【#1】Đồng Hành Cùng Lễ Ra Mắt The Ruby Hạ Long Giới Thượng Lưu Trên Khắp Thế Giới Đưa “sống Sang” Lên Một Chuẩn Mực Mới Với Tiện Nghi Đẳng Cấp

Tư vấn bất động sản tại Hạ Long, Quảng Ninh.

Chi tiết: đồng hành cùng lễ ra mắt the ruby hạ long giới thượng lưu trên khắp thế giới đưa “sống sang” lên một chuẩn mực mới với tiện nghi đẳng cấp

đồng hành cùng lễ ra mắt the ruby hạ long

giới thượng lưu trên khắp thế giới đưa “sống sang” lên một chuẩn mực mới với tiện nghi đẳng cấp, tiện ích thông mình và mang “hơi thở” sống xanh.

-tại việt nam, the ruby hạ long đang là dự án tiên phong cho chuẩn sống “sống xanh thông minh”.

-bắt nhịp “sống sang” của thế giới.

-trong xu thế trở về thiên nhiên và hướng đến những giá trị sống bền vững, không gian sống của giới thượng lưu không chỉ là một nơi an cư đủ đầy, mà còn mang đến giá trị cảm xúc cũng như nguồn cảm hứng trong cuộc sống.

-“2 viên hồng ngọc” the ruby hạ long có gì đặc biệt?

-sở hữu vị trí đất vàng đắc địa, không gian sống giữa mảng xanh của cây cối, bao quanh bởi sông nước mát lành, tách biệt với những ồn ào của phố thị.

-trong mỗi tổ ấm giữa không gian xanh bất tận đó, gia chủ vừa tận hưởng cuộc sống tiện nghi đủ đầy theo phong cách riêng, vừa trải nghiệm những tiện ích thông minh, kết nối với cộng đồng cư dân văn minh.

-sở hữu tầm nhìn hướng vịnh đắt giá, vừa sống chan hòa cùng thiên nhiên với những khu vườn cảnh quan, vườn dưỡng sinh, đường dạo massage chân,…

-siêu phẩm ” the ruby hạ long” mở ra một không gian sống xanh vẹn tròn hội tụ những tinh hoa về kiến trúc, chuỗi tiện ích đỉnh cao, nội thất sang trọng, công nghệ 4.0 hiện đại nhưng vẫn mang những giá trị bền vững ngay tại cao xanh, hạ long.

-đặt cọc thiện trí ms thủy 0934310033

Thông tin tóm tắt: đồng hành cùng lễ ra mắt the ruby hạ long giới thượng lưu trên khắp thế giới đưa “sống sang” lên một chuẩn mực mới với tiện nghi đẳng cấp

Địa chỉ chi tiết: HẠ LONG

Số điện thoại : 0363936693

Lưu ý:

Các bạn đang xem tin đăng “đồng hành cùng lễ ra mắt the ruby hạ long giới thượng lưu trên khắp thế giới đưa “sống sang” lên một chuẩn mực mới với tiện nghi đẳng cấp”

. Thông tin rao vặt này là do số điện thoại “” đăng tải toàn bộ thông tin. Chúng tôi hoàn toàn không chịu trách nhiệm về bất cứ thông tin nào liên qua đến các thông tin này. Chúng tôi luôn cố gắng để đưa các tin tức nhanh và chính xác nhất cho các bạn. chúng tôi không mua bán trực tiếp, quý khách mua bán bất động sản xin vui lòng liên hệ trực tiếp người đăng tin. Nếu mà phát hiện thông tin sai sự thật vui lòng chọn nút ” Yêu cầu xóa tin” hoặc liên hệ Hotline để được hỗ trợ.

【#2】Cung Quan Lộc, Thăng Quan Tiến Chức Miếu Đài Hiển Vinh

Cung Quan Lộc biểu thị khí số sự nghiệp của đời người. Hội được Cát tinh thì sự nghiệp hanh thông. Gặp đa Sát diệu thì công việc thăng giáng vô thường

Mộ phùng Tả Hữu đồng lai.

Thăng quan tiến chức miếu đài hiển vinh.

Đồng, Lương hội chiếu Dần Thân

Khi xưa tay trắng mà nay sang giàu.

Lộc phùng Tử, Mã nhất ban

Phong vân tế hội Mã Long Hỉ Đồng.

Cho nên trong tinh bàn của Đẩu Số. “Cung Quan Lộc” và “Cung Phu Thê” xung chiếu nhau. Đó là vì quan lộc sự nghiệp của một người có thể ảnh hưởng đến địa vị của vợ con.

Ngày nay xã hội đã hoàn toàn khác. Địa vị của giới doanh nhân rất cao, tất cả đều coi trọng tiền bạc, học hành để ra làm quan không còn là con đường lý tưởng duy nhất.

Bởi lý do đời sống hiện đại không còn quá quan trọng quan chức. Thành đạt trong kinh doanh cũng là mục tiêu mà rất nhiều người hướng tới. Hơn nữa, “tài vượng” còn có thể “sinh quan”. Nên “Cung Quan Lộc” được một số nhà đẩu số hiện đại đổi lại gọi là “Cung Sự Nghiệp”. Mà “Cung Quan Lộc” và “Cung Phu Thê” xung chiếu nhau, cũng có nghĩa là xem sự nghiệp và gia đình mâu thuẫn nhau. Vì vậy cần quan sát các sao của hai cung này xem có điều hòa hay không.

Trong bối cảnh như vậy, cổ nhân đã định ra một số nguyên tắc luận đoán “Cung Quan Lộc”. Có thể nói là không còn hợp thời, như

Những luận đoán này ít nhiều đã lỗi thời ở thời hiện đại.

Vương Đình Chi từng thử căn cứ các sao của Cung Quan Lộc để luận đoán về nghề nghiệp. Kết quả do tư liệu chưa được đầy đủ nên trong bài viết này chỉ thuật những nguyên tắc phổ quát.

Ví dụ như gặp Thiên Lương hội sao tài thì có thể đoán là kiểm toán viên, cũng có thể là chuyên viên kiểm định trong ngành kiến trúc. Nhưng cũng có khả năng là chủ quản bộ môn tổng vụ, hoặc bộ môn nhân sự của công ty.

Nói một cách thẳng thắn, chúng ta có thể biết tính chất tổ hợp các sao phù hợp với nghề gì. Nhưng lại không thể dựa vào các sao mà nói ra nghề nghiệp cụ thể của nó. Ngày nay đúng là có rất nhiều nghề nghiệp khác nhau, mong rằng bạn đọc có thể hiểu cho.

Ngoài ra, phán đoán nghề nghiệp của một con người còn phải tham khảo các sao của Cung Mệnh và Cung Phúc Đức, điểm này cũng cần hết sức chú ý.

Cung Quan Lộc đối nhau với cung phu thê, và tương hội với cung mệnh và cung tài bạch ở tam phương. Quan hệ giữa Cung Quan Lộc với cung mệnh và cung tài bạch, không nói cũng biết, còn quan hệ với cung phu thê, ở thời cổ đại, là vì có chế độ phong cáo. Nam mệnh ở cung thê gặp các sao chủ về quý, tức là điềm tượng vợ được phong cáo, nhờ vậy người này có thể gián tiếp được quan lộc.

Ý nghĩa này ở thời hiện đại đã không còn, nhưng vẫn có thể dựa vào đó để luận đoán ảnh hưởng của hôn nhân đối với sự nghiệp. Nhất là lúc các sao ở cung phu thê có tính chất quý báu, có lúc là điềm tượng lợi về vợ chồng hợp tác sáng lập sự nghiệp.

Vợ chồng đồng cam cộng khổ, từ xưa đã vậy. Các sao ở Cung Quan Lộc có thể ảnh hưởng đến hôn nhân, ý nghĩa không nói cũng biết. Nhưng nhìn từ phương diện khác, các sao ở cung phu thê cũng có thể ảnh hưởng đến sự nghiệp, ngoại trừ căn cứ tình huống “chồng nhờ vợ mà phú quý” hay “vợ nhờ chồng mà phú quý”, để luận đoán về công danh lợi lộc, còn phải lưu ý một điều, sự thành bại của sự nghiệp không phải là sự thành bại của hôn nhân. Cho nên các sao ở bản cung quan trọng hơn các sao ở đối cung.

Nếu Cung Quan Lộc là các sao cát, cung phu thê cũng là các sao cát, sẽ chủ về vợ chồng cùng nhau lập nên sự nghiệp, hoặc hai bên phát triển thành công, mà quan hệ vợ chổng cũng hạnh phúc. Nếu Cung Quan Lộc là các sao cát, mà cung phu thê là các sao hung, thì vợ chồng nên tự phát triển sự nghiệp của mình. Nếu Cung Quan Lộc là các sao hung, mà ở cung phu thê cũng là các sao hung, thì sự nghiệp của hai người không trợ giúp lẫn nhau, tuyệt đối không nên hợp tác.

Ví dụ như cung mệnh là “Tử Vi Thiên Phủ”, cung tài bạch là Vũ Khúc độc tọa, Cung Quan Lộc là “Liêm Trinh Thiên Tướng”. Nếu Vũ Khúc Hóa Quyền, cung thiên di có Lộc Tồn, thì nên căn cứ theo nhóm sao của cung mệnh và các sao của cung tài bạch, có thể buôn bán kinh doanh. Nhưng do Cung Quan Lộc là “Liêm Trinh Thiên Tướng”, vì vậy nên hợp tác với người khác để làm ăn, và cần phải đích thân đương số tham gia công việc kinh doanh.

Nếu cung mệnh là Tử Vi Hóa Quyền, mà cung tài bạch là Vũ Khúc Hóạ Kỵ, thì nên làm việc hưởng lương ở công ty, tập đoàn lớn hoặc nhà nước, hơn nữa, còn nên đảm nhiệm bộ môn hành chính. Đây là căn cứ tính chất của “Liêm Trinh, Thiên Tướng” ở Cung Quan Lộc.

Cung Quan Lộc đối nhau với cung phu thê, ở thời cổ đại còn có một ý nghĩa quan trọng khác, người xưa thường nói “trai sợ chọn nhầm nghề, gái sợ chọn nhầm chồng”, cho nên cổ nhân cho rằng nam mệnh nên xem trọng Cung Quan Lộc (gọi là “cung cường”), nữ mệnh thì nên xem trọng cung phu thê. Ý nghĩa này, về cơ bản không nên phân biệt hai cung này thành “cung cường” và “cung nhược”.

Hai Cung Quan Lộc và phu thê, rất kỵ một cung có Địa Không, một cung có Địa Kiếp (chỉ hai cung Dần và Thân là có chúng, chủ về vì bị ảnh hưởng của bạn đời mà sự nghiệp bất lợi). Ví dụ như vì chiều theo người bạn đời, mà hi sinh một công việc khá tốt, v.v… nhung hai bên lại không thể cả nể nhau mãi, vì vậy cũng ảnh hưởng đến hạnh phúc trong hôn nhân.

Cung Quan Lộc gặp Địa Kiếp, Địa Không, trong các tình huống thông thường thì thích hợp làm những nghề nghiệp hiếm gặp, hoặc những nghề nghiệp có tính đột xuất và phương pháp làm ăn ngoài dự liệu của mọi người, nhưng tối kỵ chí lớn mà tài không đủ, suốt đời sự nghiệp khó hưng phát. Đây là một ví dụ về hành động của con người tuy thuộc về hậu thiên, nhưng lại có thể ảnh hưởng đến sự thành bại của đời người.

Cung Quan Lộc gặp sát tinh, cổ nhân cho rằng thích hợp làm về thương nghiệp, hoặc thợ thuyền. Đối với con người thời hiện đại không thể luận chung chung như vậy được. Vì có không ít nhà buôn lớn mà cung sự nghiệp không có sát tinh. Đây là vì gặp sát tinh sẽ chủ về địa vị xã hội khá thấp, hoặc từ địa vị thấp mà phát triển lên địa vị cao, cho nên ở thời cổ đại thì thích hợp kinh doanh buôn bán (thời xưa địa vị xã hội của thương nhân khá thấp, nếu sau khi thành giàu có, đóng vai của một thân sĩ thì địa vị cũng nhờ đó mà được nâng cao). Ở thời hiện đại đương nhiên không hoàn toàn như vậy.

Cổ nhân nói “thợ thuyền”, ở thời hiện đại thường là nhân tài chuyên nghiệp. Điều này chúng ta cần lưu ý.

Cung sự nghiệp có các sao hung, chưa chắc là sự nghiệp không tốt, cần phải nắm vững tính hung của nó để luận đoán nên làm những nghề nghiệp nào, tức là vận dụng phép “theo cát tránh hung”. Như Thái Dương hội Cự Môn Hóa Kỵ, chủ về nên “dùng tài ăn nói để kiếm tiền”. Vì vậy nên làm công việc dạy học, hoặc luật sư, lại ví dụ như trường hợp “Hình kỵ giáp ấn”, thì có thể làm những công việc có tính chất “hình pháp, kỷ luật”.

Cung Quan Lộc có Lộc Tồn, lại không luận giàu có, thông thường chỉ nên kinh doanh sự nghiệp có sẵn, hoặc làm việc hưởng lương. Nếu gặp thêm Địa Không, Địa Kiếp đồng cung, sẽ chủ về có phản ứng sai lầm, tiến thoái không hợp thời cơ, thường thường không chịu ở yên trong công việc hưởng lương, hoặc không cam tâm với sự nghiệp kinh doanh có sẵn, gắng gượng thay đổi, kết quả là rơi vào cảnh khốn khó.

Luận đoán về công danh sự nghiệp, có lúc cần phải tham khảo Cung Quan Lộc của đại vận trung niên để định. Nếu Cung Quan Lộc của nguyên cục rất tốt, nhưng Cung Quan Lộc của đại hạn trung niên lại chủ về có phá tán hay thất bại lớn, thì không nên tự lập sự nghiệp riêng quá sớm. Đây cũng là phép “theo cát tránh hung”.

Sao Tử Vi thủ Cung Quan Lộc, chủ về một mình đảm trách công việc, nhưng lại chẳng thể tự kinh doanh, cũng không chủ về người này có thể làm lãnh đạo. Trong các tình huống thông thường chỉ chủ về công tác độc lập hoặc phụ trách bộ môn.

Tử Vi gặp sát tinh, cổ nhân cho rằng có thể kinh doanh làm ăn. Ở đây cũng có ý nói sau khi trải qua tranh đấu trên đường đời mà có thành tựu, nhờ thành tựu mà địa vị xã hội mới được nâng cao. Ở thời hiện đại địa vị xã hội của con người đã khác trước, cho nên tuy không có sát tinh, mà còn không có “bách quan triều củng”, cũng chưa chắc không thể tự kinh doanh làm ăn, và từ kinh doanh làm ăn mà dẫn đến phú quý. Xã hội cổ kim khác nhau, không thể luận chung chung.

  • Tử Vi Hóa Quyền ở Cung Quan Lộc, chỉ chủ về có thể một mình đảm trách công việc, hoặc lúc làm việc có tính độc lập rất mạnh, nhưng chưa chắc phú quý.
  • Tử Vi Hóa Khoa ở Cung Quan Lộc, chủ về danh lớn hơn lợi, cho nên thích hợp với nghề tự do hoặc chuyên nghiệp, cũng có thể làm việc trong chính giới, nhưng e rằng chỉ quý mà không phú.

Tử Vi được “trăm quan đứng chầu”, lại không có sát tinh, có thể làm việc trong chính giới, ắt sẽ có thể thăng tiến cao, nếu cung mệnh gặp tổ hợp nhiều cát tinh, thì càng chủ về làm quan lớn.

  • Nếu Tử Vi không có sát tinh đồng độ, lại có sao phụ, tá cát hội hợp, còn gặp “Lộc Mã giao trì”, hoặc hội Liêm Trinh Hóa Lộc, Tham Lang Hóa Lộc, hay Vũ Khúc Hóa Lộc, chủ về chức vụ nắm quyền tài chính, làm việc trong chính giới cũng là quan thuế.
  • Tử Vi Hóa Khoa mà có Lộc Tồn đồng độ hoặc vây chiếu, chủ về danh lợi song thu, thích hợp làm việc trong chính giới hoặc chủ trì công ty lớn, lợi nhất là những ngành nghề tiếp cận thị trường, công chúng (như điện thoại, thức ăn nhanh, hàng không, du lịch, v.v… xã hội hiện đại có rất nhiều nghề nghiệp).

Tử Vi độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, thủ Cung Quan Lộc, lấy trường hợp cung mệnh hoặc cung tài bạch có sao lộc là quý. Nếu cung mệnh gặp “Lộc Mã giao trì”, bất kể tự kinh doanh làm ăn hoặc làm việc hưởng lương trong ngành kinh tế tài chính, đều có thể hơn mọi người. Nếu cung tài bạch là Liêm Trinh Hóa Lộc, thì nên hợp tác với người khác để sáng lập sự nghiệp, nhưng bản thân đương số phải phụ trách quản lý nghiệp vụ.

Tử Vi độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, ưa Tả Phụ và Hữu Bật một sao ở Cung Quan Lộc, một sao ở cung phu thê, (Văn Xương, Văn Khúc cũng vậy), sẽ chủ về vợ chồng giúp đỡ lẫn nhau, dù có thể không hợp tác trong công việc.

Tử Vi Hóa Quyền, độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, thì lợi về sự nghiệp mà bất lợi về hôn nhân, nữ mệnh càng đúng. Cho nên vợ chồng tuyệt đối không nên hợp tác trong sự nghiệp. Hễ nữ mệnh có Quyền tinh ở Cung Quan Lộc thì cần phải chú ý vấn đề hôn nhân, Tử Vi Hóa Quyền thì càng phải lưu ý.

Tử Vi Hóa Khoa, độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, lại gặp Địa Không, Địa Kiếp, chủ về sự nghiệp một đời luôn có đối thủ. Vì vậy không thích hợp làm việc trong chính giới, mà nên làm nghề tự do. Bất kể có sát tinh hay không, đều chủ về danh lớn hơn lợi. Nếu có “bách quan triều củng”, sẽ chủ về có địa vị trong giới nghề nghiệp. Không gặp Thiên Hình, Đại Hao, Địa Không, Địa Kiếp, thì có thể làm việc trong chính giới, thích hợp bộ môn quản lý hành chính.

Tử Vi độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, có các sao đào hoa đồng độ, cần phải xem có Văn Xương, Văn Khúc hay không. Nếu có Văn Xương, Văn Khúc thì nghề nghiệp nho nhã, không có thì nghề nghiệp dung tục.

“Tử Vi Phá Quân” thủ Cung Quan Lộc mà có sát tinh đồng độ, chủ về vất vả thân xác, có Văn Xương, Văn Khúc đồng cung, chủ về vất vả tinh thần. Nếu Phá Quân Hóa Lộc, thì sự nghiệp một đời nhiều biến động, còn thường gánh vác công việc quá mức. Phá Quân Hóa Quyền, thì sự nghiệp gặp nhiều sóng gió, trắc trở, sau khi lập ra cục diện mới lại không được hưởng.

“Tử Vi, Phá Quân” hội Vũ Khúc Hóa Lộc, Liêm Trinh Hóa Lộc hoặc Tham Lang Hóa Lộc, đều chủ về nhờ khai sáng mà trở nên giàu có. Nếu không thể khai sáng cục diện mới, thì chỉ chủ về sự nghiệp chìm nổi thất thường với biên độ lớn. Nhưng bất kể như thế nào, đều chủ về sinh hoạt sa hoa, mà thực tế thì thu nhập không lớn.

“Sức khai sáng” của “Tử Vi Phá Quân” là từ chỗ không có gì mà mở ra cục diện mới hoàn toàn, hoặc có sáng kiến rất mới trong phong cách làm ăn. Cho nên ưa Tả Phụ, Hữu Bật đồng độ, đương nhiên có nhiều trợ lực.

“Tử Vi Phá Quân” có Hỏa Tinh và Linh Tinh giáp cung, chủ về công việc rất bận rộn. Có Địa Không, Địa Kiếp đồng cung mà không có các sao sát, hình, thì sức khai sáng của nó sẽ là từ chỗ không có gì mà xây nên lâu đài. Nhưng nếu gặp các sao sát, hình, hao, thì sự nghiệp một đời thường thường sắp thành lại hỏng, hơn nữa còn tổn thương nguyên khí.

“Tử Vi Thiên Phủ” đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân, cần phải gặp “bách quan triều củng” mới có thành tựu. Nếu không có sao cát, thì thường thường phản ứng sai lầm, tiến thoái không hợp thời cơ, hoặc chí lớn mà tài không đủ.

“Tử Vi Thiên Phủ” có Lộc Tồn, Thiên Mã đồng độ, hoặc gặp “Lộc Mã giao trì”, ở thời hiện đại thì thích hợp tự kinh doanh làm ăn, cũng nên làm việc trong kinh doanh tài chính, tiền tệ, ngân hàng.

“Tử Vi Thiên Phủ” thủ Cung Quan Lộc, mà Tử Vi Hóa Khoa, chủ về tay trắng sáng lập sự nghiệp. Nếu Thiên Phủ Hóa Khoa, sẽ chủ về sáng tạo và hưng phát trong cục diện có sẵn.

Nếu Tử Vi Hóa Quyền, thường thường lý tưởng quá cao, năng lực tài chính không đủ để chống đỡ công việc theo ý muốn, làm việc trong chính giới hay kinh doanh buôn bán đều có tính chất này. Nếu gặp sao hình, thì thích hợp theo võ nghiệp, rất nặng về quyền lực.

Thời hiện đại, “Tử Vi Thiên Phủ” thủ Cung Quan Lộc cũng có thể làm việc trong ngành sản xuất. Nhưng lúc Tử Vi Hóa Quyền thì không nên có lý tưởng quá cao, xa rời thực tế. Tử Vi Hóa Khoa, thì cuộc đời gặp nhiều cạnh tranh. Ví dụ như chế tạo ra một sản phẩm mới liền bị người ta mô phỏng.

“Tử Vi Tham Lang” đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh, chủ về sự nghiệp có đột phá, nhưng nếu đồng thời gặp thêm Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Đại Hao, thì bạo phát bạo bại.

“Tử Vi Tham Lang” hội Liêm Trinh Hóa Kỵ, thích hợp làm nghề tự do, hội Liêm Trinh Hóa Lộc, cũng có thể làm việc trong chính giới.

“Tử Vi Tham Lang” thủ Cung Quan Lộc, Tử Vi không nên Hóa Khoa, nếu không, tuy có năng lực kêu gọi, động viên nhưng lại thiếu năng lực tổ chức, trừ phi được “bách quan triều củng” mới có thể bù đắp khuyết điểm.

“Tử Vi Tham Lang” đồng cung với Tả Phụ hoặc Hữu Bật, đối cung là Hữu Bật hoặc Tả Phụ, cấu tạo thành cách cục tốt, chủ về có nhiều người dưới quyền, nhưng cần phải chia.quyền lợi với thuộc cấp thì sự nghiệp mới có thể kéo dài.

“Tử Vi Tham Lang” có Hỏa Tinh và Linh Tinh giáp cung, cũng chủ về đột phá. Nếu giáp cung Tham Lang Hóa Kỵ thì cuộc đời bạo phát bạo bại.

“Tử Vi Thiên Tướng” ở hai cung Thìn hoặc Tuất, về cơ bản cũng chủ về chìm nổi bất thường. Có điều khác với tình hình chìm nổi của “Tử Vi Phá Quân”.

  • “Tử Vi Phá Quân” chìm nổi là do chủ quan muốn thay đổi hoàn cảnh.
  • Chìm nổi của “Tử Vi Thiên Tưởng” thường thường là bị ảnh hưởng của hoàn cảnh khách quan, thường có cảm giác anh hùng không có đất dụng võ.

“Tử Vi Thiên Tướng” thủ Cung Quan Lộc, thường nên ở vị trí phó, tuy thực tế công tác là đảm đương một mình, mà danh nghĩa thì không bằng thực tế.

“Tử Vi Thiên Tướng” thủ Cung Quan Lộc, cũng nên hợp tác với người khác, nhưng cần phải tham gia lãnh đạo công việc thực tế.

“Tử Vi Thiên Tướng” bị “Hình kị giáp ấn”, không có sát tinh, chủ về sự nghiệp gặp trắc trở, có sát tinh, thì chỉ thích hợp ngành công nghệ.

“Tử Vi Thiên Tướng” có các sao khoa văn đồng độ, lại gặp thêm các sao sát, hao, thì thích hợp văn nghệ, nghề tự do.

“Tử Vi Thất Sát” không nên gặp Liêm Trinh Hóa Kỵ, nếu không sẽ dễ sinh phá tán, thất bại, thường do xử sự nặng tình cảm mà ra.

“Tử Vi Thất Sát” thủ Cung Quan Lộc còn chủ về thân tâm vất vả. Gặp sát tinh, thì thường bị đồng nghiệp hay đồng sự khiêu chiến, ứng phó rất vất vả.

“Tử Vi Thất Sát” gặp “Lộc Mã giao trì”, cuộc đời phải đổi nghề hai ba lần mới ổn định. Hội Phá Quân Hóa Lộc thì kiêm hai ba chức vụ, hoặc thường gánh vác công việc quá mức.

“Tử Vi Thất Sát” rất ưa Tử Vi Hóa Khoa, có thể làm mạnh thêm năng lực quản lý, lãnh đạo. Nếu được “bách quan triều củng”, cũng có thể làm việc trong chính giới, hoạt động trong thương giới cũng là nhân vật lãnh đạo.

“Tử Vi Thất Sát” gặp các sao sát, kỵ, cuộc đời ắt sẽ có phá tán, thất bại, nếu các sao sát, kỵ quá nặng thì khó gây dựng lại.

Nếu Sao Thiên Cơ nhập miếu, có Sao Hóa Lộc, Sao Hóa Quyền, Sao Hóa Khoa hội chiếu, lại gặp thêm Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt, thì nên làm việc trong chính giới. Nhưng nếu Thiên Cơ lạc hãm, hoặc đồng thời gặp sát tinh thì chỉ nên làm việc trong công ty lớn. Làm những công việc có tính phục vụ công cộng.

Thiên Cơ Hóa Lộc hay Hóa Khoa ở Cung Quan Lộc, gặp Thiên Vu, Thiên Lương, Cự Môn thì có thể khởi nghiệp bằng khoa tinh tướng (Bói toán). Nếu lại gặp Hoa Cái thì có thể hành nghề tôn giáo.

Có tứ sát tinh hội chiếu sẽ làm tăng tính biến động, tính không ổn định của Thiên Cơ. Chủ về thường thạy đổi công việc hoặc nghề nghiệp, hoặc làm những nghề nghiệp có tính lưu động. Cương vị công tác luôn bị điều động.

Thiên Cơ ở Cung Quan Lộc có Địa Không, Địa Kiếp, Đại Hao hội hợp, thích hợp theo ngành công nghiệp, đầu cơ ắt sẽ thất bại.

“Thiên Cơ Thái Âm” ở Cung Quan Lộc, làm tăng tính lưu động của Thiên Cơ, khiến sự nghiệp của mệnh tạo có nhiều biến động. Nếu là “Cơ Nguyệt Đồng Lương” hội hợp, thì nên làm công chức, hoặc làm việc trong các công ty, tập đoàn lớn, có tính phục vụ.

Thiên Cơ và Cự Môn ở Cung Quan Lộc, dù có cát tinh hoặc có các sao Thiên Tài, Long Trì, Phượng Các, vẫn chủ về có kỹ năng chuyên môn nhưng không giữ một nghề, văn hoặc võ đều thay đổi đa đoan.

Phàm “Thiên Cơ, Thiên Lương” cùng thủ Cung Quan Lộc, chủ về thường kiêm mấy chức vụ nhưng hay thay đổi. Bất kể có phải là cách “Cơ Nguyệt Đồng Lương” hay không, đều không nên tự mình kinh doanh làm ăn, mà nên làm việc trong một công ty, tập đoàn lớn có tính phục vụ công chúng. Hoặc làm công tác xã hội, cũng có thể theo ngành y dược.

Gặp các sao sát, ki hình, hao, thì dễ vì sự nghiệp mà dính vào tranh chấp, kiện tụng, phạm pháp. Nên suy tính đến việc theo ngành pháp luật, công tác tư pháp. nếu sát tinh quá nặng, mà cung mệnh không cát tường, thì chủ về giang hồ phiêu bạt, nghèo nàn, văn nhân thất chí.

Thái Dương nhập miếu ở Cung Quan Lộc. Trường hợp ở cung Ngọ sự nghiệp rất lớn, nhưng cần phải gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt, hoặc được Văn Xương, Văn Khúc, mà không gặp sát tinh, Địa Không, Địa Kiếp mới là thượng cách. Nếu không gặp cát tinh, mà gặp Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Đại Hao, thì sự nghiệp tuy lớn, nhưng vẫn chủ về trống rỗng, dễ bị sụp đổ.

Thái Dương nhập miếu, được các cát tinh vây chiếu, không gặp các sao ác sát, có thể làm việc trong chính giới, cũng có thể kinh doanh buôn bán. Đều chủ về sự nghiệp hưng thịnh, có địa vị cao trong xã hội, hoặc chủ về có rất nhiều học trò.

Thái Dương nhập miếu, có cát tinh vây chiếu, lại có Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa hội hợp, có Văn Xương đồng độ, là kết cấu tốt nhất. Chủ về mệnh tạo làm việc trong chính giới hay kinh doanh buôn bán, đều là nhân tài lãnh đạo, có thể phú quý. Ở cung Ngọ, không có sát tinh, được “bách quan triều củng”, là lương đống của quốc gia, nhân vật quan trọng trong chính giới. Có sát tinh, thì trong thành công có thất bại. Thái Dương rất ưa có Cự Môn hội chiếu, gặp cát tinh là nhân tài ngoại giao, nhân tài trong ngành tư pháp.

Nếu Thái Dương lạc hãm, dù gặp “tam hóa cát”, hoặc được “bách quan triều củng”. Thì sự nghiệp trước sau vẫn trống rỗng. nếu Thái Dương Hóa Kỵ, thì một khi sự nghiệp tiến triển, thị phi oán ghét sẽ theo đó mà đến. Không thích hợp làm việc trong chính giới, mà thích hợp với ngành tư pháp, pháp luật, cũng nên làm giáo chức. Nếu gặp Văn Xương, Văn Khúc, có thể làm công việc mang tính quảng bá. Nếu gặp Long Trì, Phượng Các, thì thích hợp nghiên cứu khoa học. Nếu gặp Địa Không, Địa Kiếp, lại nên khởi nghiệp bằng óc tưởng tượng, là nhân tài phát minh.

Thái Dương lạc hãm, mà sát tinh nặng, thì bôn ba vất vả, ít có thành tựu.

“Thái Dương Thái Âm” ở Cung Quan Lộc, nếu được cát tinh vây chiếu hay hội hợp, thì có thể phú quý. Thích hợp làm việc trong chính giới, thương nghiệp. Gặp sát tinh thì sự nghiệp, nghề nghiệp hay thay đổi. Thích hợp làm tham mựu, cố vấn. Hoặc làm việc trong lãnh vực quan hệ công cộng, quảng bá, công tác phục vụ xã hội.

Hai sao “Thái Dương Cự Môn” đồng cung, ở cung Dần thì tốt hơn. Không có sát tinh thì đại phú đại quý, là nhân vật quan trọng trong giới ngoại giao. Có các sao sát, kỵ, thì thích hợp ngành pháp luật, tư pháp, giáo dục.

Thái Dương và Cự Môn đồng cung không ưa có sát tinh mà gặp đủ Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, là nhân vật cao cấp trong chính giới. Nếu đồng thời gặp sát tinh, làm kinh doanh buôn bán cũng là lãnh đạo một phương. Hoặc là nhân sĩ mà xã hội biết tên. Trường hợp ở cung Thân thì hơi kém hơn.

“Thái Dương Thiên Lương” cùng ở Cung Quan Lộc, gặp cát tinh, thích hợp làm công việc giám sát, kiểm toán.

  • Nếu có sát tinh, thì nên khởi nghiệp bằng nghề nghiệp hưởng lương, nghiên cứu khoa học.
  • Gặp Kình Dương, Thiên Hình, có thể là nhân tài trong lãnh vực y dược, trị liệu.
  • Nếu Thái Dương và Thiên Lương gặp Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc. Có Văn Xương hoặc Văn Khúc hội hợp, thì nên tham gia các cuộc thi tuyển, trở thành nhân tài chuyên nghiệp.

Nhưng bất kể thế nào, đều không nên tự mình bỏ vốn ra làm ăn kinh doanh.

Nếu Vũ Khúc không có sát tinh đồng độ, nhưng lại ở tam phương hội hợp, còn gặp Phá Quân, Thất Sát, thì tính chất kim thuộc chuyển thành công cụ bén nhọn, thích hợp với những nghề nghiệp dùng công cụ bén nhọn để kiếm tiền, như quân nhân, cảnh sát, bác sĩ ngoại khoa, nha sĩ, v.v…

Vũ Khúc ở sáu cung Dần, Thân, Mão, Dậu, Tị, Hợi, là Vũ Khúc tọa nhàn cung, cổ nhân cho rằng phần nhiều là có tay nghề. Trường hợp đồng cung với sát tinh là đúng. Cách cục này lại ưa gặp Văn Xương, Văn Khúc. Ở thời hiện đại, bác sĩ sản khoa, bác sĩ ngoại khoa, nha sĩ, thầy thuốc cũng thuộc loại “có tay nghề”, chưa chắc là thợ thuyền.

Vũ Khúc đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh, thì không ưa rơi vào hai cung Tị hoặc Ngọ, cũng không ưa gặp các sao thuộc hỏa. Nếu không, cuộc đời ít nhất cũng có một lần mất chức hoặc thất nghiệp. Đến cung hạn Quan Lộc gặp lại Vũ Khúc, còn bị các sao sát, kị của đại hạn hoặc lưu niên xung khởi, là thời kì ứng nghiệm.

Vũ Khúc Hóa Khoa, chủ về tiếng tăm, cho nên bất kể làm nghề nghiệp gì cũng đều lấy việc tạo dựng tiếng tăm làm nhiệm vụ hàng đầu. Như thiết kế một kiểu đồ trang sức, hành động ngân hàng đầu tư, đều có mục tiêu tạo dựng tiếng tăm.

Vũ Khúc Hóa Kỵ, chủ về người tự kinh doanh làm ăn thường cảm thấy thiếu vốn, không thể phát triển theo lí tưởng. Vì vậy thích hợp làm nghề kĩ thuật. Gặp Vũ Khúc Hóa Kỵ thủ cung Quan Lộc của đại vận hoặc lưu niên, cũng phải cẩn thận đề phòng hiện tượng thiếu hụt tài chính trong việc phát triển sự nghiệp.

Vũ Khúc rất ngại đồng độ với Đà La, vì Đà La cũng là sao kỵ. Nhưng lúc Vũ Khúc Hóa Kỵ hoặc có Đà La đồng độ, lại thích hợp làm những nghề nghiệp có tính chất hung hiểm, mạo hiểm, như thợ lặn, tang nghi, diễn viên đóng thế, v.v… Chỉ cần có cát tinh đồng thời hội hợp thì cũng có thể phát lên rồi biến thành hanh thông.

Muốn định Vũ Khúc ở cung Quan Lộc có cách cục cao hay thấp, phải lấy có nhập miếu hay không làm tiêu chuẩn. Có cát hóa và các sao phụ, tá hay không, làm tư liệu tham khảo. Có điều, Vũ Khúc rất ưa hội Liêm Trinh Hóa Lộc, tức lúc này Vũ Khúc cũng đồng thời Hóa Khoa. Trường hợp cát hóa này sẽ giúp biến thành thượng cách.

“Vũ Khúc Thiên Phủ” ở hai cung Tí hoặc Ngọ, đối cung là Thất Sát, không có các sao sát, kị, hình, mà có sao lộc, là quan thuế. Nếu gặp thêm các sao phụ, tá, thì địa vị của người này ắt khá cao. Có điều, nếu ở tam phương gặp sát tinh, là võ nghiệp, đồng thời ở tam phương còn gặp thêm các sao phụ, tá thì lấy công trạng để khởi nghiệp.

“Vũ Khúc Thiên Phủ” có sát tinh đồng độ, thì nên theo ngành nghề khoa học kĩ thuật. Cũng lấy trường hợp có sao lộc là tốt.

“Vũ Khúc Thiên Phủ”, mà Thiên Phủ Hóa Khoa, tuy không có sao lộc, cũng thích hợp ngành kinh tế tài chính.

“Vũ Khúc Thiên Phủ” ở cung Tí tốt hơn ở cung Ngọ. Trường hợp ở cung Tí, đối cung là Thất Sát ở cung Ngọ, là tượng hỏa luyện âm kim, có thể ảnh hưởng đến tính chất của “Vũ Khúc, Thiên Phủ”, trải qua tôi luyện mà thành hữu dụng. Nếu gặp các sao phụ, tá đồng cung hay vây chiếu, thì nên xuất thân quân ngũ.

“Vũ Khúc Tham Lang” đồng độ ở hai cung Sửu hoặc Mùi, mà Tham Lang Hóa Kỵ, suốt đời không được nhàn hạ, phải bôn ba vất vả, sự nghiệp đa đoan, thậm chí là “nửa quan gia nửa thương nhân”, kiếm tiền là nhiệm vụ.

“Vũ Khúc Tham Lang”, mà Tham Lang Hóa Lộc, không có sát tinh, nhưng có các sao phụ, tá cát, có thể trở thành cự phú. Có điều, nếu tự kinh doanh làm ăn thì khó tránh bạo phát. Vì vậy chỉ cần hơi có các sao sát, hình, thì liền bạo bại. Không phải chỉ có cách cục “Hỏa Tham”, “Linh Tham” mới như vậy.

“Vũ Khúc Tham Lang” cũng có thể làm quan thuế, hoặc làm việc ở công ty kinh tế tài chính. Nhưng “Hỏa Tham”, “Linh Tham” đều chủ về tham ô, chỉ trường hợp Vũ Khúc hóa làm sao khoa mới có thể tránh vì tham mà chuốc họa.

“Vũ Khúc Tham Lang”, mà Vũ Khúc Hóa Lộc, Tham Lang Hóa Quyền, sự nghiệp cũng có liên quạn đến kinh tế tài chính, nhưng đồng thời cũng thích hợp kinh doanh theo trào lưu xã hội, ở thời hiện đại bây giờ gọi là theo trend – xu hướng.

“Vũ Khúc Tham Lang” thủ cung Quan Lộc, ưa hợp tác với người khác, cho nên sự nghiệp cũng không chỉ có một đầu mối.

“Vũ Khúc Thiên Tướng” đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân, chủ về chức văn mà làm việc võ, hoặc chức võ mà làm việc văn. Ở thời hiện đại, văn võ khó phân biệt. Đại khái là, nội vụ thuộc văn, ngoại vụ thuộc võ, kinh tế tài chính thuộc văn, khoa học kĩ thuật thuộc võ.

“Vũ Khúc Thiên Tướng” có các sao đào hoa đồng độ, lại đồng cung với Văn Khúc, là diễn viên. Nhưng không được cát hóa và có sao cát mới đúng. Nếu có sát tinh trùng trùng, sẽ chủ về gió sương cay đắng, giang hồ phiêu bạt.

“Vũ Khúc Thiên Tướng” được “Tài ấm giáp ấn”, rất thích hợp làm việc hưởng lương ở bộ môn kinh tế tài chính. Nếu thuộc loại “Hình kị giáp ấn” cũng không thích hợp tự kinh doanh làm ăn.

“Vũ Khúc Thiên Tướng” thủ cung Quan Lộc, có cát hóa, cũng chủ về hợp tác với người khác, nhưng cần phải gánh vác trách nhiệm thực tế.

“Vũ Khúc Thiên Tướng” có sát tinh hội hợp, thích hợp với khoa học kĩ thuật.

“Vũ Khúc Thất Sát” đồng độ ở hai cung Mão hoặc Dậu, có sát tinh ở tam phương, thích hợp xuất thân quân ngũ. Gặp các sao phụ, tá cát, ắt có thể vinh thân. Nếu sát tinh ở bản cung, thì chỉ chủ về khoa học kĩ thuật.

“Vũ Khúc Thất Sát” đồng cung với tứ sát và Địa Không, Địa Kiếp, bất kể gia nhập quân đội hay làm việc trong ngành sản xuất, đều chủ về sự nghiệp trắc trở.

“Vũ Khúc Thất Sát” ở cung Dậu ưa có Hỏa Tinh đồng độ, ở cung Mão thì không ưa.

  • Trường hợp ở cung Dậu là “Vũ Khúc, Thất Sát” được Hỏa Tinh tôi luyện, chủ về trải qua trắc trở mà được thành tựu.
  • Trường hợp ở cung Mão là thuộc mộc, Hỏa Tinh ngại hỏa quá vượng, rất kỵ nạp âm thuộc hỏa, nên chủ về vất vả mà không có kết quả.

“Vũ Khúc Thất Sát” có sao lộc, cũng thích hợp ngành kinh tế tài chính, mà còn giỏi buôn bán. Trường hợp được cát hóa và có sao cát là tốt, trường hợp.sát tinh nặng thì cần phải đề phòng trắc trở.

“Vũ Khúc, Thất Sát” gặp các sao sát, hình, chủ về phẫu thuật ngoại khoa, trật đả,

Vũ Khúc độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, đối nhau với Tham Lang, tính chất đại khái tương đồng với trường hợp “Vũ Khúc, Tham Lang”, nhưng do Vũ Khúc rơi vào “Thiên La Địa Võng”, nên tính tham lam hơi giảm. Nếu thành cách “Hỏa Tham”, “Linh Tham” thì sự nghiệp cũng có sắc thái hám lợi hoặc tham ô, cho nên chủ về bạo phát bạo bại. Rất ngại có Địa Không, Địa Kiếp đồng cung, chủ về cuộc đời ít nhất phải trải qua một lần trắc trở, nếu không khó thành người hữu dụng.

“Vũ Khúc Phá Quân” đồng độ ở hai cung Tị hoặc Hợi, chủ về ưa nhúng tay vào nghề nghiệp nào đó mà không suy tính đến sở trường của bản thân. Cho nên gặp sao cát thì nhiều nghề , gặp sao hung thì sự nghiệp nhiều biến động. Có Thiên Hình đồng độ thì thích hợp gia nhập quân ngũ hoặc đơn vị kỉ luật, hoặc đảm trách về trị an. Lấy trường hợp gặp các sao phụ, tá cát là nên, nếu có các sao sát, kị trùng trùng, thì cần phải đề phòng hung nguy.

“Vũ Khúc Phá Quân” ở cung Quan Lộc, có Linh Tinh, Đà La, Âm Sát, Hoa Cái, Thiên Hình đồng độ, chủ về nghề nghiệp không chính đáng hoặc nghề tay trái.

“Vũ Khúc Phá Quân” gặp sát tinh nhẹ, cũng thích hợp khởi nghiệp bằng khoa học kĩ thuật. Nếu “Vũ Khúc Phá Quân” được cát hóa, đồng thời lại gặp Liêm Trinh Hóa Lộc hay Tham Lang Hóa Lộc, cũng có thể tự kinh doanh làm ăn, tuy khá chú tâm về sinh kế, nhưng sinh hoạt rất xa hoa.

“Vũ Khúc Phá Quân”, mà Phá Quân Hóa Lộc, giỏi khai sáng mà không giỏi thủ thành, chủ ý nhiều mà không ưa vụ thực. Cho nên cần phải có Thiên Khôi, Thiên Việt hội hợp, mới có cơ hội, có Tả Phụ, Hữu Bật hội hợp, mới chủ về có nhiều trợ lực.

“Vũ Khúc Phá Quân” gặp Liêm Trinh Hóa Kỵ, thường chủ về nạn tai chảy máu, không thích hợp gia nhập quân ngũ.

Thiên Đồng thủ Cung Quan Lộc, chủ về tay trắng làm nên. Trong các tình hình thông thường, thích hợp với những nghề nghiệp có tính mĩ quan và hưởng thụ. Như hướng dẫn du lịch, làm tóc, trang trí, trang điểm và làm đẹp, nấu ăn,

  • Thiên Đồng có Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa hội chiếu. Hoặc Lộc Mã giao trì thì chủ về sự nghiệp phát triển từ nhỏ thành lớn, dần dần hanh thông, trở thành nhân tài lãnh đạo trong nghề nghiệp.
  • Thiên Đồng lạc hãm, không thích hợp kinh doanh buôn bán, chỉ thích hợp làm thuê hưởng lương. Hoặc làm công chức, làm việc trong công ty lớn.
  • Thiên Đồng nếu có Đà La, Thiên Mã hội chiếu, thì cuộc đời sự nghiệp sẽ xảy ra nhiều thay đổi. Hoặc hay thay đổi nghề nghiệp.
  • Thiên Đồng nếu có Kình Dương, Thiên Hình hội chiếu, phần lớn chủ về vì sự nghiệp mà gây ra bất hòa, tranh chấp, hoặc bị kẻ xấu cạnh tranh.
  • Thiên Đồng nếu có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ, thì chủ về sự nghiệp gặp nhiều nghịch cảnh. Nên làm thuê thì hơn, không nên tự đứng ra kinh doanh.
  • Thiên Đồng nếu gặp Địa Không, Địa Kiếp, thì nhờ tài nghệ mà tay trắng làm nên.

“Thiên Đồng Thái Âm” cùng ở Cung Quan Lộc. Chỉ nên phát triển trong cục diện đã hình thành. Vì vậy rất nên được người đề bạt, hoặc kế thừa công việc hay sự nghiệp của người khác. Cũng có thể suy tính việc tiếp tục công cuộc làm ăn kinh doanh của người nào đó. Nhưng cần phải có Lộc Tồn, Thiên Mã hội chiếu mới có thể làm ăn kinh doanh. Nếu có Văn Xương, Văn Khúc hội hợp, thì nên theo đuổi sự nghiệp văn nghệ. Không có Văn Xương, Văn Khúc cũng có thể làm công chức.

“Thiên Đồng Cự Môn” cùng thủ Cung Quan Lộc, dù gặp cát tinh, cũng phải trải qua gian khổ, phấn đấu mới thành công. Nếu không có cát tinh, ở tam phương tứ chính gặp sát tinh, thì chủ về làm việc thiếu nghị lực, không kiên nhẫn, dẫn đến sự nghiệp giữa đường bị phế.

“Thiên Đồng Thiên Lương” cùng thủ Cung Quan Lộc. Bất kể kinh doanh buôn bán hay làm việc trong chính giới, đều chủ về nên làm người vạch kế sách.

Nhưng gặp cát tính, lại có Kình Dương, Thiên Hình hội hợp, thì có thể đảm nhiệm công tác vệ sinh phòng dịch, trị liệu hoặc nhân viên hải quan, nhân viên bưu cục.

Liêm Trinh thủ Cung Quan Lộc, nhập miếu, thông thường đều nên theo võ nghiệp, Liêm Trinh Hóa Kỵ thì càng đúng. Nếu làm những nghề nghiệp khác, thì sẽ gặp nhiều trở ngại hoặc biến động thay đổi rất lớn. Có Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phụ, Hữu Bật vây chiếu hoặc đồng độ, gia thêm Tử Vi hội chiếu, thì từ văn chức mà nắm quyền của võ chức.

Liêm Trinh nếu có Vũ Khúc, Văn Xương, Văn Khúc hội hợp. Đều thích hợp làm việc trong chính giới, gia nhập quân đội. Hoặc các công việc giám sát về kỉ luật, chủ về chức văn mà làm việc võ. Hoặc chức võ mà làm việc văn, là nhân tài kiêm văn võ.

  • Nếu kinh doanh buôn bán, thì nên xem kĩ các sao hội chiếu để định nghề nghiệp hoặc hướng kinh doanh.
  • Có Thất Sát hội chiếu, gặp Thiên Trù, có thể theo ngành ẩm thực, thực phẩm.
  • Có Thiên Phủ hội chiếu, có thể theo ngành tiền tệ, ngân hàng.
  • Có Thiên Tướng hội chiếu, là nhân tài thương nghiệp chuyên vạch kế sách, hoặc nhân tài kế hoạch kinh tế.
  • Có Văn Xương, Văn Khúc đồng độ, thì thích hợp theo đuổi sự nghiệp nghệ thuật.

“Liêm Trinh Thiên Tướng” thủ Cung Quan Lộc. Gặp cát tinh thì thích hợp gia nhập quân đội hay cảnh sát, công tác hải quan. Làm việc trong chính giới cũng sẽ chức văn mà làm việc võ. Gặp các sao ác, sát, hình, kỵ, hao hội hợp, thì có nguy cơ bị bãi chức hoặc thất nghiệp, vỡ nợ, sập tiệm. Gặp sát tinh nhẹ thì thích hợp kinh doanh buôn bán, theo ngành công nghiệp, có thể dựa vào kĩ thuật mà khởi nghiệp.

“Liêm Trinh Phá Quân” cùng thủ Cung Quan Lộc, kết cấu này khá xấu. Nếu theo ngành kinh doanh buôn bán, hoặc công nghiệp, đều chủ về cuộc đời ít nhất cũng có một lần thất bại hay gặp trắc trở. Vì vậy cần xem xét kĩ đại hạn và lưu niên để ứng phó một cách thiết thực. Nếu làm việc trong chính giới, thì đảm nhiệm về văn thư. gặp cát tinh, cũng có thể nhờ sự kinh lịch mà lên chức, thăng tiến. Gặp sát tinh thì ở mãi một chỗ. Nếu kinh doanh buôn bán, cũng nên lấy ẩm thực làm nghề nghiệp. Hoặc làm những nghề có tính nguy hiểm, cũng có thể gia nhập quân đội hay cảnh sát, làm công tác bảo an, hải quan.

“Liêm Trinh Tham Lang” cùng thủ Cung Quan Lộc, rất nên làm những nghề nghiệp nhiều giao tế thù tạc. Hoặc có tính tiêu dùng, có tính vui chơi giải trí, nghệ thuật. Gặp Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Tài hội hợp, thì thích hợp làm công tác văn nghệ. Nếu gặp Hàm Trì, Thiên Diêu, Hồng Loan, Thiên Hỉ, thì nên theo ngành nghệ thuật biểu diễn. Gặp Thiên Mã thì thích hợp làm nghề hướng dẫn du lịch.

Thiên Phủ thủ Cung Quan Lộc, nhập miếu, được cát tinh vây chiếu, chủ về sự nghiệp phát triển, có thành tựu. Nếu ở hãm địa, hội Văn Xương, Văn Khúc, cổ nhân cho rằng bất quá chỉ là viên thư lại. Tức người trông coi về văn thư của huyện phủ.

Nếu Thiên Phủ ở Cung Quan Lộc, gặp Lộc Tồn, Thiên Mã, chủ về có thể làm ăn kinh doanh mà trở nên giàu có. Nhưng không nên sáng lập sự nghiệp mới, chỉ nên tiệm tiến từ cục diện đã có.

Thiên Phủ Hóa Khoa, thích hợp làm việc trong ngành tiền tệ, tài chính, ngân hàng, hoặc tự kinh doanh. Ít nhất cũng một mình đảm trách công việc, nhưng không nên đầu cơ.

Thiên Phủ gặp sát tinh, thích hợp theo ngành công nghiệp. Có Địa Không, Địa Kiếp đồng độ, trái lại sẽ chủ về có nghị lực kinh người trong việc phát triển sự nghiệp trong giới công nghiệp.

Thiên Phủ có hai thượng cách giàu có trong sự nghiệp như sau:

  • Một là “Thiên Phủ, Vũ Khúc” ở cung Ngọ, tương hội với “Tử Vi Thiên Tướng” ở cung Tuất hay ở cung Dần được Lộc Tồn. Không có các sao sát, kỵ, gặp cát tinh phù trợ, chủ về đại quý. Thích hợp làm việc trong chính giới.
  • Hai là Thiên Phủ ở cung Sửu, có Lộc Tồn ở cung Dậu đến hội hợp, không có sát tinh, gặp cát tinh, cũng chủ về đại quý.

Thái Âm thủ Cung Quan Lộc, tính chất biến hóa đa đoan, cần phải xem xét kĩ các sao hội hợp để định đoán. Nếu nhập cách “Cơ Nguyệt Đồng Lương” thì không thích hợp kinh doanh, mà thích hợp làm việc trong chính giới hoặc công ty lớn. Rất nên làm việc ở những cơ cấu có tính phục vụ công cộng. Gặp Hóa Lộc, Lộc Tồn, Thiên Mã, tuy có thể làm ăn kinh doanh, nhưng phải tổ chức thành công ty trách nhiệm hữu hạn, không nên một mình bỏ vốn ra kinh doanh.

Cách “Cơ Nguyệt Đồng Lương” gặp tam cát hóa cùng chiếu, không có sát tinh. Thì thích hợp đảm nhiệm chức vụ nắm giữ quân quyền. Nếu có thêm các sao phụ tá hội chiếu, thì chủ về là người của chính giới lẫn quân đội.

Nếu Thái Âm có Thiên Lương tương hội, gặp Đại Hao, Thiên Vu, Kiếp Sát, thích hợp làm trong ngành thuế vụ.

Thái Âm có Thiên Đồng hoặc Thiên Cơ đồng độ, đều thích hợp làm những nghề không có cơ sở căn bản cố định, nếu không sự nghiệp sẽ nhiều biến động.

Thái Âm có hai cách cục thích hợp với ngành công nghiệp:

  • Một là, có Thiên Cơ đồng độ, được Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa hội chiếu.
  • Hai là, có Địa Không, Địa Kiếp đồng độ.

Trường hợp trước phát triển thuận lợi, trường hợp sau thì gặp nhiều biến động. Nhưng đều thích hợp theo ngành phát minh khoa học kĩ thuật. Hoặc dựa vào nghề chuyên môn để khởi nghiệp.

Thái Âm có Văn Xương, Văn Khúc, Long Trì, Phượng Các, Thiên Tài đồng độ hoặc hội chiếu, là thiên tài nghệ thuật. Có thể phát triển nghề nghiệp ở lãnh vực nghệ thuật. Nếu gặp thêm Hồng Loan, Thiên Hỉ, Hàm Trì, Thiên Diêu, thì thích hợp theo ngành nghề có tính giải trí, vui chơi hoặc chủ về thành danh trong giới nghệ thuật biểu diễn.

Sao Tham Lang ở cung Quan Lộc, chủ về nghề nghiệp có khuynh hướng tiêu dùng, giao tiếp, hoặc nhờ xã giao mà thành sự nghiệp. Tham Lang Hóa Lộc hay Hóa Quyền, tính chất này càng nặng, cho nên rất thích hợp về ngoại vụ.

Tham Lang có Văn Xương, Văn Khúc đồng độ, nghề nghiệp rất thích hợp lãnh vực giải trí, vui chơi, quảng bá.

Tham Lang cũng có tính chất nghệ thuật, nhưng Liêm Trinh là “tĩnh”, còn Tham Lang là “động”, hai tính chất cơ bản khác nhau. Ớ thời hiện đại, Tham Lang cũng chủ về vận động, hoặc vận động có tính nhịp điệu (như múa ba lê). Cho nên nếu Tham Lang Hóa Quyền, gặp sát tinh nhưng không nhiều, thường chủ về vận động viên (có tính cạnh tranh ở sân vận động).

Tham Lang có cát hóa, và sao cát hội hợp, lại gặp thêm các sao cát như Tam Thai, Bát Tọa, Đài Phụ, Phong Cáo, Thiên Quan, Thiên Phúc, Ân Quang, Thiên Quý, cũng có thể làm việc trong chính giới, còn là nhân vật điều hòa các phe phái (hay làm việc trong các công ty lớn, tập đoàn lớn cũng vậy).

Thành cách “Hỏa Tham”, “Linh Tham” ở bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, là chủ về nắm giữ binh quyền, hoặc làm việc trong các cơ cấu “hình pháp, kỉ luật”.

Tham Lang có Tả Phụ, Hữu Bật đồng độ, sẽ chủ về có nhiều người dưới quyền, cho nên sự nghiệp kinh doanh ắt có khí quý phái.

Tham Lang cũng là sao ẩm thực (Liêm Trinh chủ về máu, còn Tham Lang chủ về thịt), không Hóa Kị, càng chủ về ẩm thực có phẩm vị, gặp Hỏa Tinh, Thiên Phủ, có thể làm việc trong ngành ẩm thực.

Tham Lang Hóa Kỵ ở cung quan lộc, chủ về hễ nhúng tay vào sự nghiệp ắt sẽ gây ra tranh chấp, có sát tinh đồng độ thì càng nặng, có Địa Không, Địa Kiếp đồng cung sẽ chủ về vì tranh chấp mà sự nghiệp gặp trắc trở.

Nếu Tham Lang Hóa Kỵ, có sao cát hội hợp, thì lí tưởng sự nghiệp tuy không thể đạt tớimục đích, nhưng lại có khoảng không gian riêng để sáng tạo.

Nếu gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, và sao phụ, tá cát, thì thích hợp làm việc trong chính giới. Có điều, nếu có Kình Dương, Đà La hội chiếu, hoặc Kình Dương đồng độ, thì dễ tham ô.

Tham Lang ở hai cung Tí hoặc Ngọ, có Thiên Hình đồng độ, cũng chủ về “hình pháp”, hoặc làm đạo diễn, biên đạo trong nghệ thuật biểu diễn (người biểu diễn phải hoàn toàn tuân theo kịch bản, cho nên cũng có ý vị kỉ luật, nguyên tắc).

Tham Lang ở hai cung Dần hoặc Thân, đối nhau với Liêm Trinh, rất kỵ Đà La đồng độ, gặp sát tinh (Hỏa Tinh, Linh Tinh cũng vậy), chủ về là tham ô, do đó gặp họa. Có điều, nếu là thương nhân hám lợi, tuy có nguy cơ thất bại, nhưng lại không bị tai họa “hình pháp”.

Tham Lang ở hai cung Dần hoặc Thân, thích hợp những nghề nghiệp có tính khai sáng. Hoặc làm một nghề nghiệp nào, lại có thể mở ra một hướng khác, có tác phong kinh doanh rất đặc biệt, do đó dễ đi đến thành công.

Tham Lang ở hai cung Dần hoặc Thân, thủ cung quan lộc, có khuynh hướng hợp tác với người khác, nhưng phần nhiều giữa chừng lại thay đổi.

Tham Lang ở hai cung Thìn hoặc Tuất, đồng cung với Vũ Khúc, cần phải Vũ Khúc Hóa Lộc, Tham Lang Hóa Quyền, ở tam phương tứ chính không có Kình Đương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp (có Thiên Hình thì không sao), hoặc có Hỏạ Tinh, Linh Tinh hội chiếu, mới chủ về làm nhân vật cao cấp trong quân đội hay cảnh sát, có thể một mình đảm trách công việc, chấp chưởng đại quyền. Nếu không có cát hóa, nhưng có sao cát, cũng có thể làm việc trong chính giới, là quan thuế (nhất là khuynh hướng thuế vụ).

Nếu có sát tinh đồng độ, thì thích hợp tự kinh doanh buôn bán, sự nghiệp sẽ phát triển theo nhiều phương hướng, không chỉ một mối. Nếu đối cung là Vũ Khúc Hóa Kỵ, kinh doanh buôn bán sẽ xoay chuyển tiền bạc khó khăn, cũng không thích hợp gia nhập quân đội hay cảnh sát.

Cự Môn thủ Cung Quan Lộc, nhập miếu, chủ về tay trắng sáng lập sự nghiệp. Rất thích hợp dùng kĩ năng chuyên môn hoặc tri thức chuyên môn làm cho gia vận hưng thịnh. Như làm việc trong các ngành nghề y khoa, pháp luật, nghệ thuật

biểu diễn, ngoại giao, quan hệ công cộng, quảng bá. Gặp Thiên Cơ, thì chủ về chuyên viên máy tính, kế toán. Gặp Văn Xương, Văn Khúc, có thể theo ngành nghệ thuật, hoặc khoa thuật số.

Cự Môn thủ Cung Quan Lộc, nếu các sao sát, kỵ mà nặng, lại gặp Thiên Mã, là khách giang hồ phiêu bạt. Nếu gặp văn tinh, thì cũng nghèo nàn, là văn nhân thất chí.

Thiên Tướng thủ Cung Quan Lộc, ưa hội chiếu với Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Lộc Tồn, và các sao phụ tá. Chủ về là nhân vật trọng yếu trong chính giới, hay nhân vật lớn trong giới công thương nghiệp.

Thiên Tướng có Tử Vi hội chiếu, nên lập thân trong chính giới.

Thiên Tướng có các sao cát hội chiếu, mà không có sát tinh. Chủ về lập thân trong chính giới cũng tốt, nhưng không nên mưu tính giành vị trí tối cao. Nếu không sẽ thành bia cho người ta nhắm, lúc đến niên hạn có vận trình không tốt sẽ dễ ngã ngựa.

Thiên Tướng có Vũ Khúc hoặc Liêm Trinh đồng độ, thích hợp gia nhập quân đội hay cảnh sát, hải quan, cũng có thể theo ngành công nghiệp.

Thiên Tướng nếu có “Vũ Khúc, Phá Ouân” vây chiếu. Chủ về sự nghiệp lên xuống vô thường, không thích hợp làm việc trong chính giới, có thể dựa vào nghề chuyên môn để phát triển. Gặp Long Trì, Phượng Các, Thiên Tài thì càng có lợi.

Thiên Tướng có tứ sát tinh hội chiếu, chủ về sự nghiệp gặp nhiều tình huống rối bời, dù đang ở trong thuận cảnh cũng có lúc lúc bị trở ngại. Nếu gặp thêm các sao hình, kỵ, hao, chủ về làm việc trong chính giới sẽ có nguy cơ bị bãi chức. Trong thương trường thì bị phá tán, thất bại, hoặc thậm chí ngừng kinh doanh, vỡ nợ, sập tiệm.

Thiên Lương thủ Cung Quan Lộc, trường hợp độc tọa ở cung Ngọ là cách cục lớn nhất. Không gặp các sao sát, kỵ, được Thiên Khôi, Thiên Việt, Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Lộc Tồn vây chiếu hoặc đồng độ. Chủ về theo ngành kinh doanh buôn bán hay làm việc trong chính giới đều là nhân vật lãnh đạo.

Thiên Lương hội Lộc Tồn, Thiên Mã, đại lợi làm ăn kinh doanh, chủ về được người ngoại quốc (hoặc người ở nơi khác) tín nhiệm.

Thiên Lương thủ Cung Quan Lộc, thông thường nên đảm nhiệm các chức vị giám sát. Cũng có thể làm chuyên viên về máy tính, kiểm toán, thiết kế, v.v… Nếu có Thiên Đồng hội chiếu, là nhân tài tham mưu, cố vấn hoặc làm công tác kế hoạch.

Thiên Lương thủ Cung Quan Lộc, gặp các sao sát, hình, có thể theo ngành y. Nếu gặp nhiều sát tinh, lại gặp thêm Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Đại Hao, thì nên làm những công việc có tính nguy hiểm. Nếu không dễ sinh tai họa, hoặc phạm pháp mà dẫn đến phá tán hao tài.

Thiên Lương ở cung Tị, phần nhiều làm những nghề nghiệp đặc biệt.

Thất Sát thủ Cung Quan Lộc, thích hợp theo ngành công nghiệp. Nên lấy sức người làm nguồn vốn là chính, tuyệt đối không nên đầu cơ. Bởi vì Thất Sát ở Cung Quan Lộc, cuộc đời ắt sẽ có một lần bị trắc trở nghiêm trọng, nếu đầu cơ thì khó dựng lại cục diện mới.

Thất Sát có Vũ Khúc hoặc Liêm Trinh đồng độ, có Tả Phụ, Hữu Bật, Thiêrt Khôi, Thiên Việt, Tam Thai, Bát Toạ, Thiên Vu, Thiên Phúc hội hợp. Chủ về quyền uy xuất chúng, theo võ nghiệp có thể vinh thân. Nếu theo ngành công nghiệp cũng chủ về danh tiếng có thể truyền ra nước ngoài.

Thất Sát không sợ tứ sát tinh. Nếu có tứ sát tinh đồng độ hoặc hội chiếu, thì chủ về lập nghiệp trong gian khổ, nhưng cuộc đời gặp nhiều thị phi, sóng gió.

Thất Sát có Địa Không, Địa Kiếp đồng độ, thích hợp lập thân bằng kĩ thuật, công nghệ. Nếu không sẽ bị phá tán, thất bại.

Phàm Thất Sát thủ Cung Quan Lộc, bất kể gặp cát tinh hay gặp sát tinh, đều không nên theo ngành văn hóa giáo dục. Vì mệnh tạo giỏi quản lý người dưới quyền, chỉ thích hợp hoạt động trong quân đội hay cảnh sát, hoặc lãnh đạo công xưởng.

Phá Quân nhập miếu thủ Cung Quan Lộc, thích hợp làm công việc quản lý hoặc kinh doanh công xưởng, hoặc theo võ nghiệp.

Phá Quân nếu có Lộc, Quyền, Khoa hội hợp, là người có quyền uy trong võ nghiệp. Cổ nhân gọi là “Uy trấn Hoa Di”.

Phá Quân thủ Cung Quan Lộc, không thích hợp kinh doanh, nếu không ắt sẽ gặp sóng gió, trắc trở. Dù có cát tinh hội hợp, cũng lúc thành lúc bại, lên xuống vô thường. Có điều, nếu Phá Quân Hóa Lộc, hoặc có Lộc Tồn đồng độ, thì chủ về có tính cương nghị hơn người, một lần thất bại là một lần đứng lên. Có cát tinh hội chiếu thì cuối cùng cũng thành tựu. Nếu không có cát tinh, thì áp lực rất nặng, lại gặp Địa Không, Địa Kiếp, thì trong cuộc đời ắt sẽ có một lần vỡ nợ, sập tiệm hoặc phá sản. Nếu theo ngành công nghiệp, có thể dựa vào sản phẩm mới hoán chuyển nguy cơ.

Phá Quân thủ Cung Quan Lộc, tuyệt đối không được đầu cơ, nếu không ắt sẽ thất bại.

Phá Ouân cũng thích hợp ngành giao thông vận tải, gặp Lộc Tồn, Thiên Mã thì càng tốt.

Hai sao nhập Miếu, có danh tiếng địa vị, gặp Thái Dương, Thái Âm đồng cung hội chiếu thì chủ quyền quý, chức vị cấp tỉnh bộ. Gặp nhiều sao tốt như Tử Vi, Thiên Phủ, Vũ Khúc, Hóa Khoa, Tả Phù Hữu Bật thì là người tài năng văn võ, phú quý bất phàm. Hai sao này cùng với cát tinh đồng thủ thì tăng may mắn tốt đẹp, kỵ gặp Phá Quân. Nếu Hãm địa thì không đẹp, thích hợp phát triển ở các phương diện văn hóa, học thuật, nghệ thuật, tôn giáo, chiêm bốc.

Có tài năng quản lý ưu việt, làm việc ổn định chắc chắn, công việc thuận lợi, có thể được đại chúng cổ vũ. Kinh Doanh hoặc làm công chức đều tốt, nếu được cát tinh đồng cung càng tốt, có các sao tốt Tử Vi Thiên Phủ củng chiếu thì văn võ đều giỏi, Tài Quan đều đẹp. Đồng cung với Thiên Đồng, Văn Xương thì là kỳ cách văn chương, nổi danh thiên hạ. Gia Tứ Sát thì thành bại bất nhất, nếu gặp Không Kiếp thì chủ bị giáng chức.

Trong công việc luôn gặp quý nhân, đặc biệt nhận được sự giúp đỡ của cấp trên, bậc tôn trưởng. Gặp khó khăn gì cũng từ hung thành cát. Nếu được nhiều cát tinh thủ chiếu thì chủ quý. Gia Tứ Sát thì thành bại thăng trầm, gia Không Kiếp Hình Kỵ là người bình thường.

Là điềm đại cát, trong công việc có thể nhận được sự trợ giúp về vật chất, là người giỏi quản lý, sử dụng tiền bạc, không thích hoang phí, dễ tích lũy tiền bạc, công việc phát triển thuận lợi. Có thể đảm nhận chức vị cao, hoặc kinh doanh xí nghiệp quy mô lớn. Lộc Tồn độc thủ, thường làm trong bộ Tài chính, Ngân hàng, hoặc làm các công việc quản lý tài chính, là quan chức về tài phú. Lộc Tồn nếu được nhiều cát tinh miếu vượng thủ chiếu thì tất là bậc tài năng văn võ, lương đống quốc gia, Tài Quan đều đẹp. Gia Hỏa Linh Không Kiếp thì thăng trầm, tốt xấu bất nhất, đặc biệt kỵ gặp Không Kiếp.

Điềm hung, một đời sự nghiệp nhiều trắc trở, hay thay đổi, không thuận lợi. Thường gặp phiền phức, dễ đối lập với cấp trên, gây phản cảm với đồng nghiệp, người dưới mà bị ép từ chức hoặc mất việc, hoặc thu nhập thấp. Nhập Miếu thì lợi cho Võ chức hoặc kinh doanh, cũng có thể làm những ngành có tính thay đổi, nguy hiểm hoặc tiêu hao thể lực, không lợi cho các công việc Văn chức. Nếu được nhiều cát tinh thủ chiếu thì chủ có quyền quý.

Hai sao trên hãm địa thì bôn ba vất vả qua ngày. Trong sự nghiệp thường gặp tổn hại, sự cố, làm công việc bình thường, địa vị không cao, chuyển chức, không ổn định, thu nhập ít, môi trường làm việc khắc nghiệt, một đời làm nhiều mà thành ít, hãm địa gia cát tinh thì chỉ có hư danh, khó có thể phát triển mạnh. Gia Hỏa Linh Không Kiếp chủ người bình thường, nghèo khó.

Điềm không tốt, công việc làm nhiều thành ít, bị đối xử bạc bẽo, môi trường khắc nghiệt, tuy rằng có công việc nhưng khó dài lâu.

Hai sao này nhập miếu thì tuổi trẻ thành bại thất thường, tuổi già công việc toại ý. Hội Tử Vi, Tham lang miếu vượng thì chủ cát lợi. Nhập miếu hội nhiều cát tinh thủ chiếu thì chủ quyền quý hiển hách.

Hai sao này Hãm địa thì cả đời địa vị thấp kém, sự nghiệp không ổn định, hay bị chuyển chức, khó được dùng đúng chỗ, thường không hài lòng với công việc hiện tại. Gặp Dương Đà Không Kiếp thì một đời khốn đốn, khó khăn, nhiều phong ba.

Điềm hung về sự nghiệp hư không, một đời công việc không ổn định. Thường thay đổi công việc, việc làm chẳng có ít nhiều lợi ích gì đáng nói, thường gặp trở ngại hoặc thất bại, khó có thể thành đại sự đại nghiệp. Mệnh có cát tinh mà gặp Không Kiếp dù có phú quý nhất thời cũng nhất định có thất bại tương đối lớn. Hoặc là tiền tài bị phá tán, hoặc là đắc tội với cấp trên mà bị trách phạt, hoặc học nhằm cái không dùng được nên khó phát huy. Xấu nhất là 2 sao này đồng cung tại Cung Quan Lộc hoặc cùng tại tam phương của cung mệnh. Nếu chỉ gặp 1 trong 2 sao mà trong cung có chính tinh Miếu Vượng thì độ hung tương đối nhỏ.

  • Cung Quan Lộc còn chủ về năng lực học tập, trường hợp có Hóa Khoa, là chủ về mệnh tạo rất có hứng thú đối với học vấn và kiến thức, có tinh thần tự tìm hiểu, nghiên cứu một cách bền bỉ. Mà mục đích tìm hiểu, nghiên cứu không phải là vì muốn nâng cao địa vị, phần nhiều xuất phát từ niềm hứng thú của bản thân. Hóa Khoa còn có tác dụng “bền bỉ”, “lâu dài”, làm cho việc học không phải lúc nóng lúc nguội.
  • Bổ túc ý (1) và (3), do mệnh tạo là người có thực lực, lúc làm việc có nhòm trước ngó sau. Nên trong tình huống Hóa Lộc và Hóa Kỵ ở vị trí thích đáng, thường thường với cách làm việc bằng thái độ nghiêm túc, mệnh tạo có thể nhờ học vấn và năng lực hơn người của mình mà có thanh danh hiển hách.
  • Cung Quan Lộc còn là nơi dùng để xem khí tiết của mỗi người. Trường hợp Hóa Khoa ở Cung Quan Lộc, thông thường là mẫu người quang minh lỗi lạc, không phải tầm thường. Bất luận trong môi trường làm việc hay lúc còn đi học. Thậm chí trong cuộc sống thường ngày, mệnh tạo cũng đều sinh hoạt rất có quy luật, có quy củ, cho nên thường được mọi người xem là mẫu mực.
  • Cung Quan Lộc còn là cung vị chủ về tâm lý ở tầng thâm sâu, trường hợp có Hóa Khoa, là chủ về nội tâm của mệnh tạo có sức mạnh ổn định, bên ngoài dù sóng to gió lớn cũng rất khó dao động. Lại vì Hóa Khoa chủ về ngăn nắp, có lớp lang, ổn định, cho nên phần nhiều là người có tâm tính bình hòa, biết tiến thoái, không thích gây sự với ai, là người rất biết “minh triết bảo thân”.
  • Cũng do các tính chất đã thuật ở trên. Người có Hóa Khoa ở Cung Quan Lộc, nếu không có các tình huống tự hóa hay tứ hóa khác. Về bản chất, họ thiếu tính thích ra oai, phách lối và không có tâm lý “kẻ cả”, cũng ít khi có thái độ ra lệnh (trừ phi cung mệnh thấy Hóa Quyền). Thông thường cũng thiếu tinh thần toan tính cho tương lai, sáng lập cơ nghiệp, chỉ trong tình huống cung tài bạch và Cung Quan Lộc phi hóa lẫn nhau, mới làm thay đổi các tính chất này.
  • Lực tác động của Hóa Khoa còn bao gồm “làm giảm nhẹ”, “làm hòa hoãn”, “làm bớt căng thẳng”, “cải thiện”. Còn chủ về quý nhân và hóa giải tai ách. Nên trong môi trường làm việc họ tạo được sự đồng tình của cấp trên, chưa nói đến hành vi ổn định, vững vàng của họ thường thường đã có ý “minh triết bảo thân”, có tác dụng “phù hộ” trong môi trường làm việc. Thêm vào đó, mệnh tạo có lúc thiếu tinh thần toan tính cho tương lai, nên nếu làm việc trong một cơ cấu dạng lớn là rất thích hợp (trời sập xuống cũng khó làm tổn thương mệnh tạo).
  • Cung Quan Lộc là cung vị khí số của sinh mệnh, thấy Hóa Khoa ở đó, là tác dụng bảo vệ của mệnh bàn trên cung vị khí số của sinh mệnh. Vì vậy mệnh tạo thường thường có sức sống và sức mạnh tinh thần rất ngoan cường. Hơn nữa, vì Hóa Khoa là lực tác động phù hộ sinh mệnh, nên cuộc đời mệnh tạo ít khi gặp nguy cơ tức thời, dù gặp nguy hiểm, thường thường cũng có thể chuyển nguy thành an.
  • Vì Hóa Khoa ở Cung Quan Lộc, là cung tam hợp của cung mệnh, là chủ về có năng lực, còn rất được sự đồng tình của hoàn cảnh bên ngoài. Nhất là trong đánh giá về năng lực chuyên nghiệp của mệnh tạo. Xét ở góc độ này, mệnh tạo cũng rất thích được người ta khen ngợi và khẳng định. Vì tác dụng của Hóa Khoa có thiên hướng lâu dài, nên khi được “gãi đúng chỗ ngứa”, đối với họ, có thể nói sẽ khiến họ vui rất lâu.

Lúc xem Cung Quan Lộc là cung vị thiên di của Cung Phu Thê, là cái nhìn về tương lai của người phối ngẫu, trường hợp Cung Quan Lộc có Hóa Khoa là người phối ngẫu có tính toán quy hoạch tiền đồ bằng lý tính.

Hóa Quyền là hành vi, lực hành động, lúc lực hành động nằm trong tay mệnh tạo, hơn nữa còn lấy Cung Quan Lộc làm trọng tâm. Nên mệnh tạo sẽ rất nỗ lực vì muốn nâng cao bản thân, mệnh tạo cũng tin vào năng lực của mình, rất kì vọng vào bản thân. Nếu sống lâu với người này bạn sẽ phát hiện họ là người có thực lực.

  • Cung Quan Lộc dùng để xem về năng lực cao hay thấp. Còn có thể dùng để xem người này tốt hay xấu. Vì Hóa Quyền có tính định hướng, nên có tác dụng tiết chế. Hóa Quyền ở Cung Quan Lộc. Tuy nội tâm có tính vội vàng, trong lòng hay lo lắng, không yên, nhưng người dạng này phần nhiều đều sống theo nguyên tắc, tuân thủ quy củ.
  • Trường hợp Hóa Quyền ở Cung Quan Lộc, người này còn có tính ép buộc, tính cầu toàn. Hơn nữa, Hóa Quyền có năng lực tiết chế, nên người này có thể làm đến chức vụ cao trong công ty lớn. Phần nhiều sẽ vì tính cầu toàn mà làm việc vất vả, là đại biểu cho mẫu bạo gan, làm việc quá sức. Cũng nhờ vậy mà phần nhiều họ là người ở cấp chủ quản trung hoặc cao.
  • Tiếp theo trên, nếu có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng cung với sao Hóa Quyền, sẽ khiến cho tính định hướng của Hóa Quyền bị ảnh hưởng, mất đi năng lực tiết chế, sẽ khiến cho người ta cảm thấy họ thích ra oai, phách lối và đầy toan tính, nhưng đồng thời cũng nhờ đó mà họ có thể tự sáng lập cơ nghiệp .
  • Tiếp theo trên, Cung Quan Lộc còn tượng trưng cho trạng thái tâm lý lúc giải quyết sự việc, đối mặt với vấn đề. Trường hợp Cung Quan Lộc có sao Hóa Quyền đồng cung với Hỏa Tinh, Linh Tinh thì mệnh tạo có tính hấp tấp, dễ bị kích động, dùng thủ đoạn để xử lý sự việc. Nhất là trường hợp tổ hợp sao ở cung điền trạch không tốt, tâm tình đột nhiên thay đổi kiểu này sẽ làm cho người ta khó mà chịu nổi.
  • Trường hợp Hóa Quyền ở Cung Quan Lộc. Nếu Hóa Lộc và Hóa Kỵ , chủ về sau khi kết hôn mệnh tạo và đối tượng hôn phối dễ xảy ra hiện tượng “dịch động”. Cung Quan Lộc là cung vị thiên di của người phối ngẫu, tượng trưng cho viễn cảnh mà người phối ngẫu có thể thấy được. Trường hợp có Hóa Quyền, thì người phối ngẫu sẽ vì cuộc sống hôn nhân mà tìm ra hướng đế nỗ lực, đối mặt với mục tiêu của đời người.

    Hóa Lộc ở Cung Quan Lộc, vì Hóa Lộc có hàm ý là “nhiều” đương nhiên trong lòng cũng muốn nâng cao và đa dạng hóa năng lực của mình, mà mục tiêu họ muốn nỗ lực theo đuổi cũng nhiều.

    • Cung Quan Lộc đã là đại biểu cho lãnh vực tinh thần. Lúc Sao Hóa Lộc ở Cung Quan Lộc tượng trưng về tình cảm, là chủ về nội tâm của người này không thích cô đơn tịch mịch. Về cách suy nghĩ cũng không phải là quá ư cứng ngắc, không biết tùy cơ ứng biến, cách đối nhân xử thế đương nhiên là có tình người.
    • Cung Quan Lộc cũng tượng trưng cho phương thức giải quyết sự tình, cách đối mặt với vấn đề của một người. Trường hợp Hóa Lộc ở Cung Quan Lộc, thì bản tính không tệ, sẽ không dùng thủ đoạn quá khích để đối phó người khác, mà ít nhiều đều xét đến mặt tình cảm.
    • Hóa Lộc ở Cung Quan Lộc là chủ về rất hứng thú học tập, hiểu biết rộng. Họ xem học tập hay biết một thứ gì đó mới cũng là một kiếu hưởng thụ.
    • Nhưng nếu Hóa Kỵ ở “ngã cung”. Là chủ về mệnh tạo có lý tưởng, còn có tinh thần trách nhiệm và biết được hướng nỗ lực. Trong tình hình như vậy, Hóa Kỵ ở Cung Quan Lộc, là sẽ vì lý tưởng mà chuyên tâm trì chí, làm việc khắc khổ. Bất kể trong học vấn hay công việc, thường thấy họ bỏ ra rất nhiều thời gian, tinh thần vào việc bồi đắp bản thân, nâng địa vị lên. Có khuynh hướng làm việc điên cuồng.
    • Trường hợp Hóa Lộc ở “ngã cung”, về phương diện năng lực tinh thần vẫn bị tình trạng thái quá hay bất cập, dễ có tính cưỡng ép, bắt buộc. Trường hợp Hóa Lộc , hoặc Cung Quan Lộc của đại vận tự Hóa Kỵ, là ý tượng: sức sống bị đình đốn, dễ gặp nguy hiểm về sinh mệnh.

      Cung Quan Lộc chủ về lĩnh vực tinh thần mà mệnh tạo có thể ý thức được. Hóa Kỵ ở Cung Quan Lộc cũng giống như một cái hố không có đáy. Trong lĩnh vực tinh thần, học thuật, sẽ khiến cho mệnh tạo luôn cảm thấy không đủ. Cũng vì ảnh hưởng về tinh thần, nên bất kể Hóa Lộc [năm sinh] ở “ngã cung” hay “tha cung”, đều sẽ khiến mệnh tạo cảm thấy thiếu tự tin, sẽ bỏ ra rất nhiều thời gian để không ngừng bồi đắp bản thân. Ngoại trừ tình trạng thiếu lòng tự tin, đương sự còn dễ có cảm giác bất lợi, trở ngại. Thường thường người ngoài nhìn thì thấy đương sự đã làm rất khá, nhưng bản thân mệnh tạo vẫn cho rằng còn quá tệ.

      Tiếp theo trên, vì vấn đề tâm lý đã thuật ở trên, mệnh tạo sẽ luôn lo lắng không biết sự tình có được xử lý tốt hay không. Tuy hướng chính đã được xác định, nhưng mệnh tạo vẫn cứ chú trọng những chuyện lặt vặt, cũng hay kiểm tra tới kiểm tra lui các tiểu tiết. Có lúc làm cho những người chung quanh không cách nào chịu nổi.

      Tổng hợp những điều đã thuật ở trên, mệnh tạo là người không chủ động tranh thủ, bất kể đó là tiền bạc, chức vị, thậm chí là tình yêu. Luôn có tâm lý cho rằng chuyện tốt sẽ không đến với mình.

      Nếu Hóa Lộc ở “tha cung”, là chủ về khả năng làm việc có hiệu quả kém, dễ bị tình trạng tìm không ra mục tiêu ở viễn cảnh tương lai. Ngoài ra, Cung Quan Lộc còn là cung vị biểu hiện của cung tài bạch, là chủ về mệnh tạo thiếu sức bật trong công việc, sự nghiệp. Vì cảm giác thiếu an toàn, nên thường thấy mệnh tạo sẽ tử thủ ở cương vị của mình. Tuy về cá tính, mẫu người này rất thích hợp làm công chức để cầu yên ổn, nhưng cũng vì Cung Quan Lộc có Hóa Kỵ, nên muốn vào công môn là hơi khó.

      Thông thường, Tuần Triệt là sao phá, đóng ở cung nào thì gây trở ngại cho cung đó:

      • Ở Mệnh, thì thiếu thời lận đận
      • Ở Thân thì trắc trở, gian truân.
      • Ở Phu Thê thì hỏng một duyên nợ.
      • Ở Tử thì hao con.
      • Ở Tài thì kém tiền bạc.
      • Chỉ có Tật, Tuần Triệt phá tán bệnh tật, họa, tạo sức khỏe cho đương số.

      Vì vậy, Tuần Triệt đóng ở Quan tiên quyết gây trục trặc cho quan trường, thể hiện dưới nhiều hình thái:

      • Hoặc chậm công danh.
      • Hoặc công danh phải lận đận, chật vật.
      • Hoặc công danh không mấy cao, thăng giáng thất thường.
      • Hoặc không bền vững.

      Nếu gặp Triệt, công danh chậm phát lúc thiếu thời, chỉ về già mới hanh thông. Nếu gặp Tuần, sự trục trặc có tính cách triền miên, tuy không nặng như Triệt nhưng kéo dài suốt đời.

      Trường hợp cung Quan có chính tinh

      Nếu chính tinh sáng sủa, Tuần Triệt làm cho bớt sáng, có thể trở thành tối. Do đó, công danh có thể bị trở ngại, hoặc chậm phát hoặc trục trặc, hoặc không lâu bền, hoặc có nhiều hung sự xảy ra, có thể là mất chức, mất quyền, bị thay đổi, bằng không thì cũng bất toại, hay gặp những sự bực mình, bất mãn, tài năng không thi thố được. Nếu tại Quan mà có Thiên Tướng hay Tướng Quân thì càng bất lợi: vào công quyền ắt phải có lần mất chức, bị cách chức.

      Cung Quan có Sát Phá Liêm Tham hay bại tinh sáng sủa gặp Tuần Triệt thì tương đối bền vững, chức vụ tương đối cao, không đến nỗi phải lụn bại, thăng trầm.

      Những sao Tử Phủ, Cự Nhật, Cơ Nguyệt Đồng Lương đi với sao sáng sủa khác gặp Tuần Triệt thì công danh thất thường, không bền, gặp hung sự.

      Cung Quan ở Sửu, Mùi có Âm Dương tọa thủ đồng cung: quan lộc được rực rỡ. Đặc biệt là về sau vì tại Sửu Mùi, Âm Dương tương đối xấu, gặp Tuần, Triệt thì sáng lại và tại Sửu Mùi vốn là âm cung nên tốt cho hậu vận.

      Nếu chính tinh ở Quan mà hãm địa, Tuần Triệt phục hồi sức sáng cho chính tinh, công danh sẽ quý hiển nhưng không tránh khỏi trắc trở: quan trường chỉ phát lúc hậu vận. Đặc biệt nếu Sát Phá Liêm Tham hay bại tinh hãm địa gặp Tuần Triệt đồng cung thì lại phát nhanh và mạnh hơn những bộ sao khác hãm địa. Duy đối với Thiên Tướng, dù đắc hay hãm địa, Tuần Triệt bao giờ cũng gây thảm tử, như quân nhân chết trận, viên chức bị cách, giáng.

      Cung Quan vô chính diệu, dù được chính tinh đối diện sáng sủa chiếu vào, quan lộc cũng không toàn mỹ (công danh tầm thường, chức vị không mấy cao) huống hồ gặp chính tinh đối diện hãm địa. Duy có hai biệt lệ quan trọng làm khởi sắc cho cung Quan vô chính diệu:

      Cung Quan có Tuần hoặc Triệt án ngữ: cách này nói chung không hoàn hảo nhưng cũng đỡ xấu. Quan trường tuy nhiều trở ngại nhưng vẫn có thể hiển đạt trong vãn vận. Nếu tảo đạt và phát nhanh thì lại sớm tàn và hoạnh tán.

      Cung Quan được Nhật Nguyệt cùng sáng sủa hợp chiếu hay xung chiếu: cách này trở thành đắc lợi nhờ ánh sáng phối hợp của hai nguồn năng lực Nhật Nguyệt: công danh sáng lạn, chức vụ lớn, quyền hành cao, có triển vọng đắc phú, tóm lại vừa giàu vừa sang. Nếu cung Quan có Tuần hay Triệt trấn thủ tại đó thì phú quý sẽ tăng tiến nhiều hơn nữa.

      Biểu tượng cho quyền hành và thế lực, đặc biệt nếu đắc địa ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Nếu bình thường hoặc hãm địa (ở Tý, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi) thì quyền không cao, không nhiều, không quan trọng, hoặc chỉ có hư quyền hoặc quyền chỉ có trong bóng tối hoặc có thế lực mà không có quyền hoặc quyền tước hàm.

      Hóa Quyền có nhiều địa hạt: võ quyền, văn quyền, giáo quyền tùy theo cách làm quan nhưng cách nào có Quyền cũng đều hiển hách. Nếu đi với Hóa Kỵ trong bối cảnh cung Quan tốt đẹp thì hai sao này chỉ người có quyền và có mưu, hết sức quyền biến, không ngoan nhưng do có Kỵ nên thường bị người ta e ngại.

      Nếu đi với Kiếp Không ở Tỵ Hợi, Quyền càng phát nhanh và phát lớn do sự đưa đẩy của thời thế để tạo ra anh hùng nhưng vì có Kiếp Không nên có thể không lâu bền. Thông thường, người có Hóa Quyền hay tự đắc, tự tôn, kiêu căng, lấn lướt, hiếu thắng cho nên sao này tuy có lợi cho công danh nhưng không mấy hay về tính nết. Phải có thêm các sao đức hạnh thì Quyền mới hướng thiện.

      Nếu gặp hung tinh, vận xấu, Hóa Quyền tác họa cấp kỳ cho đương số. Hóa Quyền ở Quan tượng trưng cho sự tham chính, cho cách làm quan hiển đạt, đặc biệt là khi đi với Khoa và Lộc.

      Chỉ người có chính chức và có quyền vị. ý nghĩa của ấn giống như Quyền nhưng không mạnh bằng. Nếu ấn đi chung với Binh, Hình, Tướng thì võ nghiệp rất vinh hiển: đó là quân nhân có binh, có quyền, có uy. Người có ấn ở Quan là viên chức có công, được thưởng công bằng sự thăng chức, thăng trật, hoặc bằng sắc phong huy chương, tưởng lục. Nếu ấn ở vị trí các cung ban đêm, có thể là sự khen ngợi thông thường, cũng có thể là sự truy tặng (sau khi chết). Dù sao, Quốc ấn ở Quan, Mệnh, Thân là người dễ tiến đạt, được trọng vọng, được ghi công trên đường hoan lộ.

      Là quý cách khá cao, do những biểu tượng đi kèm.

      Tượng trưng cho quyền tước, tài năng được dùng đúng chỗ.

      Chỉ bằng sắc, công trạng, huy chương, quyền hành nhưng không mạnh bằng Quyền hay ấn. Đường Phù có nghĩa kém nhất.

      Cung Quan trước giáp Hoa Cái sau giáp Thiên Mã là một biểu tượng của quyền uy, có lọng (Cái), có ngựa (Mã) theo chầu. Duy cách này nên đóng ở cung ban ngày mới rạng.

      Biểu tượng cho chức vị, quyền hành (là cái đai). Chức quyền có thể cao.

      Hai sao này họp thành cách hổi đội hòm sắt, cũng khá tốt cho công danh. Ngụ ý được tín nhiệm, trọng dụng, nhất là đồng cung và ở cung Dần (hổ cư hổ vị).

      Chỉ công danh thăng tiến dễ dàng, nhất là ngành võ.

      Chỉ cách làm quan võ có cầm quân nhưng thuộc loại thấp, chỉ huy đơn vị nhỏ. Nếu đi cùng với

      Tướng Quân là võ quan cao cấp và có nắm quyền chỉ huy. Cách quan của Tướng Quân tuy có can đảm, hiên ngang nhưng táo bạo, có tinh thần sứ quân, tự tôn, tự phụ, sử dụng binh quyền đôi khi sai mục đích nên

      Tướng Quân gặp sao xấu dễ bị nguy kịch. Đi với cát tinh, Tướng Quân rất đắc dụng: đó là viên chức hay quân nhân rất tháo vát, có tinh thần xung phong, tình nguyện làm việc khó, có sáng kiến, đôi khi có quá nhiều sáng kiến nên đi sai lệch đường lối ở trên. Đi với Thiên Tướng, nhất là ở thế xung chiếu thì rất hiển hách trong binh nghiệp.

      Thiên Mã: ngụ ý tháo vát, may mắn, đa năng, thao lược, xông pha. Người có Thiên Mã ở Quan hay Mệnh thường nhậm lẹ, lanh lợi, lăn lóc, từng trải nên đa hiệu, đa nhiệm.

      Đây là bộ sao rất cần cho công danh, rất lợi và rất hợp với các công việc có tính lưu động. Vì đa hiệu, Mã là sao có rất nhiều phối cách rất hay với một số phụ tinh khác để làm cho năng tài đắc dụng hơn.

      Ví dụ như cách Mã Tử Phủ, Mã Nhật Nguyệt, Mã Lộc Tồn, Mã Hỏa hay Linh, Mã Tướng, Mã Khốc Khách. Mặt khác, cách hay trên còn tùy vị trí của Thiên Mã. Nếu ở Dần (Mộc) và Tỵ (Hỏa) thì tốt đẹp thêm, ở Thân (Kim) thì vất vả, còn ở Hợi (Thủy) thì lu mờ. Tốt khi Mã ở Dần (Mộc) mà Bản Mệnh thuộc Mộc, Mã ở Tỵ (Hỏa) với Hỏa Mệnh, Mã ở Thân (Kim) với Kim Mệnh, Mã ở Hợi với (Thủy Mệnh).

      Bao giờ gặp nghịch khắc giữa hai hành thì kém hoặc xấu: tài năng sút kém, trở ngại gia tăng, công danh không rạng.

      Lộc Tồn: chỉ tài năng, đặc biệt là tài tổ chức, tài thích ứng với hoàn cảnh. Lộc Tồn có nhiều sáng kiến, biết tùy theo nhu cầu mà quyền biến, xử sự tùy hoàn cảnh, lúc cương lúc nhu, một cách chừng mực. Đi với Thiên Mã,

      Lộc Tồn là người khai sơn phá thạch, mở đường cho kẻ khác đi theo, rất đắc dụng trong các trách nhiệm tiền phong, khai quang an vị, tổ chức cơ sở. Đặc biệt, sao này chỉ về tiền bạc nên rất lợi cho nhà kinh doanh khai thác tài nguyên kinh tế, tổ chức nền móng sản xuất.

      Đi với Hóa Lộc, Lộc Tồn chuyên đoán, có óc lãnh tụ, độc quyền và tập quyền. Gặp Tuần, Triệt hay sát tinh đồng cung, Lộc Tồn mất nhiều cơ hội hoạt động, bị khiếm dụng, bị dùng phí phạm, bị dùng không đúng chỗ, tài năng bị tiêu mòn hoặc bị dùng vào việc sái đạo đức. Trong lãnh vực tài chính, sao này chỉ sự tiết kiệm, xài kỹ, xài có quy tắc, sự chắt mót, giữ của, có lợi cho các chức vụ quản trị ngân sách.

      Thiên Khôi, Thiên Việt: Miễn là đừng gặp Tuần, Triệt hay Hóa Kỵ, Khôi Việt chỉ năng tài xuất chúng, uy tín và hậu thuẫn, phần lớn nhờ ở tài văn học, mô phạm, tính tình cao thượng, thanh khiết, tinh thần cạnh tranh và thi đua.

      Bạch Hổ, Tang Môn đắc địa ở Dần: chỉ sự tài giỏi, quyền biến, thao lược, ứng phó được nhiều nghịch cảnh, đồng thời cũng có khả năng xét đoán, lý luận, hùng biện phù hợp với các chức vị chính trị, ngoại giao, tư pháp, sư phạm.

      Ngoài ra Tang Hổ đắc địa còn có khả năng về võ, có khí phách lãnh đạo, chỉ huy nhất là khi được sao võ đi kèm. Do đó, Tang Hổ đặc biệt là Hổ có nhiều phối cách rất hay với Tấu Thư, với Phi Liêm, với

      Long Phượng Cái, với Kình Hình. Với Tấu Thư, Bạch Hổ chỉ năng tài hùng biện rất khích động, xuất sắc về tâm lý chiến, vận động quần chúng. Với Phi Liêm, Bạch Hổ rất tháo vát, lanh lợi như Thiên Mã lại được thời cơ thuận lợi.

      Với Kình hay Hình, Bạch Hổ có chí khí, mưu lược cả văn lẫn võ. Với Long Phượng Cái, Bạch Hổ chỉ sự hiển đạt về uy danh, sự nghiệp, khoa giáp.

      Thiên Khốc, Thiên Hư đắc địa ở Tý, Ngọ: chỉ người có chí lớn, có văn tài hùng biện cùng năng khiếu hoạt động chính trị, đặc biệt là về hậu vận. Khốc Hình Mã thì hiển đạt võ nghiệp, nhất là ở Dần và Tỵ. Khốc Hư Sát hay Phá đắc địa thì có quyền cao chức trọng, uy danh lừng lẫy, được thiên hạ nể phục.

      Ân Quang, Thiên Quý: Đóng ở Mệnh, Quan, Thân, Di viên chức được tín nhiệm, trong dụng nâng đỡ, che chở của người trên. Ngoài ra, Quang Quý có nghĩa là viên chức đó trung tín, hết lòng, có lương tâm chức nghiệp, xứng đáng với sự tín nhiệm của thượng cấp dành cho.

      Quang Quý có nghĩa gặp nhiều dịp may trong hoạn lộ, cụ thể như được thời thế thích hợp, được sử dụng đúng năng khiếu, làm việc vừa ý, được hạnh phúc trong nghề nghiệp.

      Thanh Long, Lưu Hà hay Hóa Kỵ đồng cung: có vận may tốt, cơ may lớn để ra làm quan, không cần cầu cạnh và lúc ra làm quan thì đắc dụng, đắc thời theo ba ý nghĩa nêu trên của Quang Quý. Ngoài ra, Thanh Long gặp Long Đức ở Thìn cũng rất tốt đẹp vì rồng đóng ở cung Thìn chỉ đắc danh, đắc lộc mà không cần cầu cạnh, được nhiều may mắn trên hoạn lộ.

      Tràng Sinh, Đế Vượng: chỉ sự phong phú. áp dụng vào quan trường, công danh sẽ dồi dào, năng tài đa diện trong nhiều lĩnh vực, chức quyền tương đối cao. Người có Sinh, Vượng ở Quan có nhiều sáng kiến trong công vụ, được giao phó nhiều trách nhiệm, dễ thăng tiến.

      Đào Hoa, Hồng Loan: ở Quan, Đào Hoa và Hồng Loan rất hợp cách: chỉ làm quan lúc tuổi trẻ, tuổi trẻ tài cao, công danh tảo đạt, nhẹ bước thang mây, không phải bôn ba cầu cạnh.

      Phụ tinh chỉ nhân sự trợ giúp

      Tả Phù, Hữu Bật: chủ sự giúp đỡ của người đời, đặc biệt là đồng sự, đồng song. Người có Tả Hữu ở Quan có tài giao tế nhân sự, có đức tính khéo léo thu được thiện cảm của người trên, có sự mềm mỏng cần thiết để được người ngang hàng cộng lực.

      Ngoài ra, cũng có nghĩa là quyền tước hiển vinh, nhờ có nhiều người phục tùng. Tả thuộc văn tinh nên hợp với Tử Phủ, Hữu chiếu vào Tử Phủ thì tốt hơn đồng cung. Trong cả hai trường hợp, Tả Hữu không nên đi chung với sát tinh. Tả Hữu còn có nghĩa là đa nghệ, là hệ số của tài năng, của quyền hành.

      Thiên Mã, Tràng Sinh, Đế Vượng: là bộ sao phụ tùy cho quan cách.

      Binh, Hình, Tướng, ấn: chỉ cộng sự đắc lực và có quyền, trợ uy cho võ cách.

      Hung sát tinh đắc địa gặp Sát Phá Liêm Tham đắc địa hay Vũ Tướng đắc địa: báo hiệu sự hiển đạt của võ nghiệp trong thời loạn, nhờ đức tính táo bạo, mạo hiểm, bất khuất trong những hoàn cảnh hết sức khó khăn.

      Bộ sao này có cả phú lẫn quý, tức là vừa có danh vừa có lợi. Nhưng công danh không được lâu bền, phát nhanh nhưng cũng tàn lẹ. Gặp bộ Vũ Tướng đắc địa thì toàn mỹ về cả công danh lẫn tiền bạc trong suốt thời gian sinh tiền, không bị ảnh hưởng của sự thăng trầm, hoạch phá. Nếu hai bộ này hãm địa, sát tinh dù có đắc địa cũng không quân bình được bất lợi: công danh nhỏ, chức vụ thấp, thăng giáng thất thường.

      Hung sát tinh hãm gặp Sát Phá Liêm Tham hãm hoặc Vũ Tướng hãm: giảm chế công danh khiến quân nhân khó thăng tiến, trở thành bất đắc chí, càng tung hoành càng gặp hung họa lớn lao. Nếu bốn sao chính mà sáng sủa thì quan cách tương đối cao hơn, nhưng thiếu thuộc hạ đắc lực vì hung sát tinh hãm địa, thậm chí còn gây họa cho chính mình. Gặp Vũ Tướng hãm địa thì cũng dưới mức trung bình và gặp nhiều hung họa. Trái lại nếu Vũ Tướng đắc địa thì rất hay: chẳng những có uy danh mà còn khắc phục được trở ngại và những âm mưu bất chính của đối thủ.

      Hung sát tinh với Tử Phủ Cự Nhật và Cơ Nguyệt Đồng Lương (văn cách): văn cách trong mỗi bộ sao này phải né tránh sát tinh thì mới hiển đạt. Gặp sát tinh, quan trường phải cạnh tranh, đối chọi, đấu trí, gian nan, chưa kể những hung họa hiểm nghèo khả hữu. Để thắng những sát tinh đó thì mỗi sao trong bộ phải đắc địa trở lên. Nếu chính tinh trong mỗi bộ sao mà hãm địa nốt thì quan cách chẳng những không ra gì mà còn gặp nhiều hiểm nguy đến bổn mạng.

      Qua Quan Lộc cung khả dĩ tìm thấy sự cát hung về chức nghiệp, địa vị và công danh. Như câu phú:

      Quyền cao trọng chấn biên cương

      Ngọ cung Thất Sát, Tử, Lương, Vũ, Đồng (đóng Quan Lộc)

      Rồi những câu sau đây:

      Cung Quan Thất Sát uy hùng

      Miếu thời chức trưởng vẫy vùng quân công

      Cung Quan Tham Vũ đồng tông

      Công danh hẹn bước ruổi dong lên đường

      Nhật Nguyệt cư Quan rất hay

      Chức quyền số đã sẵn tay trời dành

      Cung Quan Dần Mão Thiên Hình

      Trị dân trọng chức, chưởng binh cao quyền

      Thiên Quan Thiên Tướng miếu viên

      Hiển vinh đức trọng tài hiền ấy ai

      Hỏa Linh Mùi Sửu an bài

      Chiến công đã hẹn đức tài binh nhung

      Cung Quan mà gặp Đào Hồng

      Thiếu niên đã thỏa tang bồng chí trai

      Kình tứ Mộ Mã triều lai Biên cương ắt hẳn ra tài võ công

      Cung Quan giáp Phượng giáp Long

      Giáp Xương Giáp Khúc một dòng hanh thông

      (Phượng Long chức vị, Xương Khúc đỗ cao)

      Tuế Hổ Phù hợp Văn Xương

      Có tài hùng biện văn chương hơn người

      Phá Quân Phá Toái một nơi

      Tính ưa mạo hiểm việc thời chiến chinh

      Giáp Liêm giáp Sát tung hoành

      Tuổi già mới rạng công danh đó mà

      Hỏa Linh hợp Mã một nhà

      Hoặc nghề cơ khí hoặc là chở chuyên

      Quan Lộc Tử Mã nhất ban

      Khốc Hư Tí Ngọ đồng sàng hoạnh thương

      Mã Long Thiên Hỉ thuận đường

      Hoặc là Lộc Mã hợp phường tốt thay

      Tấu Thư Bác Sĩ xem qua

      Rộng đường văn học con nhà trâm anh

      Phong Cáo Thiên Tướng chính tinh

      Ơn nhờ lộc nước hiển vinh muôn phần

      Không Kiếp Thiên Tướng gian truân

      Khoa tinh niên thiếu giữ phần đăng khoa

      Cung Quan hội hợp cát tường

      Một rằng Tử Phủ ba phương Hóa chầu

      Hai rằng Khôi Việt đáng yêu

      Ba rằng Tả Hữu hợp chiều Âm Dương

      Miếu thì văn võ vẹn toàn

      Hãm cung cũng giữ được phần công danh

      Hình Riêu Cơ Tấu Vũ cùng

      Khéo nghề thuyền thợ vững đường sinh nhai

      Khúc Xương Long Phượng phát văn

      Vũ Tham Sát Phá lại rằng võ công

      Nhật Nguyệt Quan Lộc bất thông

      Chỉ hiềm một nỗi đồng cung Sửu Mùi

      Những ai đai ấn triệt hồi

      Thiên Tướng Không Kiếp đứng ngồi một bên

【#3】Lá Số Tử Vi Giới Tính Nữ, Sinh Giờ Mùi, Ngày 17, Tháng 1, Năm Bính Dần

Cung Điền trạch tự Hóa khoa

Trung Châu tử vi đẩu số – Tứ Hóa Phái – Nguyễn Anh Vũ dịch

Dự đoán chỉ số IQ đương số: 475

Linh khu thời mệnh lý – Lê Hưng VKD

Người tọa Mệnh ở cung Mùi

– Không dễ tiếp nhận ý kiến của người khác.

– Ngoài thì nhu thuận nhưng trong lòng sắt đá.

– Hành sự cẩn thận, làm việc nhẫn nhịn.

– Có nhiều ý tưởng, thực hiện được ít, mẫn cảm, thường hay tức giận.

– Nhất cử nhất động thường rụt rè.

– Cô độc, có chí khí không lớn, không cậy nhờ được lục thân.

– Nên rời xa quê, tự thân vận động, gây dựng sự nghiệp.

Tử vi đẩu số giải mã đời người – Phan Tử Ngư

Tuổi BÍNH DẦN ứng với quẻ dịch PHONG SƠN TIỆM (漸 jiàn)

Quẻ dịch nói lên ý nghĩa của cuộc đời và phải sống thế nào để có lợi cho sự nghiệp. Quẻ PHONG SƠN TIỆM có ý nghĩa là: “Dục tốc bất đạt, loài chim biển khi cất cánh bay lên phải biết giữ sức để bay xa vì sông nước quá mênh mông”.

Nghiên cứu của hội Thiên lương

Thống kê cung Mệnh ở Mùi hành THỔ, can Ất, cục KIM

Thống kê cung Huynh đệ ở Ngọ hành HỎA, can Giáp, cục KIM

Thống kê cung Phu thê ở Tị hành HỎA, can Quý, cục THỦY

Thống kê cung Thiên di ở Sửu hành THỔ, can Tân, cục THỔ

– Có 3 sao hành THỔ: Thiên phủ (B), Quốc ấn, Quả tú

– Có 3 sao hành KIM: Trực phù, Đế vượng, Thai phụ

– Có 1 sao hành MỘC: Tướng quân

– Có 3 sao hành THỦY: Thiên riêu, Thiên y, Hồng loan

– Sao chính tinh Thiên phủ là Nam đẩu tinh

– Đại vận 64 – 73 tuổi, tiểu vận năm Tị, lưu niên năm Sửu

– Điểm “cung khí”: 2

– Điểm “huyền khí”: 2

– Cung THIÊN DI phi hóa: HÓA LỘC nhập cung TỬ TỨC, HÓA QUYỀN nhập cung NÔ BỘC, HÓA KHOA nhập cung QUAN LỘC, HÓA KỴ nhập cung TÀI BẠCH

Thống kê cung Nô bộc ở Tí hành THỦY, can Canh, cục THỔ

– Có 3 sao hành HỎA: Thái dương (H), Điếu khách, Thiên phúc

– Có 2 sao hành THỔ: Thiên thương, Thiên trù

– Có 1 sao hành KIM: Tấu thư

– Có 1 sao hành THỦY: Suy

– Sao chính tinh Thái dương là Nam đẩu tinh

– Đại vận 74 – 83 tuổi, tiểu vận năm Ngọ, lưu niên năm Tí

– Điểm “cung khí”: 0

– Điểm “huyền khí”: 0

– Cung NÔ BỘC phi hóa: HÓA LỘC nhập cung NÔ BỘC, HÓA QUYỀN nhập cung QUAN LỘC, HÓA KHOA nhập cung TẬT ÁCH, HÓA KỴ nhập cung ĐIỀN TRẠCH

– Sao Thiên phúc tọa thủ: chắc chắn chủ điểm của cung Nô bộc có điều bất trắc, bất hạnh, bất toàn .. (Độ tin cậy 70%. Theo Linh khu thời mệnh lý – Lê Hưng VKD)

Thống kê cung Phúc đức ở Dậu hành KIM, can Đinh, cục HỎA

Thống kê cung Phụ mẫu ở Thân hành KIM, can Bính, cục HỎA

– Đây là cung Lai Nhân Cung của lá số

– Có 5 sao hành HỎA: Tuế phá, Đại hao (Đ), Thiên giải, Thiên mã, Văn tinh

– Có 3 sao hành THỔ: Tuyệt, Thiên quý, Phượng các

– Có 2 sao hành MỘC: Tam thai, Giải thần

– Có 1 sao hành THỦY: Thiên hư

– Đại vận 114 – 123 tuổi, tiểu vận năm Tuất, lưu niên năm Thân

– Điểm “cung khí”: 0

– Điểm “huyền khí”: 0.74

– Cung PHỤ MẪU phi hóa: HÓA LỘC nhập cung ĐIỀN TRẠCH, HÓA QUYỀN nhập cung TẬT ÁCH, HÓA KHOA nhập cung TÀI BẠCH, HÓA KỴ nhập cung MỆNH

– Sao Thiên hư tọa thủ: chắc chắn chủ điểm của cung Phụ mẫu có điều bất trắc, bất hạnh, bất toàn .. (Độ tin cậy 70%. Theo Linh khu thời mệnh lý – Lê Hưng VKD)

【#4】Kinh Nghiệm Tử Vi: Giải Đoán Cung Phu Thê

(Trần Việt Sơn – thuật theo kinh nghiệm cụ Thái dương)

Về cung Phu thê, các vị đương số thường rất muốn biết rõ, vì thường thường hạnh phúc đời người có thể không do tiền bạc nhà cửa, công danh, mà do đường vợ chồng, con cái. Ôm tiền bạc nhiều, công danh thật lớn, mà đường vợ con, chồng con hỏng thì cũng không đáng gì. Trái lại, làm chức nhỏ, nghèo, nhưng sống vui với chồng con, vợ con đề huề thì cũng thú.

Về việc giải đoán cung Phu thê, các vị cao thủ Tử vi Lê Ốc Mạch, Phong Nguyên, Thiên Lương từng cho biết ý kiến trên Khoa học huyền bí. Về số phận chúng tôi, công việc thuật kinh nghiệm trở nên dễ dàng hơn sau khi các cụ cao thủ đã cho kinh nghiệm của mình. Sau khi được kinh nghiệm quý cụ, chúng tôi còn gì thắc mắc đem hỏi cụ Thái dương, chúng tôi được biết những điều xin trình bày như sau:

Xem Phu thê, phải xét Mệnh, Thân, Phúc

Các sự kiện trong cung Phu thê mà nhà thuật số cân nhắc thuộc về các phương diện hạnh phúc đời người.

1- Vợ chồng lấy nhau có dễ dàng hay bị cản trở?

2- Có sự hình khắc, tử biệt sanh ly không?

3- Có xung khắc nhau không (những độ xung khắc khác nhau) hay được hòa hợp đến già?

4- Có mấy đời vợ chồng? Đàn ông có mấy vợ?

5- Vợ hay chồng có tốt không? (vợ đẹp ngoan, đứng đắn hay dâm dật, xấu xa, chồng khá giả hay chồng bần tiện).

Muốn biết đại cương cung Phu thê tốt xấu, phải xem các sao trong cung đó, nhưng trước hết, cũng phải xem Mệnh, Thân và Phúc đức.

Sở dĩ phải xem Mệnh, Thân và Phúc đức, là bởi vì người có Mệnh, Thân và Phúc đức tốt, tất được hưởng ảnh hưởng tốt và hạnh phúc và cái đó phải ảnh hưởng vào cung Phu thê (đó là chưa kể rằng cung Phu thê thuộc nhóm cung Mệnh, Thân và có các cung Phúc, Quan, Di chiếu tới).

Nếu cung Phu thê xấu mà được cung Mệnh, Thân và Phúc đức tốt, thì cũng giải trừ được nhiều sự xấu (bớt sự xung khắc, bớt hình khắc chia ly).

Nếu cung Phu thê tốt, mà cung Mệnh, Thân và Phúc đức xấu, thì những cái tốt của cung Phu thê cũng giảm đi.

Cũng có trường hợp Mệnh xấu, Phu thê xấu, lấy vợ lấy chồng gặp toàn cảnh ngộ tệ hại, thế nhưng sang đến Thân tốt, thì cũng Phu thê ấy, mà lại được hưởng tốt (Thân ăn về hậu vận, từ 30 tuổi trở ra: đương số lấy vợ lúc trẻ tuổi, gặp vợ lăng loàn, chịu xung khắc rồi phải ở góa; nhưng sang đến Thân được ảnh hưởng tốt, lại lấy được vợ tốt, hiền hòa, ăn nên làm ra, vợ chồng hòa hợp).

Cần nắm vững Mệnh, Thân và Phúc đức mới giải đoán được đúng cung Phu thê.

Ảnh hưởng chính tinh

Quý vị có thể coi các sách Tử vi, đã soạn sẵn những cách và ý nghĩa khi gặp những chính tinh miếu hay hãm, rồi lại có những cách trung tinh. Xin tóm tắt sau đây ý nghĩa các cách ở cung Phu thê:

– Tử vi tại Ngọ: hòa hợp đến già, khá giả.

– Tử Phủ đồng cung: hòa hợp đến già, khá giả.

– Tử Tướng đồng cung: cùng cứng cỏi, xích mích. Nhưng khá giả, ăn ở được với nhau.

– Tử Sát đồng cung: tiên trở hậu thành và lập gia đình trễ mới tốt.

– Tử Phá đồng cung: hình khắc hoặc kém thuận hòa.

– Tử Tham đồng cung: thành hôn trễ mới tốt, ghen tuông.

– Liêm đơn thủ Dần Thân: mấy lần lập gia đình.

– Liêm Phủ đồng cung: trễ mới tốt. Chung sống tốt, khá giả.

– Liêm Tướng đồng cung: bất hòa.

– Liêm Sát đồng cung: hình khắc, muộn mới tốt.

– Liêm Phá đồng cung: bất hòa.

– Liêm Tham đồng cung: xung khắc.

– Đồng tại Mão: trễ mới tốt.

– Đồng tại Dậu: bất hòa.

– Đồng tại Tý: dễ gần, dễ xa.

– Đồng tại Thìn, Tuất: xung khắc

– Đồng Nguyệt đồng cung tại Tý: đẹp đôi, khá giả, cưới sớm.

– Đồng Lương đồng cung: đẹp đôi, khá giả, cưới sớm.

– Đồng Nguyệt tại Ngọ: trễ mới tốt.

– Đồng Cự: xa nhau một thời rồi mới đoàn tụ.

– Vũ khúc tại Thìn Tuất: trễ mới tốt.

– Vũ Phủ đồng cung: có bất hòa, nhưng khá giả đến già.

– Vũ Tướng đồng cung: vợ đảm, chồng sang. Có xích mích, nhưng khá giả đến già.

– Vũ Tham đồng cung: trễ mới tốt.

– Vũ Phá đồng cung: giỏi, trễ mới tốt.

– Vũ Sát đồng cung: hình khắc, dễ xa nhau.

– Thái dương sáng: hòa hợp, khá giả đến già.

– Thái dương tối: cưới xin trắc trở, trễ mới tốt.

– Nhật, Cự đồng cung tại Dần: bất hòa nhưng chung sống đến già.

– Nhật Cự đồng cung tại Thân: trễ mới tốt.

– Nhật Nguyệt đồng cung: khá giả, nhưng trễ mới tốt.

– Thiên cơ ở Tý, Ngọ, Mùi: thành hôn sớm, khá giả, ở được với nhau.

– Thiên cơ ở Hợi, Tý, Sửu: trễ mới tốt.

– Cơ Lương đồng cung: lấy dễ, khá giả hòa thuận đến già.

– Cơ Cự đồng cung: người xứng đáng, trễ mới tốt.

– Cơ Nguyệt đồng cung ở Thân: người xứng đáng, cưới sớm.

– Cơ Nguyệt đồng cung ở Dần: hay khó khăn, trễ mới tốt.

– Thiên phủ ở Tỵ Hợi: khá giả, hòa thuận đến già.

– Thiên phủ ở Sửu, Mùi, Mão, Dậu: khá giả và chung sống đến già nhưng hay cãi nhau.

– Thái âm sáng: khá giả, cưới sớm, chung sống bạc đầu.

– Thái âm tối: bất hòa, hôn phối không tốt, trễ mới tốt.

– Tham lang ở Thìn, Tuất, Tý, Ngọ: tốt nhưng hay ghen, trễ mới tốt.

– Cự môn tại Tý, Ngọ, Hợi: khá giả, ở được với nhau, nhưng hay bất hòa.

– Cự môn tại Thìn, Tuất, Tỵ: xung khắc, hay bỏ nhau.

– Thiên tướng: trai nể vợ, gái lấn áp chồng, trễ mới tốt.

– Thiên lương ở Tý, Ngọ: vợ đẹp, chồng sang, khá giả.

– Thất sát: trễ mới tốt, sớm thì hình khắc chia ly.

– Phá quân: trễ mới tốt, sớm thì hình khắc chia ly.

Ảnh hưởng trung tinh

Các trung tinh tốt cho thêm ảnh hưởng tốt, về vợ hay chồng khá giả và về sự hòa thuận: Xương, Khúc, Khôi, Việt.

Sát tinh (Không Kiếp Kình Đà Linh Hỏa): miếu vượng thì chủ bất hòa hoặc chia ly thời gian ngắn; hãm thì hình khắc, họa hại người hôn phối xấu xa, bậy bạ. Cũng phải xét thêm ở chỗ giao ảnh hưởng với các sao khác.

– Tả Hữu: tăng ảnh hưởng cho các sao tốt hay xấu.

– Hóa lộc: hôn phối giàu.

– Hóa quyền: vợ lấn quyền, chồng sang.

– Hóa khoa: hôn phối có học, có chức.

– Hóa kỵ: bất hòa.

– Lộc tồn, Cô Quả, nên cưới trễ sẽ tránh chia ly.

– Thiên Mã: nên duyên ở nơi xa.

– Phục binh: đi lại với nhau rồi mới cưới.

– Tướng quân: đi lại trước, cưới sau.

– Quang Quý: vì ân tình mà lấy nhau.

– Song Hao: cưới dễ hoang toàn.

– Cô Quả: bất hòa, hay xa cách.

– Đào Hồng: cưới xin dễ nhưng nếu Đào Hồng hãm: hình khắc, chia ly.

– Thiên Diêu: hoang dâm, bất chính.

– Tuần, Triệt: trễ mới tốt (để khỏi bị hình khắc).

Ảnh hưởng chính tinh so với ảnh hưởng trung tinh

Trong cung Phu thê, có cả chính tinh và trung tinh gặp nhau, thì ảnh hưởng chính tinh mạnh hay trung tinh mạnh?

Xin thưa: ảnh hưởng chính tinh mạnh hơn ảnh hưởng trung tinh.

Vậy nên chính tinh mà tốt, gặp trung tinh xấu thì cái tốt được giảm đi chứ không bị xấu.

Nếu chính tinh có ảnh hưởng xấu gặp trung tinh tốt, thì cái xấu bớt đi chứ cái tốt chưa có.

Tuy nhiên, cũng có những cách cố định, gặp phải là có một ảnh hưởng nhất định, hoặc có những trung tinh, hung sát tinh mạnh thì có ảnh hưởng lấn át chính tinh.

Vài dữ kiện thí dụ

Phu thê có Cô, Quả, Đào Hồng hãm, Tả Hữu, Không Kiếp là báo hiệu sự hình khắc chia ly.

Lộc tồn, Vũ khúc, Cự Kỵ cũng thường báo hiệu sự chia ly.

Một người có Tử Phủ, Không Kiếp ở Thê, là cái tốt bị phá mất, mai mối nhiều lần không xong. Nhưng nếu sang Thân (ứng về hậu vận) tốt thì lại đỡ. Người đó lập gia đình muộn, vào năm 35 tuổi, được tốt.

Sự kiện được ghi ở các cách chính tinh bên trên (trễ mới tốt) được nghiệm ra là rất đúng. Gặp những chính tinh đó lập gia đình sớm là bị hình khắc chia ly. Nhưng lập gia đình trễ thì không sao, tức là tránh được hình khắc chia ly.

Xem về vợ bé, phải xem cung Nô.

Tuy nhiên, cũng có cách người góa vợ, lấy vợ sau, phải đoán ra. Như gặp Tả Hữu, Hồng Đào hãm, Không Kiếp, Cô Quả là cách góa vợ, nhưng lấy vợ sau thì khác đi.

Có Tuần Triệt thì lập gia đình gặp cản trở. Hai người chê nhau, hoặc gặp khó, nhưng chỉ khó lần đầu thôi. Không phải có Tuần Triệt là không có vợ chồng. Còn Tuần Triệt gặp Tướng thì hình khắc (Tướng ngộ Tuần hay Triệt là cách độc).

Một người Mệnh có Liêm trinh đắc địa, Thiên không, Hồng loan tại Dần Thân Tỵ Hợi, là người đứng đắn, lòng chỉ muốn tu, thì không nghĩ đến việc lập gia đình. Tuy nhiên đến năm 35 tuổi gặp Đào, Thai, Phục, Vượng, Tướng, lòng tự nhiên thấy mở rộng ra tình yêu, hoặc gặp trường hợp đặc biệt, thế là thành vợ thành chồng. Có sao đứng đắn, phải gặp lúc có những sao thật bay bướm mới thành hôn.

Hạn lấy vợ, lấy chồng

Xưa lập gia đình, nay trễ. Như vậy, cũng những người đó, những lá số đó, hoàn cảnh đất nước (chiến tranh, đời sống khó khăn, việc lập sự nghiệp đeo đẳng kéo dài) có thể làm lệch lạc số mạng chăng? Cũng không hẳn thế, là vì có số mạng, nhưng cũng có con người quyết định mới được.

Vả chăng, số vẫn có, bởi vì những cách báo hỉ vẫn xuất hiện, không năm này thì qua năm khác. Năm nay không báo hỉ, không hôn nhân thì thi đậu, hay đi làm, không thi đậu, đi làm, thì hôn nhân.

– Đại tiểu hạn trùng phùng tại cung Phu thê.

– Hạn có Nhật Nguyệt chiếu.

– Hạn có Đào, Hồng, Hỉ.

– Hạn có Sát, Phá, Liêm, Tham.

Tức là những hạn có hỉ tinh. Phải xem cả đại hạn và tiểu hạn. Đại hạn có cách bảo hỉ. Tiểu hạn cũng có cách báo hỉ, thì đó là hạn thành hôn.

Trường hợp Thân cư Thê và chồng sợ vợ

Người đời thường bảo rằng Thân đóng ở Thê là người sợ vợ, hay nói nhẹ đi là người nể vợ, điều đó rất sai.

Thân cư Thê không phải sợ vợ.

Thân cư Thê cũng không đương nhiên là nhờ vợ, cũng không phải Thân cư Phu là đương nhiên nhờ chồng. Thật thế, cung Phu thê mà xấu thì nhờ được nỗi gì đâu? Họa chăng là cung đó tốt, nghĩa là chồng hay vợ được giàu sang, mình mới nhờ.

Vậy Thân cư Thê có nghĩa là gì? Có nghĩa là cuộc đời đương số chịu ảnh hưởng của vợ. Thân cư Phu cũng vậy. Chịu ảnh hưởng thỉ rời ra không được. Một ông Thân cư Thê mà chúng tôi biết được bà xã rất tháo vát, một tay quán xuyến việc nhà, ông không phải lo gì hết. Một ông khác cũng Thân cư Thê, giao hết con cái cho vợ để ông đi làm chính trị, đôi khi ông cũng léng phéng, nhưng các cô mèo chỉ đi thoáng qua và ông vẫn coi vợ trọng hơn hết. Cũng có thể là ảnh hưởng bà xã mạnh ông chồng nể vợ là ở chỗ đó.

Thế tại sao chồng lại sợ vợ? Gặp cách nào thì chồng sợ vợ? Đó là khi cung Thê có quyền tinh. Vợ mà có quyền thì ông chồng phải sợ. Các cách quyền tinh ở cung Thê là những cách đứng đắn và quyền hành:

– Thiên tướng, Quốc ấn (mạnh)

– Tướng quân, Quốc ân (mạnh vừa)

– Hóa quyền

– Khôi Việt

– Tử vi, Tả Hữu

– Thiên phủ, Tả Hữu

Chúng tôi có biết một ông có quyền chức lớn, ra ngoài hét ra lửa, ai cũng phải sợ. Thế mà ở nhà, khi bà hét, ông run lên cầm cập, len lét rút vào một xó không dám ho he. Chỉ tại ở cung Thê của ông, có mấy cách quyền tinh chập lại. Lý thứ nhất là lúc bà nổi giận mà phạt ông sau lần bắt được ông léng phéng với nữ thư ký. Bà quát:

– Nằm xuống giường.

Ông len lét nằm xấp xuống giường.

Bà hỏi:

– Mấy roi?

Ông thưa:

– Xin bà ba roi.

Bà cầm lấy cây chổi phất trần, quất xuống 3 roi thật mạnh vào mông đít. Ông kêu van xin chừa.

Câu chuyện đó thật 100%. Cả ông, cà bà cũng không cười trong lúc diễn ra cảnh đó. Ông sợ thật và bà cũng thật sự biểu lộ quyền oai theo sở thích của bà.

KHHB 74-K2 – Thanh Mai

【#5】Xem Ngày Giờ Đẹp Và Lưu Ý Khi Về Nhà Mới Tuổi 1968 Mậu Thân

Xem tuổi về nhà mới tuổi 1968 Mậu Thân, Các bạn đang quan tâm tới các vấn đề như: xem ngày giờ về nhà mới, chọn ngày nhập trạch theo tuổi, xem ngày dọn nhà mới theo tuổi, nhờ xem ngày giờ nhập trạch, xem ngày nhận bàn giao nhà. Hãy vui lòng tham khảo chi tiết bài viết của chúng tôi hoặc liên hệ với các chuyên gia phong thuỷ.

Xem tuổi về nhà mới tuổi 1968 Mậu Thân

Khi dọn vào nhà mới bạn cần chú ý đến 2 vấn đề. Thứ nhất là cần xem xét ngôi nhà (căn hộ) đó có phù hợp phong thủy với gia chủ hay không (về hướng, bố trí, nội ngoại thất …). Thứ hai là chọn ngày giờ chuyển vào nhà mới theo nguyên tắc Trạch Cát. Cần chú ý là phần này không tính năm và các tiết khí (vì không phải là động thổ khởi công xây dựng). Đó là các việc chọn ngày theo Trạch cát theo Thập Nhị Trực.

Đội ngũ cộng tác viên, chuyên nghiên cứu phong thủy:

– KTS. Nguyễn Văn Trình anh là kiến trúc sư tốt nghiệp Khoa kiến trúc Đại học xây dựng Hà Nội Một Kts Có bề dày kinh nghiệm Là chuyên gia DESIGN Kiến trúc, Ý tưởng và công năng luôn hoàn hảo, Anh Đã có quá trình tiếp xúc và làm việc với các kiến trúc sư lớn trong và ngoài nước, Là tác giả của nhiều công trình Kiến trúc Cao tầng tại Hà Nội, Bắc Ninh. Bắc Giang, ..v v ….. Anh là chuyên gia của nhiều dự án biệt thự cao cấp, khu resort, và khách sạn. Đồng thời cũng một người có những kiến thức rất vững về phong thủy luôn đưa ra bài toán tốt nhất về kiến trúc và phong thủy hòa hợp.

Hot-line: 0976033088 – 0983014053

– Nhà nghiên cứu Phong thủy: Trần Đức Thịnh ( tuổi 67) Ông cũng là người dày công nghiên cứu phong thủy bát trạch nhiều năm, Ông hiểu biết khá sâu sắc về phong thủy, Chuyên gia phong thủy nhà, Hóa giải cung xấu trong phong thủy.

Và chuyên gia xem ngày động thổ, cưới hỏi ..v..v.. (Ông hiện đang sống và làm chuyên gia phong thủy tại Từ Sơn – Bắc Ninh)

Lưu ý : Những ngày có trực Khai, trực Thành và trực Mãn hợp với việc dọn vào nhà mới.Sau khi xem được ngày bạn chọn giờ hoàng đạo trong ngày để dọn nhà, Lưu ý: Giờ hoàng đạo là giờ không khắc tuổi của gia chủ. Ví dụ Ngày bạn dọn nhà có 6 giờ hoàng đạo là Dần (3h-5h) Tỵ (9h-11h), Dậu (17h-19h) , Thìn (7h-9h) Thân (15h-17h),Hợi (21h-23h). Tuổi gia chủ là Tuổi Thân chẳng hạn. Theo tứ hành xung tuổi Thân kỵ Dần nên không dọn nhà vào giờ này.

Là đơn vị chuyên tư vấn kiến trúc xây dựng: Xây nhà trọn gói, Thi công xây dựng là bộ phận mới được phát triển của Việt Architect Groupnhà thầu xây dựng đang được phát triển nhanh nhất nhờ đội ngũ cán bộ kỹ sư, kiến trúc sư nhiều kinh nghiệm, các hạng mục công trình nhà ở dân dụng là dịch vụ uy tín hàng đầu với thương hiệu đã được khẳng định: Thi công biệt thự, thi công khách sạn, thi công nhà ở, thi công nhà xưởng, thi công quán cafe, thi công văn phòng.

【#6】Phủ Tây Hồ Mở Đóng Cửa Đến Mấy Giờ?

Phủ Tây Hồ mở đóng cửa đến mấy giờ? Hằng năm, cứ mỗi dịp tết đến xuân về, mọi người lại nô nức đi lễ chùa để cầu bình an, may mắn và tiền tài. Đặc biệt Phủ Tây Hồ – Hà Nội là địa điểm thu hút nhiều du khách thập phương tới thắp hương, dâng nhang nhất.

Thời gian mở cửa phủ Tây Hồ

Phủ Tây Hồ mở đóng cửa đến mấy giờ luôn là thắc mắc được nhiều người quan tâm. Bởi lẽ, chúng ta cần xác định rõ được chính xác giờ đóng mở cửa phủ Tây Hồ để tránh tình trạng đi đến mà không được phép vào làm lễ.

Phủ Tây Hồ mở cửa những ngày nào ? Đây là câu trả lời thích đáng nhất cho bạn:

  • Vào ngày thường, giờ mở cửa của phủ Tây Hồ từ 5h tới 19h để đảm bảo thời gian thờ cúng và tham quan của khách du lịch.
  • Phủ Tây Hồ có mở tối không ? Vào 2 ngày lễ chính là ngày 03/03 âm lịch và ngày 13/8 âm lịch, Phủ sẽ đóng cửa muộn hơn bởi những ngày này số lượng du khách tới tham quan, làm lễ sẽ nhiều hơn so với những ngày bình thường.
  • Đặc biệt, vào dịp Tết, phủ Tây Hồ có mở cửa đến mấy giờ ? Đây là thời điểm số lượng du khách tới Phủ đông nhất trong mọi thời điểm, vì vậy mọi người lưu ý sắp xếp thời gian đi lễ phủ Tây Hồ một cách hợp lý nhất, tránh chen chúc hay xô đẩy, xảy ra những sự cố đáng tiếc.

Một số kinh nghiệm khi đi lễ phủ Tây Hồ đầu năm

Bên cạnh việc tìm hiểu về vấn đề phủ Tây Hồ có từ bao giờ hay phủ Tây Hồ đóng cửa lúc mấy giờ , bạn cũng cần quan tâm tới một số vấn đề khi tới đây:

Phủ Tây Hồ giờ mở cửa , việc sắm lễ sẽ tùy theo lòng thành và tâm của mỗi người. Thực tế không có một quy định hay luật lệ nào về vấn đề sắm lễ vật. Vì vậy bạn chỉ cần sắm lễ đúng đủ, tránh sắm lễ sai hoặc thừa ảnh hưởng tới việc cầu nguyện và gây lãng phí.

Ngoài phủ Tây Hồ mấy giờ đóng cửa , khách thập phương cũng cần lưu ý rằng không dùng lễ mặn, vàng mã, cũng không nên đặt giấy hay hàng mã ở ban thờ Phật, Bồ Tát.

Mọi người đều rất quan tâm tới lịch mở cửa phủ Tây Hồ hay thời gian mở cửa phủ Tây Hồ để có thể vào lễ đúng giờ. Phủ Tây Hồ được biết tới là địa điểm nổi tiếng để mọi người dân tới đây cầu tài lộc, may mắn và bình an tới cho gia đình, bản thân của mỗi người. Phủ Tây Hồ mấy giờ đóng cửa ? Hằng năm, phủ Tây Hồ thu hút một lượng đông đảo du khách thập phương tới cầu tài lộc.

Phủ Tây Hồ mấy giờ mở cửa , khách thập hương khi tới dâng hương tại Phủ cũng cần lưu ý về trình tự các ban thờ tại nơi đây để tránh phạm phải những sai lầm, ảnh hưởng tới thần linh.

Phủ Tây Hồ có 4 ban chính là phủ chính, Điện Sơn Trang, lầu cô, lầu cậu được bố trí từ trong ra ngoài. Bên cạnh việc tuân thủ theo thời gian mở cửa của phủ Tây Hồ , du khách cũng cần tuân theo trình tự các ban như sau: Đầu tiên cần lễ tại Phủ chính trước tiên. Các ban thờ của phủ sẽ được chia thành 3 lớp với 3 nếp của tam quan:

  • Phủ Tây Hồ mở cửa đến mấy giờ , lớp thứ nhất thờ Tam phủ công đồng, Tứ phủ vạn linh và Hội đồng các quan
  • Lớp thứ hai là cung Tam tòa, ban thờ này không có tượng mà chỉ có ngai và ở đây không có ban thờ Tứ phủ Chầu Bà
  • Lớp thứ ba thờ Tam toàn Thánh Mẫu.

Phủ Tây Hồ mở cửa từ mấy giờ , có thể nói nơi tôn nghiêm và trang trọng nhất của phủ chính là hậu cung. Chính giữa là ban thờ Mẫu và là Tam tòa Thánh Mẫu theo đúng tín ngưỡng của con người Việt Nam.

Tượng Mẫu Liễu Hạnh được đặt ở giữa, mặc áo đỏ và trùm khăn đỏ. Phủ Tây Hồ mở cửa , bên trái của tượng Mẫu Liễu Hạnh là Mẫu Thượng Ngàn, mặc áo xanh và trùm khăn xanh. Còn bên phải là bàn thờ Mẫu Thoải, mặc áo trắng và chùm khăn trắng. Phủ Tây Hồ có mở cửa ngày thường không ? Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải đều là 3 vị mẫu đại diện cho năng lực tạo nên chúng sinh muôn loài, là tượng trưng cho cội nguồn của sự sống, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho con người.

Phủ Tây Hồ mở cửa đến mấy giờ , tiếp theo bên ngoài là ban thờ Ngọc Hoàng thượng đế, Nam Tào, Bắc Đẩu và hội đồng các quan, quan Hoàng Bảy, quan Hoàng Mười.

0

du xuân * giờ đóng mở cửa phủ tây hồ * giờ mở cửa của phủ tây hồ * lịch mở cửa phủ tây hồ * phủ tây hồ có mở cửa đến mấy giờ * phủ tây hồ có mở cửa ngày thường không * phủ tây hồ có mở tối không * phủ tây hồ có từ bao giờ * phủ tây hồ đóng cửa lúc mấy giờ * phủ tây hồ giờ mở cửa * phủ tây hồ mấy giờ đóng cửa * phủ tây hồ mấy giờ mở cửa * phủ tây hồ mấy h đóng cửa * phủ tây hồ mở cửa * phủ tây hồ mở cửa đến mấy giờ * phủ tây hồ mở cửa những ngày nào * phủ tây hồ mở cửa từ mấy giờ * phủ tây hồ mở đến mấy giờ * Phủ Tây Hồ mở đóng cửa đến mấy giờ * thời gian mở cửa của phủ tây hồ * thời gian mở cửa phủ tây hồ

【#7】Chùa Trấn Quốc Mở Của Lúc Mấy Giờ

Chùa Trấn Quốc không chỉ nổi tiếng với lịch sử lâu đời và nhiều công trình kiến trúc độc đáo mà còn là địa điểm du lịch tâm linh thu hút nhiều tín đồ Phật tử cùng khách du lịch đến hành lễ, tham quan. Vậy chùa Trấn Quốc mở cửa lúc mấy giờ?

Cùng Viet Fun Travel tìm hiểu thêm kiến trúc độc đáo của chùa Trấn Quốc Hà Nội

Chùa Trấn Quốc nằm trên bán đảo phía nam Hồ Tây, gần cuối đường Thanh niên, quận Tây Hồ là một trong những ngôi chùa lâu đời nhất ở Hà Nội với lịch sử lên tới 1500 năm. Chùa Trấn Quốc nổi tiếng là trung tâm Phật giáo linh thiêng và điểm thu hút nhiều tín đồ Phật tử cùng khách du lịch trong nước, quốc tế.

Chùa là sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc cổ kính, uy nghiêm với nét thanh bình và nên thơ của vườn cây xanh tươi, hồ nước mênh mang. Năm 1962, Bộ Văn hóa Thông tin đã công nhận chùa Trấn Quốc là Di tích lịch sử văn hóa quốc gia.

Theo đánh giá xếp hạng của tờ Thrillist uy tín, chùa Trấn Quốc là một trong những ngôi chùa đẹp nhất thế giới cùng với các ngôi chùa nổi tiếng khác như Chùa Shwedagon Paya – Myanmar, Chùa Lạt ma – Trung Quốc…

Chùa Trấn Quốc là ngôi chùa nổi tiếng linh thiêng bậc nhất Hà Nội.

Chùa Trấn Quốc nằm trên đường Thanh Niên, quận Tây Hồ nên du khách có thể dễ dàng di chuyển bằng xe máy, ô tô hoặc xe bus để đến chùa trong tour du lịch Hà Nội 1 ngày. Chùa mở cửa hàng ngày từ 8 giờ sáng đến 4 giờ chiều cho các Tăng ni, Phật tử và khách du lịch đến tham quan, dâng hương.

Lối vào chùa Trần Quốc vô cùng ấn tượng.

Chùa Trấn Quốc – Ngôi chùa cổ nhất Hà Nội

Tên gọi đầu tiên của ngôi chùa cổ nhất Hà Nội này là Khai Quốc, sau nhiều lần đổi tên từ đời vua Lê Hy Tông, người dân quen gọi chùa là Trấn Quốc và được lưu giữ tới ngày nay. Trước đây, chùa Trấn Quốc từng là trung tâm Phật giáo của kinh thành Thăng Long vào thời Trần – Lý.

Bên cạnh đó, chùa còn nổi tiếng là danh thắng bậc nhất kinh kì nên vua và các quan thường đến đây vãng cảnh, ngự giá, cúng lễ trong những dịp đặc biệt như lễ, Tết. Đặc biệt, nhiều cung điện đã được xây dựng ở đây như điện Hàm Nguyên, cung Thúy Hoa để phục vụ cho việc nghỉ ngơi và thư giãn của nhà vua.

Đến tận bây giờ, chùa Trấn Quốc vẫn là một trong những điểm du lịch Hà Nội được du khách yêu thích tìm đến lễ Phật cầu kinh và hòa mình vào không gian thiên nhiên bình yên và tĩnh lặng.

Giống với hầu hết các ngôi chùa khác ở Việt Nam, nội thất và kết cấu của chùa Trấn Quốc được xây dựng theo những nguyên tắc, trình tự đặc trưng của Phật giáo. Chùa bao gồm nhiều lớp nhà với ba ngôi nhà chính là Tiền đường phía Tây, Thượng điện và nhà thiêu công được nối với nhau thành chữ Công.

Chùa Trấn Quốc đẹp ảo mộng lúc chiều tà.

Trên cửa chùa vẫn còn lưu giữ bút tích ba chữ Phương Tiện môn và hai câu đối viết bằng chữ Nôm tuyệt đẹp. Sau Thượng điện là gác chuông ba gian với mái chồng diêm và nằm trên trục sảnh đường chính. Bên trái là nhà bia và bên phải là nhà tổ.

Trong chùa Trấn Quốc hiện nay vẫn còn lưu giữ 14 tấm bia khắc từ năm 1813 đến năm 1815, trên bia là bài văn của tiến sĩ Phạm Quý Thích ghi chép lại việc tu sửa lại chùa sau thời gian dài bị đổ nát.

Trước mặt tiền chính của chùa là một khoảng sân rộng lát gạch đỏ với lư hương lớn ở giữa để các Phật tử và du khách đến dâng hương. Ngoài kiến trúc ban đầu, vào năm 2003, chùa Trấn Quốc đã cho khánh thành thêm Bảo tháp lục độ đài sen cao 15m, gồm 11 tầng với mỗi tầng có 6 ô cửa hình vòm và trong mỗi ô là một pho tượng Phật A Di Đà bằng đá quý.

Đặc biệt, phía trên đỉnh tháp còn có đài sen chín tầng gọi là Cửu phẩm liên hoa cũng được tạc bằng đá quý trang nhã. Vì vậy, trang Thrillist đã đánh giá chùa Trấn Quốc – ngôi chùa cổ nhất ở Hà Nội có kiến trúc độc đáo như bông sen đang nở rộ và làm mọi người liên tưởng tới đài sen của Phật tổ.

Với hình ảnh đối xứng của Bảo tháp với cây bồ đề mang ý nghĩa vô cùng sâu sắc, đó là hoa sen tượng trưng cho Đức Phật thanh tao, dù có ở trong môi trường xấu vẫn không bị ô uế như loài hoa sen vươn mình mạnh mẽ trên bùn lầy.

Còn cây bồ đề tượng trưng cho trí tuệ, trí giác vô thượng của Đức Phật và lòng nhân ái, vị tha của người. Tất cả những điều này đều mang hàm ý cho cái đẹp của Phật.

Tượng vàng trong chính điện chùa Trấn Quốc.

Ngoài ra đến chùa Trấn Quốc sau khi khám phá các quán cafe view đẹp ở Hà Nội, du khách đừng bỏ qua cơ hội chiêm ngưỡng nhiều pho tượng Phật và Bồ tát có giá trị nghệ thuật lớn như bộ tượng thờ ở Thượng điện; các pho tượng đúc đồng… Tất cả được tạo tác trau chuốt, tỉ mỉ…, mang ý nghĩa linh thiêng huyền bí.

Tuy nhiên, điểm nhấn lớn nhất đó chính là bức tượng Phật Thích Ca nhập Niết bàn bằng gỗ và sơn son thiếp vàng – bức tượng Niết bàn đẹp nhất Việt Nam.

Nếu là người thích khám phá vẻ đẹp tinh hoa của kiến trúc xưa và tìm hiểu văn hóa tôn giáo thì du khách đừng quên đến với chùa Trấn Quốc và tìm hiểu thông tin chùa Trấn Quốc mở cửa lúc mấy giờ để có một chuyến du lịch Hà Nội đầy ấn tượng khó quên.

Du lịch Việt Vui tổng hợp

【#8】Nghi Thức Tang Lễ Công Giáo

CÁC CÔNG VIỆC LIÊN QUAN CẦN PHẢI LÀM KHI CÓ NGƯỜI QUA ĐỜI

– Liên lạc Nhà Quàn (Funeral Home) để di chuyển xác, tắm rửa và tẩm liệm

– Chọn Quan Tài (Áo Quan), gói dịch vụ mai táng.

– Chọn Nghĩa Trang, Mộ Huyệt, Bia Đá (nếu an táng – chôn)

– Sắp xếp Chương Trình Viếng Xác, Cầu Nguyện, và Thánh Lễ An Táng.

– Thông Báo cho họ hàng thân quyến, bà con bạn hữu, xóm làng quen biết,

– Thông Báo cho Ông Tổng Thư Ký HĐGX, hay Ông Chủ Tịch Cộng Đoàn.

– Phóng Di Ảnh lớn của Người Quá Cố.

– Thực hiện sách kinh, sách hát dùng trong giờ cầu nguyện và Thánh Lễ,

– Đặt các Vòng Hoa tưởng nhớ.

– In Tiểu Sử Người Quá Cố

– Sổ Ghi Nhớ cho Khách Viếng Thăm

– Chụp hình, quay phim

– Giấy Chứng Thực Qua Đời (Clergy Record hoặc Certificate of Death)

– Đăng Cáo Phó, Cảm Tạ.(nhà quàn thực hiện).

– Chuẩn bị đồ tang (nhà quàn chuẩn bị).

1. NGHI THỨC CẦU NGUYỆN Ở NHÀ QUÀN HAY TƯ GIA (dành cho người lớn)

Phần Khai Mạc (Hướng dẫn viên có đôi lời chào hỏi và mời mọi người đứng dậy, bắt đầu bằng dấu thánh giá).

HDV: Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Amen.

Nguyện xin ở sủng và bình an của Thiên Chúa, là Cha chúng ta và Ðức Giêsu Kitô ở cùng anh chị em.

: Và ở cùng cha (thầy, ông, bà, anh, chị).

HDV: Ðể bắt đầu nghi thức phụng vụ cầu nguyện cho ông/bà T. xin mời mọi người cùng hát bài (Cầu Xin Chúa Thánh Thần hoặc Thánh Thần Xin Ngự Ðến).

(Sau khi chấm dứt bài hát)

HDV: Anh chị em thân mến, chúng ta tin rằng mọi tương quan bằng hữu và tình cảm trong đời sống đã liên kết chúng ta nên một, và các tương quan ấy không bị hủy diệt bởi sự chết.

Chúng ta cũng tin rằng Thiên Chúa luôn nhớ đến các việc lành mà chúng ta đã thực hiển để tha thứ những lỗi lầm của chúng ta. Giờ đây, chúng ta hãy cầu xin Thiên Chúa đưa linh hồn T. lên cùng Chúa.

(Giữ im lặng trong giây lát)

HDV: Lạy Thiên Chúa, cái chết của người anh/chị em của chúng con đây, là ông/bà T., đã nhắc nhở chúng con về thân phận con người và sự ngắn ngủi của cuộc sống này. Nhưng, với những ai tin tưởng ở tình yêu Thiên Chúa, sự chết không phải là chấm dứt, và nó cũng không tiêu hủy các mối dây liên kết mà Thiên Chúa đã tôi luyện trong đời sống chúng con.

Vì được chia sẻ cùng một đức tin với các thánh tông đồ và niềm hy vọng của con cái Thiên Chúa, xin Chúa đem lại ánh sáng phục sinh của Ðức Kitô vào thời gian thử thách và đau khổ khi chúng con cầu nguyện cho ông/bà T. và những người thân yêu của họ. Chúng con cầu xin nhờ Ðức Giêsu Kitô Chúa chúng con.

: Amen.

Phụng Vụ Lời Chúa

(Chọn các bài đọc cho phù hợp với hoàn cảnh. Mọi người ngồi để nghe các bài đọc)

Bài Ðọc 1 Thánh Vịnh Ðáp Ca

Phúc Âm Bài Giảng

(nếu có linh mục hoặc phó tế)

Kinh Cầu

HDV: Chúng ta hãy quay về Ðức Kitô với niềm tin tưởng trong quyền lực thập giá và phục sinh của Người để dâng lời cầu nguyện.

Người Xướng: Lạy Chúa Kitô Phục Sinh, Ngài là gương mẫu muôn đời của chúng con. Xin Chúa thương xót chúng con.

Cđ: Xin Chúa thương xót chúng con.

X: Lạy Chúa Kitô, Con Thiên Chúa, Ðấng đã đến để tiêu diệt tội lỗi và sự chết. Xin Chúa thương xót chúng con.

: Xin Chúa thương xót chúng con.

X: Lạy Ngôi Lời Thiên Chúa, Ðấng đã giải thoát chúng con khỏi sợ hãi cái chết. Xin Chúa thương xót chúng con.

: Xin Chúa thương xót chúng con.

X: Lạy Chúa Kitô, Ðấng Chăn Chiên nhân hậu, Người đem linh hồn chúng con tới chỗ nghỉ ngơi, xin ban bình an muôn đời cho ông/bà T. Xin Chúa thương xót chúng con.

Cđ: Xin Chúa thương xót chúng con.

X: Lạy Chúa Giêsu Kitô, xin Người an ủi những ai đang than khóc và sầu khổ. Xin Người chúc lành cho gia đình ông/bà T. và thân bằng quyến thuộc cũng như bạn hữu đang quy tụ nơi đây. Xin Chúa thương xót chúng con.

Cđ: Xin Chúa thương xót chúng con.

Kinh Lạy Cha

HDV: Các anh chị em thân mến. Ngôi nhà thật chúng ta là ở thiên đàng. Bởi đó, chúng ta hãy dâng lời cầu khẩn lên Cha trên trời, như Chúa Giêsu đã dạy chúng ta.

Cđ: Lạy Cha chúng con ở trên trời?

Lời Nguyện Kết

HDV: Lạy Chúa Giêsu, Ðấng Cứu Ðộ chúng con, Ngài đã sẵn sàng hy sinh chịu chết, để mọi người được cứu chuộc và được đi từ sự chết đến sự sống. Chúng con khiêm tốn nài xin Chúa an ủi các tôi tớ Chúa trong sự sầu khổ và xin Chúa đón nhận ông/bà T. vào vòng tay thương xót của Ngài. Chỉ có một mình Ngài là Ðấng Thánh, và chính Ngài là sự thương xót; Qua cái chết Ngài đã mở cánh cửa sự sống cho những ai tin vào Ngài. Xin Chúa hãy tha thứ những lỗi lầm của ông/bà T., và xin ban cho ông/bà T. một nơi hạnh phúc, ngập tràn ánh sáng và bình an trong vương quốc vinh hiển của Chúa cho tới muôn đời.

: Amen.

(Bạn hữu có thể ngỏ đôi lời cùng tang quyến).

Chấm Dứt Nghi Thức

HDV: Phúc cho những ai được chết trong Chúa; xin cho họ được nghỉ yên khỏi sự lao nhọc, vì những công việc tốt lành họ làm sẽ có giá trị trước mặt Chúa.

(vẽ dấu thánh giá trên trán người chết và đọc)

Lạy Chúa, xin ban sự nghỉ yên muôn đời cho linh hồn T.

Cđ: Và xin ánh sáng bất diệt chiếu soi trên linh hồn ấy.

HDV: Xin cho ông/bà T. được nghỉ yên muôn đời.

Cđ: Amen

HDV: Xin cho linh hồn ông/bà T. , và linh hồn của mọi tín hữu đã qua đời, nhờ lòng thương xót Chúa sẽ được nghỉ yên muôn đời.

: Amen Ban phép lành (Nếu là linh mục hoặc phó tế)

HDV: Xin bình an của Thiên Chúa, vượt quá mọi trí hiểu, sẽ gìn giữ tâm hồn và lòng trí anh chị em trong tình yêu và sự nhận biết của Thiên Chúa Cha và Thiên Chúa Con, là Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.

Cđ: Amen.

HDV: Xin Thiên Chúa toàn năng là Cha, và Con, và Thánh Thần, ban phép lành cho anh chị em.

: Amen.

Có thể chấm dứt nghi thức phụng vụ bằng một bài hát hoặc thinh lặng cầu nguyện

Trao Khăn Tang

Nếu có phát tang, thêm phần cầu nguyện sau đây trước khi ban phép lành kết thúc.

HDV: Giải khăn tang này biểu tượng cho lòng hiếu thảo của con cái, cháu chắt, báo đền ơn nghĩa sinh thành và dưỡng dục của Cha/Mẹ, Ông/Bà, Bác, Chú/Cô, Dì/Dượng … và của mỗi người thân quyến bầy tỏ lòng kính mến, tiếc thương đối với người thân yêu đã lìa trần. Ước mong sao, mỗi người, khi nhận lãnh tấm khăn trắng này, luôn tưởng nhớ đến người thân yêu đã qua đời, bằng những việc hy sinh, hãm mình, bằng lời cầu nguyện để xin Chúa tha thứ cho linh hồn T., và mau được hưởng phần thưởng Nước Trời.

(gia đình, con cháu, họ hàng lên nhận khăn tang)

Chuỗi Mai Khôi

Lần chuỗi là một hình thức đạo đức mà Giáo Hội không buộc phải theo một hình thức nhất định nào. Mục đích khi lần chuỗi là suy niệm về cuộc đời Chúa Giêsu. Do đó, thay vì các ngắm mùa vui, mùa thương và mùa mừng như thường lệ, chúng ta có thể thay thế bằng các đoạn Kinh Thánh.

Sau mỗi một đoạn Phúc Âm, nên giữ thinh lặng để suy niệm.

Chuỗi Mai Khôi Kinh Thánh

2. NGHI THỨC CẦU NGUYỆN TRƯỚC KHI DI CHUYỂN LINH CỮU VÀO NHÀ THỜ HOẶC RA NGHĨA TRANG

Mở Ðầu

HDV: Anh chị em thân mến trong Ðức Giêsu Kitô, nhân danh Chúa Giêsu và Giáo Hội của Người mà chúng ta quy tụ nơi đây để cầu nguyện cho ông/bà T., xin Thiên Chúa đưa ông/bà T. đến nơi an nghỉ muôn đời.

Chúng ta đau buồn trước sự ra đi của người thân yêu, nhưng lời Thiên Chúa hứa ban sự sống đời đời đã đem cho chúng ta niềm hy vọng. Chúng ta hãy an ủi nhau bằng những lời sau đây:

Ðọc Sách Thánh Bài trích thư Thánh Phaolô Tông Ðồ gửi tín hữu Colossê (3:3-4)

Thật vậy, anh chị em đã chết, và sự sống mới của anh chị em hiện đang tiềm tàng với Ðức Ki-tô nơi Thiên Chúa. Khi Ðức Ki-tô, nguồn sống của chúng ta xuất hiện, anh chị em sẽ được xuất hiện với Người, và cùng Người hưởng phúc vinh quang.

Hoặc Bài trích thư Thánh Phaolô Tông Ðồ gửi tín hữu Rôma (6:8-9)

Nếu chúng ta đã cùng chết với Ðức Ki-tô, chúng ta tin rằng chúng ta sẽ cùng sống với Người. Chúng ta biết rằng, một khi Ðức Ki-tô đã sống lại từ cõi chết, thì không bao giờ Người chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Người.

HDV: Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu đã đến để phục sinh kẻ chết và an ủi chúng ta với tình yêu của Người. Chúng ta hãy chúc tụng ngợi khen Ðức Giêsu Kitô.

Phụ Tá: Lạy Ngôi Lời Thiên Chúa, Ðấng Tạo Thành trái đất mà nay thân xác ông/bà T. sẽ trở về với lòng đất; trong bí tích rửa tội, Ngài đã kêu gọi ông/bà đến sự sống vĩnh cửu để chúc tụng ngợi khen Chúa Cha đến muôn đời.

Xin Chúa thương xót chúng con.

Ð: Xin Chúa thương xót chúng con.

PT: Lạy Ðức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, Ngài nâng đỡ người công chính và bao bọc họ với vinh quang Nước Trời. Xin Chúa thương xót chúng con.

Ð: Xin Chúa thương xót chúng con.

PT: Lạy Ðức Kitô chịu đóng đinh, Ngài đã che chở linh hồn ông/bà T. với quyền năng thập giá của Ngài, và trong ngày tái giáng lâm, Ngài sẽ tỏ lòng thương xót đối với mọi tín hữu đã ly trần.

Xin Chúa thương xót chúng con.

Ð: Xin Chúa thương xót chúng con.

PT: Lúc phán xét kẻ sống và kẻ chết, khi nghe tiếng Chúa, mồ mả sẽ mở tung và những người công chính — đang ngủ yên trong bình an của Chúa — sẽ chỗi dậy và ca tụng vinh quang Chúa.

Xin Chúa thương xót chúng con.

Ð: Xin Chúa thương xót chúng con.

PT: Lạy Ðức Giêsu Kitô, mọi chúc tụng ngợi khen đều quy về Chúa, Ngài nắm cái chết trong tay và mọi sự sống sẽ tùy thuộc vào chỉ một mình Ngài.

Xin Chúa thương xót chúng con.

Ð: Xin Chúa thương xót chúng con.

Kinh Lạy Cha

HDV: Với đức tin và đức cậy, chúng ta dâng lời cầu nguyện lên Thiên Chúa Cha với những lời mà Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ:

Lạy Cha chúng con…

Phần Kết

HDV: Lạy Chúa, ông/bà T. nay đã từ giã nơi cư ngụ trần gian và để lại những người thân yêu đang khóc thương ông/bà. Khi chúng con đang đau buồn trước sự ra đi này, xin cho chúng con luôn nhớ đến ông/bà T. và sống với niềm hy vọng vào vương quốc vĩnh cửu là nơi Chúa sẽ quy tụ chúng con lại với nhau. Chúng con cầu xin nhờ Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng con.

Ð: Amen.

Trước Khi Di Chuyển Linh Cữu

HDV: Thiên Chúa gìn giữ chúng ta lúc đến cũng như lúc đi. Xin Thiên Chúa ở với chúng ta trong chuyến đi cuối cùng với người anh chị em của chúng ta.

(Trong khi di chuyển linh cửu đến nhà thờ hoặc nghĩa trang, có thể hát Thánh Vịnh)

3. NGHI THỨC AN TÁNG (phần chi tiết xin xem trong sách của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam)

Lời Nguyện Giáo Dân

Mẫu A.

Lm: Anh chị em thân mến, Ðức Giêsu Kitô đã sống lại từ kẻ chết và đang ngự bên hữu Chúa Cha để cầu bầu cho Giáo Hội của Người. Với niềm tin tưởng rằng Thiên Chúa sẽ lắng nghe những ai tín thác vào Ðức Giêsu Kitô, chúng ta dâng lời cầu nguyện:

1. Trong bí tích rửa tội, ông/bà T. đã được lãnh nhận ánh sáng của Ðức Kitô. Giờ đây, xin Chúa xua tan bóng tối và dẫn ông/bà vượt qua nước của sự chết. Chúng ta hãy cầu xin Chúa.

Ð: Xin Chúa nhận lời chúng con.

2. Người anh chị em của chúng ta là ông/bà T. đã được nuôi dưỡng ở bàn tiệc của Ðấng Cứu Thế. Xin Chúa đưa ông/bà vào tham dự bàn tiệc trên trời. Chúng ta hãy cầu xin Chúa.

Ð: Xin Chúa nhận lời chúng con.

3. (Nếu người chết là tu sĩ) Anh chị em của chúng ta là T. đã trọn cuộc đời theo Chúa Giêsu trong sự khó nghèo, khiết tịnh và vâng lời. Xin Chúa hãy coi T. như một trong những người thánh thiện đang hỉ hoan trong cung điện trên trời.

Chúng ta hãy cầu xin Chúa.

Ð: Xin Chúa nhận lời chúng con.

4. (Nếu người chết là giám mục hay linh mục) Người anh em của chúng ta là T. đã được chia sẻ chức vụ tư tế của Chúa Giêsu trong việc dẫn dắt Dân Chúa cầu nguyện và thờ phượng. Xin Chúa đưa T. hiện diện trước mặt Chúa là nơi T. sẽ được một chỗ trong phụng vụ nước trời.

Chúng ta hãy cầu xin Chúa.

Ð: Xin Chúa nhận lời chúng con.

5. (Nếu người chết là phó tế) Người anh em chúng ta là T. đã phục vụ dân Chúa với tư cách của một phó tế trong Giáo Hội. Xin Chúa chuẩn bị cho T. một chỗ trong vương quốc mà tên của T. sẽ được Chúa công bố.

Chúng ta hãy cầu xin Chúa.

Ð: Xin Chúa nhận lời chúng con.

6. Nhiều thân bằng quyến thuộc và bằng hữu đã ra đi trước chúng ta và đang chờ đợi phần thưởng nước trời. Xin Chúa ban cho họ một mái nhà vĩnh viễn với Con Chúa.

Chúng ta hãy cầu xin Chúa.

Ð: Xin Chúa nhận lời chúng con.

7. Nhiều người bị chết vì võ lực, chiến tranh và đói khát. Xin Chúa xót thương những ai bị đau khổ một cách bất công vì những tội lỗi xúc phạm đến tình yêu của Chúa, và xin đưa tất cả vào vương quốc bình an muôn đời.

Chúng ta hãy cầu xin Chúa.

Ð: Xin Chúa nhận lời chúng con.

8. Những người tín thác vào Ðức Kitô hiện đang ngủ yên trong Chúa. Xin Chúa ban bình an, sự nghỉ ngơi tĩnh dưỡng cho tất cả những ai có đức tin mà chỉ có mình Chúa biết.

Chúng ta hãy cầu xin Chúa.

Ð: Xin Chúa nhận lời chúng con.

9. Những người thân yêu của T. đang cần sự nguôi ngoai an ủi. Xin Chúa hãy xoa dịu sự đau thương của họ và xua tan những u uẩn, nghi ngờ vì buồn chán.

Chúng ta hãy cầu xin Chúa.

Ð: Xin Chúa nhận lời chúng con.

10. Chúng ta đang quy tụ nơi đây trong đức tin và đức cậy để cầu nguyện cho anh chị em chúng ta là ông/bà T. Xin Chúa kiên cường niềm hy vọng của chúng ta để chúng ta có thể sống xứng đáng khi chờ đợi Ðức Kitô tái giáng lâm.

Chúng ta hãy cầu xin Chúa.

Ð: Xin Chúa nhận lời chúng con.

Lm: Lạy Thiên Chúa, Ðấng ban phát bình an và chữa lành các linh hồn, xin lắng nghe lời cầu khẩn của Ðấng Cứu Thế, là Ðức Giêsu Kitô, và của dân Người, mà sự sống của họ đã được trả bằng máu của Con Chiên. Xin Chúa tha thứ những lỗi lầm của tất cả những ai đang yên giấc trong Ðức Kitô, và xin ban cho họ một chỗ trong nước trời.

Chúng con cầu xin nhờ Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng con.

Amen.

Mẫu B.

Lm: Thiên Chúa là Cha toàn năng, Người đã đưa Ðức Kitô chỗi dậy từ cõi chết; với sự tin tưởng chúng ta hãy cầu xin Người gìn giữ tất cả những ai thuộc về Người, dù còn sống hay đã chết.

1. Trong bí tích rửa tội, ông/bà T. đã được hứa ban sự sống đời đời, xin cho ông/bà T. được đón nhận vào cộng đồng các thánh.

Chúng ta hãy cầu xin Chúa.

Ð: Xin Chúa nhận lời chúng con.

2. Vì ông/bà T. đã được ăn Mình Thánh Ðức Kitô, là bánh hằng sống, xin cho ông/bà được sống lại vào ngày sau hết.

Chúng ta hãy cầu xin Chúa.

Ð: Xin Chúa nhận lời chúng con.

3. (Nếu là phó tế) Vì người anh em của chúng ta là T. đã công bố Tin Mừng của Ðức Giêsu Kitô và phục vụ người nghèo xin cho T. được đón nhận vào cung thánh ở thiên đàng.

Chúng ta hãy cầu xin Chúa.

Ð: Xin Chúa nhận lời chúng con.

4. (Nếu là giám mục hay linh mục) Vì người anh em của chúng ta là T. đã phục vụ Giáo Hội với tư cách một linh mục, xin cho T. được một chỗ trong phụng vụ nước trời.

Chúng ta hãy cầu xin Chúa.

Ð: Xin Chúa nhận lời chúng con.

5. Xin cho thân nhân và bạn hữu của người quá cố và cho tất cả những ai đã giúp đỡ chúng ta được Chúa đền đáp vì những công việc tốt lành của họ.

Chúng ta hãy cầu xin Chúa.

Ð: Xin Chúa nhận lời chúng con.

6. Xin cho những ai đang an nghỉ trong niềm hy vọng sống lại sẽ được chiêm ngưỡng Chúa cách nhãn tiền.

Chúng ta hãy cầu xin Chúa.

Ð: Xin Chúa nhận lời chúng con.

7. Xin cho gia đình và bạn hữu của ông/bà T. được an ủi trong sự buồn sầu của Ðức Kitô, là Người đã thương khóc cái chết của Lagiarô.

Chúng ta hãy cầu xin Chúa.

Ð: Xin Chúa nhận lời chúng con.

8. Xin cho tất cả chúng ta đang quy tụ thờ phượng trong cùng một niềm tin sẽ được tái xum họp trong vương quốc Thiên Chúa.

Chúng ta hãy cầu xin Chúa.

Ð: Xin Chúa nhận lời chúng con.

Lm: Lạy Thiên Chúa là nơi nương náu và là sức mạnh của chúng con, Ngài đã nghe tiếng khóc than của dân Ngài; xin lắng nghe lời chúng con cầu nguyện cho anh chị em chúng con, là ông/bà T. vừa mới qua đời. Xin thanh tẩy tội lỗi của họ và xin ban cho họ sự no đủ của ơn cứu độ.

Chúng con cầu xin nhờ Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng con.

Amen.

4. NGHI THỨC HẠ HUYỆT

HDV: Người thân yêu của chúng ta là ông/bà T. đã đến nơi an nghỉ trong sự bình an của Ðức Kitô. Giờ đây xin Thiên Chúa đón nhận ông/bà vào bàn tiệc của con cái Thiên Chúa trên thiên đàng. Với niềm tin và niềm hy vọng trong sự sống vĩnh cửu, chúng ta hãy nâng đỡ ông/bà trong lời cầu nguyện.

Chúng ta cũng dâng lên Chúa lời cầu nguyện cho cả chúng ta nữa. Ðể ngày nào đó chúng ta sẽ được tái hợp với người thân yêu của chúng ta, và cùng nhau chúng ta sẽ được gặp Ðức Kitô–là sự sống của chúng ta–mà Ngài sẽ xuất hiện trong vinh quang.

Trong Sách Thánh, chúng ta đọc (chọn một):

A. Bấy giờ Ðức Vua sẽ phán cùng những người ở bên phải rằng: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa.” (Mt 25:34).

B. Ý của Ðấng đã sai tôi là tất cả những kẻ Người đã ban cho tôi, tôi sẽ không để mất một ai, nhưng sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết. (Gioan 6:39).

C. Còn chúng ta, quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Ðức Giê-su Ki-tô từ trời đến cứu chúng ta. (Phil. 3:20).

D. Xin Ðức Giê-su Ki-tô là vị Chứng Nhân trung thành, là Trưởng Tử trong số những người từ cõi chết chỗi dậy, là Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian, ban cho anh chị em ân sủng và bình an. Người đã yêu mến chúng ta và lấy máu mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, làm cho chúng ta trở thành vương quốc và hàng tư tế để phụng sự Thiên Chúa là Cha của Người: kính dâng Người vinh quang và uy quyền đến muôn thuở muôn đời. A-men! (Kh. 1:5-6).

Làm Phép Huyệt

HDV: Lạy Ðức Giêsu Kitô, nhờ Chúa ở ba ngày trong mộ, Chúa đã thánh hóa các ngôi mộ của những ai tin vào Chúa, và đã biến ngôi mộ trở thành dấu chỉ hy vọng vào lời hứa phục sinh, dù ngôi mộ đang cầm giữ thân xác chúng con. Xin cho ông/bà T. được nghỉ yên trong bình an cho tới khi Chúa đánh thức ông/bà dậy trong vinh quang, vì Chúa là sự phục sinh và là sự sống.

Sau đó ông/bà sẽ được thấy Chúa nhãn tiền và được thấy ánh sáng trong sự sáng của Chúa Và nhận biết sự huy hoàng của Thiên Chúa, vì Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.

Ð: Amen.

Hạ Huyệt

Vì Chúa đã gọi ông/bà T. ra khỏi thế gian về với Chúa, chúng ta gửi gấm thi thể ông/bà T. vào lòng đất vì chúng ta là cát bụi sẽ trở về với cát bụi. Nhưng Ðức Giêsu Kitô sẽ thay đổi thân xác hay chết của chúng ta trở nên giống thân xác của Ngài trong vinh quang, vì Ngài đã sống lại, là trưởng tử của kẻ chết.

Chúng ta hãy phó thác người thân yêu của chúng ta cho Thiên Chúa, để Người ấp ủ trong bình an, và cho thân xác ấy chỗi dậy trong ngày sau hết.

Lời Nguyện Giáo Dân

(sau khi hạ huyệt)

Mẫu A.

HDV: Chúng ta hãy cầu xin Ðức Kitô, là Ðấng đã nói: “Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta, dù có chết, cũng sẽ được sống, và bất cứ ai sống và tin vào Ta sẽ không bao giờ chết.”

1. Lạy Chúa, Chúa đã an ủi bà Mácta và Maria khi họ buồn sầu; xin Chúa hãy gần chúng con, là những người đang thương tiếc ông/bà T., và xin Chúa lau khô mọi giọt lệ của những kẻ khóc than.

Chúng con cầu xin Chúa.

Ð: Xin Chúa nhận lời chúng con.

2. Chúa đã nhỏ lệ khi đứng trước mộ Lagiarô, người bạn của Ngài; xin Chúa an ủi chúng con đang trong sự buồn sầu.

Chúng con cầu xin Chúa.

Ð: Xin Chúa nhận lời chúng con.

3. Chúa đã làm cho kẻ chết sống lại; xin cho người thân yêu của chúng con được sự sống đời đời.

Chúng con cầu xin Chúa.

Ð: Xin Chúa nhận lời chúng con.

4. Chúa đã hứa nước trời cho kẻ trộm biết ăn năn sám hối; xin Chúa đưa ông/bà T. vào hưởng niềm vui nước trời.

Chúng con cầu xin Chúa.

Ð: Xin Chúa nhận lời chúng con.

5. Xin Chúa an ủi chúng con đang buồn sầu vì cái chết của người thân yêu; xin cho đức tin của chúng con trở nên nguồn an ủi và sự sống đời đời là nguồn hy vọng của chúng con.

Chúng con cầu xin Chúa.

Ð: Xin Chúa nhận lời chúng con.

Mẫu B.

HDV: Anh chị em thân mến, với một lòng sùng kính chúng ta hãy dâng lên Chúa lời khẩn nguyện của chúng ta, vì Ngài là nguồn mạch mọi sự thương xót. Lạy Chúa khoan nhân, xin hãy tha thứ tội lỗi cho những ai đã chết trong Ðức Kitô.

Chúng con cầu xin Chúa.

Ð: Xin Chúa nhận lời chúng con.

1. Xin Chúa hãy nhớ đến các việc lành mà chúng con đã làm.

Chúng con cầu xin Chúa.

Ð: Xin Chúa nhận lời chúng con.

2. Xin Chúa đón nhận ông/bà T. vào sự sống đời đời.

Chúng con cầu xin Chúa.

Ð: Xin Chúa nhận lời chúng con.

3. Chúng ta hãy cầu nguyện cho những thân nhân đang thương khóc. Xin Chúa an ủi họ khi sầu muộn.

Chúng con cầu xin Chúa.

Ð: Xin Chúa nhận lời chúng con.

4. Xin Chúa gia tăng đức tin và kiên cường niềm hy vọng của họ.

Chúng con cầu xin Chúa.

Ð: Xin Chúa nhận lời chúng con. 5. Chúng ta cũng cầu nguyện cho chính chúng ta đang trên đường lữ thứ. Xin cho chúng ta luôn trung thành phục vụ Thiên Chúa. Chúng con cầu xin Chúa. Ð: Xin Chúa nhận lời chúng con.

Kinh Lạy Cha

HDV: Với sự khát khao ngày ngự trị của vương quốc Thiên Chúa, chúng ta cùng cầu nguyện:

Lạy Cha chúng con…

Lời Nguyện Kết

HDV: Lạy Thiên Chúa toàn năng, qua cái chết của Con Chúa trên thập giá, Chúa đã tiêu diệt sự chết; qua việc Ðức Kitô nằm trong mộ Chúa đã thánh hóa các phần mộ của những ai tin vào Ngài; và qua sự sống lại của Ðức Kitô Chúa đã phục hồi sự sống vĩnh cửu cho chúng con. Lạy Thiên Chúa của kẻ sống cũng như kẻ chết, xin nhận lời chúng con cầu khẩn cho những ai đã chết trong Ðức Kitô và đã được mai táng với Người trong niềm hy vọng sống lại. Vì khi còn sống họ đã trung thành với danh thánh Ngài, xin cho họ được ca tụng Ngài cho đến muôn đời trong niềm vui thiên đàng.

Chúng con cầu xin nhờ Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng con.

Ð: Amen.

Cầu Nguyện Cho Người Tham Dự

HDV: Mọi người hãy cúi đầu và cầu xin Chúa chúc lành. (sau giây phút thinh lặng) Lạy Thiên Chúa giầu lòng thương xót, Chúa biết thế nào là buồn sầu khổ não, Chúa luôn lắng nghe lời cầu xin của kẻ khiêm nhường. Xin hãy lắng nghe con dân Chúa đang khẩn thiết nài xin Chúa và xin kiên cường niềm hy vọng của họ trong sự nhân từ vô cùng của Chúa.

Chúng con cầu xin nhờ Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng con.

Ð: Amen. HDV: Lạy Chúa, xin ban sự nghỉ yên muôn đời cho ông/bà T.

: Và xin ánh sáng bất diệt chiếu soi trên họ.

HDV: Xin cho ông/bà T. được nghỉ yên muôn đời.

: Amen

HDV: Xin cho linh hồn ông/bà T. , và linh hồn của mọi tín hữu đã ly trần, nhờ lòng thương xót Chúa sẽ được nghỉ yên muôn đời.

: Amen

Ban phép lành

A. Nếu là linh mục hoặc phó tế

HDV: Xin bình an của Thiên Chúa, vượt quá mọi trí hiểu, sẽ gìn giữ tâm hồn và lòng trí anh chị em trong tình yêu và sự nhận biết của Thiên Chúa Cha và Thiên Chúa Con, là Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.

Cđ: Amen.

HDV: Xin Thiên Chúa Toàn Năng là Cha, và Con, và Chúa Thánh Thần ban phép lành cho anh chị em.

Ð: Amen.

B. Nếu là giáo dân

HDV: Nguyện xin tình yêu của Thiên Chúa và bình an của Chúa Giêsu Kitô chúc lành và an ủi chúng ta và lau khô mọi giọt lệ của chúng ta nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần.

Ð: Amen.

HDV: Hãy ra đi trong bình an của Ðức Kitô.

Ð: Tạ ơn Chúa.

Có thể hát thánh ca kết thúc.

Mọi người có thể ném đất hoặc ném bông hoa để tượng trưng cho việc chôn xác kẻ chết.

5. NGHI THỨC HỎA TÁNG

Mở đầu

HDV: Anh chị em thân mến, Chúng ta đến đây để cử hành nghi thức hoả táng T… Việc hỏa táng nhắc chúng ta nhớ đến thân phận mỏng dòn của con người. Thiên Chúa dựng nên con người từ tro bụi, rồi lại cho con người trở về bụi tro, đợi mai sau thân xác sẽ được tái tạo trong trời mới, đất mới.

(giữ thinh lặng trong giây phút)

Chúng ta dâng lời cầu nguyện.

Lạy Cha, Cha đã tạo dựng nên lửa và ban lửa cho chúng con. Lửa đã sưởi ấm khi chúng con sinh ra, đã tạo điều kiện tốt cho cuộc sống hàng ngày, và khi chúng con qua đời, lửa còn làm cho thân xác này nên giống của lễ toàn thiêu xưa.

Xin Cha chúc lành và thánh hóa ngọn lửa chúng con sắp dùng để hoả táng thân xác người anh (chị) em của chúng con là T…

Chúng con cầu xin, nhờ Ðức Kitô Chúa chúng con.

: Amen.

Lời Nguyện Giáo Dân

HDV: Anh chị em thân mến, Tác giả thư gửi tín hữu Do Thái (12:29) đã cho chúng ta biết: “Thiên Chúa là một ngọn lửa thiêu. Người đã cho ông Môsê được gặp Người qua bụi gai rực lửa. Người cũng hiện diện giữa dân Người qua cột lửa về ban đêm trong sa mạc. Chính Thiên Chúa Cha đã cho Ðức Giêsu Kitô đến thanh tẩy chúng ta bằng lửa trong Thánh Thần, và đã ban Chúa Thánh Thần như lửa sưởi ấm linh hồn chúng ta. Người cũng mời gọi chúng ta dâng hiến đời sống cho Người như lễ vật toàn thiêu. Với những xác tín ấy, trong việc cử hành nghi thức hỏa táng hôm nay, chúng ta hãy dâng lên Chúa Cha những lời nguyện xin tha thiết, và đầy tin tưởng sau đây:

1. Lạy Cha, Con một Cha là Ðức Giêsu Kitô đã đem lửa xuống trần gian, và Người không ao ước gì hơn là thấy lửa ấy bừng cháy lên. Xin cho ánh sáng Tin Mừng được thắp lên trong toàn Giáo Hội và trên khắp hoàn cầu.

Chúng con cầu xin Chúa. Ðáp: Xin Chúa nhậm lời chúng con.

2. Như ngọn lửa vật chất sắp thiêu đốt thi hài T…, xin cho ngọn lửa mến Chúa yêu người cũng luôn nung nấu tâm hồn chúng con.

Chúng con cầu xin Chúa. Ðáp: Xin Chúa nhậm lời chúng con.

3. Lạy Cha, chúng con tạ ơn Cha đã ban cho T… được làm người và được làm con cái Cha. Chúng con tạ ơn Cha vì muôn ơn lành Cha đã ban cho T… trong suốt cuộc đời, và bây giờ Cha lại gọi T… về với Cha. Xin Cha thương đón linh hồn T… cùng với những việc lành cũng như mọi sự yếu đuối của T… trong cuộc sống làm người.

Chúng con cầu xin Chúa. Ðáp: Xin Chúa nhậm lời chúng con.

4. Cũng như thân xác của T… sắp thành những hạt bụi mất hút trong lòng đời, xin Cha cho mỗi người chúng con cũng biết quên mình, biết hy sinh trong cuộc sống phục vụ anh chị em.

Chúng con cầu xin Chúa. Ðáp: Xin Chúa nhậm lời chúng con.

5. Xin cho thân nhân của T… nhận được mọi ơn lành của Cha, và được mọi người quý mến thiết tha như ngọn lửa an ủi sưởi ấm tâm hồn họ.

Chúng con cầu xin Chúa.

Ðáp: Xin Chúa nhậm lời chúng con.

Kinh Lạy Cha

HDV: Và giờ đây, chúng ta hãy dâng lên Chúa những lời cầu nguyện mà chính Chúa Giêsu Kitô đã dạy chúng ta.

Tất cả đọc Kinh Lạy Cha, trong khi linh mục HDV: rẩy nước thánh và xông hương.

Lời Nguyện Kết

HDV: Chúng ta dâng lời cầu nguyện. Lạy Cha, giờ đây chúng con phó dâng linh hồn T… cho tình thương của Cha, và chúng con hỏa táng T… như của lễ toàn thiêu dâng lên Cha.

Xin cho lễ hiến dâng này, cùng với tình yêu của gia đình và cộng đoàn chúng con, được kết hiệp với Chúa Giêsu trên thập giá thành của lễ đẹp lòng Cha.

Xin cho đời sống chúng con và mọi lời chúng con cầu nguyện được như hương trầm toả bay trước thánh nhan Cha, để cầu cho T…, và mọi người đã chết trong ân tình Cha, được vào hưởng vinh quang Cha muôn đời. Chúng con cầu xin nhờ Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng con.

: Amen.

HDV. Lạy Cha, xin cho linh hồn T… được nghỉ yên muôn đời.

. Và cho ánh sáng ngàn đời chiếu soi trên linh hồn ấy.

Sưu tầm

【#9】Kinh Nghiệm Mở Quán Nhậu Bình Dân “vốn Ít

Dù bạn có ý định mở quán nhậu bình dân, vỉa hè hay kinh doanh quán nhậu sang trọng quy mô lớn kiểu nhà hàng thì bạn cũng cần có sự chuẩn bị, tìm hiểu, nghiên cứu thật kĩ càng bởi vì kinh doanh không hề đơn giản.

Kinh nghiệm mở quán nhậu bình dân cần bao nhiêu tiền? Luôn là câu hỏi của nhiều người có ý định kinh doanh mô hình ẩm thực này. Hiện nay, rất nhiều người lựa chọn mô hình kinh doanh quán nhậu vì “một đồng vốn bốn đồng lời”. Tuy nhiên, mở quán nhậu cũng cần một số vốn nhất định. Bài viết sau đây sẽ cung cấp cho bạn một số thông tin tham khảo về kinh nghiệm mở quán nhậu gồm những gì và cần chuẩn bị như thế nào.

3 điều cần lưu ý khi kinh doanh quán nhậu bình dân

Kinh doanh không phải là trò chơi, mà phải thật sự có đam mê và nhiệt huyết. Do đó, nếu bạn mở quán nhậu theo trào lưu, hoặc là người không thích nhậu nhẹt hay các buổi tiệc có bia, rượu thì nên cân nhắc lại về ý tưởng và mô hình kinh doanh quán nhậu. Một quán ăn nhẹ hay café có lẽ sẽ thích hợp hơn với bạn.

Bí quyết thành công của việc kinh doanh quán nhậu là phải xây dựng thực đơn độc, lạ, đa dạng và ngon miệng. Chất lượng món ăn sẽ là yếu tố đầu tiên níu chân thực khách quay trở lại quán của bạn nhiều lần nữa.

Một điều quan trọng không kém là địa điểm. Quán nhậu nên nằm tại đường lớn, có mặt bằng rộng rãi và thoáng mát, có chỗ để xe cho khách.

Nếu ở Sài Gòn, quán nhậu nằm bên sông hoặc bờ kè thường được người dân yêu thích. Chú ý thuê nhân viên trông xe cho khách để tránh trường hợp mất trộm.

Mở quán nhậu cần chuẩn bị gì? Hướng dẫn cách mở quán nhậu bình dân

Vấn đề đầu tiên dĩ nhiên sẽ là vốn. Bạn cần chuẩn bị một khoản tiền nhất định cũng như chi phí dự trù cho vài tháng đầu tiên kinh doanh chưa thuận lợi. Để mở quán nhậu quy mô nhỏ, bạn cần chuẩn bị ít nhất 50 – 70 triệu đồng để chi cho các khoản sau:

– Tiền thuê mặt bằng,

– Chi phí xây dựng, sửa chữa và thiết kế,

– Chi phí mua bàn ghế, nội thất,

– Chi phí mua các thiết bị, công cụ bếp, chén dĩa, tủ lạnh,

– Tiền lương trả nhân viên phục vụ, thu ngân, trông xe, đầu bếp

Chi phí thuê mặt bằng mở quán nhậu

Mặt bằng là phần tốn kém nhất khi kinh doanh, vì vậy bạn cần cân nhắc lựa chọn mặt bằng quán nhậu phù hợp. Địa điểm của quán cũng tùy thuộc vào đối tượng khách hàng mà bạn nhắm đến (người lao động, dân văn phòng hay người có thu nhập cao…). Bên cạnh đó, tránh tình trạng quán “không một bóng người”, quán nhậu nên nằm ở đường lớn, đông người qua lại, mặt tiền rộng rãi, có chỗ để xe cho khách.

Theo kinh nghiệm chia sẻ từ các chủ quán nhậu lâu năm, bạn nên chọn những khu đất trống hoặc đang nằm trong một dự án xây dựng để thuê, vì chỉ cần tiền hành gia công nền và gắn mái che di động là có ngay mặt bằng để kinh doanh chỉ sau vài ngày. Đồng thời, một quán ăn có không gian sạch sẽ và thoáng mát sẽ khiến khách hàng thoải mái, muốn ngồi lại lâu hơn.

Tại chúng tôi theo tham khảo, giá một mặt bằng rộng khoảng 40m2 có giá dao động trong khoảng từ 7 – 35 triệu đồng/tháng và phải cọc trước 1 – 2 tháng tùy vào chủ cho thuê, chưa tính chi phí sửa sang, thiết kế và trang trí quán tốn khoảng 50 – 150 triệu đồng, tổng cộng chi phí mở quán nhậu bình dân rơi vào khoảng 70 – 200 triệu đồng tùy vào quy mô, địa điểm, trang trí.

Mua vật dụng, đầu tư nội thất cho quán

Để tiết kiệm chi phí, bạn không cần thiết phải đầu tư mới nội thất 100%, mà có thể mua lại từ hàng trăm quán nhậu phải đóng cửa mỗi ngày vì kinh doanh lỗ vốn. Chỉ cần vật dụng còn tốt, không quá cũ thì hoàn toàn có thể sử dụng được. Việc thu mua lại vật dụng còn mới từ các quán đóng cửa sẽ giúp bạn tiết kiệm được rất nhiều chi phí, đặc biệt đối với người chỉ có vốn đầu tư ít. Chỉ nên đầu tư mới khi không thể tìm được vật dụng cần mua trên thị trường.

Các loại vật dụng mà bạn có thể tận dụng từ các quán đóng cửa gồm dụng cụ bếp, bàn ghế, tủ kệ… Riêng với chén dĩa, muỗng bát, ly cốc thì tìm mua tận xưởng là lựa chọn tốt nhất vì giá mua sẽ được ưu đãi nhiều so với mua trên thị trường. Tổng chi phí mua sắm vật dụng quán nhậu sẽ tốn khoảng 12 – 50 triệu đồng.

Thuê nhân viên mở quán nhậu cần bao nhiêu tiền?

Tất cả nhân viên phải được đào tạo từ người phục vụ cho tới nhân viên giữ xe trước ngày khai trương nhằm để lại ấn tượng tốt trong lòng khách hàng ngay từ lần đầu tiên. Thái độ phục vụ nhanh nhẹn, niềm nở, thân thiện là yếu tố giữ khách hàng đầu khi kinh doanh quán ăn.

Đầu bếp chính là linh hồn của quán nhậu, thành bại đều nằm trong bàn tay khéo léo của người đứng bếp. Thường chủ quán là người chịu trách nhiệm nấu ăn, nhưng nếu bạn cảm thấy chưa tự tin với kỹ năng của mình, hãy mạnh dạn thuê một đầu bếp giỏi vì chất lượng món ăn chính là một trong những lý do khiến thực khách luôn nhớ đến quán nhậu của bạn.

Mỗi nhân viên phục vụ thường có mức lương từ 3.5 đến 4 triệu đồng chưa tính phụ cấp & thưởng. Đầu bếp thì được trả từ 6 đến 15 triệu tùy vào khả năng chuyên môn và kinh nghiệm đứng bếp.

Chi phí nhập nguyên vật liệu đầu kỳ

Phần chi phí này sẽ được chia làm hai phần: nguyên vật liệu chế biến món ăn và thức uống (bia, nước ngọt, nước đóng chai). Theo các nhà kinh doanh, các đại lý bia và chợ đầu mối là địa điểm cung cấp nước uống và thực phẩm giá sỉ.

Tuy nhiên, để có được mức giá hợp lý nhất, chủ quán nên tham khảo giá từ nhiều đại lý và chợ đầu mối khác nhau, sau đó gắn bó dài lâu với một nhà cung cấp là cách tốt nhất để hưởng mức giá nhập liệu ưu đãi.

Đây là một trong những vấn đề quan trọng nhất trong quá trình kinh doanh. Bạn cần nhanh chóng đến các cơ quan hành chính địa phương để xin giấy phép kinh doanh, hoàn tất các thủ tục pháp lý.

Nếu quán nhậu bình dân thì chủ sẽ đóng thuế theo hình thức hộ kinh doanh cá thể. Nếu mở quán có quy mô lớn, nhiều nhân viên thì sẽ phải thực hiện đóng thuế theo hình thức doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH hay công ty TMCP tùy vào lựa chọn của bạn.

Người Việt khi mở quán kinh doanh thường xem ngày tốt để khai trương. Trước ngày khai trương khoảng 1 tuần, bạn cần chuẩn bị hoa tươi, băng rôn, lẵng hoa… để đặt trước cửa quán.

Áp dụng các hình thức khai trương khuyến mãi giảm giá, mua 2 tặng 1, tặng thêm đồ uống… có thể thu hút khách đến với quán của bạn. Bạn cũng có thể tận dụng tờ rơi hay mạng xã hội để chia sẻ thông tin về quán của mình, để quán dễ dàng tiếp cận được nhiều khách hàng có nhu cầu.

Ngoài các khoảng chi nêu trên, chi phí khi đăng ký kinh doanh và thực hiện các thủ tục, giấy tờ hành chính hay xin cấp chứng nhận an toàn vệ sinh thực phẩm cũng là điều các chủ quán nhậu cần lưu ý.

Ngoài ra, bạn cần đầu tư vào việc tiếp thị, quảng cáo quán nhậu trong vài tháng đầu mở bán để thu hút khách hàng, ví dụ treo băng rôn khuyến mãi, phát tờ rơi, quảng cáo trên mạng xã hội, quà tặng cho khách, … Các loại phí nêu trên có thể tốn từ 15-50 triệu khi mở quán, 2-10 triệu cho mỗi tháng kinh doanh.

Các thủ tục xin mở quán nhậu

Bên cạnh đó, căn cứ theo Quyết định số 43/2005/QĐ-BYT do Bộ Y Tế ban hành ngày 20/12/2005, tất cả các doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân, tổ chức kinh doanh và sản xuất thực phẩm tại Việt Nam đều phải có giấy chứng nhận tham gia tập huấn kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với ngành nghề mình đăng ký kinh doanh.

Ngày 12/03/2007, Bộ Y Tế ban hành Quyết định số 21/2007/QĐ-BYT, theo đó quy định tất cả những cá nhân, tổ chức sử dụng người lao động hoặc là chủ của người lao động trực tiếp tham gia kinh doanh, sản xuất thực phẩm độc lập (là những đối tượng trực tiếp tiếp xúc hoặc tham gia quá trình chế biến thực phẩm đóng gói sẵn hoặc kinh doanh thực phẩm ăn) phải có thẻ xanh chứng nhận đầy đủ điều kiện sức khỏe.

Hiện nay, các nhà hàng và quán ăn đều dán bản sao giấy chứng nhận Vệ sinh an toàn thực phẩm tại những nơi dễ nhìn thấy nhất trong quán. Điều này có lợi cho quán của bạn trong trường hợp các cơ quan pháp lý đến kiểm tra, hoặc cũng là một cách để khách hàng cảm thấy yên tâm và tin tưởng khi dùng món tại quán của bạn.

Theo nội dung quy định trong Nghị định số 38/2012/NĐ-CP của Chính phủ ban hành và Luật An toàn thực phẩm số 55/2010/QH12 của Bộ Y tế ban hành nhằm hướng dẫn người dân thực hiện luật An toàn thực phẩm, theo đó, tất cả các cá nhân, tổ chức, đơn vị sản xuất và kinh doanh lĩnh vực thực phẩm đều phải có giấy chứng nhận An toàn vệ sinh thực phẩm mới được tham gia kinh doanh.

Giấy chứng nhận An toàn thực phẩm có hiệu lực trong vòng 3 năm tính từ ngày doanh nghiệp chính thức hoạt động. Nếu cơ sở, doanh nghiệp nào cố tình không thực hiện đúng quy định có thể bị xử phạt hành chính về vi phạm an toàn thực phẩm của Chính phủ. Trong đó, mức phạt cảnh cáo là đóng cửa, còn mức phạt hành chính có thể lên đến mức 200 triệu đồng.

Ngoài ra, tham gia ngay những khóa dạy nấu ăn mở quán nhậu từ những trung tâm đào tạo nấu ăn chất lượng cũng là một trong những yếu tố quyết định thành công của một quán ăn vừa ngon vừa an toàn.

ĐĂNG KÝ TƯ VẤN MIỄN PHÍ:

【#10】Mua Đồ Sửa Soạn Mâm Cúng Thắp Hương Chuẩn Nhất Trong Ngày Tết Đoan Ngọ

Thắp hương ngày Tết Đoan Ngọ cũng cần phải sửa soạn đủ lễ vật và đúng nghi lễ. Gia chủ nên biết những điều sau để có cách thắp hương chuẩn mực trong ngày Tết Đoan Ngọ.

Tết Đoan Ngọ thắp hương gì hay trong ngày này có phải thắp hương không hay chỉ cần ăn những món ăn đặc trưng nhằm diệt sâu bọ là đủ? Tết Đoan Ngọ hay còn gọi là Tết Đoan Dương là một nét văn hóa truyền thống lâu đời của người dân Việt Nam. Trong ngày Tết Đoan Ngọ, người dân thường sửa soạn mua gồm những sản vật nông nghiệp đặc trưng của mùa hè nhằm xua đuổi sâu bọ phá phách mùa màng, cầu mong cơ thể khỏe mạnh và một cuộc sống ấm no.

Mâm cúng tết Đoan Ngọ mùng 5/5:

Đồ thắp hương Tết Đoan Ngọ thường là những món ăn quen thuộc gắn liền với nền văn minh lúa nước tại Việt Nam. Cơm rượu nếp, bánh ú tro, hoa quả đầu mùa là những lễ vật không thể thiếu trên mâm cúng thắp hương Tết Đoan Ngọ.

Hoa quả thắp hương Tết Đoan Ngọ là những loại trái cây mùa hè như mận, đào, vải, dưa hấu, hồng xiêm,… Ngoài ra, ở miền Trung, người ta cũng làm thịt vịt để bày lên mâm cúng.

– Hương, hoa tươi, vàng mã

– Rót đầy 3 chén nước

– 1 chai rượu nếp, bát cơm rượu nếp

– 2 loại hoa quả chính là vải và mận, còn các loại hoa quả khác như đào, dưa hấu, hồng xiêm, chuối có thể bổ sung thêm

– 1 đĩa xôi

– Bánh tro

– Bánh trôi, bánh chay

Tùy theo quan niệm của từng vùng mà lựa chọn các đồ vật dâng cúng ông bà, tổ tiên ngày Tết Đoan Ngọ khác nhau. Tuy nhiên phải đảm bảo đủ các lễ vật chính như: Hương, hoa, vàng mã, nước, rượu nếp.

Nhiều người thường có thói quen ăn Tết Đoan Ngọ ngay từ sáng sớm với quan niệm ăn cơm rượu nếp vào buổi sáng khi dạ dày còn trống có thể diệt sâu bọ triệt để.

Tuy nhiên, không phải lúc nào dân gian cũng đúng, Tết Đoan Ngọ ngay từ tên gọi đã cho thấy thời gian chính xác để thắp hương là vào giữa trưa (Đoan là bắt đầu, Ngọ là giữa trưa). Cho nên, sau khi đã sắp xếp mâm cúng đủ đầy, giờ thắp hương Tết Đoan Ngọ là vào giờ Ngọ, trong khoảng thời gian từ 11 giờ đến 1 giờ chiều.

Thắp hương Tết Đoan Ngọ nên được tiến hành từ 11 giờ đến 13 giờ – Ảnh: Internet

Tết Đoan Ngọ tại Việt Nam là một dịp để gia đình đoàn tụ, có ý nghĩa quan trọng và là giá trị tinh thần to lớn đối với người dân Việt Nam. Chuẩn bị mâm cúng thắp hương Tết Đoan Ngọ mùng 5/5 sao cho chu đáo là một hình thức bày tỏ lòng thành đối với tổ tiên, cầu chúc sức khỏe và một mùa màng bội thu, cuộc sống cả năm no ấm.