là rằm của tháng nào khác. Vả lại, thời điểm này, trăng dễ tròn và sáng nhất ( do mùa Thu, tiết trời trong hơn các mùa khác). Tục lệ này có từ thời Trung Quốc cổ đại để cúng thần Mặt trăng; cầu cho mưa thuận gió hòa – (Lê Minh)

Đơn giản thôi, vì rằm xảy ra giữa mùa thu nên mới gọi là Trung thu. Nếu nó xảy ra giữa mùa đông sẽ gọi là Trung Đông đó bạn. – (Minh)

Trung thu là giữa mùa thu nên chọn rằm tháng 8 là đúng rồi còn những tháng khác có lẽ phãi gọi là trung hạ, trung đông, hay là trung xuân – (lê tuấn minh viên)

Trung thu là giữa mùa thu, giữa mùa thu là Tháng 8, hỏi thế cũng hỏi – (ABC)

“trung thu” là “giữa mùa thu”, răm tháng 8 là giữa mùa thu – (hung)

Trung là giữa, thu là mùa thu, trung thu là giữa mùa chúng tôi âm lịch thì mùa thu bắt từ tháng 7 đến hết tháng 9 nên 15 tháng 8 là giữa mùa thu nên được gọi là trung thu. – (HD)

Vì tháng 8 chả có ngày lễ nào để ăn uống cả. Nên bày ra thôi ^^ – (Discovery World)

Vì từ tháng 7 đến tháng 9 là mùa thu, tháng tám là trung thu và rằm tháng tám là ngày giũa tháng – (blem)

Trung thu là tên theo một tiết khí. Ai nghiên cứu lịch tiết khí sẽ biết các ngày như lập xuân, lập hạ….Ngày trung thu là cách gọi theo tiết khí, còn tên gốc của nó là Tết Đoàn viên, tức là ngày các thành viên trong gia đình sẽ tụ họp đông đủ dù đang ở đâu đi nữa. Sau khi truyền về VN thì ý nghĩa ngày này không còn giống như bên trung quốc nữa, và tên gọi dân gian cũng thành tết trung thu, nghĩa là ngày rằm giữa thu – (Zaer)

tại sao không có tết trung hạ, trung đông hay trung xuân? – (háiin)

Người Việt ta ăn Tết Trung Thu vào ngày rằm tháng tám âm lịch là do ta phỏng theo phong tục của người Tàu. Chuyện xưa kể rằng vua Đường Minh Hoàng (713-741 Tây Lịch) dạo chơi vườn Ngự Uyển vào đêm rằm tháng tám âm lịch. Trong đêm Trung Thu, trăng rất tròn và trong sáng. Trời thật đẹp và không khí mát mẻ. Nhà vua đang thưởng thức cảnh đẹp thì gặp đạo sĩ La Công Viễn còn được gọi là Diệp Pháp Thiện. Đạo sĩ có phép tiên đưa nhà vua lên cung trăng. Ở đấy, cảnh trí lại càng đẹp hơn. Nhà vua hân hoan thưởng thức cảnh tiên và du dương với âm thanh ánh sáng huyền diệu cùng các nàng tiên tha thướt trong những xiêm y đủ màu xinh tươi múa hát. Trong giờ phút tuyệt vời ấy nhà vua quên cả trời gần sáng. Đạo sĩ phải nhắc, nhà vua mới ra về nhưng trong lòng vẫn bàng hoàng luyến tiếc.

Về tới hoàng cung, nhà vua còn vấn vương cảnh tiên nên đã cho chế ra Khúc Nghê Thường Vũ Y và cứ đến đêm rằm tháng tám lại ra lệnh cho dân gian tổ chức rước đèn và bày tiệc ăn mừng trong khi nhà vua cùng với Dương Quí Phi uống rượu dưới trăng ngắm đoàn cung nữ múa hát để kỷ niệm lần du nguyệt điện kỳ diệu của mình. Kể từ đó, việc tổ chức rước đèn và bày tiệc trong ngày rằm tháng tám đã trở thành phong tục của dân gian.

Cũng có người cho rằng tục treo đèn bày cỗ trong ngày rằm tháng tám âm lịch là do ở điển tích ngày sinh nhật của vua Đường Minh Hoàng. Vì ngày rằm tháng tám là ngày sinh nhật của vua Đường Minh Hoàng nên triều đình nhà Đường đã ra lệnh cho dân chúng khắp nơi trong nước treo đèn và bày tiệc ăn mừng. Từ đó, việc treo đèn bày cỗ trong ngày rằm tháng tám trở thành tục lệ. – (TQMy)

Ngĩa là giữa mùa Thu! Mùa thu là mùa rễ chịu nhất, làm cho con người thoải mái và yêu đời hơn! – (Trương Dũng)

mùa thu gồm 3 tháng đáo là tháng 7, 8 và 9 âm lịch. Trung thu có nghĩa là giữa mùa thu và cụ thể là ngày rằm tháng 8. Do đó tết trung thu đương nhiên phải chọn ngày rằm tháng 8.

Riêng câu hỏi truyền thống này có từ khi nào thì tôi bó tay. – (Nguyễn Văn Út)

Boi vi thang 8 la bat dau vao mua Thu

Va ram la 15,la giua nen goi la Trung

Cho nen goi ram thang 8 la Trung Thu – (suanan)

Trung thu đơn giản là giữa mùa thu. Còn lịch sử của nó bạn tự tìm hiểu lấy. – (thienphan)

Vì 15 tháng 8 là ngày chính giữa của mùa thu. – (Kim chi)

nguơi ta chon ram thang tam la trung thu boi vi ram thang tam la giưa mua thu. – (tran duc do)

Theo minh hieu. Thang 8 la roi vao mua thu la trung tuan cua nam, nen nguoi xua tinh toan va lay thang 8 la dai dien cho le hoi trang ram. – (Tuann)

Mùa thu gồm có tháng 7, 8 và 9 âm lịch. Trung thu là giữa mùa thu thì chọn rằm tháng 8 là đúng rồi. Mình nghĩ vậy.

Thanh Vinh. – (vinhmyname)

Vi sao chon ram thang 8 la trung – (hangasta)

Trung Thu là giữa mùa thu, mà mùa thu là nằm vào tháng 7-8-9 nên chọn trung tuần tháng 8 (15/8 AL) là ngày Trung Thu 🙂 – (Ngọc Tịnh)

Trung Thu lả giữa mùa Thu nhằm ngày 15/8 âm lịch, với các tháng khác sao gọi Trung Thu được . Đối với dương lịch ngày 23/9 là ngay Thu Phân không thể chọn ngày 23 tháng khác được. – (vechai)

Sau cách mạng tháng 8 thành công và quốc khánh 2/9 năm 1945. Ai đều biết câu “Trung thu trăng sáng như gương, Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng” Vậy tết trung thu đầu tiên vào năm 1945 do Bác Hồ chọn. – (Đỗ Thanh Hải)

“Trung” là giữa, “Thu” là mùa thu. Trung thu là giữa mùa thu. Ngày rằm tháng 8 là ngày chính giữa mùa thu nên chọn rằm tháng 8 là trung thu – (tuantutoto)

theo âm lịch 3 tháng 7, 8, 9 là mùa thu. Tháng 8 là tháng giữa thu, ngày 15 là giứa tháng 8 có thể được gọi là ngày giữa mùa thu. Trung thu theo nghĩa Hán là giữa thu. Tiết trung thu thường đẹp nhất trong năm. Còn việc tại sao nhân dân các nước phương đông tổ chức tết Trung thu thì có nhiều điển tích lắm, bạn có thể tìm hiểu thêm. – (Trịnh Tân)

xuân, hạ, thu, đông mỗi mùa 3 tháng. Vậy rằm tháng tám là Trung Thu đúng rồi bạn? Đơn giản thế thôi. – (Han)

vì 15-8 là thời gian giữa của mùa thu cũng như 15 là giữa của tháng. – (Anh Tuấn Vũ)

Vì mùa thu bắt đầu từ tháng 7-9, ràm tháng tám tức là giữa mùa thu, ko phải trung thu vào ngày đó thì ngày nào. Trung thu tức là giữa mùa thu – (Bui Cong)

Rằm: ngày 15 âm lịch; Trung: giữa; Thu: mùa thu. (vì 15/8 là ngày giữa thu mà , mùa thu là tháng 7-8-9) – (letmytrinh)

Một năm ở Việt nam có 4 mùa tính theo lịch mặt trăng. Rằm tháng 8 là giữa mùa thu nên gọi là Trung thu. – (Xuân Chấp)

Bạn long thành thân mến! Như chúng ta đã biết một năm có bốn mùa gồm.xuân,hạ,thu,đông.mỗi mùa co thời gian là 3 tháng.mùa thu bắt đầu từ tháng 7 âm lịch cho đến hêt tháng 9 âm. Vậy nên ngày 15/8 được coi là giữa mùa thu .vì thế mới có tên là tết trung thu.tức là trung tuần của mùa thu – (long)

Mùa thu từ tháng đầu tháng 7 ân lịch đến cuối tháng 9 âm lịch ( 3 tháng) nên 15 tháng 8 là giữa mùa thu( tức Trung thu). – (vittechvn)

Mùa thu gồm 3 tháng là 7;8;9 .Mà Trung Thu thì có nghĩa là giữa mùa Thu, giữa mùa thu là tháng 8, mà giữa tháng 8 là ngày 15 âm lịch hay là rằm tháng 8, nên Trung Thu là ngày 15/8 âm lich hằng năm

Truyền thống này xuất phát từ bên Trung Quốc, nhưng bắt đầu từ khi nào thì … – (phuong)

Ý kiến của chi hang nga 7 tuổi – (thang 8 là rằm trung thu vì tháng 7,8,9 là mùa thu. mà chữ trung có nghĩa là trung bình c)

Thì tên của nó đã nói lên rồi đó bạn: là rằm giữa mùa thu – (thinh tat)

Mùa xuân là từ tháng giêng -tháng 3, mùa hạ là từ 4 -6, mùa Thu là 7 – 9 15/8 là giữa mùa thu thì gọi là Trung Thu – (Đức Toàn)

Mua thu bat dau tu thang 8, nen chon thang 8 – (datnguyen)

Thế mà cũng phải hỏi, giữa mùa thu là tháng mấy.. – (dinhcaoxuan)

Vì dằm tháng 8 trăng to và đẹp nhất khí hậu mát mẻ thuạn lợi cho việc vui chơi của trẻ.mà nhất là dằm tháng 8 trời không hay mưa – (trương long)

một năm 4 mùa, xuân, hạ, thu, đông. Mùa thu tính từ tháng 7 đến tháng 9, trung thu nghĩa là ở giữa mùa thu nên chọn rằm tháng 8. Đấy là tôi đoán thế ko biết đúng không – (tung)

Câu hỏi của bạn thật là kỳ. Trung thu tức là giữa mùa thu. Chả có nhẽ rằm tháng nào cũng là giữa mùa thu? – (Gió lang thang)

do thang 7,8,9 la mua thu, con chu “trung” co nghi la trung binh cong cua 3 thang tren nen ngay trung thu se roi vao ram thang 8. – (hoang thi hang nga)

Trung thu tức là giữa mùa thu, tháng 8 lại là tháng giữa thu (mùa thu gồm các tháng 7,8,9) ngày rằm là ngày 15 giữa tháng, vì vậy theo cả nghĩa đen thì rằm tháng 8 đích thị là giữa mùa thu (Trung thu). còn nguồn gốc ngày trung thu bạn có thể tham khảo ở đây: http://holiday.yeudoi.net/2013/09/tet-trung-thu-bat-nguon-tu-au.html – (Tôn Thất Khoa)

Cái tên của nó đã nói lên bản chất rồi. Trung thu chú có phải trung xuân, trung hạ, trung đông đâu. 15-8 là chính giữa mùa thu 😀 – (Huu Tri)

Đơn giản vì Rằm Tháng 8 là thời gian “giữa mùa Thu”. – (Trang)

tháng nào cũng có rằm nhưng tháng 8 thi mới là mùa thu, các tháng khác có phải mùa thu đâu – (dvdtth)

Trung Thu là giữa mùa Thu, thế thôi… – (Tiểu Long)

Thì nó là Trung thu. Thế mà cũng phải hỏi. – (abc)

sặc,mùa thu là tháng 7,8,9,trung thu la giữa mùa thu,là ngày 15/8 đó,có gì đâu mà thắc mắc – (phantom)

Tại vì bánh Trung Thu thường được bán trong tháng 7 âm lịch và hết date sau rằm tháng 8. – (Cuội)

Một năm có 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Ba tháng mùa Xuân là tháng 1-2-3. Ba tháng mùa Hạ là tháng 4-5-6. Ba tháng mùa Thu là 7-8-9. Ba tháng mủa đông là 10-11-12. Như vậy, trung Thu tức là giữa Thu và rơi vào giữa tháng 8. – (MM)

Bạn có thể chưa hiểu Trung thu có nghĩa là gì. Tiết (không phải là tết) Trung thu có nghĩa là ngày giữa mùa thu. Mùa thu kéo dài 3 tháng từ tháng 7 đến hết tháng 9 âm lịch. Tháng giữa thu là tháng 8. và ngày giữa mùa thu chính là ngày giữa tháng 8, ở đây chính là ngày 15 (Rằm). – (Thiệp Wong)

trung là giữa, Thu là mùa thu. Trung Thu là giữa thu tứcc tháng 8! Vậy thôi. – (Nguyet)

trung thu là từ hán việt có nghĩa là giữa thu… có vậy cũng ko luận được ra 😀

đi học đi nha – (Minh Kiểm)

Mùa thu nằm trong 3 tháng 7- 8- 9, rằm tháng 8 nằm chính giữa 2 cái rằm kia nên chọn nó làm Trung thu là hợp lý nhứt còn gì. Gỉa sử chọn rằm tháng 10 thì thành…Trung đông rồi bạn ạ.

Trung thu có lẽ đã bắt đầu từ khi có mùa thu, hi hi… – (kim loan Pham)

don gian thoi ma,co le 1 nam co 4 mua ma mua thu la thang 7,8,9. ma trung la giua,vay suy ra ram thag 8 la ram trung thu – (nhanct)

Thang 8 ngay ram la ngay mat trang gan trai dat nhat, khi do ta thay mat trang to va sang nhat, voi lai vao dip nay thoi tiet sang thu nen canh vat hop nhat de to chuc tet Trung thu – (long tran)

Vì trăng sáng & tròn nhất – (Duong)

Mùa thu là tháng 7,8,9. Do đó giữa mùa thu là giữa tháng 8. Vì vậy giữa tháng 8 người ta gọi là trung thu – (thien su)

“Mùa Xuân từ tháng 1 đến hết tháng 3

Mùa Hạ từ tháng 4 đến hết tháng 6

Mùa Thu từ tháng 7 đến hết tháng 9

Mùa Đông từ tháng 10 đến hết tháng 12.

Vậy thì Trung Thu – giữa mùa thu là giữa tháng 8 bạn ơi! ” Chỉ là ý kiến cá nhân thôi – (duongn.bm)

“Trung Thu ” có nghĩa là giữa mùa thu đó ! rằm tháng 8 chứ tháng mấy nữa ! ^^ – (Nguyễn Thành Tín)

Theo Trung Quốc hết….. – (Nguyên)

Theo âm lịch thì tháng giêng , hai, ba là mùa xuân.Tư, năm ,sáu là mùa hạ. Bảy ,tám chín là mùa thu. Vì vậy rằm tháng tám là giữa mùa thu gọi là Trung thu. – (Nguyễn Thanh Hải)

Trung thu nghĩa là giữa mùa thu. Bản chất ngày rằm tháng 8 là ngày giữa của mùa thu rồi, có gì đâu mà phải chọn bạn? – (khach)

Theo ý kiến chủ quan của tôi nguyên nhân chọn rằm tháng 8 là Trung thu là như thế này: Một năm có 4 mùa xuân, hạ, thu, đông, mà theo lịch của một số nước Châu á trong đó có nước ta ( lịch mặt trăng) thì mùa xuân gồm tháng 1 ( giêng), tháng 2, tháng 3; mùa hạ có tháng 4,5,6; mùa thu là tháng 7,8,9. Như vậy tháng 8 là giữa mùa thu mà ngày 15 ( rằm là giữa tháng 8 nên gọi là Trung thu. – (Mr. Khoai)

Rằm trung thu là rằm giữa Thu, xét theo xuân hạ thu đông mỗi mùa có 3 tháng thì tháng 8 là tháng giữa thu nên lấy rằm tháng 8. – (Le duc anh)

1 măn có 4 mùa, xuân hạ thu đông, mùa thu rơi vào tháng 7-8-9 vậy rằm thắng 8 có phải là giửa mùa thu không, là trung thu đó. – (Lee Duc)

vì dằm tháng tám là giữa mùa thu và đâu hình như là phong tục của người phương bắc nên cũng ảnh hưởng thôi ☺ – (Nguyễn Hoàng Phương)

Trung thu có nghĩa la ‘ giữa mùa thu ‘.răm trung thu có nghĩa là ‘răm giữa mùa thu’.mua Thu có 3 răm la t7,t8, t9. Răm t 8 ở giữa nên gọi là răm trung thu – (Phúc)

một năm có 4 mùa. xuân hạ thu đông.mùa xuân có tết cổ truyền, mùa hạ có tết đoan ngọ, mùa thu có tết trung trung, vậy sao không có tết trung đông hả các bạn.? – (ngô cương)

Trung có nghĩa là giữa,mà giữa năm là tháng 8 vậy nên tháng 8 là đến mùa thu nên chọn tháng 8 – (phạm hảo)

tại + vì 15/8 là trung tâm của mùa thu thì gọi là trung thu – (trung thu)

Theo cái tên là bạn cũng biết rồi. “Trung Thu” là giữa mùa thu. Một năm 12 tháng chia làm 4 mùa. Mùa thu là tháng 7,8 và 9. thì rằm tháng 8 là giữa mùa thu. – (vanlam999)

Đơn giản vì trung thu là vào giữa thu. Là tháng 8 âm lịch. – (hoang anh ybc)

Theo mình nghĩ, mùa thu gồm 3 tháng 7, 8, 9, vậy tháng 8 là giữa mùa thu, vậy tháng 8 là tháng trung thu, và để chọn ngày trung thu thì là ngày giữa tháng trung thu, tức rằm tháng 8. Còn có từ bao giờ thì mình không biết. – (Lê Đức)

Mình cũng có thể có rằm Trung hạ, Trung xuân và Trung đông mà. Rằm nào cũng vầy bạn à, chọn 1 rằm rồi xài nó thì ý nghĩa hơn xài cả 4 chứ :v – (ha_anh_lion)

Bởi vì mùa Thu kéo dài tử tháng Bảy đến tháng Chín, vì thế mà ngày 15 tháng Tám là Trung Thu. Chính xác thì phải là 12 giờ ngày 15 tháng Tám. – (hoangnvhk)

Nếu không chọn rằm tháng Tám, ta có thể chọn rằm tháng hai và gọi là Trung Xuân; rằm tháng 5 gọi là Trung Hạ, rằm tháng 11 gọi là Trung Đông, và rằm tháng tám tất là Trung Thu đó bạn. – (vanhung)

tại vì tháng 8 là giữa mùa thu nên gọi là trung thu – (tulong2108)

cái tên nó đã nói lên tất cả…..

Trung thu….giữa mùa thu….là rằm tháng 8 chứ gì nữa – (candysnow_bell)

Bánh trung thu tượng trưng cho sự đoàn viên, là thứ không thể thiếu để cúng trăng và thổ địa công vào mỗi mùa Trung thu. Phong tục ăn bánh trung thu vào Tết Trung thu bắt đầu từ cuối đời nhà Nguyên bên Trung Quốc đến nay.

Tương truyền vào thời đó, người Trung Nguyên không chịu nổi ách thống trị của người Mông Cổ, những người có chí khí đều muốn khởi nghĩa chống nhà Nguyên. Để tập hợp được các lực lượng đấu tranh, nhưng trong điều kiện không thể truyền tin đi, Lưu Bá Ôn đã nghĩ ra một cách truyền tin rộng rãi và bảo đảm, đó là kêu gọi mọi người mua bánh trung thu ăn vào Tết Trung thu để tránh họa. Sau khi mọi người mua bánh về và cắt ra, nhìn thấy bên trong có giấu một mảnh giấy viết “đêm 15 tháng 8 khởi nghĩa”, nhờ vậy người dân đã nhiệt liệt hưởng ứng, và lật đổ được nhà Nguyên. Cũng từ đó, bánh trung thu đã trở thành một món ăn không thể thiếu vào mỗi Tết Trung thu. – (Thuy)

nen xem chuyen Co Do Long cua Kim Dung se hieu. – (shayya)

Ngày 15 tháng 8 là điểm giữa của mùa thu nên mới gọi là Trung Thu. Đơn giản thế thôi – (Mr.Khanh)

“Trung Thu” nghĩa là chính giữa mùa Thu, giải thích đơn giản vậy chắc bạn hiểu. T1-2-3: mùa Xuân, T4-5-6: mùa Hạ, T7-8-9: mùa Thu, T10-11-12: mùa Đông… – (BH)

Bạn nào đặt câu hỏi này chứng tỏ không hiểu vấn đề rồi. Cái chính là “lễ hội” mang ý nghĩa gì và tại sao có nó, còn cái ngày là Rằm Trung Thu hay ngày nào khác chỉ là cái ngày mà thôi. Nếu không là Rằm Trung Thu thì cũng có thể là Mùng 10 tháng 10 chẳng hạn, hay Mùng 5 tháng 5 chẳng hạn,… Để nghị bạn Google để nghiên cứu sự tích, ý nghĩa của ngày Rằm Trung Thu. – (Hùng)

Trung Thu là giữa của mùa Thu. Mùa Thu là Tháng 7+8+9 Âm Lịch. Vậy rằm Tháng 8 hiển nhiên phải là Trung Thu ! Thế mà cũng hỏi ??? – (Lê Hùng)

Toi dong y voi ban chu hoang giang. Cam on. – (tran duc khiem)

Đơn giản từ “trung thu” có nghĩa là giữa mùa thu. Do đó ngày rằm tháng tám là ngày chính giữa của mùa thu. Đồng thời, trong một năm, trăng vào ngày rằm tháng tám là tròn nhất, to nhất và sáng nhất. – (chuoi)

Vì nằm giữa mùa thu nên gọi là trung thu. – (thong)

nếu nói như mấy bạn, trung là giữa, thu là mùa thu, thì giữa mùa thu phải là 1/8 chứ, mấy pạn chưa ngke chuyện cổ tích chú cuội ah mà pảo nhập khẩu từ trung quốc sang – (hà)

vào rằm toàn mưa với bão thôi – (Ngô Thuỷ)

Đừng quên một điều quan trọng. Tổ tiên của chúng ta vốn ở tận bên Sông Hoàng Hà đó. Động Đình Hồ có nghĩa là Động Tiên, nơi Âu cơ phải long Lạc Long Quân rồi Nam tiến.

Cho nên Trung Thu là của Việt, Đoan ngọ là của Việt, Nguyên đán là của Việt. – (Viet Nam)

Đơn giản thôi các bạn ah.1 năm có 4 mùa xuân hạ thu đông,mùa thu là tháng 7,8,9.trung la giữa,giữa mùa thu là ngày rằm tháng 8 thôi – (Lai)

Đơn giản 15/8 âm lịch là giữa mùa thu thôi, nhiều bạn giải thích cầu kỳ quá! – (Lê Nam)

1 năm có 12 tháng và 4 mùa, như vậy mỗi mùa kéo dài 3 tháng và theo thứ tự Xuân Hạ Thu Đông thì mùa thu là từ bắt đầu tháng 7 đến hết tháng 9. Trung Thu có nghĩa là giữa mùa Thu nên chọ vào ngày 15 tháng 8 là chuẩn nhất rùi bạn!!!!!!! – (ha ha)

TRUNG là giữa, TRUNG THU là giữa thu, tháng 7,8,9 là mùa thu – (trần hoài sơn)

Cái tên thì nói lên tất cả rồi. Trung thu là giữa mùa thu. Mà chọn ngày rằm là lúc trăng đẹp nhất. Âm lịch có mùa thu từ đầu tháng 8-hết tháng 9 âm lịch. Trung thu là bắt đầu thời điểm giữa đầu tháng 8 đến cuối tháng 9. – (Mami siêu phàm)

Theo tôi được biết thì răm trung thu xuất phát từ trung Quôc, những nước xung Quanh ảnh hưởng theo Văn Hoa đó bao gồm Việt Nam, Hàn Quôc, Nhật bản. Như hàn Quôc tổ chức rằm trung thu rất to do rằm trung thu Đánh dấu kết Thuc một vụ thu hoạch và chuẩn bị bước vào mùa Đông lạnh giá, phía Bắc Trung Quôc và nhật bản cũng tương tự – (Hoa)

Nếu nói Tết Trung thu có xuất xứ từ TQ, vậy còn truyện tích chú cuội , cây đa, … thì có tứ lúc nào? – (NC)

Theo tôi biết thì mỗi tháng có 1 ngày trăng tròn gọi là rằm, nhưng rằm tháng 8 trăng sẽ sáng nhất trong năm nên người xưa chọn làm ngày Trung Thu. “trung thu trăng sáng như gương…” – (Kiên)

Thời tiết miền Bắc (kể cả ở Trung Quốc), tháng 8 âm lịch là đẹp nhất trong năm – không nóng, không lạnh, khô ráo, nên người ta ăn rằm Trung Thu. Còn một điểm nữa là ngày xưa Triều đình thường tổ chức thi vào tháng 10 (âm lịch) nên Trung Thu cũng là một cái Tết văn hiến, chuẩn bị đi thi, thi đỗ là đổi đời (cá chép vượt Vũ môn hóa rồng). Rằm Trung Thu thường có đèn cá chép và ông Tiến sĩ giấy để khuyến khích việc học. – (Đức Lan)

Đơn giản thôi mà “Trung thu” nghĩa là : “Trung” là giữa, “Thu” là mùa Thu, tháng tám giữa mùa Thu thì gọi là Trung Thu. – (Một Cõi Đi Về)

có gì khó hiểu đâu, một năm có bốn mùa mỗi mùa 3tháng mùa thu là tháng 7, 8, 9 âm lịch, tháng 8 là giữa mùa thu, rằm tháng 8 là giữa tháng 8 nên lấy làm ngày trung thu! – (truongtonngoc)

Tết Trung thu (ngày 15 tháng 8 Âm lịch) có xuất xứ từ Trung Quốc. Theo nhiều ghi chép lịch sử, nghi thức đón Tết Trung thu đã có từ thời nhà Chu. Tết Trung thu là ngày lễ truyền thống lớn thứ hai sau Tết Nguyên Đán của Việt Nam nói riêng và nhiều nước châu Á nói chung.

Theo Âm lịch, mùa thu bắt đầu từ tháng 7 và kéo dài đến hết tháng 9, ngày 15 tháng 8 đúng vào giữa mùa thu nên được gọi là “trung thu”. Tết Trung thu còn có rất nhiều tên gọi khác, ít phổ biến hơn như Thu tiết, Bát Nguyệt tiết, Bát Nguyệt Hội, Nguyệt tiết, Truy Nguyệt tiết, Nguyệt Tịch, Đoàn Viên tiết…

Dù phong tục đón Tết Trung thu của các quốc gia đều bắt nguồn từ Trung Quốc nhưng không phải những phong tục, tập quán đón Tết Trung thu ở đâu cũng giống nhau.

So sánh giữa Tết Trung thu của người Hoa và Tết Trung thu của người Việt, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra sự khác bệt giữa một số phong tục, tập quán như:

Người Hoa xem trọng sự sum họp, đoàn viên của gia đình trong dịp Tết Trung thu trong khi phần lớn người Việt xem Tết Trung thu là Tết thiếu nhi.

Người Việt không có thói quen thưởng nguyệt đêm trung thu trong khi người Hoa lại thường quây quần bên gia đình ngắm trăng vào đêm này.

Người Hoa thường tổ chức múa rồng lửa để cầu mong sự may mắn, thịnh vượng còn người Việt lại hay tổ chức múa lân, có ông địa dẫn đầu.

Người Việt không có nghi thức tế nguyệt (cúng mặt trăng) để cầu cho mùa màng tươi tốt, gia đình bình an trong dịp Tết Trung thu như người Hoa.

Mặc cho những khác biệt trong văn hóa, mỗi dịp Tết Trung thu về, người Hoa, người Việt và tất cả các dân tộc sinh sống tại Việt Nam đều hòa mình trong không khí ấm áp, tươi vui của ngày lễ truyền thống ý nghĩa này. – (Vũ Đình)

Trung là giữa, thu là mùa thu. trung thu là Chính giữa mùa thu. 15/8 là chính giữa mùa thu nhất – (leducphanlaw)

vi trung la o giua,thang 9 lai la mua thu – (1)