【#1】Cách Soạn Lễ Vật Và Cách Cúng Tất Niên Cuối Năm

Trong đời sống tâm linh của người việt, sự giao hòa đất trời vào đúng thời khắc tiễn đưa năm cũ và đón chào năm mới có ý nghĩa rất linh thiêng. Vào dịp này, trên mọi miền đất nước, ta đều có thể bắt gặp được những mâm cỗ cúng cuối năm được trang hoàng 1 cách trang nghiêm, chu đáo và và vô cùng cẩn thận để bày tỏ sự thành tâm kính dâng đến ông bà tổ tiên và đất trời.

Cách soạn lễ vật và cách cúng tất niên cuối năm

Tất niên còn gọi là lễ Tất niên hay tiệc Tất niên là một nghi thức nhằm đánh dấu kết thúc một năm và chuẩn bị bước sang năm mới. Đây là phong tục tập quán lâu đời và mang nét đẹp văn hóa của người Việt Nam.

Lễ tất niên được tiến hành vào chiều ngày 30 Tết. Vào ngày này, mọi người thường quây quần bên nhau, tổ chức tiệc mừng, văn nghệ, để tổng kết, nhìn lại một năm đã qua, cùng đón giao thừa và mừng năm mới. Họ tận hưởng bầu không khí ấm cúm và tràn ngập niềm vui bên cạnh các thành viên trong gia đình sau một năm tất bật học tập, làm việc và chạy đua với cuộc sống.

Cúng Tất niên cũng thể hiện một nếp sống tâm linh của người Việt. Sau một năm làm ăn vất vả, vào những ngày cuối năm, mọi người đều dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ, tươm tất để cúng tất niên và chuẩn bị đón Tết.

– Mâm ngũ quả, hương hoa, giấy tiền vàng mã, đèn nến, trầu cau, rượu, trà, bánh chưng (hoặc bánh tét).

– Cỗ mặn hoặc chay với đầy đủ các món ăn ngày Tết, được chế biến thơm ngon tinh khiết, bày biện đầy đặn, trang nghiêm.

Văn khấn tất niên

Nam mô a di đà phật!

Nam mô a di đà phật!

Nam mô a di đà phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương

– Con kính lạy HoàngThiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy ngài Kim Niên Đương cai Thái tuế Chí đức Tôn phần.

– Con kính lạy các ngài Bản cảnh Thành Hoàng Chư vị Đại Vương

– Con kính lạy các ngài Ngũ phương, ngũ thổ Long Mạch, Tài thần, Bản gia Táo quân cùng tất cả các vị Thần linh cai quản ở trong xứ này.

– Con kính lạy Chư gia Cao Tằng TỔ Khảo, Cao Tăng Tổ Tỷ, Tiên linh nội ngoại họ……….

Hôm nay là ngày 30 tháng chạp năm……….

Tín chủ (chúng) con là:…………

Ngụ tại:……….

Trước án kính cẩn thưa trình:

Đông tàn sắp hết

Năm kiệt tháng cùng

Xuân tiết gần kề

Minh niên sắp tới.

Hôm nay là ngày 30 tết chúng con cùng toàn thể gia quyến sắm sanh phẩm vật hương hoa, cơm canh thịnh soạn, sửa lễ tất niên, dâng cúng Thiên địa Tôn thần, phụng hiến tổ tiên, truy niệm chư linh. Theo như thường lệ tuệ trừ cáo tế cúi xin chư vị tôn thần, liệt vị gia tiên, bản xứ tiền hậu chư vị hương linh giáng lâm án toạ, phủ thùy chứng giám, thụ hưởng lễ vật phù hộ cho toàn gia lớn bé trẻ già bình an thịnh vượng luôn luôn mạnh khoẻ, mọi sự bình an, vạn sự tốt lành, gia đình hoà thuận.

Nam mô a di đà phật!

Nam mô a di đà phật!30

Nam mô a di đà phật!

【#2】Cuối Năm Sốt Dịch Vụ Cúng Online Ở Nghĩa Trang Dành Cho Nhà Giàu

Nhân viên nghĩa trang trực tiếp thực hiện nghi lễ cúng giỗ thay thân nhân những người đã khuất.

Thường xuyên phải “cúng online” cho mộ phần người vợ quá cố tại một công viên nghĩa trang, ông Nguyễn Minh Đức (Giảng Võ, Ba Đình, Hà Nội) cho biết: “Dùng dịch vụ cúng giỗ online tuy không phù hợp với đời sống tâm linh của người Việt Nam truyền thống nhưng những dịp công tác xa nhà không về, hay những ngày cuối năm bận làm ăn kinh doanh, bận rộn thì việc cúng giỗ online thấy phù hợp”.

“Trong lòng nhiều khi cảm thấy không thoải mái nhưng sau khi thực hiện xong, bộ phận dịch vụ nghĩa trang thông báo kết quả mà họ đã làm qua email thì tôi thấy phần nào cũng an tâm, ông Đức nói.

Cùng quan điểm với ông Đức, với bà Phạm Thị Nhàn (51 tuổi, ở Thanh Xuân, Hà Nội), đây là sự lựa chọn trong dịp Tết Nguyên đán cho mộ phần cha mẹ của bà.

“Tôi già cả rồi, dịch vụ cúng giỗ online này là sự tiện lợi với gia đình tôi, nhưng riêng cá nhân tôi vẫn hy vọng, con cái mình sau này có thể tới viếng thăm tận mộ. Nhưng nếu công việc, cuộc sống của các con quá bận rộn, tôi đành chấp nhận kiểu cúng này, có còn hơn không mà”, bà Nhàn nói.

Xã hội ngày càng phát triển, người thân của người đã khuất có nhiều lý do như khoảng cách, bận làm ăn… mà không thể thường xuyên trực tiếp chăm sóc chân linh.

Nắm bắt được tâm lý này, dịch vụ cúng giỗ online ra đời. Dịch vụ này xuất hiện chủ yếu tại những siêu nghĩa trang, công viên nghĩa trang dành cho nhà giàu.

Cận cảnh một mâm cơm gia chủ đặt qua mạng cho người quá cố

Việc cúng giỗ cũng không phụ thuộc vào mâm lễ lớn hay nhỏ, đôi khi chỉ là chén nước, quả trứng, nén hương cũng giữ được đạo hiếu. Song, dịch vụ cúng giỗ onine có tính hiện đại, mang đúng hơi thở của một xã hội phát triển.

Ông Trần Quang Thuỷ – Phó Trưởng ban dự án nghĩa trang Lạc Hồng Viên (Hòa Bình) cho biết, dịp cuối năm, Tết Nguyễn Đán, khách hàng đăng ký các gói dịch vụ chăm sóc mộ phần có chiều hướng gia tăng.

“Về quan niệm truyền thống thì việc làm này là không phải đạo vì không ai để người lạ chăm sóc chân linh thay gia đình. Nhưng thực tại của xã hội là có rất nhiều không có điều kiện để trở về trực tiếp chăm sóc mộ phần, nên với tư duy hiện đại, dần dần các biện pháp công ty đưa ra cũng phần nào giúp cho những gia đình có người thân đặt tại nghĩa trang thực sự yên tâm”, ông Thủy

Thầy Thích Trí Thịnh – Phó Trưởng ban Trị sự giáo hội phật giáo Việt Nam tỉnh Hoà Bình, Trụ trì chùa Kim Sơn Lạc Hồng (Hoà Bình) cho biết: “Dịch vụ cúng giỗ online là thay thân nhân chăm sóc, thực hiện trách nhiệm, bổn phận với những người đã khuất. Các nghi thức, nghi kễ được quan tâm và thực hiện một cách gần gũi nhất, trọn vẹn nhất. Tuy nhiên, cá nhân Thầy không khuyến khích các gia đình sử dụng dịch vụ này nhiều, trừ trường hợp bất khả kháng”.

“Vedan Cooking Challenge” – Cuộc thi thử tài vào bếp, giải thưởng…

【#3】Sớ Cúng Đất Cuối Năm

Sớ Cúng Đất Cuối Năm, Cúng Đất Cuối Năm, Văn Bản Buổi Học Cuối Cùng, Bài Giảng Cuối Cùng, Văn 8 Văn Bản Chiếc Lá Cuối Cùng, Bài Tóm Tắt Văn Bản Chiếc Lá Cuối Cùng, Em Hãy Tóm Tắt Văn Bản Chiếc Lá Cuối Cùng, Ngữ Văn 6 Văn Bản Buổi Học Cuối Cùng, Văn Bản 8 Chiếc Lá Cuối Cùng, Văn 8 Tóm Tắt Văn Bản Chiếc Lá Cuối Cùng, Bài 8 Văn Bản Chiếc Lá Cuối Cùng, Truyện Cười 12 Cung Hoàng Đạo, Nam Ok Quyết Định Cuối Cùng, Ngữ Văn 6 Tóm Tắt Truyện Buổi Học Cuối Cùng, Bài Giảng Văn 8 Chiếc Lá Cuối Cùng, ý Nghĩa Văn Bản Chiếc Lá Cuối Cùng, Bài Giảng Buổi Học Cuối Cùng, Nội Dung Bài Buổi Học Cuối Cùng, Định Lý Cuối Cùng Của Fermat, Truyện Ngắn Chiếc Lá Cuối Cùng, ý Nghĩa Truyện Ngắn Chiếc Lá Cuối Cùng, Võ Khắc Triển Tiến Sĩ Nho Học Cuối Cùng Của Việt Nam, Võ Khắc Triển Tiến Sĩ Nho Học Cuối Cùng Của Việt Nam, Võ Khắc Vui, Truyện Cười Kỷ Niệm Ngày Cưới, ý Nghĩa Của Truyện Cười Lợn Cưới áo Mới, Truyện Cười Lợn Cưới áo Mới, Bài Cúng Mẫu, Nhà Cung Cấp Của Oto Vì Dát, Bài Cúng Lễ ăn Hỏi, Bài Cúng Lập Bàn Thờ Thần Tài, Bài Cúng Làm Nhà, Lễ Cúng 49, Thể Lệ ước Mơ Cùng Yan, Bài Cúng Lễ Cất Nóc, Bài Văn Cung Xom Dau Năm, Bài Cúng Mụ, Bài Cúng Lễ Đầu Năm, Bài Cúng Mời Về ăn Tết, Bài Cúng Lễ Tạ Đất, Bài Văn Tế Cúng Đất, Bài Cúng Lễ Đổ Mái Nhà, Bài Cúng Làm ăn, Văn Tế Cúng ông Táo, Văn Tế Cúng ông Bà, Bài Cúng Giỗ, Cúng, Văn Tế Cúng Đầu Năm, Bài Cúng Đổ Mái, Văn Tế Cúng Đất Đầu Năm, Văn Tế Cúng Đất, Văn Tế Cúng Cô Hồn Đầu Năm, Văn Tế Cúng Các Bác, Bài Cúng Đầy Năm Cho Bé Gái, Bài Cúng Giỗ Bố, Bài Cúng Giỗ Đầu, Bài Cúng Kỵ Yên Đầu Năm, Vai Trò Cung Cấp Dầu Mỏ Của Tây Nam á, Văn Cúng Tạ Mộ, Văn Tế Cúng Xóm Đầu Năm, Văn Tế Cúng Xóm, Bài Cúng Hết Khó, Bài Cúng Hay, Văn Tế Cúng Xe, Văn Tế Cúng Rằm, Bài Cúng Gọi Hồn, Bài Cúng Giỗ ông, Bài Cúng Đầu Năm, Bài Cúng Thổ Địa, Bài Cúng Về Nhà Mới, Bài Cúng Vía Thần Tài, Bài Cúng Xây Nhà, Bài Cúng Xe, Bài Cúng Xe 16, Bài Cúng Xe Máy Mới Mua, Bài Cúng Xe Mới, Bài Cúng Rằm, Bài Cúng Thần Tài, Bài Cúng Xe ô Tô, Bài Cúng Rẫy, Bài Cúng Về Bếp Mới, Bài Cúng Sao, Bài Cúng Tẩy Uế, Bài Cúng Tam Tai, Bài Cúng Tạ ơn, Bài Cúng Tạ Đất, Bài Cúng Sơn Thần, Bài Cúng Sao Vân Hớn, Bài Cúng Sao Thổ Tú, Bài Cúng Vào Bếp Mới, Bài Cúng Sao Mộc Đức, Bài Cúng Vào Hè, Bài Cúng Xe ô Tô Mới Mua, Bài Cúng Xe Oto, Bài Cúng Xe Tải, Bài Cúng Ong Dia, Bài Cúng Ong Ba, Bài Cúng ở Phủ Tây Hồ, Bài Cúng ở Nhà Thờ Họ, Bài Cúng ở Mộ, Bài Cúng ở Đền Mẫu,

Sớ Cúng Đất Cuối Năm, Cúng Đất Cuối Năm, Văn Bản Buổi Học Cuối Cùng, Bài Giảng Cuối Cùng, Văn 8 Văn Bản Chiếc Lá Cuối Cùng, Bài Tóm Tắt Văn Bản Chiếc Lá Cuối Cùng, Em Hãy Tóm Tắt Văn Bản Chiếc Lá Cuối Cùng, Ngữ Văn 6 Văn Bản Buổi Học Cuối Cùng, Văn Bản 8 Chiếc Lá Cuối Cùng, Văn 8 Tóm Tắt Văn Bản Chiếc Lá Cuối Cùng, Bài 8 Văn Bản Chiếc Lá Cuối Cùng, Truyện Cười 12 Cung Hoàng Đạo, Nam Ok Quyết Định Cuối Cùng, Ngữ Văn 6 Tóm Tắt Truyện Buổi Học Cuối Cùng, Bài Giảng Văn 8 Chiếc Lá Cuối Cùng, ý Nghĩa Văn Bản Chiếc Lá Cuối Cùng, Bài Giảng Buổi Học Cuối Cùng, Nội Dung Bài Buổi Học Cuối Cùng, Định Lý Cuối Cùng Của Fermat, Truyện Ngắn Chiếc Lá Cuối Cùng, ý Nghĩa Truyện Ngắn Chiếc Lá Cuối Cùng, Võ Khắc Triển Tiến Sĩ Nho Học Cuối Cùng Của Việt Nam, Võ Khắc Triển Tiến Sĩ Nho Học Cuối Cùng Của Việt Nam, Võ Khắc Vui, Truyện Cười Kỷ Niệm Ngày Cưới, ý Nghĩa Của Truyện Cười Lợn Cưới áo Mới, Truyện Cười Lợn Cưới áo Mới, Bài Cúng Mẫu, Nhà Cung Cấp Của Oto Vì Dát, Bài Cúng Lễ ăn Hỏi, Bài Cúng Lập Bàn Thờ Thần Tài, Bài Cúng Làm Nhà, Lễ Cúng 49, Thể Lệ ước Mơ Cùng Yan, Bài Cúng Lễ Cất Nóc, Bài Văn Cung Xom Dau Năm, Bài Cúng Mụ, Bài Cúng Lễ Đầu Năm, Bài Cúng Mời Về ăn Tết, Bài Cúng Lễ Tạ Đất, Bài Văn Tế Cúng Đất, Bài Cúng Lễ Đổ Mái Nhà, Bài Cúng Làm ăn, Văn Tế Cúng ông Táo, Văn Tế Cúng ông Bà, Bài Cúng Giỗ, Cúng, Văn Tế Cúng Đầu Năm, Bài Cúng Đổ Mái, Văn Tế Cúng Đất Đầu Năm, Văn Tế Cúng Đất,

【#4】Cách Nấu Nước Mắm Ngon Đến Từng Giọt Cuối Cùng

1/ Những điều cần lưu ý khi dùng nước mắm trong quá trình nấu ăn

  • Không sử dụng mắm để ướp thịt: Nước mắm dùng để ướp thịt xào hoặc thịt kho, đó là một quan niệm sai lầm ảnh hưởng đến sức khỏe. Mắm sẽ làm thịt bị cứng và khô hơn so với khi sử dụng bột canh, muối, đường để ướp chúng.
  • Không đun nước mắm quá lâu: Với những món canh bạn nên cho mắm vào khi gần tắt bếp rồi bắc ra luôn. Nếu cho nước mắm ngay từ đầu thì mùi mắm sẽ không còn giữ nguyên nếu bị đun lâu. Đồng thời những vitamin có trong nước mắm sẽ bốc hơi đi hết nếu bị đun quá lâu.

Cách nấu nước mắm ngon và những lưu ý khi sử dụng nước mắm

  • Mỗi món ăn sử dụng nước mắm một khác: Với món thịt luộc, cá hấp nên dùng nước mắm nguyên chất, không pha loãng, chỉ cho thêm ớt hoặc hạt tiêu, chanh hay quất. Trong các món canh, nên nêm nước mắm sau cùng rồi bắc ra ngay. Với những món kho như thịt, cá, chỉ cần ướp nguyên liệu với đường, hành tiêu và một ít muối, kho tới khi thịt, cá gần mềm thì mới thêm nước mắm vào, rồi tắt bếp.
  • Nước mắm dùng để chấm: Với những món chiên và luộc thì nên pha nước mắm cùng với gừng, ớt, tỏi, tiêu và chanh. Với những món rán và luộc thì nên pha nước mắm cùng với gừng, ớt, tỏi, tiêu và chanh là mẹo sử dụng nước mắm khi nấu ăn hợp lý và tuyệt nhất.

2/ Cách nấu nước mắm ngon ăn cơm sườn

Nguyên liệu cần chuẩn bị cho cách nấu nước mắm ngon: 2 muỗng canh nước mắm Nam Ngư, 1 muỗng canh đường, 1/2 muỗng canh ớt băm, 1/2 muỗng canh tỏi băm, 1 muỗng canh nước cốt chanh, 1 muỗng canh nước ấm.

Cách làm nước mắm chua ngọt ngon ăn cùng cơm sườn

Cách nấu nước mắm ngon ăn cùng cơm sườn:

Bạn lấy 1 bát nhỏ và cho đường, nước mắm vào khuấy đều. Sau đó bắc nồi lên bếp và cho hỗn hợp nước mắm vào đun với lửa nhỏ chừng 5 phút cho cô lại, tắt bếp và để nguội. Bước tiếp theo, bạn cần 1 bát nhỏ khác, cho nước ấm, nước cốt chanh, phần tỏi, ớt băm vào và khuấy đều. Thêm phần hỗn hợp mắm vào và khuấy tiếp. Thành phẩm thu được là chén nước mắm có đủ vị chua cay mặn ngọt.

Cách làm món cơm sườn

Nguyên liệu cần chuẩn bị cho món sườn: 500g sườn heo cốt lết, 1 muỗng canh mật ong, 1 muỗng nhỏ muối, 2 muỗng canh nước mắm, 1 muỗng canh dầu hào, 2 muỗng nhỏ sữa đặc có đường, 2 muỗng canh dầu ăn, đường, 1 muỗng canh nước soda, 1 củ nhỏ cà rốt và củ cải trắng, hành lá, mỡ heo.

Món cơm sườn đạt hương vị tuyệt đỉnh nhờ nước mắm ngon

Cách thực hiện món cơm sườn:

Bước 1: Sườn mua về chặt thành từng miếng dày khoảng 1cm, ngâm khoảng 5 phút với chút muối rồi rửa thật sạch, sau đó để ráo nước.

Bước 2: Tiến hành pha hỗn hợp nước ướp thịt: mật ong, muối, nước mắm, dầu ăn, dầu hào, sữa đặc, đường, nước soda, vài giọt chanh và hành tỏi băm, cho tất cả vào một tô. Khuấy đều hỗn hợp, cho sườn đã ráo nước vào, trộn cho sườn thấm đều gia vị nước ướp. Bọc kín tô đựng sườn lại bằng màng bọc thực phẩm, để vào ngăn mát tủ lạnh từ 2 – 3 tiếng đồng hồ, hoặc để qua đêm càng tốt, để miếng sườn thấm gia vị.

Bước 3: Tiếp theo, lấy sườn ra nướng trên than hồng hoặc lò nướng. Trong quá trình nướng sườn, đầu tiên trở liên tục miếng sườn trên bếp để sườn săn lại, chuyển sang có màu trắng thì gắp xuống nhúng đều vào lại trong thau nước ướp, sau đó tiếp tục nướng đến khi chín vàng đều và có mùi thơm hấp dẫn là được.

Bước 4: Mỡ heo cắt nhỏ luộc sơ qua, vớt ra để thật ráo nước rồi bỏ vào chảo, đảo liên tục chiên đến khi miếng mỡ ra hết nước, chỉ còn lại tép mỡ khô và cháy giòn, nhắc chảo mỡ vừa rán xuống, đổ ngay vào chén có đựng hành lá xắt nhỏ, cho thêm xíu muối và đường.

Bước 5: Cà rốt, củ cải trắng gọt vỏ, sơ chế sạch thì xắt sợi thật nhỏ, mỏng, ngâm khoảng 5 – 10 phút với giấm đường cho hơi mềm và có vị chua ngọt ngon miệng.

【#5】50 Mẫu Trang Trí Bàn Thờ Gia Tiên Đẹp Trong Ngày Cưới

Theo phong tục tập quán của người Việt Nam, bàn thờ là nơi linh thiêng nhất ở trong nhà, là nơi thể hiện lòng thành kính và hiếu thảo của con cháu đối với ông bà tổ tiên và những người đã khuất. Cũng chính vì vậy, khi trang trí bàn thờ gia tiên ngày cưới hoặc việc gì quan trọng diễn ra, mọi người cũng thường duy trì thói quen thắp hương, khấn tại bàn thờ. Đám cưới cũng không phải ngoại lệ.

Chắc hẳn chúng ta cũng đã biết, một phần nghi thức của đám cưới sẽ diễn ra tại bàn thờ gia tiên, con cháu hay cụ thể là cô dâu và chú rể sẽ thắp hương tỏ lòng thành kính vừa là để cảm ơn công ơn sinh thành, dưỡng dục của ông bà, tổ tiện; vừa cầu mong ông bà chứng giám và phù hộ để cuộc sống hôn nhân sau này hạnh phúc viên mãn, hoàn thuận và thương yêu nhau.

Vì vậy, trong khâu chuẩn bị và trang trí đám cưới, không thể bỏ qua việc dọn dẹp và trang trí bàn thờ gia tiên. Việc trang trí bàn thờ gia tiên phụ thuộc vào điều kiện của từng gia đình, phong tục tập quán của từng vùng miền sẽ có những đặc điểm khác nhau. Nhưng dù thế nào đi chăng nữa, thì bàn thờ gia tiên cũng cần phải được lau dọn sạch sẽ, sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp; có đồ thắp hương và đồ trang trí.

Ở mỗi vùng miền sẽ có những quan niệm khác nhau khi trang trí và bày biện bàn thờ gia tiên. Sự khác biệt sẽ được làm rõ ngay sau đây với 3 cách trang trí bàn thờ gia tiên trong ngày cưới cụ thể ở mỗi vùng miền.

Trên bàn thờ sẽ có một mâm ngũ quả, có thể sắp xếp và kết hình long phụng cho mâm ngũ quả để bàn thờ thêm phần nổi bật, sang trọng. Trên bàn thờ sẽ được trang trí thêm hoa tươi, hoa tươi sử dụng để trang trí hai bên bàn thờ thường sẽ là hoa lay ơn, hoa cúc,… Ngoài ra, bàn thờ sẽ có thêm một con gà luộc, một đĩa xôi gấc và những lễ vật của nhà trai đem sang hỏi cưới, xin dâu.

Vị trí bố trí bàn thờ gia tiên của người Bắc thường đặt ở giữa nhà, hướng ra cửa chính. Bàn thờ gia tiên thường sẽ được treo theo bộ hoành phi câu đối hai bên, với những gia đình cưới hỏi cho con trưởng thì cách trang trí bàn thờ gia tiên còn phức tạp hơn nữa.

Lư đồng, bát hương: Đây là những đồ vật luôn hiện hữu trên bàn thờ gia tiên của mỗi ngày. Không chỉ là bàn thờ gia tiên của nhà gái, mà bàn thờ gia tiên của nhà trai cũng không thể thiếu được những đồ vật này trong ngày cưới, bởi bàn thờ là nơi diễn ra các nghi thức chính trong lễ cưới hỏi và có lẽ bạn cũng không quên được rằng, trong nghi thức cưới hỏi cô dâu chú rể sẽ thắp hương và dâng lên ông bà tổ tiên.

Đèn, nến và nhang: Tùy theo phong tục tập quán và thói quen của từng gia đình mà sẽ lựa chọn loại nhang, đèn khác nhau. Các gia đình ở miền Nam thường trong ngày cưới ở cả gia đình nhà gái và nhà trai sẽ sử dụng cặp nến long phụng trên bàn thờ, miền Trung sẽ là nến tơ hồng.

Chữ hỷ, câu đối: Chữ hỷ và câu đối là những đồ vật được sử dụng để trang trí thêm cho bàn thờ gia tiên trong ngày cưới. Việc sử dụng những đồ vật này để giúp không gian tổ chức đám cưới trở nên trang trọng hơn. Thường thì chữ hỷ và câu đối sẽ được đơn vị cung cấp dịch vụ cưới hỏi chuẩn bị cho bạn, bạn có thể đưa ra các yêu cầu nếu có để có được các đồ vật phù hợp cả về màu sắc, kích thước với bàn thờ gia tiên của gia đình.

Hoa tươi: Hầu hết các bàn thờ gia tiên trong ngày cưới ở tất cả các vùng miền đều sử dụng hoa tươi để trang trí. Một lọ hoa tươi đặt trên bàn thờ sẽ tạo sự cân đối và nổi hơn cho bàn thờ, đặc biệt là thể hiện được sự tôn kính của con cháu với ông bà tổ tiên. Song không phải loại hoa nào cũng phù hợp để cắm lên bàn thờ gia tiên trong ngày cưới. Vì vậy bạn nên tìm hiểu và lựa chọn một loại hoa cho phù hợp.

Các lễ vật khác: Ngoài những đồ vật kể trên, theo phong tục tập quán của từng vùng miền, mà bàn thờ gia tiên sẽ có thêm các lễ vật khác, thường thì các lễ vật này sẽ do nhà trai chuẩn bị và đem đến, đối với bàn thờ gia tiên của nhà gái; bàn thờ gia tiên của nhà trai thì thường sẽ do nhà trai tự chuẩn bị các lễ vật để trang trí thêm tạo sự trang trọng và thể hiện được ý nghĩa của ngày lễ cưới hỏi.

Trình tự đầy đủ của nghi thức lễ cưới ở nhà gái

Có nhiều loại hoa để bạn lựa chọn trang trí bàn thờ gia tiên trong ngày cưới, để tiết kiệm chi phí và dễ dàng hơn trong việc chọn lựa, bạn nên lựa chọn hoa theo mùa. Mọi người thường lựa chọn hoa huệ, hoa sen, hoa lay ơn,..để trang trí bàn thờ gia tiên trong ngày cưới.

Màu sắc của hoa là một yếu tố bạn cần phải chú ý khi lựa chọn hoa trang trí bàn thờ gia tiên, để đảm bảo sự đồng nhất trong toàn bộ không gian đám cưới. Màu sắc lựa chọn nên mang ý nghĩa vui vẻ, hạnh phúc và tươi vui, chẳng hạn như các loại hoa màu hồng, màu vàng, màu đỏ,…

Đám cưới là sự kiện quan trọng của cả cô dâu, chú rể và gia đình 2 bên. Vì vậy, việc lựa chọn hoa trang trí bàn thờ gia tiên trong ngày cưới cũng cần phải chú ý.

Một số loài hoa cần tránh lựa chọn để trang trí bàn thờ ngày cưới gồm:

Hoa cúc vạn thọ: Cúc vạn thọ vẫn là loại hoa được sử dụng khi có đám ma, đám tang, theo tiếng Hy Lạp cổ, cúc vạn thọ có nghĩa là “bông hoa của người chết”. Vì vậy, trong một sự kiện trọng đại như thế này, thì sử dụng hoa cúc vạn thọ trong trang trí là điều không nên một chút nào.

Hoa dâm bụt: Hoa dâm bụt mặc dù mang một màu sắc rất rực rỡ và nổi bật, nhưng loại hoa này lại không thích hợp sử dụng trong đám cưới. Bởi hoa dâm bụt thường mang ý nghĩa không may mắn, không mấy tốt đẹp

Hoa nhài: Mặc dù hoa nhài có một hương thơm vô cùng hấp dẫn, dịu nhẹ và lâu phai; nhưng trong ngày cưới, loại hoa này vẫn không được sử dụng để trang trí bàn thờ gia tiên, chúng ta vẫn thường nghe câu “hoa nhài cắm bãi phân trâu”, đây chính là lý do hoa nhài không được sử dụng.

Hoa ly trắng: Đây là loại hoa mang ý nghĩa tang tóc, chia ly và buồn đau. Theo quan điểm của người miền Nam, chữ ly trong tên hoa mang ý nghĩa về sự chia ly. Đó chính là lý do mà hoa ly trắng không được sử dụng trong ngày cưới hoặc trang trí trên bàn thờ gia tiên.

Hoa phù dung: Loại hoa này gắn với một câu chuyện buồn, chia ly và đặc tính của loại hoa này cũng rất nhanh tàn. Vì vậy, hoa phù dung rất hiếm khi được sử dụng trong đám cưới.

Hoa để trên bàn thờ gia tiên trong ngày cưới sẽ được cắm làm 2 bình đối xứng, cân đối với nhau về cả màu sắc, số lượng và các phụ kiện trang trí đi kèm. Thông thường số lượng hoa được lựa chọn để cắm sẽ là số chẵn để tượng trưng và thể hiện sự may mắn của cặp đôi trong ngày cưới.

Bạn có thể cắm theo nhiều cách cắm khác nhau, có thể cắm hoa hướng về một phía, một mặt hoặc cắm hoa tròn đều bốn mặt. Để giữ hoa được tươi lâu nhất, bạn có thể sử dụng một viên aspirin nghiền nhỏ cho vào nước ở trong bình hoa.

Khi đặt hoa lên bàn thờ, bạn nên chú ý đến vị trí đặt hoa để đảm bảo sự cân đối giữa hai bên, bình hoa bạn cắm nên đảm bảo yếu tố gọn gàng, đơn giản, không quá lớn, không che khuất các đồ vật khác được bày trên bàn thờ gia tiên. Đây là một điều rất quan trọng và bạn không thể không biết khi trang trí bàn thờ gia tiên.

Bên cạnh đó, màu vàng kim cũng là màu cầu chúc về một tình yêu thủy chung và bền vững cho cặp đôi sau khi kết hôn.

Vải phi có rất nhiều màu sắc khác nhau để bạn lựa chọn trang trí tiệc cưới cũng như trang trí bàn thờ gia tiên, bạn hoàn toàn có thể lựa chọn được một mẫu trang trí bàn thờ gia tiên với màu sắc như mong muốn.

Mặc dù vậy, nhưng mẫu trang trí này đòi hỏi sự tỉ mỉ, tinh tế và thời gian. Vì vậy, không phải ai cũng lựa chọn mẫu trang trí này cho bàn thờ gia tiên trong ngày cưới.

Có rất nhiều mẫu trang trí bàn thờ gia tiên để bạn lựa chọn, quan trọng là mẫu trang trí nào sẽ phù hợp với không gian và sở thích cũng như cách bố trí bàn thờ gia tiên của nhà bạn.

Việc lựa chọn một mẫu trang trí bàn thờ gia tiên phù hợp sẽ giúp bạn có được một thiết kế hoàn hảo cho đám cưới của bạn và mọi thứ trang trí xung quanh cũng trở nên tuyệt vời hơn, đặc biệt là tâm điểm chính bàn thờ gia tiên sẽ không bị mờ nhạt so với không gian xung quanh.

【#6】Ý Nghĩa Của Lễ Cúng Tất Niên Cuối Năm

Để chào đón năm mới đến và tổng kết một năm đã qua ,các gia đình tại Việt Nam hay công ty thường tổ chức một bữa cơm cuối năm hay còn gọi là Lễ Tất niên.

Đối với người Việt Nam, bữa cơm tất niên chiều 30 Tết là khoảnh khắc thiêng liêng của gia đình. Là bữa cơm đoàn tụ, gắn kết mọi thành viên, các thế hệ trong gia đình với nhau. Theo quan niệm người xưa, gia đình nào càng đông đủ các thế hệ cùng tham dự bữa tiệc tất niên chứng tỏ gia đình đó “phúc lộc đề đa”, càng có nhiều may mắn.

Bên cạnh ý nghĩa gia đình sum họp, bữa cơm tất niên còn là nghi thức tiễn đưa năm cũ, dọn dẹp, sắm sửa đón năm mới, mời Ông Công Ông Táo về trần gian tiếp tục cai quản việc bếp núc. Sau bữa cơm tất niên, là lúc mọi người trong gia đình sửa soạn cúng giao thừa, tiễn năm cũ và chào mừng năm mới.

Trong ngày tất niên, hầu như việc quan trọng chuẩn bị cho lễ Tết Nguyên đán đều đã hoàn tất nhưng thường thì ai cũng tất bật với rất nhiều công việc nhỏ, cố gắng chuẩn bị cho một năm mới được trọn vẹn, chu đáo. Những người chủ chốt trong gia đình không bao giờ sao lãng việc cúng tất niên.

Lễ cúng Tất niên tại gia thường được tiến hành vào chiều 30 Tết. Tuy nhiên có những gia đình kinh doanh hay công ty vì điều kiện thời gian, công việc cũng tổ chức lễ cúng vào các ngày trước đó, 29, 28,27 âm lịch.

Trước khi tiến hành lễ cúng Tất niên, các gia đình lau chùi, dọn dẹp trang hoàng bàn thờ Phật, bàn thờ Tổ tiên với mâm ngũ quả, hương, hoa tươi, đèn nến đầy đủ. Sau đó trang hoàng nhà cửa với hoa mai, cành đào, chậu quất v.v.

Sau khi công việc chuẩn bị cho gia đình một cái Tết ấm cúng, vui vẻ hoàn tất, gia chủ chuẩn bị mâm cỗ cúng tất niên.

Mâm lễ cúng tất niên thường gồm: Mâm ngũ quả (những loại quả mang ý nghĩa ngày Tết như: cầu, dừa, đủ, xoài, thanh long, bưởi, dưa hấu, thơm, quýt,..), hương hoa, giấy tiền vàng bạc, đèn cầy, trầu cau, rượu, trà, bánh mứt, bánh chưng (hoặc bánh tét)… Mâm mặn hoặc chay với đầy đủ các món ăn ngày Tết, được chế biến thơm ngon đậm đà tinh khiết, bày biện vung đầy, trang nghiêm.

Bữa cơm tất niên được làm thịnh soạn hơn ngày thường. Trong bữa cơm tất niên, tất cả mọi thành viên trong gia đình đều phải có mặt đông đủ, quây quằn bên nhau, mọi người chia sẻ chuyện vui vẻ đã qua, động viên nhau cố gắng trong mơi, tạo nên một không khí gia đình đầm ấm trong khí trời se se lạnh.

Ngày nay, không chỉ gia đình mới cúng tất niên và ăn tất niên. Nhiều cơ quan, công ty, hộ kinh doanh, nhóm hội cũng tổ chức cúng tất niên và mở tiệc ăn mừng tất niên, tổng kết năm cũ, kế hoạch cho năm mới. Tất niên cũng được hiểu rộng rãi hơn, ngày cúng tất niên cũng không chỉ là ngày cuối cùng của năm mà là những ngày giáp Tết, khi các cơ quan, công ty bắt đầu được nghỉ lễ. Sau lễ cúng mọi người thường tổ chức tiệc chia tay tại công ty hoặc nhà hàng. Toàn thể nhân viên có mặt đông đủ để nhìn lại một năm đã qua.

Nam Mô A Di Đà Phật!

Nam Mô A Di Đà Phật!

Nam Mô A Di Đà Phật!

– Con kính lạy chín phương trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Hoàng thiên, Hậu Thổ, chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy ngài Kim niên Đương cai Thái Tuế chí đức tôn thần.

– Con kính lạy các ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.

– Con kính lạy ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa tôn thần.

– Con kính lạy các ngài Ngũ phương, Ngũ Thổ, Long mạch, Tài thần, Bản gia Táo quân, cùng tất cả các vị thần linh cai quản trong xứ này.

– Con kính lạy chư gia Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Tiên linh nội ngoại họ ……………..

Hôm nay là ngày tháng Chạp năm

Tín chủ (chúng) con là: ………………

Ngụ tại: ………………

Trước án kính cẩn thưa trình: Đông tàn sắp hết, năm kiệt tháng cùng, xuân tiết gần kề, minh niên sắp tới.

Chúng con cùng toàn thể gia quyến sắm sanh phẩm vật hương hoa, cơm canh thịnh soạn, sửa lễ tất niên, dâng cúng Thiên Địa tôn thần, phụng hiến Tổ tiên, truy niệm chư linh.

Theo như thường lệ tuế trừ cáo tế, cúi xin chư vị tôn thần, liệt vị gia tiên, bản xứ tiền hậu chư vị hương linh giáng lâm án toạ, phủ thuỳ chứng giám, thụ hưởng lễ vật, phù hộ toàn gia lớn bé trẻ già bình an thịnh vượng, bách sự như ý, vạn sự tốt lành, luôn luôn mạnh khoẻ, gia đình hoà thuận.

Thành tâm bái thỉnh, cúi xin chư vị tôn thần và gia tiên nội ngoại chứng giám phù hộ độ trì.

Nam Mô A-di-đà Phật!

Nam Mô A-di-đà Phật!

Nam Mô A-di-đà Phật!

【#7】Lễ Cúng Tạ Mộ Cuối Năm Cần Chuẩn Bị Gì?

Đi tạ mộ trước Tết Nguyên Đán thể hiện sự tưởng nhớ đến ông bà tổ tiên của con cháu. Vậy lễ tạ mộ cuối năm mời ông bà tổ tiên về ăn Tết cần chuẩn bị gì thì bài viết sau sẽ nêu rõ.

Ý nghĩa việc tạ mộ cuối năm

Người Việt luôn coi trọng việc chôn cất và cúng bái sau khi đã mất. Bởi vì quan điểm người mất khi sang thế giới bên kia, nối tiếp cuộc sống còn đang dang dở ở dương thế.

Muốn có sự kết nối tâm linh giữa các thế hệ thông qua việc coi sóc phần mộ ông bà tổ tiên. Việc cúng lễ hàng năm của người tạ như thể là họ đang còn hiện hữu trên đời.

Chuẩn bị đón Tết Nguyên Đán dù có bận rộn thì cũng không được quên việc tạ mộ. Với ý nghĩa là dọn dẹp nhà cửa cho các cụ đón năm mới, ngoài ra còn làm lễ cúng mời tổ tiên về ăn Tết cùng con cháu. Do vậy mà Tết đến mọi người chuẩn bị về quê, sum họp cùng gia đình và thăm hỏi sửa sang phần mộ tổ tiên.

Việc cúng tạ mộ ngoài cúng cho ông bà nhà mình, thì còn tạ thần linh, thổ công ở nơi mà người nhà yên nghỉ. Để cảm ơn các vị thần đã che chở bảo vệ cho cả gia đình trong suốt năm, với hy vọng sang năm mới tiếp tục che chở.

Tạ mộ vào ngày nào

Tùy phong tục từng nơi mà lễ tạ mộ diễn ra theo tính chất gia đình nhỏ, hoặc đi theo dòng họ. Những người đi xa thường trở về vào dịp Tết để tạ mộ, sum họp với gia đình.

Đối với các dòng họ thì việc tạ mộ thao dòng tộc thường quy định một ngày trong tháng chạp. Lúc đó mọi người cùng gặp mặt tại nhà thờ họ để cúng lễ, dọn dẹp, trang hoàng đón Tết.

Tạ mộ thường được chọn từ sau lễ Táo quân chầu Trời và kéo dài tới 30 tháng chạp, để kết hợp mời ông bà về ăn Tết vào trưa 30 Tết.

Tạ mộ cuối năm cần chuẩn bị

Lễ tạ mộ cuối năm gồm hai công việc chính: dọn dẹp sửa sang phần mộ và cúng tạ. Công việc dọn dẹp phần mộ là phát quang cỏ dại, đắp lại đất hoặc sửa lại những chỗ bị sụt lún hư hại do thời gian. Rồi kiểm tra mộ có bị rắn, chuột đào hang làm tổ hay không, lau chùi bia mộ.

Ngôi mộ được xem là nhà của người đã khuất. Do đó nhà cửa của con cháu khang trang thì mộ của các cụ cũng phải tươm tất như vậy. Mộ phần có tốt, có đẹp thì khi đó các cụ mới phù hộ cho làm ăn phát đạt, bình an và hưởng nhiều phúc đức.

Sau công việc dọn dẹp đến lượt làm lễ cúng tạ ở nơi mộ phần. Với ý nghĩa, tạ ơn thần linh, thần đất che chở cho người đã khuất nhà mình. Và tạ ơn ông bà tổ tiên luôn dõi theo con cháu, mời ông bà về gia đình ăn Tết.

Khi tạ thổ địa, thần đất, thần linh ở nghĩa trang tốt nhất bày lễ mâm xôi con gà hoặc lễ xôi giò. Ở nghĩa trang có miếu thần linh riêng thì nên mang lễ ra đó, dâng sớ và khấn tạ. Còn nghĩa trang không có miếu riêng thì đồ lễ bày cạnh mộ và vái trời vái đất.

Đồ lễ tạ ông bà tổ tiên gồm: hương, nước sạch, trầu cau, hoa quả, hoa tươi, chè thuốc và 5 chén rượu trắng, cốc nến màu đỏ kèm giấy sớ lễ tạ. Tùy theo từng gia đình và từng vong linh mà dâng thêm vàng mã, quần áo, vật dụng.

Điều quan trọng nhất khi làm lễ là lòng thành kính. Ý nghĩa tốt đẹp của phong tục nằm ở tâm tưởng hướng về người thân, tưởng nhớ ông bà tổ tiên và nguyện làm việc thiện. Sự ràng buộc về tâm linh là một trong hình thức kết nối gia đình, được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác rất bền chặt và mạnh mẽ.

Chú ý tạ mộ cuối năm là việc làm cực kỳ quan trọng, mang ý nghĩa không kém gì so với lễ Thanh Minh tảo mộ.

Những lưu ý khi cúng tạ mộ cuối năm

Tạ mộ cuối năm không giống nhiều lễ cúng khác, do đó không cần chọn ngày lành tháng tốt mà bất cứ lúc nào cũng được. Tốt nhất nên chọn ngày khô ráo, ấm áp, thời tiết tốt để đi tạ thuận tiện cho việc dọn dẹp.

Chú ý những ai người có sức khỏe yếu ớt, phụ nữ mang thai, trẻ em nhỏ tuổi không nên đi. Bởi vì nghĩa trang là nơi có nhiều âm khí, hàn khí, không tốt cho sức khỏe.

Tạ mộ cuối năm là hành động mang ý nghĩa trang trọng, thành kính do đó cần có thái độ nghiêm túc. Cần tránh cười đùa nô nghịch hay các hành động khiếm nhã, bất kính với người đã khuất.

Sau khi tạ mộ về tới nhà tốt nhất nên hãy hơ lửa, bước qua chậu than, tắm nước ấm pha gừng để xua đi những năng lượng xấu có thể xâm nhập vào cơ thể.

Tả mộ là một trong những công việc mà mọi nhà đều làm vào những ngày cuối năm. Để mời ông bà tổ tiên và ăn tết cùng con cháu. Đây việc làm quan trọng nên mọi người cần phải biết, để sang năm mới mọi việc thuận lợi.

【#8】Văn Khấn Tạ Mộ Cuối Năm Mới Nhất Năm Tân Sửu

Bài hướng dẫn này, quý đạo hữu dùng khấn trong các trường hợp tạ mộ, ra thăm mộ.

Ngoài mộ không có tôn tượng tôn hình của Phật, chúng ta dụng tâm hướng tới Phật.

Có hai cách khấn cúng:

1. Dành cho trường hợp cúng lễ, nhưng không tụng kinh.

2. Dành cho trường hợp cúng lễ, có tụng kinh.

– Lưu ý: Khi làm lễ không kiêng kỵ ngày giờ, tháng, năm và tuổi. Do gia đình bố trí công việc mà sắp xếp thời gian phù hợp để làm lễ.

Sắm Lễ

Hương; nến; nước (trắng hoặc nước chè);

Hoa, quả, bánh kẹo, (tùy tâm, không căn cứ số lượng);

Xôi hoặc một bát cơm trắng.

Lưu Ý: Không tiền âm phủ, vàng mã.

Đặt Lễ

Mộ chôn mới: Đặt lễ phía trước mộ hoặc trên mộ.

Mộ đã xây: Đặt trên phần dành để sắp lễ.

1. Nghi Lễ Không Tụng Kinh

(Cắm hương chắp tay đọc)

Lễ Tán Phật

Đại từ đại bi thương chúng sinh,

Đại hỷ đại xả cứu hàm thức,

Tướng đẹp sáng ngời tựa trang nghiêm.

Chúng con chí tâm thành đảnh lễ.

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chư Phật ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 xá)

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Chính Pháp ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 xá)

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Tăng bậc Hiền Thánh ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 xá)

(Đọc Biến thủy, Biến thực)

Chú biến thực: Nam mô tát phạ đá tha, nga đá phả rô chỉ đế, ám tam bạt ra, tam bạt ra hồng. (7 lần)

Chú biến thủy: Nam mô tô rô bà ra, đát tha nga đá ra, đát điệt tha, án tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô sa bà ha. (7 lần)

Phổ cúng dường: Án nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhật ra hồng. (7 lần)

(Cúng dường Tam Bảo: Nếu gia đình phát tâm cúng dường Tam Bảo về chùa thì đọc tiếp, nếu không cúng dường thì không đọc

Nhân ngày lễ cúng tạ mộ hôm nay, chúng con xin thực hành pháp cúng dường Tam Bảo, hộ trì Tam Bảo, hộ độ cho Tăng chúng tu hành tại chùa…… (nếu tại Chùa Ba Vàng thì đọc: Chùa Ba Vàng, Phường Quang Trung, Tp Uông Bí, Tỉnh Quảng Ninh), với tâm nguyện cho chư Tăng được tứ sự như ý, phù hợp với việc tu tập.

– Chúng con hướng tâm tới chư Thiên, chư Thần Linh tại nơi đây, chúng con thành tâm cúng dường Tam Bảo với số tịnh tài (tiền) là…… để hồi hướng phúc báu đến cho các vị chư Thiên, chư Thần Linh, nguyện cho các vị được tăng phúc, luôn giúp cho vong linh (tên)…. và gia đình chúng con làm mọi sự được tốt lành.

– Chúng con mong muốn cho vong linh(tên)…. sớm được siêu thoát khỏi cảnh khổ, trong cõi vong linh (ngạ quỷ), nên chúng con thành tâm cúng dường Tam Bảo với số tịnh tài (tiền) là…… để hồi hướng phúc báu đến cho vong linh.

– Chúng con thành tâm cúng dường Tam Bảo với số tịnh tài (tiền) là…… để hồi hướng phúc báu đến cho các vong linh có duyên với gia đình chúng con nơi địa cuộc nghĩa trang này, từ sự thực hành pháp bố thí cho vong linh, mà gia đình con được tăng trưởng phúc lành.

Chúng con cũng nguyện cầu cho chư Thiên, chư Thần Linh, cùng các vong linh mà chúng con đã hướng tâm hồi hướng phúc lành, đều được kết duyên pháp lữ với chúng con, trong Pháp Bố thí mà chư Phật dạy cho chúng con, để đời đời kiếp kiếp cùng trợ duyên cho nhau tu hành cho tới ngày thành Phật.)

Tam Tự Quy Y

Tự quy y Phật, nguyện cho chúng sinh, hiểu thấu đạo lớn, phát tâm vô thượng.(1 lễ)

Tự quy y Pháp, nguyện cho chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như biển.(1 lễ)

Tự quy y Tăng, nguyện cho chúng sinh, quản lý đại chúng, hết thảy không ngại.(1 lễ)

Hồi Hướng

Nguyện đem công đức này

Hướng về khắp tất cả

Đệ tử và chúng sinh

Đều trọn thành Phật đạo.

HẾT

2. Nghi Lễ Có Tụng Kinh

(Cắm hương xong, quỳ gối, chắp tay đọc)

Nguyện Hương

Nguyện đem lòng thành kính

Gửi theo đám mây hương

Phảng phất khắp mười phương

Cúng dường ngôi Tam Bảo

Thề trọn đời giữ đạo

Theo tự tính làm lành

Cùng pháp giới chúng sinh

Cầu Phật từ gia hộ

Tâm bồ đề kiên cố

Trí tu đạo vững bền

Xa biển khổ nguồn mê

Chóng quay về bờ giác

Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát

Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát

Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Ma Ha Tát!

Văn Khấn Tạ Mộ Cuối Năm

Lễ Tán Phật

Đại từ đại bi thương chúng sinh,

Đại hỷ đại xả cứu hàm thức,

Tướng đẹp sáng ngời tựa trang nghiêm.

Chúng con chí tâm thành đảnh lễ.

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chư Phật ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 lễ)

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Chính Pháp ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 lễ)

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Tăng bậc Hiền Thánh ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 lễ)

Tán Pháp

Pháp Phật sâu mầu chẳng gì hơn,

Trăm ngàn muôn kiếp khó được gặp.

Nay con nghe thấy vâng gìn giữ,

Nguyện hiểu nghĩa chân đức Thế Tôn.

Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!(3 lần)

(Ngồi đọc kinh) KINH CÚNG LINH

(ĐTKVN, Tăng Chi Bộ IV, chương 10, phẩm Janussoni, phần Janussoni, VNCPHVN ấn hành, 1997, tr.595)

Một thời, Thế Tôn ở tại trú xứ của Bà la môn Cha-nu-sô-ni (Janussoni). Sau khi đi đến cung kính đảnh lễ, hỏi thăm và ngồi xuống một bên, Bà la môn Cha-nu-sô-ni (Janussoni) bạch Thế Tôn:

Thưa tôn giả Gotama, chúng tôi bố thí, làm các lễ cúng cho người chết. Mong rằng, bố thí này cho bà con huyết thống đã chết được lợi ích! Mong rằng, các bà con huyết thống đã chết, thọ hưởng sự bố thí này! Thưa tôn giả Go-ta-ma, bố thí như thế có lợi ích gì cho các bà con huyết thống đã chết không? Các bà con huyết thống đã chết có được thọ hưởng sự bố thí ấy hay không?

Này các Bà la môn, nếu có tương ưng xứ, thời có lợi ích; không có lợi ích nếu không có tương ưng xứ. Ở đây, này Bà la môn, những người nào… sau khi thân hoại mạng chung sinh vào địa ngục, sinh vào loại bàng sinh, sinh cộng trú với loài người, sinh cộng trú với chư Thiên. Những vị này, được nuôi sống và tồn tại với những món ăn ứng với cảnh giới của các vị ấy. Này Bà la môn, đây là không tương ưng xứ; trú ở những nơi ấy, các vị ấy không được sự lợi ích của bố thí ấy. Nhưng ở đây, này Bà la môn, người nào sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào cõi ngạ quỷ. Vị ấy được nuôi sống và tồn tại với các món ăn tại đấy. Món ăn nào, các bạn bè, thân hữu, hoặc bà con, hoặc người cùng huyết thống muốn hướng cúng cho vị ấy; tại đấy, vị ấy sống với món ăn đó, tồn tại với món ăn đó. Này Bà la môn, đây là tương ưng xứ; trú nơi đây, vị ấy được sự lợi ích của sự bố thí ấy.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

Bài Kinh: BỐ THÍ VÀ CÚNG DƯỜNG NHƯ PHÁP

(ĐTKVN, Tăng Chi Bộ III, phẩm Chư Thiên, phần Bố thí, VNCPHVN ấn hành, 1996, tr.91)

Một thời, Thế Tôn trú ở thành Xá Vệ (Sàvatthi), tại Kỳ Viên (Jetavana), khu vườn của ông Cấp Cô Độc (Anàthapindika). Lúc bấy giờ, mẹ của Nanda, nữ gia chủ người Velukandakì làm một thí vật gồm có sáu phần cúng dường chúng Tăng. Bấy giờ, Thế Tôn với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhiên thấy mẹ của Nanda làm một thí vật gồm có sáu phần liền bảo các Tỷ kheo:

Này các Tỷ kheo, có ba phần thuộc về người bố thí và có ba phần thuộc về người nhận vật phẩm bố thí. Thế nào là ba phần thuộc về người bố thí? Này các Tỷ kheo, người bố thí, trước khi bố thí, ý được vui lòng; trong khi bố thí, tâm được tịnh tín; sau khi bố thí, cảm thấy hoan hỷ. Đây là ba phần của người bố thí. Thế nào là ba phần của người nhận phẩm vật bố thí? Ở đây, này các Tỷ kheo, những người nhận vật bố thí, đã được ly tham hay đang thực hành hạnh ly tham; đã được ly sân hay đang thực hành hạnh ly sân; đã được ly si hay đang thực hành hạnh ly si. Đây là ba phần của người nhận phẩm vật bố thí. Như vậy, này các Tỳ kheo, đây là thí vật có sáu phần.

Này các Tỷ kheo, công đức của thí vật sáu phần thật vô lượng: “Là nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện, món ăn an lạc, thuộc thiên giới, là quả lạc dị thục, dẫn đến cõi Trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, hạnh phúc và an lạc”.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

(Quỳ gối chắp tay đọc)

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

Hôm nay gia đình chúng con thực hành pháp bố thí cúng dường, thành tâm sắm sửa vật thực, dâng lên cúng dường:

Thượng: Chúng con xin dâng lên cúng dường thập phương chư Phật chứng minh.

Trung: Chúng con xin cúng phụng chư Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng chứng minh.

Hạ: Chúng con xin cúng dường cho chư Thiên, chư Thần Linh, Thổ Địa tại nơi đây.

Sau: Chúng con xin được nương oai lực Tam Bảo, chúng con xin thỉnh mời và hiến cúng cho hương linh (tên): … cùng các hương linh nơi địa cuộc nghĩa trang này, có duyên với gia đình chúng con.

(Đọc Biến thủy, Biến thực)

Chú biến thực: Nam mô tát phạ đát tha, nga đá phả rô chỉ đế, ám tam bạt ra, tam bạt ra hồng. (7 lần)

Chú biến thủy: Nam mô tô rô bà ra, đát tha nga đá ra, đát điệt tha, án tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô sa bà ha. (7 lần)

Phổ cúng dường: Án nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhật ra hồng. (7 lần)

Chúng con kính bạch chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng chứng minh, chư Thiên, chư Thần Linh chứng giám, chư vong linh hoan hỷ, trong bài kinh “CÚNG LINH”, Đức Phật dạy: người mất khi tái sinh làm vong linh (ngạ quỷ), thì thọ nhận được thức ăn (đúng pháp không sát sinh) hiến cúng của con người, con nguyện cho các vong linh con đã thỉnh mời, được nương sự bố thí, trong đàn lễ hiến cúng này, mà được thọ thực no đủ. Trong bài kinh “BỐ THÍ và CÚNG DƯỜNG NHƯ PHÁP”, Đức Phật dạy: Cúng dường sinh phúc lành, chúng con xin thực hành để hồi hướng cho gia đình và hồi hướng cho chư Thiên, chư Thần và các vong linh.

(Cúng dường Tam Bảo: Nếu gia đình phát tâm cúng dường Tam Bảo về chùa thì đọc tiếp, nếu không cúng dường thì không đọc:

Nhân ngày lễ cúng tạ mộ hôm nay, chúng con xin thực hành pháp cúng dường Tam Bảo, hộ trì Tam Bảo, hộ độ cho Tăng chúng tu hành tại chùa……(nếu tại Chùa Ba Vàng thì đọc: Chùa Ba Vàng, Phường Quang Trung, Tp Uông Bí, Tỉnh Quảng Ninh), với tâm nguyện cho chư Tăng được tứ sự như ý, phù hợp với việc tu tập.

– Chúng con thành tâm cúng dường Tam Bảo với số tịnh tài(tiền) là…… để hồi hướng phúc báu đến cho chư Thiên, chư Thần Linh, nguyện cho các vị được tăng phúc, luôn giúp cho vong linh (tên)…. và gia đình chúng con làm mọi sự được tốt lành.

– Chúng con mong muốn cho vong linh(tên)…. sớm được siêu thoát khỏi cảnh khổ, trong cõi vong linh (ngạ quỷ), nên chúng con thành tâm cúng dường Tam Bảo với số tịnh tài (tiền) là…… để hồi hướng phúc báu đến cho vong linh.

Chúng con thành tâm cúng dường Tam Bảo với số tịnh tài(tiền) là…… để hồi hướng phúc báu đến cho các vong linh có duyên với gia đình chúng con nơi địa cuộc nghĩa trang này, từ sự thực hành pháp bố thí cho vong linh, mà gia đình con được tăng trưởng phúc lành.

– Chúng con cũng nguyện cầu cho tất cả các chúng chư Thiên, chư Thần Linh, cùng các vong linh(ngạ quỷ) mà chúng con hướng tâm cúng dường hồi hướng, được kết duyên pháp lữ trong Pháp Bố thí mà chư Phật dạy cho chúng con, để đời đời kiếp kiếp cùng nhau trợ duyên cho nhau tu hành cho tới ngày thành Phật.)

Tam Tự Quy Y

Tự quy y Phật, nguyện cho chúng sinh, hiểu thấu đạo lớn, phát tâm vô thượng.(1 lễ)

Tự quy y Pháp, nguyện cho chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như biển.(1 lễ)

Tự quy y Tăng, nguyện cho chúng sinh, quản lý đại chúng, hết thảy không ngại.(1 lễ)

HẾT

Hồi Hướng

Nguyện đem công đức này

Hướng về khắp tất cả

Đệ tử và chúng sinh

Đều trọn thành Phật đạo.

Nếu các Phật tử ở xa, muốn cúng dường về chùa Ba Vàng, nhưng không có điều kiện để về chùa, thì quý Phật tử khi cúng lễ xong, gom cất phần tịnh tài (tiền), để gửi ngay hoặc sau khoảng mấy tháng thì gửi.

Chùa Ba Vàng và Thầy Thích Trúc Thái Minh không dùng bất kỳ một tài khoản ngân hàng nào khác. Nếu quý vị muốn cúng dường, công đức về chùa Ba Vàng thì chỉ chuyển khoản vào một tài khoản duy nhất sau đây:

Quý vị kiểm tra thông tin cung cấp tài khoản tại trang chùa Ba Vàng ở đường link sau:

Thông báo số tài khoản của chùa Ba Vàng

Lưu ý: Nếu như sách nào có in số tài khoản mà không in đường link, mong quý vị xem xét và kiểm tra lại.

Tài Khoản Chùa Ba Vàng

– Số tài khoản: 0141005656888.

– Tên tài khoản: Chùa Ba Vàng.

– Ngân hàng: Vietcombank Quảng Ninh.

– Mã SWIFT (mã số khi chuyển khoản quốc tế): BFTV VNVX014.

Khi gửi xong thì nhắn tin vào số điện thoại để thầy biết 0981392858 (Sư thầy Thích Trúc Bảo Việt).

Nội dung tin nhắn: NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT, con kính bạch Thầy! Tên con là… ở tại… Hôm nay là ngày… con vừa gửi vào tài khoản của nhà chùa số tiền là… để hồi hướng cho các vong linh… vào ngày mùng…. Con xin gửi danh sách để sư thầy thỉnh vong linh ạ. Con cũng xin sư thầy chứng minh và hồi hướng cho cả gia đình con luôn được sự gia hộ của chư Phật. Con xin thành kính tri ân Thầy ạ! Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

Liên Hệ

Các bài nên xem:

Nếu có bất cứ vấn đề gì thắc mắc, kính mời quý đạo hữu liên hệ với:

1) Chùa Ba Vàng:

– Số tổng đài Chùa Ba Vàng: 19008968

+ Ban Tri khách (cố định): 02036557799

+ Ban Tri khách (di động): 0963386533

– Email: [email protected]

2) Thầy Thích Trúc Thái Minh:

– Email: [email protected]

– Nhắn tin vào fanpage:

Thầy Thích Trúc Thái Minh:

facebook.com/ThayThichTrucThaiMinh

【#9】Lễ Tạ Mộ Cuối Năm Gồm Những Gì, Sắm Lễ Ra Sao Để Tỏ Lòng Thành?

(Lichngaytot.com) Cuối năm hầu như nhà nào cũng làm lễ tạ mộ, nhưng không phải mọi người ai ai cũng biết lễ tạ mộ cuối năm gồm những gì và phải chuẩn bị như thế nào?

Lễ tạ mộ cuối năm là gì?

Cuối năm có nhiều việc cần phải lo toan, trong đó có việc làm lễ cúng tạ mộ. Đây là dịp để con cháu bày tỏ lòng hiếu kính với tổ tiên, thành tâm thăm viếng mộ phần rồi làm lễ để mời ông bà tổ tiên về chung vui ngày Tết cùng con cháu.

Ngoài ra, lễ tạ mộ cuối năm còn là để tạ ơn Thánh Thần, tạ ơn quan thần linh bản địa, chư vị tôn thần… trong suốt thời gian qua đã chăm sóc, chiếu cố cho người thân của mình, để họ được sống nương nhờ trên mảnh đất đó.

Lễ tạ mộ cuối năm vào ngày nào? Tùy theo phong tục từng nơi mà lễ này được thực hiện vào các ngày khác nhau, nhưng thường sẽ được tiến hành vào khoảng thời gian từ ngày 23 đến ngày 30 tháng Chạp. Có nơi sau khi làm lễ ông Công ông Táo là sắp xếp thời gian ra mời các cụ về nhà ngay, có nơi lại tới ngày Tất niên mới làm lễ này.

Thời gian làm lễ này không quá quan trọng, bởi cái chính là tấm lòng hiếu thảo của con cháu. Thường những ai đi làm ăn xa không có nhiều thời gian chăm sóc, tu bổ mộ phần ông bà tổ tiên thì đây sẽ là dịp để họ thực hiện nghĩa vụ của con cháu trong nhà.

Lễ tạ mộ được chia làm 2 phần, phần đầu tiên là con cháu sẽ chuẩn bị dụng cụ để làm sạch cây cỏ mọc hoang trên mộ và xung quanh mộ, tiếp đó là đắp đất, bồi đất cho mộ phần được cao, tránh bị kiến mối, chuột đồng xâm hại, lại lau sạch bia mộ, bát hương đặt trên mộ phần.

Phần thứ 2 là phần lễ cúng, con cháu cần sắm lễ tạ mộ và đọc văn khấn tạ mộ. Đây là truyền thống lâu đời được truyền từ đời này qua đời khác. Vậy để có 1 lễ cúng đầy đủ, thể hiện lòng hiếu kính, nhớ ơn ông bà tiên tổ thì gia chủ cần làm gì, lễ tạ mộ cuối năm gồm những gì?

Lễ tạ mộ cuối năm gồm những gì?

Lễ tạ cuối năm gồm những gì còn tùy theo phong tục địa phương và gia cảnh của từng nhà, song 1 lễ tạ mộ thông thường sẽ có đủ hương hoa, đồ chay mặn như sau:

3 lễ trầu cau (tức 3 lá trầu, 3 quả cau, nên chọn cau trầu tươi, cau có cành dài và đẹp)

1 đĩa trái cây (thường gồm 5 loại trái cây hoặc có số lượng là lẻ, từ 3-5-7 quả, theo quan niệm lẻ âm – chẵn dương)

1 đĩa xôi, 1 chai rượu, 1 bao thuốc lá (hoặc thuốc lào), 1 hộp chè (hoặc 1 gói chè)

1 con gà trống thiến luộc nguyên con (có nơi là gà trống hay mái đều được, cũng có thể là khẩu thịt lợn luộc)

Ngoài những đồ lễ như trên, gia chủ sẽ cần chuẩn bị thêm đồ vàng mã, cụ thể như sau:

Tiền vàng (tùy tâm, thường chia làm 4 đĩa/lễ)

5 con ngựa mã (nên chọn 5 con với màu sắc khác nhau). Trên lưng mỗi con ngựa lại đặt 10 lễ tiền vàng gồm tiền xu, tiền vàng lá, tiền âm phủ.

5 bộ đồ mã (gồm mũ, áo, hia) có kèm ngựa, cờ lệnh, kiếm và roi ngựa. Đây là số lượng thường dùng, nhưng tùy vào số lượng mộ phần thì có sự thay đổi phù hợp. Thêm nữa, nên căn cứ vào giới tính, lứa tuổi của vong hồn mà chọn lựa đồ mã dâng lên cho phù hợp.

Đồ lễ đã chuẩn bị đầy đủ, song gia chủ nên chú ý thêm cả phần bày biện nữa. Lễ cao lễ trọng thì cũng cần phải bày biện đàng hoàng, nên có mâm đỡ, nếu cần thì dùng bàn kê.

Tùy theo phong tục của từng địa phương mà đồ lễ được bày biện khác nhau. Có nơi thì cho rằng đồ lễ mặn như xôi gà nên dâng lên ở miếu thần linh nơi nghĩa địa, còn những đồ lễ chay như hoa quả, thuốc lá thì dâng trước mộ phần, gia chủ nên cân nhắc để làm theo phong tục địa phương.

Một điều nữa cần nói rõ, đồ lễ ít nhiều không quan trọng, mâm cao cỗ đầy không thể hiện được tấm lòng của con cháu, chỉ có sự thành tâm, hiếu kính, nhớ thương, biết ơn ông bà tiên tổ và người thân đã khuất thì mới được vong hồn chứng giám.

Làm lễ cúng tạ mộ cuối năm như thế nào?

Người chủ trì lễ cúng tạ mộ cuối năm thường được lựa chọn khá cẩn thận. Đây thường là người nam có tiếng nói trong gia đình. Nếu có người lớn tuổi trong nhà sức khỏe tốt thì sẽ là người đó đứng ra làm lễ, nếu không thì có thể chọn 1 người con trai, cháu trai có lòng thành tâm, hiếu thảo trong gia đình, dòng họ làm người chủ trì lễ cúng.

Sau khi dọn dẹp xong mộ phần, bày biện đồ lễ ổn thỏa thì người này sẽ tiến hành lễ cúng, đọc tạ mộ để tỏ lòng biết ơn với vong hồn người đã khuất và mời họ về nhà cùng con cháu ăn Tết sum vầy.

Đặc biệt chú ý, lễ cúng tạ mộ cuối năm phải được làm trong không khí trang nghiêm, con cháu làm lễ với lòng thành tâm, tuyệt đối không cười đùa, trêu chọc nhau trong khi làm lễ.

Nếu để trẻ nhỏ đi cùng cần trông coi cẩn thận, vừa để giữ an toàn cho chính bản thân trẻ, vừa để tránh trẻ nhỏ thiếu hiểu biết phạm phải điều cấm kị.

“Nam mô a di đà Phật!

Nam mô a di đà Phật!

Nam mô a di đà Phật!

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương

Con kính lạy ngài Địa tạng vương Bồ tát.

Con kính lạy ngài Kim Niên Đương cai Thái Tuế Chí đức Tôn thần, Kim niên hành binh, Công tào Phán quan.

Con kính lạy ngày Bản cảnh Thành Hoàng Chư vị Đại Vương quản cai nơi nghĩa trang.

Con kính lạy Ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa Tôn thần.

Con kính lạy các ngài Ngũ phương, Ngũ thổ Long Mạch Tôn thần, các ngài Tiền Chu tước, Hậu Huyền Vũ, Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ cùng liệt vị Tôn Thần cai quản trong nơi nghĩa trang này.

Con kính lạy hương linh cụ:…………………..

Hôm nay là ngày…….. tháng Chạp, năm cũ sắp qua, năm mới sắp đến.

Tín chủ (chúng) con là:…………..

Chúng con sắm sanh phẩm vật, hương hoa trà quả, kim ngân tài mã, dâng hiến trình cáo Tôn thần.

Kính rước vong linh bản gia tiên tổ chúng con là:……………

Có phần mộ táng tại…………

Được về với gia đình đón mừng năm mới, để cho cháu con được phụng sự trong tiết xuân thiên, báo đáp ân thâm, tỏ lòng hiếu kính. Cúi xin Tôn thần, Phủ thùy doãn hứa.

Bát nước nén hương.

Nam mô a di đà Phật!

Nam mô a di đà Phật!

Sau khi đọc xong bài khấn thì dâng hương thêm lần nữa. Lưu ý sau khi thắp hương cho mộ phần của gia đình mình thì nên dâng hương cho các mộ phần ở xung quanh cũng như mộ phần của những người khác trong dòng họ.

Nếu trong nghĩa địa có mộ phần “vô chủ”, ít người nhang khói thì cũng nên chiếu cố chăm sóc hơn cho bớt phần lạnh lẽo.

【#10】Đạo Thờ Cúng Tổ Tiên Và Những Điều Cấm Kỵ Trong Nhân Gian Cổ Đại Bài Cuối

Bài Cuối 越南道教道士 越南道士 NHỮNG CẤM KỴ TRONG NGHỀ CHĂN NUÔI

Trồng dâu nuôi tằm là một điểm đặc sắc lớn trong kinh tế canh nông của người xưa từ xưa đến nay. Bắt đầu từ thời nhà Thương, người ta đã liệt thần Tằm vào đại điển tế tự. Dân gian cho rằng, tằm là một động vật cực kỳ nhõng nhẽo, lại rất thần thánh và có tính linh, nếu có chút chểnh mảng không cẩn trọng thì cũng khiến cho chúng bị tổn thương.

Trong “U phong quảng nghĩa”, người Thanh có viết: “Buồng tằm nhất thiết không được mở ra phía sau: vì tằm thuộc loại hóa khí, mùi thơm có thể làm tán khí, mùi hôi thối có thể làm kết khí, vì vậy, khi tằm ngửi thấy mùi thơm thì sẽ bị mềm nát, ngửi thấy mùi thối thì cứng lại. Phàm là những thứ có mùi thơm như xạ hương, đàn hương, linh lăng… và những vật có mùi hôi như hành, hẹ, tỏi, kiệu,… thì đều cấm không được mang vào buồng tằm. Kỵ gió Tây Nam, kỵ đốt đèn, đốt giấy trong buồng, kỵ thổi tắt khí của khói dầu, kỵ gõ vào những vật có thể phát ra tiếng kêu như cửa, cửa sổ, vành nong; kỵ để ánh đèn chiếu vào khe cửa sổ buồng tằm vào ban đêm; kỵ mang rượu giấm vào và cũng kỵ để người uống rượu vào trong buồng; kỵ chiên xào thịt; kỵ gió lạnh quét vào lúc nóng nực; kỵ giã đồ gần bên; kỵ kêu khóc trong buồng tằm, kỵ những lời ô uế dâm tà; dùng lửa lớn khi trời đang rét; kỵ bỏ dao vào trong nong; kỵ người không sạch sẽ bước vào buồng tằm; kỵ nước tràn xuống lửa; kỵ nướng những vật có mùi khét như xương, lông lợn; kỵ mở cửa sổ đón gió; kỵ tất cả những khí có mùi tanh; kỵ khí đá vôi bị nung; kỵ khí lưu huỳnh bị đốt, kỵ mở cửa một cách vội vã, kỵ ném thải những vật ra xa, kỵ những lá đẫm nước, kỵ những lá dâu đẫm sương lạnh hay những lá khô; kỵ nóng nực, hanh khô. Những điều kiêng kỵ trên đều cần phải chú ý đến, nếu không thì tằm sẽ không nằm yên trong nong, sẽ bò ra ngoài mà chết”. Từ đó có thể thấy rằng, các triều đại nhà Nguyên, Minh, Thanh, các cấm kỵ về việc nuôi tằm thì ngày càng nhiều và rõ ràng hơn. Lá dâu nuôi tằm cũng phải dùng kéo sắt để cắt, kỵ không được dùng tay hái. Mà khi dùng kéo cắt thì cũng phải đợi khi mặt trời mọc, hơi ẩm bốc hết thì mới được tiến hành cắt lấy, kỵ cắt lấy những lá dâu đẫm hơi nước và sương. Có những cấm kỵ về việc nuôi tằm, như người vùng Sơn Đông thì kỵ không động thổ buồng tằm khi đã xuất tằm; kỵ người già, sản phụ bước vào buồng tằm, kỵ ngủ trong buồng tằm, e rằng tằm cũng trở nên lười nhác không chịu nhả tơ làm kén.

Những hộ nuôi tằm ở vùng Triết Giang nếu thấy rắn bò vào buồng tằm thì kỵ không được hô hoán, đuổi đánh. Vì họ cho rằng Thanh Long giáng lâm, thì sẽ đem lại cái phúc cho nghề tằm, nên phải khấu bái, cúng chay, để nó tự đi.

Nuôi lợn cũng là một nghề phụ phổ biến rất được nông dân xem trọng, nó là một “con đường giàu sang”, “con đường tiền tài” của người nghèo. Rất nhiều những cấm kỵ trong nghề nuôi lợn cũng đã hình thành nên tập tục trong dân gian.

Xây hàng cột rào lợn cũng phải hết sức thận trọng, tục thời xưa còn mời cả thầy phong thủy đến để lựa chọn phương vị tránh sát khí, chọn ngày tốt để phá thổ động công, chiêu đãi thợ xây như chiêu đãi khách quý. Tục quy định, khi châm trà, dâng rượu, gắp thức ăn và tặng tiền cho thợ xây thì không được nói chuyện. Đặc biệt là, phong bì đựng tiền không được dán kín cả hai đầu, và phong bì cần phải để trên cột rào ở chuồng lợn mà không trực tiếp giao cho thợ. Khi thợ xây nhận phong bì đựng tiền thì cũng không được nói năng gì cả. Người ta cho rằng, làm như thế để làm yên hàng cột, khiến lợn mau lớn. Có nơi, khi làm xong nền hàng cột, khi mời thợ xây đến để làm hàng rào thì thợ cần phải ăn điểm tâm ngay ở hàng cột rào, không được từ chối, và phải ăn cho hết để tỏ ý là sau này lợn sẽ ăn hết bữa ăn. Nếu như thợ xây ăn không hết thì gia chủ sợ rằng, sau này lợn sẽ biếng ngủ biếng ăn, nên sẽ nhặt phần thức ăn còn lại ăn cho kỳ hết ngay tại hiện trường. Những người chủ nhà mà là người già thì cho rằng như thế đã phạm vào cấm kỵ, nên vội vàng chạy ra giành lấy phần thức ăn đó, đến nằm trong hàng cột mà ăn ngấu nghiến cho đến hết, sau khi ông ta đã ăn xong thì không ai được kéo ông ta dậy, vì cho rằng như thế, sau này lợn sẽ không những ham ăn mà còn tranh ăn, ăn xong rồi ngủ, ngủ rồi lại ăn, lớn rất nhanh. Do vậy, thợ xây hàng cột rào cho lợn cũng phải cẩn thận, có nơi còn phải phun nước thần trước khi khởi động công trình, khiến “thiên sát quy thiên, địa sát quy địa” (khí sát ở Trời thì về Trời, khí sát của Đất thì về Đất”. Có nơi còn vạch chữ “tỉnh” ( 井 ) lên nên đất để ép “sát khí”, để đảm bảo được bình an. Có nơi, người ta còn chú trọng đến vật liệu làm hàng cột rào, thường là chọn gỗ cây phong, tục cho rằng nếu dùng gỗ cây phong làm cột rào thì sẽ khiến cho lợn “phong xuy dạ trưởng” ( 風吹夜長 : qua đêm đã lớn như gió thổi). Khi đóng cọc rào, bất kỳ là ai cũng không được bước ngang qua hàng cột rào ấy, mà phải chui qua hàng cột với một thái độ cung kính rất mực, nếu không, sau này lợn cũng sẽ nhảy qua hàng cột rào, như thế thì không tốt.

Sau khi làm xong hàng cột rào mới mua lợn con về. Khi mua lợn con, cũng phải chọn lựa ngày lành. Tục cho rằng “ngày tai”, “ngày đuôi” đều là những ngày tốt, bảo là “tai đuôi thì lớn như gió thổi”; “ngày miệng”, “ngày lưỡi” mà mua lợn về là không tốt, bảo rằng “miệng lưỡi ắt phải chết”. Mua lợn phải lựa ngày tốt lành, thích ngày chẵn và kỵ ngày lẻ. Kỵ mua lợn có đầu quá lớn, tục cho rằng những con lợn như thế sẽ chậm lớn.

Những hộ nuôi lợn nái thường đều kỵ không giết lợn nái, người ta cũng thường kỵ ăn thịt lợn nái, cho rằng, thịt lợn nái có “độc”, ăn vào sẽ sinh bệnh. Ở một vài hộ, khi lợn nái đã già, thì mời thầy thiến lợn đến để thiến nái, đợi khi nuôi cho mạnh lên rồi mới được giết, tục gọi là “bà lợn già bị thiến một dao”.

Khi muốn ăn thịt lợn nuôi thì đợi đến lúc lợn mạnh khỏe mới giết. Trong dân gian, việc giết lợn cũng có nhiều cấm kỵ. Lưu hành nhất là giết lợn đầu năm năm. Giết lợn thì không được nói là “giết”, mà phải gọi là “xuất chuồng”. Xuất chuồng vào ngày sửu mới được xem là tốt, kỵ không giết vào ngày tý, để tránh sau này lợn nuôi chỉ bé bằng con chuột, mà chỉ mong cho nó lớn như con trâu vậy. Khi xuất chuồng, cần phải cúng tế “thần rào lợn”, và chúc nó kiếp này làm lợn, kiếp sau làm người, khi giết lợn đầu năm thì kỵ không có dây buộc, để lợn chạy qua nhà người. Vì có người tin rằng “lợn đến thì nghèo”, chủ nhà chỉ đành “treo vải đỏ”, đốt pháo để cáo lỗi, sau đó mới có thể dẫn lợn trở về. Khi xuống dao giết lợn, người đồ tể sẽ nói “xuất thế làm người”. Trẻ em và phụ nữ cấm không được nhìn. Có nơi, người phụ nữ nuôi lợn sẽ đứng ở cửa kêu lên “Lợn về đi!”, tỏ ý lợn không đi, mỗi năm đều có thể có lợn để giết thịt. Chủ nhà đều hy vọng là một nhát dao giết chết lợn đầu năm, ộc ra máu đỏ tươi và có lẫn bọt bóng, người ta bảo rằng, đó là điềm “huyết tài tốt”, nuôi lợn sẽ rất hưng thịnh, kỵ một nhát dao giết không chết lợn. Nếu giết một dao, máu ộc ra, lợn giãy giụa lăn xuống đất nhưng lại không chết, thậm chí còn chạy đi, thì cần phải giết thêm một nhát dao nữa; hoặc khi máu đỏ có sắc đen, bọt bóng không đỏ cũng không trắng; hoặc là khi cạo lông mà trong mõm lợn vẫn còn khí thở và có tiếng thở nhè nhẹ, người ta gọi đó là tiếng than thở của lợn, đều là những điềm không tốt, gia chủ lo sợ rằng, năm sau nuôi sẽ không được hưng thịnh, lại vừa lo rằng, nếu đó là lợn Linh Quan, thì không được giết. Khi giết thì cần phải “hóa thân” (hóa trang), dùng nhọ nồi, mực… để bôi lên mặt, lấy áo trùm lên đầu, và đội lên cái nón lá, lưng thì mặc áo tơi, chân thì mang giày, giết mạnh bằng một nhát dao rồi quay mình mà chạy đi. Cấm không được giết lợn Linh Quan ngay trong phòng, mà phải giết ở nơi góc đường. Máu của nó không được dùng để cúng thần, cũng không để người ăn, cứ để cho nó chảy đi. Sau khi giết chết rồi thì phải đợi ít nhất là nửa tiếng đồng hồ sau mới có thể khiêng về trong nhà.

NHỮNG CẤM KỴ TRONG NGHỀ SĂN BẮN Săn bắn là một nghề mưu sinh có từ thời xa xưa, rất nhiều các tộc người của xưa đều có lịch sử săn bắn rất lâu dài. Trong nghề săn bắn cũng có rất nhiều tập tục cấm kỵ.

Trước khi đi săn, thợ săn phải tiến hành nghi thức tế tự, cúng hiến thần săn. Những người thợ săn còn tin rằng, dã thú có linh tính, vì vậy mà thường thì không dám gọi thẳng tên của chúng, mà phải gọi với một cái tên khác. Ví dụ, người ta gọi hổ là con “đại trùng”, là “thần”; còn gấu thì gọi là “lão gia”, “lão gia tử”… Họ còn tin rằng, dã thú có khả năng dự báo trước những sự việc, nếu thợ săn không tuân thủ nghiêm chỉnh những cấm kỵ nào đó thì dã thú có thể biết được phương hướng hành động của thợ săn mà chạy đi mất. Ví dụ như, người Ngạc Luân Xuân, Ngạc Ôn Khắc thì đều cấm kỵ việc nói cho người khác biết chuyện mình đi săn trước khi đi săn, cấm kỵ nói “chúng ta đi đặt bẫy”. Và càng cấm kỵ không nói cho người khác biết nơi chốn và phương hướng đi săn, ngay đến người trong nhà cũng không ngoại lệ.

Trong thời gian săn bắn, thợ săn người Ngạc Luân Xuân, Ngạc Ôn Khắc cấm kỵ không nhắn thư cho người nhà, và người nhà cũng không được nhắn đến, nếu không thì không có lợi cho việc săn bắn. Khi săn thú, cấm kỵ không được dùng cây gậy để vắt ngang lên trên đường đã đi qua, khi cần dùng gậy để là dấu hiệu thì cũng phải để thuận chiều. Người ta nói rằng, nếu để gậy ngang đường thì sẽ khiến cho việc săn bắn gặp nhiều trở ngại, không thuận lợi. Việc nhóm củi lửa khi săn cũng cấm kỵ để củi cháy sụp xuống, vì cho rằng củi lửa bị sụp sẽ làm động đến Sơn thần gia (Bạch Tra Na) khiến việc săn bắn không có hiệu quả. Củi dùng để nhóm lửa nên ngắn, kỵ dài, vì nếu củi nhóm mà dài thì số ngày đi săn cũng sẽ bị kéo dài ra. Trong thời gian săn bắn, người ta kiêng kỵ tất cả mọi tiếng động. Không được ca hát, nhảy múa hay nói chuyện lớn. Khi đi săn, người Ngạc Luân Xuân cấm không được huýt gió tùy tiện, vì người ta cho rằng, nếu làm như thế thì sẽ gây gió lớn; khi đi săn, người Ngạc Ôn Khắc cấm kỵ không được kéo động cái nồi lúc nấu cơm, khi bới cơm thì cũng không được cạo nồi gây ra tiếng vang. Khi gặp dã thú thì cũng không được chỉ trỏ, nói năng bừa bãi.

Khi đi săn, người Ngạc Luân Xuân và người Ngạc Ôn Khắc còn kỵ giữa những người đi săn với nhau mà tạo nên sự mất đoàn kết, kỵ cãi nhau và đánh nhau khi ra đi săn, nếu không thì nhất định sẽ không gặp được con thú nào. Nếu có hai đoàn người đi săn gặp nhau thì phải hợp lại làm một, cùng nhau vây thú, và chia thú đồng đều cho nhau. Nhưng thời gian tối đa mà hai đoàn người đi săn này sáp nhập với nhau là một hoặc hai ngày, sau đó sẽ phân rẽ ra. Khi săn thú, nếu gặp dã thú thì không được tranh bắn thú trước, nếu không, không ai có thể tìm ra được con thú bị bắn ấy. Sau khi săn được hươu, ngạn thì cần phải xóa sạch vết máu, vết dơ lưu lại trên đất. Tại hiện trường đợi thú săn, thì không được vứt đầu thuốc, vỏ đạn, phân, một phần là e rằng sẽ gây ảnh hưởng cho người đi săn đến sau.

Khi săn thú, người Ngạc Luân Xuân còn cấm kỵ không được bắn con dã thú đang giao phối, vì cho rằng, khi bắn loại thú này thì sau này sẽ không thể nào săn được những con thú khác nữa. Nhưng nếu đợi đến khi con dã thú giao phối xong thì lại có thể bắn nó.

Đối với một số tộc người, khi săn bắn thì người ta còn sợ gặp phải sự quấy nhiễu của người ngoài hoặc của thần linh ngoài thần săn bắn. Ví dụ như, khi đi săn thì người Lạc Ba kỵ gặp phải người ngoài, nếu nhỡ gặp phải thì phải nhẹ nhàng tránh đi. Vũ khí săn bắn cũng kỵ để người ngoài nhìn thấy, nếu không, họ cho rằng linh hồn của người lạ sẽ cướp con thú đã săn được đi, khiến họ có săn mà không có thú. Người Ngõa thì kỵ không cho người khác mượn súng và cung mà bản thân mình chưa dùng qua, nếu không, bản thân người chủ sẽ không bắt được thú. Người Ngạc Luân Xuân cũng cấm vẩy rượu lên lửa trong lồng vào lúc săn thú.

Đối với người Ngạc Luân Xuân, trong khi săn bắn mà săn được một con hươu, một con ngạn hoặc một con lợn rừng, thì đầu tiên cần phải tế Sơn thần tại nơi ấy. Nếu không dùng con vật ấy để tế thì trong khi săn, thợ săn sẽ bị bệnh hoặc săn không được thú. Đối với thợ săn của vùng núi Trường Bạch, mỗi khi bắn trúng một con hươu đực, cần nhanh chóng chạy đến và ôm đầu hươu, nhằm phòng tránh hiện tượng do bị thương mà hươu làm gãy nát nhung hươu. Khi săn hươu đực thì kỵ những con hươu có nhung chưa lớn. Bình thường khi săn “thái vi”, tức chỉ tìm một con thú để săn, như báo chẳng hạn, thì cấm kỵ nhất là giết hươu đực, hươu cái. Thời xưa, người Tích Bá cấm kỵ săn giết cáo. Người Ngạc Luân Xuân, Ngạc Ôn Khắc khi săn được con dã thú lớn, như gấu, lợn rừng… thì khi mổ bụng lấy nội tạng ra, trái tim và lưỡi cần phải để ở cùng một chỗ. Chỉ khi nấu ăn chín thì mới được chặt thịt ra, nếu không, sau này sẽ không săn được loài dã thú này nữa.

Người Ngõa khi đi săn, họ chấp hành câu cách ngôn người gặp cũng có phần” một cách rất nghiêm túc, kỵ chia thiếu phần. Nếu không, đó chính là một sự miệt thị rất lớn đối với người bạn săn, sẽ dẫn đến tranh chấp. Tục này còn cho rằng, khi đi săn trên núi cao, thì thịt của mỗi bữa ăn cần phải ăn cho hết, không được mang trở về nhà.

Người Ngạc Luân Xuân và người Ngạc Ôn Khắc có nghi thức sùng bái và một vài cấm kỵ rất đặc biệt đối với gấu. Sau khi thợ săn săn được gấu thì không được nói “săn trúng rồi”, mà phải nói rằng “thật là đáng tội nghiệp cho tôi”. Gấu bị bắn chết không được nói là “chết rồi”, mà phải nói thành “bố thổ cáp”, hoặc “a phạ kháp”, tức có nghĩa là “thành rồi”, hoặc “ngủ rồi”. Ở bãi săn, sau khi đã săn được gấu thì đầu tiên, người già sẽ đến để xem đó là gấu đực hay gấu cái, cấm trai tráng đếm xem. Bởi vì sinh thực khí của gấu hoàn toàn giống với của người, cho rằng, nếu để thanh niên trái tráng đếm xem thì sẽ mắc bệnh đái gắt. Khi lột da thì phải dùng tấm thảm hoặc những thứ khác để đậy lên phần thân dưới của gấu. Nếu là gấu đực thì đầu tiên là cắt tinh hoàn treo lên trên cây, sau đó mới lột da. Người ta cho rằng, chỉ có như vậy thì gấu đực mới thành thực khi gặp người. Đồng thời, phải đẩy máu động mạch về tim, không được cắt đứt động mạch. Sau khi moi lấy ruột ra và quấn ba vòng quanh đầu gấu thì mới được cắt cổ gấu. Không được ăn thịt đầu gấu, sau khi cắt ra thì dùng cỏ quấn lại, để lên trên giá cây tiến hành nghi thức phong táng. Những người thợ săn còn phải quỳ lạy đầu gấu, kính hương, dập đầu trước gấu và cầu xin thú săn trước đầu gấu, đồng thời, phải dùng khói hương hơ đầu gấu. Sau đó, cầm tấm da gấu đi qua cửa của từng nhà để cho gấu từ biệt mọi người, tấm da gấu ấy sẽ được tặng cho người già. Khi trở về nơi khiêng gấu đi, thì còn phải giả bộ khóc lóc. Phải dùng ngựa thiến để thồ gấu đi, không được dùng ngựa cái hoặc ngựa đực để thồ gấu. Thịt gấu phải được người của cả thôn cùng ăn. Con dao cắt thịt gấu không được gọi là dao, mà phải gọi là “khắc nhĩ căn cơ”, ý nghĩa là con dao cùn cắt không đứt gì cả. Cây súng bắn chết gấu thì cũng không được gọi là súng, mà phải gọi là “hô ông cơ”, ý là công cụ bắn không chết một loài động vật nào, hoặc gọi là “ống thổi (khạc) lửa”. Khi ăn thịt gấu, trong miệng phải phát ra tiếng “chách chách, cụp cụp”, tỏ ý rằng không phải họ đang ăn thịt gấu, mà là con quạ đang ăn vậy. Hai chân trước của gấu thì đàn ông không được ăn. Nếu đã ăn rồi, thì sau này gấu sẽ cướp mất súng săn. Đối với đầu gấu, tim gấu và nội tạng của gấu thì cho dù bất kỳ là ai thì cũng không được ăn, mà phải phong táng cùng với xương còn lại sau khi ăn. Khi phong táng, mọi người cần phải ra vẻ đau thương khóc lóc, và còn phải dập đầu, kính hương, cầu chúc.

NHỮNG CẤM KỴ TRONG NGHỀ ĐÁNH CÁ Những người sống gần sông rạch, hồ, biển đa phần là những người sống bằng nghề đánh cá. Nguồn tài nguyên thủy sản phong phú như cá, tôm, trai, cua đều là mục tiêu đánh bắt và là điều kiện mưu sinh của ngư dân. Việc làm ăn trường kỳ trên sông nước đã khiến cho con người kết một duyên kiếp không thể nào dứt ra được với những công cụ đánh bắt như thuyền, lưới… Những điều mê tín trong phương thức sử dụng công cụ và phương thức đánh bắt, cùng với ý thức cầu cát tỵ hung thể hiện trong tín ngưỡng và ngôn ngữ thuộc nghề đánh cá đã tạo nên những cấm kỵ dân gian.

Thuyền là một công cụ quan trọng trong nghề đánh bắt thủy hải sản. Người và thuyền được gắn liền nhau, thuyền là “sợi dây sinh mệnh” của ngư dân. Ngư dân thường nhân tính hóa, sinh mệnh hóa con thuyền, ở hai tuyến giữa ngang và dọc dưới thuyền thì tuyệt đối không được đóng đinh, người ta nói rằng, nếu đóng đinh lên hai tuyến giữa thì sẽ khiến cho tính đực của thuyền sẽ lớn lên, khi ở trên biển mà tính đực của thuyền phát tác thì khó mà khống chế được, nó sẽ chủ động đụng húc vào thuyền khác, gây nguy hại đến sự an toàn của con người. Ngoài ra, khi đóng thuyền, người ta có cách nói “đầu không đụng vào cây dâu, chân không đạp vào cây hòe”, có nghĩa là, khi đóng thuyền thì không dùng gỗ cây dâu làm mũi thuyền, không dùng ván cây hòe làm đuôi thuyền. Bởi vì “cây dâu” ( 桑 tang) đồng âm với “tang” ( 丧 tang tóc), phạm vào kỵ húy, vì thế mà tuyệt đối không được dùng gỗ cây dâu đóng mũi thuyền. Cây hòe tượng trưng cho điều phúc, nên không được dùng để đóng đuôi thuyền, e rằng sẽ giẫm phải lên điều phúc.

Những cấm kỵ về thuyền của ngư dân Đông Hải lại rất đặc biệt. Trước khi ra biển, những đồ vật chỉ có thể đưa vào trong thuyền mà không được mang từ trong thuyền ra. Vào buổi tối, nếu ngư dân đưa nhầm mùng mền của mình vào thuyền của người khác thì cũng không thể trả về, đợi đến khi cho thuyền chạy ngược lại thì mới đem trả mùng mền lại. Sau khi ngư dân lên thuyền thì không được mang giày, không rửa mặt. Bất luận là vào mùa đông hay mùa hè thì cũng chỉ được mặc quần đơn, khi mùa xuân đến thì anh cả (lão đại) trong thuyền mới mới quần dài, tất cả anh em cùng làm ăn trong thuyền chỉ mặc quần cộc, vì như thế thì mới dễ dàng nhận ra ai là anh cả trong thuyền.

Khi làm ăn trên thuyền, làm việc gì cũng phải làm dấu hiệu, tất cả đều có luật vận tiết tấu của nó, nhưng khi gặp gió to thổi tốc mái che thì không cần dùng dấu hiệu. Khi kéo lưới bắt cá thì không được thò tay bắt đuôi cá, mà phải bắt đằng đầu, ngụ ý rằng, bắt đầu cá thì sẽ hốt được cả bầy cá. Theo tục xưa, ngư dân vùng Hoàng Hải rất sùng kính Long vương, Thiên hậu và Sở Thái gia. Trên mỗi một chiếc thuyền còn có “lão tiên sinh”, như “gia đường bồ tát”, ngày thường, anh em sẽ bưng cơm đến cúng. Khi sửa thuyền, cần phải dùng ván khoang hoặc những vật khác để dựng tạm một “miếu đường” trên bãi biển, đây cũng chính là nơi cấm kỵ như nơi cấm kỵ ở trên thuyền, những sinh hoạt ngày thường cấm không được tiến hành ở nơi này. Khi sửa thuyền xong và cho xuống nước, thì cần thỉnh “lão tiên sinh” và bài vị lên thuyền. Tương truyền rằng, “lão tiên sinh” chính là người trên thuyền bị lâm nạn trong thời gian trước kia, do vậy mà ông ấy biết dạy cho mọi người phải giữ gìn tuân thủ cấm kỵ như thế nào, để tránh không cho xảy ra những điều bất hạnh ấy nữa.

Tục có câu “trong nửa tấc ván là nhà mẹ đẻ, ngoài nửa tấc ván là phủ Diêm vương”, khi làm việc trên thuyền, thì khó có thể biết rằng khi nào sẽ có điều bất trắc xảy ra, luôn ở trong biên giới của sự nguy hiểm, vì thế mà những cấm kỵ càng nhiều, càng nghiêm.

Nhà có thuyền thì gọi là thuyền hộ 船户 , một số thuyền hộ lớn có thể kiêm cả một số nghề công thương khác, theo cách nói của xã hội thì có thể gọi đấy là “ông chủ” (lǎo bǎn), nhưng ở đây, người ta kỵ không nói như vậy, vì “ông chủ” (lǎo bǎn 老闆 ) lại đồng âm với “vớt ván” (láo bǎn 撈版 ), chỉ khi thuyền gặp gió lớn trên mặt biển, sau khi thuyền bị gió giật vỡ thì người vớt ấy mới được gọi là “vớt ván”, nếu gọi là “ông chủ” thì sẽ phạm vào ngôn ngữ cấm kỵ của người trong thuyền hộ. Trên thuyền, người ta kỵ nhất là những chữ “lật, chìm, vỡ, dừng, xa, tán, lộn ngược, lửa”

Khi nói đến chữ “phàm bồng 帆蓬 ” (fan péng – buồm) thì người ta chỉ nói đến chữ 翻 bồng, mà không được nói đến chữ “phàm”, vì nó đồng âm với chữ “phiên” (fan – lật ngược). Khi kéo vật từ trên cao xuống, hay lật ngược những vật đang đựng xuống thì không được nói là kéo hay lật ngược, mà phải gọi là “tiểu 小 “. Hạ buồm xuống thì gọi là “tiểu bồng 小蓬 “; gác chèo xuống thì gọi là “tiểu nguy 小桅 “. Hạ buồm xuống một phần thì gọi là “tha bồng 擦蓬 “, hạ xuống 1/5 thì gọi là “tha lương đại bả giác” (xoa hai góc lớn 擦梁大把角 ); buông ½ thì gọi là “tha lương tiểu bả giác” (xoa hai góc nhỏ 擦梁大把角 ); hạ xuống đến mức thấp nhất chỉ còn khoảng 1/10 thì gọi là “tha đáo ma ma sí” (xoa đến cánh ma ma 擦到媽媽翅 ). Khi kéo vật từ dưới thấp lên cao thì kỵ không nói là kéo hay lôi, mà phải nói là “nâng”, “giơ”, “nâng buồm”, “bắt neo”. Nếu muốn chuyển đề tài hoặc đổi đầu thì nói nói chữa thành “chuyển một sào chống”, chữ “lật ngược” bị cấm kỵ một cách rất rõ ràng. Những thứ như cái búa, con dao, dao đá, cái kéo đều được gọi là “anh chàng nhanh nhẹn”. Cá chết rồi thì gọi là “cá thẳng rồi”.

Trong thuyền không được chở người chết, tục cho rằng như thế sẽ không tốt. Người ta còn cấm chữ “tắm 洗 “, ví dụ như khi tắm gội thì nói là “gội một chút mát mẻ 沖涼 “, vào sáng sớm thì kỵ những chữ như “cọp”, “khỉ”, “ma”. Nếu có chút không cẩn trọng thì chủ thuyền sẽ trách mắng. Chống cái gì hoặc đệm cao cái gì đó thì đều gọi là “nâng cao một chút”. Khi thuyền cập bến hoặc vào cảng, thì gọi là thu bờ, thu cảng, thu cửa; người ngủ trên thuyền thì gọi là “khải giác 凱覺 “, ngủ một lát thì gọi là “khải nhất hội 凱一會 “. Khi ở trên thuyền, cầm vật mà không cẩn thận để vật rơi xuống, thì không được hốt hoảng la lên rằng “oái oái”, càng không được nói “oái, vuột tay mất rồi”, trên thuyền tối cấm kỵ nói đến chữ “vuột tay”, vì đó là biểu hiện của hiện tượng không cứu được người chết đuối. Nếu có người không biết hoặc vô ý mà phạm phải cấm kỵ này thì cần phải đến anh cả (lão đại) của thuyền mà hung hăng đánh ông ấy một bạt tai, người bị đánh không được có phản ứng gì, người khác thì cảm thấy đánh như vậy là đáng, và đánh càng mạnh thì càng tốt. Vì đánh bạt tai khiến cho người ta có thể khu trừ xui xẻo, đánh càng mạnh thì xui xẻo càng bị trừ sạch sẽ.

Ở Thượng Hải, những lời kiêng kỵ thì không được nói, những việc cấm kỵ thì không được làm. Hải Châu dân tục chí” có đoạn viết giới thiệu về ngư dân như sau: “Những đồ gia cụ, những sọt cá khi hong phơi thì chỉ được để miệng đồ hướng lên phía trên mà không được lật hướng về phía dưới”. Lại nói rằng “Khi ngủ chỉ được nằm nghiêng hoặc nằm ngửa, không được nằm sấp. Đó là vì khi đàn ông chết đuối, thây nổi lên, phần mông hướng về phía trên”. Chiếc neo sắt lớn nhất để ở đầu thuyền được gọi là neo thái bình, nếu chưa đến nỗi vạn phần nguy khốn thì không được động đến chiếc neo đó. Phía sau thuyền có một vài cái rổ lớn đan bằng tre, chuyên để dùng khi gió to đứt neo, người ta bỏ những cái rổ ấy để cản nước, có tác dụng là làm ổn định thần thuyền, khiến thuyền có thể trôi chầm chậm thuận theo thế gió, người ta gọi đó là rổ thái bình. Trong khoang sau, người ta để một cái búa lớn, rất bén, chuyên dùng để chặt cột chèo và chặt dây neo một cách cấp thời khi thuyền gặp phải gió giật, gọi là búa thái bình. Vào lúc bình thường, người ta không được động chạm gì đến ba vật “thái bình” này, không được bước ngang qua chúng, càng không được làm những việc phạm vào cấm kỵ, nói những lời kiêng kỵ ngay trước chúng. Nếu có người vô ý nói những lời hoặc làm những chuyện phạm cấm kỵ thì ngoài việc bị đánh bạt tai, anh cả còn phải đốt hương dập đầu trước chiếc neo thái bình, miệng lẩm nhẩm: “Lão neo lão neo đừng trách cứ, phải nới lòng (lượng thứ) đối với chuyện làm của tiểu nhân”. Khi thuyền đang trên biển, bất có bất kỳ thứ gì trôi trên sóng trên gió đều không được nhìn và cũng không được nhặt lấy.

Tất cả mọi sinh hoạt của con người trên thuyền đều phải được tiến hành trên mui sau của khoang thuyền, vì cho rằng mui sau cách xa với mặt nước biển; khoang sau được gọi là khoang rỗng, nếu sinh hoạt ở đây thì sẽ tránh được những động chạm đến thế giới của Long vương. Vào bất kỳ lúc nào cũng không được tiểu tiện ở hai bên mạn thuyền, mà là ở mui sau, và vào bất cứ lúc nào cũng không cho phép hai người đại tiểu tiện cùng lúc với nhau, cho rằng “hai người đái vào nhau, tất sẽ gặp gió bạo”. Ở vùng Triết Giang, người ta kỵ không để phụ nữ đi lên trên đầu thuyền, người ngoài mà chân không sạch cũng không được đến đầu thuyền. Ngư dân vùng Phương nam thì kỵ người bước ngang qua mũi thuyền, cho đó là điềm không lành; ở vùng Triết Giang, nếu như hai chiếc thuyền song hành với nhau, thì kỵ không được dùng dây lòi tói sắt để xích vào nhau; vùng Triết Giang, An Huy thì cấm không được chở vật chết trong khoang thuyền, tục cho rằng như thế sẽ bất cát bất lợi; ở một dải đất Hồ Châu Triết Giang, cấm kỵ hành khách nam nữ giao cấu với nhau trên thuyền; vùng Phương nam khi ra biển đánh cá thì kỵ để chuột trong thuyền chạy mất, tục cho rằng, đó là điềm không lành. Khi gặp tình hình như vậy thì cần phải tìm cách mời chuột trở lại thuyền, sau đó mới dám ra biển đánh bắt cá.

NHỮNG CẤM KỴ TRONG NGÀNH THƯƠNG NGHIỆP Trong ngành thương nghiệp thì đầy rẫy những rui ro, ẩn tàng nhiều cái bẫy chết người, vì thế mà ngay từ thời xưa, giới thương nhân cũng đã hình thành những tập tục cấm kỵ tránh hung tìm cát. Những người trong ngành thương nghiệp luôn hy vọng rằng, khi thông qua những cấm kỵ ấy thì có thể gặp may mắn trên con đường tiền tài, buôn bán.

Có nhiều phương pháp trong giao dịch thương mại, nhưng thường được chia thành hai loại chủ yếu là ngồi tại chỗ mà buôn bán tại (tọa thương) và đi lại để buôn bán (hành thương). Đi lại buôn bán còn được gọi là chạy bán, hay bán du động. Còn ngồi tại chỗ buôn bán là thường cố định buôn bán tại một nơi, nhiều nhất là các hàng quán, tiệm bán hàng, thường tập trung nhiều ngành nghề buôn bán lại với nhau. Hai loại buôn bán này cũng đều có những cấm kỵ của nó.

Những cấm kỵ trong loại buôn bán cố định là rất nhiều. Chủ tiệm rất kỵ vào sáng sớm mà mua bán không thành với người khách đầu tiên, vì e rằng suốt ngày sẽ phải gặp xui xẻo. Trong tiệm, kỵ chống eo lười nhác, hoặc ngáp, hoặc đạp lên vải bọc trên đất, hoặc ngồi ở ngạch cửa, hay gõ vào bàn tính tiền, đứng tựa cửa mà lưng hướng ra ngoài, đùa bàn tính và cất bàn tính…, tục cho rằng, những hành vi này là biểu hiện bất kính với thần tài bồ tát, sẽ gây bất lợi cho việc làm ăn kinh tế. Khi quét tiệm thì kỵ quét ra ngoài, mà cần phải quét hướng vào trong, ý là quét vàng bạc châu báu vào nhà. Gặp ống đồng trên mặt đất thì kỵ không được nhặt lấy, khi đếm tiền bạc thì phải hướng ra bên ngoài.

Khi bán vải vóc thì kỵ không gõ vào cân; khi bán rượu thì kỵ không lắc lắc chai rượu, nếu không, người ra bảo rằng, khi uống thì đầu óc sẽ choáng váng. Đầu năm, khi nhập hàng vào cửa hiệu thuốc, thì phải nhập vào vị thuốc đại hải lớn và hạt sen lớn để lấy cái ý đại phát đại lợi. Ở các tiệm uống trà, tiệm cơm thuộc vùng Nam Kinh Giang Tô, thì ba người ngồi một bàn, nếu như trống một ghế thì không được ngồi, gọi là “ngồi kiểu đóng cửa”, chủ tiệm rất kỵ. Những người hầu bàn trong các nhà hàng, quán rượu thì tối kỵ người khách đứng đầu gọi món “cơm chiên” ( 炒飯 ), vì trong tiếng Quảng Đông, “chiên” ( 炒 chǎo) có nghĩa là sập tiệm. Khi làm bếp mà nghe thấy tiếng “chiên” thì cũng cho là không tốt. Những nhân viên làm việc trong cửa hiệu không được đọc sách, cho dù có rảnh rỗi thì cũng không có ngoại lệ. Ông chủ thì muốn một vốn vạn lời, đâu dễ gì để bị thua lỗ? Vì thế nên mới cấm kỵ vậy. shu) và “thua” ( . Trước đây, ở một số khu vực của người Hán, người ta có cấm kỵ khi bán lợn là bán lợn không bán dây. Người bán lợn thì tất sẽ phải dùng dây buộc để dẫn lợn đi, nhưng khi bán lợn thì phải thu lấy dây về, vì cho rằng nếu bán luôn dây thì sẽ bị người ta mang vận may của mình đi mất, sau này có nuôi lợn nữa cũng sẽ không tốt. (Ở đây, các ông chủ cửa hiệu cũng kỵ hiện tượng hài âm giữa “sách” (

Trong các cửa hiệu thương nghiệp thì cửa hiệu thuốc là nơi có nhiều cấm kỵ nghiêm ngặt nhất. Khi học trò bước vào tiệm, đầu tiên phải nhặt lấy “vạn kim chi” (nhành vàng), “kim ngân hoa” (hoa vàng hoa bạc) và “kim đấu” (đấu vàng), với ý nghĩa là lấy vàng bạc vậy, hoặc nhặt “bách tử nhân”, vì “bách tử nhân” cũng tương tự như hạt gạo, nhằm để nuôi tác phong làm việc cẩn thận cho bọn học trò học nghề. Trong lời nói bình thường thì thường lấy tên thuốc để lấy cái may. Ví dụ như “liên kiều” để gọi “thái hợp”, “bối mẫu” để gọi “nguyên bảo bối”, “quất lạc” để gọi “phúc lộc”, “trần bì” để gọi “đầu hồng”, “quất hồng” để gọi “đại hồng bào”, cắt thuốc thì gọi là “đuôi hổ”, ghế thuốc thì gọi là “thanh long”; vào mùa xuân thì lấy “đông mộc” khai đao, mùa đông thì lấy “đơn bì” thu đao. Gói thuốc thì phải gói cho có hình như dấu ấn của vàng, vào mùa xuân thì còn phải dùng dây đỏ để buộc. Cấm để những người làm việc chung ngửi thuốc. Trao thuốc thì cấm kỵ chuyền qua tay người khác, vì cho rằng, nếu chuyền qua tay người khác thì sẽ chạm vào khí độc của người ấy. Khi đi hành nghề bán thuốc thì cũng phải có những quy tắc riêng, như khi dân gian đang ăn tết thì kỵ chẩn đoán bệnh, vì sợ chạm phải “khí độc”, trừ phi có hai khoản phí chẩn đoán bệnh để phá tai ách thì mới được. Bình thường, khi đi chẩn đoán bệnh, cũng không được gõ vào cửa của người bệnh, tục có câu “Thầy thuốc gõ cửa, phải mời vào mới xong”. Nhằm để giữ bí mật nghề nghiệp của mình, nên trong dân gian có cách nói đối với những thầy thuốc là “cho thuốc không cho đơn”. Thời xưa, những thầy thuốc rất kính trọng Hoa Đà, Tôn Tư Mạc, xem đó là tổ sư gia, không dám có chút gì bất kính.

NHỮNG CẤM KỴ TRONG NGÀNH THỦ CÔNG Người thời xưa trong tình trạng sản xuất nhỏ, phương pháp làm việc không những rất kém an toàn, hơn nữa, những kiến thức về an toàn cũng khá nghèo nàn, vì vậy, tự nhiên là họ sẽ có những lo lắng đối với sự an toàn của bản thân. Nhằm để cân bằng và thỏa mãn tâm lý, những người trong ngành thủ công nghiệp cũng đã thực hành việc tế tự và những hành vi cấm kỵ.

Do các ngành thủ công trong dân gian là rất khác nhau nên những cấm kỵ trong các ngành cũng mang những nét đặc thù riêng. Trong tất cả các ngành nghề, nghề khai khoáng là một trong những nghề nguy hiểm nhất. Công nhân khai khoáng khi tiến hành đào mỏ thì hệ số an toàn là rất nhỏ, đặc biệt là trong thời gian trước đây, những biện pháp an toàn là rất kém, vì vậy mà sự nguy hiểm đối với sinh mệnh là rất lớn. Vì vậy, công nhân khai khoáng khi ở trên giếng, khi xuống giếng thì kỵ nói đến những lời đại loại như “chết”, “ngạt chết”, “đè chết”, kỵ chửi tục. Bản thân công nhân không được nói, mà cũng không được để người khác nói, khi vợ chồng cãi vả nhau thì cũng không được nói. Công nhân cảm thấy trong lòng mình buồn phiền, hoặc cãi với người khác, thì trong ngày ấy không được phép xuống giếng. Về hành vi, thì công nhân khai khoáng kỵ để người khác đánh vào mũ của anh ta (mũ an toàn), không được ném nón lên mặt đất. Bởi vì chiếc nón là cái bảo vệ phần đầu, cũng chính là biểu trưng và một phần thân thể của đầu. Người ta kỵ để người khác đánh hoặc đùa giỡn đầu mình. Về phương diện ẩm thực, khi công nhân xuống giếng thì kỵ uống rượu, ngửi mùi rượu cũng không được. Khi xuống giếng thì kỵ mang theo diêm quẹt, đây có lẽ là do người ta sợ dưới giếng có khí mêtan (gaz), gặp diêm sẽ bị nổ. Bất kỳ ai cũng không được đốt giấy trên miệng giếng, chỉ vì chỉ có người chết thì mới đốt giấy.

Nếu dưới giếng của mỏ mà có động vật thì đó là điềm tốt, công nhân mỏ than vùng Tây Bắc thì kỵ bắt chuột trong giếng mỏ. Khi công nhân khai khoáng xuống giếng, thì kính chuột như thần, cho dù nghèo nàn đến đâu, ngày ba bữa rau cải không no bụng, nhưng khi ăn cơm ở dưới giếng thì luôn dành một phần cơm và thức ăn cho chuột, cơm thừa ăn không hết cũng không được mang về nhà, mà đổ xuống giếng để mời chuột. Tập quán này có nguyên nhân là do ba loại khí gaz, khí bùn và khí than đều rất nguy hại đối với sức khỏe của con người, mà chuột lại rất nhạy cảm với ba loại khí này, chỉ cần ở những nơi nào không có độc khí thì loại động vật tinh ranh nhỏ bé này sẽ xuất hiện, vì vậy, công nhân khai khoáng một khi nhìn thấy chuột thì đã có ngay một cảm giác an toàn; nếu dưới giếng mỏ mà không thấy chuột chạy qua chạy lại thì sẽ phát sinh ngay một tâm lý vô cùng sợ hãi.

Cấm kỵ đối với người làm nghề đồ tể là không được giết lợn vào ngày hợi. Khi giết súc vật, cần phải giết chết bằng một nhát dao, kỵ giết bằng hai nhát dao. Nếu không, người ta xem đó là điềm bất tường, và nó dự báo rằng, sang năm nuôi lợn sẽ không được thịnh vượng. Sau khi chọc dao vào cổ lợn, thì khi quăng dao xuống đất, mũi dao không được hướng về phía cửa chính của người chủ, nếu không, nhà ấy tất sẽ gặp phải chuyện không lành. Khi rạch mổ bụng, không được treo lợn nhằm thẳng về nơi có đặt thần vị, nhằm tránh đắc tội với thần. Sau khi giết lợn xong thì đầu tiên là phải cắt một miếng thịt vuông vức nặng khoảng một hai cân để hiến cho “đại thần nuôi dưỡng”, sau đó con người mới được ăn, nếu không, vào năm sau, gia chủ cho dù có nuôi lợn đi nữa thì cũng không được thuận lợi.

Thợ làm đá làm nhiều đến thế nào cũng không bằng mài nước. Ngày xưa, trong phòng mài nước có thờ Lão quân, thần Sông và Thần tài, vào ngày mùng hai, mùng ba tháng giêng đều phải đốt đèn, thắp hương, cúng tế, cầu xin thần linh bảo vệ sự bình yên. Bởi vì, con vật được Lão quân cưỡi là con trâu xanh, vì vậy, khi người thợ làm đá đục đẽo mài nước, những người bình thường không được cầm roi đánh ngựa đứng một bên mà nhìn, nếu không, sẽ làm cho con trâu mà Lão quân cưỡi bị giật mình, việc mài nước sẽ không thể nào hoàn thành được. Thợ làm đá khi khoan lỗ thì kỵ đánh búa hụt. Khi đục đá, thì bất kỳ là ai cũng không được mở miệng nói một lời nào, vì cho rằng, mở miệng nói chuyện thì dễ khiến thợ làm đá bị thương, tục quy định rằng, ai nói chuyện mà xảy ra sự cố thì tự mình chịu. Có nơi thì không cho phép nói lớn tiếng. Có nơi còn quy định không cho phụ nữ đi vào trong hang đá và vào miệng hang đá, tục cho rằng, người nữ bước vào thì Sơn thần sẽ nổi giận. Nhiều nơi còn cấm kỵ không được úp chén, tục cho đó là điềm động đá, có nơi sắp sụp. Sau khi thợ làm đá khắc xong bia đá cho người ta, vào buổi sáng ngày dựng bia thì không được nói những lời bất cát bất lợi; vào thời khắc dựng bia cho ổn định thì càng kỵ những người ăn nói bậy bạ. Ngoài ra, theo sự khác biệt của phương ngữ từng nơi mà cũng có những tập tục quy định khác nhau. Vùng Thanh Điền Triết Giang thì kỵ nói chữ “động” (hang), khi vào trong động khoáng vật thì gọi là “tiến tài” (vào tiền), kỵ nói “về nhà”, mà tục phải gọi là “dời hài cỏ?; kỵ nói “rửa” ( 洗 ), vì nó hài âm với “chết” ( 死 ), vì thế mà đến cả nồi, chén, những người thợ làm đá cũng không rửa, mà chỉ dùng vải để lau sạch.

Thời xưa, việc may áo được xem là chuyện của thần thánh, người ta đã có quan niệm “may áo cầu lành”. Thời xưa, người ta đã có những quy định rõ ràng vào ngày nào không được may áo. Theo những ghi chép của Đôn Hoàng văn hiến: Ngày Thân trong ba tháng mùa xuân không được may áo, may áo vào ngày Dậu trong ba tháng mùa hạ thì sẽ không tốt, đại kỵ may áo vào mùa thu, phàm là vào những ngày sáu, ngày mười sáu, ngày hai mươi tháng tám đều không được may áo. Đại kỵ may áo vào ngày mười tháng mười, nếu may áo vào ngày cuối tháng ba thì sẽ bị cọp vồ, là điều đại hung. Người xưa cho rằng không nên may áo vào ngày kỵ máu.

“Tại sao may áo vào ngày mười tháng mười là điều đại kỵ? Vì đây là ngày sinh nhật của hoàng đế đời Đường là Đường Văn Tông Lý Ngang, nếu động dao kéo may vá trong ngày này thì sẽ bị xem là cử chỉ bất trung, biểu thị cho hành động “?động đao” mưu phản, vì vậy mà người ta liệt việc may áo vào dạng bị cấm kỵ.

May áo có cấm kỵ, và vá áo cũng không ngoại lệ, cho đến nay, dân gian vẫn còn hưng thịnh tập tục “tháng giêng không đụng kim chỉ”. Ngạn ngữ có câu:

Mùng một không kỵ kim, quốc khố trong năm trống Mùng hai không kỵ kim, thiên hạ trăm họ nghèo Mùng ba không kỵ kim, góa lẻ càng thịnh dữ Mùng bốn không kỵ kim, trong triều sinh sự loạn Mùng năm không kỵ kim, mùng năm tháng năm sấm dậy vang.

Từ ngày mùng một đến ngày mười ba, đều có kiếp số phạm điều cấm kỵ. Tương truyền rằng, tập tục này bắt nguồn từ những năm cuối đời Bắc Tống, do Trương Thiên sư xướng lên nhằm giải cứu những cung nga suốt cả đời mình thêu thùa may vá.

Những kiểu loại của ngành thủ công nghiệp là rất nhiều, và các bộ phận của nó đều có những cấm kỵ riêng. Những cấm kỵ này kết hợp với nội dung và hình thức sản xuất của các ngành nghề khác nhau làm một, cùng cấu thành đặc trưng cho nghề nghiệp. Vỉ thế, người trong nghề hoàn toàn không cho rằng cấm kỵ là điều mê tín, mà xem đó là những phép tắc cần phải tuân thủ nghiêm túc.

NHỮNG CẤM KỴ TRONG NGHỀ HÝ KỊCH, GIẢI TRÍ Nghề hý kịch là một nghề mua vui cho người khác, vào thời xưa, những người theo nghề này thường có thân phận thấp kém, nhằm để sinh tồn và phát triển, những tín ngưỡng thần linh và những cấm kỵ trở nên hết sức nghiêm ngặt và có nhiều khác biệt nhau.

Khi một lầu kịch, một sân khấu kịch, một hội quán, một miếu hậu mới được xây lên, thì vở diễn trên sân khấu diễn xuất đầu tiên đều phải cử hành nghi lễ cúng tế “phá sân khấu”. Nếu như khi diễn kịch mà xảy ra những sự cố lớn nào đó, gây chết người, thì cũng phải phá sân khấu. Người trong nghề hý kịch gọi sân khấu quay về hướng Nam, sân khấu quay về hướng Đông là “Dương đài”, sân khấu quay về hướng Bắc là “Âm đài”, quay về hướng Tây thì gọi là “Bạch Hổ đài”, tục nói rằng: “Nếu muốn phát tài lớn, thì cấm kỵ nhất là Bạch Hổ đài”. Vì vậy, phàm là “Bạch Hổ đài” quay về hướng Tây thì cũng phải “phá đài”, sau đó mới được diễn xuất. Nếu không, tục cho rằng, trong ê-kíp kịch sẽ xảy ra tranh cãi, đánh nhau; hoặc diễn xuất không tốt, diễn võ kịch thì bị thương; thậm chí là không diễn được, sau này sẽ không có ai đến mời đoàn kịch ấy diễn cả.

Ở mỗi trường hợp khác nhau thì hình thức phá đài thường cũng khác nhau. Có trường hợp thì khá đơn giản, chỉ cần treo một chòm râu đỏ lên tường vách phía sau sân khấu, ý cho rằng đó chính là phán quan, sẽ khu tà trừ tai. Thông thương thì vào đêm tối, để một diễn viên có võ diễn vai linh quan, trên sàng diễn, anh ta sẽ truy đuổi con ma nữ do một vai đán thủ diễn, và đuổi ma nữ này đi. Giết một con gà trống, lấy máu gà vảy ra bốn bên sân khấu. Sau đó thì đốt pháo, đánh chiêng đánh trống một hồi, như thế thì được xem là đã phá được đài rồi. Trước khi phá đài thì cấm kỵ đốt đèn phía trước sân khấu, ngay cả đèn dầu được đốt ở đằng sau sân khấu để giúp hóa trang, thì sau khi hóa trang xong cũng phải thổi tắt. Khi “phá đài” thì kỵ để người ngoài nhìn trộm, kỵ nói chuyện. Diễn viên ngậm một cái túi cát màu đỏ chu trong miệng, cho rằng như thế thì có thể tránh tà, tránh được ma quỷ lên người mình.

Việc nhận đồ đệ trong ban kịch phải tuân theo những quy củ rất nghiêm ngặt, thường là khi đoàn kịch dạy nghề thì cấm người khác nhìn trộm. Nghệ nhân cũng không được đùn đẩy trách nhiệm khi lên sân khấu, không được xin nghỉ không ra sân khấu diễn. Cấm kỵ phân nhóm, kết bè phái trong ban kịch. Khi diễn xuất, diễn viên không được nhầm. Khi diễn thì cấm không được đùa giỡn, không được biếng nhác, không được sơ suất, không được làm tổn thương người khác trên sàn diễn, không được cười. Không được “sưu đài”, “tao đài” (tức là cấm không được nhìn ngắm phụ nữ khi đang ở trên sàn diễn). Khi diễn kịch thì cấm kỵ để người học nghề ăn mặc không chuẩn xác, tục có câu: “thà là mặc áo rách, chứ không mặc áo sai”. Ngoài ra, trên phương diện kỹ xảo diễn xướng và đóng vai thì cũng còn có nhiều cấm kỵ khác, đều thuộc về mặt kỹ thuật nghề nghiệp, ví dụ như “khi tịnh đi thì không được thêm mảnh vải màu, khi thiếp đi thì không được để lưng trần, khi sinh đi thì kỵ để rơi râu mồm” (tịnh, thiếp, sinh… đều là những loại vai trong hý kịch cổ điển , người ta thường cho rằng, trong kịch có đến năm loại vai diễn: sinh, đán, tịnh, mạt, sửu, năm vai này điển hình cho năm tính cách khác nhau – TDK). “Kỵ đảo âm hòa vận, kỵ nhả chữ không thật, kỵ lạc giọng do sợ sệt, kỵ phách nhịp không tròn”

Ở hậu trường, ở phía sau sân khấu thì cũng có nhiều quy ước. Ở phía sau sân khấu thì cấm không được đi lại lung tung, nằm ngồi ngổn ngang, tay chân thái mái, tất cả những khám thờ tổ sư, bàn hương, đạo cụ đều không được làm hư hoại; những rương áo, rương mũ đều được phân loại, không được ngồi tùy tiện. Chỉ có vai sửu (còn gọi là tiểu hoa kiểm) thì có thể ngồi tự do, nhưng cũng bị cấm kỵ không được ngồi lên giữa hai cái rương. Bình thường, mặt nạ được dùng vải lụa phủ lên, không để diễn viên nhìn thấy. Cấm kỵ soi gương khi mang mặt nạ. Diễn viên không được phép ngồi ở cửa miệng Cửu Long, cấm không được gõ bừa vào các khí cụ có tiếng vang như trống đánh, trống nhỏ. Kỵ nói đến những từ không tốt như tản ( 傘 : ô dù), canh ( 更 : canh giờ), mộng ( 夢 : chiêm bao), ở phía sau sân khấu, không được giương ô dù, không được đánh cờ, không được đan tay vào nhau hay ôm đầu gối. Vào ban đêm, kỵ có đi ra mà không quay về. Cấm không được đi ngủ nếu chưa cởi bỏ đồ diễn. Cấm đi tiệm vào ban đêm. Khi đi ngủ, kỵ để mũi giày hướng ra bên ngoài, nếu không, sẽ bị chủ đoàn kịch cho nghỉ làm việc. Trong cuộc sống thường nhật thì cấm không được nuôi bồ câu, nuôi mèo. “Bồ câu” ( 鴿 ge) đồng âm với chữ “gác” ( 擱 gé), e rằng sẽ gây bất lợi cho nghề diễn kịch. Mèo thì ăn thịt chuột, e sẽ gây bất lợi cho chuột. Cấm kỵ gáy nhại theo tiếng gà trống, vì sợ rằng sẽ làm hỏng giọng. Khi ăn cơm, bạn diễn ngồi chung một bàn, không được tự tiện chen vào. Chỉ có vai sửu thì có thể chen vào bàn để ăn. Ăn cơm thì kỵ ăn bánh không nhân, vì cho rằng, nó không có lợi cho đoàn kịch.

Khi diễn tại nhà thì cần chú ý đến những cấm kỵ trong nhà người chủ. Người quản sự sẽ thăm hỏi xem chủ nhà là một nhân vật như thế nào, cấm kỵ những thứ gì, ví dụ như khi vào vương phủ để diễn thì không được mặc đồ màu xanh, vì màu xanh là màu áo của quan lại trong triều đnh. Tên họ, tiểu danh, trác hiệu và cả những chữ mà ông ấy không thích thì cũng không được nói. Gặp khi người ta làm lễ mừng thọ, thì những chữ bất cát bất lợi như “giết”, “chết”, “róc” thì càng phải kiêng tránh. Khi diễn đến đoạn văn xướng mà có những chữ này thì có thể bỏ (hoặc đổi), nếu quả thực tránh không được nữa thì phải cắt bỏ cả một đoạn ấy.

Diễn kịch cũng phải hạn định trong một khoảng thời gian và ở một nơi nhất định. Ở Hà , người ta kỵ diễn vào ngày hắc đạo, mà phải vào ngày hoàng đạo. Ở một số nơi khác còn quy định không được diễn vào tháng nào đó, hoặc vào tháng hai, tháng tám, hoặc vào tháng ba, tháng bảy. Nghe người ta bảo rằng, vào thời gian ấy mà động đến những đồ phát ra tiếng kêu (tức minh khí) thì sẽ mạo phạm đến thiên thần, sẽ gặp phải hung họa, như mưa đá chẳng hạn.

Có một số vai trong kịch bản, theo truyền thuyết thì chính là một người ở nơi nào đó, vì vậy mà, nếu diễn vai ấy ở ngay trên vùng đất ấy thì cần phải chú ý, không được diễn những hý khúc làm thương hại đến tình cảm quần chúng nhân dân. Như trong “Thanh bái loại sao” có nói, vùng Tây Bắc huyện Dương Cốc, Duẫn Châu có mộ, tục gọi là mả cửa tây, theo truyền thuyết thì đó chính là nơi chôn cất của Tây Môn Khánh. Ở vùng này, người ta đều có tục cấm diễn vở “Thủy Hử truyện”; ở nơi nào đó thuộc Đơn Giang Hồ Bắc, truyền thuyết cho đó là quê hương của Trần Thế Mỹ, vì vậy mà ở đây, người ta cấm không được diễn vở “Trác Mỹ án”; ngoài ra, có nơi được xem là quê hương của Quan công thì cấm diễn “Tẩu Mạch thành”; ở Nam Kinh thì cấm diễn vở “Thủ Kim Lăng”…, đều thuộc vào dạng cấm kỵ này. Khi đi diễn, thì không được diễn “Ngũ Lôi trận”, vì cho rằng, Tôn Tẫn là tổ sư của nghề giày dép, nếu trong vở diễn mà có tình tiết Tôn Tẫn bị vây khốn trong Ngũ Lôi trận thì tất sẽ làm thương tổn đến tình cảm của những người theo nghề làm giày dép.

Thời xưa, nghề diễn kịch bị xem là nghề hạ tiện, vì chuyên môn chiều theo thú vui của con người ta. Đời Nguyên, Minh, Thanh, những nghệ nhân này bị cấm không được ứng thí trong chế độ khoa cử.