Phong Thủy Việt: Phát Tấu Nghi

--- Bài mới hơn ---

  • 5 Loại Trái Cây Cúng Khai Trương Trên Mâm Ngũ Quả Có Ý Nghĩa May Mắn
  • Chuẩn Bị Mâm Ngũ Quả Cúng Rằm Trung Thu Đẹp Và Đầy Đủ Nhất
  • Ý Nghĩa Mâm Ngũ Quả Trên Mâm Cúng Mụ
  • Chuẩn Bị Mâm Cỗ Cúng Rằm Tháng Giêng Như Thế Nào?
  • Cúng Rằm Tháng 7 Năm 2022: Mâm Cỗ Cúng Cô Hồn Và Cúng Vu Lan Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Phát tấu nghi

    (cử tám)

    Pháp chủ: chiên đàn hải ngạn, nô nhiệt minh hương. Gia Đu tử mẫu, lưỡng vô lương, hỏa nội đắc thanh lương; chí tâm kim tương, nhất chú biến thập phương.

    Nam mô Hương – vân – Cái Bồ -tát ma ma ha tát (3 lần)

    (Thích ca tán rằng)

    Pháp – chủ tụng: Chí tâm tán lễ, Thích – Ca Mâu -Ni Phật, vi tam giới sư, tứ sinh phụ, Ngọc hào nghi tế hiện; kim khẩu diệu pháp, Nhuận quần sinh, như hủ mộc chiêm cam lộ. Bát thập chưởng tùy hình, tam thập nhị tướng cụ. Đại từ đại bi năng cứu khổ. Ngà kim khể thủ lễ. Duy nguyện thùy gia hộ. Đương lai thế, xả Diêm – phù, sinh tịnh-độ; Nguyện Tín – chủ, bảo bình an, tăng phúc tuệ.

    Tả đọc: Âm dương sứ giả tối anh linh,

    Mật triển uy quang ứng khẩn thành.

    Hữu đọc: Tề trì công văn như điện xiết,

    Phi đằng tấu sự nhược phong hành,

    Kình quyền tuân phụng Như-lai sắc

    Thủ phủng căng lân Tín- chủ tình,

    Nghinh thỉnh chư thánh lai giáng phó,

    Xuyền kỳ Tín- chủ bảo an ninh

    Tiếp dẫn vong linh sinh Tịnh – độ,

    Lĩnh chiêm công đức xuất u minh

    Nam mô Việt Nam giới Bồ- tát ma ha tát (3 lần)

    Pháp chủ: cung văn: Phật công đức sơn, duy cao duy tủng pháp trí tuệ hải tối quảng tối thâm. Hà sa vô dĩ tỷ kỳ đa; kiếp thạch nan dỹ tận (Pháp chủ thỉnh đến đây)

    Phù dĩ: Pháp duyên quang khải, thành ý tinh kiền, dục nghinh Hiền thánh dĩ lai lâm, tu dương tứ phương nhi thanh tịnh. Tiên bằng pháp thủy, quán sái đạo tràng, nhất chính tài chiêm, thập phương ca khiết, ngã Phật giáo tạng trung, hữu sái tinh đà na ly, cẩn đương trì tụng.

    (Niệm đại bi thần chú và sái tịnh cử tám)

    Dương chi tịnh thủy, biến sái tam thiên; tính không bát đức, lợi nhân thiên; pháp giới quảng tăng duyên, diệt tội tiêu khiên, hỏa diệm hóa hồng liên.

    mô Thanh lương địa Bồ tát, ma ha tát.

    Bên hữu: Thiết dĩ kim lô ái đãi, ngọc triện phiêu giao : Đạm hà bá mãn càn khôn; thanh toàn thân thế giới. Quần sinh văn thử, khoát nhiên tâm địa khai minh chư thánh huân chi, trực hạ tính thiên lăng triệu. Phù hương giải do lai tự đắc, bất lương ná cá tài thành; chỉ tại cừ sinh; khởi đắc giá nhân chủng tựu. Phần thời, vô tỵ khổng; biến xứ, hữu đần quan. Danh khoa đệ nhất chiên đàn; hiệu viết vô song lan sạ. Như lai giáo hữu, đại tín nhiên hương châm ngôn cẩn đương trì tụng.

    Tả đọc: Giới hương định hương dữ tuệ hương

    Giải thoát giải tri kiến hương

    Hữu đọc: Quang minh vân đài biến pháp giới

    Cúng dàng thập phương chư thánh chúng

    mô hương vân cái bồ tát ma ha tát.

    Pháp chủ: Thiết dĩ: Tam thiên thế giới chân diệu thể năng thông: tứ đại bộ châu, phiến niệm tinh thành khả dạt. Thủy trung phi dị, kim cổ hà thù. Thần công oát vận diệu vô phương Thánh lực viên dung na gián cách. Tùy duyên ứng hóa thăng thiên nhập địa tự sát na phó cảnh uy linh, cứu tử độ sinh như khoảnh khắc kim tắc phả quảng hội khái, bất nhị môn khai Trần Hiền, mật chi khoa nghi; khiến minh dương chi pháp tịch. Dục nghinh hiền thánh, tu tạ thần công. Giáo hữu phụng thỉnh chân ngôn, cẩn đương trì tụng.

    Tả hai câu: Dĩ thử chân ngôn thân triệu thỉnh

    Trực phù sứ giả nguyện văn chi

    Hữu hai câu: Trượng thừa Tam bảo lực gia trì

    Thử nhật kim thi lâm pháp hội,

    Pháp chủ: nam mô, Bộ bộ đế lị già lị đá lị đát đá nga đá da (3 lần)

    Pháp chủ: Thượng lại triệu thỉnh chân, ngôn tuyên dương dĩ kính, Tín chủ kiển thành thượng hương bái thỉnh.

    (Tín chủ dâng hương khấn, cử tám )

    Giới đỉnh chân hương phần khởi xung thiên thượng. Tín chủ kiền thành nhiệt tại kim lô phóng. Khoảnh khắc nhân huân tức biến mã thập phương thích nhật Gia-Du miễn nạn tiêu tai chướng, nam mô hương cúng dàng Bồ tát ma ha tát Hương hoa thỉnh.

    Pháp chủ:

    Nhất tâm phụng thỉnh, nội hoài thực tướng, ngoại hiển uy linh. Hộ chính pháp ư sơn chung, sát phàm tình ư thế giới Linh sơn hội thượng, thỉnh Phật yết đế thần vương, Phật quốc môn hạ tấu sự tất tiệp công tào. Kim chi na-cha sứ giả, kinh ngưỡng phi thiên phù quang. Nhất thiết buộc thuộc thánh chúng nhiêm hộ trai đàn. Duy nguyện thượng tuân, Như lai giáo sắc, hạ mẫn tín chủ khẩn tình lai tự phong, khứ như xiết điện. Hương hoa thỉnh.

    Tả thỉnh: Nhất tâm phụng, phi đằng kim quyết, lai võng ngân hà. Quyền hành chỉ xích, nhi thượng đế bạc phong; ứng niệm khẩn tình nhi vạn dân hàm nại. Thiên kinh môn hạ, tấu sự niên trị công tào, Bảo-lệ Hoa quang sứ giả kính ngưỡng Tứ thiên phù quan. Nhất thiết bộ thuộc thánh chúng nghiêm hộ trai đàn. Duy nguyện: Thượng tuân Nhu lai giáo sắc hạ mẫn tín chủ khẩn tình. Lai tự phi phong, khú nhu xiết điện, (hoa) Hương hoa thỉnh.

    Hữu đọc: Nhất tâm phụng thỉnh Uy phong lẫm liệt; khí nhuệ hiên ngang, phụng từ tình đạt, Địa phủ Xâ la; Ban phù mạnh tiến, Thái sơn ngự án. Địa phủ môn hạ, tấu sự nguyệt trị công tào Quan Thái sơn ngự án. Địa phủ môn hạ, tấu sự nguyệt trị công tào Quan sơn la sát xứ giả, kính ngưỡng địa hành phù quan. Nhất thiết bộ thuộc thánh chúng, nghiêm bộ đàn tràng Duy Nguyên, thượng tuân;

    Như-lai giáo sắc, hạ mẫn tín chủ khẩn tình. Lai tự phi phóng khứ như xiết điện. Hương hoa thỉnh.

    Tả đọc: Nhất tâm phụng thỉnh. Khứ lai thủy phủ nôi; xuất nhập tại ba tâm Tam sơn lãng uyển dĩ yêu chiều; cửu quyết tinh cung nhi vi nhiễu. Thủy phủ môn hạ, tấu sự nhật trị Công Tào. Phiêu lưu mạnh liệt sứ giả, kính ngưỡng không hành phu quan. Nhất thiết bộ thuộc thánh chúng. Duy nguyện, thượng tuân: Nhu lai giáo sắc hạ mẫn tín chủ khẩn tình. Lai tụ phi phong khứ như xuất diện. Hương hoa thỉnh.

    Hữu đọc: Nhất tâm phụng thỉnh. Chu toàn Ngũ nhạc, biên lịch chư tỵ. Thành duy vạn vật chi cơ; thiện sát, nhất thời chi sự. nhạc phủ môn hạ, tấu sự thời trị Công tào, ân cần từ hạ sứ giả kính ngưỡng Thổ địa phù quang, nhất thiết bộ thuộc thánh chúng. Duy nguyện thượng tuân:

    Như lai giáo sắc, hạ mẫn TÍn chủ khẩn tình. Lai tự phi phong. Khư như xuất điện, hương hoa thỉnh.

    Ngũ vị sứ giả giáng đạo tràng

    Thụ thủ hương hoa phả cúng dàng;

    Bất xả uy quang tát chứng minh

    Bất xả uy quang tát chứng minh

    Nam mô Vân lai tập bồ tát ma ha tát (3 lần)

    Pháp chủ: Phục vọng, loan dư vân tập; Phượng giá phong biền, tinh nhân vị thứ dĩ an nhiên đăng sán phô bài nhi gián liệt, Nguyện gián đan thành chi khẩn, thiểu thân bạc cúng chi nghi. Giáo hữu cúng dàng chân ngôn cẩn đương trì tụng.

    (niệm chú thiên thực ba biến)

    Nam mô, tát phạ đát tha, nga đá phạ rô chỉ đế án tam bạt la, tam bạt la hồng.

    Nam mô tô rô bà da, đát tha nga đá giá, đát điệt tha, án tô rô tô rô bát la tô rô, bát la tô rô sa bà ha.

    Nam mô Phả cúng dàng Bồ tát ma ha tát (3 lần)

    Pháp chủ: Khâm duy; Sứ giả, chức tam tỵ tới, công nghệ tứ châu. THỊ phất tiến, thính phất văn, dương dương ứng hòa, dảo tất thông, cầu tất ứng trạc từ hiền triết. Tấu truyền trượng bỉ thần công, thân thỉnh nại từ hiền triết. Thắng kỳ hạ giá, giám nạp trung thành Phàm hữu dĩ cáo trần, vọng uy quang nghi thính cảnh, cụ hữu quan văn, cẩn đương tuyên đọc.

    (Đọc quan điệp bạch rằng)

    Pháp chủ bạch:Tư giả cảm phiền ngũ vị sứ giả; tê chấp tinh văn. Cung thỉnh chư Phật, Bồ tát, tam giới thánh hiền, mẫn niệm thử trai nhân, phả thân vị đầu tiến.

    Pháp chủ bạch: Thương lai, công văn dĩ lị, tuyên đọc vân chu, lượng mộc…

    Thánh từ, khất thùy nạp thụ. Kim hữu công văn dụng bằng hỏa hóa, ngưỡng lao đại chúng, phúng tụng chân thuyên. Hồi hương chân thực tế, thnanhf tựu Phật quả Bồ đề.

    (Niệm tâm kinh hỏa điệp xong tán Kinh Tâm-kinh)

    Bát nhã tâm kinh, Quán Tự tại, cố tâm vô quản ngại, việt siêu khổ hải. Đại minh thần chú, diệt trừ tai, ngũ uẩn không, pháp thể chu sa giới, (cử tán)

    Pháp-chủ bạch: Thánh từ quảng-đại cảm ứng vô sai, tịch quang tam muội biến hà sa, nguyên bất ly già ra, phúc đẳng trai gia, kim địa dũng liên hoa

    Nam mô tăng phúc tuệ Bồ tát ma ha tát.

    Pháp chủ bạch: Thượng lai tu thiết ngỗ pháp đàn, Pháp tấu biểu quan công đức, vô hạn thù thắng lượng nhân. Khể thủ hòa nam Tam-tôn thánh-chúng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bạn Đã Biết Về Một Khẩu Phần Ăn “như Thế Nào” Là Hợp Lý Hay Chưa?
  • Lễ Mở Phủ Trình Đồng (Bắc Ghế Hầu Thánh)
  • Bộ Ngũ Sự Bằng Đồng Gồm Những Gì?
  • Mâm Cỗ Trung Thu Truyền Thống Gồm Những Gì?
  • Nên Đặt Bát Hương Trước Hay Sau Mâm Ngũ Quả
  • Cách Làm Thang Trong Đàn Phát Tấu

    --- Bài mới hơn ---

  • Lễ Phổ Độ Tổ Tiên Bách Nhật Phủ
  • Ngày Đại Lễ Phật Đản 2022 Tại Việt Nam Là Ngày Nào?
  • Cách Trưng Bày Mâm Đồ Cúng Chuyển Văn Phòng Mới Đúng Nghi Lễ
  • Chuẩn Bị Mâm Cúng Chuyển Văn Phòng Mới Cần Những Lễ Vật Gì?
  • Mâm Cơm Cúng Rằm Tháng Giêng Đầy Đủ Và Trọn Vẹn Gồm Những Gì?
  • Cách làm Thang trong đàn Phát Tấu

    Bạch Đàn : 1 chỉ

    Quế nhục: 1 chỉ

    Xuyên Khung: 1 chỉ

    Mật ong: 3 muống cà phê.

    Đậu xanh: 100g (đãi vỏ)

    Đinh hương: 5 nụ.

    Sinh khương (gừng tươi) 5 lát.

    Cách chế biến:

    Mấy vị trên nấu kỹ, sau đó lấy nước cho đậu xanh vào nấu nhừ, trước lúc tắt bếp thì cho mật ong, và một thìa đường vào. Những vị trên chế vào 5 cái thố nhỏ có nắp đậy.

    Cái này gọi là thang. Thang dùng cúng trong đàn phát tấu, tức là cúng cho 5 ông sứ giả mang văn điệp đi thỉnh chư vị thánh thần xuống đàn làm việc. Ngày nay, việc làm thang hầu như không được làm nữa, người ta thay bằng cúng 5 ly nước trắng.

    Lễ cúng phát tấu.

    Sứ giả thuộc hàng thần tướng nên phải cúng đồ mặn. Người đời hiện nay chẳng hiểu nghi thức lễ nghĩa, làm cho no con mắt bày biện cỗ bàn rượu thịt rườm rà. Theo cổ, thì việc mời mọc này phải đi nhanh về chóng chứ không ngả cỗ ra đánh chén. Vì vậy mà phải làm cỗ đơn giản: chỉ gồm 5 nắm cơm, 5 quả trứng gà luộc, 5 nhúm muối gạo, 5 bầu nước và 5 ly rượu nhỏ là được.

    Sau đàn cúng còn có một khoa cúng nữa là Khoa Tạ Quá: Khoa này là mời chư vị Tiên phật thánh hồi cung, cũng là tạ lễ 5 ông sứ giả, lúc này thường cúng 1 cây vàng hoa ngũ sắc, 1 con gà trống luộc, 1 đĩa xôi to, 1 nậm rượu thơm, đây chính là phần cảm tạ cho 5 viên sứ giả này.

    Đồ mã cúng phát tấu:

    Quan trọng trong đồ cúng phát tấu là phải có cầu phát tấu làm bằng vải đỏ, dài chừng 5 thước + 5 bộ mũ áo ngựa + 10 bộ thập vật: Thanh sư, bạch tượng, long xa, kiệu phượng, tràng phan, bảo cái, … đây là những phương tiện để đón rước chư thánh.

    Lại có một mâm sứ giả (hay còn gọi là mâm phát tấu) là những vật dụng khi các sứ giả dừng ở trạm nào thì lấy dùng gồm: sách, bút, mực, xà bông, kem đánh răng, chỉ, kim, khăn mặt, thuốc lá, trà hương, chậu, diêm, … tùy từng nhà sắm theo điều kiện. Mâm phát tấu này sẽ được chia cho các thầy cúng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 9 Món Ăn Truyền Thống Phải Có Trong Mâm Cổ Chau Cúng Phật Ngày Rằm Tháng Giêng
  • Cách Chuẩn Bị Mâm Cỗ Cúng Phật Ngày Rằm Tháng Giêng
  • 9 Món Ăn Không Thể Thiếu Trong Mâm Cỗ Chay Truyền Thống Cúng Phật Ngày Rằm Tháng Giêng
  • Ý Nghĩa Mâm Ngũ Quả Trên Mâm Cúng Ở Việt Nam?
  • Mâm Cơm Cúng Ông Táo Gồm Những Gì Là Đầy Đủ ?
  • Đại Trai Đàn Siêu Độ Vong Hồn Nịch Tử Phát Tấu, Khai Phương, Phá Ngục, Giải Kết, Mông Sơn Thí Thực

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Cúng Chuyển Văn Phòng Mới
  • Bài Cúng Khấn Chuyển Văn Phòng Theo Văn Khấn Cổ Truyền Việt Nam
  • Quá Trình Cúng Dọn Về Văn Phòng Mới Thế Nào?
  • Xem Ngày Tốt Thỉnh Ông Địa Thần Tài Theo Tuổi 2022
  • Bật Mí Cách Thỉnh Ông Địa Thần Tài Về Nhà 2022
  • Ngày thứ nhất

    Buổi sáng:

    6h Cúng thụ phan

    ♦ Lễ: 1 cơi trầu rượu, 1 đĩa xôi, 1 lễ mặn to, 1 đĩa oản bột, 1 nải quả, 1 đĩa hoa

    ♦ Trồng cột phướn chuẩn bị cây cột để kéo phướn cao 15m có dây và ròng rọc sẵn, cúng xong là kéo lên được luôn.

    7h Cúng Thỉnh kinh (Cúng tại Chùa)

    ♦ Lễ: 20 đồng oản gạo, 20 đồng oản bột, 5 đĩa quả, 5 đĩa hoa, 3 cơi trầu rượu, 3 lễ mặn (Xôi, thịt, trầu, rượu) dâng các cửa Thánh

    ♦ Chuẩn bị Phật đình và mời các Già rải cầu, Phan, thỉnh Kinh về tại đàn.

    8h cúng cấp thủy

    ♦ Lễ: 1 cơi trầu rượu, 1 đĩa xôi, 1 lễ mặn to, 1 đĩa oản bột, 1 nải quả, 1 đĩa quả, 1 đĩa hoa.

    ♦ Cúng lấy nước ở hồ, chuẩn bị 1 chiếc chóe đựng nước và bày đàn nơi sạch sẽ để ngồi cúng.

    9h cúng đãng uế

    ♦ Lễ: 5 đồng oản gạo, 5 đồng oản bột, 1 đĩa quả, 1 đĩa hoa, 1 cơi trầu rượu.

    10h cúng Tổ

    ♦ Lễ: 1 cơi trầu rượu, 1 đĩa oản bột, 1 đĩa oản gạo, 1 đĩa xôi, 1 đĩa muối vừng, 1 đĩa đậu phụ mộc, 1 đĩa quả

    Nghỉ trưa

    Buổi chiều

    14h cúng Phát tấu

    ♦ Lễ: 1 mâm xôi, 1 lễ mặn to, 1 chai rượu, 1 cơi trầu cau chẻ 5 quả, 1 đĩa quả, 1 đĩa oản bột, 1 đĩa oản gạo, 5 bát cơm lồng (trứng, đũa bông ) 5 chiếc gương, 5 chiếc lược, 5 con dao, 5 cái kéo, 5 chiếc quạt giấy, 5 bao thuốc lá, 5 hộp chè, 5 gói thuốc lào, 5 chiếc bật lửa, 5 chiếc khăn mặt, 5 bánh xà phòng, 5 chiếc bút long 5 bánh mực tàu, 5 gói kẹo, 10 mét vải đỏ, 1 đĩa gừng lát mỏng có muối, 5 quyển sổ, 5 chiếc bát có nắp để đựng bát vị thang, 5 chiếc ô, 5 đôi dép, 1 chiếc khăn mặt sấp nước đặt vào chiếc đĩa.

    Bát vị thang

    ♦ 1 miếng Bạch đàn, 5 lá hoắc hương, 1 gam quế quan, 1 gam xuyên khung 1 chén, mật ong, 1 gói đỗ xanh đãi vỏ, 5 nụ đinh hương, 5 lát gừng tươi.

    ♦ Cách làm: Cho tất cả những vị thuốc vào sắc lấy nước, sau bỏ đỗ xanh vào đun nhừ mới cho mật ong và 1 thìa đường vào đun sôi múc vào 5 chiếc bát có nắp đậy kín dâng lên đàn phát tấu.

    16h cúng chiêu hồn trầm nịch

    ♦ Lễ: 2 cơi trầu rượu, 3 đĩa xôi, 2 lễ mặn, 3 đĩa oản bột, 2 đĩa hoa, 1 đĩa hoa trắng, 21m vải trắng, 1 con dao phay, 3 đôi nến cốc, 3 chiếc rọc chuối dài, 1 cành phan, kê bàn bày đàn 3 cấp, 6 chiếc cốc to đổ đầy gạo, 1 buộc tiền đinh, 1 buộc tiền vàng, 2 hộp vàng nghìn, 1 cỗ mũ ngựa (màu trắng).

    17h Cúng Tiếp Linh

    ♦ Lễ: 2 cơi trầu rượu, 2 đĩa xôi, 1 lễ mặn, đĩa oản bột, 2 đĩa hoa.

    18h Cúng Chúc Thực

    ♦ Lễ: 2 mâm cơm cúng, 2 cơi trầu têm, 2 khay nước trà cúng, 2 chai rượu

    Buổi tối

    19h Dâng Lục Cúng

    ♦ Lễ: 2 hộp chè búp, 2 phẩm oản bột, 4 cuộn băng dính nhỏ, 2 lọ hoa, 10 tờ giấy 5 màu.

    Nghỉ hết ngày

    Ngày thứ hai

    8h Cúng Phật

    ♦ Lễ: 20 phẩm oản gạo, 3 mâm xôi chè, hoa quả, oản bột, 1 (lễ mặn xôi thịt trầu rượu Trà thuốc dâng các ban thờ Thánh).

    Lục vị trà

    ♦ 5 gam cam thảo, 20 quả táo tầu, bạch đàn 1 miếng, 1 gói chè búp, 1 gam quế quan, 1 gam trầm hương.

    ♦ Cách làm: Cho tất cả vào sắc lấy nước rót vào chuyên chén dâng vào tuần cúng phật.

    10h Triệu Linh

    ♦ Lễ: 2 đĩa oản bột, 2 đĩa oản gạo, hương hoa.

    1h Cúng Chúc Thực

    ♦ Lễ: 2 mâm cơm cúng, 2 cơi trầu têm, 2 khay nước trà cúng, 2 cai rượu.

    Nghỉ trưa

    Buổi chiều

    14h Cúng Chúng Sinh

    ♦ Lễ: Chim, cá, trạch, cua, ốc, hến.vvv (đại loại là những thứ mà nó sắp bị con người sát hại về thả ra kéo dài sự sổng cho nó để mình cầu phúc)

    Lễ kỳ an

    ♦ Lễ: 1 đĩa xôi to, 1 lễ mặn to, 1 chai rượu, 1 cơi trầu cau chẻ, bát tô cháo, 1 đĩa nẻ, 1 đĩa gạo, 1 đĩa muối, hoa quả.

    16h Thỉnh Xá

    17h Phóng Xá

    ♦ Lễ: 1 đĩa xôi to, 1 lễ mặn to, 1 chai rượu, 1 cơi trầu cau chẻ, 1 đĩa quả, 1 đĩa oản bột, 1 đĩa oản gạo.

    Bày Đàn Ngũ Phương phá Ngục

    ♦ Chuẩn bị: 5 chiếc bàn và khăn trải, 5 đĩa oản bột 5 màu (Xanh, Đỏ, Trắng, Tím, Vàng mỗi đìa 5 phẩm) 5 lọ hoa( 5 màu ) 5 nải chuối, 10 đĩa quả, 5 đĩa hoa( 5 màu).

    18h cúng khai phương.

    ♦ Lễ: 5 đĩa oản gạo, 5 đĩa quả, 5 lễ mặn (Xôi, thịt, trầu, rượu ) 5 đĩa gạo loại to.

    19h Phá Ngục.

    ♦ Lễ: 1 cơi trầu rựơu, 1 đĩa xôi, 1 lễ mặn to, 1 đìa oản bột, 1 nải quả, 1 đĩa quả, 1 đĩa hoa.

    ♦ Con cháu chuẩn bị tiền lẻ khi chạy Đàn qua cửa nào thì rải tiền vào gạo ở cửa ấy.

    21h Huyết Hồ

    ♦ Lễ: 1 chiếc chảo gang, 1 chiếc bếp kiềng, 1 chai dầu ăn, 1 chiếc bủa 1 chiếc kìm, 1 chai siro hoặc coca cola, 1 dây xích.

    Nghỉ hết ngày

    Ngày hôm thứ 3

    Buổi sáng

    7h Sám Long Thần (Đức Ông)

    ♦ Lễ: 1 cơi trầu rượu, 1 đĩa xôi, 1 lễ mặn to, 1 đĩa oản bột, 1 nải quả, 1 đĩa quả, 1 đĩa hoa, 5 ngọn nến.

    8h Cúng Tử phủ – Sơn trang

    10h Cúng Chúc thực

    ♦ Lễ: 2 mâm cơm cúng, 2 cơi trầu têm, 2 khay nước trà cúng, 2 chai rượu.

    Nghỉ trưa

    Buổi chiều

    14h Cúng đàn tam phủ

    ♦ Lễ: 1 đĩa xôi to, 1 lễ mặn to, 1 chai rượu, 1 cơi trầu cau chẻ, 2 đĩa quả, 2 đĩa oản bột, 2 đĩa oản gạo, 1 lễ mặn nhỏ (xôi, thịt, trầu rượu) 3 quả trứng sống, 2m vải trắng, 2m vậi xanh, 2m vải vàng, 1 hình nhân nữ, 3 cỗ mũ bình thiên (xanh, trắng, vàng)

    Bày Đàn kết

    ♦ Chuẩn bị : 1 cuộn giấy, 1 hộp hồ, 10 tờ giấy ngũ sắc, 1 con dao, 1 chiếc kéo, 1 chậu thau nhôm, 1 cuộn chỉ trắng, 1 chiếc kim.

    15h Sao đàn hành khoa Giải kết

    ♦ Lễ: 1 cơi trầu rượu, 1 đĩa xôi, 1 lễ mặn to, 1 đĩa oản bột, 1 nải quả, 1 đĩa quả, 1 đĩa hoa, 1 bát cháo, 1 đĩa nẽ, 1 đãi gạo, 1 đĩa muối.

    Hợp đổng từ hổi linh an vị

    17h Bày đàn mông son thí thực

    ♦ Lễ: 1 mâm xôi, 1 xoong quân dụng cháo hoa, 1 lễ mặn to, 2 mâm to (nia) quần áo, giấy tiền, 1 chại rượu, 1 cơi trầu cau chẻ 5 quả, 2 hộp chè búp, 2 phẩm oản bột, 4 cuộn băng dính nhỏ, 2 lọ hoa, 10 tờ giấy 5 màu, Oản quả khoảng 5 lễ, 2 nia quả các loại, bánh đa, bánh mỳ, mía v.v.v, (Nên sắm càng nhiều thì càng tốt)

    Cúng khoa phóng đăng

    ♦ Lễ: 1 đĩa xôi to, 1 lễ mặn to, 1 chai rượu, 1 cơi trầu chẻ, 1 đĩa quả, 1 đĩa oản gạo. 50 chiếc bát nhựa gắn nến hoặc mua cổc nến nhỏ đặt vào, giấy 5 màu mỗi loại 3 tờ cắt thành cánh sen, 5 hộp hồ dán giấy

    18h Cúng Mông Sơn Thí Thực

    21h Cúng Thăng Bảo Đài

    ♦ Lễ: 1 đĩa xôi to, 1 lễ mặn to, 1 chai rượu, 1 cơi trầu cau chẻ, 1 đĩa quả, 1 đĩa oản bột, 1 đĩa oản gạo.

    Hoàn tất

    Mã chung các đàn

    Đàn thụ Phan

    ♦ 1 cỗ mũ, ngựa (Màu đỏ)

    Đàn cấp thủy

    ♦ 1 cồ mũ, ngựa (Màu trắng)

    Đàn Phát tấu

    ♦ 5 cỗ mũ sắc, 5 đôi hia, 5 con ngựa, 5 lá cờ, 5 chiếc roi, 5 chiếc lọng, 5 thanh kiếm, 1 mâm biểu.

    Đàn chiều hồn

    ♦ 1 cỗ mũ, ngựa (Màu trắng)

    Đàn tiếp Linh

    ♦ 1 cỗ mũ, ngựa (Màu đỏ)

    Đàn phóng sinh

    ♦ 1 cỗ mũ, ngựa (Màu trắng)

    Đàn phóng xá

    ♦ 1 cỗ mũ, ngựa (Màu trắng)

    Đàn ngũ phương phá Ngục

    ♦ Lễ: 5 cỗ mũ ngũ sắc, 5 đôi hia, 5 lá cờ, 5 chiếc roi, 5 thanh kiếm, 5 cửa Ngục có quân lính đầu trâu mặt ngựa cầm đao đứng gác.

    Đàn sám tạ long thần

    ♦ 1 cỗ mũ, ngựa (Màu đỏ)

    Đàn sám tạ long thần

    ♦ 1 cỗ mũ, ngựa (Màu đỏ)

    Đàn tam phủ

    ♦ 3 cỗ bình thiên (Xanh, trắng, vàng)

    Đàn phóng đăng

    ♦ 1 cỗ mũ, ngựa (trắng)

    Đàn Kỳ An.

    ♦ 1 cỗ mũ đương niên.

    ♦ 1 cỗ mũ Đương Cảnh (màu Tím).

    Đàn Thăng Bảo Đài

    ♦ 1 tòa cửu phẩm 9 tầng cao 3m

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phong Thủy Việt: Đồ Cúng Lễ Trong Khoa Phát Tấu
  • Lễ Nhập Trạch, Chọn Ngày, Bài Khấn Vào Nhà Mới Chung Cư
  • Tổng Hợp Bài Văn Khấn Cúng Nhập Trạch Nhà Mới, Chung Cư Chuẩn Nhất
  • Bài Cúng Nhập Trạch Nhà Chung Cư Mới Đầy Đủ Nhất
  • Văn Khấn, Lễ Vật Cúng Nhập Trạch Nhà Mới Thuê Chuẩn Nhất
  • Văn Khấn Tấu Sớ Ông Công Ông Táo Lên Trời

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Văn Khấn Ông Công Ông Táo Đầy Đủ Nhất
  • Bài Văn Khấn Ông Công Ông Táo
  • Bài Văn Khấn Ông Công Ông Táo Ngày 23 Tháng Chạp Hàng Năm
  • Bài Văn Khấn Cúng Ông Công Ông Táo Đúng Cách Cho Tết 2022
  • Bài Văn Khấn Cúng Ông Công, Ông Táo Chuẩn Nhất Bạn Nên Biết
  • Văn khấn tấu sớ ông công ông táo lên trời. Bài văn khấn cúng ông Công ông Táo ngày 23 tháng Chạp là một nghi lễ không thể thiếu trong ngày lễ tiễn ông Công ông Táo về trời. Văn…

    Văn khấn tấu sớ ông công ông táo lên trời. Bài văn khấn cúng ông Công ông Táo ngày 23 tháng Chạp là một nghi lễ không thể thiếu trong ngày lễ tiễn ông Công ông Táo về trời.

    Văn khấn tấu sớ ông công ông táo lên trời

    Theo tục lệ cổ truyền, người Việt tin rằng, hằng năm, cứ đến ngày 23 tháng Chạp, Táo Quân lại cưỡi cá chép bay về trời để trình báo mọi việc xảy ra trong gia đình với Ngọc Hoàng. Cho đến đêm Giao thừa Táo Quân mới trở lại trần gian để tiếp tục công việc coi sóc bếp lửa của mình.

    Văn khấn tấu sớ ông công ông táo lên trời

    Lễ cúng thường diễn ra trước 12h trưa ngày 23 tháng Chạp. Xin giới thiệu bài cúng khấn ông Công ông Táo phổ biến.

    Bài 1: Bài cúng khấn Tết ông Táo 23 tháng Chạp theo Văn khấn cổ truyền Việt Nam – (NXB Văn hóa Thông tin)

    (23 tháng Chạp)

    Nam mô a di đà Phật! Nam mô a di đà Phật! Nam mô a di đà Phật! Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương Con kính lạy Ngài đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân. Tín chủ (chúng) con là: …………… Ngụ tại:………… Hôm nay ngày 23 tháng Chạp tín chủ chúng con thành tâm sắp sửa hương hoa phẩm luật, xiêm hài áo mũ, kính dâng tôn thần. Thắp nén tâm hương tín chủ con thành tâm kính bái. Chúng con kính mời ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân hiển linh trước án hưởng thụ lễ vật.

    Cúi xin Tôn thần gia ân xá tội cho mọi lỗi lầm trong năm qua gia chủ chúng con sai phạm. Xin Tôn thần ban phước lộc, phù hộ toàn gia chúng con, trai gái, già trẻ sức khỏe dồi dào, an khang thịnh vượng, vạn sự tốt lành. Chúng con lễ bạn tâm thành, kính lễ cầu xin, mong Tôn thần phù hộ độ trì.

    Nam mô a di đà Phật! Nam mô a di đà Phật! Nam mô a di đà Phật!

    me Những đồ “vàng mã” sẽ được đốt đi sau lễ cúng ông Táo vào ngày 23 tháng Chạp cùng với bài vị cũ.

    Văn khấn tấu sớ ông công ông táo lên trời rất quan trọng trong lễ cúng

    Bài 2: Bài văn khấn theo Nguyễn Thị Nhi – Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam

    Hôm nay là ngày… tháng… năm. Tên tôi (hoặc con là)…, cùng toàn gia ở… Kính lạy đức “Đông Trù tư mệnh Táo phủ Thần Quân: (Có thể khấn thêm: Thổ địa Long Mạch Tôn Thần. Ngũ phương ngũ thổ Phúc Đức chính Thần) Hàng năm gặp tiết hết năm, tháng vừa cuối Chạp. Gia đình sửa lễ bạc dâng lên. Cảm tạ phúc dày nhờ Thần phù hộ. Kính mong thần tâu bẩm giúp cho: Bếp trong nếp sống rất hòa, ngoài mặt dám rằng cũng đẹp. Cảm thông xin tấu thực thà. Cầu mong giúp đỡ lợi lạc. Người người lo ấm, cả nhà thêm tiếng tốt lẫy lừng. Việc việc thành công, một cửa ngút khí lành man mác. Muôn trông ơn đức vô cùng.

    Cẩn cốc (vái 4 vái).

    Chú ý: Sau khi bày lễ, thắp hương và khấn xong, đợi hương tàn lại thắp thêm một tuần hương nữa lễ tạ rồi hóa vàng mã và thả cá chép ra ao, hồ, sông, suối… để cá trở ông Táo lên chầu trời.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Khấn Cúng Ông Công Ông Táo Chầu Trời 23/12 Âm Lịch Đúng Chuẩn
  • Bài Văn Khấn Ông Công, Ông Táo Chầu Trời
  • Loạt Văn Khấn Ông Công, Ông Táo 2022 Đúng Chuẩn Phong Tục Nhất
  • Văn Khấn Lễ Ông Công Ông Táo Chầu Trời (23/12 Âl)
  • Văn Khấn Ông Công Ông Táo Ban Thần Tài Chuẩn Nhất
  • Phong Thủy Việt: Đồ Cúng Lễ Trong Khoa Phát Tấu

    --- Bài mới hơn ---

  • Đại Trai Đàn Siêu Độ Vong Hồn Nịch Tử Phát Tấu, Khai Phương, Phá Ngục, Giải Kết, Mông Sơn Thí Thực
  • Bài Cúng Chuyển Văn Phòng Mới
  • Bài Cúng Khấn Chuyển Văn Phòng Theo Văn Khấn Cổ Truyền Việt Nam
  • Quá Trình Cúng Dọn Về Văn Phòng Mới Thế Nào?
  • Xem Ngày Tốt Thỉnh Ông Địa Thần Tài Theo Tuổi 2022
  • Cách làm Thang trong đàn Phát Tấu

    Bạch Đàn : 1 chỉ

    Quế Quan: 1 chỉ

    Xuyên Khung: 1 chỉ

    Mật ong: 3 muống cà phê.

    Đậu xanh: 100g (đãi vỏ)

    Đinh hương: 5 nụ.

    Sinh khương (gừng tươi) 5 lát.

    Cách chế biến: Mấy vị trên nấu kỹ, sau đó lấy nước cho đậu xanh vào nấu nhừ, trước lúc tắt bếp thì cho mật ong, và một thìa đường vào.

    những vị trên chế vào 5 cái thố nhỏ có nắp đậy.

    Cái này gọi là thang. Thang là cúng trong đàn phát tấu, tức là cúng cho 5 ông sứ giả mang văn điệp đi thỉnh chư vị thánh thần xuống đàn làm việc. Ngày nay, việc làm thang hầu như không được làm nữa, người ta cúng 5 ly nước trắng.

    Lễ cúng phát tấu.

    Sứ giả thuộc thàng thần tướng nên phải cúng đồ mặn. Người đời hiện nay làm cho no con mắt nên làm cỗ bàn rượu thịt rườm rà. Theo cổ, thì việc mời mọc này phải đi nhanh về chóng chứ không ngả cỗ ra đánh chén. Vì vậy là phải làm cỗ đơn giản: chỉ gồm 5 nắm cơm, 5 quả trứng gà luộc, 5 nhúm muối gạo, 5 bàu nước và 5 ly rượu nhỏ là được.

    Sau đàn cúng có một khoa cúng nữa là khoa tạ quá: Khoa này là mời chư vị phật thánh hồi cung, cũng là tạ lễ 5 ông sứ giả, lúc này thường cúng 1 cây vàng hoa ngũ sắc, 1 con gà trống luộc, 1 đĩa xôi to, 1 nậm rượu thơm, đây chính là phần cảm tạ cho 5 viên sứ giả này.

    Đồ mã cúng phát tấu:

    Quan trọng trong đồ cúng phát tấu là phải có cầu phát tấu làm bằng vải đỏ, dài chừng 5 thước.

    5 bộ mũ áo ngựa.

    khoảng 10 bộ thập vật: Thanh sư, bạch tượng, long xa, kiệu phượng, tràng phan, bảo cái, … đây là những phương tiện để đón rước chư thánh.

    Lại có một mâm sứ giả (hay còn gọi là mâm phát tấu) là nhưng vật dụng khi các sứ giả dừng ở trạm nào thì lấy dùng gồm: sách, bút, mực, xà bông, kem đánh răng, chỉ, kim, khăn mặt, thuốc lá, trà hương, chậu, diêm, … tùy từng nhà sắm theo điều kiện. Mâm phát tấu này sẽ được chia cho các thầy cúng.

    Đồ cúng lễ trong Khoa phát tấu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lễ Nhập Trạch, Chọn Ngày, Bài Khấn Vào Nhà Mới Chung Cư
  • Tổng Hợp Bài Văn Khấn Cúng Nhập Trạch Nhà Mới, Chung Cư Chuẩn Nhất
  • Bài Cúng Nhập Trạch Nhà Chung Cư Mới Đầy Đủ Nhất
  • Văn Khấn, Lễ Vật Cúng Nhập Trạch Nhà Mới Thuê Chuẩn Nhất
  • Cúng Nhập Trạch Đơn Giản Mang Đến May Mắn Thịnh Vượng
  • Nghi Lễ Cúng Rằm Tháng 7 Âm Lịch Và Lập Sớ Tấu Tại Gia

    --- Bài mới hơn ---

  • Mâm Cúng Lễ Về Nhà Mới Cần Những Gì
  • Cúng Về Nhà Mới Cần Những Gì
  • Lễ Về Nhà Mới Cần Những Gì? Thủ Tục Nhập Trạch Mang May Mắn
  • Tại Sao Phải Cúng Nhập Trạch? Chuẩn Bị Lễ Vật Cúng Nhập Trạch Nhà Mới
  • Bài Văn Khấn Và Lễ Vật Cúng Nhập Trạch Khi Chuyển Về Nhà Mới
  • Đây là khoa lễ tại gia gửi mã ngày rằm tháng 7, cầu thần tiên xá tội ban phúc cho nhân gian của đạo giáo thần tiên. Là đạo con cháu rồng tiên mà nguồn gốc thờ phụng tổ tiên, gia tiên.. của con người Việt Nam.

    Phong tục cúng lễ tổ tiên thường diễn ra vào những ngày giỗ, tết Nguyên Đán và nhất là ngày rằm tháng 7. Những người sống trên nhân gian thường tưởng nhớ những người đã chết như các cụ tổ tiên, bố mẹ, vợ hoặc chồng, những người thân, những người mất vì quê hương đất nước. Nhất là những gia đình có người thân mới chết là dịp cầu siêu gọi là lễ phổ độ xá tội chúng sinh. Nên làm lễ cầu nguyện tiên giới và gửi đồ mã như: Quần, áo, đồ dùng, tiền vàng. Mong cho những người quá cố được siêu thoát không phải khổ sở, đọa đày dưới địa ngục. Do có nhiều người khi sống trên nhân gian gây nhiều tội lỗi, khi chết xuống âm phủ phải chịu nhiều cực hình mà trước đây sống trên nhân gian đã gây nên đau khổ cho người khác. Nên mỗi một năm chỉ có ngày rằm tháng 7 là ngày thần tiên giáng hạ nhân gian xá tội cho tam giới. Mà chỉ có đạo Giáo thần tiên mới có ngày này. Tiên giới mở bốn cửa cứu độ chúng sinh. Những ngày này các đạo quán, các miếu, các cung, các điện, các nơi thờ Thành Hoàng, miếu thờ Thổ Địa đều mở cửa làm lễ, dâng sớ điệp tấu Thiên Địa cầu mong người thân dưới địa phủ nhận được lời thành khấn của mình.

    Bài Khấn Này Dành Cho Những Người Tu Tại Gia

    Bài khấn này dành cho những người tu tại gia thờ đạo Tổ Tiên, đạo gia tiên. Những người tu tại gia và nhiều gia đình nơi ở cách xa đền miếu, đình, quán thờ các vị Thần Tiên. Buổi sáng lễ khấn mời các vị thần tiên và buổi chiều hóa mã cho người âm. Ghi tên tuổi, địa chỉ, chỗ ở người sống cho rõ ràng và tấu địa chỉ của người chết nhận đồ mã cho rành mạch. Nếu bài này khấn tấu cẩn thận linh nghiêm, được thần tiên hạ giáng lập tức tai chướng chẳng xâm, chư thánh giữ cửa. Người chết dưới địa phủ được thăng thiên. Mộ phần kết phát, con người thanh tú, hạnh minh đa đinh đông người. Ngũ lộ thần tài chỉ lối. Văn Xương ban pháp học danh. Thần lên Thượng giới Triều Bái cao chân công đầy, đức thành. Tương cảm đế quân. Tụng Kinh linh ứng nâng mây tím mà lên trời. Thượng Sỹ ngộ rồi sẽ lên Thiên Cung. Trung Sỹ tu rồi sẽ thành Tiên ở Nam Cung. Hạ Sỹ học được sẽ sống lâu trên đời, du hành tam giới vào được Kim Môn.

    Nam Quốc….. ……………………………………….

    *Tỉnh….. …………………………………………….

    *Thị….. ………………………………………..

    *Địa danh.Phường,Xã,Thôn ………………………..

    *Đệ tử……………..Tên…………………

    Hôm nay ngày ……Tại ………

    Tấu thỉnh Thổ Công táo quân thiên đình, tam giới, thần thánh chư thiên. Thiên phủ, địa phủ, thủy phủ, nhạc phủ vạn pháp thần thông.

    Tấu thỉnh Thổ Địa thần kỳ, Thành Hoàng xá lệnh

    Nay ngày rằm tháng 7 thiên địa mở ngục, đại xá và ban phúc cho mọi sinh linh trên cõi nhân gian.

    Nay con có đồ lễ gồm:….. thắp hương tấu thỉnh, mời các vị về hướng hiển, mở cửa âm dương, xá tội ban phúc, con xin tấu thỉnh

    Thượng Tấu Thổ Địa Phúc Đức Chính Thần

    Chí tâm quy mệnh lễ

    Nhất phương thổ cốc

    Vạn tính phúc thần

    Bỉnh trung chính liệt

    Trợ quốc vệ dân

    Ưng thừa giản mệnh

    Trấn nhất phương nhi lê thứ ngưỡng

    Ti chức công tào

    Chưởng truyền nhi đan thầm thượng đạt

    Nghị quán cửu thiên

    Thiện ác chiêu chương nhi hưởng ứng

    Linh thông tam giới

    Công quá củ sát dĩ phân minh

    Củng cố kim thang

    Điện an xã tắc

    Đại trung đại hiếu

    Chí hiển chí linh

    Hộ quốc hữu dân

    Đại hỉ đại xá

    Phúc đức chính thần

    Thái thượng gia phong

    Thổ cốc tôn thần

    Ngọc đế phụng

    Thiển đàn trấn cung

    Thổ địa minh vương

    Phúc đức chính thần

    Thượng Tấu Thành Hoàng Đại Vương

    Chí tâm quy mệnh lễ

    Xã tắc cổ công

    Thiên hạ chính thần

    Thuyên phúc quốc hiển trung chi hành

    Bẩm thưởng thiện phạt ác chi nhân

    Đô ấp chi thiển

    Chư quận thị tùng

    Sở lệ thập tam bố chính

    Án phán nhất thập bát ti

    Miếu xã vạn niên

    Ân phù ức kiếp

    Thiết tác phúc tác uy chi bính

    Tạo chú sinh chú tử chi quyền

    Vận thần lực dĩ hộ dĩnh xuyên

    Ngộ âm binh nhi khu di khấu

    Chí linh chí thánh

    Nãi chính nãi công

    Hộ quốc bảo trữ hữu thánh vương uy linh công cảm ứng tôn thần

    Thượng Tấu Táo Quân Thiên Đình

    Chí tâm quy mệnh lễ

    Vị ti hầu thiệt

    Kinh lý bào trù

    Lục nhân gian công quá chi nhân

    Y kỳ thượng tấu

    Thể thiên địa chi hóa

    Phục hữu hạ dân

    Khu bất chính chi quỷ thần

    Tảo trần trung chi tỳ lệ

    Nhất gia cát khánh

    Hợp trạch xương vinh

    Triêu tịch thừa khuông phù chi nhân

    Canh thân sát thị phi chi mục

    Ung ung thụy tướng

    Hách hách linh

    Đại bi đại nguyện

    Đại thánh đại từ

    Cửu thiên ti mệnh thái ất nguyên hoàng định phúc tấu thiện thiên tôn

    Thượng Tấu Hưng Đạo Đại Vương Trần Triều Thánh

    Chí tâm triều lễ

    Đông a thánh tướng

    Nam đảo tiên tung

    Phù quốc cứu dân

    Đẳng quân thân ư thiên địa

    Sừ gian thảo loạn

    Phấn uy vũ ư minh đô

    Nhất thân gia quốc lưỡng huyền

    Ân ưu khải thánh

    Vạn cổ đan thanh nhất phúc

    Trác quan tông thần

    Thịnh đức văn ư đại bang

    Thiên thư quả định

    Dư linh chấn hồ việt điện

    Quỷ túy tiềm hình

    Vũ tước gia phong

    Thiên cung thống nhiếp

    Hồ văn thân chi địa

    Lộc tịch thế chưởng

    Nhân hồ hóa dục chi phương

    Cửu thiên vũ đế

    Trần triều nhân vũ

    Hưng đạo đại vương

    Thượng thượng đẳng vạn thế phúc thần,

    Thượng Tấu Đương Sinh Bản Mệnh Tinh Quân

    Chí tâm quy mệnh lễ

    Tử vi viên nội

    Nam cực cung trung

    Mỗi tuế nhất lâm ư phàm thế

    Quát cù lao sinh ngã chi thần

    Lưu niên lục độ giáng nhân gian

    Chính cao thượng phú hình chi viết

    Tố nhân thân chi chủ tể

    Vi tạo hóa chi xu cơ

    Phán nhân gian thiện ác chi kỳ

    Ti âm phủ thị phi chi mục

    Ngũ hành cộng bẩm

    Thất chính đồng khoa

    Phàm hữu kì đảo

    Vô bất ứng nghiệm

    Đại bi đại nguyện

    Đại thánh đại từ

    Bắc đẩu thiên sinh cung đương sinh bản mệnh nguyên thần đại đạo tinh quân

    Thượng Tấu Báo Ân Tinh Quân

    Chí tâm quy mệnh lễ

    Huyền nguyên ứng hóa

    Vũ khúc phân chân

    Thùy niệm ngã đẳng sinh

    Hữu tương thoát sinh

    Phụ mẫu hoài thập nguyệt

    Nhũ bộ tam niên

    Tân khổ bách thiên

    Ân cần thốn niệm

    Liên ngã phụ mẫu

    Nhật tiệm suy hủ

    Ngã kim trì niệm bình đẳng

    Tất diệt ? Tuấn tham sân

    Kì ân báo bản

    Nguyện ngã hiện tại phụ mẫu

    Phúc thọ tăng diên

    Quá khứ tông tổ

    Tảo đắc siêu sinh

    Đại thánh đại từ

    Đại nhân đại hiếu

    Bát thập nhị hóa

    Báo ân giáo chủ

    Hữu thánh chân vũ

    Trị thế phúc thần

    Ngọc hư sư tương

    Huyền thiên thượng đế

    Kim khuyết hóa thân

    Chung kiếp tể khổ thiên tôn

    Thượng Tấu Ngọc Hoàng Xá Tội Thiên Tôn

    Chí tâm quy mệnh lễ

    Thái thượng di la vô thượng thiên

    Diệu hữu huyền chân cảnh

    Miểu miểu tử kim khuyết

    Thái vi ngọc thanh cung

    Vô cực vô thượng thánh

    Khuếch lạc khoát quang minh

    Tịch tịch hạo vô tông

    Huyền phạm tổng thập phương

    Trạm tịch chân thường đạo

    Khôi mạc đại thần thông

    Thái thượng khai thiên

    Chấp phù ngọc lịch

    Hàm chân thể đạo

    Hạo thiên kim khuyết

    Vô thượng chí tôn

    Tự nhiên diệu hữu

    Di la chí chân

    Cao thiên thượng thánh

    Đại từ nhân giả

    Ngọc hoàng đại thiên tôn

    Huyền khung cao Thượng Đế

    Thượng Tấu Trung Nguyên Địa Quan Đại Đế

    Chí tâm quy mệnh lễ

    Thanh linh đỗng dương

    Bắc đô cung trung

    Bộ tứ thập nhị tào

    Giai cửu thiên vạn chúng

    Chủ quản tam giới thập phương cửu địa

    Chưởng ác ngũ nhạc bát cực tứ duy

    Thổ nạp âm dương

    Hạch nam nữ thiện ác thanh hắc chi tịch

    Từ dục thiên địa

    Khảo chúng sinh lục tịch họa phúc chi danh

    Pháp nguyên hạo đại nhi năng ly cửu u

    Hạo kiếp thùy quang nhi năng tiêu vạn tội

    Quần sinh phụ mẫu

    Tồn một triêm ân

    Đại bi đại nguyện

    Đại thánh đại từ

    Trung nguyên thất xá tội địa quan

    Đỗng linh thanh hư đại đế thanh linh đế quân

    Thượng Tấu Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn

    Chí tâm quy mệnh lễ

    Thanh hoa trường lạc giới

    Đông cực diệu nghiêm cung

    Thất bảo phương khiên lâm

    Cửu sắc liên hoa tọa

    Vạn chân hoàn củng nội

    Bách ức thụy quang trung

    Ngọc thanh linh bảo tôn

    Ứng hóa huyền nguyên thủy

    Hạo kiếp thùy từ tể

    Đại thiên cam lộ môn

    Diệu đạo chân thân

    Tử kim thụy tướng

    Tùy cơ phó cảm

    Thệ nguyện vô biên

    Đại thánh đại từ

    Đại bi đại nguyện

    Thập phương hóa hiệu

    Phổ độ chúng sinh

    Ức ức kiếp trung

    Độ nhân vô lượng

    Tầm thanh phó cảm

    Thái ất cứu khổ thiên tôn thanh huyền cửu Thượng đế

    Thượng Tấu Đông Nhạc Đại Đế

    Chí tâm quy mệnh lễ

    Hách hách huyền anh chi tổ

    Kim sinh thiệu hải chi tông

    Di tiên mẫu mộng nhật quang sinh

    Tử phủ thánh nhân đông hoa đệ

    Tích kiến công ư trường bạch

    Thủy thụ phong ư hy hoàng

    Sơ hiệu thái hoa chân nhân

    Hán minh thái sơn nguyên súy

    Đường hội sùng ân thánh đế

    Thánh triều sắc tự thượng thiển

    Vị trấn khôn duy

    Công tham càn tạo

    Nhân dĩ đức nhân

    Hồi dương thủ ư chưởng thượng

    Thánh tâm ích thánh

    Lệ nhật nguyệt ư thiên trung

    Ngũ nhạc xưng tán ư đông phương

    Tam giới độc tôn ư trung giới

    Ngưỡng phụng hành ư đại đạo

    Phủ củ sát ư âm ti

    Chưởng nhân gian thiện ác chi quyền

    Tự thiên hạ tử sinh chi bính

    Trừng gian ác nhi ngục phân tam thập lục thự

    Chủ ti cát hung nhi án phán thất thập nhị tào

    Hành thiện giả chú sinh thiên đường

    Trầm mê giả tầm thanh cứu độ

    Thị từ tôn thùy từ chi tương

    Khai chúng sinh sinh hóa chi môn

    Phúc dữ thiên tề

    Công cao vô lượng

    Đại bi đại nguyện

    Đại thánh đại từ

    Trung giới chí tôn đông nhạc thánh đế

    Từ quang cứu khổ uy quyền tự tại thiên tôn

    Thượng Tấu Công Tào Vũ Lâm Sứ Giả Nhận Mã

    * Thượng quan trực sử công tào

    * Thái quan trực sử công tào

    * Tả quan trực sử công tào

    * Hữu quan trực sử công tào

    * Trung quan trực sử công tào

    * Đô quan trực sử công tào

    * Chính nhất trực sử công tào

    * Tả minh công tào

    * Hữu minh công tào

    Vô thượng huyền lão thái thanh thiên hoàng chân tiên.

    * Thượng quan thượng bộ công tào.

    * Tả quan thượng bộ công tào.

    * Hữu quan thượng bộ công tào.

    * Trung quan thượng bộ công tào.

    Thiên hoàng thái thượng thượng chân.

    * Thượng bộ công tào.

    * Đô bộ công tào.

    * Tả đô bộ công tào.

    * Hữu đô bộ công tào.

    * Chính nhất trung quan đô bộ công tào.

    * Đô quan tiền bộ công tào.

    * Đô quan hậu bộ công tào.

    * Thái quan thượng bộ công tào.

    * Thượng quan hạ bộ công tào.

    Thiên hoàng thái thượng thượng chân xúc công tào.

    * Xúc tả công tào.

    * Xúc hữu công tào.

    * Định công tào.

    * Tả định công tào.

    * Hữu định công tào.

    * Âm dương công tào.

    * Tả âm dương công tào.

    * Hữu âm dương công tào.

    Hữu cửu bộ các cửu thiên vạn nhân độ.

    Thiên hoàng chân tiên.

    * Thái quan tả sinh công tào.

    * Thái quan hữu sinh công tào.

    * Trung quan trung sinh công tào.

    * Thái quan trung sinh công tào.

    * Tả đô quan sinh công tào.

    * Hữu đô quan sinh công tào.

    * Trị bệnh công tào.

    * Tả hữu trị bệnh công tào.

    Thiên hoàng chân tiên.

    * Tả đại quan ngũ công tào.

    * Thái quan đô giam công tào.

    * Thái quan tả đô giam công tào.

    * Thái quan hữu đô giam công tào.

    * Hữu thái quan ngũ công tào.

    * Trung thái quan ngũ công tào.

    Thiên hoàng chí chân thần tiên.

    * Thái hòa tả quan sử giả.

    * Thái hòa hữu quan sử giả.

    * Hà hiền sử giả.

    * Hà hiền tả sử giả.

    * Hà hiền hữu sử giả.

    * Động đạt viễn sát sử giả.

    * Đỗng kiến viễn sát tả sử giả.

    * Động đạt viễn sát hữu sử giả.

    * Vô cực đỗng minh thượng quan sử giả.

    * Đô bộ công tào sử giả.

    Thiên hoàng chân hình chân phù thần tướng lại binh nhất bộ độ.

    * Thiên hoàng tất.

    * Địa hoàng chân tiên thái thượng thần minh vô cực đỗng minh sử giả.

    * Tả quan sử giả.

    * Hữu quan sử giả.

    * Thượng quan sử giả.

    * Thượng quan giam thần sử giả.

    * Thái quan giam thần sử giả.

    * Tả quan giam thần sử giả.

    * Hữu quan giam thần sử giả.

    * Đô quan sử giả.

    Địa hoàng chân tiên.

    * Thái thượng thần minh.

    * Thượng quan giam thủy sử giả.

    * Tả quan giam thủy sử giả.

    * Hữu quan giam thủy sử giả.

    * Trung quan giam thủy sử giả.

    * Chính nhất quan giam thủy sử giả.

    Địa hoàng chân tiên.

    * Thái thượng thần minh.

    * Thái quan giam binh sử giả.

    * Chân chính quan giam binh sử giả.

    * Chân chính tả quan giam binh sử giả.

    * Chân chính hữu quan giam binh sử giả.

    * Chân quan giam binh sử giả.

    * Chính nhất đô quan giam binh sử giả.

    Địa hoàng chân tiên.

    * Thái thượng thần minh.

    * Đông hải sử giả.

    * Nam hải sử giả.

    * Trung hải sử giả.

    * Tây hải sử giả.

    * Bắc hải sử giả.

    * Thủy quan sử giả.

    Địa hoàng chân tiên.

    * Thái thượng thần minh.

    * Thiển chính chân tam hà sử giả.

    * Cửu giang sử giả.

    * Thiển thất thập nhị danh sơn sử giả.

    * Thang cốc thần vương thiển bát cực sử giả.

    * Chính chân thần chủ sơn lâm mạnh trường thập nhị hoài tể sử giả.

    * Thiển thập nhị hà bình hầu sử giả.

    Tấu thỉnh Thổ Địa thần kỳ, Thành Hoàng xá lệnh Thổ Công táo quân thiên đình, tam giới, thần thánh chư thiên. Thiên phủ, địa phủ, thủy phủ, nhạc phủ vạn pháp thần thông.

    Nay đệ tử có Mẫu thân (Anh, Bác, Các cụ …).

    Mất ngày: chúng tôi táng tại ……

    Xin thần tiên cho phép con thỉnh mời cao tằng tổ khảo, cao tằng tổ tỷ, thúc bá, đệ huynh, cô, di, tỷ, muội tại gia cùng về tại nhà con được Thần tiên chứng giám.

    Đồ mã gửi gồm: …..

    (mã gồm đồ gì, gửi cho ai ghi tên người đó)

    *Nhật hòa nam cụ biểu……tái bái

    Thượng thân

    *Nhật cụ vị thần tính mỗ thượng biểu

    Đồ lễ thường có : một mâm lễ mặn gà xôi (chân giò lợn hoặc thịt luộc, giò lợn) cơm canh,trái quả, trầu cau tiền vàng rượu, nước lễ mời gia tiên. Và một mâm lễ mặn ở ngoài sân. Nhà chật thì bày lễ ở gian giữa nhà (như lễ gia tiên). Mời các vị thần tiên về chứng lễ và ghi tên vào sớ trung nguyên địa quan, có thiên tào địa phủ nhận đồ mã chuyển xuống âm phủ cho người âm. Đồ mã để đến chiều tối hóa là tốt nhất vì giờ này Vũ lâm sứ giả mới mở cửa kho khố cung thần nhập mã, và sẽ có các vị tào quan chuyển đến từng địa chỉ mà người trần gửi cho người âm . Lúc này người trần và người âm mọi việc đắc phúc sẽ có táo quân thiên đình ghi công đức vạn bội.

    (Trong Sách Đạo Tạng có ghi những ngày này người thờ tổ tiên, gia tiên (gọi là đạo gia). Chỉ làm lễ tổ tiên. Không cúng chúng sinh tùy tiện họa phúc không hay , vì những ngày này các đền, miếu, đình mới mở cửa cứu độ chúng sinh cả âm lẫn dương, vì mỗi ngày làm việc tại các đình có 18 vị thiên tướng phụ giúp thành hoàng ghi chép hàng ngày con người sinh ra và chết đi tại mỗi địa phương, tấu lên thiên tào và địa phủ. Xem xét tội nặng nhẹ và đưa những vong hồn xuống nơi quy định của diêm vương. Nên ở Việt Nam mỗi làng quê, địa phương, thành đô đều có đình hoặc miếu, đền quán là như vậy)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cúng Rằm Tháng 7 Như Thế Nào Để Có Được Lợi Ích?
  • Sắm Lễ Cúng Rằm Tháng Giêng Như Thế Nào Là Đúng Nhất?
  • Bài Cúng Rằm Tháng 7 (Lễ Vu Lan) Tại Nhà Chuẩn Nhất
  • Mâm Lễ Cúng Rằm Tháng 7
  • Mâm Lễ Cúng Ngày Rằm Tháng 7 Sắp Tới?
  • Đại Trai Đàn Siêu Độ Vong Hồn Nịch Tử Phát Tấu, Khai Phương, Phá Ngục, Giải Kết, Mông Sơn Thí Thực – Việt Lạc Số

    --- Bài mới hơn ---

  • Trái Cây Ngũ Quả Cúng Đầy Tháng Thôi Nôi Gồm Những Gì?
  • Chọn Hương Nhang Sạch Cúng Rằm Trung Thu
  • Văn Cúng Rằm Tháng 10 Ngày Nào ? Ý Nghĩa Rằm Tháng 10
  • Giờ Đẹp Cúng Rằm Tháng 10 Vào Giờ Nào, Cúng Rằm Tháng Giêng 2022 Giờ Nào Tốt Nhất
  • Những Ngày Lễ Trong Tháng 10 Âm Phải Biết Cúng Rằm Tháng 10 Âm Lịch
  • Ngày thứ nhất

    Buổi sáng:

      6h Cúng thụ phan

    ♦ Lễ: 1 cơi trầu rượu, 1 đĩa xôi, 1 lễ mặn to, 1 đĩa oản bột, 1 nải quả, 1 đĩa hoa

    ♦ Trồng cột phướn chuẩn bị cây cột để kéo phướn cao 15m có dây và ròng rọc sẵn, cúng xong là kéo lên được luôn.

      7h Cúng Thỉnh kinh (Cúng tại Chùa)

    ♦ Lễ: 20 đồng oản gạo, 20 đồng oản bột, 5 đĩa quả, 5 đĩa hoa, 3 cơi trầu rượu, 3 lễ mặn (Xôi, thịt, trầu, rượu) dâng các cửa Thánh

    ♦ Chuẩn bị Phật đình và mời các Già rải cầu, Phan, thỉnh Kinh về tại đàn.

      8h cúng cấp thủy

    ♦ Lễ: 1 cơi trầu rượu, 1 đĩa xôi, 1 lễ mặn to, 1 đĩa oản bột, 1 nải quả, 1 đĩa quả, 1 đĩa hoa.

    ♦ Cúng lấy nước ở hồ, chuẩn bị 1 chiếc chóe đựng nước và bày đàn nơi sạch sẽ để ngồi cúng.

      9h cúng đãng uế

    ♦ Lễ: 5 đồng oản gạo, 5 đồng oản bột, 1 đĩa quả, 1 đĩa hoa, 1 cơi trầu rượu.

      10h cúng Tổ

    ♦ Lễ: 1 cơi trầu rượu, 1 đĩa oản bột, 1 đĩa oản gạo, 1 đĩa xôi, 1 đĩa muối vừng, 1 đĩa đậu phụ mộc, 1 đĩa quả

    Nghỉ trưa

    Buổi chiều

      14h cúng Phát tấu

    ♦ Lễ: 1 mâm xôi, 1 lễ mặn to, 1 chai rượu, 1 cơi trầu cau chẻ 5 quả, 1 đĩa quả, 1 đĩa oản bột, 1 đĩa oản gạo, 5 bát cơm lồng (trứng, đũa bông ) 5 chiếc gương, 5 chiếc lược, 5 con dao, 5 cái kéo, 5 chiếc quạt giấy, 5 bao thuốc lá, 5 hộp chè, 5 gói thuốc lào, 5 chiếc bật lửa, 5 chiếc khăn mặt, 5 bánh xà phòng, 5 chiếc bút long 5 bánh mực tàu, 5 gói kẹo, 10 mét vải đỏ, 1 đĩa gừng lát mỏng có muối, 5 quyển sổ, 5 chiếc bát có nắp để đựng bát vị thang, 5 chiếc ô, 5 đôi dép, 1 chiếc khăn mặt sấp nước đặt vào chiếc đĩa.

    Bát vị thang

    ♦ 1 miếng Bạch đàn, 5 lá hoắc hương, 1 gam quế quan, 1 gam xuyên khung 1 chén, mật ong, 1 gói đỗ xanh đãi vỏ, 5 nụ đinh hương, 5 lát gừng tươi.

    ♦ Cách làm: Cho tất cả những vị thuốc vào sắc lấy nước, sau bỏ đỗ xanh vào đun nhừ mới cho mật ong và 1 thìa đường vào đun sôi múc vào 5 chiếc bát có nắp đậy kín dâng lên đàn phát tấu.

      16h cúng chiêu hồn trầm nịch

    ♦ Lễ: 2 cơi trầu rượu, 3 đĩa xôi, 2 lễ mặn, 3 đĩa oản bột, 2 đĩa hoa, 1 đĩa hoa trắng, 21m vải trắng, 1 con dao phay, 3 đôi nến cốc, 3 chiếc rọc chuối dài, 1 cành phan, kê bàn bày đàn 3 cấp, 6 chiếc cốc to đổ đầy gạo, 1 buộc tiền đinh, 1 buộc tiền vàng, 2 hộp vàng nghìn, 1 cỗ mũ ngựa (màu trắng).

    17h Cúng Tiếp Linh

    ♦ Lễ: 2 cơi trầu rượu, 2 đĩa xôi, 1 lễ mặn, đĩa oản bột, 2 đĩa hoa.

    18h Cúng Chúc Thực

    ♦ Lễ: 2 mâm cơm cúng, 2 cơi trầu têm, 2 khay nước trà cúng, 2 chai rượu

    Buổi tối

    19h Dâng Lục Cúng

    ♦ Lễ: 2 hộp chè búp, 2 phẩm oản bột, 4 cuộn băng dính nhỏ, 2 lọ hoa, 10 tờ giấy 5 màu.

    Nghỉ hết ngày

    Ngày thứ hai

      8h Cúng Phật

    ♦ Lễ: 20 phẩm oản gạo, 3 mâm xôi chè, hoa quả, oản bột, 1 (lễ mặn xôi thịt trầu rượu Trà thuốc dâng các ban thờ Thánh).

    Lục vị trà

    ♦ 5 gam cam thảo, 20 quả táo tầu, bạch đàn 1 miếng, 1 gói chè búp, 1 gam quế quan, 1 gam trầm hương.

    ♦ Cách làm: Cho tất cả vào sắc lấy nước rót vào chuyên chén dâng vào tuần cúng phật.

      10h Triệu Linh

    ♦ Lễ: 2 đĩa oản bột, 2 đĩa oản gạo, hương hoa.

      1h Cúng Chúc Thực

    ♦ Lễ: 2 mâm cơm cúng, 2 cơi trầu têm, 2 khay nước trà cúng, 2 cai rượu.

    Nghỉ trưa

    Buổi chiều

      14h Cúng Chúng Sinh

    ♦ Lễ: Chim, cá, trạch, cua, ốc, hến.vvv (đại loại là những thứ mà nó sắp bị con người sát hại về thả ra kéo dài sự sổng cho nó để mình cầu phúc)

       Lễ kỳ an

    ♦ Lễ: 1 đĩa xôi to, 1 lễ mặn to, 1 chai rượu, 1 cơi trầu cau chẻ, bát tô cháo, 1 đĩa nẻ, 1 đĩa gạo, 1 đĩa muối, hoa quả.

      16h Thỉnh Xá

      17h Phóng Xá

    ♦ Lễ: 1 đĩa xôi to, 1 lễ mặn to, 1 chai rượu, 1 cơi trầu cau chẻ, 1 đĩa quả, 1 đĩa oản bột, 1 đĩa oản gạo.

    Bày Đàn Ngũ Phương phá Ngục

    ♦ Chuẩn bị: 5 chiếc bàn và khăn trải, 5 đĩa oản bột 5 màu (Xanh, Đỏ, Trắng, Tím, Vàng mỗi đìa 5 phẩm) 5 lọ hoa( 5 màu ) 5 nải chuối, 10 đĩa quả, 5 đĩa hoa( 5 màu).

      18h cúng khai phương.

    ♦ Lễ: 5 đĩa oản gạo, 5 đĩa quả, 5 lễ mặn (Xôi, thịt, trầu, rượu ) 5 đĩa gạo loại to.

      19h Phá Ngục.

    ♦ Lễ: 1 cơi trầu rựơu, 1 đĩa xôi, 1 lễ mặn to, 1 đìa oản bột, 1 nải quả, 1 đĩa quả, 1 đĩa hoa.

    ♦ Con cháu chuẩn bị tiền lẻ khi chạy Đàn qua cửa nào thì rải tiền vào gạo ở cửa ấy.

      21h Huyết Hồ

    ♦ Lễ: 1 chiếc chảo gang, 1 chiếc bếp kiềng, 1 chai dầu ăn, 1 chiếc bủa 1 chiếc kìm, 1 chai siro hoặc coca cola, 1 dây xích.

      Nghỉ hết ngày

    Ngày hôm thứ 3

    Buổi sáng

       7h Sám Long Thần (Đức Ông)

    ♦ Lễ: 1 cơi trầu rượu, 1 đĩa xôi, 1 lễ mặn to, 1 đĩa oản bột, 1 nải quả, 1 đĩa quả, 1 đĩa hoa, 5 ngọn nến.

      8h Cúng Tử phủ – Sơn trang

      10h Cúng Chúc thực

    ♦ Lễ: 2 mâm cơm cúng, 2 cơi trầu têm, 2 khay nước trà cúng, 2 chai rượu.

    Nghỉ trưa

    Buổi chiều

      14h Cúng đàn tam phủ

    ♦ Lễ: 1 đĩa xôi to, 1 lễ mặn to, 1 chai rượu, 1 cơi trầu cau chẻ, 2 đĩa quả, 2 đĩa oản bột, 2 đĩa oản gạo, 1 lễ mặn nhỏ (xôi, thịt, trầu rượu) 3 quả trứng sống, 2m vải trắng, 2m vậi xanh, 2m vải vàng, 1 hình nhân nữ, 3 cỗ mũ bình thiên (xanh, trắng, vàng)

    Bày Đàn kết

    ♦ Chuẩn bị : 1 cuộn giấy, 1 hộp hồ, 10 tờ giấy ngũ sắc, 1 con dao, 1 chiếc kéo, 1 chậu thau nhôm, 1 cuộn chỉ trắng, 1 chiếc kim.

      15h Sao đàn hành khoa Giải kết

    ♦ Lễ: 1 cơi trầu rượu, 1 đĩa xôi, 1 lễ mặn to, 1 đĩa oản bột, 1 nải quả, 1 đĩa quả, 1 đĩa hoa, 1 bát cháo, 1 đĩa nẽ, 1 đãi gạo, 1 đĩa muối.

    Hợp đổng từ hổi linh an vị

      17h Bày đàn mông son thí thực

    ♦ Lễ: 1 mâm xôi, 1 xoong quân dụng cháo hoa, 1 lễ mặn to, 2 mâm to (nia) quần áo, giấy tiền, 1 chại rượu, 1 cơi trầu cau chẻ 5 quả, 2 hộp chè búp, 2 phẩm oản bột, 4 cuộn băng dính nhỏ, 2 lọ hoa, 10 tờ giấy 5 màu, Oản quả khoảng 5 lễ, 2 nia quả các loại, bánh đa, bánh mỳ, mía v.v.v, (Nên sắm càng nhiều thì càng tốt)

      Cúng khoa phóng đăng

    ♦ Lễ: 1 đĩa xôi to, 1 lễ mặn to, 1 chai rượu, 1 cơi trầu chẻ, 1 đĩa quả, 1 đĩa oản gạo. 50 chiếc bát nhựa gắn nến hoặc mua cổc nến nhỏ đặt vào, giấy 5 màu mỗi loại 3 tờ cắt thành cánh sen, 5 hộp hồ dán giấy

      18h Cúng Mông Sơn Thí Thực

      21h Cúng Thăng Bảo Đài

    ♦ Lễ: 1 đĩa xôi to, 1 lễ mặn to, 1 chai rượu, 1 cơi trầu cau chẻ, 1 đĩa quả, 1 đĩa oản bột, 1 đĩa oản gạo.

    Hoàn tất

      Mã chung các đàn

    Đàn thụ Phan

    ♦ 1 cỗ mũ, ngựa (Màu đỏ)

    Đàn cấp thủy

    ♦ 1 cồ mũ, ngựa (Màu trắng)

    Đàn Phát tấu

    ♦ 5 cỗ mũ sắc, 5 đôi hia, 5 con ngựa, 5 lá cờ, 5 chiếc roi, 5 chiếc lọng, 5 thanh kiếm, 1 mâm biểu.

    Đàn chiều hồn

    ♦ 1 cỗ mũ, ngựa (Màu trắng)

    Đàn tiếp Linh

    ♦ 1 cỗ mũ, ngựa (Màu đỏ)

    Đàn phóng sinh

    ♦ 1 cỗ mũ, ngựa (Màu trắng)

    Đàn phóng xá

    ♦ 1 cỗ mũ, ngựa (Màu trắng)

    Đàn ngũ phương phá Ngục

    ♦ Lễ: 5 cỗ mũ ngũ sắc, 5 đôi hia, 5 lá cờ, 5 chiếc roi, 5 thanh kiếm, 5 cửa Ngục có quân lính đầu trâu mặt ngựa cầm đao đứng gác.

    Đàn sám tạ long thần

    ♦ 1 cỗ mũ, ngựa (Màu đỏ)

    Đàn sám tạ long thần

    ♦ 1 cỗ mũ, ngựa (Màu đỏ)

    Đàn tam phủ

    ♦ 3 cỗ bình thiên (Xanh, trắng, vàng)

    Đàn phóng đăng

    ♦ 1 cỗ mũ, ngựa (trắng)

    Đàn Kỳ An.

    ♦ 1 cỗ mũ đương niên.

    ♦ 1 cỗ mũ Đương Cảnh (màu Tím).

    Đàn Thăng Bảo Đài

    ♦ 1 tòa cửu phẩm 9 tầng cao 3m

     

     

     

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lễ Mở Phủ Trình Đồng
  • Lễ Phật Đản – Chùa Phổ Hiền
  • Cửa Hàng Phật Giáo, Siêu Thị Đồ Thờ Tượng Đài Loan
  • Cúng Dường Hoa, Quả Đèn, Nước Có Ý Nghĩa Gì?
  • Kinh Thien Dao The Dao (Audio)
  • Mẫu Sớ Cầu Siêu Độ Gia Tiên, Chữ Hán

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Khấn Cúng Gia Tiên Ngày Rằm Hàng Tháng Đơn Giản Dễ Thuộc
  • Lễ Cúng Bến Nước, Nét Đẹp Văn Hóa Của Người Ê Đê
  • Bài Cúng Rằm Tháng Giêng Công Ty
  • Văn Khấn Cúng Mùng 1 Tháng 8 Âm Lịch 2022 Chuẩn Và Chính Xác Nhất
  • Lễ Cúng Mụ 12 Tuổi
  • 1. Sớ cầu siêu dùng để làm gì

    Cầu siêu với ý nghĩa cầu là cầu mong, siêu là siêu thoát, vượt qua. Sớ cầu siêu được sử dụng để cầu nguyện cho vong linh của người đã chế được siêu thoát khỏi cảnh giới khổ đau. Ý nghĩa của lễ cầu siêu cho vong linh của người chết còn phù thuộc vào từng phong tục, tính ngưỡng ở nhiều nơi khác nhau, và về mục đích của người cầu nguyện. Theo quan niệm của Phật tâm linh, kết quả và ý chí của việc sử dụng sớ cầu siêu, và nghi lễ cầu siêu sẽ phụ ý thức siêu độ, nhận thức về ý nghĩa sống, chết sẽ giúp bản thân mỗi người cầu nguyện sẽ hiểu thêm về cầu siêu.

    Sớ cầu siêu và nghi lễ cầu siêu phải tỏ được lòng thánh kính, người làm lễ cầu siêu phải có lòng chân thành, biết rung cảm trước những khổ cực cửa người đã qua đời. Thông qua nghi lễ cầu siêu Phật đã gieo tiếng chuông giao cảm vào tâm nguyện của bản thân mỗi con người.

    Mẫu sớ cầu siêu

    Một mùa lễ vu lang báo hiếu nữa chuẩn bị về, ai đã từng đọc kinh Vu Lan sẽ thấy được giọt nước mắt của ngài Mục Kiều Liên đã khó thương mẹ như thế nào, tỏ lòng thành kính sâu sắc đến đức Phật để dạy pháp cứu độ. Giọt nước mắt ấy chính là tình cảm xuất phát từ tâm của mỗi con người, tâm từ bi, đó là tình thương và lòng thương cảm. Thông qua văn sớ cầu siêu sẽ giúp cho người còn sống nhận thức đúng giá trị cuộc sống, giúp cho người qua đời được cầu siêu, thể hiện mối quan tương quan giữa người sống và người chết. Làm siêu độ cho chúng sinh chính là thể hiện đạo lý báo ân.

    2. Nội dung Văn cầu siêu

    “OM AH HUNG Xin nhờ lửa làm tan chảy không còn sót những món diệu dục đơn giản nhưng quí giá này hóa một đám mây vô tận trong không gian thành một tiệc cúng dường không chấp trước, xin cho con dâng cúng lên chín phương Trời mười Phương Phật chư Phật mười phương.

    Hôm nay là ngày… tháng… năm… Tín chủ con là… ở tại số nhà… thành kính dâng lên cúng dường Chư Phật mong Chư Phật ban phước cho toàn thể chúng sinh không chừa sót một ai những điều an lành nhất. Con cũng xin nhờ vào tiệc cúng dường này, ánh sáng từ bi và trí tuệ của Chư phật sẽ hiện hữu trong tâm con và tất cả mọi người đồng thời chiếu sáng tất thảy các cõi khác để tất thảy hướng về Phật Pháp. Con nguyện với lòng thành tâm của mình trước Chư Phật xin được sám hối mọi lỗi lầm do thân khẩu ý con đã phạm phải từ trước tới nay.

    Con xin cúng dường tới các chư thiên, thiện thần, hộ pháp mong các ngài che chở cho con cùng gia đình luôn an lành, thoát khỏi mọi thế lực xấu và ác của cõi dương và cõi âm.

    Con cũng xin được nhờ vào lễ hỏa cúng này, hồi hướng cầu siêu cho tất cả các chúng sinh không chừa sót một ai đang lang thang trong cõi thân trung ấm hay cõi âm để họ bớt sợ hãi, đau khổ và nhanh chóng được chuyển nghiệp. Con cầu xin được cầu siêu cho cửu huyền thất tổ gia tiên gia tộc họ… cho cha…, mẹ… hay…. được hoan hỉ và sớm siêu thoát về nơi cực lạc hay cõi an lành khác”.

    “Đặc biệt con xin được thành tâm sám hối cho nghiệp sát con phạm phải đối với các hài nhi đã từng kết duyên cùng con mà con chối bỏ. Cầu mong các hài nhi tha thứ và xóa bỏ mọi tâm tư oán hờn gây chướng ngại tới con, cầu mong các vong nhi buông bỏ và sớm chuyển đầu thai vào các cõi an lành mới. Cầu mong tất cả các vong nhi khác cũng đều hoan hỉ và siêu thoát như vậy.

    Con nguyện sẽ gắng làm những điều thiện để hồi hướng, trợ duyên cho các vong nhi sớm được siêu thoát …. Cầu mong cho lời nguyện lành của con được thành sự thật. Nếu đã tu thì đọc mật chú, nếu không biết thì đọc thần chú sáu âm của Bồ tát Quán Thế Âm “OM MA NI PADE ME HUM” 108 lần.

    Lễ hỏa cúng đến đây là kết thúc, xin được mời các ngài và các chư vị an tọa về nơi trụ xứ của mình và chỉ trở lại khi gia chủ có lời thỉnh mời. Xin các vong hãy hoan hỷ đón nhận tấm lòng thành của gia chủ mà sớm được siêu thoát”. Cũng xin che chở cho gia chủ mọi sự được tốt đẹp an lành. Gia chủ xin cảm tạ.

    3. Lưu ý khi viết cầu siêu

    Khi viết bài vị, quý vị cần phải có tâm cung kính vì đây là Huệ mạng của mỗi một Vong linh. Trước khi viết Bài vị ta nên niệm Phật 10 lần, mỗi lần 10 câu. Quán tưởng Vong linh được mời sẽ về tham dự và được lợi ích lớn trong Pháp hội. Mỗi một ô nhỏ chỉ ghi một danh tên, không được ghi chung 2 hay 3 danh tên. Nếu quý vị muốn in ra tại nhà và đem tới Pháp hội thì bài vị in hay viết ra nên để phẳng phiu, không nên gấp hay cuộn lại, cho vào phong bì khổ A4 để nơi sạch sẽ và tôn kính. Bài vị Cầu Siêu bằng giấy mầu vàng, bài vị Cầu An bằng giấy màu đỏ vì đây là theo quy định của Tịnh Tông Học Hội.

    Cùng với mẫu sớ cầu siêu, bài cúng rằm tháng 7 cũng là một mẫu văn khấn quan trọng được sử dụng trong ngày rằm tháng 7 hằng năm. Rằm tháng 7 hay còn gọi là ngày lễ Vu Lang và xóa tội vong nhân, để chuẩn bị cho ngày lễ quan trọng này bên cạnh bài cúng rằm tháng 7 các gia đình sẽ chuẩn bị lễ vật cho nghi thức cúng như hoa quả, xôi, thịt, vàng mã….

    Bên cạnh mẫu sớ cầu siêu thì cùng không thể thiếu mẫu sớ cầu an được, với mẫu sớ cầu an và văn cầu an, bạn và gia đình sẽ được bảo vệ, luôn gặp may mắn, an lành trong cuộc sống

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghi Thức, Lễ Tiết Cúng Về Nhà Mới, Những Điều Kiêng Kỵ, Lễ Tạ 100 Ngày
  • Văn Khấn Ở Chùa Đồng Yên Tử Cầu May Xin Lộc Đầu Năm
  • Vì Sao Cần Thắp Hương Rằm Tháng 7
  • Nhận Đặt Mâm Cúng Về Nhà Mới Trọn Gói
  • Lễ Cúng Mụ Ở Huế Tổ Chức Đúng Chuẩn Tại Hồ Chí Minh
  • Ý Nghĩa Siêu Độ, Bạt Độ Trong Nghi Thức Mông Sơn Thí Thực

    --- Bài mới hơn ---

  • Cung Cấp Đồ Cúng Trọn Gói
  • Cúng Thí Thực Là Gì Và Ý Nghĩa Của Nghi Thức Cúng Thí Thực
  • Nghi Thức Thí Thực Cô Hồn
  • 5. Nghi Thức Mông Sơn Thí Thực
  • Cúng Thôi Nôi Gà Hay Vịt, Lễ Vật Cần Chuẩn Bị Những Gì?
  • Cúng thí thực theo các Tổ thầy dạy, phải xuất phát từ tâm thành, vật thí thực không tốn kém cầu kỳ mà rất đơn giản. Điều cốt yếu của nghi thức là phải thực hiện trai giới như pháp (tức thực hiện chánh pháp) để trì chú thì mới đem lại lợi ích bất khả tư nghị cho các loài cô hồn, ngã quỷ

    Nghi thức Trai đàn chẩn tế siêu độ cho cô hồn, ngã quỷ, âm linh ra đời từ khi Phật còn tại thế. Trong kinh ghi rõ lời đức Thế Tôn chỉ dạy cho ngài A Nan nhiều tiết mục cúng thí cho các loài ngạ quỷ được ăn bằng xúc thực, ý tư thực theo thứ tự: mua sắm các thực phẩm nấu chín, bày biện lên bàn, có hương hoa, trà quả. Rồi chắp tay nhất tâm phụng thỉnh chư vị cổ Phật đến đạo tràng cúng tế, để giúp chúng sinh cõi âm được ăn, uống cùng nghe rõ lời kinh, lời pháp khai thị của chư Phật một cách trật tự và hanh thông, sau đó yết hầu được mở rộng (yết hầu mở rộng xin nói ở phần sau) để được ăn uống dù bằng xúc thực, ý tư thực vẫn cảm thấy khoái khẩu no nê.

    Nghi thức Trai đàn chẩn tế là phương thức siêu độ, bạt độ cô hồn, vong linh, âm linh mà ta thường thấy ở các chùa, tự viện và các tịnh thất hay làm vào những ngày lễ trọng. Đặc biệt là Trai đàn chẩn tế thường được tổ chức lớn nhằm vào việc siêu độ các vong linh mang tính cách (nhân văn xã hội) cao thượng đó là cầu siêu cho các hương hồn liệt sĩ, các vong linh tử nạn về an toàn giao thông, các vong linh thai nhi sản nạn, hoặc những nơi xảy ra tử nạn đông người…

    Với lòng bi mẫn của đức Phật dạy, trên thực tế chúng ta thấy không phải lúc nào cũng lập được Đàn tràng lớn, bởi các yếu tố (tổ chức kinh tế, xã hội-chính trị). Vậy, theo kinh sách và các chân sư chỉ dạy, nếu chúng ta là những Phật tử thuần thành, có tâm chí thành thương xót các cô hồn, ngã quỷ, âm linh thì đều có thể thực hiện được nghi thức thí thực Tiểu Mông sơn ở ngay khu vực mình ở và tại tư gia vào những ngày sóc vọng (nếu thấy cần thiết).

    Cúng thí thực theo các Tổ thầy dạy, xét về mặt căn bản là phải xuất phát từ tâm thành, vật thí thực không tốn kém cầu kỳ như người ta tưởng mà rất đơn giản. Điều cốt yếu của nghi thức là chúng ta phải thực hiện trai giới như pháp (tức thực hiện chánh pháp) để trì chú thì mới đem lại lợi ích bất khả tư nghị cho các loài cô hồn, ngã quỷ cũng như các đảng.

    Một thực tế hiện nay, không ít thầy bà theo tín ngưỡng dân gian thần quyền nhân danh (này nọ) tổ chức cúng thí không chỉ gây tốn kém về vật chất mà kết quả cầu siêu bạt độ cho các vong linh, cô hồn, các đảng không đem lại kết quả như mong muốn (nếu không muốn nói là gây thêm phiền não chướng) bởi họ không hiểu được ý nghĩa sâu mầu của chánh pháp đạo Phật.

    Bài viết này chúng tôi có đôi lời bàn luận tham cứu góp phần vào việc thực hiện cúng thí thực, để chúng ta cùng chia sẻ suy ngẫm tìm hiểu về nội dung này, trên cơ sở với lòng bi mẫn và thực hiện chánh pháp cứu độ chúng sinh theo tinh thần mà đức Thế Tôn đã dạy.

    Duyên khởi – xuất xứ cúng Mông Sơn thí thực

    Đạo Phật là đạo cứu chúng sinh ra khỏi sáu cõi sinh tử luân hồi khổ đau để đến các cõi Phật giới (hay còn gọi là cõi vô sinh tử). Do đó chư Phật trong mười phương thế giới đều thị hiện vào tam giới, lục đạo để cứu khổ chúng sinh theo sở nguyện phương tiện của mình. Đó là giáo pháp, tâm đại từ bi và trí tuệ.

    Đức Phật thích Ca Mâu Ni thị hiện Ta bà, nói pháp và hướng dẫn con người tu tập giáo pháp để giải thoát sinh tử luân hồi. Đức Thế Tôn còn thuyết minh về các kinh Dược sư, kinh Địa Tạng, kinh A Di Đà để cứu khổ chúng sinh về bệnh tật qua (kinh Dược Sư); cứu khổ chúng sinh trong các cõi địa ngục, ngã quỷ và cõi người qua (kinh Địa Tạng) nhằm thức tỉnh con người luôn tự cảnh giác mà xa lìa các đường ác quỷ; với kinh A Di Đà, đức Thế Tôn cũng chỉ dạy cho con người ai muốn vãng sinh về nước Cực lạc thì tu pháp môn Tịnh độ. Và với đức Bồ tát Quán Thế Âm thì Ngài nói về ý nghĩa sâu mầu về chú Đại Bi để cứu khổ cứu nạn chúng sinh.

    Cùng với đức Thích Ca Mâu Ni lúc bấy giờ, bên cạnh Ngài còn có nhiều vị cổ Phật thị hiện trong Tăng đoàn để trợ lực với Ngài về một số giáo vụ quan trọng khác nhau như ngài A Nan (thị giả Phật có khả năng nghe và thuộc lòng tất cả các kinh Phật đã nói); Xá Lợi Phất (bên cạnh Phật thuyết pháp); Ca Diếp, Mục Kiền Liên (được Phật chỉ cho cách cứu mẹ thoát kiếp ngạ quỷ để rối có kinh Vu Lan) và các ngài Phú Lâu Na, Phổ Hiền, Văn Thù, Quán Thế Âm…Trong tất cả các vị cổ Phật có mặt bên cạnh đức Phật Thích Ca thì đức Quan Thế Âm được thấy ở nhiều hạnh nguyện Bồ tát cứu khổ, cứu nạn thật đa dạng với nhiều phương tiện thị hiện thân tướng tương ưng trong các cõi để cứu độ chúng sinh.

    Điều muốn nói ở đây là Phật Quán Thế Âm thị hiện quỷ Vương Tiêu Diện và với xuất xứ nghi thức “Mông Sơn Thí Thực Cô hồn”. Theo tác giả Đức Hạnh, thì nghi thức này có ba xuất xứ, nhưng theo người viết tóm lược lại thì chỉ có hai xuất xứ căn bản được ghi nhận qua kinh điển đó là:

    Một: Lúc Phật còn tại thế: một hôm, vào buổi chiều, Tôn giả A Nan đang tọa thiền tại bãi cỏ ngoài tịnh xá Kỳ Viên. Bỗng nghe có tiếng động, A Nan ngước mặt nhìn, thấy một con quỷ có thân tướng mặt đỏ, lười lè dài tới rốn, miệng tóe lửa, râu ria xồm xoàm, đang cầm chĩa ba, quỳ xuống quỷ nói:

    “N ày A Nan, ta là Quỷ Vương, thống trị các loài ngạ quỷ, nhưng ta đang đói lắm! Ta sẽ ăn thịt ngươi A Nan”. Nói xong con quỷ trườn tới. An Nan sợ quá, đứng lên nói: “Khoan đã, đừng ăn thịt ta, ta sẽ tính chuyện ấy sau cho quỷ”. Nói xong, A Nan chào quỷ vương đi vào tịnh xá. Tại đây, A Nan gặp Phật và trình bầy đầu đuôi câu chuyện về con quỷ mặt đỏ, lưỡi dài, miệng đầy lửa đòi ăn thịt mình cho đức Phật nghe.

    Đức Phật nói: ” Không sao đâu, A Nan đừng sợ! Quỷ không thể ăn thịt người được. Để Như Lai chỉ cho A Nan những cách cúng dường cho các loài quỷ được ăn”.

    Những cách cúng dường ấy cho các loài ngạ quỷ, âm linh, cô hồn…được ăn như thế nào, đức Thế Tôn chỉ cho ngài A Nan đã được ghi trong kinh có tên “Kinh Diệm Khẩu”.

    Hai: Xuất phát từ lòng thương xót chúng sinh trong các cõi âm vô bờ bến, với đại bi tâm và trí tuệ thâm sâu của bậc đạo sư chân tu, ngài thiền sư Bất Động đời nhà Đường tại núi Mông đã được vô số ngai quỷ, cô hồn, âm linh tìm đến ngài để xin bố thí cho ăn qua nhiều hiện tượng như: cứ vào những chiều chạng vạng, ngài Bất Động thiền sư nhìn thấy những ngọn lửa lập lòe, ngắn dài, run rẩy chơi vơi dưới các thung lũng núi Mông, cùng với những thanh âm tru tréo hú vang thật rùng rợn! Rồi đến khi ngài vào ngồi thiền thì nghe bên ngoài chung quanh chùa có những tiếng xì xào, gõ cửa than khóc…

    Trước những hình ảnh ma quái của các loài cô hồn, ngạ quỷ, âm linh hằng đêm hiện ra như vậy, ngài Bất Động thiền sư hiểu ý các loài âm linh ấy bị đói, lạnh muốn ngài cứu giúp cho được no ấm. Từ đó ngài Bất Động quyết tâm đi tìm phương cách bố thí thực phẩm cho chúng sinh cõi âm được ăn bằng giáo pháp Phật (cam lồ pháp thực). Do vậy, ngài Bất Động đã bỏ công tìm kiếm trong Đại Tạng Kinh đời Đường qua thời gian nhiều tháng năm và cuối cùng ngài tìm gặp được cuốn kinh Diệm Khẩu (tức miệng lửa). Trong kinh ghi rõ lời đức Thế Tôn chỉ dạy cho A Nan nhiều tiết mục cúng thí cho các loài ngạ quỷ được ăn bằng xúc thực, ý tư thực theo thứ tự mà được no đủ.

    Nghi thức thí thực công phu chiều cũng được thiền sư Bất Động soạn trong kinh Diệm Khẩu. Trong quá trình soạn, ngài cơ bản giữ nguyên toàn bộ lời Phật dạy, để làm nến tảng cho việc biên soạn thêm một số nghi thức tại chùa ở núi Mông, do đó mà có tên “Nghi thức Mông Sơn thí thực cô hồn”. Tác phẩm soạn đấu tiên đó là Nghi thức công phu chiều, dành riêng cầu siêu độ cho cô hồn, ngạ quỷ hằng ngày trong thiền môn (chùa). Trong đó gồm các kinh Di Đà cầu siêu; kinh Hồng Danh Bảo Sám (để sám hối) cho chúng sinh cõi âm nói chung. Tiếp đến Tiểu Mông Sơn (toàn bộ kinh Diệm Khẩu).

    Tuy nhiên, ngài Bất Động thiền sư có thêm lời ngưỡng vọng hướng về kính lễ: Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh; Thường Trụ Thập Phương Phật, Pháp, Tăng và Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni; Đại Bi Quán Thế Âm Bồ tát; Minh Dương cứu khổ Địa Tạng Vương Bồ tát; Khải giáo A Nan Đà Tôn giả. Lời ngưỡng vọng kính lễ này, nếu không nói rằng đó là lời báo ân, thì cũng là lời giới thiệu cho toàn thể bốn chúng đệ tử Phật hậu lai biết rõ nguyên nhân ra đời của nghi thức cúng thí cô hồn, ngạ quỷ là do hai vị cổ Phật Quán Thế Âm, A Nan đà và đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni mà có.

    Cũng căn cứ từ kinh điển của chư Phật, ngài Bất Động thiền sư sau khi thực hiện nghi thức cúng thí cho các cô hồn, ngã quỷ, Thiền sư cũng làm lễ quy y Phật, Pháp, Tăng cho ba giới cõi âm và có lời khai thị cho hữu tình ở giới này. Và sau cùng của nghi thức là những bài kinh Bát Nhã, Vãng Sinh… Như vậy, ta có thể hiểu sau cúng thí thực về phương diện (vật chất) là thí ngữ (tức khai thị Pháp Phật) cho cô hồn, ngai quỷ và các đảng để được siêu độ, bạt độ cảnh giới lành.

    Nghi thức Trai Đàn Chẩn Tế Siêu Độ hay Bạt Độ

    Theo tác giả Đức Hạnh (trong bài Mông Sơn thí thực) thì nghi thức Trai đàn chẩn tế ra đời là do các vị đạo sư chân tu Trung Hoa và Việt Nam (Huế – Bình Định) soạn dựa trên cơ sở tư tưởng cứu bạt của kinh Diệm Khẩu làm nền tảng. Sau đó tiếp tục biên soạn, chế tác nhiều bản văn theo thể lục bát, thất ngôn, lục ngôn, ngũ ngôn, tứ ngôn, hai câu hoặc một đoạn văn xuôi trong nghi thức. những bài văn ngắn, dài này nhằm tác bạch, xướng ngôn, tán tụng, phụng thỉnh chư Phật, triệu mời thập loại cô hồn, ngạ quỷ, các giới vong linh, và nói pháp ngữ. Số lượng những bài văn nói trên có đến hơn trăm, chưa nói đến nghi thức Mông Sơn Diệm Khẩu.

    Trong số hàng trăm bài tán, tụng, phụng thỉnh đó, thỉnh thoảng có đề cập đến hai vị Phật hóa thân tối quan trọng trong nghi thức đó là Quán Thế Âm và ngài A Nan. Điều này được thấy trong hai bài: ” Hội khởi Mông Sơn tối thắng duyên…Giáo điển chân thừa cứu đảo huyền. Nan Đà tôn giả chân nhập định. Cứu khổ Quán Âm thị Diện Nhiên”. Và bài ” Tu thiết trai diên, A Nan nhân duyên khởi, Cứu khổ Quán Âm, thị hiện Tiêu Diện Quỷ”. Và trong nghi thức này, ngài Địa Tạng Vương được vị sám chủ thỉnh nhiều hơn, bởi vì Ngài trong vai trò thăm viếng và hướng dẫn siêu độ cho chúng sinh ở địa ngục.

    Sở dĩ nghi thức Trai đàn chẩn tế, có đến cả trăm bài văn ngắn, dài như vậy là vì phát xuất từ tư tưởng lớn của tâm đại từ bi, phát nguyện lớn, siêu độ, bạt độ của chư Tăng Ni cùng Phật tử. Nói đến cứu độ vong linh cô hồn, ngạ quỷ hay nói khác hơn để chúng ta dễ hiểu: cứu vớt con người còn sống, được lên khỏi vực sâu cả ngàn mét chắc sẽ còn dễ hơn vạn lần so với các vong linh được ra khỏi địa ngục u minh, tăm tối.

    Bởi khi còn sống, họ đâu có huân tập tán thán và tìm hiểu để học tập giáo lý sâu mầu của nhà Phật, đến khi họ chết đọa trong tam đồ ở chốn u minh, với thân vô hình lung linh như mây như gió, dẫu là tâm thức của họ vẫn cảm nhận được mọi thứ khổ đau, đói khát, lạnh lùng, nhưng họ đang còn nguyên hiện tướng định nghiệp ác là cô hồn, ngai quỷ… thì làm sao dễ dàng nhận ra lời khai thị chánh pháp…

    Vả lại, nếu họ vốn đang có tâm thanh tịnh trong sáng (mà chết) thì tự siêu thoát rồi. Bằng không, lại càng khổ đau, tăm tối, cho nên khi thác sinh bị đọa bởi mê mờ nên cứ ở mãi nơi cõi u minh đến cả trăm năm và lâu hơn nữa bị đói khát, khổ đau, lạnh lùng…

    Qua đây, cho thấy hàng trăm bài sám thỉnh, tác bạch, lời kinh, tiếng kệ, thần chú và chư Tăng tán tụng, xướng ngôn, pháp ngữ, lễ lạy, bắt ấn, thủ xích xuống bàn, vang vọng là những tiếng nói, âm điệu đánh thức cô hồn, ngạ quỷ, âm linh và các đảng trở về thực tại. Suốt 4 tiếng đồng hồ của nghi thức siêu độ, 5 tiếng bạt độ trong nghi thức trai đàn chẩn tế. Chính là những phương tiện tối thắng mầu nhiệm được coi như là (kỹ thuật) trong việc cứu vớt (độ) các cô hồn, ngạ quỷ, vong linh được thoát khỏi cảnh địa ngục tối tăm, siêu lên các cõi trên (Tịnh độ, Nhân, Thiên) là do uy lực của Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng) thì pháp lực này phải được nhân lên gấp nhiều lần mới có thể khai mở tâm thức u tối của cô hồn, ngạ quỷ, hương linh và các đảng để họ trở về với sự trong sáng, tỉnh thức mà phát lồ sám hối Phật, Pháp, Tăng để được siêu thăng cảnh giới lành.

    Tóm lại do năng lực biến thủy, biến thực sâu mầu vi tế khó nghĩ bàn của Phật pháp mà khả năng siêu độ, bạt độ giải cứu chúng sinh trong pháp thí thực đều biến thành cam lồ hữu dụng là bất khả luận. Tất cả chúng sinh trong 3 giới bị đọa lạc đều được ăn, uống no đủ một cách hanh thông, dù ăn bằng xúc cảm, hay ý nghĩ vẫn cảm thấy no nê.

    Nội dung cúng thí thực cho các loài ngạ quỷ, cô hồn các đảng mà đức Phật đã nói cho Tôn giả A Nan, được ghi trong kinh Diệm Khẩu với chỉ bấy nhiêu thôi như đã nêu ở trên, nếu không nói là cơ bản, cũng đủ để cho các loài ngạ quỷ, cô hồn được ăn uống và nghe Phật pháp mà siêu sinh Tịnh độ. Đây là pháp tối thắng duyên do 13 vị cổ Phật và Bồ tát Tiêu Diện Đại Sĩ, đều có uy lực siêu đẳng gia trì hộ niệm cho họ.

    Nhân đây, chúng ta cùng tìm hiểu về ý nghĩa Thần chú trong Mông Sơn thí thực: Qua uy lực siêu đẳng của 13 vị cổ Phật trong kinh Diệm Khẩu, cho ta thấy và hiểu thêm ý nghĩa của các thần chú là siêu đẳng tuyệt đối, là linh diệu chú không thể nghĩ bàn và không có ngôn từ nào giải thích, bởi đó là Phật pháp sâu mầu, vi diệu. Cho nên các tổ thầy nói, (Phật chính là thần chú, Thần chú chính là Phật).

    Điều này được minh định qua kinh Đại Bi, thường gọi là “chú Đại Bi Đà La Ni” (tổng trì-năng trì, khả năng gìn giữ) gồm có 84 danh hiệu cổ Phật, do đó không giảng nghĩa được. Tám mươi bốn danh hiệu, trong đó có 32 hóa thân của Phật Quán Thế Âm. Danh hiệu cuối cùng 84 là Ta bà ha, là Bồ tát Tiêu Diện Đại Sĩ (tức Phật Quán Thế Âm hóa thân).

    Qua kinh sách cũng được biết thêm một số vị cổ Phật quen thuộc có mặt trong Thần chú Đại Bi như: Phật A Di Đà (Ma hê ma hê rị đa dựng). Phật Ca Diếp (Ta bà ha) cùng các ngài A Nan, Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Phổ Hiền và ngài Văn Thù Sư Lợi. Trong 84 hình tượng hóa thân của chư vị cổ Phật ở kinh Đại Bi, thì 35 hóa thân nữ, 49 hóa thân nam.

    Khi nào và ai có thể tổ chức Trai đàn chẩn tế

    Mọi người các giới đều có thể, nếu có đủ khả năng, phương tiện và Tâm đại từ, đại bi, đại trí. Nếu có ba năng lực này, thì đây là nền tảng để thực hiện lễ Trai đàn chẩn tế siêu độ, bạt độ chúng sinh.

    Do hiểu biết được rõ ràng các loại cô hồn, ngạ quỷ vong linh trong các cõi địa ngục, vốn trước đó họ cũng là con người nhưng vì đã tạo nên ác nghiệp mà đọa tam đồ khổ đau, nên họ rất đói khát, lạnh lùng cô quạnh và họ chỉ luôn mong cầu người sống là bà con, quyến thuộc, đồng hương nghĩ đến họ mà cho ăn uống; và cởi trói cho họ được siêu thoát qua các kinh điển Địa Tạng, Lương Hoàng Sám (tức thí Pháp).

    Biết được hoàn cảnh rõ ràng như vậy rồi, với tâm cảm chân thật thương xót như thế liền ra tay tế độ bất vụ lợi, không mong cầu phước báo. Đó là đem lòng bi mẫn đến với chúng sinh. Ở những nơi có hàng trăm hàng ngàn người chết rủi ro bởi bão lụt, tai nạn tầu xe, hay hỏa hoạn và chiến tranh, vào những ngày Vu Lan, Phật Đản đứng ra tổ chức Trai đàn chẩn tế bạt độ thì thật lợi ích vô cùng.

    Nghi thức Trai đàn chẩn tế là một nghi thức tối thắng thượng thừa về hai mặt: Phật tâm và giáo vụ chánh đạo, cộng với tâm biết thương xót các loài âm binh, cô hồn sẵn sàng dấn thân cứu khổ. Do có tâm đại từ bi và trí tuệ, cho nên Tăng chủ sám ngồi đàn và tập thể kinh sư phải là những bậc chân tu đạo hạnh, Phật pháp uyên thâm, thông đạt nghi lễ thực hiện Trai đàn thì sẽ đem lại lợi lạc chúng sinh vô lượng.

    Ngược lại, nếu tổ chức không xuất phát từ tâm từ bi, ví như gia chủ đứng ra tổ chức, không có phước, chỉ có tài vật, do vì khởi niệm lợi lộc riêng tư, không nhằm vào việc siêu thoát, bạt độ chúng sinh cõi âm, mà chỉ mượn danh Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng) thì chẳng đem lại lợi ích mà chỉ gây thêm phiền não thế gian.

    Thí thực tại gia

    Nếu Trai đàn chẩn tế là cách (bố thí lớn) thì pháp thí thực tại gia là cách tổ chức nhỏ. Theo các thầy tổ dạy, nếu Phật tử chúng ta muốn cúng thí thực cô hồn, vong linh, âm linh, các đảng thì ta cứ việc làm. Nhưng phải nhớ một điều là thanh tịnh tâm, đọc tụng theo đúng nghi thức Tiểu Mông Sơn, có trong nghi thức tụng niệm, không cần phải tụng kinh Di Đà, Hồng Danh. Chỉ cần tụng Tiểu Mông Sơn, cũng đủ năng lực làm cho cô hồn, các đảng được ăn, được siêu. Bởi vì nghi thức Mông Sơn là cơ bản tối thắng của kinh Diệm Khẩu, có đầy đủ Bồ tát Tiêu Diện và 13 vị cổ Phật trong đó như đã nói trên.

    Vậy cúng thí chỉ cần một bát cháo lỏng, ly nước là đủ. Muốn thêm các thứ bánh, bỏng, trái cây… là tùy ý, không sao cả. Phải đọc đúng nghi thức Tiểu Mông Sơn, thì các cô hồn, ngạ quỷ mới ăn, uống được. Nếu chỉ van vái không (tức không thực hiện Mông Sơn) các loài cõi âm không hưởng được gì. Vậy đã có lòng cúng cô hồn, nên đọc tụng theo nghi thức Mông Sơn, chúng ta sẽ được cô hồn, âm linh và các đảng hộ niệm cho mọi việc an lành hiệu quả.

    Thay lời kết

    Cúng thí thực không phải là giáo lý căn bản của Phật giáo. Đạo Phật ra đời mục đích tối thượng là độ sinh, chứ không phải độ tử. Vì sao vậy? Vì toàn bộ giáo lý đạo Phật dạy con người tu hành để giải thoát sinh tử luân hồi trong tam giới này.

    Xuất phát từ lòng bi mẫn của đức Phật mà sau này ở giai đoạn sau giáo lý đạo Phật đã có thêm những phương tiện cứu độ để giải thoát cho những chúng sinh bị đọa lạc vào tam đồ (ba cõi khổ đau) như nội dung bài viết đã trình bầy ở phần trên. Điều muốn nhắc lại ở đây là cúng thí thực như Pháp (tức theo chánh pháp) đạo Phật khác xa với cúng thí của tín ngưỡng dân gian. Bởi cúng thí “kiểu” dân gian chỉ nhắm tới một phần thỏa mãn về yếu tố vật chất (vật lý) mà thôi.

    Thực tế, theo kinh điển xét về cõi giới cô hồn, ngã quỷ thì việc ăn, uống thụ hưởng của họ qua cúng thí thực thật khó khăn. Bởi nếu không có chánh pháp đạo Phật (tức trì chú) soi sáng qua nghi lễ thí thực thì họ không thể nhận lãnh được (khi yết hầu của họ không được khai mở). Vậy, chỉ có chánh pháp vi diệu của đạo Phật mới “biến thực- biến thủy” thành cam lồ giúp họ thọ dụng được no đủ (đấy là chưa kể việc khai thị chánh pháp) thuyết linh để họ giác ngộ nương nhờ vào Phật lực mà giải thoát về cõi giới an lành.

    Cúng thí thực nếu không phải là các Tăng Ni, Cư sĩ, Phật tử đạo hạnh thuần thành thì không thể thực hiện được. Theo các tổ thầy dạy, cũng như rút ra từ trải nghiêm của mình cho thấy, “chỉ một chút nghi ngờ, sao nhãng không tin chánh pháp” tức khắc sự việc không thành như mong muốn. Nhân bài viết này cũng muốn chia sẻ cùng đạo hữu, nếu chúng ta có tâm thành cúng thí thực thì cứ cúng, nhưng phải theo đúng chánh pháp, và nên nhớ lời tổ thày dạy là không cầu xin gì cả.

    Nếu có tâm thành thì “tự nhiên như nhiên” sẽ có sự tốt lành đến từ hai phía. Đi kèm bài viết này, chúng tôi cũng sưu tầm sao lục gửi tới đạo hữu cùng những ai quan tâm đến nội dung này bài cúng thí thực của Sư ông Làng Mai – Thích Nhất Hạnh soạn, để chúng ta cùng tham cứu và có thể sử dụng được.

    Tài liệu tham khảo

    – Kinh Đại phương Quảng Phật Hoa Nghiêm,

    – Kinh Địa Tạng; Kinh Pháp Hoa (phẩm Phổ môn)

    – Hiển Mật viên Thông tác giả Trần Giác, Tỳ kheo Thích viên Đức

    – Bài viết “Mông Sơn thí thực” của tác giả: Đức Hạnh trên trang điện tử Chùa: A Di Đà

    Xem tiếp phần 2: Bài cúng thí thực của sư ông Làng Mai Thích Nhất Hạnh soạn.

    Cư sĩ: Nguyễn Đức Sinh và Đức Hạnh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghi Thức Mông Sơn Thí Thực
  • Cúng Đầy Tháng Cho Bé Và Tất Tần Tật Những Điều Ba Mẹ Cần Phải Biết
  • Vì Sao Phải Biết Thôi Nôi Tính Ngày Âm Hay Dương
  • Cúng Đầy Năm Cho Bé Ngày Âm Hay Dương, Cần Những Gì?
  • Cúng Thôi Nôi Ngày Âm Hay Dương Là Chính Xác?
  • Độ Cứng Của Nước Là Gì, Cách Tính Độ Cứng Của Nước, Đơn Vị Đo Độ Cứng

    --- Bài mới hơn ---

  • Máy Đo Độ Cứng Kim Loại Cầm Tay Giá Rẻ
  • Mách Nước Cách Chọn Sim Số Để Tăng Tài Lộc, Vận Khí
  • Luận Án: Quá Trình Hình Thành Lễ Hội Cung Đình Ở Huế, Hay
  • Tử Vi Đầu Số Phú Giải
  • Chuyện Cổ Phật Gia: Lục Tổ Huệ Năng Đoán Biết Vận Mệnh Của Chính Mình
  • Độ cứng của nước là số đo hàm lượng các ion kim loại Ca2+, Mg2+ có trong nước. Độ cứng toàn phần của nước bằng tổng hàm lượng các ion canxi và magie có trong nước.

    Độ cứng nước được chia thành độ cứng tạm thời ( độ cứng cacbonat) và độ cứng vĩnh cửu

    Độ cứng tạm thời, hay còn được gọi là độ cứng cacbonat, là loại độ cứng nước gây ra bởi sự hiện diện các khoáng chất bicarbonat hòa tan . Khi hòa tan các khoáng chất dưới dạng các cation Ca 2+, Mg 2+, anion cacbonat và bicacbonat (CO 32-, HCO 3). Độ cứng tạm thời có thể được giảm bằng cách đun sôi nước hoặc sử dụng vôi ( canxi hydroxit)

    Độ cứng tạm thời được tính bằng tổng hàm lượng ion Ca 2+ và Mg 2+ trong các muối cacbonat và hydrocacbonat canxi, magie hydrocacbonat .

    – Độ cứng vĩnh cửu, còn được gọi là độ cứng không cacbonat, là độ cứng không thể loại bỏ bằng cách đun sôi. Nhắc đến độ cứng vĩnh cửu là sự tồn tại của các ion Ca 2+, Mg 2+ trong các muối axit mạnh của canxi và magie.

    Độ cứng vĩnh cửu được tính bằng tổng hàm lượng ion Ca 2+ và Mg 2+ trong các muối axit mạnh của canxi và magie.

    Nếu trong nước hàm lượng của ion HCO 3< Ca 2+ và Mg 2+ (mđlg/l) thì trị số độ cứng cacbonat bằng nồng độ ion HCO 3

    Để biểu thị nồng độ ion Ca 2+, Mg 2+ và HCO 3 bằng mg/l thì độ cứng tổng các các độ cứng thành phần được tính theo các công thức sau:

    Độ cứng cacbonat

    Giớ hạn cho phép của độ cứng trong nước ăn uống sinh hoạt không được vươt quá 7mđlg/l. Trong trường hợp rất đặc biệt cho phép không quá 14mđlg/l

    Hiện nay chưa thống nhất được đơn vị quốc tế để đo độ cứng, các nước có quy ước riêng của mình để đo độ cứng, đơn vị đo độ cứng của Pháp là 0f, của Đức là 0dH, của Anh là 0 e. Việt Nam dùng đơn vị đo độ cứng là mili đương lượng trong 1 lít ( mđlg/l), khi đo độ cứng bé dùng micro đương lượng gam trong lít ( mcrđlg/l)

    Bảng chuyển đổi đo độ cứng

    Gpg: 64,8 mg canxi cacbonat mỗi gallon( 3,79 lít) hoặc 17,118 ppm

    1 mmol/l tương đương với 100,09 mg/l CaCO 3 hoặc 40,08 mg/l Ca 2+

    0 dH : 10 mg/l CaO hoặc 17,848 ppm

    de: 64,8 mg CaCO 3 mỗi 4,55 lít nước tương đương 14,254 ppm

    0f : 10 mg/l CaCO 3 tương đương với 10 ppm

    Căn cứ vào độ cứng trong nước để xác định loại nước cứng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bộ Đồ Thờ Cúng Đắp Nổi,bo Do Tho, Bộ Đồ Thờ
  • Lư Thắp Hương Bằng Đồng Để Ngoài Trời
  • Bạn Đã Biết Thắp Hương Ông Công Ông Táo Như Thế Nào Cho Đúng Chưa?
  • Có Nên Thắp Hương Hàng Ngày Không? Nên Thắp Hương Vào Lúc Nào?
  • Lầu Thắp Hương Tại Chùa Bằng Đồng
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100