Sao Thái Âm Cung Phu Thê

--- Bài mới hơn ---

  • Ý Nghĩa Của Vòng Sao Bác Sĩ Tại Cung Mệnh
  • Ý Nghĩa Sao Thái Tuế Trong Tử Vi Số Mệnh Như Thế Nào?
  • Sao Thái Tuế Trong Lá Số Tử Vi
  • Sao Thái Tuế Chủ Về Hệ Tư Tưởng Và Sứ Mệnh Cứu Giúp Quần Chúng
  • Sao Thái Tuế Và Những Điều Cần Biết
  • Bài viết về Thái Âm – can Mậu hóa Quyền. Mời bạn đọc tham khảo.

    Bài viết về Thái Âm – can Quý hóa Khoa. Mời bạn đọc tham khảo.

    Bài viết về Thái Âm – can Ất hóa thành sao Kị. Mời bạn đọc tham khảo.

    Bài viết phân tích trường sao Thái âm – Thái dương ở Mệnh rất đặc sắc của tác giả Lý Phật trong cuốn Đàm thiên thuyết địa thoại Tử Vi. Mời bạn đọc tham khảo.

    Bài viết phân tích trường sao Thái âm – Thiên cơ ở Mệnh rất đặc sắc của tác giả Lý Phật trong cuốn Đàm thiên thuyết địa thoại Tử Vi. Mời bạn đọc tham khảo.

    Bài viết phân tích trường sao Thái âm – Thiên đồng ở Mệnh rất đặc sắc của tác giả Lý Phật trong cuốn Đàm thiên thuyết địa thoại Tử Vi. Mời bạn đọc tham khảo.

    Bài viết của tác Phan Tử Ngư phân tích trường hợp cung Quan lộc có sao Hóa kỵ,Thái âm rất hay. Mời bạn đọc tham khảo.

    Bài viết phân tích trường hợp cung Phu thê có sao Hóa quyền rất đặc sắc của Tứ Hóa Bắc Phái. Mời bạn đọc tham khảo.

    Bài viết phân tích trường hợp cung Phu thê có sao Hóa khoa rất đặc sắc của Tứ Hóa Bắc Phái. Mời bạn đọc tham khảo.

    Bài viết phân tích trường hợp cung Phu thê có sao Hóa kỵ rất đặc sắc của Tứ Hóa Bắc Phái. Mời bạn đọc tham khảo.

    Bài viết về Sao Thái Âm. Mời bạn đọc tham khảo.

    Bài viết về Thái Âm lạc hãm cũng không nên e sợ. Mời bạn đọc tham khảo.

    Bài viết về Thái Âm thủ Mệnh, kiêm coi kỹ cung Phúc Đức. Mời bạn đọc tham khảo.

    Bài viết về Luận về sao Thái Âm. Mời bạn đọc tham khảo.

    Bài viết Thái âm Thìn Tuất. Mời các bạn đọc tham khảo.

    Bài viết Phân tích sao Thái âm trong lá số Tử vi. Mời các bạn đọc tham khảo.

    Bài viết Ý nghĩa sao Thái Âm và một số sao khác. Mời các bạn đọc tham khảo.

    Bài viết Ý nghĩa sao Thái Âm ở các cung. Mời các bạn đọc tham khảo.

    Bài viết Sao Thái âm ở các vị trí khác nhau. Mời các bạn đọc tham khảo.

    Bài viết Mẫu người “Thân cư Tài Lộc” và “Thân cư Phu Thê””. Mời các bạn đọc tham khảo.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thái Âm Ở Cung Mệnh (Thân)
  • Sao Thái Âm Chiếu Mệnh, Phúc Phận Một Đời
  • Kinh Nghiệm Tử Vi: Giải Đoán Cung Phu Thê
  • Ý Nghĩa Luận Giải Sao Thái Âm Trong Khoa Tử Vi
  • Sao Thái Âm Chiếu Cung Phu, Nữ Qúy Sửu Không Lo Hạnh Phúc Gia Đình Tan Vỡ
  • Sao Thái Âm Ở Cung Phu Thê

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Giải Hình Dáng Vợ Chồng Qua Cung Phu Thê
  • Luận Về Cung Tài Bạch
  • Sao Thái Tuế Là Gì? Ý Nghĩa Thái Tuế Trong Tử Vi Và Cung Mệnh
  • Lộc Tồn Và Bác Sĩ
  • Ý Nghĩa Của Sao Tam Thai – Học Tử Vi
  • Rate this post

    Nhập miếu nam lấy vợ thông minh hoặc xinh đẹp, vợ nhỏ tuổi, hội Xương Khúc đồng cung chủ vợ dung nhan xinh đẹp; nữ chủ chồng lớn tuổi, anh tuấn, hôn nhân viên mãn. Hội tứ sát chủ sinh ly, lạc hãm chủ hung, nam nữ đều khắc, hỉ cát tinh hóa giải. Nam mệnh Thái Âm nhập miếu và Văn Xương hay Văn Khúc ở cung Phu thê, làm về học vấn hay kỹ nghệ có thể thành danh, hoặc nhờ sự giúp đỡ của nữ giới mà công thành danh toại, hoặc được vợ hiền lành xinh đẹp, vì vợ mà được phú được quý.

    Thái Âm Hóa Lộc ở cung Phu thê, chủ được tiền của vợ mà thành sự nghiệp, nhưng có lúc e bị nói là ăn bám. Tả Hữu Khôi Việt và Thái Âm đồng cung, dễ có tình yêu tay ba hay có người thứ ba chen chân vào.

    Thái Âm ở Mão Thìn Tỵ hãm địa không tốt, không mỹ mãn, hội chiếu Kình Đà Hỏa Linh Thiên Hình Đại Hao Không Kiếp Hóa Kỵ thì chủ sinh ly, hoặc phối ngẫu bệnh tật tai ương.

    Thái Âm hãm địa, chủ là người thường bị thất tình, nữ mệnh chủ chồng tầm thường, tiêu cực, sớm già.

    Thái Âm ở Dậu Tuất Hợi miếu vượng chủ cát, hội Tứ sát Không Kiếp Hóa Kỵ bất hòa hay sinh ly, nếu như muộn hôn, có thể tránh được ly hôn, nhưng vẫn bất hòa.

    Thiên Cơ, Thái Âm ở Dần Thân, nam lấy được vợ đẹp, được giúp đỡ. Nữ lấy được chồng tuấn tú. Yêu sớm, hôn nhân lãng mạn, nhưng phối ngẫu có tư tình, ngoại tình. Hội sát tinh hoặc Hóa Kỵ, bất hòa sinh ly, hội Tả Hữu Xương Khúc cũng khó sống đến bạc đầu.

    Thái Dương Thái Âm ở Sửu Mùi, nam nữ đều chủ yêu sớm, tình đầu bất thành. Kình Đà Hỏa Linh Hóa Kỵ đồng cung thì sẽ tái hôn. Hóa Lộc Quyền Khoa ân ái giúp đỡ lẫn nhau. Nam chủ vợ đẹp, hiền, giúp đỡ được mình, sống với nhau đến già, hội cát tinh càng đẹp. Hội sát tinh nên muộn hôn thì có thể sống với nhau đến già. Nữ chủ người yêu nhiều nhưng tất có thất tình, không hội sát tinh thì sống với nhau đến già, hội sát tinh thì dâm đãng, hôn nhân không tốt.

    Thiên Đồng Thái Âm ở Tý, nam tất lấy vợ đẹp, nữ lấy chồng tuấn tú, sống với nhau đến già. Hội sát tinh bất hòa.

    Thiên Đồng Thái Âm ở Ngọ, dễ gặp cảnh thất tình, hoặc có quan hệ xác thịt bất chính, tiền hôn hậu thú.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sao Thái Âm Là Gì ?
  • Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Một Thành Viên Taxi Sơn Trang
  • Taxi Tuyên Quang: Danh Bạ Số Điện Thoại Các Hãng Taxi Ở Tuyên Quang
  • Động Sơn Trang – Làm Động Sơn Trang Đẹp
  • Bản Văn Chúa Bà Đệ Nhất Tổ Mường, Bạch Anh Công Chúa, Chúa Thượng Ngàn, Lê Mại Đại Vương
  • Sao Thái Dương Ở Cung Phu Thê

    --- Bài mới hơn ---

  • Sao Thái Dương Ở Cung Quan Lộc
  • Cung Quan Lộc, Thăng Quan Tiến Chức Miếu Đài Hiển Vinh
  • Ý Nghĩa Các Sao Chính Tinh Đóng Tại Cung Quan Lộc
  • Tử Vi Đẩu Số: Luận Về Cung Quan Lộc
  • Sao Thái Dương Tọa Thủ Mệnh Thân Toàn Thư
  • Thái Dương ở Tý, dù không hội sát tinh cũng không tốt, có khắc, hội Dương Hỏa Linh Không Kiếp chủ sinh ly. Thái Dương Hóa Kỵ vợ chồng trở mặt thành thù, sinh ly.

    Thái Dương Thái Âm ở Sửu Mùi, nam nữ đều chủ yêu sớm, tình đầu bất thành. Kình Đà Hỏa Linh Hóa Kỵ đồng cung thì sẽ tái hôn. Hóa Lộc Quyền Khoa ân ái giúp đỡ lẫn nhau. Nam chủ vợ đẹp, hiền, giúp đỡ được mình, sống với nhau đến già, hội cát tinh càng đẹp. Hội sát tinh nên muộn hôn thì có thể sống với nhau đến già. Nữ chủ người yêu nhiều nhưng tất có thất tình, không hội sát tinh thì sống với nhau đến già, hội sát tinh thì dâm đãng, hôn nhân không tốt.

    Thái Dương Cự Môn ở Dần Thân, vợ chồng hay tranh cãi, không hội sát kỵ tinh, có thể sống với nhau đến già. Dù có hội cát tinh, nếu gặp Hóa Kỵ cũng chủ phối ngẫu ngoại tình, sinh ly. Hội Đà La Hỏa Linh Kỵ, tất ly hôn. Nữ mệnh thì thường là “sư tử hà đông”.

    Thái Dương Thiên Lương ở Mão Dậu, nam nên lấy vợ lớn tuổi lơn, nữ nên lấy chồng nhỏ tuổi hơn. Hội Khôi Việt Xương Khúc Lộc Tồn, nam lấy được vợ con nhà giàu có, nữ lấy được chồng giàu. Không hội sát tinh có thể sống với nhau đến già. Hội Kình Đà Hóa Kỵ sinh ly, Hỏa Linh cũng khắc, bất hòa, hay nghi ngờ vô căn cứ.

    Thái Dương cư Thìn Tỵ Ngọ, không hội sát tinh, nam quý vì vợ, nữ lấy được chồng hiền lành giàu có. Thái Dương Hóa Lộc, cát mà có tiền tài. Thái Dương Hóa Quyền, phối ngẫu tính cương, khó tránh khẩu thiệt, có thể sống với nhau đến già. Hóa Kỵ bất hòa, hội sát tinh sinh ly. Cung Ngọ hội Dương Hỏa Linh, vợ chồng mỗi người một lòng riêng, thậm chí đánh lẫn nhau.

    Thái Dương ở Tuất Hợi, điềm không tốt. Muộn hôn có thể tránh hình khắc, tảo hôn bất hòa. Hóa Kỵ hoặc hội Kình Đà, nữ lấy phải chồng bất tài, nam chủ vợ nhiều bệnh, tính cách cương cường, sinh ly. Thái Dương ở Tuất, tỉ lệ ly hôn rất cao.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bàn Về Sao Đế Vượng
  • Sao Thai Và Những Điều Cần Biết
  • Lá Số Tử Vi Giới Tính Nữ, Sinh Giờ Mùi, Ngày 17, Tháng 1, Năm Bính Dần
  • Tìm Hiểu Sao Chủ Về Công Danh Trong Tứ Linh
  • Mẫu Người Đào Hoa Trong Tử Vi Có Gì Thu Hút?
  • Kinh Nghiệm Tử Vi: Giải Đoán Cung Phu Thê

    --- Bài mới hơn ---

  • Sao Thái Âm Chiếu Mệnh, Phúc Phận Một Đời
  • Thái Âm Ở Cung Mệnh (Thân)
  • Sao Thái Âm Cung Phu Thê
  • Ý Nghĩa Của Vòng Sao Bác Sĩ Tại Cung Mệnh
  • Ý Nghĩa Sao Thái Tuế Trong Tử Vi Số Mệnh Như Thế Nào?
  • (Trần Việt Sơn – thuật theo kinh nghiệm cụ Thái dương)

    Về cung Phu thê, các vị đương số thường rất muốn biết rõ, vì thường thường hạnh phúc đời người có thể không do tiền bạc nhà cửa, công danh, mà do đường vợ chồng, con cái. Ôm tiền bạc nhiều, công danh thật lớn, mà đường vợ con, chồng con hỏng thì cũng không đáng gì. Trái lại, làm chức nhỏ, nghèo, nhưng sống vui với chồng con, vợ con đề huề thì cũng thú.

    Về việc giải đoán cung Phu thê, các vị cao thủ Tử vi Lê Ốc Mạch, Phong Nguyên, Thiên Lương từng cho biết ý kiến trên Khoa học huyền bí. Về số phận chúng tôi, công việc thuật kinh nghiệm trở nên dễ dàng hơn sau khi các cụ cao thủ đã cho kinh nghiệm của mình. Sau khi được kinh nghiệm quý cụ, chúng tôi còn gì thắc mắc đem hỏi cụ Thái dương, chúng tôi được biết những điều xin trình bày như sau:

    Xem Phu thê, phải xét Mệnh, Thân, Phúc

    Các sự kiện trong cung Phu thê mà nhà thuật số cân nhắc thuộc về các phương diện hạnh phúc đời người.

    1- Vợ chồng lấy nhau có dễ dàng hay bị cản trở?

    2- Có sự hình khắc, tử biệt sanh ly không?

    3- Có xung khắc nhau không (những độ xung khắc khác nhau) hay được hòa hợp đến già?

    4- Có mấy đời vợ chồng? Đàn ông có mấy vợ?

    5- Vợ hay chồng có tốt không? (vợ đẹp ngoan, đứng đắn hay dâm dật, xấu xa, chồng khá giả hay chồng bần tiện).

    Muốn biết đại cương cung Phu thê tốt xấu, phải xem các sao trong cung đó, nhưng trước hết, cũng phải xem Mệnh, Thân và Phúc đức.

    Sở dĩ phải xem Mệnh, Thân và Phúc đức, là bởi vì người có Mệnh, Thân và Phúc đức tốt, tất được hưởng ảnh hưởng tốt và hạnh phúc và cái đó phải ảnh hưởng vào cung Phu thê (đó là chưa kể rằng cung Phu thê thuộc nhóm cung Mệnh, Thân và có các cung Phúc, Quan, Di chiếu tới).

    Nếu cung Phu thê xấu mà được cung Mệnh, Thân và Phúc đức tốt, thì cũng giải trừ được nhiều sự xấu (bớt sự xung khắc, bớt hình khắc chia ly).

    Nếu cung Phu thê tốt, mà cung Mệnh, Thân và Phúc đức xấu, thì những cái tốt của cung Phu thê cũng giảm đi.

    Cũng có trường hợp Mệnh xấu, Phu thê xấu, lấy vợ lấy chồng gặp toàn cảnh ngộ tệ hại, thế nhưng sang đến Thân tốt, thì cũng Phu thê ấy, mà lại được hưởng tốt (Thân ăn về hậu vận, từ 30 tuổi trở ra: đương số lấy vợ lúc trẻ tuổi, gặp vợ lăng loàn, chịu xung khắc rồi phải ở góa; nhưng sang đến Thân được ảnh hưởng tốt, lại lấy được vợ tốt, hiền hòa, ăn nên làm ra, vợ chồng hòa hợp).

    Cần nắm vững Mệnh, Thân và Phúc đức mới giải đoán được đúng cung Phu thê.

    Ảnh hưởng chính tinh

    Quý vị có thể coi các sách Tử vi, đã soạn sẵn những cách và ý nghĩa khi gặp những chính tinh miếu hay hãm, rồi lại có những cách trung tinh. Xin tóm tắt sau đây ý nghĩa các cách ở cung Phu thê:

    – Tử vi tại Ngọ: hòa hợp đến già, khá giả.

    – Tử Phủ đồng cung: hòa hợp đến già, khá giả.

    – Tử Tướng đồng cung: cùng cứng cỏi, xích mích. Nhưng khá giả, ăn ở được với nhau.

    – Tử Sát đồng cung: tiên trở hậu thành và lập gia đình trễ mới tốt.

    – Tử Phá đồng cung: hình khắc hoặc kém thuận hòa.

    – Tử Tham đồng cung: thành hôn trễ mới tốt, ghen tuông.

    – Liêm đơn thủ Dần Thân: mấy lần lập gia đình.

    – Liêm Phủ đồng cung: trễ mới tốt. Chung sống tốt, khá giả.

    – Liêm Tướng đồng cung: bất hòa.

    – Liêm Sát đồng cung: hình khắc, muộn mới tốt.

    – Liêm Phá đồng cung: bất hòa.

    – Liêm Tham đồng cung: xung khắc.

    – Đồng tại Mão: trễ mới tốt.

    – Đồng tại Dậu: bất hòa.

    – Đồng tại Tý: dễ gần, dễ xa.

    – Đồng tại Thìn, Tuất: xung khắc

    – Đồng Nguyệt đồng cung tại Tý: đẹp đôi, khá giả, cưới sớm.

    – Đồng Lương đồng cung: đẹp đôi, khá giả, cưới sớm.

    – Đồng Nguyệt tại Ngọ: trễ mới tốt.

    – Đồng Cự: xa nhau một thời rồi mới đoàn tụ.

    – Vũ khúc tại Thìn Tuất: trễ mới tốt.

    – Vũ Phủ đồng cung: có bất hòa, nhưng khá giả đến già.

    – Vũ Tướng đồng cung: vợ đảm, chồng sang. Có xích mích, nhưng khá giả đến già.

    – Vũ Tham đồng cung: trễ mới tốt.

    – Vũ Phá đồng cung: giỏi, trễ mới tốt.

    – Vũ Sát đồng cung: hình khắc, dễ xa nhau.

    – Thái dương sáng: hòa hợp, khá giả đến già.

    – Thái dương tối: cưới xin trắc trở, trễ mới tốt.

    – Nhật, Cự đồng cung tại Dần: bất hòa nhưng chung sống đến già.

    – Nhật Cự đồng cung tại Thân: trễ mới tốt.

    – Nhật Nguyệt đồng cung: khá giả, nhưng trễ mới tốt.

    – Thiên cơ ở Tý, Ngọ, Mùi: thành hôn sớm, khá giả, ở được với nhau.

    – Thiên cơ ở Hợi, Tý, Sửu: trễ mới tốt.

    – Cơ Lương đồng cung: lấy dễ, khá giả hòa thuận đến già.

    – Cơ Cự đồng cung: người xứng đáng, trễ mới tốt.

    – Cơ Nguyệt đồng cung ở Thân: người xứng đáng, cưới sớm.

    – Cơ Nguyệt đồng cung ở Dần: hay khó khăn, trễ mới tốt.

    – Thiên phủ ở Tỵ Hợi: khá giả, hòa thuận đến già.

    – Thiên phủ ở Sửu, Mùi, Mão, Dậu: khá giả và chung sống đến già nhưng hay cãi nhau.

    – Thái âm sáng: khá giả, cưới sớm, chung sống bạc đầu.

    – Thái âm tối: bất hòa, hôn phối không tốt, trễ mới tốt.

    – Tham lang ở Thìn, Tuất, Tý, Ngọ: tốt nhưng hay ghen, trễ mới tốt.

    – Cự môn tại Tý, Ngọ, Hợi: khá giả, ở được với nhau, nhưng hay bất hòa.

    – Cự môn tại Thìn, Tuất, Tỵ: xung khắc, hay bỏ nhau.

    – Thiên tướng: trai nể vợ, gái lấn áp chồng, trễ mới tốt.

    – Thiên lương ở Tý, Ngọ: vợ đẹp, chồng sang, khá giả.

    – Thất sát: trễ mới tốt, sớm thì hình khắc chia ly.

    – Phá quân: trễ mới tốt, sớm thì hình khắc chia ly.

    Ảnh hưởng trung tinh

    Các trung tinh tốt cho thêm ảnh hưởng tốt, về vợ hay chồng khá giả và về sự hòa thuận: Xương, Khúc, Khôi, Việt.

    Sát tinh (Không Kiếp Kình Đà Linh Hỏa): miếu vượng thì chủ bất hòa hoặc chia ly thời gian ngắn; hãm thì hình khắc, họa hại người hôn phối xấu xa, bậy bạ. Cũng phải xét thêm ở chỗ giao ảnh hưởng với các sao khác.

    – Tả Hữu: tăng ảnh hưởng cho các sao tốt hay xấu.

    – Hóa lộc: hôn phối giàu.

    – Hóa quyền: vợ lấn quyền, chồng sang.

    – Hóa khoa: hôn phối có học, có chức.

    – Hóa kỵ: bất hòa.

    – Lộc tồn, Cô Quả, nên cưới trễ sẽ tránh chia ly.

    – Thiên Mã: nên duyên ở nơi xa.

    – Phục binh: đi lại với nhau rồi mới cưới.

    – Tướng quân: đi lại trước, cưới sau.

    – Quang Quý: vì ân tình mà lấy nhau.

    – Song Hao: cưới dễ hoang toàn.

    – Cô Quả: bất hòa, hay xa cách.

    – Đào Hồng: cưới xin dễ nhưng nếu Đào Hồng hãm: hình khắc, chia ly.

    – Thiên Diêu: hoang dâm, bất chính.

    – Tuần, Triệt: trễ mới tốt (để khỏi bị hình khắc).

    Ảnh hưởng chính tinh so với ảnh hưởng trung tinh

    Trong cung Phu thê, có cả chính tinh và trung tinh gặp nhau, thì ảnh hưởng chính tinh mạnh hay trung tinh mạnh?

    Xin thưa: ảnh hưởng chính tinh mạnh hơn ảnh hưởng trung tinh.

    Vậy nên chính tinh mà tốt, gặp trung tinh xấu thì cái tốt được giảm đi chứ không bị xấu.

    Nếu chính tinh có ảnh hưởng xấu gặp trung tinh tốt, thì cái xấu bớt đi chứ cái tốt chưa có.

    Tuy nhiên, cũng có những cách cố định, gặp phải là có một ảnh hưởng nhất định, hoặc có những trung tinh, hung sát tinh mạnh thì có ảnh hưởng lấn át chính tinh.

    Vài dữ kiện thí dụ

    Phu thê có Cô, Quả, Đào Hồng hãm, Tả Hữu, Không Kiếp là báo hiệu sự hình khắc chia ly.

    Lộc tồn, Vũ khúc, Cự Kỵ cũng thường báo hiệu sự chia ly.

    Một người có Tử Phủ, Không Kiếp ở Thê, là cái tốt bị phá mất, mai mối nhiều lần không xong. Nhưng nếu sang Thân (ứng về hậu vận) tốt thì lại đỡ. Người đó lập gia đình muộn, vào năm 35 tuổi, được tốt.

    Sự kiện được ghi ở các cách chính tinh bên trên (trễ mới tốt) được nghiệm ra là rất đúng. Gặp những chính tinh đó lập gia đình sớm là bị hình khắc chia ly. Nhưng lập gia đình trễ thì không sao, tức là tránh được hình khắc chia ly.

    Xem về vợ bé, phải xem cung Nô.

    Tuy nhiên, cũng có cách người góa vợ, lấy vợ sau, phải đoán ra. Như gặp Tả Hữu, Hồng Đào hãm, Không Kiếp, Cô Quả là cách góa vợ, nhưng lấy vợ sau thì khác đi.

    Có Tuần Triệt thì lập gia đình gặp cản trở. Hai người chê nhau, hoặc gặp khó, nhưng chỉ khó lần đầu thôi. Không phải có Tuần Triệt là không có vợ chồng. Còn Tuần Triệt gặp Tướng thì hình khắc (Tướng ngộ Tuần hay Triệt là cách độc).

    Một người Mệnh có Liêm trinh đắc địa, Thiên không, Hồng loan tại Dần Thân Tỵ Hợi, là người đứng đắn, lòng chỉ muốn tu, thì không nghĩ đến việc lập gia đình. Tuy nhiên đến năm 35 tuổi gặp Đào, Thai, Phục, Vượng, Tướng, lòng tự nhiên thấy mở rộng ra tình yêu, hoặc gặp trường hợp đặc biệt, thế là thành vợ thành chồng. Có sao đứng đắn, phải gặp lúc có những sao thật bay bướm mới thành hôn.

    Hạn lấy vợ, lấy chồng

    Xưa lập gia đình, nay trễ. Như vậy, cũng những người đó, những lá số đó, hoàn cảnh đất nước (chiến tranh, đời sống khó khăn, việc lập sự nghiệp đeo đẳng kéo dài) có thể làm lệch lạc số mạng chăng? Cũng không hẳn thế, là vì có số mạng, nhưng cũng có con người quyết định mới được.

    Vả chăng, số vẫn có, bởi vì những cách báo hỉ vẫn xuất hiện, không năm này thì qua năm khác. Năm nay không báo hỉ, không hôn nhân thì thi đậu, hay đi làm, không thi đậu, đi làm, thì hôn nhân.

    – Đại tiểu hạn trùng phùng tại cung Phu thê.

    – Hạn có Nhật Nguyệt chiếu.

    – Hạn có Đào, Hồng, Hỉ.

    – Hạn có Sát, Phá, Liêm, Tham.

    Tức là những hạn có hỉ tinh. Phải xem cả đại hạn và tiểu hạn. Đại hạn có cách bảo hỉ. Tiểu hạn cũng có cách báo hỉ, thì đó là hạn thành hôn.

    Trường hợp Thân cư Thê và chồng sợ vợ

    Người đời thường bảo rằng Thân đóng ở Thê là người sợ vợ, hay nói nhẹ đi là người nể vợ, điều đó rất sai.

    Thân cư Thê không phải sợ vợ.

    Thân cư Thê cũng không đương nhiên là nhờ vợ, cũng không phải Thân cư Phu là đương nhiên nhờ chồng. Thật thế, cung Phu thê mà xấu thì nhờ được nỗi gì đâu? Họa chăng là cung đó tốt, nghĩa là chồng hay vợ được giàu sang, mình mới nhờ.

    Vậy Thân cư Thê có nghĩa là gì? Có nghĩa là cuộc đời đương số chịu ảnh hưởng của vợ. Thân cư Phu cũng vậy. Chịu ảnh hưởng thỉ rời ra không được. Một ông Thân cư Thê mà chúng tôi biết được bà xã rất tháo vát, một tay quán xuyến việc nhà, ông không phải lo gì hết. Một ông khác cũng Thân cư Thê, giao hết con cái cho vợ để ông đi làm chính trị, đôi khi ông cũng léng phéng, nhưng các cô mèo chỉ đi thoáng qua và ông vẫn coi vợ trọng hơn hết. Cũng có thể là ảnh hưởng bà xã mạnh ông chồng nể vợ là ở chỗ đó.

    Thế tại sao chồng lại sợ vợ? Gặp cách nào thì chồng sợ vợ? Đó là khi cung Thê có quyền tinh. Vợ mà có quyền thì ông chồng phải sợ. Các cách quyền tinh ở cung Thê là những cách đứng đắn và quyền hành:

    – Thiên tướng, Quốc ấn (mạnh)

    – Tướng quân, Quốc ân (mạnh vừa)

    – Hóa quyền

    – Khôi Việt

    – Tử vi, Tả Hữu

    – Thiên phủ, Tả Hữu

    Chúng tôi có biết một ông có quyền chức lớn, ra ngoài hét ra lửa, ai cũng phải sợ. Thế mà ở nhà, khi bà hét, ông run lên cầm cập, len lét rút vào một xó không dám ho he. Chỉ tại ở cung Thê của ông, có mấy cách quyền tinh chập lại. Lý thứ nhất là lúc bà nổi giận mà phạt ông sau lần bắt được ông léng phéng với nữ thư ký. Bà quát:

    – Nằm xuống giường.

    Ông len lét nằm xấp xuống giường.

    Bà hỏi:

    – Mấy roi?

    Ông thưa:

    – Xin bà ba roi.

    Bà cầm lấy cây chổi phất trần, quất xuống 3 roi thật mạnh vào mông đít. Ông kêu van xin chừa.

    Câu chuyện đó thật 100%. Cả ông, cà bà cũng không cười trong lúc diễn ra cảnh đó. Ông sợ thật và bà cũng thật sự biểu lộ quyền oai theo sở thích của bà.

    KHHB 74-K2 – Thanh Mai

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Luận Giải Sao Thái Âm Trong Khoa Tử Vi
  • Sao Thái Âm Chiếu Cung Phu, Nữ Qúy Sửu Không Lo Hạnh Phúc Gia Đình Tan Vỡ
  • Sao Thái Âm Tọa Cung Mệnh, Hóa Khí Thành Phú
  • Sao Thái Âm Tọa Cung Thìn
  • Văn Khấn Dâng Sao Giải Hạn Đầu Năm Cho Sao Thái Âm
  • Luận Đoán Cung Phu Thê Phần 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Bình Giải Sao Thái Dương
  • Tự Học Tử Vi Bài 20: Sao Thái Dương
  • Đặc Tính Của Sao Thái Dương
  • Thiên Cơ Thái Âm Cung Tài Bạch
  • Cung Thiên Di Là Gì?
  • Người phối ngẫu tính cương, có dục vọng thống trị, hội sát tinh, ở nhà bá đạo, thiếu giao lưu tình cảm, nhất định phải kết hôn muộn, thì đôi bên mới sống với nhau đến già. Hội Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp, chủ khắc, nếu kết hôn muộn có thể tránh khắc.

    Tử Vi ở Tý Ngọ độc thủ, phối ngẫu đa phần lớn tuổi hơn mình, ở Ngọ cũng chủ kết hôn muộn. Không hội sát tinh, chủ hiền lương, đoan trang, xinh đẹp, sống với nhau đến già.

    Hội một trong tứ sát Kình Dương Hỏa Linh, tất ly hôn.

    Tử Vi Phá Quân tại Sửu Mùi, không hội át tinh cũng chủ khắc, hay tranh cãi, hội sát tinh tất ly hôn, tam phương cung Phu Thê hội sát tinh cũng chủ ly hôn. Hội Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt, tát có ngoại tình, sinh ly.

    Tử Vi Thiên Phủ tại dần thân, cũng không phải là điều tốt, đa phần bằng mặt không bằng lòng, hoặc sẽ tái hôn. Hội sát tinh thì ly hôn, nếu không khắc hình thương. Hội Tả Hữu Xương Khúc đồng cung hay hội chiếu, phối ngẫu và bản thân mình đều có ngoại tình, cũng chủ điềm phân ly. Tử Vi Tham Lang ở Mão dậu, phối ngẫu đa phần làm việc ở ngoài hay xã giao rộng, cũng chủ có điềm có người tình, ngoại tình (bản thân không nhất định biết được). Không hội sát tinh thì có thể sống với nhau đến già, hội sát tinh chủ sinh ly.

    Tử Vi Thiên Tướng ở Thìn tuất, dễ lấy người nhỏ tuổi hơn mình. Phối ngẫu ôn hòa, nhưng vợ chồng tình cảm bạc, đồng sàng dị mộng. Hội Dương Đà vợ chồng hay đánh nhau, tất ly, thậm chí vài lần đò.

    Tử vi Thất sát tại tỵ hợi, phối ngẫu cương cường, hay tranh chấp. Muộn hôn có thể tránh khắc, hỉ được nhiều cát tinh hóa giải. Đa phần lấy nhau vì tiếng sét ái tình.

    Thiên Cơ trong cung phu thê

    Nam chủ vợ nhỏ tuổi, nhỏ nhắn xinh xắn đáng yêu, tính cương cơ xảo, yêu và kết hôn khá sớm; nữ chủ chồng lớn tuổi. Hội các ác tinh Cự Môn, kình dương, đà la, hỏa tinh, linh tinh, thiên hình, hóa kỵ thì sinh ly, bất hòa, lạc hãm nếu kết hôn muộn có thể tốt hơn. Qua nhiều lá số chứng minh, thiên cơ nhập cung phu thê, hôn nhân dễ có trở ngại, cũng không phải điềm không tốt, có điều khiến người khác tiếc nuối đó là, hoặc khẩu thiệt nhiều, vợ chồng khó tránh tranh cãi, hoặc 1 bên thường xuyên phải ra ngoài, 1 bên ở nhà đơn độc 1 mình, hội sát tinh ly dị.

    Thiên Cơ tại Tý Ngọ độc thủ, hòa hợp tốt đẹp, nam chủ vợ nhỏ nhắn xinh xắn, thông minh chăm chỉ giỏi việc nhà, nữ chủ chồng hiền.

    Thiên Cơ tại Sữu Mùi độc thủ, phối ngẫu nếu cách tuổi xa (lớn hơn nhiều tuổi) thì vợ chồng không khắc, hoặc nhỏ hơn từ 5 tuổi trở lên, tốt đẹp hòa thuận. Hội sát tinh bất hòa hay tranh chấp, sát tinh nặng thì sinh ly.

    Thiên Cơ Thái âm ở dần thân, nam lấy được vợ đẹp, được giúp đỡ. Nữ lấy được chồng tuấn tú. Yêu sớm, hôn nhân lãng mạn, nhưng phối ngẫu có tư tình ngoại tình. Hội sát tinh hoặc hóa kỵ, bất hòa sinh ly, hội tả hữu xương khúc cũng khó sống đến bạc đầu.

    Thiên Cơ cự môn tại mão dậu, nữ chủ có chồng thông minh hơn người, nam chủ vợ tính hấp tấp, hay tính toán, vợ chồng hay khẩu thiệt tranh chấp, tình cảm không được mỹ mãn, hội cát tinh thì vợ giỏi chăm lo gia đình. Hội sát tinh hình khắc.

    Thiên Cơ thiên lương tại thìn tuất, phối ngẫu lớn tuổi hơn thì có thể sống với nhau đến bạc đầu. Hội sát tinh muộn hôn, trước khi kết hôn bị thất tình hay lùi ngày cưới.

    Thiên Cơ tại Tỵ hợi độc thủ, chủ hòa hợp tốt đẹp, hội Đà La Hỏa Linh Không kiếp sinh ly.

    Thái Dương trong cung phu thê

    Chủ hòa hợp, hội tứ sát nam nữ đều khắc, muộn hôn thì tốt, hội nhiều cát tinh thì nam mệnh chủ lấy vợ tính hào sảng, tính nóng vội, có chí khí nam nhi, được giúp đỡ, kinh tế địa vị nhà vợ tốt, quý nhờ vợ, nữ mệnh chủ vinh như nhờ. Thái dương nhập miếu vượng không hội sát tinh thì mỹ mãn, hội sát tinh thì không hòa thuận. Thái Dương lạc hãm không tốt, hội sát tinh hình khắc, nếu không ly dị, thì có phối ngẫu bệnh tật yếu ớt, thương tật hay có khả năng bị khắc chết. Hóa Kỵ, phối ngẫu tính hấp tấp đa nghi, nữ mệnh chủ chồng có bệnh. Thái dương hãm địa hội sát tinh hóa kỵ, cực đoan không tốt.

    Thái Dương ở tý, dù không hội sát tinh cũng không tốt, có khắc, hội Dương Hỏa Linh không Kiếp chủ sinh ly. Hóa Kỵ vợ chồng trở mặt thành thù, sinh ly.

    Thái Dương thái âm ở sửu mùi, nam nữ đều chủ yêu sớm, tình đầu bất thành. Dương Đà Hỏa Linh Hóa kỵ đồng cung thì sẽ tái hôn. Hóa lộc quyền khoa ân ái giúp đỡ lẫn nhau. Nam chủ vợ đẹp, hiền, giúp đỡ được mình, sống với nhau đến già, hội cát tinh càng đẹp. Hội sát tinh nên muộn hôn thì có thể sống với nhau đến già. Nữ chủ yếu người yêu nhiều nhưng tất có thất tình, không hội sát tinh thì sống với nhau đến già, hội sát tinh thì dâm đãng, hôn nhân không tốt.

    Thái Dương Cự môn tại dần thân, vợ chồng hay tranh cãi, không hội sát tinh Kỵ có thể sống với nhau đến già. Dù có hội cát tinh, nếu phùng Hóa Kỵ cũng chủ phối ngẫu ngoại tình, sinh ly.

    Hội Đà La Hỏa Linh Kỵ, tất ly hôn. Nữ mệnh thì thường là sư tử hà đông.

    Thái Dương Thiên lương ở mão dậu, nam nên lấy vợ lớn tuổi lơn, nữ nên lấy chồng nhỏ tuổi hơn. Hội Khôi việt xương khúc lộc tồn, nam lấy được vợ con nhà giàu có, vợ lấy được chồng nhiều tiền.

    Không hội sát tinh có thể sống với nhau đến già. Hội Dương Đà hóa Kỵ sinh ly, Hỏa Linh cũng khắc, bất hòa, hay nghi ngờ vô căn cứ.

    Thái Dương tại Thìn Tỵ Ngọ, không hội sát tinh, nam quý vì vợ, nữ lấy được chồng hiền lành giàu có. Thái Dương hóa lộc, cát mà có tiền tài. Thái dương hóa quyền, phối ngẫu tính cương, khó tránh khẩu thiệt, có thể sống với nhau đến già. Hóa Kỵ bất hòa, hội sát tinh sinh ly. Cung Ngọ hội Dương Hỏa linh, vợ chồng mỗi người 1 lòng riêng, thậm chí đấm đá lẫn nhau.

    Thái Dương ở Tuất hợi, điềm không tốt. Muộn hôn có thể tránh hình khắc, tảo hôn bất hòa. Hóa Kỵ hoặc hội Dương Đà, nữ lấy phải chồng bất tài, nam chủ vợ bệnh, tính cách cương cường, sinh ly. Thái dương ở Tuất, tỉ lệ ly hôn rất cao.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sao Thái Dương Và Những Điều Cần Biết
  • Sao Thái Dương Tọa Thủ Mệnh Thân Toàn Thư
  • Tử Vi Đẩu Số: Luận Về Cung Quan Lộc
  • Ý Nghĩa Các Sao Chính Tinh Đóng Tại Cung Quan Lộc
  • Cung Quan Lộc, Thăng Quan Tiến Chức Miếu Đài Hiển Vinh
  • Bánh Phu Thê Là Gì? Cách Xếp Bánh Phu Thê Lên Tráp Cưới

    --- Bài mới hơn ---

  • Mâm Quả Cưới Truyền Thống
  • Mâm Quả Bánh Phu Thuê
  • Mâm Quả Cưới Quần Áo
  • Dịch Vụ Cưới Hỏi Ở Hóc Môn
  • Lễ Đính Hôn Cần Chuẩn Bị Gì?
  • Bánh xu xê hay còn gọi là bánh phu thê là loại bánh không thể thiếu trong đám cưới truyền thống của người Việt. Mặc dù thời đại ngày nay có rất nhiều loại bánh cưới hiện đại, được tạo hình đẹp mắt nhưng bánh phu thê vẫn là loại bánh phổ biến nhất được nhà trai chọn đặt vào trong tráp để làm lễ vật cho nhà gái.

    Truyền thuyết về bánh phu thê

    Truyền thuyết từ vua Lý Anh Tông

    Theo truyền thuyết người xưa kể lại rằng: tên gọi bánh phu thê là do sự tích vua Lý

    Anh Tông đi đánh trận, người vợ ở nhà thương chồng vất vả đã tự tay vào bếp làm

    bánh gửi ra cho chồng…

    Vua ăn thấy ngon, nghĩ đến tình vợ chồng đã đặt tên bánh là bánh phu thê. Cũng vì tên gọi ấy mà bánh phu thê (hay cũng còn gọi là xu xê) luôn được buộc thành cặp, biểu trưng cho sự gắn bó son sắt của tình chồng vợ.

    Truyền thuyết từ người lái buôn

    Chuyện kể rằng, trước lúc người chồng lên đường

    đi buôn ở phương xa, người vợ làm bánh tặng chồng và thề rằng cho dù xa nhau nhưng

    lòng nàng vẫn luôn ngọt ngào, đậm đà như bánh. Chồng cảm động đặt tên cho bánh

    là bánh phu thê. Chẳng ngờ đến phương xa, người chồng bị say đắm bởi sắc đẹp của

    các cô gái lạ và không muốn quay về. Người vợ ở nhà biết tin liền làm bánh gửi

    cho chồng kèm theo lời nhắn:

    “Từ ngày chàng bước xuống ghe

    Sóng bao nhiêu đợt bánh rầu bấy nhiêu”

    Nhận được bánh và lời nhắn của vợ, người chồng

    hối hận liền tức tốc quay về và không còn nghĩ đến chuyện thay lòng đổi dạ nữa.

    Từ đó, người ta truyền nhau rằng bánh phu thê tượng trưng cho sự thủy chung của

    vợ chồng, và thường hay có mặt trong tiệc cưới như một lời nhắn nhủ đến các đôi

    vợ chồng trẻ.

    Truyền thuyết từ vua Lý Thánh Tông

    Theo truyền thuyết, trong thời nhà Lý, các nông

    dân thường sử dụng các loại nông sản của mình trồng ra để làm các loại bánh

    dâng cúng tổ tiên và thần linh, trong đó có một loại bánh gọi là bánh Su Sê.

    Trong một lần đi vi hành, vua Lý Thánh Tông cùng vợ là Nguyên Phi Ỷ Lan về quê

    lễ Lý Thái Tổ và Lý Thái Tông ở Đền Đô.

    Tại đây, dân làng đã dâng Đức vua và Nguyên Phi

    đặc sản của quê hương là bánh Su Sê. Đức vua và Nguyên Phi thưởng thức món bánh

    này và khen ngon. Thấu suốt sự hàm chứa nhiều ý nghĩa nhân văn của loại bánh

    ngon, nhà vua đã truyền rằng bánh nên là một lễ vật trong ngày vui kết thành

    phu thê. Từ đó, bánh được gọi là bánh Phu Thê.  

    Bánh phu thê được làm từ nguyên liệu nào?

    Nguyên liệu chính làm ra bánh chính là tinh bột của gạo nếp cái hoa vàng thơm ngon. Tinh bột đó được xây nhuyễn, sau đó mới đem phơi và sấy khô trước khi được sử dụng để làm bánh.

    Nhân bánh su sê được làm bằng đậu xanh, sợi dừa và cả hạt sen nữa. Vỏ bánh có màu vàng, màu vàng này được tạo ra từ chiết xuất hoa dành dành phơi khô.

    Lớp bên ngoài cùng của bánh phu thê được gói bằng 2 loại lá.

    Lớp ngoài cùng là lớp lá dừa để bảo vệ bánh, lớp bên trong là lớp  lá chuối để chóng dính.

    Ý nghĩa của bánh phu thê trong ngày cưới

    Bánh xu xê hay còn gọi là bánh phu thê là loại bánh không thể

    thiếu trong đám cưới truyền thống của người Việt. Mặc dù thời đại ngày nay có rất

    nhiều loại bánh cưới hiện đại, được tạo hình đẹp mắt nhưng bánh phu thê vẫn là

    loại bánh phổ biến nhất được nhà trai chọn đặt vào trong tráp để làm lễ vật cho

    nhà gái.

    Những chiếc bánh xu xê sẽ được dán chữ Song Hỷ bằng giấy đỏ lên mỗi chiếc bánh trước khi nó được xếp vào trong tráp làm sính lễ cưới mang qua gia đình nhà gái.

    Khay sính lễ bánh su sê

    Tráp bánh phu thê trong lễ ăn hỏi truyền thống của Việt Nam thường tượng trưng như lời chúc phúc cho đôi vợ chồng trẻ tình cảm thêm mặn nồng và sâu sắc.

    Tráp bánh phu thê thông thường sẽ đi đôi với tráp bánh cốm. Bánh cốm đại diện cực Dương, trái ngược với bánh su sê đại diện cho cực âm. Khi kết hợp 2 loại bánh này sẽ tạo thành âm dương hòa hợp tượng trưng cho chuyện vợ chồng luôn hòa hợp và yêu thương nhau bền lâu.

    Số

    lượng bánh và cách xếp bánh lên tráp trong lễ cưới

    Nên đặt bao nhiêu bánh trong tráp bánh

    Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế của mỗi gia đình mà số lượng

    bánh phu thê trong tráp có thể dao động từ 80 đến 100 cái. Có một lưu ý là số

    lượng bánh được xếp trong tráp luôn luôn phải là số chẵn

    Cách xếp bánh lên tráp

    Cách xếp bánh lên tráp theo kiểu tháp hình chóp

    Theo cách xếp bánh này thì bánh phu thê sẽ được đựng trong những chiếc hộp nhỏ thay vì được gói bằng lá chuối. Người ta xếp các hộp bánh lên nhau theo hình của một tòa tháp hình chóp và trang trí thêm nơ và dây ruban đỏ trắng. Sau đó buộc chặt các bánh lại với nhau

    Cách xếp bánh lên tráp theo kiểu tháp hình chóp

    Cách xếp bánh theo kiểu hiện đại và cao cấp

    Bánh sẽ được xếp vừa vặn trên 1 khay tròn làm bằng sơn mài

    cao cấp. Có thể sẽ xếp theo dạng hình tháp, tuy nhiên nó được trang trí thêm

    các loại hoa tươi làm cho tráp bánh trở nên hiện đại và đẹp hơn.

    Cách xếp bánh theo kiểu hiện đại và cao cấp

    Cách xếp bánh theo hình ngôi sao

    Cách xếp bánh này sẽ sử dụng loại bánh được gói bằng lá chuối

    và  chỉ việc xếp vừa vặn bánh vào mâm

    tráp tròn, đến lớp trên cùng thì các bạn xếp cách chiếc bánh khéo léo lại thành

    hình ngôi sao. Sau đó trang trí thêm nơ và hoa màu đỏ vào là được.

    Cách xếp bánh theo hình ngôi sao

    Cách xếp bánh theo kiểu hình tròn

    Vẫn sử dụng các loại bánh được gói bằng lá chuối. Bánh được

    xếp thành hình tròn theo viền của tráp, và nó được xếp thành 2 đến 3 hình tròn

    cho đến khi đầy tráp và người ta sẽ xếp đến lớp bánh thứ 2 đặt lên phía trên lớp

    bánh hình tròn vừa xếp

    Cách xếp bánh theo kiểu hình tròn

    Lời kết

    Rất mong là sau những chia sẻ thông tin về bánh phu thê của

    webdamcuoi có thể giúp cho các bạn hiểu biết rõ hơn về loại bánh được cho là

    không thể thiếu trong bất kỳ đám cưới nào của người Việt.

    Nếu thấy bài viết hay , chia sẻ ngay với bạn bè

    Pinterest

    Linkedin

    Tumblr

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bánh Pía Mâm Quả Của Người Miền Nam Nên Chọn Mua Bánh Nào ?
  • Mâm Xôi Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Quả Mâm Xôi Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Mâm Quả Đám Hỏi Gồm Những Gì?
  • Trình Tự Đầy Đủ Của Lễ Rước Dâu Truyền Thống
  • Luận Giải Hình Dáng Vợ Chồng Qua Cung Phu Thê

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Về Cung Tài Bạch
  • Sao Thái Tuế Là Gì? Ý Nghĩa Thái Tuế Trong Tử Vi Và Cung Mệnh
  • Lộc Tồn Và Bác Sĩ
  • Ý Nghĩa Của Sao Tam Thai – Học Tử Vi
  • Tính Chất Của Các Sao Lưu Động Trong Tử Vi
  • Cung Phu Thê trong lá số Tử Vi biểu hiện quan hệ vợ chồng, hình dáng vợ chồng. Đồng thời bộc lộ một số điều cơ bản về sinh hoạt vật chất và tinh thần của người chồng hay người vợ đương số.

    Thiên Nguyệt Đức ngộ Đào Hồng

    Trai lấy vợ đẹp gái chồng giàu sang.

    Sao Thai mà Ngộ Đào Hoa

    Tiền dâm hậu thú mới ra vợ chồng.

    Vợ chồng viễn phối tha phương

    Đào Hồng đối chiếu vào làng Thiên Di.

    Phu cung Hóa Kỵ một mình

    Tơ lòng chưa dứt mối tình đã lui.

    Thiên Riêu bất chính cả đời

    Liêm Trinh viễn phối ở nơi bần hàn.

    Triệt Tuần ngộ Mã Hành thê vị

    Vợ bỏ chồng Đào Tị tha hương.

    Vợ chồng nay giận mai hờn

    Phục Binh Hóa Kỵ nơi toà phu thê.

    Vợ về có của muôn vàn

    Ân Quang, Nguyệt Đức, Thái Dương, Mã Đồng

    Ai mà Thiên Tướng, Đào Hồng

    Ai mà Thiên Mã Lộc phùng Thanh Long.

    Luận giải Cung Phu Thê

    Việc luận giải Cung Phu Thê trong Lá Số Tử Vi rất là quan trọng. Bởi nó biểu thị mối quan hệ giữa đương số và người phối ngẫu. Sự nghiệp thành công hay thất bại. Cuộc đời thuận buồm xuôi gió hay trắc trở gập ghềnh. Tất thảy đều không thể bằng có được một người phối ngẫu tốt.

    Nữ nhân có thể vì tình cảm mà Hi Sinh. Nam nhân có thể vì tình cảm mà lấy lại Đấu Chí

    (*Đấu Chí – Ý chí phấn đấu trong cuộc sống)

    Trong “Tam phương tứ chính”, Cung Phu Thê hội hợp với các cung: Cung Phúc Đức, Cung Quan LộcCung Thiên Di. Cách bài bố này đặc biệt phù hợp với triết lý nhân sinh của đời người.

    Sự nghiệp của một người, đương nhiên chịu ảnh hưởng của đời sống hôn nhân. Thiên Di có nghĩa là đi xa, là vợ chồng chia ly hay gặp gỡ nhau nơi đất khách quê người. Phúc Đức lại chủ về đời sống tinh thần của hôn nhân. Vợ chồng hòa hợp hay xung khắc, gần gũi hay xa lạ tất chịu ảnh hưởng từ cung này

    Cho nên việc quan sát và luận đoán Cung Phu Thê. Cần phải xem xét kỹ các tinh diệu tọa thủ tại 3 cung Phúc Đức, Thiên Di và Quan Lộc. Tinh diệu từ 3 cung này, tất cũng chịu sự ảnh hưởng chi phối ngược từ Cung Phu Thê, điều này cũng là sự hợp lý

    Bài viết chuyên sâu về Cung Phu Thê này. Ngoài việc phân tích tính chất của 14 Tinh hệ chính diệu khi nhập vào Cung Phu Thê. Còn trình bày thêm tính chất của lũ Phụ tinh, Tá tinh, Sát tinh… khi chúng cùng nhập vào Cung Phu Thê. Mọi người cần dung nhập những tính chất này với tính chất của các chính tinh để cân nhắc xem tình hình mạnh lên hay yếu đi, hoặc tình hình chuyển hóa thế nào để đưa ra luận đoán.

    Chẳng hạn “Thiên Cơ Cự Môn” chủ trước lúc hôn nhân có sóng gió trắc trở, hơn nữa còn chủ về phiêu bạt trôi nổi. Mà  tính chất của Lộc Tồn lại chỉ phu thê ân ái đằm thắm, duy có vấn đề là đương số dễ bị người phối ngẫu ức hiếp bắt nạt. Bởi vậy mà vợ chông li tán, phân ly. Trường hợp luận đoán, có thể tham khảo 2 tính chất này, phối hợp thêm vòng đại hạn hoặc lưu niên để xét đoán xem cụ thể xảy ra chuyện gì.

    Trong xã hội hiện nay, đời sống sinh hoạt hôn nhân giữa vợ chồng. Việc luận đoán không ngoài những vấn đề như tình cảm, tài năng, nhan sắc và tiền bạc. Thế sự rất khó toàn mĩ, tài năng và nhan sắc rất khó lưỡng toàn. Nhưng cũng không phải là không có khả năng tài năng, nhan sắc và tiền bạc đều có đủ. Cho tới trường hợp khi các phương diện đều hợp với lí tưởng, thì tình cảm thường thường lại dễ xảy ra thay đổi.

    Cho nên đạo vợ chồng quý ở chỗ biết “Thấy vừa là đủ”. Những điều được trình bày ở bài viết này không những chỉ ra những hiện tượng quan trọng, mà còn gợi ý biện pháp dùng nỗ lực hậu thiên để bổ cứu và thích ứng với cuộc sống hôn nhân. Hy vọng mọi người có thể lĩnh ngộ ra một đôi điều gì đó…

    Cách xem Cung Phu Thê Tốt hay Xấu trong Lá Số Tử Vi

    Để luận đoán xem hôn nhân có được mĩ mãn hay không. Ngoại trừ xem xét Cung Phu Thê. Cần phải đồng thời quan sát Mệnh, Thân. Sau đó đem cả 2 tính chất xem xét được tiến hành dung hòa, tổng hợp lại để luận đoán.

    Lưu ý, đại hạn có Cung Phu thê đều cần phải xem xét cẩn thận để có thể nhìn ra được sự thay đổi trong quan hệ tình cảm vợ chồng. Thông thường, không nhất thiết phải sử dụng quan hệ giữa các tinh hệ tại đại hạn Mệnh Thân để hỗ trợ luận đoán, trừ khi xem xét bệnh tật

    Muốn luận đoán về hôn nhân, tốt nhất là mang Lá Số Tử Vi của cả hai người nam và nữ ra quan sát một lượt. Miễn là chỉ cần cân nhắc cặn kẽ, tỉ mỉ thì có thể nhìn ra một số tình tiết.

    Muốn xem Cung Phu Thê tối hay xấu, cần phải lưu ý một số nguyên tắc sau:

    • Nhiều cát tinh tụ hội chưa hẳn đã có lợi. Như Văn Xương Văn Khúc chủ được người phối ngẫu quan tâm chăm sóc, nhưng cũng có khả năng có tình nhân bên ngoài.

    • Hung tinh ác sát cũng chưa hẳn là không cát. Như Đà La chủ phối ngẫu phương xa. Nhưng nếu gặp Lộc Mã lại chủ tha hương phát tài, hơn nữa cảm tình phu thê có khả năng rất tốt đẹp.

    Cho nên tất cần phải tử tế cẩn thận cân nhắc đắn đo

    Tử Vi Cung Phu Thê

    Khi Sao Tử Vi ở Cung Phu Thê, chủ về người phôi ngẫu có tính gia trưởng, tính thống trị, mà cũng có tinh thần trách nhiệm. Tử Vi Hóa Quyền, chủ về vợ đoạt quyền chồng, hôn nhân tuy không như ý nhưng không dễ nói lời chia li.

    • Gặp cát tinh, nữ mệnh chủ về chồng vinh hiển, nam mệnh chủ về vợ có khí khái đàn ông.

    • Gặp hung tinh, thì nội tâm đau khổ nhưng bề ngoài vẫn khoan dung.

    Tử Vi độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, không có cát tính, chủ về gần nhau thì ít mà xa nhau thì nhiều, hoặc bằng mặt mà không bằng lòng, hoặc có xu hướng hay hứng thú khác nhau, hoặc người phối ngẫu bị ám tật.

    • Tử Vi ở cung Tí thì người phôi ngẫu có tính hướng nội

    • Tử Vi ở cung Ngọ thì người phối ngẫu có nghề nghiệp đặc biệt.

    Tử Vi độc tọa Tý Ngọ, Nam mệnh nên lấy vợ nhỏ tuổi. Nữ mệnh nên lấy chồng lớn tuổi hơn mình.

    • Tử Vi Phá Quân đồng cung thì phần nhiều lấy vợ lớn tuổi hơn mình, còn chủ về nạp thiếp, hoặc có tình nhân bên ngoài. Nữ mệnh nên lấy chồng lớn tuổi hơn mình. Chủ về vợ chồng gần nhau ít mà xa nhau nhiều, hoặc có sóng gió, trắc trở.

    • Tử Vi Thiên Phủ đồng cung thì nội tâm thường có tâm sự giấu kín. Chủ về hôn nhân muộn, nhưng có thể sống đến bạc đầu.

    • Tử Vi Tham Lang đồng cung thì chủ vợ có chí đàn ông, khó tránh hình khắc, nên kết hôn muộn. Người phối ngẫu nhiều tài nghệ, có tình cảm thú vị. Gặp sát tinh thì trăng gió, gặp đào hoa thì có tình nhân bên ngoài, rơi vào mê lộ nhưng cuối cùng biết quay trở về. Nếu Cung Phu Thê vô chính diệu, đối cung có “Tử Vi Tham Lang”, mà tứ sát cùng chiếu cung phu thê. Kình Dương và Linh Tinh lại đổng độ với “Tử Vi Tham Lang”, thì trái lại, không có niềm vui gia đình.

    • Tử Vi Thiên Tướng đồng cung ở hai cung Thìn hoặc Tuất, là “Thiên La Địa Võng”, dễ xảy ra thay đổi bất ngờ. Vợ tuy có thể giúp chồng về sự nghiệp nhưng bạc tình. Nên kết hôn muộn. Nam mệnh nên lấy vợ nhỏ tuổi.

    • Tử Vi Thất Sát đồng cung là người phối ngẫu có thuật giữ chồng, có lực khai sáng, giỏi nói năng.

    Sao Thiên Cơ Cung Phu Thê

    Khi Sao Thiên Cơ ở Cung Phu Thê, điều này chủ về người phối ngẫu dễ thích ứng hoàn cảnh, tình cảm dễ thay đổi. Không nên gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Hỏa Tinh, Linh Tinh. Chủ về tình cảm thay đổi thường do tính tự do phóng khoáng, thích sao làm vậy mà ra. Gặp hạn tốt có thể hòa hợp trở lại. Người phối ngẫu có nhiều tài, nam mệnh nên lấy vợ nhỏ tuổi hơn mình, cần phải chênh lệch từ ba tuổi trở lên, vợ tính tình khéo léo, cơ trí và biết chăm lo gia đình, dễ bất hòa với thân gia, gặp các sao sát, kị thì càng đúng. Thường có hôn lễ một cách không chính thức, hoặc chủ về người phối ngẫu thích đầu cơ lợi dụng.

    • Thiên Cơ độc tọa ở cung Sửu thì chủ về người phối ngẫu dễ đi xa, li biệt. Ở cung Mùi thì chồng dễ bị dụ dỗ, trước hôn nhân dễ xảy ra sóng gió, trắc trở.

    • Thiên Cơ Thái Âm đồng cung thì hôn nhân ắt phải có một thời kì sóng gió, trắc trở. Gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Hỏa Tinh, Đà La, Văn Xương, Hóa Kị thì càng nặng. Gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền và lục cát tinh thì văn nhã phong lưu, được vợ là người thông minh, nên lấy người nhỏ tuổi hơn mình.

    • Thiên Cơ Cự Môn đồng cung thì trước hôn nhân dễ xảy ra sóng gió, trắc trở. Cũng chủ về nửa cuộc đời phiêu bạt, hoặc sớm thành cô quả, nhẹ thì bằng mặt mà không bằng lòng, người phối ngẫu mê cờ bạc hoặc có tình nhân bên ngoài.

    • Thiên Cơ Thiên Lương đồng cung thì trước hôn nhân từng li hôn, hoặc bị gia đình phản đối. Sau kết hôn dễ có sóng gió, trắc trở, hoặc người phối ngẫu bị nạn tai tật bệnh, nhưng rốt cuộc có thể hóa giải.

    • Thiên Cơ độc tọa ở hai cung Tị hoặc Hợi, chủ về tình cảm dễ thay đổi, yêu đương hay bị trở ngại. Nữ mệnh đoan trang gặp người không đàng hoàng.

    Sao Thái Dương Cung Phu Thê

    Khi Sao Thái Dương ở Cung Phu Thê, nếu hội Kình Dương, Đà La là lúc đầu nồng ấm về sau nguội lạnh, chủ về kết hôn không chính thức. Nữ chủ về người phối ngẫu quý hiển. Thái Dương lạc hãm thì người phối ngẫu bình thường, nhưng cũng được đầm ấm

    Thái Dương hãm mà Hóa Ky, chủ về vợ thì đa nghi, chồng thì nhiều nạn tai tật bệnh, hoặc dễ chia ly.

    Thái Dương gặp cát tinh, nam chủ về nhờ vợ mà được quý.

    • Thái Dương gặp Phá Quân thì thành hôn mà không có nghi lễ chính thức.

    • Thái Dương ở hai cung Tí hoặc Ngọ, nên kết hôn muộn. Nam mệnh thì được vợ kiên trinh, biết chăm lo gia đình. Nữ mệnh có chồng lớn tuổi, lạnh nhạt mà tự cam chịu. Dù tình cảm có sóng gió, trắc trở, rốt cuộc cũng được hóa giải. Gặp nhiều sao trong lục cát tính, lại gặp thêm sát tinh và sao đào hoa, thì vợ chồng đều có tình nhân bên ngoài.

    • Thái Dương ở hai cung Sửu hoặc Mùi mà có Thái Âm đồng độ, có sự thay đổi trước hôn nhân hoặc sau kết hôn. Gặp lục sát tinh, Hóa Kỵ, Tả Phụ, Hữu Bật thì càng nặng, chủ về người phối ngẫu ích kỉ, thân gia bất hòa. Nữ mệnh thì nặng hơn nhiều, chủ về làm vợ lẽ.

    • Thái Dương Cự Môn đồng cung ở cung Dần rất có lợi, không có Hóa Kỵ và Hữu Bật thì đẹp đôi, cũng chủ về lấy người khác văn hóa.

    • Thái Dương Thiên Lương đồng cung ở hai cung Mão hoặc Dậu, chủ về ly tán rồi xum họp. Hoặc trước hôn nhân có trở lực, người phối ngẫu gặp hiểm nạn, rốt cuộc có thể hóa giải. Nữ mệnh chồng không nên kinh doanh làm ăn.

    • Thái Dương độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, gặp cát tinh, chủ về người phối ngẫu nhường nhịn. Gặp sát tinh nên lấy chồng lớn tuổi, lấy vợ nhỏ tuổi, nên kết hôn muộn.

    • Thái Dương độc tọa ở hai cung Tị hoặc Hợi, ở cung Tị thì tốt hơn cung Hợi. Ở cung Tị chỉ chủ về hôn nhân không có nghi lễ chính thức. Ở cung Hợi, kết hôn sớm phần nhiều chủ về li dị, là một đôi không hoàn mĩ, còn chủ về vợ tính cương cường.

    Vũ Khúc Cung Phu Thê

    Khi Sao Vũ Phúc ở Cung Phu Thê. Bởi Vũ Khúc chủ về cô độc và hình khắc nên nếu gặp Thất Sát, Phá Quân, chủ về ba lần nhân duyên. Vũ Khúc nhập miếu thì khó tránh khỏi việc kết hôn muộn.

    “Vũ Khúc Thiên Phủ” ở hai cung Tí hoặc Ngọ, cần phải gặp sao lộc mới chủ về hôn nhân hạnh phúc, hội Liêm Trinh Hóa Lộc mới là tốt. Nếu Vũ Khúc Hóa Lộc, nam mệnh chủ về vợ có năng lực làm việc giỏi hơn chồng. Nếu đối cung là Thất Sát đồng độ với Lộc Tồn, thì tình hình “vợ đoạt quyền chồng” càng nghiêm trọng. Nam mệnh nếu cung mệnh có Hỏa Tinh, Linh Tinh thì chủ về ở rể.

    “Vũ Khúc Thiên Phủ” ở hai cung Tí hoặc Ngọ, nếu Vũ Khúc Hóa Kỵ, nữ mệnh chủ về hôn nhân giữa chừng đứt đoạn, do chồng mắc bệnh, hay chồng thay lòng đổi dạ, có người khác. Nam mệnh chủ về vợ chồng sinh ly. Nếu có nhiều sát tinh hội hợp, thì đây là mệnh tái hôn. Nếu gặp các sao phụ, tá, nam mệnh hay nữ mệnh đều chủ về bị người đã có gia đình theo đuổi. Gặp “sao lẻ” phụ, tá, thì đây là mệnh tái hôn. Có các sao đào hoa hội hợp, thì sau kết hôn vẫn bị người đã có gia đình theo đuổi, nữ mệnh càng nặng.

    Đối với “Vũ Khúc Thiên Phủ” ờ hai cung Tí hoặc Ngọ, các cung hạn Phá Quân, “Tử Vi, Thiên Tướng”, Thiên Đồng, “Thiên Cơ, Cự Môn” là đại vận hoặc lưụ niên ứng nghiệm cát hung có tính then chốt.

    “Vũ Khúc Tham Lang” ở hai cung Sửu hoặc Mùi, thông thưòng chủ về người bạn đời keo kiệt, bủn xỉn, xem nặng tiền bạc, lúc nào cũng kiểm soát tiền bạc của người bạn đời. Có Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc hội chiếu thì không đúng, chủ về chồng giàu có sung túc, hoặc vợ có thể tự mình làm ăn, kinh doanh. Trường hợp đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh, chủ về tình cảm vợ chồng trước nồng ấm sau nguội lạnh. Nếu có các sao đào hoa tụ tập, sẽ chủ về trước hôn nhân và sau kết hôn đều có tình huôhg rối rắm về tình cảm.

    “Vũ Khúc, Tham Lang” đồng độ ở hai cung Sửu hoặc Mùi, có Hóa Kỵ, chủ về vì người bạn đời mà phá tài. Gặp các sao khoa văn hay đào hoa, sẽ chủ về thay lòng đổi dạ, có người khác, gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, sẽ chủ về không có lạc thú khuê phòng, hoặc chủ về tái hôn.

    Đối với “Vũ Khúc Tham Lang” ở cung phu thê, các cung hạn “Thiên Cơ, Thiên Lương”, “Thiên Đồng, Thái Âm” thủ cung phu thê, là đại vận hoặc lưu niên ứng nghiệm cát hung có tính then chốt. Vũ Khúc Hóa Kỵ, nữ mệnh, đặc biệt lấy cung hạn phu thê “Thiên Cơ, Thiên Lương” (mượn sao nhập cung) để định cát hung của chồng.

    “Vũ Khúc Thiên Tướng” đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân, cần phải cương nhu tương tế mới chủ về hôn nhân tốt đẹp. Nếu gặp Tả Phụ, Hữu Bật, thì chủ về vợ chồng giúp đỡ nhau.

    “Vũ Khúc, Thiên Tướng” đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân, quá cứng rắn thì nhân duyên vợ chồng không lâu bền (nam mệnh lại chủ về bị vợ chi phối), quá nhu thì bị người bạn đời gây lụy, đều không phải là mệnh cục tốt đẹp. Nếu bị Hỏa Tinh, Linh Tinh giáp cung, hay Kình Dương, Đà La giáp cung, thì mức độ bất lợi càng nặng. Nhưng trường hợp “Vũ Khúc Thiên Tướng” bị Hỏa Tinh, Linh Tinh giáp cung, mà đối cung có Lộc Tồn, Thiên Mã, thì chủ về người bạn đời hoặc bản thân đương số phải bôn ba vất vả, khiến vợ chồng gặp nhau thì ít mà xa nhau thì nhiều.

    “Khi SaoVũ Khúc và Sao Thiên Tướng” đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân, gặp các sao đào hoa, và “sao lẻ” phụ, tá, chủ về sau kết hôn vẫn dễ có tình yêu với người đã có gia đình. Nếu là “Hình kị giáp ấn”, thì rơi vào vũng bùn của tình cảm mà không thể tự đứng lên được. Nếu là “Tài ấm giáp ấn”, sẽ chủ về tình yêu có tính chất ỷ lại vào đối tượng.

    Đối với “Vũ Khúc Thiên Tướng” đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân, các cung hạn “Thái Dương, Thiên Lương”, “Thiên Đồng, Cự Môn”, và “Vũ Khúc, Thiên Tướng” là những đại vận hoặc lưu niên ứng nghiệm cát hung có tính then chốt.

    “Vũ Khúc Thất Sát” đồng độ ở hai cung Mão hoặc Dậu, thường chủ về kết hôn muộn, nếu không, phần nhiều sẽ có hối tiếc trong hôn nhân, ở cung Dậu thì càng nặng.

    • Trường hợp “Vũ Khúc Thất Sát” ở cung Mão, thì Thái Dương ở cung Thìn là miếu vượng, Thái Âm ở cung Tuất cũng là miếu vượng.
    • Trường hợp “Vũ Khúc Thất Sát” ở cung Dậu thì Thái Dương ở cung Tuất, Thái Âm ở cung Thìn, đều là cung lạc hãm, cho nên cung Dậu không bằng cung Mão (xem hôn nhân, ngoài cung phu thê, còn cần phải xem kèm tình hình “miếu vượng lợi hãm” của Thái Âm Thái Dương).

    “Vũ Khúc Thất Sát” đồng độ ở hai cung Mão hoặc Dậu, nếu Vũ Khúc Hóa Kỵ, hoặc hội Liêm Trinh Hóa Kỵ, lại gặp tứ sát, Địa Không, Địa Kiếp tụ tập ở tam phương tứ chính, chủ về người bạn đời bị tai nạn bất ngờ, hoặc vì người bạn đời mà bị phá tán, thất bại. Thời kì ứng nghiệm thường là đến lưu niên Vũ Khúc, Liêm Trinh Hóa Kỵ trùng điệp, hoặc Kình Dương, Đà La trùng điệp. Luận đại hạn thì lúc đến các cung hạn mượn “Liêm Trinh Tham Lang”, hoặc Thiên Tướng thủ cung phu thê.

    “Vũ Khúc Thất Sát” đồng độ ở hai cung Mão hoặc Dậu, bản cung không gặp sát tinh, mà tam phương gặp sát tinh, sẽ chủ về người bạn đời dãi dầu sương gió, phiêu lưu ở bên ngoài, gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, hoặc gặp Thiên Mã thì càng đúng. Nếu tam phương gặp thêm các sao phụ, tá cát, thì người bạn đời nên theo võ nghiệp. Nếu tam phương có Hỏa Tinh, Thiên Trù đồng độ, hoặc Phá Quân có sao lộc gặp Hỏa Tinh, thì người bạn đời nên kinh doanh ngành ẩm thực.

    “Vũ Khúc Thất Sát” đồng độ ở hai cung Mão hoặc Dậu, cũng chủ về người bạn đời tính cách cứng rắn. Hễ cung phu thê gặp “Vũ Khúc, Thất Sát”, cung phúc đức ắt sẽ là “Tử Vi Phá Quân”, cho nên chủ về người bạn đời tính cách cứng rắn, thường thường khó hòa hợp. Có hòa hợp được hay không, cần phải xem nhóm tinh hệ “Liêm Trinh Tham Lang” có sắc thái gì. Nếu có sắc thái tình cảm thì có thể hòa hợp. Nếu thiên nặng về ham muốn vật chất, thì hai vợ chồng đều muốn khống chế nhau. Trong tình hình này, cung mệnh mà có sao đào hoa thì vẫn chủ về vợ chồng sống với nhau đến bạc đầu.

    “Vũ Khúc Thất Sát” đồng độ ở hai cung Mão hoặc Dậu, rất kỵ Hỏa Tinh, Đà La đồng độ, chủ về tái hôn. Gặp “sao lẻ” Văn Xương hay Văn Khúc, hoặc Hóa Kỵ, chủ về thành thân mà không có hôn lễ chính thức. Trường hợp sát tinh nặng, Vũ Khúc Hóa Kỵ, chồng có bệnh kín, hoặc mắc bệnh phổi.

    Vũ Khúc độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, nên kết hôn muộn, có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ, chủ về thành hôn hấp tấp, vội vàng, được cát hóa và có sao cát, thì người bạn đời tinh tế, sắc sảo, có năng lực làm việc, gặp các sao sát, kị, hình, chủ về vợ chồng sinh ly tử biệt, sát tinh nhẹ thì vì người bạn đời mà phá tài.

    Vũ Khúc ở hai cung Thìn hoặc Tuất khắc hại khá ít, nhưng đến đại hạn Phá Quân, Thất Sát thủ cung phu thê, gặp các sao sát, kị, hình tụ tập, cũng chủ về có khắc hại. Trường hợp hội Tham Lang ở đối cung, có Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh đồng cung, phần nhiều chủ về tình yêu nồng cháy, nhưng cũng nhiều trắc trở, có Thiên Diêu đồng độ thì càng nặng. Vũ Khúc ở cung Thìn tốt hơn ở cung Tuất, xem Thái Dương, Thái Âm miếu hay hãm thì biết.

    Đối với Vũ Khúc ở hai cung Thìn hoặc Tuất, các cung hạn Phá Quân, Thất Sát, Thiên Lương, Cự Môn là ứng nghiệm cát hung có tính then chốt.

    “Vũ Khúc Phá Quân” đồng độ ở hai cung Tị hoặc Hợi, gặp các sao sát, kị, hình, hôn nhân ắt sẽ bất lợi, nên kết hôn muộn, nếu không cũng chủ về tái hôn, làm nhị phòng hay kế thất. Ngại nhất là có Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp đồng độ, phần nhiều chủ về oán hận người bạn đời.

    “Vũ Khúc Phá Quân” đồng độ ở hai cung Tị hoặc Hợi, được cát hóa, có sao cát, sẽ chủ về người bạn đời tinh tế, sắc sảo, bản thân đương số bị người bạn đời khống chế.

    Nếu “Vũ Khúc Phá Quân” có Lộc Tồn, Thiên Mã cùng bay đến, hoặc có Lộc Tồn, Thiên Mã vây chiếu, sẽ chủ về vợ chồng mỗi người một nơi, gặp nhau thì ít mà xa nhau thì nhiều. Có Hỏa Tinh, Linh Tinh hoặc Địa Không, Địa Kiếp đồng độ, chủ về vợ chồng hữu danh vô thực.

    “Vũ Khúc Phá Quân” ở hai cung Tị hoặc Hợi, được cát hóa và có sao cát, Thất Sát kèm sao lộc đến hội, nam mệnh chủ về nhờ vợ mà kiếm được tiền, nữ mệnh chủ chồng phú quý. Trường hợp ở cung Tị tốt hơn ở cung Hợi.

    Đối với “Vũ Khúc Phá Quân” ở hai cung Tị hoặc Hợi, các cung hạn Thiên Đồng, Cự Môn, Thiên Lương, Thái Dương là ứng nghiệm cát hung có tính then chốt.

    Hễ Vũ Khúc ở cung phu thê, có Văn Khúc Hóa Kỵ đồng độ, đều chủ về không có hôn lễ chính thức. Nếu thành cách cục “Linh Xương Đà Vũ”, thì hôn nhân ắt sẽ đổ vỡ, thậm chí “hình khắc” người bạn đời.

    Sao Thiên Đồng ở Cung Phu Thê

    Khi Sao Thiên Đồng ở Cung Phu Thê. Nếu gặp lục cát tinh, chủ về người phối ngẫu xinh đẹp, ung dung, tự nhiên, lịch sự. Nữ mệnh Thiên Đồng thủ Cung Phu Thê gặp tứ sát, Hóa Kỵ, chủ về hữu danh vô thực, làm nhị phòng, hoặc li hôn, tái giá. Hoặc người phối ngẫu bị tật bệnh nạn tai. Gặp Cự Môn thì điều tiếng liên miên.

    Nam nữ đều nên kết hôn muộn, chủ về đã đính hôn rồi hủy bỏ hôn ước sau đó mới kết hôn. Hoặc lấy nhau nhưng không cử hôn lễ chính thức. Nếu không, thì dễ có nhiều vợ, khó tránh lấy vợ nhỏ tuổi. Gặp tứ sát cũng chủ về hữu danh vô thực.

    • Thiên Đồng Cự Môn, chủ về trắc trở, trước hôn nhân xảy ra sóng gió. Nữ mệnh gặp bản cung, có thể lấy chồng sang quý. Chủ về không có danh phận chính thức, nếu không, đến trung niên có thể xảy ra sóng gió.

    • Thiên Đồng Thiên Lương đồng cung,  thời kì tân hôn và lúc già thì cát, thời kì trung niên gần nhau ít mà xa nhau nhiều, hoặc tái hôn. Cũng chủ về sau khi li hôn có thể lấy vợ đẹp, hoặc lấy chồng đa tài. Nam mệnh chủ về lấy được vợ giỏi giang biết chăm lo gia đình. Nữ mệnh chủ về bản thân vất vả chăm lo gia đình.

    • Thiên Đồng độc tọa ở hai cung Mão hoặc Dậu. Ở cung Mão nện kết hôn sớm. Ở cung Dậu nên kết hôn muộn. Nữ mệnh thiếu duyên với chồng, trung niên cô độc. Gặp các sao đào hoa như Hàm Trì, Hồng Loan, Thiên Hỉ, chủ về tình cảm thay đổi, có người khác.

    • Thiên Đồng độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, chủ về yêu đương gặp trở ngại, sau kết hôn ở nơi khác. Vợ chồng không cùng xu hướng, sở thích. Ở cung Tuất nặng hơn.

    • Thiên Đồng độc tọa ở hai cung Tị hoặc Hợi, chủ về hình dáng, địa vị sang hèn, tư tưởng đều không hợp nhau, thân gia bất hòa, dễ có tình nhân bên ngoài.

    • Thiên Đồng Thái Âm đồng cung , chủ về nên lấy chồng lớn tuổi. Hoặc lấy được vợ có năng lực làm việc. Nữ mệnh dễ nảy sinh thay đổi tình cảm, chỉ cuộc hôn phôi cuối cùng mới đẹp.

    Liêm Trinh ở Cung Phu Thê

    Khi Sao Liêm Trinh ở cung Phu Thê, bởi Liêm Trinh chủ về hình khắc. Nên nếu gặp nhiều sát tinh thì phải đôi ba lần vợ (khắc ba lần).

    Nam mệnh lấy được vợ đẹp, gặp Hóa Kỵ thì ly hôn rồi tái hôn lấy được vợ đẹp. Gặp đào hoa thì vợ có tình nhân bên ngoài, gặp Thất Sát, Phá Quân thì vợ chồng bất hòa, gặp tứ sát thì hình khắc, vì chuyện tinh cảm nam nữ mà có kiện tụng.

    Nữ mệnh, Liêm Trinh gặp sát tinh, chủ về chồng chỉ có hư danh, hoặc chủ về không cử hành hôn lễ.

    • Liêm Trinh gặp Thiên Phủ, chủ về người phối ngẫu tính cương cường, khó tránh khắc khẩu.

    • Liêm Trinh Thiên Tướng đồng cung, gặp Tả Hữu, lục sát, Văn Xương, Văn Khúc,Hóa Kỵ, chủ về chia ly. Hoặc người phối ngẫu không trung trinh. Sát tinh nặng thì chủ về tranh chấp bất hòa, không có con cái.

    • Liêm Trinh Thất Sát đồng cung chủ về vợ đẹp mà dâm. Gặp cát tinh thì có thể tránh được họa. Gặp Tả Phụ, Hữu Bật, lục sát, Hóa Kỵ thì hôn nhân bất lợi. Nữ mệnh chủ về có chồng giỏi quản lý tài chính.

    • Liêm Trinh độc tọa hai cung Dần hoặc Thân, chủ về gần nhau ít mà xa nhau nhiều. Nam mệnh chủ về lấy được vợ thanh bạch. Gặp các sao sát, kỵ, vẫn có sóng gió, trắc trở. Nữ mệnh thì chồng không có tình cảm thú vị.

    • Liêm Trinh Phá Quân đồng cung gặp sát tinh thì chủ về bất hòa. Không có sát tinh thì chủ về hôn nhân mĩ mãn, nhưng cũng có tình nhân bên ngoài.

    • Liêm Trinh Thiên Phủ đồng cung chủ về tình cảm bất hòa, có tranh chấp, người phối ngẫu giỏi giao tế. “Liêm Trinh Thiên Phủ” gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Hóa Kỵ, lục sát, chủ về có người bên ngoài, người phối ngẫu tính cương mà không khắc. “Liêm Trinh, Thiên Phủ” gặp sao đào hoa, chủ về yêu người đã có chồng.

    • Liêm Trinh Tham Lang đồng cung phần nhiều chủ về người phối ngẫu xính đẹp. Nam mệnh chủ về vợ không hiền thục nhưng giỏi giao tiếp thù tạc.

    Thiên Phủ Cung Phu Thê

    Khi Sao Thiên Phủ ở Cung Phu Thê, chủ về người phối ngẫu làm việc có năng lực, cũng giỏi quản lý tài chính. Người phối ngẫu có gia thế hoặc xu hướng, sở thích hợp nhau. Nam mệnh chủ về có vợ thông minh, nhỏ tuổi. Nữ mệnh chủ về lấy chồng sang quý, lớn tuổi.

    Thiên Phủ lâm hãm địa gặp sát tinh, chủ về sủng ái vợ lẽ mà quên đi chính thât. Thiên Phủ ở hãm địa mà có cát tinh hội hợp chủ về giống như chia ly mà không chia ly, tình cảm còn vấn vương, không dứt khoát. Nữ mệnh phần nhiều nội tâm bất mãn.

    • Thiên Phủ có Vũ Khúc đồng độ, là theo đuổi người đã có gia đình. Thiên Phủ có Vũ Khúc đổng độ mà gặp sao sát, hình thì nhiều ảo tưởng, phần nhiều làm vợ lẽ, nếu không dễ sinh li tử biệt.

    • Thiên Phủ độc tọa ở hai cung Sửu hoặc Mùi, chủ về có vợ hiền thục, nhưng vẫn có thiếp hoặc có tình nhân bên ngoài. Hoặc chủ về có vợ tái hôn, người vợ thứ hai thông minh đa tài, biết chăm lo gia đình. Nữ mệnh Thiên Phủ độc tọa cung phu thê ở cung Sửu hoặc Mùi, chủ về cát tường.

    • Thiên Phủ độc tọa ở hai cung Mão hoặc Dậu, gặp sát tinh, chủ về có người bên ngoài. Không có sát tinh thì chủ về người phối ngẫu dịu dàng, biết quan tâm, chăm sóc vợ (hoặc chồng).

    • Thiên Phủ độc tọa ở hai cung Tị hoặc Hợi, thường kết hôn muộn. Gặp các sao sát, kị, hoặc cung mệnh có Vũ Khúc Hóa Kị, thì chủ về hôn nhân có thay đổi. Gặp Thái Âm, Thiên Mã thì dễ sinh li tử biệt, khó tránh tình huống vợ đoạt quyền chồng, có cát tinh cũng vậy.

    Thái Âm Cung Phu Thê

    Khi Sao Thái Âm ở Cung Phu Thê. Nam mệnh chủ về có vợ nhỏ tuổi, thông minh, xinh đẹp, có thêm Văn Xương, Văn Khúc thì cực đẹp, cũng chủ về dễ có nhiều vợ. Nữ mệnh chủ về lấy chồng lớn tuổi, dễ kết hôn sớm.

    Thái Âm gặp tứ sát, Địa Không, Địa Kiếp, sao kỵ thì không khắc nhưng chủ về sinh ly.

    Thái Âm gặp cát tinh, chủ về người phối ngẫu giàu có.

    • Nữ mệnh có Thái Âm ở cung phu thê, gặp “tam hóa cát”, bên ngoài thì giỏi giao tiếp thù tạc, ở nhà thì có thể vỗ về, an ủi chồng. Nữ mệnh có Thái Âm ở cung phu thê rất ngại Hóa Kỵ, chủ về người phối ngẫu rời xa quê hương, hoặc không có duyên với lục thân của mệnh tạo.

    • Thái Âm độc tọa ở hai cung Mão hoặc Dậu, nam mệnh tốt hơn nữ mệnh, chủ về tình yêu gặp nhiều sóng gió trắc trở, sau mới lấy nhau. Nếu gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Hóa Kị, chủ về chồng có tình nhân bên ngoài.

    • Thái Âm độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, trước hôn nhân gặp nhiều sóng gió, trắc trở, sau kết hôn thì mĩ mãn.

    • Thái Âm độc tọa ở hai cung Tị hoặc Hợi, nên là nam mệnh mà không nên là nữ mệnh. Ở cung Hợi tốt hơn cung Tị. Nếu gặp các sao sát, kỵ, Tả Phụ, Hữu Bật, nếu lấy chồng lớn hơn mình từ mười tuổi trở lên thì có thể sống với nhau đến bạc đầu, nếu không sẽ có sóng gió, trắc trở… Thái Âm độc tọa ở cung Hợi là nhập miếu, có vợ hiền thục. Gặp Thiên Khôi, Thiên Việt, chủ về nhờ vợ mà có tiền bạc. Nữ mệnh thì không nên có Tả Phụ, Hữu Bật đồng cung, chủ về chồng có tình nhân bên ngoài, mà lại không đẹp bằng mệnh tạo.

    Sao Tham Lang ở Cung Phu Thê

    Sao Tham Lang ở cung phu thê, gặp sát tinh, thông thường chủ về hình khắc, ly hôn, hoặc bạn đời mất sớm. Nên kết hôn muộn, hoặc trước hôn nhân đã từng xảy ra sóng gió trắc trở, mới tránh được đổ vỡ.

    Tham Lang thuộc cách cục “Hỏa Tham” hay “Linh Tham” thủ cung phu thê, chủ về lúc đầu tình yêu nồng cháy, sau kết hôn không bao lâu thì nguội lạnh.

    Tham Lang có Kình Dương, Hỏa Tinh đồng độ, hoặc có Đà La, Linh Tinh đồng độ, chủ về bạn đời bị nạn tai, bệnh tật, tử vong. Gặp các sao hư, hạo, hình, kiếp là đúng, lấy các sao ở cung hạn phu thê để định mức độ nghiêm trọng.

    Tham Lang Hóa Kỵ ở cung phu thê, chủ về bị người ta đoạt mất người yêu, cho nên trước hôn nhân mà xảy ra nhiều sóng gió, trắc trở, thì sau kết hôn mói tốt Nếu tình yêu hôn nhân thuận lợi, thì sau kết hôn dễ xảy ra biến cố.

    Tham Lang có các sao đào hoa đồng cung, lại gặp “sao lẻ” phụ, tá, chủ về xảy ra rắc rối, giành giật về sắc tình, tình yêu đa phương. Tham Lang đối xung với Liêm Trinh thì càng nặng. Nếu gặp sao không, Thiên Hình, thì mức độ lại giảm nhẹ, chủ về có thể kiểm soát, giải quyết.

    Tham Lang thủ cung phu thê, ở thời cổ đại thì nam mệnh ưu hơn nữ mệnh, bởi vì nam mệnh nếu nạp thiếp, có thể tránh những khiếm khuyết đáng tiếc. Còn nữ mệnh thì không làm nhị phòng thì không xong, hoặc lấy chồng lớn tuổi, làm vợ bé, hơn nữa còn nên kết hôn muộn.

    Ở thời hiện đại, quan điểm thuật ở trên cần phải sửa đổi. Ở thời hiện đại không có nạp thiếp, vì vậy chủ về có tình nhân bên ngoài, nhưng tình nhân bên ngoài có chuyên nhất hay không, cần phải xem cung phu thê có các sao sát, kị, đào hoa hay không mà định, nếu không, vẫn không chủ về cát, nữ mệnh thường thường chủ về ly hôn rồi tái giá.

    Tham Lang có Văn Xương, Văn Khúc Hóa Kỵ đồng cung, chủ về lấy nhau không có hôn lễ chính thức, hoặc hôn lễ bị trắc trở hay trì trệ. Nữ mệnh Tham Lang ở cung phu thê, gặp Linh Tinh đồng độ, còn gặp thêm các sao phụ, tá và các sao đào hoa, chủ về bản thân đương số là tình nhân ở bên ngoài của người khác.

    Nữ mệnh Tham Lang thủ cung phu thê, ngoại trừ “Tử Vi Tham Lang” ở hai cung Mão hoặc Dậu và độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất ra, các trường hợp khác đều dễ bị người đã có vợ theo đuổi, thường vì vậy mà hôn nhân xảy ra sóng gió. Cần phải xem tinh hệ của cung mệnh mà định. Nếu có tính chất tăng nặng tình dục, ắt sẽ nổi sóng gió, tính chất của các sao ở cung phu thê cũng thay đổi rất lớn.

    Tham Lang ở hai cung Tí hoặc Ngọ, đối nhau với Tử Vi, rất ưa có Thiên Hình, sao không đồng độ. Nếu không có, hôn nhân ắt sẽ nổi sóng. Gặp “sao lẻ” phụ, tá thì chủ về có kẻ thứ ba xen vào.

    Tham Lang ở hai cung Tí hoặc Ngọ thành cách cục “Phiếm thủy đào hoa”, thì tình yêu có nhiều sắc thái, sau kết hôn cũng nhiều rối ren. Nam mệnh nên lấy vợ lớn tuổi hơn mình, nữ mệnh thì cần phải lấy chồng xứng đôi, mới có thể tránh xảy ra sự cố không lành. Bất kể nam mệnh hay nữ mệnh, nếu ly hôn rồi tái hôn thì càng bất lợi.

    Tham Lang ở hai cung Tí hoặc Ngọ, gặp các sao đào hoa, cũng dễ có tình yêu với người đã có gia đình. Ở thời hiện đại, hôn nhân càng trở nên phức tạp.

    Tham Lang ở hai cung Tí hoặc Ngọ, có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng cung, lại gặp Âm Sát, Thiên Hư, Cô Thần, Quả Tú, Niên Giải, Nguyệt Giải, Phá Toái, chủ về bị bạn đời bỏ rơi, hoặc bản thân đương số bị nạn tai, bệnh tật, khiến hôn nhân giữa chừng đứt đoạn.

    Đối với Tham Lang ở hai cung Tí hoặc Ngọ, các cung hạn “Liêm Trinh, Thiên Phủ”, “Vũ Khúc, Thiên Tướng”, “Thiên Đồng, Cự Môn”, “Thái Dương, Thiên Lương” thủ cung phu thê, là đại vận hoặc lưu niên ứng nghiệm cát hung có tính then chốt.

    Tham Lang ở hai cung Dần hoặc Thân, rất dễ bị người đẵ có gia đình theo đuổi, nhất là trường hợp Thất Sát ở cung phúc đức có các sao đào hoa đồng cung, thì càng đúng.

    Tham Lang ở hai cung Dần hoặc Thân, rất ngại đối cung là Liêm Trinh Hóa Kỵ, lại gặp các sao sát, hư, hao, chủ về ly hôn rồi tái hôn, kết hôn lần sau vẫn không mĩ mãn. Nếu lại gặp các sao đào hoa thì tình hình càng thêm phức tạp, thường thường là tình yêu đa phương.

    Tham Lang ở hai cung Dần hoặc Thân, có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng cung, mà đối cung là Liêm Trinh Hóa Kỵ, lại gặp các sao Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Đại Hao, chủ về bạn đời bị nạn tai, bệnh tật bất ngờ.

    Tham Lang ở hai cung Dần hoặc Thân, thủ cung phu thê, mà cung mệnh có các sao sát, kị, hình, hao, Tham Lang lại gặp sát tinh và “sao lẻ” phụ, tá, chủ về bản thân đương số bị bệnh hoạn.

    Đối với Tham Lang ở hai cung Dần hoặc Thân, đến các cung hạn “Vũ Khúc, Thiên Phủ”, “Tử Vi, Thiên Tướng”, Liêm Trinh thủ cung phu thê là đại vận hoặc lưu niên ứng nghiệm.

    Tham Lang ở hai cung Thìn hoặc Tuất là “Thiên La, Địa Võng”, ý vị đào hoa sẽ giảm nhẹ, nên tính chất khá tốt. Nếu được cát hóa, có sao cát, thì vợ chồng hạnh phúc. Dù gặp sát tinh, nếu không nặng lắm thì chỉ chủ về trước hôn nhân, tình yêu gặp nhiều sóng gió, trắc trở.

    Tham Lang ở hai cung Thìn hoặc Tuất, gặp “sao lẻ” phụ, tá và sao đào hoa, nam mệnh chủ về sau kết hôn vẫn có tình nhân bên

    ngoài, nhưng không chủ về ly hôn. Nếu không gặp “sao lẻ” phụ, tá thì chỉ chủ về sau kết hôn sinh con gái trước.

    Tham Lang ở hai cung Thin hoặc Tuất, chủ về kết hôn muộn. Nếu gặp sát tinh nặng, mà còn có các sao hình kị tụ tập, chủ về suốt đời không có hôn ước. Thành cách cục “Hỏa Tham” hay “Linh Tham”, thì vợ chồng tình cảm khá bền lâu, nếu gặp thêm cát tinh, thì sống với nhau đến bạc đầu. Trường hợp Tham Lang Hóa Kị, chủ về bị người ta đoạt người yêu, nhưng chỉ ứng nghiệm trước hôn nhân.

    Đối với Tham Lang ở hai cung Thìn hoặc Tuất, lúc đến các cung hạn “Tử Vi, Thiên Phủ”, Cự Môn, Vũ Khúc thủ cung phu thê là những đại vận hoặc lưu niên ứng nghiệm cát hung có tính then chốt.

    Cự Môn ở Cung Phu Thê

    Khi Sao Cự Môn ở Cung Phu Thê. Vì Sao Cự Môn có tượng là thị phi khẩu thiệt nên sẽ chủ về thường có điều tiếng, nên lấy vợ lớn tuổi.

    • Cự Môn Thiên Cơ đồng cung, gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, chủ về người phối ngẫu xinh đẹp.

    • Cự Môn có Thiên Đồng đồng độ, chủ về người phối ngẫu xinh đẹp nhưng hình khắc sinh ly.

    • Cự Môn ưa gặp Lộc Quyền, Tả Phụ, Hữu Bật; chủ về chồng phú quý đa tài, sự nghiệp lớn lao.

    • Cự Môn có Thái Dương đồng cung, người phối ngẫu tính tình rõ ràng, minh bạch.

    • Cự Môn gặp Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh. Nam mệnh phần nhiều khắc vợ hoặc chia ly. Lại gặp Thiên Hình, nữ mệnh chủ về không cử hành hôn lễ, nếu không sẽ nhiều lần lên xe hoa.

    • Cự Môn Hóa Kỵ, phần nhiều tình cảm vô vị, hay cãi vả. Nữ mệnh nên lấy chồng lớn tuổi, nếu không tình cảm dễ thay đổi, có người khác. Nam mệnh và nữ mệnh trước hôn nhân đều dễ yêu người đã có gia đình. Mối tình đầu thường không thể kết hợp.

    • Cự Môn độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, chủ về vợ có chí hướng của đàn ông. Gặp Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phụ, Hữu Bật, Hóa Lộc, Hóa Khoa, Hóa Quyền, chủ về người phối ngẫu có danh tiếng hơn mệnh tạo. Nữ mệnh thường gặp những tình huống rắc rối khó xử về tình cảm. Gặp Tả Phụ, Hữu Bật nhưng một sao ở cung phu thê, còn một sao ở cung mệnh, chủ về sinh ly. Gặp cát tinh thì gần nhau ít mà xa nhau nhiều, hoặc ở riêng nơi khác, nhưng tình cảm lại hòa mục.

    • Cự Môn độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, gặp Hóa Kỵ, chủ về người phối ngẫu lúc nhỏ gặp nhiều trắc trở, bất đắc chí, hơn nữa còn chuốc nhiều thị phi. Gặp Tả Phụ, Hữu Bật, chủ về tình cảm không tốt. Không có sát tinh thì chủ về người phối ngẫu vất vả làm việc.

    • Cự Môn độc tọa ở hai cung Tị hoặc Hợi, cung mệnh tất sẽ hội Thái Dương và Thiên Lương, chủ về bất hòa với cha vợ hoặc nhà chồng. Gặp lục sát, trước hôn nhân và sau kết hôn đều xảy ra chuyện tình cảm thay đổi. Nam mệnh chủ về có vợ tài giỏi xinh đẹp.

    Sao Thiên Tướng Cung Phu Thê

    Khi Sao Thiên Tướng ở Cung Phu Thê, sẽ chủ về người phối ngẫu là do yêu nhau mà kết hôn, chứ không do gia đình sắp đặt. Hoặc chủ về gần nhau ít mà xa nhau nhiều.

    Nam mệnh hay nữ mệnh đều chủ về thân càng thêm thân, hoặc tình cũ trở lại, hoặc quen biết cũ gặp lại rồi yêu nhau.

    Nữ mệnh nên lấy người lớn tuổi. Gặp cát tinh, chủ về được chồng quan tâm, chăm sóc, xử sự dịu dàng.

    • Có Tử Vi đồng độ, chủ về có vợ chí cao, nên kết hôn muộn.

    • Thiên Tướng gặp Vũ Khúc, Phá Quân, chủ về có nạn tai, điều tiếng, là mệnh hai lần kết hôn. Nếu đã từng hủy hôn ước thì có thể miễn.

    • Thiên Tướng gặp Hóa Lộc và có Lộc Tồn đồng cung, chủ về vợ có tiền.

    • Thiên Tướng độc tọa ở hai cung Sửu hoặc Mùi, chủ về được giúp đỡ ở nhà. Nam mệnh hơi bị tình trạng vợ đoạt quyền chồng. Nếu cung mệnh có Vũ Khúc Hóa Kỵ, chủ về chia li. Nữ mệnh thì đẹp đôi với người lớn tuổi.

    • Thiên Tướng độc tọa ở hai cung Mão hoặc Dậu, chủ về kết hôn muộn, vợ chồng không cùng xu hướng, sở thích. Vợ thì chủ về hiền thục nhưng tính cương cường, chồng thì chủ về hướng nội. Không có sát tính thì có thể sống với nhau đến bạc đầu.

    • Thiên Tướng độc tọa ở hai cưng Tị hoặc Hợi, nam mệnh thì chủ về có vợ đỡ đần việc nhà, thuận theo ý chồng. Nữ mệnh thì chồng không mấy tốt, mệnh đào hoa, thường nhìn ngó bên ngoài.

    Sao Thiên Lương ở Cung Phu Thê

    Khi Sao Thiên Lương ở Cung Phu Thê. Nam mệnh, chủ về có vợ xinh đẹp, nhưng nên lớn hơn mệnh tạo ba tuổi trở lên.

    • Thiên Lương có Thiên Đồng đồng cung mà Hóa Kỵ, chủ về chia li rồi tái hợp nhưng khắc, khắc rồi lại chia li.

    • Thiên Lương có Thái Âm và Thiên đồng vây chiếu, chủ về vợ xinh đẹp, sinh ly nhưng tình cảm còn vương vấn chưa dứt khoát. Nam mệnh hay nữ mệnh đều chủ về trước hôn nhân hay sau kết hôn dễ xảy ra tình huống thay đổi. Hoặc từng hủy bỏ hôn ước, hoặc gặp trở lực của người lớn. Hoặc vì hoàn cảnh mà dẫn đến kết hôn sai lầm, chỉ có người yêu cuối cùng mới thành người thân thuộc thực sự. Sau kết hôn dễ gặp trở ngại, hoặc hiểu lầm mà chia ly, nếu không gặp sát tinh thì sẽ tái hợp.

    • Thiên Lương độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, chủ về vợ đoạt quyền chồng, hoặc vợ lớn tuổi coi chồng như em. Nữ mệnh chủ về người phối ngẫu có phong độ của một danh sĩ. Nếu gặp Đà La, Địa Không, Địa Kiếp, cung mệnh có Tả Phụ, Hữu Bật độc tọa, hoặc Thiên Lương và Tả Phụ, Hữu Bật đồng cung, chủ về sinh ly.

    • Thiên Lương độc tọa ở hai cung Sửu hoặc Mùi, chủ về vợ lớn tuổi, là người có phong độ. Nữ mệnh, chủ về có chồng sang quý thanh cao. Ở cung Sửu tốt hơn cung Mùi.

    • Thiên Lương độc tọa ở hai cung Tị hoặc Hợi, nam mệnh hay nữ mệnh đều chủ về thường gặp những tình huống bối rối, khó xử trùng trùng. Trước hôn nhân từng yêu đơn phương, hoặc thất tình, hoặc bị người lớn phản đối hôn nhân. Sau kết hôn gặp nhau ít mà xa nhau nhiều. Nữ mệnh thì chủ về mẹ chồng nàng dâu bất hòa, hoặc chồng bệnh hoạn. Nam mệnh thì chủ về vợ cơ thể hư nhược. Gặp sát tinh thì phần nhiều chia li, trong hạn tốt thì chia li rồi tái hợp.

    Thất Sát Cung Phu Thê

    Khi Sao Thất Sát ở Cung Phu Thê. Chủ về lấy người khác nền văn hóa. Thất Sát gặp Thái Dương và Cự Môn ở cung mệnh thì càng đúng.

    Thất Sát gặp Tứ sát, Địa Không, Địa Kiếp, là khắc ba lần. Không có sát tinh, chủ về cô đơn nhưng không khắc.

    Nam mệnh và nữ mệnh đều bề ngoài thì hòa hợp hạnh phúc, nhưng bên trong thì bất mãn, có nợ mà không duyên. Nữ mệnh, chủ về có chồng thành đạt, có trách nhiệm với gia đình.

    • Thất Sát độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, chủ về trước kết hôn gặp nhiều sóng gió, trắc trở, sau kết hôn thì hòa hợp hạnh phúc. Gặp lục sát, vợ chồng ở hai nơi, hoặc vợ chổng có xu hướng, sở thích không hợp nhau.

    • Thất Sát độc tọa ở hai cung Dần hoặc Thân, chủ về thường kết hôn muộn, trước hôn nhân thì mắt loạn vì nhiều đào hoa. Nam mệnh chủ về có nhị phòng hơn mình năm tuổi trở lên. Nữ mệnh nên lấy chồng lớn hơn mình năm đến mười tuổi. Còn chủ về người phối ngẫu bận rộn, vất vả.

    • Thất Sát độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, là “Thiên La, Địa Võng”. Chủ về không hòa hợp, thiếu hạnh phúc. Trước hôn nhân có sóng gió, trắc trở. Không gặp sát tinh thì chủ về người phối ngẫu có kĩ năng chuyên môn, nhất là nên theo ngành y dược. Gặp sát tính thì nên gia nhập quân đội hay cảnh sát, gặp Liêm Trinh Hóa Kỵ thì càng hợp.

    Phá Quân Cung Phu Thê

    Khi Sao Phá Quân nhập vào Cung Phu Thê. Nam mệnh chủ về khắc vợ, hoặc chia ly rồi lấy người khác. Nên kết hôn muộn, thường gặp nhiều sóng gió, trắc trở, gần nhau ít mà xa nhau nhiều, sở thích không hợp nhau, dễ vì giận hờn mà chia ly, trong hạn tốt thì có thể tái hợp.

    Gặp lục cát tinh thì tình cảm thiếu thú vị. Hoặc chủ về vợ hơi lớn hơn tuổi hơn chồng. Hoặc ở chung mà không có nghi lễ chính thức hay sau kết hôn thì ở hai nơi.

    • Có Vũ Khúc đồng độ, chủ về sinh ly, có thêm Hóa Kỵ thì chủ về người phối ngẫu bị nạn tai tật bệnh.

    • Có Liêm Trinh đồng độ, nên đề phòng có tình nhân bên ngoài.

    • Có Tử Vi đồng độ thì nên lấy người lớn tuổi. Nếu gặp Lộc Tồn, Hóa Lộc, trái lại sẽ chủ về bất lợi cho gia đình, nam mệnh thì vợ chế ngự chồng, nữ mệnh thì chồng có tính gia trưởng, ưa chi phối vợ.

    • Phá Quân độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, chủ về người phối ngẫu tính cương, vợ đoạt quyền chồng. Phá Quân Hóa Quyền thì vợ chồng tuổi tác ngang nhau.

    • Phá Quân độc tọa ở hai cung Dần hoặc Thân. Nữ mệnh chủ về trước hôn nhân hủy bỏ hôn ước, hoặc yêu người đã có vợ, còn chủ về người phối ngẫu bận rộn, vất vả. Nam mệnh có thể lấy được vợ hiền thục. Nhưng bất kể nam mệnh hay nữ mệnh, đều chủ về vợ chồng gần nhau ít mà xa nhau nhiều.

    • Phá Quân độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, vợ tính cương cường. Nếu cung mệnh hoặc bản cung gặp sao kỵ, sao không, Tả Phụ, Hữu Bật thì dễ chia ly. Nữ mệnh nên giúp chồng về sự nghiệp, phối hợp với chồng gánh vác trách nhiệm gia đình.

    Cung Phu Thê Vô Chính Diệu

    Trường hợp Cung Phu Thê vô chính diệu. Phương pháp luận đoán vẫn lấy việc xem xét kỹ tam phương tứ chính của Cung Phu Thê để luận đoán.

    • Nếu tam phương tứ chính hội được cát diệu. Trường hợp này là bản cung được trợ giúp, gặp cát lợi

    • Nếu tam phương tứ chính hung, thì phải luận là hung

    • Vô chính diệu đắc hung tinh. Trường hợp này hôn nhân dễ thành nhưng cũng dễ phân ly

    Ảnh hưởng của Tá diệu đối với Cung Phu Thê

    Lộc Tồn Cung Phu Thê

    Khi Sao Lộc Tồn ở Cung Phu Thê. Nữ mệnh cung phu thê có thêm tứ sát, chủ về làm nhị phòng hay làm kế thất. Có thêm Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, gặp Triệt Không, là cô độc. Ưa tam phương có Hóa Lộc, hoặc hội hợp Thiên Mã, chủ về có thể giải cô độc, còn nhờ người phối ngẫu mà có tiền, vợ chồng ân ái, nhưng dễ bị người phối ngẫu hiếp đáp. Cũng chủ về người phối ngẫu giỏi quản lý tài chính.

    Lộc Tồn gặp lục sát, Tả Phụ, Hữu Bật, Phá Toái, Kiếp Sát, sao không, sao kỵ, chủ về tình cảm bất hòa.

    Sao Thiên Mã Cung Phu Thê

    Khi Sao Thiên Mã ở Cung Phu Thê. Nam mệnh chủ về được vợ giúp đỡ, nhờ vợ mà có tiền, hoặc vợ có vận giúp chồng. Thiên Mã gặp sao lộc, tài khí vượng, giàu có sung túc.

    Thiên Mã ưa Tử Vi, Thất Sát, Thiên Phủ, Thiên Tướng, Tham Lang, Thái Dương, Cự Môn, Vũ Khúc. Ưa nhất là Thiên Phủ, Thiên Tướng.

    Tả Phù Cung Phu Thê

    Khi Sao Tả Phù ở Cung Phu Thê. Chủ về người phối ngẫu đã từng trắc trở trong hôn nhân, hoặc lấy nhau mà không có hôn lễ chính thức. Nhưng nếu không gặp sát tinh thì chủ về vợ chồng ân ái. Gặp “tam hóa cát” thì người phối ngẫu có thành tựu. Có thêm Thái Dương, Thái Âm, Cự Môn, Thiên Cơ, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Vũ Khúc, Thất Sát, chủ về sinh ly. Hữu Bật cũng giống như vậy.

    Sao Hữu Bật Cung Phu Thê

    Khi Sao Hữu Bật ở Cung Phu Thê.Bởi Hữu Bật có tính đào hoa, nên chủ về có người thứ ba xen vào. Độc tọa thì càng đúng.

    Chủ về hai người phụ nữ có chung một chồng. Gặp “Thiên Cơ, Thái Âm” thì càng đúng.

    Hữu Bật gặp sao kỵ, Địa Không, Địa Kiếp, chủ về sinh ly.

    Văn Xương Cung Phu Thê

    Khi Sao Văn Xương ở Cung Phu Thê. Chủ về người phối ngẫu bụng dạ tinh tế.

    Văn Xương có Thái Âm đồng độ, chủ về xinh đẹp.

    Văn Xương ưa đồng cung với Tử Vi, Thiên Phủ, Thái Dương, Thái Âm, Thiên Tướng, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt.

    Văn Xương gặp tam hóa cát thì chủ về phú quý. Văn Xương không ưa Hữu Bật, Liêm Trinh, Phá Quân, tứ sát, Địa Không, Địa Kiếp, Hóa Kỵ.

    Văn Xương gặp Liêm Trinh, chủ về có tình nhân bên ngoài. Gặp Phá Quân, người phối ngẫu vất vả. Văn Xương Hóa Kỵ, về hôn nhân thiếu học thức.

    Văn Xương chủ về nhiều lần yêu đương. Gặp sát tinh cùng ở cung mệnh hay cung phúc đức, chủ về không cát tường, ngoại tình.

    Sao Văn Khúc Cung Phu Thê

    Khi Sao Văn Khúc ở Cung Phu Thê. Chủ về có tài ăn nói, mang tính đào hoa. Luận đoán giống Văn Xương.

    Văn Khúc đồng cung với Văn Xương, chủ về có nhiều tình cảm thú vị ở khuê phòng.

    Văn Khúc và Văn Xương, một sao ở cung phu thê và một sao ở cung thiên di, chủ về người phối ngẫu dương danh nơi đất khách quê người. Nhưng gặp sát tình thì có người khác ở bên ngoài.

    Cung Tuất gặp Văn Khúc Văn Xương, chủ về dễ chia ly. Văn Khúc độc tọa cũng dễ chuốc đào hoa.

    Sao Thiên Khôi ở Cung Phu Thê

    Khi Sao Thiên Khôi ở Cung Phu Thê. Chủ về người phối ngẫu có gia thế không tầm thường.

    Thiên Khôi ưa Thiên Phủ, Thiên Tướng, Tử Vi, Vũ Khúc, Tham Lang, Phá Quân, Thái Dương, Thái Âm, Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, “tam hóa cát”, Lộc Tồn, Thiên Mã.

    Sao Thiên Việt ở Cung Phu Thê

    Khi Sao Thiên Việt ở Cung Phu Thê. Có tính đào hoa, chủ về gặp quý nhân là người khác giới.

    Kỵ gặp Văn Xương, Văn Khúc, Đào Hoa. Chủ về dễ có tình nhân bên ngoài.

    Luận đoán giông Thiên Khôi.

    Thiên Khôi và Thiên Việt chia ra một sao nhập cung phu thê, một sao nhập cung phúc đức, gặp Sao Đào Hoa, ắt sẽ có người thứ ba xen vào.

    Sao Hỏa Tinh ở Cung Phu Thê

    Khi Sao Hỏa Tinh ở Cung Phu Thê. Hỏa Tinh rất ưa gặp Kình Dương, cung mệnh gặp thì tốt nhất, cung phu thê gặp thì thứ cát.

    Hỏa Tinh lạc hãm, chủ về người phối ngẫu vất vả.

    Hỏa Tinh nhập miêu, chủ về gần nhau ít mà xa nhau nhiều, hoặc sự nghiệp của người phối ngẫu có biến đổi.

    Hỏa Tinh nhập miếu, rất ưa gặp Tham Lang, chủ về nhờ người phối ngẫu mà có tiền bạc. Không có Tham Lang thì cũng được một thời rực rỡ.

    Thông thường nam mệnh, nữ mệnh đều chủ về người phối ngẫu nóng nảy. Gặp sát tinh, dễ xảy ra tình huống xung đột tình cảm nam nữ.

    Sao Linh Tinh ở Cung Phu Thê

    Khi Sao Linh Tinh ở Cung Phu Thê. Linh Tinh rất ưa gặp Hóa Lộc và Tham Lang.

    Linh Tinh và Hỏa Tinh chia ra một sao ở cung phúc đức, một sao ờ cung phu thê, chủ về thành hôn vội vàng, hoặc kết hôn với người mình không ngờ.

    Linh Tinh và Hỏa Tinh chia ra một sao ở cung phu thê , một sao ở cung thiên di, chủ về chồng (hoặc vợ) tính cương cường.

    Kình Dương Cung Phu Thê

    Khi Sao Kình Dương ở Cung Phu Thê. Nam mệnh chủ về anh tuấn. Nữ mệnh xinh đẹp, lạnh lùng.

    Kình Dương độc tọa cung phu thê, người phối ngẫu phần nhiều ở trong quân đội hay cảnh sát, hoặc nhân viên kĩ thuật. Cũng chủ về kết hôn với người ngoại quốc.

    Kình Dương độc tọa, người phối ngẫu bị thương hoặc phải phẫu thuật.

    Kình Dương gặp Liêm Trinh, Thái Âm, sao đào hoa, Đại Hao, chủ về bỏ nhà theo người tình.

    Sao Đà La ở Cung Phu Thê

    Khi Sao Đà La ở Cung Phu Thê. Chủ về người phối ngẫu cô độc, rời xa quê hương.

    Cũng chủ về kết hôn muộn, lần nữa trong chuyện hôn nhân

    Sau kết hôn việc nhà nhiều thị phi.

    Sao Địa Không ở Cung Phu Thê

    Khi Sao Địa Không ở Cung Phu Thê. Chủ sau hôn nhân tình cảm ngày càng phai nhạt. Nếu cùng Sát Phá đồng cung, không Đào Hoa, ít có cơ hội kết giao làm quen với người khác giới tính, thích nghi hôn ước mai mối.

    Cùng Tuần Không, Thiên Không hội, khó tìm được người tri âm.

    Độc tọa tại Ngọ cung, chủ về thành hôn một cách bất ngờ. Thích nghi với Dương Hỏa (Kình Dương Hỏa Linh) độc tọa Mệnh cung hoặc Cung Phu Thê của người phối hợp.

    Sao Địa Kiếp ở Cung Phu Thê

    Khi Sao Địa Kiếp ở Cung Phu Thê. Nếu Địa Kiếp độc tọa, tình cảm và tiền tài đều bất lợi.

    Địa Kiếp gặp Kiếp Sát, trong tình yêu, chưa thành hôn đã nảy sinh thay đổi một cách bất ngờ, chia li nhưng còn vướng víu, quấy rầy nhiều lần. Hoặc sau kết hôn phần nhiều có chuyện kín khó nói.

    Địa Kiếp nên phối hợp với Đà La nhập miếu ở cung mệnh hoặc ở cung phu thê.

    Địa Kiếp có Địa Không đồng cung, ít có lực phá hoại đối với hôn nhân, chỉ làm tăng nhiều tính chất đặc thù.

    Địa Kiếp giáp cung phu thê, chủ về bất lợi, chỉ có trường hợp giáp Vũ Khúc Hóa Kỵ thì cát.

    Thế nào là kết hôn muộn trong lá số Tử Vi?

    Ngoài ra, lấy cục số và hành hạn để nói, có 5 tình huống có thể luận kết hôn sớm hay muộn, phàm là kết hôn trước khi đại vận thứ 2 kết thúc là thuộc nhóm kết hôn sớm, sau khi đại vận thứ 3 kết thúc mà vẫn chưa kết hôn là thuộc nhóm kết hôn muộn.

    • Thủy nhị cục: Kết hôn lúc ở đại vận 12~21 tuổi, là thuộc nhóm kết hôn sớm; kết hôn lúc ở đại vận 22-31 tuổi, là thuộc nhóm kết hôn bình thường; kết hôn sau 31 tuổi, là thuộc nhóm kết hôn muộn.

    • Mộc tam cục: Kết hôn lúc ở đại vận 13~22 tuổi, là thuộc nhóm kết hôn sớm; kết hôn lúc ở đại vận 23-32 tuổi, là thuộc nhóm kết hôn bình thường; kết hôn sau 32 tuổi, là thuộc nhóm kết hôn muộn.

    • Kim tứ cục: Kết hôn lúc ở đại vận 14~23 tuổi, là thuộc nhóm kết hôn sớm; kết hôn lúc ở đại vận 24-33 tuổi, là thuộc nhóm kết hôn bình thường; kết hôn sau 33 tuổi, là thuộc nhóm kết hôn muộn.

    • Thổ ngũ cục: Kết hôn lúc ở đại vận 15~24 tuổi, là thuộc nhóm kết hôn sớm; kết hôn lúc ở đại vận 25-34 tuổi, là thuộc nhóm kết hôn bình thường; kết hôn sau 34 tuổi, là thuộc nhóm kết hôn muộn.

    • Hỏa lục cục: Kết hôn lúc ở đại vận 16~25 tuổi, là thuộc nhóm kết hôn sớm; kết hôn lúc ở đại vận 26-35 tuổi, là thuộc nhóm kết hôn bình thường; kết hôn sau 35 tuổi, là thuộc nhóm kết hôn muộn.

    Kết hôn sớm do tổ hợp Cung Phu Thê không tốt, nguyên nhân là vì có nhiều bại cục, do tuổi trẻ chưa có kinh nghiệm sống nên dễ có phán đoán và quyết định sai lầm. Bất luận cục số nào, đều cần phải có tâm trí khá trưởng thành, hiểu biết trách nhiệm và nghĩa vụ trong hôn nhân. Đồng thời phải biết cách xử lý hôn nhân như thế nào, rồi mang chúng vào đời sống hôn nhân một cách thích hợp, những điều kiện này thường đều ở trong khoảng thời gian của đại vận thứ 3. Nhưng cũng có trường hợp vốn thuộc cách cục kết hôn sớm, mà hôn nhân vẫn hạnh phúc mĩ mãn, cho nên còn phải xem thái độ điều chỉnh sao cho thích hợp với cuộc sống hôn nhân và phương pháp xử lý hôn nhân của song phương, mới là điểm quan trọng.

    10 cách hóa giải Cung Phu Thê xấu

    Bài viết này dành cho những người có Cung Phu Thê (đường vợ chồng) không được hoàn hảo hay khiếm khuyết về 1 mặt nào đó (mà tôi tin số này chiếm đa số chúng ta).

    Còn với những người sinh ra đã được định sẵn là sau này sẽ lấy được 1 người bạn đời tâm đầu ý hợp và 2 người sẽ sống hạnh phúc cho đến đầu bạc răng long mà không cần phải cố gắng gì (tôi tin số này chiếm thiểu số rất nhỏ), thì bài viết sau hy vọng cũng bổ ích để làm cho cái duyên nợ vợ chồng tốt đó càng được tốt hơn.

    Lấy chồng/vợ già (lớn tuổi)

    Thông thường người ta càng lớn tuổi càng có xu hướng chiều chuộng người bạn đời hơn. Càng lớn tuổi, ta càng bớt đi tính “ngựa non háu đá”, bớt đi những ý thích, ham muốn bồng bột thời trẻ, bớt đi tính nhõng nhẽo, trẻ con, bớt đi tính “sớm nắng triều mưa”, bớt đi tính tự ái, nông nối, bất cần… Đây là những điều tối kỵ cho 1 hạnh phúc gia đình bền vững.

    Theo tôi vợ chồng chênh nhau từ 4-11 tuổi là hợp lý, từ 12 trở lên là bắt đầu cách nhau 1 thế hệ, sẽ dẫn đến khó nói chuyện và chia sẻ tâm tư, tình cảm, sở thích với nhau.

    Lấy chồng/vợ muộn

    Hiển nhiên khi lập gia đình muộn mình càng có nhiều kinh nghiệm sống hơn. Lúc này mình đã đạt được độ chín về mặt tâm lý, tình cảm, càng biết rõ mình muốn gì, mình cũng có xu hướng biết nhường nhịn hơn. Đây là những phẩm chất rất cần có ở 1 người bạn đời để cả 2 cùng gây dựng 1 gia đình hạnh phúc.

    Vậy muộn là bao nhiêu? Theo tôi con gái trên 28 tuổi, con trai trên 30 tuổi thì được coi là muộn.

    Lấy chồng/vợ xa

    Ai biết qua về bói toán đều biết 1 trong những cách để hóa giải lá số có cung Phúc Đức (cung quan trọng nhất trong 1 lá số) xấu là nên rời quê hương bản quán để lập nghiệp ở phương xa.

    Có lẽ đó cũng là lý do các ông thầy bói khuyên các cô/các anh có Cung Phu Thê xấu là nên lấy chồng/vợ và lập gia đình ở phương xa để thay đổi vận mệnh của mình. Vậy thế nào là xa? Người hôn phối có quê hương bản quán khác với quê hương bản quán của mình thì gọi là xa, thậm chí theo tôi lấy chồng/vợ ngoại quốc cũng được (tất nhiên với điều kiện người chồng/vợ ngoại quốc đó yêu thương mình thật lòng).

    Mình là người đến sau (lấy người đã từng lập gia đình)

    Với người có quá khứ không vui về cuộc hôn nhân cũ, khi mình là người đến sau, người ta thường có xu hướng yêu thương trân quý những đức tính của mình hơn. Có mất 1 lần rồi, có cay đắng 1 lần rồi mới biết trân quý cái mình đang có.

    Với người đã từng lập gia đình thì những cái xấu (trong Cung Phu Thê của người đó) hy vọng là đã rơi hết vào người hôn phối trước đó. Giờ đến lượt mình (là người đến sau) thì hy vọng mình sẽ được hưởng phần tốt đẹp trong Cung Phu Thê của người đó.

    Trải qua nhiều trắc trở trước khi đến được với nhau

    Cái xấu của Cung Phu Thê thường hoặc là ứng với trước hoăc ứng với sau hôn nhân. Vậy thì hãy để cho những cái xấu đó ứng với trước hôn nhân còn hơn là ứng với sau hôn nhân.

    Những lời nói xấu, dị nghị, dèm pha, ngăn cản… của bố mẹ, của bạn bè… khi 2 người đang yêu nhau không phải là điều đáng buồn đâu mà là đáng vui đấy, nó góp phần làm giảm bớt cái xấu và tăng thêm phần hạnh phúc khi 2 người sau này chung sống với nhau. Và hãy để cho những hiểu lầm, xích mích… giữa 2 người xảy ra trước hôn nhân, để 2 người hiểu được lòng nhau và tự vấn lòng mình xem là liệu mình có chấp nhận được người kia hay không.

    Lấy chồng/vợ có hình thức (tài năng) bình thường, chấp nhận khiếm khuyết của người bạn đời

    “Vợ đẹp là vợ người ta”. “Chồng đẹp trai và tài hoa cũng khó là chồng của riêng mình”. Những câu nói này được đúc kết từ xưa đến nay không phải là không có lý. Vậy thì giữa 2 giải pháp bạn có thể lựa chọn cho mình giải pháp an toàn hơn là lấy người bạn đời có hình thức (và tài năng) ở mức trung bình. Người có hình thức trung bình và dưới trung bình thường biết mình là ai và ít đòi hỏi người khác phải chiều chuộng mình.

    Chấp nhận những khiếm khuyết của người bạn đời như khiếm khuyết về gia cảnh, về học thức, về quá khứ… theo tôi cũng là một cách để hóa giải nghiệp xấu về đường vợ chồng. Đi xa hơn, với những cô gái/chàng trai cực kỳ cao số, các ông thầy bói xưa thậm chí còn khuyên những người đó nên lấy chồng/vợ tàn tật để tránh hình khắc sau này.

    Thời gian tìm hiểu đủ dài

    Những mối tình sét đánh 2 người gặp nhau, yêu nhau một thời gian ngắn và sau đó lấy nhau sống hạnh phúc đến đầu bạc răng long ít tồn tại trên thực tế. Ở thái cực ngược lại, nhiều cặp đôi yêu nhau, tìm hiểu nhau 5-7 năm vậy mà sau khi cưới nhau chỉ vài tháng vẫn ly dị như thường. Yêu nhau 5-7 năm thì dễ, sống với nhau 5-7 năm mới là khó.

    Thức lâu mới biết đêm dài, cần phải có đủ thời gian mới hiểu được lòng người, và càng trải qua nhiều gian khổ người ta càng có điều kiện hiểu lòng nhau. Việc trải qua thời gian tìm hiểu đủ dài (theo tôi tối thiểu là 6 tháng) sẽ giúp cho quyết định lập gia đình trở nên chín chắn và đỡ rủi ro hơn cho sau này. Tất nhiên thời gian tìm hiểu nên hướng vào chất (tức là hiểu về tính nết nhau được nhiều hay ít) chứ không phải hướng vào lượng (dài bao lâu).

    Nhường nhịn, nhường nhịn, nhường nhịn!

    Một điều nhịn chín điều lành. Theo tôi cho dù Cung Phu Thê có xấu bao nhiêu, trong cuộc sống vợ chồng mình cứ chịu nhường đi một chút thì thường mọi việc sẽ ổn thỏa. 1 người bạn của tôi so sánh cũng hay:

    “Hãy tưởng tượng hạnh phúc như 1 sợi dây, nếu cả 2 cùng cương cả (cùng kéo cả) thì chắc chắn sẽ đứt. Chi bằng khi bạn đời mình cương thì mình trùng xuống, khi mình cương thì bạn đời mình trùng xuống, để duy trì sợi dây hôn nhân.”

    Thay đổi chính mình

    Đây là cách khó nhất nhưng cũng là cách công hiệu nhất để hóa giải nghiệp xấu về đường vợ chồng. Thay đổi chính mình tức là thay đổi quan niệm của mình về người bạn đời lý tưởng, thay đổi cách nhìn của mình về tình yêu.

    Ví dụ nếu mình là người trọng hình thức (là cái sẽ phai nhạt theo thời gian) thì nên thay đổi để hướng tới việc tìm hiểu tính nết và cách cư xử của người bạn đời (là những giá trị mang tính bền vững khi chung sống với nhau sau này). Nếu mình là người có xu hướng quan trọng hóa chuyện tình cảm thì cũng nên thay đổi, nên kết hợp tình yêu với lý trí để cho tình yêu được lâu bền hơn.

    Các cách hóa giải khác

    Tôi cũng nghe nói và chứng kiến một số “thủ thuật” nhằm trách chuyện 2, 3 đời chồng/vợ như trả lại cau trầu, giả cưới 2, 3 lần… Theo tôi những “thủ thuật” này cũng có tác dụng nhất định, tuy không “công hiệu” bằng các cách đã đề cập ở trên.

    Kết luận

    Nào bây giờ bạn hãy thử kiểm nghiệm xem người bạn đang tìm hiểu đạt được mấy điều trong 10 điều “hóa giải” đề cập ở trên? Không phải là tuyệt đối, nhưng tôi tin rằng càng đạt được nhiều điều, khả năng hạnh phúc sau này của 2 người là càng cao.

    Cung Phu Thê Phi Hóa

    Hóa Lộc

    Cung Phu Thê phi

    Cung Phu Thê tự Hóa Lộc

    Người phối ngẫu có tính tình hiền hòa, có duyên với người chung quanh, duyên vợ chồng tình thâm, ân ái hạnh phúc, trông nom cho nhau, có trợ lực; sau khi kết hôn sự nghiệp của mệnh tạo khá thuận lợi, kiếm được nhiều tiền; nếu mệnh tạo tự sáng lập cơ nghiệp, người phối ngẫu sẽ giúp vốn; hôn nhân của mệnh tạo là do yêu nhau mà kết hợp.

    Cung Phu Thê phi Hóa Lộc nhập cung mệnh

    Mệnh tạo rất có duyên với người khác giới, có duyên vợ chồng với người phối ngẫu; người phối ngẫu có tình yêu sâu đậm với mệnh tạo, trợ giúp mệnh tạo về sự nghiệp, làm việc không ngại gian khổ, không oán không trách, tình cảm vợ chồng rất tốt đẹp, có thể sống với nhau đến đầu bạc; sau khi kết hôn mệnh tạo có tài vận tốt, công việc hay sự nghiệp có phát triển.

    Cung Phu Thê phi Hóa Lộc nhập cung huynh đệ

    Người phối ngẫu rất hiếu thuận, có duyên với trưởng bối, có thể được đề bạt, nâng đỡ, sự nghiệp có thành tựu, có thể gánh vác sinh kế gia đình; người phối ngẫu có thể xử sự vui vẻ với anh em bạn bè của mệnh tạo; sau kết hôn, công việc hay sự nghiệp của mệnh tạo sẽ phát triển thuận lợi.

    Cung Phu Thê phi Hóa Lộc nhập cung tử tức

    Người phối ngẫu rất yêu thương và quan tâm chăm lo cho con cái, ra ngoài phải thù tạc nhiêu, mà tiêu xài cũng nhiều; sau kết hôn, vì công việc hay sự nghiệp, mệnh tạo cũng sẽ hưởng thụ và giao tế thù tạc nhiều; vợ lẫn chồng đều rất có duyên với người khác giới, sau kết hôn vẫn giao du với bạn bè khác giới, dễ phát triển thành tình nhân ờ bên ngoài hoặc ngoại tình; người phối ngẫu đối xử vui vè với anh em bạn bè cùa mệnh tạo.

    Cung Phu Thê phi Hóa Lộc nhập cung tài bạch

    Người phối ngẫu có tài vận tốt, có tiền nhiều hơn mệnh tạo; sau kết hôn có thể nhờ người phối ngẫu trợ lực mà tăng thêm tài phú; tình cảm vợ chồng tốt đẹp, người phối ngẫu giỏi giao tế, có trợ lực cho mệnh tạo phát triển sự nghiệp; người phối ngẫu kiếm tiền thuận lợi toại ý, có khuynh hướng sáng lập cơ nghiệp, dễ kiếm tiền, thích hưởng thụ.

    Cung Phu Thê phi Hóa Lộc nhập cung tật ách

    Người phối ngẫu tính tình lạc quan, dễ phát phì, năng lực tính dục mạnh, sẽ đeo dính mệnh tạo, nhưng không tạo áp lực cho mệnh tạo, con cái khá nhiều, cũng khá lao tâm. Mệnh tạo có hứng thú với chính giới, rất có duyên với người khác giới, dễ có cơ hội đào hoa, lình cảm vợ chồng tốt đẹp, có lòng thương người, quan tâm nhiều về sức khỏe của mình.

    Cung Phu Thê phi Hóa Lộc nhập cung thiên di

    Người phối ngẫu có tính hướng ngoại, duyên ở bên ngoài khá tốt, đi xa vui vẻ, có nhiều quý nhân trợ giúp, thường hay viễn du. Mệnh tạo rất có duyên với người khác giới, duyên hôn nhân đến sớm, tình cảm thuận lợi, được người phối ngẫu quan tâm, chăm lo, trợ giúp kiếm tiền, có điều kiện để hôn nhân hạnh phúc.

    Cung Phu Thê phi Hóa Lộc nhập cung nô bộc

    Người phối ngẫu xử sự với bạn bè của mệnh tạo rất tốt đẹp, tính cách hướng ngoại, nhiều bạn bè, biết giao tế, lạc quan, dễ phát phì, có duyên với trưởng bối. Mệnh tạo biết kiếm tiền, nhưng cũngdễ bị người giật liền; công việc hay sự nghiệp của mệnh tạo gặp nhiêu co hội lốt, có không gian để phát triển, có thể làm ăn mua bán.

    Cung Phu Thê phi Hóa Lộc nhập cung quan lộc

    Người phối ngẫu rất có duyên với người chung quanh, quan tâm sự nghiệp của mệnh tạo, có trợ lực cho sự nghiệp của mệnh tạo; người phối ngẫu nặng tinh thần sự nghiệp, có hứng thú với nhiều lãnh vực, công việc hay sự nghiệp đêu vừa ý, vùi vẻ trong công việc, làm việc bận rộn, đi làm có lương cao, thăng tiến nhanh.

    Cung Phu Thê phi Hóa Lộc nhập cung điền trạch

    Người phối ngẫu rất chăm lo cho gia đình, rất có duyên với người khác giới, nhiều bạn bè, cuộc sống vợ chồng khá hạnh phúc. Hoàn cảnh công việc hay sự nghiệp cùa mệnh tạo khá tốt đẹp, có phát triển.

    Cung Phu Thê phi Hóa Lộc nhập cung phúc đức

    Người phối ngẫu có phúc khí, được hường thụ, cuộc sống vợ chồng khá hạnh phúc, người phối ngẫu có sự nghiệp riêng của mình, còn có thể chi viện tiền bạc cho mệnh tạo.

    Cung Phu Thê phi Hóa Lộc nhập cung phụ mẫu

    Người phối ngẫu có mối quan hệ tốt đẹp với cha mẹ và bậc trưởng bối của mệnh tạo, là người thông minh, biết kiếm tiền, quan tâm chăm sóc gia đình của mệnh tạo, có tiền mang về nhà.

    Hóa Quyền

    Cung Phu Thê phi

    Cung Phu Thê tự Hóa Quyền

    Người phối ngẫu có cá tính mạnh, tính bướng bỉnh, có năng lực, có tài năng, có thể giúp mệnh tạo sáng lập cơ nghiệp, thích can dự vào sự nghiệp của mệnh tạo. Hôn nhân của mệnh tạo là kiểu tiếng sét ái tình, mới gặp đã yêu; cũng có thể vì người nhà ép buộc hoặc lỡ có con mà phải kết hôn; vợ chồng không nhường nhịn nhau, dễ xảy ra tranh chấp, cãi vả.

    Cung Phu Thê phi Hóa Quyền nhập cung mệnh

    Người phối ngẫu có thế mạnh, sẽ quản thúc mệnh tạo, giữa vợ chồng dễ có tranh chấp; lúc người phối ngẫu ra bên ngoài, đều có mục tiêu rõ ràng, khá chủ động, tích cực; về sự nghiệp hay công việc đều có tác phong hành sự quả quyết, rõ ràng và mau lẹ.

    Cung Phu Thê phi Hóa Quyền nhập cung huynh đệ

    Người phối ngẫu nắm quyền về sinh kế gia đình, thường cónhiều ý kiến về anh chị em của mệnh tạo, nhưng thái độ xử sự rất tốt đẹp, có thể cùng nhau bàn bạc; công việc hay sự nghiệp của người phối ngẫu có thể được khẳng định. Công việc hay sự nghiệp của mệnh tạo cũng tiến hành thuận lợi, có dục vọng vềquyền lực, thường xảy ra tranh chấp với cấp trên.

    Cung Phu Thê phi Hóa Quyền nhập cung tử tức

    Người phối ngẫu dạy dỗ con cái khá nghiêm khắc, có nhiều ý kiến và yêu cầu cao đối với gia đình, nhung cũng rất quan tâm chăm lo cho gia đình; cơ năng tính dục của người phối ngẫu rất tốt; cũng có dục vọng cao về bất động sản.

    Cung Phu Thê phi Hóa Quyền nhập cung tài bạch

    Người phối ngẫu giỏi quản lí tài chính, nắm quyền về kinh tế, có thể giúp mệnh tạo kiếm tiền; thái độ xử sự với người khác ở thế mạnh, nặng phô trương, xem trọng thể diện, chú trọng hưởng thụ, sẽ quản thúc mệnh tạo nhưng cũng chăm lo cho mệnh tạo.

    Cung Phu Thê phi Hóa Quyền nhập cung tật ách

    Người phối ngẫu có thân thể cường tráng, làm việc chăm chỉ, cá tính mạnh, không dễ nghe lời khuyên của người khác; sẽ đeo dính mệnh tạo, nhưng cũng bắt mệnh tạo làm việc. Mệnh tạo có hứng thú với chính giới.

    Cung Phu Thê phi Hóa Quyền nhập cung thiên di

    Người phối ngẫu ở bên ngoài thích được người ta khẳng định, ưa tranh cường hiếu thắng, ưa ra lệnh; cũng rất thích quản thúcmệnh tạo, nhất là hoạt động giao tế ở bên ngoài. Mệnh tạo thường vì đi làm việc ở bên ngoài mà phải bôn ba vất vả, thích hợp công tác ngoại vụ.

    Cung Phu Thê phi Hóa Quyền nhập cung nô bộc

    Người phối ngẫu không tùy tiện giao du bạn bè, mà có chọn lựa, rất trung thành với bạn bè; nhưng cũng có cạnh tranh, có nhiều ý kiên tranh luận với bạn bè; đối với vấn đề sinh kế gia đình thì không được vừa ý, nhưng cũng có thể gánh vác; đối với anh em bạn bè của mệnh tạo cũng có nhiều ý kiến, nhưng vẫn xừ sự tốt.

    Cung Phu Thê phi Hóa Quyền nhập cung quan lộc

    Người phối ngẫu hành sự tích cực, có húng tâm tráng chí, có trạ lực cho sự nghiệp của mệnh tạo, phàm chuyện gì cũng ưa chiếm thượng phong, giữa vợ chồng thường xảy ra tranh chấp; thích sáng lập cơ nghiệp, có thể nắm quyền, tài năng và năng lực đều có thể được khẳng định.

    Cung Phu Thê phi Hóa Quyền nhập cung điền trạch

    Người phối ngẫu ờ nhà hay ra oai, nắm quyền, có sức ảnh hường, ưa ra lệnh, nghiêm khắc với con cái. Mệnh tạo có thể nhờ người phối ngẫu trợ giúp mở tiệm làm ăn, kiếm tiền mua tậu nhà cửa.

    Cung Phu Thê phi Hóa Quyền nhập cung phúc đức

    Người phối ngẫu có vận sự nghiệp tốt, cũng có thể giúp mệnh tạo phát triển, chú trọng hưởng thụ, vì thể diện có thể tiêu xài một khoản tiền lớn, nhưng cũng có năng lực quản lí tài chính rất tốt.

    Cung Phu Thê phi Hóa Quyền nhập cung phụ mẫu

    Người phối ngẫu có sức ảnh hưởng trong gia đình của hai người, có nhiều ý kiến không hợp với cha mẹ của mệnh tạo, nhưng vẫn cư xử phải đạo, lại rất quan tâm chăm lo cho mệnh tạo.

    Hóa Khoa

    Cung Phu Thê phi

    Cung Phu Thê tự Hóa Khoa

    Người phối ngẫu có công phu tu dưỡng, có phong độ, lịch sự nhã nhặn, tú lệ đoan trang, xem trọng hình tượng của bản thân, rất có duyên với người chung quanh, có tố chất văn nghệ, gia thế thanh bạch, thường là con nhà thư hương. Hôn nhân của mệnh tạo thường là đồng sự, đồng hương, hoặc do người khác giới thiệu; công việc cùa mệnh tạo bình yên thuận lợi, ít sóng gió trắc trở, tự sáng lập sự nghiệp có thê có thanh danh, nhưng làm gì cũng không mở rộng, chi bình ổn mà thôi; hôn nhân cùa mệnh tạo dễ có người thứ ba xen vào, mà còn bị phát hiện rất nhanh. 

    Cung Phu Thê phi Hóa Khoa nhập cung mệnh

    Vợ chồng hai người đều có duyên với người khác giới, dễ có ngưòi thứ ba xen vào, tuy khó tránh có sóng gió, nhưng tình càm của hai người không mất, vẫn có thể sống với nhau đến đầu bạc. về sự nghiệp, người phối ngẫu có thể xoay sở vốn giúp mệnh tạo.

    Cung Phu Thê phi Hóa Khoa nhập cung huynh đệ

    Người phối ngẫu đối xừ hiên hòa với anh em bạn bè; công việc hoặc sự nghiệp của người phối ngẫu đều bình ổn, có kế hoạch rõ ràng về sinh kế gia đình.

    Cung Phu Thê phi Hóa Khoa nhập cung tử tức

    Người phối ngẫu dạy dỗ con cái rất sáng suốt, đúng cách, khiến cho chúng có không gian tự phát triển. Vợ chồng hai người đều rất có duyên với người khác giới, sau kết hôn vẫn còn có người theo đuổi.

    Cung Phu Thê phi Hóa Khoa nhập cung tài bạch

    Người phối ngẫu xừ lí tài vụ rất có kế hoạch, tính toán rõ ràng, còn có thể trợ giúp mệnh tạo điều chuyển vốn liếng, xử sự rất có phong độ, hiền hòa, sáng suốt; vợ chồng tôn trọng nhau, hình tượng lúc nào cũng mới mẻ.

    Cung Phu Thê phi Hóa Khoa nhập cung tật ách

    Người phối ngẫu hiền hòa, sáng suốt, có lí lẽ , tôn trọng và quân tâm chăm sóc mệnh tạo, hiếu thuận với bậc trưởng bối, đối đãi anh em bạn bè của mệnh tạo rất tốt. Mệnh tạo có hứng thú hoạt động trong chính giới

    Cung Phu Thê phi Hóa Khoa nhập cung thiên di

    Người phối ngẫu ra bên ngoài khá thuận lợi, gặp nhiều quý nhân, có hình tượng tốt, có tiền riêng, quan tâm chăm sóc mệnh tạo, thái độ hiền hòa, nhã nhặn.

    Cung Phu Thê phi Hóa Khoa nhập cung nô bộc

    Bạn bè của người phối ngẫu phần lớn đều sáng suốt, có lí lẽ, thái độ hiền hòa lễ độ, xử sự hòa hợp, có thể giúp đỡ lẫn nhau; về công việc hay sự nghiệp, người phối ngẫu có thể được cấp trên hay đông sự trợ lực.

    Cung Phu Thê phi Hóa Khoa nhập cung quan lộc

    Người phối ngẫu rất có duyên với người chung quanh, có trợ lực cho sự nghiệp công danh cùa mệnh tạo; về phương diện sự nghiệp hay công việc cùa họ, đêu có thể phát huy tài năng, được khẳng định.

    Cung Phu Thê phi Hóa Khoa nhập cung điền trạch

    Người phối ngẫu rất có duyên với người khác giới, biết trông nom lo liệu cho gia đình, sinh hoạt gia đình thư thả và thoải mái.

    Cung Phu Thê phi Hóa Khoa nhập cung phúc đức

    Người phối ngẫu có sự tu dưỡng tốt, có khí chất, có thị hiếu thanh nhã, làm việc có kế hoạch, chú trọng phẩm chất của cuộc sống, hường thụ có cân đối thu chi, công việc hay sự nghiệp đều bình ổn, có thể giúp mệnh tạo lên kế hoạch về tài chính, trợ giúp mệnh tạo trong sự nghiệp, đời sống hôn nhân hạnh phúc, có bầu không khí lãng mạn.

    Cung Phu Thê phi Hóa Khoa nhập cung phụ mẫu

    Người phối ngẫu là con nhà có gia giáo, đối xử vui vẻ với cha mẹ của mệnh tạo, quan hệ rất tốt với bậc trưởng bối, có thể được cấp trên đề bạt, nâng đỡ; thích hợp làm biệc trong cơ cấu lớn như cơ cấu công hay cơ cấu giáo dục.

    Hóa Kỵ

    Cung Phu Thê phi

    Cung Phu Thê tự Hóa Kỵ

    Người phối ngẫu có tính tình thẳng thắn , nhưng thiếu tự tin, hơi bi quan , dễ chuốc oán với tiểu nhân, thể chất yếu, nhiều bệnh đau, không trợ lực được cho công việc hay sự nghiệpcủa mệnh tạo. Mệnh tạo có duyên bạc với hôn nhân, khó tìm được đối tượng kết hôn, có khả năng sẽ không có hôn nhân, sau kết hôn dễ xảy ra tinh trạng đồng sàng dị mộng, thường vì chuyện nhỏ mà cãi vả, hôn nhân khó hạnh phúc. 

    Cung Phu Thê phi Hóa Kỵ nhập cung mệnh

    Tốt nhất là mệnh tạo nên kết hôn muộn, kết hôn sớm thường thường sẽ khó sống với nhau đến đầu bạc; nữ mệnh thường là người mẹ đơn thân, giữa vợ chồng có nhiều lời oán trách nhau. Sự nghiệp của mệnh tạo phát triển không được thuận lợi.

    Cung Phu Thê phi Hóa Kỵ nhập cung huynh đệ

    Người phối ngẫu khó hòa hợp với anh em bạn bè của mệnh tạo, con đường giao lưu cảm thông giữa vợ chồng dễ bị đứt đoạn giữa chừng, đây là cuộc hôn nhân không được chúc phúc; sau kết hôn sinh kế gia đình dễ bị rơi vào cảnh khó khăn; trước khi kết hôn cũng gặp nhiều sóng gió trắc trở, hoặc khó có hôn nhân; sự nghiệp làm ăn không thuận lợi.

    Cung Phu Thê phi Hóa Kỵ nhập cung tử tức

    Người phối ngẫu quàn tâm lo liệu cho con cái thái quá, gây áp lực lớn cho con cái, tạo ra sự ngăn cách giữa hai bên, cách xử sự không được tốt đẹp; người phối ngẫu không thích ngồi đợi ở nhà, thường ra ngoài, đi xa. Lúc đi ra ngoài mệnh tạo nên cẩn thận, dê xảy ra sự cố giao thông. Sau kết hôn gia đình không yên ổn, dễ có ngườithứ ba xen vào, có thể sẽ có hôn nhân lần thứ hai, quan hệ giao tế không được tốt.

    Cung Phu Thê phi Hóa Kỵ nhập cung tài bạch

    Mệnh tạo xừ lí vấn đề tình cảm với bạn khác giới không thỏa đáng, nên đánh mất tình yêu. Người phối ngẫu xem trọng tiền bạc, nhưng không giỏi quản lí tài chính, thường không giữ được tiền; tình càm vợ chồng không được tốt đẹp, sẽ vì tiền bạc mà cãi vả.

    Cung Phu Thê phi Hóa Kỵ nhập cung tật ách

    Người phối ngẫu cá tính thẳng thắn, thể chất yếu, hay ghen tuông, sẽ đeo dính mệnh tạo, gây áp lực lớn cho mệnh tạo, dễ đánh mất tình yêu. Mệnh tạo thiếu duyên vợ chồng, dễ có tình hình sống chung như vợ chồng mà không kết hôn chính thức, nhưng nếu có kết hôn chính thức thì khó li hôn; sinh hoạt tính giao của vợ chồng không hòa điệu; sau kết hôn sẽ ra riêng, nhưng cuộc sống dễ xảy ra sóng gió.

    Cung Phu Thê phi Hóa Kỵ nhập cung thiên di

    Người phối ngẫu không giữ được tiền, thường bôn ba ở bên ngoài, ra ngoài dễ có tai ách; trước khi kết hôn phần nhiều người phối ngẫu đã từng có tình yêu. Mệnh tạo nên kết hôn muộn, vợ chồng duyên phận bạc, dễ bị tình trạng gặp nhau ít mà xa nhau nhiều, hoặc sinh li tử biệt; nếu phối ngẫu ỉà người xứ khác hoặc lớn hơn trên bảy tuổi, thì có thể sống với nhau lâu dài. Hôn nhân khó hạnh phúc, trước khi kết hôn tuy có đào hoa, nhưng cũng khó kết hôn.

    Cung Phu Thê phi Hóa Kỵ nhập cung nô bộc

    Người phối ngẫu có thể chất kém, khó mập; ít bạn bè, đối với bạn bè rất trọng tình nghĩa, nhưng thường gặp thị phi phiền phức, nếu có qua lại tiền bạc thì dễ bị thua thiệt. Sau kết hôn sinh kế gia đình dễ bị khủng hoảng, tiền giành dụm cũng dễ bị ,bạn bè giật; sự nghiệp gặp sóng gió, phát triển không thuận lợi.

    Cung Phu Thê phi Hóa Kỵ nhập cung quan lộc

    Người phối ngẫu có tính hướng ngoại, thường bôn ba ở bên ngoài, không trợ lực cho sự nghiệp của mệnh tạo. Mệnh tạo sẽ sổng với người phối ngẫu đến già, và cũng cãi nhau đến già. Người phối ngẫu dốc toàn bộ tinh thần vào công việc, có tính chuyên nghiện, nhưng công việc hay sự nghiệp không ổn định, thường có tình trạng bò dở nửa chừng. Lúc ra ngoài mệnh tạo nên cẩn thận, phòng sự cố giao thông; nên kết hôn muộn.

    Cung Phu Thê phi Hóa Kỵ nhập cung điên trạch

    Mệnh tạo thường kết hôn muộn, muộn thì có con trai. Người phối ngẫu tuy chăm lo cho gia đình, nhưng thường bôn ba ở bên ngoài. Tình cảm vợ chồng không được hòa hợp, hôn nhân dễ có người thứ ba xen vào, nhưng dù có tình nhân ở bên ngoài vẫn khó li hôn; mệnh tạo ra ngoài phải cẩn thận phòng sự cố giao thông.

    Cung Phu Thê phi Hóa Kỵ nhập cung phúc đức

    Tâm thần của người phối ngẫu không được yên ổn, hay đâm đầu vào những chuyện không giải quyết được, tư tưởng dễ bị xung động, đời sống hôn nhân của hai người khồng được hạnh phúc, vợ chồng dễ vì tiền bạc mà cãi vả; người phối ngẫu không giữ được tiền, thường vì tâm trạng không tốt mà tiêu tiền để giải khuây.

    Cung Phu Thê phi Hóa Kỵ nhập cung phụ mẫu

    Người phối ngẫu có gia thế không tốt, thể chất yếu, xử sự không hòa hợp với cha mẹ của mệnh tạo. Vợ chồng duyên bạc, gần nhau ít mà xa nhau nhiều, dễ xảy ra tình trạng li hôn. Công việc hay sự nghiệp của người phối ngẫu không thuận lợi, khó được đề bạt, nâng đỡ; sau kết hôn sự nghiệp thường xuống dốc.

    Thay lời kết

    Cung Phu Thê trong lá số Tử Vi rất là quan trọng. Khi xét đoán cần cân nhắc ảnh hưởng từ các tinh diệu tại Cung Quan Lộc và Cung Thiên Di và Cung Phúc Đức để đưa ra luận đoán phù hợp. Trường hợp cẩn trọng cần quan tâm thêm Mệnh Thân đương số. Điều cần lưu ý là Cung Phu Thê chỉ phản ánh mối quan hệ giữa người phối ngẫu và đương số. Chứ tuyệt đối không dùng Cung Phu Thê để luận về người phối ngẫu của mình…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sao Thái Âm Ở Cung Phu Thê
  • Sao Thái Âm Là Gì ?
  • Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Một Thành Viên Taxi Sơn Trang
  • Taxi Tuyên Quang: Danh Bạ Số Điện Thoại Các Hãng Taxi Ở Tuyên Quang
  • Động Sơn Trang – Làm Động Sơn Trang Đẹp
  • Sao Thái Âm Tọa Cung Thìn

    --- Bài mới hơn ---

  • Sao Thái Âm Tọa Cung Mệnh, Hóa Khí Thành Phú
  • Sao Thái Âm Chiếu Cung Phu, Nữ Qúy Sửu Không Lo Hạnh Phúc Gia Đình Tan Vỡ
  • Ý Nghĩa Luận Giải Sao Thái Âm Trong Khoa Tử Vi
  • Kinh Nghiệm Tử Vi: Giải Đoán Cung Phu Thê
  • Sao Thái Âm Chiếu Mệnh, Phúc Phận Một Đời
  • Sao Thái âm ở cung Thìn cũng là độc tọa hãm địa, sao Thái âm ở cung Thìn giống như mặt trăng vào lúc 7h – 9h (giờ Thìn) không hề sáng, đồng thời sao Thái dương ở cung đối diện không được chỗ nên cũng mất đi ánh sáng là mệnh cách Nhật nguyệt phản bối.

    Chủ lao lực bôn ba, mệnh nam bất lợi cho mẹ, vợ và con gái, mệnh nữ bất lợi cho mẹ, bản thân và con gái, phải tha hương, tự mình phấn đấu. Khó tránh khỏi đào hoa, trắc trở, quanh quẩn. Thích làm việc thuận với tự nhiên, không yêu cầu quá cao trong công việc, cũng không yêu cầu tự thể hiện mình.

    VẬN MỆNH CƠ BẢN

    Sao Thái âm hãm địa tọa thủ ở cung Thìn, cung Thiên di có sao Thái dương không mất đi ánh sáng, cung Tài bạch có sao Thiên cơ nhập miếu, cung Quan lộc có sao Thiên đồng thế vượng và sao Thiên lương hãm đại là mệnh cách Cơ nguyệt đồng lương, giỏi lập kế hoạch, giải quyết công việc và năng lực phò tá tốt, có cơ hội bứt phá trong sự nghiệp công giáo, phát thanh, văn hóa.

    Sao Thái âm hãm địa ở cung Thìn, sao Thiên lương hãm địa đối chiếu ở cung Thân (Quan lộc) là mệnh cách Thiên lương củng nguyệt, cả đời nhiều biến động, phiêu bạt tha hương, hoặc do tửu sắc mà bị mất mạng, là mệnh tán tận gia sản. Sao Thái dương ở cung Thiên di không được chỗ nên mất đi ánh sáng, ra ngoài gặp ưu phiền, tính cách không rộng mở, tiêu xài nhiều, khó phát triển.

    Cung Tài bạch có sao Thiên cơ, không có tài bất ngờ, cần dựa vào trí tuệ và hai bàn tay vất vả mới được tiền tài tương ứng, tay trắng lập nghiệp. Không nên có tư tưởng ôm cây đợi thỏ mà phải hiểu đạo lý làm bao nhiêu hưởng bấy nhiêu, tiền tài có tính lưu thông lớn. Sao Thiên cơ chủ cung Huynh đệ, do đó tiền tài thường lưu thông trong tay của anh chị em.

    Cung Quan lộc có sao Thiên đồng, Thiên lương, làm việc không tích cực, không thích dây dưa đến tiền tài, do rộng rãi với cấp dưới nên thưòng tự chuốc lấy vất vả, không thích hợp làm quản lý, thường làm việc không có mục tiêu rõ ràng, có tính xã hội và tính biến hoá, hài hoà có ăn, có chơi, có phúc khí, không động chạm đến tiền tài. Sau trung niên được quý nhân giúp đỡ mà phát triển thuận lợi.

    VẬN MỆNH CỦA CÁC NĂM SINH KHÁC NHAU

    Người sinh năm Giáp: Sao Thái dương lạc hãm tại cung Thiên di hóa kỵ. Có duyên phận mỏng với cha mẹ, bôn ba vất vả, gặp thị phi, tinh thần giảm sút không muốn về nhà, nên phòng tật về mắt, tai nạn xe cộ.

    Người sinh năm Ất: Sao Thiên cơ ở cung Tài bạch hóa lộc. Sao Thiên lương tại cung Quan lộc hóa quyền, sao Thái dương tại cung Mệnh lạc hãm hóa kỵ. Sao Thiên cơ nhập cung Tài bạch hóa lộc, tiền tài lưu thông nhiều, phần lớn là thần tài qua đường, không nên kinh doanh buôn bán. Sao Thiên lương hóa quyền nhập cung Quan lộc, cá tính chủ quan, ngang ngược nhưng cũng nói lí lẽ, nên làm công việc như công chức, giáo viên, trong sự nghiệp và chuyện tình cảm thường có phát sinh phiền phức nhưng đều có thể hóa giải.

    Sao Thái âm lạc hãm hóa kỵ tọa mệnh, nữ mệnh bất lợi cho lục thân, có thể mất của, thường phiền não vì vấn đề nhà ở, dễ gặp thiệt thòi, thường xuyên có chuyện khó nói trong lòng, có dấu hiệu tha hương, cần chú ý đến sức khỏe và chuyện hôn nhân.

    Người sinh năm Ất, sao Kình dương nhập miếu cùng tọa Mệnh, là mệnh cách Kình dương nhập miếu, quyền uy xuất chúng, phú quý vang dội, có thể thúc đẩy sao Thái âm tự lực phấn đấu, thoát khỏi nghèo khó, gặp Hỏa tinh tất quyền uy cực tốt, gặp hung tinh sẽ khó tránh khỏi hình thương. Đồng thời, hai sao Thiên việt, Thiên khôi lần lượt tam hợp hội chiếu tại hai cung Tài bạch, Quan lộc, là mệnh cách Thiên ất cung mệnh, có quý nhân phù trợ, có thành tựu trong văn hóa nghệ thuật nhưng không tránh khỏi bôn ba vất vả.

    Người sinh năm Bính: Cung Quan lộc có sao Thiên đồng hóa lộc, cung Tài bạch có sao Thiên cơ hóa quyền. Sao hóa lộc nhập cung Quan lộc, được hưởng thụ, là nữ sẽ có phiền muộn chuyện tình cảm. Sao Thiên cơ hóa quyền nhập cung Tài bạch, có năng lực lãnh đạo, chủ động trong công việc, giỏi vạch kế hoạch và điều tiết công việc, cố vốn quay vòng.

    Người sinh năm Đinh: Tại cung Mệnh sao Thái dương lạc hãm hóa lộc, cung Quan lộc có sao Thiên đồng hóa quyền, cung Tài bạch có sao Thiên cơ hóa khoa, là mệnh cách Tam kỳ gia hội, danh dự xán lạn, tài quan song mỹ, gặp khốn khó có quý nhân phù trợ, có thể gặt hái thành công bất ngờ.

    Nhưng đại hạn thứ ba mới có thể hội chiếu bộ phận hóa diệu, đại hạn thứ năm mới hội tề với ba hóa diệu, cho nên thuộc mệnh cách Đại khí vãn thành (thành công muộn), duy chỉ có cung Mệnh sao Thái âm là lạc hãm, ảnh hưởng đến thành tựu, cũng làm cho con đường thành công có chút trở ngại.

    Sao Thái dương hóa lộc nhập cung Mệnh, có tài sản, có tình duyên, xử sự phiền phức, dễ sinh chuyện thị phi. Sao Thiên đồng hóa quyền nhập cung Quan lộc, chủ về vất vả bôn ba, có thể kết hợp để sáng nghiệp, làm ăn phải dựa vào quan hệ xã hội, làm dịch vụ, quán ăn…, tình cảm nhiều trắc trở.

    Sao Thiên cơ hóa khoa nhập cung Tài bạch, tăng cường sức làm việc, có vốn lưu động lớn nhưng đều thuộc thần tài qua ngõ.

    Người sinh năm Mậu: Cung Mệnh có sao Thái âm lạc hãm hóa quyền, cung Tài bạch có sao Thiên cơ hóa kỵ. Sao Thái âm hóa quyền nhập cung Mệnh, khởi nghiệp sẽ lao tâm khổ tứ, không được hưởng thụ phú quý. Sao Thiên cơ hóa kỵ nhập cung Tài bạch, sự nghiệp vất vả, tiền tài có biến động lớn, vì tiền mà phiền não, lao tâm khổ tứ.

    Người sinh năm Kỷ: Cung Quan lộc sao Thiên lương hóa khoa. Thích đứng đầu nhưng trên con đường sự nghiệp không có thực quyền, cuộc đời ít sóng gió, có thành tựu ở phương diện văn hóa nghệ thuật, có cơ hội nổi danh.

    Đồng thời, hai quý tinh Thiên việt, Thiên khôi, cung Quan lộc lần lượt tam hợp hội chiếu tại cung Quan lộc, Tài bạch, là mệnh cách Thiên ất củng mệnh, có quý nhân phù trợ, có thành tựu trong phương diện văn hóa nghệ thuật nhưng có nhiều khó khăn.

    Người sinh năm Canh: Cung Thiên di có sao Thái dương hóa lộc mất đi ánh sáng, cung Mệnh có sao Thái âm lạc hãm hóa khoa, cung Quan lộc có sao Thiên đồng hóa kỵ. Cung Thiên di có sao Thái dương hóa lộc mất đi ánh sáng, làm việc vất vả, phấn đấu khó khăn, có thanh danh, thích đi chơi xa.

    Sao Thái âm hóa khoa thủ mệnh lạc hãm, có nữ quý nhân phù trợ, thích tích lũy tiền riêng, hoặc tiêu tiền mà không cần báo cáo thu chi. Sao Thiên đồng hóa kỵ nhập cung Quan lộc, trong sự nghiệp không có người giúp đỡ, làm việc vất vả khó đạt thành tựu.

    Người sinh giờ Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi, năm Canh, Quý sao Hóa khoa tọa mệnh, Tam phương Tứ chính có hai sao Địa không, Địa kiếp hội chiếu (có Hỏa tinh, Linh tinh hội chiếu cũng giống như vậy), là mệnh cách Khoa tinh phùng phá, chủ cần cù học tập, nhưng không có tên tuổi, có quý nhân nhưng không có thực lực, càng giúp càng vướng bận.

    Người sinh năm Tân: Cung Thiên di sao Thái dương hóa quyền, có quyền uy nhưng chỉ là hư danh, bôn ba vất vả, nam mệnh có thể sáng nghiệp, nữ mệnh có duyên với người khác giới.

    Người sinh năm Nhâm: Cung Quan lộc có sao Thiên lương hóa lộc, có nhiều tiền ngoài sức tưởng tượng, thường mang đến rất nhiều phiền toái, tinh thần dễ bị căng thẳng, làm công việc công chức, giáo viên, nhân viên văn thư có thể được hưởng địa vị.

    Theo chúng tôi

    Người sinh năm Quý: Cung Mệnh có sao Thái âm hóa khoa lạc hãm, có nữ quý nhân phù trợ, thích giữ tiền trong nhà hoặc tiêu tiền không cần báo cáo thu chi, có số đào hoa.

    VẬN MỆNH THEO GIỜ SINH

    Người sinh tháng 1, 7, hai sao Tả phù, Hữu bật lần lượt hội chiếu tại hai cung Mệnh và cung Thiên di, là mệnh cách Tả Hữu thủ viên, có đầu óc, nhân duyên tốt, nhưng tại cung Mệnh sao Thái âm là lạc hãm, đa phần thành trước bại sau.

    Người sinh giờ Tý giờ Ngọ, hai sao Văn xương, Văn khúc lần lượt hội chiếu tại hai cung Mệnh, Thiên di, là mệnh cách Văn tinh củng mệnh, có thành tựu trong học thuật và văn nghệ, mệnh nữ đa tình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Dâng Sao Giải Hạn Đầu Năm Cho Sao Thái Âm
  • Bình Giải Sao Thái Âm
  • Mẫu Viết Sớ Phúc Thọ
  • Cách Nhận Biết Một Lá Sớ Đẹp !
  • Phần Mềm Viết Sớ Tự Động Chuyên Dụng
  • Sao Thái Âm Chiếu Cung Phu, Nữ Qúy Sửu Không Lo Hạnh Phúc Gia Đình Tan Vỡ

    --- Bài mới hơn ---

  • Ý Nghĩa Luận Giải Sao Thái Âm Trong Khoa Tử Vi
  • Kinh Nghiệm Tử Vi: Giải Đoán Cung Phu Thê
  • Sao Thái Âm Chiếu Mệnh, Phúc Phận Một Đời
  • Thái Âm Ở Cung Mệnh (Thân)
  • Sao Thái Âm Cung Phu Thê
  • Xưa nay người ta thường so tuổi nam nữ để dự đoán hôn nhân tốt xấu thế nào, thường là xét đến sự sinh khắc theo can chi, ngũ hành của hai tuổi. Tương sinh thì tốt, tương khắc thì xấu.

    Chị sinh năm 1973, tuổi Quý Sửu. Anh sinh năm 1968, tuổi Mậu Thân. Về can, Mậu hợp với Quý là tốt. Về chi, Sửu với Thân không xung khắc với nhau. Tuổi Quý Sửu thuộc hành Mộc (Tang đố Mộc – gỗ cây dâu), khắc tuổi Mậu Thân thuộc hành Thổ (Đại dịch Thổ – đất thuộc một khu lớn) là xấu. Ấy là nói thế, nhưng cây không mọc trên đất thì mọc ở đâu, đất không cây nào mọc được thì quý giá gì!

    Nếu quy ra Bát quái, tuổi anh thuộc quẻ Khôn, tuổi chị thuộc quẻ Càn, nam Khôn, nữ Càn lại là tốt đấy! Có người tuổi không khắc nhau, quẻ lại hợp nhau mà không sống được với nhau là vì sao? Là vì số phận của hai người, thể hiện qua các cung Phu Thê, cung Mệnh, Thân, Phúc Đức.

    Cung Phu Thê tốt xấu thể hiện qua hai yếu tố là cung và sao. Trong 12 cung, có 1 cung được coi là xấu với bản mệnh. Tiểu vận đến cung đó thường xảy ra nhiều chuyện. Đó là cung Tý với mệnh Kim, cung Ngọ với mệnh Mộc, cung Dần với mệnh Thủy, cung Dậu với mệnh Hỏa và cung Mão với mệnh Thổ. Cung Ngọ thuộc quẻ Ly, cung Hỏa như cái lò lửa, hành Mộc là củi gỗ, đến cung này sẽ bị hao tiết (Mộc sinh Hỏa), không tốt.

    Có phải cung Phu của chị là cung Ngọ nên chị mới ở vào hoàn cảnh khó khăn, bế tắc như vậy hay không? Không hẳn thế! Một người bạn tôi, mệnh thuộc quẻ Chấn, chồng mệnh thuộc quẻ Tốn là tốt. Mệnh Thủy, cung Phu ở cung Thân – cung Kim là tốt (Kim sinh Thủy). Thế mà vợ chồng cũng phải chia tay nhau.

    Các hung tinh, sát tinh, bại tinh, hao tinh, Tuần Triệt ở cung Phu Thê cũng gây ra nhiều bất lợi trong cuộc sống vợ chồng. Ví dụ, cung Phu Thê có Phá Quân, có sách viết rằng trai lấy vợ hay ghen, gái lấy chồng bất nghĩa. Cung Thê có Tuần, Triệt gặp Thiên Mã – Triệt Tuần ngộ Mã ưu phiền, bỏ chồng vợ trốn đến miền xa phương. Có người cũng có cách ấy, nhưng vợ chồng vẫn sống với nhau hạnh phúc, tuy rằng cũng có lúc khó khăn.

    Phú có câu: Tham, Dương (Kình Dương), Phá, Sát giai tam độ (“ba lần đò”), Trinh, Vũ, Dương, Đà hữu khắc ly (xung khắc hay bỏ nhau). Đâu phải ai có cách này vợ chồng cũng xung khắc, cũng phải đi ba lần đò đâu? Cung Phu của chị không có các sao nêu trên. Cung Phu của bạn tôi cũng không có các sao trên, nhưng cung Mệnh lại có những sao bất lợi cho hạnh phúc gia đình.

    Xét về Thiên can, Địa chi, tuổi anh chị không hề xung khắc, qua bao năm chung sống, con cái chính là vốn quý của cả hai

    Cung Mệnh cho biết những nét cơ bản nhất về số phận một người. Cung Mệnh dù tốt đẹp, nhưng lại có những sao cô độc, những sát tinh, bại tinh thì cũng bất lợi về cuộc sống gia đình. Ví dụ: Mệnh có sao Vũ Khúc đắc địa thì thông minh, có chí lớn, có tài tổ chức, có óc kinh doanh… nhưng hay tách biệt với người thân, nếu không khắc cha mẹ, anh em thì cũng khắc vợ (chồng), khắc con hay hiếm con.

    Mệnh có Thái Âm đắc địa, nữ giới, là người có nhan sắc, đức độ, tài giỏi, đảm đang, vượng phu, ích tử. Mệnh có Kình Dương ở Tứ Mộ, thêm các sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp thì được hưởng phú quý, danh tiếng lừng lẫy. Thái Âm và Kình Dương đắc địa đi với nhau thì giỏi kinh doanh buôn bán, nhưng khó tránh được hình khắc chia ly. Bạn tôi ở vào trường hợp này. Cung Mệnh của chị không có những cách đó.

    Cung Thân không có vị trí cố định, mà đóng cùng vào một chỗ với cung Mệnh, hoặc cung Phúc Đức, cung Tài… cho biết đương số chuyên chú vào đâu. Thân cư Mệnh thì tự lo lấy cho mình, có sao hưởng vậy. Thân cư Phúc Đức thì lấy hạnh kiểm, tư cách để chống đỡ với các tai họa ở đời. Thân cư Tài thì chỉ lo chuyện kiếm tiền, lấy của che thân…

    Cung Thân có các sao hung, sát, bại, hao, Tuần Triệt thì cũng kém. Cung Thân của chị không có các sao ấy. Chị có cách Thân cư Tài, hay là chị chỉ mải lo chuyện kiếm tiền mà không để ý đến các chuyện khác trong nhà chăng? Người có Thiên Mã ngộ Triệt cung Thê tôi vừa nói ở trên, Mệnh, Thân không có gì đặc biệt, làm sao gia đạo tránh được đổ vỡ? Là bởi người đó có cung Phúc Đức tốt, là người ăn ở phúc thiện.

    Người ta cho rằng cung Phúc Đức cho biết sự thọ yểu, cùng là sự thịnh suy, tụ tán của họ hàng, ngoài ra còn cho biết về âm phần mà mình chịu ảnh hưởng. Cung Phúc Đức chi phối 11 cung còn lại, những được mất, may rủi, thêm hay bớt, nặng hay nhẹ đều từ cung Phúc Đức tốt hay xấu mà ra.

    Ở đời, không có cho làm gì có nhận! Phúc Đức nên được hiểu vừa là hưởng phúc, vừa là tạo phúc: Phúc là hưởng phúc, Đức là tạo phúc. Cung Phúc Đức của chị Vô chính diệu, nhưng được hai sao lành là Thiên Cơ, Thiên Lương chiếu. Thiên Cơ là thiện tinh, tính sáng suốt, khéo léo, mưu cơ, nhân hậu, từ thiện. Thiên Lương là thọ tinh, chủ phúc thọ, nhân hậu, khoan hòa, giải trừ bệnh tật, tai họa.

    Mệnh chị có sao Long Đức, cung Phúc Đức lại có ba sao Đức là Phúc Đức, Thiên Đức, Nguyệt Đức, thế là thành Tứ Đức. Chữ Đức được chiết tự như sau: Chim chích mà đậu cành tre. Thập trên, tứ dưới nhất đè chữ tâm. Trong chữ Đức có chữ tâm, nghĩa là phải xuất phát từ tấm lòng mình. Để được chữ Đức thì mình phải chịu thiệt: Thiệt về điều ăn tiếng nói, thiệt về quyền lợi vật chất… Muốn được hưởng phúc dày cần phải tích đức hành thiện, ngoài ra không có cách nào khác.

    Cung Phu của chị có sao Đào Hoa, mang lại vui vẻ, may mắn cho tuổi trẻ nhưng không đẹp với người lớn tuổi. Bộ sao Tứ Đức, sao Lộc Tồn có thể hóa giải tác dụng xấu đó, ngoài ra, còn có sao Hóa Khoa được mệnh danh là “đệ nhất giải thần”, sao Thiên Giải có khả năng cứu giải rất mạnh, vô hiệu hóa được cả Thiên Không, Địa Kiếp.

    Vả lại, Triệt chỉ ảnh hưởng mạnh khi người ta còn trẻ, vào vận chỉ ảnh hưởng trong thời gian đầu của vận. Khi đó, cung Phu của chị lại được Thái Âm sáng sủa chiếu rọi, mọi chuyện sẽ êm đẹp, chị đừng lo nghĩ quá!

    Mọi chuyện đã qua, được sao Thái Âm chiếu rọi nên việc gia đình chị rồi sẽ êm đẹp

    Anh chị được 3 cháu đều tài năng, nghị lực, mẫn cán, có cá tính mạnh. Cháu trai đầu cung Mệnh ở Sửu, có Nhật Nguyệt đồng cung và các sao đẹp là Hóa Quyền, Tả Phụ, Hữu Bật, Ân Quang, Thiên Quý. Nhật Nguyệt đồng cung thì thông minh, phong nhã, tài giỏi. Hóa Quyền thì mạnh dạn. Tả Hữu đồng cung thì tài năng, khoan hòa nhân hậu. Quang Quý đồng cung ở Sửu thì may mắn trong đường đời: Sửu Mùi Quang Quý tương phùng tam sinh hữu hạnh.

    Cung Quan của cháu có các sao Thiên Mã, Thiên Lương, Triệt thì hay phải đi làm chỗ này chỗ khác, đúng là làm nghề xây dựng. Cháu có Thân cư Tài mà cung Tài lại có cách Song Lộc thì khá giả.

    Cháu gái cung Mệnh ở Mão, có saoThái Âm tuy không giàu có như anh cháu, nhưng cuộc đời cũng được phong lưu, và không phải lo ngại nhiều đến những sự chẳng lành xảy đến. Mệnh cháu có các sao Hóa Khoa, Thiên Khôi là thông minh, học giỏi, đỗ cao. Cung Quan giáp Văn Xương, Văn Khúc là có văn tài, có Tả Phụ, Hữu Bật là được nhiều người nâng đỡ trên đường công danh.

    Cháu mệnh Kim, cung Quan lại ở cung Mùi là cung Thổ – Thổ sinh Kim – thì sẽ được làm công việc phù hợp với cháu. Sang năm, lưu Lộc Tồn ở cung Phúc là gặp may mắn, tiểu vận ở cung Điền có Đào Hoa, Hồng Loan là xin được việc làm. Cháu nên lấy chồng sinh năm 1985, 1986, 1989, 1993.

    Cháu trai út cung Mệnh ở Tỵ, có các sao Thiên Mã, Trường Sinh – Thiên Mã nhập Mệnh mẫn tiệp đa năng (siêng năng và đa tài), Mã ngộ Trường Sinh thanh vân đắc lộ (đường công danh rộng mở). Mệnh cháu có cách Binh Hình Tướng Ấn: Tính cháu ít nói (Binh Hình nói chẳng hở răng), theo ngạch quân sự thì hợp.

    Cháu có Triệt đóng giữa hai cung Phụ Mẫu và Phúc Đức thì nên lập nghiệp nơi xa – xa bố mẹ, xa quê hương bản quán. Cháu có Thân cư Thiên Di, cung Thiên Di có cách Song Lộc thì thích nay đây mai đó, ra ngoài ích lợi và thành đạt hơn ở nhà.

    Chúc chị may mắn và hạnh phúc!

    Nghĩa Thanh (Nguồn ảnh Baidu) (Theo Báo Người Giữ Lửa )

    Theo Báo Người Giữ Lửa

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sao Thái Âm Tọa Cung Mệnh, Hóa Khí Thành Phú
  • Sao Thái Âm Tọa Cung Thìn
  • Văn Khấn Dâng Sao Giải Hạn Đầu Năm Cho Sao Thái Âm
  • Bình Giải Sao Thái Âm
  • Mẫu Viết Sớ Phúc Thọ
  • Sao Thái Âm Ở Cung Thiên Di

    --- Bài mới hơn ---

  • Hồng Loan Cư Di, Xuất Ngoại Đa Ái
  • Ý Nghĩa Các Sao Chính Tinh Đóng Tại Cung Thiên Di
  • Cách Bày Trí Bàn Thờ Thần Tài Hợp Phong Thủy Hút Lộc Cho Gia Chủ
  • Không Thờ Thần Tài Nữa Thì Làm Thế Nào? Cách Giải Ban Bàn Thờ?
  • Tục Cúng Đầy Tháng Của Người Hoa? Mâm Cúng Đầy Tháng Có Gì?
  • Rate this post

    Thái Âm cũng chủ động, miếu vượng thì ra ngoài hay gặp quý nhân phát đạt, hay kết bạn, đặc biệt hay nhận được sự giúp đỡ của người khác phái, được các cát tinh củng chiếu thì ra ngoài không khi nào gặp bất lợi. Thái Âm hóa Quyền hay hóa Lộc thì có số xuất ngoại. Hãm địa thì hay gặp thị phi, gian khổ khó khăn nhiều mà thành tựu ít. Lạc hãm gặp lại gia thêm sát tinh Kình Đà Hỏa Linh thì hay gặp người âm mưu thủ đoạn, nếu gặp Hóa Kỵ thì hay nghi ngờ thay đổi, nhiều khẩu thiệt thị phi. Thân cư Thiên Di có Thái Âm thì chủ ly hương, Thái Âm hãm địa thì càng đúng.

    Thiên Cơ, Thái Âm cư Dần Thân, chỉ một đời gian khổ bôn ba, ở Thân thì tốt hơn ở Dần, gia cát tinh như Quyền Lộc, Lộc Tồn, Thiên Mã, Tả Hữu, Xương Khúc… thì tha hương hoặc phát triển được ở nước ngoài. Nếu như gặp sao Hóa Kỵ, hoặc sao Thiên Mã có sát tinh, chủ hay bôn ba ngược xuôi, thành bại bất nhất.

    Thái Dương, Thái Âm cư Sửu Mùi, bôn ba đến già, các phương diện đều thay đổi khá nhiều, gia Tả Hữu Xương Khúc thì cát, có thể phát triển và được phú quý, đặc biệt là với người sinh năm Bính. Gia sát tinh Hóa Kỵ thì một đời vất vả nghèo khó.

    Thiên Đồng, Thái Âm cư Tý Ngọ, bôn ba vất vả, an thân nơi đất khách, tay trắng lập nghiệp, quan hệ xã hội tốt đẹp, có sự trợ giúp từ người khác phái. Cư Tý tốt hơn cư Ngọ, gia cát tinh càng dễ phát triển, ở Ngọ cung hãm địa thì chủ gian nan.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Đoán Cung Tài Bạch
  • Tính Chất Của Sao Thái Dương Và Cách Cục Cơ Bản
  • Sao Thái Âm Ở Cung Quan Lộc
  • Ảnh Hưởng Của Các Sao Lưu Đến Lá Số Tử Vi
  • Tính Chất Của Các Sao Lưu Động Trong Tử Vi
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100