Top 14 # Nghi Thức Cúng Cơm Ngày Giỗ Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 6/2023 # Top Trend | Iseeacademy.com

Nghi Thức Cúng Giỗ Gia Tiên

Trong việc cúng giỗ ông bà tổ tiên ngày nay nhiều gia đình cũng đã tốn kém chi phí , giết mổ lợn gà, cao lương mỹ vị, mời mọc khách khứa, con cháu sau vầy, thụ hưởng lễ vật, nhưng không đáp ứng được sự hội tụ linh hồn của ông bà tổ tiên. Thậm chí có những chỗ xảy ra va chạm, hiềm khích, to tiếng, bất hòa anh em, nghiệp nặng hơn còn xảy ra đâm chém., hận thù, từ mặt. Nhiều người đã đổ lỗi cho ngẫu nhiên hay bia rượu, vẫn là những con người đó trong cuộc sống họ đã từng nâng chén tâm tình huyết thống, hay tri kỷ, huynh đệ mà họ chưa hiểu được rằng đó là một tín hiệu sân hận, giận dữ của những linh hồn, tạo nên những bất hòa hay tai họa cho người dương trần đang sống.

Khái quát về linh hồn

Mọi vạn vật sinh ra trên đời này đều có sự tương quan lẫn nhau, xúc tiến lẫn nhau và nương tựa bổ trợ nhau, cái sinh ra nó và cái nó sinh ra, con người cũng vậy, có tình mẫu tử, chuyển hóa, luân hồi. Tất cả mọi thứ đều có linh hồn, từ cổ xưa người ta đã tôn sùng vạn vật thiên nhiên, các vị thần sông, thần núi, thần cây….đến đức phật, thánh mẫu các vị thần trong lăng tẩm đình chùa, đền miếu, chúng ta đều đến thắp hương và tỏ lòng thành kính, và được các đấng thần linh che chở phù hộ. còn tổ tiên, ông bà, cha mẹ thì sao?

Về phong tục: Từ cổ xưa đến, việc thờ cúng đã diễn ra hầu hết của con người, trên nhiều quốc gia trên thế giới, Còn tục thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam đã trở thành một bản sắc văn hóa đặc sắc, một nét đẹp văn hóa nổi bật trong cách ứng xử của con người, nó mang đậm một giá trị đạo hiếu, nhân cách, tình cảm và có giá trị to lớn trong nền giáo dục cho những thế hệ mai sau. Tục cúng giỗ góp phần thức tỉnh những giá trị tình cảm của cuộc sống, những cái thiện trong con người, nhớ về nguồn cội, nhớ tới công sinh thành dưỡng dục của cha mẹ cho ta khôn lớn. Con người sinh ra, ai cũng có cha mẹ, ông bà, cao hơn nữa là tổ tiên dòng tộc. Mẹ cha nuôi dưỡng chúng ta, nhưng không bao giờ nghĩ đến việc mình được trả công, mà duy nhất chỉ mong cho các con trưởng thành vinh hiển, làm vẻ vang dòng họ tổ tông. Với công ơn sinh thành dưỡng dục, khi mẹ cha còn sống thì phụng dưỡng, khi khuất bóng thì kính thờ, phận làm con cần phải đáp đền thế nào cho tròn chữ Hiếu? Dù tiền tài, phẩm vật có uy nghi đến đâu chăng nữa cũng chẳng thể đáp đền công đức Cù Lao, cao lương mỹ vị đủ đầy cũng không thể sánh bằng công ơn cha mẹ. Vì vậy, khi người còn sống ta hãy làm vui lòng người sống, khi mất ta phụng thờ và tu tâm hơn cho hoàn thiện cũng sẽ làm mát mẻ những linh hồn nơi chín suối.

Nghiệp báo phúc họa ở cúng giỗ

Bao gồm các nội dung:

Cách lập ban thờ phật

Cách lập ban thờ tổ tiên

Cách lập ban thờ vọng

Cách lập ban thờ bà cô ông mãnh

Cách lập ban thờ người mới mất

Ngày tang lễ và những điều kiêng kỵ

Cách thắp hương

Lòng thành kính

Nghi thức cúng giỗ theo nho giáo, phật giáo.

Nghi Thức Cúng Cơm Cho Hương Linh

NGUYỆN HƯƠNG

Tang chủ nguyện hương…, dâng hương…, lễ hương linh tam… bái, bình thân giai quỳ… (Tang chủ quỳ, dâng hương ngang trán vái tên người chết, cắm hương xong, lễ ba lạy và quỳ xuống)

THỈNH HƯƠNG LINH

Chân ngôn thần lực dẫn hương linh

Từ chốn u minh về dương thế

An toạ linh sàng để nghe kinh

Tang gia hiếu tử chí thành hiến dâng. O

THỈNH ĐỨC DI ĐÀ TIẾP DẪN Nam mô nhất tâm phụng thỉnh

Sông mê dào dạt sóng tình

Biển đau lênh láng lệ mình khóc than

Muốn mau thoát khỏi trần gian

Hãy nên niệm Phật tiêu tan khổ nàn. O

Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A-di-đà Phật, tay bưng sen vàng tiếp dẫn hương linh ………., pháp danh ………., mất ngày ………., hưởng dương/thọ ………. , hôm nay là ngày cúng cơm (thọ tang, bốn chín ngày, trăm ngày, giáp năm, hai năm), hương thơm ngào ngạt, triệu thỉnh hương linh, trở lại đàn tràng (gia đường), lễ Phật, nghe kinh.

Hương hoa thỉnh, hương hoa triệu thỉnh

Thân cử bước thênh thang

Tâm tự tại an nhàn

Tới lui không vướng mắc

Vượt thoát cảnh trần gian. O

THỈNH ĐỨC QUÁN THẾ ÂM TIẾP DẪN Nam mô nhất tâm phụng thỉnh

Đức Quán Âm tu hành nhiều kiếp

Với lời nguyện tha thiết độ sanh

Khắp muôn nơi cầu nguyện chí thành

Ngài ứng hiện muôn hình tế độ. O

Nam mô Đại Từ Đại Bi Tầm Thanh Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ-tát, tay cầm nhành liễu, phóng hào quang tiếp dẫn hương linh ………., pháp danh ………., mất ngày ………., hưởng dương/thọ ………. tuổi, hôm nay là ngày cúng cơm (thọ tang, bốn chín ngày, trăm ngày, giáp năm, hai năm), hương thơm ngào ngạt, triệu thỉnh hương linh, trở lại đàn tràng (gia đường), lễ Phật, nghe kinh.

Hương hoa thỉnh, hương hoa triệu thỉnh

Hồn về dương thế

Phách ở nơi nao

Mau mau tỉnh ngộ

Vượt thoát trần lao.

THỈNH ĐỨC ĐỊA TẠNG TIẾP DẪN Nam mô nhất tâm phụng thỉnh

U minh dứt hết ngục hình

Dương gian độ thoát chúng sanh không còn

Bồ đề nguyện lớn vuông tròn

Chứng nên Phật quả không còn tử sinh. O

Nam mô U Minh Giáo Chủ Bổn Tôn Địa Tạng Vương Bồ-tát, tay cầm tích trượng, phóng hào quang tiếp độ hương linh ………., pháp danh ………., mất ngày ………., hưởng dương/thọ ………. tuổi, hôm nay là ngày cúng cơm (thọ tang, bốn chín ngày, trăm ngày, giáp năm, hai năm), hương thơm ngào ngạt, triệu thỉnh hương linh, trở lại đàn tràng (gia đường), lễ Phật, nghe kinh.

Hương hoa thỉnh, hương hoa triệu thỉnh

Được nương nhờ oai thần chư Phật

Nay về đây nghe pháp nghe kinh

Hồn thiêng thụ hưởng linh đình

Nén hương, bát nước, ân tình cúng dâng.

CHÂM TRÀ LẦN I

Tang chủ thành tâm hiến trà cho hương linh…

Tang gia hiếu quyến lễ… tạ hương linh nhị… bái. OO

BA LẦN TRIỆU THỈNH Hương hoa thỉnh, hương hoa triệu thỉnh Nam mô nhất tâm triệu thỉnh

Tang chủ thành tâm bái thỉnh. Hương linh ơi nghe lời mời thỉnh… hương linh ơi nghe lời mời thỉnh… hương linh ơi nghe lời mời thỉnh… ba lần triệu thỉnh hương linh đã về, hồn thiêng an toạ linh sàng, tang chủ thành tâm thiết đàn hương hoa, cam lồ, pháp thực đủ đầy kính dâng.

DÂNG CƠM CÚNG

Tang chủ thành tâm dâng cơm.

(Tang chủ gắp thức ăn, mỗi thứ một ít để vào bát cơm, đôi đũa gác ngang và nâng ngang trán) (Tuỳ theo trường hợp cúng cho cha mẹ, vợ chồng,… mà người chủ lễ chọn những phần sau đọc cho phù hợp)

Đây bát cơm đầy nặng ước mong

Cha (mẹ) ơi! Đây ngọc với đây lòng

Đây tình còn đọng trong tha thiết

Ân nghĩa sinh thành chưa trả xong.

Chim loan phụng từ xưa hoà hợp

Đàn sắt cầm bỗng đứt dây tơ

Âm dương xa cách đôi bờ

Bóng kia hình nọ bây giờ tìm đâu.

– Cúng tổ tiên, ông bà, cô bác, anh chị:

Đây nền nhân, đây nhà nghĩa, do tổ tiên gầy dựng mà nên! Nọ lá ngọc, nọ cành vàng, bởi công đức chất chồng mà có.

Hiểu đạo nghĩa càng thêm thân thiết

Rõ bà con thương tiếc biết bao

Âm dương xa cách đớn đau

Giờ nương Tam Bảo sớm mau an nhàn.

CHÚ BIẾN THỰC

Nam mô tát phạ đát tha nga đa phạ lồ chỉ đế. Án, tam bạt ra, tam bạt ra hồng. (3 lần) O

CHÚ BIẾN THUỶ

Nam mô tô rô bà da, đát tha nga đa da, đát điệt tha. Án, tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô, ta bà ha. (3 lần) O

CHÚ PHỔ CÚNG DƯỜNG

Án, nga nga nẳng tam bà phạ phiệt nhật ra hồng. (3 lần) O

(Tang chủ thành tâm để bát cơm xuống)

Sắc hương mỹ vị đầy hư không

Nguyện cho hương linh đều no đủ.

Nam mô Mỹ Hương Trai Bồ-tát Ma-ha-tát. (3 lần) O

CHÂM TRÀ LẦN II

Cam lồ một giọt linh thiêng

Tiêu trừ đói khát triền miên

Mật ngôn mầu nhiệm hồn thiêng an lành.

Tang chủ thành tâm hiến trà cho hương linh…

Toàn gia hiếu quyến lễ… hương linh nhị… bái… OO

KHAI THỊ HƯƠNG LINH

Biển khổ mênh mông sóng nổi trôi

Muốn đến Bồ đề bờ giác ngộ

Nếu mà chưa từng nghe kinh pháp

Thì làm sao thoát khỏi luân hồi.

Nam mô Đa Bảo Như Lai

Nam mô Bảo Thắng Như Lai

Nam mô Diệu Sắc Thân Như Lai

Nam mô Quảng Bác Thân Như Lai

Nam mô Ly Bố Uý Như Lai

Nam mô Cam Lồ Vương Như Lai

Nam mô A-di-đà Như Lai. O

QUY Y CHO HƯƠNG LINH (Nếu hương linh quy y rồi thì khỏi)

Hương linh quay về nương tựa Phật

Hương linh quay về nương tựa Pháp

Hương linh quay về nương tựa Tăng.

Quay về nương tựa Phật, người đưa đường chỉ lối cho hương linh.

Quay về nương tựa Pháp, con đường của tình thương và sự hiểu biết.

Quay về nương tựa Tăng, đoàn thể của những người nguyện sống cuộc đời tỉnh thức.

SÁM HỐI CHO HƯƠNG LINH

Hương linh đã tạo bao nghiệp ác

Đều do vô thỉ tham, sân, si

Từ thân, miệng, ý phát sinh ra

Tất cả hương linh đều sám hối. O

OAI LỰC SỰ HƯỚNG NGUYỆN

Nguyện đều no đủ bỏ xan tham

Mau thoát u minh sinh Tịnh độ

Quy y Tam Bảo phát Bồ đề

Rồi sẽ đạt thành đạo vô thượng

Công đức đi về cõi vị lai

Tất cả hương linh cùng tiếp nhận. O

CHÂM TRÀ LẦN III

Tang chủ thành tâm hiến trà cho hương linh…

Toàn gia hiếu quyến lễ… hương linh nhị… bái. OO

CHÚ VÃNG SANH TỊNH ĐỘ

Nam mô a di đa bà dạ. Đa tha dà đa dạ. Đa điệt dạ tha. A di rị đô bà tỳ, a di rị đa, tất đam bà tỳ, a di rị đa, tỳ ca lan đế, a di rị đa, tỳ ca lan đa. Dà di nị, dà dà na. Chỉ đa ca lệ, ta bà ha. (3 lần) O

HỒI HƯỚNG

Nguyện sinh Tịnh độ Di-đà

Hoa sen chín phẩm là cha mẹ mình

Hoa khai ngộ pháp vô sanh

Cùng chư Bồ-tát bạn lành với ta

Nguyện đem công đức tạo ra

Hướng về tất cả gần xa hưởng nhờ

Con cùng muôn loại thân sơ

Đều thành Phật đạo đến bờ an vui. O

PHỤC NGUYỆN

Nam mô Thập Phương Thường Trụ Tam Bảo.

Tác đại chứng minh. O

Hôm nay ngày….. tháng….. năm….. có gia đình tang chủ thành tâm thiết lễ cúng cơm. Nguyện đem công đức hồi hướng cầu siêu cho hương linh (Họ tên ………., pháp danh ………., mất ngày ………., hưởng dương/thọ ………. tuổi), được phát tâm tỉnh giác, lìa chỗ tối tăm, xa rời đường dữ, tin sâu Tam Bảo, sinh về cõi Phật an vui. O

Thứ nguyện: Tâm chí thành dâng lên, nguyện cho hương linh, nghiệp chướng tiêu trừ, vãng sinh Tịnh độ. Lại nguyện cho toàn thể tang gia hiếu quyến, thân tâm an lạc, thường được kiết tường, xa lìa khổ ách. O

Khắp nguyện: Kẻ mất siêu thăng, người còn phúc lạc, âm dương lưỡng lợi, pháp giới nhân thiên, đồng thành Phật đạo.

Nam mô A-di-đà Phật. O

TIỄN ĐƯA HƯƠNG LINH

Hồn về Cực Lạc Tây phương

Ngát hương sen nở hào quang sáng ngời

Chắp tay vĩnh biệt cõi đời

Quán Âm, Thế Chí đón mời hồn đi. O

HOÀN TẤT

Tang chủ đứng dậy, lễ tạ hương linh tứ… bái… OOOO

Nghi Thức Cúng Quá Đường (Ăn Cơm Trong Chánh Niệm)

Bài TỲ-KHEO NGUYÊN TẠNG

Sau khi hành giả vào trong trai đường, nghe thầy Chứng Minh nhịp ba tiếng chuông, chấp tay xá một xá và ngồi xuống, khi nghe một tiếng khánh, mở nắp bình bát ra, cắm chiếc muỗng quay ra phía ngoài vào cơm trong bình bát, sau đó nghe chuông hành giả tay trái nâng bát đưa lên ngang trán, tay phải kiết ấn cam lồ ngang miệng bình bát hay bát cơm để tụng bài cúng dường:

Cúng dường Thanh Tịnh Pháp Thân Tì Lô Giá Na Phật,Viên Mãn Báo Thân Lô Xá Na Phật,Thiên Bá Ức Hóa Thân Thích Ca Mâu Ni Phật,Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật,Cực Lạc Thế Giới A Di Đà Phật,Thập Phương Tam Thế Nhất Thiết Chư Phật,Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát,Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát,Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát,Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát,Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật.

Tam đức lục vị, cúng Phật cập Tăng, pháp giới hữu tình, phổ đồng cúng dường, nhược phạn thực thời, đương nguyện chúng sanh, Thiền duyệt vi thực, pháp hỷ sung mãn.

Dâng cơm lên trán và bắt ấn cúng dường để biểu tỏ lòng tôn kính ba ngôi Tam Bảo. Cúng dường xong để bát xuống, liền xoay hướng muỗng vào bên trong, với ý nghĩa, phần cơm dành cho mình, còn trước khi cúng, quay muỗng ra ngoài là để dâng cúng mười phương Tam Bảo.

Tay phải kiết ấn cam lồ biểu trưng cho lòng từ bi, như hình ảnh của Bồ Tát Quán Thế Âm, tay cầm bình cam lồ, tay bắt ấn để ban rải lòng từ bi để cứu khổ chúng sanh. Tay trái kết ấn Tam Sơn biểu trưng cho Giới Định Tuệ, là ba môn vô lậu học, một môn học có thể đưa hành giả đi vào đường giác ngộ.

Ta thấy trong nghi cách dâng bát cơm cúng dường này đã gói gọn ý nghĩa từ bi và trí tuệ, là hai yếu tố quyết định quan trọng trong đời mình, hạnh phúc hay đau khổ cũng chính từ đây mà có. Từ bi là lòng thương không có điều kiện, và trí tuệ là trí hiểu biết không nhiễm ô, đây là mục đích tối hậu của mọi hành giả, ai thành tựu được pháp hành này, người ấy luôn sống an lạc tự tại dung thông ngay trong hiện tại và mai sau, tất nhiên, con đường dẫn đến giải thoát sinh tử luân hồi đã ngắn dần ở phía trước.

Tiếp đó, thầy Chứng Minh để một cái chung nhỏ trong lòng bàn tay trái, tay mặt gắp 7 hạt cơm để vào chung, kiết ấn cam lồ và mặc niệm:

Pháp lực bất tư nghì.Từ bi vô chướng ngại.Thất liệp biến thập phương.Phổ thí châu sa giới.Án độ lợi ích tá ha (3 lần)

Sau đó đại chúng đồng tụng bài biến thực biến thủy chơn ngôn:

– Nẳng mồ tát phạ đát tha, nga đa phạ lồ chỉ đế. Án tam bạt ra tam bạt ra hồng (3 lần).

– Nẳng mồ tô rô bà da, đát tha nga đa da, đát điệt tha. Án tô rô, tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô ta bà ha. (3 lần).

– Án Nga nga nẵng Tam Bà Phạ Phiệt Nhựt Ra Hồng (3 lần).

Thầy Chứng Minh thầm nguyện:

Nhữ đẳng quỉ thần chúng.Ngã kim thí nhữ cúng.Thử thực biến thập phương.Nhất thiết quỉ thần cộng.Án mục lăng tá bà ha. (3 lần).

Theo sau là Thị Giả tống thực, đem chung nhỏ ra trước bàn ngoài sân để cúng Đại Bàng bằng cách hô to:

Chim đại bằng cánh vàng, chúng quỉ thần nơi đồng rộng, mẹ con quỉ la sát, cam lồ được no đủ. Án mục đế tóa ha. (7 lần)

Tiếp theo, Thầy Chứng Minh xướng Tăng Bạt:

Phật dạy đại chúng, ăn xét năm điều, nghĩ sai nói chuyện, tín thí khó tiêu, đại chúng nghe tiếng khánh, cùng giữ chánh niệm. Nam Mô A Di Đà Phật !

Tiếp đó, tất cả đại chúng hai tay bưng bát cơm đưa lên trán và thầm đọc:

Tay bưng bát cơm, nguyện cho chúng sanh, Pháp thí thành tựu, nhận của trời người cúng. Án chỉ rị chỉ rị phạ nhật ra hồng phấn tra (3 lần)

Nhận của trời người cúng ở đây là xứng đáng nhận sự cúng dường của người và trời, chỉ cho bậc A La Hán, người đã đoạn tận tam độc tham, sân, si và vô minh phiền não. Trong khi Cúng Quá Đường ý niệm này khởi lên, mong cho chính bản thân mình và hết thảy chúng sinh sớm chứng đắc A La Hán và thoát ly sinh tử luân hồi khổ đau.

Nghe tiếng khánh để bát cơm xuống và múc ít cơm ra chén để lưu phạn. Nghe chuông, bưng chén cơm để trước ngực và thầm đọc:

Nay đem phước đã tu, ban cho tất cả quỉ, ăn rồi hết đau khổ, xả thân về cõi tịnh, hưởng phước của Bồ Tát, rộng lớn như hư không, quả tốt như vậy đó, tiếp tục lớn thêm mãi. Án độ lợi ích tá ha. (3 lần)

Lưu phạn là san sẻ phần cơm của mình cho chúng quỉ thần và cho người ăn sau mình; ý nghĩa bố thí, mở rộng tình thương của mình dành cho người bất hạnh, không đủ cơm ăn áo mặc, ý tưởng này giúp cho hành giả nuôi dưỡng từ tâm ngay trong lúc mình ăn.

Lưu phạn xong, nghe hai tiếng chuông đại chúng bắt đầu dùng cơm, trước khi ăn, hành giả phải khởi niệm Tam Đề và Ngũ Quán, đây là một nghi cách đẹp và có ý nghĩa của nhà Phật mà hành giả không phải chỉ áp dụng trong khi Cúng Quá Đường mà có thể áp dụng trong tất cả các bữa ăn khác của mình trong đời sống.

Tam Đề là ăn ba muỗng cơm lạt đầu tiên, muỗng thứ nhất: thầm đọc, nguyện chấm dứt tất cả những điều ác; muỗng thứ hai: nguyện làm tất cả những việc lành; muỗng thứ ba: nguyện giúp đỡ tất cả chúng sanh.

Ý nghĩa Tam Đề này là nói rõ mục đích tối hậu của hành giả tự độ mình là dứt ác, làm lành, đạt đến giải thoát và thực thi hạnh độ tha là giúp đỡ người khác rõ biết đường đi lối về của nhân quả nghiệp báo, ra khỏi tà kiến để chấm dứt đau khổ trong đời sống để rồi cuối cùng cũng đạt đến giác ngộ giải thoát như bản thân mình.

Tiếp đến bắt đầu ăn cơm phải tưởng Ngũ Quán:

– Thứ nhứt. Con xin biết ơn người đã phát tâm cúng dường, sửa soạn những thức ăn này;

– Thứ hai. Con nguyện nổ lực tu học, trau dồi giới hạnh để xứng đáng thọ dụng những thức ăn này;

– Thứ ba: Trong khi ăn, con nguyện từ bỏ lòng tham dục, tham ăn;

– Thứ tư: Con quán chiếu những thức ăn này như những vị thuốc, để cho thân thể con khỏi bệnh tật;

– Thứ năm: Con nuôi dưỡng chánh niệm, chỉ vì để thành tựu đạo nghiệp giải thoát giác ngộ mà con xin thọ dụng những thức ăn này.

Trong suốt thời gian dùng cơm, hành giả luôn luôn giữ chánh niệm với năm phép quán trên.

Ăn cơm xong, lấy tăm xỉa răng và thầm nguyện:

Nhấm tăm dương chi, nên nguyện chúng sinh, tâm tính thuần hóa, cắn nát phiền não. Án a mộ dà, di ma lệ, nhĩ phạ ca ra, tăng thâu đà nễ, bát đầu ma, câu ma ra, nhĩ phạ tăng thâu đà da, đà ra đà ra, tố di ma lê, sa phạ ha (3 lần),

Ngày xưa tăm dùng trong chùa thường được làm bằng cành dương nhỏ, nên gọi là tăm dương. Ăn xong xỉa răng là thời điểm sau cùng của bữa ăn; thân vừa no đủ và tâm tư thư thái, hoan hỷ, không có chút lo lắng phiền não, nên cũng mong cho người khác cũng giống như chính mình.

Sau đó Thầy Chứng Minh nhịp một tiếng chuông, đại chúng cùng uống nước, hai tay bưng bát nước cung kính trước ngực và thầm nguyện:

Phật nhìn một bát nước, có tám vạn tư vi trùng, nếu không trì chú này, như ăn thịt chúng sanh. Án phạ tất ba ra ma ni sa ha (3 lần).

Qua Phật nhãn, Đức Thế Tôn thấy rõ có vô số vi trùng trong một bát nước, một cái thấy mà mãi đến hơn 2,000 năm sau mới có người phát hiện, đó là vào hậu bán thế kỷ 19, nhà sinh vật học người Pháp Louis Pasteur (1822-1895) khám ra những vi khuẩn gây bệnh qua kính hiển vi. Cũng chính vì bài kệ chú uống nước có tính siêu khoa học này mà nhà bác học vĩ đại nhất của thế kỷ thứ 20, ông Albert Einstein (1879-1955) đã không ngần ngại khi tuyên bố “Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học.”

Uống nước xong, nghe chuông, đại chúng cùng tụng bài Kiết Trai:

Nam mô tát đa nẫm, tam miệu tam bồ đề, cu chi nẫm, đát điệt tha. Án chiếc lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha (7 lần).

Gọi là bố thí, tất được ích lợi; vui thích bố thí, sau được an vui. Thọ thực hoàn tất, nên nguyện chúng sanh, việc làm hoàn mãn, đầy đủ Phật pháp.

Theo sau là nghi thức niệm Phật và Kinh Hành, đi từ trai đường lên Chánh Điện, hành giả chấp tay nghiêm trang và từng bước chân kinh hành, miệng niệm Phật trong chánh niệm, vào điện Phật, lễ Tứ Thánh, quỳ xuống tụng bài Sám Nguyện và hồi hướng công đức, đó là hoàn mãn thời Cúng Quá Đường!

(Bài này đã được đăng trên trang Facebook của Duyên Giác Ngộ ngày 10 tháng 7, 2020)

Nghi Thức Cúng Giỗ (Dành Cho Đạo Tràng Đi Làm Phận Sự

LỜI DẪN

I. Pháp Duyên Tu Tập

Kính thưa quý đạo hữu! Đây là pháp hội tâm linh, chỉ có năng lực của Pháp, mới giúp cho chúng sinh, trong cõi tâm linh giác ngộ. Thái tử Tất Đạt Đa nhờ đắc PHÁP mà thành Phật, nên Pháp có năng lực to lớn vi diệu. Ví như, cũng một câu chữ, Đức Phật nói ra cho chúng sinh nghe, thì chúng sinh có thể chứng đắc giải thoát ngay sau khi nghe, nhưng cũng với câu chữ đó, chúng ta nói cho mọi người nghe, thì chẳng có người nào đắc quả, mà đôi khi chúng ta dùng tâm ngã mạn mà nói, sẽ khiến chúng sinh phiền não thêm. Nên năng lực của PHÁP là năng lực quyết định, trong buổi lễ tâm linh.

Vì vậy các Phật tử cần nhớ, chúng ta chỉ đi làm lễ, khi chúng ta đã đúng với pháp lục hòa. Khi chúng ta đã thực hành đúng pháp lục hòa, thì trong buổi lễ, những câu kinh, lời khai thị… khi chúng ta đọc ra, sẽ nhờ năng lực của pháp lục hòa, mà khiến cho các chúng từ cõi người đến cõi tâm linh, có thể hiểu, có thể giác ngộ và chính chúng ta, có thể sẽ được giác ngộ ra phần nào đó ngay trong buổi lễ.

Khi tham gia khóa lễ, là khi chúng ta thực hành công hạnh Bồ Đề “Chuyển Tải Phật Pháp”, nên chúng ta phải “CHUYỂN” được pháp lục hòa tới pháp hội, để cho chúng sinh kết duyên với pháp. Nếu chúng ta không làm đúng pháp lục hòa, thì chúng ta sẽ “CHUYỂN” cái “PHÁP BẢN NGÔ đến pháp hội, điều này chẳng làm lợi ích cho chúng sinh, mà còn tạo thêm nghiệp chướng cho chúng ta.

Các Phật tử trước khi đi tác lễ phận sự, cần thực hành pháp lục hòa, qua việc bạch thỉnh tại Ban Điều Hành Nghi lễ Câu lạc bộ Cúc Vàng.

Phật tử không biến mình thành ông thầy cúng, mà rõ biết đây là một pháp duyên cho mình tu tập pháp lục hòa và nương năng lực của pháp lục hòa, để chuyển tải Phật Pháp đến cho chúng sinh.

II. Lợi Ích Của Pháp Hội

Kính thưa quý đạo hữu, là người đệ tử Phật luôn hướng tới lợi ích cho mình và cho chúng sinh, bằng cách sách tấn, trợ duyên cho nhau gieo trồng các nhân thiện, để được hưởng quả phúc an lạc. Đối với các việc cúng lễ tâm linh, các Phật tử nên tìm hiểu về cách tu tập trong đàn lễ và kết quả lợi ích của đàn lễ.1. Lợi ích tu tập cho gia đình tín chủ – Gia đình thực hành tu tâm hiếu, nghĩa: Làm các việc đúng lời Phật dạy, cúng dường Tam Bảo hồi hướng phúc cho người mất, đem đến lợi ích cho người mất. – Gia đình thực hành tu tâm từ bi: hiến cúng vật thực trong đàn lễ cúng thí thực, đến cho chúng sinh trong cõi ngạ quỷ (vong linh, cô hồn). Cứu mạng chúng sinh (phóng sinh). – Gia đình thực hành công đức, giác ngộ cho mình và tăng duyên giác ngộ cho người mất, cho chúng sinh, qua việc lễ bái, tụng kinh, khai thị.2. Lợi ích nhân quả phước báu cho gia đình tín chủ – Tăng trưởng tâm biết ơn, hiếu nghĩa, nhiều kiếp về sau, được cha mẹ chăm lo, mọi người giúp đỡ. Hiện tại hồi hướng công đức cho con cháu, để được ngoan hiền, ơn nghĩa. – Cúng thí thực: sinh ra công đức, được người giúp đỡ, lúc cơ nhỡ khó khăn, được phước phần về đồ ăn uống. – Lễ phóng sinh: sinh ra công đức, tiêu trừ các ác nạn về giam cầm, trói buộc, sức khoẻ, bệnh tật, tai nạn, thọ mạng được kéo dài. – Làm đàn lễ cúng, đúng theo lời Phật dạy: sinh ra các công đức phước báu thiện lành, khiến hiện tại gia đình tăng duyên hạnh phúc và lợi ích cho các kiếp sau.3. Lợi ích tu tập cho Phật tử – Phật tử tu tâm từ bi, bình đẳng coi cha mẹ, người thân của người khác đã quá vãng, như cha mẹ người thân của mình. Thương tưởng chúng sinh đói khổ trong cõi ngạ quỷ (vong linh, cô hồn). – Thông qua đàn lễ của gia đình, được duyên tác lễ, cúng vật thực cho chúng sinh trong cõi ngạ quỷ (vong linh, cô hồn). – Tụng kinh, kết duyên cho chúng sinh trong cõi ngạ quỷ (vong linh, cô hồn) với Tam Bảo. Kết duyên cho chúng sinh với pháp lục hòa, với hạnh nguyện Bồ Đề, với lời Đức Phật dạy, thông qua các bài kinh tụng trong khóa lễ. – Tất cả các công đức trên, là nhân duyên hội đủ, để cho các chúng sinh trong cõi ngạ quỷ (vong linh, cô hồn), có duyên với đàn lễ, được kết duyên với pháp hội tu tập sáu pháp hòa kính. Đó là nhân duyên cho chúng tu theo Phật Pháp, là nhân duyên cho chúng tu hành cầu Vô Thượng Bồ Đề, trong các kiếp về sau. – Các việc làm này, thuộc công hạnh Bồ Đề: “Trên cầu thành Phật, dưới độ chúng sinh: Chuyển tải Phật Pháp, rộng khắp thế gian”.

III. Quán Pháp – Tâm linh

Trước khi làm lễ, quán chiếu Vô Ngã: Trong kinh Từ Bi Thuỷ Sám, ngài Ngộ Đạt quốc sư, khi được vua cúng dường cho tòa trầm hương để ngồi thuyết pháp, Ngài khởi tâm ngã mạn về “ta” (ngã). Niệm tâm khởi ngã mạn này, được sinh ra từ việc chấp công thuyết Pháp, chấp danh quốc sư. Ngài khởi tâm rằng, Ta xứng đáng được cúng dường tòa trầm hương để ngồi thuyết Pháp, vì khởi tâm ngã mạn về “ta” như vậy, nên đã tạo thành nhân duyên cho oan gia trái chủ, là vong hồn Tiều Thố báo oán, biến thành chiếc mụn ghẻ hình mặt người trên đầu gối chân của ngài Ngộ Đạt, làm ngài Ngộ Đạt đau đớn khủng khiếp, rớt khỏi tòa trầm hương thuyết pháp và về sau ngài phải nương nhờ pháp sám hối và được Bồ Tát cứu giúp. Vong hồn Tiều Thố báo oán Ngài Ngộ Đạt, là do 9 kiếp về trước, ngài Ngộ Đạt là quan, đã sử oan chém đầu Tiều Thố, nên kiếp này khi ngài Ngộ Đạt khởi tâm ngã mạn, nên vong hồn Tiều Thố, đủ duyên báo oán ngài Ngộ Đạt.

Để tránh tâm ngã mạn, Phật tử trước khi làm lễ, cần tư duy kiểm tra các sự, các việc để an trú trong niệm “vô ngã”, qua ba yếu tố duyên hợp sau: một là việc làm đúng lời Phật dạy, do công đức tu tập của chư Tăng, pháp hội này có được là do duyên của Tam Bảo, của chư Tăng mà có. Nhờ duyên của Tam Bảo, của chư Tăng, mà mình mới có được duyên tu tập công đức này. Nên chẳng có gì là ta, là của ta; hai là: nghi thức tu tập này đã được soạn ra, theo lời Đức Phật dạy. Do người khác biên soạn theo nghi lễ Phật giáo. Nhờ đó, mình tích tập được công đức chuyển tải Phật Pháp. Nên chẳng có gì là ta, là của ta; ba là nhân duyên có được pháp hội này, là do công đức tu tập lục hòa của các Phật tử trong Câu lạc bộ. Do các Phật tử trong ban cán sự câu lạc bộ, đạo tràng, mới tạo được duyên này cho mình làm phận sự, để cho mình có được công đức lục hòa, để cho mình tích tập công đức nương tựa và hạnh vâng lời. Nên chẳng có gì là ta, là của ta.

Trong khi làm lễ: Phật tử cần giữ tâm thanh tịnh, không khởi tâm mình độ được cho vong linh, nên an trú tâm trong niệm nương tựa Tam Bảo, nương tựa pháp lục hòa, mong vong linh được nương tựa Tam Bảo, nương tựa pháp lục hòa.

Sau khi làm lễ: Khởi tâm biết ơn. Nương đức tu hành phạm hạnh của chư Tăng, nương vào sự tu tập lục hòa của các Phật tử trong Câu lạc bộ, mà mình được làm phận sự công đức. Nhờ đức của chư Tăng, nương năng lực của pháp lục hòa, mà các chúng ngạ quỷ (vong linh, cô hồn) được lợi ích. Nhờ đức của chư Tăng, mà mình được thực hành pháp lục hòa, mình tích tập được các công đức, khiến cho mình và gia đình cùng chúng sinh được lợi ích chuyển hóa khổ đau, dần được hạnh phúc.

Quán chiếu và thực hành đúng như hướng dẫn trên, có các lợi ích sau: Có được công đức bố thí Ba-la-mật, làm lợi ích chúng sinh; có được công đức pháp vô lậu, nhờ quán chiếu thực hành vô ngã (lục hòa); không bị vong linh theo về từ các đàn lễ; giúp cho vong linh kết duyên với Pháp Phật (vô ngã, lục hòa, bố thí Ba-la-mật); lợi ích cho người sống và người chết. Tăng thượng trí và tăng thượng tâm.

IV. Lưu Ý

– Đôi khi Phật tử đi làm lễ, chấp vào nghi lễ, chấp vào văn từ, sinh ra thất niệm, nghĩ mình giỏi, làm lễ được, không cần chư Tăng hoặc mình làm lễ cũng như chư Tăng hoặc mình làm lễ hay hơn chư Tăng. Như vậy sẽ bị sa đọa. – Đức Phật dạy: Một niệm quy y, cung kính Tam Bảo, cả đời không thay đổi, chuyên nhất tâm, công đức đó, khiến sau khi chết, không đọa ba đường ác, trừ người mắc trọng tội ngũ nghịch: giết cha; giết mẹ; giết A-la-hán; làm thân Phật chảy máu; phá hòa hợp Tăng.Vậy nên Phật tử cần biết rõ các điều sau: – Biết rõ, chỉ có tạo phúc cúng dường Tam Bảo, cúng dường tới Tăng đoàn phạm hạnh, từ năng lực tu tập của Tăng đoàn, thì mới sinh ra phúc báu và hồi hướng phúc báu đó đến cho người mất, thì mới đem đến lợi ích cho người mất và gia đình. – Biết rõ việc làm lễ của mình, không thể so sánh với chư Tăng. Chư Tăng có năng lực lục hòa, là năng lực lục hòa của sự thực hành chuyên nhất, đối với chánh kiến giải thoát, qua sự viễn ly, đoạn tận các dục; Năng lực lục hòa của sự thực hành giới giải thoát. Còn năng lực lục hòa của Phật tử, còn hạn chế bởi sự thực hành chánh kiến giải thoát. Phật tử còn sở hữu tài vật, quyến thuộc, nên còn ái nhiễm của tôi và tôi; còn hạn chế bởi sự thực hành giới, chỉ là giới của người Phật tử tại gia. – Phật tử hãy hiểu, nhớ chánh niệm, trong niệm tôn kính Tam Bảo, tôn kính chúng Tăng, để giữ gìn phúc báu của chính mình.

NGHI THỨC CÚNG LỄ

A. Hướng Dẫn Gia Đình Sắm Lễ

– Trước bát hương thờ Phật: quả, một bát cơm, một cốc nước. (Nếu gia đình chưa có bàn thờ Phật, chưa có bát hương thần linh, thì không sắm lễ cúng Phật, không sắm lễ cúng thần linh, nhưng vẫn đọc phần cúng Phật, khi đọc thì hướng tâm tới Phật, nguyện dâng tất cả lễ đã sắm để cúng Phật, rồi thừa lộc Phật, vẫn hiến cúng được cho chư Thiên, chư Thần và các vong linh). – Nếu gia đình có bát hương thần linh, thì trước bát hương thờ Thần Linh (chư Thiên, chư Thần, Thổ Công, Thần đất…): quả, một bát cơm, một cốc nước. Ban thờ Thần Linh ở chỗ khác, xa với bàn thờ người mất, thì lễ vẫn đặt trước bát hương thần linh và ngồi cúng tại đàn lễ người mất. – Ban thờ vong (linh thức Phật tử): quả, một mâm cơm chay.

B. Nghi Lễ

1. Hô chuông

(Đại chúng quỳ gối chắp tay. Đánh 3 tiếng chuông lễ 1 lễ, sau đó đánh một hồi chuông. Dứt hồi chuông, bắt đầu đánh chuông, từng tiếng thong thả. Chủ sám hô chuông) Nghe tiếng chuông, phiền não nhẹ(1 chuông) Trí tuệ lớn, Bồ Đề sanh(1 chuông) Lìa địa ngục, thoát vô minh (1 chuông) Nguyện thành Phật, độ chúng sinh (1 chuông) Nam mô Giáo chủ cõi U Minh Bồ Tát Địa Tạng Vương(1 chuông) Nam mô Giáo chủ cõi U Minh Bồ Tát Địa Tạng Vương(1 chuông) Nam mô Giáo chủ cõi U Minh Bồ Tát Địa Tạng Vương!(dồn hết hồi chuông)

2. Nguyện hương

(quỳ, chủ sám dâng 3 nén hương) Nguyện đem lòng thành kính Gửi theo đám mây hương Phảng phất khắp mười phương Cúng dường ngôi Tam Bảo Thề trọn đời giữ đạo Theo tự tính làm lành Cùng pháp giới chúng sinh Cầu Phật từ gia hộ Tâm Bồ Đề kiên cố Chí tu đạo vững bền Xa biển khổ nguồn mê Chóng quay về bờ giác Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Ma Ha Tát! (1 tiếng chuông, cắm hương)

3. Bạch Phật

Đệ tử chúng con thuộc đạo tràng… trong câu lạc bộ Cúc Vàng Tập Tu Lục Hòa, hiện đang tu tập tại chùa Ba Vàng.

Hôm nay là ngày… tháng… năm… là ngày giỗ đạo hữu Phật tử (tên)… bỏ báo thân ngày… tháng… năm… an táng (gửi tro cốt) tại… Đệ tử chúng con, thể theo lời thỉnh cầu, của gia đình tín chủ (tên tín chủ)… sự cắt cử phân công của đạo tràng, sự cho phép của câu lạc bộ, của chư Tăng, chúng con tới tại gia chung của gia đình tín chủ, tại địa chỉ… để trợ duyên cho gia đình tín chủ tu tập công đức, tụng kinh cúng lễ, để hồi hướng phước lành cho đạo hữu Phật tử (tên)… đã bỏ báo thân. Vì chúng con chưa biết rõ đạo hữu Phật tử, sau khi bỏ báo thân, hiện đang ở cảnh giới nào, nên trong buổi lễ này, chúng con xin phép tùy duyên, được hướng tâm gọi là linh thức Phật tử và xin được dùng văn từ bạch là: “bạch thỉnh linh thức Phật tử về trong Pháp hội”. Chúng con cũng nguyện mong, dù ở cảnh giới nào thì đạo hữu Phật tử cũng được hưởng phước báu của đàn lễ này.

(Nếu gia đình phát tâm cúng dường Tam Bảo, hồi hướng phúc cho người mất, thì chủ sám hướng dẫn cho đại diện gia đình quỳ bạch, nhưng đến phần đọc số tiền, thì thí chủ đọc thầm. Nếu gia đình không cúng dường thì bỏ qua phần này.Văn bạch: Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! Đệ tử con tên là… đã hiểu rõ về lời Đức Phật dạy tạo các công đức phúc báu, để hồi hướng đến cho chư Thiên, chư Thần, chư vong linh, nên con xin được đại diện cho gia đình, phát nguyện cúng dường Tam Bảo, hộ trì Tam Bảo tại chùa Ba Vàng như sau: Con xin cúng dường Tam Bảo với số tịnh tài là…, để hồi hướng phúc lành đến cho chư Thiên, chư Thần linh. Con xin cúng dường Tam Bảo với số tịnh tài là…, để hồi hướng phúc lành đến cho vong linh họ… Con xin cúng dường Tam Bảo với số tịnh tài là…, để hồi hướng phúc lành đến cho vong linh (tên vong linh được cúng giỗ)… Con xin cúng dường Tam Bảo với số tịnh tài là…, để hồi hướng phúc lành đến cho vong linh có duyên tại nơi đất ở của gia đình. Con xin hồi hướng phúc lành đến cho chư Thiên, chư Thần, chư vong linh và gia đình con, cùng gia đình anh em con các cháu mong được an lành hạnh phúc. Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!)

(Nếu về chùa cầu siêu cho vong linh thì đọc tiếp: Và gia đình chúng con xin vào ngày… tháng… năm… sẽ về chùa (gửi tịnh tài về chùa), để cầu siêu cho vong linh… mất ngày… an táng tại… Nam mô Chứng Minh Sư Bồ Tát Ma Ha Tát!)

(Chủ sám đọc tiếp)

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! Giờ này chúng con xin thỉnh hết thảy chư Thiên, chư Thần; thỉnh linh thức Phật tử (tên)…, thỉnh các vong linh, cùng với chúng con vào khóa lễ tu tập các công đức. Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! (3 tiếng chuông)

4. Đảnh lễ Phật

(quỳ hoặc đứng; khánh, chuông)(1 hồi khánh kết thúc bằng 3 tiếng khánh, tiếp tục dùng khánh) Đấng Pháp vương vô thượng Ba cõi chẳng ai bằng Thầy dạy khắp trời người Cha lành chung bốn loài Quy y tròn một niệm Dứt sạch nghiệp ba kỳ Xưng dương cùng tán thán Ức kiếp không cùng tận Phật chúng sinh tính thường rỗng lặng Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn Lưới đế châu ví đạo tràng Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời Trước bảo tọa thân con ảnh hiện Cúi đầu xin thệ nguyện quy y (1 tiếng chuông)Chí tâm đỉnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá, hiện, vị lai mười phương chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo. (1 tiếng chuông)Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Sa Bà Giáo chủ Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sinh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. (1 tiếng chuông)Chí tâm đỉnh lễ: Nam mô Tây phương Giáo chủ Cực Lạc Thế giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. (1 tiếng chuông)

5. Cúng Phật

(quỳ, chắp tay)Chủ sám: Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, chúng con kính bạch chư Phật, chư Bồ Tát, chư Thánh Hiền Tăng, giờ này chúng con xin được dâng cúng vật thực lên chư Phật, chư Bồ Tát, chư Thánh Hiền Tăng.(Khai chuông mõ. Đại chúng cùng tụng chậm rãi)(Mõ) Lò trầm vừa đốt, Chiên đàn ngát thơm, Khói hương mây tỏa Đàn tràng trang nghiêm Thỉnh mười phương Phật Thỉnh chư Bồ Tát Cùng A-la-hán Giáng đàn chứng minh Chúng con cúng dường. Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát!(3 lần, 1 tiếng chuông) Trên trời dưới đất ai bằng Phật, Mười phương thế giới ai sánh tày, Con thấy tận cùng khắp thế gian, Hết thảy không ai như Đức Phật Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật! (3 lần, 1 tiếng chuông)

CÚNG DƯỜNG(Mõ) Nam mô thường trụ mười phương Phật. Nam mô thường trụ mười phương Pháp. Nam mô thường trụ mười phương Tăng. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam mô Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật. Nam mô mười phương ba đời hết thảy chư Phật. Nam mô Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật. Nam mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. Nam mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát. Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát. Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. Nam mô Hộ Pháp chư tôn Bồ Tát. Nam mô Lịch đại Tổ sư Bồ Tát. Nam mô Đạo Tràng hội thượng Phật Bồ Tát. Nam mô nhất thiết chư Hiền Thánh Tăng! (3 chuông) – Chúng con kính ngưỡng dâng phẩm vật Chư Phật, Bồ Tát chứng lòng thành Thánh Tăng hoan hỷ đồng gia hộ Nam mô Phổ Cúng Dường Bồ Tát Ma Ha Tát!(3 lần, 3 chuông) – Chúng con thành tâm Cúng dường chư Phật Cúng dường Bồ Tát, Cúng dường Thánh Tăng Xin nguyện chúng sanh Tất cả công việc Thành biện đúng pháp! (3 tiếng chuông)

6. Cúng chư Thiên, chư Thần Linh

(Đại chúng ngồi, chủ sám quỳ bạch) Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, chúng con kính bạch chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng, hôm nay trong đàn lễ này, gia đình tín chủ cũng sắm sửa vật thực, dâng cúng lên hết thảy các vị chư Thiên, chư Thần Linh ở tại nơi đây. Chúng con thỉnh chư Thiên, chư Thần thọ hưởng cho lòng thành của gia đình thí chủ.(1 tiếng chuông)(Tất cả cùng ngồi, tụng theo mõ)– Biến thực chân ngôn: Nam mô tát phạ đá tha nga đá phả rô chỉ để ám tam bạt ra tam bạt ra hồng. (3 biến, 3 tiếng chuông)– Biến thuỷ chân ngôn: Nam mô tô rô bà ra đát tha nga đá ra đát điệt tha án tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô sa bà ha. (3 biến, 3 tiếng chuông)– Phổ cúng dường: Án nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhật ra hồng. (3 biến, 3 tiếng chuông)(Xong phần cúng thần linh)

7. Cúng vong linh

(Chủ sám hướng dẫn: Gia đình quỳ, cầm dâng hương hoa để thỉnh. Nếu 1 người thì cầm 3 nén hương, một cành hoa; nếu nhiều người, thì mỗi người cầm một nén hương, chia ba cành hoa cho ba người. 3 tiếng chuông. Tất cả cùng ngồi cùng tụng theo mõ)

Nam mô đại Thánh cứu bạt minh đồ bổn tôn Địa Tạng Vương Bồ Tát! (3 lần, 1 tiếng chuông) Từ bi quảng đại diệu khó lường, Cứu khổ đường mê Địa Tạng Vương, Tích trượng rung thời khai địa ngục, Thần châu chỗ chiếu hết đau thương. Bi quang cứu tế u minh giới Pháp lực giương buồm Bát Nhã thuyền Tiếp dẫn tinh thần cao đuốc tuệ Đường đường khắp phóng ngọc hào quang

Nam mô tiếp dẫn đạo sư đại nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát! (3 lần, 1 tiếng chuông) U minh giáo chủ, Địa Tạng đại sư Hoằng khai phương tiện, khắp rộng từ bi Quá khứ phụng sự chư Phật, Nhân hưng vạn thiện. Hiện tại vì độ quần mê, Hóa thân Bồ Tát Từ quang tỏa thấu đường nẻo cửu tuyền Tuệ nhật sáng soi thiết vi u ám Dẫn chúng sanh vào cửa chánh giác, Độ khổ thú lên đường Bồ Đề.(1 tiếng chuông)

Chủ sám: Hôm nay hiện tiền gia đình tín chủ (tên)… nhân tấc lòng nghĩa hiếu sửa soạn cơm chay, cầu Phật lực, Pháp lực, Tăng lực cứu đường mê qua hiểm ải. Chúng con nguyện Bồ Tát tiếp tịch phách thân nhân, dẫn dắt từng bước, từng bước quang minh. Nhờ đại hùng lực Phật, Pháp, Tăng, Tam Bảo, từ bi, phá vỡ trùng trùng u ám. (1 tiếng chuông)(Đại chúng cùng tụng, mõ) Thân vàng rực rỡ tuyệt trần ai, Khắp phóng hào quang chiếu cửu cai Trệ phách u hồn mong tiếp dẫn Đường mê nay hóa đóa sen khai Nam mô dẫn đạo lộ đại nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát (3 lần, 1 tiếng chuông)Chủ sám: Hương hoa dâng, hương hoa thỉnh. Nhất tâm – Nhất tâm triệu thỉnh Thức thần phân biệt nên có xoay vần Hơi thở ra liền thành phân cách. Tánh Phật như như bản lai thường trụ Sanh tử luân hồi, Niết Bàn giải thoát Nay tại nước Việt Nam, tỉnh… gia đình tín chủ (tên tín chủ)… phụng vì chính tiến linh thức Phật tử (tên)… mất ngày… tháng… năm… an táng (tro cốt gửi) tại…, chính tiến chư vong linh gia tiên tiền tổ họ… cùng đàn tràng đẳng đẳng hải hội nhất thiết chư vong linh.

(Đại chúng cùng tụng; chuông, mõ) Nguyện nghe tiếng mõ chuông, y lời cung thỉnh, giáng phó đạo tràng, thọ nhận cơm canh cúng dường.

(Chủ sám đọc) Dâng hương hoa thỉnh

(Chủ nhà dâng hương hoa lên, gắp thức ăn vào bát cơm ở giữa, rồi quỳ dâng bát cơm cúng. Các thành viên khác trong gia đình: người dâng nước trà, dâng sữa. Nếu như nhà chỉ có 1 người thì chuẩn bị 1 cái đĩa đặt lên đó bát cơm, cốc sữa, cốc nước trà sau đó để tín chủ quỳ, dâng lên ngang trán)

(1 tiếng chuông. Đại chúng tụng theo mõ)– Biến thực Chân Ngôn: Nam mô tát phạ đá tha nga đá phả rô chỉ để ám tam bạt ra tam bạt ra hồng. (7 biến, 3 tiếng chuông)– Biến thuỷ Chân Ngôn: Nam mô tô rô bà ra đát tha nga đá ra đát điệt tha án tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô sa bà ha. (7 biến, 3 tiếng chuông)– Phổ cúng dường: Án nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhật ra hồng. (7 biến, 3 tiếng chuông)

(Tín chủ dâng cơm lên bàn vong. Tín chủ về chỗ lễ một lễ theo tiếng chuông. Xong đại chúng cùng tụng chậm theo mõ) Mong linh thức Phật tử Kết duyên cùng đàn tràng Thọ thực phẩm vật cúng Lòng tràn đầy hoan hỷ Tinh tấn Bồ Đề nguyện Thực hành Bồ Đề hạnh Lợi ích chúng hữu tình. Nam mô Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát! Nam mô Thường Tinh Tấn Bồ Tát Ma Ha Tát! Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!(3 tiếng chuông)

8. Tụng kinh

(Chủ sám quỳ bạch) Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! Giờ này chúng con xin phép được tụng Pháp bảo tôn kinh: bài kinh Ngày Trai Giới. Chúng con kính thỉnh chư Thiên chư Thần, thỉnh linh thức Phật tử(tên)… và các vong linh cùng nghe kinh. Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

Kệ khai kinh(Tất cả ngồi tụng) Phật Pháp cao sâu, rất nhiệm mầu Trăm ngàn muôn kiếp dễ hay đâu Con nay nghe thấy vâng gìn giữ Nguyện hiểu nghĩa chân Đức Thế Tôn Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! (3 lần)

Bài kinh (Phật tử ấn vào tên bài kinh để vào bài kinh tụng):

Kinh Ngày Trai Giới

9. Tiếp sau phần khai thị của bài kinh

(Chủ sám đọc tiếp) Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! Xin thỉnh thức thần đạo hữu(tên người mất), nhất tâm phát nguyện theo lời các Phật tử đọc, để tăng trưởng thắng duyên, dù sinh về cảnh giới nào, cũng được đầy đủ nhân duyên, quy y Tam Bảo, tu tập sáu pháp hòa kính, theo duyên các Phật tử trong câu lạc bộ Cúc Vàng, thực hành công hạnh Bồ Đề, được an lạc, làm vị Hộ Pháp cho giáo pháp bất tử của Như Lai, thực hành tâm cao thượng cầu Vô Thượng Bồ Đề. Nam mô Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát!(Tất cả đọc theo mõ) Thần thức Phật tử nhớ niệm Quy y Tam Bảo– Quy y Phật: Tôn thờ kính trọng, tu theo đức Phật Thích Ca Mâu Ni, là bậc Thầy giác ngộ sáng suốt. (1 chuông)– Quy y Pháp: Tu theo chánh Pháp từ kim khẩu đức Phật nói ra. (1 chuông)– Quy y Tăng: tôn thờ kính trọng, tu theo những Tăng sĩ tu hành đúng chánh Pháp của Như Lai. (1 chuông) * Quy y Phật rồi, không kính trọng tu theo trời, thần, quỷ, vật. (1 chuông) * Quy y Pháp rồi, không tu theo ngoại đạo, tà giáo. (1 chuông) * Quy y Tăng rồi, không làm thân với bạn dữ, nhóm ác. (1 chuông)

Thần thức Phật tử nhớ niệm Thực hành sáu pháp hòa kính Một là thân hòa đồng trụ Hai là khẩu hòa vô tranh Ba là ý hòa đồng duyệt Bốn là giới hòa đồng tu Năm là kiến hòa đồng giải Sáu là lợi hòa đồng quân

Thần thức Phật tử Hãy luôn tinh tấn Phát tâm Bồ Đề Thực hành công hạnh Hộ trì Tam Bảo Chuyển tải Phật Pháp Rộng khắp thế gian Hồi hướng cầu Vô Thượng Bồ Đề. Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!(3 lần, 3 tiếng chuông)

10. Phục nguyện

(Quỳ, chủ sám bạch) Nam mô thập phương pháp giới thường trụ Tam Bảo tác đại chứng minh! Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! Đệ tử chúng con, xin hồi hướng công đức tu tập, trong đàn lễ này, công đức tu tập lục hòa, của các Phật tử trong câu lạc bộ Cúc Vàng và các công đức gia đình tạo lập, hồi hướng cho linh thức Phật tử(tên)… mất ngày… tháng… năm… an táng (tro cốt gửi) tại… được tăng phước tăng duyên, nương tựa Tam Bảo, tiếp tục tu tập sáu pháp lục hòa, cùng với các Phật tử trong câu lạc bộ Cúc Vàng, tích tập các công đức cầu Vô Thượng Bồ Đề; hồi hướng cho chư vị chư Thiên, chư Thần, được tăng trưởng phúc lành, tăng thêm oai lực, kết duyên pháp lữ tu hành với chúng con; hộ trì cho gia đình tín chủ, được cùng chúng con phát tâm Bồ Đề, thực hành công hạnh Bồ Đề, tại câu lạc bộ Cúc Vàng, cầu Vô Thượng Đạo. Chúng con cũng xin hồi hướng công đức, cho gia đình tín chủ…, nguyện cho cả gia đình, được tiêu trừ ách nạn, gia tăng tuổi thọ, công việc hanh thông, gia đình hạnh phúc, con cháu thảo hiền, cùng thân bằng quyến thuộc, được thắng duyên nương tựa Tam Bảo, cùng với chúng con, thực hành Phật Pháp được hạnh phúc an vui. Nam mô Chứng Minh Sư Bồ Tát Ma Ha Tát! Nam mô Thường Gia Hộ Bồ Tát Ma Ha Tát! Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!(3 tiếng chuông)

11. Hồi hướng

(Quỳ) Công phu công đức có bao nhiêu Con xin lấy đó hồi hướng về Nguyện khắp pháp giới các chúng sinh Thảy đều thể nhập vô sanh nhẫn Nguyện tiêu ba chướng sạch phiền não Nguyện được trí tuệ thật sáng ngời Nguyện các tội chướng thảy tiêu trừ Đời đời thường hành Bồ Tát đạo Nguyện đem công đức tu hành này Chan rải mười phương khắp tất cả Hết thảy chúng sinh cùng các loài Đồng được lên ngôi vô thượng giác.

12. Tam quy

(Quỳ hoặc đứng) Tự quy y Phật, nguyện cho chúng sinh, hiểu thấu đạo lớn, phát tâm Vô Thượng.(1 tiếng chuông) (1 lễ) Tự quy y Pháp, nguyện cho chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như biển. (1 tiếng chuông) (1 lễ) Tự quy y Tăng, nguyện cho chúng sinh, quản lý đại chúng, hết thảy không ngại.(1 tiếng chuông) (1 lễ)

13. Gia chủ lễ tạ

(Tất cả ngồi, chủ sám đọc, tín chủ quỳ lễ. Nếu người mất nhỏ tuổi, thì không thực hành phần nghi lễ này.) Giờ này khóa lễ đã châu long, tín chủ một lòng lễ tạ tứ lễ.(mỗi lễ 1 tiếng chuông, lễ cuối là 3 tiếng chuông sau đó đặt dùi chuông lên thành miệng chuông, để ngắt tiếng chuông)

14. Bạch Phật cúng thí thực phóng sinh

(Nếu gia đình cúng cả thí thực và phóng sinh, thì khi làm lễ thí thực xong phần phục nguyện, sẽ chuyển sang tác lễ phóng sinh và thực hành hết lễ phóng sinh)

Nghi thức cúng thí thực dành cho đạo tràng thuộc Câu lạc bộ Cúc Vàng đi làm phận sự

Nghi thức lễ phóng sinh dành cho đạo tràng thuộc Câu lạc bộ Cúc Vàng đi làm phận sự

Nếu các Phật tử ở xa, muốn cúng dường về chùa Ba Vàng, nhưng không có điều kiện để về chùa, thì quý Phật tử khi cúng lễ xong, gom cất phần tịnh tài (tiền), để gửi ngay hoặc sau khoảng mấy tháng thì gửi.

Chùa Ba Vàng và Thầy Thích Trúc Thái Minh không dùng bất kỳ một tài khoản ngân hàng nào khác. Nếu quý Phật tử muốn cúng dường, công đức về chùa Ba Vàng thì chỉ chuyển khoản vào một tài khoản duy nhất sau đây.

Quý Phật tử kiểm tra thông tin cung cấp tài khoản tại trang chùa Ba Vàng ở đường link sau:chuabavang.com/thong-bao-so-tai-khoan-cua-chua-ba-vang/Lưu ý: Nếu như sách nào có in số tài khoản mà không in đường link, mong quý Phật tử xem xét và kiểm tra lại.

TÀI KHOẢN CHÙA BA VÀNG

– Số tài khoản: 0141005656888.– Tên tài khoản: Chùa Ba Vàng.– Ngân hàng: Vietcombank Quảng Ninh.– Mã SWIFT (mã số khi chuyển khoản quốc tế): BFTV VNVX014.

Khi gửi xong thì nhắn tin vào số điện thoại hoặc nhắn tin qua zalo để thầy biết: 0981392858 (Sư thầy Thích Trúc Bảo Việt).

Nội dung tin nhắn Nam mô A Di Đà Phật, con kính bạch Thầy! Tên con là… ở tại… Hôm nay là ngày… /…/… con vừa gửi vào tài khoản của nhà chùa số tiền là… để hồi hướng cho các vong linh… Con xin gửi danh sách để sư Thầy thỉnh vong linh ạ. Con cũng xin sư Thầy chứng minh và hồi hướng cho cả gia đình con luôn được sự gia hộ của chư Phật, hiện tại được… Con xin thành kính tri ân Thầy ạ! Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

LIÊN HỆ

Nếu có bất cứ vấn đề gì thắc mắc, kính mời quý đạo hữu liên hệ với:Phật tử: Phạm Thị Yến (Tâm Chiếu Hoàn Quán): – Ban Liên Lạc của CLB Cúc Vàng – Tập Tu Lục Hòa: 0984243810 – Nhắn tin vào facebook: Phạm Thị Yến (Tâm Chiếu Hoàn Quán):facebook.com/cophamthiyentamchieuhoanquan – Đăng lên nhóm facebook: Tâm Sự Cùng Cô Phạm Thị Yến (Tâm Chiếu Hoàn Quán):facebook.com/groups/PhamThiYenTCHQ – Email: phamthiyen.tchq1970@gmail.com