Phong Tục Cúng Giỗ Của Người Hà Nội Xưa

--- Bài mới hơn ---

  • Bài Cúng Cách Cúng Nhập Trạch Nhà Thuê Chung Cư Và Những Điều Lưu Ý
  • Xem Ngày Nhập Trạch Theo Tuổi Gia Chủ Khi Về Nhà Mới
  • Nhập Trạch Là Gì? Nên Kiêng Kỵ Gì Vào Ngày Nhập Trạch
  • Những Việc Cần Làm Trước Khi Nhập Trạch Nhà Mới
  • Xem Ngày Tốt Nhập Trạch Vào Nhà Mới Theo Tuổi
  • Riêng giỗ, ông cha ta xưa rất coi trọng. Cúng giỗ tổ tiên, ông bà, cha mẹ, được coi là “báo hiếu”, là ngày con cháu tưởng nhớ đến công lao sinh thành, xây nếp đắp móng của các vị tiền hiền, và cầu xin vong linh các vị phù hộ độ trì cho.

    Các cụ chia giỗ làm hai loại: giỗ trọng và giỗ thường

    Giỗ trọng là giỗ những người thân mới mất, thường là ông bà, cha me. Còn giỗ thường là giỗ những người ở thế hệ xa hơn: cụ kỵ, chú bác, cô, anh chị… Các cụ vẫn truyền cho con cháu câu: “Ngũ đại mai tiền chi” (năm đời không còn chủ), tức là từ đời thứ 5 trở lên (đời kỵ) các cháu chắt không phải cúng giỗ nữa, nhưng những ngày tết và những ngày giỗ khác, các vị từ đời thứ năm trở lên vẫn được tiến chủ (người đứng lễ) khấn, mời về “đồng hưởng” cùng vong linh những người đã khuất của gia đình.

    Nhân dân ta mang truyền thống “uống nước nhớ nguồn” nên hàng năm những vị khai sáng ra một dòng họ – được suy tôn là “khởi tổ” hoặc “thuỷ tổ” – vẫn được chắt chút cúng giỗ ở nhà thờ “đại tôn” (nhà thờ của họ).

    Trong khoảng 20 năm trở lại đây, nhiều nhà thờ họ được xây lại, được tôn tạo sửa chữa tôn tạo và việc cúng giỗ tổ tiên được khôi phục. Họ nội nhà tôi là một họ nhỏ, lại phân tán, kỳ giỗ Tổ tộc họ hàng năm cũng được 6-7 chục chắt chút về dự. Họ ngoại của tôi là một họ lớn, mỗi lần giỗ tập trung tới 5-7 trăm người ở khắp nơi trong cả nước và ở cả nước ngoài. Đó là dịp để các chắt chút… của Tổ gặp nhau, trước tỏ lòng thành kính với Tổ, sau là nhận họ, nhận hàng.

    Nhiều họ, ngày giỗ Tổ còn là ngày động viên chắt, chút… làm những việc tốt, tuyên dương những chắt, chút mới tốt nghiệp đại học, trên đại học, có phần thưởng cho những chút, chít mới đỗ vào đại học hoặc học giỏi. Ở Phú Thọ, còn có phong trào “dòng họ tự quản” với những “tộc ước” rất cụ thể.

    Riêng ngày giỗ trọng thì mỗi gia đình tổ chức một khác

    Quê tôi xưa thuộc ngoại thành Hà Nội, nay là quận Hoàng Mai, có một nếp sống rất đẹp là đám ma đám giỗ thì tuỳ tâm gia chủ, tổ chức như thế nào do gia đình bàn bạc thống nhất. Các cụ truyền dạy: “Đó là việc hiếu, mọi người đến không phải vì cỗ to, vì miếng ăn, mà là để tưởng nhớ người đã mất, vì họ hàng làng xóm tối lửa tắt đèn có nhau”. Vì vậy, các đám ma, đám giỗ ở quê tôi, không ai buông một lời chê, không có cãi vã, to tiếng, say rượu, cờ bạc…

    Các cụ rất coi trọng cỗ, chứ không coi trọng cỗ. Ngày giỗ lấy tâm thành là chính chỉ cần “bát cơm, quả trứng” cúng là đủ. Vì vậy, hầu như tất cả các gia đình ở Hà Nội, dù làm giỗ to nhỏ, nhiều ít, mâm cao cỗ đầy như thế nào thì gần cuối buổi lễ đều dâng lên bàn thờ một bát hoặc một liễn cơm và một quả trứng (hột) vịt hoặc gà luộc đã bóc vỏ, và bóp vỡ một chút ở chỗ ít lòng trắng để lộ phần lòng thêm một ít muối bên cạnh.

    Xưa những đám giỗ trọng ở quê tôi có hai cách tổ chức gàn như là lệ làng: Làm mở rộng đối với những giỗ mới, nhất là giỗ đầu (một năm sau ngày mất và giỗ hết (hai năm sau ngày mất, có nhà làm vào ngày thứ 100 sau hai năm gọi là giỗ bỏ tang hay “bỏ trở” – từ sau ngày đó, con cháu không phải để trở).

    Làm trong phạm vi hẹp (chú bác, anh chị em, con cháu) rượu từ giỗ sau giỗ bỏ tang trở đi. Gia chủ có làm rộng cũng ít người đến.

    Về cỗ, quê tôi có hai loại, tuỳ hoàn cảnh gia đình mà chọn:

    – Làm cỗ bình thường (quê tôi gọi cỗ “bàn than”): chỉ có mấy món chế biến từ thịt lợn: luộc, rang, lòng, có thể thêm đĩa giò.

    – Làm cỗ to (gọi là cỗ “đồ Tàu”) có những món cầu kỳ hơn, thường mỗi mâm có có bốn bát và tám đĩa: giò, nem, ninh, mọc, nấm, bóng…

    Có gia đình khá giả làm cả bò, lơn, gà (hoặc dê) gọi là cỗ “tam sinh”.

    Những giỗ làm theo phạm vi rộng thường 30 mâm, có nhà tới hàng trăm mâm, trong phạm vi hẹp độ 5- 10 mâm (mỗi mâm 6 người).

    Trước ngày giỗ độ 10 ngày, ông trưởng (con trai đầu) mời tất cả con trai, con gái của người mất đến họ để thống nhất cách làm giỗ và phân công mỗi người một nhiệm vụ; người mua thực phẩm, người mượn bát đũa, mâm nồi, người dựng rạp. Các người con tự nguyện đóng góp, tùy khả năng và tùy tâm, không bổ bán, không chia đều. Sau khi thống nhất, hai vợ chồng trưởng nam phải đích thân đi mời từng nhà: “Tiếng chào cao hơn mâm cỗ!”, có nhà ế hàng chục mâm cỗ chỉ vì sơ suất khi mời.

    Cũng như các nơi khác, quê tôi nhà nào cũng có một bàn thờ gia tiên đặt ở gian giữa – nơi trang trọng nhất, từ hai cột chính đến sát tường sau. Nhà nghèo thì bàn thờ là một tấm gỗ sơn đỏ nối hai cột chính với hai cột sau. Trên tường chính giữa dán một vuông giấy đỏ có viết một chữ Hán to “Phúc” hoặc “Thần”. Trên tấm gỗ, đặt ba bát hương, bát giữa kê cao hơn thờ thần linh, bát bên phải thờ gia tiên và bát bên trái thờ các “bà cô, ông mãnh” – những người chết chưa vợ, chưa chồng và được gia đình coi là linh thiêng. Hai góc trước của bàn thờ có hai cây nến tiện bằng gỗ.

    Nhà khá hơn thì bàn thờ là một án thư có trang trí hoa văn, sơn son hoặc sơn then (đen), đèn nến bằng gỗ tiện sơn son. Nhà giàu thì chạm trổ “tứ linh” (bốn con vật thiêng: long (rồng), ly (kỳ lân), quy (rùa), phượng (chim phượng hoàng); mặt trước án thư là một tấm gỗ quý chạm “mai long” (cây hoa mai uốn hình rồng) hoặc chữ “ngũ long” (năm con rồng quây thành một vòng tròn), tất cả đều bằng sơn son thếp vàng.

    Trên án thư có bộ “tam sự” bằng đồng, có nhà còn thêm bộ đài rượu bằng gỗ sơn son hoặc bằng đồng (gồm ba khối hình ống, đáy cao, có nắp đậy, trên mỗi đáy đặt một chiếc chén hạt mít, khi cúng cơm, gia chủ mở nắp, rót vào chén). Có nhà thêm ống cắm hương chưa thắp, mâm bồng để bày hoa quả…

    Những năm từ giữa thế kỷ XX, khi kỹ thuật chụp ảnh phổ cập, thì trên án thư còn đặt ảnh những người đã mất; trên tường sau còn treo một bức hoành, có 3-4 chữ Hán to, ghi nguyện vọng, sự cầu mong của gia đình và đôi câu đối phẳng hoặc hình lòng máng nói về công đức của tổ tiên và lòng hiếu của con cháu; tất cả đều sơn son thiếp vàng.

    Ở các nhà thờ “đại tôn”, sau án thư là một tấm cửa võng, chạm trổ tinh vi, sơn son thiếp vàng, phía sau treo hai cánh màn bằng vóc hoặc nhiễu đỏ, ngăn án thư với “hậu cung”, khi cúng, gia chủ vén màn sang hai bên, để lộ cung sau. Hậu cung là một cái bục lớn, cao ngang án thư bằng gỗ hoặc xây gạch, sát đến tường sau, trong cùng có một chiếc bàn vuông, trên đặt chiếc ngai sơn son thiếp vàng, trên ngai đặt chiếc bài vị gỗ mấy dòng chữ Hán: họ, chi, quê…

    Hai bên ngai, đặt hai giá cắm nến; khi cúng, gia chủ thắp nến để chiếu sáng cho cung. Trước ngai có một chiếc mâm gỗ vuông cao để đặt cỗ khi cúng cơm. Thường vào ngày giỗ trong, nhà ông trưởng nam tấp nập từ chiều hôm trước, để hoàn tất việc chuẩn bị và để cúng cơm.

    Thường vào ngày giỗ trọng, nhà ông trưởng nam tấp nập từ chiều hôm trước, để hoàn tất việc chuẩn bị và để cúng “tiên thường”. Hôm giỗ, mọi việc diễn ra khẩn trương từ 2-3 giờ sáng dưới ánh đèn đuốc, nhóm giết lợn, giết bò, chuẩn bị thực phẩm, người vo gạo, thổi xôi… Tiếng cóc cách giã giò hoà tiếng lao xao người nọ hỏi người kia, lệnh của ông trưởng vang vang… tạo ra một không khí nhộn nhịp của một nhà có đám.

    Khoảng 8 giờ sáng, các mâm cỗ đã xong, một hoặc ba mâm được để lên bàn thờ (hoặc cung sau). Ông trưởng nam, áo the khăn xếp, bước lên chiếc sập trước bàn thờ để thắp hương, đèn nến rồi đứng giữa sập, hai tay chắp giữa ngực, lên gối xuống gối lễ ba lần, đoạn đứng nghiêm, mười ngón tay đan vào nhau và đưa lên ngang trán, miệng lầm rầm khấn.

    Bài nhấn có ba phần. Mở đầu là ngày tháng năm (âm lịch), tại nhà thờ ở thôn, xã, huyện, tỉnh… tiến chủ tên gì, nhân ngày giỗ ai, thành tâm cúng tiến những gì. Phần sau là gia chủ kính mời từ thần linh, thổ địa, táo quân… đến tên họ và hiệu, nơi an táng các vị trong gia đình theo thứ tự từ trên xuống (chỉ khấn nam và dâu họ, nữ không khấn, trừ trường hợp chết chưa có chồng).

    Cuối bài khấn là những cầu xin. Khấn xong, ông trưởng nam lễ một lễ và ba vái nữa, rồi rót rượu cúng. Một số họ lớn, khi giỗ tổ họ, tổ chức dâng hương tế tổ và thay bài khấn bằng một bài văn tế, ông trưởng lễ xong thì đọc bài văn tế, rồi đem ra sân đốt như đốt sớ ở đình chùa.

    Khi ông trưởng nam khấn xong, những người đến dự giỗ lần lượt già trước, trẻ sau vào lễ, người nào cũng đem một ít hoa, quả hoặc vàng hương, trầu rượu đặt lên bàn thờ rồi lễ, mỗi người ba lễ một bái, nam thì lễ như ông trưởng, nữ thì ngồi vào góc sập, chắp hai tay trước ngực, khi cúi thì giáp mặt tận chiếu, hai bàn tay xoè ra đặt hai bên đầu. Những bà gia đình có đại tang (bố mẹ hoặc chồng mới chết) phải lật một phần chiếu, ngồi xuống mặt sập, hai tay lật ngửa vòng khăn trắng quấn tóc mà lễ.

    Thường cháy dở tuần nhang (hương) thứ hai thì cúng cơm và cuối tuần nhang thì ông trưởng nam tạ lễ, hoá vàng rồi hạ cỗ cho con cháu xin lộc.

    Sơ qua phong tục cúng giỗ của người Hà Nội khoảng giữa thế kỷ XX như vậy để thấy ông cha ta rất cẩn trọng khi cúng giỗ. Giỗ là để họp mặt gia đình, để tưởng nhớ và noi gương tốt của những người thân trong gia đình đã mất, đó là việc hiếu, là một hoạt động tâm linh của người Việt nói chung, người Hà Nội nói riêng. Nó mang nặng tính truyền thống và là một phong tục đậm đà bản sắc dân tộc, cần được duy trì.

    Khoảng trên chục năm nay, khi đời sống nói chung khấm khá, việc cúng giỗ được nhiều gia đình, dòng họ khôi phục. Nhưng do không hiểu hết ý nghĩa đúng hoặc không có ai hướng dẫn, hoặc cố tình làm to, làm trong diện rộng để khoe khoang, để thu lời.

    Có người đi ăn giỗ để đền ơn người sống, để hối lộ, nên đặt lên bàn thờ không phải đồ lễ mà là phong bì… làm cho đám giỗ mất đi ý nghĩa cổ truyền của nó, gây một sự ganh đua giữa các gia đình, tạo điều kiện cho một số việc làm xấu, một số tệ nạn xã hội – thường là cờ bạc, đốt vàng mã – phát triển.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vợ Mất 3 Ngày Thì Có Con Rắn Đen To Bò Vào Nhà, Định Cầm Gậy Đánh Thì Mẹ Ngăn Lại Rồi Thắp Hương Bát Cơm Quả Trứng
  • Thực Đơn Chay Khoa Học Đầy Đủ Dinh Dưỡng Trong 1 Tuần
  • Tổ Chức Tiệc Đám Giỗ Cùng Thực Đơn Chay Thanh Đạm
  • Top 4 Món Ngon Từ Ngan Khiến Thực Đơn Đặt Tiệc Đám Giỗ Quận 4 Thêm Tròn Vị
  • Tự Nấu Hay Chọn Dịch Vụ Nấu Tiệc Đám Giỗ Tại Nhà Của Hai Thụy?
  • Mùng 3 Tháng 3 Ngày Giỗ Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh

    --- Bài mới hơn ---

  • Linh Thiêng Lễ Giỗ Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh
  • Đền Nguyên Phi Ỷ Lan
  • Nguyên Phi Ỷ Lan Và Những Giai Thoạị
  • Nguyên Phi Ỷ Lan Nguyen Phi Y Lan Doc
  • Nghệ Sĩ Việt Tề Tựu Trong Ngày Giỗ Mẹ Hiếu Hiền
  • Mộ phần Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh tại thôn Vân Cát huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định.

    Từ trung tâm Hà Nội, du khách lái xe hướng qua ra đường CT 01/ CT Pháp Vân – Cầu Giẽ. Đến đoạn giao giữa CT Hà Nội – Ninh Bình và CT Pháp Vân – Cầu Giẽ, lái xe qua vòng xuyến sang QL 21B vào Đại lộ Thiên Trường. Tại vòng xuyến Big C Nam Định, dẽ phải vào QL10/QL38B qua cầu Lộc An tới Đại Lộ Lê Đức Thọ qua cầu Nam Định dẽ phải vào ĐT490/ ĐT 490C, dẽ trái vào ĐT487 đến ngã rẽ phải thứ 5 dẽ vào và đi thẳng đến ngã dẽ thứ 4 bên trái dẽ vào đi thẳng theo đường làng Phú Hào là tới đền Phủ Giày.

    Đền Phủ Giày thờ ai?

    Đền là một quần thể gồm nhiều ngôi đền nhỏ ghép lại. Đặc biệt phải nói đến kiến trúc quan trọng nhất là đền thờ bà chúa Liễu Hạnh (phủ chính), ngay sát chợ Viềng. Các kiến trúc còn lại là Tiên Hương, Vân Các, Công Đồng từ, đền thờ Lý Nam Đế, chùa Linh Sơn, lăng bà chúa Liễu Hạnh. Phủ Tiên Hương được coi là đền chính của Mẫu Liễu Hạnh và thờ bên chồng của Mẫu, còn phủ Vân Cát và Phủ Tổ là nơi thờ Mẫu và bên ngoại (bên bố mẹ đẻ) của Mẫu.

    Lịch sử đền Phủ Giày

    Đền Phủ Dầy có truyền thuyết kể lại rằng xưa kia vì nhớ thương chồng con trước khi về trời mà bà chúa Liễu Hạnh đã để lại chiếc giày ở trần gian. Cũng có truyền thuyết kể lại rằng vua đi qua vùng này và nghỉ đêm ở quán hàng của bà chúa Liễu Hạnh, sau đó được tặng một đôi giầy nên đã lập nơi thờ tự và gọi đó là Phủ Dầy. Khi gọi Phủ Dầy còn vì chính nơi này có món bánh dày – giò nổi tiếng, lại có người cho rằng: Kẻ Dày xuất phát từ nơi có gò đất nổi lên hình bánh dầy trước cửa phủ.

    Phủ Dầy bắt nguồn từ tên một làng cổ là “Kẻ giầy”. Theo “Sự tích công chúa Liễu Hạnh” của Trọng Nội, Xuất bản năm 1959 thì: đời Vua Anh Tông (1557) làng kẻ Giầy đổi thành xã An Thái gồm: Vân Cát, Vân Cầu, Vân La (Vân Đình) và Vân Miếu. Đến đời Gia Long, Vân Cát chia thành 2 xã là Vân Cát và Kim Thái. Sang đời Tự đức (1860) xã An Thái đổi thành 2 thôn Vân Cát và Tiên Hương xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Tỉnh Nam định.

    Vân Cát là nơi sinh ra, Tiên Hương là quê chồng và là nơi chôn cất Mẫu Liễu Hạnh khi Bà qua đời sau lần giáng trần thứ nhất. Phủ Dầy chính là “cái nôi” sinh ra Thánh Mẫu Liễu Hạnh và là tên gọi chung cho một quần thể các di tích của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở huyện Vụ Bản Nam định. Tên di tích được gọi theo địa danh ở địa phương.

    Kiến trúc đền Phủ Giày

    Đền Phủ Giày gồm 3 quần thể chính:

    Phủ Tiên Hương thuộc thôn Tiên Hương, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định; nằm cạnh đường giao thông liên xã. Đây là phủ chính trong quần thể di tích Phủ Dầy. Phủ được xây dựng từ thời Lê – Cảnh Trị (1663 – 1671), trải qua bao thăng trầm lịch sử, phủ vẫn giữ được nét cổ kính thời xưa.

    Năm 1996 Phủ Tiên Hương đã được sửa chữa lớn để thờ phụ thân của Mẫu Liễu Hạnh và thờ cả đức Thánh Trần. Phủ Tiên Hương còn lưu giữ được một số sắc phong, sớm nhất là đời Lê Chính Hòa, rồi đến Lê Vĩnh Thịnh, Lê Vĩnh Khánh đầu thế kỷ XVIII.Thánh Mẫu được tôn là “Mạ vàng công chúa”, “Mẫu nghi thiên hạ”.

    Cảnh quan của phủ rất rộng rãi và thoáng đãng. Mới bước vào, du khách sẽ thấy một giếng nước tròn bên trong là ụ đất để cắm cờ khi diễn ra lễ hội. Cán cờ bằng gậy gỗ, trên đầu buộc túm lá hoặc quạ đen làm thiên sứ của trời. Lá cờ thần được treo trên đỉnh. Tiếp đến là sân lớn diễn ra các trò chơi hay là nơi những sập bán hàng được bày bán trong mùa lễ hội. au sân lớn là ba phương đình với phương du ở giữa và hai bên phương đình làm nơi gác chuông, gác trống. Tiếp nối 3 phương đình là hồ bán nguyệt, xuống hồ bán nguyệt có hai cầu được lát bằng đá, đối xứng qua hồ, bên phải là nhà bia và lầu Cậu, bên trái là nhà bia và lầu Cô.

    Kiến trúc các dãy nhà tại Phủ được nối liền nhau tạo thành thể thống nhất. Mỗi nhà sẽ có phòng riêng gọi là cung, có tất cả 4 cung: Cung đệ tứ thờ Tứ phủ công đồng hay còn gọi là ban Công Đồng. Đối xứng với cung Đệ Tứ bên trái là Ban Quan lớn Thủ phủ và bên phải là Ban Chầu Thủ phủ; cung đệ tam thờ Đức Vua cha Ngọc Hoàng và Hội Đồng các quan hay Ngũ vị vương quan; Cung đệ nhị thờ Tứ Vị Chầu bà và ba bộ long ngai; Cung Đệ nhất là cung thờ Tam Tòa Thánh Mẫu. Cung này ở trong cùng. Tuy nhiên, đa phần nơi thờ Mẫu Tứ phủ có nội cung (cung cấm).

    Cung cấm có khám kính đặt tượng đồng Mẫu Liễu Hạnh cùng với hai Mẫu Quang cung Quế Anh phu nhân và Quỳnh cung Duy Tiên phu nhân đều được phong thần và sắc phong. Tuy nhiên, không phải lúc nào bạn cũng có thể vào đó được mà phải có sự cho phép của ban quản lý khu di tích mới được đặt chân vào đó.

    Bên cạnh các dãy nhà thờ có 1 dãy nhà nữai là Ban Trần Triều. Trong dãy nhà này có đặt ban thờ Ban Trần Triều và Ban Đức Vương Phụ, Vương Mẫu. Đằng sau nơi thờ chính là Động Sơn Trang, nơi này thờ bà Chúa Đệ Nhị Thượng ngàn Hai Chầu và mười hai cô Sơn Trang.

    Phủ nằm phía bắc thôn Vân Cát xã Kim Thái, cách phủ Tiên Hương chừng 1 km. Phủ nằm giữa đền làng Vân Cát và chùa Long Vân nơi thờ Phật, vì thế tạo nên một quần thể thờ Phật – Mẫu – Thần.

    Văn bia “Thánh Mẫu cố trạch linh từ bi ký” được đặt ở Ngũ Vân Lâu trước phủ do Tổng tài quốc sư quán đời Nguyễn là Cao Xuân Dục soạn năm Thành Thái Tân Sửu (1901) viết về quá trình xây dựng phủ Vân Cát: ” .. .là một lầu cổ miếu, chọn đất dựng nền từ thời Lê Cảnh Trị (1633- 1671), làm đơn giản mà đẹp, Khoảng đời Cảnh Thịnh (1794- 1800) hội nguyên Trần Gia Du, thiếu tả giám Trần Công Bản đã mở rộng ra. đến năm Kỷ Mão (1879) đời Tự đức, quan huyện Lê Kỳ đã sửa lợp lại, đến năm Thành Thái thứ 12(1900) thì hoàn thành “.

    Từ cổng bước vào, du khách sẽ gặp Ngũ Vân Lâu, gác chuông với 5 cổng lớn xây dựng từ năm Tự Đức. Phía trong là hồ bán nguyệt xây bằng đá. Giữa hồ bán nguyệt có phương du nằm ở giữa và có hai cầu đá dẫn ra ngoài. Phương du gồm có ba gian làm bằng gỗ lim, mái có góc uốn cong, xung quanh lan can được ghép bằng những tường hoa bằng đá với những mảng phù điêu trạm khắc một số loài hoa và những con voi. Phương du có bốn mặt thoáng, là nơi khách đứng xem kéo chữ vào ngày hội.

    Bên trong phủ có 4 cung thờ: kết câu hai cung đệ nhất và đệ nhị đều có 3 gian, và cả 2 đều được xây từ năm Tự Đức (1879). Cả hai cung đều bị giặc Pháp phá hủy mãi về sau mới được tôn tạo lại.

    Cung đệ nhất là chính cung khép kín thờ Tam Tòa Thánh Mẫu, tượng bằng đồng gồm có Mẫu Thượng Thiên ngồi giữa, Mẫu Thượng Ngàn bên trái, Mẫu Thoải bên phải.

    Cung đệ nhị thờ Tứ vị chầu Bà và Tam tòa quan lớn, đặc biệt có hai khám hai bên thờ Ông Hoàng Mười (bên phải) và Ông Hoàng Ba (bên trái).

    Trong Phủ còn dấu tích nhiều câu đối, đại tự, hoành phi có giá trị. Ngoài ra, nét độc đáo còn nằm ở văn bia cùng ngũ vân lâu ngay tại mặt chính của đền, các công trình bố trí chặt chẽ tạo thành thể thống nhất, giữ lại nét giá trị từ ngàn đời.

    Lăng mộ Thánh Mẫu Liễu Hạnh

    Lăng mộ Thánh Liễu Hạnh nằm ở thôn Tiên Hương trên cồn cá chép. Ngôi mộ trước kia là bãi đất với lùm cây xanh lá, sau đó được xây thành khu nhỏ gồm gạch lát đá. Sau đó, vua Bảo Đại cầu tự được con và được thánh Mẫu báo mộng cho, năm 1938, vua Bảo Đại biết ơn mẫu và cho trùng hưng lại lăng mộ với chất liệu bằng đá xanh và 60 búp sen hồng quy mô như hiện nay.

    Hướng chính của lăng là hướng Tây quay về phía núi Tiên Hương. Từ ngoài vào bước theo bậc tam cấp lên đến mộ phải qua 5 lớp tường toàn bằng đá được chạm khắc, mỗi lớp tường vuông đều có cửa, cửa được bổ trụ bằng đá vuông với ba mặt đều khắc câu đối và phía trên đặt các nụ sen bằng đá hồng nhạt tới 60 nụ sen đá.

    Xung quanh lăng mộ là hàng cây 4 mùa xanh mát, 4 cột trụ chính đặt 4 góc khiến lăng mộ càng thêm long trọng và trang nghiêm. Ngôi mộ được đặt ngay chính trung tâm và ở chỗ cao nhất của cả khu lăng. Tại bốn cửa ở bậc cuối cùng đều có một bức bình phong bằng đá án ngữ. Phía sau cửa chính, nằm về hai phía góc đối diện với cửa ra vào là hai nhà bia với bốn cột vươn lên.

    Bên cạnh khu lăng mộ còn có một gian nhà thờ tự với kết cấu sau: Ban thờ Mẫu nằm chính giữa, từ ngoài bước vào thì bên phải ngay cạnh ban thờ Mẫu là ban thờ Bà Cai Bản mệnh, tiếp là ban thờ đức Thánh Trần. Bên trái của Ban thờ Mẫu là ban thờ quan lớn đệ nhất và ban thờ Nhị Vị Cô Nương.

    Hàng năm vào mùa lễ hội, đền đón hàng ngàn khách du lịch về trẩy hội. Hòa chung không khí tấp nập của mùa lễ hội, dân làng và du khách càng thấy hứng khởi đón chào một năm mới đầy thắng lợi./

    Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

    Trong tín ngưỡng của người Việt và của một số dân tộc thiểu số khác ở trên lãnh thổ Việt Nam, việc tôn thờ nữ thần, thờ mẫu thần, thờ mẫu tam phủ tứ phủ là hiện tượng khá phổ biến và có nguồn gốc lịch sử và xã hội sâu xa. Tuy tất cả đều là sự tôn sùng thần linh nữ tính, nhưng giữa thờ nữ thần, mẫu thần, mẫu tam phủ tứ phủ không hoàn toàn đồng nhất.

    Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam là một tín ngưỡng bản địa cùng với những ảnh hưởng ngoại lai từ đạo giáo, tín ngưỡng lấy việc tôn thờ Mẫu (Mẹ) làm thần tượng với các quyền năng sinh sôi, bảo trữ và che chở cho con người. Tín ngưỡng mà ở đó đã được giới tính hoá mang khuôn hình của người Mẹ, là nơi mà ở đó người phụ nữ Việt Nam đã gửi gắm những ước vọng giải thoát của mình khỏi những thành kiến, ràng buộc của xã hội Nho giáo phong kiến. Vào hồi 17h15 giờ địa phương (21h15 giờ Việt Nam) ngày 1/12/2016, tại Phiên họp Uỷ ban Liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 11 của UNESCO diễn ra tại thành phố Addis Ababa, Cộng hòa dân chủ Liên bang Ethiopia, di sản “Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” đã chính thức được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại./

    Các dạng thức thờ Mẫu Thờ Mẫu ở Bắc bộ

    Bắt nguồn từ tục thờ Nữ thần có nguồn gốc xa xưa từ thời tiền sử, tới thời phong kiến một số Nữ thần đã được cung đình hoá và lịch sử hoá để thành các Mẫu thần tương ứng thời kỷ từ thế kỷ 15 trở về trước với việc phong thần của nhà nước phong kiến, hình thức thờ Mẫu thần với các danh xưng như Quốc Mẫu, Vương mẫu, Thánh Mẫu như hiện tượng thờ Âu Cơ, Ỷ Lan, Mẹ Thánh Gióng, Tứ vị Thánh nương,…

    Thờ Mẫu ở Trung Bộ Thờ Mẫu ở Nam bộ

    So với ở Bắc Bộ, tục thờ Nữ thần và Mẫu thần có sự phân biệt nhất định với biểu hiện rõ rệt là thông qua tên gọi và xuất thân của các vị thần thì ở Nam Bộ sự phân biệt giữa hình thức thờ Nữ thần và Mẫu thần ít rõ rệt hơn, hiện tượng này được giải thích với nguyên nhân Nam Bộ là vùng đất mới của người Việt, khi di cư vào đây họ vừa mang các truyền thống tín ngưỡng cũ lại vừa tiếp nhận những giao lưu ảnh hưởng của cư dân sinh sống từ trước tạo nên bức tranh không chỉ đa dạng trong văn hoá mà còn cả trong tín ngưỡng

    Những Nữ thần được thờ phụng ở Nam Bộ như Bà Ngũ Hành, Tứ vị Thánh nương, Bà Thuỷ Long, Bà Chúa Động, Bà Tổ Cô,…và những Mẫu thần được thờ phụng như Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Bà Chúa Ngọc, Bà Thiên Hậu,…

    Liễu Hạnh công chúa

    Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

    (đổi hướng từ Mẫu Liễu Hạnh)

    Bài viết này cần thêm chú thích nguồn gốc để kiểm chứng thông tin. Mời bạn giúp hoàn thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn đáng tin cậy. Các nội dung không có nguồn có thể bị nghi ngờ và xóa bỏ.

    Đền thờ Thánh Mẫu, đường Ngô Quyền, thành phố Thông tin chung Đà Lạt

    Tên thật Phạm Tiên Nga

    Liễu Hạnh Công chúa ( chữ Hán: 柳杏公主) là một trong những vị thần quan trọng của tín ngưỡng Việt Nam. Bà còn được gọi bằng các tên: Bà Chúa Liễu, Liễu Hạnh (柳杏), Mẫu Liễu Hạnh (母柳杏) hoặc ở nhiều nơi thuộc vùng Bắc Bộ bà được gọi ngắn gọn là Thánh Mẫu.

    Truyền thuyết

    Theo truyền thuyết trong dân gian Việt Nam, Liễu Hạnh là một trong bốn vị thánh Tứ bất tử. Bà vốn là con gái thứ hai của Ngọc Hoàng Thượng đế, 3 lần giáng trần. Bà đã được các triều đại phong kiến từ thời nhà Hậu Lê đến thời nhà Nguyễn cấp nhiều Sắc, tôn phong là “Mẫu nghi thiên hạ – Mẹ của muôn dân” và cuối cùng quy y cửa Phật.

    Lần giáng sinh đầu tiên

    Căn cứ vào ” Quảng Cung linh từ phả ký”, ” Quảng Cung linh từ bi ký” và ” Cát Thiên tam thế thực lục” hiện đang lưu giữ ở địa phương do Ban quản lý di tích – danh thắng của tỉnh Nam Định sưu tầm và một số tài liệu trong Hội đồng khoa học lịch sử Nam Định thẩm định thân thế và sự tích bà Liễu Hạnh như sau:

    Vào đầu thời nhà Hậu Lê, tại ấp Quảng Nạp, xã Vỉ Nhuế, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, trấn Sơn Nam; có ông Phạm Huyền Viên, người xã La Ngạn kết duyên cùng bà Đoàn Thị Hằng, người ấp Nhuế Duệ, cũng xã Vỉ Nhuế (nay là thôn Vỉ Nhuế, xã Yên Đồng, Ý Yên, tỉnh Nam Định).

    Hai ông bà là những người hiền lành, tu nhân tích đức nhưng hiềm một nỗi đã ngoài 40 mà chưa có con. Một đêm rằm tháng hai, ông bà được thần báo mộng là Ngọc Hoàng sẽ cho con gái thứ hai là Công chúa Hồng Liên đầu thai làm con, từ đó bà có thai. Trước khi sinh, vào đêm ngày 6 tháng 3 năm Quý Sửu, trời quang mây vàng như có ánh hào quang. Ông Huyền Viên ngồi đợi tin mừng, bỗng như có một nàng tiên từ trong đám mây bước xuống thềm nhà, và bà sinh một bé gái. Vì vậy ông đặt tên con là Phạm Tiên Nga.

    Phạm Tiên Nga càng lớn càng xinh đẹp, mọi việc nữ công gia chánh đều thành thạo, đảm đang. Đến năm 15 tuổi đã có nhiều người đến dạm hỏi nhưng nàng đều khước từ vì nàng còn phải ở nhà chăm sóc cha mẹ già yếu, canh cửi quán xuyến công việc gia đình.

    Ngày 10 tháng 10 năm Nhâm Ngọ ( 1462), cha của nàng qua đời. Hai năm sau mẹ của nàng cũng về nơi tiên cảnh. Phạm Tiên Nga đã làm lễ an táng cha mẹ ở phía đông nam phủ Nghĩa Hưng (nay là thôn La Ngạn, ở đây có đền thờ cha và mẹ của Phạm Tiên Nga).

    Sau ba năm để tang cha mẹ, lo mồ yên mả đẹp, Phạm Tiên Nga bắt đầu chu du khắp nơi làm việc thiện (lúc này Tiên Nga vừa tròn 35 tuổi).

    Cùng với việc đắp đê, bà còn cho làm 15 cây cầu đá, khơi ngòi dẫn nước tưới tiêu, khai khẩn đất ven sông, giúp tiền bạc cho người nghèo, chữa bệnh cho người ốm, sửa đền chùa, cấp lương bổng cho các vị hương sư, khuyên họ cố sức dạy dỗ con em nhà nghèo được học hành.

    Năm 36 tuổi, bà đến bờ Sông Đồi dựng một ngôi chùa trên mảnh vườn nhỏ, đặt tên là Chùa Kim Thoa. Bên trên thờ đức Nam Hải Quan Thế Âm Bồ Tát, bên dưới thờ cha và mẹ.

    Sau đó hai năm, bà tới tu sửa chùa Sơn Trường – Ý Yên, Nam Định, chùa Long Sơn – Duy Tiên, Hà Nam, chùa Thiện Thành ở Đồn xá – Bình Lục, Hà Nam. Tại chùa Đồn xá, Bà còn chiêu dân phiêu tán, lập ra làng xã, dạy dân trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải.

    Tháng Giêng năm Nhâm Thìn ( 1472), bà trở lại chùa Kim Thoa, và tháng 9 năm ấy, Bà trở về quê cũ cùng các anh chị con ông bác tu sửa đền thờ Tổ họ Phạm khang trang bề thế (nay còn đền thờ ở phía nam xóm Đình thôn La Ngạn). Sau đó Bà lại đi chu du ở trong hạt, khuyên răn bà con dân làng những điều phải trái.

    Lần giáng sinh thứ hai

    Ngay sau khi bà mất, nhân dân xã La Ngạn, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng đã lập đền thờ trên nền nhà cũ, gọi là Phủ Đại La Tiên Từ, Đồng thời quê mẹ của Người là xã Vỉ Nhuế cũng lập đền thờ để tưởng nhớ công lao của bà, gọi là Phủ Quảng Cung.

    Lần này, Bà kết duyên với ông Trần Đào, sinh được một người con trai, tên là Nhân, một con gái tên là Hoà. Giữa lúc cả gia đình đang đầm ấm vui vẻ thì bỗng nhiên, vào đúng ngày, Bà mất ngày 3 tháng 3 năm Đinh Sửu, thời Lê Gia Thái thứ 5 ( 1577). Năm ấy, Bà mới 21 tuổi, tuyệt nhiên không bệnh tật gì. Lăng mộ và đền thờ ở Phủ Dầy, thôn Thiên Hương – Vân Cát, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định.

    Hành thiện giúp đời

    Giáng Tiên về trời đúng hạn định theo lệnh của Ngọc Hoàng. Nhưng khi nàng đã ở trên trời thì lòng trần lại canh cánh, ngày đêm da diết trong lòng nỗi nhớ cha mẹ, chồng con nên nàng muốn xuống trần gian lần nữa. Khi về đến nhà vừa đúng lúc gia đình đang làm giỗ mãn tang cho nàng, mọi người đều hết sức ngạc nhiên và vô cùng sung sướng. Nàng ôm lấy mẹ mà khóc, rồi kể hết sự tình, dặn anh hãy gắng lo chăm sóc cha mẹ, vì lần này xuống trần nàng không thể ăn ở như lần trước, rồi trở về nhà chồng. Liễu Hạnh gặp chồng, con cái mừng mừng tủi tủi. Nàng cũng kể rõ mọi chuyện cho chồng biết, khuyên chồng hãy cố gắng luyện chí, yên tâm theo đuổi sự nghiệp công danh, đừng quên chăm sóc con thơ, phụng dưỡng cha mẹ. Nàng quét dọn, sửa sang nhà cửa, may vá quần áo cho chồng cho con, rồi bỗng chốc lại thoắt biến lên mây… Cứ như thế, thỉnh thoảng nàng lại hiện về, làm xong các việc rồi lại biến đi. Ròng rã hàng chục năm sau, cho đến khi con cái khôn lớn và Đào Lang công thành danh toại, nàng mới từ biệt để đi chu du thiên hạ.

    Tương truyền, ông đã gặp thần nữ là Liễu Hạnh công chúa cả thảy hai lần, và đều có xướng họa thơ: một lần gặp ở chùa Thiên Minh ( Lạng Sơn) khi ông đi sứ về, một lần ở Hồ Tây (nay thuộc Hà Nội) khi ông cùng với hai bạn họ Ngô và họ Lý đi chơi thuyền. Lần ở Hồ Tây, người tiên kẻ tục bèn làm thơ xướng họa liên ngâm, sau được nữ sĩ Đoàn Thị Điểm chép trong truyện “Vân Cát thần nữ” ở tập Truyền kỳ tân phả của bà. Theo nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân, thì bài thơ ấy được đặt tên là Tây Hồ quan ngư (Xem cá Hồ Tây). Bản tiếng Việt do Phan Kế Bính dịch có tên là Cảnh Hồ Tây.

    Ông bèn lên tiếng ghẹo: 三木森庭,坐著好兮女子 – Tam mộc sâm đình, tọa trước hảo hề nữ tử.

    Người con gái nghe vậy, đối ngay: 重山出路走來使者吏人 – Trùng sơn xuất lộ, tẩu lai sứ giả lại nhân.

    Phùng Khắc Khoan hết sức kinh ngạc bèn nói tiếp: 山人憑一几,莫非仙女臨凡 – Sơn nhân bàng nhất kỷ, mạc phi tiên nữ tâm phàm.

    c âu này có nghĩa: cô sơn nữ ngồi ở ghế, phải chăng là tiên nữ giáng trần? Nhưng lắt léo ở chỗ: chữ sơn và chữ nhân ghép lại thành chữ tiên . Chữ bàng có bộ kỷ . Chữ nhất và chữ kỷ ghép lại thành chữ phàm .

    Cuộc tái hợp với Đào Lang- Người chồng kiếp trước

    Hiện nay những câu đối, những dấu tích về 2 lần gặp gỡ tại Lạng Sơn và Phủ Tây Hồ còn lưu lại ở Đền Mẫu Đồng Đăng (nơi Phùng Khắc Khoan gặp Liễu Hạnh lần đầu) và Phủ Tây Hồ (lần gặp thứ hai)

    Sau khi hóa về trời,do vẫn còn tâm nguyên giúp đời nên Tiên Chúa khẩn thiết xin Ngọc Hoàng Thượng đế cho trở lại cõi trần gian. Ngọc Hoàng Thượng đế lắng nghe và hiểu rõ tất cả. Ngài cho gọi hai thị nữ tin cậy là Quỳnh Hoa và Quế Hoa bảo cùng đi với Tiên Chúa.

    Những sự việc ấy lọt đến tai vua Lê chúa Trịnh. Hai vị vua chúa cho rằng trước kia tiên vương thả “yêu nữ” ra là một sai lầm, bây giờ đã đến lúc cần phải thẳng tay trừng trị. Bởi vì không thể có luật lệ nào khác ngoài luật lệ của vua chúa và ai muốn làm gì cũng không được tự quyền. Thế là hai vị cho triệu hồi các thuật sĩ tài giỏi trong nước đến kinh đô trong đó có Tiền Quân Thánh (vốn là tướng nhà trời, do mắc lỗi, đã bị đày xuống trần làm con trai thứ ba của một vị thượng sư, sư tổ của phái Nội đạo tràng), giao cho dẫn một đội quân hùng mạnh, đến thẳng miền Phố Cát để đánh dẹp.

    Biết là không thể chống cự lại được, Tiên Chúa bảo Quỳnh Hoa, Quế Hoa tìm cách trốn đi, còn tự mình cũng hóa phép thành đứa trẻ, rồi lại hóa phép thành con rồng có vẩy vàng vẩy bạc múa lượn trên không.

    Lễ hội

    Tiền Quân Thánh lúc ấy ngồi trên voi chín ngà niệm thần chú tung lưới sắt ra chụp lấy. Tiên Chúa bị bắt rồi hiện nguyên hình trở lại.

    Cung thờ Sơn Trang trong Phủ Tây Hồ

    Lễ hội Thánh Mẫu Liễu Hạnh hàng năm được tổ chức vào ngày 3 tháng 3 Âm lịch – ngày giỗ của bà.

    Địa điểm là:

    Đền Sòng Sơn ở đường Hàng Bột, Hà Nội

    Lễ hội thường kéo dài vài tuần lễ. Riêng lễ hội Phủ Dầy, còn gắn liền với Hội chợ Viềng, họp vào ngày 7 tháng giêng./

    Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

    Tứ phủ công đồng hay Tứ phủ là một tín ngưỡng nằm trong của tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam. Tứ phủ bao gồm:

    • Thiên phủ (miền trời): mẫu đệ nhất (mẫu Thượng Thiên) cai quản bầu trời, làm chủ các quyền năng mây mưa, gió bão, sấm chớp.
    • Nhạc phủ (miền rừng núi): mẫu đệ nhị (mẫu Thượng Ngàn) trông coi miền rừng núi, ban phát của cải cho chúng sinh.
    • Thuỷ phủ (miền sông nước): mẫu đệ tam (mẫu Thoải) trị vì các miền sông nước, giúp ích cho nghề trồng lúa nước và ngư nghiệp.
    • Địa phủ (miền đất): mẫu đệ tứ (mẫu Địa Phủ) quản lý vùng đất đai, là nguồn gốc cho mọi sự sống.

    Tam phủ và Tứ phủ Hát Chầu Văn

    Tứ phủ được thờ tại hầu hết các chùa chiền ở miền Bắc Việt Nam. Tại điện Hòn Chén ở Huế, Thiên Y A Na, nguyên là một nữ thần của người Chăm, được nhập vào hệ thống tứ phủ và thờ làm Mẫu Thiên . Trong khi đó, nhiều tài liệu cho rằng ở miền Bắc, Mẫu Thiên lại là Liễu Hạnh Công chúa.

    Đó là hình thức hầu đồng với 36 giá chầu:

    Thỉnh Mẫu Và Quan Đệ Nhất

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lễ Giỗ Đức Thánh Trần Hưng Đạo
  • Lên Núi Mâm Xôi Cầu Bình An Trong Ngày Giỗ Đức Thánh Trần
  • Thiêng Liêng, Ngày Giỗ Đức Thánh Trần
  • 20/8 (Âm Lịch) Lễ Giỗ Đức Thánh Trần Hưng Đạo
  • Giải Thích Câu Ca Dao: “dù Ai Đi Ngược Về Xuôi. Nhớ Ngày Giỗ Tổ Mùng Mười Tháng Ba”
  • Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghi Quỹ Cúng Dường Dược Sư Thất Phật Kinh Như Ý Vương
  • Những Điển Tích Về Phật Dược Sư ” Shop Hoa Vô Ưu
  • Cách Thờ Cúng Phật Di Lặc Đúng Cách, Không Phải Ai Cũng Biết
  • Truyền Thuyết Tứ Diện Phật Trong Tín Ngưỡng Thái Lan
  • Sớ Cúng Giao Thừa Tại Tư Gia Dành Cho Bạn
  • 1 PHÁP LỄ CÚNG DƯỜNG PHẬT DƯỢC SƯ MEDICINE BUDDHA PUJA TIBETAN PHONETICS ENGLISH VIETNAMESE TẠNG VĂN TẠNG ÂM ANH VIỆT hongnhu-archives

    2 hongnhu-archives FREE BOOK NOT FOR SALE SÁCH ẤN TỐNG KHÔNG BÁN Version / Ấn bản {20/09/2017} Tùy nghi sử dụng với điều kiện giữ nguyên nội dung và không bán Prerequisites: Everyone can read and practice Điều kiện hành trì: Mọi người đều có thể đọc và hành trì Based on FPMT text, Vietnamese translation added by Hong Nhu Thubten Munsel for the occasion of Geshe Thubten Dawa s birthday, October Typo mistakes checked under the guidance of Lab Kyabgon Rinpoche the 15th. Hồng Như chuyển Việt ngữ (dựa trên văn bản của FPMT) nhân dịp Pháp lễ cúng dường Phật Dược Sư mừng thọ Hòa Thượng Geshe Thubten Dawa tháng 10, 2021 Mọi sai sót là của người dịch Mọi công đức xin hồi hướng vô thượng bồ đề.

    3 NOTES REGARDING THIS PRACTICE Altar and Gompa Set-up: When performing this puja extensively, it is best to set out 108 sets of offering bowls. If this is not possible, then 8 sets will suffice. The offerings for this puja are set out in a unique fashion: Starting toward the back of the altar and working forward, one places a row of 8 argham, followed by a row of 8 padhyam, then 8 pushpe, and so on, rather than consecutive rows of all 8 offerings. Ideally, one should also ppare and offer 8 tormas made from the 3 white substances (milk,butter and yoghurt) and the 3 sweet substances (sugar, molasses, and honey) in the shape of tear drops. Other offerings of food, flowers, etc. are optional. It is recommended by Lama Zopa Rinpoche to also have on the altar, if possible, a repsentation of the Medicine Buddha mandala in a mandala house and above that, a copy of the Medicine Buddha Sutra wrapped in five-colored cloth. Ritual Implements: One should have both dorje and bell, but no damaru or inner offering. Practice Tips: Because this is a practice belonging to Kriya (Action) Tantra, it is best not to eat black foods the day one performs the puja. After the puja, one can eat whatever one wishes, but before doing the puja, avoid black foods. References: Extracted from a Compilation of the Rituals of Offerings to the Seven Tathāgathas called Yeshe ön gyäl, by Losang Chökyi Gyältsän.

    4 4 Medicine Buddha Concise Puja GHI CHÚ VỀ PHÁP TU NÀY Pháp đàn và Bàn Thờ: Nếu muốn hành trì pháp lễ cúng dường này một cách rộng rãi, tốt nhất là bày biện 108 lần tám phẩm cúng dường. Nếu không làm được như vậy, bày 8 lần tám phẩm cũng đủ. Phẩm cúng dường ở đây cần xếp theo thứ tự đặc biệt: bắt đầu từ phía trong bàn thờ bày ra, đặt một hàng 8 lần phẩm argham, rồi một hàng 8 lần phẩm padhyam, rồi 8 phẩm pushpe, v.v… chứ không phải mỗi hàng có đủ 8 phẩm khác nhau. Cho thật đúng thì phải chuẩn bị tám phẩm bánh cúng torma làm bằng ba chất trắng (sữa, bơ và sữa chua) và ba chất ngọt (đường, mật đường (molasses), và mật ong) nắn hình giọt nước. Tùy ý cúng dường các phẩm hương hoa thực phẩm khác, không nhất thiết phải có. Lama Zopa Rinpoche khuyên nếu được hãy nên bày cung điện mạn đà la trên bàn thờ, bên trong đặt biểu tượng mạn đà la của đức Phật Dược Sư, bên trên đặt một bản kinh Dược Sư bọc trong vải năm màu. Pháp Khí: Cần chùy kim cang và chuông báu, nhưng không cần trống con (damaru), phẩm cúng nội tại. Lưu Ý: Vì pháp lễ này thuộc hệ Mật tông Kryia, tốt nhất ngày hành lễ nên tránh dùng hắc thực (tránh dùng món mặn và ngũ vị tân). Sau khi hoàn tất pháp lễ có thể ăn gì cũng được, nhưng trước pháp lễ nên tránh dùng hắc thực. Xuất Xứ: Trích Yeshe Ön Gyäl: Pháp Lễ Cúng Dường Bảy Đức Dược Sư Như Lai do đức Losang Chökyi Gyältsän biên soạn.

    5 The Concise Essence Sutra Ritual of Bhagavan Medicine Buddha called The Wish-Fulfilling Jewel Composed by Panchen Losang Chökyi Gyältsen English translation: David Molk Vietnamese Translation: Hong Nhu Thubten Munsel Bản Ngắn Tinh Túy Lễ Kinh Phật Dược Sư mệnh danh Ngọc Như Ý Do đức Losang Chökyi Gyältsen biên soạn Tiếng Anh: David Molk Tiếng Việt: Hong Nhu Thubten Munsel

    7 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 7 NAMO GURU MUNI INDRAYA GANG GI TSHÄN TSAM THÖ PÄI CHHU GYÜN GYI The river of merely hearing your names Chỉ cần nghe được / suối ngọt hồng danh, NAR ME ME YANG RAB SIL PÄ TSHO TAR Makes even Avīci s hell-fires as cool as a lotus pond. lửa ngục A Tì / thành hồ sen mát. GYUR DZÄ NYIG MÄI GÖN PO DE SHEG DÜN Protectors in degenerate times, seven sugatas Là bậc hộ trì / thời kỳ tối ám, / bảy đấng Như Lai SHA KYÄI TOG DANG CHÄ PÄI ZHAB TÜ NÄ And head of the Shākyas, to your feet I bow. đầu dòng họ Thích, / đệ tử chúng con / đê đầu đảnh lễ. CHHOG MÄN JA WÄ YENG SHING NAM CHÖ KYI Distracted by activities of varying importance, Việc làm lớn bé, / xao lãng trăm vạn, NYIG MÄI GYÄL WA DÜN GYI NAM THAR LA To benefit myself and those with faith in the life stories nên vì lợi mình, / và vì những ai MÖ PÄI LO DÄN DAG LANG PHÄN PÄI CHHIR Of these seven buddhas for degenerate times, tin nơi công hạnh / bảy Phật Dược Sư / trong thời tối ám

    8 8 Medicine Buddha Concise Puja DO CHHOG DÜ TSII YANG ZHÜN NYING PO DRI I ll condense the Sutra Ritual s ambrosia to its molten essence. tôi xin tóm lược, / ghi lại tinh túy / cam lồ Lễ Kinh. Because of the infallibility of Ārya Buddha s proclamation that the Medicine Buddhas power and blessings are greater and swifter in degenerate times, we accept it. One who wishes to perform this quintessential ritual for invoking the heart commitment of the degenerate time s protectors, the seven sugatas, having already made pparations as described in the Sutra Ritual, fully infusing the mind with refuge and bodhichitta, should recite as follows: Vì lời tuyên thuyết không hư ngụy của đức Thánh Phật đã dạy rằng dũng lực và sức mạnh gia trì của đức Phật Dược Sư đặc biệt to lớn và chóng vánh trong thời kỳ suy đồi, vì vậy chúng con xin tin nhận. Hãy phát tâm hành trì pháp lễ tinh túy này để thỉnh cầu thệ nguyện sâu xa của Bảy Đức Như Lai hộ trì thời đại tối ám, bày biện đúng như Lễ Kinh hướng dẫn, phát tâm qui y và tâm bồ đề, rồi tụng niệm như sau:

    9 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 9 Refuge and Bodhichitta Qui Y & Phát Tâm Bồ Đề CHHOG CHU DÜ SUM GYI DE ZHIN SHEG PA THAM CHÄ KYI Nature incorporating the entire body, speech, mind, Như lai của khắp / mười phương ba thời, KU SUNG THUG YÖN TÄN THRIN LÄ qualities and activity Thân Khẩu và Ý, / thiện đức, thiện hạnh, THAM CHÄ CHIG TU DÜ PÄI NGO WOR GYUR PA of all ten directions three times tathāgatas, đều qui làm một / ở nơi chân tánh, CHHÖ KYI PHUNG PO TONG THRAG GYÄ CHU TSA ZHII JUNG NÄ Source of eighty-four thousand collections of Dharmas, là cội nguồn của / tám vạn bốn ngàn / pháp môn chánh Pháp; PHAG PÄI GEN DÜN THAM CHÄ KYI NGA DAG Lord of all ārya Sangha là chủ tể của / hết thảy Thánh Tăng: DRIN CHÄN TSA WA DANG GYÜ PAR CHÄ PÄI I seek refuge in the kind root and Bổn sư từ hòa, / chư tổ truyền thừa

    10 10 Medicine Buddha Concise Puja PÄL DÄN LA MA DAM PA NAM LA KYAB SU CHHI WO lineage glorious, holy gurus. và chư đạo sư / cát tường tôn quí, / con nguyện qui y; DZOG PÄI SANG GYÄ CHOM DÄN DÄ NAM LA KYAB SU CHHI WO I seek refuge in the completely enlightened lord Buddhas. chư Phật Thế Tôn / giác ngộ viên mãn, / con nguyện qui y; DAM PÄI CHHÖ NAM LA KYAB SU CHHI WO I seek refuge in the holy Dharma. chánh Pháp mầu nhiệm / con nguyện qui y; PHAG PÄI GEN DÜN NAM LA KYAB SU CHHI WO I seek refuge in the ārya Sangha. Tăng đoàn thánh chúng / con nguyện qui y; CHOM DÄN DÄ MÄN GYI LA DE WAR SHEG PA CHHE GYÄ KYI LHA TSHOG I seek refuge in the eight brothers gone to bliss, tám đấng Thiện thệ / Thế Tôn Dược Sư KHOR DANG CHÄ PA NAM LA KYAB SU CHHI WO The lord Medicine Buddhas with their retinue hosts of deities. cùng chúng tùy tùng, / con nguyện qui y.

    11 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 11 PÄL GÖN DAM PA CHHÖ KYONG WÄI SUNG MA I seek refuge in the glorious, holy protectors, bậc có mắt tuệ, / hộ pháp, giữ pháp, / YE SHE KYI CHÄN DANG DÄN PA NAM LA KYAB SU CHHI WO (X3) Dharma Protector Guardians endowed with the wisdom eye. (x3) cát tường tối thắng, / con nguyện qui y. (x3) SANG GYÄ CHHÖ DANG TSHOG KYI CHHOG NAM LA In the Buddha, Dharma and Sangha Nơi Phật, nơi Pháp, / cùng Tăng tôn quí, JANG CHHUB BAR DU DAG NI KYAB SU CHHI I seek refuge until I am enlightened. cho đến bồ đề / xin về qui y. DAG GI JIN SOG GYI PÄI TSHOG NAM KYI By my merit from giving and other perfections nhờ công đức tu / hạnh thí, hạnh khác. DRO LA PHÄN CHHIR SANG GYÄ DRUB PAR SHOG (3X) May I attain buddhahood to benefit all sentient beings. (3x) nguyện vì chúng sinh / viên thành Phật đạo (x3)

    12 12 Medicine Buddha Concise Puja The Four Immeasurables Tứ Vô Lượng Tâm DAG DANG NANG WA THAM CHÄ CHHÖ KYI All sentient beings who, although self and all appearances Khắp chúng hữu tình / tuy có ngã tướng, JING KYI RANG ZHIN YIN PA LA are dharmadhātu by nature, nhưng nơi tự tánh / đều là pháp tánh, DE TAR MA TOG PÄI SEM CHÄN THAM CHÄ DE WA DANG have not realized it thus, I shall endow with happiness and chỉ vì không biết, / nên tôi nguyện xin DE WÄI GYU DANG DÄN PAR JA the causes of happiness, chúng sinh được vui / cùng nhân tạo vui, DUG NGÄL DANG DUG NGÄL GYI GYU DANG DRÄL WAR JA Separate from suffering and the causes of suffering, thoát mọi khổ đau / cùng nhân tạo khổ, DUG NGÄL ME PÄI DE WA DANG MI DRÄL WAR JA Make them inseparable from happiness without suffering không bao giờ lìa / an lạc vắng khổ,

    13 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 13 DE DUG GI GYU CHHAG DANG NYE RING NYI DANG And set in equanimity, the cause of well-being, thoát mọi tham sân / chấp có lạ-thân, DRÄL WÄI TANG NYOM LA NÄ PAR JA WO (X3) free from attachment, aversion, and partiality. (x3) trú tâm bình đẳng, / nhân của an lạc. (x3) Special Bodhichitta Tâm Bồ Đề Phi Thường MA SEM CHÄN THAM CHÄ KYI DÖN DU For the sake of all mother sentient beings, Vì lợi ích của / phụ mẫu đa sinh, DZOG PÄI SANG GYÄ KYI GO PHANG THOB PAR JA I shall attain complete buddhahood. tôi nguyện thành tựu / quả Phật viên mãn. DEI CHHIR DU CHOM DÄN DÄ MÄN GYI LA DE WAR SHEG PA For that purpose I shall practice the stages of the path such Hướng mục tiêu này, / nay tôi đối trước / Thế Tôn Dược sư, CHHE GYÄ KYI LHA TSHOG KHOR DANG CHÄ PA NAM LA as prostrating, offering and exhorting the solemn promises tám đấng Thiện Thệ / cùng chư tùy tùng,

    14 14 Medicine Buddha Concise Puja CHHAG CHHÖ THUG DAM KÜL WA LA SOG PÄI LAM GYI Of the blessed Medicine Guru Buddhas, đảnh lễ, cúng dường, / cung thỉnh bản nguyện, RIM PA LA JUG PAR GYI WO (X3) the eight brothers gone to bliss, and their entourages. (x3) dấn thân bước vào / tuần tự đường tu. (x3) Purifying the Place Làm Sạch Cảnh Giới THAM CHÄ DU NI SA ZHI DAG May the surface of the Earth in every direction Nguyện mặt đất mọi nơi trong cõi thế SEG MA LA SOG ME PA DANG Be stainless and pure, without roughness or fault, được thanh tịnh, không đá sỏi gập ghềnh, LAG THIL TAR NYAM BAIDURYI As smooth as the palm of a child s soft hand như ngọc xanh biếc sáng trong, RANG ZHIN JAM POR NÄ GYUR CHIG And as natural polished as lapis lazuli. như lòng bàn tay phẳng mịn.

    15 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 15 Offering Prayer Nguyện Dâng Cúng Phẩm LHA DANG MI YI CHHÖ PÄI DZÄ May the material offerings of gods and humans, Hết thảy phẩm vật / trong cõi trời, người, NGÖ SU SHAM DANG YI KYI TRÜL Both those set before me and those visualized, cụ thể bày ra, / hay trong ý tưởng, KÜN ZANG CHHÖ TRIN LA NA ME Like a cloud of peerless offerings of Samantabhadra, biển mây trùng điệp / cúng phẩm Phổ Hiền, NAM KHÄI KHAM KÜN KHYAB GYUR CHIG Pervade and encompass the vastness of space. nguyện dâng đầy khắp / không gian vô tận. Offering Cloud Mantra Mây Cúng Dường This mantra multiplies the offerings so that they become numberless. OM NAMO BHAGAVĀTE VAJRA SĀRA PRAMARDANE / TATHĀGATĀYA / ARHATE SAMYAKSAM BUDDHAYA / TADYATHĀ / OM VAJRE VAJRE / MAHĀ VAJRE / MAHĀ TEJA VAJRE / MAHĀ VIDYA VAJRE / MAHĀ BODHICHITTA VAJRE / MAHĀBODHI MANDOPASAMKRAMANA VAJRE / SARVA KARMA ĀVARANA VISHO DHANA VAJRE SVĀHĀ (X3)

    16 16 Medicine Buddha Concise Puja Extensive Power of Truth Năng Lực Sự Thật bản dài KÖN CHHOG SUM GYI DEN PA DANG By the force of the truth of the Three Jewels of Refuge, Nguyện nương năng lực / chân thật Tam Bảo, SANG GYÄ DANG JANG CHHUB SEM PA THAM CHÄ KYI JIN GYI LAB DANG By the firm inspiration from all buddhas and bodhisattvas, nương lực gia trì / của Phật, bồ tát, TSHOG NYI YONG SU DZOG PÄI NGA THANG CHHEN PO DANG By the power of the buddhas who have fully completed their collections of both good merit and insight, and nương lực tư lương / phước trí viên mãn, CHHÖ KYI YING NAM PAR DAG CHING SAM GYI MI KHYAB PÄI By the might of the dharmadhātu, inconceivable and pure, và nương Pháp tánh / thanh tịnh triệt để / ngoài tầm nghĩ bàn, TOB KYI DE ZHIN NYI DU GYUR CHIG May all of these offerings be hereby transformed into their actual nature of voidness. nguyện cúng phẩm này / đều thành tánh như. (In this way bless the surrounding and the articles of offering) (Nhờ đó làm sạch ngoại cảnh và làm sạch phẩm cúng dường)

    17 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 17 CHHOG DEN GYÄL WA SÄ CHÄ JIN LAB DANG Through the power of the supme truth of the buddhas and bodhisattvas blessings, Nương lực gia trì / chân lý vô thượng / của Phật, bồ tát, TSHOG NYI NGA THANG CHHÖ YING DAG PÄI THÜ The might of the two collections, and the dharmadhātu s purity, Nương lực hai bồ / tư lương phước trí, / và nương năng lực / pháp tánh thanh tịnh, ZHING DIR DE WA CHÄN TAR NÖ CHÜ KYI May this realm s beings and environment be enriched nguyện cho cõi này, / ngoại cảnh, hữu tình / giàu như Cực Lạc, SI ZHII PHÜN TSHOG DÖ GÜ JOR GYUR CHIG With all samsāra and nirvana s desirable perfections like Sukhāvatī. luân hồi, niết bàn / có được đầy tràn / mọi điều ước mong. RIN CHHEN SA ZHI JÖN SHING CHHU TSHÖ GYÄN Jeweled ground, adorned with trees and with ponds, đất ngọc trang nghiêm, / cây với sông hồ, SER NGÜL MU TIG JE MA DRAM BUR DÄL Bottoms covered with gold, silver and pearl dust, bờ hồ cát vàng, / cát bạc, ngọc trai,

    18 18 Medicine Buddha Concise Puja ME TOG CHÄL TRAM TSÄN DÄN DRI SUNG DEN Flowers strewn and sandalwood fragrance rising; hoa nở bạt ngàn, / trầm hương tỏa ngát, LHA MII LONG CHÖ KÜN ZANG CHHÖ PÄ KHYAB Human and pine enjoyments, Samantabhadra s offerings, everywhere. thọ dụng trời người, / cúng phẩm Phổ Hiền / trùng điệp khắp nơi. DER NI YI ONG NOR BÜI PHO DRANG Ü There, in a charming jeweled palace s center, Chính giữa cung điện / ngọc báu rạng ngời, PÄD MA SENG THRIR GYÄL WA SÄ CHÄ NAM On lotuses and lion thrones, buddhas and bodhisattvas abide. ngự trên đài sen / pháp tòa sư tử / là Phật, bồ tát. ZHUG NÄ ZUNG RIG MÖ TOB KYI TRÜN PÄI May it be filled with oceans of offering clouds, biển mây cúng phẩm / sinh từ minh chú, / đại định, đại nguyện, CHHÖ TRIN GYA TSHÖ GANG ZHING CHÖ GYUR CHIG Born through the force of mantra, samādhi and aspiration, which they enjoy. nguyện dâng đầy khắp, / đẹp lòng các Ngài.

    19 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 19 Invocation Cung Thỉnh NYIG MÄI GÖN PO TSE DÄN DE SHEG DÜN Degenerate times compassionate protectors: seven sugatas, Hết thảy các đấng / từ bi hộ trì / thời kỳ tối ám: / bảy vị Như Lai, THUB WANG DAM CHHÖ JANG SEM KA DÖ CHÄ Buddha Shākyamuni, holy Dharma, bodhisattvas and guardians, đức Phật Thích Ca, / diệu Pháp, bồ tát, / cùng chư hộ pháp, DAG SOG KYOB CHHIR GÖN KYAB PUNG NYEN DU To protect me and others, invited as support and protector refuge, xin hãy từ bi / làm chốn chở che, / nâng đỡ chúng con, CHÄN DREN DIR SHEG DÄN DZOM JIN LAB DZÖ May you come here, gather and grant your blessings. kính thỉnh chư vị / về đây an tọa, / ban lực gia trì. Prostrations Đảnh lễ KA DRIN NYAM ME TSA WÄI LA MA DANG Root Guru whose kindness is without equal, Bổn sư tôn kính / với lòng từ bi / không ai sánh bằng, SHAK YÄI GYÄL PO JAM YANG ZHI TSHO SOG King of the Shākyas, Mañjushrī, Shantarakshita and so on, vua dòng họ Thích, / Văn Thù Sư Lợi, / Thiện Hải Tịch Hộ…

    20 20 Medicine Buddha Concise Puja ZAB MÖI DO DI CHHAG TSHÄN ZHE PA YI Holding in their hands this profound sutra, đều nắm trong tay / kinh thâm sâu này: NGÖ GYÜ LA MA NAM LA CHHAG TSHÄL LO To the direct and lineage gurus, I prostrate. Đối trước tất cả / tổ sư, đạo sư, / đệ tử đảnh lễ. NYAM THAG DRO NAM DRÖL WÄI THUG JE CHÄN To the compassionate ones who liberate destitute beings, Các đấng từ bi / độ thoát chúng sinh / trầm luân cảnh khổ: DE SHEG DÜN DANG THUB WANG DAM PÄI CHHÖ Seven sugatas, Buddha Shākyamuni and holy Dharma, bảy đức Như Lai, / đức Phật Mâu Ni 1, / cùng với diệu Pháp, JAM PÄL KYAB DRÖL SANG DAG TSHANG WANG DANG Mañjushrī, Kyab Dröl, Vajrapāni, Brahma and Ishvara, Mạn Thù, Kyab Drol, / Mật Sư 2, Phạm Thiên, GYÄL CHHEN NÖ JIN NAM LA CHHAG TSHÄL LO And the mahārajas and yakshas, I prostrate. đại vương Dạ xoa, / đệ tử đảnh lễ. 1 Đức Thích Ca Mâu Ni Phật 2 Đức Kim Cang Thủ

    21 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 21 NGÖ SHAM ZUNG RIG MÖ TOB KYI TRÜL PÄI I make all collections of offerings actually arranged and emanated through the force of mantra, samādhi, and aspiration Kính dâng cúng phẩm / thật sự bày ra / hay từ mật chú, / đại định, đại nguyện; CHHÖ TSHOG KÜN BÜL DIG TUNG THAM CHÄ SHAG Confess all downfalls and negativities, sám hối ác nghiệp, / phá giới, phạm giới; GE LA YI RANG KÜL ZHING SÖL WA DEB Rejoice in virtues, request and beseech, tùy hỉ công đức / cung thỉnh, khẩn nguyện; DI TSHÖN GE WA JANG CHHUB CHHEN POR NGO And dedicate virtues such as these to the great enlightenment. với công đức này, / nguyện xin hồi hướng / về đại bồ đề.

    22 22 Medicine Buddha Concise Puja Beseeching Thỉnh Cầu CHOM DÄN DÄN DZOM CHHEN PO GONG SU SÖL Great bhagavan assembly, pray listen! chư Phật Thế Tôn / xin hãy lắng nghe / lời khẩn nguyện này: DE SHEG DÜN GYI NGÖN GYI MÖN LAM DAG Seven sugatas, just as you promised, vào thời xa xưa / Thất Phật Như Lai / đã từng phát thệ SHĀK YÄI TÄN PA NGA GYÄI THA MA LA Your pvious prayers will be fulfilled rằng thời cuối cùng / của pháp Mâu Ni DRUB PAR GYUR WA ZHÄL GYI ZHE PA ZHIN During Shākyamuni s teachings final period. là lúc chư vị / bản nguyện viên thành: DAG LA DEN PA NGÖN SUM TÄN DU SÖL Pray, show me in actuality it is true! Kính xin chư vị / cho chúng con thấy / thật đúng như vậy.

    23 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 23 Prayers to the Inpidual Medicine Buddhas Thỉnh từng đức Phật Dược Sư 1 CHOM DÄN DÄ DE ZHIN SHEG PA DRA CHOM PA YANG DAG PAR DZOG PÄI SANG GYÄ TSHÄN LEG PAR YONG DRAG PÄL GYI GYÄL PO LA CHHAG TSHÄL LO CHHÖ DO KYAB SU CHHI WO (7X) To the Bhagavan Tathāgata Arhate Samyak Sambuddha King of Renowned Glory of Excellent Signs (Suparikirtitanamasriraja), I prostrate, offer and go for refuge (7x) Please may the pledges you made ripen upon myself and all sentient beings right now. May all my pure prayers succeed immediately.1 Đệ tử đảnh lễ, cúng dường qui y đức Thế Tôn, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri Thiện Danh Xưng Cát Tường Vương Phật. (x7) Nguyện đại nguyện năm xưa Phật đã từng phát tức thì thành thục nơi con và chúng sinh. Nguyện lời nguyện trong sáng của con tức thì thành sự thật.

    24 24 Medicine Buddha Concise Puja SER GYI DOG CHÄN KYAB JIN CHHAG GYA CHÄN Golden in color, with mudra of granting refuge, Thân tỏa sắc vàng / kết ấn tam bảo, MÖN LAM GYÄ DRUB TSHOG NYI PÄL GYI JI Having accomplished eight prayers, majestic with two accumulations glory, thành tựu tám nguyện / trang nghiêm nhị lương, ZHÄN GYI MI THUB ZHING GI PÄL GYUR PÄI Glorious one of the buddha-field Unconquered by Others; là đấng Cát tường / ở nơi cõi Phật / Không-Ai-Thắng-Nổi: TSHÄN LEG YONG DRÄ PÄL LA CHHAG TSHÄL LO To Renowned Glory of Excellent Signs, I prostrate. đức Thiện Danh Xưng / Cát Tường Vương Phật / chúng con đảnh lễ. TSHÄN GYI ME TOG GYÄ SHING DAG PA LA In flowers of the major marks flourishing and pure, Tướng hảo Phật đà / trổ hoa thanh tịnh, PE JÄ ZANG PÖI DRU CHHA DZE PÄI KU Anthers of minor signs, such beautiful body, nụ phấn tướng phụ / thân đẹp vô cùng.

    25 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 25 GANG GI THONG THÖ DRÄN PÄI PÄL GYUR PA One who sees, hears or thinks of you is glorified; chỉ thấy, nghe, nhớ, / là được cát tường: TSHÄN LEG YONG DRAG PÄL LA CHHAG TSHÄL LO To Renowned Glory of Excellent Signs, I prostrate. đức Thiện Danh Xưng / Cát Tường Vương Phật / chúng con đảnh lễ. NGÖ SHAM ZUNG RIG MÖ TOB KYI TRÜL PÄI I make all collections of offerings actually arranged and emanated through the force of mantra, samādhi, and aspiration Kính dâng cúng phẩm / thật sự bày ra / hay từ mật chú, / đại định, đại nguyện; CHHÖ TSHOG KÜN BÜL DIG TUNG THAM CHÄ SHAG Confess all downfalls and negativities, sám hối ác nghiệp / phá giới phạm giới, GE LA YI RANG KÜL ZHING SÖL WA DEB Rejoice in virtues, request and beseech, tùy hỉ công đức / cung thỉnh, / khẩn nguyện; DI TSHÖN GE WA JANG CHHUB CHHEN POR NGO And dedicate virtues such as these to the great enlightenment. với công đức này, / nguyện xin hồi hướng / về đại bồ đề.

    26 26 Medicine Buddha Concise Puja GYÄL WÄI TSHÄN THÖ DRÄN JÖ CHHAG CHHÖ THÜ Through the force of hearing the conqueror s name, Expssing it, remembering, prostrating and offering, Nương nhờ năng lực / nhớ, nghe, tụng niệm / cúng dường, đảnh lễ / hồng danh Thế Tôn, DAG CHAG LA SOG SEM CHÄN GANG DANG GANG May all sentient beings such as ourselves nguyện khắp chúng sinh / như chúng con đây, NÄ RIM SHE JE DIG CHÄN DÖN LÄ THAR Be freed from epidemics, execution, criminals and spirits, thoát khổ tật dịch / hành hình, bắt bớ, / tà ma ám chướng, WANG PO KÜN TSHANG DUG NGÄL DIG GYÜN CHHÄ Have faculties fully complete, suffering and negativities continuum cut, đầy đủ giác quan / đoạn dòng luân chuyển / khổ đau ác nghiệp, NGÄN DROR MI TUNG LHA MII DE WA NYONG experience the happiness of humans and gods. không sa ác đạo / hưởng lạc trời-người, TRE KOM BÜL PHONG ZHI ZHING JOR GYUR CHIG With hunger, thirst and poverty pacified, may there be wealth. sạch cảnh đói khát, / khổ đau bần hàn, / dồi dào tài sản,

    27 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 27 CHING DANG DEG SOG LÜ KYI DUNG WA ME Without torments of body such as bindings and beatings, thân sạch cảnh khổ / không bị trói, đánh, TAG SENG THRÜL GYI TSHE DRÄL THAB TSÖ ZHI Without harm of tigers, lions and snakes, conflict pacified, hùm beo sư tử, / rắn độc, tranh chấp / đều được tịnh yên. JAM PÄI SEM DÄN CHHU YI TRAG NAM KYANG Endowed with loving minds and relieved from fear of flood as well, Với tâm từ bi / thoát sợ nước lũ, BUG CHHIN JIG ME DE WAR GYÄL GYUR CHIG may we pass to fearless bliss. nguyện vào cảnh giới / an lạc vô úy. DI NÄ SHI PHÖ GYUR TSHE SANG GYÄ KYI And when we pass away from this life, Đến khi đời này / bỏ lại phía sau ZHING DER PÄD MO LÄ KYE YÖN TÄN DZOG May we be born from a lotus in that buddha-field, qualities complete, nguyện từ lòng sen / sinh vào tịnh độ, / đức hạnh đầy đủ,

    28 28 Medicine Buddha Concise Puja TSHÄN LEG YONG DRAG LA SOG GYÄL NAM KYI Become a vessel for transmission of the teachings of conquerors such as Renowned Glory of Excellent Signs, thành nơi chấp trì / giáo pháp của đức / Thiện Danh Xưng Phật KÄ LUNG NÖ CHING NYE PAR JE GYUR CHIG And cause them delight. cùng chư vị khác, / khiến Phật đẹp lòng.

    29 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 29 2 CHOM DÄN DÄ DE ZHIN SHEG PA DRA CHOM PA YANG DAG PAR DZOG PÄI SANG GYÄ RIN PO CHHE DANG DA WA DANG PÄD MÄ RAB TU GYÄN PA KHÄ PA ZI JI DRA YANG KYI GYÄL PO LA CHHAG TSHÄL LO CHHÖ DO KYAB SU CHHI WO (X7) To the Bhagavan Tathāgata Arhate Samyak Sambuddha King of Melodious Sound, Brilliant Radiance of Ability, Adorned with Jewels, Moon and Lotus (Svaragosaraja), I prostrate, offer and go for refuge. (7x) Please may the pledges you made ripen upon myself and all sentient beings right now. May all my pure prayers succeed immediately. Đệ tử đảnh lễ, cúng dường qui y đức Thế Tôn, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri Bảo Nguyệt Liên Hoa Trí Nghiêm Quang Âm Tự Tại Vương Phật (x7) Nguyện đại nguyện năm xưa Phật đã từng phát tức thì thành thục nơi con và chúng sinh. Nguyện lời nguyện trong sáng của con tức thì thành sự thật.

    30 30 Medicine Buddha Concise Puja KU DOG SER PO CHHOG JIN CHHAG GYA CHÄN Color yellow, with mudra of granting the supme, Thân tỏa sắc vàng / kết ấn thí nguyện, MÖN LAM GYÄ DRUB TSHOG NYI PÄL GYI JI Having accomplished eight prayers, majestic with two accumulations glory, thành tựu tám nguyện / trang nghiêm nhị lương, RIN CHHEN DÄN PÄI ZHING GI PÄL GYUR PÄI Glorious one of the buddha-field Endowed With Jewels; là đấng Cát tường / cõi Phật Ngọc-Báu, RIN CHHEN DA WÄI ZHAB LA CHHAG TSHÄL LO To Jewel Moonlight s feet, I prostrate. đê đầu gót chân / đức Phật Bảo Nguyệt / chúng con đảnh lễ. RIN CHHEN DA DANG PÄDMÄ RAB GYÄN CHING Well adorned with jeweled moon and lotus, Sen nguyệt trân bảo, / trang nghiêm rạng ngời, SHE JA KÜN LA KHÄ SHING KHYEN PA GYÄ Wisdom expanded in mastery of all knowable objects, trí giác thông tuệ / thấu rõ vạn pháp,

    31 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 31 GYA TSHO TA BUR ZAB PÄI THUG NGA WA Endowed with mind as deep as the ocean; ý sâu thăm thẳm / như lòng đại dương, DRA YANG GYÄL PÖI ZHAB LA CHHAG TSHÄL LO To King of Melody s feet, I prostrate. đê đầu gót chân / Âm Tự Tại Vương / chúng con đảnh lễ. NGÖ SHAM ZUNG RIG MÖ TOB KYI TRÜL PÄI I make all collections of offerings actually arranged and emanated through the force of mantra, samādhi, and aspiration Kính dâng cúng phẩm / thật sự bày ra / hay từ mật chú, / đại định, đại nguyện; CHHÖ TSHOG KÜN BÜL DIG TUNG THAM CHÄ SHAG Confess all downfalls and negativities, sám hối ác nghiệp, / phá giới, phạm giới; GE LA YI RANG KÜL ZHING SÖL WA DEB Rejoice in virtues, request and beseech, tùy hỉ công đức / cung thỉnh, / khẩn nguyện; DI TSHÖN GE WA JANG CHHUB CHHEN POR NGO And dedicate virtues such as these to the great enlightenment. với công đức này, / nguyện xin hồi hướng / về đại bồ đề.

    32 32 Medicine Buddha Concise Puja GYÄL WÄI TSHÄN THÖ DRÄN JÖ CHHAG CHHÖ THÜ Through the force of hearing the conqueror s name, Expssing it, remembering, prostrating and offering, nương nhờ năng lực / nhớ, nghe, tụng niệm, / cúng dường, đảnh lễ / hồng danh Thế Tôn, / DAG CHAG LA SOG SEM CHÄN GANG DANG GANG For all sentient beings such as ourselves, nguyện khắp chúng sinh / như chúng con đây, YENG NAM CHHÖ PHEL LHA MII TSHOG CHHÄ JOR may the distracted flourish in the Dharma, kẻ xao lãng này / được đầy chánh pháp, TSA WÄI DUNG DRÄL TAG TU KYE PAR GYUR Have wealth and goods of humans and gods, without torment of conception, be always born strong, dồi dào tài sản / trong cõi trời-người, / thoát khổ thọ sinh / luôn được mạng cao, JANG CHHUB SEM DANG MI THRÄL GE CHHÖ GYÄ Never be separated from bodhichitta, increase in virtuous Dharma, và không bao giờ / lìa bồ đề tâm, / thiện pháp tăng trưởng,

    33 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 33 DRIB JANG LHA MII DE WA THOB GYUR CHIG Purify obscurations and attain the happiness of humans and gods. May we be freed of separation from the sạch hết điều ác, / được sự an vui / cõi trời, cõi người, / SHE DRÄL MÜN BAR DÖN TSE CHHI DANG DRA spiritual guide, From dark ages, spirit harm, death and enemies, and from the dangers of isolated places thoát hết tất cả / cảnh lìa đạo sư, / cảnh thời dữ dội, / tà ám, chết, thù, / hung hiểm biên địa. GÖN PÄI NÖ ME CHHÖ DANG RIM DROR TSÖN May we have enthusiasm for making offerings and performing ritual services. nguyện luôn hoan hỉ / cúng dường, phụng sự, MÄN NAM TING DZIN DRÄN TOB ZUNG DÄN CHING May lesser beings have samādhi, mindfulness, strength, the dharani of non-forgetfulness, nguyện kẻ thấp kém / đạt định, niệm, lực, / được đà la ni / của pháp tổng trì, SHE RAB CHHOG THOB ME NYEN SIL GYUR CHIG attain supme wisdom, and may tormenting fires be cooled. đạt tuệ vô thượng, / dịu cơn lửa bỏng.

    34 34 Medicine Buddha Concise Puja DI NÄ SHI PHÖ GYUR TSHE SANG GYÄ KYI And when we pass away from this life, Đến khi đời này / bỏ lại phía sau, ZHING DER PÄ MO LÄ KYE YÖN TÄN DZOG May we be born from a lotus in that buddha-field, qualities complete, nguyện từ lòng sen / sinh vào tịnh độ, / đức hạnh đầy đủ, DRA YANG GYÄL PO LA SOG GYÄL NAM KYI Become a vessel for transmission of the teachings of conquerors such as King of Melody, thành nơi chấp trì / giáo pháp của đức / Âm Tự Tại Vương, KA LUNG NÖ CHING NYE PAR JE GYUR CHIG And cause them delight. cùng chư vị khác, / khiến Phật đẹp lòng.

    35 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 35 CHOM DÄN DÄ DE ZHIN SHEG PA DRA CHOM PA YANG DAG PAR DZOG PÄI SANG GYÄ MÄN GYI LA BAI DUR YEI Ö KYI GYÄL PO LA CHHAG TSHÄL LO CHHÖ DO KYAB SU CHHI WO (7X) To the Bhagavan Tathāgata Arhate Samyak Sambuddha Medicine Guru, King of Lapis Light (Bhaisajyaguru), I prostrate, offer and go for refuge. (7x) Please may the pledges you made ripen upon myself and all sentient beings right now. May all my pure prayers succeed immediately. Đệ tử đảnh lễ, cúng dường qui y đức Thế Tôn, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật(x7) Nguyện đại nguyện năm xưa Phật đã từng phát tức thì thành thục nơi con và chúng sinh. Nguyện lời nguyện trong sáng của con tức thì thành sự thật.

    56 56 Medicine Buddha Concise Puja KU DOG NGÖN PO CHHOG JIN CHHAG GYA CHÄN Color blue, with mudra of granting the supme, Having accomplished Thân sắc xanh dương, / kết ấn thí nguyện, CHU NYI MÖN DRUB TSHOG NYI PÄL GYI JI twelve prayers, majestic with two accumulations glory, đạt mười hai nguyện, / trang nghiêm nhị lương. BAIDURYA NANG ZHING GI PÄL GYUR PÄI Glorious one of the buddha-field Lapis Light; là đấng cát tường / cõi Lưu-Ly-Quang: MÄN PÄI GYÄL PO DE LA CHHAG TSHÄL LO To that King of Doctors, I prostrate. đức Dược Sư Vương, / chúng con đảnh lễ. THUG JE KÜN LA NYOM PÄI CHOM DÄN DÄ Bhagavan with equal compassion for all, Là đấng Thế Tôn / với lòng đại bi / dành cho tất cả / đồng đều như nhau. TSHÄN TSAM THÖ PÄ NGÄN DRÖI DUG NGÄL SEL Whose name, when merely heard, dispels lower realms suffering, chỉ cần nghe được / hồng danh của ngài / là tiêu tan hết / khổ đau ác đạo,

    57 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 57 DUG SUM NÄ SEL SANG GYÄ MÄN GYI LA Dispeller of disease and the three poisons; tiêu tan tất cả / bệnh dữ, tam độc: / kính đức Dược Sư BAIDURYA YI Ö LA CHHAG TSHÄL LO To Buddha Medicine Guru Lapis Light, I prostrate. Lưu Ly Quang Phật / chúng con đảnh lễ. NGÖ SHAM ZUNG RIG MÖ TOB KYI TRÜL PÄI I make all collections of offerings actually arranged and emanated through the force of mantra, samādhi, and aspiration Kính dâng cúng phẩm / thật sự bày ra / hay từ mật chú, / đại định, đại nguyện; CHHÖ TSHOG KÜN BÜL DIG TUNG THAM CHÄ SHAG Confess all downfalls and negativities, sám hối ác nghiệp, / phá giới, phạm giới; GE LA YI RANG KÜL ZHING SÖL WA DEB Rejoice in virtues, request and beseech, tùy hỉ công đức / cung thỉnh, / khẩn nguyện; DI TSHÖN GE WA JANG CHHUB CHHEN POR NGO And dedicate virtues such as these to the great enlightenment. với công đức này, / nguyện xin hồi hướng / về đại bồ đề.

    58 58 Medicine Buddha Concise Puja GYÄL WÄI TSHÄN THÖ DRÄN JÖ CHHAG CHHÖ THÜ Through the force of hearing the conqueror s name, Expssing it, remembering, prostrating and offering, Nương nhờ năng lực / nhớ, nghe, tụng niệm / cúng dường, đảnh lễ / hồng danh Thế Tôn, / DAG CHAG LA SOG SEM CHÄN GANG DANG GANG May each and every sentient being such as ourselves nguyện khắp chúng sinh / như chúng con đây, TSHÄN PE DZE SHING DRO KÜN DAG DRAR GYUR All become, like you, graced with the marks and signs, đều được trở thành / giống y như Ngài, / đầy đủ tất cả / tướng hảo chánh phụ. Ö KYI MÜN SEL SHE RAB THAB KHÄ KYI May light dispelling darkness, the enjoyment of wisdom and skillful means be inexhaustible. Nguyện cho ánh sáng / quét sạch bóng đêm, / trí tuệ phương tiện, / không bao giờ cạn. / LONG CHÖ MI ZÄ LAM LOG MÄN MÖ NAM May those attracted to mistaken and lesser paths Nguyện kẻ lầm đường, / lạc vào lối nhỏ,

    59 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 59 THEG CHHEN LAM ZHUG DOM PÄ DZE GYUR CHIG Enter Mahāyana paths, and all be beautified by their vows. Được Đại thừa đạo, / trang nghiêm giới thệ. TSHÜL CHHÄL DUNG DRÄL WANG PO KÜN TSHANG ZHING May we be free from pain caused by immorality, complete in faculties, Nguyện cho chúng con / thoát khổ đọa giới, / đầy đủ giác quan, NÄ ME YO JÄ PHEL ZHING BÜ ME KYI without disease and have abundant goods. không bệnh, và được / sống đời phồn vinh. NGÖ PÖ KYO NAM TAG TU KYE WANG DÄN May those disillusioned with weaker conditions always have powerful faculties, Nguyện kẻ mõi mòn / luôn khởi sức mạnh. DÜ ZHAG TA WA NGÄN LÄ DRÖL GYUR CHIG And may we be freed from Mara s noose and perverse viewpoints. nguyện thoát ác kiến, / thòng lọng ma vương. / GYÄL PÖ NAR NAM DE ZHING TRE PÄI GYÜ May those tormented by kings gain bliss, and those who, out of hunger, ai vì lệnh vua / phải chịu khổ ải, / nguyện được an vui.

    60 60 Medicine Buddha Concise Puja DIG PÄ TSHO NAM CHHÖ JOR ZÄ KYI TSHIM support themselves through negativity Be satisfied with food received in accordance with the Dharma. ai vì đói kém / phải làm việc ác, / nguyện nhờ Pháp thực / mà được no đủ. TSHA DRANG NGÄL ZHI SAM PA YONG DZOG SHING May hardships of heat and cold be pacified, all good wishes be fulfilled, Nguyện khổ nóng, lạnh / đều được tịnh yên; / mọi ước nguyện lành / đều thành sự thật. PHAG PA GYE PÄI TSHÜL DÄN DRÖL GYUR CHIG And, endowed with morality that pleases the āryas, may we be liberated. giữ giới trang nghiêm / đẹp lòng thánh giả, / nguyện cho chúng con / mau chóng giải thoát. DI NÄ SHI PHÖ GYUR TSHE SANG GYÄ KYI And when we pass away from this life, Đến khi đời này / bỏ lại phía sau, ZHING DER PÄ MO LÄ KYE YÖN TÄN DZOG May we be born from a lotus in that buddha-field, qualities complete, nguyện từ lòng sen / sinh vào tịnh độ, / đức hạnh đầy đủ,

    61 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 61 MÄN PÄI GYÄL PO LA SOG GYÄL NAM KYI Become a vessel for transmission of the teachings of conquerors such as King of Doctors, thành nơi chấp trì / giáo pháp của đức / Dược Sư Vương Phật KA LUNG NÖ CHING NYE PAR JE GYUR CHIG And cause them delight. cùng chư vị khác, / khiến Phật đẹp lòng.

    62 62 Medicine Buddha Concise Puja [8] CHOM DÄN DÄ DE ZHIN SHEG PA DRA CHOM PA YANG DAG PAR DZOG PÄI SANG GYÄ PÄL GYÄL WA SHĀ KYA THUB PA LA CHHAG TSHÄL LO CHHÖ DO KYAB SU CHHI WO (X7) To the Bhagavan Tathāgata Arhate Samyak Sambuddha Glorious Conqueror Shākyamuni, I prostrate, offer and go for refuge. (x7) Please may the pledges you made ripen upon myself and all sentient beings right now. May all my pure prayers succeed immediately. Đệ tử đảnh lễ, cúng dường qui y đức Thế Tôn, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri Tối Thắng Cát Tường Thích Ca Mâu Ni Phật (x7) Nguyện đại nguyện năm xưa Phật đã từng phát tức thì thành thục nơi con và chúng sinh. Nguyện lời nguyện trong sáng của con tức thì thành sự thật.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tượng Phật Dược Sư Lưu Ly
  • Bán Tượng Phật Dược Sư Uy Tín, Chất Lượng Nhất Trên Thị Trường Hiện Nay
  • Địa Điểm Nào Cung Cấp Tượng Phật Dược Sư Cao Cấp Đẹp Và Tốt Nhất?
  • Tượng Phật Di Lặc Đặt Ở Đâu Sao Cho Đúng Phong Thủy
  • Sớ Điệp Chữ Việt Âm Hán Văn
  • Cúng Giỗ Ông Bà Tổ Tiên Như Thế Nào? Cách Làm Mâm Cơm Cúng Giỗ

    --- Bài mới hơn ---

  • 3 Bài Văn Khấn Cúng Giỗ Ông Bà Cha Mẹ Đúng Chuẩn Tâm Linh 2021
  • Mâm Cơm Cúng Gồm Những Món Gì? 6 Mâm Cúng Giỗ Miền Bắc!
  • 10 Lý Do Đặt Mâm Cỗ Chay Cúng Giỗ Tại Nhà Bạn Cần Biết
  • Có Gì Trong Mâm Cúng Tết Trung Thu Của Người Hàn Quốc?
  • Du Lịch Hàn Quốc Khám Phá Văn Hóa Mâm Cúng Tết Trung Thu Của Người Dân Xứ Kim Chi
  • Riêng giỗ, ông cha ta xưa rất coi trọng. Cúng giỗ tổ tiên, ông bà, cha mẹ, được coi là “báo hiếu”, là ngày con cháu tưởng nhớ đến công lao sinh thành, xây nếp đắp móng của các vị tiền hiền, và cầu xin vong linh các vị phù hộ độ trì cho.

    Các cụ chia giỗ làm hai loại: giỗ trọng và giỗ thường

    Giỗ trọng là giỗ những người thân mới mất, thường là ông bà, cha me. Còn giỗ thường là giỗ những người ở thế hệ xa hơn: cụ kỵ, chú bác, cô, anh chị… Các cụ vẫn truyền cho con cháu câu: “Ngũ đại mai tiền chi” (năm đời không còn chủ), tức là từ đời thứ 5 trở lên (đời kỵ) các cháu chắt không phải cúng giỗ nữa, nhưng những ngày tết và những ngày giỗ khác, các vị từ đời thứ năm trở lên vẫn được tiến chủ (người đứng lễ) khấn, mời về “đồng hưởng” cùng vong linh những người đã khuất của gia đình.

    Nhân dân ta mang truyền thống “uống nước nhớ nguồn” nên hàng năm những vị khai sáng ra một dòng họ – được suy tôn là “khởi tổ” hoặc “thuỷ tổ” – vẫn được chắt chút cúng giỗ ở nhà thờ “đại tôn” (nhà thờ của họ).

    Trong khoảng 20 năm trở lại đây, nhiều nhà thờ họ được xây lại, được tôn tạo sửa chữa tôn tạo và việc cúng giỗ tổ tiên được khôi phục. Họ nội nhà tôi là một họ nhỏ, lại phân tán, kỳ giỗ Tổ tộc họ hàng năm cũng được 6-7 chục chắt chút về dự. Họ ngoại của tôi là một họ lớn, mỗi lần giỗ tập trung tới 5-7 trăm người ở khắp nơi trong cả nước và ở cả nước ngoài. Đó là dịp để các chắt chút… của Tổ gặp nhau, trước tỏ lòng thành kính với Tổ, sau là nhận họ, nhận hàng.

    Nhiều họ, ngày giỗ Tổ còn là ngày động viên chắt, chút… làm những việc tốt, tuyên dương những chắt, chút mới tốt nghiệp đại học, trên đại học, có phần thưởng cho những chút, chít mới đỗ vào đại học hoặc học giỏi. Ở Phú Thọ, còn có phong trào “dòng họ tự quản” với những “tộc ước” rất cụ thể.

    Riêng ngày giỗ trọng thì mỗi gia đình tổ chức một khác

    Quê tôi xưa thuộc ngoại thành Hà Nội, nay là quận Hoàng Mai, có một nếp sống rất đẹp là đám ma đám giỗ thì tuỳ tâm gia chủ, tổ chức như thế nào do gia đình bàn bạc thống nhất. Các cụ truyền dạy: “Đó là việc hiếu, mọi người đến không phải vì cỗ to, vì miếng ăn, mà là để tưởng nhớ người đã mất, vì họ hàng làng xóm tối lửa tắt đèn có nhau”. Vì vậy, các đám ma, đám giỗ ở quê tôi, không ai buông một lời chê, không có cãi vã, to tiếng, say rượu, cờ bạc…

    Các cụ rất coi trọng cỗ, chứ không coi trọng cỗ. Ngày giỗ lấy tâm thành là chính chỉ cần “bát cơm, quả trứng” cúng là đủ. Vì vậy, hầu như tất cả các gia đình ở Hà Nội, dù làm giỗ to nhỏ, nhiều ít, mâm cao cỗ đầy như thế nào thì gần cuối buổi lễ đều dâng lên bàn thờ một bát hoặc một liễn cơm và một quả trứng (hột) vịt hoặc gà luộc đã bóc vỏ, và bóp vỡ một chút ở chỗ ít lòng trắng để lộ phần lòng thêm một ít muối bên cạnh.

    Xưa những đám giỗ trọng ở quê tôi có hai cách tổ chức gàn như là lệ làng: Làm mở rộng đối với những giỗ mới, nhất là giỗ đầu (một năm sau ngày mất và giỗ hết (hai năm sau ngày mất, có nhà làm vào ngày thứ 100 sau hai năm gọi là giỗ bỏ tang hay “bỏ trở” – từ sau ngày đó, con cháu không phải để trở).

    Làm trong phạm vi hẹp (chú bác, anh chị em, con cháu) rượu từ giỗ sau giỗ bỏ tang trở đi. Gia chủ có làm rộng cũng ít người đến.

    Về cỗ, quê tôi có hai loại, tuỳ hoàn cảnh gia đình mà chọn:

    – Làm cỗ bình thường (quê tôi gọi cỗ “bàn than”): chỉ có mấy món chế biến từ thịt lợn: luộc, rang, lòng, có thể thêm đĩa giò.

    – Làm cỗ to (gọi là cỗ “đồ Tàu”) có những món cầu kỳ hơn, thường mỗi mâm có có bốn bát và tám đĩa: giò, nem, ninh, mọc, nấm, bóng…

    Có gia đình khá giả làm cả bò, lơn, gà (hoặc dê) gọi là cỗ “tam sinh”.

    Những giỗ làm theo phạm vi rộng thường 30 mâm, có nhà tới hàng trăm mâm, trong phạm vi hẹp độ 5- 10 mâm (mỗi mâm 6 người).

    Trước ngày giỗ độ 10 ngày, ông trưởng (con trai đầu) mời tất cả con trai, con gái của người mất đến họ để thống nhất cách làm giỗ và phân công mỗi người một nhiệm vụ; người mua thực phẩm, người mượn bát đũa, mâm nồi, người dựng rạp. Các người con tự nguyện đóng góp, tùy khả năng và tùy tâm, không bổ bán, không chia đều. Sau khi thống nhất, hai vợ chồng trưởng nam phải đích thân đi mời từng nhà: “Tiếng chào cao hơn mâm cỗ!”, có nhà ế hàng chục mâm cỗ chỉ vì sơ suất khi mời.

    Cũng như các nơi khác, quê tôi nhà nào cũng có một bàn thờ gia tiên đặt ở gian giữa – nơi trang trọng nhất, từ hai cột chính đến sát tường sau. Nhà nghèo thì bàn thờ là một tấm gỗ sơn đỏ nối hai cột chính với hai cột sau. Trên tường chính giữa dán một vuông giấy đỏ có viết một chữ Hán to “Phúc” hoặc “Thần”. Trên tấm gỗ, đặt ba bát hương, bát giữa kê cao hơn thờ thần linh, bát bên phải thờ gia tiên và bát bên trái thờ các “bà cô, ông mãnh” – những người chết chưa vợ, chưa chồng và được gia đình coi là linh thiêng. Hai góc trước của bàn thờ có hai cây nến tiện bằng gỗ.

    Nhà khá hơn thì bàn thờ là một án thư có trang trí hoa văn, sơn son hoặc sơn then (đen), đèn nến bằng gỗ tiện sơn son. Nhà giàu thì chạm trổ “tứ linh” (bốn con vật thiêng: long (rồng), ly (kỳ lân), quy (rùa), phượng (chim phượng hoàng); mặt trước án thư là một tấm gỗ quý chạm “mai long” (cây hoa mai uốn hình rồng) hoặc chữ “ngũ long” (năm con rồng quây thành một vòng tròn), tất cả đều bằng sơn son thếp vàng.

    Trên án thư có bộ “tam sự” bằng đồng, có nhà còn thêm bộ đài rượu bằng gỗ sơn son hoặc bằng đồng (gồm ba khối hình ống, đáy cao, có nắp đậy, trên mỗi đáy đặt một chiếc chén hạt mít, khi cúng cơm, gia chủ mở nắp, rót vào chén). Có nhà thêm ống cắm hương chưa thắp, mâm bồng để bày hoa quả…

    Những năm từ giữa thế kỷ XX, khi kỹ thuật chụp ảnh phổ cập, thì trên án thư còn đặt ảnh những người đã mất; trên tường sau còn treo một bức hoành, có 3-4 chữ Hán to, ghi nguyện vọng, sự cầu mong của gia đình và đôi câu đối phẳng hoặc hình lòng máng nói về công đức của tổ tiên và lòng hiếu của con cháu; tất cả đều sơn son thiếp vàng.

    Ở các nhà thờ “đại tôn”, sau án thư là một tấm cửa võng, chạm trổ tinh vi, sơn son thiếp vàng, phía sau treo hai cánh màn bằng vóc hoặc nhiễu đỏ, ngăn án thư với “hậu cung”, khi cúng, gia chủ vén màn sang hai bên, để lộ cung sau. Hậu cung là một cái bục lớn, cao ngang án thư bằng gỗ hoặc xây gạch, sát đến tường sau, trong cùng có một chiếc bàn vuông, trên đặt chiếc ngai sơn son thiếp vàng, trên ngai đặt chiếc bài vị gỗ mấy dòng chữ Hán: họ, chi, quê…

    Hai bên ngai, đặt hai giá cắm nến; khi cúng, gia chủ thắp nến để chiếu sáng cho cung. Trước ngai có một chiếc mâm gỗ vuông cao để đặt cỗ khi cúng cơm. Thường vào ngày giỗ trong, nhà ông trưởng nam tấp nập từ chiều hôm trước, để hoàn tất việc chuẩn bị và để cúng cơm.

    Thường vào ngày giỗ trọng, nhà ông trưởng nam tấp nập từ chiều hôm trước, để hoàn tất việc chuẩn bị và để cúng “tiên thường”. Hôm giỗ, mọi việc diễn ra khẩn trương từ 2-3 giờ sáng dưới ánh đèn đuốc, nhóm giết lợn, giết bò, chuẩn bị thực phẩm, người vo gạo, thổi xôi… Tiếng cóc cách giã giò hoà tiếng lao xao người nọ hỏi người kia, lệnh của ông trưởng vang vang… tạo ra một không khí nhộn nhịp của một nhà có đám.

    Khoảng 8 giờ sáng, các mâm cỗ đã xong, một hoặc ba mâm được để lên bàn thờ (hoặc cung sau). Ông trưởng nam, áo the khăn xếp, bước lên chiếc sập trước bàn thờ để thắp hương, đèn nến rồi đứng giữa sập, hai tay chắp giữa ngực, lên gối xuống gối lễ ba lần, đoạn đứng nghiêm, mười ngón tay đan vào nhau và đưa lên ngang trán, miệng lầm rầm khấn.

    Bài nhấn có ba phần. Mở đầu là ngày tháng năm (âm lịch), tại nhà thờ ở thôn, xã, huyện, tỉnh… tiến chủ tên gì, nhân ngày giỗ ai, thành tâm cúng tiến những gì. Phần sau là gia chủ kính mời từ thần linh, thổ địa, táo quân… đến tên họ và hiệu, nơi an táng các vị trong gia đình theo thứ tự từ trên xuống (chỉ khấn nam và dâu họ, nữ không khấn, trừ trường hợp chết chưa có chồng).

    Cuối bài khấn là những cầu xin. Khấn xong, ông trưởng nam lễ một lễ và ba vái nữa, rồi rót rượu cúng. Một số họ lớn, khi giỗ tổ họ, tổ chức dâng hương tế tổ và thay bài khấn bằng một bài văn tế, ông trưởng lễ xong thì đọc bài văn tế, rồi đem ra sân đốt như đốt sớ ở đình chùa.

    Khi ông trưởng nam khấn xong, những người đến dự giỗ lần lượt già trước, trẻ sau vào lễ, người nào cũng đem một ít hoa, quả hoặc vàng hương, trầu rượu đặt lên bàn thờ rồi lễ, mỗi người ba lễ một bái, nam thì lễ như ông trưởng, nữ thì ngồi vào góc sập, chắp hai tay trước ngực, khi cúi thì giáp mặt tận chiếu, hai bàn tay xoè ra đặt hai bên đầu. Những bà gia đình có đại tang (bố mẹ hoặc chồng mới chết) phải lật một phần chiếu, ngồi xuống mặt sập, hai tay lật ngửa vòng khăn trắng quấn tóc mà lễ.

    Thường cháy dở tuần nhang (hương) thứ hai thì cúng cơm và cuối tuần nhang thì ông trưởng nam tạ lễ, hoá vàng rồi hạ cỗ cho con cháu xin lộc.

    Sơ qua phong tục cúng giỗ của người Hà Nội khoảng giữa thế kỷ XX như vậy để thấy ông cha ta rất cẩn trọng khi cúng giỗ. Giỗ là để họp mặt gia đình, để tưởng nhớ và noi gương tốt của những người thân trong gia đình đã mất, đó là việc hiếu, là một hoạt động tâm linh của người Việt nói chung, người Hà Nội nói riêng. Nó mang nặng tính truyền thống và là một phong tục đậm đà bản sắc dân tộc, cần được duy trì.

    Khoảng trên chục năm nay, khi đời sống nói chung khấm khá, việc cúng giỗ được nhiều gia đình, dòng họ khôi phục. Nhưng do không hiểu hết ý nghĩa đúng hoặc không có ai hướng dẫn, hoặc cố tình làm to, làm trong diện rộng để khoe khoang, để thu lời.

    Có người đi ăn giỗ để đền ơn người sống, để hối lộ, nên đặt lên bàn thờ không phải đồ lễ mà là phong bì… làm cho đám giỗ mất đi ý nghĩa cổ truyền của nó, gây một sự ganh đua giữa các gia đình, tạo điều kiện cho một số việc làm xấu, một số tệ nạn xã hội – thường là cờ bạc, đốt vàng mã – phát triển.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mâm Cơm Cúng Giỗ Gồm Những Gì, Những Điều Cần Kiêng Kị
  • Mâm Cúng Giao Thừa Cần Chuẩn Bị Những Gì?
  • Mâm Cơm Cúng Gia Tiên Ngày Tết Theo Chuẩn Truyền Thống
  • Mâm Cỗ Cúng Gia Tiên Ngày Tết Cần Những Gì?
  • Nhận Đặt Mâm Cúng Đầy Tháng, Thôi Nôi Tại Đà Nẵng
  • Tại Sao Lại Đốt Vàng Mã Vào Các Lễ Cúng Và Giỗ Đầu Cho Người Đã Khuất?

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Nghi Lễ Dành Cho Người Đã Mất
  • Triết Lý Con Số Trong Lễ Cúng Ông Bà Ngày Tết
  • Cửu Huyền Thất Tổ Danh Sách
  • Cách Lập Bàn Thờ Cửu Huyền Thất Tổ Như Thế Nào?
  • Cửu Huyền Thất Tổ Là Gì Và Những Điều Cần Chú Ý
  • Trong văn hóa thờ cúng của người Việt có tục cúng 49 ngày, 100 ngày và làm giỗ đầu cho người đã mất khá long trọng, mỗi buổi đều chuẩn bị lễ cúng và vàng mã đầy đủ.

    Nhưng ít ai hiểu được, cụ thể nguồn gốc và ý nghĩa của từng ngày lễ này trong văn hóa thờ cúng tổ tiên của chúng ta ra sao. Và lí do gì mà ngoài những ngày cúng lễ này, vào ngày rằm quan trọng hay cuối năm, người Việt ta lại hay đốt vàng mã.

    Lễ chung thất (49 ngày) trong văn hóa thờ cúng của người Việt là gì?

    Theo Thọ mai gia lễ thì lễ chung thất (49 ngày) cứ đúng ngày qui định trong gia lễ mà làm, không có sự dịch chuyển tùy tiện theo lời thầy lễ hay thầy bói. Chỉ trừ ngày làm lễ an táng và ngày làm lễ trừ phục (hết tang) trong gia lễ có chọn ngày lành.

    Người ta không ai có thể chọn ngày mất vậy nên từ xưa đến nay, hàng năm cứ đến ngày mất thì gia quyến làm giỗ. Dù cho có những năm, ngày đó rất xấu, có cả trùng phục, trùng tang, sát chủ, quả tủ, cô thần… Theo gia lễ, các dịp lễ chung thất, lễ tốt khốc (100 ngày), tiểu tường (giỗ đầu), đại tường (giỗ đoạn) cứ theo đúng ngày mà làm lễ.

    Con cháu ở xa nhớ ngày về làm lễ, thân nhân ở nơi khác sắm sửa lễ đúng ngày tới dự. Khi ấy, nếu vì chọn ngày đẹp để làm lễ, chẳng lẽ người thân tới nơi thấy hương lạnh khói tàn, gạt nước mắt ra về hay sao? Hoặc chủ nhà sự báo lại rằng, theo lời thầy lễ, đã lễ xong xuôi hay đợi thêm vài ngày nữa, như vậy liệu có được chăng?

    Cần lưu ý tang tế theo ngày định sẵn, thân bằng cố hữu ai lưu luyến đến thăm viếng, không đợi thiệp mời như lễ mừng, lễ cưới, không có chuyện “hữu thỉnh hữu lai, vô thỉnh bất đáo” (mời thì đến, không thì thôi).

    Lễ cúng cơm 100 ngày trong văn hóa thờ cúng của người Việt là gì?

    Trong cuốn “101 câu hỏi về nghi lễ thờ cúng tổ tiên” (Nhà xuất bản Thời đại), Đại đức Thích Minh Nghiêm giải thích khá dễ hiểu về lễ cúng 100 ngày như sau:

    Gia đình Việt Nam nhà nào cũng vậy, mỗi ngày có hai bữa cơm là giờ phút đầm ấm nhất. Trong nhà có người về muộn, mọi người cũng cố chờ về ăn cơm một lúc cho vui vẻ, đầm ấm.

    Con cháu cầm bát cơm lên, trước hết mời ông bà, cha mẹ, chờ ông bà, cha mẹ rồi mới bắt đầu dám ăn. Có nơi xới bát cơm lần thứ hai còn mời nữa. Nếu có khách, trước khi buông bát đũa đứng dậy còn phải xin phép và mời khách tiếp tục xơi cơm.

    Cuộc sống gia đình đang vui vẻ, êm đẹp như vậy, vắng mặt trong bữa cơm còn nhắc huống chi một thành viên trong gia đình mãi mãi đi xa. Do đó, trước bữa ăn, người thân dâng lên bàn thờ một bát cơm úp, một vài món ăn bình thường, nhà ăn thứ gì cúng thứ ấy, thường là thanh đạm không đòi hỏi cầu kì. Nhà nghèo thì lưng cơm, đĩa muối cũng xong.

    Thắp hương xong, dựng đôi đũa vào giữa bát cơm, có rượu thì rót chén rượu. Khấn vài xong cũng rót chén nước. Thờ cúng vong linh cũng giống như đang sống, cũng là để thỏa nguyện tâm linh: “Lấy câu vận mệnh khuây dần nhớ thương”.

    Nhưng tại sao lại cúng 100 ngày? Tập tục này cũng tùy địa phương, có nơi chỉ cúng 49 ngày (tức là lễ chung thất). Theo thuyết của Phật giáo, qua 7 lần phán xét, mỗi lần 7 ngày đi qua một điện ở âm ti (tức một tuần nhưng không phải tuần lễ theo dương lịch), sau 7 tuần vong hồn sẽ siêu thoát. Có nơi cúng hết 100 ngày (tức là lễ tốt khốc, nghĩa là thôi khóc).

    Theo giải thích của các cụ ngày xưa thì thời gian này âm hồn vẫn còn phảng phất, luẩn quẩn trong nhà chưa đi xa. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, phong tục này có căn cứ khoa học.

    Theo thuyết Thần giao cách cảm, ngoài điện trường vật lí đã được ứng dụng trong thực tiễn, còn có điện trường sinh học. Những cá thể có cùng tần số cảm ứng trong điện trường sinh học, dù ở cách nhau rất xa nhưng vẫn nhận được những nguồn thông tin của nhau.

    Các nhà khoa học đã vận dụng những phát triển đó để giải thích về điềm, về giấc mơ, về những biểu hiện tâm, sinh lí bất thường khi thân nhân (có thể cách nhau rất xa về không gian địa lí) có cùng tần số điện trường sinh học có sự biến bất thường.

    Mọi người thường nói chết là hết nhưng chết chưa phải là đã hết khi người đã khuất vẫn còn tồn tại trong tâm trí người còn sống. Sau khi chết, tim ngừng đập, máu ngừng chảy, thần kinh cảm giác ngừng hoạt đông, vỏ não chưa bị hủy, xung quanh hiện trường phát ra từ não vẫn chưa ngừng phát sóng.

    Lớp đất dày không ngăn được sóng điện vật lí hay sóng điện sinh học. Cá thể sống có tần số điện trường sinh học tương ứng vẫn tiếp nhận được tín hiệu. Do đó, hiện tượng báo mộng chưa hẳn là vu vơ, không đáng tin. Phải chăng vì lẽ đó mà các cụ cho rằng, âm hồn còn phảng phất, chưa siêu thoát.

    Dù cho ngày này, con cháu có bận rộn đến đâu, cũng phải thu xếp mọi công việc để làm giỗ đầu cho người đã khuất thật chu đáo

    Thế nào là giỗ đầu (tiểu tường) trong văn hóa thờ cúng của người Việt?

    Đại đức Thích Minh Nghiêm cũng giải thích cặn kẽ trong cuốn “101 câu hỏi về nghi lễ thờ cúng tổ tiên” (Nhà xuất bản Thời đại) rằng “tiểu tường” có nghĩa là điềm lành nhỏ. Theo tập quán xưa, các cụ thường giải thích rằng người chết sau một năm thì hương hồn đã được yên vị nơi cửu tuyền (chín suối), tà ma không dám tới quấy nhiễu nữa.

    Có người đã thành thần hay đi đầu thai kiếp khác nếu như trong đời sống trần thế trước đây có công đức và đạo hạnh cao. Cũng trong lúc ấy, ở trần thế, sự đau đớn của con cháu đã với đi nhiều phần.

    Giỗ đầu là đúng tròn một năm (theo âm lịch), con cháu tụ tập để làm giỗ. Dù cho ngày này, con cháu có bận rộn đến đâu, cũng phải thu xếp mọi công việc để làm giỗ đầu cho thật chu đáo. Từ sau lễ này con cháu mới bỏ các hung phục (tang phục khi người qua đời) như đồ sô gai, mũ, gậy…

    Ngày nay nhiều gia đình thường bỏ mũ, áo trong dịp lễ bốn chín ngày hoặc một trăm ngày. Trong những ngày này chỉ còn giữ tục cúng lễ. Theo tập quán xưa, trước ngày giỗ chính thức, con cháu phải làm lễ “cáo giỗ”.

    Ngày cáo giỗ còn gọi là ngày “tiên thường”. Ngày này, con cháu báo cáo cho người đã khuất việc cúng giỗ ngày hôm sau. Trong ngày cáo giỗ, gia chủ phải làm lễ cáo với Thổ công, Thần linh, xin phép cho vong hồn được cúng giỗ về thụ hưởng. Đồng thời cũng xin Thổ công cho phép các linh hồn gia tiên nội ngoại nhà mình về dự giỗ.

    Người ta tin rằng, “đất có Thổ công, sông có Hà bá”, những hương hồn muốn về thăm con cháu đều phải xin phép Thổ công vào ngày “tiên thường”, tức là trước ngày giỗ chính.

    Ngày “tiên thường” này, con cháu phải ra mộ khấn mời vong hồn người chết về hưởng giỗ, sửa sang lại phần mộ cho chu đáo (nếu mộ chưa xây thì phát cỏ, đắp đất thêm, dọn dẹp xung quanh…), lau rửa bàn thờ, chuẩn bị các đồ lễ.

    Khi cúng theo trình tự, khấn Thổ công trước sau đó khấn tổ tiên và người được cúng giỗ. Theo cổ lệ, chỉ có những ngày giỗ lớn mới có cáo giỗ, còn những ngày giỗ nhỏ, con cháu chỉ cúng ngày chính giỗ. Những ngày giỗ lớn là giỗ ông bà, cha mẹ, chồng vợ.

    Văn tế tiểu tường, đại tường (giỗ đầu, giỗ đoạn)

    Hôm nay là ngày… tháng… năm…………………………………….

    Chúng con cùng cả họ, nhân ngày tiểu tường (đại tường) kính dâng chay nhạt;

    Trước linh tọa khóc mà than rằng:

    Than ôi!

    Mây giăng, gió giữ làm chi sớm độc địa hỡi trời!

    Hơn một ngày không ở. Đành rằng tử sinh có mệnh, kém một ngày không đi.

    Nhớ những lúc một nhà sum họp; cha trước mẹ sau.

    Bỗng từ đâu hai ngả chia phôi, kẻ còn người khuất.

    Thương ôi!

    Công đức chưa đền, đau đớn như chứa chan giọt lệ.

    Âm cung xa cách. Xót xa thay bối rối ruột tằm.

    Tính đốt ngón tay, kể tháng đã hai năm (13 tháng);

    Tiểu tường tế duyên, chưa khô hàng lệ.

    Tính ngày vừa ba trăm sáu mốt ngày, giỗ đầu diện lễ. (Đổi thành câu sau với giỗ đại tường: Tính đốt ngón tay đã bảy trăm hai mươi mốt ngày – là tuần giỗ đoạn.)

    Chay nhạt dâng lên;

    Dưới chín suối cha (mẹ) già chứng giám;

    Khóc than kể lể: Trước linh sàng con trẻ khấu đầu; cúi xin hâm hưởng.

    Cẩn cáo!

    (Theo cuốn “101 câu hỏi về nghi lễ thờ cúng tổ tiên” Nhà xuất bản Thời đại).

    Từ việc cúng tế bằng đồ thật, dần dần mới sinh ra lễ đốt vàng mã, thay thế bằng các đồ vật làm bằng tre, gỗ, rơm, rạ, đất sét hoặc giấy tượng trưng nhưng kích thước thu nhỏ lại để người cõi âm mang đi.

    Vì sao trong văn hóa thờ cúng của người Việt lại tục đốt vàng mã?

    Đại đức Thích Minh Nghiêm trình bày quan điểm về vấn đề này như sau: Theo quan niệm của người đời xưa, người chết cũng cần ăn uống, nhà cửa, quần áo, hút thuốc, ăn trầu, cũng cần tiền xe, cần tiền đi lại và mọi khoản chi dùng như khi còn sống…

    Tục xưa, trong “tiểu tường”, gia chủ thường sắm đồ mã bằng giấy, biểu trưng những đồ dùng hàng ngày của người đã qua đời ở thế giới bên kia cần đến như: quần áo, vàng, bạc…

    Ngày nay người ta còn làm cả tủ lạnh, tivi, nhà lầu, xe hơi… để đốt cho người chết. Thực ra nên hiểu rằng, vàng mã chỉ là tượng trưng cho ý niệm của con người mà thôi.

    Thời cổ đại, khi chôn cất người chết, người ta thường chôn theo những đồ vật thường dùng (gọi là đồ tùy táng). Có một số đồ vật quá lớn như nhà ở, giếng nước, trâu bò, ngựa xe… không thể chôn theo trong mộ được, người ta làm mô hình nhỏ lại để chôn theo, những món đồ này gọi là minh khí.

    Sau này, do tư duy trừu tượng của con người phát triển, người ta mới là bằng giấy thay thế cho các đồ tùy táng và đồ minh khí (gọi chung là đồ mã, vàng mã). Đến ngày giỗ hoặc ngày rằm tháng bảy, sau khi cúng kiếng, người ta đốt đi để người ở thế giới bên kia nhận được.

    Theo phong tục an táng, mai táng ở nhiều nơi, người chết cũng được chia một phần gia tài. Ở Sơn La, Lai Châu, nhiều nơi còn dựng các nhà mồ, bên trong nhà mồ cũng có đầy đủ các nồi đồng, mâm gỗ, ấm đất, bát đĩa, dao rựa, chăn chiếu, quần áo, mũ nón… đủ tiện nghi cho một cá nhân.

    Người chết cũng được chia cả trâu, lợn, gà, thóc, gạo… Sau ba năm, tang chủ làm lễ khấn vái và ra mồ xin lại những đồ vật còn dùng được và súc vật còn sống, kể cả súc vật vừa mới đẻ ra.

    Từ việc cúng tế bằng đồ thật, dần dần mới sinh ra lễ đốt vàng mã, tức là thay thế bằng các đồ vật làm bằng tre, gỗ, rơm, rạ, đất sét hoặc giấy tượng trưng nhưng kích thước thu nhỏ lại để người cõi âm mang đi, nhờ có “phép thiêng biến ít thành nhiều”.

    Áo quần của người chết mặc khi còn sống, để lại nhà mồ sau ba năm mục nát, không nỡ dùng vào việc khác, người ta đốt đi dần dần sinh ra được thay thế bằng quần áo giấy.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tại Sao Có Lễ Cũng Cơm 100 Ngày Cho Người Chết
  • Bài Văn Khấn 100 Ngày Cho Người Đã Mất
  • Hướng Dẫn Cách Cúng 100 Ngày Cho Người Chết Đầy Đủ Nhất
  • Nhận Biết Bạn Bị Người Âm Đi Theo Phá Và Cách Hóa Giải
  • Đồ Cúng Người Cõi Âm Của Trong Ngày Rằm Tháng 7
  • Cúng Giỗ Tổ Ngành Mộc Ngày Nào Là Chính Xác?

    --- Bài mới hơn ---

  • Mâm Cúng Giỗ Tổ Ngành Mộc Gồm Những Gì?
  • Các Ngày Giỗ Tổ Nghề Tại Việt Nam: Văn Khấn, Mâm Cúng Chi Tiết
  • Bài Cúng Giỗ Anh Trai
  • Thực Đơn Các Món Cúng Giỗ Miền Bắc Gồm Những Gì
  • Chồng Bỏ Giỗ Bố Vợ Ở Nhà Cúng Anh Trai, Tôi Uất Nghẹn: ‘sang Năm Khỏi Về Nhà Tôi Nữa’
  • Giỗ tổ nghề là một nét đẹp truyền thống của Việt Nam. Từ xa xưa rất nhiều ngành nghề đã có ngày giỗ tổ để tưởng nhớ về người đã sáng lập và truyền bá rộng rãi trong xã hội. Đây là văn hóa thể hiện tinh thần “uống nước nhớ nguồn” của người Việt. Trong tất cả các ngành nghề ở nước ta, ngành mộc và ngành xây dựng lại có đến 2 ngày giỗ tổ trong một năm, cách nhau 6 tháng. Đó là ngày 13 tháng 6 và ngày 20 tháng 12 âm lịch. Tất cả các thợ thuộc ngành mộc hay ngành xây dựng, cơ khí cứ đến ngày này là chuẩn bị mâm cúng giỗ tổ.

    Theo sử sách Trung Quốc, ổng tổ ngành mộc chính là Lỗ Ban. Vào thời Lục quốc phân tranh, một người thợ giỏi bậc nhất nước Lỗ, tuân lệnh nhà vua bỏ ra gần 3 năm ròng rã tìm tòi nghiên cứu và chế tạo ra một con diều bằng gỗ có thể chở được người, để dọa thám tình hình quân lính nước Tống nơi biên thùy. Người thợ này có tên là Lỗ Ban, danh tiếng của ông vang dội khắp nơi, được tôn sung là bậc thầy thợ mộc nước Lỗ cứu giúp đất nước.

    Ông cũng chính là người chỉ huy các thợ xây dựng đền đài cung điện, nghiên cứu và chế tạo ra 2 dụng cụ đo đạc chuẩn xác và nhanh chóng phục vụ cho việc xây dựng. Đó chính là chiếc compa và chiếc thước bọt cổ xưa. Hai dụng này được sử dụng phổ biến cho đến ngày nay. Ngoài ra ông còn nghiên cứu thiên văn, địa lý kết hợp với 8 quẻ bát quái và tạo ra cây thước Lỗ Ban đặc biệt cho ngành mộc (nghề thợ hồ cũng có thể sử dụng) để phục vụ cho việc đặt đòn mái, đo đạc khuôn cửa, khuôn nhà. Thước này có chiều dài 1 thước Tàu (44cm), gồm 44 cung, 16 cửa xấu, tốt. Đến thời Lỗ Ban Lục quốc phân tranh, ông đem đúc kết tất cả kinh nghiệm lại, điều chỉnh lại thước Lỗ Ban cũng chiều như cũ nhưng có 8 cung, 32 của tốt, xấu, rủi, may, sinh, tử, ly biệt…

    Tại miền Bắc Việt Nam, những người làm nghề tưởng nhớ ông tổ nghề là Nguyễn Công Nghệ – một chàng trai trẻ chỉ mới có 18 tuổi nhưng có tay nghề mộc nổi tiếng khắp xứ được mời vào cung và giao nhiệm vụ tạc tạo chiếc ngai vàng cho Chúa. Nhưng khi hoàn thành, chàng trai đã bị tống giam vào ngục tối vì tội đã nằm vắt vẻo ngủ trên ngai vàng của Chúa.Chúa băng hà, bà Chúa lên nắm mọi quyền hành. Bà chúa ra lệnh cho chàng trai chạm trổ bức Phật bà. Nhưng chàng trai ông hiểu và không thể làm ra được bức tượng nên tiếp tục bị giam cầm khắc nghiệt. Hàng trăm vị Tăng đọc kinh gõ mỏ, những bữa cơm chay lặp đi lặp lại mỗi ngày đối với chàng trai trẻ. Sau thời gian bị giam cầm, chàng trai bị mờ mắt, tai ù,… chàng trai cảm thấy không thể nào chịu đựng được nữa và quyết định sẽ tạc bức tượng Phật. Ba năm sau đó, vào một ngày bà Chúa đi kiểm tra. Khi tới gần ngồi nhà nơi làm việc của chàng trai, mọi người nhìn thấy một luồng sáng phát ra. Bức tượng từ tâm con người đã hoàn thành. Bức tưởng Phật bà với một đầu bốn mặt nghìn tay và trên mỗi bàn tay là một con mắt, mọi người ai nhìn thấy đều sửng sốt. Và mọi người cũng không dễ dàng gì nhận rõ được ý nghĩa tâm linh của bức tượng. Bà Chúa tức giận cho người tìm tác giả để được câu giải thích thỏa đáng. Nhưng thật không may, vì mờ mắt sau nhiều năm bị giam cầm, Ông Nguyễn Công Nghệ đã rơi xuống dòng suối, bị cuốn trôi.

    Về sau, mọi người dần hiểu được ý nghĩa thực sự cũng như cái tâm của ông tổ Nghệ đặt vào bức tượng. Cũng từ đó tên Nguyễn Công Nghệ đã đi vào lịch sử của ngành mộc và ông cũng chính là ông tổ của nghề mà mọi người luôn kính trọng và tưởng nhớ.

    Truyền thuyết lưu truyền từ đời này sang đời khác, cả Trung Quốc và Việt Nam cùng với một số nước Châu Á khác, đa số mọi người đều xem Lỗ Ban chính là ổng tổ sư ngành mộc, chỉ một số ít ở vùng miền Bắc thờ ông Nguyễn Công Nghệ.

    Việt Nam là nước chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa rất lớn. Tuy nhiên, phong tục cúng giỗ tổ ngành mộc cũng có nét riêng biệt, có tổ nghề riêng

    Cứ vào ngày 20 tháng 12 âm lịch hàng năm, những người làm nghề mộc đều dâng hương tưởng nhớ ông tổ nghề là Nguyễn Công Nghệ. Theo truyền thuyết, vào thời chúa Trịnh, một chàng trai trẻ mới 18 tuổi nhưng có tay nghề làm mộc nổi tiếng khắp xứ Bắc được mời vào cung điện và giao nhiệm vụ tạo chiếc ngai vàng cho xứng tầm. Nhưng khi hoàn thành, chàng trai bị giam vào ngục vì đã nằm vắt vẻo lên ngai vàng ngủ.

    Thời gian sau đó, Chúa băng hà, bà chúa lên ngôi nắm quyền. Trong một dịp tình cờ, bà nhìn thấy ngai vàng quá đẹp, bà liền ra lệnh cho chàng trai tạo ra một bức tượng Phật bà bằng chính cái tâm con người, Phật bà phải nhìn được trăm nẻo khổ đau, gian ác trên thế gian để cứu giúp và trừng trị những kẻ ác trên thế gian. Khi những lời bà Chúa ban xuống, chàng trai lấy làm khó hiểu và trả lời: “Thưa, tất cả những vật hạ thần nhìn thấy thì sẽ chạm trổ được, hạ thần không thể thấy được những gì mà bà Chúa yêu cầu nên không thể nào chạm được”. Bà Chúa tức giận và phán: ” Ngươi không chạm được thì ta sẽ bắt ngươi phải làm cho bằng được”.

    Tiếp tục bị giam cầm. Xung quanh nhà giam là hàng trăm vị Tăng đọc kinh gõ mõ ngày đêm và tới mỗi bữa là món cơm chay. Đây là một điều kinh khủng đối với chàng trai trẻ. Ssau một thời gian chàng trai cảm thấy không thể nào chịu nổi và quyết định làm nhanh để thoát khỏi sự từ hãm này. Sau ba năm, bức tượng từ tâm theo yêu cầu cũng đã hoàn thành. Tất cả mọi người đều sửng sốt khi nhìn thấy bức tượng Phật bà với một đầu 4 mặt nghìn tay, trên mỗi bàn tay có một con mắt. Không dễ dàng có thể hiểu được ý nghĩa tâm linh của bức tượng. Bà chúa tìm đến chàng trai trẻ để có được câu giải thích thỏa đáng. Nhưng vì sau nhiều năm bị giam cầm mắt bị mờ, ông đã bị rơi xuống suối, bị cuốn trôi…

    Về sau, mọi người dần hiểu ý nghĩa thực sự cũng như cái tâm của ông tổ Nghệ đặt cho bức tượng. Cũng chính từ đó Nguyễn Công Nghệ đã đi vào lịch sử của nghề mộc, mọi người ai cũng kính trọng và luôn tưởng nhớ về ông. Các nghệ nhân dân gian đã đem đến tinh hoa dân tộc kết hợp với ý tưởng dân dã vào từng thớ gỗ tạo nên những sản phẩm có giá trị không những phục vụ tiêu dùng trong nước mà còn xuất khẩu nước ngoài.

    Vì vậy, cứ vào ngày giỗ tổ ngành mộc, mọi người trong ngành lại chuẩn bị mâm cúng giỗ dâng lên tổ nghề để thể hiện lòng tôn kính.

    Thời gian tổ chức và lễ vật cúng giỗ tổ ngành mộc

    Lễ cúng giỗ tổ được mọi người trong làng nghề tổ chức long trọng vào ngày 20 tháng 12 âm lịch. Ngoài ra, ngày 13 tháng 6 âm lịch cũng được xem là ngày giỗ tổ ngành mộc nhưng các thợ cúng tại nhà, tại nơi làm việc.

    Lễ cúng giỗ tổ ngành mộc phải có con gà trống, một con heo và một vò rượu nếp trắng.Chủ lễ là người thợ có uy tín trong nghề hoặc là người lớn tuổi nhất. Đối với những thợ mới vào ngày, đây được xem là lễ nhập môn ra mắt Tổ nghề. Lễ vật thợ mới chuẩn bị gồm con gà trống, một chai rượu trắng và nhang thơm; đặt lễ vật lên bàn thờ Tổ khấn vái rồi xá ba xá, lạy ba lạy. Chủ lễ đón nhận lễ và trao lại một ly rượu trắng, sau đó lễ phép nâng ly rượu mời người thợ mình tôn làm thầy. Thầy uống cạn ly chấp nhận môn đồ chỉ dạy tận tình.

    Ngày nay, đa số các thợ, công ty trong nghành thường tự tổ chức cúng giỗ tổ tại nhà hoặc tại công ty cùng với tất cả nhân viên. Họ chuẩn bị mâm cúng đầy đủ lễ vật dâng hương tổ nghề gồm: trái cây ngũ quả, hoa tươi, nhang, đèn cầy, trà rượu nước, bánh kẹo, chè xôi, gà luộc, heo quay…kết thúc thủ tục cúng, tất cả mọi người cùng nhau chung vui, chia sẻ, truyền cho nhau kinh nghiệm, bí quyết để học hỏi lẫn nhau.

    Mâm cúng giỗ tổ ngành mộc vào ngày 13 tháng 6 âm lịch (20/12) gồm những gì?

    Chuẩn bị lễ vật cúng giỗ tổ ngành mộc như sau:

    • Trái cây: ngũ quả. Không nên chọn những quả sau: măng cụt, vú sữa vì tên gọi không mang ý nghĩa tốt.
    • Hoa: hoa lay ơn, hoa cúc vàng đại đóa
    • Nhang rồng phụng 5 tất: 3 cây hoặc 5 cây
    • Gạo, muối, trà, rượu, nước
    • Trầu cau có vôi thuốc
    • Gà trống luộc chéo cánh đẹp
    • Heo quay nguyên con
    • Bánh bao
    • Bánh chưng chả lụa (nếu có, thường cúng vào dịp tháng 12 âm lịch)

    Tùy vào quy mô làng nghề, quy mô công ty, phong tục vùng miền mâm cúng giỗ tổ ngành mộc sẽ có những điểm khác nhau.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chi Tiết Bài Cúng Tạ Nhà 3 Năm
  • Cúng Lễ Thần Tam Tai Đại Hạn
  • Cúng Tạ Đất Tại Nhà Cuối Năm: Cách Sắm Lễ, Bài Văn Khấn Và Tất Cả Những Điều Cần Biết
  • Bài Văn Khấn Tạ Đất Đầu Năm Đầy Đủ Nhất Năm 2021
  • Cúng Tạ Đất Cuối Năm: Ý Nghĩa, Văn Khấn, Sắm Lễ, Nghi Lễ Thực Hiện
  • Văn Khấn Bài Cúng Thất

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Cúng Khấn Ngày Giỗ Thường
  • Bài Cúng Rước Ông Bà Ngày Tết Canh Tý 2021 Chuẩn Nhất
  • Bài Cúng 30 Tết Chuẩn Cho Năm 2021
  • Bài Văn Khấn Ở Nhà Thờ Họ Đầy Đủ Chính Xác
  • Văn Khấn Rằm Tháng 7 Tại Nhà Thờ Họ
    • Cúng thất là một nghi lễ Phật giáo thỉnh thoảng tôi cũng hay được mời tham dự nơi những ngôi chùa, do chư tăng cử hành. Nếu những nghi lễ khi tang lễ có thể có mặt nhiều người ngoài gia đình, họ hàng, thì cúng thất thường chỉ bao gồm những người thân trong gia đình người quá cố, và một số ít họ hàng thân thuộc, cúng thất có thể được cử hành tại gia với những nhà sư được mời tới nhà, nhưng thường được cử hành tại chùa, là nơi thờ phượng đặt tro cốt của người quá cố.
    • Cúng thất là một nghi thức quan trọng bên Phật giáo dành cho người mới khuất, cúng thất bao gồm 7 thất, mỗi thất 7 ngày, vị chi là 49 ngày kể từ ngày mất. Theo quan niệm truyền thống dân gian, con người khi sinh ra sau 7 ngày thì được một lạp, và khi mất sau 7 ngày thì được một kỵ. Mỗi lạp thì sinh ra một vía, còn mỗi kỵ thì mất đi một vía. Con người có 7 vía (chúng ta thường hay nghe nói réo 3 hồn 7 vía), cho nên người ta có lệ cứ 7 ngày sau khi mất cúng một lần, gọi là cúng thất, tất cả bao gồm 7 thất, thất cúng cuối cùng gọi là chung thất, trọn 49 ngày,
    • Trong kinh Địa Tạng của Phật giáo, có nói đến trong 49 ngày nếu tạo được nhiều phước lành cho người đã khuất, thời có thể cứu người đã khuất khỏi đọa vào chốn ác đạo, và được sinh lên cõi thiện. Đối với thân quyến hiện tại cũng được nhiều phước lành. Cứ 7 ngày như thế là một tuần chay, cúng 7 tuần chay trọn 49 ngày gọi là “Thất thất lai tuần”. Như chúng ta đã biết triết lý Phật giáo tin rằng khi chưa dứt khỏi luân hồi, thì con người luân hồi trong lục đạo, gồm 3 ác đạo là Súc sanh, Ngạ quỷ, Đia ngục, và 3 thiện đạo là Cõi người, A tu la (Phi thiên), và Thiên.
    • Tín ngưỡng Phật giáo tin rằng trong vòng 49 ngày sau khi mất (Thân trung ấm), là thời gian hồn phách của con người chờ được xem xét để tái sinh trong lục đạo (một trong sáu cõi kể trên). Nếu thực vật chỉ có một phần sinh hồn, động vật (các loài vật) có sinh hồn và giác hồn, thì con người có sinh hồn, giác hồn, và linh hồn (3 hồn 7 vía).
    • Trong vòng 49 ngày mất chúng ta thường thấy mỗi ngày người trong gia đình cúng cơm cho người đã khuất, cúng cơm này là cúng cho người đã khuất hưởng khi chưa biết sẽ về đâu. Nhưng cúng thất không phải là cúng cho người đã khuất, mà đây là lễ vật dâng cúng lên chư Phật, Bồ Tát để cầu xin vong linh được tiếp dẫn, siêu thoát về nơi Thiện đạo (3 cõi lành trong 6 cõi luân hồi).
    • Trong nghi lễ cúng thất được cử hành tại chùa tôi đã có dịp tham dự, thường thấy có một vài cho đến vài chục chư tăng cử hành lễ, tùy theo yêu cầu của gia chủ. Như vào dịp An cư kiết hạ vừa rồi, nhân có các chư tăng về an cư, tại một Tu viện Phật giáo tôi đã được tham dự một lễ cúng chung thất có đến 50 chư tăng hành lễ, rất trang trọng và ấn tượng. Tôi cũng thường thấy trong nghi lễ có phóng sinh chim chóc để cầu phước cho người quá vãng.
    • Nhân đây tôi cũng muốn nói thêm về một tục lệ dân gian chúng ta thường thấy trong đám tang tôi đã đọc được trong sách vở, là tục đội mũ rơm, thắt lưng bằng dây gai dây chuối, và chống gậy tre hay gậy vông. Nguyên do của tập tục này lại chính là để bảo vệ an toàn cho thân nhân người quá cố. Ngày xưa đường xá chật hẹp, người quá vãng thường được an táng nơi đồng ruộng, hay trên núi. Đường xá đi lại trơn trượt, khó khăn, đã có trường hợp sau mấy ngày tang ma mệt mỏi, người đi đưa mất thăng bằng ngã đập đầu hay rơi xuống vực, cũng có khi con cái quá thương tiếc tự đập đầu gây thương tích. Để tránh những điều đó người ta mới làm ra những chiềc mũ bện bằng rơm cho người thân đội (tạo an toàn khi va đập giống như mũ bảo hộ chạy xe gắn máy bây giờ). Áo tang lụng thụng dễ vướng víu vấp ngã nên được buộc lại bằng giây chuối, giây lạt, còn cây gậy chống cũng có tác dụng đi lại thêm vững chắc trên đường trơn trượt hay đường núi gập ghềnh. Tục phân biệt tang cha chống gậy tre còn tang mẹ chống gậy vông.

    Bài văn khấn, cúng làm tuần ( cúng vong ) hoặc lễ cúng 7, 14, 21, 28, 35, 42, 49, 100 ngày người mất. khấn vái cúng thất tuần người mới mất

      VĂN CÚNG LÀM TUẦN

      CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

      ……………….tỉnh,……………..huyện,……………….xã,………….thôn, ………….xứ chi nguyên. Tuế Thứ………..niên,………………….ngoạt,………………..nhựt Tư nhơn trưởng nam…………..Hiền thê………………cùng toàn gia đẳng. Cung lễ……………phụ thân ( mẫu thân)…………trọng phủ………………..trọng nương;……………..quận. Từ trần ngày……….tháng……….năm……….hưởng………tuổi. Thành tâm cẩn dụng…hương đăng hoa quả thanh chước thứ phẩm chi nghi. Cẩn ủy hiếu bái…………………..cẩn dĩ phỉ nghi. ĐIẾU CÁO VU – Thiết niệm ngài (1)Thái Quản nhờ ơn độ dẫn vong linh phục vị vong chánh hồn chi vị. – Cung niệm hiển khảo (tỷ) …….trọng………..quận phần hồn chi vị lễ tuần linh. Toàn gia đẳng xin bái khấp phụ (mẫu) thân. Thương thay xin thượng hưởng lễ (2) sơ tuần thất nhựt tuần (3) 7 ngày. Qui linh an lạc miền tiên cảnh. Xin phò hộ con cháu gia nương bình an.

      HIẾU TƯ CẨN CÁO DI

    Nên Cúng Cơm Cho Người Chết Như Thế Nào Và Trong Bao Lâu?

      Theo nhà Phật giáo lý “sanh lão bệnh tử” là quy luật tự nhiên trong quá trình duyên khởi, giúp cho con người có ý thức hệ về cuộc sống ra sau cho tốt, sống như thế nào có ích lợi cộng đồng và theo quy luật tất yếu nghiên cứu tu hành giải thoát khổ đau sanh tử luân hồi. Sanh lão bệnh tử là quy luật tất yếu nhưng không có tín điều sắp sẳn, được áp dụng cho chúng sanh chung và con người trên hành tinh, có công năng giúp cho con người giác ngộ. Sanh trụ dị diệt là lực đẩy, không ai có thể tránh những quy luật cộng đồng. Sống chết là việc có sẵn trong cuộc đời, từ giáo lý nầy mà nhà Phật cân nhắc để chúng sanh giác ngộ, hướng dẫn chúng sanh nhất là con người có thể vượt quy luật sống chết bằng cách sống theo đời sống tâm linh. Vì tâm linh thì vô biên, vô bờ bến, không sanh không diệt, tức là không có sanh ra nên không có chết đi và không có tìm kiếm sự tồn tại nên không trốn chạy sự hủy diệt, bất sanh bất diệt là thường trụ niết bàn. Phật là tĩnh thức giác ngộ. giác ngộ thì không còn nằm trong quy luật sanh tử, thành, trú, họai, không nữa. Tuy nhiên, nhà Phật cũng dạy, con người do mang thân tứ đại, gồm đất, nước, lửa, gió, thêm cả thức đại, không đại, nên có hòa hiệp, có tan rã, có hiện tiền có họai diệt, tức có sống, có chết. Con người từ Vua đến Quan đến hàng thứ dân, dân giả giàu nghèo khi hưng thời thì oai phong lẫm liệt, lúc già cỗi hưu trí ngẫm nghĩ lại cuộc đời, có sự tiếc nuối sợ chết, sợ tử thần đến viếng nhà thì không ổn. Từ khi có giáo lý Đức Phật con người không còn kinh hoàng trước cái tham sống sợ chết nữa.

    Phong tục tập quán

    • Phong là phong hóa, một thói quen nhất định của một dân tộc, của người địa phương trở thành nếp văn hóa chung của một dân tộc. Tục là tuc lệ những thói quen không bỏ được nhự tục ăn trầu, hút thuốc, tục đám ma chay rườm rà…Tuy nhiên, có thời điểm những phong tục trở thành lạc hậu, chỉ còn là một nếp văn hóa của một dân tộc địa phương nào đó trong đời người. Tập quán là thói quen của con người trong một vùng miền hay một quốc gia, tập quán con người trong một sớm một chiếu khó có thể bỏ được và nếu có bỏ chỉ là thời điểm lịch sử, ví như người dân quê Việt Nam đến mùa cấy thì có người đứng đầu trong “vạn cấy” thổi tù và để gom công, Tuy nhiên, ngày nay có thể bỏ khi người nông dân phục vụ cho nông trường làm tính giờ, không tính công.
    • Phong tục tập quán về việc tổ chức tang lễ của người Việt. Nói đến tang lễ là nói đến chết, nói đến chết là nói đến việc làm đám tang (tang lễ). Chúng ta sẽ tìm hiểu một số lễ tang của các nước lân bang và Việt Nam, sau đó sẽ bàn đến chi tiết khi gia đình hữu sự và hậu sự thực hiện các nghi cúng cho đủ lễ
    • Lễ tang cho gia đình Phật tử theo hệ thống Phật giáo Nam tông, cụ thể như ở vương quốc Lào là nước thuộc quốc giáo Phật giáo nguyên thủy. Trong gia đình có người qua đời tất cả đều vui, hát ca ngâm vịnh, rượi thịt, vui vì người thân sẽ chuyển sang kiếp khác sung sướng hơn, bà con hàng xóm láng giềng tụ tập phụ khâm liệm người chết, đặt áo quan vào một gốc nhà, cho hàng xóm láng giềng đến cúng lạy. Mọi người đến viếng lễ tang được mời sang nhà khác đãi ăn uống, lễ tang được tổ chức ba ngày, hoặc bốn ngày tùy theo quý Sư phán định. Ngày cuối cùng tang chủ và mọi người đem đi hỏa thiêu, sau đó hốt tro cốt đem vào chùa gần nhất phụng thờ. Từ đó mỗi năm gia đình đến thăm cúng giỗ, cúng dường chùa (Bài học thêm – sách địa lý Lớp Đệ Nhất 1969 – nói về phong tục lễ táng của người Lào)
    • Lễ tang xứ Tây Tạng-Trung Quốc, là xứ sở có đá không có đất, không có rừng, không có gỗ làm củi. Gia đình có người qua đời, sau khi làm lễ tang xong, đội mai táng đem người chết ra bãi tha ma, phân thây người chết bằng cách, chặt từng mảnh nhỏ thân thể người chết, bằm nhỏ cho loài chim kên kên đến tha mổ ăn cho đến khi hết những phần thịt xương của người chết mới thôi, phong tục nầy gọi là “điểu táng” (Ánh sáng Á châu – Đoàn Trung Còn)
    • Lễ tang theo Phật giáo Hòa Hảo ở An Giang, miền Tây Nam phần Việt Nam. Ban Tổ chức thường đến tụng kinh cầu an lúc sanh tiền, đến khi chết tụng kinh cầu siêu cho vong hồn người chết nghe kinh, nghe niệm Phật mà siêu thoát về với Phật A Di Đà. Lễ Tang chỉ tổ chức một ngày từ sáng đền chiều, thì động quan an táng gọi là “tử là táng”. Lễ tang theo đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, Phật giáo Tứ Ân ở Ba Chúc, huyện Tri Tôn, Nhà Lớn Ông Trần ở Long Sơn, Bà Rịa thì con người sau khi chết thân xác được bó trong 7 “nẹp tre” khiêng đem đi chôn trong vòng một ngày đó. Điều ngày có nghĩ tang lễ cũng theo phung tục tập quán “tử là táng” chết là chôn cất, không coi ngày giờ năm tháng xấu hay tốt lành chi cả (Tổ đình Thành An – Thích Minh Tâm). Tục nầy giúp cho con người tự tin hơn vì không tin vào lý số, nên không có ngày kỵ, không hao tốn tiền của, không sát sanh hại vật.

    Lễ phạn hàm

    • Những việc làm trong lễ tang thì nhiều, thật là phức tạp. Một Thầy cúng khi lãnh đàm quý Thầy thực hiện từng chi tiết nhỏ không sai sót chút nào. Khi người thân trút hơi thở, gia quyến sẵn sàng làm các việc gần gũi người thân, như làm lễ hú hồn, lễ đốt đồ cũ. Người Phật giáo thì dọn dẹp hết tất cả các vật dụng của người chết, vật dụng của gia đình, ghế đẳng sắp xếp có thứ lớp để mọi người đi tới lui không dụng chạm khua động lớn, làm chấn động người chết, thần thức nổi sân sẽ bị đọa lạc. Gia đình thỉnh đạo tràng nam nữ Phật tử chùa gần nhất đến hộ niệm, niệm Phật đến qua khỏi 8 tiếng đồng hồ đến khi thân xác hoàn toàn không còn cảm giác “sống” đau đớn, hoặc cho đền khi làm lễ khâm liệm.
    • Lễ phạn hàm: Tiếp theo là làm lễ phạn hàm, hay ngậm hàm, phạn là lương thực cơm gạo, hàm là ngậm, tức là bỏ một nắm gạo và ba đồng tiền (đồng kẽm, đồng chinh) vào miệng người chết. Gạo để linh hồn người chết ăn, khỏi phải thành ma đói ( ngạ quỷ). Tiền dùng để đi đò hay qua cầu sang bên kia thế giới. Những người lúc sống ăn ở bạc ác thì lúc chết linh hồn phải qua cầu Nại hà. Người lương thiện được qua cầu Kim ngân. Ngày xưa nhà giàu dùng gạo và vàng, ngọc để làm lễ phạn hàm. Ở nông thôn miền Nam để trà, gạo, có khi là vài phân vàng, nếp sồng, đắp mặt người chết bằng tờ giấy trắng hoặc giấy quyền, loại giấy hút thuộc rê (vấn) (Phong tục tang ma – Nguyễn Dư)

    Ba vắt cơm để trên đầu người chết

    • Cúng Phía đầu nằm người chết có đặt cúng 3 vắt cơm, 4 cây đền sáp đặt ở bốn gốc, không dâng hương. Có nơi dâng hương do người nhà không biết đó thôi vì dâng hương có mùi thơm bắt buộc mọi người phải ngửi, nếu ngửi thì ngửi luôn mùi xác chết, bất tiện mất vệ sinh quá, nên không dâng hương.
    • Lệ cúng 3 vắt cơm: Do quý Thầy cúng đã từng làm và chuyền nối nhau thực hiện từ lâu đời, 3 vắt cơm là biểu tượng của tam tài “Thiên Địa Nhơn” (theo Nho gia, Đạo gia), lúc người chết trở về với linh khí tinh nguyên của trời đất. Ba vắt cơm sau khi tẩm liệm xong đa phần các gia đình tin tưởng đem treo ở giàn bếp. Khi nào người nhà có bệnh hoạn hiểm nghèo đem ra đốt tán nhuyễn cho uống sẽ hết bệnh. Có nhiều nơi người thân quý mến người chết đem ăn luôn ba vắt cơm để thể hiện tình cảm với người chết, việc làm nầy quá mất vệ sinh dễ sanh bệnh đối với người ăn. Về sau những tu sĩ Phật giáo tiến bộ, tu sĩ chuyên tu lần lượt bỏ hình thức đặt ba vắt cơm cúng trên đầu người chết. (tác giả nhận định không phải truyền thống nhà Phật)
    • Đặt nải chuối xanh: Theo xưa có đặt nải chuối dằn bụng phòng linh miêu nhảy qua người chết sẽ hồi dương, người cõi âm nhập tràng, thành quỷ nhập tràng. Ở một thuyết khác câu chuyện bất đầu từ chàng trai sống chung với người mẹ già. Một ngày nọ chàng trai này lên rừng đốn và bất ngờ thấy cây chuối già xanh có hoài gần chín nên đã chặt đem về nhà để chín đem đi bán và ăn. Thế là chàng trai đã chặt buồng chuối này đèm về nhà. Khi đem về tới nhà thì không biết để đâu, cất đâu sợ mẹ già ở nhà thèm và đói ăn hết làm sau. Vì vậy chàng trai mới nghĩ ra cách là phải treo buồng chuối này lên cao để bảo quản. Thế là qua ngày hôm sau chàng trai lên rừng đốn củi tiếp thì ở nhà người mẹ chờ con về mà không thấy về trưa rồi nên cũng đói bụng thấy chuối con trai mình treo trên nhà bếp đã chín nên có ý định lấy chuối để ăn. Không ngờ là trèo lên thì bất ngờ ngã xuống bà cụ chết. Khi chàng trai về đến nhà thì gọi Mẹ ơi! Mẹ ơi! …Không nghe mẹ trả lời chàng trai mới vào nhà thì bất ngờ thấy mẹ mình đã chết vì trèo lên để lấy chuối ăn cho đỡ đói. Thế là chàng trai mới trách mình là tại mình mà mẹ mới chết. Khi mẹ chết trong nhà không cò gì hết chỉ có buồng chuối nên cậu ta mới lấy nải chuối còn xanh để trên bụng Mẹ mình nghĩ rằng mẹ mình đói bụng mà không ăn được nên bằng cách để trên bụng mẹ.. Sự tích về nải chuối để trên bụng người chết là vậy (trang mạng Văn hóa xã hội – tôn giáo, tâm linh – Đào Minh Định)

    Lễ nhập quan, thành phục, thọ tang

    • Nhập quan: Linh cữu được khiêng ra đặt giữa nhà, người chết ngoài đời do nhà đồ làm tất cả các việc. Việc tẩn liệm bằng trà, cách đây 60 năm nhà đồ không có trà, nên đồ tẩn liệm bằng rơm quấn trong giấy mỏng gọi là giấy súc. Vật dụng nầy ngày nay không còn, mà để trà rồi để thêm những đồ cũ, vật dụng của người chết được đem theo. Kế đến đậy nắp áo quan, gắn sơn chai, đóng lại theo kiểu mang cá hoặc đóng đinh cho kín.
    • Thành phục: Là lễ phát tang, cũng là lễ chính thức của đám tang, phát tang, giúp cho các thành viên vợ chồng, dâu rể con cháu trực hệ trong gia đình thọ tang người chết, ông bà cha mẹ. Thọ tang là chịu tang đối với những người lớn hơn mình, hay ngang mình là vợ chồng không chịu tang với người chết thấp hơn mình và có lễ cúng cơm cho người chết.
    • Thọ tang: Tang ai nấy mặc. Có gia đình sang giàu thì may đồ tang bằng vải tốt. Có gia đình nghèo may đồ tang bằng vải bô, áo bả hài gai, vải mùng, vì nghĩ đồ tang chỉ có mặc trong thời gian ngằn rồi đốt, nên đa phần các gia đình không quan tâm vải tốt xấu lắm. Trong thập niên 50 Thầy cúng thường lấy đồ xả tang của gia chủ may quần áo rồi nhuộm lại màu đen rồi mặc.
    • Trong giới tu sĩ xuất gia thọ tang màu vàng để nói lên đây là việc thọ tang người xuất gia, xuất thế gian. Tang trong đạo không phải như con cháu thọ tang cha mẹ ngoài đời nữa, mà đệ tử thọ tang Thầy Tổ, những bậc Cao Tăng, do đó chư Tăng Ni thọ tang màu vàng là vậy.
    • Thứ bậc thọ tang: Theo thứ bậc trong gia đình mà thọ tang: – Con trai, con gái, rễ, dâu thọ tang trắng – Trai trưởng nam thọ tang trắng có chống gậy tang cha chống gậy trúc (tròn), tang mẹ chống gậy vông (vuông), đội bích cân – Anh hoặc các em của người mất thọ tang trắng – Cháu nội thọ tang trắng có chấm đỏ – Cháu ngọai thọ tang trắng có chấm xanh – Cháu cố thọ tang trắng có chấm vàng – Cháu kêu bằng chú thọ tang trắng. Trong thời gian thọ tang, con cháu đi làm ăn hay đi làm việc đều có mang tang màu đen hay màu trắng, tùy theo màu áo mậc trong mình kich thước 2 cm x 1,5 cm.

    Cúng cơm trong lễ tang:

    • Cúng cơm: Phải cúng như thế nào cho đúng, tại bàn vong linh có cúng 3 chén cơm, đồ ăn, hương hoa trà quả. Cơm gồm một chén giữa đầy cúng cho vong linh người mới chết, hai chén hai bên thì hơi lưng để hai bên, biểu hiện hai bên vai giác, kiến cho những người hầu cận vong linh Thầy cúng gọi là Tả mạng thần quang, Hữu mạng thần quang. Có nơi cúng 3 chén, có nơi cúng 6 chén, không nên để 5 chén là sai. Ý nghĩa chén cơm ở giữa có cắm đôi đũa, hai chén cơm hai bên mỗi chén một chiếc đũa là cúng cơm cho vong linh (ma mới) mới ăn. Tuy nhiên, nếu hai bên để mỗi nơi một đôi đũa nữa thì các cô hồn (ma cũ) sẽ đến dành giựt, vong mới không được ăn, nên có thành ngữ “ma cũ ăn hiếp ma mới” là vậy. Theo quý Thầy cúng thì nghi thức nầy không phải của Phật giáo, mà chỉ làm theo tục lệ tín ngưỡng dân gian từ xa xưa lưu truyền lại.
    • Thuyết khác, ý nghĩa cúng 3 chén cơm chén giữa đầy dành cúng cho vong linh mới chết, có cắm một đôi đũa. Hai chén hai bên có cắm mỗi chén một chiếc đũa dành cho người giữ vong linh ăn chậm hơn vong linh chánh, nếu không thì vong linh chánh sẽ bị dành giựt, ăn không kịp. Đây cũng là tục lệ văn hóa vùng, tục cúng kiến riêng tại các địa phương trong dân gian Trung quốc có ảnh hưởng đến tục lệ Việt Nam (theo Đại Đức Thạc sĩ Thích Thiện Huy các tục lệ trên chỉ có truyền khẩu trong dân gian, xưa bày nay vẽ chứ không có trong nhà Phật)
    • Theo tuc miền Trung trên nóc áo quan bày một bát cơm úp, cắm một chiếc đũa vót cho sơ ra như gai nhọn (có nơi gọi là chiếc đũa bông), một quả trứng luộc, ba nén hương. Bát cơm, quả trứng, có thể là bữa ăn để linh hồn người chết khỏi trở thành ma đói. Nhưng chiếc đũa có gai nhọn thì chắc chắn không phải là để dùng ăn cơm. Không ai có thể ăn với một chiếc đũa như thế. Chiếc đũa bông nhiều gai nhọn có ý nghĩa không cho giặc cướp lấy cơm của người chết và trừ ma quỷ hiếp đáp vong linh (Phong tục tang ma – Nguyễn Dư). Đến ngày động quan, Thầy cúng kêu làm lại chén cơm có để trứng gà luộc mới, một đôi đũa bông, chén cơm mới để lại trên nắp áo quan, đến khi đem ra huyệt chôn cất xong, Thầy cúng hướng dẫn để chén cơm, trứng luộc, đôi đũa bông trên nấm mộ, nhiều nơi còn đặt thêm mớ bùi nhùi. Tục nầy mang ý nghĩa chúc tụng: “mớ bùi nhùi tượng trưng cho thế giới hỗn mang; trong hỗn mang hình thành nên thái cực (bát cơm); thái cực sanh ra lưỡng nghi (đôi đũa). Có lưỡng nghi (âm dương) là có sự sống (quả trứng)”.
    • Thầy cúng: Xưa chỉ một, nay có rất nhiều Thầy dự có tổ chức thành Ban gọi là Ban kinh sư từ 4 đến 6, hoặc 8 vị có trách nhiệm điều hành đám tang. Ban Kinh sư hướng dẫn như thế nào làm như thế nấy, Thầy cúng khi lãnh đám tang có trách nhiệm cúng cơm vào buổi sáng, trưa, chiều, có nơi cúng trưa và chiều.
    • Tu sĩ Phật giáo, người xuất gia, Sa môn viên tịch chỉ cúng cơm ngọ thời, không cúng cơm chiều.

    Lo hậu sự là báo hiếu

    • Hậu sự là lo việc báo hiếu, cúng kiến người chết sau lễ tang. Trong đời dù Bạn có làm việc quan được trọng thị ở thế gian đến đâu, nhưng không thể bỏ bê việc cúng kiếng ông bà cha mẹ từ lúc người còn sống đến những ngày cuối cùng cho đến khi qua đời. Lễ tang tuy không bận rộn lắm nhưng được ràng buộc bởi đạo hiếu nghĩa, đạo làm con cháu với người trên trước, đạo làm người đối với người đã qua.
    • Ngoài đời những người có hiếu đạo bao giờ cũng được tôn kính trọng dụng, mọi người tin tưởng, là chỗ dựa tinh thần của gia đình. Đôi khi lan tỏa đến xã hội và là người tiêu biểu trong xã hội xóm làng. Người xưa tôn trọng đạo hiếu, ông bà cha mẹ qua đời, phận làm con có khi là con trai trưởng nam, hoặc con lớn, con trai con gái lớn cạo tóc để thọ tang thờ cúng người thân qua đời trong thời gian 3 năm. Có khi mỗi đêm trải chiếu, nằm cạnh bàn thờ vong để dâng hương cho vong linh, hoặc cũng có khi cao đầu, ăn chay trường ba năm để cầu cho người qua đời được gần gủi Phật, nghe kinh mau siêu thoát luân hồi, tái sanh vào chỗ tốt lành.
    • Theo Hiếu kinh của Mạnh Tử dạy: khi cha me qua đời, dù cho con có làm quan lớn ở cấp bậc nào đi nữa cũng phải mặc áo bả hài gai, cất chòi ngoài mộ để cúng kiếng, đêm nằm canh giữ quạt mồ cha mẹ đúng ba năm cho mồ khô ráo để tỏ lòng tôn kính (theo đạo hiếu. Khổng giáo, Lão giáo).
    • Trong Đại Luật mặc dù chuyên hoằng giới nhưng Đức Phật cũng thường cân nhắc môn đệ xuất gia cũng như tại gia giữ đạo hiếu. Kinh Phạm Võng Bồ Tát giới Đức Phật dạy: “Hiếu thuận đối với cha mẹ, Sư trưởng, chư Tăng, đối với Tam bảo, sự hiếu thuận phù hợp chánh pháp chí thượng, sự hiếu thuận ấy gọi là giới, cũng gọi là năng lực chế ngự, đình chỉ mọi sự tội lỗi”.
    • Con cháu nhà Phật muốn báo hiều trọn vẹn thì tự phát tâm tụng kinh Bộ cầu nguyện cho ông bà cha me tại gia lúc sanh tiền cũng như khi qua đời, phát nguyện ăn chay trường, hoặc phát tâm rước chư Tăng Ni đến tụng kinh Địa Tạng. Tùy theo hoàn cảnh kinh tế gia đình làm việc từ thiện xã hội giúp đỡ người nghèo giúp cho họ qua cơn họan nạn, làm việc phóng sanh, ấn tống kinh sách Phật giúp cho người cải ác tùng thiện, đi cúng thập tự cầu cho ông bà cha mẹ siêu sanh Tịnh độ đó mới là đạo hiếu của Nhà Phật và có kết quả thực tế. Đức Phật dạy: ” Hiếu với Mẹ Cha tức là kính Phật. Nếu ở đời không có Phật thì hãy khéo thờ cha mẹ. Khéo phụng thờ Cha mẹ như phụng thờ Phật vậy” (Kinh Đại Tập)
    • Nhân nói việc lễ tang và lo hậu sự là báo hiếu ông bà cha mẹ đã qua, Đức Phật còn quan tâm đến những lúc ông bà cha me tại tiền, khi cha mẹ còn làm con phải hết lòng hiếu thuận, niềm tin vững vàng với Thầy Tổ, Tam Bảo. Cho nên đạo Phật còn gọi là Đạo Hiếu…”

    Cúng cơm sau lễ tang

    • Sau lễ tang mọi người đều mệt mỏi. Tuy nhiên, đối với người còn ở lại dù khổ đau bao nhiêu cũng phải tỉnh táo để lo việc cúng kiếng, các lễ cúng đối với vong linh. Nhất là lễ cúng cơm là lễ quan trọng trong đạo hiếu. Người có lòng hiếu thảo hay không phải xem cung cách đối xử của con cháu đối với người đã qua, ai hiếu thảo, ai không hiếu thảo. Lời Phật dạy: “vạn hạnh Bồ tát hiếu nghĩa vi tiên”, trong các hạnh Bồ tát thì hiếu đạo là việc trước tiên. Phật xưa thị hiện vao đời cứu chúng sanh, có khi thị hiện làm con, lúc cha mẹ mù lòa, muốn đi đâu con phải gánh cha gánh mẹ giúp cha me đi đây đi đó cho thỏa dạ. Cha mẹ đói khát con lóc thịt thân mình cho cha mẹ ăn, để đổ đói qua ngày (Kinh Đại phương tiện Phật Báo Ân – bản dịch HT Thích Trí Tịnh).
    • Việc lễ tang ngày nay dù chúng ta biết có nhiều hủ tục cần bỏ bớt, nhưng những việc còn lại phải làm, làm cho chí vóc, làm cho đầy đủ không được sai sót, như:
    • Cúng an sàng: Là an vị vong linh, sau khi hạ huyệt chôn cất xong, đem vong vị về tại nhà, thiết lập bàn thờ vong, an sàng linh vị, cũng gọi cúng an sàng. Bàn thờ nầy dành để cúng vong, cúng cơm sau lễ tang. Việc cúng kiếng nầy được thực hiện đến khi mãn tang (mãn khó), sau đó thỉnh vong linh thờ cúng chung với bàn thờ cửu huyền (thờ cúng ông bà) và mọi năm cúng giỗ tưởng niệm người đã qua.
    • Cúng mở cửa mộ: Còn gọi là mở cửa mả hay khai mộ, sau lễ an sàng, tức là từ khi chôn cất đến ngày thứ ba mọi người trong gia đình ra thăm mộ có đem theo lễ vật cúng, như: thang 9 bậc đối với người nữ, thang 7 bậc đối với người nam. Cây thang 5 tấc tượng trưng cho ngũ thường, 3 ống trúc đựng gạo nước tượng trưng cho tam cang, gà con kêu chi chít, tiếng kêu của gà con làm cho vong linh đã chết sau 3 ngày tỉnh thức biết đường lên khỏi mộ, cây mía lau tượng trưng cho công lao của cha mẹ lo cho con cái đến ốm o gầy mòn như cây mía, nhưng vẫn ngọt ngào với con. Ngoài các vật dụng đặc biệt trên còn có chè xôi, tam sên (hay tam sanh, gồm thịt, tôm, trứng luộc), trái cây, rượu, trà, gạo, muối, giấy tiền vàng bạc, trầu cau…Ở nhà cúng 4 mâm cơm, cúng ông bà, đất đai, cô hồn, cúng vong.
    • Cúng thất: lấy dấu mốc ngày người chết là ngày thứ nhất đến ngày thứ bảy làm lễ cúng thất, cúng tuần thất, 7 ngày, Nghi thức cúng thất bắt đầu từ buổi chiều ngày trước khoảng 16 giờ, tức ngày còn sống, rước Thầy đến cúng khai kinh, có sắm hương hoa trà quả, chè xôi, cúng tất cả các bàn thờ trong nhà, như cúng ông bà, cúng đất đai, cúng vong linh người chết và một mâm cúng cô hồn. Ngày hôm sau huờn kinh, không có cúng cơm. Nghi thức các lễ cúng thất đều giống nhau.
    • Cúng 21 ngày: tức là cúng thất thứ ba, 7 x 3 = 21 ngày gọi là tuần tam thất
    • Cúng 49 ngày gọi là cúng thất thứ bảy 7 x 7 = 49 ngày gọi là cúng 49 ngày hay gọi cúng tuần chung thất
    • Cúng 100 ngày trong thời gian nầy từ khi người thân qua đời đến ngày thứ 100. Trong những lúc gia đình ăn cơm vào buổi trưa và chiều con cháu có để bát cơm trên bàn ăn và một đôi đũa, mời ông bà về ăn rồi mới ăn, gọi là trả hiếu ông bà cha mẹ, cho đến khi nào phôi pha sự đau buồn cuộc tử biệt sanh ly mới thôi.
    • Cúng giáp năm cũng gọi là cúng Tiểu tường.
    • Cúng mãn tang, cũng gọi mãn khó, cũng gọi là Đại tường… Các nghi cúng 21 ngày, 49 ngày, 100 ngày, cúng giáp năm, cúng mãn tang vẫn y như lễ cúng mỗi tuần thất, có khai kinh và huờn kinh.
    • Nghi thức cúng dành cho người xuất gia viên tịch hình thức như nhau, nhưng có khác nội dung do Ban kinh sư chịu trách nhiệm biên soạn.
    • Việc cúng cơm cho người chết ngoài thế gian ông bà già xưa quy định con cháu phải cúng cơm hằng ngày, trưa, chiều đủ 3 năm mới hết cúng. Ngày nay các Thầy cúng giảm chế bớt lý do con cháu đi làm ăn xa, người ở ngoai quốc, nhà đơn chiếc, nên chỉ còn cúng cơm đến 100 ngày thì ngưng. Rồi đến cúng tiểu tường, tròn một năm đối cha mẹ, người thân qua đời. Người Phật giáo, hoặc tu sĩ xuất gia, hàng giáo phẩm Tăng Ni trong chốn thiền môn, việc cúng kiếng dành cho các tu sĩ có phần trịnh trọng hơn nhiều. Các đệ tử thay phiên lo việc cúng cơm, làm các việc báo ân Thầy Tổ, nên việc cúng cơm được duy trì đến 3 năm mới không còn cúng nữa. Tuy nói 3 năm nhưng chỉ có 24 tháng là tới ngày cúng mãn khó, mãn tang, đại tường..Chúng ta cũng cần nên biết thêm việc tính ngày mãn tang, ngày giỗ chạp. Ngày cúng 100 ngày, cúng giáp năm, cúng mãn tang thì tính tháng nhuần, mặc dù có dư một tháng nhưng vẫn tính là 24 tháng, đàm giỗ thì tính nhuần, nhơn gian có câu : “đám giỗ tính nhuần, làm tuần tính đủ” là vậy.

    • Lễ tang là công việc quan trọng. Nhà có lễ tang thì mọi việc đều tạm ngưng, giảm bớt công việc ngoài xã hội để lo lễ tang cho ông bà cha mẹ. Đạo hiếu ở thế gian rất cần được phổ cập trong nhân gian thật nhiều, đem lại đạo đức hấp thụ thật nhiều cho con người, nhất là người hung ác hiện nay ngày càng nhiều. Phật giáo còn quan trọng hơn, nhất là đối với các bậc tôn túc Thầy Tổ, hàng giáo phẩm, nhưng không chú trọng nhiều về hình thức lễ tang mà chú trọng đến việc thác sanh cao đăng thượng phẩm, cao đăng bảo địa, cao đăng Phật quốc.
    • Việc tín ngưỡng các tập tục ma chay có ảnh hưởng nhiều theo tập tục từng vùng văn hóa của xứ sở Trung Hoa rộng lớn, ảnh hưởng mấy nghìn năm theo Mật giáo, đạo thờ cúng, tang chay của Khổng giáo, Đạo giáo cũng xuất phát từ Trung Hoa. Vì vậy, việc tổ chức lễ tang hiện nay ảnh hưởng nhiều tập tục của Trung Hoa kết hợp với tập tục của người Việt…Như vậy một lễ tang dành cho một người chết là một tập hợp những tập tục văn hóa nhiều miền vùng văn hóa khác nhau của các quốc gia đuợc giới thiệu tại một lễ tang “đúng nghĩa”. Chúng ta thấy có một sự áp đặt nặng nề bất công quá, rườm rà, tốn kém, tổn hao công sức tài sản tiền bạc của gia đình thật vô lý vô cảm.
    • Đối với Phật giáo khi trong nhà có người thân qua đời thì nên thực hiện lễ tang cho chu đáo giản dị nhưng không kém phần trang nghiêm, không giết mổ heo, trâu, bò, gà vịt, giảm bớt những hủ tục rườm rà hao tốn thời gian kinh phí, nên cúng cơm chay cho vong linh. Những nghi lễ vô lý như đốt vàng mã, để nải chuối xanh trên bụng người chết, khóc mướn, leo lên nóc nhà hú hồn, nhất là không nên để thời gian lễ tang quá lâu, không mở cửa mộ theo hủ tục vác mía lau, kéo gà, làm than 7 nấc, 9 nấc, cúng tam sên…. Những tôn giáo khác và các tôn giáo nội sinh như Cao Đài, Phật Giáo Hòa Hảo, Phật giáo Tứ Ân cũng làm tròn đạo hiếu, nhưng tổ chức lễ tang rất đơn giản.
    • Từ thập niên 60 đến nay, các Giáo hội Phật giáo tại Việt Nam, tông cũng như giáo từng kêu gọi thống nhất các nghi lễ trong cả nước, tiến đến giản dị hóa những tập tục lễ tang, những nghi không có trong Đạo Phật. Tổ chức lễ tang theo nghi lễ Nhà Phật gọn, giản đơn gọi là “tam nhựt bất cấm” hay “tử là táng” trong hai ngày nầy là nhanh gọn, không phải xem lịch số ngày giờ tốt xấu.
    • Từ lễ tang đến các việc cúng hậu sự theo xưa bày nay vẽ thì quá rườm rà, Sư có lời khuyên gia đình Phật tử chúng ta nên gởi vong linh vào chùa nghe kinh được siêu thoát. Thỉnh thoảng quý vị đến thăm ông bà vào các ngày lễ cúng tuần đầu, tuần tam thất, tuần chung thất, 100 ngày, giáp năm, mãn khó mà thôi chứ không đi cúng kiếng hằng ngày, hay hằng tuần trở ngại nhiều việc
    • Việc sanh là đến, đến đây từ mình, mang gánh nặng tham sân si, những gì hiện nay ta có, như: hạnh phúc khổ đau, nhiễm ô, bệnh hoạn, có đủ tiền tài danh vong, quyền thế, chức vị, vợ chồng con cái, gia cang sự nghiệp một gánh tình tang nặng nề vô cùng như núi tu di. Tử là đi, đi về với vĩnh cửu vô biên, đi về với không ta, bỏ tham sân si, không còn hình bóng của ta, không còn thân tứ đại giả danh của ta, đi về với hư vô, không cần phải xây lâu đài dưới âm phủ như các vua chúa, quan tham sợ mất của…Cuối đời phải để cho nhẹ nhàng mà quẳng gánh ra đi về cố quán, về với chính mình, về với Cực lạc Tây phương.

    Hủ tục lễ cũ xưa bày

    Nay xin đừng vẽ lại ngày tháng qua.

    Chúng sanh: sanh, tử, bệnh, già,

    Theo chi lệ cũ rườm rà tốn hao.

    HT Thích Giác Quang

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Khấn Trong Lễ Tang
  • Tổng Hợp Các Bài Văn Khấn Trong Tang Lễ Việt Nam (Phần 2)
  • Nghi Thức Nhập Quan Trong Tang Lễ
  • Lễ Trị Quan Và Nhập Liệm
  • Tổng Hợp Các Bài Văn Khấn Trong Tang Lễ Việt Nam (Phần I)
  • Cách Xếp Đèn Cúng Sao

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghi Thức Lễ Gia Tiên Trong Phong Tục Cưới Hỏi Ở Việt Nam
  • Tìm Hiểu Phân Tích Cái Chấp Tay Và Lạy Của Đạo Cao Đài
  • Cách Bày Hoa Quả Bàn Thờ Trong Ngày Rằm, Lễ, Tết Theo Phong Tục Người Việt
  • Nghi Thức Cúng Cô Hồn Chuẩn Tránh Rước Vong Vào Nhà!
  • Văn Khấn Trước Khi Lau Dọn Bàn Thờ Chuẩn Bị Cho Tết Nguyên Đán
  • Sao La Hầu:

    Ai chịu ảnh hưởng sao nầy nên biết là một năm hoang phí, khẩu thiệt, đa sầu đa khổ, phụ nữ cũng lắm sầu đau, tiền bạc hao tán.

    Cúng ngày mùng 8 mỗi tháng, viết bài vị bằng giấy màu xanh để câu “Thiên Cung Thần Thủ La Hầu Tinh Quân”. Cúng với bông hoa trà, quả và 9 ngọn đèn theo hình vẽ kế bên. Cúng lạy về hướng Bắc.

    ( Kỵ tháng Giêng, tháng 7)

    Sao Thái Âm:

    Ai gập sao nầy thì trọn năm tài lợi, công danh toại ý vừa lòng. Nhưng về phần phụ nữ thì cò bệnh hoạn, nhớ là lúc sanh nên đề phòng.

    Cúng ngày 26 âm lịch, bài vị bằng giấy màu vàng để câu “Nguyệt Cung Thái Âm Hoàng Hậu Tinh Quân”. Thắp 7 ngọn đèn sắp theo hình vẽ kế bên, lạy về hướng Chánh Tây.

    (hợp với người nữ, kỵ với nam giới tháng 9, 11) Sao Vân Hớn:

    Ai gặp sao nầy là có nhiều việc cần tránh, phụ nữ nên đề phòng khẩu thiệt, có đau ốm.

    Cúng ngày 29 âm lịch, vào buổi tối bài vị bằng giấy màu vàng để câu “Nam Phương Bính Đinh Hỏa Đức Tinh Quân”. Thắp 15 ngọn đèn sắp theo hình vẽ kế bên, cúng lạy về phía Chánh Nam.

    Sao Thái Bạch:

    Gặp sao nầy làm việc gì kết quả cũng không được vừa ý, cưới gã sanh bệnh, phòng kẻ tiểu nhơn dòm ngó.

    Cúng ngày 15 âm lịch, bài vị bằng giấy màu trắng để câu ” Tây Phương Canh Tân Kim Đức Tinh Quân”. Cúng 8 ngọn đèn sắp theo hình vẽ kế bên, cúng lạy về hướng Chánh Tây.

    Sao Thái Dương:

    Đàn ông mà gặp sao Thái Dương, gặp nhiều may mắn, đi ca có tài lộc, mọi việc yên vui. Nhưng đàn bà mà gặp sao nầy thì không tốt.

    Cúng ngày 27 âm lịch, vào buổi tối, bài vị bằng giấy màu đỏ để câu ” Nhật Cung Thái Dương Thiên Tử Tinh Quân” . Thắp 12 ngọn đèn sắp theo hình vẽ kế bên, cúng lạy về hướng Đông.

    (tháng 6, 10 tài vô) Sao Kế Đô:

    Gặp sao nầy là hung tinh lắm điều tai vạ bất thường, nhất là đàn bà phải phòng khẩu thiệt, nhưng đi xa có lợi.

    Cúng ngày 18 âm lịch, viết bài vị bằng giấy màu trắng để câu “Thiên Cung Phân Vỹ Kế Đô Tinh Quân”. Thắp 21 ngọn đèn sắp theo hình vẽ kế bên, cúng lạy về hướng chánh Tây.

    Sao Thổ Tú:

    Gặp sao nầy là coi chừng có kẻ tiểu nhơn mưu hại, gia đạo bất hòa, tai tiếng, cửa nhà không yên, đêm nằm mộng mị, bất an.

    Cúng ngày 19 âm lịch, vào buổi tối, bài vị bằng giấy màu vàng để câu “Trung Ương Mộ Hỷ Thổ Đức Tinh Quân”. Thắp 5 ngọn đèn sắp theo hình vẽ kế bên, cúng lạy về hướng Chánh Nam.

    Sao Thủy Diệu:

    Trai cũng như gái làm ăn một năm thạnh lợi, tình cảm thuận lợi, hưởng được phúc trời cho. Những phụ nữ cần nên dẻ dặt, kẻo bị mang tiếng thị phi, tránh đi sông, đi biển.

    Cúng ngày 21 âm lịch, bài vị bằng giấy màu vàng đề câu “Bắc Phương Nhâm Quý Thủy Đức Tinh Quân”. Thắp 7 ngọn đèn sắp theo hình vẽ kế bên, cúng lạy về hướng Chánh Bắc.

    (kỵ tháng 2,8 khẩu thiệt) Sao Mộc Đức:

    Gặp sao nầy làm việc gì cũng kết quả, vừa ý, đàn ông thì hay bị bệnh. Đàn bà máu huyết không tốt.

    Cúng ngày 25 âm lịch, bài vị bằng giấy màu vàng để câu “Đông Phương Giáp Ất Mộc Đức Tinh Quân”. Thắp 20 ngọn đèn sắp theo hình vẽ kế bên, cúng lạy về hướng Chánh Đông.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Khấn Thổ Công Ngày Rằm, Mồng 1 Hàng Tháng Đầy Đủ Chi Tiết
  • Xem Ngày Mua Xe Theo Tuổi Năm 2021
  • Bàn Thờ Phật Bà Quan Âm Và Cách Thờ Cúng Tại Nhà
  • Tín Tâm Cúng Dường Tăng Bảo
  • Bài Văn Khấn Cầu Sự Nghiệp Và Tình Duyên Nơi Cửa Phật
  • Bài Văn Khấn Cúng Lễ Đổ Bê Tông (Cất Nóc)

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Cúng Bốc Bát Hương Mới
  • Bài Văn Khấn Cúng Tất Niên Công Ty Cuối Năm 2021
  • Văn Khấn Bài Cúng Tất Niên Công Ty Cuối Năm 2021 Đầu Năm 2021
  • Mâm Cúng Về Nhà Mới Gồm Những Gì, Cách Thực Hiện Lễ Cúng Nhập Trạch
  • Văn Khấn “cúng Nhập Trạch Về Nhà Mới”, Chuẩn Bị Mâm Lễ Đúng Cách
  • Tổng hợp những bài văn khấn, bài cúng cất nóc, đổ mái nhà.

    Làm nhà, xây nhà là một trong những việc quan trọng nhất của một đời người. Để việc xây dựng được diễn ra thuận lợi, các thành viên sống trong nhà được khỏe mạnh, mọi sự tốt lành thì từ khi chuẩn bị làm nhà đều phải xem ngày tốt, chọn giờ Hoàng Đạo để tiến hành.

    Một ngôi nhà từ lúc khởi công cho đến lúc hoàn thành được phân chia thành nhiều giai đoạn khác nhau. Mỗi giai đoạn đều quan trọng và được gia chủ lưu tâm từ việc tìm ngày giờ tốt, chuẩn bị lễ vật cúng, văn khấn… để mong thần linh và gia tiên chứng giám, phù hộ độ trì.

    Cúng Cất nóc, đổ mái là khâu cuối cùng trong việc hình thành lên một khung nhà hoàn chỉnh, không có nóc thì không thành nhà, nên lễ cúng cất nóc là vô cùng quan trọng. Để lễ cất nóc diễn ra thành công, thì gia chủ cần chọn được ngày giờ tốt, phù hợp với tuổi, sau đó chuẩn bị các thủ tục cúng cất nóc, đổ mái nhà sao cho thành tâm và đúng nghi thức nhất.

    Lễ cất nóc hay còn gọi là lễ Thượng lương, khi làm lễ này, gia chủ cần sắm lễ và chuẩn bị văn khấn đổ mái nhà như sau.

    Nam mô a di Đà Phật

    Nam mô a di Đà Phật

    Nam mô a di Đà Phật

    Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương

    Con kính lạy Hoàng thiên Hậu thổ chư vị Tôn thần

    Con kính lạy quan Đương niên

    Con kính lạy các tôn thần bản xứ.

    Tín chủ (chúng) con là: ………

    Ngụ tại: ………

    Hôm nay là ngày ….. tháng ……… năm ……

    Tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương, dâng lên trước án, có lời thưa rằng: Vì tín chủ con khởi tạo …………….. cất nóc căn nhà ở địa chỉ: …………… ngôi dương cơ trụ trạch để làm nơi cư ngụ cho gia đình, con cháu.

    Nay chọn được ngày lành tháng tốt, kính cáo chư vị linh thần, cúi mong soi xét và cho phép được động thổ (cất nóc, chuyển nhà, sửa chữa, mở cổng, xây thêm…)

    Tín chủ con thành tâm kính mời:

    Ngài Kim Niên Đường cai Thái Tuế chí đức tôn thần,

    ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại vương,

    ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa,

    ngài Định phúc Táo quân,

    các ngài Địa chúa Long Mạch tôn thần và tất cả các vị Thần linh cai quản trong khu vực này.

    Cúi xin các Ngài, nghe thấu lời mời, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho chúng con được vạn sự tốt lành, công việc hanh thông, chủ – thợ được bình an, ngày tháng hưởng phần lợi lạc, âm phù dương trợ, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

    Tín chủ lại xin phổ cáo với các vị Tiền chủ, Hậu chủ và các vị Hương linh, cô hồn y thảo phụ mộc, phảng phất quanh khu vực này, xin mời các vị tới đây thụ hưởng lễ vật, phù trì tín chủ, cũng như chủ thợ đôi bên khiến cho an lành, công việc chóng thành, muôn sự như ý.

    Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Nam mô a di Đà Phật

    Nam mô a di Đà Phật

    Nam mô a di Đà Phật

    Nội dung của bài khấn đổ mái nhà tầng 3, bài khấn đổ mái nhà tầng 2 cũng tương tự như bài cúng đổ mái tầng 1. Gia chủ chỉ cần thay đổi nội dung phần tầng sẽ đổ mái trong bài văn cúng cất nóc nhà là được. Khi thực hiện khoa cúng cất nóng, gia chủ có thể viết thêm sớ đổ mái.

    Nếu gia chủ cảm thấy bài cúng lễ đổ trần nhà dài và không thể nhớ ngay lập tức thì có thể viết, hoặc in bài văn khấn lễ cúng cất nóc nhà ra giấy rồi đọc. Trước khi đọc văn khấn lễ đổ mái cất nóc, đổ trần nhà, gia chủ cần tắm gội sạch sẽ, áo quần tề chỉnh, thành tâm kính lễ.

    Cũng giống như khi đọc các bài văn khấn khác, khi đọc bài khấn đổ trần cất nóc, bạn không nên đọc to thành tiếng mà chỉ nên đọc lầm rầm vừa đủ cho chính mình nghe. Tốc độ đọc bài văn cúng đổ mái nhà cũng không nên quá nhanh hoặc quá chậm mà nên vừa phải.

    Trong trường hợp gia chủ không được tuổi làm lễ cất nóc mà mượn tuổi làm lễ thì việc đọc văn cúng đổ trần nhà, văn khấn gác đòn dông sẽ được chuyển cho người được mượn tuổi thực hiện. Trong trường hợp này, bạn cần lưu ý, phần tên tín chủ trong bài văn khấn cất nóc lễ đổ trần nhà sẽ là tên của người được mượn tuổi.

    Trên đây là những thông tin chi tiết về ý nghĩa của lễ cất nóc nhà, cách xem ngày tốt đổ trần nhà theo tuổi, các lễ vật cúng đổ mái nếu như bạn chưa biết lễ cúng cất nóc nhà cần gồm những gì, cùng với nội dung bài cúng đổ trần nhà tầng 1, văn khấn đổ trần tầng 2, tầng 3 đầy đủ nhất.

    Hi vọng với bài khấn đổ mái nhà tầng 1, bài cúng lễ cất nóc và những đồ cần sắm lễ đổ mái nhà, thủ tục làm lễ đổ trần trong bài sẽ giúp gia chủ giải đáp được câu hỏi cất nóc nhà có phải cúng không và chuẩn bị thật tốt để nghi lễ cúng đổ mê tầng 1 tiến hành suôn sẻ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Chuyển Phòng Làm Việc Mới Và Lưu Ý Khi Chuyển Phòng Làm Việc
  • Văn Khấn Từ Đường
  • Ý Nghĩa Tết Trung Thu Và Bài Văn Khấn Rằm Tháng 8
  • Văn Khấn Gia Tiên Rằm Tháng 8
  • Cúng Mùng 2 Và 16 Hàng Tháng Là Cúng Gì? Bài Văn Khấn Chuẩn Nhất
  • Văn Khấn Chuyển Phòng Làm Việc Mới Và Lưu Ý Khi Chuyển Phòng Làm Việc

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Khấn Cúng Lễ Đổ Bê Tông (Cất Nóc)
  • Văn Khấn Cúng Bốc Bát Hương Mới
  • Bài Văn Khấn Cúng Tất Niên Công Ty Cuối Năm 2021
  • Văn Khấn Bài Cúng Tất Niên Công Ty Cuối Năm 2021 Đầu Năm 2021
  • Mâm Cúng Về Nhà Mới Gồm Những Gì, Cách Thực Hiện Lễ Cúng Nhập Trạch
  • Theo phong tục và các nghi lễ của người Việt ta từ lâu, khi bắt chuyển phòng làm việc mới, nghi thức cúng thần linh, thổ công, thổ địa là không thể thiếu, như vậy công việc làm ăn ở phòng mới được phát triển suôn sẻ, may mắn và nhiều tài lộc.

    Sắm lễ cúng chuyển phòng làm việc mới

    Vật dụng cần để mang đến phòng làm việc mới:

    • Bài vị, bát nhang (nếu có)
    • Một vài cái bàn, cái ghế đang sử dụng
    • Chổi quét nhà nên sắm chổi mới

    Nghi lễ cúng nhập trạch chuyển phòng làm việc mới

    Theo đúng nghi thức và phong tục thì đầu tiên chủ văn phòng, doanh nghiệp nên mang là cái ghế đã sử dụng, tiếp đó là những lễ vật cúng thần linh, thổ công, thỏ địa đã chuẩn bị trước đó tới văn phòng mới.

    Các bạn bày các lễ vật đã chuẩn bị lên bàn kê theo hướng đẹp. Người cúng chuyển phòng làm việc mới phải là đích thân chủ văn phòng, doanh nghiệp.

    Bên cạnh đó các cán bộ công nhân viên trong công ty cùng nhau thành tâm làm lễ cúng. Các bạn cùng tham khảo bài văn khấn chuyển phòng làm việc mới được chúng tôi sao chép lại từ sách văn khấn của các thầy cúng nổi tiếng chuyên làm lễ chuyển phòng, nhà mới.

    Bài văn khấn chuyển phòng làm việc mới

    Con nam mô ai di đà phật.

    Con nam mô ai di đà phật.

    Con nam mô ai di đà phật.

    Con kính lạy Quan Đương niên Hành khiển Thái Tuế chí đức Tôn thần; Các Ngài Bản Cảnh Thành Hoàng chư vị Đại Vương; Các Ngài Ngũ Phương, Ngũ Thổ, Long Mạch, Tài Thần, Định Phúc Táo Quân chư vị tôn thần; Các Thần Linh cai quản ở trong khu vực này.

    Hôm nay là ngày….. tháng……. năm……Con tên là……… Sinh niên………

    Hiện nay ngụ tại………….

    Con thành tâm sửa biện hương hoa lễ vật, các thứ cúng dâng bày ra trước án. Bởi vì con có xây cất (hoặc “thuê được”) 1 ngôi văn phòng/ văn phòng ở tại xứ này là….. (ghi địa chỉ nơi đó). Hôm nay, con muốn khai trương khởi đầu việc kinh doanh (hoặc sản xuất) phục vụ nhân sinh, mại mãi tài vật giúp cho sinh hoạt. Do đó, con chọn được ngày lành tháng tốt và sắm sanh lễ vật, cáo yết Tôn Thần, dâng cúng Bách Linh, con cúi mong các thần linh soi xét. Con thành tâm kính mời Quan Đương niên , Quan Đương Cảnh, Quan Thần linh Thổ Địa, Định Phúc Táo Quân, cùng các Ngài Địa Chúa Long Mạch, và tất cả Thần Linh cai quản ở trong khu vực này. Con cũng cúi xin: Thương xót cho con giáng lâm trước án, chứng giám lòng thánh thụ hưởng lễ vật, độ cho con được buôn bán hanh thông, làm ăn thuận lợi, lộc tài vượng tiến, nhân sự bình an. Bốn mùa không hạn ách tai ương, tám tiết có điềm lành tiếp ứng, cầu gì cũng được, nguyện gì cũng thành. Con lại mời các vị Tiền chủ, Hậu chủ, cùng chư Hương Linh y thảo phụ mộc phảng phất ở trong khu vực này, xin hãy tới đây để chiêm ngưỡng Tôn Thần, thụ hưởng lễ vật, phù trì tín chủ vận đáo hanh xương, tài lộc như gió mây tập hội.

    Dãi tấm lòng thành, con cúi xin chứng giám.

    Cẩn cáo !

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Từ Đường
  • Ý Nghĩa Tết Trung Thu Và Bài Văn Khấn Rằm Tháng 8
  • Văn Khấn Gia Tiên Rằm Tháng 8
  • Cúng Mùng 2 Và 16 Hàng Tháng Là Cúng Gì? Bài Văn Khấn Chuẩn Nhất
  • Bài Cúng Cháo Cô Hồn Chúng Sinh Mùng 2 Và 16 Hằng Tháng Ngoài Sân Trời
  • Tin tức online tv