Các Lễ Cúng Của Ngư Dân Vùng Biển Bình Định

--- Bài mới hơn ---

  • Tục Lệ Cúng Xuồng, Ghe Nam Bộ
  • Phong Tục, Nghi Lễ Của Người Dân Đi Biển
  • Ngư Dân Hà Tĩnh Với Tục Cúng Xuất Bến Cầu “lộc Biển”
  • Ý Nghĩa Của Heo Quay Trong Các Mâm Cúng
  • Cúng Heo Quay Trả Lễ Có Mang Tội Không?
  • Hằng năm ngư dân vùng biển Bình Định có rất nhiều lễ cúng, nhằm mục đích cầu quốc thái dân an, ra khơi vào lộng bình yên vô sự, thuyền cao sõng thấp cá về đầy khoang, đi khơi gặp đống, đi lộng gặp tía, cầu trời êm biển lặng để mọi người trong ao bổ lưới, ngoài dời giăng câu, ngày lặng nhiều hơn ngày động gió, lốc tan mau để ngư dân bám biển.

    Thuyền neo trên đầm Đống Đa, Quy Nhơn (ảnh: Cát Hùng)

    Cũng như nông dân, họ cầu trời mưa thuận gió hòa, đồng xanh lúa tốt, được mùa quanh năm để cuộc sống ấm no hạnh phúc. Vì vậy các lễ cúng của bà con ngư dân ngày xưa rất đa dạng. Khi được thì cúng mừng, khi mất thì cúng cầu. Và đây cũng là đặc trưng của người làm cá trên biển khơi của cả ngư dân khắp nước. Họ quan niệm đây là cái nghề “sống ở dương gian làm nghề hà bá (âm phủ)” thường là nó không theo ý muốn và hành xử của con người. Sự rủi may cũng không nằm trong tầm tay con người, cho nên họ tin vào hên xui, thời vận và việc đó (họ nghĩ) có một mãnh lực vô hình sắp đặt ban cho.

    Những lễ cúng nầy được cụ thể hóa sau đây:

    Ở biển, mỗi loại nghề hay vạn nghề đều có một lăng vạn (ví dụ: lăng vạn nghề lưới cao, nghề mành chà, nghề lưới chuồn…). Lăng vạn vừa là nơi nhóm họp trụ sở của các loại nghề, vừa là nơi thờ tự Ông Nam Hải và các vị thần phù giúp cho nghề đi biển. Vạn nào, làng nghề nào được cá Ông vào chết (tức Ông Lỵ) thì vạn ấy được ưu tiên tổ chức chôn cất và cúng giỗ vào ngày ấy theo lịch giỗ hàng năm. Có vạn làm ăn khá giả ngày giỗ Ông, ngoài chinh, cổ, nhã, nhạn còn có văn tế, có chánh tế và bầu tế, bốn học trò gia lễ cúc cung dâng hương, hoa, trà, tửu. Và cũng ngày này, có vạn rước đoàn chèo bá trạo, hay hát bội hát vài ba lớp tuồng, trước là cầu ngư hầu thần, sau đem lại sự vui vẻ, an lạc trong bổn vạn. Họ quan niệm, năm nào có hát có chèo bổn vạn, làng xóm mới trù phú, thanh bình, nhà nhà vui vẻ, người người ấm no.

    Các loại nghề, cuối năm hoặc mãn mùa năm qua, nay đã chỉnh trang sửa soạn xuống nước ra quân cho vụ mùa tới, lưới được giặt sạch nhuộm kỹ, xem ngày giờ đại lợi (tốt) chở xuống nghe, để ngày sau khởi sự đi làm. Thế thì chiều hôm trước, người ta biện một lễ cúng thật tươm tất, chủ thuyền là chủ lễ. Trong lễ cúng nầy có hai mâm cúng, một để cúng Bà Thủy, thường là bình bông đĩa quả, đĩa bánh, bốn chén chè, một đĩa xôi, một con gà giò luộc ở độ vùa chín (để sau cúng cắt riêng bộ giò đem biếu thầy đón thời vận), một xị rượu trắng, tất cả mâm cúng nầy được đặt trước mũi thuyền. Một mâm nữa được đặt ở giữa thuyền để cúng Quý Bác là những người đi biển chết sóng, chết gió, vì thiên tai nghề biển, bị mất hình, mất xác trôi sông lạc biển mời họ về thọ lễ cúng và phù hộ cho bổn chủ và đồng nghiệp được bình an, may mắn trong mùa vụ sắp ra quân. Lễ cúng thường là cặp gà trống luộc, thịt heo, chè xôi, bánh trái và không thiếu hương, hoa, trà rượu. Có chủ nghề cúng bộ thủ, vĩ heo (gồm đầu, nọng, bốn chân và đuôi heo). Cúng xong người chủ lễ lấy một cành bông nhỏ nhúng vào ly rượu cúng Bà rảy khắp cả ghe nghề, còn lại tưới trên sỏ mũi, để tẩy uế trước giờ ra khơi. Tất cả anh em chủ bạn cùng đi làm trên ghe xúm lại bày dọn và cùng nhau thụ tàn vui vẻ. Và sau đó phương án ăn làm cùng với cách chia chác được bàn kỹ để mọi người thuận thảo cho mùa làm ăn đi vào nề nếp.

    * Lễ cúng tạ:

    Sau một mùa biển, dù thế nào, hoặc những chuyến biển đạt nhiều kết quả, hoặc gặp sự khó khăn do trời biển gây nên mà họ về lại bến bờ an toàn, đều có lễ cúng tạ ông bà ngoài biển cùng các vong hồn uổng tử phù hộ. Nên lễ này thường cúng cả con gỏi (tức trọn một con heo). Sau cúng, họ sẽ mời những bạn đồng nghiệp ân nhân và bà con hàng xóm đến chia vui, chúc mừng.

    Thường thì trong thời gian trời động gió, dân biển phải nghỉ biển nhiều ngày, hoặc nghỉ vì trăng sáng quá (khoảng 12-19 âm lịch hàng tháng). Những ngày nghỉ này cũng là những ngày lo tu bổ lưới chài, sơn sửa ghe thuyền, để chuẩn bị tối trời lại ra khơi, nên ngày ra đi cũng lo làm lễ cúng mở biển đơn giản trước khi ra cửa biển.

    Lễ cúng gồm có hương hoa, trầm trà, rượu, 2 con gà giò luộc, chè, xôi, y áo, vàng bạc, giấy tiền (đồ vàng mã). Hai con gà luộc, một để cúng bà thủy, một để cúng bà mộc (ghe thuyền), cúng xong mới lấy neo khởi hành.

    Các điều kiêng kị khi mở biển như: mọi việc phải làm thông suốt, không để quên và vướng vấp điều gì, không để một ghe xuồng nào khác chạy qua mũi, nhất là ghe đò, tránh nói những từ bất lành như: lỗ, hao, mất, tuốt; không lo âu buồn bã và khi neo lần đầu phải neo cho ăn chắc một một lần là được.

    Sau khi từ những thớt lưới lẻ tẻ kết lại đã thành vàn lưới, mành, có thểđưa ra biển đánh bắt, được người ta gọi là sương lưới. Trong việc nhuộm và sương lưới, ngư dân thường chọn ngày tốt, tránh các ngày sát chủ, đại hao, phục đoạn, tam nương. Tối kị những người có tang và mang khăn tang. Và cũng như sau khi đã nhuộm xong một vàn lưới hay vàn mành, người ta thường tổ chức lễ cúng tạ để mừng, coi như hoàn thành một công việc lớn (khánh thành). Sau đó, những người có công giúp việc cùng chung vui hầu tàn. Vật cúng, ngoài hương hoa, trà rượu ra, có đầu heo, chè xôi, bánh, trái cây, còn có con gà giò luộc để sau khi cúng đem bộ giò ra thầy đoán những điều báo trước.

    Khi đóng ghe thuyền đi làm biển, quan trọng nhất là chọn ngày giờ dựng sỏ, cũng như khi làm nhà thì ngày giờ gác đòn dông rất quan trọng vậy. Người chủ ngoài việc chuẩn bị mọi thứ cho việc đóng ghe, còn phải đến tìm thầy xem chọn ngày giờ, để dựng sỏ ghe, rồi sau đó mọi việc mới tiếp tục làm. Ngày dựng sỏ còn tính đến hai ngày tối tối kị của nghề biển là: long thần hành và bát phong. Vật phẩm để cúng thì đơn giản, chỉ có hương hoa, trà qua, bình rượu trắng, bộ y áo cúng bà mộc. Người thợ cả, không vướng vào việc tang chế, được chít khăn đỏ trên đầu, cầm rìu vạt miếng dăm đầu tiên trên cây sỏ, đúng vào giờ trong ngày đã quy định. Khi sỏ được dựng, trên đầu sỏ được phủ tấm vải đỏ cột chặt cho đến khi xong ghe.

    * Lễ cúng mừng ghe (hay lễ hạ thuyền):

    Khi ghe thuyền đóng xong, chủ ghe chọn ngày giờ đẩy xuống nước, và ngày ấy cũng là ngày làm lễ cúng mừng ghe mới (khánh thành). Lễ này rườm rà hơn vì phải trước cúng cô bác đã phù hộ, gọi là trả lễ, sau nhờ bà con trong làng xóm giúp đẩy với chủ để đưa ghe xuống nước, nên có hai món phải sắm hơi nhiều là: thịt và rượu. Mâm cỗ càng lớn thì lực đẩy càng mạnh, nên người đóng ghe lớn rất quan tâm đến điều ấy. Lễ cúng này ngày trước người ta đốt rất nhiều pháo, và khi pháo nổ càng giòn giã là sức đẩy càng mạnh, và mọi người vui mừng khen ngợi chủ thuyền gặp nhiều sự may mắn.

    Lễ cúng này thường tổ chức vào cuối vụ mùa, cho dù làm ăn trong mùa có khấm khá hay thất thu, người ta cũng lo cỗ cúng trên bãi biển, nơi mà họ thường làm chỗ sương lưới, nhuộm lưới và phơi lưới hằng ngày. Đây là lẽ cúng để trả lễ các cô hồn các đẳng là những người đã chết vì tai trời ách nước ngoài biển, có người không còn thây xác về lại quê nhà, rất linh, nên khi có chuyện gì cầu khẩn, dân biển đều van vái các vị này. Tùy theo sự thu nhập trong vụ mùa mà lễ cúng nhiều hay ít. Nếu thu nhập khá thì cỗ cúng có cả heo luộc chín và làm các món, chỉ luộc để nguyên bộ thủ vĩ (đầu đuôi và 4 chân). Còn thu hoạch vừa thì đôi ba chú gà và ít thịt heo (và cũng tùy theo giàn bạn đông hay ít). Và thu nhập thấp thì cũng có khi ngồi bãi với người ta bằng cỗ cúng đơn giản với hương hoa, trà quả, chè xanh.

    Hằng năm, các loại nghề đều cúng vào thời điểm cuối mùa, khi trời bắt đầu trở gió, dân biển chỉ ngồi nhà ngó ra ngoài khơi mà thôi.

    . Trần Xuân Toàn

    Điều cần nói thêm là các lễ cúng của ngư dân vùng biển Bình Định đều không sử dụng phụ nữ trong các việc nấu nướng, sắp dọn và ăn uống, trừ trường hợp đồ nấu ấy nấu tại nhà, nhưng đến khi bưng gánh xuống ghe thuyền thì cũng phải đàn ông lo hết các việc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Những Cách Tạo Dáng Gà Cúng Đẹp Và Dễ Nhất Bạn Nên Biết
  • Tìm Hiểu 3 Bước Cúng Giải Hạn Tam Tai Tại Đây
  • Hướng Dẫn Cúng Giải Hạn Tam Tai Năm Giáp Ngọ (2014)
  • 4+ Cách Hoá Giải Vận Đen Vận Xui Trong Công Việc Làm Ăn
  • Top 10 Cách Xả Xui Cầu May Mắn Được Tìm Kiếm Nhiều Nhất
  • Mâm Cỗ Tết Của Người Bình Định

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Trang Trí Mâm Cỗ Trung Thu Ở Mỗi Vùng Miền Của Việt Nam
  • Khách Đi Ăn Cưới Mừng 2 Triệu Vẫn Thấy Ngại Vì Cỗ Toàn Hải Sản, Rượu Ngoại Đắt Đỏ
  • ‘sởn Gai Ốc’ Những Món Ăn Trên Mâm Cỗ Cưới Của Người Việt
  • Đại Gia Đặt Tiệc Cưới Vip, Giá Gần 20 Triệu/mâm Cỗ Nhưng Nhà Hàng Có Tiếng Cũng Không Nhận
  • Rạp Cưới Khủng Nhất Làng, Cỗ Cưới Công Phượng 11 Món Sang Nhưng Vẫn Bị Chê Thiếu Món Này
  • Mâm cỗ Tết của người Bình Định

    Đó là một tác phẩm nghệ thuật thực sự với đủ màu sắc và hương vị của những thức ăn quê cảnh được làm từ chính đôi bàn tay của những phụ nữ đảm đang trong gia đình.

    Việt Nam nói chung, Bình Định nói riêng vốn rất trọng ông bà tổ tiên, mỗi dịp cúng giỗ, lễ, Tết thường sắm sửa những mâm cỗ cúng thịnh soạn, đẹp mắt để thể hiện lòng thành kính của mình với người đã khuất và chiêu đãi bạn bè, hàng xóm. Ở Gia Lai, có nhiều người dân từ Bình Định lên sinh sống lập nghiệp, quê nắng vàng cát trắng song nơi an cư lại là vùng đất bazan hai mùa mưa nắng, tuy sống ở đâu họ vẫn mang theo nét văn hóa cúng giỗ cùng ẩm thực rất độc đáo của quê hương.

    Tết đến xuân về là dịp con cháu nhắc nhớ đến tổ tiên, từ những ngày đầu tháng Chạp âm lịch, dù bận rộn công việc đến mấy thì mọi người trong gia đình đều tạm gác lại, đàn ông đảm nhiệm việc đến nghĩa trang dọn dẹp, tu sửa mộ phần của ông bà tổ tiên trong gia đình, dòng họ mình và thỉnh mời người đã khuất về nhà ăn tết cùng con cháu họ tộc. Những phụ nữ cùng nhau chuẩn bị mâm cỗ cúng.

    Tôi quê gốc Bình Định nhưng sinh ra và lớn lên ở Pleiku, tôi yêu thích việc nấu nướng từ nhỏ thế nên hàng năm cứ vào dịp lễ, tết đều theo mẹ và các chị em trong dòng họ chuẩn bị cỗ cúng. Theo truyền thống của dân quê tôi thì trong mâm cỗ ngày tết của gia đình lúc nào cũng có những món như: thịt kho tàu, giò heo hầm măng khô, bánh tét, bánh chưng, mắm kiệu, chả lụa, chả ram, bún xào, đậu cô ve xào, canh bún tàu, cơm trắng, lòng heo luộc, gà luộc, bánh tráng nướng… Ngoài những món ăn mặn còn có những món ngọt như: bánh in, bánh thuẫn, mứt dừa, mứt gừng, kẹo thèo lèo, xôi đậu đen… Bởi người quê tôi quan niệm “sống sao thác vậy”, ” trần sao âm vậy”.

    Thời nay, cuộc sống hiện đại đủ đầy các mặt hàng thực phẩm, cái gì cũng có thể ra chợ mua được, tuy nhiên nhiều gia đình trong đó có gia đình tôi vẫn giữ được nét văn hóa cúng giỗ và ẩm thực truyền thống như là tự nấu những món ăn cổ truyền cũng như tự làm các loại bánh trái ngày tết như bánh tét, bánh chưng, làm mắm kiệu, làm mứt gừng, mứt dừa, bánh in, bánh thuẫn… Cách làm ấy cũng là dịp để thế hệ trẻ chúng tôi biết thêm nét đẹp độc đáo trong văn hóa ẩm thực của quê hương Bình Định, là cơ hội để những người thuộc thế hệ 8X, 9X chúng tôi học hỏi kinh nghiệm, lễ nghi truyền thống mà ông bà, cha mẹ đã giữ gìn và truyền lại, đây còn là dịp để con cháu tụ họp, quây quần bên nhau mỗi khi tết đến xuân về.

    Thú vị nhất, chính là lúc mâm cỗ đã được sắp xong và dâng lên tổ tiên. Nó là một tác phẩm nghệ thuật thực sự với đủ màu sắc và hương vị của những thức ăn quê cảnh được làm từ chính đôi bàn tay của những phụ nữ đảm đang trong gia đình. Trong không gian hương khói thơm ngát, ấm cúng, cả gia đình chắp tay thành tâm khấn nguyện tổ tiên phù hộ độ trì toàn gia và dòng họ một năm an khang thịnh vượng, dữ ít lành nhiều. Vẻ đẹp của mâm cỗ tết luôn được tôi ghi nhớ, nó chính là vẻ đẹp sắc màu dân tộc đặc trưng của người miền Trung giản dị, thật thà và nồng hậu.

    Vui nhất là sau khi thực hiện nghi thức cúng tổ tiên, cả gia đình quây quần thưởng thức mâm cỗ thịnh soạn, từ người lớn tuổi cho tới đứa trẻ nhỏ đều được ngồi dự cỗ, mọi người vừa ăn vừa trò chuyện rôm rả, thanh âm cuộc sống vang lên trong những căn nhà ngày cuối năm, ai cũng có thể lắng nghe một cách đầy đủ cung bậc cảm xúc của người thân yêu. Sau những cười đùa giòn tan, những chúc mừng thành đạt, những dạy bảo ân cần của người trên, người trẻ chúng tôi nhận ra gia đình và nét văn hóa sum họp truyền thống cùng mâm cơm tết có ý nghĩa vô cùng, nó là bài học thực hành có giá trị hơn bất kỳ loại sách vở nào.

    Dẫu không khí ăn tết trong thời hiện đại có nhiều thay đổi về cách thức và hương vị nhưng những món ăn truyền thống và nghi lễ cúng bái cổ truyền vào mỗi dịp lễ, tết của người quê Bình Định vẫn luôn được coi trọng, giữ gìn, phát huy. Tất cả để nhắc nhở thế hệ tiếp nối biết sống trung hiếu, tự lập, cần kiệm, nhẫn nại, coi trọng đạo đức, nhân ái trên con đường lập thân, lập nghiệp.

    Theo Bích Trâm (Báo Gia Lai)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đám Cưới Quê Hoành Tráng Với Mâm Cỗ Chỉ 2,6 Triệu Đồng 16 Món Khiến Dân Mạng Xuýt Xoa
  • Ý Nghĩa Ít Biết Của Những Món Ăn Trong Cỗ Cưới Truyền Thống
  • 4 Kiểu Mâm Cỗ Cưới Từ Truyền Thống Đến Hiện Đại Mới Mẻ
  • Cách Làm Món Tôm Chiên Xù Trong Mâm Cỗ Đám Cưới Truyền Thống Của Người Việt
  • Gợi Ý Món Ăn Đãi Tiệc Đám Cưới Bình Dân, Đặc Sắc Theo Phong Vị Miền Bắc
  • Nghi Lễ Thờ Cúng Ông Bà Tổ Tiên Nhất Định Phải Nhớ

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Sử Dụng Chuông Mõ Tại Nhà
  • Mâm Cơm Mặn Thắp Hương Gia Tiên Cúng Rằm, Lễ, Tết, Đón Khách
  • Khoa Cúng Gia Đường (Hán Việt – Cúng Thần Linh, Gia Tiên Ở Nhà) Chùa Liên Hoa Thôn Đặng Xuyên, Xã Đặng Lễ, Huyện Ân Thi, Tỉnh Hưng Yên
  • Khoa Cúng Thần Linh Và Gia Tiên 3
  • Cách Thờ Cúng Trong Nhà Sao Cho Đúng – Có Thờ Có Thiêng Có Kiêng Có Lành
  • Tín ngưỡng thờ cúng ông bà Tổ tiên là tục lệ thờ cúng những người đã khuất, đặc biệt là Tổ tiên biểu thị lòng nhớ ơn tổ tiên cũng như lòng thương và hiếu thảo đối với ông bà cha mẹ. Đây là một phong tục , tín ngưỡng truyền thống tốt đẹp mà chúng ta cần phải duy trì, phát huy, gìn giữ.

    I. Nghi thức cúng ông bà tổ tiên

    Khi cúng thì người chủ gia đình phải bày đồ lễ cùng với hoa quả theo nguyên tắc “đông bình tây quả”, rượu và nước. Sau đó, phải đốt đèn (đèn dầu, đèn cầy, hay đèn điện), thắp hương, đánh chuông, khấn, và cúng trước rồi những người trong gia đình theo thứ tự trên dưới cúng sau. Hương (nhang) đèn để mời và chuông để thỉnh tổ tiên. Khi cúng thì phải chắp tay đưa lên ngang trán khấn.

    Nghi thức cúng ông bà tổ tiên

    1. Lễ cúng gia tiên

    Khi có giỗ Tết, gia chủ bày hoa (bông) quả, rượu, cỗ bàn, chén bát, đũa, thìa lên bàn thờ rồi thắp hương, thắp đèn, đốt nến (đèn cầy), khấn, vái, hay lạy để tỏ lòng hiếu kính, biết ơn, và cầu phước lành.

     Đây là nghĩa rộng của cúng. Trong nghĩa bình thường, cúng là thắp hương, khấn, lạy, và vái.

    2. Khấn

    Ăn có mời, làm có khiến… Đối với việc cúng lễ cũng vậy. Đồ cúng lễ dù có thịnh soạn, trang trong nếu con cháu chỉ đặt lên bàn thờ, không mời thì tổ tiên ông bà ắt không phối hưởng. Bởi vậy trong buổi cúng, con cháu phải khấn. Người Việt vốn trọng nghi lễ, cho nên mỗi dịp cúng vái đều có văn khấn riêng.

    Trong lời khấn, gia trưởng sẽ nói rõ ngày, tháng, năm và lý do làm lễ (và cả các điều xin, nếu có). Phải mời các cụ kỵ từ ngũ đại trở xuống, cùng với chú bác anh chị em vừa mới khuất.

    Trước đây lời khấn thường do “thầy cúng” làm và dùng chữ Nho. Nhưng ngày nay việc dùng chữ Nho cho văn khấn rất hiếm. Dân gian thích dùng chữ Việt hơn, vì chữ Việt dễ viết và đọc, mạch lạc không bị hiểu lầm…

    Lời khấn cần có những chi tiết sau :

    • Báo trình địa điểm hành lễ, từ nước trở xuống Tỉnh thành, Quận huyện, Phường xã, Thôn ấp.
    • Nói rõ con cháu, liên hệ gia đình làm lễ cúng với các món cỗ bàn, dâng lên hương hồn ai có tên gì, từ trần ngày tháng năm, chôn ở đâu.
    • Mời người có tên giỗ về hưởng, chứng giám lòng thành và phù hộ cho con cháu được mọi sự tốt lành.
    • Cũng mời tất cả các vị tổ, đọc rõ tên, cùng thân thuộc nội ngoại đã quá vãng cùng về hưởng lễ cúng.

    Và sau đây là một đoạn khấn theo lối xưa:

    “Duy  quốc Tỉnh/Thị xã…. trang /gia tại… (số nhà). Việt lịch thứ 488…, thử nhật… (ngày âm lịch) húy nhật gia phụ /mẫu /Tằng tổ… là Hiển khảo/Tỷ., (tên) (cho đàn bà thì là hiển tỷ; với ông nội ngoại thì thêm chữ tổ – hiển tổ khảo/tỷ), Hiếu tử/nữ/tôn v.v là (Tên) tâm thành kính cáo thành hoàng và thổ thần bản địa, tiền chủ tiếp dẫn gia phụ mẫu /cô di… (Người được giỗ hôm nay) đồng cung thỉnh Cao tằng tô khảo, cao tằng tô tỷ, liệt vị tổ tiên, hiển tổ khảo, hiển tô tỷ, cô di tỷ muội, nội ngoại đồng giai lâm, tọa ngự linh sàn chứng giám. Cẩn cáo”.

    II. Nghi thức vái, lạy khi thờ cúng ông bà tổ tiên

    Nghi thức vái, lạy khi thờ cúng ông bà tổ tiên

    1. Nghi thức vái trong thờ cúng ông bà tổ tiên

    Vái thường được áp dụng ở thế đứng, nhất là trong dịp lễ ở ngoài trời. Vái thay thế cho lạy ỏ trong trường hợp này. Vái là chắp hai bàn tay lại để trước ngực rồi đưa lên ngang đầu, hơi cúi đầu và khom lưng xuống rồi sau đó ngẩng lên, đưa hai bàn tay xuống lên theo nhịp lúc cúi xuống khi ngẩng lên. Tùy theo từng trường hợp, người ta vái 2,3,4, hay 5 vái.

    2. Nghi thức lạy trong nghi lễ thờ cúng tổ tiên

    Lạy là hành động bày tỏ lòng tôn kính chân thành với tất cả tâm hồn và thể xác đối với người trên hay người quá cố vào bậc trên của mình. Có hai thế lạy: thế lạy của đàn ông và thế lạy của đàn bà. Có bốn trường hợp lạy: 2 lạy, 3 lạy, 4 lạy, và 5 lạy. Mỗi trường hợp đều mang ý nghĩa khác nhau.

    Thế lạy của đàn ông là cách đứng thẳng theo thế nghiêm, chắp hai tay trước ngực và giơ cao lên ngang trán, cúi mình xuống, đưa hai bàn tay đang chắp xuống gần tới mặt chiếu hay mặt đất thì xòe hai bàn tay ra đặt nằm úp xuống, đồng thời quỳ gối bên trái rồi gối bên phải xuống đất, và cúi rạp đầu xuống gần hai bàn tay theo thế phủ phục. Sau đó cất người lên bằng cách đưa hai bàn tay chắp lại để lên đầu gối trái lúc bấy giờ đã co lên và đưa về phía trước ngang vối đầu gối chân phải đang quỳ để lấy đà đứng dậy, chân phải đang quỳ cũng theo đà đứng lên để cùng với chân trái đứng ở thế nghiêm như lúc đầu. Cứ theo thế đó mà lạy tiếp cho đủ số lạy. Khi lạy xong thì vái ba vái rồi lui ra.

    2.1. Thế lạy của đàn ông

    Có thể quỳ bằng chân phải hay chân trái trước cũng được, tùy theo thuận chân nào thì quỳ chân ấy trước. Có điều cần nhớ là khi quỳ chân nào xuống trước thì khi chuẩn bị cho thế đứng dậy phải đưa chân đó về phía trước nửa bước và tì hai bàn tay đã chắp lại lên đầu gối chân đó để lấy thế đứng lên. Thế lạy theo kiểu này rất khoa học và vững vàng, sở dĩ phải quỳ chân trái xuống trước vì thường chân phải vững hơn nên dùng để giữ thế thăng bằng cho khỏi ngã. Khi chuẩn bị đứng lên cũng vậy. Sở dĩ chân trái co lên đưa về phía trước được vững vàng là nhờ chân phải có thế vững hơn để làm chuẩn.

    Thế lạy phủ phục của mấy nhà sư rất khó. Các Thầy phất tay áo cà sa, đưa hai tay chống xuống ngay mặt đất, đồng thòi quỳ hai đầu gối xuống luôn. Khi đứng dậy các Thầy đẩy hai bàn tay lấy thế đứng hẳn lên mà không cần phải để tay tỳ lên đầu gối. sở dĩ được như thế là nhờ các Thầy đã tập luyện hàng ngày mỗi khi cúng Phật. Nếu thỉnh thoảng mới đi lễ chùa, mọi người phải cẩn thận vì không lạy quen mà lại bắt chước thế lạy của mấy Thầy thì rất có thể mất thăng bằng.

    2.2. Thế lạy của đàn bà

    Thế lạy của các bà là cách ngồi bệt xuống đất để hai cẳng chân vắt chéo về phía trái, bàn chân phải ngửa lên để ở phía dưới đùi chân trái. Nếu mặc áo dài thì kéo tà áo trước trải ngay ngắn về phía trước và kéo vạt áo sau về phía sau để che mông cho đẹp mắt. Sau đó, chắp hai bàn tay lại để ở trước ngực rồi đưa cao lên ngang vói tầm trán, giữ tay ở thế chắp đó mà cúi đầu xuống. Khi đầu gần chạm mặt đất thì đưa hai bàn tay đang chắp đặt nằm úp xuống đất và để đầu lên hai bàn tay. Giữ ở thế đó độ một hai giây, rồi dùng hai bàn tay đẩy để lấy thế ngồi thẳng lên đồng thời chắp hai bàn tay lại đưa lên ngang trán như lần đầu. Cứ theo thế đó mà lạy tiếp cho đủ số lạy cần thiết. Lạy xong thì đứng lên và vái ba vái rồi lui ra là hoàn tất thế lạy.

    Cũng có một số người lại áp dụng thế lạy theo cách quỳ hai đầu gối xuống chiếu, để mông lên hai gót chân hai tay chắp lại đưa cao lên đầu rồi giữ hai tay ở thế chắp đó mà cúi mình xuống, khi đầu gần chạm mặt chiếu thì xòe hai bàn tay ra úp xuống chiếu rồi để đầu lên hai bàn tay. Cứ tiếp tục lạy theo cách đã trình bày trên. Thế lạy này có thể làm đau ngón chân và đầu gối mà còn không mấy đẹp mắt.

    Thế lạy của đàn ông có vẻ hùng dũng, tượng trưng cho dương. Thế lạy của các bà có tính cách uyển chuyển tha thướt, tượng trưng cho âm. Thế lạy của đàn ông có điều bất tiện là khi mặc âu phục thì rất khó lạy. Hiện nay chỉ có mấy vị cao niên còn áp dụng thế lạy của đàn ông, nhất là trong dịp lễ Quốc Tổ. Còn phần đông, người ta có thói quen chỉ đứng vái mà thôi.

    Thế lạy của đàn ông và đàn bà là truyền thống rất có ý nghĩa của người Việt ta. Nó vừa thành khẩn vừa trang nghiêm trong lúc cúng tổ tiên. Muốn áp dụng thế lạy, nhất là thế lạy của đàn ông, ta phải tập dượt lâu mới nhuần nhuyễn được.

    III. Ý nghĩa của lạy và vái trong thờ cúng ông bà tổ tiên

    Ý nghĩa của lạy và vái trong thờ cúng ông bà tổ tiên

    1. Ý nghĩa của 2 lạy và 2 vái:

    Hai lạy dùng để áp dụng cho người sống như trong trường hợp cô dâu chú rể lạy cha mẹ. Khi đi phúng  điếu, nếu là vai dưới của người quá cố như em, con cháu, và những người vào hàng con em,… nên lạy 2 lạy.

    Nếu vái sau khi đã lạy, người ta thường vái ba vái. ý nghĩa của ba vái này, như đã nói ở trên là lời chào kính cẩn, chứ không có ý nghĩa nào khác. Nhưng trong trường hợp người quá cố còn để trong quan tài tại nhà quan, những người đến phúng điếu, nếu là vai trên của người quá cố như các bậc cao niên, hay những người vào hàng cha, anh, chị, chú, bác, cô, dì, v. v., của người quá cố, thì chỉ đứng để vái hai vái mà thôi. Khi quan tài đã được hạ huyệt, tức là sau khi chôn rồi, người ta vái người quá cố 4 vái.

    Theo nguyên lý âm dương, khi chưa chôn, người quá cố được coi như còn sống nên ta lạy 2 lạy. Hai lạy này tượng trưng cho âm dương nhị khí hòa hợp trên dương thế, tức là sự sống. Sau khi người quá cố được chôn rồi, phải lạy 4 lạy.

    2. Ý nghĩa của 3 lạy và 3 vái:

    Khi đi lễ Phật, ta lạy 3 lạy. Ba lạy tượng trưng cho Phật, Pháp, và Tăng. Phật ở đây là giác, tức là giác ngộ, sáng suốt, thông hiểu mọi lẽ. Pháp là chánh, tức là điều chánh đáng, trái với tà ngụy. Tăng là tịnh, tức là trong sạch, thanh tịnh, không bơn nhơ. Đây là nói về nguyên tắc phải theo. Tuy nhiên, còn tùy mỗi chùa, mỗi nơi, và thói quen, người ta lễ Phật có khi 4 hay 5 lạy. Trong trường hợp cúng Phật, khi ta mặc âu phục, nêu cảm thấy khó khăn trong khi lạy, ta đứng nghiêm và vái ba vái trước bàn thờ Phật.

    3. Ý nghĩa của 4 lạy và 4 vái:

    Bốn lạy để cúng người quá cố như ông bà, cha mẹ và thánh thần. Bốn lạy tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu, bốn phương (đông: thuộc dương, tây: thuộc âm, nam: thuộc dương, và bắc: thuộc âm), và tứ 1 tượng (Thái Dương, Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm). Nói chung, bốn lạy bao gồm cả cõi âm lẫn cõi dương mà hồn ở trên trời và phách hay vía ở dưới đất nương vào đó để làm chỗ trú ngụ. Bốn vái dùng để cúng người quá cố như ông bà, cha mẹ, và thánh thần, khi không thể áp dụng thế lạy.

    4. Ý nghĩa của 5 lạy và 5 vái:

    Ngày xưa người ta lạy vua 5 lạy. Năm lạy tượng trưng cho ngũ hành (kim, mộc, thuỷ, hỏa, và thổ), vua tượng trưng cho trung cung tức là hành thổ màu vàng đứng ỏ giữa. Còn có ý kiến cho rằng 5 lạy tượng trưng cho bốn phương (đông, tây, nam, bắc) và trung ương, nơi nhà vua ngự. Ngày nay, trong lễ giỗ tổ Hùng Vương, những người trong ban tế lễ thường lạy 5 lạy vì Tổ Hùng Vương là vị vua khai sáng giống nòi Việt.

    Năm vái dùng đê cúng Tổ khi không thể áp dụng thế lạy vì quá đông người và không có đủ thì giờ để mỗi người lạy 5 lạy. Có được phong tục này là do thói quen mà mọi người đã chấp nhận, nhiều khi không giải thích được lý do tại sao lại như thế mà chỉ biết làm theo cho đúng thôi. Trong mỗi gia đình Việt Nam, dù theo đạo nào cũng vậy, chúng ta, con dân nước Việt, hãy cố gắng thiết lập một bàn thờ gia tiên. Có như thế, con cháu ta mới có cơ hội học hỏi cách thiết lập bàn thờ gia tiên, và hiểu được ý nghĩa của việc thờ cúng ra sao.

    Thờ cúng ông bà tổ tiên là cách biểu thị lòng nhớ ơn tổ tiên cũng như lòng thương và hiếu thảo đối với ông bà cha mẹ. Đây là một truyền thống văn hóa tốt đẹp của người Việt mà chúng ta cần phải duy trì. Lời khấn vái là lời nói chuyện với người quá cố, do đó lời khấn là tấm lòng của người còn sống có thể khấn sao cũng được. Tuy nhiên người xưa cũng đã đặt ra lễ khấn và lời khấn. Lễ khấn gồm các thủ tục như sau:

    Sau khi mâm cỗ đã đặt xong thì gia trưỏng ăn mặc chỉnh tề (ngày xưa thì khăn đóng áo dài) đi ra mở cửa chính, ở xứ lạnh thì cũng phải ráng hé cửa chứ không được đóng cửa kín mít. Sau đó phải khấn xin Thành hoàng, Thổ địa để họ không làm khó dễ linh hồn tổ tiên về hưởng lễ giỗ.

    Công ty TNHH Kiến Trúc Phong Thủy Tam Nguyên

    Hotline: 1900.2292

    Địa chỉ:

    • Hà Nội: Lô A12/D7, ngõ 66 Khúc Thừa Dụ, Khu đô thị mới, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
    • Đà Nẵng: Tầng 12, Tòa ACB, 218 Bạch Đằng, Phường Phước Ninh, Quận Hải Châu, Đà Nẵng
    • TP Hồ Chí Minh: 778/5 Nguyễn Kiệm, Phường 4, Quận Phú Nhuận, TP HCM

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tục Thờ Cúng Gia Tiên Của Người Việt Trong Ngày Tết
  • Nghi Thức Cúng Bái Tổ Tiên
  • Cách Cúng 100 Ngày Cho Người Mất Đúng Phong Tục Tín Ngưỡng
  • Hướng Đến Ngày Giỗ Tổ Ngành May
  • Cúng Tổ Ngành Sân Khấu
  • Phong Tục Cưới Hỏi Của Người Bình Định

    --- Bài mới hơn ---

  • Chi Phí Mâm Quả Ngày Cưới
  • Dịch Vụ Cưới Hỏi Ở Quận Bình Thạnh
  • Mâm Cưới Trọn Gói Cần Thơ
  • Mâm Quả Cưới Chẵn Hay Lẻ? Số Lượng Bao Nhiêu Là Đúng?
  • Dịch Vụ Cưới Hỏi Cà Mau
  • Phong tục cưới hỏi của người Bình Định ngày nay đã có nhiều thay đổi so với thời xưa. Nó được rút gọn hơn về nghi lễ và hiện đại hơn về các nghi thức.

    Phong tục cưới hỏi của người Bình Định trước kia và hiện nay

    Trước đây, người dân trong tỉnh thường tổ chức cưới hỏi theo

    phong tục cưới hỏi của người Bình Định thời xưa truyền lại. Nó bao gồm đến 6 lễ

    trong một đám cưới. Đó chính là: Lễ Thăm Nhà, Lễ Nói, Lễ Hỏi, Lễ Đại Nạp, Lễ cưới,

    Lễ rước dâu, lễ hồi dâu. Từ năm 2022 cho đến nay, thức hiện nếp sống văn minh

    thì người Bình Định đã rút gọn các nghi thức để chỉ còn làm từ 2 đến 3 lễ trong

    một đám cưới. Nhiều nghi lễ đã được nhập và gộp lại thành 1 để giản đơn hóa.

    Từ đó, phong tuc cưới hỏi của người Bình Định ngày nay đã có nhiều thay đổi so với xưa kia. Những sự thay đổi này phù hợp với sự tiến bộ trong đời sống và phong tục tập quán của họ. Các phong tục cưới hỏi của người Bình Định nghiêng về tính xã hội và đi vào dân gian nhiều hơn là thể hiện những phong tục cổ xưa. Trong phong tục đã có nhiều lệ ước thoải mái cho trai gái nhiều hơn và chuyện sui gia trao đổi bàn chuyện cưới hỏi cho con cái cũng không quá nặng, câu nệ, phép tắc như thời xưa.

    Hiện nay, đám cưới của người Bình Định có tính cởi mở nhiều

    và ngày càng được đơn giản hóa. Nhất là sau khi thực hiện nếp sống văn minh

    trong việc cưới xin.

    Vào nữa đầu thế kỷ XX, những đám cưới ở Bình Định bắt đầu được

    tổ chức theo kiểu tân thời. Nó chịu ảnh hưởng bởi nền văn hoa từ phương Tây du

    nhập vào Việt Nam. Ở khu vực thành thị, có sự kết hợp giữa phong tục truyền thống

    và những nét tân thời trong đám cưới. Lời chúc đám cưới mong muốn đôi tân lang,

    tân nương sẽ có cuộc sống hạnh phúc cho đến khi “Răng long đầu bạc”.

    Đám cưới của người Bình Định trước đây đều phải trải qua các bước bắn tin, lễ dạm ngõ hoặc lễ vấn danh sau đó mới tới lễ hỏi hay lễ cưới. Ngày nay, các lễ này đều hầu như không còn được tổ chức, mà được trao cho đôi trai gái tự quyết định. Cha mẹ của hai bên chấp thuận thì họ sẽ trao đổi với nhau để thống nhất ngày tổ chức đám cưới.

    Lễ đại nạp và lễ hỏi trong phong tục cưới hỏi của người Bình Định

    Lễ hỏi của người Bình Định cho đến ngày hôm nay vẫn còn được giữ gìn và phát huy. Để tiến hành lễ hỏi, ngoài quá trình chuẩn bị họ còn phải thống nhất được ngày giờ tổ chức lễ cưới nữa.

    Trong giai đoạn này, còn có một nghi thức nữa trong đám cưới của người Bình Định chính là lễ đại nạp. Lễ đại nạp còn gọi là lễ nạp tài. Ngoài ra tùy theo địa phương, nó còn được gọi với những tên gọi khác là Lễ Đen hoặc là Lễ Nát tùy theo từng vùng miền. Trong lễ này, nhà trai sẽ trao cho nhà gái một khoản tiền nhỏ gọi là tiền nạp tài, cùng với những lễ vật cưới. Lễ Nạp Tài thường được diễn ra trong ngày đám hỏi hoặc ngày rước dâu.

    Ý nghĩa của những khoản tiền và món quà này là

    để bày tỏ lòng biết ơn của bên nhà trai đối với bên nhà gái vì đã có công sinh

    thành và dưỡng dục cô dâu.

    Ngày nay, nghi thức này đã được đơn giản hơn. Người ta thường

    gộp lễ đại nạp và lễ hỏi để tổ chức một lần.

    Sính lễ cưới của người Bình Định

    Cũng giống sính lễ cưới của các vùng miền khác của Việt Nam, sính lễ cưới quan trọng nhất và không thể thiếu trong bất kỳ đám cưới nào của người Bình Định chính là trầu cau. Sỡ dĩ trầu cau trở thành sính lễ cưới quan trọng của người Bình Định là do nó chính là biểu tượng của tình yêu đôi lứa và tình nghĩa vợ chồng, tình cảm gia đình.

    Trong những câu chuyện kể từ thời xưa lưu truyền đến nay vẫn

    còn những câu thơ nói về tình nghĩa vợ chồng và ý nghĩa trầu cau:

    Miếng trầu anh kết làm đôi

    Lá trầu là vợ, cau tươi là chồng

    Trầu xanh, cau trắng, chay hồng

    Vôi pha với nước, thuốc hồng với duyên.

    Bài thơ này ví người chồng như quả cau, được sinh ra từ cây cau có thân tròn thẳng đứng. Nó đại diện cho người quân tử. Trái ngược lại là chiếc lá cau hơi bầu bầu là hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam cần cù, chịu khó. Khi người xưa nhai trầu với cau thì họ thường giã nó chung với vôi tạo nên màu đỏ thắm tượng trưng cho tấm lòng son sắc, thủy chung của đôi vợ chồng

    một số các sính lễ khác nữa. Đối với người Bình Định, tùy thuộc vào gia đình có

    khá giả không mà sính lễ cưới nhiều hay ít chứ không bắt buộc phải có đầy đủ

    như một số địa phương khác.

    Các sính lễ cưới phổ biến trong phong tục cưới hỏi của người Bình Định thường gồm các tráp trà rượu, tráp trái cây, tráp bánh. Ngoài ra còn có tiền nạp tài và nữ trang cho cô dâu nữa.

    Đám cưới của người Bình Định có sự khác biệt về phong tục ở

    vùng nông thôn và khu vực thành thị. Thông thường ở những vùng nông thôn khi họ

    hàng nhà trai đến nhà gái thì làm lễ gia tiên, tuyên bố lý do, xin rước dâu …

    Nhà gái đến nhà trai thì có thêm mục gửi gắm con gái. Đám cưới của người Bình Định

    ở khu vực nông thôn được tổ chức ôn hòa xen lẫn giữa phong tục truyền thống lẫn

    hiện đại

    Đám cưới của người Bình Định ở khu vực thành thị ngày nay,

    ngoài nghi lễ làm ở hai bên nhà trai và nhà gái thì thường còn mời khách dự tiệc

    cưới ở các nhà hàng tiệc cưới nữa. Những đám cưới dạng này thường được tổ chức

    rất xa hoa và tốn kém.

    Trang phục cưới của người Bình Định

    Chịu ảnh hưởng của văn hóa phương tây du nhập vào Việt Nam, hiện nay, đa phần các bạn trẻ của tỉnh Bình Định đều chọn âu phục cho đám cưới của mình. Cô dâu chọn những kiểu váy cưới phương tây xòa phồng kiểu công chúa hoặc váy cưới đuôi dài. Bên cạnh đó chú rể diện lên mình bộ áo vest với cà vạt hợp gu.

    đều chọn áo vest như chú rể. Các bà mẹ trái ngược lại thích chọn chiếc áo dài.

    Cách xem ngày và kén giờ cưới của người Bình Định

    Ngày nào có nhiều sao cát tinh như thiên đức, nguyệt đức,

    thiên an, thiên hỷ … hoặc là ngày trực khai, trực kiến, trực bình, trực mãn … thì

    đối với người Bình Định, những ngày đó chính là những ngày tốt.

    Ngày nào có những sao hung tinh như sao trùng tang, trùng phục,

    thiên hình, nguyệt phá thì đối với người Bình Định, những ngày đó chính là những

    ngày xấu.

    Người Bình Định kiêng kỵ nhất là ngày sát chủ, ngày thụ tử,

    không chỉ trong đám cưới mà làm bất cứ việc gì người Bình Định cũng tránh những

    ngày này. Mỗi một tháng có ba ngày được người Bình Định gọi đó là 3 ngày nguyệt

    kỵ. Đó chính là ngày năm, ngày mười bốn và ngày hai mươi ba. Trong ba ngày này,

    làm việc gì cũng nên kiêng và nhất là nên kiêng nhập phòng.

    Trong một năm lại có 13 ngày, người Bình Định gọi 13 ngày này

    là ngày Dương Công Kỵ Nhật. Làm bất kỳ chuyện gì cũng phải tránh những ngày

    này. Những ngày này chính là:

           –  Ngày 13 tháng Giêng.

           –  Ngày 11 tháng hai.

           –  Ngày 9 tháng ba

           –  Ngày 7 tháng tư

           –  Ngày 5 tháng năm

           –  Ngày 3 tháng sáu

           –  Ngày 8 và 29 tháng bảy

           –  Ngày 27 tháng tám

           –  Ngày 25 tháng chín

           –  Ngày 23 tháng mười

           –  Ngày 21 tháng mười một

           –  Ngày 19 tháng chạp

    Còn như kén giờ thì lúc mới xuất hành, lúc mới ra ngõ đi cưới

    … thường đều kén lấy giờ hoàng đạo. Phép tính giờ hoàng đạo của người Bình Định  dựa vào 4 câu thơ sau:

    Dần, Thân gia Tý, Mão Dậu Dần

    Thìn, Tuấn tầm Thìn: Tý Ngọ Thân;

    Tỵ Hợi thiên cương tầm Ngọ Vị

    Sửu Mùi tòng Tuất định kỳ chân.

    Lại cần phải nhớ hai câu:

    Đạo Viễn Kỷ thời thông đạt

    Lộ dao hà nhật hoàn trình

    Lúc tính giờ trước hết phải biết đó là ngày gì. Sau đó dùng 2 câu thơ dưới để tính ra giờ ở 4 câu thơ trên.Nếu tính giờ mà gặp phải cung nào có chữ “đạo, viễn, thông , đạt ,dao hoàn” thì giờ ấy là giờ hoàng đạo.

    Nếu thấy bài viết hay , chia sẻ ngay với bạn bè

    Pinterest

    Linkedin

    Tumblr

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giá Thuê Trang Trí Gia Tiên Tại Dĩ An Bình Dương
  • Địa Chỉ Đặt Mâm Quả Cưới Dĩ An
  • Lễ Thành Hôn Tiếng Anh Là Gì?
  • Dịch Vụ Cưới Hỏi Cuoihoi24H Trọn Gói Chuyên Trang Trí Nhà Cưới Hỏi Tiệc Cưới Nhà Hàng
  • Sính Lễ Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Nghi Thức Cúng Tế Trong Lễ Thượng Điền Đình Bình Thủy

    --- Bài mới hơn ---

  • Cổng Điện Tử Cần Thơ
  • Đình Bình Thủy Cần Thơ
  • Đình Bình Thủy (Tp. Cần Thơ)
  • Thị Trường Đồ Cúng Ngày Vía Thần Tài ‘nóng’ Không Kém Vàng
  • Nghi Cúng Viễn Kỵ Tổ Sư Nguyên Thiều
  • Bài viết của Hồ Huỳnh Hoàng Mai, học viên ngành Dân tộc học khóa 2010-2012, đã được trình bày tại Hội thảo Khoa học Trẻ 2013 do Trường ĐHKHXH&NV-TP.HCM tổ chức.

    Từ bao đời nay, đình là hình ảnh thân quen, gắn bó với tâm hồn của người Việt, là nơi chứng kiến những sinh hoạt và đổi thay trong đời sống xã hội của làng quê Việt Nam. Đình là nơi thờ Thần Thành hoàng, vị chỉ huy tối cao của làng xã về mặt tinh thần. Thần có thể bao quát, chứng kiến toàn bộ đời sống của dân làng, bảo vệ, phù hộ cho dân làng làm ăn phát đạt, mạnh khỏe. Trong năm, ở đình người dân tổ chức rất nhiều lễ hội, vừa là dịp để thể hiện sự tôn kính và cầu mong sự che chở từ Thần Thành hoàng, lòng biết ơn “Uống nước nhớ nguồn” với những thế hệ đi trước đã có công với làng xã, vừa là dịp để người dân sinh hoạt văn hóa, vui chơi.

    Tại thành phố Cần Thơ, đình Bình Thủy là ngôi đình cổ nổi tiếng do lịch sử lâu đời, được xây dựng lần đầu vào năm 1844 và lần xây dựng thứ ba hoàn thành vào năm 1911, Sắc Thần được vua Tự Đức phong vào ngày 29 tháng 11 âm lịch năm thứ 15 (Nhâm Tuất 1862). Sau khi đánh xong ba hồi trống, viên chấp sự sẽ lên đình đặt lại dùi trống trước bàn thờ Thần. Trong thời gian đó, trưởng đình cùng ông bầu gánh hát bưng khai trầu rượu xuống nhà võ ca gần bến sông thỉnh Tổ hát bội ra sân khấu. Lễ Đại bội do các đào kép trong gánh hát bội trình diễn.

    Lễ Đại bội cũng được thực hiện trước sân đình ngay sau Lễ Xây chầu.

    Các giai đoạn diễn ra trong Lễ Đại bội đi theo sự vận chuyển trong vũ trụ: Thái cực, lưỡng nghi, tam tài, tứ tượng, ngũ hành, bát quái; thể hiện trong ý nghĩa từng bài múa Khai Thiên Tịch Địa, Nhật – Nguyệt, Phước – Lộc – Thọ, Tứ thiên vương, Lễ Đứng Cái, Bát Tiên hiến thọ và một lễ phụ Gia quan tấn tước. Trong các nghi lễ của Lễ Kỳ yên Thượng điền, nghi thức Đại bội có lẽ là gần gũi và cuốn hút người dân nhất. Tuy biểu tượng cho Thái cực – Lưỡng nghi nhưng những lời lẽ trong nghi lễ nói lên những lời cầu chúc trường thọ, phát đạt, mưa thuận gió hòa. Nhìn đào kép say sưa múa hát người dân Bình Thủy như nhìn thấy được những gì đẹp đẽ nhất mà họ luôn khao khát mong mỏi và cố gắng phấn đấu thực hiện để đạt được nó.

    Các nghi thức tuần tự như sau:

    – Củ soát lễ vật

    – Tuần rượu thứ nhất

    – Tuần rượu thứ hai

    – Tuần rượu thứ ba

    Đầu tiên các học trò lễ sẽ đi ba vòng quanh dãy bàn thờ chính tính từ phía cửa vào, nơi đặt bàn thờ Phó thần Đinh Công Chánh đến bàn thờ chính thờ Thần Thành hoàng, mỗi người đều cầm đèn cầy cháy đỏ và đi trong tiếng trống kèn được thổi liên tục từ phía ban nhạc lễ, gọi là “đi dàn xà”. Mỗi lần đến trước bàn thờ Thần Thành hoàng, họ sẽ vái một vái rồi quay người đi trở ra cửa. Đi dàn xà gồm mười sáu học trò lễ được chia đều thành hai hàng song song, đi đầu là bốn học trò lễ mặc áo dài đỏ, tiếp đến là tám vị mặc áo dài vàng, sau cùng là bốn vị mặc áo dài xanh. Sau khi học trò lễ đi dàn xà xong, ban nhạc lễ sẽ mang trống chầu, kèn, mõ ra trước bàn thờ ông Đinh Công Chánh thổi một bài nhạc dâng Thần, trong lúc đó có một viên chấp sự đốt ba bát nhang trầm để dưới chân bàn thờ ông Đinh Công Chánh. Sau đó các vị chức sắc trong đình, gồm chánh bái (là trưởng đình, áo dài gấm vàng, khăn đóng), bồi bái (là phó đình, áo dài gấm xanh dương, khăn đóng) quỳ trước bàn thờ ông Đinh Công Chánh, xung quanh là bốn học trò lễ mặc áo dài đỏ quỳ chầu. Trước mặt chánh bái và bồi bái là một chậu nước và một cái khăn với ý nghĩa “tẩy uế”. Hai vị chấp sự này trước khi tiến hành lễ cúng sẽ nhúng tay vào chậu nước để lau mặt, xem như là đã được tẩy đi những điều “ô uế” trong đời sống thường, trở nên thanh sạch để tiếp xúc với Thần linh. Ngoài ra có một vị cao niên quỳ ở bàn thờ linh vật bên trái, một vị quỳ ở bàn thờ linh vật bên phải của bàn thờ ông Đinh Công Chánh được gọi là Đông Hiến, Tây Hiến, xung quanh là bốn học trò lễ mặc áo dài vàng quỳ chầu. Các vị quỳ lại trong sự hô bái của Hương văn – người phụ trách phần nghi lễ. Đầu tiên là nghi thức dâng hương (Tuần hương). Các học trò lễ chia thành hai hàng ngang song song gồm sáu người đi trước cầm đèn, sáu người đi sau có ba người cầm đèn, ba người nhận bát trầm hương từ tay các vị chức sắc, đi theo nhịp trống từ phía ban nhạc lễ. Cứ thế tiến dần từ bàn thờ ông Đinh Công Chánh đến bàn thờ Ngũ vị nương nương, rồi đến bàn thờ Thần Thành hoàng. Ở đây sẽ có người chịu trách nhiệm nhận bát hương từ học trò lễ đem lên để dưới chân bàn thờ Hậu thần và Tả Bang, Hữu bang. Sau đó các học trò lễ sẽ quay về đứng ở phía bàn thờ ông Đinh Công Chánh.

    Tiếp theo Tuần hương là Tuần rượu, gồm có ba lần dâng rượu. Tuần rượu được tiến hành trước bàn thờ của Ngũ vị nương nương. Tương tự như Tuần hương, mười hai học trò lễ đi thành hai hàng, mỗi hàng sáu vị. Trong đó sáu vị đi trước cầm đèn, sáu vị đi sau trên tay cầm đèn và chung rượu đã được rót đầy bởi chánh bái, bồi bái và Đông Hiến, Tây Hiến lúc này đã từ bàn thờ Phó Thần Đinh Công Chánh tiến lên quỳ trước bàn thờ Ngũ vị nương nương trong suốt ba tuần rượu. Khi các học trò lễ tiến đến trước bàn thờ Thần Thành hoàng, họ sẽ xoay một vòng thay đổi vị trí hàng thứ nhất cầm đèn lùi lại phía sau để hàng thứ hai tiến lên. Tại đây có một vị chấp sự đứng chờ sẵn nhận lấy các chung rượu từ tay học trò lễ dâng lên bàn thờ Thần. Sau lần dâng rượu đầu, các học trò lễ sẽ ngừng lại, chờ Hương văn đọc sớ trước bàn thờ Ngũ vị nương nương, rồi dâng tiếp hai tuần rượu nữa.

    Sau Tuần rượu là Tuần trà, nghi thức tiến hành cũng giống như Tuần rượu.

    Cuối cùng là nghi thức đốt văn tế. Hai học trò lễ mặc áo dài đỏ, một người cầm sớ mà khi nãy vị Hương văn đã đọc, một người cầm đèn đi theo từng nhịp trống từ bàn thờ Ngũ vị nương nương tiến đến trước bàn thờ Thần Thành hoàng, thực hiện nghi thức đốt sớ. Lễ tế chấm dứt. Chánh bái, bồi bái quỳ lạy Thần ba lạy rồi xuống trước, sau đó mười sáu học trò lễ quỳ lạy ba lạy rồi xuống sau là xem như hoàn tất buổi Lễ Bàn Soạn.

    Quy trình diễn ra Lễ Túc Yết cũng khá giống với Lễ Bàn Soạn. Hai điều khác biệt mà tôi nhận thấy là nghi thức Túc Yết bắt đầu ngay trước bàn thờ Ngũ vị nương nương, các vị chức sắc trong đình không phải làm lễ trước bàn thờ Phó thần Đinh Công Chánh, và vị Hương văn đọc sớ sau khi kết thúc cả ba tuần rượu chứ không phải là tuần rượu đầu tiên như ở Lễ Bàn Soạn. Theo lời giải thích của nhiều người tham gia Lễ Thượng điền mà tôi có dịp phỏng vấn (bồi bái, học trò lễ, phó bếp), Lễ Bàn Soạn và Túc Yết nghi thức phần lớn là giống nhau nhưng khác về mặt ý nghĩa. Bàn Soạn là quá trình hương chức hội tề, dân làng tụ họp lại với nhau để bàn bạc, phân công công việc và trình Thần về việc sẽ tổ chức lễ tại đình. Còn Túc Yết là để nghênh Thần.

    Đây là nghi thức quan trọng nhất trong các nghi thức cúng đình được tổ chức vào kỳ lễ Thượng điền. Về hình thức Lễ Chánh Tế diễn ra khá giống Lễ Bàn Soạn và Túc Yết, người ngoài khó có thể phân biệt được sự khác nhau giữa các buổi lễ. Tuy nhiên, về tính chất Lễ Chánh Tế vô cùng quan trọng, đòi hỏi quá trình thực hiện phải diễn ra hoàn thiện. Nghi thức của hai buổi lễ trước có thể diễn ra khá nhanh, và có thể “du di” cho một số thiếu sót nhỏ như nếu có vài vị chức sắc trong đình vì có việc bận mà vắng mặt. Nhưng ở Lễ Chánh Tế, các nghi thức diễn ra vô cùng chậm và kỹ lưỡng, không cho thiếu sót điều gì dù là nhỏ nhặt. Đây là lễ chính cúng Thần trong kỳ lễ Thượng điền với mục đích tạ Thần, cũng là buổi lễ cúng cầu siêu cho các anh hùng liệt sĩ đã vì quốc vong thân, cúng Tiền hiền, Hậu hiền – những người có công lập ấp dựng xã, mở mang đất đai, mang lại bình yên no ấm cho dân làng.

    Ngay sau khi lễ Chánh Tế kết thúc là nghi thức tiến hành lễ Tôn Vương, cũng là nghi thức hồi chầu kết thúc ba ngày đêm hát bội. Đây là nghi thức mà diễn viên hát bội cùng với các vị trong ban tế tự đình cùng nhau thực hiện. Trong quyển Đình Nam Bộ xưa và nay của Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường được xuất bản năm 1999, Lễ Tôn Vương và Lễ hồi chầu được thực hiện tuần tự trước sau riêng biệt và có nhiều nghi thức. “Nó biểu hiện ý nghĩa trung thắng nịnh, phe chính thắng phe tà. Thông thường vở được chọn là tuồng San Hậu. Vở tuồng được xây dựng theo công thức “Vua băng – Nịnh tiếm – Bà thứ lên chùa – Chém nịnh – Định đô – Tôn vương – Tức vị”. Đây là vở tuồng mà nội dung của nó hàm chứa những nét cơ bản nhất của cuộc tranh bá đồ vương của nhà Nguyễn từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII. Điều này đã chỉ ra ý nghĩa tôn vinh đương triều của nghi thức Tôn Vương này”. Hiện nay, ở Đình Bình Thủy, Lễ Tôn Vương và nghi thức hồi chầu được thực hiện gọn nhẹ và nhanh chóng hơn nhưng vẫn giữ nguyên ý nghĩa của nó. Lễ Tôn Vương được thực hiện bởi một kép trong đoàn hát đóng vai vua, đến trước bàn thờ Thần dâng ấn kiếm với ý nghĩa đã được tôn vương, nhà vua cầu mong quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa cho ruộng đồng tươi tốt, cũng như cầu mong Thần Thành hoàng luôn chở che, phù hộ cho con dân của Thần được bình yên, có cuộc sống sung túc hạnh phúc. Đồng thời khi Lễ Tôn vương kết thúc cũng xem như hồi chầu kết thúc ba ngày đêm hát bội.

    Sau Lễ Tôn Vương là Lễ tế Sơn Quân – tức lễ cúng ông Hổ được thực hiện ở miếu Sơn Quân bên phải chính điện. Đội nhạc lễ mở đầu buổi lễ tế bằng một chầu nhạc dâng Thần, tiếp theo là lễ bái của trưởng đình, phó đình và các vị chức sắc cao niên. Cuối cùng, vị Hương văn đọc sớ và đốt sớ, xem như kết thúc nghi thức Lễ tế Sơn Quân. Trong quá trình Nam tiến, cư dân từ miền ngoài vào khai khẩn vùng đất hoang Nam bộ đã gặp không ít khó khăn. Nơi đây ngày xưa là chốn rừng xanh nước đỏ, thú dữ hoành hành, đặc biệt con hổ trong tâm thức người dân là loài vật vừa dữ tợn vừa thiêng liêng. Vì vậy hầu hết ở mỗi đình làng Nam bộ đều có miếu thờ Sơn Quân hay còn gọi là miếu thờ ông Hổ, với mục đích cầu mong thần núi rừng chứng cho tấm lòng thành kính của người dân mà ban cho họ cuộc sống bình yên không thiên tai địch họa, không thú dữ hoành hành. Tín ngưỡng dân gian của người Việt thờ rất nhiều hiện tượng cũng như loài vật trong tự nhiên, với tâm niệm “vạn vật hữu linh”, “có thờ có thiêng”. Những hiện tượng ẩn chứa sức mạnh trong tự nhiên hay những loài vật có sức mạnh đe dọa đến đời sống con người, khiến con người sợ hãi là họ sẽ thờ tự. Việc thờ Thần Núi, Thần Hổ cũng bắt nguồn từ tâm niệm đó.

    Lễ Tống khách là nghi thức cuối cùng hoàn tất lễ Kỳ yên Thượng điền đình Bình Thủy. Lễ Tống Khách (còn được gọi là “Tống gió”, “Tống phong”, “Tống ôn”) được thực hiện nhanh gọn và đơn giản. Vị chánh bếp nam bưng đầu heo, trái cây, nhang đèn ra để bên đường trước cổng đình rồi quay mặt đi vào đình không ngoái lại. Đầu heo, trái cây đó để cho người vãng lai qua đường, ai muốn lấy thì lấy. Lễ Tống Khách trong cúng đình khá giống lễ cúng “cô hồn” tháng bảy âm lịch trong tín ngưỡng dân gian của người Việt. Trong những ngày cúng đình dân làng đã mời Thần thánh về chứng giám, cũng như mời cả những vong hồn cõi âm, những người đã khuất, ông bà tổ tiên cùng về dự lễ. Nay là lúc phải có nghi thức tiễn họ quay về, chính là Lễ Tống Khách. Lễ này tuy đơn giản nhưng không thể không có, chỉ khi nào thực hiện xong thì xem như kỳ lễ cúng đình mới thực sự hoàn tất.

    Lễ Thượng điền đình Bình Thủy như một dấu ấn sinh hoạt mang đậm bản sắc tín ngưỡng dân gian của người dân đất Cần Thơ, minh chứng cho truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” của nhân dân, cao hơn nữa là tinh thần tự hào dân tộc. Trong dịp lễ Thượng điền, tất cả cùng nhớ về ông bà tổ tiên, thế hệ đi trước chuyển giao văn hóa cho thế hệ đi sau, liên kết cộng đồng. Bởi thế, lễ hội ở đình có ý nghĩa rất thiêng liêng, có sức cộng cảm và trở thành nét văn hóa đặc sắc trong cộng đồng. Lễ Thượng điền đình Bình Thủy là cầu nối tâm linh giữa những con người cùng sống trên mảnh đất làng này, là cầu nối giữa quá khứ với hiện tại, góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa ở làng xã, bảo tồn những vốn quý của văn hóa tinh thần dân tộc. Đó là điều đáng trân trọng cần được bồi dưỡng. Trong xã hội với tốc độ đô thị hóa ngày càng nhanh, người dân Cần Thơ vẫn giữ vững vẻ đẹp truyền thống, linh thiêng cổ kính của ngôi đình và năm tháng trôi qua ngôi đình vẫn gắn chặt với đời sống sinh hoạt văn hóa tinh thần, tín ngưỡng của nhân dân. Con người Cần Thơ, nhất là người con đất Bình Thủy gắn niềm tự hào và ký ức của mình về quê hương qua rất nhiều hình ảnh, trong đó họ đặt ngôi đình Bình Thủy nằm ở một vị trí trang trọng trong trái tim. Ai đi xa nhớ về quê hương, cũng thường nghĩ về nơi đó – nơi mái đình cổ kính một trăm mấy chục năm tuổi gắn với bao thăng trầm của vùng đất Tây Đô, gắn với những ngày lễ hội truyền thống mang đậm văn hóa tín ngưỡng và sinh hoạt cộng đồng, trong đó có Lễ Kỳ yên Thượng điền được tổ chức vào giữa tháng tư âm lịch hàng năm./.

    1. Huỳnh Minh, Cần Thơ xưa và nay, NXB – Tổng phát hành Cánh Bằng, 1966.

    2. Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường, Đình Nam Bộ xưa và nay, NXB. Đồng Nai, 1999.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hội Đình Bình Thủy Cần Thơ
  • Công Ty Chuyên Cung Cấp Bộ Bình Rượu, Chum Đựng Rượu Tại Campuchia
  • Cửa Hàng Đồ Thờ Cúng Quận 6
  • Cửa Hàng Đồ Thờ Cao Cấp Bình Thạnh
  • Đặt Gà Cúng Ngon, Đẹp Và Giá Cạnh Tranh Tại Tp Hcm
  • Nghi Thức Cúng Hương Linh

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Khấn Cúng Rằm Tháng Ba
  • Tải Về Tập Văn Cúng Gia Tiên Sách Miễn Phí Pdf • Thư Viện Sách Hướng Dẫn
  • Lễ Rằm Tháng 7 Tại Nhà Thờ Họ Trương Việt Nam – Clb Dn Họ Trương Tp Hcm
  • Văn Khấn Tại Các Đền, Điện Thờ Tứ Phủ
  • Văn Cúng Tất Niên Chiều 30 Tết Đầy Đủ, Chính Xác Nhất Năm 2022
  • Nghi lễ hành trì

    Nghi Thức Cúng Hương Linh

     

    Kích cỡ chữ:

    (Nghi thứ 1)

    (Ghi chú: Đây là nghi cúng Hương linh thông thường, quý Phật tử

    có thể thực hành theo nghi nầy là đủ. Nhưng đây chỉ là lễ cúng linh,

    sau khi đã làm lễ Cầu siêu cho Hương linh trước Tam bảo rồi)

    Chủ lễ xướng: Gia chủ tựu vị. (Tức là gia đình có Hương linh cúng trong lễ nầy, đến quỳ trước bàn thờ linh.).

    Chủ lễ và Ban hộ niệm đồng hòa: Phần Hương (Tức

    là đốt hương dâng Hương linh, mỗi vị cúng linh có một cây hương hoặc

    chỉ có vị Đại diện gia đình cầm hương đưa lên ngang trán, thầm khấn

    nguyện)

    Chủ lễ xướng: Thượng hương. (Cắm hương lên bát nhang của Hương linh)

    Chủ lễ và Ban hộ niệm đồng hòa: Hiếu quyến lễ Hương linh bốn lạy.

    Đồng hòa tiếp: Cùng quỳ.

    Chủ lễ sám :

    Có sanh có tử có luân hồi,

    Không sanh không tử không tới lui,

    Sanh tử, tới lui là mộng huyễn,

    Mau xa trần thế, đến sen đài.

    Ngưỡng trông đức Phật Di Đà từ bi phóng quang tiếp độ :

    Đồng niệm tiếp dẫn cho Hương linh :

    Nam mô tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật. (từ 3 đến 10 lần)

    Chủ lễ :

    Nay lấy chơn ngôn mà triệu thỉnh,

    Hương linh chẳng rõ để biết, nghe,

    Nhờ sức Tam bảo đã hộ trì,

    Ngày nầy, giờ nầy xin dự hội.

    Hương linh nghe triệu thỉnh, nghe triệu thỉnh, xin nguyện đến cho.

    Đồng hòa : Hương vân thỉnh, hương vân thỉnh.

    Chủ lễ :

    Hôm nay, ngày . . . tháng . . . năm . . Nguyên quán làng . . . xã . .

    . huyện . . . tỉnh . . Gia quyến hiện ở tại . . . . Tất cả đều thiết

    lễ: (Phát tang, làm tuần, cúng năm mươi ngày, một trăm ngày, giáp năm, xả tang, húy nhật, hiệp kỵ, …) để báo đáp thâm ân sanh thành dưỡng dục. Hiện hiếu quyến gồm có : . . . . (Con trai, con dâu, con gái, con rễ, cháu đích tôn, cháu nội, cháu ngoại, v. v..) Một dạ chí thành dâng hương và phẩm vật cúng dường ; ngữa trông ơn Phật từ bi gia hộ.

    Thành tâm phụng thỉnh đức tiếp dẫn đạo sư Phật A Di Đà từ bi phóng quang tiếp độ: Hôm nay chánh thỉnh hương linh : . . . (Cha, mẹ, chú, cô, dì, …) Pháp danh : . . . (nếu có) Sanh ngày . . . tháng . . . năm . . Hưởng thọ : . . . . (mấy) tuổi,

    Tạ thế ngày . . tháng . . năm . . . Thỉnh lần thứ nhất, nguyện hương

    linh lên ngồi linh đài để nghe kinh kệ và con cháu thành tâm cúng

    dường.

    Đồng hòa: Hương linh nghe triệu thỉnh, hương linh nghe triệu thỉnh, xin nguyện đến cho.

    Chủ lễ: Thành tâm phụng thỉnh đức đại từ

    đại bi Bồ tát Quán Thế Âm, từ bi phóng quang tiếp độ: Hôm nay chánh

    thỉnh hương linh : . . . . Pháp danh : . . . . Sanh ngày . . tháng . .

    năm Hưởng thọ : . . . . . (Mấy) tuổi. Tạ thế ngày . . tháng

    . . năm . . Thỉnh lần thứ hai, nguyện hương linh lên ngồi linh đài

    để nghe kinh kệ và thọ nhận phẩm vật do con cháu cúng dường.

    Đồng hòa: Hương linh nghe triệu thỉnh, hương linh nghe triệu thỉnh, xin nguyện đến cho.

    Chủ lễ: Thành tâm phụng thỉnh đức Bồ tát

    Địa Tạng Vương đang đang hóa độ tại cảnh giới U minh, từ bi phóng

    quang tiếp độ: Hôm nay chánh thỉnh hương linh : . . . Pháp danh : . .

    .Sanh ngày : . . tháng . . năm . . Hưởng thọ : . . . . (Mấy)

    tuổi, Tạ thế ngày : . . tháng . . năm . Thỉnh lần thứ ba, nguyện

    hương linh lên ngồi linh đài để nghe kinh kệ, được con cháu cúng

    dường, sớm dứt trừ nghiệp chướng và sanh về cảnh giới tịnh độ của đức

    Phật A Di Đà.

    Đồng hòa:

    Ba lần phụng thỉnh hương linh về,

    Thọ nhận cúng dường, kinh kệ nghe,

    Thấu rõ kệ kinh, mong giải thoát,

    Oai lực Tam bảo đã chứng tri.

    Nam mô chứng minh sư Bồ tát Ma ha tát.(3 lần)

    Chủ lễ: Dâng trà

    Đồng hòa: Lạy hai lạy.

    Đồng hòa: Cùng quỳ.

    Chủ lễ xướng điệp (nếu có) :

    Âm, dương không hai lý,

    Sanh, tử có hai đường,

    Nay có Điệp văn đọc,

    Trước hương linh cúng dường.

    Điệp rằng: Lập đàn siêu độ: Nay tuyên đọc điệp : . . . (Tiến điệp hay Thỉnh điệp)

    tiến cúng hương linh: . . . . ., Pháp danh : . . . . Nguyên quán

    làng . . ., xã: . . ., huyện . . ., tỉnh . . , huyện . . ., nước Việt

    Nam. Hiện đang cư ngụ tại nước Hoa Kỳ, (Có thể là Pháp, Anh, Ý, Đức, Gia Nã Đại, Úc Đại Lợi, . . .), tiểu bang . . ., thành phố . . . gia cư lập đàn phụng Phật, dâng hương, tụng kinh cầu siêu nhân ngày húy nhật (Chung thất, năm mươi ngày, giáp năm, xả tang, . . .; tìm chữ đúng ý để đưa vào mấy chấm chấm trước đó). Hiếu tử . . .

    (Con trai trưởng, con trai, con dâu, con gái, con rễ, cháu nội, cháu

    ngoại, . .. . . . . . theo thứ tự như đây để liệt kê vào cho đúng)

    và cùng toàn thể hiếu quyến con cháu, trai gái, nội ngoại, lớn nhỏ

    vân vân. Đồng kính thiết lễ gồm: hương hoa quả phẩm, cổ bàn, trầm trà

    thanh đạm, cung kính cúng dường:

    Phụng vì truy tiến : . . . . . .

    (Tên các bậc lớn hơn hương linh đang được cúng, điền vào đây, nhiều hay ít tùy theo)

    Phụng vì chánh cúng : . . . . .

    (Tên hương linh được cúng chính thức, điền vào đây. Chỉ có một vị chính thức mà thôi).

    Phụng vì phối tiến : . . . . . .

    (Tên

    các hương linh được mời về cùng dự, hoặc là cùng hàng cùng lứa với

    hương linh cúng chính thức, hoặc vai vế nhỏ hơn, điền vào đây, nhiều hay

    ít tùy duyên).

    Hởi ôi !

    Sống gởi thác về, già hay trẻ không ai thoát khỏi số mạng.

    Trời cao đất dày, lên hoặc xuống khó rõ biết được hướng phương.

    Muốn cầu về thẳng tây phương,

    Phải nương thuyền từ tế độ.

    Hôm nay đúng ngày húy nhật, cung thỉnh chư Tăng lập đàn pháp sự.

    Phúng tụng: Kinh văn Pháp bảo Đại thừa, niệm thần chú vãng

    sanh tịnh độ. Nhờ ơn lành nầy, cầu về tây phương. Lại nữa, nương vào

    thiện lợi rõ đường sanh tử, thoát khỏi ba đường dữ; do công đức nghe

    kệ kính Pháp bảo chứng được niết bàn, vượt lên chín phẩm.

    Cầu xin hương linh hoan hỷ thọ nhận.

    Nay toàn thể hiếu quyến cúi xin ngừng tuyên điệp.

    Âm, dương cách trở đôi phương,

    Nương nhờ sứ giả chỉ đường U minh.

    Tiếp nhận hướng dẫn hương linh,

    Minh trung thâu chấp, hiếu tình cúng dâng.

    Vâng theo lời chỉ giáo của Hòa thượng : . .

    (Ghi Pháp tự của Hòa thượng, Thượng tọa hay Đại Đức vào đây).

    Chủ lễ: Cúng trà.

    Đồng hòa: Lạy hai lạy.

    Đồng hòa: Tất cả cùng quỳ.

    Đồng tụng cúng dường:

    Nam mô Đa Bảo Như Lai,

    Nam mô Bảo Thắng Như Lai,

    Nam mô Diệu Sắc Thân Như Lai,

    Nam mô Quảng Bác Thân Như Lai,

    Nam mô Ly Bố Úy Như Lai,

    Nam mô Cam Lộ Vương Như Lai,

    Nam mô A Di Đà Như Lai.

    Nam mô tác phạ đát tha nga đá, phạ lô dĩ đế. Án, tam bạt ra, tam bạt ra hồng. (3 hay 7 lần)

    Nam mô tô rô bà da, đát tha nga đa da, đát điệt tha. Án, tô rô tô rô, bát ra tô rô bát ra tô rô, ta bà ha. (3 lần)

    Án, nga nga nẵng, tam bà phạ phiệt nhựt ra hồng. (3 lần)

    Đồng tụng :

    Con nay, xin cúng vị cam lồ,

    Tam bảo từ bi chứng giám cho,

    Xin nguyện hương linh được no đủ,

    Tây phương cực lạc hướng theo về.

    Nam mô phổ cúng dường Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

    Chủ lễ: Cúng trà.

    Đồng hòa: Lạy hai lạy.

    Đồng tụng :

    Quy mạng lễ A Di Đà Phật,

    Ở phương tây thế giới an lành,

    Con nay xin phát nguyện vãng sanh,

    Cúi xin đức từ bi tiếp độ :

    Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật.

    Nam mô A Di Đà Phật. (30 lần)

    Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát. (3 lần)

    Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát. (3 lần)

    Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. (3 lần)

    Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. (3 lần)

    Đồng tụng :

    Ba đời mười phương Phật,

    A Di Đà bậc nhất,

    Chín phẩm độ chúng sanh,

    Oai đức không cùng cực,

    Con nay vì hương linh,

    Sám hối ba nghiệp tội,

    Phàm được bao phước thiện,

    Chí tâm nguyện hồi hướng,

    Nguyện cùng người niệm Phật,

    Vãng sanh nước Cực Lạc,

    Thấy ngộ pháp tánh,

    Phát tâm đại bồ đề,

    Đoạn vô biên phiền não,

    Tu vô lượng pháp môn,

    Thệ nguyện độ chúng sanh,

    Đều trọn thành Phật đạo.

    Hư không có thể tận,

    Nguyện của con không cùng,

    Loài hữu tình, vô tình,

    Đều được thành Chánh giác.

    Đồng tụng: Tâm kinh Bát nhã ba la mật đa (Bản dịch của Hòa thượng Thích Trí Quang)

    Quán Tự Tại Bồ Tát, khi thực hành Bát nhã ba la mật đa sâu xa, thì soi thấy năm uẩn đều không, vượt mọi khổ ách.

    Xá Lợi Tử ! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc ; sắc tức là

    không, không tức là sắc; thọ tưởng hành thức cũng đều như vậy.

    Lợi Tử ! Không ấy của các pháp, không sanh không diệt, không nhớp không

    sạch, không thêm không bớt ; nên trong không, không sắc thọ tưởng

    hành thức ; không nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý ; không sắc thanh hương vị

    xúc pháp; không nhãn giới cho đến ý thức giới ; không vô minh và sự

    diệt tận của vô minh, cho đến không lão tử và sự diệt tận của lão tử,

    không khổ tập diệt đạo ; không trí không được vì không được gì cả.

    Bồ Tát y theo Bát nhã ba la mật nên tâm không vướng mắc, không vướng

    mắc nên không khiếp sợ, siêu thoát mộng tưởng điên đảo, cứu cánh niết

    bàn. Chư Phật cả ba thời gian y theo Bát nhã ba la mật nên được Vô

    thượng Bồ đề. Do đó nên biết Bát nhã ba la mật là bài chú rất thần

    diệu : bài chú rất sáng chói, bài chú tối thượng, bài chú tuyệt bậc

    mà đồng bậc, trừ được hết thảy khổ não, chắc thật, không hư ngụy. Nên

    tôi nói chú Bát nhã ba la mật. Ngài liền nói chú ấy: “Yết đế yết đế,

    ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề, tát bà ha.” (3 lần)

    Đồng tụng: Vãng sanh tịnh độ thần chú

    (Đến đây đốt Điệp văn cúng hương linh)

    Nam mô a di đà bà dạ, đá tha dà đa dạ, đá địa dạ tha.

    A di rị đô bà tì,

    A di rị đá, tất đam bà tỳ,

    A di rị đá, tì ca lan đế,

    A di rị đá, tì ca lan đá,

    Dà di nị, dà dà na.

    Chỉ đa ca lệ, ta bà ha. (3 lần)

    Chủ lễ: Hiếu quyến thành tâm lạy tạ hương linh

    Đồng hòa: Bốn lạy.

    Đồng tụng:

    Nguyện sanh Cực Lạc cảnh phương tây,

    Chín phẩm hoa sen là cha mẹ,

    Hoa nở thấy Phật chứng vô sanh,

    Bồ tát bất thoái là bạn hữu.

    Chủ lễ sám:

    Bỏ chơn tâm, theo trần cảnh là nguyên nhân đau khổ,

    Trở về Giác ngộ là mắt thấy Như Lai,

    Vì hương linh nghiệp chướng vẫn còn dầy,

    Bây giờ trở về quy y Tam Bảo được hoa khai thấy Phật.

    Đại chúng đồng niệm, tiếp dẫn hương linh siêu sanh Lạc quốc.

    Đại chúng đồng hòa: Nam mô A Di Đà Phật.

     

    NGHI THỨC CÚNG VONG (Nghi thứ 2)

    GỒM CÓ :

    • Hương linh lễ Phật (gia chủ lạy thế)

    • Thỉnh hương linh

    • Thỉnh Đức Quán Thế Âm Tiếp Dẫn…

    • Thỉnh Đức A Di Đà Tiếp Dẫn…

    • Thỉnh Đức Địa Tạng Tiếp Dẫn…

    • Xướng và đọc Điệp (nếu có)

    • Cúng Cơm và Nước

    • Niệm Phật

    • Sám Di Đà

    • Tiễn đưa hương linh

    • Phục Nguyện

    DÙNG ĐỂ :

    Cúng các hương linh, như hương linh Ông, Bà, Cha, Mẹ, v.v… Cúng ở nhà hay ở chùa cũng được.

    NGHI THỨC CÚNG VONG

    (Đồ cúng chỉnh tề, tang chủ quỳ gối, dâng hương ngang trán, vái tên họ người chết, cắm hương xong, chủ lễ xướng)

    HƯƠNG LINH LỄ PHẬT

    Tây Phương tiếp độ hương hồn.

    (1 tiếng chuông, chúng đồng niệm)

    Nam Mô A Di Đà Phật.

    (1 tiếng chuông, chủ lễ xướng tiếp)

    Vong tựu Phật tiền, đảnh lễ tam (1 tiếng chuông, chúng hòa:) bái.

    (3 tiếng chuông, chờ tang chủ lạy thế cho hương linh xong, hữu ban tiếp: )

    Hồ quỳ. (cầm 3 cây hương, chủ lễ cử tán: )

    THỈNH HƯƠNG LINH

    Chơn ngôn thần lực dẫn hương linh

    Từ chốn U Minh về Dương Thế

    An tọa linh đường để nghe kinh

    Tang môn hiếu tử linh đình cúng dâng…

    Chủ lễ bái: Hương hoa thỉnh, (1 tiếng chuông)

    Chúng hòa: Hương hoa triệu thỉnh.

    THỈNH ĐỨC QUÁN ÂM TIẾP DẪN…

    Chủ lễ thỉnh: Nhất tâm phụng thỉnh:

    Đức Quán Âm tu hành nhiều kiếp

    Với lời nguyền tha thiết độ sanh

    Khắp muôn nơi cầu nguyện chí thành

    Ngài ứng hiện muôn hình tế độ. (1 t. Chuông)

    Cung vi,

    Nam mô Đại Từ Đại Bi Tầm Thinh Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát, tay cầm nhành liễu, phóng hào quang tiếp dẫn hương linh, (tên họ: …, Pháp danh: …, sinh ngày: …, chết ngày: …, tại: …) hôm nay là Lễ … (Thọ Tang, Tứ Cửu, Bách Nhật, Tiểu Tường, Đại Tường…), hương thơm ngào ngạt, cung thỉnh hương linh (lần I), trở lại gia đình, lễ Phật nghe Kinh. [Nếu không cúng tại nhà, nên đổi chữ Gia Đường lại là… (Đàn Tràng)].

    Chủ lễ tiếp: Hương hoa thỉnh. (1 tiếng chuông)

    Chúng hòa: Hương hoa triệu thỉnh. (1 tiếng chuông).

    Hữu Ban: Duy nguyện:

    Hồn về Dương Thế

    Phách ở nơi nao?

    Mau mau tỉnh ngộ

    Vượt thoát trần lao.

    Hương hoa thỉnh, (1 tiếng chuông)

    Chúng hòa: Hương hoa triệu thỉnh. (1 tiếng chuông)

    THỈNH ĐỨC DI ĐÀ TIẾP DẪN…

    Chủ lễ thỉnh: Nhất tâm phụng thỉnh:

    Sông mê rào rạt sóng tình

    Biển đau lênh láng lệ mình khóc than

    Muốn mau thoát khỏi trần gian

    Hãy nên niệm Phật tiêu tan khổ nàn.

    Cung vi:

    Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật, tay bưng kim đài, tiếp dẫn hương linh (tên họ: …, Pháp danh: …, sinh ngày: …, chết ngày: …, tại:…), hôm nay là Lễ…, hương thơm ngào ngạt, cung thỉnh hương linh, (lần II), trở lại gia đình, lễ Phật nghe Kinh.

    Chủ lễ tiếp: Hương hoa thỉnh, (1 tiếng chuông)

    Chúng hòa: Hương hoa triệu thỉnh. (1 tiếng chuông).

    Tả Ban: Duy Nguyện:

    Thân cử bước thênh thang

    Tâm tự tại an nhàn

    Tới lui không vướng mắc

    Vượt thoát cảnh trần gian.

    Hương hoa thỉnh, (1 tiếng chuông)

    Chúng hòa: Hương hoa triệu thỉnh. (1 tiếng chuông)

    THỈNH ĐỨC ĐỊA TẠNG TIẾP DẪN…

    Chủ lễ thỉnh: Nhất tâm phụng thỉnh:

    U Minh, dứt hết ngục hình

    Dương gian, độ thoát chúng sanh không còn.

    Bồ Đề nguyện lớn vuông tròn

    Chứng nên Phật quả không còn tử, sanh.

    Cung vi:

    Nam Mô U Minh Giáo Chủ Bổn Tôn Địa Tạng Vương Bồ Tát, tay cầm tích trượng, phóng hào quang tiếp độ hương linh (Tên họ: …, Pháp danh: …, sinh ngày: …, chết ngày: …, tại: …), hôm nay là Lễ…, hương thơm ngào ngạt, cung thỉnh hương linh (lần III), trở lại gia đình, lễ Phật nghe Kinh.

    Chủ lễ tiếp: Hương hoa thỉnh, (1 tiếng chuông)

    Chúng hòa: Hương hoa triệu thỉnh. (1 tiếng chuông)

    Hữu Ban: Duy nguyện:

    Được nương nhờ oai thần chư Phật

    Nay về đây thính Pháp văn Kinh

    Hồn thiêng thụ hưởng linh đình

    Nén hương, bát nước, ân (thâm) tình cúng dâng.

    Hữu Ban tiếp: Hương hoa thỉnh, (1 tiếng chuông)

    Chúng hòa: Hương hoa triệu thỉnh. (1 tiếng chuông)

    Đại chúng đồng tụng:

    Ba lần cung thỉnh

    Hương linh đã về

    Hồn thiêng an tọa linh sàn

    Tang môn hiếu tử thiết đàn kính dâng.

    Tả Ban: Tang chủ lễ nhị

    Chúng hòa: bái. (2 tiếng chuông)

    Hữu ban tiếp: Hồ quỳ.

    XƯỚNG VÀ ĐỌC ĐIỆP (nếu có)

    Chủ lễ xướng:

    Âm dương đồng nhứt lý

    Sanh tử chia đôi đàng

    Điệp tang họp thời dọc

    Cầu chư Phật chứng minh. (1 tiếng chuông)

    (Đọc điệp xong, cúng cơm. Tang chủ gắp thức ăn, mỗi thứ một chút, để vào bát cơm lưng, gác ngang đôi đũa, chắp tay vái cúng)

    CÚNG CƠM VÀ NƯỚC

    Đồng tụng:

    Nam Mô Đa Bảo Như Lai

    Nam Mô Bảo Thắng Như Lai

    Nam Mô Diệu Sắc Thân Như Lai

    Nam Mô Quảng Bát Thân Như Lai

    Nam Mô Ly Bố Úy Như Lai

    Nam Mô Cam Lồ Vương Như Lai

    Nam Mô A Di Đà Như Lai. (3 lần, 1 tiếng chuông)

    Nam Mô tát phạ đát tha, nga đa phạ lồ chỉ đế. Án, tam bạt ra, tam bạt ra hồng. (3 lần, 1 tiếng chuông)

    Hôm nay, dâng cúng cơm nầy

    Sắc, hương, mỹ, vị biến đầy hư không

    Thành tâm tha thiết ngưỡng mong

    Hương linh nạp thọ, tấc lòng nhớ thương.

    Mỹ Thanh trai Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần, 1 tiếng chuông)

    Chủ lễ xướng: Hiến trà, (rót trà cúng, lần thứ nhứt)

    Hữu Ban tiếp: Cúc cung lễ nhị

    Chúng hòa: bái. (2 tiếng chuông)

    Tả Ban: Hồ Quỳ. (1 tiếng chuông, đồng tụng: )

    Nam mô tô rô bà da, đát tha nga đa da, đát điệt tha. Án, tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô, ta bà ha. (3 lần, 1 tiếng chuông).

    Hữu Ban xướng:

    Ruột se thắt, âm dương xa cách

    Ngậm ngùi thay, hồn phách về đâu!?

    Chủ lễ xướng: Hiến trà, (rót nước cúng lần thứ nhì)

    Tả Ban tiếp: Cúc cung lễ nhị

    Chúng hòa: bái. (2 tiếng chuông, đồng tụng)

    Nam Mô Cam Lồ Vương Bồ Tát. (3 lần, 1 tiếng chuông)

    Hữu Ban xướng:

    Cam lồ một giọt linh thiêng

    Tiêu trừ đói khát triền miên

    Mật ngôn mầu nhiệm, hồn thiêng an lành.

    Chủ lễ xướng: Hiến trà, (rót trà cúng, lần thứ ba)

    Tả Ban tiếp: Cúc cung lễ nhị

    Chúng hòa: bái. (2 tiếng chuông)

    Hữu Ban: Hồ Quỳ. (1 tiếng chuông, đồng tụng)

    Án, nga nga nẳng tam bà, phạ phiệt nhựt ra hồng. (3 lần,1 tiếng chuông)

    Hữu ban xướng:

    Hồn sắp thoát dương gian

    Chốn U Minh mờ hiện

    Âm dương chia đôi đàng

    Bát hương, đôi nến gần tàn

    Cúi xin chư Phật dẫn đàng hồn đi. (1 tiếng chuông, đồng niệm)

    NIỆM PHẬT

    A Di Đà Phật thân sắc vàng,

    Tướng tốt rực rỡ, hào quang sáng ngời,

    Mày trắng tỏa, Tu Di uyển chuyển,

    Mắt trong ngần, bốn biển long lanh,

    Ánh hào quang hóa vô số Phật,

    Vô số Bồ Tát hiện ở trong,

    Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh,

    Chín phẩm sen vàng lên giải thoát,

    Qui mạng lễ A Di Đà Phật,

    Ở phương Tây thế giới an lành

    Con nay xin phát nguyện vãng sanh,

    Cúi xin Đức Từ Bi nhiếp thọ. (1 tiếng chuông)

    Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật.

    Nam Mô A Di Đà Phật. (mỗi câu 3 lần, 1 tiếng chuông)

    Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát.

    Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát.

    Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.

    Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát.

    (Khi đang tụng chú Vãng Sanh, nếu có sớ nên đốt)

    9. CHÚ VÃNG SANH TỊNH ĐỘ

    Nam mô a di đa bà dạ, đa tha dà đa dạ, đa địa dạ tha, a di rị đô, bà

    tỳ, a di rị đa, tất đam bà tỳ, a di rị đa, tỳ ca lan đế, a di rị đa, tỳ

    ca lan đa, dà di nị, dà dà na, chỉ ca ca lệ, ta bà ha. (3 lần, 1 tiếng

    chuông)

    TIỄN ĐƯA HƯƠNG LINH

    Chỉ chủ lễ xướng:

    Hồn về Cực Lạc Tây Phương

    Ngát hương sen nở, hào quang sáng ngời

    Chắp tay, vĩnh biệt cõi đời

    Quán Âm, Thế Chí đón mời hồn đi.

    (Chủ lễ tiếp:)

    PHỤC NGUYỆN

    Hồn siêu nơi cõi Tịnh

    Nghiệp dứt chốn trần ai

    Hoa sen chín phẩm vừa khai

    Phật bèn thọ ký cho ngay nhứt thừa

    Cầu xin chư Phật tiếp đưa

    Hồn về Cực Lạc say sưa Pháp mầu

    Nguyện cho hương linh…

    Sớm về cõi Phật

    Hưởng cảnh thanh bình

    Pháp giới chúng sinh

    Trọn thành Phật quả.

    (1 tiếng chuông, đại chúng đồng niệm:)

    Nam Mô A Di Đà Phật.

    Hữu Ban xướng: Tang Chủ tựu vị lễ tứ,

    Chúng hòa: bái. (4 tiếng chuông, tang chủ lạy 4 lạy, lui ra).

    Theo: chuaviengiac

    Tiêu điểm:

    Các tin đã đăng:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Cúng Lễ Đàm Tế (Tức Là Lễ Hết Tang Trừ Phục)
  • Bài Văn Khấn Ông Địa Thần Khai Trương Cửa Hàng Đúng Chuẩn
  • Mẫu Bài Khấn Cúng Cơm Hàng Ngày Cho Người Mới Mất, Văn Khấn Cúng Cơm Cửu Huyền Thất Tổ
  • Bài Văn Khấn Cúng Rước Ông Bà
  • Bài Văn Khấn Tứ Phủ Công Đồng Chính Xác Nhất
  • Nghi Thức Cúng Cơm Cho Hương Linh

    --- Bài mới hơn ---

  • Món Chay Cúng Giỗ Cực Hấp Dẫn Với Thực Đơn Bạn Không Thể Bỏ Qua
  • Thị Trường Ngày Ông Công Ông Táo: Giá Cá Chép Giảm ‘nhiệt’ Theo Giờ, Hoa Tươi Tăng Mạnh
  • Cúng Ông Công Ông Táo Sớm, Giá Các Mặt Hàng Đều Rẻ
  • Nhận Đặt Mâm Cỗ Cúng Ông Táo
  • Mâm Lễ Cúng Ông Táo Trọn Gói
  • NGUYỆN HƯƠNG

    Tang chủ nguyện hương…, dâng hương…, lễ hương linh tam… bái, bình thân giai quỳ… (Tang chủ quỳ, dâng hương ngang trán vái tên người chết, cắm hương xong, lễ ba lạy và quỳ xuống)

    THỈNH HƯƠNG LINH

    Chân ngôn thần lực dẫn hương linh

    Từ chốn u minh về dương thế

    An toạ linh sàng để nghe kinh

    Tang gia hiếu tử chí thành hiến dâng. O

    THỈNH ĐỨC DI ĐÀ TIẾP DẪN Nam mô nhất tâm phụng thỉnh

    Sông mê dào dạt sóng tình

    Biển đau lênh láng lệ mình khóc than

    Muốn mau thoát khỏi trần gian

    Hãy nên niệm Phật tiêu tan khổ nàn. O

    Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A-di-đà Phật, tay bưng sen vàng tiếp dẫn hương linh ………., pháp danh ………., mất ngày ………., hưởng dương/thọ ………. , hôm nay là ngày cúng cơm (thọ tang, bốn chín ngày, trăm ngày, giáp năm, hai năm), hương thơm ngào ngạt, triệu thỉnh hương linh, trở lại đàn tràng (gia đường), lễ Phật, nghe kinh.

    Hương hoa thỉnh, hương hoa triệu thỉnh

    Thân cử bước thênh thang

    Tâm tự tại an nhàn

    Tới lui không vướng mắc

    Vượt thoát cảnh trần gian. O

    THỈNH ĐỨC QUÁN THẾ ÂM TIẾP DẪN Nam mô nhất tâm phụng thỉnh

    Đức Quán Âm tu hành nhiều kiếp

    Với lời nguyện tha thiết độ sanh

    Khắp muôn nơi cầu nguyện chí thành

    Ngài ứng hiện muôn hình tế độ. O

    Nam mô Đại Từ Đại Bi Tầm Thanh Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ-tát, tay cầm nhành liễu, phóng hào quang tiếp dẫn hương linh ………., pháp danh ………., mất ngày ………., hưởng dương/thọ ………. tuổi, hôm nay là ngày cúng cơm (thọ tang, bốn chín ngày, trăm ngày, giáp năm, hai năm), hương thơm ngào ngạt, triệu thỉnh hương linh, trở lại đàn tràng (gia đường), lễ Phật, nghe kinh.

    Hương hoa thỉnh, hương hoa triệu thỉnh

    Hồn về dương thế

    Phách ở nơi nao

    Mau mau tỉnh ngộ

    Vượt thoát trần lao.

    THỈNH ĐỨC ĐỊA TẠNG TIẾP DẪN Nam mô nhất tâm phụng thỉnh

    U minh dứt hết ngục hình

    Dương gian độ thoát chúng sanh không còn

    Bồ đề nguyện lớn vuông tròn

    Chứng nên Phật quả không còn tử sinh. O

    Nam mô U Minh Giáo Chủ Bổn Tôn Địa Tạng Vương Bồ-tát, tay cầm tích trượng, phóng hào quang tiếp độ hương linh ………., pháp danh ………., mất ngày ………., hưởng dương/thọ ………. tuổi, hôm nay là ngày cúng cơm (thọ tang, bốn chín ngày, trăm ngày, giáp năm, hai năm), hương thơm ngào ngạt, triệu thỉnh hương linh, trở lại đàn tràng (gia đường), lễ Phật, nghe kinh.

    Hương hoa thỉnh, hương hoa triệu thỉnh

    Được nương nhờ oai thần chư Phật

    Nay về đây nghe pháp nghe kinh

    Hồn thiêng thụ hưởng linh đình

    Nén hương, bát nước, ân tình cúng dâng.

    CHÂM TRÀ LẦN I

    Tang chủ thành tâm hiến trà cho hương linh…

    Tang gia hiếu quyến lễ… tạ hương linh nhị… bái. OO

    BA LẦN TRIỆU THỈNH Hương hoa thỉnh, hương hoa triệu thỉnh Nam mô nhất tâm triệu thỉnh

    Tang chủ thành tâm bái thỉnh. Hương linh ơi nghe lời mời thỉnh… hương linh ơi nghe lời mời thỉnh… hương linh ơi nghe lời mời thỉnh… ba lần triệu thỉnh hương linh đã về, hồn thiêng an toạ linh sàng, tang chủ thành tâm thiết đàn hương hoa, cam lồ, pháp thực đủ đầy kính dâng.

    DÂNG CƠM CÚNG

    Tang chủ thành tâm dâng cơm.

    (Tang chủ gắp thức ăn, mỗi thứ một ít để vào bát cơm, đôi đũa gác ngang và nâng ngang trán) (Tuỳ theo trường hợp cúng cho cha mẹ, vợ chồng,… mà người chủ lễ chọn những phần sau đọc cho phù hợp)

    Đây bát cơm đầy nặng ước mong

    Cha (mẹ) ơi! Đây ngọc với đây lòng

    Đây tình còn đọng trong tha thiết

    Ân nghĩa sinh thành chưa trả xong.

    Chim loan phụng từ xưa hoà hợp

    Đàn sắt cầm bỗng đứt dây tơ

    Âm dương xa cách đôi bờ

    Bóng kia hình nọ bây giờ tìm đâu.

    – Cúng tổ tiên, ông bà, cô bác, anh chị:

    Đây nền nhân, đây nhà nghĩa, do tổ tiên gầy dựng mà nên! Nọ lá ngọc, nọ cành vàng, bởi công đức chất chồng mà có.

    Hiểu đạo nghĩa càng thêm thân thiết

    Rõ bà con thương tiếc biết bao

    Âm dương xa cách đớn đau

    Giờ nương Tam Bảo sớm mau an nhàn.

    CHÚ BIẾN THỰC

    Nam mô tát phạ đát tha nga đa phạ lồ chỉ đế. Án, tam bạt ra, tam bạt ra hồng. (3 lần) O

    CHÚ BIẾN THUỶ

    Nam mô tô rô bà da, đát tha nga đa da, đát điệt tha. Án, tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô, ta bà ha. (3 lần) O

    CHÚ PHỔ CÚNG DƯỜNG

    Án, nga nga nẳng tam bà phạ phiệt nhật ra hồng. (3 lần) O

    (Tang chủ thành tâm để bát cơm xuống)

    Sắc hương mỹ vị đầy hư không

    Nguyện cho hương linh đều no đủ.

    Nam mô Mỹ Hương Trai Bồ-tát Ma-ha-tát. (3 lần) O

    CHÂM TRÀ LẦN II

    Cam lồ một giọt linh thiêng

    Tiêu trừ đói khát triền miên

    Mật ngôn mầu nhiệm hồn thiêng an lành.

    Tang chủ thành tâm hiến trà cho hương linh…

    Toàn gia hiếu quyến lễ… hương linh nhị… bái… OO

    KHAI THỊ HƯƠNG LINH

    Biển khổ mênh mông sóng nổi trôi

    Muốn đến Bồ đề bờ giác ngộ

    Nếu mà chưa từng nghe kinh pháp

    Thì làm sao thoát khỏi luân hồi.

    Nam mô Đa Bảo Như Lai

    Nam mô Bảo Thắng Như Lai

    Nam mô Diệu Sắc Thân Như Lai

    Nam mô Quảng Bác Thân Như Lai

    Nam mô Ly Bố Uý Như Lai

    Nam mô Cam Lồ Vương Như Lai

    Nam mô A-di-đà Như Lai. O

    QUY Y CHO HƯƠNG LINH (Nếu hương linh quy y rồi thì khỏi)

    Hương linh quay về nương tựa Phật

    Hương linh quay về nương tựa Pháp

    Hương linh quay về nương tựa Tăng.

    Quay về nương tựa Phật, người đưa đường chỉ lối cho hương linh.

    Quay về nương tựa Pháp, con đường của tình thương và sự hiểu biết.

    Quay về nương tựa Tăng, đoàn thể của những người nguyện sống cuộc đời tỉnh thức.

    SÁM HỐI CHO HƯƠNG LINH

    Hương linh đã tạo bao nghiệp ác

    Đều do vô thỉ tham, sân, si

    Từ thân, miệng, ý phát sinh ra

    Tất cả hương linh đều sám hối. O

    OAI LỰC SỰ HƯỚNG NGUYỆN

    Nguyện đều no đủ bỏ xan tham

    Mau thoát u minh sinh Tịnh độ

    Quy y Tam Bảo phát Bồ đề

    Rồi sẽ đạt thành đạo vô thượng

    Công đức đi về cõi vị lai

    Tất cả hương linh cùng tiếp nhận. O

    CHÂM TRÀ LẦN III

    Tang chủ thành tâm hiến trà cho hương linh…

    Toàn gia hiếu quyến lễ… hương linh nhị… bái. OO

    CHÚ VÃNG SANH TỊNH ĐỘ

    Nam mô a di đa bà dạ. Đa tha dà đa dạ. Đa điệt dạ tha. A di rị đô bà tỳ, a di rị đa, tất đam bà tỳ, a di rị đa, tỳ ca lan đế, a di rị đa, tỳ ca lan đa. Dà di nị, dà dà na. Chỉ đa ca lệ, ta bà ha. (3 lần) O

    HỒI HƯỚNG

    Nguyện sinh Tịnh độ Di-đà

    Hoa sen chín phẩm là cha mẹ mình

    Hoa khai ngộ pháp vô sanh

    Cùng chư Bồ-tát bạn lành với ta

    Nguyện đem công đức tạo ra

    Hướng về tất cả gần xa hưởng nhờ

    Con cùng muôn loại thân sơ

    Đều thành Phật đạo đến bờ an vui. O

    PHỤC NGUYỆN

    Nam mô Thập Phương Thường Trụ Tam Bảo.

    Tác đại chứng minh. O

    Hôm nay ngày….. tháng….. năm….. có gia đình tang chủ thành tâm thiết lễ cúng cơm. Nguyện đem công đức hồi hướng cầu siêu cho hương linh (Họ tên ………., pháp danh ………., mất ngày ………., hưởng dương/thọ ………. tuổi), được phát tâm tỉnh giác, lìa chỗ tối tăm, xa rời đường dữ, tin sâu Tam Bảo, sinh về cõi Phật an vui. O

    Thứ nguyện: Tâm chí thành dâng lên, nguyện cho hương linh, nghiệp chướng tiêu trừ, vãng sinh Tịnh độ. Lại nguyện cho toàn thể tang gia hiếu quyến, thân tâm an lạc, thường được kiết tường, xa lìa khổ ách. O

    Khắp nguyện: Kẻ mất siêu thăng, người còn phúc lạc, âm dương lưỡng lợi, pháp giới nhân thiên, đồng thành Phật đạo.

    Nam mô A-di-đà Phật. O

    TIỄN ĐƯA HƯƠNG LINH

    Hồn về Cực Lạc Tây phương

    Ngát hương sen nở hào quang sáng ngời

    Chắp tay vĩnh biệt cõi đời

    Quán Âm, Thế Chí đón mời hồn đi. O

    HOÀN TẤT

    Tang chủ đứng dậy, lễ tạ hương linh tứ… bái… OOOO

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghi Thức Thờ Cúng Tổ Tiên Của Người Việt
  • Các Nghi Thức Cúng Giỗ Tại Việt Nam
  • Cúng Ông Công Ông Táo Giờ Nào Để Cả Năm May Mắn?
  • Vàng Mã Cúng Tổ Nghề
  • Tìm Hiểu Về Tục Lệ Cúng Giỗ Xưa Nay Của Người Việt
  • Những Nghi Lễ Nhập Trạch Nhất Định Phải Có Khi Dọn Về Nhà Mớ

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghi Lễ Nhập Trạch Về Nhà Mới Như Thế Nào?
  • Lễ Nhập Trạch Nhà Mới Cần Những Gì ? Xây Lăng Mộ, Mộ Đá Cao Cấp 2022
  • Lễ Nhập Trạch Nhà Mới Như Thế Nào Mới Chính Xác Nhất Hiện Nay
  • Nhập Trạch Là Gì? Mâm Cúng Lễ Nhập Trạch Gồm Những Gì?
  • Bạn Đã Biết Lễ Nhập Trạch Gồm Những Gì Chưa
  • Những nghi lễ nhập trạch nhất định phải có khi dọn về nhà mới – phải biết để tránh hối hận, các bạn nên giắt lưng ngay.

    Lễ nhập trạch được hiểu là lễ dọn vào nhà mới, áp dụng cả nhà mới xây, mới mua. Đây là một nghi lễ cổ truyền, quan trọng bên cạnh lễ động thổ, cất nóc. Làm lễ nhập trạch tức là đăng ký hộ khẩu với thần linh, thổ địa nơi ngôi nhà đã tọa lạc. Bởi vậy khi dọn về nhà mới gia chủ nên lưu ý:

    Vật dụng mang vào hay cần hoàn thiện trước khi làm lễ nhập trạch:

    – Bếp (nên hoàn thiện trước).

    – Bàn thờ: Bao gồm các đồ bày trí như bát hương (thường tự bốc bát hương 1-2 tiếng trước khi làm lễ) hay đồ cúng (hoa tươi, quả tươi, nước). Đồ cúng không cần cầu kỳ.

    – Gạo, nước (thường tự lấy ở nhà mới).

    – Đồ dùng tượng trưng (bàn ghế, chổi, chiếu…).

    Khi vào nhà mới, không quan trọng là ai trong gia đình phải cầm vật dụng gì nhưng ai cũng nên có đồ mang vào, không nên đi tay không. Người trong gia đình bất cứ tuổi nào đều có thể vào, không phải kiêng kỵ.

    Nghi lễ nhập trạch

    1. Điều kiện để dọn về nhà mới

    Khi muốn chuyển về nhà mới ở, bạn cần tuân thủ những điều sau:

    – Xem và chọn ngày giờ tốt để về nhà mới.

    – Phải đích thân chủ nhân mới của ngôi nhà chuyển đồ đạc sang nhà mới.

    – Cũng đích thân chủ nhân mới của ngôi nhà phải cầm bài vị cúng gia thần, tổ tiên và các thành viên khác trong nhà theo sau, đồng thời cầm theo tiền của.

    – Chuyển nhà vào buổi sáng là tốt nhất hoặc không có thể chọn buổi trưa hoặc lúc mặt trời sắp lặn. Tuyệt đối tránh chuyển nhà về nhà khi trời đã chuyển tối vì điều này không tốt cho gia chủ.

    2. Điều cấm kỵ khi dọn về nhà mới

    – Theo dân gian, người có mang không được phép dọn nhà nếu không sẽ phạm tội “Thần thai”. Nếu quá cấp bách, người có mang phải dùng một cái chổi mới mua, chưa sử dụng để quét hết các đồ vật trong nhà trước khi chuyển chúng đi.

    – Người cầm tinh con hổ không nên tham gia vào việc dọn nhà.

    – Trường hợp nhập trạch chỉ để lấy ngày tốt và gia chủ chưa chính thức ở ngay, nhất thiết phải ngủ qua đêm tại nhà mới.

    Đây là những điều kiêng kỵ để tránh những không may xảy đến với gia chủ.

    Văn khấn lễ nhập trạch

    Văn khấn lễ nhập trạch bao gồm 2 phần: là văn khấn thần linh và văn khấn cáo yết gia tiên.

    – Văn khấn thần linh:

    Nam mô a di đà Phật! (lặp lại 3 lần)

    Con lạy chín phương Trời, mười Phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

    Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

    Con kính lạy Các ngài Thần linh bản xứ cai quản trong khu vực này.

    Tín chủ (chúng) con là:……………………………………….

    Hôm nay là ngày….. tháng…. năm…. tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án. Trước bản toạ chư vị Tôn thần tín chủ con kính cẩn tâu trình:

    Các vị Thần linh,

    Thông minh chính trực

    Giữ ngôi tam thai

    Nắm quyền tạo hoá

    Thể đức hiếu sinh

    Phù hộ dân lành

    Bảo vệ sinh linh

    Nêu cao chính đạo.

    Nay gia đình chúng con hoàn tất tân gia, chọn được ngày lành dọn đến cư ngụ, phần sài nhóm nhóm lửa, kính lễ khánh hạ. Cầu xin chư vị minh Thần cho chúng con được nhập vào nhà mới tại:………………………………. và lập bát nhang thờ chư vị Tôn thần. Chúng con xin phép chư vị Tôn thần cho rước vong linh Gia tiên chúng con về ở nơi này để thờ phụng. Chúng con cầu xin chư vị minh Thần gia ân tác phúc, độ cho gia quyến chúng con an ninh, khang thái, làm ăn tiến tới, tài lộc dồi dào vạn sự như ý, vạn điều tốt lành.

    Tín chủ lại mời các vong linh Tiền chủ, Hậu chủ ở trong nhà này, đất này xin cùng về đây chiêm ngưỡng Tôn thần, thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho tín chủ con sức khoẻ dồi dào, an khang, thịnh vượng.

    Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Nam mô a di Đà Phật! (lặp lại 3 lần)

    – Văn khấn các yết gia tiên:

    Nam mô a di Đà Phật! (lặp lại 3 lần)

    Kính lạy Tiên nội ngoại họ………………………

    Hôm nay là ngày……… tháng.:……. năm……….

    Gia đình chúng con mới dọn đến đây là: (địa chỉ):…………..

    Chúng con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước ban thờ Cụ nội ngoại gia tiên. Nhờ hồng phúc tổ tiên, ông bà cha mẹ, chúng con đã tạo lập được ngôi nhà mới. Nhân chọn được ngày lành tháng tốt, thiết lập án thờ, kê giường nhóm lứa, kính lễ khánh hạ.

    Cúi xin các cụ, ông bà cùng chư vị Hương linh nội ngoại họ……………….. thương xót con cháu, chứng giám lòng thành, giáng phó linh sàng thụ hưởng lễ vật, phù hộ độ trì cho chúng con, lộc tài vượng tiến, gia đạo hưng long, cháu con được bình an mạnh khoẻ.

    Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Nam mô a di Đà Phật! (lặp lại 3 lần)

    DiaOcOnline.vn – Theo Khỏe & Đẹp

    https://www.officesaigon.vn/

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhập Trạch Là Gì? Các Thủ Tục Làm Lễ Nhập Trạch
  • Thủ Tục Làm Lễ Nhập Trạch Sao Cho Đúng?
  • Thủ Tục Làm Lễ Nhập Trạch
  • Nhập Trạch Là Gì? Thủ Tục Làm Lễ Nhập Trạch Nhà Mới
  • Lễ Nhập Trạch Là Gì? Thủ Tục Nhập Trạch Chung Cư Cần Chuẩn Bị Gì?
  • 3 Bài Văn Khấn Cầu Bình An Khi Lễ Chùa Chuẩn Tâm Linh

    --- Bài mới hơn ---

  • Ngày Rằm: Văn Khấn Gia Thần Cầu Bình An Cho Gia Đình
  • Văn Khấn Bốc Mộ Và Những Lưu Ý Khi Bốc Mộ
  • Ý Nghĩa Lễ Cải Cát Và Bài Văn Bốc Mộ
  • Cách Bốc Bát Hương Về Nhà Mới Cho Đúng
  • Hướng Dẫn Cách Bốc Bát Hương Đúng (Kèm Video Hướng Dẫn)
  • Lễ Chùa là một trong những hoạt động mang đậm nét văn hóa của người Việt ta từ xưa đến nay. Vậy văn khấn cầu bình an khi đi chùa như thế nào? Để biết thêm chi tiết về vấn đề này mời bạn theo dõi bài chia sẻ sau đây của xoso88.net.

    Văn khấn cầu bình an – Văn khấn đức chúa ông

    ” Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

    Kính lạy Đức Ông Tu Đạt Tôn Giả, Thập Bát Long Thần, Già Lam Chân Tể.

    Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm Kỷ Hợi 2022

    Tín chủ con là………………………………………………………………………………………………………..

    Ngụ tại:………………………………………………………………………………………………………………..

    Cùng cả gia đình thân tới cửa chùa trước điện Đức Ông, thành tâm kính lễ, (nếu có đang lễ vật thì khấn thêm “hiến dâng phẩm vật, kim ngân tịnh tài”), chúng con tâu lên Ngài Tu Đạt Tôn Giả từ cảnh trời cao soi xét.

    Chúng con kính tâu lên Ngài Già Lam Chân Tể cai quản trong nội tự cùng các Thánh Chúng trong cảnh chùa đây.

    Thiết nghĩ chúng con sinh nơi trần tục, nhiều sự lỗi lầm, hôm nay tỏ lòng thành kính, cúi xin Đức Ông thể đức hiếu sinh, rủ lòng tế độ che chở cho chúng con, ba tháng hè chín tháng đông, tiêu trừ bệnh tật tai ương, vui hưởng lộc tài may mắn, cầu gì cũng được, nguyện gì cũng thành.

    Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Nam mô A-di-đà Phật (3 lần, 3 lạy)”

    Văn khấn cầu bình an Đức Thánh Hiền

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

    Con cúi lạy Đức Thánh Hiền, Đại Thánh Khải Giáo A Nan Đà Tôn Giả.

    Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm Kỷ Hợi 2022

    Tín chủ con là………………………………………………………………………………………………………..

    Ngụ tại:………………………………………………………………………………………………………………..

    Chúng con thành tâm tiến dâng lễ bạc, oản quả, hương hoa.

    Cầu mong Tam Bảo chứng minh, Đức Thánh Hiền chứng giám, rủ lòng thương xót phù hộ cho con được mọi sự tốt lành, sức khỏe dồi dào, an ninh khang thái, gia đạo hưng long, thịnh vượng.

    Cúi mong Ngài soi xét tâm thành, phù hộ cho gia đình chúng con được sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

    Nam mô A-di-đà Phật (3 lần, 3 lạy)

    Văn khấn cầu bình an tại điện thờ Bồ Tát Quan Âm

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

    Nam mô Đại từ Đại bi Linh cảm Quán Thế Bồ Tát.

    Kính lạy Đức Viên Thông giáo chủ thùy từ chứng giám.Chúng con có nghe Đức Phật dạy trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa phẩm Phổ Môn rằng”Dù chỉ nghe tên Quán Thế Âm Hay dù chỉ thấy bức chân dung, Nhất tâm trì niệm hồng danh ấy,Thoát mọi hung tai, được cát tường”.

    Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm Kỷ Hợi 2022

    Tín chủ con là …

    Ngụ tại ….

    Thành tâm đến trước Phật đài, nơi điện Đại bi, kính dâng phẩm vật, hương hoa kim ngân tịnh tài, ngũ thể đầu thành, nhất tâm kính lễ dưới tòa sen hồng. Cúi xin Đức Đại Sỹ không rời bản nguyện chở che cứu vớt chúng con như mẹ hiền phù trì con đỏ. Nhờ nước dương chi, lòng trần cầu ân thanh tịnh, thiện nguyện nêu cao. Được ánh từ quang soi tỏ, khiến cho nghiệp trần nhẹ bớt, tâm đạo khai hoa, độ cho đệ tử cùng gia đình bốn mùa được chữ bình an, tám tiết khang ninh thịnh vượng, lộc tài tăng tiến, gia đạo hưng long, mầm tai ương tiêu sạch làu làu, đường chính đạo thênh thang tiến bước. Cầu gì cũng được, nguyện gì cũng thành.

    Tín chủ chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Nam mô Quán Thế Âm Bồ-tát! (3 lần, 3 lạy).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nội Dung Bài Văn Khấn Xin Tài Lộc, Làm Ăn Phát Đạt Chính Xác 2022 2022
  • 6 Bí Quyết Giúp Bạn Thoát Khỏi Tình Thế Nguy Kịch
  • Bài Khấn Cầu An Đầu Năm
  • Bài Khấn Cầu Bình An
  • Những Điều Cần Biết Trong Cách Lập Bàn Thờ Phật Tại Gia
  • Những Nghi Lễ Cúng Ông Công Ông Táo Đẹp, Chuẩn Ý Thần Linh

    --- Bài mới hơn ---

  • Mâm Lễ Cúng Ông Công Ông Táo Gồm Những Gì?
  • Mâm Cỗ Cúng Ông Công Ông Táo Gồm Gì Chuẩn Nhất?
  • Cúng Ông Công Ông Táo Gồm Những Gì, Chuẩn Bị Như Thế Nào Là Đầy Đủ Nhất
  • Văn Khấn Tiễn Ông Công Ông Táo Chuẩn Nhất, Sắm Lễ Sao Cho Đúng?
  • Tại Sao Phải Cúng Ông Công Ông Táo Trước 12 Giờ Trưa Ngày 23 Tháng Chạp?
  • Nghi lễ cúng ông công ông táo

    1. Đồ cúng, đồ lễ

    Ở mỗi miền Bắc, Trung, Nam thì người ta sẽ có những cách chuẩn bị đồ lễ có nét khác biệt riêng. Nhưng đối với niềm tin đất Việt, thì những đồ cúng cơ bản luôn được các chị em nội trợ chuẩn bị trong ngày Tết ông công ông táo.

    Quan niệm truyền thống, mâm cỗ không nhất thiết là phải thật hoành tráng, đủ loại món sơn hào hải vị, nhưng đơn giản là bánh, kẹo và nước trà, muốn xin Táo công thưa chuyện với Ngọc Hoàng những điều hay, điều tốt. Bạn không nhất thiết phải chuẩn bị một mâm cỗ đầy cho ngày tết công táo này. Nếu là mâm cỗ thì cũng không đặt lên bàn thờ, mà bạn phải chuẩn bị một cái bàn con ở phía dưới bàn thờ và đặt mâm ở đó.

    Bên cạnh đó người ta cũng không quên chuẩn bị 3 chiếc mũ ông công, trong đó hai mũ đàn ông và một mũ đàn bà. Sau khi cúng ông Công ông táo thì đồ vàng mã này sẽ được hóa(đốt đi). Bạn cũng có thể không chuẩn bị lễ vật này, vì cũng không thực sự cần thiết trong ngày lễ này!

    Còn khi đến với mảnh đất miền Trung, người dân sẽ chuẩn bị thêm một con ngựa bằng giấy với yên, cương đầy đủ cho lễ cúng. Và Ở miền Nam thì chỉ chuẩn bị thêm mũ, áo và đôi hài bằng giấy là được.

    2. Vị trí đặt đồ lễ

    Vị trí làm lễ thường là trước ngay bàn thờ thần linh gia tiên. Chuẩn bị một cái bàn nhỏ, rồi sắp đồ lên đó, chứ bạn không nên đặt đồ lễ ở bàn thờ Phật hoặc hơn cả là lập riêng bàn thờ Táo quân.

    Gia đình làm lễ đến khi thấy hương cháy đến 2/3 thì có thể đem vàng mã ra hóa và phóng sinh cá chép.

    3. Thời gian

    Bên cạnh đồ cúng là vị trí đặt đồ cúng thì thời gian làm lễ cũng hết sức quan trọng. Theo quan niệm của dân gian, các gia đình phải làm lễ cúng trước 12h trưa ngày 23 tháng Chạp để ông Táo kịp lên trời báo cáo, sau giờ này thì cổng thiên đình sẽ đóng cửa, Táo không thể gặp được Ngọc Hoàng. Điều này chưa thực sự là đúng, vì theo truyền thuyết kể lại, đến tối thì các Táo mới lên trời. Các gia đình đều có thể cúng từ ngày 21 đến hết ngày 23 tháng Chạp, những gia đình bận kinh doanh vào dịp Tết hoàn toàn có thể làm lễ trước.

    Thêm một điều nữa, khi làm lễ cúng ông Công ông Táo thì người ta không xin phú quý, giàu sang, mà chỉ xin Táo nói những điều hay cho gia đình mình!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lễ Cúng Ông Công Ông Táo 23 Tháng Chạp
  • Lễ Vật Cúng Ông Công Ông Táo Gồm Có Những Gì?
  • Văn Khấn Cúng Ông Công Ông Táo 2022
  • Hướng Dẫn Bày Mâm Cỗ, Cúng Ông Công, Ông Táo
  • Cúng Ông Công Ông Táo Cần Chuẩn Bị Những Gì? Giờ Nào Cúng? #2021
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100