Tây Ninh Với Những Miếu Thờ Bà

--- Bài mới hơn ---

  • Đến An Giang, Ghé Thăm Miếu Bà Chúa Xứ Ở Núi Sam Nổi Tiếng Linh Thiêng
  • Khám Phá Điểm Du Lịch Tâm Linh Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam
  • Nghịch Lý Xuất Hiện 2 Bà Chúa Xứ Trên Núi Sam Ở An Giang
  • Tour Chùa Bà Chúa Xứ
  • Tour Du Lịch Miền Tây Châu Đốc
  • Ở Tây Ninh, các ngôi miếu thờ Bà Chúa xứ và Ngũ hành có mặt ở khắp các huyện, thị, trừ các huyện mới như Tân Châu, Tân Biên. Về miếu Bà Chúa xứ, ta thấy số lượng nhiều hơn trên các miền đất có lịch sử lâu đời như Trảng Bàng, Gò Dầu. Chưa kể tới các miếu, điện thờ Bà Đen có đặc thù riêng. Còn các miếu Ngũ hành, với dân gian Tây Ninh cũng thường kèm theo bộ tượng năm bà, nên cũng được coi như tín ngưỡng dân gian thờ Mẫu.

    Như chúng ta đã biết, vị trí miếu Bà ở Nam bộ thường được chọn vị trí ở các bến sông, vàm rạch hoặc một góc rừng còn sót lại với những cây cổ thụ. Điều này cũng được người dân Tây Ninh tuân thủ. Điều đó có thể thấy ở các miếu Bà Chúa xứ có trên đất Tây Ninh. Tại Trảng Bàng, các ngôi miếu cổ thường nằm giữa một cụm cây rừng cổ thụ. Điển hình là miếu Bàu Rong thuộc ấp Gia Tân, xã Gia Lộc. Không gian miếu cổ um tùm cây cối, các loài cây sao, dầu và đặc biệt là một gốc đa có tuổi vài trăm năm, ruột cây đã rỗng ra thành bộng. Trên cây còn là các loại dây leo, tầm gửi vấn vít tạo nên một môi trường lý tưởng cho các loài chim chóc, kể cả loài chim quý hiếm. Mặc dù ấp Gia Tân nay đã thành ruộng rẫy với xóm ấp có cửa nhà san sát, nhưng vào lại khu cổ miếu Bàu Rong, người ta vẫn có cảm giác trở lại với rừng xưa trong không khí ẩm mát, ríu rít tiếng chim kêu. Cùng loại với Bàu Rong, ở xã An Tịnh có miếu bà An Phú, mà hồi xa xưa có tên gọi là Hóc Ớt. Đấy là cách gọi một vùng rừng hẻm hóc, có mọc nhiều cây ớt. Do chiến tranh và sau này là sức ép đô thị hóa nên miếu bà An Phú đã không còn cây cối rậm rạp hoặc cây cổ thụ. Bên ấp An Khương cũng có một ngôi thờ Bà, nằm dưới gốc một cây sao chằng chịt dây rừng.

    Ở về phía đông bờ sông Vàm Cỏ Đông, các xã An Hòa, Gia Bình cũng có nhiều miếu Bà Chúa xứ. Vùng tam giác nơi giáp ranh ba ấp: An Lợi, An Thới – xã An Hòa và ấp Chánh – xã Gia Bình là nơi có mật độ dày các miếu thờ Bà. Kể từ ngã tư Gia Bình đi vào có một ngôi ở ấp Chánh, một ngôi ở An Lợi. Ngay tại cửa rạch Trảng Bàng đổ ra sông Vàm Cỏ Đông, gọi là Vàm Trảng cũng có ba ngôi, nhưng đáng kể về cả quy mô và lịch sử lâu đời nhất có lẽ là ngôi ở ngay cạnh Trạm Liên hợp Kiểm soát đường sông Vàm Trảng. Tại đây, ngay bến sông là cây đa to, có vóc dáng kỳ lạ đổ nghiêng ra mặt nước. Ngôi miếu nằm lùi về phía trong bờ, ngoảnh mặt ra sông.

    Tại Gò Dầu, xã Phước Thạnh cũng có ngôi miếu Bà Chúa xứ nằm dưới vòm cây đa cổ thụ, thân cây lớn cỡ 3- 4 vòng tay người lớn. Ngoài ra còn là những bụi cây duối có tuổi trên trăm năm. Do vậy mặc dù miếu nhỏ, nhưng đi trên đường trục chính của xã ai cũng thấy ngôi miếu từ xa.

    Ở khu vực huyện Châu Thành cũng có miếu thờ Bà Chúa xứ Thanh Điền. Miếu Thanh Điền nằm ở ấp Thanh Phước, trên một gò đất cao mà người địa phương hay gọi là gò tháp Rừng Dầu. Nguyên do là trên gò ngày xưa có cả một rừng cây dầu cổ thụ. Bên dưới gò có những móng nền tháp cổ; từng được người Pháp chú ý tìm kiếm những di vật cổ trong nửa đầu thế kỷ XX. Ngày nay, bà con có lòng tín ngưỡng đã không chỉ tôn tạo trùng tu ngôi miếu cũ, mà còn trồng lại cả một vườn cây dầu để trở lại với hình ảnh thuở xưa. Dầu đã mọc lại trên gò, mơn mởn măng tơ cao hàng chục mét và đã khép tán rủ đầy bóng mát.

    Ngôi miếu vừa có cảnh quan đẹp đẽ, vừa có gốc gác lâu đời nhất ở Thành phố hiện nay chính là miếu Ngũ hành xóm Hố. Miếu nằm sát một bến sông có cảnh trí tuyệt vời được gọi là bến Miễu. Khuôn đất miếu nằm kế rạch Tây Ninh ở về phía hạ lưu cầu Thái Hòa khoảng 1 km. Quanh miếu là cả một cụm rừng xưa sót lại với nhiều cây sao, trâm, bồ đề và xoài cổ thụ. Có nhiều khả năng khu đất miếu chính là di tích phủ cũ thời Nặc Ông Chân – vua Chân Lạp. Ngay dưới gốc hai cây bồ đề xoắn bện vào nhau còn là một móng tháp gạch, cùng loại với gạch ở khu di tích quốc gia gò Cổ Lâm, xã Thanh Điền. Chung quanh đất miếu cũng phát hiện ra những nền móng tháp tương tự. Một thời chưa xa xôi lắm, bến miễu còn tấp nập trên bến dưới thuyền, do hoạt động buôn bán bằng ghe thuyền trên rạch Tây Ninh, nối ra sông Vàm Cỏ Đông về các tỉnh miền Tây còn thịnh hành. Thương lái đi và về thường ghé bến, để lên miếu thắp nhang, bày biện hoa trái cúng, cầu được bình an và mua may bán đắt. Ngày nay, giao thông bộ phát triển, nên dĩ nhiên thờ cúng miếu cũng đã thuyên giảm nhiều so với ngày xưa.

    Về kiến trúc, các ngôi miếu thờ Bà Chúa xứ và Ngũ hành ở Tây Ninh không lớn, ngôi đáng kể nhất chính là miếu Ngũ hành ở khu phố 5, phường 1 có kích thước mặt bằng vuông, 4 mét mỗi chiều. Miếu Bà Chúa xứ Vàm Trảng cũng vuông, mỗi bề 3,6 mét. Cả hai ngôi vừa kể đều có thêm 1 hành lang ở mặt trước. Tuy miếu chỉ có 1 gian nhưng hành lang thường được xây thêm 2 trụ gạch (ngoài 2 cột chính) để tạo thành một hình ảnh mặt tiền có 3 nhịp gian. Hai nhịp bên có khi còn được tạo vòm cong, có lan can con tiện. Nhịp giữa xây tam cấp để bước lên. Ngôi có thể có kích thước lớn hơn cả là miếu Ngũ hành ở ấp An Thành, An Tịnh với kích thích mặt bằng: 3,6 x 5,1m. Còn lại, đa số có kích thước mặt bằng nhỏ hơn, chỉ từ 02 đến 2,4m mỗi bề. Có ngôi chỉ xây 3 mặt tường, còn phía trước để trống cho dễ bề bày biện phẩm vật cúng và dâng hương cúng tế. Đa số các ngôi miếu được xây với tường cột gạch, lợp ngói móc theo kiểu đơn giản với hai mái dốc. Bên trong cũng bài trí giản dị với thông thường là một bàn thờ chính ở giữa gian, hai bàn thờ phụ nhỏ hơn ở hai bên.

    Với miếu Bà Chúa xứ thì bàn thờ chính thường có một pho tượng bà được khoác áo choàng bằng gấm hay lụa đen hoặc đỏ có thêu ren kim tuyến. Với miếu Ngũ hành thì bàn thờ chính thường có 5 pho tượng bà, mỗi người khoác áo màu khác nhau; hoặc tượng nhỏ thì sơn vẽ màu trực tiếp trên tượng. Các bàn thờ nhỏ hai bên có khi là tượng Cô và Cậu hoặc hai cậu có tên: Cậu Tài, Cậu Quý. Theo những người cao tuổi, đa số các ngôi miếu trước kia không có tượng thờ, mà chỉ có ở trên bức tường giáp bàn thờ những chữ Hán được vẽ lên như là những bài vị để thờ cúng mà thôi. Tượng Bà mới chỉ có trong các miếu vài chục năm gần đây, do vậy đa số đều được đắp bằng vữa xi măng cốt thép.

    Còn có một kiến trúc khác luôn gắn bó với ngôi miếu, và nhiều khi còn được xây cất cầu kỳ công phu hơn cả ngôi miếu. Đó là ngôi võ ca. Thường võ ca có diện tích lớn hơn ngôi miếu, và đây chính là nơi diễn ra các nghi lễ chính của việc thờ cúng các vị nữ thần; cũng là nơi các tốp hát múa bông, múa mâm vàng biểu diễn. Khi ấy bà con xóm ấp thường đứng vòng trong, vòng ngoài chung quanh để xem; và sau đó dọn cỗ bàn cùng ăn khi đã xong các lễ nghi cúng miếu. Võ ca của miếu bà An Phú có kích thước mặt bằng là: 6 x7,2m; trong khi miếu chỉ có 2,4 x 2,4m.

    Ở miếu Ngũ hành xóm Hố, võ ca là 5,4 x 5,7m, trong khi miếu chỉ có mặt bằng hình vuông mỗi cạnh 4m. Đặc biệt là ở hai ngôi này, võ ca còn có kiến trúc đặc biệt và tiêu biểu, làm theo lối đình chùa truyền thống Nam bộ; nghĩa là có bộ khung cột cấu trúc kiểu “tứ trụ” cùng với hệ vì kèo, xiên trính bằng gỗ quý kích thước lớn và mái ngói hình bánh ít. Võ ca thường chỉ có cột mà không có tường bao, trống thoáng ba bề, bên trong có thể được bố trí vài bàn xây cố định để đến ngày cúng miếu mới bày biện nhang đèn, bông trái làm thành các bàn thờ địa hoàng, thành hoàng, binh gia, Quan tướng… Ngoài ra, chung quanh sân miếu, ở một số nơi có đất đai rộng rãi còn có thêm các ngôi miếu nhỏ, cỡ chỉ trên dưới 1m2, thờ binh gia, ông Tà, ông Cọp và chiến sĩ trận vong.

    Các ngôi miếu Bà dường như không có tuổi, bởi có hỏi thì cũng được trả lời rằng miếu có từ thuở ông sơ, bà cố vài trăm năm trước. Nhưng cứ theo những truyền miệng qua các thế hệ cũng có thể chắc chắn rằng các miếu Bà chính là các ngôi thờ tự đầu tiên ở thôn, làng. Vậy nó cũng có lịch sử trùng với việc khai hoang mở đất lập làng. Nhân kỷ niệm 180 năm – Tây Ninh hình thành và phát triển, cũng xin điểm lại những ngôi thờ Bà đáng nhớ, còn được nhiều người lưu trong ký ức.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thăm Dinh Thờ Bà Chúa Xứ Trà Cốt
  • Truyền Thuyết Bà Chúa Xứ
  • Ly Kỳ Truyền Thuyết Về Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam
  • Vườn Cò Sáu Xom Và Những Giai Thoại Về Miếu Bà Chúa Xứ
  • Miếu Bà Chúa Xứ Mỹ Đông (Sóc Trăng): Di Tích Lịch Sử Cấp Quốc Gia
  • Tục Thờ Bà Chúa Xứ Ở Tây Nam Bộ Qua Nghiên Cứu Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam, An Giang

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Nghiệm Đi Miếu Bà Chúa Xứ Cầu An, Xin Lộc Đầu Năm Không”cháy Túi”
  • Blog Du Lịch: Kinh Nghiệm Làm Lễ Viếng Miếu Bà Chúa Xứ (An Giang)
  • Lịch Trình Gợi Ý 2 Ngày 1 Đêm Hành Hương Vía Bà Chúa Xứ Ở An Giang
  • Viết Đoạn Văn Khoảng 200 Thuyết Minh Về Lễ Hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam
  • Độc Đáo Lễ Hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam
  • miếu Bà chúa xứ núi Sam ở An Giang

    (1) Khi bước chân vào không gian của vùng đất Tây Nam Bộ, “tín ngưỡng Bà Chúa Xứ” là tên gọi được nhiều người biết đến, mặc dù theo quan điểm của tác giả, không thể gọi như thế vì Bà Chúa Xứ là một đối tượng trong tín ngưỡng thờ Mẫu nói chung mà thôi. Tuy nhiên, một thực tế là trong quá trình tiếp cận các nguồn tài liệu, rất nhiều công trình khi nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu ở vùng Nam Bộ đều sử dụng thuật ngữ “tín ngưỡng Bà Chúa Xứ” ngày xưa có một bệ tượng hình vuông bằng đá sa thạch. Vào những năm đầu thế kỷ XIX, giặc Xiêm thường sang khu vực này để quấy nhiễu. Trong một lần lên núi và bắt gặp tượng Bà, họ liền có ý định cậy tượng ra khỏi bệ đá để đem xuống núi. Nhưng kỳ lạ thay tượng trở nên nặng vô cùng, họ không cách nào khiêng được mặc dù có bao nhiêu lính tráng khỏe mạnh. Trong lúc tức giận, một quân lính người Xiêm đã vớ một khúc gỗ phang vào tượng làm sứt một miếng ở cánh tay. Ngay lập tức người lính Xiêm này hộc máu chết tại chỗ .

    Truyền thuyết thứ hai kể lại rằng cách đây gần 200 năm, có một cô gái trong làng Vĩnh Tế bỗng lên đồng, tự xưng là Bà Chúa Xứ về núi Sam để cứu dân độ thế. Bà còn nói thêm là hiện nay, tượng Bà đang ngự trên núi, yêu cầu dân làng lên núi thỉnh về để thờ phụng. Dân làng liền phái 40 chàng thanh niên lực lưỡng lên núi để khiêng tượng, nhưng cũng không thể xê dịch bức tượng. Lúc đó, cô gái lại lên đồng và cho dân làng biết chỉ cần 9 cô gái đồng trinh là có thể khiêng được. Quả thật linh nghiệm; đến chân núi Sam, dây khiêng tượng bị đứt, thế là dân làng hiểu ý Bà mà cho lập miếu thờ Bà ở đây.

    Truyền thuyết thứ ba thì cho rằng, dưới thời Thoại Ngọc Hầu trấn thủ Châu Đốc, đeo ấn bảo hộ Cao Miên, vợ ông (tức là bà Châu Thị Tế) ở nhà thường cầu nguyện cho ông bình an trở về, nếu được thì sẽ lập chùa thờ Phật để báo ân phù hộ. Sau khi Thoại Ngọc Hầu trở về, ông vì cảm kích trước tấm lòng của vợ mình nên đã cho quân lính sang tây Trấn Thành chở cốt Phật về lập chùa để thờ, đặt tên là chùa Tây An. Chùa xây xong, ông lo ngại tin đồn ác ý rằng xây chùa để thờ Phật của giặc nên đưa pho tượng ra ngoài chùa, lập miếu thờ để tránh phiền phức.

    Truyền thuyết thứ tư thì kể về việc một thiếu phụ Cao Miên đi tìm chồng, đến chân núi vì quá mệt mỏi nên đã ngồi nghỉ, sau đó bà đã hóa đá ở chân núi này. Sau đó, linh hồn người phụ nữ này nhập vào cốt đồng để nói về quá khứ và tương lai để giúp đỡ những người hiền và trừng phạt những người xấu. Dân làng liền lập miếu thờ và gọi bà là Bà Chúa Xứ.

    Trong cuốn Địa chí du lịch An Giang thì mô tả truyền thuyết về Bà tương đồng với truyền thuyết thứ ba mà tác giả đã đề cập ở trên, duy chỉ có khác ở việc là Bà Chúa Xứ đã nhập vào một bé gái chứ không phải là một cô gái như thuyết thứ ba đã đề cập

    (3) Đối với hệ thống thần linh ở vùng Nam Bộ, đặc biệt là khi nghiên cứu các nữ thần, chúng ta không chỉ thấy rõ tính đa dạng trong hệ thống các vị thần linh, mà xen kẽ vào đó còn là tính phức hợp. Tính phức hợp này được thể hiện thông qua sự giao thoa các hình tượng của các nữ thần, mà cụ thể hơn là những Mẫu trong công trình này đề cập đến. Sự phức tạp được thể hiện qua việc xác định nguồn gốc, danh xưng, sự tiếp biến và hỗn dung văn hóa ngay ở hình tượng của các Mẫu. Bà Chúa Xứ là một điển hình cho sự phức tạp ấy.

    Nghiên cứu hình tượng của Bà Chúa Xứ, có lẽ trước tiên chúng ta cần làm rõ nguồn gốc của pho tượng. Ý kiến thứ nhất như tác giả đã đề cập ở phần “Nguồn gốc truyền thuyết” của Bà thì cho rằng, đây vốn là cốt tượng đã được Thoại Ngọc Hầu cho quân lính chở từ thành Trấn Tây về. Ý kiến này đúng hay sai, cần phải nghiên cứu thêm .

    Đó là xét về nguồn gốc bức tượng. Mặt khác, khi xem xét hình tượng của Bà Chúa Xứ dưới góc độ là một đối tượng thể hiện sự giao lưu và hỗn dung văn hóa trong tín ngưỡng của các tộc người, theo Ngô Đức Thịnh thì hình tượng Bà Chúa Xứ ở Nam Bộ đã thể hiện ba lớp văn hóa trong đó, bao gồm: Lớp văn hóa Chăm, lớp văn hóa Khmer và lớp văn hóa của người Việt. Theo đó thì lớp văn hóa Chăm được thể hiện thông qua hình tượng bà Po Inư Nagar. Giải thích lý do này, theo quan điểm của tác giả thì do rằng trong tâm thức của người Việt đã có sẵn hình ảnh người mẹ. Mẹ là người mang lại cho con người sức khỏe, tài lộc và bình an. Trong hoàn cảnh đến với vùng đất mới đầy hoang vu, lại không chịu sự ràng buộc từ làng xã cổ truyền ở vùng ngoài, cộng thêm việc “gặp” được cộng đồng cư dân bản địa nơi đây, những lưu dân Việt đó muốn tự do sáng tạo trong lao động cũng như trong sinh hoạt tinh thần. Mặt khác, họ cũng muốn hòa hợp và chấp nhận những hình tượng Mẫu của người Chăm và người Khmer để “phủ” lên đó thứ tín ngưỡng thờ Mẫu ở quê hương. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến sự phức hợp trong hình tượng Bà Chúa Xứ ở vùng đất Nam Bộ.

    Nhìn chung, mối quan hệ giữa việc giao lưu và hỗn dung văn hóa giữa ba cộng đồng người Việt – Chăm – Khmer trong hình tượng Chúa Xứ Thánh Mẫu là vô cùng phức tạp như chính Ngô Đức Thịnh đã gọi Ngài là “Mẫu thần đa văn hóa”. Tuy nhiên, có một thực tế rằng, linh tượng của Bà vô cùng linh thiêng. Sự linh thiêng đó đã thể hiện thông qua câu đối:

    Cầu tất ứng, thí tất linh, mộng trung chỉ thị

    Xiêm khả kính, Thanh khả mộ, ý ngoại nan lường.

    (4) “… gần như hầu hết làng xã ở Nam Bộ đều có miễu (miếu) Bà Chúa Xứ, và trong khuôn viên đình, chùa cũng đều có miễu thờ vị Nữ thần này bên cạnh miếu Ngũ hành, miếu Thổ địa” . Hai cơ sở thờ tự hiện nay rất nổi tiếng của Bà Chúa Xứ, có ảnh hưởng ra khỏi phạm vi của một thôn ấp và được xem như là hai trung tâm thờ Bà ở khu vực Nam Bộ chính là miếu Bà Chúa Xứ ở núi Sam (thuộc thành phố Châu Đốc của tỉnh An Giang) và miếu Bà ở Gò Tháp (tỉnh Đồng Tháp).

    Miếu Bà Chúa Xứ hiện nay nằm ở dưới chân núi Sam, thuộc phường Núi Sam, thành phố Châu Đốc của tỉnh An Giang. Lúc ban đầu, khi mới được xây dựng, miếu được cất bằng tre lá khá đơn sơ. Miếu nằm trên vùng đất trũng, lưng quay về vách núi, chính điện nhìn ra cánh đồng bát ngát. Sau nhiều lần trùng tu, đặc biệt là những năm 1962, 1965 và 1966, miếu Bà ngày càng được mở rộng và khang trang hơn. Đến mãi năm 1870, miếu được xây dựng lại và lợp ngói, thu hút nhiều khách thập phương đến chiêm bái. Đến năm 1960, được trùng tu bằng đá miếng và cho lợp ngói âm dương. Dáng vẻ hiện nay của công trình này là thành quả của đợt trùng tu cuối cùng tính đến hiện nay vào các năm 1972 – 1976. Trong giai đoạn 1972 này, miếu đã được xây dựng đồ sộ và lộng lẫy theo lối kiến trúc cổ kính của phương Đông. Việc xây dựng này được thực hiện theo đồ án thiết kế của hai kiến trúc sư là ông Huỳnh Kim Mãng và ông Nguyễn Bá Lăng, nhưng xây dựng dở dang. Đến mãi năm 1995, Ban Quản trị lăng miếu núi Sam mới tiếp tục xây dựng phần còn lại.

    Về tổng quan, miếu Bà Chúa Xứ núi Sam là một toà tháp với lối kiến trúc được xây dựng theo hình chữ “Quốc” (國) có dạng hình bông sen nở, mái tam cấp ba tầng lầu, lợp ngói màu xanh hài hòa với kiến trúc. Khuôn viên của miếu rộng khoảng 3000 mét vuông, bao gồm: Chính điện, nhà võ ca, các nhà trưng bày lễ vật và khu nhà làm việc của Ban Quản lý Di tích. Bên trong lát đá hoa, gạch bông nhập từ nước ngoài. Các khung và cửa đều được làm bằng gỗ quý, được chạm trổ rất công phu, mang tính nghệ thuật cao.

    Chính điện cao rộng, thoáng khí; nơi cao nhất ở trung tâm chính điện đặt pho tượng của Bà mặc áo bào thêu rồng phượng kiểu vua chúa, đầu đội mão có đính kim tuyến sáng lấp lánh. Tượng Bà ngồi ở giữa theo tư thế mà tác giả đã đề cập khi nhắc đến nguồn gốc của pho tượng ở phần trên. Hai bên có đôi hạc trắng đứng hầu để tạo sự linh thiêng nơi không gian thờ tự. Bên trái (nhìn theo hướng từ chính điện nhìn ra) là bàn thờ Cậu, bên phải là bàn thờ Cô. Ngoài ra, cũng như những miếu và đình thần khác ở Nam Bộ, hai bên chính điện là ban thờ Tiền hiền khai khẩn và Hậu hiền khai cơ. Phía trước thiết kế một bàn thờ Hội đồng, trên có đặt một cái lư hương, hai bên có đôi phượng hoàng dang cánh. Ở phía ngoài có một hương án làm nơi đặt bài vị của Thoại Ngọc Hầu và hai người vợ của ông là bà Châu Thị Tế và Trương Thị Miệt trong những ngày diễn ra lễ hội vía Bà. Ngoài ra, trên các trụ cột trong chính điện còn treo nhiều câu đối bằng chữ Hán, tất cả đều mang ý nghĩa ca ngợi công đức của Bà. Ở phía trên chính điện có treo nhiều bảng viết bằng chữ Hán như: “Chúa Xứ Thánh Mẫu”, “Vị quốc vị dân”, “Thần linh hích trạc”

    Trong hệ thống điện thờ, ngoài pho tượng Bà là quan trọng nhất, tác giả đã phân tích ở trên, việc thờ Cậu và Cô cũng là một phần quan trọng chúng ta cần lưu tâm khi nghiên cứu về hệ thống điện thờ trong miếu Bà. Như chúng ta đã biết, hình tượng Cậu được thờ trong điện thờ chung với Bà Chúa Xứ vốn là một linga, tức là sinh thực khí nam – là một đối tượng được thờ trong tín ngưỡng phồn thực của người Việt hay còn là biểu tượng của thần Civa trong Bàlamôn giáo. Học giả Nguyễn Quang Lê đã nhận xét về linh tượng bằng đá này như sau: “… bên trái là bàn thờ Cậu đặt một linh tượng lingar bằng đá, có phủ lên một tấm vải đỏ; còn bên phải là bàn thờ Cô lại rất trùng hợp với truyền thuyết về bà Thiên Yana ở Tháp Bà Nha Trang rằng, bà đã phiêu bạt đến Bắc hải, rồi kết duyên với thái tử nước Tàu, sinh được hai người con: một trai (Cậu) tên là Trí, và một gái (Cô) tên là Quý. Qua nhận định đó, ta thấy được rằng hình tượng Bà Chúa Xứ chính là biến thể của Thánh Mẫu Yana ở khu vực duyên hải Nam Trung Bộ. Khi vào vùng đất này, hình tượng của vị Mẫu này đã trở nên đa dạng hơn khi đã diễn ra sự tiếp xúc văn hóa.

      Trong không gian vùng đất Tây Nam Bộ, lễ hội vía Bà Chúa Xứ hằng năm có thể được xem là lễ hội có quy mô lớn nhất trong khu vực. Điều này cũng dễ hiểu khi mà như tác giả đã đề cập, Bà Chúa Xứ đã trở thành đối tượng thờ cúng chính của một “tín ngưỡng” chính là “tín ngưỡng” thờ Bà Chúa Xứ. Lễ vía Bà được tổ chức tương tự như lễ hội Kỳ Yên. Thứ nhất, các cụ cho rằng ngày 25 chính là khoảng thời gian mà những người dân làng Vĩnh Tế ngày trước đã đưa tượng Bà từ đỉnh núi xuống an ngự tại miếu (đây là ngày chính tế giỗ Bà). Còn giả thuyết thứ hai thì cho rằng, miếu Bà là do vợ chồng Thoại Ngọc Hầu và bà Châu Thị Tế trùng tu vào những ngày này nên người dân địa phương đã chọn khoảng thời gian này để làm lễ vía Bà – đồng thời cũng xem như một hình thức ghi nhớ công ơn của vị danh tướng đã có công rất nhiều trong việc phát triển khu vực Châu Đốc, An Giang này – Thoại Ngọc Hầu.

      Lễ mộc dục, hay còn gọi là “lễ tắm bà” được tổ chức vào lúc 24 giờ đêm ngày 23, rạng sáng ngày 24 tháng 4 Âm lịch. Lễ mộc dục có nghĩa là lau bụi bậm trên pho tượng Bà, đồng thời người ta cũng tiến hành thay áo, mũ cho Bà. Trước tiên là cởi mão, khăn đội trên đầu, rồi sau đó là đai áo, áo ngoài, áo trong để lộ toàn thân pho tượng bằng đá sa thạch ở tư thế ngồi. Chủ trì buổi lễ này là một phụ nữ đứng tuổi và có uy tín với dân làng. Nước tắm Bà là một loại nước thơm nấu bằng nước mưa hứng ngoài trời với nhiều loại hoa thơm và có thêm nước hoa hàng hiệu thơm ngát. Sau khi đã tiến hành “tắm Bà” xong, một bộ quần áo đẹp nhất dâng cúng trong kỳ lễ hội được khoác lên tượng, thắt dây đai áo và các bộ phận khác, và cuối cùng là đội mão lên đầu tượng Bà. Toàn bộ “lễ tắm Bà” kéo dài trong khoảng một giờ; sau đó, mọi người được tự do chiêm bái. Cũng cần nói thêm rằng, toàn bộ quá trình mộc dục cho Bà đều được thực hiện sau bức màn che, nhưng có đến hàng nghìn người chen chúc nhau đến để đứng ngoài vòng rào chính điện để xem.

      Sau khi lễ túc yết kết thúc thì diễn ra lễ xây chầu. Lễ vật dâng cúng cũng là một con heo trắng để nguyên con, một mâm xôi và một mâm cỗ đủ món. Tại gian võ ca, những người tham dự ăn mặc chỉnh tề và xếp thành hai hàng. Sai khi ông Chánh tế vái xong thì lấy roi chầu vác lên vai rồi hô lớn “Phụng mạng”. Sau đó, ông bước ra đặt roi chầu lên khay; sau đó là đến các lễ dâng hương, dâng rượu và trà. Phía bên trái bàn thờ có một tô nước và một cành dương liễu. Ông Chánh tế ca công cầm cành dương liễu đưa ngang trán và khấn vái rồi cầm cành dương liễu nhúng vô tô nước và vẩy nước ra xung quanh; vừa vẩy vừa đọc to câu thần chú:

      “Nhất xái thiên thanh” (Thứ nhất, vẩy nước lên trời mong cho trời luôn thanh bình, mưa thuạn gió hòa);

      “Nhị xái địa ninh” (Thứ hai, vẩy nước xuống đất, cầu cho đất thêm tươi tốt, mùa màng bội thu);

      “Tam xái nhơn trường” (Thứ ba, vẩy nước cho loài người sống trường thọ);

      “Tứ xái quỷ diệt hình” (Thứ tư, vẩy nước vào loài quỷ dữ cho chúng bị tiêu diệt).

      Đọc xong câu thần chú, ông Chánh bái ca công đặt tô nước, cành dương liễu về lại bàn thờ; sau đó đánh ba hồi trống và xướng “Ca công tiếp giá”, đoàn hát bội “Dạ” một tiếng thật to. Ngay lập tức, đoàn ca công hát bội nổi chiêng trống và chương trình hát bội bắt đầu. “… Tất cả các vở tuồng hát đều là tuồng hay, có ý nghĩa sâu xa, nhưng trong năm buổi diễn bắt buộc phải có vở Thứ ba San Hậu, đào kép phải hát đúng nguyên bản không được tùy tiện sửa đổi…” .

      Nói tóm lại, Bà Chúa Xứ là một biểu hiện cụ thể của tín ngưỡng thờ Mẫu nói chung. Sự hiện sinh của vị Mẫu thần này là biểu hiện to lớn về khát vọng tìm kiếm sự che chở, bảo bọc cho cuộc sống bình yên của người dân địa phương. Nhiều giá trị văn hóa ẩn chứa nội tại trong tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ là cơ sở để tín ngưỡng này đồng hành chung với đoạn trường lịch sử mở rộng lãnh thổ của dân tộc./.

      Sài Gòn, 26/02/2017

      1. Nguyễn Hữu Hiếu (2005), Diễn trình văn hóa đồng bằng sông Cửu Long, NXB Thời đại.
      2. Trịnh Bửu Hoài (2013), Địa chí du lịch An Giang, Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch An Giang.
      3. Nguyễn Quang Lê (2014), Bản sắc văn hóa qua lễ hội truyền thống người Việt, NXB Khoa học Xã hội.
      4. Sơn Nam (2009), Đình miếu & lễ hội dân gian miền Nam (Biên khảo), Nxb Trẻ.
      5. Nhiều tác giả (2013), Văn hóa một số vùng miền ở Việt Nam, NXB Thời đại.
      6. Ngô Đức Thịnh (2009), Đạo Mẫu Việt Nam (tập 1), NXB Tôn giáo.

      : Về cách lý giải địa danh núi Sam, Lê Trung Hoa trong công trình “Từ điển từ nguyên địa danh Việt Nam” cho rằng gọi là núi Sam vì ngọn núi này có hình giống con Sam : Po Inư Nagar là vị nữ thần kết hợp giữ nữ thần Chăm bản địa với nữ thần Uma (vợ của thần Civa). Đây là vị nữ thần được người dân Chămpa tôn sùng là Bà mẹ Xứ sở.

      : Lễ Kỳ Yên mang ý nghĩa cầu an, tế thần Thành Hoàng làng lớn nhất trong năm tại các đình thần ở Nam Bộ. Đây là dịp để cả làng họp mặt, vui chơi nhằm thắt chặt tính cộng đồng. Đây thực sự là một nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa dân gian – thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” cần được bảo tồn và phát huy.

      : Xung quanh việc có nhiều người “cả gan” dám nhìn trộm ngọc thể của Bà thì bị trừng phạt là rất nhiều những câu chuyện ly kỳ, thể hiện sự “hiển linh” của Bà.

      --- Bài cũ hơn ---

    • Lễ Hội Bà Chúa Xứ Ở An Giang
    • Lễ Phục Dựng Rước Tượng Bà Chúa Xứ Núi Sam
    • Linh Thiêng Lễ Hội Bà Chúa Xứ, An Giang
    • Truyền Thuyết Về Miếu Bà Và Sự Ra Đời Của Lễ Hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam
    • Bảo Tồn Và Phát Huy Nét Văn Hóa Lễ Hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam

    Lễ Hội Miếu Bà Chúa Xứ

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Nghi Lễ Của Lễ Hội Bà Chúa Xứ Núi Sam Tổ Chức Không Quá 30 Người
  • Lễ Hội Bà Chúa Xứ,le Hoi Ba Chua Xu
  • Lễ Hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam
  • Thu Hút Khách Đến Lễ Hội Bà Chúa Xứ
  • Nơi Nghỉ Chân Tốt Nhất Trong Lễ Hội Bà Chúa Xứ Núi Sam
  • Núi Sam nằm cách thành phố Châu Đốc (tỉnh An Giang) 5 km, là nơi có quần thể di tích lịch sử văn hoá với chùa cổ Tây An, miếu Bà Chúa Xứ, chùa Hang, lăng Thoại Ngọc Hầu… Lễ hội Bà Chúa Xứ ( còn gọi là lễ Vía Bà) được tổ chức hàng năm bắt đầu từ đêm 23/4 âm lịch đến 27/4 âm lịch.

    Khách hành hương đến lễ hội có thể đi theo đường bộ từ Long Xuyên lên Châu Đốc theo tỉnh lộ 10, rẽ vào 7km là tới núi Sam; hoặc đi bằng đường thủy từ Cần Thơ, Sóc Trăng lên hay từ Sài Gòn xuống.

    Đêm 23/4 là lễ tắm và thay xiêm y cho tượng Bà. Nước tắm tượng là nước thơm, bộ y phục cũ của Bà được cắt nhỏ ra phân phát cho khách trẩy hội và được coi như lá bùa hộ mệnh giúp cho người khoẻ mạnh và trừ ma quỷ. Tiếp theo là lễ rước bốn bài vị từ lăng Thoại Ngọc Hầu về miếu Bà. Lễ Túc Yết được tổ chức vào lúc 24 giờ ngày 25 rạng ngày 26. Lễ được tiến hành theo trình tự: dâng hương, chúc tửu, hiến trà, đọc văn tế. Sau đó bài văn tế được hoá cùng với một ít giấy vàng bạc. Tiếp ngay sau lễ Túc Yết là đến lễ Xây Chầu – Hát Bội do do một người sành nghi lễ và có uy tín trong ban tế tại miếu Bà thực hiện cùng đào kép hát bội cầu nguyện cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hoà. 4 giờ sáng ngày 26/4 lễ Chánh Tế được tiến hành (lễ nghi được tiến hành giống lễ Túc Yết). Chiều ngày 27/4 bài vị Thoại Ngọc Hầu được đưa về lăng. Chương trình hát bội cũng chấm dứt. Kết thúc lễ cúng vía bà.

    Lễ Vía Bà hằng năm thu hút rất đông khách thập phương. Đến với lễ hội hội họ vừa được tham dự lễ hội dân gian phong phú để xin cầu tài cầu lộc, đồng thời họ có dịp để du ngoạn, chiêm ngưỡng cảnh trí thiên nhiên ở An Giang.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhiều Biện Pháp Bảo Vệ An Toàn Lễ Hội Miếu Bà Chúa Xứ
  • Bộ Y Tế Kiểm Tra An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm Tại Lễ Hội Vía Bà Chúa Xứ
  • Hàng Ngàn Người Đổ Về Châu Đốc Dự Lễ Hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam
  • Lễ Hội Vía Bà Chúa Xứ Châu Đốc
  • Lễ Nhập Trạch Nhà Mới Cần Chuẩn Bị Những Gì?
  • Truyền Thuyết Về Miếu Bà Chúa Xứ

    --- Bài mới hơn ---

  • Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam,mieu Ba Chua Xu Nui Sam
  • Đồng Tháp: Chuyển Vụ Tu Bổ Miếu Thờ Bà Chúa Xứ Gò Tháp Sang Cqđt
  • Dấu Xưa Đồng Tháp Mười: Bà Chúa Xứ Gò Tháp Và Đìa Phật
  • Sai Phạm Tại Công Trình Miếu Thờ Bà Chúa Xứ: Khởi Tố Một Phó Trưởng Phòng
  • Châu Đốc Tăng Cường Phòng, Chống Dịch Corona Và Mở Cửa Đón Khách Du Lịch Bình Thường
  • Truyền thuyết về Miếu Bà Chúa Xứ

    Nhắc đến Châu Đốc hay Núi Sam thì người ta lại nhớ ngay đến Miếu Bà Chúa Xứ. Từ lâu, nơi đây đã trở thành trung tâm văn hóa tín ngưỡng của các đoàn hành hương và du khách gần xa, đặc biệt là với dân miền Tây. Với niềm tin vào sự linh thiêng, ứng nghiệm, “cầu được ước thấy”.

    Miếu Bà Chúa Xứ được xây dựng vào năm 1820, với kiến trúc kiểu chữ “quốc” – hình dáng tựa đóa hoa sen nở. Mái miếu tam cấp ba tầng lầu, lợp ngói đại ống màu xanh, góc mái vút cao như mũi thuyền đang rẽ sóng. Các hoa văn ở cổ lầu chánh điện mang đậm tính nghệ thuật. Phía trên cao, các tượng thần khỏe mạnh, đẹp đẽ dang tay đỡ những đầu kèo. Các khung bao, cánh cửa đều được chạm trổ, khắc, lộng tinh xảo và nhiều liễn đối, hoành phi lộng lẫy. Đặc biệt, bức tường phía sau tượng Bà, bốn cây cột cổ lầu trước chánh điện gần như được giữ nguyên như cũ. Bên trong thờ tượng Bà Chúa được tạc bằng đá xanh. Miếu thuộc địa phận xã Vĩnh Tế, Châu Đốc, An Giang.

    Về nguồn gốc tượng Bà Chúa Xứ có nhiều truyền thuyết khác nhau. Một trong số những truyền thuyết đó kể lại rằng, trước đây tượng Bà Chúa Xứ chỉ là một hòn đá ở trên lưng núi Sam. Minh chứng cho điều này là bệ đá Bà ngồi vẫn còn tồn tại đến ngày nay.

    Bệ đá có chiều ngang khoảng 1,60m, dài khoảng 0,3m, chính giữa có lỗ vuông cạnh 0,34m, loại đá trầm tích thạch màu xanh đen, hạt nhuyễn, không tìm thấy ở địa phương. Theo nghiên cứu khảo cổ của người Pháp cho rằng tượng Bà Chúa Xứ là một loại tượng thần Vishnu, được tạc từ cuối thế kỷ thứ VI, mang văn hóa Óc Eo. Còn theo nhà khảo cổ học Sơn Nam: “Tượng Bà Chúa Xứ là một pho tượng Phật cổ của người Khơ Me xưa đã bỏ lại khi di chuyển. Đặc biệt đây là một pho tượng Phật có giới tính Nam. Và người Việt đã đem tượng Phật về điểm tô thêm nước sơn thành tượng Bà Chúa Xứ.”

    Dân gian kể lại, khi xưa lúc xây dựng miếu thờ Bà Chúa Xứ ở chân núi, để thỉnh bà xuống núi, chín thanh niên lực lưỡng dùng kiệu nghênh tiếp tượng bà nhưng bức tượng vẫn không hề lay chuyển. Lúc ấy bà đã hiển linh và báo mộng là cần chín người trinh nữ khiêng xuống. Quả nhiên, sau khi chín người trinh nữ lên khiêng đã dễ dàng nâng được tượng bà xuống núi.

    Năm 1820 – 1825, quân Xiêm sang xâm lược nước ta. Khi lên gặp tượng Bà, quân Xiêm khiêng tượng Bà xuống núi. Giữa chừng, tượng Bà bỗng nặng trĩu khiến chúng không thể khiêng nổi nữa và ngã lăn ra. Từ đó quân Xiêm kính sợ, không dám sách nhiễu dân làng ở vùng đó nữa. Dân làng cũng từ đấy tôn kính gọi Bà là Bà Chúa Xứ.

    Không phải ngẫu nhiên mà miếu Bà Chúa Xứ mỗi năm thu hút hơn 3 triệu Phật tử từ các nơi đổ về hành hương, cúng bái cầu bình an, may mắn, tài lộc. Có du khách kể lại rằng, khi làm ăn họ không gặp vận, gặp thời. Người đó cúng bái khắp nơi, sau này nghe lời đồn, ông đã cất công từ Đà Nẵng bay vào Nam và viếng Miếu Bà Chúa Xứ. Và từ đó thời vận ông kéo về không thể hơn được. Từ đó hàng năm, ông đều vào Nam trả lễ Miếu Bà Chúa Xứ.

    Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam” hàng năm sẽ diễn ra từ ngày 23 đến 27/4 Âm lịch. Hàng vạn người từ khắp mọi nơi đổ về dự lễ và tham gia các trò vui như: hát bội, múa võ, ca nhạc ngũ âm, múa lân, đánh cờ… Các nghi lễ chính trong lễ hội bao gồm:

    – Lễ “Tắm Bà” (tương tự như lễ mộc dục ở miền Bắc): Được cử hành vào lúc 0 giờ ngày 24/4 Âm lịch.

    – Lễ Thỉnh sắc: cử hành vào khoảng 16h chiều ngày 25.

    – Lễ Túc yết: được tổ chức lúc 0 giờ đêm 25 rạng 26-04 âm lịch, gồm có hai phần: nghi thức cúng tế và phần xây chầu.

    – Lễ Chánh tế: được tổ chức vào tờ mờ sáng ngày 27, gần giống như nghi thức cúng Túc yết.

    – Lễ Hồi sắc: cử hành vào khoảng 15h ngày 27-04, đoàn hành lễ sẽ rước bài vị Thoại Ngọc Hầu và nhị vị phu nhân từ miếu trở về Sơn Lăng. Kết thúc lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam .

    --- Bài cũ hơn ---

  • 2 Di Sản Trên Đường Đệ Trình Unesco Ghi Danh (Kỳ 1): Độc Đáo Lễ Vía Bà Chúa Xứ Châu Đốc
  • Đề Cử Top 10 Điểm Đến Hấp Dẫn An Giang (P7) Miếu Bà Chúa Xứ Bàu Mướp, Huyện Tịnh Biên
  • “cầu Được Ước Thấy” Ở Miếu Bà Chúa Xứ Bàu Mướp An Giang
  • Những Điều Cần Biết Về Miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc An Giang ⋆ Innotour.vn
  • Bảng Giá Thuê Xe 4 Chỗ 7 Chỗ 16
  • Viếng Miếu Bà Chúa Xứ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tour Cần Thơ Châu Đốc
  • Viếng Miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc
  • Du Lịch Châu Đốc Miếu Bà Chúa Xứ Giá Rẻ
  • Miếu Bà Chúa Xứ Một Điểm Đến Du Lịch Tâm Linh Ở Miền Tây
  • Qua Sông Đồng Nai Là Tới… Châu Đốc!
  • Châu Đốc, một địa danh gắn liền với sự linh thiêng với thế phong thủy tiền tam giang, hậu thất sơn và huyền bí cùng nhiều tín ngưỡng tôn giáo tồn tại từ lâu đời. Nhắc tới mảnh đất này, người ta không thể không nhớ tớiMiếu Bà Chúa XứNúi Samlà điểm du lịch tâm linh nổi tiếng không chỉ ở miền Tây Nam Bộ, mà ngay cả người Việt ở nước ngoài vẫn biết đến.

    Miếu Bà Chúa Xứtọa lạc dưới chânnúi Samthuộc phườngnúi Sam, TP Châu Đốc, tỉnh An Giang. Miếu Bà Chúa Xứcó rất nhiều truyền thuyết huyền bí xung quanh hoàn cảnh ra đời của ngôi miếu, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác.

    Theo truyền thuyết kẻ lại, cách đây khoảng 200 năm, người dân địa phương tại Châu Đốc đã phát hiện ra tượng Bà ở trên đỉnh núi Sam và muốn đưa xuống. Tuy nhiên, mấy chục thanh niên cường tráng định khiêng tượng Bà nhưng không được. Sau đó qua miệng bà “cô Đồng” bảo chỉ cần 9 cô gái đồng trinh lên khiêng xuống. Nhưng đến chân núi thì tượng Bà bất ngờ nặng trịch không thể đi nữa. Người dân nghĩ Bà chọn nơi đây để an vị ở đây và đã lập miếu tôn thờ.

    Ngày trước miếu Bà được xây dựng đơn sơ bằng tre lá, nằm quay về hướng tây bắc, phần lưng thì quay về vách núi, còn chính điện nhìn ra con đường và cánh đồng làng. Vào năm 1870, miếu được người dân xây dựng lại bằng gạch hồ ô dước. Trong 4 năm từ 1972 đến 1976, miếu Bà được hai kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng và Nguyễn Bá Lăng tái thiết lớn tạo nên dáng vẻ như hiện nay.

    Phía trên cao, các tượng thần khỏe mạnh, đẹp đẽ giăng tay đỡ những đầu kèo. Các khung bao, cánh cửa đều được chạm trổ, khắc, lộng tinh xảo và nhiều liễn đối, hoành phi lộng lẫy. Đặc biệt, bức tượng phía sau tượng Bà, bốn cây cột cổ lầu trước chánh điện gần như được giữ nguyên như cũ.

    Quần thể kiến trúc miếu có chính điện (nơi thờ tượng Bà), võ ca, phòng khách và phòng Ban quý tế.

    Bên trong miếu thì lại được thiết kế và trang trí mang đậm nét nghệ thuật Ấn Độ. Các cánh cửa miếu được các nghệ nhân chạm trổ, điêu khắc tinh xảo. Đặc biệt, nhiều liễn đối và hoành phi ở nơi đây cũng được dát vàng son rực rỡ.

    Tượng Bà được người dân đặt ở giữa chính điện, xung quanh đó còn có bàn thờ Hội đồng ở phía trước, Tiền hiền và Hậu hiền thì đặt hai bên. Bàn thờ Cậu đặt ở bên trái, có thờ một Linga bằng đá rất to, cao khoảng 1,2m, còn bàn thờ Cô thì ở bên phải thờ một tượng nữ thần nhỏ bằng gỗ,…

    Về nguồn gốc tượng Bà Chúa Xứ có nhiều truyền thuyết khác nhau. Theo lời truyền miệng dân gian thì vào những năm 1820 – 1825, quân Xiêm sang quấy phá nước ta và đuổi theo dân lên đỉnh núi Sam thì gặp tượng Bà. Bọn chúng ra sức khiêng bức tượng nhưng không nhấc nổi, một tên trong số đó đã làm tức giận làm gãy tay Bà và ngay lập tức hắn bị trừng phạt. Từ đó người dân gọi là Bà Chúa Xứ và lập miếu thờ để cho Bà Chúa phù hộ mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, tránh được giặc cướp, thoát khỏi dịch bệnh.

    Vào mỗi dịp Tết đến, Miếu Bà Chúa Xứ lại thu hút đông đảo người dân địa phương và khách thập phương. Họ đến để thắp hương, cầu nguyện về một năm mới ấm no, hạnh phúc. Miếu Bà chúa xứ Núi Sam thể hiện rõ tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt Nam. Không phải ngẫu nhiên mà miếu Bà Chúa Xứ mỗi năm thu hút hơn 3 triệu Phật tử từ các nơi đổ về hành hương, cúng bái cầu bình an, may mắn, tài lộc. Có du khách kể lại rằng, khi làm ăn họ không gặp vận, gặp thời. Người đó cúng bái khắp nơi, sau này nghe lời đồn, ông đã cất công từ Đà Nẵng bay vào Nam và viếng Miếu Bà Chúa Xứ. Và từ đó thời vận ông kéo về không thể hơn được. Từ đó hàng năm, ông đều vào Nam trả lễ Miếu Bà Chúa Xứ.

    Khuôn viên vô cùng rộng rãi thoáng đãng với những cây cổ thụ rợp bóng xanh mát và nhiều cảnh được tạo dáng đẹp mắt. Điểm tô cho không gian là sắc hoa rực rỡ. Vào buổi tối, khi đèn lên, không gian miếu cổ kính lại thêm phần lung linh. Vãn cảnh chùa, thắp nhang cầu những điều bình an tốt lành cho bản thân và gia đình xong, bạn có thể leo lên tầng cao của ngôi miếu, ngắm nhìn cảnh vật từ trên cao, đưa mắt hướng về phía xa, bạn có thể thấy được cả 1 góc của thành phố.

    Từ tháng 1 đến tháng 4 âm lịch hàng năm, Miếu Bà luôn nô nức dòng người đến thăm viếng. Bởi đây chính là khoảng thời gian diễn ra lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam ( 24-27.4 âm lịch). Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ chính thức diễn ra từ ngày 24 đến ngày 27 tháng 4 âm lịch hàng năm, trong đó có ngày vía chính là ngày 25. Năm 2022, Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ được Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tục Thờ Bà Chúa Xứ Ở Cà Mau
  • Miếu Bà Chúa Xứ Linh Thiêng Giúp Người Dân Cầu Được Ước Thấy
  • Miếu Bà Chúa Xứ Linh Thiêng Ở Vùng Châu Đốc An Giang
  • Miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc
  • Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam An Giang
  • Miếu Bà Chúa Xứ Núi Xam

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Lưu Ý Cần Nằm Lòng Khi Hành Hương Chùa Bà Chúa Xứ Dịp Rằm Tháng Giêng
  • Bát Nháo Ở Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam (An Giang)
  • Sớm Xây Dựng Hồ Sơ Đề Nghị Unesco Công Nhận “lễ Hội Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam” Là Di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể Của Nhân Loại
  • Chăm Lo Cho Người Lao Động Tại Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam
  • Thần Thoại: Bà Chúa Xứ Nguyên Nhung
  • Cách đây khoảng 200 năm, tượng Bà (sau được gọi tôn là Bà Chúa Xứ) được dân địa phương phát hiện và khiêng xuống từ đỉnh núi Sam bằng 9 (có nguồn nói 12 hoặc hơn nữa) cô gái đồng trinh, theo như lời dạy của Bà qua miệng “cô đồng”, nên người dân đã lập miếu để tôn thờ .

    Có ý kiến cho rằng Thoại Ngọc Hầu hoặc vợ là bà Châu Thị Tế là người đã ban lệnh và hỗ trợ việc xây dựng miếu. Tuy khó xác minh, nhưng biết chắc là miếu ra đời sau khi vị quan này về đây trấn nhậm và kênh Vĩnh Tế đã hoàn tất (1824) mang lại lợi ích rõ rệt cho lưu dân và dân bản địa.

    Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam

    Các hoa văn ở cổ lầu chính điện, thể hiện đậm nét nghệ thuật Ấn Độ. Phía trên cao, các tượng thần khỏe mạnh, đẹp đẽ giăng tay đỡ những đầu kèo. Các khung bao, cánh cửa đều được chạm trổ, khắc, lộng tinh xảo và nhiều liễn đối, hoành phi ở nơi đây cũng rực rỡ vàng son. Đặc biệt, bức tường phía sau tượng Bà, bốn cây cột cổ lầu trước chính điện gần như được giữ nguyên như cũ.

    Nguồn gốc pho tượng đến nay vẫn còn là điều bí ẩn. Tục truyền, tượng được đem đến đây bằng thuyền.

    Khi xưa, tượng Bà ngự trên đỉnh núi Sam, gần Pháo Đài. Chứng minh cho điều này là bệ đá Bà ngồi vẫn còn tồn tại (ảnh). Bệ đá có chiều ngang 1,60m; dài 0,3m, chính giữa có lỗ vuông cạnh 0,34m, loại trầm tích thạch màu xanh đen, hạt nhuyễn, không có ở địa phương.

    Theo nhà khảo cổ học người Pháp là Malleret đến nghiên cứu vào năm 1941, thì tượng Bà Chúa Xứ Núi Sam thuộc loại tượng thần Visnu (nam thần), tạc dáng người nghĩ ngợi, quý phái, chất lượng bằng đá son, có giá trị nghệ thuật cao, được tạc vào cuối thế kỷ 6, và rất có thể đây một trong số hiện vật cổ của nền văn hóa Óc Eo .

    Sau này, nhà văn Sơn Nam cũng đã chép rằng: Tượng của Bà là pho tượng Phật đàn ông của người Khmer, bị bỏ quên lâu đời trên đỉnh núi Sam. Người Việt đưa tượng vào miễu, điểm tô lại với nước sơn, trở thành đàn bà mặc áo lụa, đeo dây chuyền. Và từ đó “Bà Chúa Xứ” là vị thần có quyền thế lớn ở khu vực ấy, xứ ấy…

    Cũng theo lời truyền miệng dân gian, thì khi xưa có một nhóm người đến quấy nhiễu nơi đây. Gặp tượng Bà, họ muốn lấy đi nhưng xê dịch không được nên tức giận đập gãy cánh tay trái của pho tượng .

    Chung quanh tượng Bà (đặt ở giữa chính điện), còn có bàn thờ Hội Đồng (phía trước), Tiền hiền và Hậu hiền (hai bên), bàn thờ Cô (bên phải, có thờ một tượng nữ thần nhỏ bằng gỗ), bàn thờ Cậu (bên trái, có thờ một Linga bằng đá rất to, cao khoảng 1,2m)…

    Lễ Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam được tổ chức trang trọng từ ngày 23 đến 27 tháng 4 âm lịch hàng năm, trong đó ngày vía chính là ngày 25. Các lễ chính gồm:

    * Lễ “tắm Bà” được cử hành vào lúc 0 giờ đêm 23 rạng 24 tháng 4 âm lịch.

    * Lễ “thỉnh sắc” tức rước sắc và bài vị Thoại Ngọc Hầu cùng hai phu nhân từ Sơn lăng về miếu bà, được cử hành lúc 15 giờ chiều ngày 24.

    * Lễ túc yết và Lễ xây chầu: Lễ “túc yết” là lễ dâng lễ vật (lễ vật chính là con heo trắng) và tiến hành nghi thức cúng Bà, lúc 0 giờ khuya đêm 25 rạng 26. Ngay sau đó, là “Lễ xây chầu” mở đầu cho việc hát bộ (còn gọi là hát bội hay hát tuồng) .

    * Lễ chánh tế được cử hành vào 4 giờ sáng ngày 27.

    * Lễ hồi sắc được cử hành lúc 16 giờ chiều cùng ngày, ngay sau khi Lễ chánh tế kết thúc. Đây là lễ đem sắc và bài vị Thoại Ngọc Hầu cùng hai phu nhân về lại Sơn lăng.

    Theo tín ngưỡng của người dân, nơi đây vẫn còn có những tục như xin xăm Bà, vay tiền Bà, thỉnh bùa Bà…

    Nhà văn Sơn Nam viết:

    Bà Chúa Xứ, dạng đạo Lão dân gian, thu hút bá tánh nhiều nhất Nam Bộ. Cất bên chùa Tây An nhưng trong “Đại Nam nhất thống chí” không ghi tên, phải chăng đời Tự Đức và khi Pháp đến hồi cuối thế kỷ 19, miễu hãy còn khiêm tốn, khách hành hương chỉ là người phụ cận mà thôi. Miễu phát triển về sau, qua thời kháng Pháp rồi chống Mỹ…

    …Lăng Thoại Ngọc Hầu được trùng tu, rồi lập miếu thờ trang nghiêm như đình làng, nhưng vẫn không đáp ứng được yêu cầu của con người khi quá đau khổ, bế tắc. Miễu bà Chúa Xứ được nâng cấp, thay cho miễu sơ sài…Đây là dạng tu tiên, một dạng như: Tây Vương Mẫu, Cửu Thiên Huyền Nữ, hoặc Liễu Hạnh công chúa…nên việc thờ phượng, cúng vái để “tự nhiên”, khách có thể ăn mặc lòe loẹt, trai gái đùa giỡn, cúng rượu thịt… Vị trí miễu Bà bên núi Sam hội đủ: Sông rộng, đồi núi trập trùng, vùng biên giới…Người hành hương cảm thấy được thỏa mãn về tâm thần, hòa mình vào”sơn hà xã tắc”, “khí thiêng sông núi”…

    Theo Nguyễn Đức Toàn, thì:

    Theo bước đường Nam tiến của dân tộc Việt, chúa Liễu đã từ Phủ Giầy (Nam Định), Đền Sòng (Thanh Hóa) đi về phương Nam, tạm dừng ở điện Hòn Chén (Huế) và gặp bà Pô Nưgar tại Nha Trang, gặp bà Đen (Linh Sơn Thánh Mẫu) ở Tây Ninh và bà Chúa Xứ ở núi Sam, Châu Đốc…Tất cả các bà đều là một Mẹ duy nhất trong tâm thức của tín ngưỡng và tập tục thờ mẫu của người Việt…

    Sách Kiến thức phục vụ thuyết minh du lịch giải thích thêm:

    Do ảnh hưởng Phật giáo, Lão giáo cùng với các tín ngưỡng đồng bóng của dân gian mà các vị thần được thờ chủ yếu là nữ, như: Thánh mẫu Liễu Hạnh, Thượng Ngàn, Bà Chúa Tiên, Bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Động, Bà Cố Hỷ, Bà Thủy, Bà Hỏa…Và Bà Chúa Xứ trở thành một dạng như “Phật Bà Quan Âm” (đối với người Việt), “Bà Mã Hậu” hay “Thiên Hậu Nương Nương” (đối với người Hoa). Bà được tin tưởng đến độ có rất nhiều huyền thoại về “quyền lực linh thiêng” của Bà trong việc “ban phúc, giáng họa” cho con người. Như hai câu liễn đối treo ở miếu Bà như sau:

    Cầu tất ứng, thí tất linh, mộng trung chỉ thi

    Xiêm khả kính, Thanh khả mộ, ý ngoại nan lường.

    Tạm dịch:

    Xin thì được, ban thì linh, báo trong giấc mông

    (Người) Xiêm sợ hãi, (Người) Hoa kính mộ, ý tứ khôn lường.

    Ngày 10 tháng 7 năm 2000, Bộ Văn Hóa đã ký quyết định số 92/VH-QĐ công nhận Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam thuộc khu di tích Núi Sam là cấp Quốc gia.

    Từ năm 2001, lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam được Bộ Văn hóa Thông tin và Tổng cục Du lịch Việt Nam công nhận là Lễ hội cấp Quốc gia. Ngoài phần Lễ được tổ chức trang trọng theo lối cổ truyền, phần Hội cũng được tổ chức trọng thể hàng năm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Truyền Thuyết Về Miếu Bà Chúa Xứ Linh Thiêng
  • Về Thăm Miếu Bà Chúa Xứ Linh Thiêng Ở Núi Sam
  • Du Khách Đến Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam Tăng Cao
  • 10 Nhà Nghỉ An Giang Giá Rẻ Đẹp Gần Châu Đốc, Núi Cấm, Miếu Bà 100K
  • Miếu Bà Chúa Xứ Ở Châu Đốc
  • Miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc

    --- Bài mới hơn ---

  • Miếu Bà Chúa Xứ Linh Thiêng Ở Vùng Châu Đốc An Giang
  • Miếu Bà Chúa Xứ Linh Thiêng Giúp Người Dân Cầu Được Ước Thấy
  • Tục Thờ Bà Chúa Xứ Ở Cà Mau
  • Viếng Miếu Bà Chúa Xứ
  • Tour Cần Thơ Châu Đốc
  • Miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc – điểm đến tâm linh lớn nhất An Giang

    Miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc nằm dưới chân Núi Sam (Châu Đốc, An Giang), cách trung tâm thành phố Châu Đốc khoảng 8km. Miếu Bà ra đời vào khoảng thời gian sau khi Thoại Ngọc Hầu – Nguyễn Văn Thoại về trấn nhậm, tức cách đây khoảng 200 năm.

    Tương truyền, Thoại Ngọc Hầu hoặc vợ ông là bà Châu Thị Tế đã ban lệnh và hỗ trợ để lập miếu.

    Trong miếu, tượng Bà Chúa Xứ được đặt ở chánh điện. Bà được đeo vòng vàng, choàng áo vàng. Người ta nói rằng hiện nay “tài sản” của Bà là cả trăm tỷ do những người đến Chiêm bái cầu lộc đi lễ dâng lên. Bởi thế mới thấy

    Miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc có gì hay?

    Đến Miếu Bà Chúa Xứ, bạn sẽ không khỏi ngạc nhiên vì cảnh đẹp và kiến trúc độc đáo của toàn bộ công trình. Không những vậy, câu chuyện đi lễ Bà Chúa Xứ để cầu lộc, mượn tiền bà làm ăn của những người tin vào tâm linh cũng sẽ cuốn hút bạn.

    Nét kiến trúc độc đáo

    Bước vào miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc, điểm đầu tiên là bạn sẽ vô cùng ấn tượng với lối kiến trúc tinh tế từ cổng miếu cho đến Chánh Điện, cổng sau và các gian nhà mới xây.

    Chúng tôi đến đây 2 lần, một lần vào ban ngày và một lần vào ban đêm. Quả thực, mỗi thời điểm là một vẻ đẹp khác nhau. Nếu ban ngày, bạn sẽ được nhìn rõ từng chi tiết tinh tế chạm khắc trang trí trên các câu đối, hoành phi, từng mái ngói, cột nhà… thì ban đêm, ánh điện lung linh sẽ làm bạn choáng ngợp với sự lộng lẫy của nơi đây. Đứng giữa tòa kiến trúc có vẻ đẹp khác thường, chúng t có cảm giác mình đang lạc vào chốn bồng lai tiên cảnh.

    Được biết, xưa kia, Miếu bắt đầu được xây dựng rất đơn sơ bằng tre lá, nằm quay về hướng Tây Bắc, phần lưng thì quay về vách núi, còn chính điện nhìn ra con đường và cánh đồng làng.

    Năm 1870, Miếu được xây dựng lại bằng gạch hồ ô dước. Từ năm 1972 – 1976, suốt 4 năm ròng rã, miếu Bà được hai kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng và Nguyễn Bá Lăng xây dựng lại để có được diện mạo như ngày nay.

    Nhìn chung, Miếu mang kiến trúc hình chữ quốc, có hình dáng như một bông sen đang tỏa ra. Miếu cũng được xây mái tam cấp ba tầng lầu, ngói được lợp là ngói đại ống màu xanh. Góc mái của miếu vút cao như mũi thuyền đang lướt sóng.

    Bên trong miếu thì lại được thiết kế và trang trí mang đậm nét nghệ thuật Ấn Độ. Có nhiều liễu đối, hoành phi rực rỡ, đẹp mắt. Các phần bên trong miếu là võ ca, chánh điện, phòng khách, phòng của Ban quý tế… Bốn cây cột cổ lầu trước chính điện gần như được giữ nguyên như cũ.

    Lễ Bà chúa Xứ

    Sở dĩ nhiều khách hành hương mà chủ yếu là người làm ăn từ khắp nơi đều tìm về đây là vì niềm tin: đi lễ bà Chúa Xứ, cầu lộc, vay tiền Bà để làm ăn. Đặc biệt, trong miếu Bà còn có một bức tường kỳ lạ mà người dân thường đứng úp mặt vào đó để lầm rầm cầu khấn, “tỉ tê tâm sự” với Bà.

    Thời điểm người dân hành hương đến Miếu đông nhất thường là dịp từ tháng Giêng đến tháng 3 âm lịch hàng năm (sau Tết Nguyên Đán).

    Lễ Vía Bà Chúa Xứ có các lễ chính như sau:

    • Lễ “tắm Bà”
    • Lễ “thỉnh sắc” tức rước sắc và bài vị Thoại Ngọc Hầu cùng hai phu nhân từ Sơn lăng về miếu bà,
    • Lễ túc yết và Lễ xây chầu (dâng lễ vật và tiến hành nghi thức cúng bà)
    • Lễ chánh tế
    • Lễ hồi sắc (đem sắc và bài vị Thoại Ngọc Hầu cùng hai phu nhân về lại Sơn lăng).

    Lễ vật cúng miếu Bà Chúa Xứ bao gồm: Trái cây, Hoa lay ơn, nhang rồng phụng 5 tấc, Đèn cầy, Gạo hũ, Muối hũ, trà pha sẵn, Rượu nếp Hà Nội 420ml, Nước chai 500ml, Giấy cúng Bà Chúa Xứ, Bánh kẹo, Trầu cau, Chè, Xôi, Cháo trắng, Heo quay con, Bộ Tam sên, bánh bao, Vịt luộc, Gà luộc.

    Kinh nghiệm đi Miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc

    Từ TP. Hồ Chí Minh, bạn di chuyển xuống TP. Châu Đốc bằng xe máy, ô tô du lịch tự lái hoặc xe khách.

    Nếu đi xe khách thì có nhiều nhà xe từ TP. Hồ Chí Minh đi Châu Đốc như: Phương Trang, Huệ Nghĩa, Hùng Cường. V.v… Bạn chỉ cần gọi điện đặt vé và đến điểm đón của xe là được. Xe thường sẽ khởi hành ở bến xe miền Tây hoặc văn phòng của nhà xe. Đến Châu Đốc thì xe sẽ trả khách ở nhà xe hoặc Bến xe Châu Đốc (tùy hãng). Vé xe trung bình khoảng 150k/ vé.

    Nếu từ TP. Châu Đốc thì bạn đi theo đường Tân Lộ Kiều Lương cho đến khi gặp nhà khách Núi Sam thì rẽ phải, đi thẳng là tới.

    Xung quanh miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc có rất nhiều khách sạn nhà nghỉ giá rẻ và rất tiện để vào miếu Bà. Tuy nhiên vì rẻ và nhiều (đông người từ khắp nơi đến) nên cũng khá phức tạp. Do đó lời khuyên là nếu thuê phòng thì nên đặt phòng khách sạn có chất lượng, an toàn.

    Một số gợi ý cho bạn là:

    • Nhà khách Núi Sam. Địa chỉ: Quốc lộ 91, P. Núi Sam, Châu Đốc, An Giang
    • Khách Sạn Trâm Anh. Địa chỉ: Tân Lộ Kiều Lương, P. Núi Sam, Châu Đốc, An Giang
    • Khách Sạn Bến Đá Núi Sam. Địa chỉ: QUỐC LỘ 91, P. Núi Sam, Châu Đốc, An Giang

    Ngoài ra, một lựa chọn hay ho là bạn có thể thuê phòng khách sạn ở khu vực trung tâm thành phố Châu Đốc để có thể tiện kết hợp đi tham quan nhiều điểm khác. Mọi thứ cũng tiện nghi và bớt phức tạp hơn. Các khách sạn ở trung tâm Thành phố Châu Đốc thì có khách sạn Hải Châu, khách sạn Victoria Châu Đốc.

    • Khách sạn Hải Châu. Địa chỉ: 63 Sương Nguyệt Ánh, Châu Phú A, Châu Đốc, An Giang.
    • Khách sạn Victoria Châu Đốc. Địa chỉ: Sô 1 Lê Lợi, Tp. Châu Đốc, Châu Phú B.
    • Khách sạn Ngọc Phú. Địa chỉ: 25 Đống Đa, Châu Phú A, Châu Đốc, An Giang

    Về ăn uống thì có thể ăn ở các quán xung quanh miếu, đặc biệt là các gánh hàng rong ở cổng sau miếu. Các món ăn ở đây phổ biến có bún riêu, bún cá, bún mắm, mì, hủ tiếu. v.v…

    Ngoài ra cũng có các loại bánh bò và nhiều loại bánh khác với đủ màu sắc trông rất ngon mắt.

    Dọc đường để lên cổng trước của miếu thì bán rất nhiều đặc sản là các loại mắm, khô: mắm lóc xổ, mắm sặc, mắm linh, mắm lóc nhỏ, lóc khúc, mắm chốt, lóc phi lê… Trong đó mắm chốt 60.000đ/ kg, mắm lóc khúc thì 160.000/kg. mắm lóc nhỏ thì 80.000đ/ kg…

    Đi Miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc khi nào?

    Tháng giêng – tháng 3 âm lịch, thời điểm sau Tết là khoảng thời gian lý tưởng để đi miếu Bà Châu Đốc. Hoặc từ ngày 23-27/4 âm lịch (lễ Vía Bà). Đây là những thời điểm thập phương về đây rất đông để làm lễ ở miếu Bà. Nếu bạn muốn đi với mục đích hành hương vào dịp lễ lớn thì chọn thời gian này.

    Nếu muốn chuyến đi của mình bớt đông đúc, thoải mái hơn, không bị kẹt xe, kẹt đường thì nên tránh đi vào thời điểm trên. Thời điểm này cũng là lúc dịch vụ phòng, vé xe đều đồng loạt tăng cao.

    Nếu đi hành hương thì nên đi đầu tuần và giữa tuần. Nếu đi để đi lễ miếu Bà Chúa Xứ và xin lộc, vay tiền Bà để làm ăn thì nên đi vào buổi sáng sớm, khi mặt trời chưa lên. Theo lời người dân ở đây thì như vậy mới hiệu nghiệm.

    Nếu chỉ đi tham quan thì nên đi ban đêm để bớt đông và thoải mái hơn.

    Các lưu ý khi đi Miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc

    • Lưu ý bảo quản tư trang cá nhân, các đồ quý giá, ví tiền.
    • Nên mua đồ lễ từ trước ở chợ, hoặc nếu đến đó mua thì mua tại các hàng/shop lớn xung quanh miếu.
    • Trên đường vào miếu, hạn chế mua hàng của những người bán dạo (tránh gặp phải các trường hợp bị lừa đảo lấy trộm ví tiền, tư trang…) Mặc dù không phải ai cũng lừa đảo nhưng nên tránh trước cho an toàn.
    • Không nên mang theo nhiều tiền mặt.
    • Nên mang giỏ xách phía trước người để tránh bị móc túi.
    • Không mua, thuê heo quay gần chùa vì giá ở đây sẽ rất mắc. Chưa kể có thể bạn sẽ mua phải heo đã cúng, được đem dùng lại.
    • Không nhận “lộc” từ người lạ dúi vào tay các bạn, vì họ sẽ đòi tiền bạn ngay sau đó
    • Không thả chim phóng sinh, vì những con chim ơ đây bị nhốt lâu ngày thường không thể bay nổi nữa.

    Các điểm tham quan gần Miếu Bà Chúa Xứ

    Khi đi miếu bà Chúa Xứ Châu Đốc xong thì bạn có thể đi thăm lăng Thoại Ngọc Hầu, Chùa Tây An… bên cạnh. Ngoài ra bạn nên lên kế hoạch kết hợp tham quan những địa điểm gần miếu bà Chúa Xứ như Chợ Châu Đốc, làng nổi cá Bè Châu Đốc, Làng Chăm Đa Phước…

    Hạ Khương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam An Giang
  • Em Hãy Thuyết Minh Về Di Tích Lịch Sử: “miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam”
  • Thuê Xe Du Lịch Đi Hành Hương Châu Đốc Lễ Hội Vía Bà Chúa Xứ
  • Du Lịch Châu Đốc Đến Thăm Miếu Bà Chúa Xứ, Chùa Hang, Rừng Tràm Trà Sư Và Nhiều Địa Điểm Tuyệt Đẹp Nữa
  • Truyền Thuyết Về Miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc
  • Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam

    --- Bài mới hơn ---

  • Lễ Tôn Nhang Bản Mệnh
  • Lễ Kính Các Thiên Thần Bản Mệnh
  • Lễ Thánh Thiên Thần Bản Mệnh
  • Độc Đáo Lễ Cúng Sức Khỏe Cho Voi
  • Độc Đáo Lễ Cúng Bến Nước Và Lễ Cúng Sức Khỏe Cho Voi
  • Châu Đốc, một địa danh gắn liền với sự linh thiêng với thế phong thủy tiền tam giang, hậu thất sơn và huyền bí cùng nhiều tín ngưỡng tôn giáo tồn tại từ lâu đời. Nhắc tới mảnh đất này, người ta không thể không nhớ tới Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam là điểm du lịch tâm linh nổi tiếng không chỉ ở miền Tây Nam Bộ, mà ngay cả người Việt ở nước ngoài vẫn biết đến.

    Miếu Bà Chúa Xứ tọa lạc dưới chân núi Sam thuộc phường núi Sam, TP Châu Đốc, tỉnh An Giang. Miếu Bà Chúa Xứ có rất nhiều truyền thuyết huyền bí xung quanh hoàn cảnh ra đời của ngôi miếu, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác.

    Với sự linh thiêng và ứng nghiệm, cầu được ước thấy khiến Miếu Bà hàng năm thu hút hàng triệu lượt khách đến tham quan, cúng viếng, đặc biệt vào mỗi dịp Tết đến, Xuân về góp phần phát triển ngành du lịch An Giang.

    Theo truyền thuyết kẻ lại, cách đây khoảng 200 năm, người dân địa phương tại Châu Đốc đã phát hiện ra tượng Bà ở trên đỉnh núi Sam và muốn đưa xuống. Tuy nhiên, mấy chục thanh niên cường tráng định khiêng tượng Bà nhưng không được. Sau đó qua miệng bà “cô Đồng” bảo chỉ cần 9 cô gái đồng trinh lên khiêng xuống. Nhưng đến chân núi thì tượng Bà bất ngờ nặng trịch không thể đi nữa. Người dân nghĩ Bà chọn nơi đây để an vị ở đây và đã lập miếu tôn thờ.

    Ngày trước miếu Bà được xây dựng đơn sơ bằng tre lá, nằm quay về hướng tây bắc, phần lưng thì quay về vách núi, còn chính điện nhìn ra con đường và cánh đồng làng. Vào năm 1870, miếu được người dân xây dựng lại bằng gạch hồ ô dước. Trong 4 năm từ 1972 đến 1976, miếu Bà được hai kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng và Nguyễn Bá Lăng tái thiết lớn tạo nên dáng vẻ như hiện nay.

    Miếu Bà có bố cục kiểu chữ “Quốc”, hình khối tháp dạng hoa sen nở, mái tam cấp ba tầng lầu, lợp ngói đại ống màu xanh, góc mái vút cao như mũi thuyền đang lướt sóng. Các hoa văn ở cổ lầu chánh điện thể hiện đậm nét nghệ thuật.

    Phía trên cao, các tượng thần khỏe mạnh, đẹp đẽ giăng tay đỡ những đầu kèo. Các khung bao, cánh cửa đều được chạm trổ, khắc, lộng tinh xảo và nhiều liễn đối, hoành phi lộng lẫy. Đặc biệt, bức tượng phía sau tượng Bà, bốn cây cột cổ lầu trước chánh điện gần như được giữ nguyên như cũ.

    Quần thể kiến trúc miếu có chính điện (nơi thờ tượng Bà), võ ca, phòng khách và phòng Ban quý tế.

    Bên trong miếu thì lại được thiết kế và trang trí mang đậm nét nghệ thuật Ấn Độ. Các cánh cửa miếu được các nghệ nhân chạm trổ, điêu khắc tinh xảo. Đặc biệt, nhiều liễn đối và hoành phi ở nơi đây cũng được dát vàng son rực rỡ.

    Tượng Bà được người dân đặt ở giữa chính điện, xung quanh đó còn có bàn thờ Hội đồng ở phía trước, Tiền hiền và Hậu hiền thì đặt hai bên. Bàn thờ Cậu đặt ở bên trái, có thờ một Linga bằng đá rất to, cao khoảng 1,2m, còn bàn thờ Cô thì ở bên phải thờ một tượng nữ thần nhỏ bằng gỗ,…

    Về nguồn gốc tượng Bà Chúa Xứ có nhiều truyền thuyết khác nhau. Theo lời truyền miệng dân gian thì vào những năm 1820 – 1825, quân Xiêm sang quấy phá nước ta và đuổi theo dân lên đỉnh núi Sam thì gặp tượng Bà. Bọn chúng ra sức khiêng bức tượng nhưng không nhấc nổi, một tên trong số đó đã làm tức giận làm gãy tay Bà và ngay lập tức hắn bị trừng phạt. Từ đó người dân gọi là Bà Chúa Xứ và lập miếu thờ để cho Bà Chúa phù hộ mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, tránh được giặc cướp, thoát khỏi dịch bệnh.

    Còn theo nhà khảo cổ học người Pháp Malleret nghiên cứu vào năm 1941 cho biết tượng Bà Chúa Xứ Núi Sam thuộc loại tượng thần Vishnu (nam thần). Tạc dáng người nghĩ ngợi, quý phái, chất lượng bằng đá son, có giá trị nghệ thuật cao. Bức tượng được tạc vào cuối thế kỷ 6 và rất có thể đây một trong số hiện vật cổ còn sót lại của nền văn hóa Óc Eo xưa. Vào năm 2009, tượng Bà được ghi vào sách Kỷ lục An Giang là bức tượng bằng đá sa thạch xưa nhất Việt Nam và có áo phụng cúng nhiều nhất.

    Vào mỗi dịp Tết đến, Miếu Bà Chúa Xứ lại thu hút đông đảo người dân địa phương và khách thập phương. Họ đến để thắp hương, cầu nguyện về một năm mới ấm no, hạnh phúc. Miếu Bà chúa xứ Núi Sam thể hiện rõ tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt Nam. Không phải ngẫu nhiên mà miếu Bà Chúa Xứ mỗi năm thu hút hơn 3 triệu Phật tử từ các nơi đổ về hành hương, cúng bái cầu bình an, may mắn, tài lộc. Có du khách kể lại rằng, khi làm ăn họ không gặp vận, gặp thời. Người đó cúng bái khắp nơi, sau này nghe lời đồn, ông đã cất công từ Đà Nẵng bay vào Nam và viếng Miếu Bà Chúa Xứ. Và từ đó thời vận ông kéo về không thể hơn được. Từ đó hàng năm, ông đều vào Nam trả lễ Miếu Bà Chúa Xứ.

    Khuôn viên vô cùng rộng rãi thoáng đãng với những cây cổ thụ rợp bóng xanh mát và nhiều cảnh được tạo dáng đẹp mắt. Điểm tô cho không gian là sắc hoa rực rỡ. Vào buổi tối, khi đèn lên, không gian miếu cổ kính lại thêm phần lung linh. Vãn cảnh chùa, thắp nhang cầu những điều bình an tốt lành cho bản thân và gia đình xong, bạn có thể leo lên tầng cao của ngôi miếu, ngắm nhìn cảnh vật từ trên cao, đưa mắt hướng về phía xa, bạn có thể thấy được cả 1 góc của thành phố.

    Từ tháng 1 đến tháng 4 âm lịch hàng năm, Miếu Bà luôn nô nức dòng người đến thăm viếng. Bởi đây chính là khoảng thời gian diễn ra lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam ( 24-27.4 âm lịch). Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ chính thức diễn ra từ ngày 24 đến ngày 27 tháng 4 âm lịch hàng năm, trong đó có ngày vía chính là ngày 25. Năm 2022, Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ được Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.

    Vào mùa lễ hội, hàng triệu người từ khắp các vùng miền cả nước, nhiều nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long, thành phố Hồ Chí Minh, miền Đông Nam Bộ về đây dự lễ tắm tượng Bà, lễ dâng hương cầu phúc lành… và tham gia các trò chơi như hát bôi, múa võ, ca nhạc ngũ âm, múa lân, đánh cờ…

    điểm du lịch tâm linh An Giang Điểm tham quan An Giang Miếu Bà Chúa Xứ Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Khấn Đầy Đủ Khi Đi Cúng Lễ Bà Chúa Xứ Châu Đốc
  • Vấn Đề Cúng Tế Và Cứu Độ Hương Linh Trong Kinh Tạng Nikàya
  • Bàn Thờ Tiếng Anh Là Gì Và Các Vấn Đề Liên Quan, Bạn Có Biết?
  • Sơ Lược Nghi Thức Cúng Bái Và Tế Lễ Của Người Việt
  • Lương Cứng Là Gì? Đừng Bỏ Qua Những Này Về Lương Cứng
  • Miếu Bà Chúa Xứ Ở Châu Đốc

    --- Bài mới hơn ---

  • 10 Nhà Nghỉ An Giang Giá Rẻ Đẹp Gần Châu Đốc, Núi Cấm, Miếu Bà 100K
  • Du Khách Đến Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam Tăng Cao
  • Về Thăm Miếu Bà Chúa Xứ Linh Thiêng Ở Núi Sam
  • Truyền Thuyết Về Miếu Bà Chúa Xứ Linh Thiêng
  • Miếu Bà Chúa Xứ Núi Xam
  • Miếu Bà Chúa Xứ

    Miếu Bà Chúa Xứ không chỉ là điểm đến tâm linh nổi tiếng mà còn là một di tích lịch sử, kiến trúc quan trọng của vùng Châu Đốc, tỉnh An Giang. Miếu Bà tọa lạc dưới chân núi Sam, trước đây thuộc thị xã Vĩnh Tế nay thuộc phường Núi Sam, Thành phố Châu Đốc. Đây không chỉ là công trình kiến trúc đẹp và tôn nghiêm mà Miếu bà Chúa Xứ còn là một di tích nổi tiếng không chỉ ở Tây Nam Bộ và khắp vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long mà còn cả người Việt ở nước ngoài cũng biết đến.

    Miếu Bà Chúa Xứ có nguồn gốc cách đây 200 năm và đến nay vẫn là một điều bí ẩn. Tuy nhiên theo các nhà nghiên cứu thì miếu Bà được xây dựng từ khoảng đầu thế kỉ XVIII khi ông Thoại Ngọc hầu đến trấn giữ vùng đất Tây Nam. Ông được triều đình giao trọng trách đào kênh Vĩnh Tế, con kênh có độ dài 100km, rộng 50m, nối Châu Đốc với Hà Tiên. Có thể nói đây là một công trình vĩ đại nhằm mục đích thoát lũ, xả phèn cho ĐBSCL, rút ngắn con đường giao thương đường thủy vùng phía Tây. Tuy nhiên, khi tiến hàng thì liên tục gặp trục trặc, nhiều người chết do tai nạn, bệnh tật hoặc bị thú dữ tấn công.

    Thấy tình hình không mấy khả quan, vợ của ông Thoại Ngọc Hầu là bà Chậu Thị Tế đã nghe lời dân làng đến cùng bái tượng bà. Và quả nhiên ngay sau đó việc xây dựng diễn ra rất suông sẻ. Không chỉ thế, bà còn đến cầu cho ông Thoại Ngọc Hầu đánh thắng giặc ngoại xâm bảo vệ bình yên cho nhân dân. Sau đó, để tạ ơn, bà cho xây dựng lại ngôi miếu to và khang trang hơn. Nếu như đúng như trên thì Miếu Bà được xây dưới thời Minh Mạng.

    Khoảng năm 1824, miếu được làm bằng tre lá tạm bợ chủ yếu là gỗ. Năm 1870, miếu được xây lại bằng gạch hồ ô dước, mái lợp ngói âm dương. Gần 100 năm sau đó, năm 1962 khi miếu bị xuống cấp trầm trọng nên được người dân sửa lại khang trang hơn và bắt đầu thu hút được nhiều người đến viếng. Ba năm sau, nhờ sự đóng góp của các mạnh thường quân, ngôi miếu được xây rộng ra có thêm nhà khách và hàng rào. Năm 1972 ngôi miếu được phá xây lại trừ tấm vách đá sau lưng Bà. Lần sửa chữa này do ý kiến của ông Nguyễn Văn Ứng, hội trưởng Hội cứu tế đề nghị và được tập thể Hội tán thành. Công trình khởi công tu sửa lần 2 đến tận năm 1976 thì miếu mới thật sự được xây dựng xong.

    Miếu Bà Chúa Xứ có kiến trúc dạng chữ “quốc”, hình khối tháp dạng hoa sen nở, mái tam cấp ba lầu, xây bằng gạch có 4 mái hình vuông, nóc lợp bằng ngói ống màu xanh, góc mái vút cao như mũi thuyền đang lướt sóng. Nhà để tượng cũng có mái vuông, ngay chính điện lát bằng gạch đá xanh, theo như lời ông hội trưởng thì vách 2 bên được xây bằng đá cẩm thạch nhập ở Ý, Nhật, Đài Loan do kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng và Nguyễn Bá Lăng thiết kế xây dựng.

    Miếu Bà Chúa Xứ là một ngôi miếu cổ, thờ một tượng hình bằng đá. Theo lời kể của các ông thì hình tượng là một phụ nữ dáng ngồi. Dáng uy nghi, đội mũ, bị gãy một bên tay trái, bên trong mặc xà rông, bên ngoài mặc áo bào thêu rồng phượng. Mặt tượng được sơn màu nâu cánh dán, mắt đen. Hai bên là tượng cô bằng đá (bên phải),thờ cậu (bên trái).

    Còn theo như nhà khảo cổ học người Pháp Malleret đến nghiên cứu vào năm 1941, thì tượng Bà Chúa Xứ Núi Sam thuộc loại tượng thần Vishnu (nam thần),tạc dáng người nghĩ ngợi, quý phái, chất lượng bằng đá son, có giá trị nghệ thuật cao, được tạc cuối thế kỷ VI và rất có thể đây là một trong số hiện vật cổ của nền văn hóa Óc Eo.

    Sau này, nhà văn Sơn Nam cũng đã chép rằng: Tượng của Bà là pho tượng Phật đàn ông của người Khmer, bị bỏ quên lâu đời trên đỉnh núi Sam. Người Việt đưa tượng vào miễu, điểm tô lại với nước sơn, trở thành đàn bà mặc áo lụa, đeo dây chuyền. Và từ đó “Bà Chúa Xứ” là vị thần có quyền thế lớn ở khu vực ấy, xứ ấy…

    Hàng năm vào các ngày 25, 26, 27 tháng 4 âm lịch, nhân dân các tỉnh phía Nam cùng nhân dân địa phương nô nức đến lễ ở miếu Bà. Trong ngày lễ còn có múa bóng, hát bội… Đêm ngày 23, mọi người đã tập trung về chùa để xem lễ tắm Bà. Tượng Bà được mang xuống, cởi áo ra, lấy nước mưa pha với nước hoa để tắm phong tục này đã tồn tại hàng trăm năm nay.

    Để có một chuyến du lịch vui vẻ và an toàn, du khách nên lưu ý một số điều sau:

    Bởi vì Miếu Bà Chúa Xứ là một nơi linh thiêng và rất nổi tiếng nên lượng người đổ về đây viếng Bà hay du lịch rất đông đúc. Nên để phục vụ khách hành hương, khác du lịch xung quanh chùa có rất nhiều dịch vụ nhue bán đồ cúng, cho thuê heo quay, thả chim phóng sinh, xem quẻ đầu năm… vì vậy, du khách muốn mua sắm các đồ vật lễ Bà nên hỏi giá kỹ trước khi mua. Dọc đường đi sẽ có các trạm dừng, du khách có thể mua hoa, trái cây ở đây hoặc mua tại các điểm gần bến phà sẽ có giá rẻ hơn những điểm bán ở gần chùa. Nếu không mua được trên đường thì nên vào các cửa hàng lớn xung quanh chùa và hỏi kĩ giá trước khi mua. Tuyệt đối không mua nhang đèn từ những người bán lẻ đi theo mời mọc. Không chỉ vậy, sẽ có rất nhiều người chèo kéo du khách mua vé số, xin tiền hay gửi lộc,..

    Xung quanh chùa có rất nhiều điểm bán hoặc cho thuê heo quay. Giá của những con heo quay ở nơi này sẽ đắt hơn khoảng 50.000đ/kg, chưa kể heo có thể bị để lâu hoặc có khi là heo tái sử dụng vì trước đó đã có người mang vào lễ Bà. Nếu du khách không thể mang heo quay từ nhà đi thì tốt nhất là lễ Bà bằng trái cây hoặc bánh mứt, không nên mua hoặc thuê heo quay tại chùa.

    Khi đến chùa, sau khi mua trái cây, nhang đèn cúng, du khách nên đi thẳng vào chùa để thắp hương, không nên nhận bất cứ lộc nào của người khác dúi vào tay, vì sẽ phải trả rất nhiều tiền. Sau khi thắp hương, du khách cũng không nên thả chim phóng sinh vì cho dù đã thỏa thuận trước giá cả, người bán thả chim ra, du khách vẫn sẽ bị đếm số lượng chim phóng sinh và tính tiền tăng đến chóng mặt. Đã có nhiều trường hợp xảy ra cự cãi, xô xát giữa khách hành hương và người bán.

    Ở miếu bà lúc nào cũng đông khách hành hương nên khi vào khu vực chính điện của miếu, du khách phải hết sức cẩn thận với ví tiền của mình. Khi đi chùa, không nên mang theo nhiều tiền mặt, nếu để trong túi xách thì phải cài chặt và quay túi xách ra phía trước tránh tình trạng mất cắp xảy ra.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Khách Hiến Kế Cách Thu Hút Khách Đến Miếu Bà Chúa Xứ
  • Bạn Hãy Cho Biết Cảm Nghĩ Của Mình Về Một Di Tích Lịch Sử, Danh Lam Thắng Cảnh Ở An Giang
  • Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam: “điểm Đến” Của Phố Núi Châu Đốc
  • Qua Sông Đồng Nai Là Tới… Châu Đốc!
  • Miếu Bà Chúa Xứ Một Điểm Đến Du Lịch Tâm Linh Ở Miền Tây
  • Miếu Bà Chúa Xứ Mỹ Đông

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Lưu Ý Khi Hành Hương Châu Đốc
  • Tour Du Lịch 2022 : Hà Tiên
  • Miếu Bà Chúa Xứ Thủy Tề Bạc Liêu
  • Truyền Thuyết Về Miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc
  • Du Lịch Châu Đốc Đến Thăm Miếu Bà Chúa Xứ, Chùa Hang, Rừng Tràm Trà Sư Và Nhiều Địa Điểm Tuyệt Đẹp Nữa
  • MIẾU BÀ CHÚA XỨ MỸ ĐÔNG

    1. Tên di tích: Miếu bà chúa xứ Mỹ Đông

    2. Loại công trình: Đền miếu

    3. Loại di tích: di tích Lịch sử cách mạng

    4. Quyết định: Đã xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia theo quyết định số 73/QĐ.BVHTT, ngày 23/8/2004 của Bộ VHTT

    5. Địa chỉ di tích: Thị Trấn Ngã Năm, huyện Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng

    6. Tóm lược thông tin về di tích

    Miếu Bà Chúa xứ Mỹ Đông, gọi theo dân gian là miếu Bà Mỹ Đông. Miếu nằm bên bờ Bắc rạch Mỹ Đông, thuộc ấp Mỹ Đông 1, xã Mỹ Quới, huyện Thạnh Trị (nay thuộc huyện Ngã Năm), cách thị trấn Phú Lộc 20km và cách thành Phố Sóc Trăng 60 km về hướng Đông – Bắc. Từ thị trấn Phú Lộc (huyện Thạnh Trị) quẹo phải dọc theo hương lộ 26 thêm một chặng đường 20km nữa là đến di tích. Đi đường thủy, sau khi đã đến thị trấn Phú Lộc, có thể đi bằng ghe xuồng theo hai đoạn kênh Toàn Rê và kênh 19/5 khoảng 20km là đến di tích rất tiện lợi.

    Giữa năm 1930, Chi bộ Đảng làng Mỹ Quới – Chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh Sóc Trăng được thành lập tại chợ Mỹ Quới. Cử đồng chí Trần Văn Bảy làm bí thư Chi bộ và lấy Miếu Bà Chúa Xứ Mỹ Đông làm địa điểm để chi bộ sinh hoạt.

    Ngay từ khi nhận nhiệm vụ bí thư chi bộ, đồng chí Trần Văn Bảy đã đề ra kế hoạch hoạt động cho chi bộ, phân công cụ thể, luôn bám sát phong trào cơ sở để nắm chắc tình hình, thường xuyên xuống trực tiếp trao đổi, bồi dưỡng hướng dẫn thêm lý luận chính trị và thực tiễn vận động quần chúng. Thông qua các hình thức hoạt động công khai như: tổ chức các lớp dạy võ, dạy nhạc cổ, dạy chữ quốc ngữ… Nhiều lớp huấn luyện bí mật được chi bộ mở liên tục với hình thức phân tán mỏng, đảm bảo được bí mật và an toàn cho từng học viên. Thông qua đó chi bộ chọn lọc và kết nạp ngày càng nhiều thanh niên ưu tú vào Đảng. Từ đó thúc đẩy phong trào cách mạng ngày càng phát triển lan rộng ra các nơi trong quận Phước Long.

    Chặng đường từ năm 1930 đến 1936, Chi bộ Mỹ Quới xuất sắc vượt qua mọi khó khăn để xây dựng cơ sở; trong khoảng thời gian này, nhiều cơ quan đảng ở các nơi trong quận lần lượt ra đời. Năm 1936, quận uỷ Phước Long thành lập, các đồng chí Lê Hoàng Chu, Trần Văn Bảy, Trương Quý Thể, Quảng Trọng Hoàng được bầu vào quận uỷ.

    Sau cuộc khởi nghĩa Nam kỳ nổ ra tại các nơi trong tỉnh ngày 23/11/1940, thực dân Pháp đã điên cuồng mở những cuộc càn quét với quy mô lớn để trả thù những người cách mạng yêu nước. Chúng đốt sạch, phá sạch và gây biết bao tội ác với nhân dân – Ngôi miếu Bà Mỹ Đông cũng bị bọn chúng đập phá san bằng.

    Sau giải phóng 30/4/1975, bà con ở ấp Mỹ Đông đã dựng tạm lại ngôi miếu bằng tre gỗ và lợp lá để thờ cúng. Năm 1997, tỉnh đầu tư kinh phí xây dựng nơi đây một tấm bia lưu niệm nơi thành lập Chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh Sóc Trăng.

    Ngày 27/11/2003 di tích Miếu Bà Mỹ Đông, xã Mỹ Quới, huyện Ngã Năm tỉnh Sóc Trăng được công nhận là di tích lịch sử cách mạng theo Quyết định số 62/2003/QĐ-BVHTT.

    Miếu Bà Chúa Xứ Mỹ Đông là một điểm sáng luôn sống mãi trong lòng Đảng bộ Sóc Trăng và đã trở thành nơi tổ chức kỷ niệm ngày thành lập Đảng hằng năm – một lễ hội truyền thống động viên giáo dục tinh thần cách mạng cho thế hệ hôm nay và mai sau./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xây Dựng Trái Phép Tượng Bà Chúa Xứ Trên Đỉnh Núi Sam
  • Tour Du Lịch Làng Nổi Tân Lập
  • Hướng Dẫn Đi Lễ Chùa Đầu Năm Đúng Cách “sở Cầu Như Nguyện”
  • Chùa Bà Chúa Xứ Châu Đốc Một Địa Điểm Tâm Linh Hấp Dẫn Của Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long
  • Thời Gian Mở Cửa Khu Du Lịch Văn Hóa Tâm Linh Bà Chúa Xứ Dịp Tết 2022?