【#1】Cách Làm Lễ Cầu Siêu Cho Thai Nhi Và Bài Văn Cúng Chi Tiết

Lễ cầu siêu cho thai nhi là cách để những bậc cha mẹ đã bỏ đi giọt máu của mình sám hối và bày tỏ mong muốn đứa trẻ có thể đi đến một nơi tốt đẹp hơn.

Lý do nên làm lễ cầu siêu cho thai nhi

Con người không ai thập toàn thập mỹ, chúng ta đôi lúc sẽ mắc sai lầm và có thể ân hận cả đời vì việc làm sai trái ấy. Việc phá thai hoặc để sảy thai là một trong số đó. Không ít bà mẹ vì lý do bất khả kháng mà không giữ được con hoặc phải tự tay bỏ đi giọt máu của chính mình.

Dù vì lý do gì thì đó cũng là điều sai trái và chẳng sớm hay muộn thì những người mẹ ấy cũng sẽ day dứt, hối hận về việc mình làm. Đó là chưa kể, thai nhi không siêu thoát có thể mang đến nhiều điều không may cho bản thân người mẹ và cả gia đình. Họ sẽ ốm đau triền miên không khỏi được, làm gì cũng thất bại, không một chuyện gì suôn sẻ.

Để sám hối cho lỗi lầm của mình, để mong con có thể buông bỏ hết oán hận, siêu thoát đến một nơi tốt hơn và cũng vì mong cầu gia đình sẽ tai qua nạn khỏi nên những người mẹ đã phá thai, bỏ con thường sẽ chọn cách làm lễ cầu siêu cho thai nhi đã mất của mình tại nhà hoặc ở chùa.

Cách làm lễ cầu siêu

Thời gian làm lễ cầu siêu cho thai nhi là 2 ngày mùng 2 và 16 âm lịch. Gia chủ chuẩn bị mâm cúng rồi đặt mâm đồ lễ lên một chiếc bàn, đặt bàn ở trước cửa ra vào sao cho một nửa bàn ở trong nhà còn một nửa nằm ngoài bậc thềm. Lý do của việc thiết kế này là vì thai nhi chưa được gia tiên coi là con cháu trong nhà, vì vậy thần Thổ Địa sẽ không cho vào nhà nhận đồ cúng.

Nếu người nào ngại cúng ở nhà thì hãy tới chùa để cúng cầu siêu cho con nhưng lưu ý rằng không được cúng trước mặt tượng Phật hoặc thần thánh vì như thế vong linh của thai nhi sẽ không dám nhận. Hãy tìm một vị trí khuất những bức tượng này để làm lễ.

Những thứ cần chuẩn bị cho mâm cúng cầu siêu

Đồ cúng dùng để làm lễ cầu siêu cho thai nhi rất đơn giản, dễ kiếm. Bạn chỉ cần mua đủ những thứ sau đây:

  • Sữa ông thọ (đã pha ra cốc) hoặc sữa hộp loại nhỏ (Vinamilk, TH True Milk, Cô Gái Hà Lan) …kèm theo ống hút.
  • Bánh kẹp loại ngon, vị sô cô la càng tốt (không chọn loại hay sử dụng để cúng cô hồn).
  • Quần áo giấy: Số lượng tùy vào bạn đã bỏ bao nhiêu thai nhi, cứ 1 thai nhi tương đương 2 bộ quần áo giấy một của nam, một của nữ (nếu không biết giới tính thai nhi) kèm theo cả giấy tiền, vàng bạc.

Văn cúng cầu siêu chi tiết

“OM AH HUNG Xin nhờ lửa làm tan chảy không còn sót những món diệu dục đơn giản nhưng quí giá này hóa một đám mây vô tận trong không gian thành một tiệc cúng dường không chấp trước, xin cho con dâng cúng lên chín phương Trời mười Phương Phật chư Phật mười phương. Hôm nay là ngày… tháng… năm… Tín chủ con là… ở tại số nhà… thành kính dâng lên cúng dường Chư Phật mong Chư Phật ban phước cho toàn thể chúng sinh không chừa sót một ai những điều an lành nhất. Con cũng xin nhờ vào tiệc cúng dường này, ánh sáng từ bi và trí tuệ của Chư phật sẽ hiện hữu trong tâm con và tất cả mọi người đồng thời chiếu sáng tất thảy các cõi khác để tất thảy hướng về Phật Pháp. Con nguyện với lòng thành tâm của mình trước Chư Phật xin được sám hối mọi lỗi lầm do thân khẩu ý con đã phạm phải từ trước tới nay. Con xin cúng dường tới các chư thiên, thiện thần, hộ pháp mong các ngài che chở cho con cùng gia đình luôn an lành, thoát khỏi mọi thế lực xấu và ác của cõi dương và cõi âm. Con cũng xin được nhờ vào lễ hỏa cúng này, hồi hướng cầu siêu cho tất cả các chúng sinh không chừa sót một ai đang lang thang trong cõi thân trung ấm hay cõi âm để họ bớt sợ hãi, đau khổ và nhanh chóng được chuyển nghiệp. Con cầu xin được cầu siêu cho cửu huyền thất tổ gia tiên gia tộc họ… cho cha…, mẹ… hay…. được hoan hỉ và sớm siêu thoát về nơi cực lạc hay cõi an lành khác”.

(Bỏ đồ cúng cho vong nhi vào đốt… rồi khấn tiếp): “Đặc biệt con xin được thành tâm sám hối cho nghiệp sát con phạm phải đối với các hài nhi đã từng kết duyên cùng con mà con chối bỏ. Cầu mong các hài nhi tha thứ và xóa bỏ mọi tâm tư oán hờn gây chướng ngại tới con, cầu mong các vong nhi buông bỏ và sớm chuyển đầu thai vào các cõi an lành mới. Cầu mong tất cả các vong nhi khác cũng đều hoan hỉ và siêu thoát như vậy.

Con nguyện sẽ gắng làm những điều thiện để hồi hướng, trợ duyên cho các vong nhi sớm được siêu thoát (nguyện thêm gì tùy tâm khấn ra…). Cầu mong cho lời nguyện lành của con được thành sự thật. Nếu đã tu thì đọc mật chú, nếu không biết thì đọc thần chú sáu âm của Bồ tát Quán Thế Âm “OM MA NI PADE ME HUM” [Cách đọc: “ôm ma ni pát đờ (đờ đọc thầm âm gió) mê hum”] 108 lần (Không bắt buộc).

Sau khi cúng xong hãy nói: “Lễ hỏa cúng đến đây là kết thúc, xin được mời các ngài và các chư vị an tọa về nơi trụ xứ của mình và chỉ trở lại khi gia chủ có lời thỉnh mời. Xin các vong hãy hoan hỷ đón nhận tấm lòng thành của gia chủ mà sớm được siêu thoát. Cũng xin che chở cho gia chủ mọi sự được tốt đẹp an lành. Gia chủ xin cảm tạ!”.

【#2】Nghi Lễ Làm Đầy Tháng Cho Trẻ

Nguồn gốc của lễ cúng đầy tháng cho con

Ông bà ta xưa quan niệm rằng đứa trẻ được sinh ra là do các vị Đại Tiên (Bà Chúa Đầu thai) hay còn gọi là 12 Bà Mụ nặn ra. Mỗi Mụ Bà sẽ có trách nhiệm nặn ra một bộ phận cho đứa trẻ như mắt, mũi, tay, chân, tóc… xấu hay đẹp cũng là do tay các Bà Mụ nặn ra.

Đứa trẻ vừa mới chào đời hãy còn xa lạ với thế giới xung quanh.Trẻ phải luôn được mẹ ôm ấp, để nghe nhịp đập con tim, hơi thở của mẹ như hồi nằm trong bụng mẹ để dần tiếp xúc, quen dần và thích nghi với mọi thứ từ thế giới bên. Cho nên khi trẻ vượt qua 30 ngày đầu và khỏe mạnh thì cha, mẹ phải thực hiện nghi lễ cúng ăn mừng còn gọi là lễ cúng đầy tháng.

Quy trình làm lễ cúng đầy tháng cho bé

Mụ bà Trần Tứ Nương, coi việc sanh đẻ (chú sinh)

Mụ bà Vạn Tứ Nương, coi việc thai nghén (chuyển sinh)

Mụ bà Lâm Cửu Nương, coi việc thụ thai (thủ thai)

Mụ bà Lưu Thất Nương, coi việc nặn hình hài nam, nữ cho đứa bé

Mụ bà Lâm Nhất Nương, coi việc chăm sóc bào thai (an thai)

Mụ bà Lý Đại Nương, coi việc chuyển dạ (chuyển sinh)

Mụ bà Hứa Đại Nương, coi việc khai hoa nở nhụy (hộ sản)

Mụ bà Cao Tứ Nương, coi việc ở cữ (dưỡng sanh)

Mụ bà Tăng Ngũ Nương, coi việc chăm sóc trẻ sơ sinh (bảo tống)

Mụ bà Mã Ngũ Nương, coi việc ẵm bồng con trẻ (tống tử)

Mụ bà Trúc Ngũ Nương, coi việc giữ trẻ (bảo tử)

Mụ bà Nguyễn Tam Nương, coi việc chứng kiến và giám sát việc sinh đẻ

Ngoài ra, còn có 3 Đức ông: Thánh sư, Tổ sư và Tiên sư với chức năng truyền dạy nghề nghiệp cho bé trong tương lai (không phải 13 đức thầy).

Chuẩn bị lễ vật cúng lễ đầy tháng cho con

Cúng Bà Mụ

3 đĩa xôi

3 tô chè

12 chén chè

Hàng mã (giấy tiền vàng bạc)

Cúng Đức ông

3 chén cháo

1 con vịt chéo cánh luộc chín

Hàng mã (giấy tiền vàng bạc)

1 tô cháo

Ngoài ra, có thể sử dụng thêm những vật cúng khác như:

12 đôi hài xanh

12 nén vàng màu xanh

12 bộ váy áo xanh

12 miếng trầu cánh phượng

12 bộ đồ chơi

12 con cua

12 con ốc

12 con tôm

Bánh kẹo, hoa quả,… chia thành 12 phần bằng nhau

Văn cúng trong lễ đầy tháng cho con

Sau khi bày lễ vật, một trưởng tộc hoặc người biết thực hành nghi lễ, thắp ba nén hương khấn nguyện:

“Hôm nay, ngày (mùng)… tháng… (âl), ngày cháu (nội hay cháu ngoại…) họ, tên… tròn 1 tháng tuổi, gia đình chúng tôi bày mâm lễ vật này, cung thỉnh thập nhị mụ bà và tam đức ông trước về chứng minh nhận lễ, sau tiếp tục phù trợ cho cháu (tên…) mạnh tay, mạnh chân, mau lớn, hiền, ngoan, phù trợ cho gia đình an vui, hạnh phúc”.

Sau nghi thức cúng kính là nghi thức khai hoa còn gọi là “bắt miếng”. Đứa bé được đặt ngay trên bàn giữa, chủ lễ rót trà thắp hương xin phép bắt miếng. Xong, bồng đứa trẻ một tay, tay kia cầm một nhánh hoa điệp (có thể hoa khác) vừa quơ qua, quơ lại trên miệng cháu bé vừa dạy những lời tốt đẹp như sau:

Mở miệng ra cho có bông, có hoa,

Mở miệng ra cho kẻ thương, người nhớ,

Mở miệng ra cho có bạc, có tiền,

Mở miệng ra cho xóm giềng quý mến…

Tiếp sau là lời chúc mừng và tặng quà hoặc tiền lì xì của khách mời, của dòng họ bà con cho cháu bé và gia đình nhân ngày cháu tròn một tháng tuổi.

Lễ cúng đầy tháng cho con ảnh hưởng từ Đạo Mẫu, một tôn giáo mang nguồn gốc bản địa ở Việt Nam nhưng cũng là một nghi thức dân gian mà nhiều vùng miền trên cả nước đều áp dụng chứ không riêng gì những người theo Đạo Mẫu mới làm. Lễ cúng này về mặt tâm linh cẩn cáo với các vị thần phù trợ cho đứa trẻ, về mặt xã hội thì lễ này thông báo về sự tồn tại thực sự của 1 thành viên mới trong cộng đồng.

Tuy nhiên với xu thế phát triển hiện đại như ngày nay , các ông bố bà mẹ trẻ còn có nhu cầu tìm đến những dịch vụ tổ chức đầy tháng chuyên nghiệp , nhằm tổ chức một buổi tiệc ngọt linh đình mời khách khứa họ hàng đến chung vui với ngày đầy tháng bé . Thể hiện sự tươi vui hân hoan và náo nức sau khi những nghi lễ truyền thống được hoàn tất

Những bàn tiệc ngộ nghĩnh vui nhộn đầy màu sắc sẽ khiến cho không gian tiệc đầy tháng của bé trở nên tươi vui và ấm cúng . Và có lẽ chính những vị khách của gia đình khi tới bữa tiệc đầy tháng tươi vui như thế này sẽ cảm nhận thấy được tình yêu và sự quan vô bờ bến của bậc làm cha , làm mẹ đối với thành viên mới đáng yêu của gia đình mình.

Những món đồ trang trí nhỏ xinh đáng yêu cùng những bức ảnh ngộ nghĩnh của bé

Đầy tháng bé là bữa tiệc đầu tiên mà gia đình tổ chức để ra mặt bé với họ hàng và mọi người , nó cũng được coy như là bữa tiệc sinh nhật đầu tiên của bé . Vậy thì ba mẹ tiếc gì mà không tổ chức cho bé yêu của mình một bữa tiệc đầu đời đầy ý nghĩa nhỉ ! Thấu hiểu được điều đó , Vạn Xuân Media xin được góp một phần nhỉ công sức cũng như tình cảm để giúp cho bé có được một bữa tiệc đầu đời đẹp đẽ và đầy ý nghĩa nhất . Hãy liên hệ với chúng tôi để bé nhà bạn được hưởng trọn vẹn nhất những dịch vụ tuyệt vời và chu đáo từ chúng tôi.

【#3】Làm Lễ Cúng Đầy Tháng Cho Bé Như Thế Nào?

Theo phong tục nước ta, trẻ con sinh ra được tròn một tháng thì được bố mẹ làm lễ cúng đầy tháng – lễ cúng đầy tháng trước là để tạ ơn Mụ bà và Đức ông (Ông bà ta xưa quan niệm rằng đứa trẻ được sinh ra là do các vị Đại Tiên này) đã phù trợ cho “mẹ tròn con vuông”, sau là để trình với nội – ngoại, họ hàng, lối xóm về đứa cháu sau một tháng chào đời. Lễ đầy tháng là chức mừng cho đứa trẻ sinh ra hòa nhập với thế giới con người và sống khỏe mạnh, được nâng niu, chúc tụng, để cộng đồng có trách nhiệm giúp đỡ, cưu mang, che chở…

Ông bà ta xưa quan niệm rằng đứa trẻ được sinh ra là do các vị Đại Tiên (Bà Chúa Đầu thai) hay còn gọi là 12 Mụ Bà nặn ra. Mỗi Mụ Bà sẽ có trách nhiệm nặn ra một bộ phận cho đứa trẻ như mắt, mũi, tay, chân, tóc… xấu hay đẹp cũng là do tay các Mụ Bà nặn ra.

Đứa trẻ vừa mới chào đời hãy còn xa lạ với thế giới xung quanh.Trẻ phải luôn được mẹ ôm ấp, để nghe nhịp đập con tim, hơi thở của mẹ như hồi nằm trong bụng mẹ để dần tiếp xúc, quen dần và thích nghi với mọi thứ từ thế giới bên. Cho nên khi trẻ vượt qua 30 ngày đầu và khỏe mạnh thì cha, mẹ phải thực hiện nghi lễ cúng ăn mừng còn gọi là lễ cúng đầy tháng.

1. Mụ bà Trần Tứ Nương, coi việc sanh đẻ (chú sinh)

2. Mụ bà Vạn Tứ Nương, coi việc thai nghén (chuyển sinh)

3. Mụ bà Lâm Cửu Nương, coi việc thụ thai (thủ thai)

4. Mụ bà Lưu Thất Nương, coi việc nặn hình hài nam, nữ cho đứa bé

5. Mụ bà Lâm Nhất Nương, coi việc chăm sóc bào thai (an thai)

6. Mụ bà Lý Đại Nương, coi việc chuyển dạ (chuyển sinh)

7. Mụ bà Hứa Đại Nương, coi việc khai hoa nở nhụy (hộ sản)

8. Mụ bà Cao Tứ Nương, coi việc ở cữ (dưỡng sanh)

9. Mụ bà Tăng Ngũ Nương, coi việc chăm sóc trẻ sơ sinh (bảo tống)

10. Mụ bà Mã Ngũ Nương, coi việc ẵm bồng con trẻ (tống tử)

11. Mụ bà Trúc Ngũ Nương, coi việc giữ trẻ (bảo tử)

12. Mụ bà Nguyễn Tam Nương, coi việc chứng kiến và giám sát việc sinh đẻ

Ngoài ra, còn có 3 Đức ông: Thánh sư, Tổ sư và Tiên sư với chức năng truyền dạy nghề nghiệp cho bé trong tương lai (không phải 13 đức thầy).

Chuẩn bị lễ vật cúng lễ đầy tháng cho bé

Một số gợi ý như sau:

– Cúng Mụ bà

3 đĩa xôi

3 tô chè

12 chén chè

Hàng mã (giấy tiền vàng bạc)

– Cúng Đức ông

3 chén cháo

1 con vịt chéo cánh luộc chín

Hàng mã (giấy tiền vàng bạc)

1 tô cháo

Ngoài ra, có thể sử dụng thêm những vật cúng khác như:

– 12 đôi hài xanh

– 12 nén vàng màu xanh

– 12 bộ váy áo xanh

– 12 miếng trầu cánh phượng

– 12 bộ đồ chơi

– 12 con cua

– 12 con ốc

– 12 con tôm

– Bánh kẹo, hoa quả,… chia thành 12 phần bằng nhau.

Bài cúng trong lễ đầy tháng cho bé

Sau khi bày lễ vật, một trưởng tộc hoặc người biết thực hành nghi lễ, thắp ba nén hương khấn nguyện: “Hôm nay, ngày (mùng)… tháng… (âl), ngày cháu (nội hay cháu ngoại…) họ, tên… tròn 1 tháng tuổi, gia đình chúng tôi bày mâm lễ vật này, cung thỉnh thập nhị mụ bà và tam đức ông trước về chứng minh nhận lễ, sau tiếp tục phù trợ cho cháu (tên…) mạnh tay, mạnh chân, mau lớn, hiền, ngoan, phù trợ cho gia đình an vui, hạnh phúc”.

Sau nghi thức cúng kính là nghi thức khai hoa còn gọi là “bắt miếng”. Đứa bé được đặt ngay trên bàn giữa, chủ lễ rót trà thấp hương xin phép bắt miếng. Xong, bồng đứa trẻ một tay, tay kia cầm một nhánh hoa điệp (có thể hoa khác) vừa quơ qua, quơ lại trên miệng cháu bé vừa dạy những lời tốt đẹp như sau:

Mở miệng ra cho có bông, có hoa,

Mở miệng ra cho kẻ thương, người nhớ,

Mở miệng ra cho có bạc, có tiền,

Mở miệng ra cho xóm giềng quý mến…

Tiếp sau là lời chúc mừng và tặng quà hoặc tiền lì xì của khách mời, của dòng họ bà con cho cháu bé và gia đình nhân ngày cháu tròn một tháng tuổi.

Lễ đầy tháng là hình thức tín ngưỡng dân gian mang đậm dấu ấn của tín ngưỡng thờ mẫu, qua đó cho thấy tín ngưỡng dân gian nói chung luôn hướng con người không chỉ biết có hiện tại, tương lai, mà còn nhận rõ truyền thống văn hóa mang tính bản sắc của gia đình – xã hội. Đồng thời Lễ đầy tháng còn là sự biểu hiện của những ước muốn tốt đẹp của các thế hệ trước đối với các thế hệ kế thừa.

【#4】Cung Quan Lộc, Thăng Quan Tiến Chức Miếu Đài Hiển Vinh

Cung Quan Lộc biểu thị khí số sự nghiệp của đời người. Hội được Cát tinh thì sự nghiệp hanh thông. Gặp đa Sát diệu thì công việc thăng giáng vô thường

Mộ phùng Tả Hữu đồng lai.

Thăng quan tiến chức miếu đài hiển vinh.

Đồng, Lương hội chiếu Dần Thân

Khi xưa tay trắng mà nay sang giàu.

Lộc phùng Tử, Mã nhất ban

Phong vân tế hội Mã Long Hỉ Đồng.

Cho nên trong tinh bàn của Đẩu Số. “Cung Quan Lộc” và “Cung Phu Thê” xung chiếu nhau. Đó là vì quan lộc sự nghiệp của một người có thể ảnh hưởng đến địa vị của vợ con.

Ngày nay xã hội đã hoàn toàn khác. Địa vị của giới doanh nhân rất cao, tất cả đều coi trọng tiền bạc, học hành để ra làm quan không còn là con đường lý tưởng duy nhất.

Bởi lý do đời sống hiện đại không còn quá quan trọng quan chức. Thành đạt trong kinh doanh cũng là mục tiêu mà rất nhiều người hướng tới. Hơn nữa, “tài vượng” còn có thể “sinh quan”. Nên “Cung Quan Lộc” được một số nhà đẩu số hiện đại đổi lại gọi là “Cung Sự Nghiệp”. Mà “Cung Quan Lộc” và “Cung Phu Thê” xung chiếu nhau, cũng có nghĩa là xem sự nghiệp và gia đình mâu thuẫn nhau. Vì vậy cần quan sát các sao của hai cung này xem có điều hòa hay không.

Trong bối cảnh như vậy, cổ nhân đã định ra một số nguyên tắc luận đoán “Cung Quan Lộc”. Có thể nói là không còn hợp thời, như

Những luận đoán này ít nhiều đã lỗi thời ở thời hiện đại.

Vương Đình Chi từng thử căn cứ các sao của Cung Quan Lộc để luận đoán về nghề nghiệp. Kết quả do tư liệu chưa được đầy đủ nên trong bài viết này chỉ thuật những nguyên tắc phổ quát.

Ví dụ như gặp Thiên Lương hội sao tài thì có thể đoán là kiểm toán viên, cũng có thể là chuyên viên kiểm định trong ngành kiến trúc. Nhưng cũng có khả năng là chủ quản bộ môn tổng vụ, hoặc bộ môn nhân sự của công ty.

Nói một cách thẳng thắn, chúng ta có thể biết tính chất tổ hợp các sao phù hợp với nghề gì. Nhưng lại không thể dựa vào các sao mà nói ra nghề nghiệp cụ thể của nó. Ngày nay đúng là có rất nhiều nghề nghiệp khác nhau, mong rằng bạn đọc có thể hiểu cho.

Ngoài ra, phán đoán nghề nghiệp của một con người còn phải tham khảo các sao của Cung Mệnh và Cung Phúc Đức, điểm này cũng cần hết sức chú ý.

Cung Quan Lộc đối nhau với cung phu thê, và tương hội với cung mệnh và cung tài bạch ở tam phương. Quan hệ giữa Cung Quan Lộc với cung mệnh và cung tài bạch, không nói cũng biết, còn quan hệ với cung phu thê, ở thời cổ đại, là vì có chế độ phong cáo. Nam mệnh ở cung thê gặp các sao chủ về quý, tức là điềm tượng vợ được phong cáo, nhờ vậy người này có thể gián tiếp được quan lộc.

Ý nghĩa này ở thời hiện đại đã không còn, nhưng vẫn có thể dựa vào đó để luận đoán ảnh hưởng của hôn nhân đối với sự nghiệp. Nhất là lúc các sao ở cung phu thê có tính chất quý báu, có lúc là điềm tượng lợi về vợ chồng hợp tác sáng lập sự nghiệp.

Vợ chồng đồng cam cộng khổ, từ xưa đã vậy. Các sao ở Cung Quan Lộc có thể ảnh hưởng đến hôn nhân, ý nghĩa không nói cũng biết. Nhưng nhìn từ phương diện khác, các sao ở cung phu thê cũng có thể ảnh hưởng đến sự nghiệp, ngoại trừ căn cứ tình huống “chồng nhờ vợ mà phú quý” hay “vợ nhờ chồng mà phú quý”, để luận đoán về công danh lợi lộc, còn phải lưu ý một điều, sự thành bại của sự nghiệp không phải là sự thành bại của hôn nhân. Cho nên các sao ở bản cung quan trọng hơn các sao ở đối cung.

Nếu Cung Quan Lộc là các sao cát, cung phu thê cũng là các sao cát, sẽ chủ về vợ chồng cùng nhau lập nên sự nghiệp, hoặc hai bên phát triển thành công, mà quan hệ vợ chổng cũng hạnh phúc. Nếu Cung Quan Lộc là các sao cát, mà cung phu thê là các sao hung, thì vợ chồng nên tự phát triển sự nghiệp của mình. Nếu Cung Quan Lộc là các sao hung, mà ở cung phu thê cũng là các sao hung, thì sự nghiệp của hai người không trợ giúp lẫn nhau, tuyệt đối không nên hợp tác.

Ví dụ như cung mệnh là “Tử Vi Thiên Phủ”, cung tài bạch là Vũ Khúc độc tọa, Cung Quan Lộc là “Liêm Trinh Thiên Tướng”. Nếu Vũ Khúc Hóa Quyền, cung thiên di có Lộc Tồn, thì nên căn cứ theo nhóm sao của cung mệnh và các sao của cung tài bạch, có thể buôn bán kinh doanh. Nhưng do Cung Quan Lộc là “Liêm Trinh Thiên Tướng”, vì vậy nên hợp tác với người khác để làm ăn, và cần phải đích thân đương số tham gia công việc kinh doanh.

Nếu cung mệnh là Tử Vi Hóa Quyền, mà cung tài bạch là Vũ Khúc Hóạ Kỵ, thì nên làm việc hưởng lương ở công ty, tập đoàn lớn hoặc nhà nước, hơn nữa, còn nên đảm nhiệm bộ môn hành chính. Đây là căn cứ tính chất của “Liêm Trinh, Thiên Tướng” ở Cung Quan Lộc.

Cung Quan Lộc đối nhau với cung phu thê, ở thời cổ đại còn có một ý nghĩa quan trọng khác, người xưa thường nói “trai sợ chọn nhầm nghề, gái sợ chọn nhầm chồng”, cho nên cổ nhân cho rằng nam mệnh nên xem trọng Cung Quan Lộc (gọi là “cung cường”), nữ mệnh thì nên xem trọng cung phu thê. Ý nghĩa này, về cơ bản không nên phân biệt hai cung này thành “cung cường” và “cung nhược”.

Hai Cung Quan Lộc và phu thê, rất kỵ một cung có Địa Không, một cung có Địa Kiếp (chỉ hai cung Dần và Thân là có chúng, chủ về vì bị ảnh hưởng của bạn đời mà sự nghiệp bất lợi). Ví dụ như vì chiều theo người bạn đời, mà hi sinh một công việc khá tốt, v.v… nhung hai bên lại không thể cả nể nhau mãi, vì vậy cũng ảnh hưởng đến hạnh phúc trong hôn nhân.

Cung Quan Lộc gặp Địa Kiếp, Địa Không, trong các tình huống thông thường thì thích hợp làm những nghề nghiệp hiếm gặp, hoặc những nghề nghiệp có tính đột xuất và phương pháp làm ăn ngoài dự liệu của mọi người, nhưng tối kỵ chí lớn mà tài không đủ, suốt đời sự nghiệp khó hưng phát. Đây là một ví dụ về hành động của con người tuy thuộc về hậu thiên, nhưng lại có thể ảnh hưởng đến sự thành bại của đời người.

Cung Quan Lộc gặp sát tinh, cổ nhân cho rằng thích hợp làm về thương nghiệp, hoặc thợ thuyền. Đối với con người thời hiện đại không thể luận chung chung như vậy được. Vì có không ít nhà buôn lớn mà cung sự nghiệp không có sát tinh. Đây là vì gặp sát tinh sẽ chủ về địa vị xã hội khá thấp, hoặc từ địa vị thấp mà phát triển lên địa vị cao, cho nên ở thời cổ đại thì thích hợp kinh doanh buôn bán (thời xưa địa vị xã hội của thương nhân khá thấp, nếu sau khi thành giàu có, đóng vai của một thân sĩ thì địa vị cũng nhờ đó mà được nâng cao). Ở thời hiện đại đương nhiên không hoàn toàn như vậy.

Cổ nhân nói “thợ thuyền”, ở thời hiện đại thường là nhân tài chuyên nghiệp. Điều này chúng ta cần lưu ý.

Cung sự nghiệp có các sao hung, chưa chắc là sự nghiệp không tốt, cần phải nắm vững tính hung của nó để luận đoán nên làm những nghề nghiệp nào, tức là vận dụng phép “theo cát tránh hung”. Như Thái Dương hội Cự Môn Hóa Kỵ, chủ về nên “dùng tài ăn nói để kiếm tiền”. Vì vậy nên làm công việc dạy học, hoặc luật sư, lại ví dụ như trường hợp “Hình kỵ giáp ấn”, thì có thể làm những công việc có tính chất “hình pháp, kỷ luật”.

Cung Quan Lộc có Lộc Tồn, lại không luận giàu có, thông thường chỉ nên kinh doanh sự nghiệp có sẵn, hoặc làm việc hưởng lương. Nếu gặp thêm Địa Không, Địa Kiếp đồng cung, sẽ chủ về có phản ứng sai lầm, tiến thoái không hợp thời cơ, thường thường không chịu ở yên trong công việc hưởng lương, hoặc không cam tâm với sự nghiệp kinh doanh có sẵn, gắng gượng thay đổi, kết quả là rơi vào cảnh khốn khó.

Luận đoán về công danh sự nghiệp, có lúc cần phải tham khảo Cung Quan Lộc của đại vận trung niên để định. Nếu Cung Quan Lộc của nguyên cục rất tốt, nhưng Cung Quan Lộc của đại hạn trung niên lại chủ về có phá tán hay thất bại lớn, thì không nên tự lập sự nghiệp riêng quá sớm. Đây cũng là phép “theo cát tránh hung”.

Sao Tử Vi thủ Cung Quan Lộc, chủ về một mình đảm trách công việc, nhưng lại chẳng thể tự kinh doanh, cũng không chủ về người này có thể làm lãnh đạo. Trong các tình huống thông thường chỉ chủ về công tác độc lập hoặc phụ trách bộ môn.

Tử Vi gặp sát tinh, cổ nhân cho rằng có thể kinh doanh làm ăn. Ở đây cũng có ý nói sau khi trải qua tranh đấu trên đường đời mà có thành tựu, nhờ thành tựu mà địa vị xã hội mới được nâng cao. Ở thời hiện đại địa vị xã hội của con người đã khác trước, cho nên tuy không có sát tinh, mà còn không có “bách quan triều củng”, cũng chưa chắc không thể tự kinh doanh làm ăn, và từ kinh doanh làm ăn mà dẫn đến phú quý. Xã hội cổ kim khác nhau, không thể luận chung chung.

  • Tử Vi Hóa Quyền ở Cung Quan Lộc, chỉ chủ về có thể một mình đảm trách công việc, hoặc lúc làm việc có tính độc lập rất mạnh, nhưng chưa chắc phú quý.
  • Tử Vi Hóa Khoa ở Cung Quan Lộc, chủ về danh lớn hơn lợi, cho nên thích hợp với nghề tự do hoặc chuyên nghiệp, cũng có thể làm việc trong chính giới, nhưng e rằng chỉ quý mà không phú.

Tử Vi được “trăm quan đứng chầu”, lại không có sát tinh, có thể làm việc trong chính giới, ắt sẽ có thể thăng tiến cao, nếu cung mệnh gặp tổ hợp nhiều cát tinh, thì càng chủ về làm quan lớn.

  • Nếu Tử Vi không có sát tinh đồng độ, lại có sao phụ, tá cát hội hợp, còn gặp “Lộc Mã giao trì”, hoặc hội Liêm Trinh Hóa Lộc, Tham Lang Hóa Lộc, hay Vũ Khúc Hóa Lộc, chủ về chức vụ nắm quyền tài chính, làm việc trong chính giới cũng là quan thuế.
  • Tử Vi Hóa Khoa mà có Lộc Tồn đồng độ hoặc vây chiếu, chủ về danh lợi song thu, thích hợp làm việc trong chính giới hoặc chủ trì công ty lớn, lợi nhất là những ngành nghề tiếp cận thị trường, công chúng (như điện thoại, thức ăn nhanh, hàng không, du lịch, v.v… xã hội hiện đại có rất nhiều nghề nghiệp).

Tử Vi độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, thủ Cung Quan Lộc, lấy trường hợp cung mệnh hoặc cung tài bạch có sao lộc là quý. Nếu cung mệnh gặp “Lộc Mã giao trì”, bất kể tự kinh doanh làm ăn hoặc làm việc hưởng lương trong ngành kinh tế tài chính, đều có thể hơn mọi người. Nếu cung tài bạch là Liêm Trinh Hóa Lộc, thì nên hợp tác với người khác để sáng lập sự nghiệp, nhưng bản thân đương số phải phụ trách quản lý nghiệp vụ.

Tử Vi độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, ưa Tả Phụ và Hữu Bật một sao ở Cung Quan Lộc, một sao ở cung phu thê, (Văn Xương, Văn Khúc cũng vậy), sẽ chủ về vợ chồng giúp đỡ lẫn nhau, dù có thể không hợp tác trong công việc.

Tử Vi Hóa Quyền, độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, thì lợi về sự nghiệp mà bất lợi về hôn nhân, nữ mệnh càng đúng. Cho nên vợ chồng tuyệt đối không nên hợp tác trong sự nghiệp. Hễ nữ mệnh có Quyền tinh ở Cung Quan Lộc thì cần phải chú ý vấn đề hôn nhân, Tử Vi Hóa Quyền thì càng phải lưu ý.

Tử Vi Hóa Khoa, độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, lại gặp Địa Không, Địa Kiếp, chủ về sự nghiệp một đời luôn có đối thủ. Vì vậy không thích hợp làm việc trong chính giới, mà nên làm nghề tự do. Bất kể có sát tinh hay không, đều chủ về danh lớn hơn lợi. Nếu có “bách quan triều củng”, sẽ chủ về có địa vị trong giới nghề nghiệp. Không gặp Thiên Hình, Đại Hao, Địa Không, Địa Kiếp, thì có thể làm việc trong chính giới, thích hợp bộ môn quản lý hành chính.

Tử Vi độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, có các sao đào hoa đồng độ, cần phải xem có Văn Xương, Văn Khúc hay không. Nếu có Văn Xương, Văn Khúc thì nghề nghiệp nho nhã, không có thì nghề nghiệp dung tục.

“Tử Vi Phá Quân” thủ Cung Quan Lộc mà có sát tinh đồng độ, chủ về vất vả thân xác, có Văn Xương, Văn Khúc đồng cung, chủ về vất vả tinh thần. Nếu Phá Quân Hóa Lộc, thì sự nghiệp một đời nhiều biến động, còn thường gánh vác công việc quá mức. Phá Quân Hóa Quyền, thì sự nghiệp gặp nhiều sóng gió, trắc trở, sau khi lập ra cục diện mới lại không được hưởng.

“Tử Vi, Phá Quân” hội Vũ Khúc Hóa Lộc, Liêm Trinh Hóa Lộc hoặc Tham Lang Hóa Lộc, đều chủ về nhờ khai sáng mà trở nên giàu có. Nếu không thể khai sáng cục diện mới, thì chỉ chủ về sự nghiệp chìm nổi thất thường với biên độ lớn. Nhưng bất kể như thế nào, đều chủ về sinh hoạt sa hoa, mà thực tế thì thu nhập không lớn.

“Sức khai sáng” của “Tử Vi Phá Quân” là từ chỗ không có gì mà mở ra cục diện mới hoàn toàn, hoặc có sáng kiến rất mới trong phong cách làm ăn. Cho nên ưa Tả Phụ, Hữu Bật đồng độ, đương nhiên có nhiều trợ lực.

“Tử Vi Phá Quân” có Hỏa Tinh và Linh Tinh giáp cung, chủ về công việc rất bận rộn. Có Địa Không, Địa Kiếp đồng cung mà không có các sao sát, hình, thì sức khai sáng của nó sẽ là từ chỗ không có gì mà xây nên lâu đài. Nhưng nếu gặp các sao sát, hình, hao, thì sự nghiệp một đời thường thường sắp thành lại hỏng, hơn nữa còn tổn thương nguyên khí.

“Tử Vi Thiên Phủ” đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân, cần phải gặp “bách quan triều củng” mới có thành tựu. Nếu không có sao cát, thì thường thường phản ứng sai lầm, tiến thoái không hợp thời cơ, hoặc chí lớn mà tài không đủ.

“Tử Vi Thiên Phủ” có Lộc Tồn, Thiên Mã đồng độ, hoặc gặp “Lộc Mã giao trì”, ở thời hiện đại thì thích hợp tự kinh doanh làm ăn, cũng nên làm việc trong kinh doanh tài chính, tiền tệ, ngân hàng.

“Tử Vi Thiên Phủ” thủ Cung Quan Lộc, mà Tử Vi Hóa Khoa, chủ về tay trắng sáng lập sự nghiệp. Nếu Thiên Phủ Hóa Khoa, sẽ chủ về sáng tạo và hưng phát trong cục diện có sẵn.

Nếu Tử Vi Hóa Quyền, thường thường lý tưởng quá cao, năng lực tài chính không đủ để chống đỡ công việc theo ý muốn, làm việc trong chính giới hay kinh doanh buôn bán đều có tính chất này. Nếu gặp sao hình, thì thích hợp theo võ nghiệp, rất nặng về quyền lực.

Thời hiện đại, “Tử Vi Thiên Phủ” thủ Cung Quan Lộc cũng có thể làm việc trong ngành sản xuất. Nhưng lúc Tử Vi Hóa Quyền thì không nên có lý tưởng quá cao, xa rời thực tế. Tử Vi Hóa Khoa, thì cuộc đời gặp nhiều cạnh tranh. Ví dụ như chế tạo ra một sản phẩm mới liền bị người ta mô phỏng.

“Tử Vi Tham Lang” đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh, chủ về sự nghiệp có đột phá, nhưng nếu đồng thời gặp thêm Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Đại Hao, thì bạo phát bạo bại.

“Tử Vi Tham Lang” hội Liêm Trinh Hóa Kỵ, thích hợp làm nghề tự do, hội Liêm Trinh Hóa Lộc, cũng có thể làm việc trong chính giới.

“Tử Vi Tham Lang” thủ Cung Quan Lộc, Tử Vi không nên Hóa Khoa, nếu không, tuy có năng lực kêu gọi, động viên nhưng lại thiếu năng lực tổ chức, trừ phi được “bách quan triều củng” mới có thể bù đắp khuyết điểm.

“Tử Vi Tham Lang” đồng cung với Tả Phụ hoặc Hữu Bật, đối cung là Hữu Bật hoặc Tả Phụ, cấu tạo thành cách cục tốt, chủ về có nhiều người dưới quyền, nhưng cần phải chia.quyền lợi với thuộc cấp thì sự nghiệp mới có thể kéo dài.

“Tử Vi Tham Lang” có Hỏa Tinh và Linh Tinh giáp cung, cũng chủ về đột phá. Nếu giáp cung Tham Lang Hóa Kỵ thì cuộc đời bạo phát bạo bại.

“Tử Vi Thiên Tướng” ở hai cung Thìn hoặc Tuất, về cơ bản cũng chủ về chìm nổi bất thường. Có điều khác với tình hình chìm nổi của “Tử Vi Phá Quân”.

  • “Tử Vi Phá Quân” chìm nổi là do chủ quan muốn thay đổi hoàn cảnh.
  • Chìm nổi của “Tử Vi Thiên Tưởng” thường thường là bị ảnh hưởng của hoàn cảnh khách quan, thường có cảm giác anh hùng không có đất dụng võ.

“Tử Vi Thiên Tướng” thủ Cung Quan Lộc, thường nên ở vị trí phó, tuy thực tế công tác là đảm đương một mình, mà danh nghĩa thì không bằng thực tế.

“Tử Vi Thiên Tướng” thủ Cung Quan Lộc, cũng nên hợp tác với người khác, nhưng cần phải tham gia lãnh đạo công việc thực tế.

“Tử Vi Thiên Tướng” bị “Hình kị giáp ấn”, không có sát tinh, chủ về sự nghiệp gặp trắc trở, có sát tinh, thì chỉ thích hợp ngành công nghệ.

“Tử Vi Thiên Tướng” có các sao khoa văn đồng độ, lại gặp thêm các sao sát, hao, thì thích hợp văn nghệ, nghề tự do.

“Tử Vi Thất Sát” không nên gặp Liêm Trinh Hóa Kỵ, nếu không sẽ dễ sinh phá tán, thất bại, thường do xử sự nặng tình cảm mà ra.

“Tử Vi Thất Sát” thủ Cung Quan Lộc còn chủ về thân tâm vất vả. Gặp sát tinh, thì thường bị đồng nghiệp hay đồng sự khiêu chiến, ứng phó rất vất vả.

“Tử Vi Thất Sát” gặp “Lộc Mã giao trì”, cuộc đời phải đổi nghề hai ba lần mới ổn định. Hội Phá Quân Hóa Lộc thì kiêm hai ba chức vụ, hoặc thường gánh vác công việc quá mức.

“Tử Vi Thất Sát” rất ưa Tử Vi Hóa Khoa, có thể làm mạnh thêm năng lực quản lý, lãnh đạo. Nếu được “bách quan triều củng”, cũng có thể làm việc trong chính giới, hoạt động trong thương giới cũng là nhân vật lãnh đạo.

“Tử Vi Thất Sát” gặp các sao sát, kỵ, cuộc đời ắt sẽ có phá tán, thất bại, nếu các sao sát, kỵ quá nặng thì khó gây dựng lại.

Nếu Sao Thiên Cơ nhập miếu, có Sao Hóa Lộc, Sao Hóa Quyền, Sao Hóa Khoa hội chiếu, lại gặp thêm Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt, thì nên làm việc trong chính giới. Nhưng nếu Thiên Cơ lạc hãm, hoặc đồng thời gặp sát tinh thì chỉ nên làm việc trong công ty lớn. Làm những công việc có tính phục vụ công cộng.

Thiên Cơ Hóa Lộc hay Hóa Khoa ở Cung Quan Lộc, gặp Thiên Vu, Thiên Lương, Cự Môn thì có thể khởi nghiệp bằng khoa tinh tướng (Bói toán). Nếu lại gặp Hoa Cái thì có thể hành nghề tôn giáo.

Có tứ sát tinh hội chiếu sẽ làm tăng tính biến động, tính không ổn định của Thiên Cơ. Chủ về thường thạy đổi công việc hoặc nghề nghiệp, hoặc làm những nghề nghiệp có tính lưu động. Cương vị công tác luôn bị điều động.

Thiên Cơ ở Cung Quan Lộc có Địa Không, Địa Kiếp, Đại Hao hội hợp, thích hợp theo ngành công nghiệp, đầu cơ ắt sẽ thất bại.

“Thiên Cơ Thái Âm” ở Cung Quan Lộc, làm tăng tính lưu động của Thiên Cơ, khiến sự nghiệp của mệnh tạo có nhiều biến động. Nếu là “Cơ Nguyệt Đồng Lương” hội hợp, thì nên làm công chức, hoặc làm việc trong các công ty, tập đoàn lớn, có tính phục vụ.

Thiên Cơ và Cự Môn ở Cung Quan Lộc, dù có cát tinh hoặc có các sao Thiên Tài, Long Trì, Phượng Các, vẫn chủ về có kỹ năng chuyên môn nhưng không giữ một nghề, văn hoặc võ đều thay đổi đa đoan.

Phàm “Thiên Cơ, Thiên Lương” cùng thủ Cung Quan Lộc, chủ về thường kiêm mấy chức vụ nhưng hay thay đổi. Bất kể có phải là cách “Cơ Nguyệt Đồng Lương” hay không, đều không nên tự mình kinh doanh làm ăn, mà nên làm việc trong một công ty, tập đoàn lớn có tính phục vụ công chúng. Hoặc làm công tác xã hội, cũng có thể theo ngành y dược.

Gặp các sao sát, ki hình, hao, thì dễ vì sự nghiệp mà dính vào tranh chấp, kiện tụng, phạm pháp. Nên suy tính đến việc theo ngành pháp luật, công tác tư pháp. nếu sát tinh quá nặng, mà cung mệnh không cát tường, thì chủ về giang hồ phiêu bạt, nghèo nàn, văn nhân thất chí.

Thái Dương nhập miếu ở Cung Quan Lộc. Trường hợp ở cung Ngọ sự nghiệp rất lớn, nhưng cần phải gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt, hoặc được Văn Xương, Văn Khúc, mà không gặp sát tinh, Địa Không, Địa Kiếp mới là thượng cách. Nếu không gặp cát tinh, mà gặp Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Đại Hao, thì sự nghiệp tuy lớn, nhưng vẫn chủ về trống rỗng, dễ bị sụp đổ.

Thái Dương nhập miếu, được các cát tinh vây chiếu, không gặp các sao ác sát, có thể làm việc trong chính giới, cũng có thể kinh doanh buôn bán. Đều chủ về sự nghiệp hưng thịnh, có địa vị cao trong xã hội, hoặc chủ về có rất nhiều học trò.

Thái Dương nhập miếu, có cát tinh vây chiếu, lại có Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa hội hợp, có Văn Xương đồng độ, là kết cấu tốt nhất. Chủ về mệnh tạo làm việc trong chính giới hay kinh doanh buôn bán, đều là nhân tài lãnh đạo, có thể phú quý. Ở cung Ngọ, không có sát tinh, được “bách quan triều củng”, là lương đống của quốc gia, nhân vật quan trọng trong chính giới. Có sát tinh, thì trong thành công có thất bại. Thái Dương rất ưa có Cự Môn hội chiếu, gặp cát tinh là nhân tài ngoại giao, nhân tài trong ngành tư pháp.

Nếu Thái Dương lạc hãm, dù gặp “tam hóa cát”, hoặc được “bách quan triều củng”. Thì sự nghiệp trước sau vẫn trống rỗng. nếu Thái Dương Hóa Kỵ, thì một khi sự nghiệp tiến triển, thị phi oán ghét sẽ theo đó mà đến. Không thích hợp làm việc trong chính giới, mà thích hợp với ngành tư pháp, pháp luật, cũng nên làm giáo chức. Nếu gặp Văn Xương, Văn Khúc, có thể làm công việc mang tính quảng bá. Nếu gặp Long Trì, Phượng Các, thì thích hợp nghiên cứu khoa học. Nếu gặp Địa Không, Địa Kiếp, lại nên khởi nghiệp bằng óc tưởng tượng, là nhân tài phát minh.

Thái Dương lạc hãm, mà sát tinh nặng, thì bôn ba vất vả, ít có thành tựu.

“Thái Dương Thái Âm” ở Cung Quan Lộc, nếu được cát tinh vây chiếu hay hội hợp, thì có thể phú quý. Thích hợp làm việc trong chính giới, thương nghiệp. Gặp sát tinh thì sự nghiệp, nghề nghiệp hay thay đổi. Thích hợp làm tham mựu, cố vấn. Hoặc làm việc trong lãnh vực quan hệ công cộng, quảng bá, công tác phục vụ xã hội.

Hai sao “Thái Dương Cự Môn” đồng cung, ở cung Dần thì tốt hơn. Không có sát tinh thì đại phú đại quý, là nhân vật quan trọng trong giới ngoại giao. Có các sao sát, kỵ, thì thích hợp ngành pháp luật, tư pháp, giáo dục.

Thái Dương và Cự Môn đồng cung không ưa có sát tinh mà gặp đủ Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, là nhân vật cao cấp trong chính giới. Nếu đồng thời gặp sát tinh, làm kinh doanh buôn bán cũng là lãnh đạo một phương. Hoặc là nhân sĩ mà xã hội biết tên. Trường hợp ở cung Thân thì hơi kém hơn.

“Thái Dương Thiên Lương” cùng ở Cung Quan Lộc, gặp cát tinh, thích hợp làm công việc giám sát, kiểm toán.

  • Nếu có sát tinh, thì nên khởi nghiệp bằng nghề nghiệp hưởng lương, nghiên cứu khoa học.
  • Gặp Kình Dương, Thiên Hình, có thể là nhân tài trong lãnh vực y dược, trị liệu.
  • Nếu Thái Dương và Thiên Lương gặp Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc. Có Văn Xương hoặc Văn Khúc hội hợp, thì nên tham gia các cuộc thi tuyển, trở thành nhân tài chuyên nghiệp.

Nhưng bất kể thế nào, đều không nên tự mình bỏ vốn ra làm ăn kinh doanh.

Nếu Vũ Khúc không có sát tinh đồng độ, nhưng lại ở tam phương hội hợp, còn gặp Phá Quân, Thất Sát, thì tính chất kim thuộc chuyển thành công cụ bén nhọn, thích hợp với những nghề nghiệp dùng công cụ bén nhọn để kiếm tiền, như quân nhân, cảnh sát, bác sĩ ngoại khoa, nha sĩ, v.v…

Vũ Khúc ở sáu cung Dần, Thân, Mão, Dậu, Tị, Hợi, là Vũ Khúc tọa nhàn cung, cổ nhân cho rằng phần nhiều là có tay nghề. Trường hợp đồng cung với sát tinh là đúng. Cách cục này lại ưa gặp Văn Xương, Văn Khúc. Ở thời hiện đại, bác sĩ sản khoa, bác sĩ ngoại khoa, nha sĩ, thầy thuốc cũng thuộc loại “có tay nghề”, chưa chắc là thợ thuyền.

Vũ Khúc đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh, thì không ưa rơi vào hai cung Tị hoặc Ngọ, cũng không ưa gặp các sao thuộc hỏa. Nếu không, cuộc đời ít nhất cũng có một lần mất chức hoặc thất nghiệp. Đến cung hạn Quan Lộc gặp lại Vũ Khúc, còn bị các sao sát, kị của đại hạn hoặc lưu niên xung khởi, là thời kì ứng nghiệm.

Vũ Khúc Hóa Khoa, chủ về tiếng tăm, cho nên bất kể làm nghề nghiệp gì cũng đều lấy việc tạo dựng tiếng tăm làm nhiệm vụ hàng đầu. Như thiết kế một kiểu đồ trang sức, hành động ngân hàng đầu tư, đều có mục tiêu tạo dựng tiếng tăm.

Vũ Khúc Hóa Kỵ, chủ về người tự kinh doanh làm ăn thường cảm thấy thiếu vốn, không thể phát triển theo lí tưởng. Vì vậy thích hợp làm nghề kĩ thuật. Gặp Vũ Khúc Hóa Kỵ thủ cung Quan Lộc của đại vận hoặc lưu niên, cũng phải cẩn thận đề phòng hiện tượng thiếu hụt tài chính trong việc phát triển sự nghiệp.

Vũ Khúc rất ngại đồng độ với Đà La, vì Đà La cũng là sao kỵ. Nhưng lúc Vũ Khúc Hóa Kỵ hoặc có Đà La đồng độ, lại thích hợp làm những nghề nghiệp có tính chất hung hiểm, mạo hiểm, như thợ lặn, tang nghi, diễn viên đóng thế, v.v… Chỉ cần có cát tinh đồng thời hội hợp thì cũng có thể phát lên rồi biến thành hanh thông.

Muốn định Vũ Khúc ở cung Quan Lộc có cách cục cao hay thấp, phải lấy có nhập miếu hay không làm tiêu chuẩn. Có cát hóa và các sao phụ, tá hay không, làm tư liệu tham khảo. Có điều, Vũ Khúc rất ưa hội Liêm Trinh Hóa Lộc, tức lúc này Vũ Khúc cũng đồng thời Hóa Khoa. Trường hợp cát hóa này sẽ giúp biến thành thượng cách.

“Vũ Khúc Thiên Phủ” ở hai cung Tí hoặc Ngọ, đối cung là Thất Sát, không có các sao sát, kị, hình, mà có sao lộc, là quan thuế. Nếu gặp thêm các sao phụ, tá, thì địa vị của người này ắt khá cao. Có điều, nếu ở tam phương gặp sát tinh, là võ nghiệp, đồng thời ở tam phương còn gặp thêm các sao phụ, tá thì lấy công trạng để khởi nghiệp.

“Vũ Khúc Thiên Phủ” có sát tinh đồng độ, thì nên theo ngành nghề khoa học kĩ thuật. Cũng lấy trường hợp có sao lộc là tốt.

“Vũ Khúc Thiên Phủ”, mà Thiên Phủ Hóa Khoa, tuy không có sao lộc, cũng thích hợp ngành kinh tế tài chính.

“Vũ Khúc Thiên Phủ” ở cung Tí tốt hơn ở cung Ngọ. Trường hợp ở cung Tí, đối cung là Thất Sát ở cung Ngọ, là tượng hỏa luyện âm kim, có thể ảnh hưởng đến tính chất của “Vũ Khúc, Thiên Phủ”, trải qua tôi luyện mà thành hữu dụng. Nếu gặp các sao phụ, tá đồng cung hay vây chiếu, thì nên xuất thân quân ngũ.

“Vũ Khúc Tham Lang” đồng độ ở hai cung Sửu hoặc Mùi, mà Tham Lang Hóa Kỵ, suốt đời không được nhàn hạ, phải bôn ba vất vả, sự nghiệp đa đoan, thậm chí là “nửa quan gia nửa thương nhân”, kiếm tiền là nhiệm vụ.

“Vũ Khúc Tham Lang”, mà Tham Lang Hóa Lộc, không có sát tinh, nhưng có các sao phụ, tá cát, có thể trở thành cự phú. Có điều, nếu tự kinh doanh làm ăn thì khó tránh bạo phát. Vì vậy chỉ cần hơi có các sao sát, hình, thì liền bạo bại. Không phải chỉ có cách cục “Hỏa Tham”, “Linh Tham” mới như vậy.

“Vũ Khúc Tham Lang” cũng có thể làm quan thuế, hoặc làm việc ở công ty kinh tế tài chính. Nhưng “Hỏa Tham”, “Linh Tham” đều chủ về tham ô, chỉ trường hợp Vũ Khúc hóa làm sao khoa mới có thể tránh vì tham mà chuốc họa.

“Vũ Khúc Tham Lang”, mà Vũ Khúc Hóa Lộc, Tham Lang Hóa Quyền, sự nghiệp cũng có liên quạn đến kinh tế tài chính, nhưng đồng thời cũng thích hợp kinh doanh theo trào lưu xã hội, ở thời hiện đại bây giờ gọi là theo trend – xu hướng.

“Vũ Khúc Tham Lang” thủ cung Quan Lộc, ưa hợp tác với người khác, cho nên sự nghiệp cũng không chỉ có một đầu mối.

“Vũ Khúc Thiên Tướng” đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân, chủ về chức văn mà làm việc võ, hoặc chức võ mà làm việc văn. Ở thời hiện đại, văn võ khó phân biệt. Đại khái là, nội vụ thuộc văn, ngoại vụ thuộc võ, kinh tế tài chính thuộc văn, khoa học kĩ thuật thuộc võ.

“Vũ Khúc Thiên Tướng” có các sao đào hoa đồng độ, lại đồng cung với Văn Khúc, là diễn viên. Nhưng không được cát hóa và có sao cát mới đúng. Nếu có sát tinh trùng trùng, sẽ chủ về gió sương cay đắng, giang hồ phiêu bạt.

“Vũ Khúc Thiên Tướng” được “Tài ấm giáp ấn”, rất thích hợp làm việc hưởng lương ở bộ môn kinh tế tài chính. Nếu thuộc loại “Hình kị giáp ấn” cũng không thích hợp tự kinh doanh làm ăn.

“Vũ Khúc Thiên Tướng” thủ cung Quan Lộc, có cát hóa, cũng chủ về hợp tác với người khác, nhưng cần phải gánh vác trách nhiệm thực tế.

“Vũ Khúc Thiên Tướng” có sát tinh hội hợp, thích hợp với khoa học kĩ thuật.

“Vũ Khúc Thất Sát” đồng độ ở hai cung Mão hoặc Dậu, có sát tinh ở tam phương, thích hợp xuất thân quân ngũ. Gặp các sao phụ, tá cát, ắt có thể vinh thân. Nếu sát tinh ở bản cung, thì chỉ chủ về khoa học kĩ thuật.

“Vũ Khúc Thất Sát” đồng cung với tứ sát và Địa Không, Địa Kiếp, bất kể gia nhập quân đội hay làm việc trong ngành sản xuất, đều chủ về sự nghiệp trắc trở.

“Vũ Khúc Thất Sát” ở cung Dậu ưa có Hỏa Tinh đồng độ, ở cung Mão thì không ưa.

  • Trường hợp ở cung Dậu là “Vũ Khúc, Thất Sát” được Hỏa Tinh tôi luyện, chủ về trải qua trắc trở mà được thành tựu.
  • Trường hợp ở cung Mão là thuộc mộc, Hỏa Tinh ngại hỏa quá vượng, rất kỵ nạp âm thuộc hỏa, nên chủ về vất vả mà không có kết quả.

“Vũ Khúc Thất Sát” có sao lộc, cũng thích hợp ngành kinh tế tài chính, mà còn giỏi buôn bán. Trường hợp được cát hóa và có sao cát là tốt, trường hợp.sát tinh nặng thì cần phải đề phòng trắc trở.

“Vũ Khúc, Thất Sát” gặp các sao sát, hình, chủ về phẫu thuật ngoại khoa, trật đả,

Vũ Khúc độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, đối nhau với Tham Lang, tính chất đại khái tương đồng với trường hợp “Vũ Khúc, Tham Lang”, nhưng do Vũ Khúc rơi vào “Thiên La Địa Võng”, nên tính tham lam hơi giảm. Nếu thành cách “Hỏa Tham”, “Linh Tham” thì sự nghiệp cũng có sắc thái hám lợi hoặc tham ô, cho nên chủ về bạo phát bạo bại. Rất ngại có Địa Không, Địa Kiếp đồng cung, chủ về cuộc đời ít nhất phải trải qua một lần trắc trở, nếu không khó thành người hữu dụng.

“Vũ Khúc Phá Quân” đồng độ ở hai cung Tị hoặc Hợi, chủ về ưa nhúng tay vào nghề nghiệp nào đó mà không suy tính đến sở trường của bản thân. Cho nên gặp sao cát thì nhiều nghề , gặp sao hung thì sự nghiệp nhiều biến động. Có Thiên Hình đồng độ thì thích hợp gia nhập quân ngũ hoặc đơn vị kỉ luật, hoặc đảm trách về trị an. Lấy trường hợp gặp các sao phụ, tá cát là nên, nếu có các sao sát, kị trùng trùng, thì cần phải đề phòng hung nguy.

“Vũ Khúc Phá Quân” ở cung Quan Lộc, có Linh Tinh, Đà La, Âm Sát, Hoa Cái, Thiên Hình đồng độ, chủ về nghề nghiệp không chính đáng hoặc nghề tay trái.

“Vũ Khúc Phá Quân” gặp sát tinh nhẹ, cũng thích hợp khởi nghiệp bằng khoa học kĩ thuật. Nếu “Vũ Khúc Phá Quân” được cát hóa, đồng thời lại gặp Liêm Trinh Hóa Lộc hay Tham Lang Hóa Lộc, cũng có thể tự kinh doanh làm ăn, tuy khá chú tâm về sinh kế, nhưng sinh hoạt rất xa hoa.

“Vũ Khúc Phá Quân”, mà Phá Quân Hóa Lộc, giỏi khai sáng mà không giỏi thủ thành, chủ ý nhiều mà không ưa vụ thực. Cho nên cần phải có Thiên Khôi, Thiên Việt hội hợp, mới có cơ hội, có Tả Phụ, Hữu Bật hội hợp, mới chủ về có nhiều trợ lực.

“Vũ Khúc Phá Quân” gặp Liêm Trinh Hóa Kỵ, thường chủ về nạn tai chảy máu, không thích hợp gia nhập quân ngũ.

Thiên Đồng thủ Cung Quan Lộc, chủ về tay trắng làm nên. Trong các tình hình thông thường, thích hợp với những nghề nghiệp có tính mĩ quan và hưởng thụ. Như hướng dẫn du lịch, làm tóc, trang trí, trang điểm và làm đẹp, nấu ăn,

  • Thiên Đồng có Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa hội chiếu. Hoặc Lộc Mã giao trì thì chủ về sự nghiệp phát triển từ nhỏ thành lớn, dần dần hanh thông, trở thành nhân tài lãnh đạo trong nghề nghiệp.
  • Thiên Đồng lạc hãm, không thích hợp kinh doanh buôn bán, chỉ thích hợp làm thuê hưởng lương. Hoặc làm công chức, làm việc trong công ty lớn.
  • Thiên Đồng nếu có Đà La, Thiên Mã hội chiếu, thì cuộc đời sự nghiệp sẽ xảy ra nhiều thay đổi. Hoặc hay thay đổi nghề nghiệp.
  • Thiên Đồng nếu có Kình Dương, Thiên Hình hội chiếu, phần lớn chủ về vì sự nghiệp mà gây ra bất hòa, tranh chấp, hoặc bị kẻ xấu cạnh tranh.
  • Thiên Đồng nếu có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ, thì chủ về sự nghiệp gặp nhiều nghịch cảnh. Nên làm thuê thì hơn, không nên tự đứng ra kinh doanh.
  • Thiên Đồng nếu gặp Địa Không, Địa Kiếp, thì nhờ tài nghệ mà tay trắng làm nên.

“Thiên Đồng Thái Âm” cùng ở Cung Quan Lộc. Chỉ nên phát triển trong cục diện đã hình thành. Vì vậy rất nên được người đề bạt, hoặc kế thừa công việc hay sự nghiệp của người khác. Cũng có thể suy tính việc tiếp tục công cuộc làm ăn kinh doanh của người nào đó. Nhưng cần phải có Lộc Tồn, Thiên Mã hội chiếu mới có thể làm ăn kinh doanh. Nếu có Văn Xương, Văn Khúc hội hợp, thì nên theo đuổi sự nghiệp văn nghệ. Không có Văn Xương, Văn Khúc cũng có thể làm công chức.

“Thiên Đồng Cự Môn” cùng thủ Cung Quan Lộc, dù gặp cát tinh, cũng phải trải qua gian khổ, phấn đấu mới thành công. Nếu không có cát tinh, ở tam phương tứ chính gặp sát tinh, thì chủ về làm việc thiếu nghị lực, không kiên nhẫn, dẫn đến sự nghiệp giữa đường bị phế.

“Thiên Đồng Thiên Lương” cùng thủ Cung Quan Lộc. Bất kể kinh doanh buôn bán hay làm việc trong chính giới, đều chủ về nên làm người vạch kế sách.

Nhưng gặp cát tính, lại có Kình Dương, Thiên Hình hội hợp, thì có thể đảm nhiệm công tác vệ sinh phòng dịch, trị liệu hoặc nhân viên hải quan, nhân viên bưu cục.

Liêm Trinh thủ Cung Quan Lộc, nhập miếu, thông thường đều nên theo võ nghiệp, Liêm Trinh Hóa Kỵ thì càng đúng. Nếu làm những nghề nghiệp khác, thì sẽ gặp nhiều trở ngại hoặc biến động thay đổi rất lớn. Có Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phụ, Hữu Bật vây chiếu hoặc đồng độ, gia thêm Tử Vi hội chiếu, thì từ văn chức mà nắm quyền của võ chức.

Liêm Trinh nếu có Vũ Khúc, Văn Xương, Văn Khúc hội hợp. Đều thích hợp làm việc trong chính giới, gia nhập quân đội. Hoặc các công việc giám sát về kỉ luật, chủ về chức văn mà làm việc võ. Hoặc chức võ mà làm việc văn, là nhân tài kiêm văn võ.

  • Nếu kinh doanh buôn bán, thì nên xem kĩ các sao hội chiếu để định nghề nghiệp hoặc hướng kinh doanh.
  • Có Thất Sát hội chiếu, gặp Thiên Trù, có thể theo ngành ẩm thực, thực phẩm.
  • Có Thiên Phủ hội chiếu, có thể theo ngành tiền tệ, ngân hàng.
  • Có Thiên Tướng hội chiếu, là nhân tài thương nghiệp chuyên vạch kế sách, hoặc nhân tài kế hoạch kinh tế.
  • Có Văn Xương, Văn Khúc đồng độ, thì thích hợp theo đuổi sự nghiệp nghệ thuật.

“Liêm Trinh Thiên Tướng” thủ Cung Quan Lộc. Gặp cát tinh thì thích hợp gia nhập quân đội hay cảnh sát, công tác hải quan. Làm việc trong chính giới cũng sẽ chức văn mà làm việc võ. Gặp các sao ác, sát, hình, kỵ, hao hội hợp, thì có nguy cơ bị bãi chức hoặc thất nghiệp, vỡ nợ, sập tiệm. Gặp sát tinh nhẹ thì thích hợp kinh doanh buôn bán, theo ngành công nghiệp, có thể dựa vào kĩ thuật mà khởi nghiệp.

“Liêm Trinh Phá Quân” cùng thủ Cung Quan Lộc, kết cấu này khá xấu. Nếu theo ngành kinh doanh buôn bán, hoặc công nghiệp, đều chủ về cuộc đời ít nhất cũng có một lần thất bại hay gặp trắc trở. Vì vậy cần xem xét kĩ đại hạn và lưu niên để ứng phó một cách thiết thực. Nếu làm việc trong chính giới, thì đảm nhiệm về văn thư. gặp cát tinh, cũng có thể nhờ sự kinh lịch mà lên chức, thăng tiến. Gặp sát tinh thì ở mãi một chỗ. Nếu kinh doanh buôn bán, cũng nên lấy ẩm thực làm nghề nghiệp. Hoặc làm những nghề có tính nguy hiểm, cũng có thể gia nhập quân đội hay cảnh sát, làm công tác bảo an, hải quan.

“Liêm Trinh Tham Lang” cùng thủ Cung Quan Lộc, rất nên làm những nghề nghiệp nhiều giao tế thù tạc. Hoặc có tính tiêu dùng, có tính vui chơi giải trí, nghệ thuật. Gặp Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Tài hội hợp, thì thích hợp làm công tác văn nghệ. Nếu gặp Hàm Trì, Thiên Diêu, Hồng Loan, Thiên Hỉ, thì nên theo ngành nghệ thuật biểu diễn. Gặp Thiên Mã thì thích hợp làm nghề hướng dẫn du lịch.

Thiên Phủ thủ Cung Quan Lộc, nhập miếu, được cát tinh vây chiếu, chủ về sự nghiệp phát triển, có thành tựu. Nếu ở hãm địa, hội Văn Xương, Văn Khúc, cổ nhân cho rằng bất quá chỉ là viên thư lại. Tức người trông coi về văn thư của huyện phủ.

Nếu Thiên Phủ ở Cung Quan Lộc, gặp Lộc Tồn, Thiên Mã, chủ về có thể làm ăn kinh doanh mà trở nên giàu có. Nhưng không nên sáng lập sự nghiệp mới, chỉ nên tiệm tiến từ cục diện đã có.

Thiên Phủ Hóa Khoa, thích hợp làm việc trong ngành tiền tệ, tài chính, ngân hàng, hoặc tự kinh doanh. Ít nhất cũng một mình đảm trách công việc, nhưng không nên đầu cơ.

Thiên Phủ gặp sát tinh, thích hợp theo ngành công nghiệp. Có Địa Không, Địa Kiếp đồng độ, trái lại sẽ chủ về có nghị lực kinh người trong việc phát triển sự nghiệp trong giới công nghiệp.

Thiên Phủ có hai thượng cách giàu có trong sự nghiệp như sau:

  • Một là “Thiên Phủ, Vũ Khúc” ở cung Ngọ, tương hội với “Tử Vi Thiên Tướng” ở cung Tuất hay ở cung Dần được Lộc Tồn. Không có các sao sát, kỵ, gặp cát tinh phù trợ, chủ về đại quý. Thích hợp làm việc trong chính giới.
  • Hai là Thiên Phủ ở cung Sửu, có Lộc Tồn ở cung Dậu đến hội hợp, không có sát tinh, gặp cát tinh, cũng chủ về đại quý.

Thái Âm thủ Cung Quan Lộc, tính chất biến hóa đa đoan, cần phải xem xét kĩ các sao hội hợp để định đoán. Nếu nhập cách “Cơ Nguyệt Đồng Lương” thì không thích hợp kinh doanh, mà thích hợp làm việc trong chính giới hoặc công ty lớn. Rất nên làm việc ở những cơ cấu có tính phục vụ công cộng. Gặp Hóa Lộc, Lộc Tồn, Thiên Mã, tuy có thể làm ăn kinh doanh, nhưng phải tổ chức thành công ty trách nhiệm hữu hạn, không nên một mình bỏ vốn ra kinh doanh.

Cách “Cơ Nguyệt Đồng Lương” gặp tam cát hóa cùng chiếu, không có sát tinh. Thì thích hợp đảm nhiệm chức vụ nắm giữ quân quyền. Nếu có thêm các sao phụ tá hội chiếu, thì chủ về là người của chính giới lẫn quân đội.

Nếu Thái Âm có Thiên Lương tương hội, gặp Đại Hao, Thiên Vu, Kiếp Sát, thích hợp làm trong ngành thuế vụ.

Thái Âm có Thiên Đồng hoặc Thiên Cơ đồng độ, đều thích hợp làm những nghề không có cơ sở căn bản cố định, nếu không sự nghiệp sẽ nhiều biến động.

Thái Âm có hai cách cục thích hợp với ngành công nghiệp:

  • Một là, có Thiên Cơ đồng độ, được Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa hội chiếu.
  • Hai là, có Địa Không, Địa Kiếp đồng độ.

Trường hợp trước phát triển thuận lợi, trường hợp sau thì gặp nhiều biến động. Nhưng đều thích hợp theo ngành phát minh khoa học kĩ thuật. Hoặc dựa vào nghề chuyên môn để khởi nghiệp.

Thái Âm có Văn Xương, Văn Khúc, Long Trì, Phượng Các, Thiên Tài đồng độ hoặc hội chiếu, là thiên tài nghệ thuật. Có thể phát triển nghề nghiệp ở lãnh vực nghệ thuật. Nếu gặp thêm Hồng Loan, Thiên Hỉ, Hàm Trì, Thiên Diêu, thì thích hợp theo ngành nghề có tính giải trí, vui chơi hoặc chủ về thành danh trong giới nghệ thuật biểu diễn.

Sao Tham Lang ở cung Quan Lộc, chủ về nghề nghiệp có khuynh hướng tiêu dùng, giao tiếp, hoặc nhờ xã giao mà thành sự nghiệp. Tham Lang Hóa Lộc hay Hóa Quyền, tính chất này càng nặng, cho nên rất thích hợp về ngoại vụ.

Tham Lang có Văn Xương, Văn Khúc đồng độ, nghề nghiệp rất thích hợp lãnh vực giải trí, vui chơi, quảng bá.

Tham Lang cũng có tính chất nghệ thuật, nhưng Liêm Trinh là “tĩnh”, còn Tham Lang là “động”, hai tính chất cơ bản khác nhau. Ớ thời hiện đại, Tham Lang cũng chủ về vận động, hoặc vận động có tính nhịp điệu (như múa ba lê). Cho nên nếu Tham Lang Hóa Quyền, gặp sát tinh nhưng không nhiều, thường chủ về vận động viên (có tính cạnh tranh ở sân vận động).

Tham Lang có cát hóa, và sao cát hội hợp, lại gặp thêm các sao cát như Tam Thai, Bát Tọa, Đài Phụ, Phong Cáo, Thiên Quan, Thiên Phúc, Ân Quang, Thiên Quý, cũng có thể làm việc trong chính giới, còn là nhân vật điều hòa các phe phái (hay làm việc trong các công ty lớn, tập đoàn lớn cũng vậy).

Thành cách “Hỏa Tham”, “Linh Tham” ở bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, là chủ về nắm giữ binh quyền, hoặc làm việc trong các cơ cấu “hình pháp, kỉ luật”.

Tham Lang có Tả Phụ, Hữu Bật đồng độ, sẽ chủ về có nhiều người dưới quyền, cho nên sự nghiệp kinh doanh ắt có khí quý phái.

Tham Lang cũng là sao ẩm thực (Liêm Trinh chủ về máu, còn Tham Lang chủ về thịt), không Hóa Kị, càng chủ về ẩm thực có phẩm vị, gặp Hỏa Tinh, Thiên Phủ, có thể làm việc trong ngành ẩm thực.

Tham Lang Hóa Kỵ ở cung quan lộc, chủ về hễ nhúng tay vào sự nghiệp ắt sẽ gây ra tranh chấp, có sát tinh đồng độ thì càng nặng, có Địa Không, Địa Kiếp đồng cung sẽ chủ về vì tranh chấp mà sự nghiệp gặp trắc trở.

Nếu Tham Lang Hóa Kỵ, có sao cát hội hợp, thì lí tưởng sự nghiệp tuy không thể đạt tớimục đích, nhưng lại có khoảng không gian riêng để sáng tạo.

Nếu gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, và sao phụ, tá cát, thì thích hợp làm việc trong chính giới. Có điều, nếu có Kình Dương, Đà La hội chiếu, hoặc Kình Dương đồng độ, thì dễ tham ô.

Tham Lang ở hai cung Tí hoặc Ngọ, có Thiên Hình đồng độ, cũng chủ về “hình pháp”, hoặc làm đạo diễn, biên đạo trong nghệ thuật biểu diễn (người biểu diễn phải hoàn toàn tuân theo kịch bản, cho nên cũng có ý vị kỉ luật, nguyên tắc).

Tham Lang ở hai cung Dần hoặc Thân, đối nhau với Liêm Trinh, rất kỵ Đà La đồng độ, gặp sát tinh (Hỏa Tinh, Linh Tinh cũng vậy), chủ về là tham ô, do đó gặp họa. Có điều, nếu là thương nhân hám lợi, tuy có nguy cơ thất bại, nhưng lại không bị tai họa “hình pháp”.

Tham Lang ở hai cung Dần hoặc Thân, thích hợp những nghề nghiệp có tính khai sáng. Hoặc làm một nghề nghiệp nào, lại có thể mở ra một hướng khác, có tác phong kinh doanh rất đặc biệt, do đó dễ đi đến thành công.

Tham Lang ở hai cung Dần hoặc Thân, thủ cung quan lộc, có khuynh hướng hợp tác với người khác, nhưng phần nhiều giữa chừng lại thay đổi.

Tham Lang ở hai cung Thìn hoặc Tuất, đồng cung với Vũ Khúc, cần phải Vũ Khúc Hóa Lộc, Tham Lang Hóa Quyền, ở tam phương tứ chính không có Kình Đương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp (có Thiên Hình thì không sao), hoặc có Hỏạ Tinh, Linh Tinh hội chiếu, mới chủ về làm nhân vật cao cấp trong quân đội hay cảnh sát, có thể một mình đảm trách công việc, chấp chưởng đại quyền. Nếu không có cát hóa, nhưng có sao cát, cũng có thể làm việc trong chính giới, là quan thuế (nhất là khuynh hướng thuế vụ).

Nếu có sát tinh đồng độ, thì thích hợp tự kinh doanh buôn bán, sự nghiệp sẽ phát triển theo nhiều phương hướng, không chỉ một mối. Nếu đối cung là Vũ Khúc Hóa Kỵ, kinh doanh buôn bán sẽ xoay chuyển tiền bạc khó khăn, cũng không thích hợp gia nhập quân đội hay cảnh sát.

Cự Môn thủ Cung Quan Lộc, nhập miếu, chủ về tay trắng sáng lập sự nghiệp. Rất thích hợp dùng kĩ năng chuyên môn hoặc tri thức chuyên môn làm cho gia vận hưng thịnh. Như làm việc trong các ngành nghề y khoa, pháp luật, nghệ thuật

biểu diễn, ngoại giao, quan hệ công cộng, quảng bá. Gặp Thiên Cơ, thì chủ về chuyên viên máy tính, kế toán. Gặp Văn Xương, Văn Khúc, có thể theo ngành nghệ thuật, hoặc khoa thuật số.

Cự Môn thủ Cung Quan Lộc, nếu các sao sát, kỵ mà nặng, lại gặp Thiên Mã, là khách giang hồ phiêu bạt. Nếu gặp văn tinh, thì cũng nghèo nàn, là văn nhân thất chí.

Thiên Tướng thủ Cung Quan Lộc, ưa hội chiếu với Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Lộc Tồn, và các sao phụ tá. Chủ về là nhân vật trọng yếu trong chính giới, hay nhân vật lớn trong giới công thương nghiệp.

Thiên Tướng có Tử Vi hội chiếu, nên lập thân trong chính giới.

Thiên Tướng có các sao cát hội chiếu, mà không có sát tinh. Chủ về lập thân trong chính giới cũng tốt, nhưng không nên mưu tính giành vị trí tối cao. Nếu không sẽ thành bia cho người ta nhắm, lúc đến niên hạn có vận trình không tốt sẽ dễ ngã ngựa.

Thiên Tướng có Vũ Khúc hoặc Liêm Trinh đồng độ, thích hợp gia nhập quân đội hay cảnh sát, hải quan, cũng có thể theo ngành công nghiệp.

Thiên Tướng nếu có “Vũ Khúc, Phá Ouân” vây chiếu. Chủ về sự nghiệp lên xuống vô thường, không thích hợp làm việc trong chính giới, có thể dựa vào nghề chuyên môn để phát triển. Gặp Long Trì, Phượng Các, Thiên Tài thì càng có lợi.

Thiên Tướng có tứ sát tinh hội chiếu, chủ về sự nghiệp gặp nhiều tình huống rối bời, dù đang ở trong thuận cảnh cũng có lúc lúc bị trở ngại. Nếu gặp thêm các sao hình, kỵ, hao, chủ về làm việc trong chính giới sẽ có nguy cơ bị bãi chức. Trong thương trường thì bị phá tán, thất bại, hoặc thậm chí ngừng kinh doanh, vỡ nợ, sập tiệm.

Thiên Lương thủ Cung Quan Lộc, trường hợp độc tọa ở cung Ngọ là cách cục lớn nhất. Không gặp các sao sát, kỵ, được Thiên Khôi, Thiên Việt, Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Lộc Tồn vây chiếu hoặc đồng độ. Chủ về theo ngành kinh doanh buôn bán hay làm việc trong chính giới đều là nhân vật lãnh đạo.

Thiên Lương hội Lộc Tồn, Thiên Mã, đại lợi làm ăn kinh doanh, chủ về được người ngoại quốc (hoặc người ở nơi khác) tín nhiệm.

Thiên Lương thủ Cung Quan Lộc, thông thường nên đảm nhiệm các chức vị giám sát. Cũng có thể làm chuyên viên về máy tính, kiểm toán, thiết kế, v.v… Nếu có Thiên Đồng hội chiếu, là nhân tài tham mưu, cố vấn hoặc làm công tác kế hoạch.

Thiên Lương thủ Cung Quan Lộc, gặp các sao sát, hình, có thể theo ngành y. Nếu gặp nhiều sát tinh, lại gặp thêm Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Đại Hao, thì nên làm những công việc có tính nguy hiểm. Nếu không dễ sinh tai họa, hoặc phạm pháp mà dẫn đến phá tán hao tài.

Thiên Lương ở cung Tị, phần nhiều làm những nghề nghiệp đặc biệt.

Thất Sát thủ Cung Quan Lộc, thích hợp theo ngành công nghiệp. Nên lấy sức người làm nguồn vốn là chính, tuyệt đối không nên đầu cơ. Bởi vì Thất Sát ở Cung Quan Lộc, cuộc đời ắt sẽ có một lần bị trắc trở nghiêm trọng, nếu đầu cơ thì khó dựng lại cục diện mới.

Thất Sát có Vũ Khúc hoặc Liêm Trinh đồng độ, có Tả Phụ, Hữu Bật, Thiêrt Khôi, Thiên Việt, Tam Thai, Bát Toạ, Thiên Vu, Thiên Phúc hội hợp. Chủ về quyền uy xuất chúng, theo võ nghiệp có thể vinh thân. Nếu theo ngành công nghiệp cũng chủ về danh tiếng có thể truyền ra nước ngoài.

Thất Sát không sợ tứ sát tinh. Nếu có tứ sát tinh đồng độ hoặc hội chiếu, thì chủ về lập nghiệp trong gian khổ, nhưng cuộc đời gặp nhiều thị phi, sóng gió.

Thất Sát có Địa Không, Địa Kiếp đồng độ, thích hợp lập thân bằng kĩ thuật, công nghệ. Nếu không sẽ bị phá tán, thất bại.

Phàm Thất Sát thủ Cung Quan Lộc, bất kể gặp cát tinh hay gặp sát tinh, đều không nên theo ngành văn hóa giáo dục. Vì mệnh tạo giỏi quản lý người dưới quyền, chỉ thích hợp hoạt động trong quân đội hay cảnh sát, hoặc lãnh đạo công xưởng.

Phá Quân nhập miếu thủ Cung Quan Lộc, thích hợp làm công việc quản lý hoặc kinh doanh công xưởng, hoặc theo võ nghiệp.

Phá Quân nếu có Lộc, Quyền, Khoa hội hợp, là người có quyền uy trong võ nghiệp. Cổ nhân gọi là “Uy trấn Hoa Di”.

Phá Quân thủ Cung Quan Lộc, không thích hợp kinh doanh, nếu không ắt sẽ gặp sóng gió, trắc trở. Dù có cát tinh hội hợp, cũng lúc thành lúc bại, lên xuống vô thường. Có điều, nếu Phá Quân Hóa Lộc, hoặc có Lộc Tồn đồng độ, thì chủ về có tính cương nghị hơn người, một lần thất bại là một lần đứng lên. Có cát tinh hội chiếu thì cuối cùng cũng thành tựu. Nếu không có cát tinh, thì áp lực rất nặng, lại gặp Địa Không, Địa Kiếp, thì trong cuộc đời ắt sẽ có một lần vỡ nợ, sập tiệm hoặc phá sản. Nếu theo ngành công nghiệp, có thể dựa vào sản phẩm mới hoán chuyển nguy cơ.

Phá Quân thủ Cung Quan Lộc, tuyệt đối không được đầu cơ, nếu không ắt sẽ thất bại.

Phá Ouân cũng thích hợp ngành giao thông vận tải, gặp Lộc Tồn, Thiên Mã thì càng tốt.

Hai sao nhập Miếu, có danh tiếng địa vị, gặp Thái Dương, Thái Âm đồng cung hội chiếu thì chủ quyền quý, chức vị cấp tỉnh bộ. Gặp nhiều sao tốt như Tử Vi, Thiên Phủ, Vũ Khúc, Hóa Khoa, Tả Phù Hữu Bật thì là người tài năng văn võ, phú quý bất phàm. Hai sao này cùng với cát tinh đồng thủ thì tăng may mắn tốt đẹp, kỵ gặp Phá Quân. Nếu Hãm địa thì không đẹp, thích hợp phát triển ở các phương diện văn hóa, học thuật, nghệ thuật, tôn giáo, chiêm bốc.

Có tài năng quản lý ưu việt, làm việc ổn định chắc chắn, công việc thuận lợi, có thể được đại chúng cổ vũ. Kinh Doanh hoặc làm công chức đều tốt, nếu được cát tinh đồng cung càng tốt, có các sao tốt Tử Vi Thiên Phủ củng chiếu thì văn võ đều giỏi, Tài Quan đều đẹp. Đồng cung với Thiên Đồng, Văn Xương thì là kỳ cách văn chương, nổi danh thiên hạ. Gia Tứ Sát thì thành bại bất nhất, nếu gặp Không Kiếp thì chủ bị giáng chức.

Trong công việc luôn gặp quý nhân, đặc biệt nhận được sự giúp đỡ của cấp trên, bậc tôn trưởng. Gặp khó khăn gì cũng từ hung thành cát. Nếu được nhiều cát tinh thủ chiếu thì chủ quý. Gia Tứ Sát thì thành bại thăng trầm, gia Không Kiếp Hình Kỵ là người bình thường.

Là điềm đại cát, trong công việc có thể nhận được sự trợ giúp về vật chất, là người giỏi quản lý, sử dụng tiền bạc, không thích hoang phí, dễ tích lũy tiền bạc, công việc phát triển thuận lợi. Có thể đảm nhận chức vị cao, hoặc kinh doanh xí nghiệp quy mô lớn. Lộc Tồn độc thủ, thường làm trong bộ Tài chính, Ngân hàng, hoặc làm các công việc quản lý tài chính, là quan chức về tài phú. Lộc Tồn nếu được nhiều cát tinh miếu vượng thủ chiếu thì tất là bậc tài năng văn võ, lương đống quốc gia, Tài Quan đều đẹp. Gia Hỏa Linh Không Kiếp thì thăng trầm, tốt xấu bất nhất, đặc biệt kỵ gặp Không Kiếp.

Điềm hung, một đời sự nghiệp nhiều trắc trở, hay thay đổi, không thuận lợi. Thường gặp phiền phức, dễ đối lập với cấp trên, gây phản cảm với đồng nghiệp, người dưới mà bị ép từ chức hoặc mất việc, hoặc thu nhập thấp. Nhập Miếu thì lợi cho Võ chức hoặc kinh doanh, cũng có thể làm những ngành có tính thay đổi, nguy hiểm hoặc tiêu hao thể lực, không lợi cho các công việc Văn chức. Nếu được nhiều cát tinh thủ chiếu thì chủ có quyền quý.

Hai sao trên hãm địa thì bôn ba vất vả qua ngày. Trong sự nghiệp thường gặp tổn hại, sự cố, làm công việc bình thường, địa vị không cao, chuyển chức, không ổn định, thu nhập ít, môi trường làm việc khắc nghiệt, một đời làm nhiều mà thành ít, hãm địa gia cát tinh thì chỉ có hư danh, khó có thể phát triển mạnh. Gia Hỏa Linh Không Kiếp chủ người bình thường, nghèo khó.

Điềm không tốt, công việc làm nhiều thành ít, bị đối xử bạc bẽo, môi trường khắc nghiệt, tuy rằng có công việc nhưng khó dài lâu.

Hai sao này nhập miếu thì tuổi trẻ thành bại thất thường, tuổi già công việc toại ý. Hội Tử Vi, Tham lang miếu vượng thì chủ cát lợi. Nhập miếu hội nhiều cát tinh thủ chiếu thì chủ quyền quý hiển hách.

Hai sao này Hãm địa thì cả đời địa vị thấp kém, sự nghiệp không ổn định, hay bị chuyển chức, khó được dùng đúng chỗ, thường không hài lòng với công việc hiện tại. Gặp Dương Đà Không Kiếp thì một đời khốn đốn, khó khăn, nhiều phong ba.

Điềm hung về sự nghiệp hư không, một đời công việc không ổn định. Thường thay đổi công việc, việc làm chẳng có ít nhiều lợi ích gì đáng nói, thường gặp trở ngại hoặc thất bại, khó có thể thành đại sự đại nghiệp. Mệnh có cát tinh mà gặp Không Kiếp dù có phú quý nhất thời cũng nhất định có thất bại tương đối lớn. Hoặc là tiền tài bị phá tán, hoặc là đắc tội với cấp trên mà bị trách phạt, hoặc học nhằm cái không dùng được nên khó phát huy. Xấu nhất là 2 sao này đồng cung tại Cung Quan Lộc hoặc cùng tại tam phương của cung mệnh. Nếu chỉ gặp 1 trong 2 sao mà trong cung có chính tinh Miếu Vượng thì độ hung tương đối nhỏ.

  • Cung Quan Lộc còn chủ về năng lực học tập, trường hợp có Hóa Khoa, là chủ về mệnh tạo rất có hứng thú đối với học vấn và kiến thức, có tinh thần tự tìm hiểu, nghiên cứu một cách bền bỉ. Mà mục đích tìm hiểu, nghiên cứu không phải là vì muốn nâng cao địa vị, phần nhiều xuất phát từ niềm hứng thú của bản thân. Hóa Khoa còn có tác dụng “bền bỉ”, “lâu dài”, làm cho việc học không phải lúc nóng lúc nguội.
  • Bổ túc ý (1) và (3), do mệnh tạo là người có thực lực, lúc làm việc có nhòm trước ngó sau. Nên trong tình huống Hóa Lộc và Hóa Kỵ ở vị trí thích đáng, thường thường với cách làm việc bằng thái độ nghiêm túc, mệnh tạo có thể nhờ học vấn và năng lực hơn người của mình mà có thanh danh hiển hách.
  • Cung Quan Lộc còn là nơi dùng để xem khí tiết của mỗi người. Trường hợp Hóa Khoa ở Cung Quan Lộc, thông thường là mẫu người quang minh lỗi lạc, không phải tầm thường. Bất luận trong môi trường làm việc hay lúc còn đi học. Thậm chí trong cuộc sống thường ngày, mệnh tạo cũng đều sinh hoạt rất có quy luật, có quy củ, cho nên thường được mọi người xem là mẫu mực.
  • Cung Quan Lộc còn là cung vị chủ về tâm lý ở tầng thâm sâu, trường hợp có Hóa Khoa, là chủ về nội tâm của mệnh tạo có sức mạnh ổn định, bên ngoài dù sóng to gió lớn cũng rất khó dao động. Lại vì Hóa Khoa chủ về ngăn nắp, có lớp lang, ổn định, cho nên phần nhiều là người có tâm tính bình hòa, biết tiến thoái, không thích gây sự với ai, là người rất biết “minh triết bảo thân”.
  • Cũng do các tính chất đã thuật ở trên. Người có Hóa Khoa ở Cung Quan Lộc, nếu không có các tình huống tự hóa hay tứ hóa khác. Về bản chất, họ thiếu tính thích ra oai, phách lối và không có tâm lý “kẻ cả”, cũng ít khi có thái độ ra lệnh (trừ phi cung mệnh thấy Hóa Quyền). Thông thường cũng thiếu tinh thần toan tính cho tương lai, sáng lập cơ nghiệp, chỉ trong tình huống cung tài bạch và Cung Quan Lộc phi hóa lẫn nhau, mới làm thay đổi các tính chất này.
  • Lực tác động của Hóa Khoa còn bao gồm “làm giảm nhẹ”, “làm hòa hoãn”, “làm bớt căng thẳng”, “cải thiện”. Còn chủ về quý nhân và hóa giải tai ách. Nên trong môi trường làm việc họ tạo được sự đồng tình của cấp trên, chưa nói đến hành vi ổn định, vững vàng của họ thường thường đã có ý “minh triết bảo thân”, có tác dụng “phù hộ” trong môi trường làm việc. Thêm vào đó, mệnh tạo có lúc thiếu tinh thần toan tính cho tương lai, nên nếu làm việc trong một cơ cấu dạng lớn là rất thích hợp (trời sập xuống cũng khó làm tổn thương mệnh tạo).
  • Cung Quan Lộc là cung vị khí số của sinh mệnh, thấy Hóa Khoa ở đó, là tác dụng bảo vệ của mệnh bàn trên cung vị khí số của sinh mệnh. Vì vậy mệnh tạo thường thường có sức sống và sức mạnh tinh thần rất ngoan cường. Hơn nữa, vì Hóa Khoa là lực tác động phù hộ sinh mệnh, nên cuộc đời mệnh tạo ít khi gặp nguy cơ tức thời, dù gặp nguy hiểm, thường thường cũng có thể chuyển nguy thành an.
  • Vì Hóa Khoa ở Cung Quan Lộc, là cung tam hợp của cung mệnh, là chủ về có năng lực, còn rất được sự đồng tình của hoàn cảnh bên ngoài. Nhất là trong đánh giá về năng lực chuyên nghiệp của mệnh tạo. Xét ở góc độ này, mệnh tạo cũng rất thích được người ta khen ngợi và khẳng định. Vì tác dụng của Hóa Khoa có thiên hướng lâu dài, nên khi được “gãi đúng chỗ ngứa”, đối với họ, có thể nói sẽ khiến họ vui rất lâu.

Lúc xem Cung Quan Lộc là cung vị thiên di của Cung Phu Thê, là cái nhìn về tương lai của người phối ngẫu, trường hợp Cung Quan Lộc có Hóa Khoa là người phối ngẫu có tính toán quy hoạch tiền đồ bằng lý tính.

Hóa Quyền là hành vi, lực hành động, lúc lực hành động nằm trong tay mệnh tạo, hơn nữa còn lấy Cung Quan Lộc làm trọng tâm. Nên mệnh tạo sẽ rất nỗ lực vì muốn nâng cao bản thân, mệnh tạo cũng tin vào năng lực của mình, rất kì vọng vào bản thân. Nếu sống lâu với người này bạn sẽ phát hiện họ là người có thực lực.

  • Cung Quan Lộc dùng để xem về năng lực cao hay thấp. Còn có thể dùng để xem người này tốt hay xấu. Vì Hóa Quyền có tính định hướng, nên có tác dụng tiết chế. Hóa Quyền ở Cung Quan Lộc. Tuy nội tâm có tính vội vàng, trong lòng hay lo lắng, không yên, nhưng người dạng này phần nhiều đều sống theo nguyên tắc, tuân thủ quy củ.
  • Trường hợp Hóa Quyền ở Cung Quan Lộc, người này còn có tính ép buộc, tính cầu toàn. Hơn nữa, Hóa Quyền có năng lực tiết chế, nên người này có thể làm đến chức vụ cao trong công ty lớn. Phần nhiều sẽ vì tính cầu toàn mà làm việc vất vả, là đại biểu cho mẫu bạo gan, làm việc quá sức. Cũng nhờ vậy mà phần nhiều họ là người ở cấp chủ quản trung hoặc cao.
  • Tiếp theo trên, nếu có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng cung với sao Hóa Quyền, sẽ khiến cho tính định hướng của Hóa Quyền bị ảnh hưởng, mất đi năng lực tiết chế, sẽ khiến cho người ta cảm thấy họ thích ra oai, phách lối và đầy toan tính, nhưng đồng thời cũng nhờ đó mà họ có thể tự sáng lập cơ nghiệp .
  • Tiếp theo trên, Cung Quan Lộc còn tượng trưng cho trạng thái tâm lý lúc giải quyết sự việc, đối mặt với vấn đề. Trường hợp Cung Quan Lộc có sao Hóa Quyền đồng cung với Hỏa Tinh, Linh Tinh thì mệnh tạo có tính hấp tấp, dễ bị kích động, dùng thủ đoạn để xử lý sự việc. Nhất là trường hợp tổ hợp sao ở cung điền trạch không tốt, tâm tình đột nhiên thay đổi kiểu này sẽ làm cho người ta khó mà chịu nổi.
  • Trường hợp Hóa Quyền ở Cung Quan Lộc. Nếu Hóa Lộc và Hóa Kỵ , chủ về sau khi kết hôn mệnh tạo và đối tượng hôn phối dễ xảy ra hiện tượng “dịch động”. Cung Quan Lộc là cung vị thiên di của người phối ngẫu, tượng trưng cho viễn cảnh mà người phối ngẫu có thể thấy được. Trường hợp có Hóa Quyền, thì người phối ngẫu sẽ vì cuộc sống hôn nhân mà tìm ra hướng đế nỗ lực, đối mặt với mục tiêu của đời người.

    Hóa Lộc ở Cung Quan Lộc, vì Hóa Lộc có hàm ý là “nhiều” đương nhiên trong lòng cũng muốn nâng cao và đa dạng hóa năng lực của mình, mà mục tiêu họ muốn nỗ lực theo đuổi cũng nhiều.

    • Cung Quan Lộc đã là đại biểu cho lãnh vực tinh thần. Lúc Sao Hóa Lộc ở Cung Quan Lộc tượng trưng về tình cảm, là chủ về nội tâm của người này không thích cô đơn tịch mịch. Về cách suy nghĩ cũng không phải là quá ư cứng ngắc, không biết tùy cơ ứng biến, cách đối nhân xử thế đương nhiên là có tình người.
    • Cung Quan Lộc cũng tượng trưng cho phương thức giải quyết sự tình, cách đối mặt với vấn đề của một người. Trường hợp Hóa Lộc ở Cung Quan Lộc, thì bản tính không tệ, sẽ không dùng thủ đoạn quá khích để đối phó người khác, mà ít nhiều đều xét đến mặt tình cảm.
    • Hóa Lộc ở Cung Quan Lộc là chủ về rất hứng thú học tập, hiểu biết rộng. Họ xem học tập hay biết một thứ gì đó mới cũng là một kiếu hưởng thụ.
    • Nhưng nếu Hóa Kỵ ở “ngã cung”. Là chủ về mệnh tạo có lý tưởng, còn có tinh thần trách nhiệm và biết được hướng nỗ lực. Trong tình hình như vậy, Hóa Kỵ ở Cung Quan Lộc, là sẽ vì lý tưởng mà chuyên tâm trì chí, làm việc khắc khổ. Bất kể trong học vấn hay công việc, thường thấy họ bỏ ra rất nhiều thời gian, tinh thần vào việc bồi đắp bản thân, nâng địa vị lên. Có khuynh hướng làm việc điên cuồng.
    • Trường hợp Hóa Lộc ở “ngã cung”, về phương diện năng lực tinh thần vẫn bị tình trạng thái quá hay bất cập, dễ có tính cưỡng ép, bắt buộc. Trường hợp Hóa Lộc , hoặc Cung Quan Lộc của đại vận tự Hóa Kỵ, là ý tượng: sức sống bị đình đốn, dễ gặp nguy hiểm về sinh mệnh.

      Cung Quan Lộc chủ về lĩnh vực tinh thần mà mệnh tạo có thể ý thức được. Hóa Kỵ ở Cung Quan Lộc cũng giống như một cái hố không có đáy. Trong lĩnh vực tinh thần, học thuật, sẽ khiến cho mệnh tạo luôn cảm thấy không đủ. Cũng vì ảnh hưởng về tinh thần, nên bất kể Hóa Lộc [năm sinh] ở “ngã cung” hay “tha cung”, đều sẽ khiến mệnh tạo cảm thấy thiếu tự tin, sẽ bỏ ra rất nhiều thời gian để không ngừng bồi đắp bản thân. Ngoại trừ tình trạng thiếu lòng tự tin, đương sự còn dễ có cảm giác bất lợi, trở ngại. Thường thường người ngoài nhìn thì thấy đương sự đã làm rất khá, nhưng bản thân mệnh tạo vẫn cho rằng còn quá tệ.

      Tiếp theo trên, vì vấn đề tâm lý đã thuật ở trên, mệnh tạo sẽ luôn lo lắng không biết sự tình có được xử lý tốt hay không. Tuy hướng chính đã được xác định, nhưng mệnh tạo vẫn cứ chú trọng những chuyện lặt vặt, cũng hay kiểm tra tới kiểm tra lui các tiểu tiết. Có lúc làm cho những người chung quanh không cách nào chịu nổi.

      Tổng hợp những điều đã thuật ở trên, mệnh tạo là người không chủ động tranh thủ, bất kể đó là tiền bạc, chức vị, thậm chí là tình yêu. Luôn có tâm lý cho rằng chuyện tốt sẽ không đến với mình.

      Nếu Hóa Lộc ở “tha cung”, là chủ về khả năng làm việc có hiệu quả kém, dễ bị tình trạng tìm không ra mục tiêu ở viễn cảnh tương lai. Ngoài ra, Cung Quan Lộc còn là cung vị biểu hiện của cung tài bạch, là chủ về mệnh tạo thiếu sức bật trong công việc, sự nghiệp. Vì cảm giác thiếu an toàn, nên thường thấy mệnh tạo sẽ tử thủ ở cương vị của mình. Tuy về cá tính, mẫu người này rất thích hợp làm công chức để cầu yên ổn, nhưng cũng vì Cung Quan Lộc có Hóa Kỵ, nên muốn vào công môn là hơi khó.

      Thông thường, Tuần Triệt là sao phá, đóng ở cung nào thì gây trở ngại cho cung đó:

      • Ở Mệnh, thì thiếu thời lận đận
      • Ở Thân thì trắc trở, gian truân.
      • Ở Phu Thê thì hỏng một duyên nợ.
      • Ở Tử thì hao con.
      • Ở Tài thì kém tiền bạc.
      • Chỉ có Tật, Tuần Triệt phá tán bệnh tật, họa, tạo sức khỏe cho đương số.

      Vì vậy, Tuần Triệt đóng ở Quan tiên quyết gây trục trặc cho quan trường, thể hiện dưới nhiều hình thái:

      • Hoặc chậm công danh.
      • Hoặc công danh phải lận đận, chật vật.
      • Hoặc công danh không mấy cao, thăng giáng thất thường.
      • Hoặc không bền vững.

      Nếu gặp Triệt, công danh chậm phát lúc thiếu thời, chỉ về già mới hanh thông. Nếu gặp Tuần, sự trục trặc có tính cách triền miên, tuy không nặng như Triệt nhưng kéo dài suốt đời.

      Trường hợp cung Quan có chính tinh

      Nếu chính tinh sáng sủa, Tuần Triệt làm cho bớt sáng, có thể trở thành tối. Do đó, công danh có thể bị trở ngại, hoặc chậm phát hoặc trục trặc, hoặc không lâu bền, hoặc có nhiều hung sự xảy ra, có thể là mất chức, mất quyền, bị thay đổi, bằng không thì cũng bất toại, hay gặp những sự bực mình, bất mãn, tài năng không thi thố được. Nếu tại Quan mà có Thiên Tướng hay Tướng Quân thì càng bất lợi: vào công quyền ắt phải có lần mất chức, bị cách chức.

      Cung Quan có Sát Phá Liêm Tham hay bại tinh sáng sủa gặp Tuần Triệt thì tương đối bền vững, chức vụ tương đối cao, không đến nỗi phải lụn bại, thăng trầm.

      Những sao Tử Phủ, Cự Nhật, Cơ Nguyệt Đồng Lương đi với sao sáng sủa khác gặp Tuần Triệt thì công danh thất thường, không bền, gặp hung sự.

      Cung Quan ở Sửu, Mùi có Âm Dương tọa thủ đồng cung: quan lộc được rực rỡ. Đặc biệt là về sau vì tại Sửu Mùi, Âm Dương tương đối xấu, gặp Tuần, Triệt thì sáng lại và tại Sửu Mùi vốn là âm cung nên tốt cho hậu vận.

      Nếu chính tinh ở Quan mà hãm địa, Tuần Triệt phục hồi sức sáng cho chính tinh, công danh sẽ quý hiển nhưng không tránh khỏi trắc trở: quan trường chỉ phát lúc hậu vận. Đặc biệt nếu Sát Phá Liêm Tham hay bại tinh hãm địa gặp Tuần Triệt đồng cung thì lại phát nhanh và mạnh hơn những bộ sao khác hãm địa. Duy đối với Thiên Tướng, dù đắc hay hãm địa, Tuần Triệt bao giờ cũng gây thảm tử, như quân nhân chết trận, viên chức bị cách, giáng.

      Cung Quan vô chính diệu, dù được chính tinh đối diện sáng sủa chiếu vào, quan lộc cũng không toàn mỹ (công danh tầm thường, chức vị không mấy cao) huống hồ gặp chính tinh đối diện hãm địa. Duy có hai biệt lệ quan trọng làm khởi sắc cho cung Quan vô chính diệu:

      Cung Quan có Tuần hoặc Triệt án ngữ: cách này nói chung không hoàn hảo nhưng cũng đỡ xấu. Quan trường tuy nhiều trở ngại nhưng vẫn có thể hiển đạt trong vãn vận. Nếu tảo đạt và phát nhanh thì lại sớm tàn và hoạnh tán.

      Cung Quan được Nhật Nguyệt cùng sáng sủa hợp chiếu hay xung chiếu: cách này trở thành đắc lợi nhờ ánh sáng phối hợp của hai nguồn năng lực Nhật Nguyệt: công danh sáng lạn, chức vụ lớn, quyền hành cao, có triển vọng đắc phú, tóm lại vừa giàu vừa sang. Nếu cung Quan có Tuần hay Triệt trấn thủ tại đó thì phú quý sẽ tăng tiến nhiều hơn nữa.

      Biểu tượng cho quyền hành và thế lực, đặc biệt nếu đắc địa ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Nếu bình thường hoặc hãm địa (ở Tý, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi) thì quyền không cao, không nhiều, không quan trọng, hoặc chỉ có hư quyền hoặc quyền chỉ có trong bóng tối hoặc có thế lực mà không có quyền hoặc quyền tước hàm.

      Hóa Quyền có nhiều địa hạt: võ quyền, văn quyền, giáo quyền tùy theo cách làm quan nhưng cách nào có Quyền cũng đều hiển hách. Nếu đi với Hóa Kỵ trong bối cảnh cung Quan tốt đẹp thì hai sao này chỉ người có quyền và có mưu, hết sức quyền biến, không ngoan nhưng do có Kỵ nên thường bị người ta e ngại.

      Nếu đi với Kiếp Không ở Tỵ Hợi, Quyền càng phát nhanh và phát lớn do sự đưa đẩy của thời thế để tạo ra anh hùng nhưng vì có Kiếp Không nên có thể không lâu bền. Thông thường, người có Hóa Quyền hay tự đắc, tự tôn, kiêu căng, lấn lướt, hiếu thắng cho nên sao này tuy có lợi cho công danh nhưng không mấy hay về tính nết. Phải có thêm các sao đức hạnh thì Quyền mới hướng thiện.

      Nếu gặp hung tinh, vận xấu, Hóa Quyền tác họa cấp kỳ cho đương số. Hóa Quyền ở Quan tượng trưng cho sự tham chính, cho cách làm quan hiển đạt, đặc biệt là khi đi với Khoa và Lộc.

      Chỉ người có chính chức và có quyền vị. ý nghĩa của ấn giống như Quyền nhưng không mạnh bằng. Nếu ấn đi chung với Binh, Hình, Tướng thì võ nghiệp rất vinh hiển: đó là quân nhân có binh, có quyền, có uy. Người có ấn ở Quan là viên chức có công, được thưởng công bằng sự thăng chức, thăng trật, hoặc bằng sắc phong huy chương, tưởng lục. Nếu ấn ở vị trí các cung ban đêm, có thể là sự khen ngợi thông thường, cũng có thể là sự truy tặng (sau khi chết). Dù sao, Quốc ấn ở Quan, Mệnh, Thân là người dễ tiến đạt, được trọng vọng, được ghi công trên đường hoan lộ.

      Là quý cách khá cao, do những biểu tượng đi kèm.

      Tượng trưng cho quyền tước, tài năng được dùng đúng chỗ.

      Chỉ bằng sắc, công trạng, huy chương, quyền hành nhưng không mạnh bằng Quyền hay ấn. Đường Phù có nghĩa kém nhất.

      Cung Quan trước giáp Hoa Cái sau giáp Thiên Mã là một biểu tượng của quyền uy, có lọng (Cái), có ngựa (Mã) theo chầu. Duy cách này nên đóng ở cung ban ngày mới rạng.

      Biểu tượng cho chức vị, quyền hành (là cái đai). Chức quyền có thể cao.

      Hai sao này họp thành cách hổi đội hòm sắt, cũng khá tốt cho công danh. Ngụ ý được tín nhiệm, trọng dụng, nhất là đồng cung và ở cung Dần (hổ cư hổ vị).

      Chỉ công danh thăng tiến dễ dàng, nhất là ngành võ.

      Chỉ cách làm quan võ có cầm quân nhưng thuộc loại thấp, chỉ huy đơn vị nhỏ. Nếu đi cùng với

      Tướng Quân là võ quan cao cấp và có nắm quyền chỉ huy. Cách quan của Tướng Quân tuy có can đảm, hiên ngang nhưng táo bạo, có tinh thần sứ quân, tự tôn, tự phụ, sử dụng binh quyền đôi khi sai mục đích nên

      Tướng Quân gặp sao xấu dễ bị nguy kịch. Đi với cát tinh, Tướng Quân rất đắc dụng: đó là viên chức hay quân nhân rất tháo vát, có tinh thần xung phong, tình nguyện làm việc khó, có sáng kiến, đôi khi có quá nhiều sáng kiến nên đi sai lệch đường lối ở trên. Đi với Thiên Tướng, nhất là ở thế xung chiếu thì rất hiển hách trong binh nghiệp.

      Thiên Mã: ngụ ý tháo vát, may mắn, đa năng, thao lược, xông pha. Người có Thiên Mã ở Quan hay Mệnh thường nhậm lẹ, lanh lợi, lăn lóc, từng trải nên đa hiệu, đa nhiệm.

      Đây là bộ sao rất cần cho công danh, rất lợi và rất hợp với các công việc có tính lưu động. Vì đa hiệu, Mã là sao có rất nhiều phối cách rất hay với một số phụ tinh khác để làm cho năng tài đắc dụng hơn.

      Ví dụ như cách Mã Tử Phủ, Mã Nhật Nguyệt, Mã Lộc Tồn, Mã Hỏa hay Linh, Mã Tướng, Mã Khốc Khách. Mặt khác, cách hay trên còn tùy vị trí của Thiên Mã. Nếu ở Dần (Mộc) và Tỵ (Hỏa) thì tốt đẹp thêm, ở Thân (Kim) thì vất vả, còn ở Hợi (Thủy) thì lu mờ. Tốt khi Mã ở Dần (Mộc) mà Bản Mệnh thuộc Mộc, Mã ở Tỵ (Hỏa) với Hỏa Mệnh, Mã ở Thân (Kim) với Kim Mệnh, Mã ở Hợi với (Thủy Mệnh).

      Bao giờ gặp nghịch khắc giữa hai hành thì kém hoặc xấu: tài năng sút kém, trở ngại gia tăng, công danh không rạng.

      Lộc Tồn: chỉ tài năng, đặc biệt là tài tổ chức, tài thích ứng với hoàn cảnh. Lộc Tồn có nhiều sáng kiến, biết tùy theo nhu cầu mà quyền biến, xử sự tùy hoàn cảnh, lúc cương lúc nhu, một cách chừng mực. Đi với Thiên Mã,

      Lộc Tồn là người khai sơn phá thạch, mở đường cho kẻ khác đi theo, rất đắc dụng trong các trách nhiệm tiền phong, khai quang an vị, tổ chức cơ sở. Đặc biệt, sao này chỉ về tiền bạc nên rất lợi cho nhà kinh doanh khai thác tài nguyên kinh tế, tổ chức nền móng sản xuất.

      Đi với Hóa Lộc, Lộc Tồn chuyên đoán, có óc lãnh tụ, độc quyền và tập quyền. Gặp Tuần, Triệt hay sát tinh đồng cung, Lộc Tồn mất nhiều cơ hội hoạt động, bị khiếm dụng, bị dùng phí phạm, bị dùng không đúng chỗ, tài năng bị tiêu mòn hoặc bị dùng vào việc sái đạo đức. Trong lãnh vực tài chính, sao này chỉ sự tiết kiệm, xài kỹ, xài có quy tắc, sự chắt mót, giữ của, có lợi cho các chức vụ quản trị ngân sách.

      Thiên Khôi, Thiên Việt: Miễn là đừng gặp Tuần, Triệt hay Hóa Kỵ, Khôi Việt chỉ năng tài xuất chúng, uy tín và hậu thuẫn, phần lớn nhờ ở tài văn học, mô phạm, tính tình cao thượng, thanh khiết, tinh thần cạnh tranh và thi đua.

      Bạch Hổ, Tang Môn đắc địa ở Dần: chỉ sự tài giỏi, quyền biến, thao lược, ứng phó được nhiều nghịch cảnh, đồng thời cũng có khả năng xét đoán, lý luận, hùng biện phù hợp với các chức vị chính trị, ngoại giao, tư pháp, sư phạm.

      Ngoài ra Tang Hổ đắc địa còn có khả năng về võ, có khí phách lãnh đạo, chỉ huy nhất là khi được sao võ đi kèm. Do đó, Tang Hổ đặc biệt là Hổ có nhiều phối cách rất hay với Tấu Thư, với Phi Liêm, với

      Long Phượng Cái, với Kình Hình. Với Tấu Thư, Bạch Hổ chỉ năng tài hùng biện rất khích động, xuất sắc về tâm lý chiến, vận động quần chúng. Với Phi Liêm, Bạch Hổ rất tháo vát, lanh lợi như Thiên Mã lại được thời cơ thuận lợi.

      Với Kình hay Hình, Bạch Hổ có chí khí, mưu lược cả văn lẫn võ. Với Long Phượng Cái, Bạch Hổ chỉ sự hiển đạt về uy danh, sự nghiệp, khoa giáp.

      Thiên Khốc, Thiên Hư đắc địa ở Tý, Ngọ: chỉ người có chí lớn, có văn tài hùng biện cùng năng khiếu hoạt động chính trị, đặc biệt là về hậu vận. Khốc Hình Mã thì hiển đạt võ nghiệp, nhất là ở Dần và Tỵ. Khốc Hư Sát hay Phá đắc địa thì có quyền cao chức trọng, uy danh lừng lẫy, được thiên hạ nể phục.

      Ân Quang, Thiên Quý: Đóng ở Mệnh, Quan, Thân, Di viên chức được tín nhiệm, trong dụng nâng đỡ, che chở của người trên. Ngoài ra, Quang Quý có nghĩa là viên chức đó trung tín, hết lòng, có lương tâm chức nghiệp, xứng đáng với sự tín nhiệm của thượng cấp dành cho.

      Quang Quý có nghĩa gặp nhiều dịp may trong hoạn lộ, cụ thể như được thời thế thích hợp, được sử dụng đúng năng khiếu, làm việc vừa ý, được hạnh phúc trong nghề nghiệp.

      Thanh Long, Lưu Hà hay Hóa Kỵ đồng cung: có vận may tốt, cơ may lớn để ra làm quan, không cần cầu cạnh và lúc ra làm quan thì đắc dụng, đắc thời theo ba ý nghĩa nêu trên của Quang Quý. Ngoài ra, Thanh Long gặp Long Đức ở Thìn cũng rất tốt đẹp vì rồng đóng ở cung Thìn chỉ đắc danh, đắc lộc mà không cần cầu cạnh, được nhiều may mắn trên hoạn lộ.

      Tràng Sinh, Đế Vượng: chỉ sự phong phú. áp dụng vào quan trường, công danh sẽ dồi dào, năng tài đa diện trong nhiều lĩnh vực, chức quyền tương đối cao. Người có Sinh, Vượng ở Quan có nhiều sáng kiến trong công vụ, được giao phó nhiều trách nhiệm, dễ thăng tiến.

      Đào Hoa, Hồng Loan: ở Quan, Đào Hoa và Hồng Loan rất hợp cách: chỉ làm quan lúc tuổi trẻ, tuổi trẻ tài cao, công danh tảo đạt, nhẹ bước thang mây, không phải bôn ba cầu cạnh.

      Phụ tinh chỉ nhân sự trợ giúp

      Tả Phù, Hữu Bật: chủ sự giúp đỡ của người đời, đặc biệt là đồng sự, đồng song. Người có Tả Hữu ở Quan có tài giao tế nhân sự, có đức tính khéo léo thu được thiện cảm của người trên, có sự mềm mỏng cần thiết để được người ngang hàng cộng lực.

      Ngoài ra, cũng có nghĩa là quyền tước hiển vinh, nhờ có nhiều người phục tùng. Tả thuộc văn tinh nên hợp với Tử Phủ, Hữu chiếu vào Tử Phủ thì tốt hơn đồng cung. Trong cả hai trường hợp, Tả Hữu không nên đi chung với sát tinh. Tả Hữu còn có nghĩa là đa nghệ, là hệ số của tài năng, của quyền hành.

      Thiên Mã, Tràng Sinh, Đế Vượng: là bộ sao phụ tùy cho quan cách.

      Binh, Hình, Tướng, ấn: chỉ cộng sự đắc lực và có quyền, trợ uy cho võ cách.

      Hung sát tinh đắc địa gặp Sát Phá Liêm Tham đắc địa hay Vũ Tướng đắc địa: báo hiệu sự hiển đạt của võ nghiệp trong thời loạn, nhờ đức tính táo bạo, mạo hiểm, bất khuất trong những hoàn cảnh hết sức khó khăn.

      Bộ sao này có cả phú lẫn quý, tức là vừa có danh vừa có lợi. Nhưng công danh không được lâu bền, phát nhanh nhưng cũng tàn lẹ. Gặp bộ Vũ Tướng đắc địa thì toàn mỹ về cả công danh lẫn tiền bạc trong suốt thời gian sinh tiền, không bị ảnh hưởng của sự thăng trầm, hoạch phá. Nếu hai bộ này hãm địa, sát tinh dù có đắc địa cũng không quân bình được bất lợi: công danh nhỏ, chức vụ thấp, thăng giáng thất thường.

      Hung sát tinh hãm gặp Sát Phá Liêm Tham hãm hoặc Vũ Tướng hãm: giảm chế công danh khiến quân nhân khó thăng tiến, trở thành bất đắc chí, càng tung hoành càng gặp hung họa lớn lao. Nếu bốn sao chính mà sáng sủa thì quan cách tương đối cao hơn, nhưng thiếu thuộc hạ đắc lực vì hung sát tinh hãm địa, thậm chí còn gây họa cho chính mình. Gặp Vũ Tướng hãm địa thì cũng dưới mức trung bình và gặp nhiều hung họa. Trái lại nếu Vũ Tướng đắc địa thì rất hay: chẳng những có uy danh mà còn khắc phục được trở ngại và những âm mưu bất chính của đối thủ.

      Hung sát tinh với Tử Phủ Cự Nhật và Cơ Nguyệt Đồng Lương (văn cách): văn cách trong mỗi bộ sao này phải né tránh sát tinh thì mới hiển đạt. Gặp sát tinh, quan trường phải cạnh tranh, đối chọi, đấu trí, gian nan, chưa kể những hung họa hiểm nghèo khả hữu. Để thắng những sát tinh đó thì mỗi sao trong bộ phải đắc địa trở lên. Nếu chính tinh trong mỗi bộ sao mà hãm địa nốt thì quan cách chẳng những không ra gì mà còn gặp nhiều hiểm nguy đến bổn mạng.

      Qua Quan Lộc cung khả dĩ tìm thấy sự cát hung về chức nghiệp, địa vị và công danh. Như câu phú:

      Quyền cao trọng chấn biên cương

      Ngọ cung Thất Sát, Tử, Lương, Vũ, Đồng (đóng Quan Lộc)

      Rồi những câu sau đây:

      Cung Quan Thất Sát uy hùng

      Miếu thời chức trưởng vẫy vùng quân công

      Cung Quan Tham Vũ đồng tông

      Công danh hẹn bước ruổi dong lên đường

      Nhật Nguyệt cư Quan rất hay

      Chức quyền số đã sẵn tay trời dành

      Cung Quan Dần Mão Thiên Hình

      Trị dân trọng chức, chưởng binh cao quyền

      Thiên Quan Thiên Tướng miếu viên

      Hiển vinh đức trọng tài hiền ấy ai

      Hỏa Linh Mùi Sửu an bài

      Chiến công đã hẹn đức tài binh nhung

      Cung Quan mà gặp Đào Hồng

      Thiếu niên đã thỏa tang bồng chí trai

      Kình tứ Mộ Mã triều lai Biên cương ắt hẳn ra tài võ công

      Cung Quan giáp Phượng giáp Long

      Giáp Xương Giáp Khúc một dòng hanh thông

      (Phượng Long chức vị, Xương Khúc đỗ cao)

      Tuế Hổ Phù hợp Văn Xương

      Có tài hùng biện văn chương hơn người

      Phá Quân Phá Toái một nơi

      Tính ưa mạo hiểm việc thời chiến chinh

      Giáp Liêm giáp Sát tung hoành

      Tuổi già mới rạng công danh đó mà

      Hỏa Linh hợp Mã một nhà

      Hoặc nghề cơ khí hoặc là chở chuyên

      Quan Lộc Tử Mã nhất ban

      Khốc Hư Tí Ngọ đồng sàng hoạnh thương

      Mã Long Thiên Hỉ thuận đường

      Hoặc là Lộc Mã hợp phường tốt thay

      Tấu Thư Bác Sĩ xem qua

      Rộng đường văn học con nhà trâm anh

      Phong Cáo Thiên Tướng chính tinh

      Ơn nhờ lộc nước hiển vinh muôn phần

      Không Kiếp Thiên Tướng gian truân

      Khoa tinh niên thiếu giữ phần đăng khoa

      Cung Quan hội hợp cát tường

      Một rằng Tử Phủ ba phương Hóa chầu

      Hai rằng Khôi Việt đáng yêu

      Ba rằng Tả Hữu hợp chiều Âm Dương

      Miếu thì văn võ vẹn toàn

      Hãm cung cũng giữ được phần công danh

      Hình Riêu Cơ Tấu Vũ cùng

      Khéo nghề thuyền thợ vững đường sinh nhai

      Khúc Xương Long Phượng phát văn

      Vũ Tham Sát Phá lại rằng võ công

      Nhật Nguyệt Quan Lộc bất thông

      Chỉ hiềm một nỗi đồng cung Sửu Mùi

      Những ai đai ấn triệt hồi

      Thiên Tướng Không Kiếp đứng ngồi một bên

【#5】Luận Án: Quá Trình Hình Thành Lễ Hội Cung Đình Ở Huế, Hay

, ZALO 0932091562 at BÁO GIÁ DV VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

Published on

Download luận án tiến sĩ với đề tài: Quá trình hình thành, phát triển và biến đổi lễ hội cung đình ở Huế từ năm 1802 đến năm 1945, cho các bạn làm luận án tham khảo

  1. 1. 1 MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1.1. Triều Nguyễn là triều đại cuối cùng của chế độ quân chủ ở Việt Nam, đã chọn Huế làm kinh đô trong suốt 143 năm (1802 – 1945). Song song với việc thiết lập bộ máy nhà nước theo thể chế quân chủ trung ương tập quyền, các vua Nguyễn đã xây dựng, thực thi quy chế tế tự và lễ tiết theo hướng ngày một phong phú, chặt chẽ, bài bản, nhằm khẳng định và củng cố tính chính danh, chính thống của hoàng đế, của triều đại cũng như địa vị cao quý của Hoàng gia. Vai trò tư tưởng chủ đạo của bộ Lễ ở đây cần được khẳng định điểm then chốt là hệ thống lễ hội cung đình ấy đã làm nổi bật khát vọng độc lập tự chủ trong đời sống tư tưởng, tâm linh, nhân sinh quan, thế giới quan của triều Nguyễn với tinh thần “văn hiến thiên niên quốc, xa thư vạn lý đồ” của một quốc gia độc lập khác biệt với Trung Quốc và cả với Nhật Bản, Hàn Quốc đồng văn. Di sản lễ nghi tế tự đó thường được gọi là lễ hội cung đình triều Nguyễn. Từ những ảnh hưởng bởi nguồn gốc Trung Hoa, trải qua các triều đại quân chủ Đại Việt, tất cả đã có sự tích hợp hài hòa với các yếu tố bản địa phương Nam, kể cả yếu tố phương Tây từ thế kỷ XVIII-XIX…, để định hình nên di sản lễ hội cung đình triều Nguyễn đặc trưng, đầy bản sắc và bản lĩnh Việt Nam. Cho nên, lễ hội cung đình là thành tố quan trọng cấu thành văn hóa Huế, tạo nên giá trị bản sắc điển hình của Huế trong tương quan so sánh với các vùng văn hóa trong cả nước. Nhưng cho đến nay, nhận định và nghiên cứu về lễ hội cung đình triều Nguyễn vẫn chưa được đầy đủ. Thống kê về lễ hội khắp cả nước của Bộ Văn hóa Thông tin từ năm 2003, lại không đề cập đến lễ hội cung đình triều Nguyễn. Qua đó có thể thấy suốt một thời gian dài, lễ hội cung đình triều Nguyễn đã bị lãng quên. Cho nên, việc nghiên cứu về triều Nguyễn nói chung và lễ hội cung đình Huế nói riêng đã thiếu đi nhiều cơ sở để đảm bảo tính toàn diện và khách quan. Vấn đề đặt ra là cần nghiên cứu về lễ hội cung đình triều Nguyễn, khẳng định các giá trị lịch sử và tư tưởng, bên cạnh đó hệ thống hóa các lễ hội và bổ khuyết vào kho tàng lễ hội văn hóa Việt Nam. 1.2. Những năm gần đây, đã có nhiều tác giả quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu về lễ hội cung đình, bước đầu chú trọng tới một số nghi lễ tế tự diễn ra dưới triều Nguyễn, và việc nhìn nhận về lễ hội cung đình triều Nguyễn trong mối quan hệ biện chứng với sự phát triển của lịch sử dân tộc vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Vì vậy, tiếp cận lễ hội cung đình triều Nguyễn từ góc nhìn lịch sử là rất cần thiết, nhằm
  2. 3. 3 định chọn vấn đề: Quá trình hình thành, phát triển và biến đổi lễ hội cung đình ở Huế từ năm 1802 đến năm 1945 làm luận án tiến sĩ. 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận án là các lễ hội cung đình triều Nguyễn, bao gồm các lễ nghi, lễ tiết, nghi thức của triều đình Việt Nam, Đại Nam cũng như của Hoàng gia triều Nguyễn. Hơn nữa, luận án còn so sánh giữa lễ hội cung đình triều Nguyễn với lễ hội cung đình của các triều đại trước trong lịch sử Việt Nam và xem xét tác động ảnh hưởng, mối quan hệ qua lại giữa lễ hội cung đình và lễ hội dân gian. 2.2. Phạm vi nghiên cứu – Không gian nghiên cứu của luận án tại Huế, tập trung chính ở các địa điểm là không gian vốn có của lễ hội cung đình triều Nguyễn, như Hoàng cung, đàn Nam Giao, đàn Xã Tắc, các lăng tẩm của vua Nguyễn ở Huế, các miếu thờ… – Thời gian nghiên cứu của luận án được tính từ năm 1802 đến năm 1945, trong đó tập trung làm sáng tỏ sự hình thành và phát triển của lễ hội cung đình triều Nguyễn ở giai đoạn nhà nước quân chủ trung ương tập quyền mạnh, từ năm 1802 đến năm 1885, đánh dấu bằng sự kiện Thất thủ Kinh đô. Chính sự thịnh trị trong giai đoạn này là nền tảng để triều đình nhà Nguyễn ban hành và hoàn thiện điển chế để tổ chức lễ hội cung đình một cách chặt chẽ và qui mô hơn so với các triều đại trước. Từ năm 1885 cho đến năm 1945, dưới tác động của bối cảnh chính trị xã hội cùng một số yếu tố khách quan khác, đã làm cho lễ hội cung đình Huế có nhiều biến đổi mạnh mẽ. 3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3.1. Mục đích nghiên cứu – Mục đích chung: Nghiên cứu về Quá trình hình thành, phát triển và biến đổi lễ hội cung đình ở Huế từ 1802 đến 1945 nhằm nhìn nhận đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện về hệ thống lễ hội cung đình thời Nguyễn trong giai đoạn cuối cùng của chế độ quân chủ Việt Nam, từ đó khẳng định những giá trị to lớn của chúng, đối với lịch sử, những ý nghĩa tác động của chúng đối với đời sống văn hóa hiện nay. – Mục tiêu cụ thể: + Xác định cơ sở hình thành, tính kế thừa và những đặc điểm, giá trị đặc trưng của lễ hội cung đình Huế khi xem xét diễn trình hình thành và phát triển của lễ hội cung đình trong suốt các triều đại quân chủ Việt Nam cho đến hết thời Nguyễn.
  3. 6. 6 Nguyễn nhằm xác định chính xác nội dung niên đại, lai lịch và hiện trạng của môi trường diễn xướng cũng như nguồn tài liệu thành văn hiện còn ở ngay chính các di tích. Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu hỗ trợ khác nhằm tái hiện một số nghi lễ cung đình và không gian diễn xướng của các lễ hội cung đình thời Nguyễn. Phương pháp so sánh ở cả góc độ lịch đại và đồng đại được áp dụng ở những lúc cần thiết, nhằm làm nổi bật một số vấn đề của lễ hội cung đình triều Nguyễn, trong sự kế thừa, sự sáng tạo hay điểm khác biệt so với các triều đại trước, hay so sánh với Trung Quốc. Phương pháp thống kê được sử dụng để tổng hợp và phân loại các lễ hội cung đình trong lịch sử Việt Nam và nhất là dưới triều Nguyễn. Trong quá trình thực hiện đề tài, các phương pháp nghiên cứu trên không chỉ được sử dụng đơn lẻ mà có sự vận dụng tương hỗ linh hoạt đồng thời nhiều phương pháp với nhau cho phù hợp. Chẳng hạn khi nghiên cứu về lễ tế Giao, tế Xã Tắc của triều Nguyễn, tác giả đồng thời sử dụng các phương pháp so sánh đồng đại, lịch đại và phương pháp đối chiếu để nêu bật yếu tố bản sắc, tính kế thừa giữa lễ tế Giao, lễ tế Xã Tắc của triều Nguyễn so với các triều đại trước Nguyễn, và so với triều Thanh (Trung Quốc). Nhờ đó, mới có thể xem xét đánh giá về những biến đổi và quy mô của lễ tế dưới triều Nguyễn một cách khách quan và toàn diện hơn. 5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, luận án Quá trình hình thành, phát triển và biến đổi lễ hội cung đình ở Huế từ năm 1802 đến năm 1945 sẽ có một số đóng góp hết sức ý nghĩa về khoa học và thực tiễn, nhất là tính thời sự trong giai đoạn hiện nay. 5.1. Đóng góp về mặt tư liệu Luận án là kết quả của quá trình nghiên cứu công phu, có tính hệ thống của NCS, được hoàn thiện và bổ sung bằng các nguồn tư liệu mới phát hiện và hệ thống hóa các công trình nghiên cứu đã có về vấn đề này. Đó là các bản gốc Châu bản, các thư tịch Hán Nôm ghi chép lại các điển chế của lễ hội đang lưu trữ trong kho của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Trung tâm Lưu trữ quốc gia I (Hà Nội), Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV (Đà Lạt). Trước đây, do nhiều nguyên nhân, các tài liệu đó ít được quan tâm khai thác thì nay NCS dành nhiều công sức sưu tầm, phiên dịch để sử dụng có hiệu quả, phục vụ trực tiếp cho luận án cũng như công tác chuyên môn. Bên cạnh đó, NCS khai thác nhiều tư liệu thơ văn trên di tích kiến trúc cung đình Huế cũng như cập nhật các tài liệu mới từ kết quả nghiên cứu của các đề tài khoa học các cấp, hội thảo khoa học, các bài viết trong thời gian gần đây. Vì vậy, luận án
  4. 7. 7 sẽ cung cấp một nguồn tư liệu phong phú, đa dạng, có hệ thống, có giá trị sử liệu cao về lễ hội cung đình triều Nguyễn. 5.2. Đóng góp về nội dung Luận án xác định được cơ sở hình thành và phát triển, đỉnh cao dưới thời vua Minh Mạng của lễ hội cung đình triều Nguyễn trên nhiều phương diện. Đây là đóng góp quan trọng của luận án. Việc thống kê và phân tích các lễ hội cung đình được hình thành dưới triều Nguyễn (1802 – 1945), có thể khẳng định tính chính danh, chính thống của triều đại, đặc biệt là trên phương diện tư tưởng độc lập, tự chủ của quốc gia dân tộc, mang nhiều giá trị bản sắc và bản lĩnh đặc trưng, có tính tư tưởng của thời đại. Qua đó, luận án chỉ ra được đặc điểm riêng, những khía cạnh tích cực và vai trò đặc biệt quan trọng của lễ hội cung đình triều Nguyễn, góp phần giải quyết được khoảng trống trong việc nghiên cứu lễ hội cung đình Việt Nam. Hơn nữa, luận án còn làm rõ được sự biến đổi của lễ hội cung đình triều Nguyễn dưới tác động của nhiều yếu tố khách quan, chủ quan trong giai đoạn 1885 – 1945. Từ đó, đánh giá tính chất cũng như vai trò của lễ hội trong sinh hoạt văn hóa cung đình triều Nguyễn, trở thành tác nhân quan trọng có ảnh hưởng chi phối, làm nên giá trị bản sắc văn hóa Huế. 5.3. Đóng góp về tư vấn chính sách Kết quả nghiên cứu của luận án cũng sẽ cung cấp cho ngành văn hóa, du lịch và các cơ quan nhà nước hữu quan những bài học hữu ích trong việc xây dựng chủ trương chính sách, giải pháp phù hợp trong vấn đề quản lý và nghiên cứu phục hồi, phát huy giá trị của lễ hội, đặc biệt là lễ hội cung đình Huế. Từ đó, luận án cũng đồng thời mang tính gợi mở cho nhiều đề tài nghiên cứu khoa học tiếp theo khi nghiên cứu về lễ hội cung đình triều Nguyễn. Những kết quả nghiên cứu của luận án, trên cơ sở phân tích sự ra đời, vận hành và biến đổi của lễ hội cung đình, cả về tư liệu thành văn lẫn kết hợp hài hòa với nghiên cứu khảo sát thực địa (môi trường diễn xướng của lễ hội), xem xét trong mối quan hệ chi phối bởi quan điểm phục hồi lễ hội cung đình Huế hiện nay. NCS cũng đưa ra những luận cứ mới cho việc đề xuất phục dựng lễ hội cung đình triều Nguyễn một cách phù hợp, có tính khả thi cao trong bối cảnh đất nước hiện nay.
  5. 11. 11 1.1.3. Nguồn tài liệu thơ văn khắc trên các kiến trúc cung đình Huế Trong việc nghiên cứu về các lễ hội cung đình triều Nguyễn, ngoài việc khai thác các nguồn tư liệu chính sử, NCS cũng đã tiếp cận được nhiều tác phẩm thơ văn của hoàng đế Minh Mạng, Thiệu Trị,… được khắc trực tiếp trên kiến trúc cung đình Huế, cụ thể là trên liên ba, đố bản các công trình Triệu Miếu, Thế Miếu, lăng Minh Mạng, lăng Thiệu Trị, lăng Dục Đức… Nguồn tư liệu này có nội dung đề cao các vị thần linh, ca ngợi sự che chở của thần linh thông qua lễ hội và công lao của hoàng đế, ghi chép nhạc lễ, các nghi thức cầu đảo và các nghi lễ khuyến nông… Tất cả đã phản ánh nhiều nội dung về nghi lễ tế hưởng, được thể hiện trên thơ, văn, mà các loại hình tư liệu khác không đề cập, nên đó là những tư liệu gốc, có giá trị đặc biệt trong nghiên cứu lễ hội cung đình. Ngày 19/5/2016, Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế, đã được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, lại càng khẳng định giá trị đặc biệt và độc đáo của nguồn tư liệu này. 1.1.4. Nguồn tài liệu tiếng Pháp Trong quá trình khảo sát tư liệu, NCS đặc biệt quan tâm đến nguồn tư liệu tiếng Pháp, nhất là qua các nguồn tài liệu dưới dạng hồi ức, du ký và các chuyên khảo được thực hiện công phu, đăng tải trên các tập san uy tín hồi đầu thế kỷ XX. Trước tiên, phải kể đến công trình Souvenir de Hué (Hồi ức Huế) của Michel Đức Chaigneau, mô tả khá kỹ đời sống lễ nghi cung đình Huế thời Gia Long cho đến đầu thời vua Minh Mạng. Qua đó, giúp NCS có thêm cứ liệu, góc nhìn mới về nghi lễ cung đình Huế trong mối quan hệ đồng đại, lịch đại . Luận án kế thừa nguồn tài liệu quí giá được đăng tải trên Bulletin des Amis du Vieux Hué (Tập san của Hội Đô thành hiếu cổ – BAVH), La revue indochinoise (Tạp chí Đông Dương)… Đáng lưu ý là các tác giả L.Cadière, R.Orband, H.Coserat đã có những bài khảo cứu công phu, trên nhiều khía cạnh về lễ hội cung đình, nhất là với sự mô tả kỹ lưỡng về nghi thức, phẩm vật, trai giới, diễn trình các lễ hội, sơ đồ lễ tế Giao… Đặc biệt là ở đó, còn có những ghi chép kỹ lưỡng về trang phục của vua, quan, ở những vị trí, thời điểm cụ thể, để nhấn mạnh điển chế, tính thiêng và lòng trung quân qua nghi lễ, hay H.Délétie (1916) đi sâu giới thiệu về nghi thức lên đồng qua lễ rước sắc thần Thiên Y A Na ở điện Huệ Nam , bài viết rất sinh
  6. 15. 15 trên Tạp chí Nam Phong, tập trung mô tả nghi lễ tế Giao thời các vua đầu triều Nguyễn từ vua Gia Long đến vua Tự Đức. Đáng tiếc là ở đây, các tác giả chưa chú trọng phân tích, đối chiếu đến những thay đổi của nghi lễ dưới ảnh hưởng của bối cảnh chính trị xã hội đương thời. Đến năm 1942, trên Tạp chí Đông Dương số 83, có một số bài viết về Nam Giao như “Le Nam Giao” của P.Boudet, “Le Nam Giao” của Nguyễn Khoa Toàn, “Le Nam Giao – Sacrifice au ciel et à la terre” (Lễ Nam Giao – Tế trời và đất) của P.Boudet ghi chép chi tiết lễ tế Giao ngày 29/3/1942. Qua đó, có thể thấy tác giả đã mô tả lại lễ tế Giao năm 1942 và có một số chi tiết thay đổi về thời gian tế lễ, tế phẩm, đoàn ngự đạo… Dù hoàn cảnh kinh tế, chính trị của đất nước gặp nhiều khó khăn, xáo trộn, nhưng các nghi lễ vẫn được thực hiện theo điển chế của triều đình. Nhìn chung, các nghiên cứu trên đã tập trung làm sáng tỏ các khía cạnh khác nhau của nghi lễ tế Giao từ việc chuẩn bị lễ tế, trai giới, phẩm vật, nghi thức, diễn biến lễ tế, sơ đồ đàn tế…, giúp NCS tiếp cận và hiểu kỹ hơn về lễ tế Giao. Tuy nhiên, các tác giả cũng chưa lý giải rõ vai trò của đế quyền và triết lý được thể hiện trong nghi lễ và phân tích những tác động của bối cảnh xã hội làm biến đổi lễ hội; chỉ cung cấp thông tin sơ lược mà chưa chú trọng phân tích, đánh giá về vai trò và ý nghĩa của chúng đối với triều Nguyễn nhìn từ góc độ chính trị, xã hội và văn hóa. Hầu hết các bài viết chỉ tập trung nói về đàn Nam Giao và lễ tế Giao chứ không nghiên cứu riêng về các lễ tiết triều Nguyễn. Ở khía cạnh khác, một số tác giả người Pháp còn khảo cứu về nghi lễ Đại triều, tiêu biểu như “Les grands Lais à la Cour d’Annam” (Lễ Đại triều ở triều đình Việt Nam) của E.Gras; và “Les grands Lais” (Lễ Đại triều) của Jacques Altar, trên BAVH, số 2/1915. Các tác giả mô tả một cách chi tiết về lễ Đại triều và phác họa nên không gian nghi lễ trang nghiêm chốn triều nghi. Điểm đáng tiếc là bài viết chỉ dừng lại ở việc mô tả nghi lễ Đại triều mà chưa nhấn mạnh quan điểm về triết lý Nho giáo thể hiện trong nghi lễ. Mặc dù vậy, đây vẫn là nguồn thông tin giúp NCS tiếp cận và hiểu rõ hơn khung cảnh một nghi lễ quan trọng thời Nguyễn. Về các nghi lễ khác, có thể kể đến bài viết “Le sacrifice au Drapeau” (Lễ tế Đạo kỳ) của Đặng Ngọc Oánh (BAVH, số 4/1915), tập trung mô tả chi tiết, làm rõ nguồn gốc cũng như nêu bật lên được ý nghĩa của lễ tế Đạo kỳ. Ông cũng là tác giả của bài viết về lễ tức vị của hoàng đế Khải Định “L’intronisation de l’Empereur”, càng làm nổi bật diễn trình và ý nghĩa của nghi lễ thông qua quá trình đối sánh với lễ tức vị của vua Hàm Nghi “L’intronisation du roi Hàm Nghi” của chúng tôi Marchant de Trigon, hay Lễ Đại triều nghi
  7. 16. 16 “La grande cérémonie de cour dite Dai Trieu Nghi” của SE. Le Ministre de Rites và Lê Bính (BAVH, Số 2/1917). Đề cập rộng hơn về lễ hội Huế, cần chú ý đến bài viết “Les fêstes à Hué” (Lễ hội ở Huế) của R.Orband (BAVH, số 2/1916), hay Vân Thạch giới thiệu “Lễ Nghênh xuân” và Tiên Đàm với vấn đề “Tục thờ cúng tổ tiên” (Tạp chí Tri Tân, số 34/1942). Qua đó, có thể giúp phác thảo nên tổng thể văn hóa truyền thống Việt Nam nhìn từ những biểu hiện lễ nghi có tính chất đặc trưng, xuyên suốt nhất. Nhìn chung, trong giai đoạn trước năm 1945, đã có nhiều học giả, nhất là người Pháp, quan tâm tìm hiểu về lễ hội, với nhiều bài viết về các khía cạnh khác nhau của một số lễ hội cung đình triều Nguyễn. Tuy nhiên, tất cả vẫn chỉ dừng lại ở mức độ mô tả các sự kiện trong diễn trình lễ hội, đặc biệt là nghi lễ tế Giao, mà thiếu hẳn những công trình đi sâu khảo sát về lễ hội cung đình triều Nguyễn, nhất là ngoài việc mô tả, còn chưa đi sâu nghiên cứu quá trình hình thành và biến đổi của lễ hội cung đình để khái quát nên nguyên nhân, tính chất, đặc điểm, giá trị đặc trưng trong từng bối cảnh lịch sử xã hội tương ứng, trong mối quan hệ tác động qua lại, nhiều chiều của tổng thể các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội. Từ đó, dẫn đến sự biến đổi của một số lễ hội cung đình truyền thống và hình thành nên một số lễ hội cung đình mới, cả về qui mô, thời gian, tính chất, đặc điểm… 1.2.2. Các công trình nghiên cứu từ năm 1945 đến trước năm 1975 Trong giai đoạn này, có nhiều tác giả nghiên cứu về lễ hội hơn, nhất là ở miền Nam, tập trung vào các lễ hội lớn, thuộc hàng đại tự như lễ tế Giao, lễ tế Xã Tắc. Đáng chú ý là các bài viết về “Đám rước Thần Nông” (Bửu Kế, Tạp chí Bách Khoa, số 98/1961) và bài “Nhìn qua các nghi lễ triều đình Huế” (Bửu Kế, Tạp chí Bách Khoa, số 5/1967). Cũng với cái nhìn tương tự, tác giả Phan Khoang đề cập đến “Lễ tiến xuân, nghênh xuân dưới triều Nguyễn” (Tập san Văn Sử Địa, tập 5/1967), hay Nguyễn Đổng Chi xem xét “Một số tục cổ và trò chơi của người Việt Nam trong tết Nguyên đán và Mùa xuân” (Tập san Văn Sử Địa, số 37/1958). Trong Việt sử tân biên Phạm Văn Sơn năm 1952 -1969, viết về lịch sử nhà Nguyễn trong bối cảnh đất nước đương thời khá đầy đủ, nhất là chú trọng phân tích những điều kiện khách quan tác động trực tiếp đến tình hình xã hội, đặc biệt là nghi lễ cung đình Huế , nghiên cứu nghiêm túc và bài bản về lễ hội cung đình Việt Nam khi khảo cứu và giới thiệu 36 đại lễ từng được tổ chức dưới các triều Lý – Trần – Lê – Tây Sơn – Nguyễn và 11 vũ khúc cung đình, chủ yếu là vũ khúc cung đình thời Nguyễn. Điểm đáng tiếc là các số liệu, tư liệu, sự kiện… được sử dụng trong sách không
  8. 21. 21 cụ thể. Ở đây, tác giả cũng nêu lên ý kiến hỗ trợ công tác bảo tồn, phục dựng, đáp ứng nhu cầu du lịch văn hóa, đặc biệt là văn hóa tâm linh vùng đất Huế. Nhìn chung, từ năm 1975 đến nay, vấn đề lễ hội cung đình triều Nguyễn dần dần đã được các nhà nghiên cứu quan tâm, đạt được nhiều kết quả trên nhiều khía cạnh, góc độ tiếp cận. Tuy nhiên, có thể nhận thấy những kết quả đó vẫn mới dừng lại mô tả hiện tượng lễ hội trong từng thời điểm rời rạc, các nhà nghiên cứu chỉ tập trung vào các bài viết về một số nghi lễ thuộc lễ Đại tự như lễ tế Giao, tế Xã Tắc, tế Miếu, hay đề cập sơ lược đến các lễ hội mùa xuân, đặc biệt là trong bối cảnh nhiều lễ hội cung đình đã được phục dựng, tái hiện trong những năm gần đây. Do vậy mà cho đến nay, đề tài lễ hội cung đình triều Nguyễn (từ 1802 đến 1945) vẫn chưa được xem như một đối tượng hoàn chỉnh để tìm hiểu, nghiên cứu thấu đáo, nhất là về sự hình thành và biến đổi của nó theo dòng chảy của lịch sử. Xét một cách tổng thể, nhất là về việc nhìn nhận, đánh giá và quản lý nhà nước thì lễ hội cung đình trong một thời gian dài hầu như bị lãng quên. Chính vì vậy mà khi thống kê 403 lễ hội trên khắp cả nước của Bùi Thiết (Từ điển hội lễ Việt Nam, Nxb Văn hóa, HN, 1993), hay 385 lễ hội của Lê Trung Vũ và Nguyễn Hồng Dương (Lịch lễ hội, Nxb VHTT, HN, 1997) thì ở cả hai công trình, đều không đề cập đến những lễ hội cung đình đã từng tồn tại trong lịch sử Việt Nam. Hơn nữa, trong thống kê di sản lễ hội ở Việt Nam năm 2003 của Cục Văn hóa Thông tin Cơ sở (thuộc Bộ Văn hóa Thông tin, nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) thì cả nước có 8.902 lễ hội, với 25 lễ hội du nhập từ nước ngoài, 7.005 lễ hội dân gian, 1.399 lễ hội tôn giáo, 409 lễ hội lịch sử cách mạng, 64 lễ hội khác, nhưng cũng không đề cập đến lễ hội cung đình . Ngược lại, các tài liệu chính sử để lại cho chúng ta thấy triều Nguyễn rất quan tâm tổ chức các lễ Tiết và Tế tự, như Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (Chính biên) đã dành 68 quyển trong tổng số 263 quyển để bàn về các quy thức, điển chế tổ chức thực hiện nghi lễ, tế tự. Chúng tôi thống kê có hơn 100 lễ hội cung đình, không phải đều do triều Nguyễn đặt ra mà đó là kết quả của một quá trình kế thừa, tiếp thu, bổ túc và điều chỉnh liên tục suốt thời Nguyễn. Điều đó khẳng định tế lễ là hoạt động quan trọng trong chính sự của triều Nguyễn, đồng thời cho thấy sự phong phú của các loại hình lễ hội cung đình Huế.
  9. 22. 22 1.3. KẾ THỪA KẾT QUẢ TỪ CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 1.3.1. Kế thừa kết quả của các công trình đã nghiên cứu Vấn đề về lễ hội cung đình triều Nguyễn từ đầu thế kỷ XX đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, trong đó có đóng góp rất lớn của các học giả người Pháp, dù rằng kết quả nghiên cứu chưa đầy đủ, thiếu tính toàn diện, chỉ tập trung vào các nghi lễ đại tự. Từ sau năm 1945 đến những năm cuối thế kỷ XX, hầu như không có công trình nào nghiên cứu về lễ hội cung đình một cách toàn diện, trừ bản tiểu luận cao học Sử của Lê Văn Phước nghiên cứu về lễ tế Giao. Đến đầu thế kỷ XXI, việc tìm hiểu lễ hội cung đình triều Nguyễn nói chung và các nghi lễ tế tự nói riêng được nhà nước chú trọng, thu hút nhiều nhà nghiên cứu tham gia thông qua các hoạt động hội thảo, nghiên cứu tư liệu để phục dựng các lễ tế Đại tự (như lễ tế Giao, lễ tế Xã Tắc) cùng một số nghi lễ khác như Vinh quy bái tổ, lễ Đổi gác, lễ Niêm hương… Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, luận án đã kế thừa một số nội dung cơ bản như sau: – Về phương pháp luận trong nghiên cứu lễ hội: Từ các kết quả nghiên cứu đã có, tác giả luận án nhận thấy muốn nghiên cứu thành công lễ hội cung đình triều Nguyễn, phải áp dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic, kết hợp phương pháp nghiên cứu liên ngành để đối chiếu, so sánh; đồng thời kế thừa kết quả nghiên cứu khảo cổ học, khảo sát điền dã và khảo cứu các hiện vật trong bảo tàng để nghiên cứu toàn diện về hình thức tế lễ, nghi thức, trang phục, âm nhạc… Từ đó, tổng hợp nhiều yếu tố để thấy rõ vai trò của hoàng đế, khẳng định vị thế chính danh, tính tự tôn và tư tưởng độc lập tự chủ của hoàng đế, của triều đại. – Về nội dung: Kế thừa thành tựu nghiên cứu của các tác giả đi trước, tìm ra điểm bất cập, khiếm khuyết để bổ sung, làm rõ các vấn đề, khía cạnh quan trọng trong nghiên cứu về lễ hội cung đình trên cơ sở tổng hợp, so sánh, phân tích, đánh giá về lễ hội cung đình dưới sự chi phối chung của bối cảnh kinh tế, chính trị – xã hội đương thời. Từ đó, khẳng định giá trị đặc trưng, sức sống và sự vận động của lễ hội cung đình triều Nguyễn trong diễn trình lịch sử dân tộc, trải qua các triều đại trước triều Nguyễn cho đến giai đoạn hiện nay. – Về tư liệu: Kế thừa các nguồn tài liệu về lễ hội cung đình của các tác giả đi trước để có phương thức khai thác bổ sung, hệ thống hóa trở thành cơ sở dữ liệu, phục vụ đắc lực cho việc nghiên cứu chuyên sâu về lễ hội cung đình nói chung và lễ hội cung đình triều Nguyễn nói riêng. Thông qua phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp, luận án đặc
  10. 24. 24 nhiều khía cạnh khi xem xét nó trong bối cảnh Kinh đô Huế của nước Đại Nam. Chính sự thay đổi của bối cảnh lịch sử, tất yếu làm cho lễ hội cung đình triều Nguyễn cũng chịu sự biến đổi tương ứng qua các thời kỳ, cho nên sẽ góp phần tham chiếu phù hợp cho vấn đề nghiên cứu, tái hiện lễ hội cung đình ở Huế trong giai đoạn hiện nay, với vai trò là một trung tâm văn hóa và du lịch. – Về nội dung: Luận án rút ra những đặc điểm then chốt nhất của lễ hội cung đình triều Nguyễn và đánh giá, nhìn nhận giá trị đặc trưng, vai trò, tính chất của lễ hội dưới thời quân chủ và xem xét tác động ảnh hưởng của nó trong đời sống đương đại. Điều này khẳng định tính chính danh, chính thống của lễ hội cung đình triều Nguyễn ở Huế trong vai trò, và tư cách là một di sản văn hóa độc đáo, đặc trưng, hội tụ nhiều tinh hoa bản sắc văn hóa truyền thống và bản lĩnh Việt Nam, được thể hiện trên nhiều khía cạnh, nhiều hình thái đặc trưng. Chính đó là cơ sở thiết thực cho việc tham vấn, đề xuất kiến nghị đến các cơ quan hữu quan để nghiên cứu, tái hiện và quản lý lễ hội cung đình trong bối cảnh hiện nay. Sức sống của lễ hội cung đình triều Nguyễn thể hiện rõ ở chỗ luôn vận động thích ứng với hoàn cảnh lịch sử vốn có nhiều biến động, đổi thay, đặc biệt là trong mối quan hệ giao lưu ảnh hưởng mạnh mẽ, có lúc phức tạp đến căng thẳng, cực đoan với văn minh Pháp. Điều đó được thể hiện trên hai phương diện: một số nghi lễ được rút gọn cho phù hợp tình hình mới, đồng thời càng củng cố bản lĩnh quốc gia, ý thức dân tộc, đặc biệt là về phương diện đời sống lễ nghi để hình thành nên những nghi lễ mới, đáp ứng nguyện vọng cấp thiết, mục đích tối thượng của nhà vua và của cả vương triều.
  11. 25. 25 CHƯƠNG 2 LỄ HỘI CUNG ĐÌNH TRIỀU NGUYỄN GIAI ĐOẠN 1802 – 1885 2.1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH 2.1.1. Một số khái niệm Lễ nghi tế tự: Theo điển chế triều Nguyễn qui định, lễ nghi tế tự bao gồm tất cả các lễ tế, được tổ chức hằng năm do triều đình thiết đặt tại các đàn, miếu và đền, để phụng thờ các vị thần linh (thiên thần, nhân thần), được định ra thành ba bậc là Đại tự, Trung tự và Quần tự1 . Lễ tiết2 : theo điển chế triều Nguyễn, lễ tiết bao hàm các nghĩa thời tiết (một năm chia làm 24 tiết, như Lập xuân, Xuân phân …), khánh tiết (tiết Vạn thọ, Thánh thọ, Thiên xuân, Thiên thu, Từ cung thánh thọ…) và có khi được kết hợp hài hòa giữa thời tiết và khánh tiết, như các ngày lễ tết Nguyên đán, Tam nguyên (Thượng nguyên, Trung nguyên, Hạ nguyên), Đoan ngọ… Nghi thức triều hội: bao gồm các nghi thức hoạt động trọng đại của triều đình như lễ Đăng quang, lễ Tấn tôn, lễ Đại triều, lễ Thường triều, lễ Truyền lô, lễ Tiếp đãi sứ thần… Lễ hội cung đình triều Nguyễn hay lễ hội cung đình ở Huế: Ở đây, luận án xem xét hệ thống nghi lễ cúng tế hay lễ tiết và nghi thức triều hội chốn cung nội luôn bao gồm hoạt động lễ và hội, có giá trị đặc trưng trong những không gian, hoàn cảnh và thời điểm lịch sử cụ thể, nên được gọi là lễ hội cung đình triều Nguyễn. Huế là kinh đô của triều đại nhà Nguyễn nên cũng có thể gọi đó là lễ hội cung đình Huế. 1 Ở mỗi cấp độ, bao gồm các lễ: – Đại tự: Tế Giao, Triệu Miếu, Thái Miếu, Hưng Miếu, Thế Miếu, điện Phụng Tiên, điện Hiếu Tư, điện Long An, miếu Triệu Tường, miếu Trừng Quốc công, các lăng tẩm của các vị chúa Nguyễn và các vua triều Nguyễn, đàn Xã Tắc. – Trung tự: Miếu Lịch đại đế vương, miếu Lê Thánh Tông, Văn Miếu, đàn Tiên Nông. – Quần tự: Tế tại đền Khải Thánh, Võ Miếu, miếu Quan Công, miếu Quốc vương Chiêm Thành, miếu Quốc vương Chân Lạp, miếu Khai quốc Công thần, miếu Trung Hưng công thần, miếu Trung tiết công thần, miếu Đô Thần hoàng, miếu Hội đồng, miếu Thai Dương phu nhân, miếu Nam Hải long vương, miếu Hậu thổ, miếu Tiên y, miếu Vũ sư, miếu Phong bá, miếu Thiên phi, miếu Sơn thần, miếu Tiên nương, miếu Phong bá, miếu Hỏa thần, miếu thờ thần Hổ, miếu thờ thần các đảo, đàn Âm hồn, đàn Sơn xuyên, miếu thờ Thổ kỳ, từ đường thờ các thần huân; từ đường thờ gia tiên các phi tần có công lao, đức hạnh lớn với hoàng gia… 2 Chữ tiết (節): có nghĩa là chữ được dùng trong cuốn Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ do Nội các triều Nguyễn biên soạn, hàm chứa các nghĩa sau: “Thời tiết, một năm chia ra làm 24 tiết, như: xuân phân, lập xuân”, “ngày thọ của vua” và “ngày Tết”.
  12. 26. 26 2.1.2. Các lễ hội cung đình trước triều Nguyễn (968-1802) 2.1.2.1. Lễ hội cung đình thời Đinh (968-980) và Tiền Lê (980-1009) Thời Đinh, kinh đô nước Đại Cồ Việt đóng ở Hoa Lư, gắn liền xu hướng hình thành thể chế quân chủ độc lập ở phương Nam, nên bộ máy nhà nước được kiện toàn, xây dựng cung điện, thiết lập triều nghi và định phẩm hàm quan văn võ, tăng quan. Việc đặt niên hiệu Thái Bình của Đinh Tiên Hoàng đế năm 970 là biểu trưng cho ý chí độc lập của triều đại mới, để rồi từng bước tái lập trật tự trong nước sau nhiều năm xáo trộn, ngoài việc củng cố triều chính, ban hành một số điều luật nghiêm khắc, triều đình còn chế định nhiều nghi lễ để củng cố triều nghi, suy tôn và khẳng định đế quyền. Theo xu hướng phong kiến hóa và chuẩn mực Nho giáo, triều đình Tiền Lê tổ chức lễ Tịch điền năm 987: “Vua lần đầu cày ruộng tịch điền ở núi Đọi được một hũ vàng nhỏ. Lại cày ở núi Bàn Hải, được một hũ bạc nhỏ, nhân đó đặt tên là ruộng Kim Ngân” , hay nhân dịp sinh nhật nhà vua, triều đình tổ chức nhiều cuộc vui chơi, đặc biệt là lễ đua thuyền: “Ngày rằm là ngày sinh của vua, sai người làm thuyền ở giữa sông, lấy tre làm núi giả đặt trên thuyền, gọi làm Nam Sơn, rồi làm lễ vui đua thuyền, về sau thành lệ ” .
  13. 27. 27 2.1.2.2. Lễ hội cung đình thời Lý (1010 -1225) Dấu ấn nổi bật cho sự khởi đầu của nhà Lý là dời đô về Đại La và đổi tên thành Thăng Long (năm 1010), gắn liền với việc xây dựng kinh đô, kiện toàn tổ chức bộ máy nhà nước, chú trọng đầu tư phát triển lễ nghi và lễ hội ở Kinh thành Thăng Long. Để khuyến khích nghề sông nước và khích lệ lòng tin của người dân, triều đình thường tổ chức lễ hội đua thuyền: “Vua ngự điện Linh Quang xem đua thuyền, đặt lễ yến tiệc mùa thu” . Từ việc lấy ngày sinh nhật vua, triều đình định nên tiết Thiên thành, tổ chức thành lệ theo đúng qui thức (tháng 2/1021), “…lấy tre kết làm một ngọn núi gọi là Vạn Thọ Nam Sơn ở ngoài cửa Quảng Phúc, trên núi làm nhiều hình chim bay thú chạy, muôn vẻ lạ kỳ. Lại sai người bắt chước tiếng cầm thú làm vui để ban yến cho bề tôi” . Đến mùa xuân, năm 1032, vua Lý Thái Tông ngự đến Tín Hương ở Đỗ Động Giang cày ruộng Tịch điền, gặp nhà nông dân có một cây lúa chiêm chín bông, nên xuống chiếu đổi gọi đó là ruộng Ứng Thiên . Gắn liền với ruộng Tịch điền là đàn Xã Tắc, được vua Lý Thái Tông cho lập nên từ năm 1048 ở ngoài cửa Trường Quảng, bốn mùa cầu đảo cho mùa màng bội thu . Để khẳng định tính chính danh của triều đại, vua Lý Thái Tông cho rước thần Đồng Cổ từ Thanh Hóa về Thăng Long, xây đền Đồng Cổ (nay thuộc Phường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội) để thờ phụng và hàng năm, các quan phải đến đây để đọc lời thề: “Làm con phải hiếu, làm tôi phải trung, ai bất hiếu, bất trung, xin quỷ thần trị tội” . Ngày cuối năm, vua ngồi giữa cửa Đoan Củng, các quan đều tới hành lễ, trong khi người dân Kinh thành mở cửa đốt pháo, la hét, cỗ bàn, trà rượu để thờ cúng tổ tiên. Vào khoảng canh năm của ngày đầu năm, nhà vua ngự điện Vĩnh Thọ, con cháu hoàng gia cùng các quan cận thần tới mừng tuổi rồi vào cung Trường Xuân vọng bái tiên tổ. Buổi sáng, vua ngự điện Thiên An, giữa các phi tần và các quan trong nội, có ca nhạc trước đại đình. Con cháu và các quan đều sắp hàng bái hạ qua ba lần rót rượu dâng vua. Đêm về, vua cùng bề tôi tới dự yến tại đài Chúng Tiên. Trước và sau yến tiệc, các quan làm lễ chín lạy và chín tuần rượu. Ngày mồng hai tết, các quan đều làm lễ riêng ở nhà. Ngày mồng ba tết, vua ngự ở gác Đại Hùng xem con cháu cùng các quan nội cung chơi ném bóng cầu được thêu trên lụa màu. Sau tiệc khai hạ ngày mồng năm Tết, quan dân đi lễ chùa miếu và du ngoạn các vườn hoa nổi tiếng. Ngày Lập xuân, vua truyền cho tông trưởng dùng roi mây đánh vào một con trâu bằng đất, rồi các quan mặc triều phục vào cung dự tiệc. Nghi lễ này đánh dấu việc đồng áng bắt đầu. Đặc biệt là ngày rằm tháng Giêng diễn ra lễ Triều đăng. Một cây đèn được đặt giữa sân rộng, với nhiều ngọn đèn sáng rực xung quanh, thầy tu đứng dưới cây đèn tụng kinh và các quan bái lạy. Thời Trần Thái Tông, các lễ hội lớn được tổ chức, như ngày mồng 4/4 hàng năm, nhà vua đến đền thờ thần núi Đồng Cổ, cùng uống máu ăn thề, trai gái bốn phương đứng xem chật ních bên đường như ngày hội lớn. Đến ngày 5/5, người ta dựng một cái tháp ở giữa sông và vua tới ngự xem đua thuyền . Trong khi đó thì đương thời, lễ tế Văn Miếu được tiến hành thường xuyên theo Xuân Thu nhị kỳ, do vua chủ tế hoặc các hoàng thân, đại thần khâm mạng. Theo đó thì gần đến ngày tế, bộ Lễ phải kê khai lễ vật (lụa, tiền, gạo nếp) để giao bộ Hộ phát cho các quan giám hạ, giám tri, thái quan, lương uẩn để mua sắm đầy đủ, rồi quan bộ Lễ kiểm tra kỹ càng. Tuy nhiên, đến thời Hồ Quý Ly, đã có sự thay đổi hoàn toàn nghi lễ hoàng triều theo ảnh hưởng của nhà Minh. Có thể kể đến lễ tế Thiên khi được cử hành tại đàn thờ ở phía Nam Tây Đô (Thanh Hóa). Đàn Nam Giao được xây dựng năm 1402 trên núi Đốn
  14. 30. 30 Sơn (xã Vĩnh Thành, huyện Vĩnh Lộc) và trong lễ tế Giao, nhà vua ngồi kiệu, các quan văn võ và cung tần, mệnh phụ theo hầu. Việc này từng bị Phan Huy Chú coi là “làm nhảm cả lễ mà khinh thường cả Trời” theo quan điểm Nho giáo chính thống, coi đó như Trời bất bình và trừng phạt . Sau đó, trang phục trong nghi lễ của triều Hồ kế thừa chế độ mũ áo nhà Trần với những chiếc mũ Khước phi, Viễn du, Thái tổ, Cao sơn… vốn là mũ của bá quan nhà Hán, thể hiện rõ tâm lý sùng cổ, nhấn mạnh yếu tố văn vật của nhà Hồ, dù triều đại chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn. 2.1.2.4. Lễ hội cung đình thời Lê Sơ (1428 – 1527), Mạc (1527 – 1592), Lê Trung Hưng (1533 – 1789). Nếu như nghi lễ ở các triều đại trước còn đơn giản thì đến đời Lê, lễ chế đã được kiện toàn, phong phú và tường tận hơn cho phù hợp với nhu cầu lễ nghĩa của thời đại đặt ra và tất cả đều được chép thành điển lễ. Ngay từ ngày đầu khởi nghĩa (đầu năm 1418), quân Lam Sơn đã cho đắp đàn tế trời đất ở phía Nam núi Thiên Nhẫn (huyện Nga Lạc, Thanh Hóa) để chuẩn bị cho lễ đăng quang. Tháng 9 năm đó, công việc hoàn tất, Nguyễn Trãi cho bày nghi trượng, cờ xí, trước đài dựng 5 lá cờ ứng với ngũ hành; giữa bày 28 khẩu thần công ứng với nhị thập bát tú; phía ngoài đàn dàn 8 đội binh mã, ứng với bát quái. Trên đàn đặt hương án bày ấn kiếm, Lê Lợi cùng các quan văn đứng bên hữu, Nguyễn Trãi và các võ tướng đứng bên tả. Các quan rước Lê Lợi lên đàn quỳ đốt hương khấn: “Lợi vi thần dân sở bách, suy tôn vương, tương cử nghĩa binh, cứu dân tảo tặc Phục kỳ thiên địa chứng minh mặc tướng quốc gia, phúc trăn trường cửu” (Lợi phải thần dân nài ép, tôn lên ngôi vương, sắp khởi nghĩa binh, mong ra cứu dân dẹp giặc. Dám xin trời đất chứng minh, giáng phúc cho nhà nước lâu dài) . Năm 1467, nhà vua cho “làm lễ tế Văn Miếu” [35; 2, tr.414], và dần dần, đã có sự điều chỉnh theo hướng điển

【#6】Mầm Đậu Nành Có Tác Dụng Gì Cho Sức Khỏe, Làm Đẹp?

Sử dụng mầm đậu nành thường xuyên không chỉ làm đẹp da mà còn cải thiện sức khỏe và sinh lý nữ. Các chuyên gia sức khỏe khuyên rằng, phụ nữ nên bổ sung đậu nành mỗi ngày để duy trì vóc dáng, chắc khỏe xương và lưu giữ nét thanh xuân cho bản thân mình.

Mầm đậu nành có tác dụng gì?

1. Tăng kích cỡ vòng 1

Sử dụng mầm đậu nành là phương pháp giúp phụ nữ có thể tăng vòng 1 hiệu quả. Thay vì sử dụng dao kéo đầy nguy hiểm, chị em có thể tích cực bổ sung tinh chất mầm đậu nành mỗi ngày cho bản thân mình. Các nghiên cứu cũng đã chứng minh, lượng Isoflavones có trong mầm đậu nành sẽ giúp ổn định và tăng cường nội tiết tố nữ.

Đồng thời, mầm đậu nành còn giúp làm nở ngực, kích thích lớp mỡ đệm trong bầu ngực phát triển tốt hơn. Các nghiên cứu cũng chứng minh, thường xuyên sử dụng mầm đậu nành sẽ giúp săn chắc bầu ngực, kích thước ngực lớn lơn gấp 5 lần. Với hàm lượng chất đạm, khoáng chất, vitamin cao sẽ giúp kiểm soát tình trạng thừa cân ở phụ nữ.

2. Ngăn chặn tình trạng ung thư

Thành phần phytoestrogen trong mầm đậu nành còn ngăn ngừa tình trạng ung thu vú, ổn định huyết áp, hạ mỡ máu. Đặc biệt, chất genistein còn có tác dụng chống oxy hóa, bảo vệ các tế bào của cơ thể trước sự tấn công của tia UV, ngăn ngừa ung thư da. Do đó, phụ nữ nên tích cực bổ sung tinh mầm đậu nành cho cơ thể của mình để ổn định và bảo vệ sức khỏe.

3. Kiểm soát rối loạn tiền mãn kinh

Hầu hết những phụ nữ bước sang tuổi mãn kinh, những rối loạn trong cơ thể bắt đầu tăng lên. Lượng estrogen ở phụ nữ giảm dần. Chị em thường rất dễ bị bốc hỏa, khó chịu, khô da, cáu gắt.

Bên cạnh đó, thành phần phytoestrogen trong tinh mầm đậu xanh còn giúp ngăn ngừa chứng rối loạn sau mãn kinh, kiểm soát bệnh tiểu đường. Với những phụ nữ dễ tăng cân, bạn có thể uống sữa đậu nành để cải thiện cân nặng, ngăn ngừa béo phì hiệu quả.

4. Chữa trị bệnh tim mạch

Các nghiên cứu cho thấy, trong tinh mầm đậu nành có chứa chất chống oxy hóa mạnh, ngăn ngừa tình trạng xơ vữa động mạch. Bên cạnh đó, chất béo bão hóa trong mầm đậu nành còn giúp ức chế quá trình vận chuyển cholesterol trong máu hỗ trợ cải thiện tình đàn hồi của động mạch.

5. Chống lão hóa da, cân bằng nội tiết tố nữ

Trong mầm đậu nành có chứa hàm lượng lớn isoflavon, vitamin E, vitamin C. Những thành phần này có tác dụng rất tốt trong việc ngăn ngừa lão hóa da. Đặc biệt, nhờ khả năng chống oxy hóa cao còn giúp kiểm soát tình trạng tổn thương da, cải thiện làn da thâm nám.

Ngoài ra, thành phần isoflavon còn hỗ trợ tăng cường lưu thông estrogen trong cơ thể trong cơ thể phụ nữ. Bổ sung tinh mầm đậu nành là cách cải thiện nội tiết tố nữ, giúp làn da mịn màng, trắng hồng, lưu giữ nét thanh xuân cho phái đẹp.

6. Phòng ngừa bệnh loãng xương

Phụ nữ sau 30 tuổi đều rất dễ đối diện với tình trạng bị loãng xương. Lúc này, cơ thể bị hạn chế khả năng hấp thụ hoặc tổng hợp lượng canxi và vitamin D. Nếu không bổ sung chất dinh dưỡng cho cơ thể mỗi ngày, chị em sẽ rất dễ đối diện với tình trạng đau nhức xương khớp, mỏi lưng, cổ, vai,… Các chuyên gia sức khỏe khuyên rằng, phụ nữ nên bổ sung cho cơ thể mỗi ngày một ly đậu nành để tăng cường lượng canxi cần thiết, ngăn ngừa bệnh xương khớp, loãng xương.

7. Ngăn ngừa vết nám, tàn nhang

Thành phần dưỡng ẩm trong mầm đậu nành có tác dụng rất tốt trong việc chăm sóc và làm đẹp da. Nếu sử dụng đậu nành thường xuyên, bạn sẽ nhanh chóng có được làn da căng bóng, mịn màng, cải thiện độ đàn hồi, ngăn ngừa nếp nhăn. Hơn nữa, tinh mầm đậu nành dễ dàng đi sâu vào các tế bào da, giúp làn da hấp thụ được các dưỡng chất dễ dàng hơn. Từ đó, loại bỏ vết nám và tàn nhang trên làn da hiệu quả.

8. Bổ sung nội tiết tố nữ

Theo chúng tôi Nguyễn Thị Lâm (Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia) cho biết, Mỗi ngày, phụ nữ nên hấp thụ cho cơ thể 45 mg Isoflavon có trong tinh mầm đậu nành, kể cả phụ nữ mang thai. Bằng nhiều hình thức khác nhau như ăn đậu phụ, uống sữa đậu nành, bột đậu tương,… Chị em cần phải tích cực bổ sung lượng Isoflavon cho cơ thể.

9. Bổ sung dưỡng chất cần thiết cho cơ thể

Lượng axit amin có trong đậu nành sẽ bổ sung cho cơ thể dưỡng chất cần thiết. Bên cạnh đó, hàm lượng đạm trong mầm đậu nành cao. Ngoài ra, thành phần vitamin, khoáng chất giúp tăng cường sức đề kháng, giúp cơ thể hấp thụ chất dinh dưỡng tốt hơn. Do đó, mọi người có thể cung cấp mầm đậu nành cho bản thân của mình.

10. Hỗ trợ giảm cân, tăng cân

Ít ai biết rằng, mầm đậu này còn có tác dụng giảm cân cho phụ nữ. Lượng đạm trong đậu nành rất cao giúp giảm cảm giác thèm ăn. Đồng thời, chất béo không no còn được tích cực chuyển hóa nên lượng mỡ thừa trong cơ thể không tích tụ.

Ngoài ra, vitamin, khoáng chất, vi chất giúp chị em có thể cân đối được dinh dưỡng cho cơ thể, hỗ trợ tối đa cho quá trình giảm cân, cải thiện vóc dáng. Với những phụ nữ muốn tăng cân, bạn có thể bổ sung nhiều mầm đậu nành cho cơ thể hơn.

11. Giảm gãy rụng, bảo vệ tóc

Sử dụng tinh mầm đậu nành thường xuyên là cách giúp mọi người có thể ngăn ngừa được tình trạng gãy, rụng, xơ rối tóc. Thành phần protein trong bột đậu nành có tác dụng dưỡng tóc rất tốt. Với những bạn gái có mái tóc thưa, bạn nên tích cực bổ sung đậu nành cho cơ thể. Đây là cách giúp bạn sớm có được mái tóc bồng bềnh đen mượt theo thời gian.

12. Cải thiện chuyện phòng the

Những chị em bị suy giảm nội tiết tố, giảm ham muốn sinh lý, gặp khó khăn trong vấn đề quan hệ vợ chồng thì nên sử dụng mầm đậu nành mỗi ngày. Thành phần Isoflavones giúp tăng cường nội tiết tố nữ, cải thiện chuyện “phòng the”. Đồng thời giúp phụ nữ cảm thấy thoải mái, yêu đời hơn. Tình trạng nám, tàn nhang trên da cũng dần mờ đi đáng kể.

Không phải ai cũng dùng được mầm đậu nành

  • Người mắc các bệnh lý như u xơ tử cung, u lạc nội mạc tử cung, u xơ tuyến vú
  • Phụ nữ có thai và cho con bú cần cân nhắc trước khi sử dụng các chế phẩm có chứa tinh mầm đậu nành.

Bên cạnh đó, những đối tượng sau được phép bổ sung tinh mầm đậu nành cho bản thân mình, nhằm tăng sức đề kháng, bổ sung.

  • Phụ nữ độ tuổi 18 trở lên
  • Phụ nữ có chức năng sinh lý giảm sút, da khô sạm, khô âm đạo, da kém mịn màng, xuất hiện nám, tàn nhang,…
  • Phụ nữ tuổi mãn kinh, tiền mãn kinh với các triệu chứng khó chịu trong người như tóc khô xơ, bốc hỏa, mất ngủ, da sần sùi,…
  • Người tăng cân, béo phì, không kiểm soát được cân nặng.
  • Phụ nữ có làn da xuất hiện nhiều mụn trứng cá, mụn mủ, mụn bọc,…
  • Phụ nữ có kích cỡ vòng 1 nhỏ, muốn cải thiện.
  • Phụ nữ bị rối loạn nội tiết tố cơ thể, bị đa nang buồng trứng, thiếu hụt Estrogen,…

Bổ sung mầm đậu nành đúng cách giúp da đẹp dáng xinh

  • Chỉ nên uống mầm đậu nành với lượng vừa phải, không được uống quá nhiều trong ngày vì cơ thể không thể hấp thụ hết. Việc mọi người uống quá nhiều sữa đậu nành sẽ gây lãng phí do cơ thể đào thải ra ngoài.
  • Uống sữa đậu nành trước khi đi ngủ 30 phút sẽ giúp ngủ ngon và sâu giấc hơn.
  • Bổ sung sữa đậu nành ấm sẽ giúp tăng kích thước vòng 1, làm đẹp da.
  • Nếu muốn tăng cân, bạn có thể uống sữa đậu nành sau khi ăn khoảng 20 phút. Mầm đậu nành sẽ nhanh chóng bổ sung nguồn năng lượng còn thiếu hụt trong cơ thể.
  • Ngược lại, với những phụ nữ muốn giảm cân, bạn nên uống sữa đậu nành trước khi ăn 20 phút. Mầm đậu nành sẽ cung cấp chất dinh dưỡng vừa đủ, giúp bạn kiểm soát cân nặng của mình.
  • Để duy trì ổn định xương khớp, ngăn ngừa loãng xương, chị em nên uống mỗi ngày 1 cốc sữa đậu nành nguyên chất.
  • Bạn có thể sử dụng mầm đậu nành để thay thế cho bữa ăn sáng. Đây là cách giúp bạn đổi khẩu vị nhưng vẫn duy trì được chất dinh dưỡng cung cấp cho cơ thể. Một bữa sáng nhanh, ngon, tiết kiệm nhưng có thể giúp bạn cần bằng được nội tiết tố nữ estrogen, làm đẹp da, ngăn ngừa nám, tàn nhang hiệu quả.
  • Khi bổ sung tinh mầm đậu nành trực tiếp, bạn nên cung cấp cho cơ thể với một lượng vừa phải. So với những chế phẩm từ đậu nành, bạn nên hạn chế dùng nhiều tinh mầm đậu nành.
  • Lựa chọn địa chỉ mua mầm đầu nành uy tín để đảm chất lượng

Hy vọng những thông tin trên sẽ giúp đọc hiểu rõ hơn về mầm đậu nành và những tác dụng tuyệt vời của nó. Với người phụ nữ, mầm đậu nành luôn là người bạn đồng hành giúp lưu giữ vẻ đẹp, vóc dáng thon gọn. Do vậy, chị em nên tích cực bổ sung sữa đậu nành cùng các chế phẩm từ đậu nành để bảo vệ sức khỏe của bản thân mình.

【#7】Những Lưu Ý Khi Làm Lễ Cúng Nhập Trạch Về Nhà Mới

Nếu Gia chủ chỉ nhập trạch lấy ngày và chưa chuyển đồ về ngay, thì các bước tiến hành tương tự, xem như là chuyển bàn thờ gia tiên và bàn thờ thần linh về nhà mới trước, đồ đạc sẽ chuyển về nhà sau. Tốt nhất nên ngủ lại 1 đêm. Trong thời gian chưa chưa chính thức chuyển về cũng nên thường xuyên đến trông nom và thắp nhang để tạo sinh khí cho ngôi nhà.

Lễ nhập trạch nhà thuê, nhà trọ là không bắt buộc và tùy vào tín ngưỡng của mỗi người. Nhiều người quan niệm rằng mình chuyển tới nơi ở mới, bàn thờ tổ tiên, thần linh cũng chuyển đi nên việc làm lễ khấn nhập trạch nhà trọ, nhà thuê là cần thiết. Nhưng cũng nhiều người cho rằng nhà thuê là nhà cửa, đất đai của người khác, mình chỉ là người ở tạm nên không cần làm lễ. Tuy nhiên, nếu bạn muốn làm lễ nhập trạch vẫn có thể thực hiện bình thường theo các bước trên.

Nghi thức xông nhà mới: Không bắt buộc trong nghi thức nhập trạch nhưng bạn có thể thực hiện để xua đuổi tà khí và làm hanh thông không khí trong nhà. Chỉ cần mua một ít thảo dược, trầm hương, đốt trong lư hương và xông khắp nhà, đặc biệt xông ở các khu vực ẩm thấp, các ngóc ngách để làm mới không khí tồn đọng trong ngày.

Trấn nhà: Thường dùng là đá phong thủy hợp mệnh với gia chủ, hoặc tiền xu, chia ra chôn 4 góc nhà để cầu may mắn, sung túc cho gia chủ. Nhưng hiện tại các nhà đều xây cố định, lót gạch và thậm chí nhà có hình thù phức tạp, không rõ góc nhà. Vậy nên gia chủ có thể cho các vật trên vào các hủ nhỏ, bọc vải đỏ và đặt ở các góc nhỏ khuất trong nhà, có thể nhiều hơn 4.

Treo chuông gió: Chuông gió hay còn gọi là phong linh, theo quan niệm dân gian sẽ có tác dụng luân chuyển không khí, xua đi tà khí, hút tài vận. Nên chọn chuông gió có màu sắc hợp với mệnh của gia chủ.

Trước khi chuyển đến nhà mới, bạn phải xin phép chuyển bàn thờ gia tiên và thần tài, thổ địa.

Thường thì bà bầu hoặc người tuổi dần không nên tham gia chuyển nhà. Tuy nhiên có lòng thành và tuân thủ những gì cần làm trong lễ nhập trạch thì phụ nữ mang thai hay người tuổi Dần đều có thể tham gia chuyển nhà.

Giữ tinh thần thoải mái vui vẻ, nói những điều tốt đẹp trong thời gian làm lễ nhập trạch. Cẩn thận di chuyển đồ đạc tránh rơi vỡ đồ. Nếu cẩn thận có thể thuê dịch vụ chuyển nhà trọn gói để giảm thiểu các sự cố và tiết kiệm thời gian.

Không nên ngủ trưa lại nhà mới vì đó là biểu hiện của sự lười biếng, ù lì.

Lưu ý vấn đề cháy nổ khi đốt vàng mã hoặc đốt lò than chánh ảnh hưởng xấu đến hàng xóm.

Thực ra Nghi lễ chuyển nhà mới khá đơn giản, do đó bạn có thể tự cúng nhập trạch tại nhà. Nếu gia đình nào có điều kiện hoặc chuyển dọn nhà với quy mô lớn và đặc biệt tin vào phong thủy thì có thể mời thầy cúng về nhập trạch. Nhưng quan trọng nhất vẫn là lòng thành của gia chủ với các vị thần linh.

【#8】Bài Cúng Về Nhà Mới, Các Bước Làm Lễ Nhập Trạch Chi Tiết Nhất

BÀI VĂN KHẤN :

Cụ thể bài khấn nhập trạch đối với thần linh như sau:

Nam mô a di đà Phật! (nhắc 3 lần)

Con xin kính lạy chín phương Trời, cùng Chư Phật mười phương. Kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ và chư vị Tôn thần.

Con xin kính lạy Thần Linh Thổ Địa, Bản Gia Táo Quân, tất cả các vị thần linh cai quản xứ này.

Con tên là:………………………, tuổi mệnh (ví dụ: Tân Dậu 1981,…)

Hôm nay nhân ngày lành tháng tốt, ngày ….. tháng…. năm….(nhằm ngày ….. tháng…. năm…. âm lịch), con sắm sửa lễ vật, hương quả trầu cau bày lên trước án, xin kính cẩn tâu trình đến chư vị thần linh:

Các vị Thần linh,

Thông minh chính trực,

Giữ ngôi tam thai.

Nắm quyền tạo hoá.

Thể đức hiếu sinh.

Phù hộ dân lành.

Bảo vệ sinh linh.

Nêu cao chính đạo.

Gia đình của chúng con vừa xây cất (mua được/thuê được) ngôi nhà tại địa chỉ này là….Nay công trình viên mãn, mọi sự hoàn thành, chọn được ngày lành tháng tốt nên cúi mong chư vị Thần linh tề tựu thụ hưởng lễ vật, cho chúng con được nhập trạch vào nhà mới, sau đó lập bát hương thờ cúng thần linh.

Cũng xin các vị thần anh minh cho chúng con được rước vong linh gia tiên của chúng con về nhà mới tại….thờ phụng.

Cầu xin được thần linh chứng giám, gia ân tác phúc, phù hộ độ trì cho gia đình làm ăn phát đạt, an ninh, khang thái, cuộc sống an lành,

Tín chủ cũng xin thành tâm được mời những hương linh phảng phất, các vong hồn không nơi nương tựa quanh đây đến thụ hưởng lễ vật. Mong được phù trì ăn nên làm ra, cuộc sống an lạc, gia đạo thuận hòa, phòng tránh được những điều xui rủi.

Chúng con dù lễ bạc nhưng tâm thành, xin cuối đầu kính lễ, cúi mong được thần linh chứng giám.

Cẩn cáo!

Nam mô a di Đà Phật! (nhắc 3 lần)

VĂN KHẤN NHẬP TRẠCH NHÀ MỚI – VĂN KHẤN GIA TIÊN

Khi đã xin phép thần linh, thì tiếp theo đọc văn cúng nhập trạch cáo yết gia tiên xin phép ông bà tổ tiên cùng về nhà mới để con cháu được tiếp tục thờ cúng.

Nam mô a di Đà Phật! (nhắc 3 lần)

Con xin kính lạy LIỆT TỔ LIỆT TÔNG… (họ của ông bà, tổ tiên) GIA TẠI THƯỢNG

Kính lạy CỬU HUYỀN THẤT TỔ NỘI NGOẠI GIA TIÊN LINH.

Con tên là ….. Hôm nay ngày lành tháng tốt, là ngày……tháng….. năm……(nhằm ngày…tháng…năm…âm lịch)

Chúng con vừa dọn đến nhà mới ở địa chỉ:…………..

Nhờ ân phúc của tổ tiên, ông bà phù hộ mà gia đình đã tạo dựng được nơi ở mới. Hôm nay chúng con đã sắm sửa lễ vật, hoa quả hương nhang, trầu cau, xin thành tâm thắp nén nhang dâng lên án thờ. Kính cẩn cầu xin tổ tiên, chư vị hương linh nội ngoại chứng giám cho lòng thành, tề tựu về đây thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho con cháu được xuất nhập bình an, gia đạo thuận hòa, cuộc sống hưng thịnh, mọi điều bình an mạnh khỏe.

Chúng con cũng xin được rước tổ tiên về địa chỉ mới …. để tiếp tục được thờ phụng, hương nhang mỗi ngày, thể hiện chữ hiếu của con cháu.

Lễ bạc tâm thành, chúng con xin được kính lễ, cúi mong tổ tiên chứng giám ưng thuận, thọ cảm ân sâu.

Cẩn cáo!

Nam mô a di Đà Phật! (nhắc 3 lần)

CÁCH ĐỌC BÀI KHẤN NHẬP TRẠCH NHƯ THẾ NÀO MỚI ĐÚNG?

Không bắt buộc bạn phải học thuộc hai bài cúng vào nhà mới phía trên. Có thể in ra hai tờ giấy nhỏ và cầm đọc. Đọc to hay nhỏ tùy ý. Nhưng yêu cầu hàng đầu là phải thành tâm và trịnh trọng khi đọc văn cúng nhập trạch.

Người đọc văn khấn chuyển nhà và trực tiếp làm lễ nhập trạch nên là người đàn ông trụ cột trong gia đình, như cha, con trai trưởng,… Nếu nhà vắng nam nhân thì người mẹ/hoặc vợ sẽ là người làm thay.

Nếu bạn chuyển đến chung cư, thì bài cúng nhập trạch nhà chung cư nên bổ sung chính xác số phòng, tầng lầu, khu nào, càng chi tiết càng tốt. Văn khấn nhập trạch nhà thuê thì không có gì khác biệt. Tóm lại bạn có thể áp dụng hai bài cúng chuyển nhà nêu trên trong nhiều tình huống (nhà mới xây, nhà mua lại, căn hộ, chung cư, nhà thuê, nhà trọ,…) và tùy chỉnh sao cho phù hợp nhất tình trạng của mình!

Về thời điểm đọc bài cúng nhập trạch, bạn làm theo trình tự sau:

Sau khi dọn tới nhà mới, gia chủ cầm theo bát hương bước qua lò than đặt trước cửa, các thành viên theo sau cầm theo các đồ may mắn. Tiếp theo bày lễ theo hướng hợp với chủ nhà, người này sẽ đốt nhang rồi đọc văn khấn (bài cúng nhà mới phía trên). Tiếp đó nấu nước pha trà dâng lên mâm thờ. Lúc nhang tàn thì hóa vàng, nhớ đốt luôn cả mảnh giấy ghi bài văn khấn. Như vậy là đã có thể dọn vào nhà mới.

vnbay,bài học cuộc sống,Bài Cúng Về Nhà Mới,bài cúng nhập trạch,lễ cúng về nhà mới,mâm cúng nhập trạch,cúng vào nhà mới,cách cúng về nhà mới,bài khấn về nhà mới,lễ nhập trạch nhà chung cư,lễ cúng nhập trạch,cách cúng nhà mới,nhập trạch lấy ngày,có nên chuyển đồ trước khi nhập trạch,bài cúng về nhà mới mua,văn cúng về nhà mới,lễ về nhà mới.

Xin chân thành cảm ơn.

【#9】Đêm Nào Cũng Mơ Thấy Cô Gái Bế Đứa Bé Đầy Máu, Vợ Mời Thầy Cúng Về Làm Lễ Rồi Chết Sững…

Chị và anh kết hôn đã được 10 năm và hiện tại đang có cuộc sống rất hạnh phúc bên 2 đứa con nhỏ. Do tính chất công việc nên anh vẫn thường xuyên phải đi công tác.

10 năm qua như thế nhưng chị vẫn một mực tin tưởng ở chồng chứ không hề nghi ngờ anh trăng hoa bên ngoài. Nhiều người cứ bảo chị vô tư nhưng chị bảo, chồng chị thì chị biết tính, nếu không tin tưởng nhau thì làm sao hạnh phúc được từng ấy năm.

Nhưng lạ một điều, từ ngày chồng chị chuyển về gần thì cũng là lúc chị gặp chứng mất ngủ ban đêm. Và kinh khủng nhất là đêm nào chị cũng mơ một giấc mơ kinh khủng rồi sau đó thì thức tới sáng. Ác mộng chị thường gặp trong đêm đó chính là một cô gái không rõ mặt bế đứa trẻ mới sinh người đầy máu về đứng ở cửa căn phòng ngủ của hai vợ chồng.

Chị hoảng sợ vô cùng, giật bắn mình tỉnh dậy nhìn sang thì chồng vẫn đang ngủ say giấc. Chị hỏi chồng đêm có ngủ ngon không thì anh nói ngủ ngon chứ không có vấn đề gì xảy ra cả. 4 ngày liền như thế chị phờ phạc hốc hác hẳn đi, tưởng vợ ốm nên anh bảo chị đi khám bác sĩ, chị cũng đi nhưng bác sĩ nói chị không có bệnh gì. Lúc này thì chị biết nguyên nhân từ đâu rồi.

Nghe bạn bè giới thiệu có ông thầy cúng cao tay nên chị có ý định mời thầy về. Tuy nhiên việc mời thầy là rất khó vì thầy đông khách và chi phí cũng khá tốn kém. Nếu muốn thỉnh được thầy về ngay thì phải chấp nhận mất gấp đôi giá tiền, còn chờ đợi theo đúng lượt thì chưa biết ngày nào thầy mới tới được. Mà có khi phải đợi cả năm. Cứ nghĩ tới giấc mơ kinh hoàng hàng đêm khiến chị sợ muốn chết nên chị quyết định rút tiền về mời thầy với giá gấp đôi. Hi vọng thầy sẽ giúp vong hồn mẹ con cô gái lạ kia không còn hù chị nữa.

Chị đưa cho đứa bạn 500 triệu và nhờ nó tìm cách thỉnh thầy về. May mắn cuối tuần đó thầy đã thu xếp tới được nhà chị ngay. Thầy đến ban ngày và chồng chị thì vốn không tín nên hôm ấy chị cũng nói khéo để anh đưa 2 con đi chơi cả ngày mà không ảnh hưởng gì tới chuyện của chị. Cô bạn giúp chị mua những thứ mà thầy yêu cầu.

Hôm ấy chỉ có 3 người là thầy cúng, chị và cô bạn. Thầy làm lễ, chị đang cúi gập khấn lạy thì bỗng giật bắn mình khi thấy hét lên một câu rồi phăm phăm đi tới cái bàn thờ nhà chị. “Người ta ở trên này này, vì chết ấm ức nên người ta về người ta oán đấy”. Thầy vừa nói vừa chỉ vào cái bát hương nhỏ được để một góc trên bàn thờ nhà chị. Chị giật bắn mình khi nhìn bát hương lạ ấy.

Nhà chị tại sao lại có bát hương còn mới mà lạ thế này trên bàn thờ, sao chị lại không biết chuyện này. Có lẽ nó mới chỉ xuất hiện ở đó khoảng 1 tuần nay thôi vì mới đầu tháng chị vẫn thắp hương bình thường mà. Bát hương được để góc khuất, chắc chắn là chồng chị đã mới lập thêm bát hương, nhưng anh thờ ai sao không nói cho chị biết?

Chị tiến lại nhấc cái bát hương ấy lên thì tá hỏa khi thấy dưới bát hương ấy là hình ảnh một cô gái. Chị đã ngồi thụp xuống đất miệng ú ớ không nói lên lời, cô bạn phải đỡ chị đứng dậy, cô gái chị chưa từng gặp ngoài đời nhưng lại gặp trong giấc mơ. Dù giấc mơ ấy chị không nhìn rõ mặt cô ta.

Kể từ lúc đấy chị như người mất hồn cứ ngồi gục một xó, chỉ có cô bạn giúp thầy mọi việc. Tối hôm ấy anh trở về nhà vẫn hồ hởi như mọi khi nhưng nét mặt chị thì tái lại. Tôi ấy anh chị có cuộc nói chuyện với nhau, chị chìa tấm ảnh ra trước mặt anh: “Ai vậy anh? Sao anh lại lập bát hương thờ cô ấy, anh nói đi”?

Anh hốt hoảng tột độ, miệng ú ớ mãi một lúc sau mới có thể thốt lên lời: “Anh xin lỗi, hơn 1 năm trước anh và cô ấy có qua lại với nhau. Cô ấy mang bầu với anh nhưng anh không biết. Trước khi quyết định chuyển về gần nhà làm anh có lên gặp cô ấy lần nữa thì mới biết cô ấy đã mất do đẻ khó, đứa bé cũng mất. Bạn cô ấy nói rằng cô ấy kể cái thai trong bụng là con anh. Anh hối hận vô cùng trước cái chết của mẹ con cô ấy nên đã giấu em lập bát hương thờ 2 mẹ con. Cô ấy mồ côi bố mẹ không người thân thích tội lắm”.

Giờ thì chị hiểu tại sao giấc mơ cô gái bế đứa trẻ mới sinh người đầy máu luôn ám ảnh chị hàng đêm rồi. Anh quỳ xuống xin lỗi chị mong chị hãy tha thứ cho lỗi lầm của anh. Nhưng cũng từ tối hôm đó chị đã ngủ ngon hơn, lần cuối cùng chị mơ thấy cô ấy không phải là cô ấy bế đứa bé đứng trước cửa như mọi lần nữa mà là bóng cô ấy khuất dần.

Chuyện lỗi lầm của chồng cũng đã qua, người thì cũng đã khuất nên chị cũng không giàu vò anh thêm nữa. Theo lời thầy chị đã lập một bàn thờ riêng cho mẹ con cô ấy và hương khói đều đặn, cũng mong họ dưới suối vàng được yên nghỉ và tha thứ cho lỗi lầm của chồng chị.

Đàn ông, cho dù gần hay xa vợ cũng luôn thích vụng trộm, dùng cái thói trăng hoa của mình để buông những lời chòng ghẹo, tán tỉnh và lúc nào cũng gây ra hậu quả. Gặp phải những cô bồ nhí sành đời thì sẽ tìm đủ mọi cách để phá vỡ hạnh phúc gia đình, làm tổn thương vợ con ở nhà. Còn những những cô gái thật thà, vội tin vào lời ong bướm của đàn ông thì số phận lại thêm một người phụ nữ nữa đau khổ. Vậy nên đàn ông, đừng làm phụ nữ phải khổ thêm nữa, có được không?

【#10】Nên Làm Gì Với Quần Áo, Vật Dụng Của Người Thân Vừa Qua Đời?

Nói đến chết tức là nói đến sống, có sống có chết có sanh có diệt, có họai diệt rồi tiếp tục tái sanh theo nghiệp thức. Có sanh sôi nẩy nở, giải quyết việc sanh tử của đời người là bàn đến nhân sinh quan, việc lúc nào cũng hiện hữu đồng hành cùng con người.

Việc cúng 49 ngày cho người quá vãng có ý nghĩa gì?

Vấn: Gia đình con vừa có người thân qua đời nên phải lo chuyện cúng tế tang chay rất nhiều phiền não. Quả thật là gia đình nhà con rất khả giả và có điều kiện. Các vật dụng áo quần người vừa mất cũng toàn là hàng hiệu. Mọi người bảo đó là quần áo người mất nên đốt đi. Thay vào đó, cả nhà lại lo đi mua áo quần vàng mã đốt để thay thế vì bảo như vậy người thân không bị đói lạnh, có tất cả những điều họ cần nơi âm giới. Nếu không đốt họ sẽ về đòi. Có gia đình gần đó người thân hiện về bảo rất đói kém, cần phải đốt áo quần vàng mã nên gia đình họ đốt cả nhà lầu, xe hơi, điện thoại iphone, tiền đô la rất nhiều, kể cả người hầu như một vương phủ. Con không hiểu người đã mất rồi đốt vàng mã như vậy là có đúng không và người âm có nhận được hay không? Áo quần của người đã mất có phải đốt đi không? Nếu cho người khác mặc vậy người nhận áo quần ấy có bị làm sao không? Có cần phải cúng tế, trì chú, đọc kinh gì để hóa giải tất cả những điều này không? Con xin cảm ơn Sư.

Đáp: I. Việc sống chết

Bàn đến lễ tang là bàn đến việc chủ chánh của con người là: “Sống chết”. Nói đến chết tức là nói đến sống, có sống có chết có sanh có diệt, có họai diệt rồi tiếp tục tái sanh theo nghiệp thức. Có sanh sôi nẩy nở, giải quyết việc sanh tử của đời người là bàn đến nhân sinh quan, việc lúc nào cũng hiện hữu đồng hành cùng con người. Sống và chết bàn hết cả đời người, từ đời nầy sang đời khác cũng không xong chuyện, sự sống chết là sự chuyền nối nhau như mắc xích, như hạt giống lên mầm sanh ra cây, cây trở lại thành trái và cho ra hạt giống, con người cũng thế cứ chuyền nối nhau sanh sanh hóa hóa không hồi kết thúc (Việc tái sanh – Kinh Na Tiên Tỳ Kheo). Nói về nhân sanh và vũ trụ, Đức Phật hướng dẫn mọi người thật chi tiết về thân ngũ uẩn, nói đến thân ngũ uẩn thì lúc nào cũng đi theo một quy luật hòa hiệp rồi ly tan, nhân sự hiệp tan mà Phật có nhắc đến thân vô thường, khổ, không, vô ngã. Nhờ đó giúp cho mọi người hiểu và thường xuyên quán chiếu để giảm bớt khổ đau, tiến lần đến tâm không còn khổ đau hướng về thánh thiện.

Theo Phật giáo do con người còn mang thân tứ đại. Tứ đại hay lục đại là tấm thân mình hình thành bởi đất (Thịt, gân, xương), nước (Máu mủ và các loại nước trong thân), lửa (Hơi nóng), gió (Hơi thở), thức đại (Sự hiểu biết), không đại (Trí giác), có hình thành có tan rã . Do vô thường nên thấy có sống đó rồi chết đó, do vô ngã nên biết thân là duyên hợp, huyễn hoặc không tồn tại, chết rồi tái sanh không theo ý muốn. Cuộc sống con người chỉ trong một niệm (Sát na vô thường), một hơi thở (Nhất kỳ vô thường), thở ra không hít vào là chết. Thân người luôn nằm trong quy luật sanh, trụ, dị, diệt đó là vô thường có sống ắt có chết, có sanh tất có diệt. Chúng ta không thể có những đòi hỏi nào hơn khi con người được sanh ra thì mang lại niềm vui cho mọi người, khi con người chết thì đem lại sự khổ đau cho mọi người. Con người là trọng tâm của sự sống, có con người có trí giác, có huệ lực có tất cả, con người mà vô tâm dù có sống như xác không hồn. Ví như máy xe có nhiều bộ phận được lắp ráp bởi trí tuệ con người và con người điều khiển khối sắt tổng hợp ấy biết chạy trăm cây số giờ.

Trong 36.000 ngày trên hành tinh này con người là trung tâm của tham luận. Chính sự bàn luận đó cũng có khi đưa con người đến chân thiện mỹ, cũng có khi sự bàn luận đưa đến áp lực, o ép, ức chế, hận thù là chuyện trăm năm không bao giờ chấm dứt. Với con người nếu không có tôn giáo, không có tôn ti trật tự thì không có đạo đức. Con người không có phương hướng chống đỡ những thiên tai địch họa. Tôn giáo là trí tuệ và đạo đức, có trí tuệ con người mới có cơ sở tìm lối thoát, lối thoát cho chính bản thân và con người, lối thoát cho cộng đồng và xã hội. Trí tuệ là nền tảng đưa con người vượt sống chết, giải thoát những khổ đau phiền não trong giây phút hiện tại, có như thế con người mới rảnh tâm rảnh tay mà giải quyết việc cộng đồng.

Cúng cơm cho người đã mất có ăn được không? II. Sự sanh

Trước nhất chúng ta nói một ít về hành trình của con người khi được sanh ra và đến với thế gian. Con người được sanh ra trong cuộc đời, nói về đời sống thì rất đa dạng phong phú. Khi vừa được lọt lòng mẹ, người thân phải lo liệu cầu trời khẩn Phật váy van tứ phương, mẹ sanh mẹ độ cho trẻ lành mạnh, mẹ tròn con vuông, lo cho sự ấm áp của tấm thân Ông bà nội ngọai thì lo bảy lo ba làm sao cho mọi việc tốt lành đến với cháu, lo cho bà mẹ được lành lặn để nuôi con,. Mặc khác lại tìm cách đặt tên cho trẻ làm sao cho không trùng lấp với thân tộc, đến cơ quan hộ tịch lo giấy khai sanh, nhập hộ khẩu cho con mong sao trong tương lai con có vị trí vững vàng với xã hội. Theo tập tục cha me lúc nào cũng chăm hẳm với thời gian, bảo vệ con, tính tháng tính ngày mừng con được đầy tháng, rồi tròn một năm 12 tháng, sắm sanh lễ vật mừng lễ “Thôi nôi”. Nếu là gái, me phải lo cho việc “Xỏ lỗ tai đeo bông liền”, sắm cho con trẻ những vật dụng nhiều màu sắc giúp cho con có tầm nhìn xa, ngắm nghía những cái đẹp, là trai thì được sắm sanh xe cộ cho con tung tăng tập tành cho mau khôn lớn được vẫy vùng trong thiên hạ. Những ca dao nói về tình Cha nghĩa Mẹ như sau:

Đi khắp thế gian không ai sánh bằng mẹ

Gian khổ cuộc đời ai nặng gánh hơn cha.

Nước biển mênh mông không đong đầy tình mẹ

Mây trời lồng lộng không phủ kín công cha.

Tảo tần sớm hôm mẹ nuôi con khôn lớn

Đưa tấm lưng gầy cha che chở đời con

(Diễn đàn Lê Quý Đôn – Chúc Khả)

Trẻ mới sanh là trọng tâm của gia đình, con được sanh ra trong nhà giàu hay nghèo đều được cha mẹ lo cho con ăn học, nghèo giàu có khác nhau, nhưng cái lo liệu cho con thì không khác. Những ước mơ cho tương lai, sự ước mong trên hết là làm sao con có chí khí, có trí thông minh không thua sút mọi người, nên thân nên phận, thành nhân chi mỹ, gánh vác việc đời, việc xã hội, việc nhà.. Việc cuối cùng trông con đến tuổi “Thành nhân” là dựng vợ gã chồng mong sao cho con hạnh phúc an vui. Trai thì nối dòng tông phong vọng tộc, Gái thì làm tỏ rạng gia phong

Dạy cho con biết việc đời

Đi trong nhân thế rạng ngời gia phong

Trai thì nối dõi giống dòng

Gái thì đức hạnh sạch trong vẹn toàn

Nói đến sự chết, trong gia đình gọi là “Hữu sự”. “Hữu sự” tức là nhà có người qua đời (Chết) có lễ tang. Sự mất mát của người thân, một bước ngoặc của đời người, mọi người đau đớn vì từng hòa hiệp rồi nay lại ly tan, một cú xốc lớn trong đời người, nhất là những cái chết bất đắc kỳ tử, hoạch tử, trẻ chết, đẹp chết, ngoan chết, chết do thiên tai. Đối với người trẻ trung hay trẻ thơ, hoặc có những hiện tượng xảy ra như người thân cùng huyết thống dòng họ qua đời liên tục liên táng, gia đình sẽ cảm thấy lo âu, đơn phương đối diện với cuộc sống tẻ nhạt vô cùng. Tâm trí cứ mãi ưu tư sợ rằng gia đình mất đức thiếu phước nên cái chết liên tục đến, là một sư lo lắng có điều gì đó ập đến gia phong.

Sự chết đem lại tiếc nuối với một người đã được đào tạo thành nhân chi mỹ, đang có trách nhiệm phụng sự gia đình xã hội, giờ nầy lại qua đời, chết trong cái không thể chết, chắc chắn phải được người thân dù giàu hay nghèo cũng đều lo liệu tế lễ tang chế đặc biệt. Người Á đông nói chung, người Việt nói riêng lo tang chay cho người đã qua đời dường như là một vinh dự lớn trong đời người làm con cháu, làm người thân trong gia đình. Tại lễ tang mọi người có dịp gặp nhau phân định xưng hô thứ lớp trong gia đình, nhìn bà con, những người lớn chưa được nhiều người biết hôm nay được giới thiệu để mọi người biết. Lúc bấy giờ người chủ tang được coi như người có quyền lực và quan trọng nhất tại cuộc lễ. Người chết rồi thì được trưng bày một bàn thờ thật trang nghiêm, vong vị đường hoàng, mọi người đến viếng cúng đôi liễng, trướn, hoa cườm, hoa tươi treo giáp nhà, phúng điếu tiền để trong phong bì.

Ngày nay theo lễ nghi của miền Bắc, một ít ở miền Trung, Nam việc phúng viếng là quan trọng. Người phúng viếng sau khi dâng hương tường niệm người quá cố, rồi để phong bì tiền trong thùng kiếng. Khi có người xá hay lạy thì con cháu quỳ lạy đáp. Việc cúng cơm cũng không dám đơn sai trễ nải, sợ vong hồn người thân bi đói khát tội nghiệp. Sau lễ tang người có trách nhiệm xây mộ kiến thiết nhà mồ thật trang trọng, lúc nào cũng giữ sạch, dáng vẽ uy nghi tráng lệ nhằm để nói lên phần mộ nầy có con cháu báo hiếu chăm sóc hằng ngày. Cũng có gia đình hoàn cảnh đơn chiếc lắm, đau lòng khi người chết bị phủ phàng, hoặc không ai hương khói cúng quảy

Từ việc tế sống đến việc tế chết, cũng như mừng sinh nhựt (Sống), hay tang chế (Chết) có ảnh hưởng lớn đến đời sống con người. Từ vua chúa cho đến quan lại, từ hàng cửu phẩm đến hàng thứ dân, từ giàu đến nghèo ai ai cũng có bổn phận với trời đất, trời cha đất me, với tổ tiên ông bà cha me tại tiền cũng như khuất núi. Việc thiết lập đàn Nam giao, đàn Xã tắc ở cố đô Huế vào thế kỷ 17 của nhà Nguyễn, việc người dân xây dựng từ đường cũng thế đó, rất có ý nghĩa tôn trọng đạo trời đất, đạo ông bà có ảnh hưởng đến tâm linh rộng lớn, bao la của trời đất. Đó là tôn vinh 8 chữ vàng trung, tín, lễ, nghĩa, hiếu, để, liêm, sĩ.

Người Việt học Phật, có câu “Vạn hạnh Bồ tát hiếu nghĩa vi tiên”. Do quá trình du hóa hội nhập lễ tang theo nghi nhà Phật luôn có pha trộn ảnh hưởng văn hóa đa phương, một phần tư tưởng hình nhi hạ của Khổng tử, dân tình lúc nào trong lòng cũng kính thờ tổ tiên, những người đã khuất bóng. Trong sách Trung Dung của Tử Tư thường dạy: Kính trọng người chết cũng như người còn sống, trọng người đã mất như người còn sống, có câu:

“Sự tử như sự sanh,

Sự vong như sự tồn”,

Nghĩa là sự chết như sự sống, sự mất mát cũng như tồn tại, chết cũng không khác sống, những việc đã mất cũng không khác mấy như viện hiện hữu. Trong chốn thiền môn quý Sư Thầy thường giảng câu: “Dương gian Âm phủ đồng nhất lý”. Không đâu như người Á đông, nhất là người Việt Nam dù có đi xa quê hương xứ sở, dù có lỡ quên địa chỉ hình ảnh nơi chôn nhau cắt rún, dù có thay thiên đổi địa, dù có chiến tranh tàn khốc làm mất dấu vết quê hương, hoặc đi theo một ý tưởng nào xa lạ bên trời âu Mỹ đi nữa họ cũng vẫn thờ cúng tổ tiên ông bà cha mẹ ruột thịt. Lúc nào họ cũng hoài cổ, dòng họ huyết thống không bao giờ bị quên lãng.

III. Lễ tang

Tang chế là việc hiếu, là cơ hội cho con cháu báo ân báo hiếu. Tang chế diễn ra trong gia đình khi có người chết, người thân qua đời gọi là lễ tang. Lễ tang quan trọng theo sự chết của người thân, người lớn hay người nhỏ, ông bà cha me hay con cái, dù giàu hay nghèo, nam hay nữ, từ vua quan, cho đến hàng thứ dân đều không tránh khỏi quy luật sanh lão bệnh tử. Chết tức là lui về quá khứ, chuẩn bị cho cuộc sống mới ở tương lai. Chết như người cởi bỏ chiếc áo cũ và tái sanh, như người mặc chiếc áo mới. Cái chết nào của người thân cũng đem lại sự đau buồn nhất trong gia đình. Vì sao? Vì người ruột thịt chết là ra đi vĩnh viễn, trong nhà đột ngột vắng bóng một người, một cuộc xuất hành không bao giờ trở lại với gia đình.

Theo tự điển Việt Nam của Thanh Nghị từ ngữ Lễ tang như sau: Lễ là nghi lễ, tang là tang tóc, tang chế là một cuộc lễ có vẻ ảm đạm tang tóc sầu bi. Hình thức của lễ tang thì buồn lắm. Thập niên 1950 ở quê hương Sư, tại một lễ tang gia đình gia giáo, thuộc ấp Mỹ Thạnh, xã Hòa Định, Quận Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho, tang chủ có người thân là hiền thê 37 tuổi qua đời. Ông chồng cũng trạc chừng 37 tuổi vừa khổ não khóc lóc, cũng vừa lo nhờ người bạn thân khéo tay dùng kéo cắt mo cau thành một đàn chim dán vào mành trúc tạo thành cảnh vật đàn chim tung cánh giữa khung trời đang bay về núi, những con cò đi ăn đêm đậu lại cành cây lông cánh ũ rũ. Lễ tang nầy thật lớn, có nhiều bà con họ hàng thân thuộc, hàng xóm láng giềng tham dự đông dầy, các con các cháu đều tỏ lòng thương tiếc khóc lóc bi ai, kêu gào thảm thiết giải bày vãn than.

Đức Phật niết bàn, chư Trưởng lão do cảm thương Phật, nhớ Phật đã từng để kim quan của Ngài suốt môt tuần lễ, sau khi kết tập Kinh Luật lần thứ nhứt xong mới hỏa thiêu (Trích đoạn Lời tựa Nhị Khóa Hiệp Giải). Lúc bấy giờ có 7 Vương quốc lân bang và Vương quốc Câu Thi na đến canh chừng an ninh nghiêm nhặt, sau khi hỏa thiêu thâu lấy Xá lợi (Xương cốt) vô số. Có ông Trưởng giả Hương Tánh đứng ra ổn định cuộc lễ và phân Xá lợi Phật chia cho tám Vương quốc thờ tại quê hương của xứ mình, tháp thứ chín thờ cái bình, tháp thứ mười thờ tro hài cốt, và tháp thứ mười một thờ tóc Phật khi Ngài còn tại thế gian. Đặc biệt, Phật đản sanh, xuất gia, thành đạo, nhập Niết-Bàn đều nhằm vào ngày mùng 8 tháng hai âm lịch. (Thư viện Hoa Sen – Toàn Không)

Tang lễ của các vị vua chúa rất rườm rà rất hao tốn công sức thiên hạ, như lễ tang thời nhà Lê đã được thương nhân Pháp Jean Baptiste Tavernier thế kỷ 17 ghi lại. Khi vua Lê Hy Tông băng hà thì người ta đem ướp tử thi ngài ngay và đặt lên long sàng. Trong sáu mươi lăm ngày dân chúng mới được phép chiêm ngưỡng, vẫn hầu hạ, dâng cơm như khi vua còn sống. Cơm cúng xong thì một nữa đem biếu các Nhà Sư và một nửa đem bố thí cho người nghèo đói. Khi ngài vừa tắt nghỉ thì chúa Trịnh báo tin ngay cho các quan đầu các đạo và định thời hạn để tang là bao lâu. Thường thì quan võ và quan án ba năm; tôn thất sáu tháng; triều thần sáu tháng và dân sự ba tháng. Trong ba năm để tang vua, bỏ hết các cuộc vui, trừ lễ đăng quang tân quân. Những món ăn dâng vua mới đều đựng trong đĩa phủ sơn đen; vua cạo đầu và đội mũ gai. Các hoàng thân và bốn mươi quan đại thần cũng để tang như vậy đến khi nào rước linh cữu xuống thuyền đem đi an táng một nơi đã định mới thôi. Ba quả chuông đặt trên một ngọn tháp cũng đánh mãi đến khi linh cữu rước xuống thuyền. Ba ngày sau các quan mới được vào làm ai điếu tiên vương và đến ngày thứ mười trở đi hàng thứ dân mới được vào chiêm bái.

Lễ tang các cụ già thì đa phần có con cháu đông đầy, tang chủ rước quý Sư Thầy thuộc hàng giáo phẩm, mua áo quan thuộc loại “Hàng nhứt” bằng gỗ quý ở một nhà mai táng nổi tiếng. Thời gian lễ tang kéo dài cả tuần lễ để cho con cháu ở xa về. Việc đãi đằng ở nông thôn xưa thì giết heo, bò, trâu đãi khách đến viếng lễ tang. Việc tiếp tân cũng có nhiều cách thức đối với các bậc ông Cổ, ông Cả, ông Chủ trong làng đến phúng viếng có khác, các hiệp hội, những người thân, sui gia, bạn bè đến phúng viếng tiếp tân hình thức nhẹ hơn những người già cả. Khi có người phúng viếng thì nhạc lễ trỗi lên báo hiệu và rước người làm lễ phúng viếng. Người chết là Phật tử thì ngoài bàn vong còn có bàn thờ Phật bên cạnh. Các chùa đến viếng nếu có tụng kinh thì tụng ở bàn Phật, gia chủ sẽ trao cho vị chủ lễ 4 cây nhang, một cây dâng tưởng niệm trước bàn vong, còn 3 cây niệm hương tại bàn Phật, phía đại chúng mỗi thầy 2 cây nhang một cây tưởng niệm tại bàn vong, một cây dâng tại bàn Phật. Tùy theo lễ tang, lễ có ít người thì quý Sư Thầy thông báo gia chủ sẽ tụng một thời kinh ngắn cầu nguyện cho hương linh siêu sanh lạc quốc, nếu có đông người đến viếng thì chỉ chia buồn vài lời an ủi với gia chủ. Lễ tang ngày nay đối với các cụ già thì còn chôn cất theo đất nhà, nhưng cũng phải cầu xin lắm với cơ quan thẩm quyền địa phương mới cho phép, còn lại đa phần là thiêu hóa rải trong hư không, rải xuống sông biển, hoặc gởi vào chùa phụng thờ.

Ở Việt Nam người con thọ tang ông bà cha mẹ 3 năm (nói 3 năm chứ chỉ có 24 tháng). Trong 3 năm đó lúc cúng vong tiến linh con cháu phải mặc đồ tang. Ngoài ra người thọ tang dù đi bất cứ nơi nào trong trời đất, hay chỉ đi ra khỏi nhà phải đeo một miếng tang nhỏ màu đen hay trắng, độ chừng 2 cm x 1,5 cm trước ngực hay trên chiếc nón, tang có khi là tang màu đen, tang màu trắng. Trong nhà Phật người đệ tử xuất gia thọ tang Thầy Tổ màu vàng.. Theo một vị Thầy cúng nói về việc thọ tang, con cháu để tang ông bà, tính theo bên Nội, thuộc dòng họ cùng huyết thống, như sau: – Con trai và con gái thọ tang trắng – con trai Trưởng nam thọ tang trắng đội bích cân, có chống gậy (Trong gia đình chỉ có một trai dù là trai đầu lòng, ở giữa hay trai út cũng gọi là trưởng nam) – con rể, con dâu thọ tang trắng – cháu nội thọ tang trắng có chấm đỏ – cháu ngoại thọ tang trắng có chấm xanh – cháu cố thọ tang trắng có chấm vàng.

Việc thờ cúng, kỵ giỗ có phù hợp với giáo lý Phật giáo? Xem lịch số ngày giờ, cúng cơm cho người chết

Người thân qua đời, dù có đi coi Thầy nhằm ngày tốt hay xấu cũng chỉ là thời gian không còn cân đối nữa để cho gia đình quan tâm. Coi là coi vậy thôi chứ hiện nay lịch số thế gian không còn phù hợp và đúng nữa do ảnh hưởng thời tiết khí hậu diễn biến vô chừng, có cả sự nóng lạnh vô chừng theo hiện tượng Elnino, hiệu ứng nhà kín, nạn phá rừng, xây đập thủy điện xen vào…các hiện tượng. Sự tiến bộ của khoa học làm cho lịch số trở thành vô nghĩa, chệch hướng sai với ngày đêm, năm tháng nếu có xem cũng chỉ là nhờ Thầy xem giúp dùm vậy thôi. Vả lại, lịch số ở mỗi nơi có khác nhau, như ở tây bán cầu tính một thế kỷ là 100 năm, ở đông bán cầu tính một thế kỷ là 60 năm, người Maya một năm có 18 tháng, một tháng có 20 ngày, như vậy lịch số có sự trùng lấp với nhau chăng? Chẳng lẻ người Tây phương, người Á đông hay người Maya, người Hồi giáo sẽ chết theo vì những ngày xấu của đạo bên nầy hay xấu của đạo bên kia? Việc Thầy cúng coi ngày giờ năm tháng hiện nay có pha trộn giữa đông và tây, khi thì Việt, khi thì Trung, khi thì nương vào các tôn giáo nên không rõ ngày giờ nào là chuẩn, là xấu là tốt, không còn hiệu lực.

Nhà Phật khắp khuyên bà con Phật tử không nên khóc cho người đã chết, vì làm chấn động thần thức người chết khó mà siêu thoát. Người Hoa kiều ở Chợ Lớn rất sợ người chết dù đó là ông bà cha mẹ, nhưng khóc thì khóc cho người chết dữ lắm, có khi tang chủ mướn người khóc hộ. Năm 1967 tác già bài nầy có kết hợp đưa lễ tang người Hoa qua đời tại bệnh viện Chợ Rẫy, xe tang chỉ đưa từ nhà xác bệnh viện đến nghĩa trang. Khi đoàn tang lễ đi ngang qua nhà, tang chủ không cho đem vô nhà vì sợ ma mới nhập vào nhà, chỉ cho xe tang đi chậm chứ không được ghé, bên cạnh có người đi theo “Khóc mướn” thật thảm thiết bi ai vô cùng

Theo sách Liễu sanh thoát tử có hai dạng người mau đầu thai: Một là người niệm Phật chánh niệm khi lâm chung liền vãng sanh về cõi Phật A Di Đà, hai là người làm việc ác trong thế gian, khi thác liền theo nghiệp thức tái sanh vào kiếp khác ngay để trả quả báo. Số còn lại trung ấm thân chờ đợi thọ cảm nghiệp thức mà lần lượt tái sanh, tức 49 ngày.

Trong những ngày lễ tang, việc cúng cơm do Thầy chủ lễ tang thực hiện. Lúc bấy giờ tang chủ quỳ trước linh án để cúng dâng cơm cho vong linh người thân. Sau khi an táng có các lễ khai mộ (Nếu hỏa thiêu thì giảm việc khai mộ), lễ cúng thất (7 ngày), lễ cúng tuần chung thất (49 ngày), cúng 100 ngày, cúng giáp năm, lễ cúng mãn tang (Mãn khó, xả tang). Trong thời gian 3 năm thọ tang, hằng ngày con cháu cúng cơm 3 lần (Sáng, trưa, chiều) cho người qua đời không được sai sót, bỏ cuộc, cũng có thể cúng cơm hai lần trưa và chiều. Riêng buổi sáng có khi cúng nước trà, cà phê, cúng bánh trái theo sở ý của người chết lúc sanh tiền.

Xử lý vật dụng của người chết

Có những người chết còn để lại nhiều động sản, bất động sản giá trị được người thân tiếp nhận và chia sẻ đồng đếu, có chia sẻ mới hòa thuận lẫn nhau trong anh chị em ruột thịt. Như vậy tất cả áo quần mới may của người chết chưa mặc vẫn để lại cho người sau mặc không phải trở ngại, có người cũng chẳng để lại tài sản nào ở thế gian. Nhìn chung cũng chẳng ai muốn mặc đồ của người chết, lý do “Sợ người chết” hoặc mặc không vừa, cũng không ai mà dành quần áo của người chết.

Rất cần thiết đến người ruột thịt làm việc tắm rửa lau sạch cho người chết. Trường hợp người chết không có người thân thì mới nhờ đến người láng giềng thân thiết chăm sóc. Người chết phải được mặc quần áo mới, nam áo dài khăn đống, nữ áo dài, Phật tử mặc áo vạc hò, áo tràng lam hoặc nâu, quý Sư Thầy đến thăm dạy đọc bài:

Tẩy dục thân thể

Đương nguyện chúng sanh

Thân tâm vô cấu

Nội ngọai thanh khiết

Án bạt chiết ra, não ca tra tá ha (3 lần)

Sau đó đem toàn bộ quần áo cũ, đồ bệnh nhất là bệnh truyền nhiễm tất cả những vật dụng cũ không cần thiết, giường chỏng thiêu hóa, đọc bài:

Y quấn khâm phục tệ thân hình

Ngự thử phong hàn bảo vong vinh

Nục thể khinh an vô chướng ngại

Tây phương tưởng niệm đắc siêu sanh

Nam mô Giai Bảo Mãn Bồ Tát Ma ha tát (Đốt quần áo)

Lễ tang là việc buồn. Ngày nay đôi khi xảy ra việc buồn gấp trăm lần về tình cảm anh em. Nguyên nhân từ mỗi gia đình trước giờ nhà ai nấy lo, tình cảm ruột thịt không còn sâu đậm như thời thơ ấu, hoặc chấm dứt tình cảm ruột thịt do có dâu và rễ ở chung nhà. Một ít gia đình cha hay mẹ chết chưa đến ngày đi chôn, mà không lo việc tụng niệm cầu cho cha mẹ siêu sanh lạc quốc, lại nóng vội lo mời thừa phát lại đến làm giấy tờ thưa kiện lẫn nhau, anh em đòi chia động sản bất động sản nhanh gấp, tranh dành tài sản với nhau, thật đau buồn.

Việc đốt vàng mã, hình nhân người thế

Việc đốt vàng mả, người thế (Ở phương Đông), đốt hình nhân (Ở phương Tây), hình nộm (Của người làm nông vụ) là hủ tục trong các thời đại phong kiến xa xưa, xuất phát từ những câu chuyện dân gian địa phương, thuộc lọai truyền khẩu, không có thuyết minh. Một đôi khi sự việc trở thành phong tục tập quán, nhắc lại sự kiện lịch sử, nhưng dù phong tục tập quán đôi khi cũng không còn phù hợp với đời sống tiến bộ hiện tại, như:

Người Ecuador năm nào cũng làm những hình nhân to hơn người thật để đốt đêm giao thừa. Dân Anh quốc hằng năm cứ mùng 5 tháng 11 lại nổi lửa mừng ngày Guy Fawkes khủng bố hụt thượng viện năm 1605. Ở Hoa Kỳ hàng năm, có hàng chục nghìn người tụ tập lại giữa sa mạc, lột truồng ra rồi đốt một người gỗ tượng trưng cho “The Man”, những kẻ áp bức trong xã hội này, và lấy đấy làm vui và cho là việc hay lắm.

Người dân đảo Faroe ở Đan Mạch hàng năm dùng thuyền lùa vài trăm chú cá voi vào một eo biển hẹp, sau đó lấy mũi lao đâm chết. Họ coi thịt cá voi là một phần quan trọng của đời sống văn hóa và sẽ không từ bỏ nó.

Thời phong kiến các vua chúa như Tần Thủy Hoàng ((259-210) trước công nguyên), vừa lên ngôi năm 13 tuổi. Đến năm 22 tuổi đã cho xây cung điện thu nhỏ ở âm phủ, tạo thế đứng cho mình sau khi chết vẫn còn có cuộc sống như ờ dương gian, vàng son như sanh tiền. Có người đem theo cả tài sản, thê thiếp thật chôn theo, thật đau lòng và hao tốn (Thời nhà Chu, năm 1022 trước tây lịch). Tục lệ nầy được thực hiện tại các vùng Đông Á, Nam Á, Đông Nam Á, nhất là người dân Phù Nam, người Khmer, khi vua băng hà hoàng hậu hay phu nhân phải được chôn theo để tỏ lòng tôn kính thủy chung.

Trong sử học Việt Nam có Công nữ Ngọc Vạn làm Hoàng hậu thời vua Chetta đệ nhị, vương quốc Campuchia. Sau khi nhà vua băng hà, bà phải bị chôn theo vua, nhưng sau đó bà tìm cách trốn được về nước Đại Việt và đi tu Phật tại Long Cốc Thượng Tự, Tổ đình Linh Sơn, núi Dinh (Bà Rịa). Sau đó đến tu tại núi Chứa Chan, cuối đời bà đến tu và hộ trì tại Tổ đình Quốc Ân Kim Cang và qua đời tại đây, hiện nay tháp mộ ba vẫn còn. Công nữ Ngọc Vạn đã tìm cách thoát chết không phải bị chôn sống theo nhà vua.

Theo nhận định của người Phật giáo thì tục đốt vàng mã là phi Phật pháp, là một hủ tục có tính du nhập, học đòi, bắt chước, chứ không phải phong tục tập quán của một dân tộc, hủ tục được một vài người Trung Hoa địa phương bày vẽ. Theo sách Trực ngôn cảnh giáo, năm Văn Công thứ 4, vua Tấn Mục Công, tên là Khắc Nhâm băng hà. Ba anh em họ Tử Xa được vua yêu thương nên bị chôn theo. Nhân dân trong nước thấy vậy rất thương tiếc nên nghĩ ra phương cách tìm vật khác để thay thế, vật ấy được dùng bằng cỏ, bằng gỗ.

Năm Nguyên Hưng 105, đời Hán Hoa, ông Thái Lĩnh chế biến hình người chôn theo bằng hình nộm, ông Vương Dũ làm vàng bạc bằng giấy, mọi người sử dụng theo. Việc làm vàng mã lúc bấy giờ chỉ có ở trong cung cấm vua chúa và các quan.

Về sau, năm 762 đời nhà Đường, vua Đường Đạt Tôn có nhà Sư là Đạo Tăng nhân ngày rằm tháng bảy cho làm hàng mã xe cộ nhà cửa, vàng bạc bằng giấy phổ biến trong dân gian. Vua nhà Đường tùy thuận Phật giáo cho phép phát hành, từ đó có tục lệ đốt vàng mã trong dân chúng.

Vương Luân một thương nhân có mưu đồ, cho người giả người bệnh rồi chết, được tẩn liệm trong quan tài, có một kẻ hở để đưa nước và đồ ăn vào cho người “Giả bệnh chết” sử dụng. Lúc đó nhiều người đến phúng viếng lễ tang, ông Vương Luân tổ chức nhiều người đem những đồ vàng mã, hình nhân, tiền vàng bằng giấy đến cúng đốt cho người nằm trong quan tài, bỗng dưng quan tài nhúc nhích và sống lại. Từ đó mọi người đồn đãi từ gần đền xa, ông Vương Luân có dịp bán đắc “Đồ vàng mã” (Theo Mạc Vi – Xã hội và Gia đình – Web Báo Tiền phong, 30/7/2014). Tục đốt vàng mã trong dân gian Trung Quốc có từ đây.

Như vậy tục đốt vàng mã là hủ tục xa xưa, có động thái dối trá lường gạt mọi người vô cùng phải không các Bạn:

Việc tang việc lễ nói rồi

Việc nào nên tránh, việc thôi không làm

Tu theo chánh pháp Phật ban

Hủ tục nên bỏ nhẹ nhàng tấm thân

Nh ững câu chuyện ẩn chứa sau nét đẹp văn hóa của tổ tiên

HT. Thích Giác Quang