Pháp Môn Cúng Tứ Thời Của Đạo Cao Đài

--- Bài mới hơn ---

  • Nghi Thức Tụng Kinh Nam Mô A Di Đà Phật
  • Dâng Cúng Hoa Tươi Thế Nào Khi Lễ Chùa Mới Được Nhiều Phúc Báu?
  • Một Số Người Cho Rằng Bất Cứ Bông Hoa Gì Cũng Dùng Để Cúng Phật Được
  • Công Đức Mua Hoa Cúng Phật
  • Hoa Cẩm Chướng Có Cúng, Thờ Tết Được Không?
  • Bài viết được cập nhật lần cuối vào ngày 11/04/2011

    Cúng tứ thời

    Pháp môn cúng tứ thời

    Do chúng sanh căn trí vô lượng nên có vô lượng pháp môn. Pháp môn là phương tiện để con người tu học và thực hành nơi thế gian nhằm đạt đến một cứu cánh nào đó. Pháp môn Cao Đài nhằm giúp người tín hữu tu tiến trong trường tiến hóa nhằm đặt đến mục đích của Đại Đạo là thế đạo đại đồng và thiên đạo giải thoát. Pháp môn căn bản của đạo cao Đài là pháp môn Tam công bao gồm Công quả, Công trình và Công phu được thực hiện dưới nhiều hình thức, trong đó, Cúng Tứ thời cũng được xem là một trong những hình thức thực hiện pháp môn Tam công.

    Điều thứ hai mươi của Tân Luật có qui định Chức sắc giữ Thánh thất mỗi ngày phải làm tiểu lễ bốn lần theo tứ thời là Tý (từ 11 giờ khuya đến 1 giờ sáng), Mẹo (từ 5 giờ đến 7 giờ sáng), Ngọ (từ 11giờ đến 12 giờ trưa), và Dậu (từ 5 giờ chiều đến 7 giờ tối). Tín đồ tại tư gia cũng cúng tứ thời theo giờ qui định nêu trên. Có sự khác biệt về giờ khởi sự cúng tứ thời giữa các thánh thất Cao Đài. Tòa thánh Tây Ninh qui định cúng đúng 12 giờ khuya, 6 giờ sáng, 12 giờ trưa và 6 giờ chiều; trong khi đó một số Hội thánh khác (trong đó có Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo) bắt đầu cúng tứ thời vào lúc 11 giờ khuya, 5 giờ sáng, 11 giờ trưa và 5 giờ chiều.

    Bốn giờ Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu có vị trí rất đặc biệt; giờ Tý và Ngọ nằm trên trục thẳng đứng, trong khi giờ Mẹo và Dậu nằm trên trục ngang. Hai trục thẳng đứng và nằm ngang giao tiếp với nhau tạo thành hình chữ thập; cho nên, có thể nói đây là biểu tượng của “nhứt âm nhứt dương chi vị Đạo”. Do đó, tứ thời là bốn thời khắc rất quan trọng đối với vũ trụ bên ngoài; cho nên, người tín hữu Cao Đài cúng vào bốn giờ nầy sẽ tạo ra sự hiệp nhất giữa tiểu vũ trụ của nhơn thân và đại vũ trụ ngoại giới. Con người sẽ hấp thu được năng lượng của vũ trụ bên ngoài vào nội thân, tiếp nhận được hồng ân của Đức Chí Tôn nhiều nhất trong một ngày so với các giờ khác.

    Cúng tứ thời bao gồm cả Tam công

    * Công quả

    Khi cúng tứ thời với tâm thanh tịnh và lòng thành kỉnh sẽ tạo ra công năng cứu độ có thể xoa dịu hoàn cảnh khổ đau bên ngoài, hóa giải những ác nghiệp kết tụ, ban vui cứu khổ cho bá tánh chúng sanh và đồng thời tác động trở lại bản thân ngõ hầu giúp cho người tín hữu được minh tâm kiến tánh, thân thể mạnh khỏe, tinh thần an vui.

    Kết thúc buổi cúng là phần cầu nguyện gồm năm điều: Nhứt nguyện Đại Đạo hoằng khai, nhì nguyện phổ độ chúng sanh, tam nguyện xá tội đệ tử, tứ nguyện thiên hạ thái bình, và ngũ nguyện thánh thất an ninh. Khi người tín hữu cầu nguyện với tinh thần vô ngã, thanh tịnh, và kỉnh thành thì nguyện lực vô cùng linh ứng. Lúc ấy, sự cầu nguyện tạo ra công đức vô lượng.

    Nếu cúng tứ thời tại tịnh thất với số lượng đạo hữu càng đông sẽ tạo nên một tấm lưới thiêng vẹt tan mọi chướng duyên giúp chúng sanh cải ác tùng lương, hồi đầu hướng thiện; công đức càng thâm sâu.

    * Công trình

    Cúng tứ thời có tác dụng giúp cho người tín hữu khắc phục tính lười biếng. Giờ Tý và giờ Mẹo phải vượt qua sự buồn ngủ của xác thân, giờ Ngọ và Dậu do tại bị chuyện nầy chuyện nọ. Như vậy cúng tứ thời giúp cho đạo hữu tinh tấn trên đường tu.

    Lại nữa, khi cúng tứ thời tại tịnh thất đạo hữu sẽ có động lực của tập thể thúc đẩy bản thân mình vượt qua những lúc biếng lười, mệt mỏi. Như vậy, nhờ có sức mạnh của tập thể nên từng cá nhân có thể dựa vào đó tự thắng bản thân.

    Cúng tứ thời với tâm chí thành, thanh tịnh sẽ tạo công năng đại định giúp cho đạo hữu phát huy được tác phong đạo hạnh thuần thành đạo đức. Đây chính là việc vun bồi gốc rễ, tất nhiên sẽ sum suê cành lá. Khi tâm an định tất yếu đức hạnh sẽ hiện bày ra bên ngoài.

    * Công phu

    Việc cúng tứ thời sẽ đạt kết quả rất mầu nhiệm khi đạo hữu chú ý tập trung vào lời kinh; ngoài ra, người tín hữu cũng cần hiểu được ý nghĩa của kinh để có thể “tinh nghĩa nhập thần” vào từng câu của bài kinh cúng tứ thời. Như vậy, cúng tứ thời chính là thực hành công phu. Bởi lẽ, lúc ấy thân và tâm của đạo hữu hiệp nhất với nhau. Trong lúc thân (miệng) đọc kinh, tâm của đạo hữu chuyên chú vào từng câu và nghĩa lý của câu kinh đó. Đây chính là quá trình công phu vậy.

    Ích lợi của việc cúng tứ thời

    Khi cúng tứ thời, đạo hữu tập trung hết tinh thần vào việc nhìn Thiên nhãn và hiểu ý nghĩa từng câu kinh. Thiên nhãn chính là Thần của Đức Chí Tôn nơi cõi thế gian trong Tam kỳ Phổ độ, thị hiện tại đền thờ Đức Chí Tôn là Thiên bàn. Nhìn Thiên nhãn tức là sự hiệp thần giữa tiểu thiên địa và đại thiên địa, giữa con người và Thượng Đế. Chính sự hiệp thần nầy sẽ tạo ra sự giao cảm thiêng liêng vô cùng mầu nhiệm. Nhờ tập trung thần lực nhìn vào Thiên nhãn nên con người đã nhận được sự hộ trì thiêng liêng từ Đức Chí Tôn ngõ hầu giúp cho thân thể khỏe mạnh, bệnh tật tiêu trừ, trí huệ phát sinh, tâm linh mẫn tuệ, v.v.

    “Cúng tứ thời có ích cho các con lắm, chớ không phải ích chi cho Thầy. Nếu cúng được thường thì lòng dạ nở nang, tứ chi luân chuyển, có nhiều khi tật bệnh tiêu diệt.”

    Khi đạo hữu đến Chánh điện nơi thánh thất hoặc Thiên bàn tại tư gia cúng tứ thời tức là đến hành lễ trước Đức Chí Tôn, Đức Diêu Trì Kim Mẫu và các Đấng Thiêng liêng. Con người đọc các bài kinh xưng tụng để phần nào hiểu được đại ân sinh thành dưỡng dục của Thầy Mẹ và đại ân cứu độ giáo hóa của các bậc Giáo Tổ. Qua việc cúng tứ thời hàng ngày, con cái của Đức Chí Tôn đặt trọn đức tin và lòng chí thành lên Đức Đại Từ Phụ và các Đấng thiêng liêng để thực hiện sự cộng thông giữa hai cõi hữu hình và vô sắc giới. Thầy khuyên con cái của Ngài cần siêng năng cúng tứ thời để trừ nghiệp thân, miệng đọc kinh với lòng chí thành để trừ nghiệp khẩu, tâm thường cầu nguyện để trừ tà niệm, mắt nhìn Thiên nhãn để thần trụ tâm an.

    Sự cúng lạy con nên sốt sắng,

    Trừ nghiệp thân cho đặng tinh anh,

    Kệ kinh miệng đọc lòng thành,

    Để trừ nghiệp khẩu, khỏi sanh não phiền.

    Con ngày đêm tâm thiền cầu nguyện,

    Để diệt trừ vọng niệm ý tà,

    Tứ thời trẻ ráng gần Cha,

    Nhìn ngay Thiên Nhãn thì là thần gom.

    Đức Quan Âm Bồ Tát nêu lên bốn lợi ích của việc cúng tứ thời gồm: giúp chơn thần được minh mẫn; cầu xin tha thứ tội lỗi; cảm ứng hiệp thông giữa con người và Thượng Đế, giữa con người và các Đấng Thiêng liêng; lương tri lương năng ngày càng thêm mẫn tuệ.

    “Các em phải lo cúng kiếng thường:

    – Một là lập cho chơn thần được gần gũi các Đấng Thiêng liêng cho đặng sáng láng.

    – Hai là cầu khẩn với Đức Đại Từ Bi tha thứ tội tình cho các em và cả chúng sanh.

    – Ba là có tế lễ thì tâm phải có cảm, cảm rồi mới ứng là lẽ tự nhiên.

    – Bốn là tâm có cảm thì lòng bác ái mới mở rộng, mà nhứt là khiếu lương tri, lương năng của các em cũng nhờ đó mà lần hồi thành ra mẫn huệ. Các em nhớ à!”

    Ngoài ra, cúng tứ thời tại thánh thất với số lượng đạo hữu càng đông, càng thanh tịnh sẽ tạo ra được công năng càng lớn lao. Đó chính là tấm lưới thiêng có thể đem lại điển lành bố hóa cho bá tánh chúng sanh; đồng thời thắt chặt tình huynh đệ trong nội bộ thánh thất càng thêm gắn bó.

    Thực hành việc cúng tứ thời

    Ban đầu, người tín hữu Cao Đài cúng tứ thời hàng ngày tại tư gia cần vượt qua một số trở ngại như trạng thái buồn ngủ vào thời Tý và thời Mẹo, bận rộn công việc vào thời Ngọ và thời Dậu. Khi thực hành một thời gian, việc cúng tứ thời sẽ trở thành một nếp sinh hoạt hay thói quen hàng ngày. Lúc đó, đạo hữu không cần phải cố gắng mà vẫn giữ theo khuôn phép. Song, từ chỗ chưa cúng một thời nào trong ngày, người tín hữu cần bắt đầu khởi sự cúng một thời bất kỳ nào thuận tiện nhất trong ngày (Tý, Ngọ, Mẹo, hay Dậu). Đây là bước khởi đầu rất có ý nghĩa để gieo ý thức và tạo thói quen. Sau đó tăng dần lên hai thời, ba thời và đạt đến bốn thời trong ngày. Tuy nhiên, khi tín hữu cúng tứ thời tại thánh thất sẽ có một lợi thế do từng cá nhân có thể nương tựa vào tập thể để vượt qua những điều trở ngại nêu trên. Bởi lẽ, con người thường có tâm lý hay dựa vào lý do nầy hoặc lý do nọ để tạm ngưng một buổi cúng như: nhức đầu, mệt mỏi, bận rộn, v.v. Nếu không vượt qua được chướng ngại tâm lý nầy, người tín hữu lần hồi mất đi thói quen cúng tứ thời nữa. Ngược lại, mỗi lần vượt qua rào cản tâm lý, thói quen cúng thời càng được củng cố thêm vững chắc.

    Lại nữa, Đức Chí Tôn đã gom tụ cả Càn khôn thế giới vào trong cách bày trí phẩm vật trên bàn thờ Thầy. Mỗi lần cúng tứ thời, môn đệ Đức Chí Tôn nhìn Thiên bàn hiểu được con đường tu hành để hiệp nhứt cùng Thầy.

    “Tôn chỉ đạo Cao Đài tỏ rõ,

    Mượn hữu hình bày tỏ chỗ vô,

    Thiên bàn làm cái bản đồ,

    Coi ngoài mà biết điểm tô trong mình.”

    Thiên bàn hay bàn thờ Đức Chí Tôn gồm có 12 phẩm vật: Thánh tượng Thiên nhãn, đèn Thái cực, dĩa trái cây, bình bông, tách nước trà, ba ly rượu, tách nước trắng, hai cây đèn, và lư hương. Số 12 nầy tượng trưng cho Thập nhị Khai thiên là Đức Thượng Đế. Một cách tóm tắt, Thánh tượng Thiên nhãn và đèn Thái cực tượng trưng Đức Thượng Đế và ngôi Thái cực. Hai cây đèn tượng trưng cho lưỡng nghi, âm dương, nhựt nguyệt, tức là từ Thái cực sinh lưỡng nghi. Lư hương gồm năm cây nhang tượng trưng cho năm giai đoạn của người tu gồm: Giới hương (cây hương ở giữa) là giữ trọn giới luật qui điều; Định hương (cây hương bìa bên trái) là thiền định; Huệ hương (cây hương bìa bên phải) là trí huệ phát sinh do thiền định; Tri kiến hương (cây hương hàng ngoài bên trái) là đắc lục thông; Giải thoát hương (cây hương hàng ngoài bên phải) là giải thoát khỏi luân hồi sanh tử. Tách nước trà (bên phải thuộc âm) tượng trưng cho Thần của con người, tách nước trắng (bên trái thuộc dương), tượng trưng cho Khí của con người. Cúng hai chén nước âm dương tượng trưng cho sự hòa hiệp giữa âm dương. Ba ly rượu tượng trưng cho Khí, tức là Hư Vô chi khí do Đức Diêu Trì Kim Mẫu chưởng quản. Ba ly rượu còn tượng trưng cho ba cõi là Hạ giới, Trung giới và Thượng giới; và ba bực tu hành là Hạ thừa, Trung thừa và Thượng thừa.

    “Hai chén nước là âm dương (động và tịnh). Âm dương là cơ động tịnh của Trời đất tức là Thần Khí của các con. Tu hành không nhờ Thần Khí lấy gì luyện đắc Thánh thai? Trời đất không có âm dương làm sao hóa sanh vạn vật? Muôn vật không trống mái làm sao sanh sản thêm ra?

    Vậy âm dương là cái diệu động tịnh của Trời đất vậy.

    Âm dương lại có thêm cái thể dụng của âm dương nữa là nhựt, nguyệt, tức là cặp đèn (lưỡng nghi). Người tu hành biết cách hồi quang phản chiếu thì đắc kim đơn, cơ tại mục là vậy.

    Trên có lư hương tức là Tiên thiên lập đảnh, tượng ngũ khí, ngũ hành. Dưới có lư trầm là hậu thiên an lư, hóa ngũ linh, ngũ đức. Trên đầu là đảnh, dưới đơn điền là lư.

    Còn Hoa, Quả, Trà là Tam bửu của các con. Ngày nào hiệp Tam bửu rồi là thành Đạo.”

    Tân Luật qui định rằng, người tín hữu mỗi tháng phải đến thánh thất hiến lễ trong hai ngày Sóc Vọng.

    Tạm kết

    Cúng tứ thời là một pháp môn tuy đơn giản, nhưng khi thực hành đều đặn hàng ngày sẽ giúp cho người tín hữu được thân an, thần định, trí huệ. Cúng tứ thời cũng chính là pháp môn tu hành của người tín hữu Cao Đài. Bởi lẽ, cúng tứ thời gồm đủ tam công: công quả do cầu nguyện cho cơ đạo hoằng khai, cho thiên hạ thái bình, cho thánh thất an ninh; công trình do sự trì chí tinh tấn trong việc cúng tứ thời hàng ngày; công phu do thân tâm hiệp nhứt trong việc nhìn Thiên nhãn và tinh nghĩa nhập thần từng câu kinh.

    Trước tiên, người tín hữu Cao Đài cần bắt đầu việc cúng kính một thời trong ngày và duy trì đều đặn không gián đoạn. Khi có điều kiện sẽ gia tăng hai thời, ba thời và sau cùng là bốn thời trong ngày.

    Khi cúng tứ thời, người tín hữu Cao Đài ý thức cách bày trí trên Thiên bàn là cái bản đồ để hiểu được guồng máy thiên cơ và con đường phối thiên của tiểu thiên địa.

    Thiện Hạnh

    04-3-2011

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sớ Cúng Bổn Mạng I (Phương Phi Tiên Nữ)
  • Sớ Cúng Đáp Nguyện Lành Bệnh (Vô Thượng Y Vương)
  • Có Nên Khắc Tên Người Hiến Cúng Vào Tượng Phật, Kinh Sách Không?
  • Nghi Thức Hiến Cúng Vu Lan
  • Quy Nhơn: Phật Tử Cải Táng Mộ Để Hiến Đất Cúng Chùa
  • Vài Nét Về Chữ Hiếu Trong Đạo Cao Đài Qua Quyển Kinh Thiên Đạo Và Thế Đạo

    --- Bài mới hơn ---

  • Ý Nghĩa Loài Hoa Mẫu Đơn
  • Địa Mẫu Chân Kinh (Kỳ 1)
  • Độ Cứng Hrc – Hrb – Hb – Hv – Leeb Của Kim Loại Phổ Biến
  • Tìm Hiểu Về Máy Đo Độ Cứng Và Quy Trình Hiệu Chuẩn
  • Hv Của Kim Loại / Thép
  • Thiên Đạo (the Way of Heaven) là con đường tu tập để giải thoát con người khỏi vòng luân hồi, để linh hồn được đến cảnh cực lạc, niết bàn (cũng gọi là cõi thiêng liêng hằng sống, bồng lai, nước Trời, Thiên Quốc, v.v…).

    Muốn theo Thiên Đạo thì trước tiên tín đồ phải nhớ làm tròn phần Nhân Đạo (Nhơn Đạo). Đức Chí Tôn dạy: “Hễ Nhơn Đạo thành thì là phù hạp Thiên Đạo.” (1)

    Thánh ngôn lại dạy:

    Rằng ở đời thì Nhơn Đạo trọn,

    Trọn rồi Thiên Đạo mới hoàn toàn.(2)

    Trong Nhân Đạo, điều gì là chánh yếu? Đó là chữ Hiếu.

    Thật vậy, trong dịp kỷ niệm lễ vía Đức Khổng Tử (ông Tổ đạo Nho, tức là Đức Khổng Thánh Tiên Sư), Ngài giáng đàn dạy như sau:

    Hiếu phần chánh của Nhân Đạo vậy,

    Hiếu phụ thì mới thấy hiếu nhi,

    Hiếu tâm ngày tháng nhớ ghi,

    Hiếu thường thăm viếng vui thì song thân.(3)

    Cũng vậy, Đức Ni Sư Diệu Lộc dạy: “Từ cõi Thiên Đình hay niết bàn, bồng lai, tiên cảnh đến cửa đạo đức, không một vì Phật Tiên Thánh Thần hay nhà lãnh giáo ,

    Thong dong cõi thọ nương hồn,

    Chờ con lập đức giúp huờn [hoàn] ngôi xưa.

    Bài kinh nói trên do Đức Ðoàn Thị Ðiểm giáng cơ ban cho. Tiền kiếp Ngài là danh Nho Việt Nam, bút danh Hồng Hà Nữ Sĩ (1705-1748). Quả vị của Ngài trong Tam Kỳ Phổ Độ là Giác Minh Thánh Đức.(19)

    *  *  *

    Phú Nhuận, 11-11-2010.

    (1) Tòa Thánh Tây Ninh, Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Quyển 1: Đàn ngày 01-3-1927.

    (2)Tòa Thánh Tây Ninh, Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Quyển 1: Thi Văn Dạy Đạo, bài 92.

    (3) Hườn Cung Đàn (Tam Giáo Điện Minh Tân, quận 4), đàn đêm 30 rạng sáng 01-9 Nhâm Dần (28-9-1962).

    (4) Đàn cơ tại Chơn Lý Đàn (Vạn Quốc Tự, quận 3), ngày 01-5 Kỷ Dậu (15-6-1969).

    (5) Thay vì huynh đệ, trong sách Trung Dung viết côn đệ. Chữ côn có nghĩa là anh (huynh).

    (6) Tội căn: Cội rễ gây ra lỗi lầm, tội lỗi (the root of sins).

    (7) Ba Giềng: Tam Cang (Cương), gồm ba mối quan hệ xã hội: 1. Quân thần cang là quan hệ chánh phủ và người dân (dân trung thành với Tổ Quốc, chánh phủ chăm lo cho dân); 2. Phụ tử cang là quan hệ cha mẹ và con cái (cha mẹ thương yêu con, con hiếu thảo với cha mẹ); 3. Phu thê cang là quan hệ vợ chồng (chung thủy).

    (8) Năm Hằng: Ngũ Thường, gồm năm đức tính mà con người phải luôn luôn có: 1. Nhân: Lòng thương người, thương vật (tương ứng giới cấm Nhứt bất sát sanh); 2. Nghĩa: Cách sống hợp lẽ phải, đạo đức (tương ứng giới cấm Nhị bất du đạo); 3. Lễ: Sự trang nghiêm, khuôn phép, đứng đắn trong tư tưởng và hành vi. Thí dụ: ăn nói tục tằn; xem những hình ảnh, sách vở thô tục; ham muốn sắc dục ngoài tình vợ chồng… đều là trái lễ (tương ứng giới cấm Tam bất tà dâm); 4. Trí: Sáng suốt, biết phân biệt phải trái nên hư, biết lúc nào tiến lúc nào lui (tương ứng giới cấm Tứ bất tửu nhục, vì say sưa làm tâm trí mê muội); 5. Tín: Đối với bản thân thì tự tin ở mình; đối xử với người khác thì không dối trá, lừa gạt; đối với các Đấng thiêng liêng thì làm đúng những gì đã nguyện hứa (tương ứng giới cấm Ngũ bất vọng ngữ).

    (9) Tòa Thánh Tây Ninh, Kinh Thiên Đạo Và Thế Đạo: bài Kinh Sám Hối, câu 425-428.

    (10) Trả thảo: Trả hiếu, báo hiếu (to fulfil one’s filial duty).

    (11) Tu mi: Đàn ông, kẻ mày râu (tu: râu; mi: lông mày). Phụ nữ không có râu lại thường cạo hoặc nhổ sạch lông mày để vẽ cho đẹp; do đó tu mi chỉ đàn ông.

    (12) Kinh Sám Hối, câu 49-52.

    (13) Kinh Sám Hối, câu 329-332.

    (14) Thân nghĩa là cha, mẹ. Gọi cha là phụ thân, mẹ là mẫu thân, cả cha và mẹ là song thân.

    (15 ) Cúc dục: Nuôi nấng. Cù lao: Vất vả, khổ nhọc.

    (16) Thân: Cha, mẹ. Hiếu thân: Báo hiếu cha, mẹ.

    (17) Trọn nghì: Trọn nghĩa.

    (18) Người mất mẹ thì đọc: Xin mẫu thân… Nếu mất cả cha và mẹ thì đọc: Xin song thân…

    (19) Hội Thánh Tam Quan, Kinh Tam Thừa Chơn Giáo. Quyển 1 (phẩm Tiểu Thừa): bài Tam Tùng Tứ Đức, đàn cơ ngày 19-8 Canh Tý (09-10-1960).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giới Thiệu Khái Quát Về Đạo Cao Đài – Cecrs
  • Thượng Đế & Phật Mẫu
  • Kinh Nhật Tụng: Vạn Phật Thánh Thành
  • Gợi Ý Các Món Ngon Thắp Hương Rằm Tháng Giêng Vừa Thơm Ngon Vừa Đơn Giản
  • Các Món Ngon Ngày Tết Dễ Làm 3 Miền Bắc, Trung, Nam
  • Nguồn Gốc Hai Bài Niệm Hương Và Khai Kinh Của Đạo Cao Đài

    --- Bài mới hơn ---

  • Tamduyen.com ” Luận Giải: Về Ý Nghĩa, Công Dụng, Và Xuất Xứ Của Kinh Nhựt Tụng Trong Đạo Cao Đài
  • Mùng 1 Thắp Hương Hoa Gì Để Phúc Lộc Đầy Nhà?
  • Ngày Mùng 1 Thắp Hương Hoa Gì Để Phúc Lộc Ùn Ùn Kéo Tới?
  • Những Loài Hoa Nên Bày Trên Bàn Thờ Để Mang Nhiều Tài Lộc Cho Gia Đình
  • Những Loại Hoa Mang Lại May Mắn, Nhất Định Phải Mua Cắm Trong Nhà Ngày Vu Lan
  • Người tín đồ Cao Đài hàng ngày bắt đầu thời cúng của mình bằng bài kinh Niệm Hương với hai câu đầu: “Đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp. Lòng nương nhang khói tiếp truyền ra…”, sau đó tụng đến bài Khai Kinh: “Biển trần khổ vơi vơi trời nước…”.

    Có thể nói, tất cả tín đồ Cao Đài đều thuộc nằm lòng hai bài kinh này, nhưng cũng có thể nói, ít người biết rằng hai bài kinh trên có gốc từ chi đạo Minh Lý (Tam Tông Miếu)1.; bài Niệm Hương do Đức Nam Cực Chưởng Giáo, dựa theo bài Phần Hương Chú (kinh Minh Sư, chữ Hán), giáng tả bằng quốc ngữ năm 1925, bài Khai Kinh do Đức Lữ Tổ giáng tả cũng trong năm đó.2.

    NG UỒN GỐC BÀI KINH NI ỆM HƯƠNG

    ẢNH 1

    ẢNH 2

    2. Trở lại bài Phần Hương Chú in trong Tứ Thời Nhựt Tụng Kinh (ảnh 1), nguyên văn bài kinh này như sau:

    “Đạo do tâm hiệp

    Tâm giả hương truyền

    Hương phần ngọc lư

    Tâm chú Tiên nguyện

    Chơn linh hạ giáng

    Tiên bội lâm hiên

    Kim thần quan cáo

    Kính đạt Cửu Thiên

    Sở khải sở nguyện

    Hàm tứ như ngôn.”

    Tạm dịch:

    Đạo do tâm thành hiệp chú vào

    Tâm ấy nhờ hương thơm của nhang truyền đi

    Hương khói nhang đốt từ lư ngọc

    Tâm người theo đó hướng lòng cầu nguyện lên các vị Tiên

    Chơn linh các đấng giáng hạ

    Xe Tiên giáng lâm đến nơi

    Hôm nay kẻ bề tôi xin tấu trình Hướng lên chín tầng Trời Những điều bề tôi trình dâng lên, nguyện xin Tất cả đều được ban cho như lời cầu.

    Lời tạm dịch trên rất thô, so với từng câu từng câu bài Niệm Hương do Đức Nam Cực Chưởng Giáo giáng ban tại Minh Lý Thánh Hội:

    “Đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp Lòng nương nhang khói tiếp truyền ra Mùi hương lư ngọc bay xa Kỉnh thành cầu nguyện Tiên gia chứng lòng Xin Thần Thánh ruổi giong cỡi hạc Xuống phàm trần vội gác xe Tiên Ngày nay đệ tử khẩn nguyền Chín tầng Trời Đất thông truyền chứng tri chúng tôi sở vọng gắn ghi đảo cáo Nhờ Ơn Trên bổ báo phước lành.”

    ảnh 3

    Bài kinh đạo Cao Đài sử dụng kết thúc bằng câu chú của Đức Chí Tôn: “Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát”, tạo ảnh hưởng mạnh trong cõi huyền linh.

    3. Câu hỏi tiếp theo được đặt ra là:

    * Bài Phần Hương Chú (Đạo do tâm hiệp…) có gốc tích từ đâu?3 Vài tác giả (Đức Nguyên, Thiên Vân …) viết: “Bài Phần Hương Chú bằng chữ Hán được trích trong kinh Cảm Ứng của Đạo Giáo”. Chúng tôi đã tìm qua một số bản kinh Cảm Ứng, trong đó có quyển Cảm Ứng Thiên Tập Chú, in năm Thiệu Trị thứ bảy (1847)… nhưng vẫn chưa thấy bài Phần Hương Chú trong đó.4.

    Chuyển qua tìm trong kinh Minh Sư, chúng tôi đã gặp được một số bài kinh có nội dung tương tự bài Phần Hương Chú, thí dụ:

    * Bài Chúc Hương Chú, trong Ngọc Hoàng Thượng Đế Hồng Từ Cứu Thế Bảo Kinh, trang 84, in năm 1912, Ngọc Sơn từ tàng bản (ảnh 3).

    * Bài Phát Lư, trong Ngọc Hoàng Kinh Sám, trang 26, in năm Đinh Tỵ (1917) (ảnh 4).

    * Bài Phần Hương Tưởng, trong Thái Thượng Diệu Lục quyển 2, trang 2, không ghi năm in,

    Các bài kinh này, gọi là có nội dung tương tự bài Phần Hương Chú do có một vài chỗ khác biệt, thí dụ như bài Chúc Hương Chú (ảnh 3) như sau:

    “Đạo do tâm học

    Tâm giả hương truyền

    Hương nhiệt ngọc lư

    Tâm tồn Đế tiền

    Chơn linh hạ giáng

    Tiên bội lâm hiên

    Linh thần quan cáo

    Kính đạt Cửu Thiên.”

    Hay như bài Phần Hương Tưởng (ảnh 5) có nội dung:

    “Đạo do tâm hiệp

    Tâm giả hương truyền

    Hương phần lư trung

    Tâm chú Đế tiền

    Tiên linh giáng hạ

    Tiên phối lâm hiên

    Kim thần khải tấu

    Thấu đạt Cửu Thiên

    Phạm hữu sở nguyện

    Hàm tứ như ngôn.”

    4. Một số ý kiến ban đầu:

    Quyển Tứ Thời Nhựt Tụng Kinh đã giúp làm ra bài Niệm Hương (và sau đó là bài Khai Kinh) được Ơn Trên tả qua quốc ngữ từ kinh chữ Hán, xác định tên và nội dung bài kinh, giúp chúng ta không phải thắc mắc, nhầm lẫn, do có nhiều bài tương tự nhau.

    Như vậy, mặc dù còn phải tiếp tục tìm bài Phần Hương Chú đúng nguyên văn theo Tứ Thời Nhựt Tụng Kinh (ảnh 1), tuy nhiên, qua những bài kinh đã tìm thấy kể trên, có thể xác định được rằng bài Phần Hương Chú là kinh Minh Sư, đó cũng là định hướng sưu tầm trong thời gian tới.

    Trong tất cả bản kinh chúng tôi đã tìm được, chỉ có bài Phần Hương Tưởng (ảnh 5) có câu đầu là “Đạo do tâm hiệp” giống bài Phần Hương Chú; còn lại, tất cả đều có câu đầu là “Đạo do tâm học”. Chữ Học này dù hiểu theo nghĩa:

    Hiểu ra, giác ngộ… vẫn còn một khoảng cách khác biệt, nhứt là về mặt tâm linh, so vớí chữ Hiệp trong “thành tín hiệp”, đã ăn sâu vào tâm thức người đạo Cao

    Đài.

    NGUỒN GỐC BÀI KHAI KINH

    “Trần hải mang mang thủy nhựt đông

    Vãng hồi toàn trượng chủ nhơn công

    Yếu tri tam giáo tâm nguyên hiệp

    Trung thứ từ bi cảm ứng đồng.”

    ẢNH 6- 7

    Ghi chú thêm

    Trong quyển Tứ Thời Nhựt Tụng Kinh của đạo Cao Đài (in năm 1928), từ trang 3 đến trang 6 có in bốn bài: Tịnh Khẩu Chú, Tịnh Tâm Chú, Tịnh Thân Chú và An Thổ Địa Chú. Về sau, từ khi T.a Thánh Tây Ninh ban hành quyển Nghi tiết Đại đàn và Tiểu đàn (17.6.Canh Ngọ-1930), bốn bài chú trên không c.n sử dụng nữa. Nhân đây, chúng tôi cũng xin thông tin rằng bốn bài chú đó có trong quyển Cứu Kiếp Hoàng Kinh (mã số R.3947 Thư viện Quốc gia Việt Nam).

    Bìa quyển kinh ghi: “Tự Đức nhị thập cửu niên tân thuyên” và “Bản tồn Ngọc Sơn Văn Vũ Nhị Đế điện”; năm Tự Đức thứ 29 tức là năm 1875, và đền Ngọc Sơn (hồ Gươm, Hà Nội) xưa kia, khoảng từ 1845 đến 1945, là một trong hững Thiện Đàn quan trọng vùng Bắc bộ có tổ chức cơ bút, cũng là cơ sở in ấn và tàng bản kinh sách Hán Nôm lớn (lên đến 246 tên sách) trong giai đoạn trên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phap Mon Tinh Do Trong Dao Cao Dai
  • Giới Thiệu Khái Quát Về Đạo Cao Đài
  • Mối Liên Hệ Giữa Đức Phật Và Thánh Mẫu
  • 30 Ngày Thiền Thất Bên Trong Vạn Phật Thánh Thành
  • Tả Một Ngày Mới Bắt Đầu Ở Quê Em
  • Phong Tục Đám Tang Đạo Cao Đài

    --- Bài mới hơn ---

  • 6/1. Đất Nam Kỳ Trước Khi Cao Đài Xuất Thế / Đất Nam Kỳ − Tiền Đề Pháp Lý Mở Đạo Cao Đài
  • Lich Su Dao Cao Dai, 1926
  • Phong Tục Tín Ngưỡng Của Người Kinh…
  • 2903. Chi Phái Tây Ninh 1997 Thảm Bại….
  • Chống Sao Chép Mã Mở Cửa Cuốn Bằng Công Nghệ Austmatic Rolling Code
  • Lời đầu, Trại Hòm Đức Thịnh xin chia sẻ đôi điều thông tin cơ bản về Đạo Cao Đài hiện nay tại Việt Nam.

    Tổng Quan Về Đạo Cao Đài

    Đạo Cao Đài hay còn được gọi là Cao Đài Giáo, được thành lập vào khoảng năm 1926 tại miền Nam Việt Nam.

    Và để tỏ lòng tôn kính, một số Tín Đồ thường gọi tôn giáo của mình là Đạo Trời.

    Đạo Cao Đài là một tôn giáo mới, dung hòa nhiều yếu tố từ các tôn giáo lớn gồm Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo, Hồi giáo, Cơ Đốc giáo, Thần đạo và cả 1 số tôn giáo đa thần thời cổ đại, thể hiện qua Ngũ Chi Đại Đạo.

    Giáo Lý Cơ Bản của Đạo Cao Đài gồm: Tam Kỳ Phổ Độ, Tam Giáo Quy Nguyên và Thiên Nhãn.

    Một tộc Đạo Cao Đài có thể thờ tự là “Thánh Thất” và “Điện Thờ Phật Mẫu” và đều có chương trình truyền bá giáo lý.

    Nội dung bài chia sẻ khó tránh được sự sai xót, kính mong quý độc giả, quý cao niên, quý học giả chỉ giáo thêm.

    Nghi Thức Tang Lễ Đạo Cao Đài

    Cầu Hồn Khi Hấp Hối

    Là tụng kinh cầu nguyện Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng cho linh hồn của người đang hấp hối được nhẹ nhàng xuất ra khỏi thể xác & được cứu giúp siêu thăng về Cõi Thiên Liêng Hằng Sống.

    Cầu Hồn Khi Đã Chết Rồi

    Ban Trị Sự hành lễ y như hành lễ Cầu Hồn Khi Hấp Hối.

    Rồi sau đó, tang quyến hoặc Ban Trị Sự sẽ đến Đền Thánh (nếu người quy vị là Chức Sắc) hay Thánh Thất để báo tử.

    Đến đây sẽ rung chuông báo tử.

    Nếu là Chức Sắc thì tùy vào Phẩm Cấp để rung chuông và đánh trống tại Đền Thánh

    • Phẩm Giáo Hữu và tương đương: rung 2 hồi chuông và đánh 2 hồi trống
    • Phẩm Lễ Sanh và tương đương: rung 1 hồi chuông và đánh 1 hồi trống

    Nếu là Chức việc Ban Trị Sự và Đạo Hữu và các phẩm tương đương thì không đánh trống mà chỉ rung chuông

    Thượng Sớ Tân Cố

    Là dâng sớ lên Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng báo cáo 1 tín đồ Cao Đài mới vừa Quy Liễu, cầu xin Đức Chí Tôn, Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát, và các Đấng thiêng liêng cứu độ vong hồn vị tín đồ vừa mới Quy Liễu được siêu thăng tịnh độ.

    Thượng Sớ Tân Cố, có thể thực hiện tại Đền Thánh, tại Thánh Thất hoặc tại Thiên Bàn nơi tư gia người chết.

    • Người chết là Phẩm Chánh Trị Sự xuống Đạo Hữu hoặc tương đương thì người chứng đàn cầu nguyện là Chánh Trị Sự hương đạo sở tại.
    • Người Chết là Phẩm Lễ Sanh hoặc tương đương trở lên thì người chứng đàn cầu nguyện là Đầu Tộc, Đầu Phận Đạo, Khâm Châu Đạo hoặc Khâm Thành Thánh Địa.

    Còn những việc khác thì Ban Trị Sự hành lễ theo nghi thức quy định.

    Tẩn Liệm (Nhập Mạch)

    Sau khi dâng sớ Tân Cố tại Đền Thánh, Thánh Thất hay tại gia đường thì chuẩn bị Lễ Tẩn Liệm.

    Người thân dùng nước thơm ( nước nấu với các loại lá cây có mùi thơm) lau rửa vệ sinh sạch sẽ cho người chết, thay đồ cho người chết và mặc đạo phục theo Phẩm Vị, đắp 1 miếng vải trắng hình tam giác trên mặt người chết, bề đứng 33cm và góc nhọn để trên.

    Tất cả người thân quỳ lạy Đức Chí Tôn và cầu nguyện, sau đó đến chỗ người chết nằm quỳ lạy người chết 1 lần.

    Vị chứng đàn và 2 vị hầu lễ đến trước Thiên Bàn cầu nguyện Thầy.

    Đốt 2 cây nến cho 2 vị hầu lễ cầm, vị chứng đàn bắt ấn Tý đến đứng trước đầu người chết, ra lệnh cho đồng nhi bắt đầu tụng kinh Tẩn Liệm, tụng 3 lần, khi niệm xong câu chú của Thầy 3 lần, vị chứng đàn và 2 vị hầu lễ trở lại trước Thiên Bàn xá Chí Tôn, rồi xả ấn Tý và tắt 2 cây nến.

    Người thân lạy người chết 1 lần nữa, rồi đội Tẩn Liệm bắt đầu tiến hành Liệm Xác rồi đưa vào hòm.

    Tấm Phủ Quan

    Sau khi hòm được đặt đúng vị trí rồi thì dùng tấm Phủ Quan đắp lên hòm, tiếp sau là đặt giá đèn lên trên.

    Tấm Phủ Quan (có 5 màu: vàng, xanh, đỏ, trắng, đen) là tấm vải để phủ lên hòm, là hình vuông với mỗi cạnh là 1m2, 4 mặt đều may ren, chính giữa thêu 1 Thiên Nhãn lớn với 12 ánh hào quang.

    Trước khi đắp lên hòm cho người chết, người chứng lễ đem Tấm Phủ Quan đặt trước Thiên Bàn cầu nguyện đức Chí Tôn ban ơn cho người chết.

    Màu sắc của Tấm Phủ Quan để phân biệt người chết là Nam hay Nữ, hoặc là phân biệt cơ quan, Chức Sắc Cửu Trùng Đài:

    Chức Sắc và Chức Việc phái nữ Cửu Trùng Đài

    Chức Sắc Hiệp Thiên Đài và Ban Thế Đạo

    Chức Sắc Cửu Trùng Đài phái Thái

    Chức Sắc Phước Thiện từ Phẩm Hiền Nhơn trở lên

    Chức Sắc Cửu Trùng Đài phái Thượng

    Chức Sắc Phước Thiện nam nữ đeo dây sắc lệnh màu xanh: Chí Thiện, Đạo Nhơn, Chơn Nhơn

    Chức Sắc Cửu Trùng Đài phái Ngọc, Ban Trị Sự nam phái và các Phẩm tương đương,

    Chức Sắc Ban Kiến Trúc, Bộ Nhạc

    Chức Sắc Phước Thiện nam nữ đeo dây sắc lệnh màu đỏ: Thính Thiện, Hành Thiện, Giáo Thiện, Bảo Thể, Đầu phòng văn.

    Đạo hữu nam nữ, đạo sở, minh đức, tân dân (Phước Thiện), thư ký, trật tự viên, v.v…

    Ý nghĩa của Tấm Phủ Quan có ý nghĩa giống với việc thờ Thiên Nhãn tại Khách Đình

    Tấm Phủ Quan màu gì thì khi hòm đưa lên Thuyền Bát Nhã thì tấm Diềm Treo cũng màu đó.

    Đốt Đèn Trên & Dưới Hòm

    Trên Giá Đèn đặt trên nắp Hòm, đốt đủ 9 cây nến, không dư không thiếu và không được để tắt đi.

    Phía dưới hòm đốt 1 ngọn đèn để khử trược lưu thanh.

    Lập Bàn Vong – Khai Vong – Linh Vị

    Lập Bàn Vong

    Đặt 1 cái bàn trước Hòm làm Bàn Vong: 1 cặp chân đèn, 1 lư hương, 1 dĩa trái cây, 1 bình hoa, 1 chung rượu, 1 chung trà, 1 tấm Linh Vị (Bài Vị), 1 cây đèn, 1 tấm di ảnh có mặc đạo phục, 1 cây phướn Thượng Sanh đặt bên trái phía trong nhà nhìn ra cửa.

    Nếu người chết ở Phẩm Lễ Sanh hoặc tương đương thì có thêm cây lộng.

    Trước Bàn Vong dán tấm phủ màu trắng ghi chữ ví dụ như: Sanh Ký Tử Qui, Sanh Tiền Giác Ngộ Tam Kỳ Đạo, v.v…

    Bên cạnh đó dán 1 miếng giấy nhỏ ghi: xin cầu nguyện cho: “Phẩm Tước, họ tên người chết, tuổi” để cho người viếng đám cầu nguyện.

    Nơi Thiên Bàn cũng dán vậy: Nam dán dưới bình hoa hoặc các chuông, Nữ dán dưới dĩa trái cây hoặc cái mõ, để ban đạo cầu nguyện

    Chuẩn bị khay hình vuông để đặt: 1. Linh Vị, 2. Dĩa trái cây nhỏ, 3. Bình hoa nhỏ, 4. Đèn Vọng, 5. Lư Hương nhỏ.

    Khi hành lễ luôn đốt 3 cây nhang cắm vào. Khay Vong tượng trưng cho vị trí của Vong Linh.

    Linh Vị (Bài Vị)

    Là 1 miếng giấy nhỏ ghi: Họ tên người chết, Phẩm vị, tuổi, ngày tháng năm sinh, nơi sinh, ngày tháng năm chết, nơi chết, ngày nhập môn cầu Đạo.

    Cáo Từ Tổ – Thành Phục – Tang Phục

    Chuẩn bị 2 mâm chay: 1 cúng Cửu Huyền Thất Tổ, 1 cúng Thần Hoàng Bổn Cảnh, phải có đủ hoa, rượu, nước trà.

    Đặt đồ tang ngay ngắn trong 1 cái mâm (Mâm Tang Phục) để trước bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ. Trên Mâm Tang Phục đốt 2 cây nến.

    Trước tiên, Chức Việc và người nhà đến trước Thiên Bàn cúng Đức Chí Tôn, không đọc kinh, chỉ cầu nguyện cho người nhà Thọ Tang.

    Tiếp sau, đến bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ thiết lễ Cáo Từ Tổ

    Sau cuối đến bàn vong làm lễ Thành Phục phát tang.

    Thời Gian Để Tang Đạo Cao Đài

    • Để tang 81 ngày: tới Chung cửu thì mãn tang.
    • Để tang 281 ngày: tới Tiểu tường thì mãn tang.
    • Để tang 581 ngày: tới Đại tường thì mãn tang.

    Cúng Vong Triêu – Tịch

    Nghi Tế Điện có 6 lễ sĩ hiến lễ, mặc áo lễ màu xanh đậm.

    Việc Tế Điện và 4 bái thài hiến lễ có sự quy định khác nhau tùy Phẩm Cấp của người chết.

    Lễ Cầu Siêu thực hiện trước Bàn Vong.

    Tất cả người thân quỳ trước Bàn Vong.

    Chức Sắc, Chức Việc, chư đồng đạo dự Lễ Cầu Siêu đứng 2 bên Bàn Vong, phân ra 2 bên nam nữ, tay bắt ấn Tý.

    Sau Lễ Cầu Siêu là chư đồng đạo vào bái vong. Khi bái vong thì tay bắt ấn Tý, cầu nguyện cho vong linh rồi quỳ lại 3 lạy. Chức Sắc lớn Phẩm hơn người chết thì không lạy vong mà chỉ niệm hương cầu nguyện trước Bàn Vong.

    Buổi tối tổ chức hòa nhạc trước Bàn Vong và luân phiên tụng kinh Di Lạc trước Thiên Bàn.

    Lễ Chèo Hầu Tại Khách Đình

    Phẩm Lễ Sanh chết làm lễ tang tại Khách Đình có chèo hầu vào buổi tối.

    Các Phẩm Chánh Trí Sự trở xuống không có chèo hầu.

    Việc Chèo Hầu được thực hiện trước hòm người chết ở Phẩm Vị Lễ Sanh làm tăng thêm phần Long Trọng của tang lễ của 1 vị Chức Sắc của Đạo.

    Đối với Chức Sắc trên Phẩm Lễ Sanh,tức Giáo Hữu trở lên còn có Chèo Đưa, nghi lễ Long Trọng Hơn nữa.

    Hành Pháp Độ Hồn: Phép Xác – Đoạn Căn – Độ Thăng

    1 vị Chức Sắc Phẩm Giáo Hữu đến thực hiện Phép Xác – Đoạn Căn – Độ Thăng cho chơn hồn người chết, do gia đình thỉnh cầu, có sắp đặt trước.

    Là tẩy rửa chơn thần người chết cho hết ô trược để nhẹ nhàng bay đến cõi linh thiêng

    Là cắt đứt 7 dây oan nghiệp, không còn ràng buộc chơn thân người chết

    Là đưa chơn hồn người chết bay lên Cửu Trùng Thiên (9 tầng trời)

    Chi tiết về các nghi thức này sẽ được vị Chức Sắc Phẩm Giáo Hữu trở lên hướng dẫn.

    Lưu Ý: Nếu người chết là Chức Sắc Phẩm Giáo Hữu trở lên thì việc hành pháp độ thăng được thực hiện tại Tòa Thánh.

    Đối với trường hợp ở xa không có Chức Sắc hành pháp: cả Chức việc Ban Trị Sự cùng với gia đình tang quyến, bưng Khay Vong đến cúng trước Thiên Bàn, cầu nguyện Đấng Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng ban ân và tha thứ tội tình cho người chết rồi trở lại bàn vong tụng kinh cầu siêu nối tiếp kinh khi đã chết rồi. tụng 3 hiệp rồi niệm chú Thầy 3 lần, sau đó động quan đưa Linh Cữu ra Thuyền Bát Nhã.

    Lễ Động Quan – Khiển Điện

    Có nhạc và lễ. Đầu tiên là thực hiện Lễ Khiển Điện, Lễ Xướng:

    Lễ An Táng Tại Nghĩa Trang

    Tang chủ bưng Khay Vong đến trước Thiên Bàn xá 3 xá rồi đi theo Phướn Thượng Sanh, tiếp theo sau là Linh Cữu. Khi đưa ra tới đường lộ thì phải trật tự.

    – Bảng Đại Đạo

    – Phướn Thượng Sanh

    – Đồng nhi tụng kinh đưa Linh Cữu, có đàn và tụng cho đến khi đến Huyệt mộ

    – Bàn hương án có 1 lọng và 2 lễ sĩ theo hầu

    – Vãng lụy và tràng hoa

    – Thuyền Bát Nhã

    – Gia đình tang quyến

    – Chức Sắc – Chức Việc – Đạo Hữu đưa tang

    – Phướn Thượng Sanh

    – Trật tự đưa đám giống như trên nhưng không có Bàn hương án và Dàn Nam

    Điếu Văn Cảm Tạ – Hạ Huyệt

    Khi đến nghĩa trang, đặt hòm kê trên huyệt.

    Vị chủ lễ đến trước Linh Cữu, trải chiếu và bài mâm cúng Thần Hoàng Bổn Cảnh.

    Thân bằng quyến thuộc đọc điếu văn và lời cảm tạ. (Nếu có)

    Gia đình tang quyến quỳ trước đầu Huyệt, tay bắt ấn Tý, đồng nhi bắt đầu tụng kinh Hạ Huyệt – 3 lần , tiếp sau đó đọc Vãng Sanh thần chú 3 lần rồi lại niệm câu chú của Thầy 3 lần.

    Vị chủ lễ đúng ngang hòm, xá 3 xá rồi thu hồi Tấm Phủ Quan giao cho đội đạo tỳ.

    Đội đạo tỳ bắt đầu tiến hành hạ hòm xuống huyệt.

    *** Chú Ý: Đạo Cao Đài không mở cửa mả, không đem Linh Vị ra huyệt mộ để cúng, không rước vong về nhà thờ, không đốt giấy tiền vàng mã.

    Riêng Đạo Cao Đài còn một số nghi thức sau đám tang như sau:

    • Tuần cửu – Tiểu tường – Đại tường – Xả Tang
    • Nghi Tiết Tang Lễ Hàng Thiên Thần
    • Nghi Tiết Tang Lễ Hàng Nhơn & Địa Thần

    Ngoài ra, còn những trường hợp khác như sau:

    • Tang Lễ Của Đạo Hữu Giữ Lục Trai
    • Tang Lễ Bạt Tiến
    • Trường hợp khác: Tự tử – Sét đánh – Nhi đồng

    Sẽ không thể tránh khỏi thiếu xót vì mỗi nơi sẽ có đôi chút khác biệt. Thành mong quý độc giả góp ý thêm để cải thiện chỉnh sửa cho hợp lý với Phong Tục và Điều Răn của Đạo Cao Đài.

    Tham Khảo Thêm: Báo Giá Dịch Vụ Phục Vụ Tang Lễ Trọn Gói – Xem Tại Đây

    Tham Khảo Thêm: Phong Tục Đám Tang Đạo Phật – Xem Tại Đây

    Tham khảo Thêm: Phong Tục Đám Tang Đạo Công Giáo – Xem Tại Đây

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Lưu Ý Khi Mua Xe Máy Mới
  • Chị Em Thích Xe Tay Ga Nên Mua Xe Nhập Khẩu Hay Chọn Xe Mới?
  • Có Nên Mua Xe Máy Trả Góp Không? Những Điều Cần Biết Trước Khi Mua
  • Bỏ Túi Kinh Nghiệm Mua Xe Máy Cũ Để Tránh Bị Lừa Gạt!
  • Sinh Viên Nhập Học Có Nên Mua Xe Máy Cũ? Giá Xe Bao Nhiêu Thì Phù Hợp?
  • Giới Thiệu Khái Quát Về Đạo Cao Đài

    --- Bài mới hơn ---

  • Phap Mon Tinh Do Trong Dao Cao Dai
  • Nguồn Gốc Hai Bài Niệm Hương Và Khai Kinh Của Đạo Cao Đài
  • Tamduyen.com ” Luận Giải: Về Ý Nghĩa, Công Dụng, Và Xuất Xứ Của Kinh Nhựt Tụng Trong Đạo Cao Đài
  • Mùng 1 Thắp Hương Hoa Gì Để Phúc Lộc Đầy Nhà?
  • Ngày Mùng 1 Thắp Hương Hoa Gì Để Phúc Lộc Ùn Ùn Kéo Tới?
  • Phong trào Thông linh học của phương Tây phát triển nhanh tại Nam bộ, tạo thành phong trào cầu cơ, chấp bút gọi tắt là “cơ bút”. Trong các đàn cơ này, có hai nhóm chính hình thành đạo Cao đài. Nhóm thứ nhất do ông Ngô Minh Chiêu cầu cơ tại các đền, chùa thuộc các nhóm Ngũ chi Minh đạo. Nhóm thứ hai gồm ba ông: Cao Quỳnh Cư, Cao Hoài Sang, Phạm Công Tắc tổ chức xây bàn cầu cơ nhằm mục đích giải trí.

    Đến ngày 12/2/1926, trong một bài cơ Đức Thượng đế đã phán dạy hai nhóm cơ bút thống nhất hình thành đạo Cao đài. Ông Ngô Minh Chiêu được Thiên phong phẩm vị Giáo tông đầu tiên của đạo Cao đài.

    Ngày 7/10/1926, 28 người đại diện cho 247 tín đồ đã thống nhất ký tên vào Tờ khai đạo gửi chính quyền Pháp. Giữa tháng 11/1926, những chức sắc Thiên phong đầu tiên của đạo Cao đài tổ chức lễ khai đạo tại chùa Gò Kén, Tây Ninh, chính thức cho ra mắt Đại đạo Tam kỳ Phổ độ, gọi tắt là đạo Cao đài.

    Tôn chỉ của đạo Cao đài là “Tam giáo quy nguyên, Ng̣ũ chi hiệp nhất”, lấy sự thương yêu làm nền tảng, lấy nhân nghĩa làm phương châm hành đạo, lấy việc phụng sự chúng sinh làm hành động, lấy sự cứu rỗi các chơn linh làm cứu cánh, phấn đấu xây dựng một xã hội đạo đức, an lạc bằng tinh thần thương yêu đồng đạo. Giáo lý của đạo Cao đài đề cao tính thiêng liêng, sự huyền diệu của cơ bút. Luật lệ của đạo Cao đài thực hiện theo Tân luật, Pháp Chánh truyền. Lễ nghi của đạo Cao đài khá cầu kì thể hiện tinh thần Tam giáo đồng nguyên. Đạo Cao đài thờ Thiên nhãn, có nghĩa là “mắt trời”, biểu tượng Đức Chí Tôn của đạo Cao đài. Cơ sở thờ tự có Toà thánh ở Trung ương giáo hội và thánh thất (thánh tịnh, điện thờ Phật Mẫu) ở Họ đạo cơ sở.

    Mô hình tổ chức của đạo Cao đài theo 3 đài: Bát Quát đài là đài vô vi thờ Đức Chí Tôn (Thiên nhãn) và Phật, Tiên, Thánh, Thần; Hiệp Thiên đài là cơ quan bảo pháp có hai chức năng thông công giữa Bát Quát đài và Cửu Trùng đài và bảo vệ pháp luật Đạo, đồng thời giám sát các hoạt động của cơ quan Cửu Trùng đài, đứng đầu Hiệp Thiên đài là phẩm Hộ pháp; Cửu Trùng đài là cơ quan hành pháp, tổ chức hữu hình của đạo Cao đài, gồm 09 Viện và 9 phẩm, đứng đầu Cửu Trùng đài là phẩm Giáo tông.

    Sau ngày khai đạo, những chức sắc lãnh đạo giáo hội Cao đài tiến hành xây dựng Toà thánh, phát triển các thánh thất, điện thờ, xây dựng giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức Giáo hội. Trong 2 năm 1926 – 1927, thông qua cơ bút đạo Cao đài đã tập trung xây dựng xong hai văn bản quan trọng qui định luật lệ, lễ nghi và tổ chức Giáo hội là Pháp Chánh truyền và Tân luật. Vì vậy, đến năm 1930 hoạt động tại Toà thánh dần dần đ­ược củng cố và đi vào nề nếp, những chức sắc thư­ờng trực đã thực hiện theo đúng chức năng nhiệm vụ, các cơ sở đạo phát triển, tổ chức Giáo hội hình thành từ Trung ương đến cơ sở theo 5 cấp hành chính đạo.

    Từ 1931 đến 1934, mâu thuẫn giữa một số chức sắc Hiệp Thiên đài và Cửu Trùng đài ngày càng nặng nề, tình hình nội bộ Giáo hội mất đoàn kết ngày càng tăng, một số chức sắc cao cấp bất đồng với Toà thánh đã tự hoạt động theo ý riêng, tiến hành lập nhiều đàn cơ để lôi kéo tín đồ. Vì vậy, nội bộ chức sắc xuất hiện t­ư tư­ởng ly khai khỏi Toà thánh như­ các ông Nguyễn Văn Ca, Nguyễn Hữu Chính, Trần Đạo Quang, Nguyễn Ngọc T­ương, Lê Bá Trang, các vị chức sắc rời Toà thánh Tây Ninh về các địa phư­ơng lập ra các chi phái Cao đài mới như: Cao đài Ban Chỉnh đạo, Cao đài Tiên Thiên, Cao đài Chơn lý, Cao đài Minh Chơn đạo, Cao đài Bạch y…

    Giai đoạn từ 1935 đến 1975, đạo Cao đài phát triển mạnh mẽ nhất nhưng cũng xảy ra tình trạng phân chia thành nhiều chi phái, đã có lúc lên đến hơn 30 phái Cao đài khác nhau. Số lượng tín đồ đạo Cao đài cũng phát triển nhanh chóng đến hơn 2 triệu người, tập trung chủ yếu ở Nam bộ và một vài tỉnh ở miền Trung, miền Bắc.

    Giai đoạn từ năm 1975 đến nay: sau năm 1975, các phái Cao đài không hoạt động theo mô hình tổ chức cũ. Các Hội thánh Cao đài xây dựng tổ chức hành chính đạo theo hai cấp: cấp Trung ương là Hội thánh, cấp cơ sở là Họ đạo. Từ năm 1995 đến năm 2000, lần lượt 09 Hội thánh Cao đài có đông chức sắc, tín đồ tổ chức Đại hội thông qua Hiến chương, chương trình hành đạo, xây dựng tổ chức giáo hội 2 cấp, hoạt động theo 3 Hội: Thượng hội, Hội thánh, Hội Nhơn sanh và xác định đường hướng hành đạo “Nước vinh, Đạo sáng”.

    Hiện nay, đạo Cao đài có 09 Hội thánh có tổ chức giáo hội gồm: Cao đài Tây Ninh, Cao đài Ban Chỉnh đạo, Cao đài Tiên Thiên, Cao đài Minh Chơn đạo, Truyền giáo Cao đài, Cao đài Cầu Kho Tam Quan, Cao đài Chơn lý, Cao đài Chiếu Minh Long Châu, Cao đài Bạch y.

    Ngoài ra, đạo Cao đài còn có tổ chức Pháp môn Cao đài Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi là pháp môn tu hành của đạo Cao đài theo “Nội giáo tâm truyền” không có chức sắc, không lập giáo hội, chỉ chuyên tu tâm, luyện tánh theo truyền dạy của ông Ngô Minh Chiêu (được công nhận năm 2010). Giáo hội Cao đài Việt Nam (Bình Đức) cũng là một phái Cao đài có tổ chức giáo hội 02 cấp nhưng mới được cấp đăng ký hoạt động tôn giáo năm 2009.

    Bên cạnh các tổ chức giáo hội, đạo Cao đài còn có trên 20 tổ chức Cao đài hoạt động độc lập không phụ thuộc vào các tổ chức Hội thánh nêu trên như: Cao đài Thượng đế, Cao Thượng Bửu Toà, Nam Thành Thánh Thất, Cơ quan Phổ thông giáo lý Đại đạo, Liên Hoa Cửu Cung Thiên đạo học đường, Thánh tịnh Tân Minh Quang, Thánh tịnh Huỳnh Quang Sắc, Thánh tịnh Thiên Trước, Thánh thất Bàu Sen.

    Theo thống kê năm 2009 của các tổ chức Cao đài, đến nay đạo Cao đài có trên 1 vạn chức sắc, gần 3 vạn chức việc, khoảng 2,4 triệu tín đồ, với 958 tổ chức Họ đạo cơ sở được công nhận ở 35/38 tỉnh, thành phố có đạo Cao đài, thành lập 65 Ban Đại diện, 1.290 cơ sở thờ tự (hàng năm có khoảng 4 ngàn tín đồ mới nhập môn vào đạo Cao đài).

    Trong hai cuộc kháng chiến cứu nước, đông đảo chức sắc, tín đồ đạo Cao đài đã tích cực tham gia đóng góp sức người, sức của vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, đồng bào đạo Cao đài đang cùng toàn dân tham gia vào công cuộc đổi mới, góp phần xây dựng đất nước./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mối Liên Hệ Giữa Đức Phật Và Thánh Mẫu
  • 30 Ngày Thiền Thất Bên Trong Vạn Phật Thánh Thành
  • Tả Một Ngày Mới Bắt Đầu Ở Quê Em
  • Thần Cấp Căn Cứ Chương 158: Yêu Tinh Nước Trái Cây
  • Cúng Thần Tài Ngày Rằm: Nhẩm Khấn Đúng Bài Để Thần Ưng Bụng Mở Túi Ban Phát Lộc Lá, Làm Gì Cũng Gặp May
  • Giới Thiệu Khái Quát Về Đạo Cao Đài – Cecrs

    --- Bài mới hơn ---

  • Vài Nét Về Chữ Hiếu Trong Đạo Cao Đài Qua Quyển Kinh Thiên Đạo Và Thế Đạo
  • Ý Nghĩa Loài Hoa Mẫu Đơn
  • Địa Mẫu Chân Kinh (Kỳ 1)
  • Độ Cứng Hrc – Hrb – Hb – Hv – Leeb Của Kim Loại Phổ Biến
  • Tìm Hiểu Về Máy Đo Độ Cứng Và Quy Trình Hiệu Chuẩn
  • Đầu thế kỷ XX, chính quyền thực dân Pháp và triều đình phong kiến nhà Nguyễn tăng cường áp bức bóc lột, vơ vét tài nguyên, đàn áp nhân dân để phục vụ lợi ích của chúng. Cuộc sống của nhân dân lao động, đặc biệt là người nông dân Nam bộ bị bần cùng hoá, phải đi làm thuê, làm mướn. Các cuộc đấu tranh của nhân dân đều thất bại. Bất lực trong cuộc sống, khủng hoảng về tư tưởng, đồng thời các tôn giáo và đạo lý đương thời bị suy thoái đây là tiền đề và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của đạo Cao đài.

    Tòa thánh Cao đài Tây Ninh

                Phong trào Thông linh học của phương Tây phát triển nhanh tại Nam bộ, tạo thành phong trào cầu cơ, chấp bút gọi tắt là “cơ bút”. Trong các đàn cơ này, có hai nhóm chính hình thành đạo Cao đài. Nhóm thứ nhất do ông Ngô Minh Chiêu cầu cơ tại các đền, chùa thuộc các nhóm Ngũ chi Minh đạo. Nhóm thứ hai gồm ba ông: Cao Quỳnh Cư, Cao Hoài Sang, Phạm Công Tắc tổ chức xây bàn cầu cơ nhằm mục đích giải trí.

    Đến ngày 12/2/1926, trong một bài cơ Đức Thượng đế đã phán dạy hai nhóm cơ bút thống nhất hình thành đạo Cao đài. Ông Ngô Minh Chiêu được Thiên phong phẩm vị Giáo tông đầu tiên của đạo Cao đài.

    Ngày 7/10/1926, 28 người đại diện cho 247 tín đồ đã thống nhất ký tên vào Tờ khai đạo gửi chính quyền Pháp. Giữa tháng 11/1926, những chức sắc Thiên phong đầu tiên của đạo Cao đài tổ chức lễ khai đạo tại chùa Gò Kén, Tây Ninh, chính thức cho ra mắt Đại đạo Tam kỳ Phổ độ, gọi tắt là đạo Cao đài.

              Tôn chỉ của đạo Cao đài là “Tam giáo quy nguyên, Ng̣ũ chi hiệp nhất”, lấy sự thương yêu làm nền tảng, lấy nhân nghĩa làm phương châm hành đạo, lấy việc phụng sự chúng sinh làm hành động, lấy sự cứu rỗi các chơn linh làm cứu cánh, phấn đấu xây dựng một xã hội đạo đức, an lạc bằng tinh thần thương yêu đồng đạo. Giáo lý của đạo Cao đài đề cao tính thiêng liêng, sự huyền diệu của cơ bút. Luật lệ của đạo Cao đài thực hiện theo Tân luật, Pháp Chánh truyền. Lễ nghi của đạo Cao đài khá cầu kì thể hiện tinh thần Tam giáo đồng nguyên. Đạo Cao đài thờ Thiên nhãn, có nghĩa là “mắt trời”, biểu tượng Đức Chí Tôn của đạo Cao đài. Cơ sở thờ tự có Toà thánh ở Trung ương giáo hội và thánh thất (thánh tịnh, điện thờ Phật Mẫu) ở Họ đạo cơ sở.

              Mô hình tổ chức của đạo Cao đài theo 3 đài: Bát Quát đài là đài vô vi thờ Đức Chí Tôn (Thiên nhãn) và Phật, Tiên, Thánh, Thần; Hiệp Thiên đài là cơ quan bảo pháp có hai chức năng thông công giữa Bát Quát đài và Cửu Trùng đài và bảo vệ pháp luật Đạo, đồng thời giám sát các hoạt động của cơ quan Cửu Trùng đài, đứng đầu Hiệp Thiên đài là phẩm Hộ pháp; Cửu Trùng đài là cơ quan hành pháp, tổ chức hữu hình của đạo Cao đài, gồm 09 Viện và 9 phẩm, đứng đầu Cửu Trùng đài là phẩm Giáo tông.

    Sau ngày khai đạo, những chức sắc lãnh đạo giáo hội Cao đài tiến hành xây dựng Toà thánh, phát triển các thánh thất, điện thờ, xây dựng giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức Giáo hội. Trong 2 năm 1926 – 1927, thông qua cơ bút đạo Cao đài đã tập trung xây dựng xong hai văn bản quan trọng qui định luật lệ, lễ nghi và tổ chức Giáo hội là Pháp Chánh truyền và Tân luật. Vì vậy, đến năm 1930 hoạt động tại Toà thánh dần dần đ­ược củng cố và đi vào nề nếp, những chức sắc thư­ờng trực đã thực hiện theo đúng chức năng nhiệm vụ, các cơ sở đạo phát triển, tổ chức Giáo hội hình thành từ Trung ương đến cơ sở theo 5 cấp hành chính đạo.

    Từ 1931 đến 1934, mâu thuẫn giữa một số chức sắc Hiệp Thiên đài và Cửu Trùng đài ngày càng nặng nề, tình hình nội bộ Giáo hội mất đoàn kết ngày càng tăng, một số chức sắc cao cấp bất đồng với Toà thánh đã tự hoạt động theo ý riêng, tiến hành lập nhiều đàn cơ để lôi kéo tín đồ. Vì vậy, nội bộ chức sắc xuất hiện t­ư tư­ởng ly khai khỏi Toà thánh như­ các ông Nguyễn Văn Ca, Nguyễn Hữu Chính, Trần Đạo Quang, Nguyễn Ngọc T­ương, Lê Bá Trang, các vị chức sắc rời Toà thánh Tây Ninh về các địa phư­ơng lập ra các chi phái Cao đài mới như: Cao đài Ban Chỉnh đạo, Cao đài Tiên Thiên, Cao đài Chơn lý, Cao đài Minh Chơn đạo, Cao đài Bạch y…

    Giai đoạn từ 1935 đến 1975, đạo Cao đài phát triển mạnh mẽ nhất nhưng cũng xảy ra tình trạng phân chia thành nhiều chi phái, đã có lúc lên đến hơn 30 phái Cao đài khác nhau. Số lượng tín đồ đạo Cao đài cũng phát triển nhanh chóng đến hơn 2 triệu người, tập trung chủ yếu ở Nam bộ và một vài tỉnh ở miền Trung, miền Bắc.

    Giai đoạn từ năm 1975 đến nay: sau năm 1975, các phái Cao đài không hoạt động theo mô hình tổ chức cũ. Các Hội thánh Cao đài xây dựng tổ chức hành chính đạo theo hai cấp: cấp Trung ương là Hội thánh, cấp cơ sở là Họ đạo. Từ năm 1995 đến năm 2000, lần lượt 09 Hội thánh Cao đài có đông chức sắc, tín đồ tổ chức Đại hội thông qua Hiến chương, chương trình hành đạo, xây dựng tổ chức giáo hội 2 cấp, hoạt động theo 3 Hội: Thượng hội, Hội thánh, Hội Nhơn sanh và xác định đường hướng hành đạo “Nước vinh, Đạo sáng”.

    Hiện nay, đạo Cao đài có 09 Hội thánh có tổ chức giáo hội gồm: Cao đài Tây Ninh, Cao đài Ban Chỉnh đạo, Cao đài Tiên Thiên, Cao đài Minh Chơn đạo, Truyền giáo Cao đài, Cao đài Cầu Kho Tam Quan, Cao đài Chơn lý, Cao đài Chiếu Minh Long Châu, Cao đài Bạch y.

    Ngoài ra, đạo Cao đài còn có tổ chức Pháp môn Cao đài Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi là pháp môn tu hành của đạo Cao đài theo “Nội giáo tâm truyền” không có chức sắc, không lập giáo hội, chỉ chuyên tu tâm, luyện tánh theo truyền dạy của ông Ngô Minh Chiêu (được công nhận năm 2010). Giáo hội Cao đài Việt Nam (Bình Đức) cũng là một phái Cao đài có tổ chức giáo hội 02 cấp nhưng mới được cấp đăng ký hoạt động tôn giáo năm 2009.

    Bên cạnh các tổ chức giáo hội, đạo Cao đài còn có trên 20 tổ chức Cao đài hoạt động độc lập không phụ thuộc vào các tổ chức Hội thánh nêu trên như: Cao đài Thượng đế, Cao Thượng Bửu Toà, Nam Thành Thánh Thất, Cơ quan Phổ thông giáo lý Đại đạo, Liên Hoa Cửu Cung Thiên đạo học đường, Thánh tịnh Tân Minh Quang, Thánh tịnh Huỳnh Quang Sắc, Thánh tịnh Thiên Trước, Thánh thất Bàu Sen.

    Theo thống kê năm 2009 của các tổ chức Cao đài, đến nay đạo Cao đài có trên 1 vạn chức sắc, gần 3 vạn chức việc, khoảng 2,4 triệu tín đồ, với 958 tổ chức Họ đạo cơ sở được công nhận ở 35/38 tỉnh, thành phố có đạo Cao đài, thành lập 65 Ban Đại diện, 1.290 cơ sở thờ tự (hàng năm có khoảng 4 ngàn tín đồ mới nhập môn vào đạo Cao đài).

    Trong hai cuộc kháng chiến cứu nước, đông đảo chức sắc, tín đồ đạo Cao đài đã tích cực tham gia đóng góp sức người, sức của vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, đồng bào đạo Cao đài đang cùng toàn dân tham gia vào công cuộc đổi mới, góp phần xây dựng đất nước./.

                                                                                Nguyễn Thị Diệu Thúy

                                                                             Chuyên viên Vụ Cao đài

    Nguồn: http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/162/0/957/Gioi_thieu_khai_quat_ve_dao_Cao_dai

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thượng Đế & Phật Mẫu
  • Kinh Nhật Tụng: Vạn Phật Thánh Thành
  • Gợi Ý Các Món Ngon Thắp Hương Rằm Tháng Giêng Vừa Thơm Ngon Vừa Đơn Giản
  • Các Món Ngon Ngày Tết Dễ Làm 3 Miền Bắc, Trung, Nam
  • Các Món Ngon Ngày Tết Dễ Làm Của 3 Miền Bắc Trung Nam
  • Bước Đầu Học Đạo (Dành Cho Tân Tín Đồ Cao Đài)

    --- Bài mới hơn ---

  • Đi Đám Ma Lạy Mấy Lạy Là Đúng Phong Tục Của Người Việt Nam.
  • Sự Cúng Lạy Của Người Cư
  • Lá Phép Vải Mẹ Ngoắc Nangkwak
  • Đừng Mê Muội Tin Bùa Ngải
  • Kinh Nghiệm Đi Viếng Mộ Và Lễ Tạ Cô Sáu Ở Côn Đảo
  • --- Bài cũ hơn ---

  • Thờ Phật, Lạy Phật, Cúng Phật
  • Đồ Cúng Khai Trương Tiệm Nail Xem Nhiều Nhất,【Xem 23,265】
  • Cách Cúng Khai Trương Quán Nhậu Đúng Chuẩn Mang Lại May Mắn Cho Gia Chủ
  • Tượng Mẹ Hồ Ly 9 Đuôi
  • Nghi Quỹ Cúng Dường Khói Hương Tịnh Hóa Phúc Lạc Cát Tường ( Riwo Sangchod)
  • Đạo Cao Đài, Phật Giáo Hòa Hảo, Đạo Mẫu, Đạo Dừa Có Phải Là Đạo Phật Không? Đạo Nào Là Tốt Nhất?

    --- Bài mới hơn ---

  • D. Sự Cúng Lạy Của Người Cư
  • Bài Văn Khấn Cúng Lễ Cải Cát Hay (Sang Tiểu, Sang Cát, Bốc Mộ, Sửa Mộ, Dời Mộ)
  • Ý Nghĩa Bài Vị Cửu Huyền Thất Tổ
  • Nghi Thức Cúng Ngọ Và Những Điều Cần Biết
  • Tìm Hiểu Về Nghi Thức Cúng Ngọ
  • VẤN: Con chỉ là một Phật tử vừa mới biết đến cửa đạo và thú thật con cũng không biết những điều mình đang thực hành hay tin tưởng là đúng không? Nhìn trên mạng và xung quanh thấy có quá nhiều pháp môn, nhiều tôn giáo cũng bảo là Phật giáo, có nguồn gốc từ Phật giáo nhưng con thấy đủ thứ khác biệt làm con càng thắc mắc hơn. Con muốn hỏi đạo Cao Đài, Đạo Phật giáo Hòa Hảo, các đền thờ Mẫu, Đạo Dừa có phải cũng là đạo Phật không? Nếu không thì sự khác nhau là ở đâu? Cách thờ cúng ở những đạo này có giống hay khác với đạo Phật? ĐÁP:

    Vị trí Việt Nam chúng ta thuộc bán đảo Hoa Ấn, nơi tập trung nhiều mối đạo, nhiều môn phái, có hằng trăm tổ chức tín ngưỡng, màu sắc tôn giáo, có đạo tập hợp thành nhiều tổ chức như Đạo Phật Việt Nam, trước ngày hòa bình có đến 45 giáo hội, giáo phái lớn nhỏ, đạo Cao Đài có trên 20 Giáo hội v.v…

    Sư sẽ dẫn giải một số nguồn gốc tôn giáo đặc biệt nội sanh tại Việt Nam theo lời của các bạn hỏi

    Đạo Cao Đài: là đạo nội sanh được khai sanh chính thức vào năm 1926, Cao Đài nhanh chóng phát triển về quy mô và số lượng tín đồ. Theo thống kê năm 2009 của các tổ chức Cao Đài, đạo Cao Đài có trên 1 vạn chức sắc, gần 3 vạn chức việc, khoảng 5 triệu tín đồ, với 958 tổ chức Họ đạo cơ sở được công nhận ở 35/38 tỉnh, thành phố có đạo Cao Đài, thành lập 65 Ban Đại diện, 1.290 cơ sở thờ tự (hàng năm có khoảng 4 ngàn tín đồ mới nhập môn vào đạo Cao Đài). Ngoài ra, có khoảng 30.000 tín đồ nữa sống ở Hoa Kỳ, Châu Âu và Úc.

    Trong những năm 1921 đến 1924, Cụ Ngô Minh Chiêu đã thông qua cơ bút để hình thành nền tảng đầu tiên của đạo Cao Đài theo đường lối dung hợp Tam giáo Nho, Lão, Phật.

    Về giáo điển: Một số kinh cúng như ba bài dâng tam bửu (hoa, rượu trắng, trà).

    Với những nền tảng đạo đầu tiên, ông bắt đầu khai đạo cho nhóm bạn hữu Vương Quang Kỳ (tùng sự Soái phủ Nam Kỳ, ngạch Tri phủ), Nguyễn Văn Hoài (ngạch thông phán), Võ Văn Sang (ngạch thông phán), Đoàn Văn Bản (đốc học Đa Kao). Sau đó các ông này cũng có độ thêm một số đệ tử nữa cùng tu luyện với Ngô Văn Chiêu, nhưng những hoạt động giai đoạn nầy còn trong phạm vi một nhóm tu đơn tịnh luyện, chứ chưa phát triển thành một Tôn giáo.

    Phật giáo Hòa Hảo: hay còn gọi là đạo Hòa Hảo, là một tông phái Phật giáo do Huỳnh Phú Sổ khai lập năm 1939, lấy pháp môn Tịnh Độ tông làm căn bản và chủ trương tu hành tại gia. Theo thống kê năm 2009 có khoảng 1.433.252 tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo khiến tôn giáo này trở thành tôn giáo có số tín đồ đông thứ 4 tại Việt Nam. Tín đồ Phật giáo Hòa Hảo tập trung chủ yếu ở miền Tây Nam Bộ. Đặc biệt là An Giang với 936.974 tín đồ Phật Giáo Hòa Hỏa là tỉnh có số tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo đông nhất cả nước chiếm 44% dân số toàn tỉnh và chiếm 65% tín đồ Phật giáo Hòa Hảo trong cả nước, tiếp đến là Cần Thơ (227.117 tín đồ) và Đồng Tháp (196.143 tín đồ). Hiện nay, trong thư viện của hơn 30 quốc gia trên thế giới vẫn còn giữ những tài liệu sách báo về đạo này.

    Đạo thờ Mẫu: Trong tín ngưỡng của người Việt và của một số dân tộc thiểu số khác ở trên lãnh thổ Việt Nam, việc tôn thờ nữ thần, thờ mẫu thần, thờ mẫu tam phủ tứ phủ là hiện tượng khá phổ biến và có nguồn gốc lịch sử và xã hội sâu xa. Tuy tât cả đều là sự tôn sùng thần linh nữ tính, nhưng giữa thờ nữ thần, mẫu thần, mẫu tam phủ tứ phủ không hoàn toàn đồng nhất

    Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam là một tín ngưỡng bản địa cùng với những ảnh hưởng ngoại lai từ đạo giáo, tín ngưỡng lấy việc tôn thờ Mẫu (Mẹ) làm thần tượng với các quyền năng sinh sôi, bảo trữ và che chở cho con người. Tín ngưỡng mà ở đó đã được giới tính hoá mang khuôn hình của người Mẹ, là nơi mà ở đó người phụ nữ Việt Nam đã gửi gắm những ước vọng giải thoát của mình khỏi những thành kiến, ràng buộc của xã hội Nho giáo phong kiến

    Trong truyện kể dân gian về bà chúa Liễu Hạnh lưu truyền trong dân gian khá phong phú, sau này một số được ghi chép lại trong các sách cổ như Việt điện u linh, ngoài ra còn có các truyện kể dân gian khác về các vị nữ thần được các sách sau này tập hợp và ghi chép lại.

    Ngoài các ghi chép-sáng tác như trên, cũng có một nguồn tư liệu khác được dân gian sáng tác từ các huyền thoại, truyền thuyết và thậm chí là các truyện, thơ về các Thánh Mẫu. Đó là các bài hát văn ở Mẫu Tam phủ Tứ phủ với phần cốt lõi của các bài hát văn là lai lịch, sự tích các vị thần, nhất là các Thánh Mẫu. Ngoài ra còn nhiều tình tiết khác về khung cảnh, dung nhan, tướng mạo của các vị thần được những người sáng tác vô danh diễn tả, tô vẻ thêm để bảo trì sự tín ngưỡng.

    Đạo Dừa: Ông Đạo Dừa, tên thật là Nguyễn Thành Nam (1909-1990), là người sáng lập Hòa đồng Tôn giáo hay còn được dân gian quen gọi là Đạo Dừa; là một tín ngưỡng tại miền Nam Việt Nam, ở Bến Tre, Việt Nam.

    Năm 1950, ông trở lại xã Phước Thạnh dựng đài bát quái cao 14 thước, đêm đêm lên ngồi hành đạo trên đài, choàng một manh áo, chịu đựng mưa nắng. Cuộc sống tu hành đơn sơ, đạm bạc, thức ăn chỉ là trái cây, chủ yếu là dừa (nên mới có biệt danh là Ông Đạo Dừa). Mỗi năm ông chỉ tắm một lần vào ngày Phật Đản.

    Năm 1958, ông gửi thư phản đối Tổng thống Ngô Đình Diệm về một chính sách nào đó, nên bị bắt giam, sau được thả ra…

    Ông tự xưng là Thiên nhơn giáo chủ Thích Hòa Bình, tuyên bố theo cả ba tôn giáo là Nho, Phật, Lão. Đạo của ông không cần tụng kinh, gõ mõ mà chỉ cần ngồi tham thiền và ăn chay, tưởng niệm… và khuyến khích người đời sống tôn trọng lễ nghĩa và yêu thương nhau, cư xử hòa mục với nhau. Về thực phẩm, Đạo Dừa khuyên nên ăn dừa và uống nước dừa.

    Kinh nghiệm sanh và sống tại Việt Nam các bạn không nên thắc mắc nhiều, khi nghiên cứu đến tôn giáo, tôn giáo là chỗ dựa tinh thần của con người, khi sống thì cầu an, tai qua nạn khỏi, tật bệnh tiêu trừ, thoát mọi chướng duyên khi gặp nạn. Đến lúc qua đời thì cũng cầu cho an, siêu sanh về nơi thế giới tịnh hóa, thánh thiện, cao siêu, giải thoát.

    Tuy nhiên, cứu cánh của mỗi đạo, không đạo nào giống đạo nào: Đạo Phật thì mọi người con Phật cầu về với Phật. Đạo Cao Đài thì nguyện sanh về Tiên cảnh, cảnh Trời cao tột. Đạo Phật giáo Hòa Hảo thì tu cách xử thế, cầu về Tây phương Cực lạc theo lời chỉ dạy của Thầy Huỳnh Phú Sổ. Đạo thờ Mẫu thì cầu an cư lạc nghiệp, về với cõi khoái lạc của Mẫu mẹ. Đạo Dừa thì thờ Phật và Chúa Jésus, cứu cánh của đạo nầy là cầu cho siêu phóng tâm hồn, bá gia bá tánh an cư lạc nghiệp.

    Cứu cánh của các đạo thì không cao không thấp, nhưng người lập đạo tùy theo căn cơ cao thấp của chúng sanh mà lập đạo. Đứng về gốc độ chúng sanh thì có cao thấp, nhưng đứng về gốc độ các bậc sáng lập đạo thì vô biên.

    Sự tận thiện của hoa lan, không phải là của hoa hường gai, sự tận thiện của hoa hướng không phải là của osaka, sự tận thiện của osaka không phải là của mimosa…mỗi loài hoa vẽ đẹp tận thiện riêng của từng loài hoa cống hiến cho mọi người từng cái đẹp hiện hữu… đấy cũng chính là sự nhận định đối với các đạo giáo (Đạo đức kinh)

    HT Thích Giác Quang

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tại Sao Đạo Phật Giáo Hòa Hảo Ra Đời
  • Nét Đặc Sắc Của Phật Giáo Hòa Hảo
  • Bài Văn Cúng Đức Ông Ở Chùa Hương
  • Những Loại Hoa Cúng Bày Ban Thờ Dịp Tết Để Cả Năm An Khang, Thịnh Vượng
  • Thay Bàn Thờ Thần Tài Mới
  • Về Tây Ninh Dự Lễ Hội Lớn Của Đạo Cao Đài

    --- Bài mới hơn ---

  • Đại Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung Năm Kỷ Hợi
  • Đại Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung Của Tôn Giáo Cao Đài
  • Đại Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung Năm Canh Tý
  • Ý Nghĩa Ngày Rằm Tháng Mười, Rằm Hạ Nguyên
  • Văn Khấn Cúng Lễ Sao Giải Hạn Sao Thái Bạch Bài Cúng Sao Giải Hạn Thái Bạch
  • Cứ vào mùa trung thu, không khí Tây Ninh lại trở nên nhộn nhịp hẳn vì đây là thời điểm có lễ hội lớn nhất trong năm của những tín đồ Cao Đài: Đại lễ Hội Yến Diêu Trì Cung. Lễ hội này gồm phần lễ và phần hội, trong đó phần lễ được chú trọng hơn.

    Không phải ai cũng biết đến lễ hội này của tín đồ Cao Đài, nhưng nếu đến Tây Ninh một tuần trước ngày trung thu, chắc chắn bạn sẽ cảm nhận được không khí náo nhiệt. Hội thánh cho sửa sang lại mọi thứ từ con đường, cây cảnh, chậu hoa. Họ còn cho trang hoàng lại các cổng lớn và dựng các dãy nhà rạp xung quanh Điện thờ Phật Mẫu. Cái hay của một lễ hội mang dấu ấn tôn giáo là những tín đồ Cao Đài thời gian này tự nguyện về tòa thánh để giúp sức, làm công quả. Theo những người đạo Cao Đài, rằm tháng tám là cơ hội để làm những việc phúc đức nên chẳng ai tính toán, so đo góp công.

    Phần lễ theo truyền thống của đạo, cúng vào đêm 15 âm lịch, kéo dài từ chiều đến mười hai giờ với nhiều hoạt động như rước cộ bông Đức Phật Mẫu và cửu vị Tiên Nương, múa rồng nhang, ngọc kỳ lân, quy, phụng; đội múa phụng và đội nhạc hoành tráng. Trong đó, đoàn rước cộ bông Đức Phật Mẫu được diễn ra rất lớn, theo sau là đội nhạc, đội trống, vũ công và đội múa lân.

    Đặc biệt, múa Rồng nhang là một nét đặc trưng chỉ có ở Tây Ninh. Con rồng dài gần 20 mét được điều khiển bởi 30 vũ công. Chỉ cần đứng nhìn từ xa, bạn đã có thể thấy một vùng trời sáng rực. Khói nhang nghi ngút chuyển động liên tục làm những người chứng kiến quanh đó cảm nhận được uy lực và sự tôn nghiêm của con vật linh thiêng trong tín ngưỡng. Con Rồng nhang sẽ chuyển mình chầm chậm về hướng Tòa thánh.

    Vì là ngày lễ hội rất lớn của tín đồ đạo Cao Đài, nên du khách còn được trải nghiệm nhiều hoạt động đặc sắc khác như biểu diễn võ nghệ, làm thơ, diễn kịch, đánh cờ tướng, thi cắm hoa hoặc làm bánh. Đặc biệt, du khách đến đây còn có dịp thưởng thức bữa ăn chay vô cùng thơm ngon mà không nơi nào có được. Đây là bữa cơm chay tập thể lớn nhất và đông vui nhất. Có gần 500 người tình nguyện làm công quả, nấu ăn phục vụ khách hành hương trong suốt 3 ngày, từ ngày 13 đến rằm tháng tám.

    Từ 4 giờ sáng đến 10 giờ tối, khách hành hương có thể ghé vào ăn tùy thích. Ước tính cao điểm số người ghé vào đây ăn chay lên tới 25.000 người. Mùa trung thu trời thường đổ mưa, nhưng hầu như tín đồ Cao Đài và những người hành hương đều không quản khó khăn để đến đây dự lễ hội. Đại lễ Hội Yến Diêu Trì Cung là một nét đẹp sinh hoạt ở Tây Ninh nói chung và đạo Cao Đài nói riêng. Đại lễ chứa nhiều giá trị không chỉ thuộc về tâm linh mà còn tác động tích cực lên cuộc sống thường nhật.

    Thảo Nghi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Làm Thế Nào Để Đón Rước Thần Tài Trong Năm 2022?
  • Chị Em Hứng Khởi Khoe Ảnh Rước Thần Tài Về Nhà
  • Ngày Vía Thần Tài 2022, Lễ Vật Và Bài Khấn Rước Tài Lộc Về Nhà
  • Toàn Bộ Về Văn Cúng Nhập Trạch Và Chuẩn Bị Lễ Vật Về Nhà Mới
  • Hướng Dẫn Cách Bốc Bát Hương Thổ Công Về Nhà Mới Đúng Chuẩn
  • 6/1. Đất Nam Kỳ Trước Khi Cao Đài Xuất Thế / Đất Nam Kỳ − Tiền Đề Pháp Lý Mở Đạo Cao Đài

    --- Bài mới hơn ---

  • Lich Su Dao Cao Dai, 1926
  • Phong Tục Tín Ngưỡng Của Người Kinh…
  • 2903. Chi Phái Tây Ninh 1997 Thảm Bại….
  • Chống Sao Chép Mã Mở Cửa Cuốn Bằng Công Nghệ Austmatic Rolling Code
  • Big C Mở Cửa Mấy Giờ? Giờ Mở Cửa, Đóng Cửa Của Big C Cụ Thể Ra Sao?
  • TRƯỚC KHI CAO ĐÀI XUẤT THẾ

    Sau khi chiếm xong ba tỉnh miền Đông gồm Gia Định, Định Tường, Biên Hòa (1862) và ba tỉnh miền Tây gồm Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên (1867), thực dân Pháp xóa bỏ cách phân chia địa giới hành chánh cũ của triều Nguyễn.

    Lúc đầu Pháp gọi département thay cho phủ, gọi arrondissement thay cho huyện. Khoảng năm 1868, Nam Kỳ Lục Tỉnh có hơn hai mươi arrondissement (gọi là hạt hay địa hạt, do tham biện cai trị, cơ quan hành chánh gọi là tòa tham biện, chịu dưới quyền thống đốc đóng ở Sài Gòn, thư ký địa hạt cũng gọi là bang biện tức là secrétaire d’arrondissement).

    Nghị định ngày 07-6-1871 thu hẹp hai mươi hạt lại còn mười tám hạt; rồi tăng lên mười chín hạt (1876); tăng lên hai mươi hạt (1880); bỏ hạt hai mươi (1881); rồi lại lập thêm hạt Bạc Liêu (1882) và hạt Cap Saint-Jacques (1895) thành hai mươi mốt hạt.

    Nghị định ngày 16-01-1899 đổi tên hạt thành tỉnh (province), tham biện đổi thành chủ tỉnh (chef de province), tòa tham biện gọi là tòa bố (cơ quan hành chánh cấp tỉnh).

    Vài chục năm sau mới chia tỉnh ra quận (délégation) dưới quyền chủ quận; quận chia ra tổng (canton), đứng đầu là cai tổng (chef de canton). Tổng chia thành .

    – Gia Định chia thành năm tỉnh: Chợ Lớn, Gia Định, Gò Công, Tân An, Tây Ninh.

    – Biên Hòa chia thành bốn tỉnh: Bà Rịa, Biên Hòa, Cap Saint-Jacques (tức Vũng Tàu), Thủ Dầu Một.

    – Định Tường đổi thành Mỹ Tho.

    – Vĩnh Long chia thành ba tỉnh: Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long.

    – An Giang chia thành năm tỉnh: Cần Thơ, Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc, Sóc Trăng.

    – Hà Tiên chia thành ba tỉnh: Bạc Liêu, Hà Tiên, Rạch Giá.

    Chia lại đất Nam Kỳ thành hai mươi mốt tỉnh, có lẽ thực dân Pháp muốn xóa nhòa hai chữ Lục Tỉnh trong lòng người Việt, cũng là cách cắt đứt lòng lưu luyến với truyền thống, một thủ đoạn tâm lý bên cạnh các cuộc đàn áp những phong trào yêu nước kháng chiến. Nhưng dân Nam Kỳ vẫn hoài vọng Lục Tỉnh. Nên mãi đến năm Mậu Thân (1908) trên tờ báo Lục Tỉnh tân văn do ông Gilbert Trần Chánh Chiếu (1868-1919) làm chủ bút, vẫn xuất hiện thường xuyên tên Lục Tỉnh, Lục Châu. Mùa Thu năm Bính Dần (1926), khi khởi đầu công cuộc phổ độ ở miền Nam, các vị tiền bối khai đạo Cao Đài đã gọi đó là cuộc phổ độ Lục Tỉnh.Mãi đến hai thập niên 1950 và 1960, ở miền Nam cũng còn nói, nhắc đến hai chữ xa xưa này.

    Đúng đầu bộ máy hành chánh Nam Kỳ thời Pháp chiếm là Thống đốc Nam Kỳ (Gouverneur de la Cochinchine). Viên chức này do Toàn quyền Đông Pháp (tức Đông Dương thuộc Pháp) giới thiệu và được Tổng trưởng Thuộc địa bổ nhiệm.

    Toàn quyền còn cử thêm một viên chức lưu động, hàng năm thanh tra các tỉnh một lần và báo cáo cho Thống đốc. Đó là Thanh tra chánh trị và hành chánh sự vụ (Inspecteur des affaires politiques et administratives).

    3. Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ

    Hội đồng Tư vấn (Conseil privé) còn gọi là Hội đồng Chính phủ Đông Dương (Conseil de Gouvernement de l’Indochine), làm tư vấn cho Toàn quyền Đông Dương, gồm ba mươi hai thành viên người Pháp, và năm thành viên người Việt trong đó Toàn quyền chỉ định ba.( Tiền bối Lê Văn Trung từng là thành viên Hội đồng này.

    Đây là tên gọi thường gặp trong tiểu sử tiền bối Lê Văn Trung, vì tiền bối từng là ủy viên (sách sử Cao Đài thường viết là nghị viên) của tổ chức này. Tổ chức có tên Conseil supérieur de l’Indochine (Hội đồng Tối cao Đông Dương), được thành lập do sắc lệnh của Tổng thống Pháp ngày 17-10-1887, cùng ngày thành lập Liên bang Đông Dương ( Union indochinoise). Đứng đầu Hội đồng là Toàn quyền Đông Dương.Thành viên Hội đồng gồm có: Tổng tư lệnh Bộ binh Pháp ở Đông Dương, Tổng tư lệnh Hải quân Pháp ở Viễn Đông, Tổng thơ ký Phủ Toàn quyền Đông Dương, Chánh quan Tư pháp, Giám đốc Thương chánh và Độc quyền, Thống đốc Nam Kỳ, Tổng trú sứ Trung-Bắc Kỳ, Khâm sứ ở Cao Miên. Khi Tổng trú sứ Trung-Bắc Kỳ bị bãi bỏ (09-5-1889) thì thay vào là Thống sứ Bắc Kỳ và Khâm sứ Trung Kỳ. Khi Lào có chức Khâm sứ (19-4-1899) thì Hội đồng có thêm ủy viên là Khâm sứ Lào.

    Hội đồng có chức năng tư vấn ( consultatif) cho Toàn quyền Đông Dương các vấn đề về ngân sách, thuế khóa, thiết lập các thành phố, các phòng thương mại, các phòng canh nông, chế độ báo chí… Hội đồng ngưng hoạt động năm 1894. Ngày 03-7-1897 Tổng thống Pháp ra sắc lệnh tái lập Hội đồng. Ngày 20-10-1911 Tổng thống Pháp ra sắc lệnh đổi tên Hội đồng là Conseil de Gouvernement de l’Indochine, tức là Hội đồng Chánh phủ Đông Dương. Với tên gọi mới này, Hội đồng có thêm ba ủy viên người bản xứ do Toàn quyền chỉ định hàng năm, chọn trong số các kỳ hào ( notables) ở Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ và Cao Miên (mỗi nơi chọn một ủy viên). Có lẽ đó là lý do tiền bối Lê Văn Trung có chân trong Hội đồng Chánh phủ Đông Dương từ ngày 10-12-1914.

    Tỉnh ở Nam Kỳ chia thành nhiều nh chia thành nhiều quận, đứng đầu là phủ, đứng đầu là tri phủ; phủ chia thành nhiều huyện, đứng đầu là tri huyện. chủ quận. Trong khi đó, ở Bắc Kỳ, tỉ

    Ở Nam Kỳ, quận chia thành nhiều tổng, đứng đầu là cai tổng (chef de canton). Tổng chia thành nhiều làng.

    Chủ tỉnh là người Pháp. Do Nghị định ngày 15-02-1898, chủ quận được tuyển trong số viên chức hành chánh người Việt nào đã có ngạch huyện, phủ, đốc phủ sứ. Cho nên tri huyện, tri phủ ở Nam Kỳ chỉ là ngạch trật về hành chánh, không phải là quan chức như ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, mặc dù người miền Nam quen gọi chủ quận là quan phủ, quan huyện. Những viên chức người Việt này xuất thân là thơ ký, có thể có một ít vốn chữ Nho, học ở trường làng trước khi vào học chương trình Pháp ở Collège de Mỹ Tho, và trường Bổn quốc ở Sài Gòn, tức là Collège Chasseloup Laubat. Phần lớn các bậc tiền bối có công khai đạo Cao Đài đã xuất thân từ hai trường học này. Hai trường trung học lớn khác là Petrus Ký ở Sài Gòn và Collège de Cần Thơ.

    IV. VÀI ĐẶC ĐIỂM ĐÁNG CHÚ Ý Ở NAM KỲ

    Đầu thế kỷ 20, Sài Gòn và Chợ Lớn là hai khu vực riêng biệt. Riêng Sài Gòn rộng chừng 780 mẫu tây.

    Số dân toàn Nam Kỳ (từ 15 tuổi trở lên) năm 1905 là 2.876.417; năm 1909 là 2.975.838. Số dân tăng lên vì có nhiều người từ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Quảng Đông, Phước Kiến vào miền Nam làm ăn. Cho đến năm 1920, số dân Nam Kỳ ước độ 3.600.000, và riêng số người Việt ở vùng Sài Gòn (không kể Chợ Lớn) vào năm 1921 là 308.512 người.Năm 1930 tổng số dân miền Nam khoảng bốn triệu người.

    Sài Gòn đến thế kỷ 20 chưa liệt vào “Hòn ngọc Viễn Đông” − la perle de l’Extrême-Orient . Sơn miêu tả: “Ánh đèn điện chỉ rọi sáng khu trung tâm thành phố. Phía ngoại ô từ rạch Thị Nghè đi Bà Chiểu, nhà cửa thưa thớt, ban đêm tối om.” Nhiều tin đồn ma quỷ hiện ở Cầu Bông, và khu Lăng ông Bà Chiểu. Tại Thủ Đức, Hóc Môn còn có cọp xuất hiện.

    “Xe lửa nối liền ra ngoại ô còn dùng hơi nước đến 1913 mới cải tiến chạy bằng sức điện.”

    “Về mặt hành chánh, đô thành Sài Gòn lần lần nới rộng, bao gồm vùng bên này Cầu Bông, Tân Định, rồi Khánh Hội, Chánh Hưng. Diện tích thành phố Sài Gòn (không có Chợ Lớn) vào năm 1907 là 1.674 héc-ta. Tuy thêm nhà cửa, dinh thự nhưng khu vực náo nhiệt vẫn chưa phát triển ra khỏi đường Cách mạng Tháng Tám, đường Nguyễn Thái Học. Giữa Sài Gòn và ở phần đất cao còn nhiều chòm tre, cây da, mồ mả to xen vào những đám rẫy trồng rau cải và bông hoa, những xóm nhà ổ chuột; bầy bò dê đi lang thang ăn cỏ. Phương tiện xê dịch thông dụng là xe kiếng khi đổ mưa; người đánh xe mặc áo tơi bằng lá giống như áo tơi của nông dân vậy thôi. Chở chuyên hàng hóa thì dùng xe bò.”

    Theo Sơn Nam, “Việc thờ phượng Quan công, thờ Phật, việc tin tưởng vào chư tiên chư thánh đã có sẵn từ lâu ở miền …”

    Nhận xét về “giới bình dân đông đảo ở nông thôn và lớp nghèo thành thị”, Sơn thấy rằng họ đã “xây dựng một nếp sống tinh thần khá ấm áp, bình đẳng, lấy tình nghĩa huynh đệ làm trọng, sống chết có nhau, giữ trung cang nghĩa khí lúc khó khăn, hiếu động. Đúng là nếp sống tinh thần kết tinh đạo Phật, Lão, Khổng.”

    Những nhận xét này cho thấy trước khi đạo Cao Đài xuất thế, ở Nam Kỳ đã có sẵn mảnh đất tốt cho một tín ngưỡng tổng hợp Tam giáo phát triển. Tuy nhiên, khi xét về chiều sâu, thì ảnh hưởng Tam giáo ở Nam Kỳ hầu như chưa đủ để đáp ứng nhu cầu tâm linh của người dân Nam Kỳ.

    Sơn Nam viết: ” Lúc thực dân đang thắng thế, người ở Bộ là từ bốn tới bốn triệu rưỡi.” (

    Ai theo thời mới thì “Trừ một số ít được theo Tây học, làm công chức (từ thơ ký thi tuyển lên huyện, phủ) ưa mặc Âu phục còn đại đa số (luôn cả người theo Tây học) thích xuất hiện, ăn tiệc, chụp ảnh với cái khăn đóng, áo dài đen, quần trắng, đi giày hàm ếch, tay chống ba-ton, để râu trái ấu vuốt sáp; giới quan quyền mặc áo dài lụa xanh thêu chữ thọ, mang giày da buộc dây.” “mặc Âu phục, đội nón Tây, thắt nơ, râu vuốt sáp, tóc ngắn.” Bên cạnh đó, “công chức hạng nghèo thuở ấy mặc áo dài đen.” Đấy cũng là hình ảnh các tiền bối Cao Đài thời mở đạo. Còn những người thuộc “giới công nhân và lao động chịu hớt tóc ngắn, nhưng còn giữ búi tóc, bịt khăn đầu rìu hoặc ở trần, đi chân đất không phải ít.”

    Nhận xét tâm lý quần chúng ở Nam Kỳ dưới chế độ khắc nghiệt của thực dân Pháp, tuần báo Lục Tỉnh tân văn số 46, ngày 01-10-1908 viết: “Tánh người An mình hay sợ sệt lắm…” Do đó, khi chủ xướng những công cuộc lớn lao, muốn vận động, thu hút quần chúng, trong thành phần nhân sự nòng cốt bao giờ cũng cần có các công chức. Sơn nêu ra lý do là dân chúng “tin rằng công chức luôn luôn đàng hoàng, không làm quốc sự.” Ngay cả trong chuyện kinh doanh, điều này vẫn đúng, cho nên số báo nói trên viết rằng trong thương mại “hễ có các ông nha môn [công chức] ra làm đầu thì đâu đâu ai cũng xin vô hùn.”

    Tìm hiểu thời kỳ khai nguyên đạo Cao Đài nên lưu ý yếu tố tâm lý này. Trong số các vị môn đồ của buổi đầu khai sơn phá thạch, có đủ thành phần: nông dân, nhà tu xuất gia, cư sĩ, nghệ sĩ, nhà báo, nhà giáo, nhà buôn… và một con số không ít gồm các công chức. Các công chức này đã góp phần lớn trong việc thu hút đông đảo dân chúng nhập môn đạo Cao Đài, nhất là khi nhân cách của các vị chinh phục được tình cảm của rất nhiều dân chúng địa phương. Có thể nêu một trường hợp tiêu biểu là tiền bối Nguyễn Ngọc Tương (1881-1951), Giáo tông Hội thánh Ban Chỉnh Đạo, đã từng làm chủ quận Châu Thành (tỉnh Cần Thơ), quận Hòn Chông (tỉnh Hà Tiên), quận Cần Giuộc (tỉnh Chợ Lớn), quận Xuyên Mộc (tỉnh Bà Rịa).

    Nổi bật ở Nam Kỳ đầu thế kỷ 20 là phong trào Minh tân do ông Gilbert Trần Chánh Chiếu (1867-1919) và các đồng chí như Dũ Thúc Lương Khắc Ninh (1862-1943), Mạnh Tự Trương Duy Toản (1885-1957)… lãnh đạo. Phong trào bị thực dân Pháp đàn áp.

    Trên tuần báo Lục Tỉnh tân văn, ông chủ bút Gilbert Chiếu thường gọi các đồng chí của mình là “vị Minh tân” hay “tay Minh tân”. Tiền bối Lê Văn Trung (1876-1934)được Lục Tỉnh tân văn số 27, ngày 21-5-1908 giới thiệu là “người Minh tân”, và Sơn Nam ghi nhận tiền bối Lê Văn Trung ” về sau này là vị Quyền giáo tông của Đại đạo Tam kỳ Phổ độ (đạo Cao Đài), một tôn giáo mới tổng hợp Đông Tây thâu hút đồng bào Minh tân lúc trước, khiến thực dân Pháp lo ngại.”

    Tiền bối Phạm Công Tắc (1890-1959) suýt cũng bị Pháp bắt trong vụ thất bại của phong trào Minh tân. Lúc ấy, phong trào tổ chức đưa thanh niên ra nước ngoài học (Đông du), ba chuyến đầu trót lọt. Tiền bối Phạm Công Tắc được bố trí đi chuyến thứ tư. Lần này bị lộ, Pháp ập đến trụ sở Minh tân Công nghệ xã, nhờ ông Dũ Thúc Lương Khắc Ninh kịp thủ tiêu hồ sơ và chứng tích nên không ai bị bắt.

    Đã đành có rất đông tín đồ buổi đầu khai Đạo cũng là những người yêu nước chống thực dân, như nhà sử học Phạm Văn Sơn đánh giá: “Ngày nay dù sao chúng ta cũng không thể phủ nhận lòng ái quốc chân thành của các nhà lãnh đạo Cao Đài…” nhưng yêu nước chỉ mới là một trong nhiều nội dung của giáo lý Cao Đài, và được đạo Cao Đài coi là một tiêu chuẩn luân lý của đạo làm người (thế đạo hay nhân đạo). Tuy vậy không thể đơn thuần chỉ xét cạnh khía này rồi đồng hóa đạo Cao Đài với các phong trào chính trị, không khách quan nhìn thấy đạo Cao Đài là một tín ngưỡng độc đáo của dân tộc Việt .

    Tình hình chính trị ở Nam Kỳ đầu thế kỷ 20 vô cùng phức tạp, gay gắt. Có những biến cố lớn như sau:

    – 1903: Sào Nam Phan Bội Châu (1867-1940) vào tận Châu Đốc để tìm hiểu phong trào cách mạng ở Nam Kỳ.

    – 1908: Pháp đàn áp phong trào Minh tân.

    – 1913: Kỳ ngoại hầu Cường Để (1882-1951) vào Nam Kỳ, lưu lại ba tháng. Phan Xích Long (1893-1916) xưng là hoàng đế, khởi nghĩa ở vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, rồi bị bắt giam ở khám Lớn (Sài Gòn).

    – 1914: Thế chiến thứ Nhất bùng nổ ở châu Âu.

    – 1915: Pháp bại trận. Phát xít Đức chiếm . các phong trào yêu nước ở Việt hy vọng có thể lợi dụng tình thế này để giành lại độc lập.

    – 1916: Dân chúng đánh khám Lớn giải cứu Phan Xích Long, nhưng thất bại. Mười ba tỉnh của Nam Kỳ cực kỳ xáo trộn vì loạn lạc, và bị giặc Pháp khủng bố.

    – 1920: Toàn quyền Maurice Long tổ chức lại Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ, tức Hội đồng Quản hạt ( Conseil colonial), là nơi các nhóm tư bản Hoa, Pháp và tư sản Nam Kỳ tranh giành quyền lợi. Sự xâu xé ấy lan ra báo chí, chiếm chỗ trên các báo: La tribune indigène củaBùi Quang Chiêu (1872-1945) và Nguyễn Phú Khai (1887-?), L’Indochine của luật sư Paul Monin, La Voix libre của Edgar Ganofsky (1880-1943), La Cloche fêlée của Nguyễn An Ninh (1900-1943), L’Écho annamite của Bùi Quang Chiêu và Nguyễn Phan Long (1889-1960)…

    Trong lúc giới trí thức Nam Kỳ gần như lạc vào trận đồ bát quái thì quần chúng bình dân thế nào? Các thanh tra chánh trị và hành chánh sự vụ của thực dân báo động rằng các cuộc cầu cơ hỏi chuyện “quốc sự”, nói sấm tiên tri thời cuộc đang lan tràn khắp Lục Tỉnh. Có câu rằng:

    Người ta đoán đến một năm Ngọ nào đó “thằng Tây” sẽ thua ( thầy tăng hết thời), và tại một vùng sông nước linh thiêng nào đó sẽ xuất hiện vị cứu tinh của dân tộc Việt :

    Người ta chờ, hy vọng sẽ thấy minh vương (vua sáng suốt):

    Có lẽ do đức tin đó, năm 1913, Phan Xích Long khi khởi nghĩa cho thêu trên lá cờ những chữ Nho bí hiểm: , và Bửu sơn kỳ hương 寶山奇香 Thánh minh vương phật 聖明王佛 .

    Còn những người an phận, thích tìm nơi hoang vắng tu hành, chịu khổ hạnh đợi hội Long hoa, chờ Phật vương ra đời.

    Không khí tín ngưỡng dân gian nhuộm khắp Lục Châu. Giới trí thức ở thành thị cũng không kém.

    Thanh tra Lalaurette, trong phúc trình ” Le Caodaïsme ” (1932), báo cáo rằng những năm đầu thập niên 1920, trong giới công tư chức Nam Kỳ nổi lên một phong trào tìm hiểu và thực hành thông công với thế giới siêu hình qua sách vở chữ Pháp của các tác giả Thông linh học như Allan Kardec (Pháp, 1804-1869), Nicolas Camille Flammarion (nhà thiên văn Pháp, 1842-1925), và các tác giả Thông thiên học như Helena Petrovna Blavatsky (1831-1891), Henry Steel Olcott (1832-1907), Annie Besant (nữ sĩ Anh, 1847-1933), v.v…

    Các đàn tiên tri quy tụ những người hầu đàn cơ gồm đủ mọi tầng lớp trong xã hội, do nhiều mục đích khác nhau. Có thể chia ra ba nhóm chính:

    – Nhóm sĩ phu ưu thời mẫn thế, mượn đàn cơ để hỏi việc thiên cơ, hầu biết vận mệnh đất nước ra sao. Những đàn này thường lập rất kín đáo.

    Nhóm bình dân, gồm những người cần xin thuốc chữa bịnh, cầu thọ … Những đàn này phổ biến hơn cả, rất đa dạng. Qua sự linh ứng nhãn tiền, đông đảo dân chúng đã có đức tin nơi siêu hình. Những đàn này thường chỉ hoạt động trong một thời gian nhất định, tại một địa phương nào đó, rồi ngưng hẳn (bế đàn). Ở Nam Kỳ hồi đầu thế kỷ 20 có một số đàn hữu danh thuộc loại này, như đàn Hiệp Minh (ở Cái Khế, tỉnh Cần Thơ), đàn Minh Thiện (ở Thủ Dầu Một, Bình Dương), đàn Chợ Gạo (tỉnh Chợ Lớn)… Trước khi biết đạo Cao Đài, tiền bối Ngô Văn Chiêu (1878-1932) đã nhiều lần đến các đàn tiên Hiệp Minh, Minh Thiện để cầu thọ hoặc xin thuốc tiên cho mẹ.(

    Trong số các đàn tiên tri sự xuất hiện của đạo Cao Đài, có thể dẫn lại ba trường hợp tiêu biểu như sau:

    Thứ Sáu, ngày 03-01-1913 (26-11 Quý Sửu), tại quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc, một nhóm sĩ phu lập đàn tại nhà ông Lê Quang Hiển (1872-1950), mục đích hỏi về thiên cơ, quốc sự. Chơn linh nhà Nho yêu nước Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân (1841-1875) giáng cơ ban cho bài thơ chữ Nho như sau:

    Ngài lại ban cho bài thơ dịch:

    Chạm mắt Cao Đài khoẻ tấm thân.

    Hai chữ Cao Đài được nhắc tới bốn lần nhưng không ai hiểu ngụ ý gì. Gia đình ông Lê Quang Hiển sao lại hai bài thơ, cất lên trang thờ làm kỷ niệm.

    Tháng 10-1926 (tháng 9 Bính Dần), khi các tiền bối Cao Quỳnh Cư (1888-1929), Cao Hoài Sang (1901-1971), Lê Bá Trang (1878-1936), Vương Quan Kỳ (1880-1940)… trong đợt phổ độ Lục Tỉnh đến truyền đạo Cao Đài tại quận Cao Lãnh, bấy giờ mọi người mới nhớ hai bài thơ mười ba năm trước.

    Miễu Nổi (Phù Châu miếu 浮州廟 ) không biết có từ bao giờ, nằm trên một cồn nhỏ nổi giữa sông Vàm Thuật, Bến Cát, nay thuộc phường 5, quận Gò Vấp (bên kia bờ là An Phú Đông, quận 12).

    Đế quân giáng hạ, nhữ vô tai.

    Bài thơ khoán thủ thành Huê Quang Đại đế 華光大帝 , là vị giáng đàn. Câu một nói tiên tri từ năm 1926 trở đi khắp nơi sẽ nhìn thấy cờ của đạo Cao Đài gồm ba màu vàng, xanh, đỏ, tượng trưng cho Tam giáo (Phật, Lão, Nho). Câu ba nói tới “Tam kỳ Đạo dĩ khai” (Đạo kỳ Ba đã mở rồi) ám chỉ việc tiền bối Ngô Văn Chiêu (1878-1932) đã học đạo với Đức Cao Đài Tiên ông trước đó hai, ba năm (1920-1921). Câu hai nói “tứ hướng thướng tam tài” (bốn phương đều kéo cờ ba màu) “kim đơn” nhằm ngụ ý liên hệ tới phần nội giáo tâm truyền (tu thiền hay tịnh luyện, esotericism) của đạo Cao Đài.(

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phong Tục Đám Tang Đạo Cao Đài
  • Những Lưu Ý Khi Mua Xe Máy Mới
  • Chị Em Thích Xe Tay Ga Nên Mua Xe Nhập Khẩu Hay Chọn Xe Mới?
  • Có Nên Mua Xe Máy Trả Góp Không? Những Điều Cần Biết Trước Khi Mua
  • Bỏ Túi Kinh Nghiệm Mua Xe Máy Cũ Để Tránh Bị Lừa Gạt!
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100