5 Loại Trái Cây Cúng Ngày Khai Trương, Ngày Tết, Cách Bày Xếp Trang Trí Mâm Ngũ Quả Đẹp Cúng Tổ Tiên Ông Bà, Cúng Khai Trương Gồm Những Gì?

--- Bài mới hơn ---

  • Tết Nguyên Đán 2021: Mâm Ngũ Quả Tuyệt Đối Không Nên Có 7 Loại Trái Cây Này
  • Hướng Dẫn Cúng Khai Trương Công Ty Để Làm Ăn Phát Đạt
  • Cúng Khai Trương Công Ty Mới Thành Lập Mang Lại Giá Trị Gì?
  • Cách Cúng Sao Giải Hạn Nhờ Đá Phong Thủy
  • Cách Thờ Cúng Và Thỉnh Thần Tài Ông Địa
  • 5 loại trái cây cúng ngày khai trương trong mâm ngũ quả gồm chuối, tượng trưng cho Đông phương với màu xanh lá cây, Bưởi là Trung phương, có màu vàng tươi, Lê biểu tượng của Tây phương với màu trắng hơi đục, Hồng táo là Nam phương, có màu đỏ chót, một loại quả khác tượng trưng cho Bắc phương, sẫm màu như dừa, sung, vú sữa.

    1. Ý nghĩa của việc cúng khai trương như thế nào?

    Người xưa thường có câu “đầu xuôi – đuôi lọt”, vì thế trong kinh doanh hay làm việc thì phần lễ lạt rất quan trọng. Tuy nhiên, có một số người vẫn còn rất lúng túng khi không biết trái cây cúng khai trương cần những gì, cách cúng đúng như thế nào?

    Dân gian ta thường hay truyền tai nhau rằng: “Đất có Thổ công – sông có hà bá”, tức là mỗi một vùng đất mà con người đang cư ngụ đều có một vị thần gọi là Thổ địa cai quản.

    Vì thế, khi một công ty, quán xá hay cửa hàng kinh doanh bắt đầu được hình thành, khởi sự làm ăn thì con người luôn luôn phải nhớ làm lễ khấn cúng khai trương tại bàn thờ thổ địa – thần tài. Đó như một cách mà người trên cõi dân gian như muốn thông báo và trình diện các vị thổ thần.

    Bên cạnh đó, theo tín ngưỡng văn hóa thì đây chính là một trong những lễ cúng cực kỳ quan trọng mà dân kinh doanh cần thực hiện nghi thức, chuẩn bị mâm lễ vật thật chu đáo để cầu tài lộc, mua may bán đắt và khách hàng luôn luôn đổ xô đến mua.

    Vậy một trong những phần của mâm lễ vật đó là trái cây cúng khai trương cửa hàng, sẽ gồm những gì, 5 loại trái cây cúng ngày khai trương trong mâm ngũ quả là những quả gì?

    2. Mâm trái cây cúng khai trương bao gồm những gì

    Thông thường, tục khai trương sẽ xuất hiện nhiều trong những ngày đầu năm mới của Tết Nguyên đán. Khi ấy, dân kinh doanh sẽ quyết định chọn một ngày để thực hiện nghi lễ khai trương đầu năm, bắt đầu một chu kỳ thời gian sẽ xóa bỏ những ưu phiền của năm cũ và bắt đầu năm mới làm ăn phát đạt, may mắn và thịnh vượng hơn.

    Do đó trái cây cúng khai trương phổ biến, gần gũi, quen thuộc và dân dã chính là mâm ngũ quả.

    2.1. Quan niệm về mâm ngũ quả

    Chắc hẳn đối với mỗi người thì cụm từ “mâm ngũ quả” chẳng còn xa lạ gì nữa bởi chúng ta sẽ thường bắt gặp nó trong dịp Tết cổ truyền, Tết trung thu… Nhưng không phải ai cũng biết rõ tường tận định nghĩa hay quan niệm về mâm ngũ quả.

    Thực ra, mâm ngũ quả là loại mâm lễ vật thường có 5 loại quả khác nhau (theo Trung Quốc ngũ là 5). Đối với người Việt Nam, số 5 thể hiện ước muốn đạt ngũ phúc lâm môn, cụ thể là Phú, Quý, Thọ, Khang, Ninh.

    Còn theo phong thủy truyền thống, 5 loại quả này sẽ có 5 màu sắc khác nhau, tượng trưng cho nguồn của cải 5 phương mà con cháu muốn dâng lên để kính dâng tổ tiên cũng như các vị thần linh.

    Mâm ngũ quả thường được bày trên bàn thờ tổ tiên ông bà trong những dịp lễ Tết hay ngày cưới, ngày khai trương của công ty, nhà hàng… với ý nghĩa là thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn mà ông cha ta đã dạy từ xa xưa hoặc biểu tượng cho thành quả sung túc, đủ đầy của một năm làm việc vất vả…

    2.2. Mâm ngũ quả cúng khai trương có những gì?

    Như đã nói, ngũ quả sẽ có 5 màu vì thế mâm trái cây cúng khai trương thông thường sẽ gồm có:

    • Nải chuối, tượng trưng cho Đông phương với màu xanh lá cây.
    • Bưởi là Trung phương, có màu vàng tươi.
    • Lê, biểu tượng của Tây phương với màu trắng hơi đục.
    • Hồng, táo… là Nam phương, có màu đỏ chót.
    • Thêm một loại quả khác tượng trưng cho Bắc phương, sẫm màu như dừa, sung, vú sữa…

    Tuy nhiên, phía trên chỉ là trái cây cúng khai trương theo quan niệm của mâm ngũ quả chung chung. Tùy theo từng vùng miền Nam – Bắc, ngoài ra sẽ có thêm một số loại quả khác:

    • Miền Bắc: quất, bưởi, dưa hấu, lựu, đào, quýt, táo, thanh long, táo, cam….
    • Miền Nam: mãng cầu, dừa, xoài, sung, thơm (dứa)…

    3. Cách cúng khai trương tốt lành

    Sau khi đã biết được trái cây cúng khai trương gồm những gì thì tiếp theo mọi người cần phải nắm bắt được cách cúng khai trương đúng và bài văn khấn chính xác nhất.

    3.1. Chọn ngày giờ tốt hợp phong thủy

    Trong lễ cúng khai trương thì bên cạnh việc tìm hiểu mâm lễ vật thì mọi người cần chú ý đến cả vấn đề chọn ngày giờ tốt, hợp phong thủy để thực hiện nghi lễ.

    Đây được coi là yếu tố cực kỳ quan trọng, bởi giờ tốt hay giờ xấu sẽ quyết định sự vượng cát hay hung cho gia chủ vào thời khắc khai trương.

    Do đó, nếu chọn được ngày giờ tốt thì chắc chắn việc kinh doanh cũng như làm ăn của gia chủ đó sẽ cực kỳ thuận lợi, gặp nhiều may mắn và an khang thịnh vượng. Còn ngày giờ xấu, sẽ bị ngược lại.

    Tùy vào độ tuổi của từng người, sẽ xác định được thời khắc khác nhau. Bên cạnh đó, kết quả này còn phụ thuộc vào quá trình công đức cũng như công việc của gia chủ. Tốt nhất là bạn nên nhờ một vị thầy cao minh, uy tín để xem xét cho.

    3.2. Chuẩn bị mâm cúng đúng phong thủy

    Một trong những điều để giúp lễ khấn khai trương diễn ra tốt đẹp và suôn sẻ thì tương tự như ngày vía thần tài. Ngày vía thần tài cúng gì?

    Cách sắm lễ mâm cúng mặn, chay đầy đủ nhất, đặc biệt là trái cây cúng khai trương phải luôn luôn tươi ngon. Ngoài ra, một số lễ vật phổ biến cần có như gạo, muối, trà, rượu, nước, bánh kẹo, trầu cau, giấy cúng… phải có đủ.

    Lễ mặn thường có gà, heo sữa quay, bánh bao, chè xôi… Tóm lại, bạn vẫn nên tùy theo khả năng tài chính cũng như quy mô cơ sở để sắm sửa cho thật phù hợp.

    3.3. Nên cúng khai trương trong nhà hay ngoài sân?

    Nhiều người vẫn thường lo lắng khi không biết cúng khai trương trong nhà hay ngoài sân để thuận lợi hơn. Thông thường, các bàn cúng trong dịp như vậy sẽ được làm ở ngoài sân hoặc ở vị trí quan trọng – trước cửa của công ty hay cửa hàng, nhà hàng…

    Như vậy, mới có thể thông báo hoặc trình diện được đến các vị Thổ thần cũng như nhiều vị thần linh khác lân cận trong khu vực.

    Tuy nhiên, đây không phải là một vấn đề thực sự quan trọng lắm nên không cần quan tâm nhiều, mà bạn chỉ cần chuẩn bị thật chu đáo, kỹ lưỡng mâm cúng đặc biệt là trái cây cúng khai trương cửa hàng.

    Bởi, nhiều người tin rằng “đầu xuôi đuôi lọt”, nếu lễ cúng quan trọng này diễn ra suôn sẻ, tốt đẹp thì công việc làm ăn cũng như giao dịch kinh doanh của bạn sẽ cực kỳ xuôi chèo, mát mái.

    3.4. Những lưu ý khi làm lễ cúng khai trương

    Để quá trình lễ cúng khai trương diễn ra thật suôn sẻ và không hề gặp bất kỳ trở ngại, thiếu sót gì thì mọi người cần lưu ý một số điều:

    • Cần lên danh sách các lễ vật cúng khai trương trước để tránh thiếu sót và chuẩn bị được kỹ lưỡng nhất là những loại trái cây thơm ngon, tươi mát.
    • Chuẩn bị đầy đủ các loại nhang, trầm hương mùi dễ chịu để sử dụng cho buổi cúng vái.
    • Không nên lo lắng, mất bình tĩnh mà hãy thả lỏng để tâm hồn mình thư thái, quan trọng nhất là tâm thành khấn. Khi ấy bạn sẽ thực hiện mọi việc một cách vuông tròn.
    • Thực ra, vị trí hay cách đặt mâm cúng rất quan trọng, vì thế bạn nên nhờ một người có kinh nghiệm giúp đỡ, hướng dẫn trong việc này để sai sót.
    • Khi khấn vái thật thành tâm để giao tiếp và bày tỏ được tấm lòng thành với bề trên đồng thời nhớ tiến hành đúng thủ tục để mang lại hiệu quả cao nhất.

    Có như vậy, các vị thổ thần cũng như thần linh tứ phương sẽ dễ dàng tiếp nhận lòng thành của gia chủ và không hề quấy nhiễu mà ngược lại còn tích cực bảo vệ để họ được yên ổn làm ăn, phát triển.

    4. Văn khấn cúng khai trương

    Nguyên bài văn khấn cúng khai trương sẽ là:

    Nam mô a di Đà Phật

    Nam mô a di Đà Phật

    Nam mô a di Đà Phật

    – Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. –

    Con kính lạy quan Đương Niên hành khiển thái tuế chí đức Tôn thần.

    – Con kính lạy các ngài Bản cảnh thành hoàng chư vị Đại Vương

    – Con kính lạy các ngài Ngũ Phương, Ngũ Thổ, Long Mạch, Tài Thần, Định phúc Táo quân, chư vị Tôn thần.

    – Con kính lạy các thần linh cai quản trong khu vực này. Tín chủ chúng con là: …………………………………….

    Hôm nay là ngày … tháng … năm …., tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương đăng hoa quả, thắp nén tâm nhang dâng lên trước án, lòng thành tâu rằng:

    Tín chủ con xây cất (hoặc thuê được) một gian hàng (nhà xưởng, văn phòng…) tại xứ này: …….(địa chỉ)… Tín chủ con là ……….. (chức vụ của người khấn).

    Nay muốn khai trương khởi đầu việc kinh doanh (hoặc sản xuất) phục vụ nhân sinh. Do đó, chúng con chọn được ngày lành tháng tốt, sắm sanh lễ vật, cáo yết tôn thần, dâng cùng Bách linh … cúi xin soi xét.

    Chúng con kính mời: quan Đương Niên, quan Đương cảnh, quan Thần linh Thổ địa, Định phúc táo quân, các ngài địa chúa Long Mạch, cùng tất cả các Thần linh cai quản khu vực này.

    Các Ngài linh thiêng, giáng lâm trước án, thụ hưởng lễ vật, chứng giám lòng thành. Cúi xin các vị phù hộ cho chúng con buôn bán hanh thông, làm ăn thuận lợi, lộc tài vượng tiến, cầu gì được nấy, nguyện gì cũng thành.

    Tín chủ lại xin phổ cáo với các vị Tiền chủ, Hậu chủ cùng chư vị Hương linh, y thảo phụ mộc, ngụ trong khu vực này, xin mời các vị tới đây thụ hưởng lễ vật, phù trì tín chủ con làm ăn buôn bán gặp nhiều may mắn, trăm sự thuận lợi.

    Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Nam mô a di Đà Phật

    Nam mô a di Đà Phật

    Nam mô a di Đà Phật

    Cách bày xếp, trang trí mâm ngũ quả ngày Tết đẹp cúng tổ tiên ông bà

    Đối với mỗi gia đình người Việt, mâm ngũ quả ngày Tết là vô cùng quan trọng vì nó thể hiện lòng thành kính đối với tổ tiên và đạo lý uống nước nhớ nguồn.

    Mâm ngũ quả ngày tết thường có 5 loại màu sắc theo thuyết ngũ hành, bao gồm có: Kim (màu trắng), Thủy (màu đen), Mộc (màu xanh), hỏa (màu đỏ), Thổ (màu vàng) với mong ước được hưởng ngũ phúc: Khỏe mạnh, sống lâu, bình yên, giàu có, sang trọng.

    Tùy vào các vùng miền khác nhau thì mỗi gia đình có cách xếp mâm ngũ quả khác nhau, lựa chọn những loại quả khác nhau để bày lên mâm ngũ quả. Vì vậy, cách bày mâm ngũ quả ngày Tết đẹp, hợp phong thủy và có ý nghĩa tùy thuộc vào phong tục của mỗi vùng miền.

    Mâm ngũ quả miền Bắc thường bao gồm có: Chuối, dưa hấu (màu xanh); Bưởi, phật thủ, cam, quýt hoặc quất (màu vàng); Hồng, ớt hoặc táo tây (màu đỏ); Đào hoặc lê (màu trắng); Mận hoặc nho (màu đen).

    Các loại quả được bày trên mâm ngũ quả đều có ý nghĩa riêng

    • Chuối: Thể hiện sự che trở của trời đất cho con người và mong gia đình luôn sum vầy, đầm ấm, quây quần bên nhau
    • Cam, quýt, quất, hồng: Thể hiện sự may mắn
    • Qủa lê, đào: Tượng trưng cho sự thăng tiến, thành đạt
    • Qủa sung: Mong ước sự sung túc, no ấm

    Một số cách bày mâm ngũ quả đẹp miền Bắc

    Với mong ước cuộc sống luôn đầy đủ, sung túc, con cháu đầy đàn. Tuy nhiên, người miền nam thường kiêng kỵ một số loại trái không bày trên mâm cúng do tên gọi của chúng như:

    • Chuối: đọc gần giống “chúi” làm ăn không lên được
    • Táo (bom), lê: Đổ bể, làm ăn thất bại
    • Quýt, cam: Quýt làm cam chịu

    Miền trung có cách trình bày mâm ngũ quả ngày tết rất đơn giản, bình dị

    Không kiêng kị cam quýt như người miền Nam và cũng không câu lệ ngũ hành như người miền Bắc. Qua đó cũng thể hiện phần nào tính cách rất bình dị, đơn giản của họ. Mâm ngũ quả trên bàn thờ chỉ cần tươi ngon, đẹp mắt thể hiện lòng thành của con cháu dâng lên tổ tiên.

    Ngày nay, người Việt vẫn luôn giữ gìn được những truyền thống tốt đẹp đặc biệt là tục thờ cúng tổ tiên với mâm ngũ quả ngày tết. Tuy nhiên, cách trang trí mâm ngũ quả ngày tết cũng có một số thay đổi và không còn cứng nhắc như trước nữa. Ngoài 5 loại quả trong ngũ hành, trừ những loại quả kiêng kỵ thì thì người ta có thể bày thêm một số loại quả khác cho mâm ngũ quả sinh động và đẹp mắt.

    Một số cách bày xếp mâm ngũ quả đẹp ngày Tết hợp phong thủy

    Bước 1: Nếu các bạn khéo léo khắc được chữ “Vạn sự Như ý” lên quả dưa hấu thì làm còn không thì chỉ cần để nguyên quả dưa rồi buộc nơ vào cuống của quả dưa là cũng rất đẹp rồi.

    Để quả dưa đứng được như trong hình thì các bạn cắt một chút ở phần đuôi của quả dưa đi tạo thành mặt phẳng để đặt lên đĩa. Đặt 2 quả dưa hấu cân ở 2 bên và một chiếc mâm ở giữa.

    Bước 2: Tiếp theo xếp 3 chiếc cốc vào giữa mâm. Đặt quả dứa lên miệng cốc ở giữa và 2 quả xoài ở 2 bên.

    Bước 3: Qủa bưởi được đặt ở giữa trước 3 cốc, Tiếp tục xếp các loại trái cây như cam, táo, lê xung quanh mâm để cố định 3 chiếc cốc.

    Bước 4: Tầng thứ 2 bạn xếp thêm mấy quả cam và đặt chùm nho lên trên quả bưởi.

    Bước 5: Trang trí mâm ngũ quả đẹp hơn bằng cách cắm vài bông hoa cúc vào các chỗ trống nhìn sẽ bắt mắt và đầy đặn hơn.

    Với hướng dẫn cách bày mâm ngũ quả ngày tết đẹp và nhanh, đơn giản này, mình mong là sẽ giúp ích được cho các bạn trong dịp tết 2021 sắp tới.

    Ý nghĩa từng loại trái cây trong mâm ngũ quả ngày Tết

    • Bưởi: phúc lộc, viên mãn
    • Thanh long: rồng mây hội tụ
    • Dưa hấu: tốt đẹp, viên mãn, trung thực
    • Đu đủ: đầy đủ, thịnh vượng
    • Mãng cầu: cầu chúc mọi điều như ý
    • Dứa (thơm): thơm tho, đa phúc lộc
    • Hồng: hồng hào, tươi tốt, tượng trưng cho sự thành đạt
    • Lựu: đa phúc, đa lộc, con đàn cháu đống
    • Phật thủ: bàn tay Phật che chở phù hộ cho con người
    • Chuối: tượng trưng cho bàn tay ngửa, hứng lấy may mắn, bao bọc và che chở
    • Dừa: viên mãn
    • Xoài: tiêu xài không thiếu thốn
    • Quất: sung túc, lộc lá
    • Đào: sự thăng tiến, danh lợi.

    Bày biện mâm ngũ quả ngày Tết luôn là một nét văn hóa đặc sắc, thể hiện lời cầu chúc cho một năm mới ấm no, hạnh phúc của người dân Việt Nam nhằm gìn giữ bản sắc dân tộc cho bản thân và cho con cháu.

    Cho dù sinh sống ở đâu, đã là người dân Việt Nam thì sẽ không bao giờ quên được tục lệ này trong dịp Tết nguyên đán.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Loại Trái Cây Chưng Tết Đem Lại May Mắn Và Cách Bày Trí Mâm Ngũ Quả Theo Phong Thủy
  • 8 Loại Trái Cây Mang Ý Nghĩa May Mắn, Đặt Trên Bàn Thờ Để Phúc Lộc Đầy Nhà
  • Trái Cây Cúng Trên Bàn Thờ Ông Địa Thần Tài
  • Dĩa Trái Cây Thờ Cúng Bàn Thờ Lưu Ly
  • Phong Tục Tết Trâu Cúng “ông Chuồng
  • Những Loại Trái Cây Cúng Về Nhà Mới Nhất Định Phải Có Trên Mâm Lễ

    --- Bài mới hơn ---

  • Dịch Vụ Cúng Thôi Nôi Trọn Gói Cung Cấp Nhiều Gói Ưu Đãi
  • Cúng Xe Nên Cúng Hoa Gì Để Mọi Thứ Thượng Lộ Bình An
  • Hướng Dẫn Cúng Đầy Tháng Cho Bé Trai Đơn Giản
  • Đặt Mâm Cúng Đầy Tháng Bé Gái Trọn Gói Bao Gồm Lễ Vật Gì?
  • Xem Ngày Tốt Đặt Bếp, Thay Bếp Mới Theo Tuổi Gia Chủ
  • Bởi lẽ, theo quan niệm tín ngưỡng tâm linh của người Việt, lễ nhập trạch là thủ tục bắt buộc khi gia đình bạn chuyển từ nơi ở cũ sang nơi ở mới nhằm mục đích kính cáo với Thổ công, Thần linh cai quản ở khu vực nhà mới về việc gia đình bạn chuyển đến nơi đây, xin chư vị Thần linh đề tâm xếp nếp, che chở cho gia đình bạn bình an, điều lành mang lại điều dữ mang đi.

    Nhiều chuyên gia phong thủy chia sẻ quan niệm rằng, mâm cúng nhập trạch được coi là món quà ra mắt của gia chủ đối với thổ địa và gia tiên. Do đó, cũng như khi bạn chuyển văn phòng trọn gói giá rẻ đến địa chỉ làm việc mới, bạn không nên chủ quan trong việc sắm sửa lễ vật, làm mâm cúng thần linh, gia tiên vì chỉ một sai sót nhỏ cũng có thể khiến ngày về nhà mới mất đi ý nghĩa tâm linh, kéo theo đó là nhiều vấn đề phát sinh khác.

    Theo quan niệm tín ngưỡng dân gian của người Việt, mâm cúng lễ nhập trạch bao gồm 3 phần chính là ngũ quả, hương hoa và rượu thịt. Trong đó mâm ngũ quả cần bao gồm đầy đủ 5 loại quả khác nhau.

    Trái cây cúng về nhà mới cần chuẩn bị những loại nào?

    Đới với mâm ngũ quả cúng nhập trạch, các gia đình cần sắp mâm lễ với số lượng ít nhất là 5 loại quả khác nhau trở lên để bày lên đĩa chúng, gồm có chuối, đu đủ, xoài, dưa hấu, và mãng cầu. Tùy theo từng vùng miền có thể thay đổi một số trái cây không có sang các trái cây khác phù hợp hơn.

    Khi lựa chọn trái cây sắm cho mâm cúng lễ nhập trạch, bạn cần chú ý lựa chọn những quả đẹp mã, đồng đều, không bị bầm dập, thối hay có nhiều vết nám, sẹo… trên bề mặt quả. Sau khi rửa sạch trái cây, bạn hãy xếp ngay ngắn lên đĩa bày trên mâm cúng theo hình thức phù hợp.

    Mâm lễ vật cúng về nhà mới đầy đủ nhất

    Những điều cần biết khi cúng dọn vào nhà mới

    Khi chuyển đến nhà mới đúng giờ đẹp đã xem, gia chủ cần mang vào nhà mới một số vật dụng mang ý nghĩa tâm linh như chiếu, bếp lửa, một chiếc chổi mới và lễ vật… vào nhà mới, sau đó các thành viên trong gia đình mới vào nhà theo sau, mang theo tiền bạc, hoa quả với ý nghĩa mang tài lộc đến nhà.

    Đến giờ làm lễ nhập trạch, gia chủ sẽ đặt lễ vật lên mâm, sắp xếp hoa quả vào mâm cúng, và đặt lên ban thờ theo hướng hợp với gia chủ. Gia chủ cần đích thân thắp nhang, cắm vào bát hương để xin nhập trạch và xin phép Thần linh rước vong linh Gia tiên về nơi ở mới để thờ phụng.

    Tiếp đó, gia chủ sẽ châm bếp và đun nước để khai bếp mang lửa đỏ đến nhà, với ý nghĩa mang may mắn, ấm cúng đến nhà mới, xua tan khí xấu tại nhà. Sau đó, gia chủ sẽ đun nước để pha trà dâng thần linh, gia tiên.

    Sau khi khấn thần linh xong, gia chủ làm lễ cáo yết gia tiên rồi mới tiến hành xắp sếp và bài trí lại đồ đạc. Khi đã dọn xong đồ đạc, để gia trang được bình an, cả nhà phải tổ chức lễ bái tạ thần Phật, các vị thánh thần và tổ tiên… là hoàn thành lễ cúng nhập trạch tại nhà mới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Địa Chỉ Đặt Đồ Cúng Nhà Mới Tại Gò Vấp Uy Tín ” Chuyển Nhà Giá Rẻ Hcm
  • Mâm Đồ Cúng Lễ Nhập Trạch Về Nhà Mới Cần Có Những Gì?
  • Cung Cấp Các Loại Mâm Cúng Động Thổ Và Nhập Trạch Trọn Gói
  • Dịch Vụ Đồ Cúng Nhập Trạch Trọn Gói Ở Thủ Dầu Một Bình Dương
  • Cúng Nhập Trạch Cần Những Gì?
  • 17 Bài Văn Tế Thập Loại Cô Hồn Dành Cho Chẩn Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Chi Tiết Bài Văn Cúng Khấn Lễ Nhập Trạch
  • Bài Văn Cúng Khấn Lễ Nhập Trạch
  • Bài Văn Cúng Gia Tiên
  • Bài Văn Cúng Ngày Mùng Một Tết Nguyên Đán
  • Mẫu Những Bài Văn Cúng Khấn Trong Lễ Dâng Sao Giải Hạn
  • Đầy đủ 17 bài văn tế thập loại Cô Hồn dành cho chẩn tế âm linh cô hồn, chiến sĩ trận vong, đồng bảo tử nạn, chiêu hồn, giải oan bạt độ, cúng tế thí thực.

    KỆ CÚNG THÍ CÔ HỒN

    (Thí thực cô hồn I)

    Trước cửa Phật lập đàn phổ thí,

    Cho trọn đều quân lợi âm dương,

    Quang minh tỏ khắp mười phương,

    Kính dâng một nén tâm hương ngạt ngào.

    Cơn mưa tuệ dồi dào tưới khắp,

    Bóng mây từ che rợp mọi nơi,

    Lọt đâu dưới đất trên trời,

    Từ bi tế độ muôn đời viên thông.

    Trên đức Phật rất công rất chính,

    Dạy cho đời luyện tính tu tâm,

    Thương người đọa kiếp tối tăm,

    Giáo Hội chỉ dẫn khỏi lầm khỏi mê.

    Lòng từ mẫn mọi bề thương hết,

    Nay gặp ngày Đản tiết nên quy,

    Trước Đàn tề chỉnh oai nghi,

    Tuyên dương để chứng quy y thực hành.

    Hạnh giải thoát chúng sinh khổ não,

    Cõi Ta bà sáu đạo loanh quanh,

    Âm ty địa ngục đã đành,

    Dương gian địa ngục nỗi tình thêm thương.

    Nói không xiết trăm đường đày đọa,

    Rồi mang tai trát họa vào thân,

    Không sao khỏi nghiệp tham sân,

    Ăn quanh, ăn quẩn muôn phần thiết tha.

    Nào những hạnh ranh ma quỉ quái,

    Dối lừa nhau chẳng nghĩ nên chăng?

    Bo bo giữ thói ở xằng,

    Cái dây oan nghiệt chằng chằng ngày đêm.

    Nào những hạng lòng chim dạ thú,

    Ghét ghen nhau làm đủ tội tình,

    Khư khư quen thói chẳng lành,

    Cái vòng cương tỏa loanh quanh buộc vào.

    Nào những kẻ yếu đau què quặt,

    Phận hẩm hiu trời bắt chịu đày,

    Thật là khổ ách không may,

    Nào ai có muốn thân này thế đâu!

    Nào những kẻ âu sầu lòa lẫm,

    Số cưu mang câm điếc phải đành,

    Thực là khốn khổ thương tình,

    Ý ai chẳng muốn thân mình phong quang?

    Vì túc trái ngỡ ngàng sao đó,

    Hoặc tiền nhân nghiệp thọ thế nào,

    Thực lòng luống những lao đao,

    Cửa từ bi nỡ để ngơ sao đành.

    Thầy nay dạy thực hành chánh đạo.

    Dòng Thiền học Phật giáo chủ trương,

    Quang minh quảng đại vô lường,

    Ba thừa giáo hóa mọi phương thi hành.

    Giữ một mực chí thành tinh tiến,

    Dập các duyên hư huyễn hão huyền,

    Những môn tà đạo lưu truyền,

    Nay quy Phật đạo cấp liền bỏ đi.

    Trước Đàn ngoại lễ nghi các thưùc,

    Trên đài sen tỏ đức huyên minh,

    Thầy đây lập nguyện chí thành,

    Tuyên dương diệu pháp chúng sinh thỏa nguyền.

    Hiện nay có chư Thiên hậu thổ,

    Cửa từ bi tế độ không cùng,

    Đạo tràng Thiền học lưu thông,

    Tu hành chân thật thủy chung một lòng.

    Đàn phổ thí phẩm vật nghi tiết,

    Thầy dạy thêm cho biết công duyên,

    Những người quỳ trước Phật tiền,

    Đem câu nhân quả phổ truyền rộng ra.

    Dặn hết thảy gần xa thiện tín,

    Nên thành tâm phát nguyện quy y,

    Nương nhờ Tam bảo hộ trì,

    Ăn chay niệm Phật mà quy cho tròn.

    Xem nhân thế càn khôn che chở,

    Nhứt hoàn hương duyên nợ phong trần,

    Hỡi ai kết quả tạo nhân,

    Xem cơ mầu nhiệm muôn phần không xa.

    Muốn xét lại cho hay nghiệp trước,

    Hiện thọ đây thấy được tỏ tường,

    Muốn mong kiếp nữa vẻ vang,

    Sự hành trì phải sửa sang tự giờ.

    Nhân mấy quả trong cơ chuyển hóa,

    Nhân có đầy thì quả mới nên,

    Thầy nay chỉ dẫn căn nguyên,

    Cõi dương gian đó hiển nhiên rõ ràng.

    Ơn đức Phật lời vàng khuyên nhủ,

    Dạy chúng sinh tín thụ cho hay,

    Phúc thời vui vẻ như đây,

    Họa thời khổ não đọa đầy như trên.

    Nam Mô Sinh Tịnh Độ Bồ-tát Ma ha tát.

    -Trích Kinh Nhật Tụng, chùa Hoằng Pháp xb, Sàigòn, 1971

    Ngạ quỷ đói

    SÁM TRIỆU CÔ HỒN

    (Thí thực cô hồn 2)

    Hỡi linh hồn trước sau tề tựu,

    Nghe lời khuyên để rũ tội mình,

    Quan Âm Địa Tạng oai linh,

    Thích Ca Phật Tổ câu kinh giải nàn.

    Hỡi uổng tử hồn oan phưởng phất!

    Noi tâm lành của Phật làm gương,

    Diêm La cực khổ trăm đường,

    Mau tu thì đặng Tây phương thâu về.

    Hỡi linh hồn chết chìm đáy biển,

    Và bao người độc dược bỏ thân!

    Tiếng chuông tỉnh thức dần dần,

    Đừng ham cõi tục trầm luân luân hồi.

    Hỡi các hồn chết thiêu chết chém,

    Hổ giảo thân bị yểm bị trù!

    Kíp tìm kinh kệ sớm tu,

    Khỏi vòng xích sắt tội tù nghiệp oan.

    Hỡi hồn thác trong cơn binh lửa,

    Chết phong ba chết giữa núi non!

    Nếu nghe chuông dục bon bon,

    Mùi hương tỏa khắp hồn còn nghe kinh.

    Hỡi hồn ơi! Vì tình chư Phật,

    Ta khuyên hồn đất Phật là nơi,

    Các hồn sẽ đặng thảnh thơi,

    Hưởng mùi hương Phật suốt đời đặng an.

    Hỡi hồn đã lỡ làng trót dại,

    Theo đàng taø quỉ quái yêu tinh,

    Nay đây khẩn nguyện chân kinh,

    Khuyên hồn phải rán sửa mình cho tinh.

    Hỡi hồn ở đầu ghềnh cuối bãi,

    Nương gió mây thừa thải từ xưa!

    Hồn ơi! Hồn hỡi! Tránh chừa,

    Những người gian ác dối lừa Phật tiên.

    Hỡi hồn tỉnh trông đèn Phật Tổ,

    Ngài ra ơn gột khổ sanh linh.

    Hỡi hồn bị bịnh bỏ mình,

    Và hồn dậy phá chân kinh loạn trần.

    Nghe ta kinh kệ giải phân,

    Cầu cho hồn đặng muôn phần yên vui.

    Hỡi hồn ơi! Muốn vui muốn sướng,

    Ta khuyên hồn đừng tưởng tà tâm,

    Mùi hương lư ngọc bổng trầm

    Khéo tu hồn sẽ an tâm giữa trời.

    Các hồn bị cá xơi, rắn cắn,

    Cùng những hồn số vắn vô danh,

    Hãy nghe kinh kệ ăn năn,

    Rồi đây hồn sẽ vô ngần thảnh thơi.

    Hỡi những hồn vì lời gièm xiểm,

    Nên hủy mình chết lụn căm gan,

    Sớm nghe kinh, chiều sẽ an nhàn,

    Phật kia dẫn lối chỉ đàng hồn tu.

    Nam mô độ hộ muôn hồn,

    Vì hồn trót dại quáng mù từ xưa.

    Kinh là phước, cầu đưa tội lỗi,

    Tu là lành, sám hối ngàn năm.

    Lạy cầu chư Phật từ tâm,

    Khẩn van Bồ-tát giáng lâm cứu hồn.

    Tiếng chuông ngân hương thơm giải thoát.

    Nước nhành dương rảy mát xác phàm,

    Hỡi hồn cư ngụ muôn am!

    Về đây hưởng thực cầu van sửa mình.

    Nam Mô Bộ Độ Đế Rị Già Rị Đa Rị Đát Đa Nga Đa Gia (3 lần)

    -Trích Tam Bảo Tôn Kinh, Thích Ca Tự xb, Sàigòn, 1974

    -Bài dùng để cúng thí thực cô hồn trong các buổi lễ.

    SÁM VĂN CHIÊU HỒN CA

    (Thí thực cô hồn 3)

    NGUYỄN DU

    Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt,

    Toát hơi may lạnh ngắt xương khô;

    Não người thay buổi chiều thu!

    Ngàn lau khóm bạc, lá ngô dòng vàng,

    Đường bạch dương bóng chiều man mát,

    Ngọn đường lê lác đác mưa sa,

    Lòng nào lòng chẳng thiết tha?

    Cõi dương còn thế huống là cõi âm.

    Trong trường dạ tối tăm trời đất,

    Xót khôn thiêng phảng phất u minh!

    Thương thay thập loại chúng sinh,

    Phách đơn, hồn chiếc, lênh đênh quê người.

    Hương khói đã không nơi nương tựa,

    Phận mồ côi lần lữa đêm đêm;

    Còn chi ai khá ai hèn,

    Còn chi mà nói kẻ hiền người ngu!

    Tiết đầu thu dựng Đàn giải thoát,

    Nước tịnh bình rưới hạt dương chi.

    Muôn nhờ Phật lực từ bi,

    Giải oan cứu khổ hồn về Tây phương.

    Nào những kẻ tính đường kiêu hãnh,

    Chí những lăm cướp gánh non sông;

    Nói chi đương thuở thị hùng,

    Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau!

    Bỗng phút đâu mưa bay, ngói lở,

    Khôn đem mình làm đứa sất phu;

    Giàu sang càng nặng oán thù,

    Máu tươi lai láng, xương khô rã rời.

    Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc,

    Quỷ không đầu van khóc đêm mưa;

    Đã hay thành bại là cơ,

    Mà u hồn biết bao giờ cho tan!

    Nào những kẻ màn loan, trướng huệ,

    Nhưõng cậy mình cung quế Hằng nga;

    Một phen thay đổi sơn hà

    Mảnh thân chiếc lá biết là làm sao?

    Trên lầu cao dưới dòng nước chảy,

    Phận đã đành trâm gãy bình rơi;

    Khi sao đông đúc vui cười,

    Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương!

    Thảm thiết nhẽ không hương, không khói,

    Hồn ngẩn ngơ dòng suối, ngàn sim;

    Thương thay chân yếu tay mềm,

    Càng năm càng héo, càng đêm càng rầu.

    Nào những kẻ mũ cao áo rộng,

    Ngòi bút son thác sống ở đây;

    Kinh luân chất một túi đầy,

    Đã đêm Quản, Cát, lại ngày Y, Chu.

    Thịnh mãn lắm oán thù càng lắm,

    Trăm loài ma mồ nấm chung quanh;

    Nghìn vàng không đổi được mình,

    Lầu ca, viện xướng, tan tành còn đâu?

    Kẻ thân thích vắng sau vắng trước,

    Biết lấy ai bát nước nén nhang?

    Cô hồn thất thểu dọc ngang,

    Mạng oan khôn nhẽ tìm đường hóa sinh.

    Nào những kẻ bày binh bố trận,

    Đem mình vào cướp ấn Nguyên nhung.

    Gió mưa sấm sét đùng đùng,

    Rải thây trăm họ, làm công một người.

    Khi thất thế cung rơi, tên lạc,

    Bãi sa trường, thịt nát máu rơi;

    Bơ vơ góc biển chân trời,

    Nắm xương vô chủ biết vùi nơi nao?

    Trời thăm thẳm mưa gào gió thét,

    Khí âm huyền mờ mịt trước sau;

    Ngàn cây nội cỏ rầu rầu,

    Naøo đâu điếu tế nào đâu chưng thường?

    Cũng có kẻ tính đường trí phú,

    Làm tội mình nhịn ngủ bớt ăn;

    Ruột rà không kẻ chí thân,

    Dẫu làm nên nữa dành phần cho ai?

    Khi nằm xuống không người nhắn nhủ,

    Của phù vân dù có như không;

    Sống thời tiền chảy bạc ròng,

    Thác không đem được một đồng nào đi.

    Khóc ma mướn thương gì hàng xóm,

    Hòm gỗ đa, bó đóm đưa đêm;

    Ngẩn ngơ nội lộc đồng chiêm,

    Tàn hương, giọt nước, biết tìm vào đâu?

    Cũng có kẻ rắp càu chữ quí,

    Dấn mình vào thành thị lân la;

    Mấy thu lìa cửa, lìa nhà,

    Văn chương đã chắc đâu mà chí thân?

    Dọc hàng quán phải tuần mưa nắng,

    Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng?

    Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng,

    Anh em thieân hạ láng giềng người dưng.

    Bóng phần tử xa chừng hương khúc,

    Bãi tha ma kẻ dọc người ngang;

    Cô hồn nhờ gởi tha hương,

    Gió trăng hiu hắt, lửa hương lạnh lùng.

    Cũng có kẻ vào sông ra bể,

    Cánh buồm mây chạy xế gió đông;

    Gặp cơn giông tố giữa dòng,

    Đem thân chôn giấp vào lòng kình nghê.

    Cũng có kẻ đi về buôn bán,

    Đòn gánh tra chín dạn hai vai;

    Gặp cơn mưa nắng giữa trời,

    Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?

    Cũng có kẻ mắc vào khóa lính,

    Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan;

    Nước khe cơm vắt gian nan,

    Dãi dầu nghìn dặm, lầm than một đời.

    Buổi chiến trận mạng người như rác,

    Phận đã đành đạn lạc tên rơi;

    Lập lòe ngọn lửa ma chơi,

    Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương.

    Cũng có kẻ nhỡ nhàng một kiếp,

    Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa;

    Ngẩn ngơ khi trở về già,

    Ai chồng con tá biết mà cậy ai?

    Sống đã chịu một đời phiền não,

    Thác lại nhờ hớp cháo lá đa;

    Đau đớn thay phận đàn bà,

    Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

    Cũng có kẻ nằm cầu gối đất,

    Rồi tháng ngày hành khất ngược xuôi;

    Thương thay cũng một kiếp người,

    Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan.

    Cũng có kẻ mắc đoàn tù rạc,

    Gởi mình vào chiếu rách một manh;

    Nấm xương chôn rấp góc thành,

    Kiếp nào cởi được oan tình ấy đi.

    Kìa những đứa tiểu nhi tấm bé,

    Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha;

    Lấy ai bồng bế xót xa.

    U ơ tiếng khóc, thiết tha nỗi lòng.

    Kìa những kẻ chìm sông lạc suối,

    Cũng có người sẩy cỗi sa cây;

    Có người gieo giếng thắt dây,

    Ngược trôi nước lũ, kẻ lây lửa thành,

    Người thì mắc sơn tinh thủy quái,

    Người thì sa nanh sói ngà voi;

    Có người hay đẻ không nuôi,

    Có người sa sẩy, có người khốn thương.

    Gặp phải lúc đi đường nhỡ bước,

    Cầu Nại hà kẻ trước người sau;

    Mỗi người một kiếp khác nhau,

    Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ?

    Hoặc là ẩn ngang bờ, dọc bụi,

    Hoặc là nương ngọn suối chân mây;

    Hoặc là điếm cỏ bóng cây,

    Hoặc là quán nọ, cầu này bơ vơ.

    Hoặc là nương thần từ Phật tự,

    Hoặc là nhờ đầu chợ, cuối sông;

    Hoặc là trong quảng đồng không,

    Hoặc nơi gò đống, hoặc vùng lau tre.

    Sống đã chịu mọi bề thảm thiết,

    Ruột héo khô, dạ rét căm căm;

    Dãi dầu trong mấy mươi năm,

    Thở than dưới đất, ăn nằm trên sương;

    Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn,

    Lặn mặt trời lẩn thẩn tìm ra;

    Lôi thôi bồng trẻ dắt già,

    Có khôn thiêng nhẽ! Lại mà nghe kinh.

    Nhờ pháp Phật siêu sinh Tịnh độ,

    Bóng hào quang cứu khổ độ ưu;

    Rắp hòa tứ hải quần chu,

    Não phiền trút sạch, oán thù rửa không.

    Nhờ đức Phật thần thông quảng đại,

    Chuyển pháp luân tam giới thập phương,

    Nhởn nhơ Tiêu Diện đại vương,

    Linh kỳ một lá dẫn đường độ sinh.

    Nhờ Phật lực uy linh dũng mãnh,

    Trong giấc mê khuya tỉnh chiêm bao;

    Mười loài là những loài nào,

    Gái trai, già trẻ đều vào nghe kinh.

    Kiếp phù sinh như bào như ảnh,

    Có chữ rằng: vạn cảnh giai không;

    Ai ơi lấy Phật làm lòng,

    Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.

    Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo,

    Của có chi bát nước nén nhang;

    Gọi là manh áo thoi vàng,

    Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.

    Ai đến đấy dưới trên ngồi lại,

    Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu:

    Phép thiêng biến ít thành nhiều,

    Trên nhờ Tôn giả chia đều chúng sinh.

    Phật hữu tình từ bi phổ độ,

    Chớ ngại rằng có có không không;

    Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng,

    Nam mô nhất thiết siêu thăng thượng đài.

    -Trích Tập san Hoằng Pháp số 2, Tổng Vụ Hoằng Pháp xb. Sàigòn, 1973

    VĂN TẾ CÔ HỒN

    (Thí thực cô hồn 4)

    TRÀ AM VIÊN THÀNH

    Tượng nghe đại địa sơn hà,

    Luống trong sinh tử cửa nhà vốn không.

    Cô hồn hoạnh tử yểu vong,

    Nương thuyền Bát nhã thoát vòng mê luân.

    Trên thì tướng tướng, vương công,

    Dưới thì công, cổ, sĩ, nông chư vì.

    Gái trai những kẻ tôn ti,

    Hoặc là tử trận, có khi oan tình.

    Hoặc là vương pháp gia hình,

    Uống trúng độc dược hại mình tự nhiên.

    Sa cơ sống gió chìm thuyền,

    Lỡ làng lời hẹn, cưu phiền mang chung.

    Xà thương hổ đả hải hùng,

    Huyết hồ sản nạn(1) phút trông sẩy rồi!

    Hoặc là mắc phải thiên lôi,

    Vong thân chú trớ bồi hồi mạng chung.

    Hoặc là đường sá lỡ làng,

    Mắc phải dịch lệ ôn hoàng chẳng dung.

    Hà sa phẩm loại khôn cùng,

    Lòng thành tín chủ mời chung các loài.

    Từ rằng theo bóng Như lai,

    Đã không cứu vớt lấy ai nương nhờ.

    Từ đường đâu có phụng thờ,

    Cô đơn độc lập, bơ phờ cỏ cây.

    Thảm thương mặt nước cung mây,

    Rả rời xương thịt, hồn bay lạc loài.

    Chẳng hay thử vãng hàn lai,

    Bốn mùa cốt nhục không ai kiếm tìm.

    Thân bằng ít kẻ tri âm,

    Lấy ai cứu vớt mà hòng thoát ly!

    Thảm thương về chốn thổ ty,

    Luôn trong diểu diểu lấy gì mà ra!

    Nương nhờ tín chủ toàn gia,

    Thọ tài hưởng thực mà qua Liên trì.

    Từ rằng vâng phép từ bi,

    Siêu phàm nhập thánh liễu kỳ oan thân.

    Sớm khuya cửa Phật ân cần.

    Phù trì gia chủ thừa ân những ngày.

    Đừng còn theo thói mê say,

    Tham lam quyết đoạn, từ rày lánh xa.

    Nam mô đức Phật Di Đà,

    Phóng quang tiếp dẫn hà sa cô hồn.

    Trước triệu thỉnh lủy triều đế chủ,

    Trên ngai vàng trải nối hầu vương.

    Chín tầng điện các đài gương,

    Nước non muôn dặm, mười phương cầm quyền.

    Nghìn năm vương khí danh truyền.

    Xe loan để tiếng oán phiền chưa thôi!

    Tiếng quyên kêu nguyệt bồi hồi,

    Gành đầu huyết nhiễm, hận thôi chín trường.

    Tiền vương hậu bá khôn lường,

    Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

    Lại thỉnh kẻ Ngũ lăng tài tuấn,

    Đấng hiền lương trí dũng khôn ngoan.

    Giá trong tieát trắng làm quan,

    Một lòng báo quốc nên trang đan thành.

    Nam châu bắc huyện thơm danh,

    Theo nơi tang thác bỏ đành quê hương.

    Thiên nhai hải giác khôn lường,

    Sa cơ tạo hóa theo đường Bồng lai.

    Than ôi! Những đấng anh tài,

    Theo dòng thệ thủy cách đài dương quan.

    Lại thỉnh kẻ đăng đàn bái tướng,

    Chức phong hầu đứng trước muôn dân.

    Sức dời bảo đỉnh nghìn cân,

    Trường thành muôn dặm vinh thân tháng ngày.

    Trước hùm sương nhiễm, ghê thay!

    Sa cơ một phút đổi thay công hầu.

    Thương ôi người ngựa ở đâu,

    Xui nên họa cả thảm sầu khôn dung.

    Xiết bao tướng súy anh hùng,

    Lánh nơi vinh hiển theo cùng âm ty.

    Những người sa trụy bất kỳ,

    Nghe lời triệu thỉnh đồng thì đến đây.

    Lại thỉnh kẻ văn nhân tài tử,

    Chốn thư phòng cửa Khổng vào ra,

    Bút nghiên kinh sử ngâm nga,

    Văn chương tu luyện đợi khoa nương mình.

    Mơ màng lấp lóa đèn huỳnh,

    Công phu khổ dụng đăng trình gặp khi.

    Mười năm tân khổ mong thi,

    Naøo hay một phút xa kỳ công danh!

    Hồng lô tính tự rành rành,

    Đất vàng một nấm lấp thành văn chương.

    Văn nhân tài tử không lường,

    Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

    Lại thỉnh kẻ xuất trần thượng sĩ,

    Nương rừng Thiền lánh chỗ phàm phu.

    Cao Tăng quyết chí tinh tu,

    Trăm năm giới luật công phu dùi mài.

    Giữ gìn phạm hạnh hôm mai,

    Tỳ-kheo Ni chúng khác người thế gian.

    Hoàng hoa, thủy trúc luận bàn,

    Không đàm bí mật nên mang thế tình.

    Bóng đèn lấp lóa hư minh,

    Than ôi! Một phút dứt tình Thiền lâm.

    Nghe lời Bát nhã, Phạm âm,

    Truy y Thích tử lại lâm đáo đàn.

    Lại thỉnh kẻ hoàng quan dã cảnh,

    Chốn Bồng lai sớm luyện đan tiên.

    Nương theo thạch động đào nguyên,

    Tu tâm luyện tính chu truyền thảnh thơi.

    Danh thơm chưa nức trong đời.

    Vô thường khi đã đổi dời công phu.

    Thương ôi! Sương tuyết dãi dầu,

    Tiêu điều gió thảm hoa sầu hơi sương.

    Huyền môn đạo sĩ khôn lường,

    Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

    Lại thỉnh kẻ nhung y chiến sĩ,

    Với những kẻ lâm trận kiện nhi.

    Cầm bạch tiết, vác hồng kỳ,

    Tức gan quyết chí trận kỳ hơn thua.

    Trung thành hết sức phò vua,

    Nào hay một phút xa đưa dặm trường.

    Thương ôi! Huyết lụy sa trường,

    Thà ôm xương trắng để đường cho ai!

    Trận vong binh sĩ an tài,

    Nghe lời triệu thỉnh đáo đài lai lâm.

    Lại thỉnh kẻ cung phi mỹ nữ,

    Chốn lâu đài khuê các vào ra.

    Ướp xông hương xạ diềm dà,

    Phấn thoa sáp đánh màu da khác người.

    Mặt hoa mày liễu tốt tươi,

    Hình dung yểu điệu, miệng cười như hoa,

    Hồn tiên kim ốc vào ra,

    Hoa tàn nguyệt khuyết phút đà thấy đâu!

    Thương ôi! Ngọn gió thổi sầu,

    Đống xương khô héo dãi dầu cỏ sương.

    Quần thoa phụ nữ khôn lường,

    Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

    Lại thỉnh kẻ giang hồ kỵ lữ,

    Trải tháng ngày mua bán tranh đua.

    Đổi dời lừa tráo hơn thua,

    Đào công nối nghiệp bán mua so lường.

    Chẳng ngờ nổi trận phong sương,

    Mình vào ngư phúc dương trường, khốn thay!

    Hồn dời bể bắc dặm dài,

    Phách về đông hải ngàn ngày thảnh thơi.

    Tha hương lữ khách lỡ thời,

    Nghe lời triệu thỉnh lại nơi Pháp đàn.

    Lại thỉnh kẻ hoài thai thập nguyệt,

    Chịu đắng cay tọa thảo tam triêu;

    Bằng khi loan phụng hòa yêu,

    Hùng bi hiệp mộng xiết bao tháng ngày.

    Gái trai còn hãy chưa hay,

    Đêm trường mẫu tử, phút này giai quy.

    Thương ôi! Hoa nở chính kỳ,

    Nào hay một phút gặp khi mưa dầm.

    Huyết hồ sản nạn lỗi lầm,

    Nghe lời triệu thỉnh lai lâm pháp đàn.

    Lại thỉnh kẻ nhung di man địch,

    Tiếng chẳng thuần ngọng lịu như câm.

    Lại còn trong dạ hiểm thâm,

    Cưu điều hung dữ lưu tâm hại người.

    Khinh khi Tam bảo chê cười,

    Tội khiên chất để bằng mười hà sa.

    Ngổ ngang mắng mẹ khinh cha,

    Ác cao như núi chết mà không tha.

    Chẳng may hồn phách la đà,

    Mịt mờ vũ trụ bao là đớn đau!

    Thương ôi! Ẩn ẩn phương nào,

    Ngày xuân chẳng thấy ra vào u quan!

    Hỡi người bội nghịch si ngoan,

    Nghe lời triệu thỉnh lai quang pháp đàn.

    Lại thỉnh kẻ cơ hàn cái giả,

    Bị lao tù mắc phải gia hình.

    Gặp cơn thủy hỏa bất bình,

    Một đời bỗng chốc vô tình mệnh vong.

    Nghìn năm oan khí chưa xong,

    Linh hồn nhất điểm nhạn mong mơ màng.

    Trời xanh tiếng hạc rộn ràng,

    Gió lay hoa rụng lỡ làng, thương thay!

    Mấy người hoạnh tử xưa nay,

    Nghe lời triệu thỉnh đến ngay pháp đàn.

    -Trích Tra Am và Sư Viên Thành, Nguyễn Văn Thoa, Tra Am ấn hành. Nha Trang, 1972

    1 Câu này thỉnh kẻ cô hồn hoạnh tử khi lâm sản hoạc bị sẩy thai, sút thai.

    SÁM VĂN THÍ THỰC HỒI HƯỚNG

    (Thí thực cô hồn số 5)

    Sắm sanh ẩm thực đủ đầy

    Gọi hồn về hưởng an bày đủ đông

    Tiệc chay cúng thí vừa xong

    Canh gà văng vẳng giọt rồng thậm thâm

    Trước đàn ngưỡng vọng thiền âm

    Bình hoa lợt bóng, đỉnh trầm phai hương

    Cam lồ rưới khắp mười phương

    Ao sen nay đã tỏ tường sang chơi

    Cô hồn ơi ! Chiến sĩ ơi !

    Mau mau nhẹ bước tách dời Tây thiên

    Từ rày bá tánh bình yên

    Phước lành để lại trong miền nhân gian

    Tuổi đời lộc nước chứa chan

    Gót lân nổi dấu, cầm loan in dần

    Nghinh ngang cõi thọ đài xuân

    Dấu ma lẳng bặt châu trần tiêu diêu

    Vinh hoa phú quí đủ điều

    Tu hành đạo đức thương yêu giống nòi

    Ngày ngày niệm Phật hẳn hòi

    Đèn từ đuốc huệ sáng soi cõi lòng

    Đến khi trăm tuổi mạng chung

    Được về cõi Phật thoát vòng tử sanh

    A Di Đà Phật phóng quang

    Nguy nguy kim tướng muôn ngàn ảnh trung

    Khổ đau biển cả chập chùng

    Hãy mau niệm Phật mà cùng bước lên

    Đài sen hoa nở vãng sanh

    Bạn cùng Bồ Tát chung quanh vui đùa

    Từ đây bỏ việc hơn thua

    Nương nhờ tự lực cửa chùa quy y.

    Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

    – Trích soạn lại theo “Pháp Thí Thực Khoa Nghi” – chùa Niệm Phật Bình Dương ấn hành 1974.

    VĂN TẾ CÔ HỒN

    (Thí thực cô hồn số 6)

    Hỡi ôi !

    Miền U cảnh lạnh lùng tăm tối,

    Chốn Huỳnh tuyền nhiều lối nhọc nhằn.

    Ẩn dạ đài đợi dứt kiếp căn,

    Cõi Tịnh độ siêu thăng chưa được.

    Ấy bởi tội lỗi gây kiếp trước,

    Nhiều nghiệt oan, ít phước đức công.

    Nên phải mang phiền não dập dồn,

    Chịu thống khổ, phách hồn xiêu lạc.

    Cầu chư Phật oai thần tế bạt,

    Lên Thiên đàng, siêu thoát trần ai.

    Nay trai diên đạm bạc kỉnh bày,

    Xin chư vị tề lai thọ hưởng.

    Giúp lê thứ quốc gia thạnh vọng,

    Hộ đạo tràng tăng trưởng cơ duyên,

    Độ mười phương sanh chúng bình yên,

    Cùng thí chủ diên niên hạnh phúc.

    Lụy trào đế hầu vương đáng kính,

    Vận nước vong khó tính mưu thành.

    Xưa cửu trùng điện các liệt oanh,

    Rủi một phút tan tành cơ nghiệp.

    Chư tướng soái binh cơ quyền nhiếp,

    Chốn chiến trường nhiều dịp tận trung.

    Vì sa cơ hồn xuống Diêm cung,

    Nơi dương thế âm dung đà khuất.

    Tài bút nghiên văn thần báo quốc,

    Tấm lòng son công chất nhà vàng.

    Nào hay đâu dị lộ tìm đàng,

    Rồi một thuở danh vang tể tướng.

    Nhà cơ cẩn thấy trời bốn hướng,

    Lo bút nghiên vụ tưởng công danh.

    Mười năm ngồi cửa sổ lạnh tanh,

    Ba thước đất vùi danh tài tử.

    Nhàm cuộc thế lánh thân am tự,

    Nương Phật đường gắng giữ kệ kinh.

    Đèn tắt khuya Thiền thất hư minh,

    Hồn theo gió đăng trình âm cảnh.

    Thảm cho đấng tu chơn dưỡng tánh,

    Chốn lâm tòng đói lạnh không màng.

    Lòng dốc trông nhập đặng Tiên bang,

    Chí chưa toại tầm đàng Địa phủ.

    Những sĩ tốt tùng chinh đội ngũ,

    Tại trận tiền củ củ oai hùng.

    Chịu tuyết sương mưa nắng lạnh lùng,

    Lằn tên đạn không dung tánh mạng.

    Lo đồ lợi thương hồ buôn bán,

    Nương thủy triều ngày tháng kinh thương.

    Sóng ba đào phong võ khó lường,

    Thân trôi nổi gởi xương bụng cá.

    Mười tháng chẵn mang con trong dạ,

    Lúc lầm bồn mạng đã tìm Tiên.

    Thị huyết hồ nạn sản chi khiên,

    Hoa mới nở vội liền mưa gió.

    Tánh ngỗ nghịch hiếu trung chẳng có,

    Công sanh thành chưa rõ cao dày.

    Hoặc huyền lương độc dược ra tay,

    Bị lôi chấn đọa đày ngục thất.

    Người bóng quáng thêm mang bịnh tật,

    Thác giữa đàng không đất gởi thây.

    Hồn dật dờ theo gió theo mây,

    Thành Uổng tử đêm ngày đói lạnh.

    Người nghèo khó đốn cây non lãnh,

    Chịu nhọc nhằn khổ hạnh cơ hàn.

    Bị độc trùng ác thú hổ lang,

    Hoặc hỏa thán tầm phong dị lộ.

    Người lương thiện tao phùng tật đố,

    Bị ngọt ngon dụ dỗ hại thầm.

    Oan hồn tìm đến chốn u thâm,

    Còn mắc phải gian cầm gìn giữ.

    Gái khuê các giai nhơn mỹ nữ,

    Chẳng trọn tình cư xử nợ khiên.

    Xưa hương xông phấn ướp phấn duyên,

    Nay đến chốn Huỳnh tuyền sở ỷ.

    Kẻ tù tội mắc vòng lao lý,

    Chúng tôi đoài nô tỷ khổ thân.

    Thêm phạt hành độc thủ bất nhân,

    Hồn lìa cách dương trần rất thảm.

    Bị hỏa hoạn tâm hồn mê ám,

    Lúc kinh hoàng khổ thảm biết bao !

    Tìm đường ra khỏi ngọn lửa cao,

    Rủi một phút thân thiêu tro bụi.

    Cơn thủy nạn hoảng kinh bối rối,

    Họa lụt tràn trôi nổi cửa nhà.

    Mạng số suy, thần tử chẳng tha,

    Theo dòng nước hồn ma vĩnh biệt.

    Khi bão tố đá cây ngã liệt,

    Sập cửa nhà đè chết nào hay.

    Hồn dật dờ theo cảnh gió mây,

    Chịu đau đớn đọa đày nẻo tối.

    Cuộc tang thương tuần hoàn thay đổi,

    Chấn động miền non núi đất liền.

    Bị lấp chôn hồn phách đảo điên,

    Chịu muôn nỗi não phiền đau đớn.

    Bị xe cán nát thây rùng rợn,

    Vận kiếp xui họa lớn nào hay.

    Bà con trông than khóc thảm thay,

    Cơn hoảng hốt hồn lai uổng tử.

    Vì ái dục si tình tự tử,

    Cơn đắm mê nào sợ tội mang.

    Gieo mình nơi biển nghiệp sông oan,

    Hồn phách chịu muôn vàn lạnh lẽo.

    Ít phước đức họa tai lôi kéo,

    Đời lao công nhiều nẻo hiểm nguy,

    Trên giàn cao ngã té bất kỳ,

    Thân tan nát hồn phi phách tán.

    Nơi chiến địa lâm cơn tạc đạn,

    Thi hài tiêu tứ tán khó nhìn.

    Thảm thương cho hồn phách linh đinh,

    Miền âm cảnh muôn nghìn khổ não.

    Người lương thiện chết oan điên đảo,

    Vì đạn tên lạc náo xóm làng.

    Oan hồn cam vào chốn nguy nan,

    Chịu u ám, xa đàng giải thoát.

    Bị khổ bức vì tình đen bạc,

    Tự hủy mình cam chác nghiệp sâu.

    Mũi đạn xuyên, muôn kiếp khổ sầu,

    Hồn phưởng phất biết đâu nương dựa !

    Bị cướp giặc lòng tham hung dữ,

    Đoạt của rồi giết chủ thác oan.

    Hồn dật dờ thảm khổ muôn đàng,

    Kết thù oán khôn toan siêu độ.

    Đời mạc kiếp loạn ly tội lỗi,

    Bị hiếp dâm đến nỗi bỏ mình.

    Phách hồn oan lạc lối u minh.

    Lòng khổ bức muôn nghìn oán hận.

    Đời giặc giã nghịch thù vô tận,

    Chôn sống người giữa đám đồng hoang.

    Tiếng khóc la oán khí đầy tràn,

    Trong giây phút dương gian cách biệt.

    Giặc bất lương giết người chẳng tiếc,

    Trói lương dân thù ghét quăng sông.

    Lặn hụp nơi nước cuốn giữa dòng,

    Thân trôi nổi, oan hồn thơ thẩn.

    Bị oán chạ chém đâm tàn nhẫn,

    Hoặc thù hiềm giết lẫn mạng vong.

    Hồn phất phơ nơi chốn long đong,

    Biết bao thuở thoát vòng khổ não.

    Xe lật đổ, đụng nhau táo bạo,

    Chết giữa đàng khôn bảo toàn thi.

    Thây nằm phơi, hồn đã biệt ly,

    Bà con thấy, ai bi thống thiết !

    Người tắm biển tắm sông biệt tích,

    Kẻ lội chìm, tê liệt tay chân.

    Cơn rủi ro dòng nước gởi thây,

    Hồn lạnh lẽo tháng ngày thảm khổ.

    Trong cơ xưởng nhơn công phục vụ,

    Bị máy lôi vào chỗ hiểm nguy.

    Hoặc điện hơi giựt ngã cấp kỳ,

    Rủi một phút hồn phi phách tán.

    Còn nhiều loại hồn oan ta thán,

    Nơi suối vàng thê thảm ngậm ngùi,

    Các hồn chưa mãn kiếp Phong đô,

    Đương xiêu lạc khắp nơi khổ não.

    Lời thiển bạc nay đà trần tố,

    Thương xót thay nỗi khổ các vì.

    Hồn linh thiêng hiển hích chứng tri,

    Xin sám hối tiền phi hậu quá.

    Xét tội lỗi oan khiên vay trả,

    Giác ngộ tua diệt cả ác duyên,

    Ý tịnh thanh dứt sạch não phiền,

    Giữ ba nghiệp vẹn tuyền trong sạch.

    Quy y Phật tịnh yên hồn phách,

    Nhẫn tâm tồn, giải sạch cừu oan.

    Phật dạy rằng tạo tội, tội mang,

    Luật nhân quả rõ ràng khó tránh.

    Muốn giải thoát, noi gương Phật Thánh,

    Chưởng Bồ đề, xa lánh tội căn.

    Nguyện Từ Tôn Tam Bảo mười phang,

    Độ chư vị thoát đàng khổ não.

    Dẫn Hồn Vương lòng thương khuyên bảo,

    Thập Điện đồng mở đạo Từ bi.

    Giảm phạt hành, ân huệ bố thi,

    Đức Địa Tạng đại bi cứu rỗi.

    Linh hồn đặng xa nơi ngục tối,

    Vãng sinh miền Tịnh Độ thảnh thơi.

    Hết lòng thương nay tỏ mấy lời,

    Xin chư vị khắp nơi chứng chiếu.

    Nam mô A Di Đà Phật.

    VĂN TẾ CHƯ CHIẾN SĨ TRẬN VONG

    CHƯ LƯƠNG DÂN TỬ NẠN

    (Thí thực cô hồn số 7)

    Hỡi chư chiến sĩ trận vong !

    Hỡi chư lương dân tử nạn !

    Nhơn sanh tự cổ thùy vô tử,

    Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.

    Người sanh trên thế ai không chết,

    Để tấm lòng son rạng sử xanh.

    Ngọc tuy nát vẫn còn trong sạch,

    Tre cháy tiêu, mắt nọ cũng còn.

    Chí trung cang nghĩa khí sắc son,

    Gương Thánh Đế nay còn nêu đó !

    Nợ nước non ai ai cũng có,

    Phận công dân giao phó phải mang.

    Hễ đứng làm nghĩa sĩ anh trang,

    Phải đáng bực trung thần liệt nữ.

    Chí Quang Trung đâu màng sanh tử,

    Chuyện Trưng Vương thanh sử còn ghi.

    Nay tuy là u hiển biệt ly,

    Lòng tưởng nhớ các vì tha thiết,

    Tưởng là tưởng đức dày oanh liệt,

    Chốn chiến trường sương tuyết hy sinh.

    Nhưng chẳng may vì nước bỏ mình,

    Ấy cũng bởi trọn gìn trung đạo.

    Thôi nợ nước nay đà tận báo,

    Xin hồi đầu chánh đạo tu thân.

    Nương cửa thiền phủi sạch trược trần,

    Sớm kinh kệ chiều lần chuỗi hột,

    Lấy cam lộ nhành dương nước Phật,

    Rửa cừu oan diệt tất não phiền.

    Khá nguyện về Cực lạc Tây thiên,

    Mà an dưỡng thiêng liêng Bổn giác

    Sen chín phẩm nở ra trước mắt,

    Hết tử sanh quả Phật thấy liền.

    Hỡi các vì hồn có linh thiên,

    Nơi chín suối khá liền sám hối,

    Cầu Trời Phật xá tha tội lỗi,

    Dắt dìu ra khỏi lối u minh.

    Một lòng thiềng Phật Pháp trọn gìn,

    Hộ thí chủ khương ninh phước thọ.

    Giúp lê thứ, trợ an quốc tộ,

    Lập đức công báo bổ tứ ân,

    Lời thiết tha đạo đức phân trần,

    Xin liệt vị hiển linh chứng chiếu.

    Nam Mô A Di Đà Phật.

    VĂN TẾ CHIẾN SĨ TRẬN VONG

    ĐỒNG BÀO TỬ NẠN.

    (Thí thực cô hồn số 8)

    Hỡi ôi !

    Cơn tạo hóa xoay vần khó tránh,

    Cuộc trần gian hết thạnh đến suy,

    Chúng sanh phải chịu khổ nguy,

    Sanh già bịnh tử biệt ly thảm sầu.

    Việc may rủi biết đâu chọn lánh,

    Nhận làm người mang gánh sự trần,

    Tam cang mới nặng muôn cân,

    Ngũ thường xử vẹn là phần tu mi.

    Lẽ sống thác là tùy số phận,

    Nghĩa vụ tròn đâu quản gì thân,

    Mình là bổn phận con dâu,

    Quốc gia hữu sự báo ân đã đành.

    Vì tổ quốc lợi quyền chủng tộc,

    Giận quân thù chí dốc tòng quân,

    Ra đi dạ luống bâng khuâng,

    Màn sương gối tuyết vô chừng gian nan.

    Khi lặn suối trèo non vượt bể,

    Khi lên truông qua ải xuống đèo,

    Đai cơm, bầu nước, gươm đeo,

    Chút thân sống thác do theo số trời.

    Ra nhập ngũ thân thời chẳng kể,

    Khổ thay vì cha mẹ ở nhà,

    Nhớ con thổn thức canh gà,

    Thương con dựa cửa trông mà sầu đau.

    Khi sớm tối ai vào thăm viếng,

    Lúc ốm đau lo chuyện thuốc thang ?

    Đêm ngày giọt lệ chứa chan,

    Cầu trời con đặng thoát nàn đao binh.

    Chữ trung đặng, mất tình hiếu thảo,

    Đánh liều theo máy tạo vần xoay,

    Trước cờ da ngựa bọc thây,

    Tiếng kêu cứu nước làm khuây sao đành!

    Còn thương hỡi gia đình thảm cảnh,

    Vợ cùng con hiu quạnh trước sau,

    Con thơ vợ yếu lao nhao,

    Lấy ai bảo bọc đói đau cơ hàn ?

    Đêm tủi phận dở dang duyên nợ,

    Ngày gượng vui qua đỡ thời gian,

    Trông cho chiến thắng khải hoàn,

    Dưỡng nuôi con dại hiệp đoàn phu thê.

    Nhớ đến cảnh ủ ê tấc dạ,

    Cùng anh em chung chạ một nhà,

    Xóm làng cô bác ông bà,

    Nguyện cầu binh cách hết mà về quê.

    Người muốn vậy không hề được vậy,

    Bãi trường sa thịt nát máu tơi,

    Tên rơi đạn lạc hết đời,

    Nắm xương vô chủ lạc nơi chiến trường!

    Người nằm chết ngổn ngang bờ bụi,

    Dưới hố hầm chân núi cội cây,

    Kẻ thời ngọn lửa thiêu thây,

    Người thời trôi lấp sông nầy rạch kia.

    Ai có phước thi hài chôn lấp,

    Kẻ nợ phần phó mặc cá chim,

    Hỡi ơi ! Nợ nước trọn niềm,

    Đến ngày chung cuộc xác tìm đâu ra ?

    Vợ con với mẹ cha đâu biết,

    Chừng hay tin thì việc đã rồi,

    Nợ trần phủi sạch ai ôi,

    Ghi vào lịch sử muôn đời ngợi khen !

    Khen anh dũng xông pha tên đạn,

    Liều thân sinh cứu nạn quốc dân,

    Sống làm Tướng, thác làm Thần,

    Non sông gánh vác tử phần đao binh.

    Chùa thỉnh Phật lập đàn chẩn tế,

    Tụng cầu siêu cáo lễ Phật trời,

    Trận vong chiến sĩ vì đời,

    Thoát vòng lục đạo về nơi trai đàn.

    Nén hương đốt gội nhuần trước án,

    Tế anh linh tỏ rạng danh thơm,

    Ít nhiều hoa quả kỉnh đơm,

    Gọi là tưởng nhớ người ơn giúp đời.

    Dạ thương tiếc anh hùng dũng cảm,

    Nguyện vong hồn sinh ký tử qui,

    Hồi đầu nương cửa từ bi

    Về miền Cực lạc Liên trì hoá sinh.

    Chúng tôi đã lòng thành khấn vái,

    Phật mười phương quảng đại độ siêu,

    Nương đàn chẩn tế tiêu dao,

    Chư vong chiến sĩ đồng bào chứng tri.

    SÁM VĂN THÍ THỰC HỒI HƯỚNG

    (Thí thực cô hồn số 9)

    Sắm sanh ẩm thực đủ đầy

    Gọi hồn về hưởng an bày đủ đông

    Tiệc chay cúng thí vừa xong

    Canh gà văng vẳng giọt rồng thậm thâm

    Trước đàn ngưỡng vọng thiền âm

    Bình hoa lợt bóng, đỉnh trầm phai hương

    Cam lồ rưới khắp mười phương

    Ao sen nay đã tỏ tường sang chơi

    Cô hồn ơi ! Chiến sĩ ơi !

    Mau mau nhẹ bước tách dời Tây thiên

    Từ rày bá tánh bình yên

    Phước lành để lại trong miền nhân gian

    Tuổi đời lộc nước chứa chan

    Gót lân nổi dấu, cầm loan in dần

    Nghinh ngang cõi thọ đài xuân

    Dấu ma lẳng bặt châu trần tiêu diêu

    Vinh hoa phú quí đủ điều

    Tu hành đạo đức thương yêu giống nòi

    Ngày ngày niệm Phật hẳn hòi

    Đèn từ đuốc huệ sáng soi cõi lòng

    Đến khi trăm tuổi mạng chung

    Được về cõi Phật thoát vòng tử sanh

    A Di Đà Phật phóng quang

    Nguy nguy kim tướng muôn ngàn ảnh trung

    Khổ đau biển cả chập chùng

    Hãy mau niệm Phật mà cùng bước lên

    Đài sen hoa nở vãng sanh

    Bạn cùng Bồ Tát chung quanh vui đùa

    Từ đây bỏ việc hơn thua

    Nương nhờ tự lực cửa chùa quy y.

    Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

    – Trích soạn lại theo “Pháp Thí Thực Khoa Nghi” – chùa Niệm Phật Bình Dương ấn hành 1974.

    VĂN TẾ LIỆT SĨ

    (Thí thực cô hồn 10)

    Hỡi chư Liệt sĩ ôi!

    Họa đao binh từng đốt nung đất Việt

    Nạn xâm lăng đã giày xéo trời Nam

    Phận làm trai, đành gánh vác nợ non sông

    Người chiến sĩ, phải hy sinh đời oanh liệt

    Nhớ những anh hùng xưa!

    Vì chánh nghĩa, mất còn nào tiếc

    Rửa nhục chung, sống chết đâu màng

    Chốn sa tràng, trải mật phơi gan

    Nơi chiến địa, nóng sôi nhiệt huyết

    Gió đạn, mưa bom ào ạt, xông pha bắn giết

    Núi xương, biển máu lăn mình, dày đẫm đau thương

    Màn trời chiếu đất, lướt trời nồng, dãi nắng dầm sương

    Vó ngựa sa trường, dày gió bụi, mang sao đội nguyệt

    Vì nước vì dân, trước cái chết, vươn mình quyết tiến

    Thương nòi thương giống, giữa đời trai, nung chí anh hùng

    Đạn nổ súng rền, gió hơi bom,

    long trời lở đất, thi gan tiến tiến xung phong .

    Cờ phất còi reo, tiếng trống dục,

    chật đất tràn đồng, gắng sức đùng đùng tử chiến.

    Dưới làn bom, thịt nát xương tan,

    Đành ngã gục không hề khuất tiếc.

    Trước mũi súng, ruột tuông máu đổ,

    cam lụy mình chẳng khứng phục hàng.

    Người chiến sĩ, đền xong nợ nước,

    trang sử xanh đánh dấu hiên ngang.

    Đấng anh hùng, rửa sạch nhục chung,

    đài liệt sĩ nêu gương trung liệt.

    Than ôi!

    Vì nước quên mình, sống oanh liệt chết càng oanh liệt.

    Xả thân báo quốc, sống vinh quang chết cũng vinh quang

    Cảm thương người, tai nạn tràn lan

    Thương xót kẻ, uổng oan mất tích

    Nhờ đức Phật độ về cõi tịnh

    Nương tiếng Kinh thoát kiếp đao binh

    Nơi dạ đài, người tử si có linh

    Nương thể phách, về trai đàn chứng giám

    Hỡi ơi! Thương thay!

    Có linh xin chứng! Có linh xin chứng!

    – Trích soạn “Kinh Nhựt tụng” – Chùa Niệm Phật Bình Dương 1994.

    VĂN TẾ CÔ HỒN (II)

    (Thí thực cô hồn 11)

    Từng nghe đạo cả, kỉnh thuật lời quê

    Cõi nhơn gian thủy lục ê chề

    Nỗi hồn phách tử vong ngao ngán

    Trên đến bực vương hầu khanh tướng

    Dưới đến người sĩ cổ nông công

    Nào kẻ ty, nào người tôn

    Nào là nam, nào là nữ

    Hoặc có kẻ buộc mình trong linh ngữ

    Hoặc có người sẩy bước chốn sa tràng

    Hoặc sa hầm sa hang

    Hoặc trúng thang trúng dược

    Đau ngang, dây buộc, sản nạn, huyết bồn

    Hoặc nước bệnh dịch ôn, hoặc suông búa sấm

    Phép vua giảo trảm, trù ẻo vong thân, loài ấy rất nhiều

    Nhiều đã quá nhiều, dẫu muốn kể, kể sao cho xiết

    Kìa nương dựa, mả mồ đà mất biệt,

    Nào từ đường, nơi chỗ có chi chi

    Bơ vơ bên bụi dưới cây, lài lạc chốn đầu gành cuối biển

    Khổ nhiều nỗi gió mưa xao xuyến,

    Biết mấy thu lạnh nắng đổi thay

    Chẳng bốn mùa nào kẻ lạc trai

    Mãn tám tiết vắng người đơm quảy

    Rầu rầu rỉ rỉ, cõi u minh biết mấy xuân thu

    Mù mù mịch mịch, đường xuất lý m

    ảng đợi trông ngày tháng

    Hội vô giá may vừa gặp khoản,

    Nương theo công bí mật hôm nay

    Này hà sa Phật tử là ai, rày gặp lúc tiêu diêu cõi thánh

    Nọ lụy thế oan thân mấy kẻ, lại nhờ ơn giải thoát nợ trần

    Chiến sĩ ôi! Cô hồn ôi!

    Ngôi liên đài quanh quất bên thân

    Miền tịnh độ chán chường gần trước mặt

    Ngón tay búng chẳng phiền nhọc sức

    Đã chứng vào trong bực vô sanh

    Lòng hởi lòng, lòng vốn hư minh

    Ấy rõ thấu, ngôi Quan Âm Phật.

    Nam Mô Siêu Lạc Độ Bồ Tát Ma Ha Tát.

    – Trích soạn theo Kinh Nhật Tụng – Bồ Tát Như Nguyện Thích Thiện Huê – Chùa Niệm Phật – Bình Dương 1974.

    HỒI HƯỚNG TẾ VĂN

    (Thí thực cô hồn 12)

    Kiến văn như huyển ế

    Tam giới nhược không hoa

    Văn phục, ế căn trừ

    Trần tiêu, giác viên tịnh

    Phục dĩ,

    Nguyên chơn như thanh tịnh

    Tội tánh vốn là không

    Biển khổ rộng mênh mông

    Sóng quanh theo đuổi mãi

    Bởi nghiệp cảm chúng sanh mang phải

    Khiến trầm luân kiếp nọ chịu đọa đày

    Địa ngục đà thọ báo đắng cay

    Ngạ quỉ lại chuyển sanh đói khát

    Đã chẳng có ngày giải thoát

    Ắt là không chỗ đặng siêu thăng

    Ví chẳng nhờ từ nguyện đức kim thân

    Để mở đặng đảo huyền dây ác thú

    Chơn thuyên ấy, niệm đôi câu chú

    Thí ra trên tiệc cam lồ

    Bảo cự kia, thắp một ngọn đèn

    Soi khắp trong đường minh giới

    Nào những mấy dòng mê cả thảy

    Khiến đều về cực lạc phương tây

    Buổi đạo tràng nay, khắp thỉnh vào viên thí thực

    Đem công đức ấy, trở về trong núi Thiết vi

    Diệm nhiên Đại sĩ một tay

    Thống lãnh cả ba mươi sáu bộ chúng

    Ngạ quỉ hằng hà sa số

    Vô lượng vô biên xiết kể biết bao

    Cúi xin từ kiếp bỏ liền

    Cho đến ngày tái thế

    Tiêu nghiệp chướng chẳng còn chút để

    Rửa tội khiên phút đã sạch rồi

    Vạc nóng dầu sôi, biến làm bồn liên trì bát đức

    Lò hừng lửa cháy, hóa thành tòa hương cái thất trân

    Kìa mũi gươm trần, kiếm thọ hóa ra ngọc thọ

    Nọ con dao sắc, đao sơn đổi lại bửu sơn

    Khắp nơi bủa chật thiết sàng

    Hiện pháp tòa Bồ đề là đó

    Với chảo đựng đầy đồng trấp đỏ

    Sái đề hồ cam lộ vào đây

    Gặp người trái chủ hôm nay

    Buổi đó hết đòi hết hỏi

    Nhóm kiếp oan gia buổi trước,

    Cùng nhau thôi vấn thôi vương

    Dạ hưng từ ngục chủ yêu thương

    Lòng từ thiện minh quang bảo hộ

    Thân phụ mẫu đa sanh kim với cổ

    Nay thời nhập Thánh siêu phàm

    Nợ nhơn thân lụy thế hết còn

    Rày đã thừa ân giải thoát

    Cõi thiên thượng ngũ si chẳng hiện

    Miền nhơn gian tứ tướng có chi

    Tu la đà bỏ cả sân si

    Địa ngục lại hết điều khổ não

    Hồn ngạ quỉ nhộn nhàng sáu đạo

    Hứng gió thanh khỏi chốn lửa hồng

    Giống làm sanh chật nức mười loài

    Lên bờ giác lánh nơi đường tối

    Khắp xin cả hữu tình một nỗi

    Quốc độ này, quốc độ nọ

    Và vô lượng các quốc độ thảy

    Cùng nhau chung chứng chơn thường

    Lại nguyện cùng hàm thức mấy loài

    Thế giới đó, thế giới đây

    Và vô lượng các thế giới nào

    Buổi đó đều nên Phật đạo

    Tứ ân khắp báo

    Tam hữu đều nhờ

    Người trong pháp giới bao giờ

    Ai ai cũng đồng nên chưởng trí.

    – Trích soạn “Kinh Nhựt Tụng ” Chùa Niệm Phật – Bình Dương 1974.

    SÁM CẦU SIÊU THỦY LỤC VỚT VONG

    (Thí thực cô hồn 13)

    Nam mô Từ phụ Di Đà,

    Xin ngài cứu khổ Ta bà trầm luân.

    Thương đời bá tánh vạn dân,

    Các hồn hoạnh tử cõi trần thác oan.

    Thế gian mong được an nhàn,

    Khai đàn Thủy lục làm đàn vớt vong.

    Chết ao, khe, biển, suối, sông,

    Linh đinh trôi nổi số đông quá nhiều.

    Gió giông bão tố thủy triều,

    Thảm thương thân xác dập dìu nổi trôi.

    Hồn phi phách lạc mất rồi,

    Cá ăn, sấu nuốt, khổ thôi đủ điều.

    Cõi đời sanh tử mơi chiều,

    Sống nơi hầm lửa đốt thiêu thân mình.

    Lại còn giặc giã đao binh,

    Trúng nhằm súng đạn thình lình mạng vong.

    Núi rừng đồng rộng biển sông,

    Các hồn oan ức nguyện đồng tiêu diêu.

    Hôm nay khẩn đảo cầu siêu,

    Những hồn chìm đắm thủy triều tai ương.

    Sông sâu biển rộng bốn phương,

    Sa chơn đắm đuối vấn vương khổ sầu.

    Thành tâm lạy Phật khẩn cầu,

    Độ hồn lên khỏi biển sâu vào bờ.

    Linh đinh hồn vía mịt mờ,

    Nương nhờ Phật lực kịp giờ cứu an.

    Cầu cho hồn đặng nhẹ nhàng,

    Thủy Long thần nữ dẫn sang hồn về.

    Hồn về cảnh Phật đề huề,

    Kíp nghe kinh kệ trầm mê khỏi nàn.

    Quan Âm đại sĩ từ hàng,

    Cứu hồn ra khỏi sáu đàng trầm luân.

    Nguyện cho hồn đặng vui mừng,

    Khỏi nơi lạnh lẽo gian truân khổ sầu.

    Nương nhờ Phật lực nhiệm mầu,

    Thả đèn thủy lục, bắt cầu vớt vong.

    Vớt vong khỏi chốn suối sông,

    Về nơi no ấm non bồng tiêu dao.

    Đưa vong khỏi biển ba đào,

    Đến nơi bờ giác lên mau lạ thường.

    Nam Mô Địa Tạng Minh Vương,

    Vì lời đại nguyện xót thương Ta bà.

    Chúng sanh chìm đắm hải hà,

    Cầu ngài cứu vớt vượt qua biển trần.

    Nổi trôi khổ sở tấm thân,

    Âm nhơn lạnh lẽo muôn phần thiết tha.

    Nam mô đức Phật Thích Ca,

    Cầu ngài tế độ vớt mà vong linh.

    Ở trong thế giới U Minh,

    Dẫn qua Cực lạc vãng sanh Liên trì.

    Nguyện ngài giáo chủ A Di,

    Độ vong trầm nịch đồng qui Liên thành.

    Ở yên mát mẻ tu hành,

    Cầu cho giải thoát hóa sanh sen vàng.

    Nam mô Tịnh độ Lạc bang,

    Độ vong hồn đặng Tây phang mau về.

    – Trích xuất từ “Pháp môn tu Tịnh Độ” Niết Bàn Tịnh Xá – Vũng Tàu ấn hành, 1970, Tr. 313-315.

    – Bài này dùng để tụng trong đàn thủy lục vớt vong ở bờ biển, bên sông, có thêm nghi thức vớt vong và cầu siêu chư linh. Vì thế nên không phải là bài phổ biến. Tuy nhiên, có thể dùng tụng ở các đàn kỳ siêu, chẩn tế, thí thực ở chùa, ở nhà cũng được.

    VĂN HỒI HƯỚNG CÚNG THÍ

    (Thí thực cô hồn 14)

    Bích Liên Pháp Sư

    SÁM TÁN KHÔ LÂU

    (Thí thực cô hồn 15)

    Bích Liên Pháp Sư

    Hôm qua đồng vắng ngoạn du

    Thấy liền Đại đức khô lâu một vùng

    Bốn bên ghê gốc bịt bùng

    Mồ hoang cỏ mọc, mây trùng xanh xanh

    Dàu dàu âm khí lạnh tanh

    Lá sen thổi ngọn, gió quanh đưa sầu

    Khô lâu ơi hỡi! Khô lâu

    Quê người ở mé giang đầu thiu thiu

    Nằm phơi ngọn gió, chìu hiu

    Cỏ giăng nệm đất, trăng khêu đèn trời

    Phèo phèo khí lạnh đòi nơi

    Anh em lai vãng, có người nào đâu

    Khô lâu ơi hỡi! Khô lâu

    Ấy người quân tử ở đâu bên đường

    Nhà ai vang vọng đêm trường

    Mưa tuôn gió thổi, tuyết sương khác nào

    Đau thay gan ruột như bào

    Chan chan hạt lụy, như trào dòng châu

    Khô lâu ơi hỡi! Khô lâu

    Đôi khuôn con mắt, thấy đâu chốn này

    Xiết thay, người thế ra chi

    Kiếp phù sanh gởi tháng ngày bao lăm

    Ác vàng thỏ bạc xa xăm

    Bóng quang âm thoắt, trăm năm mấy hồi

    Dần dà chi nữa người ơi

    Sớm lìa biển khổ, cho rời kiếp ma

    Hôm nay thiện tín trai gia

    Nghi diên mở hội, gọi là “minh dương”

    Lò vàng vừa bén mùi hương

    Đạo tràng mời khắp mười phương cô hồn

    Bao nhiêu tội chướng để dồn

    Bây giờ tiêu hết chi còn nữa đâu

    Ân triêm phước lợi thắm mầu

    Mau mau dời bước lên chầu Tây phương.

    – Bài do Hòa Thượng Bích Liên – Bình Định, diễn nôm khoảng năm 1940.

    – Chép lại từ bản thảo “Nghi cúng cô hồn” của Hòa Thượng Thành Lệ, Bến Tre

    TRẠO VĂN DIỄN ÂM

    (Thí thực cô hồn 16)

    Bích Liên Pháp Sư

    Hôm nay cúng thí trai đàn,

    Dây nhân duyên gặp A Nan cơ lành.

    Quan Âm cứu khổ đã đành,

    Hiện làm Tiêu Diện quỉ hình lạ thay.

    Niệm câu Mô Phật từ bi,

    Tuyên lời bí mật đức dày công cao.

    Độ người thập loại nao nao,

    Mùi cam lồ ấy hưởng vào một phen.

    Trước đây triều đại còn truyền,

    Lên ngôi đế chúa sẵn quyền tôn vinh.

    Hầu vương huân thích vang danh,

    Cây vàng lá ngọc tập tành tiếng sang.

    Trung cung, Tể chấp, đại quan,

    Kìa trang thể nữ, nọ hàng tần phi.

    Điềm hoa tươi đã vứt đi,

    Mùi cam lồ hưởng tiệc này phải chăng.

    Hàng quốc sĩ, bậc triều thần,

    Dọc ngang trong cõi hồng trần giúp xong.

    Chăn dân bủa hóa giữa giòng,

    Nào hay chưa toại tấm lòng trung lương.

    Đau lòng một chiếu thôi thương,

    Phải khi trích án sa trường biên bang.

    Hồn còn trìu mến giang san,

    Tiệc cam lồ hỡi, vội vàng đôi chân.

    Người võ sĩ, kẻ nhung thần,

    Một tay thống lãnh ba quân nhộn nhàng.

    Băng xông trăm trận mũi vàng,

    Trống rầm rộ đất, chiêng vang rân trời.

    Đánh Nam dẹp Bắc tơi bời,

    Chiến trường phút sẩy chân người vào trong.

    Tấm lòng vì nước mà vong,

    Tiệc cam lồ chứng hội đồng đêm thanh.

    Những người học cổ cùng kinh,

    Chức văn chương khéo như hình gấm thêu.

    Bóng quang, hột tuyết dòm theo,

    Chí trong cửa sổ nghiệt nghèo xiết bao!

    Ta đà mạng vận làm sao,

    Bảng vàng chẳng thấy lúc nào đề danh.

    Hương hồn uất uất chi linh,

    Mùi cam lồ đã sẵn dành tiệc xuân.

    Những người cắt ái từ thân,

    Cửa không sớm đã chân lần vào trong.

    Tầm thầy hỏi đạo Thiền tông,

    Chút vì muốn thoát khỏi vòng tử sanh.

    Trải bao lạnh nắng xoay quanh,

    Sự vô thường đã đến mình nào hay!

    Hồi quang soi chút bóng dày,

    Mùi cam lồ hưởng đêm nay bỉ bàng.

    Những người võ phục huỳnh quan,

    Sớm đã quyết chí theo đàng tu chơn.

    Luyện hoàn thuốc, nấu lò đơn,

    Dưỡng trong cái tánh, cho hoàn khí nguyên.

    Lao thần khổ hạnh đòi phen,

    Chỉ mong lên đặng ngôi tiên mới đành.

    Thôi đừng tiếc chút dị hình,

    Tiệc cam lồ đã sẵn dành vị thanh.

    Những người con thảo cháu lành,

    Với người nghĩa dũng trung thành xưa kia.

    Những người liệt nữ trinh thê,

    Cái thân coi chết như về đâu đâu.

    Với người trọng tiết vong xu,

    Khí tinh anh để ngàn thu còn truyền.

    Hồn còn chói lọi linh thiêng,

    Đến đây hưởng thọ một diên cam lồ.

    Những người đạo nữ Ni đồ,

    Chốn huỳnh môn ấy năm mùa gởi thân.

    Phụng loan bỏ khống duyên phần,

    Nhơn gian chẳng nhiễm sự trần chút chi.

    Còn chưa liễu đặng vô vi,

    Nước trôi sóng lãng ra gì tử sanh!

    Hồn người thăm thẳm thanh thanh,

    Vị cam lồ đã phỉ tình cho chăng?

    Những người địa lý thiên văn,

    Nghề hay y dược chứa thầm âm dương.

    Bói qui, dịch sủ qui vàng,

    Kẻ tinh coi gió, người tường bủa sao.

    Mách người hung kiết biết bao,

    Vô thường để khỏi mang vào hoạn thân.

    Thôi rày xả ngụy qui chân,

    Cam lồ bảo mãn mười phần tiệc hương.

    Những người tọa mãi hành thương,

    Cả bao nhiêu món ngoài đường kinh doanh.

    Lắm hay nghề nghiệp mưu sanh,

    Toan phường tài lợi trong vành bán buôn.

    Quê xưa hương tỉnh bỏ luôn,

    Chết chôn đất khách, theo phương cảnh người.

    Một niềm lữ mộng vơi vơi,

    Mùi cam lồ đã khắp rời u minh.

    Những người phạm pháp tạo hình,

    Ngục tù buộc mãi lấy mình vào nơi.

    Hại người toan lấy của người,

    Oan gia trái chủ trả đời nào xong!

    Người tật ác, kẻ tai hung,

    Hoặc là đói khát lạnh lùng vong thân.

    Suối vàng kíp kíp đôi chân,

    Mùi cam lồ ấy, thọ phần thanh lương.

    Những người ngựa đạp, xe thương,

    Vách đè thân nát như tương rã rời!

    Kẻ suông roi quỉ, sấm trời.

    Kẻ cam tự vận, người thời huyền lương.

    Hoặc là thủy hỏa tai ương,

    Kẻ suông độc rắn, người vương miệng hùm.

    Hồn người bất hạnh trầm trầm,

    Một cam lồ rưới dầm dầm xiết bao.

    Những người âm huyết dương mao,

    Chỗ sanh trưởng vốn ẩn vào man di.

    Thi công mà trả nợ đày,

    Kẻ làm lẽ mọn, người thì tớ tôi.

    Hoặc người ngọng, lịu, điếc, đui,

    Tật nguyền chẳng có nơi chui đụt nào.

    Hồn người oan khổ biết bao,

    Mùi cam lồ hưởng dạt dào tiệc hoa.

    Những người ngỗ nghịch mẹ cha,

    Oán rủa trời đất, mắng la đốt bằm.

    Những người chê Phật khinh Tăng,

    Đốt hủy kinh tượng hung hăng nhiều bề.

    Lắm điều tà kiến trầm mê,

    Chịu trong khổ báo ê chề chẳng thôi.

    Hồn người thật ác, thương ôi,

    Mùi cam lồ hưởng cho rồi tiệc hoa.

    Cửa nhà đại thí mở ra,

    Hãy xin tiến bạt cho ma cô hồn.

    Tiên vong hòa tổ hòa tôn,

    Oan gia trăm họ cũng dồn về đây.

    Đường ba, nạn tám thiếu chi,

    Bao nhiêu bình đẳng, đêm này siêu thiên.

    Cậy chưng Phật Pháp quang miên,

    Mùi cam lồ hưởng một diên ê hề.

    A Di Đà Phật Bồ Đề,

    Xưa kia sẵn có lời thề vô biên,

    Đường mê trông thấy nhãn tiền,

    Đắm phiêu biển khổ liền liền thảm thay!

    Ngậm ngùi vội duỗi hai tay,

    Thuyền từ chống thẳng vớt ngay mọi người.

    Nguyện cho khắp chỗ ai ơi,

    Chúng sanh đều đến nhập nơi Liên trì.

    – Đây là bài diễn nôm của Hòa Thượng Bích Liên – Bình Định soạn, khoảng năm 1940.

    – Bài này dùng để tán trạo, một loại tán có nhạc hòa cùng sử dụng trong lễ chẩn tế cô hồn, thay cho 12 câu thỉnh trong Du Già Trung Khoa.

    VĂN THỈNH THẬP LOẠI CÔ HỒN

    (Thí thực cô hồn 17)

    Bích Liên Pháp Sư

    Dấu người thập loại biết là đâu?

    Hồn phách mơ màng trải mấy thu,

    Cồn biển nghinh ngang bầu thế giới,

    Những mồ vô chủ thấy mà đau!

    Tịch mịch dạ canh thâm,

    Hoa Đàm bá phạm âm,

    Cô hồn văn triệu thỉnh,

    Bộ bộ tốc lai lâm.

    – Nhứt tâm triệu thỉnh:

    Ác vàng tên ruỗi,

    Thỏ bạc thoi dong,

    Ôm lòng đau, cốt nhục nỗi xa trông,

    Sửng mắt nhắm, anh hùng còn đâu đó!

    Lò bảo đảnh, màu hương nhen mới tỏ,

    Giọng thiền lưu, rày ngõ với vong linh,

    Nghe lời triệu thỉnh đành rành,

    Hồn chơi trong cõi U minh xin về.

    – Nhứt tâm triệu thỉnh:

    Màu non lờ lạc,

    Dòng nước thầm thì,

    Xuân đi rồi, hoa hỡi còn đây,

    Người mới đó, chim rày đã lặn.

    Vài lượt thắp, hương trầm bay tứ tán,

    Đôi phen mời, linh sản ở đâu đây,

    Vong linh ơi hỡi có hay,

    Nghe lời triệu thỉnh, kíp day cõi trần.

    – Nhứt tâm triệu thỉnh:

    Biển trần lênh láng,

    Sóng nghiệp lao xao,

    Người mê man trong giấc chiêm bao,

    May tỉnh đặng, phân hào trong huyền diệu.

    Sống chẳng niệm Di Đà Phật hiệu,

    Uổng một vòng chơi nẻo nhân gian,

    Đầy ba phen, hương thắp bảo đàn,

    Ba lần triệu thỉnh, suối vàng hồn linh.

    Xin vâng Tam Bảo pháp lành,

    Nương lời bí mật, đêm thanh trở về.

    Về đây hưởng thọ hương huê,

    Cam lồ pháp thực, ê chề thiếu chi.

    – Trước thỉnh kẻ, hoàng vương đế bá,

    Triều đại xưa, trải quá biết bao!

    Đền đài chín lớp ở cao,

    Non sông muôn dặm chiếm vào một tay.

    Thuyền chiến phút đổi thay vượng khí,

    Xe loan còn rầm rĩ vắng thinh,

    Đỗ quyên kêu trót tàn canh,

    Mây buồn đượm mãi trên cành đào hoa.

    Trước sau vương bá những là,

    Hồn hương xin chứng tiệc hoa sẵn sàng.

    – Lại thỉnh kẻ đăng đàn bái tướng,

    Dựng ngọn cờ bảo thưởng hầu quan,

    Ngàn cân, lực cử đảnh vàng,

    Thân trường thành vững trăm ngàn dặm khơi.

    Trướng hùm lạnh, luống đời Hạng Mã,

    Khói lang tàn, nào gã Phàn Long,

    Ngựa xe chiến tướng vắng không,

    Hoa lùa cỏ nội mấy vùng buồn thiu!

    Anh hùng tướng soái bao nhiêu,

    Pháp diên hãy chứng ít nhiều phải chăng?

    – Lại thỉnh kẻ: Ngũ lăng tài tuấn,

    Phẩm hiền lương, bách phận danh thần.

    Ba năm thanh tiết làm quan,

    Lòng son một tấm, trung quân rõ ràng.

    Nhà châu huyện, xa làng phụ mẫu,

    Xóm nước trời, theo dấu thần tiên,

    Chinh chinh biển loạn sóng ngàn,

    Mờ mờ hồn bướm ly miền dương quang.

    Văn thần xiết kể muôn ngàn,

    Chốn này xin chứng Pháp đàn kính dâng.

    – Lại thỉnh kẻ: Tao ông mặc khách,

    Lối cửa hoàng, nhà bạch vào ra,

    Rừng văn nhẹ bước, Thám hoa,

    Ngàn cung bút chiến, chơi trò các vi.

    Tan bữa đốm, tiếc dày công học,

    Mòn dĩa nghiên, uổng nhọc chí bền,

    Lụa hồng bảy thước đề tên,

    Đất vàng một cụm, lấp nền văn chương.

    Văn nhân biết mấy đâu lường,

    Hồn hoang xin chứng tiệc hương mấy phần.

    – Lại thỉnh kẻ: Xuất trần phi tích,

    Thượng sĩ kìa với khách Cao Tăng,

    Trai tinh ngũ giới, đạo hằng,

    Gái Tỳ khưu, lại đủ ngằn nét tu.

    Làn hoa trúc, vài câu mật đế,

    Nhà hổ-nô, vắng kệ khổ không,

    Tam canh song tẩm lạnh lùng,

    Nhà thiền leo lét đèn chong canh dài.

    Trung lưu này những bi ai,

    Chơn hồn xin hãy chứng lai pháp đàn.

    – Lại thỉnh kẻ: Huỳnh quan dã khách,

    Dòng vũ y phong cách nhà tiên,

    Tu chơn trong động đào nguyên,

    Trước châu lãng uyển, khí rèn tánh tu.

    Trời nêu tiếng, tam lưu chưa toại,

    Đất chôn hồn, tứ đại Diêm Vương,

    Lò đơn lẫm quán lạnh sương,

    Tiêu đàn gió thảm, thổi tàn hạnh hoa.

    Bao nhiêu đạo sĩ những là,

    Mùi hương phó cảm, thấu nhà hư vô.

    – Lại thỉnh kẻ: Giang hồ cơ lữ,

    Đường bắc nam trải thử hành thương,

    Lợi quyền muôn dặm, toan đương,

    Ngàn vàng trữ lại trong hàng hóa buôn.

    Thân sương gió, thịt chôn bụng cá,

    Bước đá mây, xương rã đường dê,

    Phách theo mây cuốn sè sè,

    Hồn theo ngọn nước xuôi về biển Đông.

    Thương nhân, sau trước một dòng,

    Bữa nay xin chứng vào trong tiệc đàn.

    – Lại thỉnh kẻ: Lướt xông chiến trận,

    Sức phương cường, mình bận áo binh,

    Cờ điều phất bóng tương tranh,

    Trong chòm mũi bạc, đan mình chống đương.

    Ruột gan nát, thao trường kim cổ,

    Da thịt rơi, đầy chỗ can qua,

    Cát vàng văng vẳng tiếng ma,

    Mờ mờ sương trắng ai mà thấu cho.

    Xưa nay mấy kẻ tốt đồ,

    Đêm này xin hưởng cam lồ tiệc trai.

    – Lại thỉnh kẻ: Nghén thai mười tháng,

    Lót chiếu rơm ngồi mãn ba ngày,

    Trước mừng loan phụng hiệp bầy,

    Sau thì trông giấc hùng bi cho tường.

    Vầng cung phụng, phút tường hung cát.

    Tuồng ngỏa chương, rơi nát mẹ con,

    Nhành hoa nở, trận mưa tuông,

    Đường khi trăng tỏ, gặp cuồng mây xâm.

    Những người sản nạn qui âm,

    Nghe lời triệu thỉnh, lai lâm pháp đàn.

    – Lại thỉnh kẻ: Bốn phương mọi rợ,

    Với những người ú ớ điếc đui,

    Chết mình, tôi tớ lui thui,

    Liều thân hầu hạ, bởi người ghen tương.

    Khinh Tam Bảo, tội dường cát bãi,

    Nghịch song thân, ác dẫy cõi người,

    Đêm trường thăm thẳm bóng mơi,

    Cửa mù thiu thỉu như trời thu đông.

    Những người bội nghịch hoang hung,

    Pháp diên xin chứng vào trong cho đầy.

    – Lại thỉnh kẻ: Cung khuê thuở trước,

    Gái má đào, sắc nước kém đâu,

    Bức tranh chỉ phấn, đua nhau,

    Áo quần long xạ, ganh màu thiên hương.

    Hồn vân vũ, tan vườn kim cốc,

    Ruột trăng hoa, héo trạm mã khôi,

    Phong lưu ngày trước đâu rồi,

    Xương khô lạnh lẽo trong chồi cỏ cây.

    Những trang xinh tốt xưa nay,

    Lửa hương xin chứng tiệc chay bỉ bàng.

    – Lại thỉnh kẻ: Cơ hàn khất cái,

    Cùng tù nhơn mang phải trọng hình,

    Gặp tai nước lửa hại mình,

    Hoặc truông hùm sói, tan tành thịt xương.

    Khí oán, mãi đầy dường thuốc độc,

    Hồn kinh, vì sấm lốc mờ xiêu,

    Mưa chiều khói lạnh nước reo,

    Lá thu gió thổi dập dìu như bay.

    Những người hoạnh tử xưa nay,

    Cam lồ rày đã sẵn bày tiệc hương.

    – Lại thỉnh kẻ: Sáu đường pháp giới,

    Những cô hồn mười loại đâu đây,

    Diện-Nhiên sở thống một tay,

    Nòi kia dịch-lệ, giống này trần-sa.

    Nương cây cỏ, bóng ma mường tượng,

    Ly-mỵ, hòa vọng-lượng uy danh,

    Hồn cô, phách trệ linh đinh,

    Tiên vong, với kẻ thân tình gần xa.

    Bao nhiêu tiệu thỉnh những là,

    Ai ai xin cũng chứng qua tiệc này.

    Nãy giờ mời thỉnh tỏ bày,

    Hồn linh xin hãy về đây chứng đàn.

    Cùng qui y Phật, Pháp, Tăng,

    Sửa mình niệm Phật, siêu thăng liên đài.

    A Di Đà Phật Như Lai,

    Từ bi tiếp độ hoa khai thoát trần.

    – Trích trong “Khóa chẩn tế cô hồn nghĩa.” – Hòa Thượng Bích Liên soạn diễn Nôm, khoảng năm 1940. Chùa Viên Giác Tân Bình tàng bản.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Cúng Đầy Tháng Cho Bé Trai, Bé Gái Mau Ăn Chóng Lớn
  • Ông Trùm Giải Trí Bí Mật Cưng Chiều: Cô Vợ Ngốc Ngọt Ngào
  • Sa Vào Trêu Ghẹo Vợ Yêu : Tổng Giám Đốc Vô Cùng Cưng Chiều
  • Văn Khấn Tết Trung Nguyên (Rằm Tháng 7 Âm Lịch)
  • Dropdeck Giành Giải Nhất Cuộc Thi Start Jerusalem 2021
  • Mâm Quả Cưới Miền Nam Gồm Những Gì? Ý Nghĩa Của Từng Loại

    --- Bài mới hơn ---

  • #6 Mâm Quả Đám Cưới Miền Nam Theo Phong Tục
  • Bật Mí Về Ý Nghĩa Của 6 Mâm Quả Đám Cưới Miền Nam
  • Mâm Quả Đám Cưới Miền Nam Gồm Những Gì?
  • Mâm Quả Cưới Miền Trung Bao Gồm Những Gì?
  • Mách Nước Giúp Bạn Chuẩn Bị Mâm Quả Cưới Miền Trung Đúng Và Đủ
  • Trầu cau trong mâm quả cưới miền Nam

    Dù ở miền Bắc, miền Nam hay miền Trung ngày cưới không thể thiếu được những mâm quả. Đây được xem như đồ vật tượng trưng cho lễ nghĩa, cho tấm lòng thành mà nhà trai muốn dành cho nhà gái. Ở miền Nam sẽ có 6 mâm quả trong đám hỏi tùy vào điều kiện kinh tế và phong tục của từng địa phương lễ vật cưới cũng có sự thay đổi cho phù hợp. Tuy nhiên trầu cau thì không thể thiếu.

    Theo quan niệm của người dân miền Nam, trầu cau là sinh vật quan trọng nhất, mang ý nghĩa về mong muốn gắn kết, sự thưa hỏi chính thức của nhà trai với nhà gái. Nếu như người miền Bắc thường chuẩn bị số cau chẵn thì người miền Nam lại chuẩn bị số cau lẻ, đơm theo quy tắc 1 quả cau 2 lá trầu. Thông thường, tráp cau sẽ có tổng cộng 105 quả và 210 lá mang ý nghĩa về sự hạnh phúc, đủ đầy. Ngoài bày biện trong tráp cưới, trầu cau còn được têm cánh phượng và bày trên bàn tiệc trong ngày cưới mang đến nhiều điều may mắn.

    Rượu, trà và nến

    Trong mâm quả cưới miền Nam tráp cưới thứ hai sẽ bao gồm nến, trà và rượu. Đây là mâm quả thể hiện mong ước được tổ tiên chứng giám và chúc phúc cho cuộc hôn nhân sắp tới. Rượu là đồ vật tượng trưng cho cuộc sống hôn nhân với đầy đủ cay, đắng, ngọt, bùi. Tuy nhiên đôi vợ chồng trẻ sẽ vẫn nỗ lực và cố gắng để vượt qua tất cả.

    Ngoài rượu trong tráp hỏi thứ 2 còn có trà và cặp nến có khắc hình long phụng. Cặp nến này sẽ được đặt lên bàn thờ tổ tiên tại gia đình nhà gái. Chỉ có người miền Nam và miền Trung mới cần có cặp nến long phụng, tráp cưới của người miền Bắc không cần phải có nến. Trà Tân Cương là thứ đồ uống có hương vị dịu nhẹ, chan chát nơi đầu lưỡi và ngọt lịm nơi cuống họng. Ý nghĩa của trà là dù cho cuộc sống hôn nhân có muôn vàn khó khăn thì cuối cùng cũng sẽ vượt qua được tất cả nên như cặp đôi biết nỗ lực, cố gắng.

    Bánh xu xê trong tráp cưới

    Có rượu, có trà, có trầu cau đương nhiên cũng không thể thiếu được bánh ngọt. Người miền Nam thưởng sử dụng bạn xu xê để xếp vào tráp hỏi mang sang nhà gái, loại bánh này tượng trưng cho sự hòa hợp giữa trời và đất, thể hiện mong ước về sự gắn bó, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau của cặp vợ chồng trẻ. Ngoài ra một số gia đình còn sử dụng bánh cốm thay cho bánh xu xê hoặc sử dụng kết hợp cả 2 loại bánh đều được.

    Sự khác biệt trong văn hóa của mỗi vùng miền là không thể tránh khỏi. Điều này tạo nên những nét đặc trưng riêng, đi sâu vào tâm khảm của người dân từng địa phương. Bánh xu xê ngày cưới của người miền Nam thường được nắm theo hình vuông sau đó gói lại một cách tỉ mỉ bằng lá dứa bên trên có dán chữ hỷ thể hiện tấm lòng thành của nhà trai.

    Tráp hoa quả kết rồng phượng

    Mâm quả cưới miền Nam nếu như thiếu đi mâm hoa quả kết rồng phượng thì quả thật là điều vô cùng thiếu sót. Miền nam được xem là nơi có khí hậu ôn hòa, hoa quả, trái cây đa dạng, phong phú. Chính vì thế những tráp cưới “chất” đầy hoa quả không thể thiếu trong ngày trọng đại nhất.

    Mâm hoa cưới miền Nam với tráp hoa quả thường bao gồm các loại như nho, táo, mãng cầu, xoài, đu đủ… Bên trên có đan xen thêm các loại lá kết thành hình rồng phượng vô cùng đẹp mắt. Mâm lễ vật này mang ý nghĩa về một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đủ đầy, mong ước cặp đôi sẽ sống sung sướng đến đầu bạc răng long. Thường thì người dân miền Nam sẽ không chọn những loại quả có vị chua, chát hay nhưng quả có cái tên không mấy may mắn như lựu, chuối…

    Tráp quả chính là điểm khác biệt trong mâm quả cưới miền Nam với miền Bắc. Tại miền Bắc rất ít địa phương lựa chọn hoa quả để đem đến nhà gái, một phần vì hoa quả khá nặng, khó di chuyển. Tuy nhiên dù phong tục mỗi nơi có khác nhau nhưng tấm lòng thành nhà trai dành cho nhà gái là không hề thay đổi.

    Mâm xôi gấc trong lễ cưới người miền Nam

    Nếu như người miền Bắc có mâm xôi, con lợn quay trong tráp quả thì người miền Nam cũng sử dụng xôi gấc để biểu đạt tâm ý. Xôi gấc là loại xôi có màu đỏ thuận tự nhiên, mang ý nghĩa về một cuộc hôn nhân nồng nàn, gắn bó và yêu thương lẫn nhau. Sau một thời gian tìm hiểu cả cô dâu và chú rể đã quyết định đi đến hôn nhân, mâm xôi này chính là tượng trưng cho cuộc sống hôn nhân viên mãn sau này.

    Sự kết dính của mâm xôi thể hiện tấm lòng chung thủy, son sắt, sự gắn kết cùng nhau vượt qua khó khăn và gian khổ. Mâm xôi có thể có thêm gà luộc, hoặc chỉ có xôi tùy vào sự thỏa thuận của hai bên nhà trai và nhà gái. Nhưng thường thì ngày nay người ta hay chọn xôi không để đảm bảo vệ sinh và tiện cho việc vận chuyển.

    Heo quay trên mâm quả

    Heo là loài vật có ngoại hình to lớn, được nuôi để phục vụ cho đời sống của người dân. Ngày cưới trong phong tục của người miền Nam cần phải chuẩn bị một mâm quả bên trên đặt một chú heo quay. Tráp cưới này xuất hiện cả trong phong tục cưới của người miền Bắc từ rất lâu. Heo quay nên chọn những con có bề ngoài không quá to, cũng không quá nhỏ, cân đối nhằm thể hiện sự trọn vẹn trong hôn nhân cũng như dễ dàng hơn cho việc di chuyển tráp từ nhà trai sang nhà gái.

    Nếu như tráp quả mang hương vị ngọt ngào thể hiện mong muốn về một cuộc hôn nhân lãng mạn, tráp rượu hội tụ đầy đủ những cung bậc cảm xúc trong cuộc hôn nhân thỉ tráp heo quay với vị béo ngậy của thịt lại dung hòa cho tất cả. Heo quay mang hàm ý về một cuộc sống sung túc, đồ ăn đầy đủ, no ấm và bình yên. Nếu như trong mâm quả cưới miền Nam xôi gấc không sử dụng gà luộc thì người ta thường sẽ dùng lợn quay để thay thế đem đến sự may mắn.

    Mâm quả cưới miền Nam với 6 tráp khác nhau thể hiện mong muốn về một cuộc hôn nhân viên mãn, sự nghiêm túc cũng như ước vọng được trở thành thông gia giữa hai họ. Mọi thứ chuẩn bị cho đám cưới phải hoàn hảo và trọn vẹn nhất làm tiền đề chắc chắn tạo lập hạnh phúc sau này của các cặp đôi.

    Blog Hải Trà Tân Cương chia sẻ kiến thức về các loại trà, review đánh giá, kiến thức tổng hợp về sức khỏe, một chút về Tâm Linh, chút ít mẹo vặt, kiến thức du lịch và địa điểm hay, mục đích blog này là chia sẻ và cung cấp cho bạn kiến thức mới, ngoài ra tôi khuyên bạn tìm hiểu kỹ hơn ở nơi khác để đưa ra quyết định chính xác.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phong Tục Mâm Quả Đám Hỏi Miền Nam Khác Biệt Như Thế Nào
  • Mâm Quả Ngày Cưới Gồm Những Gì
  • 6 Mâm Quả Đám Cưới Gồm Những Gì Trong Đám Hỏi Người Miền Nam?
  • Mâm Quả Cưới Miền Trung Gồm Những Gì Đúng Với Ông Bà Xưa
  • 6 Mâm Quả Đám Cưới Gồm Những Gì Là Đúng Phong Tục
  • Những Loại Trái Cây Chưng Bàn Thờ Ngày Cưới Đẹp Và Ý Nghĩa

    --- Bài mới hơn ---

  • Rồng Phụng Trái Cây Chưng Bàn Thờ Ngày Cưới Mẫu Mới Đẹp Cho Mùa Cưới (4)
  • Top 7 Loại Trái Cây Chưng Bàn Thờ Ngày Cưới Cần Phải Biết
  • Chuẩn Bị Mâm Ngũ Quả Bày Bàn Thờ Gia Tiên
  • Mâm Ngũ Quả Thờ Cúng Gia Tiên Đẹp Nhất Từ Chất Liệu Gì?
  • Ý Nghĩa Sức Khỏe Mâm Ngũ Quả Ngày Tết
  • Mỗi loại trái cây đều mạng một ý nghĩa riêng biệt thể hiện mong muốn, những điều tốt đẹp mà gia chủ hướng tới. Vì thế việc lựa chọn trái cây để cúng rất quan trọng. Nên lựa chọn những loại trái cây tươi tốt, chín vừa đến, quả đồng đều đẹp và sạch sẽ. Hạn chế chọn những loại quả quá chín, hư hỏng, dập úng, sâu bệnh bởi những loại quả này sẽ đem đến vận xui trong tương lai của của những cặp vợ chồng mới cưới.

    Không nên chọn những loại quả trái với thuần phong mỹ tục như mít, sầu riêng, những chua, quả sống trong bụi… bời những quả này thường để ăn, ít khi sử dụng để cúng bái, đặc biệt là trong những ngày trọng đại như cưới hỏi.

    Các loại trái cây và ý nghĩa của những loại trái cây chưng bàn thờ ngày cưới

    Những loại trái cây nên được chưng trong các ngày cưới, ngày đính hôn

    1. Táo

    Quả táo mang ý nghĩa của tình yêu, sinh sản sự phát tài phát lộc trong cuộc sống, táo là loại quả rất phù hợp để đặt trên bàn thờ trong những cưới đem lại tình yêu vĩnh cửu và sự sum họp, đoàn tụ gia đình.

    2. Nho

    Quả nho biểu tượng cho tình yêu tươi đẹp hạnh phúc đong đầy hành phúc căng mọng như trái nho. Những chùm nho chi chít đem lại sự may mắn, con đàn cháu đống, con cái vợ chồng hòa thuận đoàn kết một lòng.

    3. Xoài

    Xoài là quả biểu hiện cho sự đầy đủ, cầu nhiều tiền của, làm ăn dư dả cho các cặp vợ chồng mới cưới. Theo dân miền nam quả xoài có ý nghĩa là “xài”.

    4. Cam

    Quả cam hầu như có mặt đầy đủ trong tất các ngày lễ cúng bái, ngày rằm, đám xá, đền chùa. Cam không chỉ là loại cung cấp nhiều chất dinh dưỡng cho cơ thể mà nó còn có ý nghĩa của sức khỏe, làm ăn may mắn. Cam tượng trưng cho thành tựu của tình yêu, của công việc luôn đong đầy hạnh phúc, nhiều tài lộc như trái cam to tròn.

    5. Thanh long

    Thanh long cái tên của loại quả đã nói lên vẻ đẹp của nó, đem lại nhiều tài lộc, may mắn tình yêu cũng như công việc giống như rồng thăng luôn hướng lên cao, hướng tới những điều tốt đẹp, những điều may mắn.

    6. Dứa

    Dứa thường được dùng để trang trí cho mâm quả, thường được làm thành đầu rồng thể hiện sự giàu sang, phú quý, tình yêu dài lâu, hạnh phúc như rồng phượng.

    Ý nghĩa mâm trái cây chưng bàn thờ ngày cưới đối với người miền Bắc

    Người dân miền Bắc thường rất chú trọng đến mâm quả khi chưng trên bàn thờ đặc biệt trong những ngày quan trọng như rằm, tết, đám cưới xin… Ở miền Bắc người ta quan niệm rằng một mâm hoa quả phải đầy đủ năm loại trái cây với năm màu sắc đem lại tài lộc, phú quý, hạnh phúc, giàu sang. Các loại quả phải được bố trí đồng đều, xen kẽ nhau để phù hợp với màu sắc và bà thờ.

    Ý nghĩa mâm trái cây chưng bàn thờ ngày cưới đối với người miền Trung

    Đối với dân miền trung các loại quả thông thường sẽ là những loại quả có sẵn. Các loại quả khi chưng bàn thờ không quá cầu kì bởi người miền trung thường xem trọng những nghi thức chứ không quá xem trọng vật chất. Tuy nhiên họ vẫn đầy đủ các loại trái cây đem lại sự hạnh phúc, bình an cho những đôi vợ chồng.

    Ý nghĩa mâm trái cây chưng bàn thờ ngày cưới đối với người miền Nam

    Khác với dân miền Bắc và miền Trung, người miền Nam yêu cầu lựa chọn những loại quả cao hơn. Dân Nam thường kiêng kị những loại quả họ cho là không may mắn như chuối, lê, cam, quýt… Bởi vì những loại quả này không đem tới may mắn, gây rạn nứt tình cảm, công việc xui xẻo, vợ chồng không hòa thuận, gia đình không hạnh phúc.

    Cách chưng mâm trái cây trên bàn thờ trong ngày cưới

    Với mỗi loại vùng miền nên sử dụng các loại trái cây phù hợp và cách bày trái cây lên bàn thờ khác nhau. Thông thường các loại trái cây chưng trên bàn thờ ngày cưới phải thật tươi tốt, sạch sẽ. Nên chọn những quả to đẹp đặt chính giữa mâm sau đó xen kẽ và đặt các loại quả khác xung quanh, nhớ chọn số lượng theo dạng số lẻ đặt các hướng ra ngoài để hứng lấy lộc, hứng lấy điều may mắn cho cuộc sống.

    Các bước cần làm khi chưng mâm trái cây trong ngày cưới

    B1 : Chuẩn bị đầy đủ các loại quả, rửa sạch, để ráo nước

    B2 : Sắp xếp các loại quả lên mâm, theo thứ tự to trước nhỏ sau và quy tắc 1 – 3 – 5 – 7 – 9 nghĩa là chưng các loại quả theo số lượng lẻ.

    B3 : Điều chỉnh, sắp xếp và thêm tiền lộc vào các chỗ còn lại của mâm quả, cuối cùng đặt vào chính giữa bàn thờ gia tiên.

    Mâm trái cây là thứ không thể thiếu và rất quan trong trong những ngày cưới hỏi. Vì thế bạn nên chú trọng đặc biệt trong việc lựa chọn từng loại trái cây để phù hợp với thuần phong mỹ tục của ông cha ta. Việc lựa chọn đúng, chuẩn các quả sẽ đem lại cho gia chủ cũng như vợ chồng gặp nhiều may mắn, tài lộc, làm ăn phát triển, tình duyên dài lâu, con cái no đủ.

    Như vậy là chúng ta đã tìm hiểu chi tiết các loại quả và ý nghĩa của các loại quả chưng trong bàn thờ trong ngày cưới. Cảm ơn các bạn đã cùng chúng tôi theo dõi hết bài viết này. Chúc các bà mẹ sắp có con dâu, rể cũng như các đôi vợ chồng trẻ có những mâm quả đúng, chuẩn để chưng trên bàn thờ trong ngày cưới.

    Tin khác:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mâm Quả Ngày Cưới Bộ 6 Quả Để Trên Bàn Thờ Rất Đẹp Và Thể Hiện Sự Long Trọng Của Đám Cưới
  • Bộ Mâm Quả Cao Cấp Kết Cườm Ren Tông Hồng Long Trọng Đặt Trên Bàn Thờ Ngày Cưới
  • Mâm Ngũ Quả Đặt Ban Thờ Ngày Cưới Ở Ba Miền Bắc
  • Dịch Vụ Mâm Quả Ngày Cưới Hỏi: Bộ Mâm Quả Sơn Mài Cao Cấp Chưng Đẹp Bàn Thờ Ngày Cưới
  • Dịch Vụ Mâm Quả Ngày Cưới Hỏi: Mâm Quả Trái Cây Tươi Ngon Và Trọn Gói Bộ Quả Chưng Bàn Thờ Ngày Cưới
  • Cúng Động Thổ Xây Nhà Cần Những Loại Trái Cây Nào ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Mâm Cơm Cần Chuẩn Bị Đầy Đủ Khi Dọn Về Nhà Mới
  • Địa Chỉ Cung Cấp Mâm Đồ Cúng Nhà Mới Giao Hàng Tận Nơi
  • Giải Đáp Chi Tiết: Mâm Đồ Cúng Nhà Mới Cần Những Gì Mới Đúng?
  • Thắp Hương 30 Tết Rước Ông Bà, Tổ Tiên Về Đón Tết Cần Chuẩn Bị Những Gì?
  • Cách Bốc Bát Hương Về Nhà Mới Gồm Những Thủ Tục Gì
  • Ý nghĩa quan trọng nhất của là mong muốn bình anh hạnh phúc. Bởi vì, việc này thuộc về tín ngưỡng tâm linh, không chỉ có người theo đạo hay không theo đạo đều quan tâm và coi đó là một nghi thức truyền thống.

    Bất kể tôn giáo, dân tộc nào thì mâm đồ cúng đều cần trái cây hoa quả – một thứ không thể thiếu. Những không hẳn ai cũng biết được ý nghĩa của từng trái cây trong đó, vai trò tầm quan trọng trong mâm ngũ quả. Bài viết này sẽ giúp gia chủ giải đáp thắc mắc để hiểu rõ hơn giá trị tâm linh của trái cây trên.

    CÚNG ĐỘNG THỔ XÂY NHÀ CÓ MỘT VỊ TRÍ QUAN TRỌNG TRONG LỄ ĐỘNG THỔ.

    Sự tin tưởng giá trị tâm linh, những người làm kinh doanh đều sắm sửa cho mình bàn thờ Thần Tài – Thổ Địa ở phía trước khu vực kinh doanh và bàn thờ Ông Công, Ông Táo trong bếp lúc của mình. Bời vì sự tin tưởng đó, tin rằng một bên phù hộ gia chủ làm ăn kinh doanh tấn tới, một bên phù hộ gia chủ bình yên, gia đình hạnh phúc.

    Vậy nên, khi khởi công động thổ, người ta thường cúng động thổ xây nhà. Nhằm mục đích báo cáo với các vị thần linh về việc động thổ quan. Ngoài ra, xin phép được xây dựng cơ sở vật chất trên đất thổ nhưỡng nơi đó.

    Nếu xem xét về mặt giá trị phong thủy. Đây là nghi thức đánh dấu việc khởi đầu của một công trình xây dựng. Bên cạnh đó cũng có thể coi như một chiêu PR cho dự án chủ đầu tư, mục đích thu hút vốn ( với công trình xây dựng quy mô lớn ).

    TẠI SAO CÚNG ĐỘNG THỔ XÂY NHÀ CẦN MÂM NGŨ QUẢ?

    Khi thực hiện lễ cúng động thổ, gia chủ hoặc nhà đầu tư sẽ dâng mâm ngũ quả. Sau đó, khấn vái thì nghi thức mới chính thức bắt đầu.

    Nếu nhìn nhận theo góc độ tâm linh thì ngũ quả là kết tinh từ tâm ý người cúng. Bởi vì, hầu hết đó là công sức lao động của người mới ra được thành quả là trái cây tươi ngon. Gia chủ sẽ dùng vật chất đổi lại công sức đó, rồi thành tâm dâng lễ vật cúng kiếng. Hi vọng công việc làm ăn thuận lợi, may mắn.

    TẠI SAO ĐA PHẦN HÌNH DẠNG TRÒN LÀ HÌNH DẠNG TRÁI CÂY CHỦ ĐẠO TRONG MÂM CÚNG ĐỘNG THỔ.

    Trừ chuối là trái cây có hình dạng bầu dục nhưng trong mâm đồ thì người ta chọn một nải nguyên vẹn. Kể cả những trái cây hình tròn đều thể hiện mong ước vẹn toàn tương tự như nải chuối, chọn vẹn đầy đủ như ý.

    Chắc chắn, mâm ngũ quả không thể thiếu bưởi ( bòng ), cam, táo, nho,…Tùy thuộc vào gia chủ chuẩn bị như thế nào thì sẽ xuất hiện chỉ năm trái cây trên mâm đồ cúng động thổ xây nhà thôi.

    Ý NGHĨA CHỌN VẸN TỪ TRÁI CÂY TRONG MÂM NGŨ QUẢ XUẤT HIỆN TRONG LỄ CÚNG ĐỘNG THỔ XÂY NHÀ.

    Chuối (Đông Phương): Đại diện cho thuộc tính Mộc – Mang lại sự ổn định, vững chắc.

    Bưởi (Trung Phương): Đại diện cho thuộc tính Kim – Là màu tương ứng với vàng bạc, của cải, sự hoàn kim.

    Hồng đỏ (Nam Phương): Đại diện cho thuộc tính Hỏa – Mang đến nhiều may mắn trong làm ăn.

    Lê trắng (Tây Phương): Đại diện cho thuộc tính Thủy – Tượng trưng cho sự thuận lợi.

    Mận tím, hồng xiêm hoặc cái loại quả có màu sậm (Bắc Phương): Đại diện cho thuộc tính Thổ – Là sự tương sinh, phát triển.

    YÊU CẦU CỦA MÂM NGŨ QUẢ CÚNG ĐỘNG THỔ XÂY NHÀ.

    Đầu tiên, quả phải tươi ngon, đẹp mắt, không bầm dập. Sau đó, nên chọn các loại quả không quá chín, xanh già, còn cuống và lá xanh để giữ được lâu. Không thể thiếu, quả cần phải được rửa sạch sẽ. Khi thực hành lễ cúng động thổ xây nhà cần bày lên đĩa cúng gọn gàng, đẹp mắt.

    Bên cạnh đó, gia chủ cũng không nên để quả hoặc các lễ vật cúng dưới đất, nơi mà người bước qua bước lại vì sẽ mất đi tính tôn nghiêm.

    Cuối cùng, chọn các loại quả có nhiều hạt, nhiều múi. Vị quả nên ngọt ngào, thơm mát. Bởi theo phong thủy, đó là tượng trưng cho sự sinh sôi phát triển, tài lộc và hạnh phúc.

    Nhu cầu xây dựng nhà cửa càng gia tăng nhiều, thời gian gia chủ bận rộn với công việc hiện tại. Do đó, không có nhiều thời gian tập chung cho công việc chuẩn bị đồ cúng. Để tránh trường hợp sai sót, gia chủ có thể tìm đơn vị phụ trách mảng dịch vụ để tham khảo. Tất cả đều vì một lễ động thổ tốt đẹp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mâm Cúng Tất Niên Là Nghi Lễ Văn Hóa Độc Đáo Của Người Việt
  • Hướng Dẫn Chuẩn Bị Mâm Cỗ Cúng Tất Niên Vào Những Ngày Tết Đơn Giản, Dễ Chuẩn Bị
  • Hướng Dẫn Chuẩn Bị Mâm Cỗ Cúng Tất Niên Chuẩn 3 Miền
  • Chuẩn Bị Mâm Cơm Cúng Tất Niên Như Thế Nào
  • Chuẩn Bị Mâm Cơm Cúng Tất Niên Như Thế Nào Cho Đúng?
  • Hướng Dẫn Cách Cúng Khai Trương Shop Quần Áo Đúng Cách Để Làm Ăn Phát Đạt

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Gia Tiên Xin Bán Đất, Bán Nhà Cho Đúng Đạo, Đúng Phép
  • Văn Khấn Ban Thần Tài Ngày Rằm Tháng 7
  • Bài Cúng Cô Hồn Tháng 7 Nhiều Nhà Tin Dùng
  • Văn Khấn Ngoài Trời Ngày Mùng 1 Và 15 Hàng Tháng Chính Xác Nhất Và Đầy Đủ Nhất
  • Bài Văn Khấn Cho Lễ Cúng Ngày Rằm Tháng 7
  • Hướng dẫn cách cúng khai trương shop quần áo đúng cách để làm ăn phát đạt: Nếu bạn mới mở shop quần áo mà đang không biết nên cúng thần thổ địa và thần tài như thế nào. Thì hãy đọc qua bài viết dưới đây để nắm được cách cúng chuẩn nhất nhé.

    Có thể bạn quan tâm:

    Chuẩn bị lễ cúng khai trương shop quần áo đúng cách để làm ăn phát đạt

    Để có thể cúng khai trương shop quần áo một cách đầy đủ nhất bạn cần chuẩn bị những thứ sau:

    • + 1 lọ hoa đồng tiền
    • + 5 loại trái cây (có quả dừa)
    • + 3 đĩa xuôi cao đầy
    • + 3 chén chè
    • + 3 chén nước
    • + 2 cây đèn cầy
    • + 2 miếng vàng bạc đại
    • + 3 nén hương cùng tràu cau
    • + Tiền xâu chuỗi (1 xấp)
    • + Bánh ngọt và muối gạo

    Bài văn khấn lễ cúng khai trương

    • – Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.
    • – Con xin kính lạy Quan Đương niên Hành khiển Thái tuế đức Tôn thần.
    • – Con xin kính lạy các ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.
    • – Con xin kính lạy Ngài Ngũ phương, ngài Ngũ thổ, ngài Long mạch, ngài Tài thần định phúc Táo quân, chư vị Tôn thần.
    • – Con xin kính lạy các Thần linh cai quản trong khu vực này.
    • Tín chủ con là:……………………………………….
    • Hôm nay là ngày…. Tháng…năm…, (Nói rõ ngày khai trương của mình) tín chủ con thành tâm sắm sửa lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án, lòng thành tâu rằng: Tín chủ con xây cất (hay thuê được) một ngôi hàng ở tại xứ này (nói rõ địa chỉ)…..(nếu cơ quan, công xưởng thì khấn là tín chủ con là…), nay muốn khai trương khởi đầu việc kinh doanh (sản xuất) phục vụ nhân sinh, phục vụ sinh hoạt. Do đó chúng con chọn được ngày lành tháng tốt sắm sanh lễ vật cáo yết Tôn thần dâng cùng Bách linh……. cúi xin các vị soi xét.
    • Chúng con kính mời các vị quan Đương niên quan Đương cảnh, quan Thần linh Thổ địa, Định phúc Táo quân cùng các ngài địa chúa Long Mạch cùng tất cả Thần linh cai quản khu vực này linh thiêng giáng hiện trước hương án, thụ hưởng lễ vật, chứng giám lòng thành. Cúi xin các vị phù hộ cho chúng con buôn bán hanh thông, lmà ăn thuận lợi, lộc tài vượng tiến, cần gì được nấy, nguyện gì cũng thành.
    • Tín chủ con lại mời các vị Tiền chủ, Hậu chủ cùng chư Hương linh y thảo phụ mộc ngụ trong khu vực này, xin về đây thụ hưởng lễ vật, phù trì cho tín chủ con làm ăn buôn bán thuận buồn xuôi gió.
    • Chúng con xin dâng lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Cúng Khi Đi Chùa Ngày Rằm, Mùng Một Âm Lịch Hàng Tháng
  • Bài Văn Khấn Cúng Cô Hồn Tháng 7 Âm Lịch Chuẩn Nhất
  • Bài Cúng Lễ Tạ Mộ Và Lễ Tạ Đất ( Thần Linh Thổ Địa)
  • Bài Văn Khấn Phật Tại Gia Và Lưu Ý Khi Thờ Phật
  • Bài Cúng Xe Cuối Năm
  • Bài Cúng Rằm Tháng 7 Tại Cơ Quan

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Cúng Mùng 1 Ngoài Trời
  • Bài Cúng Cô Hồn Và Những Điều Cần Tránh Trong Tháng Cô Hồn
  • Bài Cúng, Văn Khấn, Thủ Tục Lễ Tạ Sau 100 Ngày Bốc Bát Hương Thế Nào ?
  • Bài Văn Khấn Cô Chín
  • Văn Khấn Quốc Mẫu Tây Thiên
  • Mâm cúng rằm tháng 7 cho công ty

    Cúng lễ Rằm tháng 7 không chỉ là một lễ cúng quan trọng tại tư gia mà ngay cả các công ty cũng tiến hành làm lễ cúng Rằm tháng 7 rất trang trọng mong gặp nhiều may mắn tài lộc.

    Bài khấn Rằm tháng 7 tại công ty

    1. Bài văn cúng Rằm tháng 7 tại công ty

    “Nam mô A Di Đà Phật (3 lần)

    Kính lạy: Ngài Kim niên Đương cai Thái tuế Chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân và Chư vị thần linh cai quản xứ này.

    Hôm nay là ngày rằm tháng 7 năm …

    Tín chủ chúng con tên là: … ngụ tại nhà số …., đường …., phường (xã) …., quận (huyện) …, tỉnh (thành phố) …. Thành tâm sắm sửa hương hoa, lễ vật và các thứ cúng dâng, bày lên trước án.

    Chúng con thành tâm kính mời: Ngài Kim niên Đương cai Thái tuế Chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân và tất cả các vị thần linh cai quản trong khu vực này. Cúi xin các ngài giáng lâm án tọa, soi xét chứng giám.

    Nay gặp tiết Vu Lan, ngày vong nhân được xá tội, chúng con đội ơn Tam bảo, Phật trời phù hộ, thần linh các đấng chở che, công đức lớn lao nay không biết lấy gì đền đáp.

    Do vậy, chúng con kính dâng lễ bạc, bày tỏ lòng thành, nguyện xin nạp thọ, phù hộ độ trì cho chúng con và cả gia đình chúng con, người người khỏe mạnh, già trẻ bình an hương về chính đạo, lộc tài vương tiến, gia đạo hưng long.

    Giải tấm lòng thành cúi xin chứng giám.

    Nam mô a di đà phật (3 lần). ”

    2. Sắm lễ cúng Rằm tháng 7 cho công ty

    Theo phong tục, lễ cúng rằm tháng 7 được chia thành Lễ cúng Phật, Lễ cúng thần linh, gia tiên và Lễ cúng chúng sinh.

    Đối với mâm cúng thần linh nên chuẩn bị các lễ vật như sau:

    Mâm ngũ quả

    Hoa tươi

    Tiền vàng

    Nước, chè

    1 mâm lễ mặn tùy theo điều kiện của gia chủ.

    Mâm cúng chúng sinh:

    – Muối gạo (1 đĩa sẽ được rắc ra vỉa hè hoặc sân nhà về bốn phương tám hướng sau khi cúng xong)

    – Cháo trắng nấu loãng (12 chén nhỏ)

    – Hoa quả (5 loại 5 mầu)

    – 12 cục đường thẻ

    – Quần áo chúng sinh với nhiều màu sắc (xanh lam, xanh lá mạ, vàng, hồng…)

    – Các loại bỏng ngô, bánh, kẹo

    – Tiền vàng. Vàng mã cúng rằm tháng 7 gồm những gì? Bao gồm tiền thật các loại mệnh giá và tiền vàng mã.

    – Nước : 3 chun (hay 3 ly nhỏ ), 3 cây nhang , 2 ngọn nến nhỏ…..

    3. Cách làm lễ cúng chúng sinh

    bày mâm cúng cô hồn là rải tiền vàng trên mâm theo 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, mỗi hướng 3-5-7 cây hương. Sau khi hoàn thành bài cúng chúng sinh rằm tháng 7 ngoài trời và lời khấn cúng cô hồn, gia chủ cần làm nghi lễ mời cô hồn đi như sau:

    + Vãi gạo, muối ra đường và đốt vàng mã.

    + Tục giật cô hồn tức người sống giành giật mâm cúng, tiền cúng, càng đông người sống giành giật càng mua chuộc được các cô hồn không đến quấy phá. Đồ cúng cô hồn có ăn được không? Người ngoài hoàn toàn có thể ăn được đồ cúng cô hồn theo tục lệ giành giật mâm cúng.

    4. Bài văn cúng chúng sinh ( cúng cô hồn)

    “Nam mô A Di Đà Phật

    Nam mô A Di Đà Phật

    Nam mô A Di Đà Phật

    Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

    Con lạy Đức Phật Di Đà.

    Con lạy Bồ Tát Quan Âm.

    Con lạy Táo Phủ Thần quân Phúc đức chính thần.

    Tiết tháng 7 sắp thu phân

    Ngày rằm xá tội vong nhân hải hà

    Âm cung mở cửa ngục ra

    Vong linh không cửa không nhà

    Đại Thánh Khảo giáo A Nan Đà Tôn giả

    Tiếp chúng sinh không mả, không mồ bốn phương

    Gốc cây xó chợ đầu đường

    Không nơi nương tựa đêm ngày lang thang

    Quanh năm đói rét cơ hàn

    Không manh áo mỏng, che làn heo may

    Cô hồn Nam Bắc Đông Tây

    Trẻ già trai gái về đây họp đoàn

    Dù rằng chết uổng, chết oan

    Chết vì nghiện hút chết tham làm giàu

    Chết tai nạn, chết ốm đau

    Chết đâm chết chém, chết đánh nhau tiền tình

    Chết bom đạn, chết đao binh

    Chết vì chó dại, chết đuối, chết vì sinh sản giống nòi

    Chết vì sét đánh giữa trời

    Nay nghe tín chủ thỉnh mời

    Lai lâm nhận hưởng mọi lời trước sau

    Cơm canh cháo nẻ trầu cau

    Tiền vàng quần áo đủ màu đỏ xanh

    Gạo muối quả thực hoa đăng

    Mang theo một chút để dành ngày mai

    Phù hộ tín chủ lộc tài

    An khang thịnh vượng hoà hài gia trung

    Nhớ ngày xá tội vong nhân

    Lại về tín chủ thành tâm thỉnh mời

    Bây giờ nhận hưởng xong rồi

    Dắt nhau già trẻ về nơi âm phần

    Tín chủ thiêu hoá kim ngân

    Cùng với quần áo đã được phân chia

    Kính cáo Tôn thần

    Chứng minh công đức

    Cho tín chủ con

    Tên là:………………………………

    Vợ/Chồng:………………………….

    Con trai:……………………………

    Con gái:…………………………….

    Ngụ tại:……………………………..

    Nam mô A Di Đà Phật

    Nam mô A Di Đà Phật

    Nam mô A Di Đà Phật”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Cúng Lễ Bồi Hoàn Địa Mạch
  • 2 Khung Giờ Vượng Phát Chuẩn Nhất Cúng Rằm Hàng Tháng, Để Tổ Tiên Nâng Đỡ, Ban Tài Lộc, Cầu Gì Được Nấy
  • Văn Khấn Dọn Đến Nhà Mới
  • Bài Văn Khấn Tết Trung Thu (Rằm Tháng Tám)
  • Chuẩn Bị Văn Khấn Nhập Trạch(Dọn Đến Nhà Mới)
  • Cách Cúng Thôi Nôi Cho Bé Trai Bé Gái Đúng Chuẩn Nhất Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Ông Thần Tài Thổ Địa Cuối Năm Đầy Đủ Chính Xác Nhất
  • Phong Tục Cúng Đất Và Hai Bài Văn Khấn Cúng Đất Phổ Biến
  • Bài Khấn , Cúng ,lễ Thần Linh, Thần Gồ Chúa Đất
  • Chuẩn Bị Văn Khấn Nhập Trạch(Dọn Đến Nhà Mới)
  • Bài Văn Khấn Tết Trung Thu (Rằm Tháng Tám)
  • Thông thường ngày lễ cúng thôi nôi cho bé trai hay bé gái thường được tính theo ngày sinh âm lịch và tùy theo giới tính của bé mà cách bày lễ sẽ khác nhau. Nếu là bé trai thì tính từ ngày sinh âm lịch lùi xuống 2 ngày, đối với bé gái thì lùi xuống 1 ngày. Vậy cúng thôi nôi lúc mấy giờ là đúng? Giờ cúng tốt nhất đó là sáng sớm hoặc chiều tối, tùy vào thời gian rảnh của bạn. Lễ vật trong buổi lễ chính là lòng thành của gia chủ dành cho những người đã luôn phù hộ độ trì bé yêu phát triển khỏe mạnh và ăn no ngủ kĩ.

    Lưu ý khi cúng thôi nôi cho bé trai

    Chỉ cần một cuộc gọi là bé nhà bạn đã có một bữa tiệc thôi nôi hoành tráng tại các nhà hàng, trung tâm giải trí mà mẹ không phải tốn một giọt mồ hôi vất vả nào. Tuy nhiên, nếu muốn có một không gian thật ấm cúng và bạn muốn đây là một dịp trải nghiệm thú vị cho các thành viên trong gia đình thì việc tổ chức một lễ thôi nôi truyền thống cho bé là sự lựa chọn hoàn hảo.

    Sự ấm cúng. Cảm giác này chỉ có được khi mẹ tổ chức lễ thôi nôi trong chính ngôi nhà thân thương, nơi bé sinh ra và đang từng ngày lớn lên. Thật tuyệt khi lễ thôi nôi đầu tiên và cũng là duy nhất của con cũng diễn ra ở chính tổ ấm của mình, mẹ nhỉ!

    Sự linh thiêng, tốt đẹp. Tục lệ cúng bà mụ, đất đai thiên địa, thổ công, thổ chủ trong lễ thôi nôi với mong muốn mang lại cho bé mọi điều tốt đẹp là nét văn hóa đáng được giữ gìn. Bạn hãy mang sự linh thiêng và tốt đẹp này vào ngày “trọng đại” của bé.

    “Mệt mà vui”. Nào là lên danh sách khách mời, thực đơn, viết thiệp, đi mời, nấu nướng, bài trí không gian, đón khách… rất nhiều việc nhưng đây sẽ là dịp để mọi thành viên trong gia đình có dịp trổ tài. Sau này con lớn, bạn có thể tự hào mà nhắc lại kỷ niệm trong ngày thôi nôi với con. Chẳng hạn như chuyện mẹ mải mê nấu nướng mà quên mất tiêu nhiệm vụ cho con bú, tới mức con phải khóc ré lên mẹ mới giật mình; chuyện bố bận rộn ở cơ quan, tối về đánh vật với xấp thiệp mời thôi nôi cho con mà ngủ gục trên bàn từ khi nào; chuyện cậu Tư, cô Út đua nhau xem ai thổi bong bóng nhanh hơn để trang trí trong bữa tiệc, kết quả là cậu Tư thắng nhưng chẳng ăn uống được gì vì đau cơ miệng… Quả là một lễ thôi nôi đáng nhớ! Từ đó bé sẽ cảm nhận được tình yêu thương mà mọi người dành cho mình.

    Tiết kiệm chi phí. Một trong những điều các mẹ quan tâm nhất khi tổ chức thôi nôi cho bé là chi phí. Tự đi chợ, tự nấu nướng, trang trí, không tốn khoản thuê mặt bằng… việc áp dụng chiêu “cây nhà lá vườn” giúp bạn giảm đáng kể phần chi tiêu mà vẫn mang lại một bữa tiệc ngon miệng, đảm bảo an toàn thực phẩm cho mọi người.

    Cách cúng thôi nôi cho con trai theo kiểu truyền thống

    Chọn không gian thuận tiện. Bạn có thể đãi tiệc trong nhà hoặc ngoài trời (nếu nhà bạn có sân vườn). Lên danh sách khách mời để bố trí bàn ghế vừa vặn với không gian tổ chức. Chuẩn bị hình ảnh từ lúc bé mới sinh ra đời cho đến hiện tại để trong album (sắp xếp theo tuần tự thời gian) đặt trên một chiếc bàn nhỏ xinh để bà con khách mời cùng chiêm ngưỡng.

    Thiết kế thiệp mời và phát cho khách. Điều này cần thiết để buổi tiệc được đi dự đông vui. Chọn hình làm backdrop (tấm màn căng sân khấu) giúp bữa tiệc thêm phần trang trọng và hoành tráng; không gian tiệc có thể trang trí bằng hoa hoặc bong bóng theo chủ đề với màu sắc và kiểu cách của từng gia đình.

    Chọn mẫu bánh kem thôi nôi theo tuổi của bé, ví dụ bé tuổi Heo sẽ có biểu tượng chú heo con trên chiếc bánh kem. Trò chơi sẽ tăng thêm phần thú vị cho bữa tiệc. Hãy để người lớn và trẻ con cùng tham gia những trò đơn giản mà vui như: Đoán xem bé chọn gì, nhong nhong ngựa ông đã về, kéo cưa lừa xẻ, tập tầm vông, đóng kịch theo chủ đề… Dĩ nhiên bạn cũng nên chuẩn bị một món quà nhỏ dành cho người thắng cuộc trong các trò chơi nhé.

    Cách cúng thôi nôi cho bé trai kiểu Miền Nam

    Cách cúng thôi nôi miền Nam nghiêng về các mẹ đỡ đầu, với mong muốn con mình nhiều sức khỏe và may mắn. Lễ thôi nôi hay còn gọi là lễ mừng bé vừa tròn 1 tuổi, kết thúc những ngày tháng nằm nôi bé tí để chuyển sang giường. Điều đó có nghĩa là bé bắt đầu có những trải nghiệm mới với tuổi mới. Tuy nhiên, phong tục cúng thôi nôi cho bé trai miền Nam hoàn toàn khác với phong tục miền Bắc và miền Trung.

    Bạn đang lên kế hoạch chuẩn bị làm lễ cúng thôi nôi cho bé trai nhà mình nhưng còn lúng túng về cách thức, nghi lễ đúng chuẩn miền Nam? Hãy cùng Dichvuhay,vn chuẩn bị mâm lễ cúng thôi nôi cho bé trai theo kiểu miền Nam như sau:

    • + 1 con gà trống luộc (thông thường lễ cúng người ta đều sử dụng gà ta, nếu không có gà trống bạn có thể thay thế bằng một con vịt cánh tiên).
    • + Cháo, gỏi.
    • + 12 đĩa xôi màu (xôi gấc 3 tầng) và thêm 1 đĩa xôi lớn.
    • + 12 chén chè đậu trắng và 1 chén chè lớn.
    • + Bộ tam sên gồm có: Trứng luộc, cua luộc, thịt heo luộc).
    • + 1 đĩa trái cây (5 loại tùy chọn) + 1 bình hoa tươi.
    • + Cau tươi, trầu têm.
    • + 1 bộ đồ thế thân cho bé trai và có ghi đầy đủ họ tên, thông tin cá nhân của bé để sau đốt giải hạn cho trẻ.
    • + Rượu, trà, muối, nước lọc, nhang thơm, 12 nén vàng, đèn cầy.

    Cách cúng thôi nôi cho bé trai kiểu miền Trung

    Mâm cúng thôi nôi cho bé trai ở miền Trung không khác nhiều so với mâm cúng bé gái. Lễ vật để cúng thôi nôi gồm rất nhiều loại nên việc chuẩn bị trước là điều không thể thiếu. Ngoài lễ vật thì bố mẹ hoặc đại diện gia đình cần phải biết cách cúng thôi nôi và cách bày trí lễ vật sao cho hợp lí, đẹp mắt.

    • + Mâm lễ cúng ông Địa, Thần Tài: 1 chén chè, 1 Đĩa xôi đậu xanh, 3 Ly nước lọc, hương, hoa, nến. 1 Đĩa trái cây gồm 5 loại quả khác nhau.
    • + Mâm lễ cúng Ông Táo đặt ở Bếp: Trái cây tươi (từ 3 đến 5 loại quả), hoa cúc kim cương (3 – 5 bông). Hương trầm, nến. 1 bát nhỏ đựng gạo và 1 bát đựng muối hạt. Trà hoặc rượu. Bộ đồ ông Táo. Trầu cau, chè, xôi. 1 đĩa xôi gà luộc.
    • + Mâm cúng 12 bà Mụ và Đức Ông: 1 đĩa xôi gà. 1 đĩa trái cây. Chè đầu trắng gồm 12 bát nhỏ và 1 bát lớn. 1 lọ hoa tươi, hương, nến, tiền vàng. Trầu cau têm sẵn 12 miếng. 1 lá trầu nguyên, 1 quả cau tươi. 1 bộ đồ hình nam, viết tên và thông tin của bé, dùng khi cúng xong sẽ đốt giải hạn cho bé.

    Một nghi thức không thể thiếu trong lễ cúng thôi nôi đó chính là chọn vật dụng để dự đoán nghề nghiệp tương lai. Chắc hẳn rất nhiều ông bố bà mẹ mong ngóng đến thời khắc này. Để thực hiện nghi thức cúng này thì bố mẹ hãy chuẩn bị các vật dụng như:

    Thôi nôi bé bốc gì là điều được rất nhiều bố mẹ quan tâm. Vật nào con cầm đầu tiên sẽ dự báo tương lai nghề nghiệp sau này. Nếu như con chọn cây bút thì tương lai sẽ thành nhà văn, nhà báo hoặc đi theo ngành sư phạm… Hoặc nếu con chọn ống nghe thì bố mẹ đừng quá ngạc nhiên khi lớn lên con trở thành bác sĩ, y tá, dược sĩ…

    Bài văn khấn cúng thôi nôi cho bé trai

    Cúng thôi nôi cho bé trai với nhiều gia đình không phải là việc đơn giản, vì vậy bạn có thể hỏi ý kiến của những người lớn tuổi. Quan trọng nhất là mâm cúng phải đủ đầy, không thể thiếu bất kì một lễ vật nào. Để buổi cúng thôi nôi diễn ra đúng cách, ngoài việc chuẩn bị các lễ vật trong mâm cúng thì các bạn cần tham khảo văn khấn cúng thôi nôi cho bé trai dưới đây.

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật!

    Con kính lạy Đệ nhất Thiên tỷ đại tiên chúa.

    Con kính lạy Đệ nhị Thiên đế đại tiên chúa.

    Con kính lạy Đệ tam Tiên Mụ đại tiên chúa.

    Con kính lạy Thập nhị bộ Tiên Nương.

    Con kính lạy Tam thập lục cung chư vị Tiên Nương.

    Hôm nay là ngày…..tháng….. năm……

    Vợ chồng con là ………………….. sinh được con trai, đặt tên là …………..

    Chúng con ngụ tại:…………………………………….. …….

    Nay nhân ngày đầy năm chúng con thành tâm sắm lễ vật dâng bầy lên trước án, trước bàn tọa chư vị Tôn thân kính cẩn tâu trình: Nhờ ơn thập phương chư Phật, chư vị Thánh hiền, chư vị Tiên Bà, các Đấng thần linh, Thổ công địa mạch, Thổ địa chính thần, Tiên tổ nội ngoại, cho con sinh ra cháu tên là……sinh ngày…… được mẹ tròn con vuông.

    Cúi xin chư vị tiên Bà, chư vị Tôn thần giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật, phù hộ độ trì, che chở cho cháu được ăn mau chóng lớn, vô bệnh vô tật, vô tai, vô ương vô hạn, vô ách, phù hộ cho cháu bé được tươi đẹp, thông minh, sáng láng, thân mệnh bình yên, cường tráng, được hưởng vinh hoa phú quí. Gia đình con được phúc thọ an khang, nhân lành nảy nở, nghiệp dữ tiêu tan, bốn mùa không hạn ách nghĩ lo. Xin thành tâm đỉnh lễ, cúi xin được chứng giám lòng thành.

    Nên cúng thôi nôi trong nhà hay ngoài trời?

    Theo quan niệm dân gian xưa, lễ cúng thôi nôi sẽ gồm những “thủ tục” sau đây. Tuy nhiên bạn có thể lược bỏ tùy theo… “nhu cầu” của mình nhé. Ngoài lễ vật chè – xôi, vịt luộc cúng Mụ bà – Đức ông như trong lễ đầy tháng, còn có heo quay cúng đất đai diên địa, thổ công, thổ chủ.

    Mâm cúng được bày ngoài sân, đầu hướng ra ngoài, đi kèm với heo quay còn có 5 chén cháo, 1 tô cháo, 1 đĩa lòng lợn, rau sống, nhang, đèn, rượu, trà, hoa quả, trên lưng lợn quay gắn một con dao bén.

    Trong nhà, bày 3 mâm cúng gồm mâm cúng Thành hoàng bổn cảnh; mâm cúng cửu huyền thất tổ và mâm cúng ông bà quá vãng (bao nhiêu bàn thờ, bấy nhiêu mâm cúng). Lễ vật là những thức ăn chín phù hợp với tập quán mỗi địa phương. Kế bên (trên bộ ván hoặc bộ vạt) bày 12 chén chè, xôi; con vịt luộc chín với 3 chén cháo và 1 tộ cháo cúng 12 Mụ bà và 3 Đức ông.

    Sau lời khấn cầu mong đấng thần linh, ông bà tổ tiên phù hộ cho bé mạnh khỏe, chóng lớn, ngoan hiền, phù hộ cho gia đình ấm no hạnh phúc là màn “thử tài” thú vị dành cho bé.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Cúng Rằm Tháng Giêng Ngoài Trời Tại Nhà
  • Văn Cúng Thần Linh Và Cáo Yết Gia Tiên Khi Nhập Trạch Vào Nhà Mới
  • Văn Khấn Thờ Đức Thánh Quan
  • Mâm Đồ Lễ Cúng Về Nhà Mới Gồm Những Gì?
  • Hướng Dẫn Chuẩn Bị Mâm Cúng Tất Niên Cuối Năm
  • Mâm Đồ Lễ Cúng Về Nhà Mới Gồm Những Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Thờ Đức Thánh Quan
  • Văn Cúng Thần Linh Và Cáo Yết Gia Tiên Khi Nhập Trạch Vào Nhà Mới
  • Bài Cúng Rằm Tháng Giêng Ngoài Trời Tại Nhà
  • Cách Cúng Thôi Nôi Cho Bé Trai Bé Gái Đúng Chuẩn Nhất Hiện Nay
  • Văn Khấn Ông Thần Tài Thổ Địa Cuối Năm Đầy Đủ Chính Xác Nhất
  • Mâm đồ cúng lễ nhập trạch về nhà mới

    Bài viết này, chúng tôi sẽ hướng dẫn cụ thể, chi tiết hơn về mâm đồ lễ cúng nhập trạch về nhà mới. Trong lễ nhập trạch có 3 công việc quan trọng mà gia chủ nhất định phải quan tâm, đó là sắm lễ, thủ tục và văn khấn. Mâm cúng được coi là món quà ra mắt của gia chủ đối với thổ địa thần linh và gia tiên. Do đó, cần phải cẩn thận để mọi việc được hanh thông, cuộc sống sau này trong nhà mới được thuận buồm xuôi gió, cả gia đình mạnh khoẻ, an lành…

    Sắp mâm lễ

    Tuỳ theo tỉnh thành, vùng miền khác nhau mà các món trong mâm cúng lễ nhập trạch có sự khác nhau nhất định, tuy không nhiều.

    Theo nghi lễ dân gian, có thay đổi phù hợp với thực tại thì mâm cúng lễ nhập trạch bao gồm 3 phần chính là hoa quả, rượu thịtvàng mã.

    – Đối với phần ngũ quả, người ta thường sử dụng ít nhất là 5 loại quả trở lên, bày biện theo số lẻ lên đĩa cúng. Ví dụ: nải chuối, xoài, đu đủ, mãng cầu, dừa, dưa hấu… Các trái phải được chọn lựa theo tiêu chí to, đẹp, không bầm, dập, thối. Sau khi rửa sạch phải xếp ngay ngắn lên đĩa sao cho đẹp mắt.

    – Nhang đèn, hương hoa, trầu cau là những lễ vật không thể thiếu trong bất cứ phong tục lễ cúng nào của người Việt, và lễ cúng nhập trạch cũng không ngoại lệ. Mâm hương hoa bao gồm: hoa tươi, nhang, 1 cặp đèn cầy đỏ, 3 miếng trầu cau đã têm, giấy vàng mã, 1 đĩa gồm một nửa muối và 1 nửa gạo. và 3 hũ nước, muối, gạo. Hoa tươi có thể linh hoạt chọn loại theo mùa, ví dụ: hoa hồng, hoa ly, hoa cúc, hoa sen … cắm lọ cần chọn số bông lẻ.

    – Tùy vào gia chủ ăn chay hay không mà có thể chọn cúng mâm cơm chay hoặc cơm mặn. Với mâm cơm mặn – Mâm rượt thịt bao gồm: 1 bộ tam sinh (1 miếng thịt luộc, 1 con tôm luộc, 1 trứng vịt luộc), xôi, gà luộc để nguyên con, 3 chén trà, 3 chén rượu và 3 điếu thuốc, các món ăn mặn có thể có khác như món xào, món canh … Với mâm cỗ chay, bạn có thể chuẩn bị 4-5 món tùy vào mỗi gia đình, có thể chọn một vài món đơn giản nhưng không kém phần trang trọng như nem chay, rau củ xào, canh nấm, xôi,…

    Quan trọng nhất đó là thành tâm khấn vái, do đó, chỉ cần mâm cúng của bạn bày biện gọn gàng, sạch sẽ là có thể làm lễ cúng bình thường chứ không nhất thiết phải giống như trên vì còn tuỳ thuộc khả năng mỗi gia đình.

    – Sắp lễ vật lên mâm cúng, đặt theo hướng hợp với gia chủ. Đích thân gia chủ thắp nén nhang, cắm vào bát hương để xin nhập trạch và xin phép Thần linh rước vong linh Gia tiên về nơi ở mới để thờ phụng. Sau khi khấn thần linh xong, gia chủ làm lễ khấn báo cáo mời Gia tiên về nhà mới.

    Khai trương văn phòng, cửa hàng, kho hàng … cũng làm tương tự. Nếu văn phòng to thì có thể thay thế gà bằng lợn quay nguyên con, hoặc đầu lợn cho hoành tráng.

    Tham khảo thêm

    Để tránh đỡ tốn kém chi phí và thời gian nên trên đây là mâm cỗ đã được rút gọn. Thực chất, theo phong tục nghi lễ xưa thì mâm cúng lễ nhập trạch bao gồm 3 mâm cúng là mâm cỗ cúng giữa nhà, mâm cúng thần tài và mâm cúng táo quân.

    Về cơ bản, mâm cúng giữa nhà cần có trái cây, hoa, nhang, đèn cầy hoặc nến, gạo, muối, trà, rượu, nước lọc, trầu cau, tiền vàng, nồi xông, trầm hương, xôi, chè, cháo, bánh kẹo, heo sữa nhỏ quay.

    Mâm cúng thần tài bao gồm: trái cây, hoa cúc kim cương, nhang , tiền vàng , rượu, thịt heo quay và bánh bao.

    Mâm cúng táo quân gồm: trái cây, hoa cúc, nhang, đèn cầy hoặc nến, gạo, muối, trà, rượu, nước lọc, trầu cau, tiền vàng, xôi, chè, chả giò và bánh chưng.

    Một vài điều cần lưu ý khi dọn về nhà mới

    Theo quan niệm tâm linh, để tránh gia đình gặp xui xẻo khi dọn về nhà mới, gia chủ cần lưu ý một số điều sau:

    – Nếu làm lễ nhập trạch để lấy ngày mà chưa ở lại nhà mới ngay thì sau khi cúng cần phải ngủ lại 1 đêm để thần linh ghi nhận nơi này đã có người ở là gia chủ này, chứ không phải nhà hoang.

    – Sau lễ cúng nhập trạch nhà mới, cần phải làm lễ cáo yết cúng gia tiên rồi mới được thụ lộc đã cúng. Các thành viên trong nhà từ lớn tới bé cần đứng trước ban thờ khấn bái tạ ơn để cầu bình an trong gia đình.

    – Kiêng không cho người có thai hoặc người cầm tinh con giáp Dần giúp đỡ việc phụ giúp dọn dẹp nhà mới.

    – Việc chuyển đến nhà mới chỉ nên làm vào buổi sáng và trưa, không nên chuyển buổi tối vì dễ khiến vong lang thang bên ngoài theo về nhà mới.

    Làm trong dịch vụ chuyển nhà khá lâu nên chúng tôi có quen biết rất nhiều các thầy cúng, thầy đồng, pháp sư chuyên cúng lễ nhập trạch, khai trương, động thổ…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Chuẩn Bị Mâm Cúng Tất Niên Cuối Năm
  • Bài Văn Khấn Xin Rút Chân Nhang (Hương)
  • Văn Khấn Cầu Duyên Trước Ban Thờ Mẫu
  • Văn Khấn Ban Đức Ông Ở Chùa
  • Hướng Dẫn Cách Cúng Thôi Nôi Cho Bé Trai Miền Trung
  • Tin tức online tv