Top #10 ❤️ Kinh Cúng Cửu Huyền Đạo Cao Đài Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 10/2022 ❣️ Top Trend | Iseeacademy.com

Vài Nét Về Chữ Hiếu Trong Đạo Cao Đài Qua Quyển Kinh Thiên Đạo Và Thế Đạo

Ý Nghĩa Loài Hoa Mẫu Đơn

Địa Mẫu Chân Kinh (Kỳ 1)

Độ Cứng Hrc – Hrb – Hb – Hv – Leeb Của Kim Loại Phổ Biến

Tìm Hiểu Về Máy Đo Độ Cứng Và Quy Trình Hiệu Chuẩn

Hv Của Kim Loại / Thép

Thiên Đạo (the Way of Heaven) là con đường tu tập để giải thoát con người khỏi vòng luân hồi, để linh hồn được đến cảnh cực lạc, niết bàn (cũng gọi là cõi thiêng liêng hằng sống, bồng lai, nước Trời, Thiên Quốc, v.v…).

Muốn theo Thiên Đạo thì trước tiên tín đồ phải nhớ làm tròn phần Nhân Đạo (Nhơn Đạo). Đức Chí Tôn dạy: “Hễ Nhơn Đạo thành thì là phù hạp Thiên Đạo.” (1)

Thánh ngôn lại dạy:

Rằng ở đời thì Nhơn Đạo trọn,

Trọn rồi Thiên Đạo mới hoàn toàn.(2)

Trong Nhân Đạo, điều gì là chánh yếu? Đó là chữ Hiếu.

Thật vậy, trong dịp kỷ niệm lễ vía Đức Khổng Tử (ông Tổ đạo Nho, tức là Đức Khổng Thánh Tiên Sư), Ngài giáng đàn dạy như sau:

Hiếu phần chánh của Nhân Đạo vậy,

Hiếu phụ thì mới thấy hiếu nhi,

Hiếu tâm ngày tháng nhớ ghi,

Hiếu thường thăm viếng vui thì song thân.(3)

Cũng vậy, Đức Ni Sư Diệu Lộc dạy: “Từ cõi Thiên Đình hay niết bàn, bồng lai, tiên cảnh đến cửa đạo đức, không một vì Phật Tiên Thánh Thần hay nhà lãnh giáo ,

Thong dong cõi thọ nương hồn,

Chờ con lập đức giúp huờn [hoàn] ngôi xưa.

Bài kinh nói trên do Đức Ðoàn Thị Ðiểm giáng cơ ban cho. Tiền kiếp Ngài là danh Nho Việt Nam, bút danh Hồng Hà Nữ Sĩ (1705-1748). Quả vị của Ngài trong Tam Kỳ Phổ Độ là Giác Minh Thánh Đức.(19)

*  *  *

Phú Nhuận, 11-11-2010.

(1) Tòa Thánh Tây Ninh, Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Quyển 1: Đàn ngày 01-3-1927.

(2)Tòa Thánh Tây Ninh, Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Quyển 1: Thi Văn Dạy Đạo, bài 92.

(3) Hườn Cung Đàn (Tam Giáo Điện Minh Tân, quận 4), đàn đêm 30 rạng sáng 01-9 Nhâm Dần (28-9-1962).

(4) Đàn cơ tại Chơn Lý Đàn (Vạn Quốc Tự, quận 3), ngày 01-5 Kỷ Dậu (15-6-1969).

(5) Thay vì huynh đệ, trong sách Trung Dung viết côn đệ. Chữ côn có nghĩa là anh (huynh).

(6) Tội căn: Cội rễ gây ra lỗi lầm, tội lỗi (the root of sins).

(7) Ba Giềng: Tam Cang (Cương), gồm ba mối quan hệ xã hội: 1. Quân thần cang là quan hệ chánh phủ và người dân (dân trung thành với Tổ Quốc, chánh phủ chăm lo cho dân); 2. Phụ tử cang là quan hệ cha mẹ và con cái (cha mẹ thương yêu con, con hiếu thảo với cha mẹ); 3. Phu thê cang là quan hệ vợ chồng (chung thủy).

(8) Năm Hằng: Ngũ Thường, gồm năm đức tính mà con người phải luôn luôn có: 1. Nhân: Lòng thương người, thương vật (tương ứng giới cấm Nhứt bất sát sanh); 2. Nghĩa: Cách sống hợp lẽ phải, đạo đức (tương ứng giới cấm Nhị bất du đạo); 3. Lễ: Sự trang nghiêm, khuôn phép, đứng đắn trong tư tưởng và hành vi. Thí dụ: ăn nói tục tằn; xem những hình ảnh, sách vở thô tục; ham muốn sắc dục ngoài tình vợ chồng… đều là trái lễ (tương ứng giới cấm Tam bất tà dâm); 4. Trí: Sáng suốt, biết phân biệt phải trái nên hư, biết lúc nào tiến lúc nào lui (tương ứng giới cấm Tứ bất tửu nhục, vì say sưa làm tâm trí mê muội); 5. Tín: Đối với bản thân thì tự tin ở mình; đối xử với người khác thì không dối trá, lừa gạt; đối với các Đấng thiêng liêng thì làm đúng những gì đã nguyện hứa (tương ứng giới cấm Ngũ bất vọng ngữ).

(9) Tòa Thánh Tây Ninh, Kinh Thiên Đạo Và Thế Đạo: bài Kinh Sám Hối, câu 425-428.

(10) Trả thảo: Trả hiếu, báo hiếu (to fulfil one’s filial duty).

(11) Tu mi: Đàn ông, kẻ mày râu (tu: râu; mi: lông mày). Phụ nữ không có râu lại thường cạo hoặc nhổ sạch lông mày để vẽ cho đẹp; do đó tu mi chỉ đàn ông.

(12) Kinh Sám Hối, câu 49-52.

(13) Kinh Sám Hối, câu 329-332.

(14) Thân nghĩa là cha, mẹ. Gọi cha là phụ thân, mẹ là mẫu thân, cả cha và mẹ là song thân.

(15 ) Cúc dục: Nuôi nấng. Cù lao: Vất vả, khổ nhọc.

(16) Thân: Cha, mẹ. Hiếu thân: Báo hiếu cha, mẹ.

(17) Trọn nghì: Trọn nghĩa.

(18) Người mất mẹ thì đọc: Xin mẫu thân… Nếu mất cả cha và mẹ thì đọc: Xin song thân…

(19) Hội Thánh Tam Quan, Kinh Tam Thừa Chơn Giáo. Quyển 1 (phẩm Tiểu Thừa): bài Tam Tùng Tứ Đức, đàn cơ ngày 19-8 Canh Tý (09-10-1960).

Giới Thiệu Khái Quát Về Đạo Cao Đài – Cecrs

Thượng Đế & Phật Mẫu

Kinh Nhật Tụng: Vạn Phật Thánh Thành

Gợi Ý Các Món Ngon Thắp Hương Rằm Tháng Giêng Vừa Thơm Ngon Vừa Đơn Giản

Các Món Ngon Ngày Tết Dễ Làm 3 Miền Bắc, Trung, Nam

Nguồn Gốc Hai Bài Niệm Hương Và Khai Kinh Của Đạo Cao Đài

Tamduyen.com ” Luận Giải: Về Ý Nghĩa, Công Dụng, Và Xuất Xứ Của Kinh Nhựt Tụng Trong Đạo Cao Đài

Mùng 1 Thắp Hương Hoa Gì Để Phúc Lộc Đầy Nhà?

Ngày Mùng 1 Thắp Hương Hoa Gì Để Phúc Lộc Ùn Ùn Kéo Tới?

Những Loài Hoa Nên Bày Trên Bàn Thờ Để Mang Nhiều Tài Lộc Cho Gia Đình

Những Loại Hoa Mang Lại May Mắn, Nhất Định Phải Mua Cắm Trong Nhà Ngày Vu Lan

Người tín đồ Cao Đài hàng ngày bắt đầu thời cúng của mình bằng bài kinh Niệm Hương với hai câu đầu: “Đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp. Lòng nương nhang khói tiếp truyền ra…”, sau đó tụng đến bài Khai Kinh: “Biển trần khổ vơi vơi trời nước…”.

Có thể nói, tất cả tín đồ Cao Đài đều thuộc nằm lòng hai bài kinh này, nhưng cũng có thể nói, ít người biết rằng hai bài kinh trên có gốc từ chi đạo Minh Lý (Tam Tông Miếu)1.; bài Niệm Hương do Đức Nam Cực Chưởng Giáo, dựa theo bài Phần Hương Chú (kinh Minh Sư, chữ Hán), giáng tả bằng quốc ngữ năm 1925, bài Khai Kinh do Đức Lữ Tổ giáng tả cũng trong năm đó.2.

NG UỒN GỐC BÀI KINH NI ỆM HƯƠNG

ẢNH 1

ẢNH 2

2. Trở lại bài Phần Hương Chú in trong Tứ Thời Nhựt Tụng Kinh (ảnh 1), nguyên văn bài kinh này như sau:

“Đạo do tâm hiệp

Tâm giả hương truyền

Hương phần ngọc lư

Tâm chú Tiên nguyện

Chơn linh hạ giáng

Tiên bội lâm hiên

Kim thần quan cáo

Kính đạt Cửu Thiên

Sở khải sở nguyện

Hàm tứ như ngôn.”

Tạm dịch:

Đạo do tâm thành hiệp chú vào

Tâm ấy nhờ hương thơm của nhang truyền đi

Hương khói nhang đốt từ lư ngọc

Tâm người theo đó hướng lòng cầu nguyện lên các vị Tiên

Chơn linh các đấng giáng hạ

Xe Tiên giáng lâm đến nơi

Hôm nay kẻ bề tôi xin tấu trình Hướng lên chín tầng Trời Những điều bề tôi trình dâng lên, nguyện xin Tất cả đều được ban cho như lời cầu.

Lời tạm dịch trên rất thô, so với từng câu từng câu bài Niệm Hương do Đức Nam Cực Chưởng Giáo giáng ban tại Minh Lý Thánh Hội:

“Đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp Lòng nương nhang khói tiếp truyền ra Mùi hương lư ngọc bay xa Kỉnh thành cầu nguyện Tiên gia chứng lòng Xin Thần Thánh ruổi giong cỡi hạc Xuống phàm trần vội gác xe Tiên Ngày nay đệ tử khẩn nguyền Chín tầng Trời Đất thông truyền chứng tri chúng tôi sở vọng gắn ghi đảo cáo Nhờ Ơn Trên bổ báo phước lành.”

ảnh 3

Bài kinh đạo Cao Đài sử dụng kết thúc bằng câu chú của Đức Chí Tôn: “Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát”, tạo ảnh hưởng mạnh trong cõi huyền linh.

3. Câu hỏi tiếp theo được đặt ra là:

* Bài Phần Hương Chú (Đạo do tâm hiệp…) có gốc tích từ đâu?3 Vài tác giả (Đức Nguyên, Thiên Vân …) viết: “Bài Phần Hương Chú bằng chữ Hán được trích trong kinh Cảm Ứng của Đạo Giáo”. Chúng tôi đã tìm qua một số bản kinh Cảm Ứng, trong đó có quyển Cảm Ứng Thiên Tập Chú, in năm Thiệu Trị thứ bảy (1847)… nhưng vẫn chưa thấy bài Phần Hương Chú trong đó.4.

Chuyển qua tìm trong kinh Minh Sư, chúng tôi đã gặp được một số bài kinh có nội dung tương tự bài Phần Hương Chú, thí dụ:

* Bài Chúc Hương Chú, trong Ngọc Hoàng Thượng Đế Hồng Từ Cứu Thế Bảo Kinh, trang 84, in năm 1912, Ngọc Sơn từ tàng bản (ảnh 3).

* Bài Phát Lư, trong Ngọc Hoàng Kinh Sám, trang 26, in năm Đinh Tỵ (1917) (ảnh 4).

* Bài Phần Hương Tưởng, trong Thái Thượng Diệu Lục quyển 2, trang 2, không ghi năm in,

Các bài kinh này, gọi là có nội dung tương tự bài Phần Hương Chú do có một vài chỗ khác biệt, thí dụ như bài Chúc Hương Chú (ảnh 3) như sau:

“Đạo do tâm học

Tâm giả hương truyền

Hương nhiệt ngọc lư

Tâm tồn Đế tiền

Chơn linh hạ giáng

Tiên bội lâm hiên

Linh thần quan cáo

Kính đạt Cửu Thiên.”

Hay như bài Phần Hương Tưởng (ảnh 5) có nội dung:

“Đạo do tâm hiệp

Tâm giả hương truyền

Hương phần lư trung

Tâm chú Đế tiền

Tiên linh giáng hạ

Tiên phối lâm hiên

Kim thần khải tấu

Thấu đạt Cửu Thiên

Phạm hữu sở nguyện

Hàm tứ như ngôn.”

4. Một số ý kiến ban đầu:

Quyển Tứ Thời Nhựt Tụng Kinh đã giúp làm ra bài Niệm Hương (và sau đó là bài Khai Kinh) được Ơn Trên tả qua quốc ngữ từ kinh chữ Hán, xác định tên và nội dung bài kinh, giúp chúng ta không phải thắc mắc, nhầm lẫn, do có nhiều bài tương tự nhau.

Như vậy, mặc dù còn phải tiếp tục tìm bài Phần Hương Chú đúng nguyên văn theo Tứ Thời Nhựt Tụng Kinh (ảnh 1), tuy nhiên, qua những bài kinh đã tìm thấy kể trên, có thể xác định được rằng bài Phần Hương Chú là kinh Minh Sư, đó cũng là định hướng sưu tầm trong thời gian tới.

Trong tất cả bản kinh chúng tôi đã tìm được, chỉ có bài Phần Hương Tưởng (ảnh 5) có câu đầu là “Đạo do tâm hiệp” giống bài Phần Hương Chú; còn lại, tất cả đều có câu đầu là “Đạo do tâm học”. Chữ Học này dù hiểu theo nghĩa:

Hiểu ra, giác ngộ… vẫn còn một khoảng cách khác biệt, nhứt là về mặt tâm linh, so vớí chữ Hiệp trong “thành tín hiệp”, đã ăn sâu vào tâm thức người đạo Cao

Đài.

NGUỒN GỐC BÀI KHAI KINH

“Trần hải mang mang thủy nhựt đông

Vãng hồi toàn trượng chủ nhơn công

Yếu tri tam giáo tâm nguyên hiệp

Trung thứ từ bi cảm ứng đồng.”

ẢNH 6- 7

Ghi chú thêm

Trong quyển Tứ Thời Nhựt Tụng Kinh của đạo Cao Đài (in năm 1928), từ trang 3 đến trang 6 có in bốn bài: Tịnh Khẩu Chú, Tịnh Tâm Chú, Tịnh Thân Chú và An Thổ Địa Chú. Về sau, từ khi T.a Thánh Tây Ninh ban hành quyển Nghi tiết Đại đàn và Tiểu đàn (17.6.Canh Ngọ-1930), bốn bài chú trên không c.n sử dụng nữa. Nhân đây, chúng tôi cũng xin thông tin rằng bốn bài chú đó có trong quyển Cứu Kiếp Hoàng Kinh (mã số R.3947 Thư viện Quốc gia Việt Nam).

Bìa quyển kinh ghi: “Tự Đức nhị thập cửu niên tân thuyên” và “Bản tồn Ngọc Sơn Văn Vũ Nhị Đế điện”; năm Tự Đức thứ 29 tức là năm 1875, và đền Ngọc Sơn (hồ Gươm, Hà Nội) xưa kia, khoảng từ 1845 đến 1945, là một trong hững Thiện Đàn quan trọng vùng Bắc bộ có tổ chức cơ bút, cũng là cơ sở in ấn và tàng bản kinh sách Hán Nôm lớn (lên đến 246 tên sách) trong giai đoạn trên.

Phap Mon Tinh Do Trong Dao Cao Dai

Giới Thiệu Khái Quát Về Đạo Cao Đài

Mối Liên Hệ Giữa Đức Phật Và Thánh Mẫu

30 Ngày Thiền Thất Bên Trong Vạn Phật Thánh Thành

Tả Một Ngày Mới Bắt Đầu Ở Quê Em

Giới Thiệu Khái Quát Về Đạo Cao Đài

Phap Mon Tinh Do Trong Dao Cao Dai

Nguồn Gốc Hai Bài Niệm Hương Và Khai Kinh Của Đạo Cao Đài

Tamduyen.com ” Luận Giải: Về Ý Nghĩa, Công Dụng, Và Xuất Xứ Của Kinh Nhựt Tụng Trong Đạo Cao Đài

Mùng 1 Thắp Hương Hoa Gì Để Phúc Lộc Đầy Nhà?

Ngày Mùng 1 Thắp Hương Hoa Gì Để Phúc Lộc Ùn Ùn Kéo Tới?

Phong trào Thông linh học của phương Tây phát triển nhanh tại Nam bộ, tạo thành phong trào cầu cơ, chấp bút gọi tắt là “cơ bút”. Trong các đàn cơ này, có hai nhóm chính hình thành đạo Cao đài. Nhóm thứ nhất do ông Ngô Minh Chiêu cầu cơ tại các đền, chùa thuộc các nhóm Ngũ chi Minh đạo. Nhóm thứ hai gồm ba ông: Cao Quỳnh Cư, Cao Hoài Sang, Phạm Công Tắc tổ chức xây bàn cầu cơ nhằm mục đích giải trí.

Đến ngày 12/2/1926, trong một bài cơ Đức Thượng đế đã phán dạy hai nhóm cơ bút thống nhất hình thành đạo Cao đài. Ông Ngô Minh Chiêu được Thiên phong phẩm vị Giáo tông đầu tiên của đạo Cao đài.

Ngày 7/10/1926, 28 người đại diện cho 247 tín đồ đã thống nhất ký tên vào Tờ khai đạo gửi chính quyền Pháp. Giữa tháng 11/1926, những chức sắc Thiên phong đầu tiên của đạo Cao đài tổ chức lễ khai đạo tại chùa Gò Kén, Tây Ninh, chính thức cho ra mắt Đại đạo Tam kỳ Phổ độ, gọi tắt là đạo Cao đài.

Tôn chỉ của đạo Cao đài là “Tam giáo quy nguyên, Ng̣ũ chi hiệp nhất”, lấy sự thương yêu làm nền tảng, lấy nhân nghĩa làm phương châm hành đạo, lấy việc phụng sự chúng sinh làm hành động, lấy sự cứu rỗi các chơn linh làm cứu cánh, phấn đấu xây dựng một xã hội đạo đức, an lạc bằng tinh thần thương yêu đồng đạo. Giáo lý của đạo Cao đài đề cao tính thiêng liêng, sự huyền diệu của cơ bút. Luật lệ của đạo Cao đài thực hiện theo Tân luật, Pháp Chánh truyền. Lễ nghi của đạo Cao đài khá cầu kì thể hiện tinh thần Tam giáo đồng nguyên. Đạo Cao đài thờ Thiên nhãn, có nghĩa là “mắt trời”, biểu tượng Đức Chí Tôn của đạo Cao đài. Cơ sở thờ tự có Toà thánh ở Trung ương giáo hội và thánh thất (thánh tịnh, điện thờ Phật Mẫu) ở Họ đạo cơ sở.

Mô hình tổ chức của đạo Cao đài theo 3 đài: Bát Quát đài là đài vô vi thờ Đức Chí Tôn (Thiên nhãn) và Phật, Tiên, Thánh, Thần; Hiệp Thiên đài là cơ quan bảo pháp có hai chức năng thông công giữa Bát Quát đài và Cửu Trùng đài và bảo vệ pháp luật Đạo, đồng thời giám sát các hoạt động của cơ quan Cửu Trùng đài, đứng đầu Hiệp Thiên đài là phẩm Hộ pháp; Cửu Trùng đài là cơ quan hành pháp, tổ chức hữu hình của đạo Cao đài, gồm 09 Viện và 9 phẩm, đứng đầu Cửu Trùng đài là phẩm Giáo tông.

Sau ngày khai đạo, những chức sắc lãnh đạo giáo hội Cao đài tiến hành xây dựng Toà thánh, phát triển các thánh thất, điện thờ, xây dựng giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức Giáo hội. Trong 2 năm 1926 – 1927, thông qua cơ bút đạo Cao đài đã tập trung xây dựng xong hai văn bản quan trọng qui định luật lệ, lễ nghi và tổ chức Giáo hội là Pháp Chánh truyền và Tân luật. Vì vậy, đến năm 1930 hoạt động tại Toà thánh dần dần đ­ược củng cố và đi vào nề nếp, những chức sắc thư­ờng trực đã thực hiện theo đúng chức năng nhiệm vụ, các cơ sở đạo phát triển, tổ chức Giáo hội hình thành từ Trung ương đến cơ sở theo 5 cấp hành chính đạo.

Từ 1931 đến 1934, mâu thuẫn giữa một số chức sắc Hiệp Thiên đài và Cửu Trùng đài ngày càng nặng nề, tình hình nội bộ Giáo hội mất đoàn kết ngày càng tăng, một số chức sắc cao cấp bất đồng với Toà thánh đã tự hoạt động theo ý riêng, tiến hành lập nhiều đàn cơ để lôi kéo tín đồ. Vì vậy, nội bộ chức sắc xuất hiện t­ư tư­ởng ly khai khỏi Toà thánh như­ các ông Nguyễn Văn Ca, Nguyễn Hữu Chính, Trần Đạo Quang, Nguyễn Ngọc T­ương, Lê Bá Trang, các vị chức sắc rời Toà thánh Tây Ninh về các địa phư­ơng lập ra các chi phái Cao đài mới như: Cao đài Ban Chỉnh đạo, Cao đài Tiên Thiên, Cao đài Chơn lý, Cao đài Minh Chơn đạo, Cao đài Bạch y…

Giai đoạn từ 1935 đến 1975, đạo Cao đài phát triển mạnh mẽ nhất nhưng cũng xảy ra tình trạng phân chia thành nhiều chi phái, đã có lúc lên đến hơn 30 phái Cao đài khác nhau. Số lượng tín đồ đạo Cao đài cũng phát triển nhanh chóng đến hơn 2 triệu người, tập trung chủ yếu ở Nam bộ và một vài tỉnh ở miền Trung, miền Bắc.

Giai đoạn từ năm 1975 đến nay: sau năm 1975, các phái Cao đài không hoạt động theo mô hình tổ chức cũ. Các Hội thánh Cao đài xây dựng tổ chức hành chính đạo theo hai cấp: cấp Trung ương là Hội thánh, cấp cơ sở là Họ đạo. Từ năm 1995 đến năm 2000, lần lượt 09 Hội thánh Cao đài có đông chức sắc, tín đồ tổ chức Đại hội thông qua Hiến chương, chương trình hành đạo, xây dựng tổ chức giáo hội 2 cấp, hoạt động theo 3 Hội: Thượng hội, Hội thánh, Hội Nhơn sanh và xác định đường hướng hành đạo “Nước vinh, Đạo sáng”.

Hiện nay, đạo Cao đài có 09 Hội thánh có tổ chức giáo hội gồm: Cao đài Tây Ninh, Cao đài Ban Chỉnh đạo, Cao đài Tiên Thiên, Cao đài Minh Chơn đạo, Truyền giáo Cao đài, Cao đài Cầu Kho Tam Quan, Cao đài Chơn lý, Cao đài Chiếu Minh Long Châu, Cao đài Bạch y.

Ngoài ra, đạo Cao đài còn có tổ chức Pháp môn Cao đài Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi là pháp môn tu hành của đạo Cao đài theo “Nội giáo tâm truyền” không có chức sắc, không lập giáo hội, chỉ chuyên tu tâm, luyện tánh theo truyền dạy của ông Ngô Minh Chiêu (được công nhận năm 2010). Giáo hội Cao đài Việt Nam (Bình Đức) cũng là một phái Cao đài có tổ chức giáo hội 02 cấp nhưng mới được cấp đăng ký hoạt động tôn giáo năm 2009.

Bên cạnh các tổ chức giáo hội, đạo Cao đài còn có trên 20 tổ chức Cao đài hoạt động độc lập không phụ thuộc vào các tổ chức Hội thánh nêu trên như: Cao đài Thượng đế, Cao Thượng Bửu Toà, Nam Thành Thánh Thất, Cơ quan Phổ thông giáo lý Đại đạo, Liên Hoa Cửu Cung Thiên đạo học đường, Thánh tịnh Tân Minh Quang, Thánh tịnh Huỳnh Quang Sắc, Thánh tịnh Thiên Trước, Thánh thất Bàu Sen.

Theo thống kê năm 2009 của các tổ chức Cao đài, đến nay đạo Cao đài có trên 1 vạn chức sắc, gần 3 vạn chức việc, khoảng 2,4 triệu tín đồ, với 958 tổ chức Họ đạo cơ sở được công nhận ở 35/38 tỉnh, thành phố có đạo Cao đài, thành lập 65 Ban Đại diện, 1.290 cơ sở thờ tự (hàng năm có khoảng 4 ngàn tín đồ mới nhập môn vào đạo Cao đài).

Trong hai cuộc kháng chiến cứu nước, đông đảo chức sắc, tín đồ đạo Cao đài đã tích cực tham gia đóng góp sức người, sức của vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, đồng bào đạo Cao đài đang cùng toàn dân tham gia vào công cuộc đổi mới, góp phần xây dựng đất nước./.

Mối Liên Hệ Giữa Đức Phật Và Thánh Mẫu

30 Ngày Thiền Thất Bên Trong Vạn Phật Thánh Thành

Tả Một Ngày Mới Bắt Đầu Ở Quê Em

Thần Cấp Căn Cứ Chương 158: Yêu Tinh Nước Trái Cây

Cúng Thần Tài Ngày Rằm: Nhẩm Khấn Đúng Bài Để Thần Ưng Bụng Mở Túi Ban Phát Lộc Lá, Làm Gì Cũng Gặp May

Kinh Khai Cửu – Tính Tuần Cửu – Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ

Bộ Đồ Thờ Gốm Sứ Bát Tràng

Giá Bộ Đồ Thờ Bát Tràng – Đồ Thờ Bát Tràng Giá Rẻ Chỉ Từ 1.800.000 Đồng

Đồ Thờ Cúng Gốm Sứ Bát Tràng Đầy Đủ Nhất

Báo Giá Bộ Đồ Thờ Bằng Đồng Đầy Đủ Chính Hãng, Chất Lượng, Uy Tín

Có Nên Mua Đồ Thờ Cúng Bằng Đồng Đài Loan?

Đã quá chín từng Trời đến vị,

Thần đặng an, Tinh, Khí cũng an.

Tầng Trời gắng bước lên thang,

Trông mây nhìn lại cảnh nhàn buổi xưa.

Cõi thảm khổ đã vừa qua khỏi,

Quên trần ai mong mỏi Động Đào.

Ngó chi khổ hải sóng xao,

Đoạn tình yểm dục đặng vào cõi Thiên.

Giọt lụy của Cửu huyền dầu đổ,

Chớ đau lòng thuận nợ trầm luân.

Nắm cây huệ kiếm gươm thần,

Dứt tan sự thế nợ trần từ đây.

THƯỜNG CƯ NAM HẢI QUAN ÂM NHƯ LAI

NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA:

Bài Khai Cửu, Đại Tường và Tiểu Tường là một bài Kinh do Đức Quan Thế Âm Bồ Tát giáng cơ ban cho.

Bài Kinh Khai Cửu được đồng nhi tụng trong những đàn cúng tuần cửu tại Thánh Thất hay tư gia để mở đầu cho các bài kinh Cửu, Tiểu Tường, hay Đại Tường. Bài Kinh này được coi như một bài Kinh dẫn cửu, Tiểu Tường hay Đại Tường.

CHÚ GIẢI:

Đã quá chín từng Trời đến vị,

Thần đặng an, Tinh, Khí cũng an.

Đã quá: Đã qua.

Chín tầng Trời: Chín cõi Trời, tức là Cửu Trùng Thiên.

Đến vị: Đến được ngôi vị.

Tinh Khí Thần 精 氣 神: Là Tam bửu, tức là ba món báu tạo nên tinh thần, thể xác con người.

Tinh là xác thân phàm, khí là Chơn thần hay đệ nhị xác thân, thần là Chơn linh. Trong ba thể đó chỉ có xác thân phàm là trọng trược, vì vậy người tu hành phải có một thân phàm tinh khiết mới có thể xuất một Chơn thần tinh khiết được.

Tam bửu của người tu đắc Đạo hiệp một được tinh khí thần và tinh tấn nhẹ nhàng hơn không khí đặng ra ngoài Càn khôn mà về với Đức Chí Tôn thì lúc ấy Tinh Khí trong sạch được an, thì Thần cũng được an ngôi vị.

Câu 1: Chơn linh đã qua khỏi chín tầng Trời (Cửu Trùng Thiên).

Câu 2: Chơn linh có tam bửu tinh tấn nhẹ nhàng thì tinh khí được yên ổn, và Thần thì được về với Chí Tôn mà an ngôi vị.

Tầng Trời gắng bước lên thang,

Trông mây nhìn lại cảnh nhàn buổi xưa

Tầng Trời: Khoảng từ hạ giới, tức cõi phàm của con người đang sinh sống lên đến Bạch Ngọc Kinh chia ra nhiều cảnh giới hay tầng Trời khác nhau, từ thấp lên cao: Hạ giới, Trung giới và Thượng giới.

Con người khi giải thể thì Chơn linh đi lên theo từng cõi, mỗi cõi từ thấp dần dần lên cao tựa như từng nấc thang vậy. Các Chơn thần phải vượt qua từng cõi một cách cố gắng, bởi vì nó phát xuất từ quả nghiệp mà chúng ta tạo ra nơi cõi phàm. Hay nói cách khác, ngôi vị thiêng liêng của chúng ta là do quyền định đoạt của mình, đó là cái kết quả của những hành vi thiện lương hay hung ác khi còn tại thế.

Trông mây: Nhìn theo những vầng mây.

Câu 3: Chơn linh phải cố gắng đi lên các tầng Trời từ thấp lên cao như theo từng nấc thang.

Câu 4: Trông theo những vầng mây nhìn lại cảnh nhàn nhã của quê xưa cảnh cũ nơi cõi Thiêng Liêng .

Quê hương của chơn hồn vốn dĩ là cõi Thiêng Liêng, là nơi mà Thượng Đế ban cho Điểm Linh Quang để thác sinh xuống cõi phàm với mục đích học hỏi kinh nghiệm và tấn hóa. Khi đến cõi phàm, Chơn hồn tạo nghiệp quả nên phải chịu sự luân hồi chuyển kiếp mãi. Đến chừng Chơn hồn ở thế biết giác ngộ mà tu hành chơn chánh, khi qui liễu thì sẽ được trở lại ngôi xưa vị cũ, tức là quê hương mà trước đây Chơn hồn đã từng sống an nhàn thanh tịnh.

Chính vì thế khi thoát xác, Chơn linh thấy nhẹ nhàng, bay bổng, nhìn theo những vầng mây nơi quê xưa cảnh cũ một cách thung dung, nhàn hạ.

Cõi thảm khổ đã vừa qua khỏi,

Quên trần ai mong mỏi Động Đào.

Cõi thảm khổ: Chỉ cõi trần gian.

Sở dĩ trần gian là cõi thảm khổ bởi vì nơi đây là cõi tạm bợ, uế trược và nhiều phiền não…

Sống ở cõi trần, con người có nhiều loại khổ đau như:

Khổ về thân tâm: Con người sống cõi trần thường bị khổ về hoàn cảnh ngang trái, cảm thọ bất an hay khổ về bệnh, chết.

Khổ về hoại diệt: Những thứ sắc đẹp, của cải vật chất mà mình ưa thích không bền lâu, thường bị mất nên sinh khổ.

Khổ do tâm bị dục vọng sai khiến, thúc đẩy từng giây từng phút làm cho tâm không yên ổn, tự do.

Khổ gây ra bởi sự mâu thuẩn giữa con người và thiên nhiên, cuộc sống.

Đã vừa qua khỏi: Đã được thoát khỏi.

Trần ai 塵 埃: Bụi bặm, chỉ cõi trần là cõi nhơn loại đang sinh sống.

Động đào: Chỉ Động Tiên ở. Do từ Đào nguyên 桃 源, hay Đào hoa nguyên 桃 花 源: Suối hoa đào.

Ông Đào Tiềm có viết bài “Đào Hoa Nguyên Ký 桃 花 源 記”kể lại một người đánh cá ở Võ Lăng đi thuyền lạc vào Động Đào nguyên. Trong đó, có một nhóm người mà tổ tiên của họ trốn loạn đời nhà Tần, sống nơi suối hoa Đào cách biệt hẳn với người đời đã từ lâu.

Sau khi ra khỏi Động Đào, người đánh cá có tìm cách chèo thuyền trở lại, nhưng không tìm được lối vào nữa

Do vậy, Đào nguyên hay Động đào thường được dùng để chỉ nơi Tiên ở, hay động Tiên.

Câu 5: Chơn linh đã vừa thoát khỏi cõi thảm khổ nơi trần gian.

Câu 6:Và mong mỏi được vào chốn Đào nguyên là nơi cõi Thiêng Liêng để quên đi cõi trần tục đầy uế trược này.

Khi giải thể rồi, Chơn hồn cởi bỏ được thân tứ đại, cái thân vật chất, tạm bợ và đầy phiền não, tức là thoát ra khỏi được những thảm khổ nơi cõi trần để trở về cõi Thiêng Liêng Hằng Sống là cõi an vui và hạnh phúc. Đức Hộ Pháp thuyết về chữ khổ như sau: “Khổ thì nhiều, vui vốn ít, sống càng lâu khổ chất càng dày, khổ nội thân tứ khổ quả không sai, cầu bất tử là cầu đày thân cõi tội. Ta nghĩ đến đó mới hiểu rằng kiếp chết là kiếp giải khổ thì mới biết mặt cân công bình thiêng liêng nhắc không sai chạy”.

Ngó chi khổ hải sóng xao,

Đoạn tình yểm dục đặng vào cõi Thiên.

Ngó chi: Nhìn làm chi.

Khổ hải 苦 海: Biển khổ.

Đạo Phật cho cõi trần gian này là một biển khổ mênh mông, bát ngát, con người bị những cơn sóng khổ đau ấy nhồi dập, đang lặn hụp, chìm đắm hằng muôn ngàn kiếp luân hồi sinh tử. Đạo tựa như con thuyền chèo khắp mọi nơi trong biển khổ ấy mà cứu vớt chúng sanh để đưa qua bên kia bờ giác ngộ.

Sóng xao: Lượn sóng xao động.

Đoạn tình 斷 情: Cắt đứt các thứ tình cảm.

Tình cảm của con người từ nơi tâm mà phát khởi. khi tâm tiếp xúc với ngoại vật mà dao động gây cảm giác sinh ra thất tình.

Thất tình là bảy thứ tình cảm: Mừng, giận, buồn, sợ, thương, ghét, muốn, cũng là bảy thứ cảm giác từ trong tâm con người phát ra. Những thứ cảm giác này nếu vì thỏa mãn theo xác thịt đê hèn thì sẽ xa đường đạo đức mà gây nhiều phiền não, tội lỗi. Chúng ta phải cắt đứt những thứ dục tình thấp hèn này để chuyển hóa theo tinh thần cao thượng. Có như thế chúng ta mới thoát khỏi oan khiên, nghiệt chướng.

Yểm dục 掩 欲: Đè nén lòng ham muốn.

Lòng dục hay lòng ham muốn của con người có sáu thứ gọi là lục dục: Sắc dục, thinh dục, hương dục, vị dục, xúc dục và ý dục.

Mắt ưa sắc đẹp, tai thích âm thanh, mũi ham ngửi mùi thơm tho, lưỡi thèm vị ngon ngọt, thân ưa cảm xúc êm ái, ý thích lòng thỏa mãn. Tất cả đều gây nên nghiệp thức rồi lôi kéo con người đắm chìm vào luân hồi sinh tử mà thọ khổ nghiệp triền miên.

Đặng vào cõi Thiên: Để được vào cõi Thiêng Liêng.

Câu 7: Nhìn làm gì những lượn sóng xao động nơi biển khổ.

Câu 8: Mà nên cắt đứt những tình cảm và đè nén lòng dục thì mới vào cõi Thiên được.

Khi thoát xác Chơn hồn đừng nên luyến tiếc mà nhìn lại làm gì cái cõi thế gian này đầy những cơn sóng đau thương dồi dập kiếp con người đắm chìm trong biển khổ.

Khổ đau do thất tình và lục dục là động cơ gây cho con người nhiều phiền não, chính nó sai khiến con người vào đường mê luyến tiền tài danh vọng, say đắm vợ đẹp con xinh, ham muốn nhà cao cửa rộng mà làm cho tinh thần hao tổn, khí phách tiêu mòn. Như vậy, để giải thoát con người ra khỏi tình cảm và dục vọng, trước hết ta phải đoạn lìa những tình cảm xấu xa đê tiện và đè nén lòng ham muốn thấp hèn để chuyển hóa theo đường cao thượng, đạo đức. Có như thế thì mới mong Chơn linh khi thoát xác bước vào đường Thiên cảnh được.

Giọt lụy của Cửu huyền dầu đổ,

Chớ đau lòng thuận nợ trầm luân.

Giọt lụy: Giọt nước mắt.

Cửu huyền 九 玄: Tổ tiên ông bà chín đời.

Thuận nợ: Bằng lòng theo nợ.

Trầm luân 沉 淪: Chìm đắm vào biển khổ.

Thuận nợ trầm luân: Thuận theo nợ oan khiên mà phải chìm đắm vào biển khổ luân hồi.

Muốn thoát khỏi luân hồi trong biển khổ thì phải làm sao?

Trong bài Thuyết Đạo ngày 14/2/ Mậu Thìn của Đức Hộ Pháp có giải thích như sau: “Phải đoạt cho đặng cơ bí mật siêu phàm nhập Thánh. Cơ bí mật ấy, nếu không phải Thầy cho thì chưa ắt xin ai mà đặng.

Ấy vậy, Đạo là cơ bí mật làm cho kể phàm có thể đoạt đặng phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật.

Thầy đến qui Tam Giáo, hiệp Ngũ Chi để cho chúng sanh hiểu cơ mầu nhiệm mà luyện Tinh, Khí, Thần”.

Câu 9: Giọt nước mắt của Cửu Huyền dầu có đổ, ý nói dầu Cửu Huyền đau buồn thương tiếc.

Câu 10: Thì cũng đừng đau xót mà phải chịu trầm luân vào biển khổ muôn đời ngàn kiếp.

Nắm cây huệ kiếm gươm thần,

Dứt tan sự thế nợ trần từ đây.

Huệ 慧: Hay tuệ là trí sáng suốt nhận biết được chân tướng của mọi sự vật, sự hiểu biết rốt ráo đúng sự vật.

Trí huệ là sự chứng ngộ chân lý của vạn hữu, là sự nhận thức sáng tỏ về thực tại sau khi mọi vô minh, phiền não đã được diệt trừ.

Huệ kiếm 慧 劍: Cây kiếm trí huệ.

Trí huệ được so sánh như một lưỡi kiếm (gươm) sắc bén có thể chiến thắng được thất tình lục dục, và có thể cắt đứt mọi phiền não trói buộc vào con người.

Gươm thần: Gươm Thiêng liêng huyền diệu, chỉ cây huệ kiếm.

Dứt tan: Dứt hẳn.

Sự thế 事 世: Việc ở trên cõi đời.

Nợ trần: Những món nợ ở nơi cõi trần.

Câu 11: Nắm chặt cây kiếm trí huệ Thiêng liêng huyền diệu.

Câu 12: Dẹp hẳn việc đời và dứt những mối nợ oan khiên ràng buộc con người vào cõi trần gian kể từ đây.

Thật vậy, chúng sanh vì vô minh che lấp mất chân tánh, bị dục vọng, phiền não sai khiến, tạo ra muôn ngàn nghiệp ác, vì đó mà phải chơi vơi trong biển khổ luân hồi.

Để thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử, con người phải có một hùng lực để tự chiến thắng tâm mình và dùng cây huệ kiếm, cây gươm thần diệu dẹp tan giặc thất tình, lục dục, chặt đứt mọi thứ dây trói buộc con người, dứt trừ oan khiên phiền não. Nếu đạt được như thế, thì con người mới mong thoát khỏi mọi điều khổ não, mọi oan khiên nghiệt chướng, hầu có thể trở lại cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Nghi Thức Tụng Kinh Kỳ Siêu Hằng Tuần

Nghi Thức Cúng Thất (Cúng Tuần)

Tt. Chân Quang Trả Lời Tham Vấn Những Câu Hỏi

Nên Cúng Giao Thừa Và Tết Như Thế Nào Cho Đúng? Sớ Cúng Giao Thừa Và Tết

Kinh Cúng Cô Hồn Theo Thiền Tông – Thiền Tông

🌟 Home
🌟 Top