Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh

--- Bài mới hơn ---

  • Cách Cúng Cô Hồn Rằm Tháng 7 Và Những Lưu Ý Kiêng Kỵ
  • Cách Sắp Xếp Bàn Thờ Gia Tiên Giúp Chiêu Tài Vượng Khí Vào Nhà
  • Hướng Dẫn & Lưu Ý Cách Sắp Xếp Ảnh Trên Bàn Thờ Gia Tiên Hợp Phong Thủy
  • Cách Bố Trí Và Sắp Xếp Bàn Thờ Tại Gia
  • Sinh Năm 1993Năm 2022 Có Phạm Vào Tam Tai Hay Không?
  • Văn tế thập loại chúng sinh là một tác phẩm xuất sắc và vô cùng nổi tiếng của Đại thi hào dân tộc – Nguyễn Du. Tác phẩm là một bài văn tế được viết bằng chữ Nôm. Ngoài cái tên văn tế thập loại chúng sinh thì tác phẩm còn được gọi là văn tế chiêu hồn hay văn chiêu hồn.

    Thời gian ra đời của tác phẩm chưa được xác định chính xác mà chỉ biết là nó được biên soạn trong những năm đầu thế kỷ 19. Theo như văn bản do Đàm Quang Thiện hiệu chú thì Đại thi hào Nguyễn Du đã sáng tác bài này sau khi chứng kiến những hậu quả mà mùa dịch khủng khiếp đã gây ra.

    Mùa dịch đã khiến cho hàng triệu người chết. Khắp một miền núi sông là khung cảnh hoang tàn, âm khí nặng nề. Tại các chùa chiền đều lập đàn để cầu siêu cho các linh hồn đã bỏ mạng vì bệnh dịch.

    Tuy nhiên, theo Giáo sư Hoàng Xuân Hãn thì ông cho rằng văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du sáng tác trước cả khi tác phẩm Truyện Kiều ra đời.

    Chủ đề của bài văn tế thập loại chúng sinh Nguyễn Du, xuyên suốt tác phẩm đều tập trung đề cập tới một xã hội hồn ma vô cùng thảm thương, đau khổ. Đây là một hình ảnh lộn trái của xã hội trần thế ở thời điểm bấy giờ.

    Tuy nhiên, nội dung tác phẩm có sự khác biệt ở chỗ không thể hiện sự sang hèn, đối lập giàu nghèo. Tất cả chúng sinh trên nhân loại ai cũng đều giống nhau, họ phải sống trong cảnh đọa đày, oan khuất và cô đơn. Bởi thế, ai cũng đều vô cùng đáng thương.

    Tác phẩm văn tế thập loại chúng sinh được Đại thi hào Nguyễn Du viết theo thể thơ song thất lục bát với tổng cộng 184 câu thơ được viết hoàn toàn bằng chữ Nôm. Bố cục của tác phẩm theo các nhà nghiên cứu, phê bình văn học cho biết có thể chia làm 4 phần, gồm:

    • Phần 1: Gồm 20 câu thơ đầu tiên. Nội dung của 20 câu thơ này đều miêu tả về khung cảnh của một buổi chiều mùa thu tháng 7. Khung cảnh ấy có mưa dầm buồn bã khiến cho Nguyễn Du phải cảm thấy chạnh lòng và thương cho những chúng sinh đang sống trong cảnh bơ vơ, lạnh lẽo tại cõi âm mà lập đàn cầu siêu
    • Phần 2: Gồm 116 câu thơ tiếp theo được tác giả chỉ đích danh những nguyên nhân khiến cho mười loại Cô Hồn phải thiệt mạng
    • Phần 3: Gồm 20 câu thơ tiếp theo được Đại thi hào miêu tả một cách cụ thể về cuộc sống đau buồn, thê lương của những Cô hồn
    • Phần cuối: Gồm 28 câu thơ còn lại của bài văn chiêu hồn của nguyễn du. Nội dung của 28 câu thơ cuối cùng trong tác phẩm này chính là lời cầu xin phép Phật nhiệm màu có thể giúp cho những Cô Hồn này được giải thoát và mời họ tới nhận phần lễ cúng siêu độ

    “Tiết tháng Bảy mưa dầm sùi sụt,

    Toát hơi may lạnh buốt xương khô,

    Não người thay buổi chiều thu,

    Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng.

    5. Đường bạch dương bóng chiều man mác,

    Ngọn đường lê lác đác sương sa,

    Lòng nào là chẳng thiết tha,

    Cõi dương còn thế nữa là cõi âm.

    Trong trường dạ tối tăm trời đất,

    10. Có khôn thiêng phảng phất u minh,

    Thương thay thập loại chúng sinh,

    Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người.

    Hương khói đã không nơi nương tựa,

    Hồn mồ côi lần lữa đêm đen,

    15. Còn chi ai quí ai hèn,

    Còn chi mà nói ai hiền ai ngu?

    Tiết đầu thu lập đàn giải thoát,

    Nước tĩnh bình rưới hạt dương chi,

    Muôn nhờ đức Phật từ bi,

    20. Giải oan, cứu khổ, hồn về tây phương.

    Cũng có kẻ tính đường kiêu hãnh,

    Chí những lăm cướp gánh non sông,

    Nói chi những buổi tranh hùng,

    Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau.

    25. Bỗng phút đâu mưa sa ngói lở,

    Khôn đem mình làm đứa sất phu,

    Lớn sang giàu nặng oán thù,

    Máu tươi lai láng, xương khô rã rời.

    Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc,

    30. Quỷ không đầu than khóc đêm mưa

    Cho hay thành bại là cơ

    Mà cô hồn biết bao giờ cho tan!

    Cũng có kẻ màn lan trướng huệ,

    Những cậy mình cung quế Hằng Nga,

    35. Một phen thay đổi sơn hà,

    Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu?

    Trên lầu cao dưới cầu nước chảy

    Phận đã đành trâm gãy bình rơi,

    Khi sao đông đúc vui cười,

    40. Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương.

    Đau đớn nhẽ không hương không khói,

    Luống ngẩn ngơ dòng suối rừng sim.

    Thương thay chân yếu tay mềm Càng năm càng héo, một đêm một rầu.

    45. Kìa những kẻ mũ cao áo rộng,

    Ngọn bút son thác sống ở tay,

    Kinh luân găm một túi đầy,

    Đã đêm Quản Cát lại ngày Y Chu.

    Thịnh mãn lắm oán thù càng lắm,

    50. Trăm loài ma mồ nấm chung quanh,

    Nghìn vàng khôn đổi được mình,

    Lầu ca, viện hát, tan tành còn đâu?

    Kẻ thân thích vắng sau vắng trước,

    Biết lấy ai bát nước nén nhang?

    55. Cô hồn thất thểu dọc ngang,

    Nặng oan khôn nhẽ tìm đường hoá sinh.

    Kìa những kẻ bài binh bố trận

    Đem mình vào cướp ấn nguyên nhung.

    Gió mưa sấm sét đùng đùng,

    60. Dãi thây trăm họ nên công một người.

    Khi thất thế tên rơi đạn lạc,

    Bãi sa trường thịt nát máu rơi,

    Bơ vơ góc bể chân trời,

    Nắm xương vô chủ biết vùi nơi nao?

    65. Trời thăm thẳm mưa gào gió thét,

    Khí âm huyền mờ mịt trước sau,

    Ngàn mây nội cỏ rầu rầu,

    Nào đâu điếu tế, nào đâu chưng thường?

    Cũng có kẻ tính đường trí phú,

    70. Mình làm mình nhịn ngủ kém ăn,

    Ruột rà không kẻ chí thân,

    Dẫu làm nên để dành phần cho ai?

    Khi nằm xuống không người nhắn nhủ,

    Của phù du dẫu có như không,

    75. Sống thời tiền chảy bạc ròng,

    Thác không đem được một đồng nào đi.

    Khóc ma mướn, thương gì hàng xóm,

    Hòm gỗ đa bó đóm đưa đêm,

    Ngẩn ngơ trong quảng đồng chiêm,

    80. Nén hương giọt nước, biết tìm vào đâu?

    Cũng có kẻ rắp cầu chữ quý

    Dấn mình vào thành thị lân la,

    Mấy thu lìa cửa lìa nhà,

    Văn chương đã chắc đâu mà trí thân?

    85. Dọc hàng quán phải tuần mưa nắng,

    Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng,

    Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng,

    Anh em thiên hạ láng giềng người dưng.

    Bóng phần tử xa chừng hương khúc,

    90. Bãi tha ma kẻ dọc người ngang,

    Cô hồn nhờ gửi tha phương,

    Gió trăng hiu hắt, lửa hương lạnh lùng.

    Cũng có kẻ vào sông ra bể,

    Cánh buồm mây chạy xế gió đông.

    95. Gặp cơn giông tố giữa dòng,

    Đem thân vùi rấp vào lòng kình nghê.

    Cũng có kẻ đi về buôn bán,

    Đòn gánh tre chín dạn hai vai,

    Gặp cơn mưa nắng giữa trời,

    100. Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?

    Cũng có kẻ mắc vào khoá lính,

    Bỏ cửa nhà đi gánh việc quan,

    Nước khe cơm ống gian nan,

    Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời.

    105. Buổi chiến trận mạng người như rác,

    Phận đã đành đạn lạc tên rơi.

    Lập loè ngọn lửa ma trơi,

    Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương.

    Cũng có kẻ nhỡ nhàng một kiếp,

    110. Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa,

    Ngẩn ngơ khi trở về già,

    Đâu chồng con tá biết là cậy ai?

    Sống đã chịu một đời phiền não

    Thác lại nhờ hớp cháo lá đa,

    115. Đau đớn thay phận đàn bà,

    Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

    Cũng có kẻ nằm cầu gối đất,

    Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi,

    Thương thay cũng một kiếp người,

    120. Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan!

    Cũng có kẻ mắc oan tù rạc

    Gửi mình vào chiếu rách một manh.

    Nắm xương chôn rấp góc thành,

    Kiếp nào cởi được oan tình ấy đi?

    125. Kìa những đứa tiểu nhi tấm bé,

    Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha.

    Lấy ai bồng bế vào ra,

    U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng.

    Kìa những kẻ chìm sông lạc suối,

    130. Cũng có người sẩy cối sa cây,

    Có người leo giếng đứt dây,

    Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành.

    Người thì mắc sơn tinh thuỷ quái

    Người thì sa nanh sói ngà voi,

    135. Có người hay đẻ không nuôi,

    Có người sa sẩy, có người khốn thương.

    Gặp phải lúc đi đường lỡ bước

    Cầu Nại Hà kẻ trước người sau

    Mỗi người một nghiệp khác nhau

    140. Hồn xiêu phách tán biết đâu bây giờ?

    Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi,

    Hoặc là nương ngọn suối chân mây,

    Hoặc là bụi cỏ bóng cây,

    Hoặc nơi quán nọ cầu này bơ vơ.

    145. Hoặc là nương thần từ, Phật tự

    Hoặc là nơi đầu chợ cuối sông

    Hoặc là trong quãng đồng không,

    Hoặc nơi gò đống, hoặc vùng lau tre.

    Sống đã chịu nhiều bề thảm thiết,

    150. Gan héo khô dạ rét căm căm,

    Dãi dầu trong mấy mươi năm,

    Thở than dưới đất, ăn nằm trên sương.

    Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn,

    Lặn mặt trời lẩn thẩn tìm ra,

    155. Lôi thôi bồng trẻ dắt già,

    Có khôn thiêng nhẽ lại mà nghe kinh.

    Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ,

    Phóng hào quang cứu khổ độ u,

    Rắp hoà tứ hải quần chu,

    160. Não phiền rũ sạch, oán thù rửa không.

    Nhờ đức Phật thần thông quảng đại,

    Chuyển pháp luân tam giới thập phương,

    Nhơn nhơn Tiêu Diện đại vương,

    Linh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh.

    165. Nhờ phép Phật uy linh dũng mãnh,

    Trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao,

    Mười loài là những loài nào?

    Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh.

    Kiếp phù sinh như hình bào ảnh,

    170. Có chữ rằng: “Vạn cảnh giai không”

    Ai ơi lấy Phật làm lòng,

    Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.

    Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo,

    Của có chi bát cháo nén nhang,

    175. Gọi là manh áo thoi vàng,

    Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.

    Ai đến đây dưới trên ngồi lại,

    Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu.

    Phép thiêng biến ít thành nhiều,

    180. Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sinh.

    Phật hữu tình từ bi phổ độ

    Chớ ngại rằng có có không không.

    Nam mô Phật, nam mô Pháp, nam mô Tăng

    Độ cho nhất thiết siêu thăng thượng đài.”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Cúng Cô Hồn Rằm Tháng 7 Âm Lịch Chuẩn Chỉnh
  • Cách Cúng Cô Hồn Tháng 7 Âm Lịch
  • Tại Sao Cúng Cô Hồn Lại Mong Bị Giật?
  • Giá Trị Văn Hóa Và Đời Thực Của Việc Cúng Cô Hồn
  • Hướng Dẫn Cúng Cô Hồn Tháng 7 Như Thế Nào Cho Đúng
  • Văn Cúng Cô Hồn Thập Loại Chúng Sinh

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Cúng Cô Hồn Thập Loại Chúng Sinh Và Các Văn Cúng Cô Hồn Hàng Ngày
  • Văn Khấn Bài Cúng Lễ Ban Công Đồng
  • Hướng Dẫn Văn Cúng Vào Ngày Giỗ
  • Bài Cúng Ông Công Rằm Tháng Giêng
  • Việc Tộc, Đôi Điều Ghi Nhận 13
  • Văn cúng cô hồn thập loại chúng sinh

    10 tháng 8, 2022

    KÍNH LỄ MƯỜI PHƯƠNG TAM BẢO CHỨNG MINH

    Hôm nay ngày……tháng……năm………………(Âm lịch).

    Con tên là:…………………..tuổi……………….

    Ngụ tại số nhà …, đường…, phường (xã)… , quận (huyện ) ……………,tỉnh (Tp):…………………

    Trân trọng kính mời các chư vị khuất mặt, khuất mày, kẻ lớn, người nhỏ, thập loại cô hồn, các Đảng, âm binh ngoài đường, ngoài xá, hữu danh vô vị, hữu vị vô danh, các chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn…về nơi đây hưởng lộc thực đầy đủ…

    Phát lòng thành tịnh, thiết lập đạo tràng, bày tiệc cam lồ, kỳ an gia trạch, kỳ an bổn mạng. Nhờ ơn tế độ, thêm sự phước duyên, nguyện xin gia đình yên ổn, thuận lợi bán buôn, phù hộ được buôn may bán đắt, mọi sự được sở cầu như ý, dòng họ quy hướng đạo mầu, con cháu học hành tinh tiến, nguyện cầu thế giới hòa bình, nhơn sanh phước lạc.

    Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng Độ cho nhứt thiết siêu thăng thượng đài.

    – Tịnh pháp giới chân ngôn: ÔM LAM, ÔM SĨ LÂM (7 lần)

    – Chân ngôn phá địa ngục: ÁN GIÀ RA ĐẾ DẠ, TA BÀ HA.(7 lần)

    – Chân ngôn biến thực: (biến thức ăn cho nhiều)

    NAM MÔ TÁT PHẠ ĐÁT THA, NGA ĐÀ PHẠ LÔ CHỈ ĐẾ , ÁN TÁM BẠT RA, TÁM BẠT RA HỒNG ( 7 lần )

    – Chân ngôn Cam lồ thủy: (biến nước uống cho nhiều)

    NAM MÔ TÔ RÔ BÀ DA, ĐÁT THA NGA ĐA DA, ĐÁT ĐIỆT THA. ÁN TÔ RÔ, TÔ RÔ, BÁT RA TÔ RÔ, BÁT RA TÔ RÔ, TA BÀ HA. (7 lần)

    Chân ngôn cúng dường: ÁN NGA NGA NẴNG TAM BÀ PHẠT PHIỆT NHỰT RA HỒNG (7 lần).

    Cúng cô hồn vào thời điểm sau 12 giờ trưa, vì từ khi mặt trời mọc đến 12 giờ trưa là giờ dương khí, còn sau 12 giờ trưa đến khuya là giờ khí âm.

    2/ Cháo trắng nấu lỏng (12 chén nhỏ), hay là cơm vắt: 3 vắt

    4/ Giấy áo, giấy tiền vàng bạc.

    6/ Mía (để nguyên vỏ và chặt tùng khúc nhỏ độ 15 cm)

    8/ Nước: 3 ly nhỏ, 3 cây nhang, 2 ngọn nến nhỏ.

    Điều quan trọng là phải đọc Thần chú cho đúng và đủ, gởi cái tâm thiết tha thương cảm, mong cho chúng sanh an vui và no. Gạo, muối, cháo, không cần nhiều. Nhờ có chú biến thực là đã biến hoá được hàng hà sa số thực phẩm rồi.

    (Theo Sư Ông Thích Thông Bửu, cô hồn rất thích bắp rang và mía).

    Phải khắc phục ngay nếu bị giống thế này ?

    Không còn cách nào nhanh và kinh tế bằng cách này:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Bài Văn Cúng Chúng Sinh Cac Bai Van Cung Chung Sinh Doc
  • Lời Bài Thơ Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh (Nguyễn Du)
  • Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh Của Nguyễn Du
  • Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh Của Đại Thi Hào Nguyễn Du
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Bài Văn Cúng Khấn Thần Thổ Công
  • Văn Tế Cô Hồn Thập Loại Chúng Sinh

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Lễ Thánh Mẫu Liễu Hạnh
  • Văn Khấn Mùng 1, Văn Khấn Ngày Đầu Tháng
  • Mâm Cúng Đất Đai Trọn Gói, Hướng Đẫn Cúng Đất Đai
  • Bài Văn Cúng Lễ Sao Giải Hạn Sao Thủy Diệu
  • Bài Văn Khấn Cúng Giải Hạn Sao Thủy Diệu Đầy Đủ Nhất
  • Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh

    Kính lạy:

    Đức địa tạng vương Bồ Tát

    Đức mục Kiền Liên Tôn Giả.

    Kính lạy:

    Ngài bản cảnh thành Hoàng

    Ngài bản xứ Thần Linh Thổ Địa

    Ngài bản gia Táo quân và tất cả các vị thần linh cai quản trong xứ này

    Tín chủ con là:………………………………………………………………

    Ngụ tại: ……………………………………………………………………….

    Nhân ngày xá tội vong nhân ngày 15 tháng 7 tín chủ con xin làm lễ tế các cô hồn:

    Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt,

    Toát hơi may lạnh buốt xương khô

    Não ngườI thay buổi chiều thu,

    Ngàn lau nhuốm bạc lá ngô rụng vàng…

    Đường bạch dương bóng chiều man mác,

    Dịp đường lê lác đác mưa sa

    Lòng nào lòng chẳng thiết tha

    Cõi dương còn thế nữa là cõi âm.

    Trong trường dạ tối tăm trời đất,

    Có khôn thiêng phảng phất u minh…

    Thương thay thập loại chúng sing

    Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người

    Hương lửa đã không nơi nương tựa

    Hồn mồ côi lần lữa bấy niên…

    Còn chi ai khá ai hèn

    Còn chi mà nói ai hèn ai ngu!

    Tiết đầu thu lập đàn giải thoát

    Nước tĩnh đàn sái hạt dương chi

    Muôn nhờ đức Phật từ bi

    Giải oan cứu khổ độ về tây phương.Cũng có kẻ tính đường kiêu hãnh

    Chí những lăm cất gámh non sông

    Nói chi những buổi tranh hùng

    Tưởngn khi thế khuất vận cùng mà đau!

    Bỗng phút đâu mưă sa ngói lở

    Khôn đem mình làm đứa thất phu

    Giàu sang càng nặng oán thù

    Máu tươi lai láng xương khô rụng rờiĐoàn vô tự lạc loài nheo nhóc,

    Quỷ không đầu đứng khóc đêm mưa

    Cho hay thành bại là cơ

    Mà cô hồn biết bao giờ cho tan.Cũng có kẻ màn lan trướng huệ

    Những cậy mình cung quế Hằng Nga,

    Một phen thay đổi sơn hà,

    Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu?

    Trên lầu cao dưới dòng nườc chảy

    Phận đã đành trâm gãy bìng rơi

    Khi sao đông đúc vui cười

    Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương.

    Cũng có kẻ mắc vào khóa lính

    Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan

    Nước khe cơm vắt gian nan

    Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời

    Buổi chiến trận mạng người như rác

    Phận đã đành đạn lạc tên rơi

    Lập lòe ngọn lửa ma trơi

    Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!

    Cũng có kẻ lỡ làng một kiếp

    Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa

    Ngẩn ngơ khi trở về già

    Ai chồng con tá biết là cậy ai?

    Sống đã chịu một đời phiền não

    Thác lại nhờ hớp cháo lá đạ

    Đau đớn thay phận đàn bà,

    Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

    Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi

    Hoặc là nương ngọn suối chân mây

    Hoặc là điếm cỏ bóng cây

    Hoặc là quán nọ cầu này bơ vơ

    Hoặc là nương thần từ Phật tự

    Hoặc là nhờ đầu chợ cuối sông

    Hoặc là trong quãng đồng không

    Hoặc nơi gò đống hoặc vùng lau tre

    Sống đã chịu một bề thảm thiết

    Ruột héo khô dạ rét căm căm

    Dãi dầu trong mấy mươi năm

    Thở than dưới đất ăn nằm trên sương

    Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn

    Tắt mặt trời lẩn thẩn tìm ra

    Lôi thôi bồng trẻ dắt già

    Có khôn thiêng nhẽ lại mà nghe kinh.

    Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ

    Phóng hào quang cứu khổ độ u

    Rắp hòa tứ hải quần chu

    Não phiền trút sạch oán thù rửa không.

    Nhờ đức Phật thần thông quảng đại

    Chuyển pháp luân tam giới thập phương

    Nhơn nhơn Tiêu Diện đại vương

    Linh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh.

    Nhờ phép Phật uy linh dũng mãnh

    Trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao

    Mười loài là những loài nào?

    Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh.

    Kiếp phù sinh như hình như ảnh

    Có chữ rằng:”Vạn cảnh giai không”

    Ai ơi lấy Phật làm lòng

    Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.

    Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo

    Của có khi bát cháo nén nhang

    Gọi là manh áo thoi vàng

    Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.

    Ai đến đây dưới trên ngồi lại

    Của làm duyên chớ ngại bao nhiêụ

    Phép thiên biến ít thành nhiều

    Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sanh.

    Phật hữu tình từ bi phổ độ

    Chớ ngại rằng có có không không.

    Nam mô chư Phật, Pháp, Tăng

    Độ cho nhất thiết siêu thăng thượng đài

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Cầu Xin Ở Đền Cô Chín Giếng Sòng Sơn Thượng Ngàn Thanh Hóa
  • Lễ Cúng Đầy Tháng Cho Bé Gái Đơn Giản Cần Những Gì?
  • Văn Khấn Bài Cúng Đền Mẫu Hưng Yên
  • Bài Khấn Phật Bản Mệnh: Thực Sự Cần Hay Không * Hồn Đá Việt
  • Bài Cúng Tất Niên Cuối Năm Ngoài Trời Chính Xác Nhất
  • Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh Của Nguyễn Du

    --- Bài mới hơn ---

  • Lời Bài Thơ Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh (Nguyễn Du)
  • Các Bài Văn Cúng Chúng Sinh Cac Bai Van Cung Chung Sinh Doc
  • Văn Cúng Cô Hồn Thập Loại Chúng Sinh
  • Văn Cúng Cô Hồn Thập Loại Chúng Sinh Và Các Văn Cúng Cô Hồn Hàng Ngày
  • Văn Khấn Bài Cúng Lễ Ban Công Đồng
  • Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh (cũng gọi với tên khác là Văn Chiêu Hồn) là một bài văn khấn tế, đề cập đến xã hội hồn ma một cách thảm thương nhất. Đó là hình ảnh lộn trái của xã hội trần thế, song khác biệt cơ bản ở chỗ không có đối lập giàu nghèo, sang hèn. Chúng sinh ai cũng như ai cùng chịu cảnh đọa đày, oan khuất và cô đơn nên nhà thơ xót thương tất cả…

    Tác phẩm được làm theo thể song thất lục bát, gồm 184 câu thơ chữ Nôm. Theo một số nhà nghiên cứu, phê bình văn học, có thể chia bài văn thành bốn phần:

    • Phần một (20 câu): Tả cảnh một chiều thu tháng bảy mưa dầm buồn bã, khiến nhà thơ chạnh lòng thương đến các chúng sinh đang lạnh lẽo, bơ vơ nơi cõi âm mà lập đàn cầu siêu…
    • Phần hai (116 câu): Chỉ danh nguyên nhân thiệt mạng của mười loại Cô Hồn.
    • Phần ba (20 câu): Miêu tả cảnh sống thê lương thảm thiết của các Cô Hồn.
    • Phần cuối (28 câu): Lời cầu xin phép Phật nhiệm mầu giúp cho họ được giải thoát. Cuối cùng là lời mời các Cô Hồn tới nhận phần lễ cúng để siêu độ.

    Xuất xứ tác phẩm:

    Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh hiện chưa rõ thời điểm sáng tác. Trong bản văn do Đàm Quang Thiện hiệu chú có dẫn lại ý của ông Trần Thanh Mại trên “Đông Dương Tuần Báo” năm 1939, thì Nguyễn Du viết bài văn tế này sau một mùa dịch khủng khiếp làm hằng triệu người chết, khắp non sông đất nước âm khí nặng nề, và ở khắp các chùa, người ta đều lập đàn giải thoát để cầu siêu cho hàng triệu linh hồn. Ông Hoàng Xuân Hãn cho rằng có lẽ Nguyễn Du viết Văn Chiêu Hồn trước cả Truyện Kiều, khi ông còn làm cai bạ ở Quảng Bình (1802-1812). Không có tài liệu nào cho thấy Nguyễn Du diễn Nôm bài Văn Chiêu Hồn từ một tác phẩm của Phật Giáo…

    Từ Điển Văn Học (NXB Thế Giới, 2004, tr. 1972) cho biết người đầu tiên phát hiện bài văn tại chùa Diệc ở thành phố Vinh là Lê Thước. Nhưng cổ nhất là bản khắc ván năm 1895, của nhà sư Chính Đại (nên được gọi là bản Chính Đại), được tàng trữ ở chùa Hưng Phúc, xã Xuân Lôi, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh. Từ hai bản này, Hoàng Xuân Hãn khảo chứng, hiệu đính kỹ lưỡng và đã đưa ra một văn bản khác có độ tin cậy cao hơn…

    Một phần cảnh đời tác giả:

    Trong phần giới thiệu Thơ Chữ Hán Nguyễn Du có đoạn:

    Cuộc sống “mười năm gió bụi” từ 1786 đến 1795 của Nguyễn Du như thế nào, thì ông đã phản ảnh rõ trong Thanh Hiên Thi Tập. Suốt mười năm ấy, nay đầu sông, mai cuối bể, ăn nhờ ở đậu, túi rỗng không, đau ốm liên miên, nghèo không tiền mua thuốc, nhiều lần muốn về quê nhà ở Hà Tĩnh, nhưng ở đó nhà cũng không có, mà anh em thì mỗi người một ngả… Đến khi được trở về nhà (làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An) thì ông đã là nhà nho mới hơn ba mươi tuổi mà tóc đã bạc trắng, bệnh tật, có lúc bệnh mấy tháng liền mà chỉ nằm chờ chết, trong nhà bếp lạnh tanh…

    Cho đến khi ông ra làm quan với triều Nguyễn, gia phả chép: Dầu làm đến chức Á Khanh mà ông vẫn giữ vẻ thanh nhã đơn giản như một học trò nghèo. Trong Nam Trung Tạp Ngâm, ít ra cũng có hai bài thơ nói đến vợ con ăn đói, mặt xanh như lá rau… Tất cả những chi tiết đó giải thích tại sao Nguyễn Du thuộc tầng lớp trên mà trong thơ ca lại có một mối đồng tình thắm thiết với những người vốn thuộc tầng lớp thấp… Điều này thấy rất rõ trong bài Văn Tế chiêu hồn.

    Nghe ngâm thơ bài “Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh”:

    Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt,

    Toát hơi may lạnh buốt xương khô

    Não người thay buổi chiều thu,

    Ngàn lau nhuốm bạc lá ngô rụng vàng…

    Đường bạch dương bóng chiều man mác,

    Dịp đường lê lác đác mưa sa

    Lòng nào lòng chẳng thiết tha

    Cõi dương còn thế nữa là cõi âm.

    Trong trường dạ tối tăm trời đất,

    Có khôn thiêng phảng phất u minh…

    Thương thay thập loại chúng sinh

    Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người

    Hương lửa đã không nơi nương tựa

    Hồn mồ côi lần lữa bấy niên…

    Còn chi ai khá ai hèn

    Còn chi mà nói ai hèn ai ngu!

    Tiết đầu thu lập đàn giải thoát

    Nước tĩnh đàn sái hạt dương chi

    Muôn nhờ đức Phật từ bi

    Giải oan cứu khổ độ về Tây phương.

    *

    Cũng có kẻ tính đường kiêu hãnh

    Chí những lăm cất gámh non sông

    Nói chi những buổi tranh hùng

    Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau!

    Bỗng phút đâu mưa sa ngói lở

    Khôn đem mình làm đứa thất phu

    Giàu sang càng nặng oán thù

    Máu tươi lai láng xương khô rụng rời

    Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc,

    Quỷ không đầu đứng khóc đêm mưa

    Cho hay thành bại là cơ

    Mà Cô Hồn biết bao giờ cho tan.

    Cũng có kẻ màn lan trướng huệ

    Những cậy mình cung quế Hằng Nga,

    Một phen thay đổi sơn hà,

    Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu?

    Trên lầu cao dưới dòng nườc chảy

    Phận đã đành trâm gãy bình rơi

    Khi sao đông đúc vui cười

    Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương.

    Đau đớn nhẽ không hương không khói

    Hồn ngẩn ngơ dòng suối rừng sim.

    Thương thay chân yếu tay mềm

    Càng năm càng héo một đêm một dài.

    Kìa những kẻ mũ cao áo rộng,

    Ngọn bút son thác sống ở tay

    Kinh luân găm một túi đầy

    Đã đêm Quản Cát lại ngày Y Chu.

    Thịnh mãn lắm, oán thù càng lắm,

    Trăm loài ma mồ nấm chung quanh

    Ngàn vàng khôn đổi được mình

    Lầu ca viện hát tan tành còn đâu?

    Kẻ thân thích vắng sau vắng trước

    Biết lấy ai bát nước nén nhang?

    Cô Hồn thất thểu dọc ngang

    Nặng oan khôn lẽ tìm đường hóa sinh?

    Kìa những kẻ bài binh bố trận

    Đổi mình vào cướp ấn Nguyên Nhung

    Gió mưa sấm sét đùng đùng

    Phơi thây trăm họ nên công một người.

    Khi thất thế tên rơi đạn lạc

    Bãi sa trường thịt nát máu rơi

    Mênh mông góc bể chân trời

    Nắm xương vô chủ biết rơi chốn nào?

    Trời thăm thẳm mưa gào gió thét

    Khí âm huyền mờ mịt trước sau

    Ngàn mây nội cỏ rầu rầu

    Nào đâu điếu tế, nào đâu chưng thường?

    Cũng có kẻ tính đường trí phú

    Mình làm mình nhịn ngủ kém ăn

    Ruột rà không kẻ chí thân

    Dẫu làm nên để dành phần cho ai?

    Khi nằm xuống không người nhắn nhủ

    Của phù vân dẫu có như không

    Sống thời tiền chảy bạc ròng

    Thác không đem được một đồng nào đi.

    Khóc ma mướn, thương gì hàng xóm

    Hòm gỗ đa bó đóm đưa đêm

    Ngẩn ngơ trong quảng đồng chiêm

    Nén hương giọt nước biết tìm vào đâu?

    Cũng có kẻ rắp cầu chữ qúy

    Dẫn mình vào thành thị lân la

    Mấy thu lìa cửa lìa nhà

    Văn chương đã chắc đâu mà trí thân.

    Dọc hàng quán gặp tuần mưa nắng

    Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng

    Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng

    Anh em thiên hạ láng giềng người dưng

    Bóng phần tử xa chừng hương khúc

    Bãi tha ma kẻ dọc người ngang

    Cô Hồn nhờ gửi tha phương

    Gió trăng hiu hắt lửa huơng lạnh lùng.

    Cũng có kẻ vào sông ra bể,

    Cánh buồm mây chạy xế gió đông

    Gặp cơn giông tố giữa dòng

    Đem thân chôn rấp vào lòng kình nghê.

    Cũng có kẻ đi về buôn bán

    Đòn gánh tre chín dạn hai vai

    Gặp cơn mưa nắng giữa trời

    Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?

    Cũng có kẻ mắc vào khóa lính

    Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan

    Nước khe cơm vắt gian nan

    Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời

    Buổi chiến trận mạng người như rác

    Phận đã đành đạn lạc tên rơi

    Lập lòe ngọn lửa ma trơi

    Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!

    Cũng có kẻ lỡ làng một kiếp

    Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa

    Ngẩn ngơ khi trở về già

    Ai chồng con tá biết là cậy ai?

    Sống đã chịu một đời phiền não

    Thác lại nhờ hớp cháo lá đa

    Đau đớn thay phận đàn bà,

    Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

    Cũng có kẻ nằm cầu gối đất

    Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi

    Thương thay cũng một kiếp người

    Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan.

    Cũng có kẻ mắc oan tù rạc

    Gửi mình vào chiếu rách một manh

    Nắm xương chôn rấp góc thành

    Kiếp nào cỡi được oan tình ấy đi?

    Kìa những kẻ tiểu nhi tấm bé

    Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha

    Lấy ai bồng bế xót xa

    U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng.

    Kìa những kẻ chìm sông lạc suối

    Cũng có người sẩy cối sa cây

    Có người leo giếng đứt dây

    Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành.

    Người thì mắc sơn tinh thủy quái

    Người thì sa nanh sói ngà voi

    Có người hay đẻ không nuôi

    Có người sa sẩy có người khốn thương.

    *

    Gặp phải lúc đi đường lỡ bước

    Cầu Nại Hà kẻ trước người sau

    Mỗi người một nghiệp khác nhau

    Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ?

    Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi

    Hoặc là nương ngọn suối chân mây

    Hoặc là điếm cỏ bóng cây

    Hoặc là quán nọ cầu này bơ vơ

    Hoặc là nương Thần từ, Phật tự

    Hoặc là nhờ đầu chợ cuối sông

    Hoặc là trong quãng đồng không

    Hoặc nơi gò đống, hoặc vùng lau tre

    Sống đã chịu một bề thảm thiết

    Ruột héo khô dạ rét căm căm

    Dãi dầu trong mấy mươi năm

    Thở than dưới đất ăn nằm trên sương

    Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn

    Tắt mặt trời lẩn thẩn tìm ra

    Lôi thôi bồng trẻ dắt già

    Có khôn thiêng nhẽ lại mà nghe Kinh.

    *

    Nhờ phép Phật siêu sinh Tịnh Độ

    Phóng hào quang cứu khổ độ u

    Rắp hòa tứ hải quần chu

    Não phiền trút sạch oán thù rửa không.

    Nhờ đức Phật thần thông quảng đại

    Chuyển pháp luân tam giới thập phương

    Nhơn nhơn Tiêu Diện đại vương

    Linh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh.

    Nhờ phép Phật uy linh dũng mãnh

    Trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao

    Mười loài là những loài nào?

    Gái trai già trẻ đều vào nghe Kinh.

    Kiếp phù sinh như hình như ảnh

    Có chữ rằng: “Vạn cảnh giai không”

    Ai ơi lấy Phật làm lòng

    Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.

    Đàn chẩn tế vâng lời Phật Giáo

    Của có khi bát cháo nén nhang

    Gọi là manh áo thoi vàng

    Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.

    Ai đến đây dưới trên ngồi lại

    Của làm duyên chớ ngại bao nhiêụ

    Phép thiêng biến ít thành nhiều

    Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sanh.

    Phật hữu tình từ bi phổ độ

    Chớ ngại rằng có có không không.

    Nam-mô chư Phật, Pháp, Tăng

    Độ cho nhất thiết siêu thăng thượng đài.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh Của Đại Thi Hào Nguyễn Du
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Bài Văn Cúng Khấn Thần Thổ Công
  • Văn Cúng Tất Niên Xóm Van Cung Xom Tat Nien Doc
  • Chuyên Gia Chỉ Ngày, Giờ Tốt Nhất Cúng Tất Niên Tết 2022 Giúp Mang Tài Lộc Đến Nhà
  • Văn Cúng Tất Niên Cần Biết Cho Bạn
  • Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh Đầy Đủ Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Khấn Tứ Phủ Ngắn Gọn Dành Cho Con Nhang, Đệ Tử
  • Sự Tích Cô Bé Chí Mìu Linh Thiêng Ở Bắc Giang. Hương Xưa Đức Thụ
  • Văn Khấn Cô Chín Đền Sòng
  • Bài Văn Khấn Chuyển Phòng Làm Việc Mới Đầy Đủ Chính Xác
  • Phật Trời Đất Người (P4): Đất – Cuộc Đời Mới
  • Văn tế chiêu hồn – Văn tế thập loại chúng sinh đầy đủ nhất

    Tiết tháng Bảy mưa dầm sùi sụt,

    Toát hơi may lạnh buốt xương khô,

    Não người thay buổi chiều thu,

    Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng.

    5. Đường bạch dương bóng chiều man mác

    Ngọn đường lê lác đác sương sa,

    Lòng nào là chẳng thiết tha,

    Cõi dương còn thế nữa là cõi âm.

    Trong trường dạ tối tăm trời đất.

    10. Có khôn thiêng phảng phất u minh,

    Thương thay thập loại chúng sinh,

    Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người.

    Hương khói đã không nơi nương tựa,

    Hồn mồ côi lần lữa đêm đen,

    15. Còn chi ai quí ai hèn,

    Còn chi mà nói ai hiền ai ngu?

    Tiết đầu thu lập đàn giải thoát

    Nước tĩnh bình rưới hạt dương chi

    Muôn nhờ đức Phật từ bi,

    20. Giải oan, cứu khổ, hồn về tây phương.

    Cũng có kẻ tính đường kiêu hãnh,

    Chí những lăm cướp gánh non sông,

    Nói chi những buổi tranh hùng

    Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau.

    25. Bỗng phút đâu mưa sa ngói lở

    Khôn đem mình làm đứa sất phu,

    Lớn sang giàu nặng oán thù,

    Máu tươi lai láng, xương khô rã rời.

    Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc,

    30. Quỷ không đầu than khóc đêm mưa

    Cho hay thành bại là cơ

    Mà cô hồn biết bao giờ cho tan!

    Cũng có kẻ màn lan trướng huệ,

    Những cậy mình cung quế Hằng Nga,

    35. Một phen thay đổi sơn hà,

    Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu?

    Trên lầu cao dưới cầu nước chảy

    Phận đã đành trâm gãy bình rơi,

    Khi sao đông đúc vui cười,

    40. Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương.

    Đau đớn nhẽ không hương không khói,

    Luống ngẩn ngơ dòng suối rừng sim.

    Thương thay chân yếu tay mềm

    Càng năm càng héo, một đêm một rầu.

    45. Kìa những kẻ mũ cao áo rộng,

    Ngọn bút son thác sống ở tay,

    Kinh luân găm một túi đầy,

    Đã đêm Quản Cát lại ngày Y Chu.

    Thịnh mãn lắm oán thù càng lắm,

    50. Trăm loài ma mồ nấm chung quanh,

    Nghìn vàng khôn đổi được mình

    Lầu ca, viện hát, tan tành còn đâu?

    Kẻ thân thích vắng sau vắng trước

    Biết lấy ai bát nước nén nhang?

    55. Cô hồn thất thểu dọc ngang,

    Nặng oan khôn nhẽ tìm đường hoá sinh.

    Kìa những kẻ bài binh bố trận

    Đem mình vào cướp ấn nguyên nhung.

    Gió mưa sấm sét đùng đùng,

    60. Dãi thây trăm họ nên công một người.

    Khi thất thế tên rơi đạn lạc,

    Bãi sa trường thịt nát máu rơi,

    Bơ vơ góc bể chân trời,

    Nắm xương vô chủ biết vùi nơi nao?

    65. Trời thăm thẳm mưa gào gió thét,

    Khí âm huyền mờ mịt trước sau,

    Ngàn mây nội cỏ rầu rầu,

    Nào đâu điếu tế, nào đâu chưng thường?

    Cũng có kẻ tính đường trí phú,

    70. Mình làm mình nhịn ngủ kém ăn,

    Ruột rà không kẻ chí thân

    Dẫu làm nên để dành phần cho ai?

    Khi nằm xuống không người nhắn nhủ,

    Của phù du dẫu có như không,

    75. Sống thời tiền chảy bạc ròng,

    Thác không đem được một đồng nào đi.

    Khóc ma mướn, thương gì hàng xóm

    Hòm gỗ đa bó đóm đưa đêm

    Ngẩn ngơ trong quảng đồng chiêm,

    80. Nén hương giọt nước, biết tìm vào đâu?

    Cũng có kẻ rắp cầu chữ quý

    Dấn mình vào thành thị lân la,

    Mấy thu lìa cửa lìa nhà,

    Văn chương đã chắc đâu mà trí thân?

    85. Dọc hàng quán phải tuần mưa nắng,

    Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng,

    Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng,

    Anh em thiên hạ láng giềng người dưng.

    Bóng phần tử xa chừng hương khúc

    90. Bãi tha ma kẻ dọc người ngang,

    Cô hồn nhờ gửi tha phương,

    Gió trăng hiu hắt, lửa hương lạnh lùng.

    Cũng có kẻ vào sông ra bể,

    Cánh buồm mây chạy xế gió đông

    95. Gặp cơn giông tố giữa dòng,

    Đem thân vùi rấp vào lòng kình nghê.

    Cũng có kẻ đi về buôn bán,

    Đòn gánh tre chín dạn hai vai,

    Gặp cơn mưa nắng giữa trời,

    100. Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?

    Cũng có kẻ mắc vào khoá lính,

    Bỏ cửa nhà đi gánh việc quan,

    Nước khe cơm ống gian nan,

    Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời.

    105. Buổi chiến trận mạng người như rác,

    Phận đã đành đạn lạc tên rơi.

    Lập loè ngọn lửa ma trơi,

    Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương.

    Cũng có kẻ nhỡ nhàng một kiếp,

    110. Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa,

    Ngẩn ngơ khi trở về già,

    Đâu chồng con tá biết là cậy ai?

    Sống đã chịu một đời phiền não

    Thác lại nhờ hớp cháo lá đa,

    115. Đau đớn thay phận đàn bà,

    Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

    Cũng có kẻ nằm cầu gối đất,

    Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi,

    Thương thay cũng một kiếp người,

    120. Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan!

    Cũng có kẻ mắc oan tù rạc

    Gửi mình vào chiếu rách một manh.

    Nắm xương chôn rấp góc thành,

    Kiếp nào cởi được oan tình ấy đi?

    125. Kìa những đứa tiểu nhi tấm bé,

    Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha.

    Lấy ai bồng bế vào ra,

    U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng.

    Kìa những kẻ chìm sông lạc suối,

    130. Cũng có người sẩy cối sa cây,

    Có người leo giếng đứt dây,

    Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành.

    Người thì mắc sơn tinh thuỷ quái

    Người thì sa nanh sói ngà voi,

    135. Có người hay đẻ không nuôi,

    Có người sa sẩy, có người khốn thương.

    Gặp phải lúc đi đường lỡ bước

    Cầu Nại Hà kẻ trước người sau

    Mỗi người một nghiệp khác nhau

    140. Hồn xiêu phách tán biết đâu bây giờ?

    Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi,

    Hoặc là nương ngọn suối chân mây,

    Hoặc là bụi cỏ bóng cây,

    Hoặc nơi quán nọ cầu này bơ vơ.

    145. Hoặc là nương thần từ, Phật tự

    Hoặc là nơi đầu chợ cuối sông

    Hoặc là trong quãng đồng không,

    Hoặc nơi gò đống, hoặc vùng lau tre.

    Sống đã chịu nhiều bề thảm thiết,

    150. Gan héo khô dạ rét căm căm,

    Dãi dầu trong mấy mươi năm,

    Thở than dưới đất, ăn nằm trên sương.

    Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn,

    Lặn mặt trời lẩn thẩn tìm ra,

    155. Lôi thôi bồng trẻ dắt già,

    Có khôn thiêng nhẽ lại mà nghe kinh.

    Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ,

    Phóng hào quang cứu khổ độ u,

    Rắp hoà tứ hải quần chu,

    160. Não phiền rũ sạch, oán thù rửa không.

    Nhờ đức Phật thần thông quảng đại,

    Chuyển pháp luân tam giới thập phương,

    Nhơn nhơn Tiêu Diện đại vương,

    Linh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh.

    165. Nhờ phép Phật uy linh dũng mãnh,

    Trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao,

    Mười loài là những loài nào?

    Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh.

    Kiếp phù sinh như hình bào ảnh,

    170. Có chữ rằng: “Vạn cảnh giai không”

    Ai ơi lấy Phật làm lòng,

    Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.

    Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo,

    Của có chi bát cháo nén nhang,

    175. Gọi là manh áo thoi vàng,

    Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.

    Ai đến đây dưới trên ngồi lại,

    Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu.

    Phép thiêng biến ít thành nhiều,

    180. Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sình.

    Phật hữu tình từ bi phổ độ

    Chớ ngại rằng có có không không.

    Nam mô Phật, nam mô Pháp, nam mô Tăng

    Độ cho nhất thiết siêu thăng thượng đài.

    Tìm kiếm bài văn tế thập loại chúng sinh

    văn chiêu hồn

    văn cúng cô hồn thập loại chúng sinh

    văn chiêu hồn nguyễn du

    van te thap loai chung sinh

    văn tế cô hồn thập loại chúng sinh

    văn tế cô hồn

    văn tế thập loại chúng sinh mp3

    văn tế thập loại chúng sinh của nguyễn du

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Chúng Sinh (Cúng Cô Hồn) Nơi Đền Phủ
  • Cách Bốc Bát Hương Và Thủ Tục Chuyển Bàn Thờ Về Nhà Mới
  • Văn Khấn Đức Ông Ở Chùa Và Cách Sắm Lễ Đầy Đủ Nhất
  • Tổng Hợp Những Bài Văn Khấn Và Sắm Lễ Cầu Thi Cử Đỗ Đạt Cho Học Sinh Sinh Viên
  • 4+ Cách Cầu Trúng Số Độc Đắc Linh Nghiệm Ít Ai Biết
  • Bài Thơ: Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh (Nguyễn Du

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Khấn Cầu Tình Duyên
  • Cô Bé Chí Mìu Bắc Giang
  • Bài Văn Khấn Cô Chín Phổ Biến Nhất
  • Tìm Hiểu Đền Cô Chí Mìu Bắc Giang
  • Văn Khấn Cô Chín Đầy Đủ Chính Xác Nhất
  • Tiết tháng Bảy mưa dầm sùi sụt,

    Toát hơi may lạnh buốt xương khô,

    Não người thay buổi chiều thu,

    Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng.

    5. Đường bạch dương bóng chiều man mác,

    Ngọn đường lê lác đác sương sa,

    Lòng nào là chẳng thiết tha,

    Cõi dương còn thế nữa là cõi âm.

    Trong trường dạ tối tăm trời đất,

    10. Có khôn thiêng phảng phất u minh,

    Thương thay thập loại chúng sinh,

    Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người.

    Hương khói đã không nơi nương tựa,

    Hồn mồ côi lần lữa đêm đen,

    15. Còn chi ai quí ai hèn,

    Còn chi mà nói ai hiền ai ngu?

    Tiết đầu thu lập đàn giải thoát

    Nước tĩnh bình rưới hạt dương chi

    Muôn nhờ đức Phật từ bi,

    20. Giải oan, cứu khổ, hồn về tây phương.

    Cũng có kẻ tính đường kiêu hãnh,

    Chí những lăm cướp gánh non sông,

    Nói chi những buổi tranh hùng

    Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau.

    25. Bỗng phút đâu mưa sa ngói lở

    Khôn đem mình làm đứa sất phu,

    Lớn sang giàu nặng oán thù,

    Máu tươi lai láng, xương khô rã rời.

    Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc,

    30. Quỷ không đầu than khóc đêm mưa

    Cho hay thành bại là cơ

    Mà cô hồn biết bao giờ cho tan!

    Cũng có kẻ màn lan trướng huệ,

    Những cậy mình cung quế Hằng Nga,

    35. Một phen thay đổi sơn hà,

    Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu?

    Trên lầu cao dưới cầu nước chảy

    Phận đã đành trâm gãy bình rơi,

    Khi sao đông đúc vui cười,

    40. Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương.

    Đau đớn nhẽ không hương không khói,

    Luống ngẩn ngơ dòng suối rừng sim.

    Thương thay chân yếu tay mềm

    Càng năm càng héo, một đêm một rầu.

    45. Kìa những kẻ mũ cao áo rộng,

    Ngọn bút son thác sống ở tay,

    Kinh luân găm một túi đầy,

    Đã đêm Quản Cát lại ngày Y Chu.

    Thịnh mãn lắm oán thù càng lắm,

    50. Trăm loài ma mồ nấm chung quanh,

    Nghìn vàng khôn đổi được mình

    Lầu ca, viện hát, tan tành còn đâu?

    Kẻ thân thích vắng sau vắng trước

    Biết lấy ai bát nước nén nhang?

    55. Cô hồn thất thểu dọc ngang,

    Nặng oan khôn nhẽ tìm đường hoá sinh.

    Kìa những kẻ bài binh bố trận

    Đem mình vào cướp ấn nguyên nhung.

    Gió mưa sấm sét đùng đùng,

    60. Dãi thây trăm họ nên công một người.

    Khi thất thế tên rơi đạn lạc,

    Bãi sa trường thịt nát máu rơi,

    Bơ vơ góc bể chân trời,

    Nắm xương vô chủ biết vùi nơi nao?

    65. Trời thăm thẳm mưa gào gió thét,

    Khí âm huyền mờ mịt trước sau,

    Ngàn mây nội cỏ rầu rầu,

    Nào đâu điếu tế, nào đâu chưng thường?

    Cũng có kẻ tính đường trí phú,

    70. Mình làm mình nhịn ngủ kém ăn,

    Ruột rà không kẻ chí thân

    Dẫu làm nên để dành phần cho ai?

    Khi nằm xuống không người nhắn nhủ,

    Của phù du dẫu có như không,

    75. Sống thời tiền chảy bạc ròng,

    Thác không đem được một đồng nào đi.

    Khóc ma mướn, thương gì hàng xóm

    Hòm gỗ đa bó đóm đưa đêm

    Ngẩn ngơ trong quãng đồng chiêm,

    80. Nén hương giọt nước, biết tìm vào đâu?

    Cũng có kẻ rắp cầu chữ quý

    Dấn mình vào thành thị lân la,

    Mấy thu lìa cửa lìa nhà,

    Văn chương đã chắc đâu mà trí thân?

    85. Dọc hàng quán phải tuần mưa nắng,

    Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng,

    Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng,

    Anh em thiên hạ láng giềng người dưng.

    Bóng phần tử xa chừng hương khúc

    90. Bãi tha ma kẻ dọc người ngang,

    Cô hồn nhờ gửi tha phương,

    Gió trăng hiu hắt, lửa hương lạnh lùng.

    Cũng có kẻ vào sông ra bể,

    Cánh buồm mây chạy xế gió đông

    95. Gặp cơn giông tố giữa dòng,

    Đem thân vùi rấp vào lòng kình nghê.

    Cũng có kẻ đi về buôn bán,

    Đòn gánh tre chín dạn hai vai,

    Gặp cơn mưa nắng giữa trời,

    100. Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?

    Cũng có kẻ mắc vào khoá lính,

    Bỏ cửa nhà đi gánh việc quan,

    Nước khe cơm ống gian nan,

    Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời.

    105. Buổi chiến trận mạng người như rác,

    Phận đã đành đạn lạc tên rơi.

    Lập loè ngọn lửa ma trơi,

    Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương.

    Cũng có kẻ nhỡ nhàng một kiếp,

    110. Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa,

    Ngẩn ngơ khi trở về già,

    Đâu chồng con tá biết là cậy ai?

    Sống đã chịu một đời phiền não

    Thác lại nhờ hớp cháo lá đa,

    115. Đau đớn thay phận đàn bà,

    Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

    Cũng có kẻ nằm cầu gối đất,

    Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi,

    Thương thay cũng một kiếp người,

    120. Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan!

    Cũng có kẻ mắc oan tù rạc

    Gửi mình vào chiếu rách một manh.

    Nắm xương chôn rấp góc thành,

    Kiếp nào cởi được oan tình ấy đi?

    125. Kìa những đứa tiểu nhi tấm bé,

    Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha.

    Lấy ai bồng bế vào ra,

    U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng.

    Kìa những kẻ chìm sông lạc suối,

    130. Cũng có người sẩy cối sa cây,

    Có người leo giếng đứt dây,

    Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành.

    Người thì mắc sơn tinh thuỷ quái

    Người thì sa nanh sói ngà voi,

    135. Có người hay đẻ không nuôi,

    Có người sa sẩy, có người khốn thương.

    Gặp phải lúc đi đường lỡ bước

    Cầu Nại Hà kẻ trước người sau

    Mỗi người một nghiệp khác nhau

    140. Hồn xiêu phách tán biết đâu bây giờ?

    Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi,

    Hoặc là nương ngọn suối chân mây,

    Hoặc là bụi cỏ bóng cây,

    Hoặc nơi quán nọ cầu này bơ vơ.

    145. Hoặc là nương thần từ, Phật tự

    Hoặc là nơi đầu chợ cuối sông

    Hoặc là trong quãng đồng không,

    Hoặc nơi gò đống, hoặc vùng lau tre.

    Sống đã chịu nhiều bề thảm thiết,

    150. Gan héo khô dạ rét căm căm,

    Dãi dầu trong mấy mươi năm,

    Thở than dưới đất, ăn nằm trên sương.

    Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn,

    Lặn mặt trời lẩn thẩn tìm ra,

    155. Lôi thôi bồng trẻ dắt già,

    Có khôn thiêng nhẽ lại mà nghe kinh.

    Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ,

    Phóng hào quang cứu khổ độ u,

    Rắp hoà tứ hải quần chu,

    160. Não phiền rũ sạch, oán thù rửa không.

    Nhờ đức Phật thần thông quảng đại,

    Chuyển pháp luân tam giới thập phương,

    Nhơn nhơn Tiêu Diện đại vương,

    Linh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh.

    165. Nhờ phép Phật uy linh dũng mãnh,

    Trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao,

    Mười loài là những loài nào?

    Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh.

    Kiếp phù sinh như hình bào ảnh,

    170. Có chữ rằng: “Vạn cảnh giai không”

    Ai ơi lấy Phật làm lòng,

    Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.

    Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo,

    Của có chi bát cháo nén nhang,

    175. Gọi là manh áo thoi vàng,

    Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.

    Ai đến đây dưới trên ngồi lại,

    Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu.

    Phép thiêng biến ít thành nhiều,

    180. Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sình.

    Phật hữu tình từ bi phổ độ

    Chớ ngại rằng có có không không.

    Nam mô Phật, nam mô Pháp, nam mô Tăng

    Độ cho nhất thiết siêu thăng thượng đài.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Việc Sắm Lễ Và Bài Văn Khấn Chúng Sinh
  • Bài Khấn Cúng Chúng Sinh Ngoài Trời Và Chọn Đồ Cúng
  • 3 Bài Văn Khấn Được Dùng Nhiều Nhất Dịp Rằm Tháng 7
  • Bài Văn Khấn Chúng Sinh Rằm Tháng 7 Cư Dân @ Có Thể Tham Khảo
  • Văn Khấn Cầu Tự Sinh Con
  • Rằm Tháng 7 Nhớ ‘văn Tế Thập Loại Chúng Sinh’

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Cúng Rằm Tháng 7: Lễ Vu Lan Và Xá Tội Vong Nhân
  • Văn Khấn Rằm Gia Tiên, Bài Cúng Rằm Thổ Công Và Lễ Cúng Ngày Rằm Tháng 6 Âm Lịch
  • Văn Khấn Cúng Rằm Gia Tiền Và Bài Cúng Rằm Thổ Công Trong Ngày Rằm Tháng 6 Âm Lịch
  • Bài Cúng Khai Trương Đầu Năm Cho Công Ty, Cửa Hàng
  • Bài Cúng Vía Thần Tài Năm Kỷ Hợi 2022 Chuẩn Nhất Để Cả Năm Phát Tài Phát Lộc
  • (Thethaovanhoa.vn) – Có một lần, tôi đi công tác vào đúng dịp Rằm tháng 7. Nhiệm vụ thờ cúng tôi giao cho con gái khi đó đang là sinh viên đại học. Trước khi đi, tôi dặn dò con cẩn thận mâm cúng trong nhà, mâm cúng chúng sinh ngoài sân và đưa cuốn vở soạn những bài khấn từ tuần Rằm, mùng 1 đến Tết Táo quân… Con giở phần cúng rằm tháng 7 và thốt lên: “Mẹ ơi! Trong quyển sổ ghi bài khấn này có bài Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du mà con đã học ở phổ thông…”.

    Văn khấn Rằm tháng 7, văn khấn lễ Vu Lan và bài cúng lễ Xá tội vong nhân trong ngày lễ Vu Lan hay còn gọi báo hiếu và lễ Xá tội vong nhân hay còn gọi là cúng cô hồn “mở cửa địa ngục”. Đây là một trong những nét văn hóa truyền thống của người Á Đông.

    Thật ra, việc đưa áng văn bất hủ này của đại thi hào Nguyễn Du vào văn khấn Rằm tháng 7 là điều tất nhiên vậy.

    Từ lễ xá tội vong nhân, lễ Vu lan đến đạo Hiếu dân tộc

    Ở Việt Nam, lễ xá tội vong nhân và lễ Vu lan báo hiếu diễn ra cùng trong ngày Rằm tháng 7 (Tết Trung nguyên). Tuy có chút khác nhau, nhưng do cùng chung nét đẹp đạo lý, nhân văn, nên một cách rất tự nhiên cả 2 lễ trên đã hòa chung làm 1.

    Ngày Vu lan báo hiếu gắn với câu chuyện Mục Kiền Liên cứu mẹ trong ngày Tự tứ – ngày chư tăng mãn Hạ theo truyền thống đạo Phật. Theo Kinh Vu lan, đệ tử của Đức Phật là Mục Kiền Liên thương mẹ bị đọa đày ở kiếp ngạ quỷ (quỷ đói) đã thưa với Đức Phật cách giải cứu. Thấy tấm lòng hiếu nghĩa của đệ tử, Đức Phật dạy vào Rằm tháng 7 – ngày chúng tăng Tự tứ hãy dùng thức ăn ngon, ngũ quả quý cúng dường Phật tăng trong 10 phương thì mẹ sẽ được thoát khỏi kiếp khổ nạn. Mục Kiền Liên hiếu thảo đã làm theo và cứu được mẹ khỏi kiếp ngạ quỷ.

    Từ tấm gương hiếu hạnh của Bồ tát Mục Kiền Liên, lễ Vu lan ra đời và trở thành ngày lễ lớn của Phật giáo ở Việt Nam và nhiều nước châu Á. Từ câu chuyện Bồ tát Mục Kiền Liên, người Việt Nam đã tiếp nhận ngày lễ Vu lan từ đạo Phật một cách cởi mở, linh hoạt, phù hợp với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Trải qua thời gian, cùng hướng đến cội nguồn đạo lý, giá trị nhân văn, ngày xá tội vong nhân đồng thời trở thành ngày lễ Vu lan, được tôn vinh và nâng cao trong cuộc sống hôm nay để trở thành đạo Hiếu của dân tộc. Với lòng từ bi, bác ái, đạo Phật đã bao trùm tất thảy tình yêu thương đến mọi chúng sinh. Lễ Vu lan đã trở thành truyền thống, nhắc nhở mỗi người bổn phận làm con:

    Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

    Nghi thức cúng cô hồn xuất hiện ở nước ta từ rất sớm, thể hiện nét đẹp văn hóa tâm linh của người Việt. Cúng thí thực là bố thí cho ngạ quỷ, hay còn gọi là cúng cô hồn. Theo Việt Nam Phật giáo sử luận (Nguyễn Lang), từ thời Trần đã có nghi thức cúng cô hồn và Huyền Quang đã từng đăng đàn chẩn tế. Sách Bảo Đỉnh hành trì (do Huyền Quang tổ sư soạn thảo) được lưu truyền trong các chùa Việt cho thấy nghi thức Phật giáo đã được thịnh hành.

    Vào ngày đó, mâm cúng chúng sinh thường có nồi cháo lẻ múc vào từng bồ đài bằng lá đa cắm bờ rào, ven đường: “Sống đã chịu một đời phiền não/ Thác lại nhờ hớp cháo lá đa”.

    Cách thức tiến hành ngày Rằm tháng 7 đã được ghi chép trong sử sách. Theo Vân đài loại ngữ vào ngày Tết Trung nguyên “người ta để đồ mã và giấy ngũ sắc vào cái giường 3 chân, như cái đèn nổi, gọi là Vu lan bồn treo áo giấy, rồi lấy đóm đốt”.

    Sách Đại Việt sử ký cho biết “Mùa Thu tháng 7, năm Giáp Dần, niên hiệu Thiệu Bình thứ 1 (1434); ngày 15 mở Hội Vu lan tha tù tội nhẹ 50 người…”.

    Trong Văn minh Việt Nam, GS.TS Nguyễn Văn Huyên đã viết “Hội lễ dân gian của đạo Phật là ngày Rằm tháng 7. Đây là một kiểu ngày lễ của những người chết, trong ngày đó ở địa phủ, do lòng từ bi của chư Phật, một cuộc xá tội lớn được thực hiện, các ngục được mở và nhiều vong có tội được tỏa đi khắp thế gian. Các gia đình đi chùa cúng và tụng kinh để giải thoát cho hồn của thân nhân…”…

    “Văn chiêu hồn” từng thấm hạt mưa rơi…

    Văn tế thập loại chúng sinh (còn gọi là Văn chiêu hồn) là một trong số những tác phẩm làm nên sự nghiệp Nguyễn Du bên cạnh Truyện Kiều, Thanh Hiên thi tập, Nam Trung tạp ngâm…

    Văn chiêu hồn là một bài văn khấn bằng chữ Nôm hòa quyện cùng tiếng mõ, lời kinh cúng các loại cô hồn theo nghi thức văn hóa Phật giáo vào ngày Rằm tháng 7 hằng năm với mục đích cho các cô hồn được ăn uống, siêu sinh lên cõi trời thanh tịnh, lạc đạo “Muôn nhờ Đức Phật từ bi/ Giải oan, cứu khổ, hồn về Tây phương”…

    Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du thể hiện tính dân tộc và nhân văn sâu sắc. Ông không sử dụng hình thức văn tế biền ngẫu mang tính chất quy phạm, ước lệ sáo mòn thường thấy; cũng không viết bằng văn xuôi như Lê Thánh Tông trong Thập giới cô hồn quốc ngữ văn… Nguyễn Du chọn viết Văn chiêu hồn bằng chữ Nôm theo thể thơ song thất lục bát dễ thuộc, dễ nhớ. Nhờ sử dụng thể thơ dân tộc có vần điệu uyển chuyển, linh hoạt, cùng giai điệu diết da, thê thiết, Văn chiêu hồn có sức truyền cảm rất lớn, phù hợp với dạng văn tế.

    184 câu thơ viết bằng chữ Nôm được kết cấu thành 3 phần chặt chẽ, súc tích. Nội dung phần 1 mở đầu miêu tả khung cảnh dương thế chiều Thu tháng 7 sùi sụt mưa dầm cùng lòng người não nuột, buồn bã, cô đơn thương xót những chúng sinh bơ vơ, lạnh lẽo nơi âm giới:

    “Tiết tháng Bảy mưa dầm sùi sụt Toát hơi may lạnh buốt xương khô Não người thay buổi chiều Thu Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng”…

    Trong phần 2, từ dương gian, Nguyễn Du hướng về cõi âm. Có tên Văn tế thập loại chúng sinh nhưng thực tế tác giả đã nhắc tới hơn “thập loại”, đó là 13 loại chúng sinh: Vương giả, công nương, quan văn, quan võ, thương nhân, trí thức, ngư phủ, nông dân, binh lính, kỹ nữ, hành khất, tù nhân, tiểu nhi.

    Như vậy, Văn tế thập loại chúng sinh là số phiếm chỉ cho tất cả các loại cô hồn trong “lục đạo”. Điều quan trọng Nguyễn Du đã xếp tất cả chúng sinh cùng chung trong “một kiếp người”, không theo trật tự lễ tân từ quan đến dân mà theo trật tự “nhân tâm”. Nghĩa là tác giả không phân biệt thành phần giai cấp, già trẻ, trai gái, lớn bé… Lúc thì gọi các cô hồn là đứa, người, kẻ: Đứa tiểu nhi tấm bé, người leo giếng đứt dây, kẻ mũ cao áo rộng, kẻ bài binh bố trận, kẻ tính đường trí phú, kẻ rắp cầu chữ quý, kẻ vào sông ra bể, kẻ đi về buôn bán, kẻ nhỡ nhàng một kiếp, kẻ nằm cầu gối đất, hành khất, kẻ mắc oan tù rạc…

    Trong Văn tế thập loại chúng sinh Nguyễn Du thể hiện sự thương cảm cho tất cả những người yếu thế, dễ bị chèn ép, bị bóc lột… trong đó phụ nữ và trẻ em là 2 đối tượng được nhận sự quan tâm nhất.

    Trong Văn chiêu hồn Nguyễn Du có thể không khai thác đến tận cùng những bi kịch thân phận như Đoạn trường tân thanh, nhưng trong văn tế, ông viết về thân phận đàn bà bằng trái tim đồng cảm. Đó là người phụ nữ khuê các sống trong nhung lụa, nhưng gặp phải thời cuộc đổi thay: “Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu”. Đó là người kỹ nữ – một “thập loại chúng sinh” hiện lên đầy xót đau: “Cũng có kẻ nhỡ nhàng một kiếp/ Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa”. Bằng sự cảm thương sâu sắc,nhà thơ dự cảm thân phận người kỹ nữ ngay thời xuân sắc đã hé mở một tương lai cô độc, hẩm hiu “Ngẩn ngơ khi trở về già/ Ai chồng con tá, biết là cậy ai”. Có ai như Nguyễn Du luôn cảm thương cho cuộc đời kỹ nữ “Sống làm vợ khắp người ta/ Hại thay thác xuống làm ma không chồng” (Truyện Kiều). Tiếng khóc thương của tác giả khái quát chung từ văn tế: “Đau đớn thay, phận đàn bà/ Kiếp sinh ra thế, biết là tại đâu?”. Đến Truyện Kiều “Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”…

    Cùng với cảm thương thân phận người phụ nữ, ông còn thương xót những hài nhi xấu số: “Kìa những kẻ tiểu nhi tấm bé/ Lỗi giờ sinh, lìa mẹ lìa cha/ Lấy ai bồng bế vào ra/ U ơ tiếng khóc, thiết tha nỗi lòng”. Từ tiếng khóc u ơ của con trẻ do “lỗi giờ sinh” nhà thơ muốn truyền gửi thông điệp cho thế hệ sau là con người với quyền lớn nhất là quyền được sống.

    Trong phần 3, Nguyễn Du thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc với đất nước, con người. Tư tưởng nhân đạo có cội nguồn từ nhân sinh quan của tác giả đặt trong trong thế giới quan Phật giáo. Lòng nhân ái, bao dung khiến ngòi bút của ông bình đẳng với mọi cô hồn:

    “Mười loài là những loài nào Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh Kiếp phù sinh như hình bào ảnh Có chữ rằng: Vạn cảnh giai không”.

    Viết về cõi âm, nhưng hình như tác giả ngầm định nói về cõi dương. Những cô hồn ấy “sống vô gia cư, chết vô địa táng” đang hiện hữu trên cõi đời, cõi người ở trong chính môi trường ngột ngạt, tăm tối. Nguyễn Du động lòng trắc ẩn với những kiếp người xiêu dạt khắp nơi. Điệp từ “hoặc” nối dài nỗi đau khổ triền miên: “Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi/ Hoặc là nương ngọn suối chân mây/ Hoặc là điếm cỏ bóng cây/ Hoặc là quán nọ cầu này bơ vơ/ Hoặc là nương Thần từ, Phật tự/ Hoặc là nhờ đầu chợ cuối sông/ Hoặc là trong quãng đồng không/ Hoặc nơi gò đống, hoặc vùng lau tre”.

    Nhà thơ Xuân Diệu đánh giá cao tác phẩm Văn Chiêu hồn độc đáo, duy nhất trong nền thơ Việt Nam ta từ trước đến nay “nói đến người chết, nói đến cái chết dưới trăm tình thế, chưa có bài thơ nào mà tập trung nói đến những hồn người chết như vậyvà thực chất lại là sự ôm trùm rộng rãi những người sống…”…

    Không chỉ đề cập đến hiện thực đau khổ của “thập loại chúng sinh”, Nguyễn Du còn mở ra con đường cứu giúp cô hồn thoát khỏi kiếp đời khổ hạnh. Ông cầu xin phép Phật nhiệm màu cứu giúp những cô hồn được giải thoát: “Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ/ Phóng hào quang cứu khổ độ u” (157-158). Với tấm lòng cảm thương mọi thân phận, Nguyễn Du mượn một đàn tràng của nhà Phật để mong “siêu sinh tịnh độ”, hướng con người đến với Phật pháp, để thoát khỏi cảnh tai ương khổ ai của kiếp nhân quả luân hồi để được siêu thoát khỏi mọi kiếp đời khổ đau:

    Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo Của có chi bát cháo nén nhang Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên. Ai đến đây dưới trên ngồi lại Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu Phép thiêng biến ít thành nhiều Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sinh Phật hữu tình từ bi phổ độ Chớ ngại rằng có có không không Nam mô Phật, nam mô Pháp, nam mô Tăng Độ cho nhất thiết siêu thăng thượng đài

    Xung quanh thời điểm sáng tác Văn tế thập loại chúng sinh có nhiều ý kiến khác nhau. Có nhà nghiên cứu nói tác giả soạn bài văn tế này vào đầu thế kỷ 19. Cũng có ý kiến cho rằng Nguyễn Du viết bài văn tế sau một đợt dịch khủng khiếp cướp đi mạng sống của hàng triệu người. Lại có ý kiến cho rằng, ông viết văn tế khi đang làm cai bạ ở Quảng Bình, trước Truyện Kiều…

    Việc xác định thời điểm với các nhà nghiên cứu là cần. Nhưng tôi lại quan tâm nhiều hơn cái tâm của Nguyễn Du động lòng trắc ẩn trước mọi kiếp nạn. Sinh ra trong gia đình quan lại thuộc tầng lớp trên, từng sống trong cảnh nhung lụa, phú quý, nhưng do được sống gần dân, đã từng nếm trải cuộc sống “thập tải phong trần”, trái tim từng nhói buốt trước “Những điều trông thấy” ở xứ mình, xứ người, nên sáng tác của ông thấm đẫm sự đồng cảm, thương yêu sâu sắc với mọi kiếp đời, kiếp người.

    Về Văn chiêu hồn, các nhà nghiên cứu đều cùng chung nhận định: Nguyễn Du là người có trái tim lớn, chứa được bấy nhiêu tình thương nhân loại và xã hội Lê mạt chính là nguồn nung nấu để hình thành nên tác phẩm.

    Chủ nghĩa nhân văn là thông điệp lớn lao mà suốt một đời Nguyễn Du khắc khoải, theo đuổi, kiếm tìm và đặt cược cuộc đời mình trong đó. Cùng với “Truyện Kiều”, “Văn tế thập loại chúng sinh” là một áng văn Nôm bất hủ – một kiệt tác văn tế mẫu mực được kết tinh bởi những giá trị nhân văn sâu sắc nhất, tiến bộ nhất. Tự thân tác phẩm đã đưa Nguyễn Du trên văn đàn thế giới và ông được tôn vinh trở thành Đại thi hào dân tộc.

    * Văn tế thập loại chúng sinh là số phiếm chỉ cho tất cả các loại cô hồn trong “lục đạo”. Điều quan trọng Nguyễn Du đã xếp tất cả chúng sinh cùng chung trong “một kiếp người”, không theo trật tự lễ tân từ quan đến dân mà theo trật tự.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cúng Rằm Tháng 7 “xá Tội Vong Nhân’ Như Thế Nào Cho Đúng
  • Bài Văn Khấn Cúng Rằm Tháng 7
  • Văn Khấn Ngày Rằm Và Mùng Một Hàng Tháng
  • Tìm Hiểu Văn Cúng Rằm Tháng Giêng (Gia Tiên Và Thần Linh)
  • Cách Thắp Hương Cúng Rằm, Mùng 1 Đúng Cách
  • Lời Bài Thơ Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh (Nguyễn Du)

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Bài Văn Cúng Chúng Sinh Cac Bai Van Cung Chung Sinh Doc
  • Văn Cúng Cô Hồn Thập Loại Chúng Sinh
  • Văn Cúng Cô Hồn Thập Loại Chúng Sinh Và Các Văn Cúng Cô Hồn Hàng Ngày
  • Văn Khấn Bài Cúng Lễ Ban Công Đồng
  • Hướng Dẫn Văn Cúng Vào Ngày Giỗ
  • văn tế thập loại chúng sinh

    Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt,

    Toát hơi may lạnh buốt xương khô

    Não ngườI thay buổi chiều thu,

    Ngàn lau nhuốm bạc lá ngô rụng vàng…

    Đường bạch dương bóng chiều man mác,

    Dịp đường lê lác đác mưa sa

    Lòng nào lòng chẳng thiết tha

    Cõi dương còn thế nữa là cõi âm.

    Trong trường dạ tối tăm trời đất,

    Có khôn thiêng phảng phất u minh…

    Thương thay thập loại chúng sing

    Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người

    Hương lửa đã không nơi nương tựa

    Hồn mồ côi lần lữa bấy niên…

    Còn chi ai khá ai hèn

    Còn chi mà nói ai hèn ai ngu!

    Tiết đầu thu lập đàn giải thoát

    Nước tĩnh đàn sái hạt dương chi

    Muôn nhờ đức Phật từ bi

    Giải oan cứu khổ độ về tây phương.

    Cũng có kẻ tính đường kiêu hãnh

    Chí những lăm cất gámh non sông

    Nói chi những buổi tranh hùng

    Tưởngn khi thế khuất vận cùng mà đau!

    Bỗng phút đâu mưă sa ngói lở

    Khôn đem mình làm đứa thất phu

    Giàu sang càng nặng oán thù

    Máu tươi lai láng xương khô rụng rời

    Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc,

    Quỷ không đầu đứng khóc đêm mưa

    Cho hay thành bại là cơ

    Mà cô hồn biết bao giờ cho tan.

    Cũng có kẻ màn lan trướng huệ

    Những cậy mình cung quế Hằng Nga,

    Một phen thay đổi sơn hà,

    Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu?

    Trên lầu cao dưới dòng nườc chảy

    Phận đã đành trâm gãy bìng rơi

    Khi sao đông đúc vui cười

    Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương.

    Đau đớn nhẽ không hương không khói

    Hồn ngẩn ngơ dòng suối rừng sim.

    Thương thay chân yếu tay mềm

    Càngnăm càng héo một đêm một dài.

    Kìa những kẻ mũ cao áo rộng,

    Ngọn bút son thác sống ở tay

    Kinh luân găm một túi đầy

    Đã đêm Quản Cát lại ngày Y Chu.

    Thịnh mãn lắm, oán thù càng lắm,

    Trăm loài ma mồ nấm chung quanh

    Ngàn vàn khôn đổi được mình

    Lầu ca viện hát tan tành còn đâu?

    Kẻ thân thích vắng sau vắng trước

    Biết lấy ai bát nước nén nhang?

    Cô hồn thất thểu dọc ngang

    Nặng oan khôn nh9e tìm đường hóa sinh?

    Kìa những kẻ bài binh bố trận

    Đổi mình vào cướp ấn nguyên nhung

    Gió mưa sấm sét đùng đùng

    Phơi thây trăm họ nên công một người.

    Khi thất thế tên rơi đạn lạc

    Bãi sa trường thịt nát máu rơi

    Mênh mông góc bể chân trời

    Nắm xương vô chủ biết rơi chốn nào?

    Trời thăm thẳm mưa gào gió thét

    Khí âm huyền mờ mịt trước sau

    Ngàn mây nội cỏ rầu rầu,

    Nào đâu điếu tế, nào đâu chưng thường?

    Cũng có kẻ tính đường trí phú

    Mình làm mình nhịn ngủ kém ăn

    Ruột rà khôngkẻ chí thân

    Dẫu làm nên để dành phần cho ai?

    Khi nằm xuống không người nhắn nhủ

    Của phù vân dẫu có như không

    Sống thời tiền chảy bạc ròng

    Thác không đem được một đồng nào đi.

    Khóc ma mướn, thương gì hàng xóm

    Hòm gỗ đa bó đóm đưa đêm

    Ngẩn ngơ trong quảng đồng chiêm

    Nén hương giọt nước biết tìm vào đâu?

    Cũng có kẻ rắp cầu chữ qúy

    Dẫn mình vào thành thị lân la

    Mấy thu lìa cửa lìa nhà

    Văn chương đã chắc đâu mà trí thân.

    Dọc hàng qúan gặp tuần mưa nắng

    Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng

    Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng

    Anh em thiên hạ láng giềng người dưng

    Bóng phần tử xa chừng hương khúc

    Bãi tha ma kẻ dọc người ngang

    Cô hồn nhờ gửi tha phương

    Gió trăng hiu hắt lửa huơng lạnh lùng.

    Cũng có kẻ vào sông ra bể,

    Cánh buồm mây chạy xế gió đông

    Gặp cơn giông tố giữa dòng

    Đem thân chôn rấp vào lòng kình nghê.

    Cũng có kẻ đi về buôn bán

    Đòn gánh tre chín dạn hai vai

    Gặp cơn mưa nắng giữa trời

    Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?

    Cũng có kẻ mắc vào khóa lính

    Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan

    Nước khe cơm vắt gian nan

    Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời

    Buổi chiến trận mạng người như rác

    Phận đã đành đạn lạc tên rơi

    Lập lòe ngọn lửa ma trơi

    Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!

    Cũng có kẻ lỡ làng một kiếp

    Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa

    Ngẩn ngơ khi trở về già

    Ai chồng con tá biết là cậy ai?

    Sống đã chịu một đời phiền não

    Thác lại nhờ hớp cháo lá đạ

    Đau đớn thay phận đàn bà,

    Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

    Cũng có kẻ nằm cầu gối đất

    Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi

    Thương thay cũng một kiếp người

    Sống nhờ hàng xứ chết vùi đường quan.

    Cũng có kẻ mắc oan tù rạc

    Gửi mình vào chiếu rách một manh

    Nắm xương chôn rấp góc thành

    Kiếp nào cỡi được oan tình ấy đi?

    Kìa những kẻ tiểu nhi tấm bé

    Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha

    Lấy ai bồng bế xót xa

    U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng.

    Kìa những kẻ chìm sông lạc suối

    Cũng có người sẩy cối sa cây

    Có người leo giếng đứt dây

    Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành.

    Người thì mắc sơn tinh thủy quái

    Người thì sa nanh sói ngà voi

    Có người hay đẻ không nuôi

    Có người sa sẩy có người khốn thương.

    Gặp phải lúc đi đường lỡ bước

    Cầu Nại Hà kẻ trước người sau

    Mỗi người một nghiệp khác nhau

    Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ?

    Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi

    Hoặc là nương ngọn suối chân mây

    Hoặc là điếm cỏ bóng cây

    Hoặc là quán nọ cầu này bơ vơ

    Hoặc là nương thần từ Phật tự

    Hoặc là nhờ đầu chợ cuối sông

    Hoặc là trong quãng đồng không

    Hoặc nơi gò đống hoặc vùng lau tre

    Sống đã chịu một bề thảm thiết

    Ruột héo khô dạ rét căm căm

    Dãi dầu trong mấy mươi năm

    Thở than dưới đất ăn nằm trên sương

    Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn

    Tắt mặt trời lẩn thẩn tìm ra

    Lôi thôi bồng trẻ dắt già

    Có khôn thiêng nhẽ lại mà nghe kinh.

    Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ

    Phóng hào quang cứu khổ độ u

    Rắp hòa tứ hải quần chu

    Não phiền trút sạch oán thù rửa không.

    Nhờ đức Phật thần thông quảng đại

    Chuyển pháp luân tam giới thập phương

    Nhơn nhơn Tiêu Diện đại vương

    Linh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh.

    Nhờ phép Phật uy linh dũng mãnh

    Trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao

    Mười loài là những loài nào?

    Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh.

    Kiếp phù sinh như hình như ảnh

    Có chữ rằng:”Vạn cảnh giai không”

    Ai ơi lấy Phật làm lòng

    Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.

    Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo

    Của có khi bát cháo nén nhang

    Gọi là manh áo thoi vàng

    Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.

    Ai đến đây dưới trên ngồi lại

    Của làm duyên chớ ngại bao nhiêụ

    Phép thiên biến ít thành nhiều

    Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sanh.

    Phật hữu tình từ bi phổ độ

    Chớ ngại rằng có có không không.

    Nam mô chư Phật, Pháp, Tăng

    Độ cho nhất thiết siêu thăng thượng đài

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh Của Nguyễn Du
  • Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh Của Đại Thi Hào Nguyễn Du
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Bài Văn Cúng Khấn Thần Thổ Công
  • Văn Cúng Tất Niên Xóm Van Cung Xom Tat Nien Doc
  • Chuyên Gia Chỉ Ngày, Giờ Tốt Nhất Cúng Tất Niên Tết 2022 Giúp Mang Tài Lộc Đến Nhà
  • Văn Cúng Cô Hồn Thập Loại Chúng Sinh Và Bố Cục Bài Thơ

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Khấn Sửa Chữa Nhà Cửa
  • Văn Khấn Cúng Mùng 1 Hàng Tháng (Âm Lịch) Năm 2022 Như Thế Nào Là Đúng Chuẩn?
  • Văn Khấn Cúng Rước Ông Bà Ngày 30 Tết Canh Tý
  • Văn Khấn Rằm Tháng 7, Văn Khấn Lễ Vu Lan Và Bài Cúng Lễ Xá Tội Vong Nhân
  • Văn Khấn Cúng Mụ Cầu Bình An, May Mắn Cho Bé
  • Văn tế thập loại chúng sinh là một tác phẩm xuất sắc và vô cùng nổi tiếng của Đại thi hào dân tộc – Nguyễn Du. Tác phẩm là một bài văn tế được viết bằng chữ Nôm. Ngoài cái tên văn tế thập loại chúng sinh thì tác phẩm còn được gọi là văn tế chiêu hồn hay văn chiêu hồn.

    Thời gian ra đời của tác phẩm chưa được xác định chính xác mà chỉ biết là nó được biên soạn trong những năm đầu thế kỷ 19. Theo như văn bản do Đàm Quang Thiện hiệu chú thì Đại thi hào Nguyễn Du đã sáng tác bài này sau khi chứng kiến những hậu quả mà mùa dịch khủng khiếp đã gây ra.

    Mùa dịch đã khiến cho hàng triệu người chết. Khắp một miền núi sông là khung cảnh hoang tàn, âm khí nặng nề. Tại các chùa chiền đều lập đàn để cầu siêu cho các linh hồn đã bỏ mạng vì bệnh dịch.

    Tuy nhiên, theo Giáo sư Hoàng Xuân Hãn thì ông cho rằng văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du sáng tác trước cả khi tác phẩm Truyện Kiều ra đời.

    Chủ đề của bài văn tế thập loại chúng sinh Nguyễn Du, xuyên suốt tác phẩm đều tập trung đề cập tới một xã hội hồn ma vô cùng thảm thương, đau khổ. Đây là một hình ảnh lộn trái của xã hội trần thế ở thời điểm bấy giờ.

    Tuy nhiên, nội dung tác phẩm có sự khác biệt ở chỗ không thể hiện sự sang hèn, đối lập giàu nghèo. Tất cả chúng sinh trên nhân loại ai cũng đều giống nhau, họ phải sống trong cảnh đọa đày, oan khuất và cô đơn. Bởi thế, ai cũng đều vô cùng đáng thương.

    Tác phẩm văn cúng cô hồn thập loại chúng sinh được Đại thi hào Nguyễn Du viết theo thể thơ song thất lục bát với tổng cộng 184 câu thơ được viết hoàn toàn bằng chữ Nôm. Bố cục của tác phẩm theo các nhà nghiên cứu, phê bình văn học cho biết có thể chia làm 4 phần, gồm:

    • Phần 1: Gồm 20 câu thơ đầu tiên. Nội dung của 20 câu thơ này đều miêu tả về khung cảnh của một buổi chiều mùa thu tháng 7. Khung cảnh ấy có mưa dầm buồn bã khiến cho Nguyễn Du phải cảm thấy chạnh lòng và thương cho những chúng sinh đang sống trong cảnh bơ vơ, lạnh lẽo tại cõi âm mà lập đàn cầu siêu
    • Phần 2: Gồm 116 câu thơ tiếp theo được tác giả chỉ đích danh những nguyên nhân khiến cho mười loại Cô Hồn phải thiệt mạng
    • Phần 3: Gồm 20 câu thơ tiếp theo được Đại thi hào miêu tả một cách cụ thể về cuộc sống đau buồn, thê lương của những Cô hồn
    • Phần cuối: Gồm 28 câu thơ còn lại của bài văn chiêu hồn của nguyễn du. Nội dung của 28 câu thơ cuối cùng trong tác phẩm này chính là lời cầu xin phép Phật nhiệm màu có thể giúp cho những Cô Hồn này được giải thoát và mời họ tới nhận phần lễ cúng siêu độ

    “Tiết tháng Bảy mưa dầm sùi sụt,

    Toát hơi may lạnh buốt xương khô,

    Não người thay buổi chiều thu,

    Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng.

    5. Đường bạch dương bóng chiều man mác,

    Ngọn đường lê lác đác sương sa,

    Lòng nào là chẳng thiết tha,

    Cõi dương còn thế nữa là cõi âm.

    Trong trường dạ tối tăm trời đất,

    10. Có khôn thiêng phảng phất u minh,

    Thương thay thập loại chúng sinh,

    Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người.

    Hương khói đã không nơi nương tựa,

    Hồn mồ côi lần lữa đêm đen,

    15. Còn chi ai quí ai hèn,

    Còn chi mà nói ai hiền ai ngu?

    Tiết đầu thu lập đàn giải thoát,

    Nước tĩnh bình rưới hạt dương chi,

    Muôn nhờ đức Phật từ bi,

    20. Giải oan, cứu khổ, hồn về tây phương.

    Cũng có kẻ tính đường kiêu hãnh,

    Chí những lăm cướp gánh non sông,

    Nói chi những buổi tranh hùng,

    Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau.

    25. Bỗng phút đâu mưa sa ngói lở,

    Khôn đem mình làm đứa sất phu,

    Lớn sang giàu nặng oán thù,

    Máu tươi lai láng, xương khô rã rời.

    Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc,

    30. Quỷ không đầu than khóc đêm mưa

    Cho hay thành bại là cơ

    Mà cô hồn biết bao giờ cho tan!

    Cũng có kẻ màn lan trướng huệ,

    Những cậy mình cung quế Hằng Nga,

    35. Một phen thay đổi sơn hà,

    Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu?

    Trên lầu cao dưới cầu nước chảy

    Phận đã đành trâm gãy bình rơi,

    Khi sao đông đúc vui cười,

    40. Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương.

    Đau đớn nhẽ không hương không khói,

    Luống ngẩn ngơ dòng suối rừng sim.

    Thương thay chân yếu tay mềm Càng năm càng héo, một đêm một rầu.

    45. Kìa những kẻ mũ cao áo rộng,

    Ngọn bút son thác sống ở tay,

    Kinh luân găm một túi đầy,

    Đã đêm Quản Cát lại ngày Y Chu.

    Thịnh mãn lắm oán thù càng lắm,

    50. Trăm loài ma mồ nấm chung quanh,

    Nghìn vàng khôn đổi được mình,

    Lầu ca, viện hát, tan tành còn đâu?

    Kẻ thân thích vắng sau vắng trước,

    Biết lấy ai bát nước nén nhang?

    55. Cô hồn thất thểu dọc ngang,

    Nặng oan khôn nhẽ tìm đường hoá sinh.

    Kìa những kẻ bài binh bố trận

    Đem mình vào cướp ấn nguyên nhung.

    Gió mưa sấm sét đùng đùng,

    60. Dãi thây trăm họ nên công một người.

    Khi thất thế tên rơi đạn lạc,

    Bãi sa trường thịt nát máu rơi,

    Bơ vơ góc bể chân trời,

    Nắm xương vô chủ biết vùi nơi nao?

    65. Trời thăm thẳm mưa gào gió thét,

    Khí âm huyền mờ mịt trước sau,

    Ngàn mây nội cỏ rầu rầu,

    Nào đâu điếu tế, nào đâu chưng thường?

    Cũng có kẻ tính đường trí phú,

    70. Mình làm mình nhịn ngủ kém ăn,

    Ruột rà không kẻ chí thân,

    Dẫu làm nên để dành phần cho ai?

    Khi nằm xuống không người nhắn nhủ,

    Của phù du dẫu có như không,

    75. Sống thời tiền chảy bạc ròng,

    Thác không đem được một đồng nào đi.

    Khóc ma mướn, thương gì hàng xóm,

    Hòm gỗ đa bó đóm đưa đêm,

    Ngẩn ngơ trong quảng đồng chiêm,

    80. Nén hương giọt nước, biết tìm vào đâu?

    Cũng có kẻ rắp cầu chữ quý

    Dấn mình vào thành thị lân la,

    Mấy thu lìa cửa lìa nhà,

    Văn chương đã chắc đâu mà trí thân?

    85. Dọc hàng quán phải tuần mưa nắng,

    Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng,

    Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng,

    Anh em thiên hạ láng giềng người dưng.

    Bóng phần tử xa chừng hương khúc,

    90. Bãi tha ma kẻ dọc người ngang,

    Cô hồn nhờ gửi tha phương,

    Gió trăng hiu hắt, lửa hương lạnh lùng.

    Cũng có kẻ vào sông ra bể,

    Cánh buồm mây chạy xế gió đông.

    95. Gặp cơn giông tố giữa dòng,

    Đem thân vùi rấp vào lòng kình nghê.

    Cũng có kẻ đi về buôn bán,

    Đòn gánh tre chín dạn hai vai,

    Gặp cơn mưa nắng giữa trời,

    100. Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?

    Cũng có kẻ mắc vào khoá lính,

    Bỏ cửa nhà đi gánh việc quan,

    Nước khe cơm ống gian nan,

    Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời.

    105. Buổi chiến trận mạng người như rác,

    Phận đã đành đạn lạc tên rơi.

    Lập loè ngọn lửa ma trơi,

    Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương.

    Cũng có kẻ nhỡ nhàng một kiếp,

    110. Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa,

    Ngẩn ngơ khi trở về già,

    Đâu chồng con tá biết là cậy ai?

    Sống đã chịu một đời phiền não

    Thác lại nhờ hớp cháo lá đa,

    115. Đau đớn thay phận đàn bà,

    Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

    Cũng có kẻ nằm cầu gối đất,

    Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi,

    Thương thay cũng một kiếp người,

    120. Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan!

    Cũng có kẻ mắc oan tù rạc

    Gửi mình vào chiếu rách một manh.

    Nắm xương chôn rấp góc thành,

    Kiếp nào cởi được oan tình ấy đi?

    125. Kìa những đứa tiểu nhi tấm bé,

    Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha.

    Lấy ai bồng bế vào ra,

    U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng.

    Kìa những kẻ chìm sông lạc suối,

    130. Cũng có người sẩy cối sa cây,

    Có người leo giếng đứt dây,

    Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành.

    Người thì mắc sơn tinh thuỷ quái

    Người thì sa nanh sói ngà voi,

    135. Có người hay đẻ không nuôi,

    Có người sa sẩy, có người khốn thương.

    Gặp phải lúc đi đường lỡ bước

    Cầu Nại Hà kẻ trước người sau

    Mỗi người một nghiệp khác nhau

    140. Hồn xiêu phách tán biết đâu bây giờ?

    Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi,

    Hoặc là nương ngọn suối chân mây,

    Hoặc là bụi cỏ bóng cây,

    Hoặc nơi quán nọ cầu này bơ vơ.

    145. Hoặc là nương thần từ, Phật tự

    Hoặc là nơi đầu chợ cuối sông

    Hoặc là trong quãng đồng không,

    Hoặc nơi gò đống, hoặc vùng lau tre.

    Sống đã chịu nhiều bề thảm thiết,

    150. Gan héo khô dạ rét căm căm,

    Dãi dầu trong mấy mươi năm,

    Thở than dưới đất, ăn nằm trên sương.

    Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn,

    Lặn mặt trời lẩn thẩn tìm ra,

    155. Lôi thôi bồng trẻ dắt già,

    Có khôn thiêng nhẽ lại mà nghe kinh.

    Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ,

    Phóng hào quang cứu khổ độ u,

    Rắp hoà tứ hải quần chu,

    160. Não phiền rũ sạch, oán thù rửa không.

    Nhờ đức Phật thần thông quảng đại,

    Chuyển pháp luân tam giới thập phương,

    Nhơn nhơn Tiêu Diện đại vương,

    Linh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh.

    165. Nhờ phép Phật uy linh dũng mãnh,

    Trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao,

    Mười loài là những loài nào?

    Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh.

    Kiếp phù sinh như hình bào ảnh,

    170. Có chữ rằng: “Vạn cảnh giai không”

    Ai ơi lấy Phật làm lòng,

    Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.

    Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo,

    Của có chi bát cháo nén nhang,

    175. Gọi là manh áo thoi vàng,

    Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.

    Ai đến đây dưới trên ngồi lại,

    Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu.

    Phép thiêng biến ít thành nhiều,

    180. Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sinh.

    Phật hữu tình từ bi phổ độ

    Chớ ngại rằng có có không không.

    Nam mô Phật, nam mô Pháp, nam mô Tăng

    Độ cho nhất thiết siêu thăng thượng đài.”

    “Nam mô A Di Đà Phật (3 lần).

    Con lạy chín phương trời, mười phương chư phật, chư phật mười phương.

    Con lạy Đức Phật Di Đà

    Con lạy Bồ Tát Quan m.

    Con lạy Táo Phủ Thần quân Chinh thần.

    Tiết tháng 7 sắp thu phân

    Ngày rằm xá tội vong nhân hải hà

    Âm cung mở cửa ngục ra

    Vong linh không cửa không nhà

    Đại Thánh Khảo giáo – A Nan Đà Tôn giả

    Tiếp chúng sinh không mả, không mồ bốn phương

    Gốc cây xó chợ đầu đường

    Không nơi nương tựa đêm ngày lang thang

    Quanh năm đói rét cơ hàn

    Không manh áo mỏng – che làn heo may

    Cô hồn năm bắc đông tây

    Trẻ già trai gái về đây hợp đoàn

    Nay nghe tín chủ thỉnh mời

    Lai lâm nhận hưởng mọi lời trước sau

    Cơm canh cháo nẻ trầu cau

    Tiền vàng quần áo đủ màu đỏ xanh

    Gạo muối quả thực hoa đăng

    Mang theo một chút để dành ngày mai

    Phù hộ tín chủ lộc tài

    An khang thịnh vượng hòa hài gia trung

    Nhớ ngày xá tội vong nhân

    Lại về tín chủ thành tâm thỉnh mời

    Bây giờ nhận hưởng xong rồi

    Dắt nhau già trẻ về nơi âm phần

    Tín chủ thiêu hóa kim ngân

    Cùng với quần áo đã được phân chia

    Kính cáo Tôn thần

    Chứng minh công đức

    Cho tín chủ con

    Tên là:………………………………

    Vợ/Chồng:…………………………

    Con trai:……………………………

    Con gái:……………………………

    Ngụ tại:……………………………”

    4.2. Bài văn cúng cô hồn 2

    “Kính lễ mười phương Tam bảo chứng minh

    Hôm nay ngày………….Chúng con tên…………

    Ở tại số nhà…………………………………………

    Phát lòng thành tịnh, thiết lập đạo tràng, bày tiệc cam lồ, Kỳ an gia trạch, Kỳ an bổn mạng. Nhờ ơn tế độ, thêm sự phước duyên, nguyện xin gia đình yên ổn,thuận lợi bán zbuôn, dòng họ quy hướng đạo mầu, con cháu học hành tinh tiến, nguyện cầu thế giới hòa bình ,nhơn sanh phước lạc.

    Kính thỉnh:

    Cô hồn xuất tại côn lôn

    Ở tam kì nghiệp,cô hồn vô số

    Những là mãn giả hằng hà

    Đàn ông,đàn bà,già trẻ lớn nhỏ

    Ôi! Âm linh ơi,cô hồn hỡi

    Sống đã chịu một đời phiền não

    Chết lại nhờ hớp cháo lá đa

    Thương thay cũng phận người ta

    Kiếp sinh ra thế,biết là tại đâu

    Đàn cúng thí vâng lời phật dạy

    Của có chi,bát nước nén nhang

    Cũng là manh áo thoi vàng

    Giúp cho làm của ăn đàng thăng thiên

    Ai đến đây dưới trên ngồi lại

    Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu

    Phép thiêng biến ít thành nhiều

    Trên nhờ tôn giả chia đều chúng sanh

    Phật hữu tình từ bi tế độ

    Chớ ngại rằng có có không không

    Nam mô Phật,Nam mô Pháp,Nam mô Tăng

    Độ cho nhứt thiết siêu thăng thượng đài.

    Chân ngôn biến thực: Nam mô tát phạt đát tha nga đa,phà lồ chí đế án tam bạt ra,tam bạt ra hồng (3 lần)

    Chân ngôn cúng dường: Án nga nga nẵng tam bà phạt phiệt nhựt ra hồng (3 lần).”

    “Kính lễ mười phương Tam bảo chứng minh

    Hôm nay ngày……tháng……năm………………( m lịch).

    Con tên là:…………………..tuổi……………….

    Ngụ tại số nhà …, đường…, phường (xã)… , quận (huyện) ……………, tỉnh (TP):…………………

    Trân trọng kính mời các chư vị khuất mặt, khuất mày, kẻ lớn, người nhỏ, thập loại cô hồn, các Đảng, âm binh ngoài đường, ngoài xá, hửu danh vô vị, hửu vị vô danh, các chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn…về nơi đây hưởng lộc thực đầy đủ…

    Phát lòng thành tịnh, thiết lập đạo tràng, bày tiệc cam lồ, Kỳ an gia trạch, Kỳ an bổn mạng. Nhờ ơn tế độ, thêm sự phước duyên, nguyện xin gia đình yên ổn, thuận lợi bán buôn, phù hộ được buôn may bán đắt, mọi sự được sở cầu như ý, dòng họ quy hướng đạo mầu, con cháu học hành tinh tiến, nguyện cầu thế giới hòa bình, nhơn sanh phước lạc.

    Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng. Độ cho nhứt thiết siêu thăng thượng đài.

      Chân ngôn biến thực : (biến thức ăn cho nhiều)

    NAM MÔ TÁT PHẠ ĐÁT THA, NGA ĐÀ PHẠ LÔ CHỈ ĐẾ , ÁN TÁM BẠT RA , TÁM BẠT RA HỒNG (7 lần)

      Chân ngôn Cam lồ thủy: (biến nước uống cho nhiều)

    NAM MÔ TÔ RÔ BÀ DA, ĐÁT THA NGA ĐA DA, ĐÁT ĐIỆT THA. ÁN TÔ RÔ, TÔ RÔ, BÁT RA TÔ RÔ, BÁT RA TÔ RÔ , TA BÀ HA (7 lần)

      Chân ngôn cúng dường: Án nga nga nẵng tam bà phạt phiệt nhựt ra hồng (7 lần)”

    Tế thập loại chúng sinh hay ngày nay còn được biết đến là lễ cúng cô hồn hàng năm. Năm nay, lễ cúng diễn ra từ mùng 1 đến 15/07 âm lịch, tức từ ngày 19/08 đến ngày 02/09/2020 dương lịch. Các bạn có thể chọn một ngày trong khoảng thời gian này để tổ chức lễ cúng sao cho thuận tiện thời gian nhất.

    Nếu không có thời gian hay kinh nghiệm chuẩn bị mâm cúng lễ, các bạn có thể liên hệ với Đồ Cúng Tâm Linh để sử dụng dịch vụ chuẩn bị đồ cúng tế cô hồn.

    Khi sử dụng dịch vụ của Đồ Cúng Tâm Linh các bạn còn có cơ hội được tham gia chương trình khuyến mãi Vòng Quay May Mắn để được ưu đãi tặng bộ giấy cúng Xá Tội Vong Nhân, giúp bạn vừa tiết kiệm chi phí lại vừa có một mâm lễ cúng hoàn hảo, trọn vẹn.

    Cách tham gia Vòng Quay May Mắn tại Đồ Cúng Tâm Linh rất đơn giản: chỉ cần điền thông tin email, số điện thoại và địa chỉ quận đang sinh sống rồi chọn nút “Bấm ngay” khi truy cập vào website https://docungtamlinh.com.vn/.

    Như vậy là chúng tôi đã giới thiệu đến các bạn văn tế thập loại chúng sinh của nguyễn Du và 3 bài văn cúng cô hồn thập loại chúng sinh. Hy vọng đây sẽ là thông tin hữu ích với các bạn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Cúng Cô Hồn Rằm Tháng 7
  • Văn Khấn Cô Hồn Chúng Sinh
  • Đền Cô Chín Suối Rồng
  • Văn Khấn Cô Chín Ở Đền Sòng Sơn Và Cách Sắm Lễ
  • Văn Khấn Cô Bơ Chuẩn Nhất Theo Tứ Phủ Công Đồng.
  • Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh Và Các Văn Khấn Cô Hồn

    --- Bài mới hơn ---

  • Thủ Tục Về Nhà Mới Khi Mượn Tuổi
  • Hướng Dẫn Thủ Tục Về Nhà Mới Khi Mượn Tuổi Không Thể Bỏ Qua
  • Văn Khấn Nhập Trạch Về Nhà Mới Đầy Đủ
  • Bài Văn Khấn Về Nhà Mới Được Sử Dụng Phổ Biến Nhất Trong Dân Gian
  • Tảo Mộ Cuối Năm: Nén Tâm Nhang Mời Tổ Tiên ‘về’ Ăn Tết
  • Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh (cũng gọi với tên khác là Văn Chiêu Hồn) là một bài văn khấn tế, đề cập đến xã hội hồn ma một cách thảm thương nhất. Đó là hình ảnh lộn trái của xã hội trần thế, song khác biệt cơ bản ở chỗ không có đối lập giàu nghèo, sang hèn. Chúng sinh ai cũng như ai cùng chịu cảnh đọa đày, oan khuất và cô đơn nên nhà thơ xót thương tất cả…

    Giới thiệu và xuất xứ của văn tế thập loại chúng sinh

    Văn tế thập loại chúng sinh là một tác phẩm xuất sắc và vô cùng nổi tiếng của Đại thi hào dân tộc – Nguyễn Du. Tác phẩm là một bài văn tế được viết bằng chữ Nôm. Ngoài cái tên văn tế thập loại chúng sinh thì tác phẩm còn được gọi là văn tế chiêu hồn hay văn chiêu hồn.

    Thời gian ra đời của tác phẩm chưa được xác định chính xác mà chỉ biết là nó được biên soạn trong những năm đầu thế kỷ 19. Theo như văn bản do Đàm Quang Thiện hiệu chú thì Đại thi hào Nguyễn Du đã sáng tác bài này sau khi chứng kiến những hậu quả mà mùa dịch khủng khiếp đã gây ra.

    Mùa dịch đã khiến cho hàng triệu người chết. Khắp một miền núi sông là khung cảnh hoang tàn, âm khí nặng nề. Tại các chùa chiền đều lập đàn để cầu siêu cho các linh hồn đã bỏ mạng vì bệnh dịch.

    Tuy nhiên, theo Giáo sư Hoàng Xuân Hãn thì ông cho rằng văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du sáng tác trước cả khi tác phẩm Truyện Kiều ra đời.

    Chủ đề và bố cục của văn tế thập loại chúng sinh

    Chủ đề của bài văn tế thập loại chúng sinh Nguyễn Du, xuyên suốt tác phẩm đều tập trung đề cập tới một xã hội hồn ma vô cùng thảm thương, đau khổ. Đây là một hình ảnh lộn trái của xã hội trần thế ở thời điểm bấy giờ.

    Tuy nhiên, nội dung tác phẩm có sự khác biệt ở chỗ không thể hiện sự sang hèn, đối lập giàu nghèo. Tất cả chúng sinh trên nhân loại ai cũng đều giống nhau, họ phải sống trong cảnh đọa đày, oan khuất và cô đơn. Bởi thế, ai cũng đều vô cùng đáng thương.

    Tác phẩm văn cúng cô hồn thập loại chúng sinh được Đại thi hào Nguyễn Du viết theo thể thơ song thất lục bát với tổng cộng 184 câu thơ được viết hoàn toàn bằng chữ Nôm. Bố cục của tác phẩm theo các nhà nghiên cứu, phê bình văn học cho biết có thể chia làm 4 phần, gồm:

    • Phần 1: Gồm 20 câu thơ đầu tiên. Nội dung của 20 câu thơ này đều miêu tả về khung cảnh của một buổi chiều mùa thu tháng 7. Khung cảnh ấy có mưa dầm buồn bã khiến cho Nguyễn Du phải cảm thấy chạnh lòng và thương cho những chúng sinh đang sống trong cảnh bơ vơ, lạnh lẽo tại cõi âm mà lập đàn cầu siêu
    • Phần 2: Gồm 116 câu thơ tiếp theo được tác giả chỉ đích danh những nguyên nhân khiến cho mười loại Cô Hồn phải thiệt mạng
    • Phần 3: Gồm 20 câu thơ tiếp theo được Đại thi hào miêu tả một cách cụ thể về cuộc sống đau buồn, thê lương của những Cô hồn
    • Phần cuối: Gồm 28 câu thơ còn lại của bài văn chiêu hồn của nguyễn du. Nội dung của 28 câu thơ cuối cùng trong tác phẩm này chính là lời cầu xin phép Phật nhiệm màu có thể giúp cho những Cô Hồn này được giải thoát và mời họ tới nhận phần lễ cúng siêu độ

    Trích bài “Bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh” – Nguyễn Du

    Tham khảo văn cúng cô hồn thập loại chúng sinh hàng ngày

    Bài văn cúng cô hồn 1

    Kính cáo Tôn thần

    Chứng minh công đức

    Cho tín chủ con

    Tên là:………………………………

    Vợ/Chồng:…………………………

    Con trai:……………………………

    Con gái:……………………………

    Ngụ tại:……………………………”

    Bài văn cúng cô hồn 2

    Hôm nay ngày………….Chúng con tên…………

    Ở tại số nhà…………………………………………

    Kính thỉnh:

    Tổng kết

    Trên này là tổng hợp đầy đủ văn tế thập đại chúng sinh đầy đủ và chi tiết nhất, cùng với văn cúng cô hồn hàng năm. Công Ty Đồ Cúng Tâm Linh hy vọng đã mang đến bài viết đầy đủ, giúp bạn hiểu được văn tế thập đại chúng sinh là như thế nào.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Khấn Cúng Đất Tháng 2 Chuẩn Nhất Hiện Nay
  • Bài Văn Khấn Cúng Đất Tạ Tháng 2 Chính Xác Nhất
  • Bài Văn Khấn Cúng Đất Tháng 2 Đúng Chuẩn 2022
  • Văn Khấn Thần Linh Trong Nhà & Ngoài Trời
  • Mẫu Bài Văn Khấn Chung Thiên Ngoài Trời, Khấn Cúng Ngoài Sân
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100