【#1】Văn Khấn Giỗ Con Trai, Con Gái Đã Khuất Đầy Đủ, Chính Xác Nhất

Ý nghĩa văn khấn giỗ con trai, con gái đầy đủ, chính xác nhất

Ngày giỗ được tổ chức hàng năm vào đúng ngày mất của người đã khuất. Đây là dịp để anh em, họ hàng gần xa sum vầy, gặp gỡ, cùng nhau tổ chức ngày giỗ lễ cho con cháu trong nhà. Hành động này không chỉ để tưởng nhớ, an ủi người đã mất trong nhà, mà còn thể hiện tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái của mọi người trong gia đình với nhau. Mọi người cùng nhau dâng lên người khuất lễ sắm và mâm cơm đã được chuẩn bị. Cùng cầu nguyện phụ hồ độ trì cho một năm an lành, phát tài và yên ấm trong nhà.

Ngày Giỗ Thường được gọi là “Cát Kỵ”. Đây là ngày giỗ thường niên của người đã khuất kể từ năm thứ ba trở đi.

Ngày giỗ này sẽ được duy trì đến hết năm đời. Theo quan niệm dân tộc Việt, ngoài năm đời vong linh người quá cố đã có thể siêu thoát hay đầu thai chuyển thế. Nên việc cúng giỗ không còn cần thiết nữa. Nhưng cũng có vùng miền đưa vào tống giỗ chung tại nhà thờ tộc vào Xuân – Thu nhị kỳ (Chạp mã).

Nếu như giỗ Tiểu Tường và giỗ Đại Tường là lễ giỗ trong vòng tang, không khí vẫn ngập tràn bi ai, thương xót, thống khổ, thì ngày giỗ thường lại là ngày của con cháu nội ngoại xum họp tưởng nhớ người đã khuất.

Lễ vật cần chuẩn bị cho ngày cúng giỗ

Lễ cúng ngày Cát Kỵ vẫn bao gồm những lễ vật như những ngày giỗ lễ trước đó: Hương, phẩm oản, hoa quả, trầu cau, vàng mã và mâm lễ mặn gồm có xôi, gà, các món cơm canh…

Trong ngày Cát Kỵ, thông thường người ta chỉ mời những người trong gia đình họ tộc đến dự (diện mời không rộng như hai giỗ trước). Sau đó, cha mẹ, ông bà sẽ ra mộ phần con cháu đã khuất đề mời vong linh người đó về thụ hưởng. Đồng thời các con cháu sửa sang đắp lại mộ phần. Từ sáng ngày Tiên Thường, gia chủ đã phải lau chùi bàn thờ, bày biện lễ vật của gia chủ và người gửi giỗ.

Trong ngày giỗ này, gia chủ buộc phải làm hai lễ là lễ cúng yết cáo Thổ Thần và lễ cáo Gia tiên với: hương, hoa, quả, phẩm oản, tiền vàng, trầu, rượu, lễ nặm cúng dâng và lễ cúng gia tiên dòng tộc

Văn khấn giỗ con trai, con gái

“Nam mô a di đà Phật !

Nam mô a di đà Phật !

Nam mô a di đà Phật !

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Đức Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân.

– Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

– Con kính lạy Tổ Tiên nội ngoại họ

Tín chủ con là: ………………Tuổi: ………………

Ngụ tại: ………………………

Hôm nay là ngày: ………tháng: ………năm: ………(Âm lịch).

Chính ngày giỗ của: ………………

Thiết nghĩ vắng xa trần thế, không thấy âm dung.

Năm qua tháng lại ngày húy lâm. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Ngày mai Cát Kỵ, hôm nay chúng con và toàn gia con cháu, nhất tâm sắm sửa lễ vật kính dâng, đốt nén tâm hương dãi tỏ tắc thành.

Tâm thành kính mời: ………………

Mất ngày: ………tháng: ………năm: ………

Mộ phần táng tại: ………………………………

Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia cảnh hưng long thịnh vượng.

Con lại xin kính mời các vị Tổ Tiên nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá Thúc, Huynh Đệ, Cô Di, Tỷ Muội và toàn thể các Hương hồn gia tiên đồng lai hâm hưởng.

Tín chủ con lại xin kính mời ngài Thần Linh, Thổ địa, Thổ Công, Táo Quân và chư vị Linh thần đồng lai giám cách thượng hưởng.

Tín chủ lại mời vong linh các vị Tiền chủ, Hậu chủ nhà này, đất này cùng tới hâm hưởng.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Phục duy cẩn cáo!”

【#2】Mùng 3 Tháng 3 Ngày Giỗ Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh

Mộ phần Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh tại thôn Vân Cát huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định.

Từ trung tâm Hà Nội, du khách lái xe hướng qua ra đường CT 01/ CT Pháp Vân – Cầu Giẽ. Đến đoạn giao giữa CT Hà Nội – Ninh Bình và CT Pháp Vân – Cầu Giẽ, lái xe qua vòng xuyến sang QL 21B vào Đại lộ Thiên Trường. Tại vòng xuyến Big C Nam Định, dẽ phải vào QL10/QL38B qua cầu Lộc An tới Đại Lộ Lê Đức Thọ qua cầu Nam Định dẽ phải vào ĐT490/ ĐT 490C, dẽ trái vào ĐT487 đến ngã rẽ phải thứ 5 dẽ vào và đi thẳng đến ngã dẽ thứ 4 bên trái dẽ vào đi thẳng theo đường làng Phú Hào là tới đền Phủ Giày.

Đền Phủ Giày thờ ai?

Đền là một quần thể gồm nhiều ngôi đền nhỏ ghép lại. Đặc biệt phải nói đến kiến trúc quan trọng nhất là đền thờ bà chúa Liễu Hạnh (phủ chính), ngay sát chợ Viềng. Các kiến trúc còn lại là Tiên Hương, Vân Các, Công Đồng từ, đền thờ Lý Nam Đế, chùa Linh Sơn, lăng bà chúa Liễu Hạnh. Phủ Tiên Hương được coi là đền chính của Mẫu Liễu Hạnh và thờ bên chồng của Mẫu, còn phủ Vân Cát và Phủ Tổ là nơi thờ Mẫu và bên ngoại (bên bố mẹ đẻ) của Mẫu.

Lịch sử đền Phủ Giày

Đền Phủ Dầy có truyền thuyết kể lại rằng xưa kia vì nhớ thương chồng con trước khi về trời mà bà chúa Liễu Hạnh đã để lại chiếc giày ở trần gian. Cũng có truyền thuyết kể lại rằng vua đi qua vùng này và nghỉ đêm ở quán hàng của bà chúa Liễu Hạnh, sau đó được tặng một đôi giầy nên đã lập nơi thờ tự và gọi đó là Phủ Dầy. Khi gọi Phủ Dầy còn vì chính nơi này có món bánh dày – giò nổi tiếng, lại có người cho rằng: Kẻ Dày xuất phát từ nơi có gò đất nổi lên hình bánh dầy trước cửa phủ.

Phủ Dầy bắt nguồn từ tên một làng cổ là “Kẻ giầy”. Theo “Sự tích công chúa Liễu Hạnh” của Trọng Nội, Xuất bản năm 1959 thì: đời Vua Anh Tông (1557) làng kẻ Giầy đổi thành xã An Thái gồm: Vân Cát, Vân Cầu, Vân La (Vân Đình) và Vân Miếu. Đến đời Gia Long, Vân Cát chia thành 2 xã là Vân Cát và Kim Thái. Sang đời Tự đức (1860) xã An Thái đổi thành 2 thôn Vân Cát và Tiên Hương xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Tỉnh Nam định.

Vân Cát là nơi sinh ra, Tiên Hương là quê chồng và là nơi chôn cất Mẫu Liễu Hạnh khi Bà qua đời sau lần giáng trần thứ nhất. Phủ Dầy chính là “cái nôi” sinh ra Thánh Mẫu Liễu Hạnh và là tên gọi chung cho một quần thể các di tích của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở huyện Vụ Bản Nam định. Tên di tích được gọi theo địa danh ở địa phương.

Kiến trúc đền Phủ Giày

Đền Phủ Giày gồm 3 quần thể chính:

Phủ Tiên Hương thuộc thôn Tiên Hương, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định; nằm cạnh đường giao thông liên xã. Đây là phủ chính trong quần thể di tích Phủ Dầy. Phủ được xây dựng từ thời Lê – Cảnh Trị (1663 – 1671), trải qua bao thăng trầm lịch sử, phủ vẫn giữ được nét cổ kính thời xưa.

Năm 1996 Phủ Tiên Hương đã được sửa chữa lớn để thờ phụ thân của Mẫu Liễu Hạnh và thờ cả đức Thánh Trần. Phủ Tiên Hương còn lưu giữ được một số sắc phong, sớm nhất là đời Lê Chính Hòa, rồi đến Lê Vĩnh Thịnh, Lê Vĩnh Khánh đầu thế kỷ XVIII.Thánh Mẫu được tôn là “Mạ vàng công chúa”, “Mẫu nghi thiên hạ”.

Cảnh quan của phủ rất rộng rãi và thoáng đãng. Mới bước vào, du khách sẽ thấy một giếng nước tròn bên trong là ụ đất để cắm cờ khi diễn ra lễ hội. Cán cờ bằng gậy gỗ, trên đầu buộc túm lá hoặc quạ đen làm thiên sứ của trời. Lá cờ thần được treo trên đỉnh. Tiếp đến là sân lớn diễn ra các trò chơi hay là nơi những sập bán hàng được bày bán trong mùa lễ hội. au sân lớn là ba phương đình với phương du ở giữa và hai bên phương đình làm nơi gác chuông, gác trống. Tiếp nối 3 phương đình là hồ bán nguyệt, xuống hồ bán nguyệt có hai cầu được lát bằng đá, đối xứng qua hồ, bên phải là nhà bia và lầu Cậu, bên trái là nhà bia và lầu Cô.

Kiến trúc các dãy nhà tại Phủ được nối liền nhau tạo thành thể thống nhất. Mỗi nhà sẽ có phòng riêng gọi là cung, có tất cả 4 cung: Cung đệ tứ thờ Tứ phủ công đồng hay còn gọi là ban Công Đồng. Đối xứng với cung Đệ Tứ bên trái là Ban Quan lớn Thủ phủ và bên phải là Ban Chầu Thủ phủ; cung đệ tam thờ Đức Vua cha Ngọc Hoàng và Hội Đồng các quan hay Ngũ vị vương quan; Cung đệ nhị thờ Tứ Vị Chầu bà và ba bộ long ngai; Cung Đệ nhất là cung thờ Tam Tòa Thánh Mẫu. Cung này ở trong cùng. Tuy nhiên, đa phần nơi thờ Mẫu Tứ phủ có nội cung (cung cấm).

Cung cấm có khám kính đặt tượng đồng Mẫu Liễu Hạnh cùng với hai Mẫu Quang cung Quế Anh phu nhân và Quỳnh cung Duy Tiên phu nhân đều được phong thần và sắc phong. Tuy nhiên, không phải lúc nào bạn cũng có thể vào đó được mà phải có sự cho phép của ban quản lý khu di tích mới được đặt chân vào đó.

Bên cạnh các dãy nhà thờ có 1 dãy nhà nữai là Ban Trần Triều. Trong dãy nhà này có đặt ban thờ Ban Trần Triều và Ban Đức Vương Phụ, Vương Mẫu. Đằng sau nơi thờ chính là Động Sơn Trang, nơi này thờ bà Chúa Đệ Nhị Thượng ngàn Hai Chầu và mười hai cô Sơn Trang.

Phủ nằm phía bắc thôn Vân Cát xã Kim Thái, cách phủ Tiên Hương chừng 1 km. Phủ nằm giữa đền làng Vân Cát và chùa Long Vân nơi thờ Phật, vì thế tạo nên một quần thể thờ Phật – Mẫu – Thần.

Văn bia “Thánh Mẫu cố trạch linh từ bi ký” được đặt ở Ngũ Vân Lâu trước phủ do Tổng tài quốc sư quán đời Nguyễn là Cao Xuân Dục soạn năm Thành Thái Tân Sửu (1901) viết về quá trình xây dựng phủ Vân Cát: ” .. .là một lầu cổ miếu, chọn đất dựng nền từ thời Lê Cảnh Trị (1633- 1671), làm đơn giản mà đẹp, Khoảng đời Cảnh Thịnh (1794- 1800) hội nguyên Trần Gia Du, thiếu tả giám Trần Công Bản đã mở rộng ra. đến năm Kỷ Mão (1879) đời Tự đức, quan huyện Lê Kỳ đã sửa lợp lại, đến năm Thành Thái thứ 12(1900) thì hoàn thành “.

Từ cổng bước vào, du khách sẽ gặp Ngũ Vân Lâu, gác chuông với 5 cổng lớn xây dựng từ năm Tự Đức. Phía trong là hồ bán nguyệt xây bằng đá. Giữa hồ bán nguyệt có phương du nằm ở giữa và có hai cầu đá dẫn ra ngoài. Phương du gồm có ba gian làm bằng gỗ lim, mái có góc uốn cong, xung quanh lan can được ghép bằng những tường hoa bằng đá với những mảng phù điêu trạm khắc một số loài hoa và những con voi. Phương du có bốn mặt thoáng, là nơi khách đứng xem kéo chữ vào ngày hội.

Bên trong phủ có 4 cung thờ: kết câu hai cung đệ nhất và đệ nhị đều có 3 gian, và cả 2 đều được xây từ năm Tự Đức (1879). Cả hai cung đều bị giặc Pháp phá hủy mãi về sau mới được tôn tạo lại.

Cung đệ nhất là chính cung khép kín thờ Tam Tòa Thánh Mẫu, tượng bằng đồng gồm có Mẫu Thượng Thiên ngồi giữa, Mẫu Thượng Ngàn bên trái, Mẫu Thoải bên phải.

Cung đệ nhị thờ Tứ vị chầu Bà và Tam tòa quan lớn, đặc biệt có hai khám hai bên thờ Ông Hoàng Mười (bên phải) và Ông Hoàng Ba (bên trái).

Trong Phủ còn dấu tích nhiều câu đối, đại tự, hoành phi có giá trị. Ngoài ra, nét độc đáo còn nằm ở văn bia cùng ngũ vân lâu ngay tại mặt chính của đền, các công trình bố trí chặt chẽ tạo thành thể thống nhất, giữ lại nét giá trị từ ngàn đời.

Lăng mộ Thánh Mẫu Liễu Hạnh

Lăng mộ Thánh Liễu Hạnh nằm ở thôn Tiên Hương trên cồn cá chép. Ngôi mộ trước kia là bãi đất với lùm cây xanh lá, sau đó được xây thành khu nhỏ gồm gạch lát đá. Sau đó, vua Bảo Đại cầu tự được con và được thánh Mẫu báo mộng cho, năm 1938, vua Bảo Đại biết ơn mẫu và cho trùng hưng lại lăng mộ với chất liệu bằng đá xanh và 60 búp sen hồng quy mô như hiện nay.

Hướng chính của lăng là hướng Tây quay về phía núi Tiên Hương. Từ ngoài vào bước theo bậc tam cấp lên đến mộ phải qua 5 lớp tường toàn bằng đá được chạm khắc, mỗi lớp tường vuông đều có cửa, cửa được bổ trụ bằng đá vuông với ba mặt đều khắc câu đối và phía trên đặt các nụ sen bằng đá hồng nhạt tới 60 nụ sen đá.

Xung quanh lăng mộ là hàng cây 4 mùa xanh mát, 4 cột trụ chính đặt 4 góc khiến lăng mộ càng thêm long trọng và trang nghiêm. Ngôi mộ được đặt ngay chính trung tâm và ở chỗ cao nhất của cả khu lăng. Tại bốn cửa ở bậc cuối cùng đều có một bức bình phong bằng đá án ngữ. Phía sau cửa chính, nằm về hai phía góc đối diện với cửa ra vào là hai nhà bia với bốn cột vươn lên.

Bên cạnh khu lăng mộ còn có một gian nhà thờ tự với kết cấu sau: Ban thờ Mẫu nằm chính giữa, từ ngoài bước vào thì bên phải ngay cạnh ban thờ Mẫu là ban thờ Bà Cai Bản mệnh, tiếp là ban thờ đức Thánh Trần. Bên trái của Ban thờ Mẫu là ban thờ quan lớn đệ nhất và ban thờ Nhị Vị Cô Nương.

Hàng năm vào mùa lễ hội, đền đón hàng ngàn khách du lịch về trẩy hội. Hòa chung không khí tấp nập của mùa lễ hội, dân làng và du khách càng thấy hứng khởi đón chào một năm mới đầy thắng lợi./

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Trong tín ngưỡng của người Việt và của một số dân tộc thiểu số khác ở trên lãnh thổ Việt Nam, việc tôn thờ nữ thần, thờ mẫu thần, thờ mẫu tam phủ tứ phủ là hiện tượng khá phổ biến và có nguồn gốc lịch sử và xã hội sâu xa. Tuy tất cả đều là sự tôn sùng thần linh nữ tính, nhưng giữa thờ nữ thần, mẫu thần, mẫu tam phủ tứ phủ không hoàn toàn đồng nhất.

Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam là một tín ngưỡng bản địa cùng với những ảnh hưởng ngoại lai từ đạo giáo, tín ngưỡng lấy việc tôn thờ Mẫu (Mẹ) làm thần tượng với các quyền năng sinh sôi, bảo trữ và che chở cho con người. Tín ngưỡng mà ở đó đã được giới tính hoá mang khuôn hình của người Mẹ, là nơi mà ở đó người phụ nữ Việt Nam đã gửi gắm những ước vọng giải thoát của mình khỏi những thành kiến, ràng buộc của xã hội Nho giáo phong kiến. Vào hồi 17h15 giờ địa phương (21h15 giờ Việt Nam) ngày 1/12/2016, tại Phiên họp Uỷ ban Liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 11 của UNESCO diễn ra tại thành phố Addis Ababa, Cộng hòa dân chủ Liên bang Ethiopia, di sản “Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” đã chính thức được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại./

Các dạng thức thờ Mẫu Thờ Mẫu ở Bắc bộ

Bắt nguồn từ tục thờ Nữ thần có nguồn gốc xa xưa từ thời tiền sử, tới thời phong kiến một số Nữ thần đã được cung đình hoá và lịch sử hoá để thành các Mẫu thần tương ứng thời kỷ từ thế kỷ 15 trở về trước với việc phong thần của nhà nước phong kiến, hình thức thờ Mẫu thần với các danh xưng như Quốc Mẫu, Vương mẫu, Thánh Mẫu như hiện tượng thờ Âu Cơ, Ỷ Lan, Mẹ Thánh Gióng, Tứ vị Thánh nương,…

Thờ Mẫu ở Trung Bộ Thờ Mẫu ở Nam bộ

So với ở Bắc Bộ, tục thờ Nữ thần và Mẫu thần có sự phân biệt nhất định với biểu hiện rõ rệt là thông qua tên gọi và xuất thân của các vị thần thì ở Nam Bộ sự phân biệt giữa hình thức thờ Nữ thần và Mẫu thần ít rõ rệt hơn, hiện tượng này được giải thích với nguyên nhân Nam Bộ là vùng đất mới của người Việt, khi di cư vào đây họ vừa mang các truyền thống tín ngưỡng cũ lại vừa tiếp nhận những giao lưu ảnh hưởng của cư dân sinh sống từ trước tạo nên bức tranh không chỉ đa dạng trong văn hoá mà còn cả trong tín ngưỡng

Những Nữ thần được thờ phụng ở Nam Bộ như Bà Ngũ Hành, Tứ vị Thánh nương, Bà Thuỷ Long, Bà Chúa Động, Bà Tổ Cô,…và những Mẫu thần được thờ phụng như Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Bà Chúa Ngọc, Bà Thiên Hậu,…

Liễu Hạnh công chúa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

(đổi hướng từ Mẫu Liễu Hạnh)

Bài viết này cần thêm chú thích nguồn gốc để kiểm chứng thông tin. Mời bạn giúp hoàn thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn đáng tin cậy. Các nội dung không có nguồn có thể bị nghi ngờ và xóa bỏ.

Đền thờ Thánh Mẫu, đường Ngô Quyền, thành phố Thông tin chung Đà Lạt

Tên thật Phạm Tiên Nga

Liễu Hạnh Công chúa ( chữ Hán: 柳杏公主) là một trong những vị thần quan trọng của tín ngưỡng Việt Nam. Bà còn được gọi bằng các tên: Bà Chúa Liễu, Liễu Hạnh (柳杏), Mẫu Liễu Hạnh (母柳杏) hoặc ở nhiều nơi thuộc vùng Bắc Bộ bà được gọi ngắn gọn là Thánh Mẫu.

Truyền thuyết

Theo truyền thuyết trong dân gian Việt Nam, Liễu Hạnh là một trong bốn vị thánh Tứ bất tử. Bà vốn là con gái thứ hai của Ngọc Hoàng Thượng đế, 3 lần giáng trần. Bà đã được các triều đại phong kiến từ thời nhà Hậu Lê đến thời nhà Nguyễn cấp nhiều Sắc, tôn phong là “Mẫu nghi thiên hạ – Mẹ của muôn dân” và cuối cùng quy y cửa Phật.

Lần giáng sinh đầu tiên

Căn cứ vào ” Quảng Cung linh từ phả ký”, ” Quảng Cung linh từ bi ký” và ” Cát Thiên tam thế thực lục” hiện đang lưu giữ ở địa phương do Ban quản lý di tích – danh thắng của tỉnh Nam Định sưu tầm và một số tài liệu trong Hội đồng khoa học lịch sử Nam Định thẩm định thân thế và sự tích bà Liễu Hạnh như sau:

Vào đầu thời nhà Hậu Lê, tại ấp Quảng Nạp, xã Vỉ Nhuế, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, trấn Sơn Nam; có ông Phạm Huyền Viên, người xã La Ngạn kết duyên cùng bà Đoàn Thị Hằng, người ấp Nhuế Duệ, cũng xã Vỉ Nhuế (nay là thôn Vỉ Nhuế, xã Yên Đồng, Ý Yên, tỉnh Nam Định).

Hai ông bà là những người hiền lành, tu nhân tích đức nhưng hiềm một nỗi đã ngoài 40 mà chưa có con. Một đêm rằm tháng hai, ông bà được thần báo mộng là Ngọc Hoàng sẽ cho con gái thứ hai là Công chúa Hồng Liên đầu thai làm con, từ đó bà có thai. Trước khi sinh, vào đêm ngày 6 tháng 3 năm Quý Sửu, trời quang mây vàng như có ánh hào quang. Ông Huyền Viên ngồi đợi tin mừng, bỗng như có một nàng tiên từ trong đám mây bước xuống thềm nhà, và bà sinh một bé gái. Vì vậy ông đặt tên con là Phạm Tiên Nga.

Phạm Tiên Nga càng lớn càng xinh đẹp, mọi việc nữ công gia chánh đều thành thạo, đảm đang. Đến năm 15 tuổi đã có nhiều người đến dạm hỏi nhưng nàng đều khước từ vì nàng còn phải ở nhà chăm sóc cha mẹ già yếu, canh cửi quán xuyến công việc gia đình.

Ngày 10 tháng 10 năm Nhâm Ngọ ( 1462), cha của nàng qua đời. Hai năm sau mẹ của nàng cũng về nơi tiên cảnh. Phạm Tiên Nga đã làm lễ an táng cha mẹ ở phía đông nam phủ Nghĩa Hưng (nay là thôn La Ngạn, ở đây có đền thờ cha và mẹ của Phạm Tiên Nga).

Sau ba năm để tang cha mẹ, lo mồ yên mả đẹp, Phạm Tiên Nga bắt đầu chu du khắp nơi làm việc thiện (lúc này Tiên Nga vừa tròn 35 tuổi).

Cùng với việc đắp đê, bà còn cho làm 15 cây cầu đá, khơi ngòi dẫn nước tưới tiêu, khai khẩn đất ven sông, giúp tiền bạc cho người nghèo, chữa bệnh cho người ốm, sửa đền chùa, cấp lương bổng cho các vị hương sư, khuyên họ cố sức dạy dỗ con em nhà nghèo được học hành.

Năm 36 tuổi, bà đến bờ Sông Đồi dựng một ngôi chùa trên mảnh vườn nhỏ, đặt tên là Chùa Kim Thoa. Bên trên thờ đức Nam Hải Quan Thế Âm Bồ Tát, bên dưới thờ cha và mẹ.

Sau đó hai năm, bà tới tu sửa chùa Sơn Trường – Ý Yên, Nam Định, chùa Long Sơn – Duy Tiên, Hà Nam, chùa Thiện Thành ở Đồn xá – Bình Lục, Hà Nam. Tại chùa Đồn xá, Bà còn chiêu dân phiêu tán, lập ra làng xã, dạy dân trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải.

Tháng Giêng năm Nhâm Thìn ( 1472), bà trở lại chùa Kim Thoa, và tháng 9 năm ấy, Bà trở về quê cũ cùng các anh chị con ông bác tu sửa đền thờ Tổ họ Phạm khang trang bề thế (nay còn đền thờ ở phía nam xóm Đình thôn La Ngạn). Sau đó Bà lại đi chu du ở trong hạt, khuyên răn bà con dân làng những điều phải trái.

Lần giáng sinh thứ hai

Ngay sau khi bà mất, nhân dân xã La Ngạn, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng đã lập đền thờ trên nền nhà cũ, gọi là Phủ Đại La Tiên Từ, Đồng thời quê mẹ của Người là xã Vỉ Nhuế cũng lập đền thờ để tưởng nhớ công lao của bà, gọi là Phủ Quảng Cung.

Lần này, Bà kết duyên với ông Trần Đào, sinh được một người con trai, tên là Nhân, một con gái tên là Hoà. Giữa lúc cả gia đình đang đầm ấm vui vẻ thì bỗng nhiên, vào đúng ngày, Bà mất ngày 3 tháng 3 năm Đinh Sửu, thời Lê Gia Thái thứ 5 ( 1577). Năm ấy, Bà mới 21 tuổi, tuyệt nhiên không bệnh tật gì. Lăng mộ và đền thờ ở Phủ Dầy, thôn Thiên Hương – Vân Cát, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định.

Hành thiện giúp đời

Giáng Tiên về trời đúng hạn định theo lệnh của Ngọc Hoàng. Nhưng khi nàng đã ở trên trời thì lòng trần lại canh cánh, ngày đêm da diết trong lòng nỗi nhớ cha mẹ, chồng con nên nàng muốn xuống trần gian lần nữa. Khi về đến nhà vừa đúng lúc gia đình đang làm giỗ mãn tang cho nàng, mọi người đều hết sức ngạc nhiên và vô cùng sung sướng. Nàng ôm lấy mẹ mà khóc, rồi kể hết sự tình, dặn anh hãy gắng lo chăm sóc cha mẹ, vì lần này xuống trần nàng không thể ăn ở như lần trước, rồi trở về nhà chồng. Liễu Hạnh gặp chồng, con cái mừng mừng tủi tủi. Nàng cũng kể rõ mọi chuyện cho chồng biết, khuyên chồng hãy cố gắng luyện chí, yên tâm theo đuổi sự nghiệp công danh, đừng quên chăm sóc con thơ, phụng dưỡng cha mẹ. Nàng quét dọn, sửa sang nhà cửa, may vá quần áo cho chồng cho con, rồi bỗng chốc lại thoắt biến lên mây… Cứ như thế, thỉnh thoảng nàng lại hiện về, làm xong các việc rồi lại biến đi. Ròng rã hàng chục năm sau, cho đến khi con cái khôn lớn và Đào Lang công thành danh toại, nàng mới từ biệt để đi chu du thiên hạ.

Tương truyền, ông đã gặp thần nữ là Liễu Hạnh công chúa cả thảy hai lần, và đều có xướng họa thơ: một lần gặp ở chùa Thiên Minh ( Lạng Sơn) khi ông đi sứ về, một lần ở Hồ Tây (nay thuộc Hà Nội) khi ông cùng với hai bạn họ Ngô và họ Lý đi chơi thuyền. Lần ở Hồ Tây, người tiên kẻ tục bèn làm thơ xướng họa liên ngâm, sau được nữ sĩ Đoàn Thị Điểm chép trong truyện “Vân Cát thần nữ” ở tập Truyền kỳ tân phả của bà. Theo nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân, thì bài thơ ấy được đặt tên là Tây Hồ quan ngư (Xem cá Hồ Tây). Bản tiếng Việt do Phan Kế Bính dịch có tên là Cảnh Hồ Tây.

Ông bèn lên tiếng ghẹo: 三木森庭,坐著好兮女子 – Tam mộc sâm đình, tọa trước hảo hề nữ tử.

Người con gái nghe vậy, đối ngay: 重山出路走來使者吏人 – Trùng sơn xuất lộ, tẩu lai sứ giả lại nhân.

Phùng Khắc Khoan hết sức kinh ngạc bèn nói tiếp: 山人憑一几,莫非仙女臨凡 – Sơn nhân bàng nhất kỷ, mạc phi tiên nữ tâm phàm.

c âu này có nghĩa: cô sơn nữ ngồi ở ghế, phải chăng là tiên nữ giáng trần? Nhưng lắt léo ở chỗ: chữ sơn và chữ nhân ghép lại thành chữ tiên . Chữ bàng có bộ kỷ . Chữ nhất và chữ kỷ ghép lại thành chữ phàm .

Cuộc tái hợp với Đào Lang- Người chồng kiếp trước

Hiện nay những câu đối, những dấu tích về 2 lần gặp gỡ tại Lạng Sơn và Phủ Tây Hồ còn lưu lại ở Đền Mẫu Đồng Đăng (nơi Phùng Khắc Khoan gặp Liễu Hạnh lần đầu) và Phủ Tây Hồ (lần gặp thứ hai)

Sau khi hóa về trời,do vẫn còn tâm nguyên giúp đời nên Tiên Chúa khẩn thiết xin Ngọc Hoàng Thượng đế cho trở lại cõi trần gian. Ngọc Hoàng Thượng đế lắng nghe và hiểu rõ tất cả. Ngài cho gọi hai thị nữ tin cậy là Quỳnh Hoa và Quế Hoa bảo cùng đi với Tiên Chúa.

Những sự việc ấy lọt đến tai vua Lê chúa Trịnh. Hai vị vua chúa cho rằng trước kia tiên vương thả “yêu nữ” ra là một sai lầm, bây giờ đã đến lúc cần phải thẳng tay trừng trị. Bởi vì không thể có luật lệ nào khác ngoài luật lệ của vua chúa và ai muốn làm gì cũng không được tự quyền. Thế là hai vị cho triệu hồi các thuật sĩ tài giỏi trong nước đến kinh đô trong đó có Tiền Quân Thánh (vốn là tướng nhà trời, do mắc lỗi, đã bị đày xuống trần làm con trai thứ ba của một vị thượng sư, sư tổ của phái Nội đạo tràng), giao cho dẫn một đội quân hùng mạnh, đến thẳng miền Phố Cát để đánh dẹp.

Biết là không thể chống cự lại được, Tiên Chúa bảo Quỳnh Hoa, Quế Hoa tìm cách trốn đi, còn tự mình cũng hóa phép thành đứa trẻ, rồi lại hóa phép thành con rồng có vẩy vàng vẩy bạc múa lượn trên không.

Lễ hội

Tiền Quân Thánh lúc ấy ngồi trên voi chín ngà niệm thần chú tung lưới sắt ra chụp lấy. Tiên Chúa bị bắt rồi hiện nguyên hình trở lại.

Cung thờ Sơn Trang trong Phủ Tây Hồ

Lễ hội Thánh Mẫu Liễu Hạnh hàng năm được tổ chức vào ngày 3 tháng 3 Âm lịch – ngày giỗ của bà.

Địa điểm là:

Đền Sòng Sơn ở đường Hàng Bột, Hà Nội

Lễ hội thường kéo dài vài tuần lễ. Riêng lễ hội Phủ Dầy, còn gắn liền với Hội chợ Viềng, họp vào ngày 7 tháng giêng./

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Tứ phủ công đồng hay Tứ phủ là một tín ngưỡng nằm trong của tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam. Tứ phủ bao gồm:

  • Thiên phủ (miền trời): mẫu đệ nhất (mẫu Thượng Thiên) cai quản bầu trời, làm chủ các quyền năng mây mưa, gió bão, sấm chớp.
  • Nhạc phủ (miền rừng núi): mẫu đệ nhị (mẫu Thượng Ngàn) trông coi miền rừng núi, ban phát của cải cho chúng sinh.
  • Thuỷ phủ (miền sông nước): mẫu đệ tam (mẫu Thoải) trị vì các miền sông nước, giúp ích cho nghề trồng lúa nước và ngư nghiệp.
  • Địa phủ (miền đất): mẫu đệ tứ (mẫu Địa Phủ) quản lý vùng đất đai, là nguồn gốc cho mọi sự sống.

Tam phủ và Tứ phủ Hát Chầu Văn

Tứ phủ được thờ tại hầu hết các chùa chiền ở miền Bắc Việt Nam. Tại điện Hòn Chén ở Huế, Thiên Y A Na, nguyên là một nữ thần của người Chăm, được nhập vào hệ thống tứ phủ và thờ làm Mẫu Thiên . Trong khi đó, nhiều tài liệu cho rằng ở miền Bắc, Mẫu Thiên lại là Liễu Hạnh Công chúa.

Đó là hình thức hầu đồng với 36 giá chầu:

Thỉnh Mẫu Và Quan Đệ Nhất

【#3】Mẫu Bài Văn Khấn Giỗ Tổ Dòng Họ Chi Tiết Nhất

Mỗi dòng họ sẽ có một người đứng đầu gọi là Trưởng Họ. Đây thường là người được hưởng hương hoa của tổ tiên nên cần phải gánh vác trên vai trách nhiệm to lớn là chăm lo tới việc cúng giỗ của dòng họ.

Vào ngày giỗ, con cháu trong dòng họ sẽ đều có trách nhiệm phải đóng góp giỗ để làm nên một buổi cúng lễ đầy đủ, đầm ấm và trọn vẹn nhất. Đây cũng là ngày những người con ở xa có cơ hội được tụ họp, quây quần bên mâm cơm cúng tổ tiên. Trong ngày này, trưởng họ sẽ là người được ủy quyền để tiến hành đọc văn khấn giỗ tổ dòng họ với mục đích để thỉnh các vị tổ tiên về ăn giỗ cùng con cháu trong dòng tộc mình.

2, Nghi thức cúng giỗ tổ dòng họ như thế nào ?

Việc thực hiện cúng lễ giỗ tổ dòng họ được thực hiện phải tùy theo từng trường hợp cụ thể, cảnh ngộ cũng như phong tục tập quán của từng vùng miền mà được áp dụng sao cho phù hợp nhất.

Ngày nay, nghi lễ cúng tế này đã được chuyển dịch thành nghi thức tưởng nhớ tới công ơn của các vị tổ tiên như: đọc tiểu sử, công đức các ngài để làm lễ dâng hương, hoa cũng như tiến hành đọc văn khấn giỗ tổ dòng họ. Khi kết thúc buổi lễ giỗ tổ dòng họ thì vị Trưởng Họ cùng các vị cao lão trong họ sẽ đứng lên tổng kết tại những điều còn tồn đọng trong năm qua cũng như đưa ra mục tiêu, phương hướng giải quyết trong năm mới. Đồng thời, trưởng họ cũng sẽ đưa ra những lời kêu gọi, khuyên răn con cháu để tích cực học tập, rèn luyện cũng như tích đức trong xã hội.

3, Lưu ý khi thực hiện lễ cúng giỗ tổ dòng họ

Cúng lễ giỗ tổ dòng họ cần lưu ý điều gì, chú ý những gì để việc thờ cúng Thần linh, gia tiên được trọn vẹn, chỉnh chu nhất là câu hỏi của nhiều người. Theo đó, sau đây là 1 vài những lưu ý được Gốm sứ Bát Tràng 360 tổng hợp lại cho bạn đọc quan tâm tham khảo.

– Hương hoa quả sử dụng cho lễ cúng giỗ tổ phải là đồ tươi, mới. Nên sử dụng các loại quả có hình tròn, màu sắc tươi tắn, tránh những loại quả có gai mang hình sát khí

– Trưởng họ nên thống nhất với các thành viên khác trong dòng họ về thời gian tiến hành lễ cúng, khách mời và thực đơn trong buổi lễ

– Lên kế hoạch chi tiết trước buổi cúng giỗ để mọi việc được suôn sẻ, trọn vẹn

– Trưởng họ nên soạn sẵn bài văn khấn giỗ tổ dòng họ hoặc các đoạn đọc về công ơn, thứ tự, năm sinh của các bậc tiên tổ.

4, Văn khấn giỗ tổ dòng họ

Xưởng sản xuất số 1: Xóm 1, Giang Cao, Bát Tràng, TP Hà Nội, Việt Nam

Xưởng sản xuất số 2: Lô B14 – Cụm làng nghề sản xuất tập trung Bát Tràng – Gia Lâm – Hà Nội

Trên Bàn Thờ Gia Tiên Có Mấy Bát Hương Là Chuẩn Giá Bộ Đồ Thờ Bằng Sứ Bát Tràng Đầy Đủ Bao Nhiêu Tiền?

【#4】Văn Khấn Bài Cúng Thất

  • Cúng thất là một nghi lễ Phật giáo thỉnh thoảng tôi cũng hay được mời tham dự nơi những ngôi chùa, do chư tăng cử hành. Nếu những nghi lễ khi tang lễ có thể có mặt nhiều người ngoài gia đình, họ hàng, thì cúng thất thường chỉ bao gồm những người thân trong gia đình người quá cố, và một số ít họ hàng thân thuộc, cúng thất có thể được cử hành tại gia với những nhà sư được mời tới nhà, nhưng thường được cử hành tại chùa, là nơi thờ phượng đặt tro cốt của người quá cố.
  • Cúng thất là một nghi thức quan trọng bên Phật giáo dành cho người mới khuất, cúng thất bao gồm 7 thất, mỗi thất 7 ngày, vị chi là 49 ngày kể từ ngày mất. Theo quan niệm truyền thống dân gian, con người khi sinh ra sau 7 ngày thì được một lạp, và khi mất sau 7 ngày thì được một kỵ. Mỗi lạp thì sinh ra một vía, còn mỗi kỵ thì mất đi một vía. Con người có 7 vía (chúng ta thường hay nghe nói réo 3 hồn 7 vía), cho nên người ta có lệ cứ 7 ngày sau khi mất cúng một lần, gọi là cúng thất, tất cả bao gồm 7 thất, thất cúng cuối cùng gọi là chung thất, trọn 49 ngày,
  • Trong kinh Địa Tạng của Phật giáo, có nói đến trong 49 ngày nếu tạo được nhiều phước lành cho người đã khuất, thời có thể cứu người đã khuất khỏi đọa vào chốn ác đạo, và được sinh lên cõi thiện. Đối với thân quyến hiện tại cũng được nhiều phước lành. Cứ 7 ngày như thế là một tuần chay, cúng 7 tuần chay trọn 49 ngày gọi là “Thất thất lai tuần”. Như chúng ta đã biết triết lý Phật giáo tin rằng khi chưa dứt khỏi luân hồi, thì con người luân hồi trong lục đạo, gồm 3 ác đạo là Súc sanh, Ngạ quỷ, Đia ngục, và 3 thiện đạo là Cõi người, A tu la (Phi thiên), và Thiên.
  • Tín ngưỡng Phật giáo tin rằng trong vòng 49 ngày sau khi mất (Thân trung ấm), là thời gian hồn phách của con người chờ được xem xét để tái sinh trong lục đạo (một trong sáu cõi kể trên). Nếu thực vật chỉ có một phần sinh hồn, động vật (các loài vật) có sinh hồn và giác hồn, thì con người có sinh hồn, giác hồn, và linh hồn (3 hồn 7 vía).
  • Trong vòng 49 ngày mất chúng ta thường thấy mỗi ngày người trong gia đình cúng cơm cho người đã khuất, cúng cơm này là cúng cho người đã khuất hưởng khi chưa biết sẽ về đâu. Nhưng cúng thất không phải là cúng cho người đã khuất, mà đây là lễ vật dâng cúng lên chư Phật, Bồ Tát để cầu xin vong linh được tiếp dẫn, siêu thoát về nơi Thiện đạo (3 cõi lành trong 6 cõi luân hồi).
  • Trong nghi lễ cúng thất được cử hành tại chùa tôi đã có dịp tham dự, thường thấy có một vài cho đến vài chục chư tăng cử hành lễ, tùy theo yêu cầu của gia chủ. Như vào dịp An cư kiết hạ vừa rồi, nhân có các chư tăng về an cư, tại một Tu viện Phật giáo tôi đã được tham dự một lễ cúng chung thất có đến 50 chư tăng hành lễ, rất trang trọng và ấn tượng. Tôi cũng thường thấy trong nghi lễ có phóng sinh chim chóc để cầu phước cho người quá vãng.
  • Nhân đây tôi cũng muốn nói thêm về một tục lệ dân gian chúng ta thường thấy trong đám tang tôi đã đọc được trong sách vở, là tục đội mũ rơm, thắt lưng bằng dây gai dây chuối, và chống gậy tre hay gậy vông. Nguyên do của tập tục này lại chính là để bảo vệ an toàn cho thân nhân người quá cố. Ngày xưa đường xá chật hẹp, người quá vãng thường được an táng nơi đồng ruộng, hay trên núi. Đường xá đi lại trơn trượt, khó khăn, đã có trường hợp sau mấy ngày tang ma mệt mỏi, người đi đưa mất thăng bằng ngã đập đầu hay rơi xuống vực, cũng có khi con cái quá thương tiếc tự đập đầu gây thương tích. Để tránh những điều đó người ta mới làm ra những chiềc mũ bện bằng rơm cho người thân đội (tạo an toàn khi va đập giống như mũ bảo hộ chạy xe gắn máy bây giờ). Áo tang lụng thụng dễ vướng víu vấp ngã nên được buộc lại bằng giây chuối, giây lạt, còn cây gậy chống cũng có tác dụng đi lại thêm vững chắc trên đường trơn trượt hay đường núi gập ghềnh. Tục phân biệt tang cha chống gậy tre còn tang mẹ chống gậy vông.

Bài văn khấn, cúng làm tuần ( cúng vong ) hoặc lễ cúng 7, 14, 21, 28, 35, 42, 49, 100 ngày người mất. khấn vái cúng thất tuần người mới mất

    VĂN CÚNG LÀM TUẦN

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    ……………….tỉnh,……………..huyện,……………….xã,………….thôn, ………….xứ chi nguyên. Tuế Thứ………..niên,………………….ngoạt,………………..nhựt Tư nhơn trưởng nam…………..Hiền thê………………cùng toàn gia đẳng. Cung lễ……………phụ thân ( mẫu thân)…………trọng phủ………………..trọng nương;……………..quận. Từ trần ngày……….tháng……….năm……….hưởng………tuổi. Thành tâm cẩn dụng…hương đăng hoa quả thanh chước thứ phẩm chi nghi. Cẩn ủy hiếu bái…………………..cẩn dĩ phỉ nghi. ĐIẾU CÁO VU – Thiết niệm ngài (1)Thái Quản nhờ ơn độ dẫn vong linh phục vị vong chánh hồn chi vị. – Cung niệm hiển khảo (tỷ) …….trọng………..quận phần hồn chi vị lễ tuần linh. Toàn gia đẳng xin bái khấp phụ (mẫu) thân. Thương thay xin thượng hưởng lễ (2) sơ tuần thất nhựt tuần (3) 7 ngày. Qui linh an lạc miền tiên cảnh. Xin phò hộ con cháu gia nương bình an.

    HIẾU TƯ CẨN CÁO DI

Nên Cúng Cơm Cho Người Chết Như Thế Nào Và Trong Bao Lâu?

    Theo nhà Phật giáo lý “sanh lão bệnh tử” là quy luật tự nhiên trong quá trình duyên khởi, giúp cho con người có ý thức hệ về cuộc sống ra sau cho tốt, sống như thế nào có ích lợi cộng đồng và theo quy luật tất yếu nghiên cứu tu hành giải thoát khổ đau sanh tử luân hồi. Sanh lão bệnh tử là quy luật tất yếu nhưng không có tín điều sắp sẳn, được áp dụng cho chúng sanh chung và con người trên hành tinh, có công năng giúp cho con người giác ngộ. Sanh trụ dị diệt là lực đẩy, không ai có thể tránh những quy luật cộng đồng. Sống chết là việc có sẵn trong cuộc đời, từ giáo lý nầy mà nhà Phật cân nhắc để chúng sanh giác ngộ, hướng dẫn chúng sanh nhất là con người có thể vượt quy luật sống chết bằng cách sống theo đời sống tâm linh. Vì tâm linh thì vô biên, vô bờ bến, không sanh không diệt, tức là không có sanh ra nên không có chết đi và không có tìm kiếm sự tồn tại nên không trốn chạy sự hủy diệt, bất sanh bất diệt là thường trụ niết bàn. Phật là tĩnh thức giác ngộ. giác ngộ thì không còn nằm trong quy luật sanh tử, thành, trú, họai, không nữa. Tuy nhiên, nhà Phật cũng dạy, con người do mang thân tứ đại, gồm đất, nước, lửa, gió, thêm cả thức đại, không đại, nên có hòa hiệp, có tan rã, có hiện tiền có họai diệt, tức có sống, có chết. Con người từ Vua đến Quan đến hàng thứ dân, dân giả giàu nghèo khi hưng thời thì oai phong lẫm liệt, lúc già cỗi hưu trí ngẫm nghĩ lại cuộc đời, có sự tiếc nuối sợ chết, sợ tử thần đến viếng nhà thì không ổn. Từ khi có giáo lý Đức Phật con người không còn kinh hoàng trước cái tham sống sợ chết nữa.

Phong tục tập quán

  • Phong là phong hóa, một thói quen nhất định của một dân tộc, của người địa phương trở thành nếp văn hóa chung của một dân tộc. Tục là tuc lệ những thói quen không bỏ được nhự tục ăn trầu, hút thuốc, tục đám ma chay rườm rà…Tuy nhiên, có thời điểm những phong tục trở thành lạc hậu, chỉ còn là một nếp văn hóa của một dân tộc địa phương nào đó trong đời người. Tập quán là thói quen của con người trong một vùng miền hay một quốc gia, tập quán con người trong một sớm một chiếu khó có thể bỏ được và nếu có bỏ chỉ là thời điểm lịch sử, ví như người dân quê Việt Nam đến mùa cấy thì có người đứng đầu trong “vạn cấy” thổi tù và để gom công, Tuy nhiên, ngày nay có thể bỏ khi người nông dân phục vụ cho nông trường làm tính giờ, không tính công.
  • Phong tục tập quán về việc tổ chức tang lễ của người Việt. Nói đến tang lễ là nói đến chết, nói đến chết là nói đến việc làm đám tang (tang lễ). Chúng ta sẽ tìm hiểu một số lễ tang của các nước lân bang và Việt Nam, sau đó sẽ bàn đến chi tiết khi gia đình hữu sự và hậu sự thực hiện các nghi cúng cho đủ lễ
  • Lễ tang cho gia đình Phật tử theo hệ thống Phật giáo Nam tông, cụ thể như ở vương quốc Lào là nước thuộc quốc giáo Phật giáo nguyên thủy. Trong gia đình có người qua đời tất cả đều vui, hát ca ngâm vịnh, rượi thịt, vui vì người thân sẽ chuyển sang kiếp khác sung sướng hơn, bà con hàng xóm láng giềng tụ tập phụ khâm liệm người chết, đặt áo quan vào một gốc nhà, cho hàng xóm láng giềng đến cúng lạy. Mọi người đến viếng lễ tang được mời sang nhà khác đãi ăn uống, lễ tang được tổ chức ba ngày, hoặc bốn ngày tùy theo quý Sư phán định. Ngày cuối cùng tang chủ và mọi người đem đi hỏa thiêu, sau đó hốt tro cốt đem vào chùa gần nhất phụng thờ. Từ đó mỗi năm gia đình đến thăm cúng giỗ, cúng dường chùa (Bài học thêm – sách địa lý Lớp Đệ Nhất 1969 – nói về phong tục lễ táng của người Lào)
  • Lễ tang xứ Tây Tạng-Trung Quốc, là xứ sở có đá không có đất, không có rừng, không có gỗ làm củi. Gia đình có người qua đời, sau khi làm lễ tang xong, đội mai táng đem người chết ra bãi tha ma, phân thây người chết bằng cách, chặt từng mảnh nhỏ thân thể người chết, bằm nhỏ cho loài chim kên kên đến tha mổ ăn cho đến khi hết những phần thịt xương của người chết mới thôi, phong tục nầy gọi là “điểu táng” (Ánh sáng Á châu – Đoàn Trung Còn)
  • Lễ tang theo Phật giáo Hòa Hảo ở An Giang, miền Tây Nam phần Việt Nam. Ban Tổ chức thường đến tụng kinh cầu an lúc sanh tiền, đến khi chết tụng kinh cầu siêu cho vong hồn người chết nghe kinh, nghe niệm Phật mà siêu thoát về với Phật A Di Đà. Lễ Tang chỉ tổ chức một ngày từ sáng đền chiều, thì động quan an táng gọi là “tử là táng”. Lễ tang theo đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, Phật giáo Tứ Ân ở Ba Chúc, huyện Tri Tôn, Nhà Lớn Ông Trần ở Long Sơn, Bà Rịa thì con người sau khi chết thân xác được bó trong 7 “nẹp tre” khiêng đem đi chôn trong vòng một ngày đó. Điều ngày có nghĩ tang lễ cũng theo phung tục tập quán “tử là táng” chết là chôn cất, không coi ngày giờ năm tháng xấu hay tốt lành chi cả (Tổ đình Thành An – Thích Minh Tâm). Tục nầy giúp cho con người tự tin hơn vì không tin vào lý số, nên không có ngày kỵ, không hao tốn tiền của, không sát sanh hại vật.

Lễ phạn hàm

  • Những việc làm trong lễ tang thì nhiều, thật là phức tạp. Một Thầy cúng khi lãnh đàm quý Thầy thực hiện từng chi tiết nhỏ không sai sót chút nào. Khi người thân trút hơi thở, gia quyến sẵn sàng làm các việc gần gũi người thân, như làm lễ hú hồn, lễ đốt đồ cũ. Người Phật giáo thì dọn dẹp hết tất cả các vật dụng của người chết, vật dụng của gia đình, ghế đẳng sắp xếp có thứ lớp để mọi người đi tới lui không dụng chạm khua động lớn, làm chấn động người chết, thần thức nổi sân sẽ bị đọa lạc. Gia đình thỉnh đạo tràng nam nữ Phật tử chùa gần nhất đến hộ niệm, niệm Phật đến qua khỏi 8 tiếng đồng hồ đến khi thân xác hoàn toàn không còn cảm giác “sống” đau đớn, hoặc cho đền khi làm lễ khâm liệm.
  • Lễ phạn hàm: Tiếp theo là làm lễ phạn hàm, hay ngậm hàm, phạn là lương thực cơm gạo, hàm là ngậm, tức là bỏ một nắm gạo và ba đồng tiền (đồng kẽm, đồng chinh) vào miệng người chết. Gạo để linh hồn người chết ăn, khỏi phải thành ma đói ( ngạ quỷ). Tiền dùng để đi đò hay qua cầu sang bên kia thế giới. Những người lúc sống ăn ở bạc ác thì lúc chết linh hồn phải qua cầu Nại hà. Người lương thiện được qua cầu Kim ngân. Ngày xưa nhà giàu dùng gạo và vàng, ngọc để làm lễ phạn hàm. Ở nông thôn miền Nam để trà, gạo, có khi là vài phân vàng, nếp sồng, đắp mặt người chết bằng tờ giấy trắng hoặc giấy quyền, loại giấy hút thuộc rê (vấn) (Phong tục tang ma – Nguyễn Dư)

Ba vắt cơm để trên đầu người chết

  • Cúng Phía đầu nằm người chết có đặt cúng 3 vắt cơm, 4 cây đền sáp đặt ở bốn gốc, không dâng hương. Có nơi dâng hương do người nhà không biết đó thôi vì dâng hương có mùi thơm bắt buộc mọi người phải ngửi, nếu ngửi thì ngửi luôn mùi xác chết, bất tiện mất vệ sinh quá, nên không dâng hương.
  • Lệ cúng 3 vắt cơm: Do quý Thầy cúng đã từng làm và chuyền nối nhau thực hiện từ lâu đời, 3 vắt cơm là biểu tượng của tam tài “Thiên Địa Nhơn” (theo Nho gia, Đạo gia), lúc người chết trở về với linh khí tinh nguyên của trời đất. Ba vắt cơm sau khi tẩm liệm xong đa phần các gia đình tin tưởng đem treo ở giàn bếp. Khi nào người nhà có bệnh hoạn hiểm nghèo đem ra đốt tán nhuyễn cho uống sẽ hết bệnh. Có nhiều nơi người thân quý mến người chết đem ăn luôn ba vắt cơm để thể hiện tình cảm với người chết, việc làm nầy quá mất vệ sinh dễ sanh bệnh đối với người ăn. Về sau những tu sĩ Phật giáo tiến bộ, tu sĩ chuyên tu lần lượt bỏ hình thức đặt ba vắt cơm cúng trên đầu người chết. (tác giả nhận định không phải truyền thống nhà Phật)
  • Đặt nải chuối xanh: Theo xưa có đặt nải chuối dằn bụng phòng linh miêu nhảy qua người chết sẽ hồi dương, người cõi âm nhập tràng, thành quỷ nhập tràng. Ở một thuyết khác câu chuyện bất đầu từ chàng trai sống chung với người mẹ già. Một ngày nọ chàng trai này lên rừng đốn và bất ngờ thấy cây chuối già xanh có hoài gần chín nên đã chặt đem về nhà để chín đem đi bán và ăn. Thế là chàng trai đã chặt buồng chuối này đèm về nhà. Khi đem về tới nhà thì không biết để đâu, cất đâu sợ mẹ già ở nhà thèm và đói ăn hết làm sau. Vì vậy chàng trai mới nghĩ ra cách là phải treo buồng chuối này lên cao để bảo quản. Thế là qua ngày hôm sau chàng trai lên rừng đốn củi tiếp thì ở nhà người mẹ chờ con về mà không thấy về trưa rồi nên cũng đói bụng thấy chuối con trai mình treo trên nhà bếp đã chín nên có ý định lấy chuối để ăn. Không ngờ là trèo lên thì bất ngờ ngã xuống bà cụ chết. Khi chàng trai về đến nhà thì gọi Mẹ ơi! Mẹ ơi! …Không nghe mẹ trả lời chàng trai mới vào nhà thì bất ngờ thấy mẹ mình đã chết vì trèo lên để lấy chuối ăn cho đỡ đói. Thế là chàng trai mới trách mình là tại mình mà mẹ mới chết. Khi mẹ chết trong nhà không cò gì hết chỉ có buồng chuối nên cậu ta mới lấy nải chuối còn xanh để trên bụng Mẹ mình nghĩ rằng mẹ mình đói bụng mà không ăn được nên bằng cách để trên bụng mẹ.. Sự tích về nải chuối để trên bụng người chết là vậy (trang mạng Văn hóa xã hội – tôn giáo, tâm linh – Đào Minh Định)

Lễ nhập quan, thành phục, thọ tang

  • Nhập quan: Linh cữu được khiêng ra đặt giữa nhà, người chết ngoài đời do nhà đồ làm tất cả các việc. Việc tẩn liệm bằng trà, cách đây 60 năm nhà đồ không có trà, nên đồ tẩn liệm bằng rơm quấn trong giấy mỏng gọi là giấy súc. Vật dụng nầy ngày nay không còn, mà để trà rồi để thêm những đồ cũ, vật dụng của người chết được đem theo. Kế đến đậy nắp áo quan, gắn sơn chai, đóng lại theo kiểu mang cá hoặc đóng đinh cho kín.
  • Thành phục: Là lễ phát tang, cũng là lễ chính thức của đám tang, phát tang, giúp cho các thành viên vợ chồng, dâu rể con cháu trực hệ trong gia đình thọ tang người chết, ông bà cha mẹ. Thọ tang là chịu tang đối với những người lớn hơn mình, hay ngang mình là vợ chồng không chịu tang với người chết thấp hơn mình và có lễ cúng cơm cho người chết.
  • Thọ tang: Tang ai nấy mặc. Có gia đình sang giàu thì may đồ tang bằng vải tốt. Có gia đình nghèo may đồ tang bằng vải bô, áo bả hài gai, vải mùng, vì nghĩ đồ tang chỉ có mặc trong thời gian ngằn rồi đốt, nên đa phần các gia đình không quan tâm vải tốt xấu lắm. Trong thập niên 50 Thầy cúng thường lấy đồ xả tang của gia chủ may quần áo rồi nhuộm lại màu đen rồi mặc.
  • Trong giới tu sĩ xuất gia thọ tang màu vàng để nói lên đây là việc thọ tang người xuất gia, xuất thế gian. Tang trong đạo không phải như con cháu thọ tang cha mẹ ngoài đời nữa, mà đệ tử thọ tang Thầy Tổ, những bậc Cao Tăng, do đó chư Tăng Ni thọ tang màu vàng là vậy.
  • Thứ bậc thọ tang: Theo thứ bậc trong gia đình mà thọ tang: – Con trai, con gái, rễ, dâu thọ tang trắng – Trai trưởng nam thọ tang trắng có chống gậy tang cha chống gậy trúc (tròn), tang mẹ chống gậy vông (vuông), đội bích cân – Anh hoặc các em của người mất thọ tang trắng – Cháu nội thọ tang trắng có chấm đỏ – Cháu ngọai thọ tang trắng có chấm xanh – Cháu cố thọ tang trắng có chấm vàng – Cháu kêu bằng chú thọ tang trắng. Trong thời gian thọ tang, con cháu đi làm ăn hay đi làm việc đều có mang tang màu đen hay màu trắng, tùy theo màu áo mậc trong mình kich thước 2 cm x 1,5 cm.

Cúng cơm trong lễ tang:

  • Cúng cơm: Phải cúng như thế nào cho đúng, tại bàn vong linh có cúng 3 chén cơm, đồ ăn, hương hoa trà quả. Cơm gồm một chén giữa đầy cúng cho vong linh người mới chết, hai chén hai bên thì hơi lưng để hai bên, biểu hiện hai bên vai giác, kiến cho những người hầu cận vong linh Thầy cúng gọi là Tả mạng thần quang, Hữu mạng thần quang. Có nơi cúng 3 chén, có nơi cúng 6 chén, không nên để 5 chén là sai. Ý nghĩa chén cơm ở giữa có cắm đôi đũa, hai chén cơm hai bên mỗi chén một chiếc đũa là cúng cơm cho vong linh (ma mới) mới ăn. Tuy nhiên, nếu hai bên để mỗi nơi một đôi đũa nữa thì các cô hồn (ma cũ) sẽ đến dành giựt, vong mới không được ăn, nên có thành ngữ “ma cũ ăn hiếp ma mới” là vậy. Theo quý Thầy cúng thì nghi thức nầy không phải của Phật giáo, mà chỉ làm theo tục lệ tín ngưỡng dân gian từ xa xưa lưu truyền lại.
  • Thuyết khác, ý nghĩa cúng 3 chén cơm chén giữa đầy dành cúng cho vong linh mới chết, có cắm một đôi đũa. Hai chén hai bên có cắm mỗi chén một chiếc đũa dành cho người giữ vong linh ăn chậm hơn vong linh chánh, nếu không thì vong linh chánh sẽ bị dành giựt, ăn không kịp. Đây cũng là tục lệ văn hóa vùng, tục cúng kiến riêng tại các địa phương trong dân gian Trung quốc có ảnh hưởng đến tục lệ Việt Nam (theo Đại Đức Thạc sĩ Thích Thiện Huy các tục lệ trên chỉ có truyền khẩu trong dân gian, xưa bày nay vẽ chứ không có trong nhà Phật)
  • Theo tuc miền Trung trên nóc áo quan bày một bát cơm úp, cắm một chiếc đũa vót cho sơ ra như gai nhọn (có nơi gọi là chiếc đũa bông), một quả trứng luộc, ba nén hương. Bát cơm, quả trứng, có thể là bữa ăn để linh hồn người chết khỏi trở thành ma đói. Nhưng chiếc đũa có gai nhọn thì chắc chắn không phải là để dùng ăn cơm. Không ai có thể ăn với một chiếc đũa như thế. Chiếc đũa bông nhiều gai nhọn có ý nghĩa không cho giặc cướp lấy cơm của người chết và trừ ma quỷ hiếp đáp vong linh (Phong tục tang ma – Nguyễn Dư). Đến ngày động quan, Thầy cúng kêu làm lại chén cơm có để trứng gà luộc mới, một đôi đũa bông, chén cơm mới để lại trên nắp áo quan, đến khi đem ra huyệt chôn cất xong, Thầy cúng hướng dẫn để chén cơm, trứng luộc, đôi đũa bông trên nấm mộ, nhiều nơi còn đặt thêm mớ bùi nhùi. Tục nầy mang ý nghĩa chúc tụng: “mớ bùi nhùi tượng trưng cho thế giới hỗn mang; trong hỗn mang hình thành nên thái cực (bát cơm); thái cực sanh ra lưỡng nghi (đôi đũa). Có lưỡng nghi (âm dương) là có sự sống (quả trứng)”.
  • Thầy cúng: Xưa chỉ một, nay có rất nhiều Thầy dự có tổ chức thành Ban gọi là Ban kinh sư từ 4 đến 6, hoặc 8 vị có trách nhiệm điều hành đám tang. Ban Kinh sư hướng dẫn như thế nào làm như thế nấy, Thầy cúng khi lãnh đám tang có trách nhiệm cúng cơm vào buổi sáng, trưa, chiều, có nơi cúng trưa và chiều.
  • Tu sĩ Phật giáo, người xuất gia, Sa môn viên tịch chỉ cúng cơm ngọ thời, không cúng cơm chiều.

Lo hậu sự là báo hiếu

  • Hậu sự là lo việc báo hiếu, cúng kiến người chết sau lễ tang. Trong đời dù Bạn có làm việc quan được trọng thị ở thế gian đến đâu, nhưng không thể bỏ bê việc cúng kiếng ông bà cha mẹ từ lúc người còn sống đến những ngày cuối cùng cho đến khi qua đời. Lễ tang tuy không bận rộn lắm nhưng được ràng buộc bởi đạo hiếu nghĩa, đạo làm con cháu với người trên trước, đạo làm người đối với người đã qua.
  • Ngoài đời những người có hiếu đạo bao giờ cũng được tôn kính trọng dụng, mọi người tin tưởng, là chỗ dựa tinh thần của gia đình. Đôi khi lan tỏa đến xã hội và là người tiêu biểu trong xã hội xóm làng. Người xưa tôn trọng đạo hiếu, ông bà cha mẹ qua đời, phận làm con có khi là con trai trưởng nam, hoặc con lớn, con trai con gái lớn cạo tóc để thọ tang thờ cúng người thân qua đời trong thời gian 3 năm. Có khi mỗi đêm trải chiếu, nằm cạnh bàn thờ vong để dâng hương cho vong linh, hoặc cũng có khi cao đầu, ăn chay trường ba năm để cầu cho người qua đời được gần gủi Phật, nghe kinh mau siêu thoát luân hồi, tái sanh vào chỗ tốt lành.
  • Theo Hiếu kinh của Mạnh Tử dạy: khi cha me qua đời, dù cho con có làm quan lớn ở cấp bậc nào đi nữa cũng phải mặc áo bả hài gai, cất chòi ngoài mộ để cúng kiếng, đêm nằm canh giữ quạt mồ cha mẹ đúng ba năm cho mồ khô ráo để tỏ lòng tôn kính (theo đạo hiếu. Khổng giáo, Lão giáo).
  • Trong Đại Luật mặc dù chuyên hoằng giới nhưng Đức Phật cũng thường cân nhắc môn đệ xuất gia cũng như tại gia giữ đạo hiếu. Kinh Phạm Võng Bồ Tát giới Đức Phật dạy: “Hiếu thuận đối với cha mẹ, Sư trưởng, chư Tăng, đối với Tam bảo, sự hiếu thuận phù hợp chánh pháp chí thượng, sự hiếu thuận ấy gọi là giới, cũng gọi là năng lực chế ngự, đình chỉ mọi sự tội lỗi”.
  • Con cháu nhà Phật muốn báo hiều trọn vẹn thì tự phát tâm tụng kinh Bộ cầu nguyện cho ông bà cha me tại gia lúc sanh tiền cũng như khi qua đời, phát nguyện ăn chay trường, hoặc phát tâm rước chư Tăng Ni đến tụng kinh Địa Tạng. Tùy theo hoàn cảnh kinh tế gia đình làm việc từ thiện xã hội giúp đỡ người nghèo giúp cho họ qua cơn họan nạn, làm việc phóng sanh, ấn tống kinh sách Phật giúp cho người cải ác tùng thiện, đi cúng thập tự cầu cho ông bà cha mẹ siêu sanh Tịnh độ đó mới là đạo hiếu của Nhà Phật và có kết quả thực tế. Đức Phật dạy: ” Hiếu với Mẹ Cha tức là kính Phật. Nếu ở đời không có Phật thì hãy khéo thờ cha mẹ. Khéo phụng thờ Cha mẹ như phụng thờ Phật vậy” (Kinh Đại Tập)
  • Nhân nói việc lễ tang và lo hậu sự là báo hiếu ông bà cha mẹ đã qua, Đức Phật còn quan tâm đến những lúc ông bà cha me tại tiền, khi cha mẹ còn làm con phải hết lòng hiếu thuận, niềm tin vững vàng với Thầy Tổ, Tam Bảo. Cho nên đạo Phật còn gọi là Đạo Hiếu…”

Cúng cơm sau lễ tang

  • Sau lễ tang mọi người đều mệt mỏi. Tuy nhiên, đối với người còn ở lại dù khổ đau bao nhiêu cũng phải tỉnh táo để lo việc cúng kiếng, các lễ cúng đối với vong linh. Nhất là lễ cúng cơm là lễ quan trọng trong đạo hiếu. Người có lòng hiếu thảo hay không phải xem cung cách đối xử của con cháu đối với người đã qua, ai hiếu thảo, ai không hiếu thảo. Lời Phật dạy: “vạn hạnh Bồ tát hiếu nghĩa vi tiên”, trong các hạnh Bồ tát thì hiếu đạo là việc trước tiên. Phật xưa thị hiện vao đời cứu chúng sanh, có khi thị hiện làm con, lúc cha mẹ mù lòa, muốn đi đâu con phải gánh cha gánh mẹ giúp cha me đi đây đi đó cho thỏa dạ. Cha mẹ đói khát con lóc thịt thân mình cho cha mẹ ăn, để đổ đói qua ngày (Kinh Đại phương tiện Phật Báo Ân – bản dịch HT Thích Trí Tịnh).
  • Việc lễ tang ngày nay dù chúng ta biết có nhiều hủ tục cần bỏ bớt, nhưng những việc còn lại phải làm, làm cho chí vóc, làm cho đầy đủ không được sai sót, như:
  • Cúng an sàng: Là an vị vong linh, sau khi hạ huyệt chôn cất xong, đem vong vị về tại nhà, thiết lập bàn thờ vong, an sàng linh vị, cũng gọi cúng an sàng. Bàn thờ nầy dành để cúng vong, cúng cơm sau lễ tang. Việc cúng kiếng nầy được thực hiện đến khi mãn tang (mãn khó), sau đó thỉnh vong linh thờ cúng chung với bàn thờ cửu huyền (thờ cúng ông bà) và mọi năm cúng giỗ tưởng niệm người đã qua.
  • Cúng mở cửa mộ: Còn gọi là mở cửa mả hay khai mộ, sau lễ an sàng, tức là từ khi chôn cất đến ngày thứ ba mọi người trong gia đình ra thăm mộ có đem theo lễ vật cúng, như: thang 9 bậc đối với người nữ, thang 7 bậc đối với người nam. Cây thang 5 tấc tượng trưng cho ngũ thường, 3 ống trúc đựng gạo nước tượng trưng cho tam cang, gà con kêu chi chít, tiếng kêu của gà con làm cho vong linh đã chết sau 3 ngày tỉnh thức biết đường lên khỏi mộ, cây mía lau tượng trưng cho công lao của cha mẹ lo cho con cái đến ốm o gầy mòn như cây mía, nhưng vẫn ngọt ngào với con. Ngoài các vật dụng đặc biệt trên còn có chè xôi, tam sên (hay tam sanh, gồm thịt, tôm, trứng luộc), trái cây, rượu, trà, gạo, muối, giấy tiền vàng bạc, trầu cau…Ở nhà cúng 4 mâm cơm, cúng ông bà, đất đai, cô hồn, cúng vong.
  • Cúng thất: lấy dấu mốc ngày người chết là ngày thứ nhất đến ngày thứ bảy làm lễ cúng thất, cúng tuần thất, 7 ngày, Nghi thức cúng thất bắt đầu từ buổi chiều ngày trước khoảng 16 giờ, tức ngày còn sống, rước Thầy đến cúng khai kinh, có sắm hương hoa trà quả, chè xôi, cúng tất cả các bàn thờ trong nhà, như cúng ông bà, cúng đất đai, cúng vong linh người chết và một mâm cúng cô hồn. Ngày hôm sau huờn kinh, không có cúng cơm. Nghi thức các lễ cúng thất đều giống nhau.
  • Cúng 21 ngày: tức là cúng thất thứ ba, 7 x 3 = 21 ngày gọi là tuần tam thất
  • Cúng 49 ngày gọi là cúng thất thứ bảy 7 x 7 = 49 ngày gọi là cúng 49 ngày hay gọi cúng tuần chung thất
  • Cúng 100 ngày trong thời gian nầy từ khi người thân qua đời đến ngày thứ 100. Trong những lúc gia đình ăn cơm vào buổi trưa và chiều con cháu có để bát cơm trên bàn ăn và một đôi đũa, mời ông bà về ăn rồi mới ăn, gọi là trả hiếu ông bà cha mẹ, cho đến khi nào phôi pha sự đau buồn cuộc tử biệt sanh ly mới thôi.
  • Cúng giáp năm cũng gọi là cúng Tiểu tường.
  • Cúng mãn tang, cũng gọi mãn khó, cũng gọi là Đại tường… Các nghi cúng 21 ngày, 49 ngày, 100 ngày, cúng giáp năm, cúng mãn tang vẫn y như lễ cúng mỗi tuần thất, có khai kinh và huờn kinh.
  • Nghi thức cúng dành cho người xuất gia viên tịch hình thức như nhau, nhưng có khác nội dung do Ban kinh sư chịu trách nhiệm biên soạn.
  • Việc cúng cơm cho người chết ngoài thế gian ông bà già xưa quy định con cháu phải cúng cơm hằng ngày, trưa, chiều đủ 3 năm mới hết cúng. Ngày nay các Thầy cúng giảm chế bớt lý do con cháu đi làm ăn xa, người ở ngoai quốc, nhà đơn chiếc, nên chỉ còn cúng cơm đến 100 ngày thì ngưng. Rồi đến cúng tiểu tường, tròn một năm đối cha mẹ, người thân qua đời. Người Phật giáo, hoặc tu sĩ xuất gia, hàng giáo phẩm Tăng Ni trong chốn thiền môn, việc cúng kiếng dành cho các tu sĩ có phần trịnh trọng hơn nhiều. Các đệ tử thay phiên lo việc cúng cơm, làm các việc báo ân Thầy Tổ, nên việc cúng cơm được duy trì đến 3 năm mới không còn cúng nữa. Tuy nói 3 năm nhưng chỉ có 24 tháng là tới ngày cúng mãn khó, mãn tang, đại tường..Chúng ta cũng cần nên biết thêm việc tính ngày mãn tang, ngày giỗ chạp. Ngày cúng 100 ngày, cúng giáp năm, cúng mãn tang thì tính tháng nhuần, mặc dù có dư một tháng nhưng vẫn tính là 24 tháng, đàm giỗ thì tính nhuần, nhơn gian có câu : “đám giỗ tính nhuần, làm tuần tính đủ” là vậy.

  • Lễ tang là công việc quan trọng. Nhà có lễ tang thì mọi việc đều tạm ngưng, giảm bớt công việc ngoài xã hội để lo lễ tang cho ông bà cha mẹ. Đạo hiếu ở thế gian rất cần được phổ cập trong nhân gian thật nhiều, đem lại đạo đức hấp thụ thật nhiều cho con người, nhất là người hung ác hiện nay ngày càng nhiều. Phật giáo còn quan trọng hơn, nhất là đối với các bậc tôn túc Thầy Tổ, hàng giáo phẩm, nhưng không chú trọng nhiều về hình thức lễ tang mà chú trọng đến việc thác sanh cao đăng thượng phẩm, cao đăng bảo địa, cao đăng Phật quốc.
  • Việc tín ngưỡng các tập tục ma chay có ảnh hưởng nhiều theo tập tục từng vùng văn hóa của xứ sở Trung Hoa rộng lớn, ảnh hưởng mấy nghìn năm theo Mật giáo, đạo thờ cúng, tang chay của Khổng giáo, Đạo giáo cũng xuất phát từ Trung Hoa. Vì vậy, việc tổ chức lễ tang hiện nay ảnh hưởng nhiều tập tục của Trung Hoa kết hợp với tập tục của người Việt…Như vậy một lễ tang dành cho một người chết là một tập hợp những tập tục văn hóa nhiều miền vùng văn hóa khác nhau của các quốc gia đuợc giới thiệu tại một lễ tang “đúng nghĩa”. Chúng ta thấy có một sự áp đặt nặng nề bất công quá, rườm rà, tốn kém, tổn hao công sức tài sản tiền bạc của gia đình thật vô lý vô cảm.
  • Đối với Phật giáo khi trong nhà có người thân qua đời thì nên thực hiện lễ tang cho chu đáo giản dị nhưng không kém phần trang nghiêm, không giết mổ heo, trâu, bò, gà vịt, giảm bớt những hủ tục rườm rà hao tốn thời gian kinh phí, nên cúng cơm chay cho vong linh. Những nghi lễ vô lý như đốt vàng mã, để nải chuối xanh trên bụng người chết, khóc mướn, leo lên nóc nhà hú hồn, nhất là không nên để thời gian lễ tang quá lâu, không mở cửa mộ theo hủ tục vác mía lau, kéo gà, làm than 7 nấc, 9 nấc, cúng tam sên…. Những tôn giáo khác và các tôn giáo nội sinh như Cao Đài, Phật Giáo Hòa Hảo, Phật giáo Tứ Ân cũng làm tròn đạo hiếu, nhưng tổ chức lễ tang rất đơn giản.
  • Từ thập niên 60 đến nay, các Giáo hội Phật giáo tại Việt Nam, tông cũng như giáo từng kêu gọi thống nhất các nghi lễ trong cả nước, tiến đến giản dị hóa những tập tục lễ tang, những nghi không có trong Đạo Phật. Tổ chức lễ tang theo nghi lễ Nhà Phật gọn, giản đơn gọi là “tam nhựt bất cấm” hay “tử là táng” trong hai ngày nầy là nhanh gọn, không phải xem lịch số ngày giờ tốt xấu.
  • Từ lễ tang đến các việc cúng hậu sự theo xưa bày nay vẽ thì quá rườm rà, Sư có lời khuyên gia đình Phật tử chúng ta nên gởi vong linh vào chùa nghe kinh được siêu thoát. Thỉnh thoảng quý vị đến thăm ông bà vào các ngày lễ cúng tuần đầu, tuần tam thất, tuần chung thất, 100 ngày, giáp năm, mãn khó mà thôi chứ không đi cúng kiếng hằng ngày, hay hằng tuần trở ngại nhiều việc
  • Việc sanh là đến, đến đây từ mình, mang gánh nặng tham sân si, những gì hiện nay ta có, như: hạnh phúc khổ đau, nhiễm ô, bệnh hoạn, có đủ tiền tài danh vong, quyền thế, chức vị, vợ chồng con cái, gia cang sự nghiệp một gánh tình tang nặng nề vô cùng như núi tu di. Tử là đi, đi về với vĩnh cửu vô biên, đi về với không ta, bỏ tham sân si, không còn hình bóng của ta, không còn thân tứ đại giả danh của ta, đi về với hư vô, không cần phải xây lâu đài dưới âm phủ như các vua chúa, quan tham sợ mất của…Cuối đời phải để cho nhẹ nhàng mà quẳng gánh ra đi về cố quán, về với chính mình, về với Cực lạc Tây phương.

Hủ tục lễ cũ xưa bày

Nay xin đừng vẽ lại ngày tháng qua.

Chúng sanh: sanh, tử, bệnh, già,

Theo chi lệ cũ rườm rà tốn hao.

HT Thích Giác Quang

【#5】Chi Tiết Bài Văn Khấn Giỗ Tổ Dòng Họ Bạn Cần Biết

Chuẩn bị không gian để thờ cúng tổ tiên

Ý nghĩa quan trọng của việc cúng giỗ tổ dòng họ cần biết

Trong quan niệm của người Việt, gia đình luôn luôn có mối quan hệ ràng buộc với xã hội. Không những thế, gia đình còn có mối quan hệ mật thiết, gắn với trong dòng họ và gia tộc. Vì vậy thông thường mỗi năm, các gia đình có chung huyết thống sẽ tập hợp lại với nhau khoảng 1 – 2 lần thành một dòng họ.

Trong mỗi dòng họ, luôn luôn có một người đứng đầu và người này được gọi là Trưởng họ. Trưởng họ chính là người được tổ tiên cho hưởng hương hoa. Vì vậy, người này có trách nhiệm to lớn đó là chăm lo tới hương khói cũng như việc cúng giỗ mỗi năm của dòng họ.

Đặc biệt vào ngày giỗ, trách nhiệm của con cháu trong dòng họ là phải đóng góp một phần nhỏ của mình để làm nên buổi lễ cúng trọn vẹn, đủ đầy và đầm ấm nhất. Bởi trong năm, đây là một trong những dịp quan trọng và ý nghĩa để con cháu đi làm ăn xa có dịp tụ họp, quây quần bên mâm cơm cúng tổ tiên.

Trong ngày này, người được uy quyền cao nhất tiến hành đọc bài văn khấn giỗ tổ dòng họ không ai khác đó chính là Trưởng họ. Việc đọc bài văn khấn này có mục đích đó là để thỉnh các vị tổ tiên về ăn giỗ cùng con cháu và hưởng chút lễ mọn được con cháu trong dòng tộc mình dâng lên vào ngày này.

Cúng giỗ tổ dòng họ với nghi thức được thực hiện như thế nào?

Chuẩn bị mâm cổ cúng thật chu đáo khi dân lên gia tiên

Trên thực tế, việc cúng lễ giỗ tổ dòng họ không phải ở đâu và khi nào cũng được thực hiện giống nhau. Bởi việc thực hiện nghi lễ cúng này còn tùy theo từng hoàn cảnh, trường hợp và phong tục tập quán cụ thể của từng địa phương, vùng miền. Vì vậy, nghi lễ này sẽ được áp dụng một cách phù hợp và chu đáo nhất để đảm bảo tính liêng thiêng trong thờ cúng.

Theo phong tục trước đây, các gia chủ sẽ là người trực tiếp đọc cũng như thắp hương và khấn vái tổ tiên tại nhà riêng của mình. Không những thế, trong lễ cúng giỗ tổ dòng họ theo thời xưa này, các gia đình phải thuê trống, nhạc chiêng. Bên cạnh đó còn phải có người quỳ để tiến hành đọc bài văn cúng giỗ tổ. Vì vậy, quá trình cúng giỗ tổ dòng họ này thậm chí đôi khi phải mất từ 1 – 2 tiếng để hoàn thành. Bên cạnh đó, chưa tính đến việc dòng họ đông con cháu thì việc lễ vái sẽ còn kéo dài hơn nữa, có thể thời gian lên tới 3 – 4 tiếng.

Cùng với sự phát triển của xã hội ngày nay thì nghi lễ cúng tế này đang dần được được chuyển dịch thành nghi thức tưởng nhớ tới công ơn của các vị tổ tiên. Trong đó nổi bật với các nghi thức như: đọc tiểu sử, công đức các ngài để làm lễ dâng hương, hoa. Bên cạnh đó còn là nghi lễ tiến hành đọc văn khấn giỗ tổ dòng họ.

Khi kết thúc buổi lễ giỗ tổ dòng họ này, Trưởng họ sẽ là người cùng với các vị cao lão trong họ đứng lên tổng kết những điều còn tồn tại trong một năm đã qua và đưa ra phương hướng, mục tiêu giải quyết vấn đề trong năm tới. Đồng thời, trong dịp này, trưởng họ cũng sẽ đưa ra những lời kêu gọi và khuyến răn con cháu về đạo lý sống cũng như sự cố gắng trong học tập, công việc để đạt được thành công như mong muốn.

Lưu ý quan trọng khi thực hiện lễ cúng giỗ tổ dòng họ

Để lễ cúng giỗ tổ dòng họ được trọn vẹn, đủ đầy và thành tâm nhất, người thực hiện cần lưu ý một số vấn đề quan trọng. Theo đó, những vấn đề này sẽ được mang đến chi tiết, cụ thể ngay sau đây:

  • Bàn thờ của dòng họ luôn phải được giữ gìn sạch sẽ, gọn gàng và trang nghiêm
  • Hương, hoa quả sử dụng trong lễ cúng giỗ tổ phải đảm bảo là đồ tươi mới, không sử dụng các loại đồ cũ. Bên cạnh đó, các bạn nên lựa chọn những loại hoa quả tươi có hình tròn, màu sắc tươi tắn, tuyệt đối không sử dụng những loại quả có gai bởi chúng sẽ mang đến sát khi cho gia đình, dòng họ.
  • Trước khi tiến hành lễ cúng, trưởng họ nên bàn bạc và thống nhất với các thành viên khác về cả thời gian tiến hành lễ cúng cũng như số lượng khách mời và thực đơn gồm có trong buổi lễ.
  • Lên kế hoạch chi tiết, cụ thể cho từng công việc trước buổi cúng giỗ để lễ cúng được diễn ra suôn sẻ, thuận lợi và trọn vẹn.

Chi tiết về bài văn khấn giỗ tổ dòng họ

Chuẩn bị bài vân khấn đọc trước tổ tiên dòng họ

Trong lễ cúng giỗ tổ dòng họ, những người Trưởng họ có thể tham khảo và sử dụng bài văn khấn giỗ tổ dòng họ đúng chuẩn và chi tiết như sau đây:

Nam mô Nhật Nguyệt Quang Minh Phật

Nam mô Địa Vương Mẫu Phật

Nam mô Ta bà Giáo chủ Bổn sư Thích ca Mâu Ni Phật

Nam mô Mười phương chư Phật, Chư Phật mười phương.

Nam mô Chư vị Bồ Tát

Kính lạy: Hội đồng Thánh Mẫu

Kính lạy: Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Kính lạy: Chư Tiên, Chư Thánh, Chư Thần

Kính lạy: Thổ Thần, Thần Linh, Thổ Địa, Táo Phủ Thần Quân, Ngũ phương Địa mạch,Tiếp dẫn Tài Thần, Tiếp dẫn Lộc Thần, Tiền Hậu địa chủ, Chúa Bà bản cảnh, các tiểu Thần trong khu vực.

Kính lạy: Cửu huyền Thất Tổ, Thất Tổ Cửu Huyền.

Cao Cao tằng Tổ khảo, Cao Cao tằng Tổ tỷ, Cao tằng Tổ khảo, Cao tằng Tổ tỷ, Hiền khảo, Hiền tỷ, Bá, Thúc, Đệ, Huynh, Cô, Dì, Tỷ, Muội.

Cộng đồng nội – ngoại Gia tiên dòng họ …

Kính lạy: Chầu Tổ Cô, Hoàng Tổ Mãnh, Bà Cô, Ông Mãnh dòng họ …

Hôm nay là Ngày… Tháng… Năm…

Con tên là:

Đang cư ngụ tại địa chỉ:

Đại diện cho con cháu dòng họ …

Xin kính dâng lễ vật, cầu xin bề trên chấp lễ chấp bái.

Chúng con cầu xin các vị Gia tiên Tiền Tổ dòng họ… độ trì dạy bảo dẫn dắt cho tất cả con cháu trong dòng họ để mọi gia đình trong dòng họ …: Già được mạnh khỏe, trẻ được bình an. Con cháu hiếu thảo với Ông Bà Cha Mẹ.

Chúng con cầu xin, gia tiên tiền tổ độ trì để toàn thể con cháu trong dòng họ …: Cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, cầu sức khỏe được sức khỏe, cầu tiến tới được tiến tới, cầu con được con, cầu cháu được cháu. Để cho toàn bộ dòng họ … chúng ta ngày càng đông đúc, phú quí, giàu sang, nhà cửa khang trang, hiển vinh mãi mãi.

【#6】Bài Văn Khấn Giỗ Tổ Dòng Họ Chi Tiết & Đầy Đủ Nhất

Văn khấn giỗ tổ dòng họ, gia chủ nên đọc bài văn khấn nào đúng chuẩn để thể hiện sự thành kính và biết ơn của mình đối với bậc bề trên? Đây chắc hẳn là câu hỏi được nhiều gia chủ quan tâm hiện nay và mong muốn tìm được câu trả lời đầy đủ, chi tiết nhất. Hiểu được điều này, Gốm sứ Bát Tràng Đại Việt sẽ mang đến các bạn những chia sẻ thú vị trong bài viết sau đây để giúp các bạn có thêm kinh nghiệm thờ cúng thực sự hữu ích!

Ý nghĩa quan trọng của việc cúng giỗ tổ dòng họ

Trong quan niệm của người Việt, gia đình luôn luôn có mối quan hệ ràng buộc với xã hội. Không những thế, gia đình còn có mối quan hệ mật thiết, gắn với trong dòng họ và gia tộc. Vì vậy thông thường mỗi năm, các gia đình có chung huyết thống sẽ tập hợp lại với nhau khoảng 1 – 2 lần thành một dòng họ.

Trong mỗi dòng họ, luôn luôn có một người đứng đầu và người này được gọi là Trưởng họ. Trưởng họ chính là người được tổ tiên cho hưởng hương hoa. Vì vậy, người này có trách nhiệm to lớn đó là chăm lo tới hương khói cũng như việc cúng giỗ mỗi năm của dòng họ.

Đặc biệt vào ngày giỗ, trách nhiệm của con cháu trong dòng họ là phải đóng góp một phần n hỏ của mình để làm nên buổi lễ cúng trọn vẹn, đủ đầy và đầm ấm nhất. Bởi trong năm, đây là một trong những dịp quan trọng và ý nghĩa để con cháu đi làm ăn xa có dịp tụ họp, quây quần bên mâm cơm cúng tổ tiên.

Trong ngày này, người được uy quyền cao nhất tiến hành đọc bài văn khấn giỗ tổ dòng họ không ai khác đó chính là Trưởng họ. Việc đọc bài văn khấn này có mục đích đó là để thỉnh các vị tổ tiên về ăn giỗ cùng con cháu và hưởng chút lễ mọn được con cháu trong dòng tộc mình dâng lên vào ngày này.

Cúng giỗ tổ dòng họ với nghi thức được thực hiện như thế nào?

Trên thực tế, việc cúng lễ giỗ tổ dòng họ không phải ở đâu và khi nào cũng được thực hiện giống nhau. Bởi việc thực hiện nghi lễ cúng này còn tùy theo từng hoàn cảnh, trường hợp và phong tục tập quán cụ thể của từng địa phương, vùng miền. Vì vậy, nghi lễ này sẽ được áp dụng một cách phù hợp và chu đáo nhất để đảm bảo tính liêng thiêng trong thờ cúng.

Theo phong tục trước đây, các gia chủ sẽ là người trực tiếp đọc cũng như thắp hương và khấn vái tổ tiên tại nhà riêng của mình. Không những thế, trong lễ cúng giỗ tổ dòng họ theo thời xưa này, các gia đình phải thuê trống, nhạc chiêng. Bên cạnh đó còn phải có người quỳ để tiến hành đọc bài văn cúng giỗ tổ. Vì vậy, quá trình cúng giỗ tổ dòng họ này thậm chí đôi khi phải mất từ 1 – 2 tiếng để hoàn thành. Bên cạnh đó, chưa tính đến việc dòng họ đông con cháu thì việc lễ vái sẽ còn kéo dài hơn nữa, có thể thời gian lên tới 3 – 4 tiếng.

Cùng với sự phát triển của xã hội ngày nay thì nghi lễ cúng tế này đang dần được được chuyển dịch thành nghi thức tưởng nhớ tới công ơn của các vị tổ tiên. Trong đó nổi bật với các nghi thức như: đọc tiểu sử, công đức các ngài để làm lễ dâng hương, hoa. Bên cạnh đó còn là nghi lễ tiến hành đọc văn khấn giỗ tổ dòng họ.

Khi kết thúc buổi lễ giỗ tổ dòng họ này, Trưởng họ sẽ là người cùng với các vị cao lão trong họ đứng lên tổng kết những điều còn tồn tại trong một năm đã qua và đưa ra phương hướng, mục tiêu giải quyết vấn đề trong năm tới. Đồng thời, trong dịp này, trưởng họ cũng sẽ đưa ra những lời kêu gọi và khuyến răn con cháu về đạo lý sống cũng như sự cố gắng trong học tập, công việc để đạt được thành công như mong muốn.

Lưu ý quan trọng khi thực hiện lễ cúng giỗ tổ dòng họ

Để lễ cúng giỗ tổ dòng họ được trọn vẹn, đủ đầy và thành tâm nhất, người thực hiện cần lưu ý một số vấn đề quan trọng. Theo đó, những vấn đề này sẽ được mang đến chi tiết, cụ thể ngay sau đây:

  • Bàn thờ của dòng họ luôn phải được giữ gìn sạch sẽ, gọn gàng và trang nghiêm
  • Hương, hoa quả sử dụng trong lễ cúng giỗ tổ phải đảm bảo là đồ tươi mới, không sử dụng các loại đồ cũ. Bên cạnh đó, các bạn nên lựa chọn những loại hoa quả tươi có hình tròn, màu sắc tươi tắn, tuyệt đối không sử dụng những loại quả có gai bởi chúng sẽ mang đến sát khi cho gia đình, dòng họ.
  • Trước khi tiến hành lễ cúng, trưởng họ nên bàn bạc và thống nhất với các thành viên khác về cả thời gian tiến hành lễ cúng cũng như số lượng khách mời và thực đơn gồm có trong buổi lễ.
  • Lên kế hoạch chi tiết, cụ thể cho từng công việc trước buổi cúng giỗ để lễ cúng được diễn ra suôn sẻ, thuận lợi và trọn vẹn.

Chi tiết về bài văn khấn giỗ tổ dòng họ

Trong lễ cúng giỗ tổ dòng họ, những người Trưởng họ có thể tham khảo và sử dụng bài văn khấn giỗ tổ dòng họ đúng chuẩn và chi tiết như sau đây:

【#7】Bài Văn Khấn Cúng Lễ Đổ Bê Tông (Cất Nóc)

Tổng hợp những bài văn khấn, bài cúng cất nóc, đổ mái nhà.

Làm nhà, xây nhà là một trong những việc quan trọng nhất của một đời người. Để việc xây dựng được diễn ra thuận lợi, các thành viên sống trong nhà được khỏe mạnh, mọi sự tốt lành thì từ khi chuẩn bị làm nhà đều phải xem ngày tốt, chọn giờ Hoàng Đạo để tiến hành.

Một ngôi nhà từ lúc khởi công cho đến lúc hoàn thành được phân chia thành nhiều giai đoạn khác nhau. Mỗi giai đoạn đều quan trọng và được gia chủ lưu tâm từ việc tìm ngày giờ tốt, chuẩn bị lễ vật cúng, văn khấn… để mong thần linh và gia tiên chứng giám, phù hộ độ trì.

Cúng Cất nóc, đổ mái là khâu cuối cùng trong việc hình thành lên một khung nhà hoàn chỉnh, không có nóc thì không thành nhà, nên lễ cúng cất nóc là vô cùng quan trọng. Để lễ cất nóc diễn ra thành công, thì gia chủ cần chọn được ngày giờ tốt, phù hợp với tuổi, sau đó chuẩn bị các thủ tục cúng cất nóc, đổ mái nhà sao cho thành tâm và đúng nghi thức nhất.

Lễ cất nóc hay còn gọi là lễ Thượng lương, khi làm lễ này, gia chủ cần sắm lễ và chuẩn bị văn khấn đổ mái nhà như sau.

Nam mô a di Đà Phật

Nam mô a di Đà Phật

Nam mô a di Đà Phật

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương

Con kính lạy Hoàng thiên Hậu thổ chư vị Tôn thần

Con kính lạy quan Đương niên

Con kính lạy các tôn thần bản xứ.

Tín chủ (chúng) con là: ………

Ngụ tại: ………

Hôm nay là ngày ….. tháng ……… năm ……

Tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương, dâng lên trước án, có lời thưa rằng: Vì tín chủ con khởi tạo …………….. cất nóc căn nhà ở địa chỉ: …………… ngôi dương cơ trụ trạch để làm nơi cư ngụ cho gia đình, con cháu.

Nay chọn được ngày lành tháng tốt, kính cáo chư vị linh thần, cúi mong soi xét và cho phép được động thổ (cất nóc, chuyển nhà, sửa chữa, mở cổng, xây thêm…)

Tín chủ con thành tâm kính mời:

Ngài Kim Niên Đường cai Thái Tuế chí đức tôn thần,

ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại vương,

ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa,

ngài Định phúc Táo quân,

các ngài Địa chúa Long Mạch tôn thần và tất cả các vị Thần linh cai quản trong khu vực này.

Cúi xin các Ngài, nghe thấu lời mời, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho chúng con được vạn sự tốt lành, công việc hanh thông, chủ – thợ được bình an, ngày tháng hưởng phần lợi lạc, âm phù dương trợ, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

Tín chủ lại xin phổ cáo với các vị Tiền chủ, Hậu chủ và các vị Hương linh, cô hồn y thảo phụ mộc, phảng phất quanh khu vực này, xin mời các vị tới đây thụ hưởng lễ vật, phù trì tín chủ, cũng như chủ thợ đôi bên khiến cho an lành, công việc chóng thành, muôn sự như ý.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật

Nam mô a di Đà Phật

Nam mô a di Đà Phật

Nội dung của bài khấn đổ mái nhà tầng 3, bài khấn đổ mái nhà tầng 2 cũng tương tự như bài cúng đổ mái tầng 1. Gia chủ chỉ cần thay đổi nội dung phần tầng sẽ đổ mái trong bài văn cúng cất nóc nhà là được. Khi thực hiện khoa cúng cất nóng, gia chủ có thể viết thêm sớ đổ mái.

Nếu gia chủ cảm thấy bài cúng lễ đổ trần nhà dài và không thể nhớ ngay lập tức thì có thể viết, hoặc in bài văn khấn lễ cúng cất nóc nhà ra giấy rồi đọc. Trước khi đọc văn khấn lễ đổ mái cất nóc, đổ trần nhà, gia chủ cần tắm gội sạch sẽ, áo quần tề chỉnh, thành tâm kính lễ.

Cũng giống như khi đọc các bài văn khấn khác, khi đọc bài khấn đổ trần cất nóc, bạn không nên đọc to thành tiếng mà chỉ nên đọc lầm rầm vừa đủ cho chính mình nghe. Tốc độ đọc bài văn cúng đổ mái nhà cũng không nên quá nhanh hoặc quá chậm mà nên vừa phải.

Trong trường hợp gia chủ không được tuổi làm lễ cất nóc mà mượn tuổi làm lễ thì việc đọc văn cúng đổ trần nhà, văn khấn gác đòn dông sẽ được chuyển cho người được mượn tuổi thực hiện. Trong trường hợp này, bạn cần lưu ý, phần tên tín chủ trong bài văn khấn cất nóc lễ đổ trần nhà sẽ là tên của người được mượn tuổi.

Trên đây là những thông tin chi tiết về ý nghĩa của lễ cất nóc nhà, cách xem ngày tốt đổ trần nhà theo tuổi, các lễ vật cúng đổ mái nếu như bạn chưa biết lễ cúng cất nóc nhà cần gồm những gì, cùng với nội dung bài cúng đổ trần nhà tầng 1, văn khấn đổ trần tầng 2, tầng 3 đầy đủ nhất.

Hi vọng với bài khấn đổ mái nhà tầng 1, bài cúng lễ cất nóc và những đồ cần sắm lễ đổ mái nhà, thủ tục làm lễ đổ trần trong bài sẽ giúp gia chủ giải đáp được câu hỏi cất nóc nhà có phải cúng không và chuẩn bị thật tốt để nghi lễ cúng đổ mê tầng 1 tiến hành suôn sẻ.

【#8】Văn Khấn Chuyển Phòng Làm Việc Mới Và Lưu Ý Khi Chuyển Phòng Làm Việc

Theo phong tục và các nghi lễ của người Việt ta từ lâu, khi bắt chuyển phòng làm việc mới, nghi thức cúng thần linh, thổ công, thổ địa là không thể thiếu, như vậy công việc làm ăn ở phòng mới được phát triển suôn sẻ, may mắn và nhiều tài lộc.

Sắm lễ cúng chuyển phòng làm việc mới

Vật dụng cần để mang đến phòng làm việc mới:

  • Bài vị, bát nhang (nếu có)
  • Một vài cái bàn, cái ghế đang sử dụng
  • Chổi quét nhà nên sắm chổi mới

Nghi lễ cúng nhập trạch chuyển phòng làm việc mới

Theo đúng nghi thức và phong tục thì đầu tiên chủ văn phòng, doanh nghiệp nên mang là cái ghế đã sử dụng, tiếp đó là những lễ vật cúng thần linh, thổ công, thỏ địa đã chuẩn bị trước đó tới văn phòng mới.

Các bạn bày các lễ vật đã chuẩn bị lên bàn kê theo hướng đẹp. Người cúng chuyển phòng làm việc mới phải là đích thân chủ văn phòng, doanh nghiệp.

Bên cạnh đó các cán bộ công nhân viên trong công ty cùng nhau thành tâm làm lễ cúng. Các bạn cùng tham khảo bài văn khấn chuyển phòng làm việc mới được chúng tôi sao chép lại từ sách văn khấn của các thầy cúng nổi tiếng chuyên làm lễ chuyển phòng, nhà mới.

Bài văn khấn chuyển phòng làm việc mới

Con nam mô ai di đà phật.

Con nam mô ai di đà phật.

Con nam mô ai di đà phật.

Con kính lạy Quan Đương niên Hành khiển Thái Tuế chí đức Tôn thần; Các Ngài Bản Cảnh Thành Hoàng chư vị Đại Vương; Các Ngài Ngũ Phương, Ngũ Thổ, Long Mạch, Tài Thần, Định Phúc Táo Quân chư vị tôn thần; Các Thần Linh cai quản ở trong khu vực này.

Hôm nay là ngày….. tháng……. năm……Con tên là……… Sinh niên………

Hiện nay ngụ tại………….

Con thành tâm sửa biện hương hoa lễ vật, các thứ cúng dâng bày ra trước án. Bởi vì con có xây cất (hoặc “thuê được”) 1 ngôi văn phòng/ văn phòng ở tại xứ này là….. (ghi địa chỉ nơi đó). Hôm nay, con muốn khai trương khởi đầu việc kinh doanh (hoặc sản xuất) phục vụ nhân sinh, mại mãi tài vật giúp cho sinh hoạt. Do đó, con chọn được ngày lành tháng tốt và sắm sanh lễ vật, cáo yết Tôn Thần, dâng cúng Bách Linh, con cúi mong các thần linh soi xét. Con thành tâm kính mời Quan Đương niên , Quan Đương Cảnh, Quan Thần linh Thổ Địa, Định Phúc Táo Quân, cùng các Ngài Địa Chúa Long Mạch, và tất cả Thần Linh cai quản ở trong khu vực này. Con cũng cúi xin: Thương xót cho con giáng lâm trước án, chứng giám lòng thánh thụ hưởng lễ vật, độ cho con được buôn bán hanh thông, làm ăn thuận lợi, lộc tài vượng tiến, nhân sự bình an. Bốn mùa không hạn ách tai ương, tám tiết có điềm lành tiếp ứng, cầu gì cũng được, nguyện gì cũng thành. Con lại mời các vị Tiền chủ, Hậu chủ, cùng chư Hương Linh y thảo phụ mộc phảng phất ở trong khu vực này, xin hãy tới đây để chiêm ngưỡng Tôn Thần, thụ hưởng lễ vật, phù trì tín chủ vận đáo hanh xương, tài lộc như gió mây tập hội.

Dãi tấm lòng thành, con cúi xin chứng giám.

Cẩn cáo !

【#9】Ý Nghĩa Tết Trung Thu Và Bài Văn Khấn Rằm Tháng 8

Cúng Rằm tháng 8 – Tết Trung thu là một nghi thức văn hóa truyền thống để tưởng nhớ về tổ tiên, cha ông ta. 

Ý nghĩa của ngày tết trung thu

Rằm tháng tám (hay còn gọi là Tết Trung thu) trong quan niệm của người Việt là ngày Tết đoàn viên, biểu tượng của sự sum họp, vui vầy. Trải qua hàng ngàn năm, con người luôn cho rằng có mối liên hệ giữa cuộc đời và vầng trăng. Trăng tròn và trăng khuyết, niềm vui nỗi buồn, sự đoàn tụ, sum họp hay chia tay. Cũng từ đó trăng tròn là biểu tượng của sum họp và Tết trung thu cũng được gọi là Tết đoàn viên.

Trong ngày vui này, theo phong tục người Việt, tất cả các thành viên trong gia đình đều mong muốn quây quần bên nhau cùng làm cỗ cúng gia tiên.

Khi đêm xuống, mặt đất ngập tràn ánh trăng vàng, xóm làng cùng nhau tụ họp uống nước chè xanh, ăn bánh, ngắm trăng và bày hoa quả, bánh kẹo cho trẻ em vui chơi, rước đèn, múa Lân, trông trăng, phá cỗ…

Ngoài ý nghĩa vui chơi cho trẻ em và người lớn, Tết Trung thu còn là dịp để người ta ngắm trăng tiên đoán mùa màng và vận mệnh quốc gia. Nếu trăng thu màu vàng thì năm đó sẽ trúng mùa tằm tơ, nếu trăng thu màu xanh hay lục thì năm đó sẽ có thiên tai, và nếu trăng thu màu cam trong sáng thì đất nước sẽ thịnh trị.

Sắm lễ cúng rằm Tháng 8

Mâm lễ cúng gia tiên ngày Tết Trung Thu ngoài những món truyền thống thì bao giờ cũng phải có: bánh nướng, bánh dẻo, cốm, chuối, na, hồng, bưởi,… và tất nhiên phảị có hương, hoa, đèn, nến. Nhân dịp Tết Trung Thu mọi người đều gửi biếu ông, bà, cha, mẹ, người thân, người mà mình mang ơn bánh Trung Thu, cốm, chuối, hồng… để tỏ lòng biết ơn quí trọng.

Văn khấn rằm tháng 8

– Con kính lạy Hoàng thiên hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân cùng chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy Cao Tằng Tổ khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Thúc Bá, Đệ Huynh, Cô Di, Tỷ Muội họ nội họ ngoại

Tín chủ (chúng) con là:………………………………….Tuổi:………………

Ngụ tại:………………………………………………………………………………….

Hôm nay là ngày Rằm tháng Tám gặp tiết Trung Thu, tín chủ chúng con thành tâm sắm lễ, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án.

Chúng con kính mời ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại Vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân, Ngũ phương, Long Mạch, Tài Thần. Cúi xin các ngài giáng lâm trước án chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật.

Chúng con kính mời các cụ Tổ Khảo, Tổ Tỷ, chư vị Hương linh gia tiên nội ngoại họ………………, cúi xin thương xót con cháu linh thiêng hiện về, chứng giám tâm thành, thụ hưởng lễ vật.

Tín chủ con lại kính mời các vị Tiền chủ, Hậu chủ ngụ tại nhà này, đất này đồng lâm án tiền, đồng lai hâm hưởng. Xin các ngài độ cho chúng con thân cung khang thái, bản mệnh bình an. Bốn mùa không hạn ách, tám tiết hưởng vinh quang thịnh vượng.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Phục duy cẩn cáo!

【#10】Văn Khấn Rằm Tháng 7 Tại Nhà Theo Văn Khấn Cổ Truyền Việt Nam

Để tiện cho độc giả, xin giới thiệu một số bài cúng Rằm tháng 7 tại nhà theo Văn khấn cổ truyền Việt Nam.

Vào ngày Rằm tháng 7, các gia đình thường chuẩn bị hai mâm cỗ cúng: Một mâm cỗ mặn để cúng tổ tiên tại bàn thờ và một mâm cỗ chay để cúng chúng sinh – gọi là cúng cô hồn đặt ở sân trước nhà hoặc trên vỉa hè.

Dưới đây là bài văn khấn Ý nghĩa: Rằm tháng 7 tại nhà trích trong sách “Sắm lễ: Văn khấn cổ truyền Việt Nam” (NXB Hồng Đức) các gia đình có thể tham khảo:

Văn khấn lễ tổ tiên (Ngày rằm tháng Bảy tại nhà)

Theo tín ngưỡng truyền thống của người Việt Nam, Tiết Trung Nguyên là tiết của dịp ”Xá tội vong nhân” nơi Âm Phủ. Người xưa cho rằng: Ngày Rằm tháng 7 hàng năm thì mọi tội nhân cõi âm, trong đó có những vong linh của gia đình, họ tộc mình đang bị giam cầm nơi địa ngục được xá tội và ra khỏi Âm Phủ lên dương gian. Bởi vậy, các gia đình ở dương gian làm cỗ bàn, vàng mã cúng gia tiên, cầu siêu độ trì cho họ.

Ngoài cúng gia tiên ngày ”Xá tội vong nhân” mọi nhà còn bầy lễ cúng chúng sinh ngoài sân, trước thềm nhà để cúng cô hồn, ma đói là những vong linh ”không nơi nương tựa”.

Ngày Rằm tháng 7 theo tục xưa, mọi gia đình đều sắm hai lễ để cúng

+ Lễ cúng gia tiên gồm: Hương, hoa, rượu, xôi và mâm cỗ mặn với nhiều món ăn được chế biến cẩn thận, trình bày đẹp, vàng mã, quần áo, hài giấy…

+ Lễ cúng chúng sinh gồm các lễ vật: Bánh đa, bỏng, ngô, khoai lang luộc, trứng luộc, kẹo bánh, xôi chè và cháo hoa. Vàng mã, tiền giấy, quần áo chúng sinh…

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư vị Phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Tổ tiên nội ngoại và chư vị Hương linh

Tín chủ (chúng) con là:………………………………

Ngụ tại:…………………………………………………

Hôm nay là ngày Rằm tháng Bả y năm ………….nhân gặp tiết Vu Lan vào dịp Trung Nguyên, chúng con nhớ đến Tổ tiên ông bà cha mẹ đã sinh thành ra chúng con gây dựng cơ nghiệp, xây đắp nền nhân, khiến nay chúng con được hưởng âm đức. Chúng con cảm nghĩ ơn đức cù lao khôn báo, cảm công trời biển khó đền nên tín chủ con sửa sang lễ vật, hương hoa, trà quả, kim ngân, vàng bạc, thắp nén tâm hương.

Văn khấn chúng sinh Rằm tháng Bảy theo Văn khấn cổ truyền Việt Nam

Thành tâm kính lên các cụ Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Bá Thúc, Đệ Huynh, Cô Di, Tỷ Muội và tất cả hương hồn trong nội tộc, ngoại tộc của họ…………., cúi xin các vị thương xót cháu con, linh thiêng hiện về chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho con cháu mạnh khoẻ bình an, lộc tài vượng tiến, vạn sự tốt lành, gia đạo hưng long.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật (3 lần).

Con lạy chín phương trời, mười phương chư phật, chư phật mười phương.

Con lạy Đức Phật Di Đà

Con lạy Bồ Tát Quan Âm.

Con lạy Táo Phủ Thần quân Chinh thần.

Tiết tháng 7 sắp thu phân

Ngày rằm xá tội vong nhân hải hà

Âm cung mở cửa ngục ra

Vong linh không cửa không nhà

Đại Thánh Khảo giáo – A Nan Đà Tôn giả

Tiếp chúng sinh không mả, không mồ bốn phương

Gốc cây xó chợ đầu đường

Không nơi nương tựa đêm ngày lang thang

Quanh năm đói rét cơ hàn

Không manh áo mỏng – che làn heo may

Cô hồn năm bắc đông tây

Trẻ già trai gái về đây hợp đoàn

Nay nghe tín chủ thỉnh mời

Lai lâm nhận hưởng mọi lời trước sau

Cơm canh cháo nẻ trầu cau

Tiền vàng quần áo đủ màu đỏ xanh

Gạo muối quả thực hoa đăng

Mang theo một chút để dành ngày mai

Phù hộ tín chủ lộc tài

An khang thịnh vượng hòa hài gia trung

Nhớ ngày xá tội vong nhân

Lại về tín chủ thành tâm thỉnh mời

Bây giờ nhận hưởng xong rồi

Dắt nhau già trẻ về nơi âm phần

Tín chủ thiêu hóa kim ngân

Cùng với quần áo đã được phân chia

Kính cáo Tôn thần

Chứng minh công đức

Cho tín chủ con

Tên là:………………………………

Vợ/Chồng:…………………………

Con trai:……………………………

Con gái:…………………………….

Ngụ tại:……………………………..