Top 12 # Văn Khấn Giỗ Tổ / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 11/2022 # Top Trend | Iseeacademy.com

Văn Khấn Tổ Tiên Ngày Giỗ / 2023

Cúng giỗ ông bà cha mẹ là nghi thức có từ ngàn đời của dân tộc Việt Nam. Đây là phong tục giúp cho con cháu luôn ghi nhớ đến tổ tiên, thể hiện lòng thành kính đến công lao sinh thành dưỡng dục của ông bà cha mẹ.

Sau khi lễ cáo từ với gia thần ở trong nhà như: Thổ công, Táo quân long mạch thì có thể dùng bài này để cúng giỗ Tổ tiên hoặc ông, bà, cha, mẹ.

Nội dung bài Văn khấn tổ tiên ngày giỗ

Na mô A Di Đà Phật!

Na mô A Di Đà Phật!

Na mô A Di Đà Phật!

Kính lạy Tổ tiên nội ngoại!

Hôm nay là ngày……………tháng……………năm……………

Chính ngày cát kị (giỗ) của……………

Thiết nghĩ……………vắng xa trần thế, không thấy âm dung. Năm qua tháng lại, vừa ngày húy lâm. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, khôn bề Giãi tỏ.

Nhân ngày chính giỗ chúng con và toàn gia con cháu, nhất tâm sắm sửa lễ vật kính dâng, đốt nén tâm hương Giãi tỏ tấc thành.

Thành khẩn kính mời……………

Mất ngày……………tháng……………năm……………

Mộ phần táng tại……………

Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật độ, cho con cháu bình an, gia cảnh hưng long thịnh vượng.

Con lại xin kính mời các cụ Tổ tiên nội ngoại, Tổ khảo, Tổ tỷ, Bá thúc, Cô di và toàn thể các hương linh gia tiên đồng lai hâm hưởng.

Tín chủ con lại xin kính mời các Ngài Thổ công, Táo quân và chư vị linh thần đồng lai giám cách thượng hưởng.

Tín chủ lại mời các vị vong linh tiền chủ hậu chủ trong đất này cùng tới hâm hưởng.

Cẩn cáo

Sau khi bày lễ, thắp hương và khấn vái xong, đợi hương tàn rồi lễ tạ.

Văn Khấn Cúng Giỗ Tổ Hùng Vương / 2023

Văn khấn cúng giỗ tổ Hùng Vương là một trong những nghi lễ trang trọng mà bất kỳ gia đình nào cũng phải làm trong ngày này. Giống như ngày giỗ của ông cha, bố mẹ giỗ Tổ cũng có những…

Văn khấn cúng giỗ tổ Hùng Vương là một trong những nghi lễ trang trọng mà bất kỳ gia đình nào cũng phải làm trong ngày này. Giống như ngày giỗ của ông cha, bố mẹ giỗ Tổ cũng có những văn khấn riêng để thể hiện tấm lòng của con cháu đến cội nguồn.

Để biết về văn khấn trước tiên phải tìm hiểu về truyền thống cũng như biết về lịch sử ngày giỗ Tổ.

Theo truyền thuyết thì Lạc Long Quân và Âu Cơ được xem như là Thủy Tổ người Việt, cha mẹ của các Vua Hùng. Lễ hội Đền Hùng còn được gọi là ngày Giỗ Tổ Hùng Vương.

Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương diễn ra vào ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch hàng năm tại Đền Hùng, Việt Trì, Phú Thọ. Trước đó hàng tuần, lễ hội đã diễn ra với nhiều hoạt động văn hoá dân gian và kết thúc vào ngày 10 tháng 3 âm lịch với Lễ rước kiệu và dâng hương tại Đền Thượng.

Văn khấn cúng giỗ tổ Hùng Vương: Theo truyền thuyết thì Lạc Long Quân và Âu Cơ được xem như là Thủy Tổ người Việt, cha mẹ của các Vua Hùng. Lễ hội Đền Hùng còn được gọi là ngày Giỗ Tổ Hùng Vương

Từ xa xưa Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương đã có vị thế đặc biệt trong tâm thức của người Việt. Bản ngọc phả viết thời Trần, năm 1470 đời vua Lê Thánh Tông và đời vua Lê Kính Tông năm 1601 sao chép đóng dấu kiềm để tại Đền Hùng, nói rằng: “…Từ nhà Triệu, nhà Đinh, nhà Lê, nhà Lý, nhà Trần đến triều đại ta bây giờ là Hồng Đức Hậu Lê vẫn cùng hương khói trong ngôi đền ở làng Trung Nghĩa. Những ruộng đất sưu thuế từ xưa để lại dùng vào việc cúng tế vẫn không thay đổi…”.

Như vậy, có thể hiểu từ thời Hậu Lê trở về trước các triều đại đều quản lý Đền Hùng theo cách giao thẳng cho dân sở tại trông nom, sửa chữa, cúng bái, làm Giỗ Tổ ngày 10 tháng 3 âm lịch. Bù lại họ được miễn nộp thuế 500 mẫu ruộng, miễn đóng sưu, miễn đi phu đi lính.

Đến đời nhà Nguyễn vào năm Khải Định thứ 2 (1917), Tuần phủ Phú Thọ Lê Trung Ngọc đã trình bộ Lễ định ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm làm ngày Quốc tế (Quốc lễ, Quốc giỗ). Điều này được tấm bia Hùng Vương từ khảo do Tham tri Bùi Ngọc Hoàn, Tuần phủ tỉnh Phú Thọ, lập năm Bảo Đại thứ 15 (1940) cũng đang đặt ở Đền Thượng trên núi Hùng, xác nhận: “Trước đây, ngày Quốc tế lấy vào mùa thu làm định kỳ. Đến năm Khải Định thứ hai (dương lịch là năm 1917), Tuần phủ Phú Thọ là Lê Trung Ngọc có công văn xin bộ Lễ ấn định ngày mồng Mười tháng Ba hằng năm làm ngày Quốc tế, tức trước ngày giỗ tổ Hùng Vương đời thứ 18 một ngày. Còn ngày giỗ (11 tháng Ba) do dân sở tại làm lễ”. Kể từ đây, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm được chính thức hóa bằng luật pháp.

Sau cách mạng tháng Tám (1945) Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm tới Đền Hùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đều đã về thăm viếng tại đây. Kế tục truyền thống cao đẹp của cha ông, nhất là đạo đức “uống nước nhớ nguồn”, ngay sau cách mạng thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh của Chủ Tịch nước số 22/SL – CTN ngày 18 tháng 2 năm 1946 cho công chức nghỉ ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm để tham gia tổ chức các hoạt động Giỗ Tổ Hùng Vương – hướng về cội nguồn dân tộc.

Trong ngày Giỗ Tổ năm Bính Tuất (1946) – năm đầu tiên của Chính phủ mới được thành lập, cụ Huỳnh Thúc Kháng – Quyền Chủ tịch nước đã dâng một tấm bản đồ Tổ quốc Việt Nam và một thanh gươm quý nhằm cáo với Tổ tiên về đất nước bị xâm lăng và cầu mong Tổ tiên phù hộ cho quốc thái dân an, thiên hạ thái bình cùng nhau đoàn kết, đánh tan giặc xâm lược, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã có hai lần về thăm Đền Hùng (19/9/1954 và 19/8/1962). Tại đây Người đã có câu nói bất hủ: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước – Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Người còn nhắc: “Phải chú ý bảo vệ, trồng thêm hoa, thêm cây cối để Đền Hùng ngày càng trang nghiêm và đẹp đẽ, thành công viên lịch sử cho con cháu sau này đến tham quan”.

Năm 1995, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương đã được Ban Bí thư ghi trong thông báo là ngày lễ lớn trong năm. Ngành Văn hóa thông tin – thể thao phối hợp với các ngành chức năng đã tổ chức lễ hội trong thời gian 10 ngày (từ 1/3 đến 10/3 âm lịch).

Tại Nghị định số 82/2001/NĐ-CP ngày 06/11/2001 về Nghi lễ Nhà nước, trong đó có nội dung quy định cụ thể về quy mô tổ chức Giỗ Tổ Hùng Vương, cụ thể như sau:

– “Năm chẵn” là số năm kỷ niệm có chữ số cuối cùng là “0”; Bộ Văn hóa – Thông tin và Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ tổ chức Lễ hội; mời đại diện lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể dự Lễ dâng hương.

Văn khấn cúng giỗ tổ Hùng Vương: Tại Nghị định số 82/2001/NĐ-CP ngày 06/11/2001 về Nghi lễ Nhà nước, trong đó có nội dung quy định cụ thể về quy mô tổ chức Giỗ Tổ Hùng Vương

– “Năm tròn” là số năm kỷ niệm có chữ số cuối cùng là “5”; Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ tổ chức lễ hội; mời đại diện lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể dự Lễ dâng hương.

– “Năm lẻ” là số năm kỷ niệm có các chữ số cuối cùng còn lại. Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ tổ chức lễ hội; mời lãnh đạo Bộ Văn hóa – Thông tin dự lễ dâng hương và tổ chức các hoạt động trong lễ hội.

Ngày 02/4/2007, Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã phê chuẩn sửa đổi, bổ sung Điều 73 của Luật Lao động cho người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch). Kể từ đây, ngày 10/3 âm lịch hàng năm đã trở thành ngày lễ lớn – QUỐC LỄ mang ý nghĩa bản sắc văn hóa dân tộc.

Ngày giỗ Tổ Hùng Vương hằng năm là ngày hội chung của toàn dân, ngày mà mọi trái tim dù đang sống và làm việc ở muôn nơi vẫn đập chung một nhịp, mọi cặp mắt đều nhìn về cùng một hướng. Trong ngày này, nhân dân cả nước còn có điều kiện để tham gia vào các hoạt động văn hóa thể hiện lòng thành kính tri ân các Vua Hùng đã có công dựng nước và các bậc tiền nhân đã vì dân giữ nước.

Trong hồ sơ đề trình UNESCO công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” là di sản văn hóa thế giới đã nêu rõ giá trị của di sản là thể hiện lòng tôn kính đối với tổ tiên, theo tinh thần “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam. Theo đánh giá của các chuyên gia UNESCO, “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” đã đáp ứng được tiêu chí quan trọng nhất trong 5 tiêu chí, đó là, di sản có giá trị nổi bật mang tính toàn cầu, khích lệ ý thức chung của mọi dân tộc trong việc thúc đẩy giá trị đó. Vì vậy, ngày 6/12/2012, UNESCO đã chính thức công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ”, biểu tượng của tinh thần đại đoàn kết, truyền thống đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng còn là dịp để giáo dục truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, lòng biết ơn sâu sắc các Vua Hùng đã có công dựng nước và các bậc tiền nhân kiên cường chống giặc ngoại xâm giữ nước, đồng thời còn là dịp quan trọng để chúng ta quảng bá ra thế giới về một Di sản vô cùng giá trị, độc đáo, đã tồn tại hàng nghìn năm, ăn sâu vào tâm hồn, tình cảm, trở thành đạo lý truyền thống của đồng bào cả nước, kiều bào ta ở nước ngoài, là ngày để toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta cùng nguyện một lòng mãi mãi khắc ghi lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước – Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Ngày Giỗ tổ Hùng Vương hay Lễ hội Đền Hùng là một ngày lễ của Việt Nam. Đây là ngày hội truyền thống của dân tộc Kinh tưởng nhớ công lao dựng nước của Hùng Vương. Nghi lễ truyền thống được tổ chức hàng năm vào mồng 10 tháng 3 âm lịch tại Đền Hùng, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ nhưng được dân Việt trong cũng như ngoài nước đều kỷ niệm.

Ngày giỗ Hùng Vương từ lâu đã được công nhận là một trong những ngày quốc lễ của Việt Nam. Từ thời xưa, các triều đại quân chủ và phong kiến Việt Nam đã quản lý Đền Hùng theo cách giao thẳng cho dân sở tại trông nom, sửa chữa, cúng bái, làm Giỗ Tổ vào ngày 10 tháng 3 âm lịch; đổi lại dân địa phương được triều đình miễn cho những khoản thuế ruộng cùng sưu dịch và sung vào lính.

Sang thế kỷ 20, năm 1917 triều vua Khải Định, Bộ Lễ chính thức gửi công văn ghi ngày 25 Tháng 7 phái quan hàng tỉnh của tỉnh Phú Thọ lấy ngày mồng 10 Tháng 3 âm lịch thì cử hành “quốc tế” hàng năm, tức là sức cho các quan phải mặc phẩm phục lên đền Hùng thay mặt triều đình Huế cúng tế.

Ngày 10 Tháng 3 từ đó được dùng cho toàn quốc. Khi nền quân chủ cáo chung thì ngày Giỗ Tổ Hùng Vương vẫn được Việt Nam Cộng hòa công nhận là ngày nghỉ lễ chính thức cho đến năm 1975.

Đối với nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì năm 2007 mới chính thức quy định ngày nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương.

Văn khấn cúng giỗ tổ Hùng Vương: Đối với nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì năm 2007 mới chính thức quy định ngày nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương

UNESCO đã công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng vua Hùng” là “kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại đại diện của nhân loại”.

Trong dân gian Việt Nam có câu lục bát lưu truyền từ xa xưa:

“Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba”

Cứ đến ngày này, người dân Việt Nam lại nô nức về với Phú Thọ để Đền Hùng là tên gọi khái quát của Khu di tích lịch sử Đền Hùng – quần thể đền chùa thờ phụng các Vua Hùng và tôn thất của nhà vua trên núi Nghĩa Lĩnh, gắn với Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng được tổ chức tại địa điểm đó hàng năm vào ngày 10 tháng 3 âm lịch. Hiện nay, theo các tài liệu khoa học đã công bố đa số đều thống nhất nền móng kiến trúc Đền Hùng bắt đầu được xây dựng từ thời vua Đinh Tiên Hoàng trị vì. Đến thời Hậu Lê (thế kỷ 15) được xây dựng hoàn chỉnh theo quy mô như hiện tại.

Quần thể di tích đền Hùng nằm từ chân núi đến đỉnh ngọn núi Nghĩa Lĩnh cao 175 mét (núi có những tên gọi như Núi Cả, Nghĩa Lĩnh, Nghĩa Cương, Hy Cương, Hy Sơn, Bảo Thiếu Lĩnh, Bảo Thiếu Sơn), thuộc địa phận xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, trong khu rừng được bảo vệ nghiêm ngặt giáp giới với những xã thuộc huyện Lâm Thao, Phù Ninh và vùng ngoại ô thành phố Việt Trì, cách trung tâm thành phố Việt Trì khoảng 10 km. Khu vực đền Hùng ngày nay nằm trong địa phận của kinh đô Phong Châu của quốc gia Văn Lang cổ xưa. Theo cuốn Ngọc phả Hùng Vương, đương thời các Vua Hùng đã cho xây dựng điện Kính Thiên tại khu vực núi Nghĩa Lĩnh này.

Đền Hùng được Bộ Văn hóa thông tin xếp hạng là khu di tích đặc biệt của quốc gia vào năm 1962. Đến năm 1967, Chính phủ Việt Nam đã quyết định khoanh vùng xây dựng khu rừng cấm Đền Hùng. Ngày 8 tháng 2 năm 1994, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt dự án quy hoạch tổng thể Khu di tích lịch sử Đền Hùng lần thứ nhất, tạo tiền đề cho việc đầu tư xây dựng nhiều công trình hạng mục trong khu di tích.

Ngày 6 tháng 1 năm 2001, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 82/2001/NĐ-CP, quy định về quy mô, nghi lễ tổ chức giỗ Tổ Hùng Vương và lễ hội Đền Hùng hàng năm. Ngày 10 tháng 3 trở thành ngày quốc lễ, ngày giỗ Tổ Hùng Vương.Khu di tích lịch sử Đền Hùng đã không ngừng lớn mạnh, được thể hiện sâu sắc và rõ nét hơn qua hàng loạt công trình kiến trúc văn hóa đầu tư xây dựng. Nổi bật nhất là từ sau Quyết định số 84/2004/QĐ-TTg ngày 30 tháng 3 năm 2004 về việc phê duyệt quy hoạch phát triển Khu di tích lịch sử Đền Hùng đến năm 2015.

Nhiều công trình tiếp tục được xây dựng tại khu di tích Đền Hùng như Đền thờ Lạc Long Quân, đường hành lễ tại trung tâm lễ hội, trụ sở làm việc và nhà tiếp đón khách của khu di tích, đài tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ…Trước sự phát triển và quy mô ngày càng lớn, đòi hỏi phải có một bộ máy quản lý tương xứng. Ngày 23 tháng 2 năm 2005, UBND tỉnh Phú Thọ đã ban hành Quyết định số 525/2005/QĐ-UB về việc nâng cấp Ban quản lý Khu di tích Đền Hùng thuộc Sở Văn hóa thông tin Phú Thọ thành Khu di tích lịch sử Đền Hùng trực thuộc UBND tỉnh.

Ngày 6 tháng 12 năm 2012, UNESCO công nhận Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại với những yếu tố thuộc đời sống tâm linh của người Việt Nam đã tồn tại từ hàng nghìn năm nay, thể hiện nền tảng tinh thần đại đoàn kết dân tộc và gắn kết cộng đồng. Tính độc đáo của tín ngưỡng này thể hiện rất rõ ở yếu tố thờ Hùng Vương chính là thờ Quốc tổ. Đây là hiện tượng văn hóa không phải dân tộc nào cũng có.

Nam mô a di đà Phật! ( 3 lần ) Kính lạy chín phương trời đất, Mười phương chư Phật, Thánh hiền. Lạy các Vua Hùng linh thiêng, Gây dựng đất này Tiên tổ. Con tên là…… địa chỉ…………… Nhân ngày Giỗ tổ con xin gởi đến đấng bề trên chút hương hoa lễ phẩm thể hiện lòng thành của gia đình con đến các Vua Hùng và các bậc tổ tiên. Kính xin độ trì phù hộ, Mọi chuyện tốt lành bình an. Bách bệnh giảm trừ tiêu tan, Điều lành mang đến vẹn toàn. Điều dữ mang đi, yên ổn. Đi đến nơi, về đến chốn, Tai qua nạn khỏi tháng ngày. Cầu được ước thấy, gặp may, Mọi điều hanh thông, thuận lợi. Con cái học hành tấn tới, Ngoan ngoãn nghe lời mẹ cha. Thi đỗ lớp gần, trường xa, Mát mặt gia đình làng nước. Tình duyên gặp người kiếp trước, Ý trung nhân… xứng muôn phần. Tình xa duyên thắm như gần, Suốt đời yêu thương nhất mực. Đi làm… thăng quan tiến chức, Buôn bán một vốn bốn lời. Hạnh phúc thanh thản một đời, Nam mô a di đà Phật! Kính lạy cao xanh Trời đất, Lạy các Vua Hùng linh thiêng. Đức Thánh Trần cõi người hiền, Muôn đời độ trì phù hộ! Nam mô a di đà Phật! ( cúi lạy 3 cái ).

Năm nay ngày mùng 10 tháng 3 mới có lịch sử trăm năm. Ngày nay có câu thành ngữ: “Dù ai đi ngược về xuôi; Nhớ ngày giỗ Tổ mùng 10 tháng 3”. Tuy vậy, ít người biết rằng việc ấn định ngày giỗ tổ Hùng Vương vào ngày mùng 10 tháng 3 chỉ mới được bắt đầu từ cách nay hơn 100 năm. Theo bài viết “Giỗ tổ Hùng Vương vào ngày 10 tháng 3 âm lịch bắt đầu từ bao giờ?” đăng trên trang Phú Thọ Online thì việc này là do quan Tuần phủ tỉnh Phú Thọ tên là Lê Trung Ngọc tâu lên triều đình nhà Nguyễn và sau đó Bộ Lễ quyết định vào năm 1917.

Ông Lê Trung Ngọc làm quan Tuần phủ tỉnh Phú Thọ từ tháng 2 năm 1915 đến tháng 1 năm 1921. Ông sinh năm 1867 ở tổng Dương Minh, huyện Bình Dương, tỉnh Chợ Lớn (nay là phường 5 và phường 6, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh).

Năm 1883, sau khi học xong trường Hậu Bổ Cây Mai Sài Gòn (Collège dés Stagiaires), ông được bổ ra Bắc làm việc trong chính quyền các cấp của triều đình nhà Nguyễn. Từ năm 1903 đến khi nghỉ hưu năm 1927 ông đã trải qua nhiều vị trí như: Tuần phủ Bắc Ninh; Thượng tá Vĩnh Yên; Án sát tỉnh Sơn Tây; Tổng đốc tòa Thượng thẩm, Hà Nội… trong đó có thời gian từ tháng 2-1915 đến tháng 1/1921 ông làm Tuần phủ tỉnh Phú Thọ.

Văn khấn cúng giỗ tổ Hùng Vương: Trong những năm làm Tuần phủ Phú Thọ, ông Lê Trung Ngọc đã dành nhiều tâm huyết và công sức tu bổ, tôn tạo đền thờ vua Hùng

Trong những năm làm Tuần phủ Phú Thọ, ông Lê Trung Ngọc đã dành nhiều tâm huyết và công sức tu bổ, tôn tạo đền thờ vua Hùng. Ông sống gần dân và đặc biệt quan tâm tới dân. Ông nhận thấy tại xã Hy Cương, phủ Lâm Thao có Lăng miếu thờ phụng Quốc Tổ Hùng Vương, hàng năm nhân dân cả nước nô nức tìm đến lễ bái; họ thường tự chọn ngày tốt theo bản mệnh từng người vào các tháng trong suốt cả năm, tập trung vào mùa xuân và mùa thu chứ không định rõ ngày nào, trong khi tục lệ của dân bản xã lại lấy ngày 11 tháng 3 âm lịch hàng năm kết hợp với thờ Thổ kỳ làm lễ tế Tổ tại đền Hùng. Như vậy thời gian lễ bái duy trì kéo dài triền miên, vừa tốn kém tiền của, lãng phí thời gian lại vừa phân giảm lòng thành kính, sự trang nghiêm tri ân công đức các Vua Hùng.

Đầu năm 1917, ông làm bản tấu trình với Bộ Lễ xin định lệ hàng năm lấy ngày 10 tháng 3 âm lịch để nhân dân cả nước kinh tế Quốc Tổ Hùng Vương, trước một ngày so với ngày hội tế của dân xã bản hạt, đồng thời cũng xin miễn trừ các khoản đóng góp của nhân dân địa phương vào các kỳ tế lễ mùa thu.

Ngày 25 tháng 7 năm 1917 (Niên hiệu Khải Định năm thứ nhất), Bộ Lễ ban hành công văn phúc đáp và chính thức định lệ ngày quốc tế/quốc lễ – Giỗ Tổ Hùng Vương là ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch và quy định nghi thức, nghi lễ, lễ vật tế Tổ hàng năm.

Việc này được ghi trong tấm bia “Hùng miếu điển lệ bi” do Hội đồng kỷ niệm tỉnh Phú Thọ lập và dựng tại đền Thượng – Khu di tích đền Hùng mùa xuân năm Quý Hợi 1923. Theo một bài viết đăng tải trên trang chúng tôi nội dung tấm bia gồm có hai phần. Phần 1 chép lại công văn của Bộ Lễ, phần 2 quy định thể lệ cúng tế.

Công văn của Bộ Lễ như sau: “các vị ở phủ viện đường đại nhân tỉnh Phú Thọ cùng nhau tuân thủ” điều sau đây: “Xã Hy Cương, phủ Lâm Thao có lăng miếu phụng thờ Hùng Vương ở núi Hùng, trải các năm, cả nước đến tế, thường lấy kỳ mùa thu, chọn vào ngày tốt làm lễ, chưa có việc định rõ ngày, mà tục lệ của dân xã đó, lấy ngày 11 tháng Ba, kết hợp với thờ thổ kỳ, làm lễ riêng… (sự thể này dẫn tới chỗ) thường hứng bất kỳ, hội họp cũng lãng phí theo sở thích, còn lòng thành thì bị kém đi… (Vì thế) cẩn thận định lại rằng, từ nay về sau, lấy ngày mồng Mười tháng Ba, lĩnh tiền chi vào việc công, phụng mệnh kính tế trước một ngày so với ngày hội tế của bản hạt, khiến nhân sĩ mọi miền đến đây có nơi chiêm bái…”

Phần thứ hai của công văn quy định nghi lễ cúng tế hàng năm: “Nay phụng mệnh theo Bộ Lễ, chuẩn định ngày quốc tế tại miếu Tổ Hùng Vương là ngày mồng Mười tháng Ba. Chiều ngày mồng Chín tháng Ba hằng năm, các quan liệt hiến trong tỉnh, cùng các quan viên trong cả phủ huyện của tỉnh, đều phải mặc phẩm phục, tề tựu túc trực tại nhà công quán. Sáng hôm sau, tới miếu kính tế…”

Người dân quanh vùng đền Hùng vẫn thường nói rằng hội đền Hùng năm nào cũng có mưa rửa đền diễn ra vào trước và sau ngày 10 tháng 3 âm lịch. Mưa rửa đền là một khái niệm để chỉ những cơn mưa diễn ra sau các dịp lễ hội. Người Việt tin rằng ở đây có yếu tố tâm linh thiêng liêng. Sau mỗi mùa lễ hội các đền miếu bị bụi đất do khách hành hương mang tới làm cho bẩn thỉu, nhếch nhác. Do vậy những cơn mưa rào của thiên nhiên có tác dụng rửa sạch những bụi bẩn đó để trả lại sự sạch sẽ linh thiêng cho các đền miếu.

Tuy nhiên, ông Lê Thanh Hải, Phó Giám đốc Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn T.Ư cho biết là thông thường cứ vào khoảng ngày 7/3, 8/3, 9/3 và các ngày 11/3, 12/3 và 13/3 (âm lịch) trời rất hay đổ mưa. Mưa trước và sau lễ hội có năm to, năm nhỏ, nhưng ít khi nào không mưa. Các cơn mưa này thường có chung một đặc điểm là mưa rào, diễn ra rất nhanh, sau đó tạnh ngay chứ không kéo dài mấy ngày liền như mưa phùn.

Dưới góc độ của người làm khí tượng, khí hậu ông Hải cho rằng việc có mưa vào ngày giỗ Tổ chỉ là hiện tượng trùng hợp ngẫu nhiên. Ông phân tích rằng ngày giỗ Tổ 10/3 âm lịch các năm thường rơi vào tháng 4 dương lịch. Đối với miền Bắc, tháng 4 là tháng thường có mưa nhiều, số ngày có mưa rào và dông trung bình tại Việt Trì lên đến 14 – 15 ngày (xác suất có mưa lên đến 50%). Như vậy, trong 6 ngày (3 ngày trước và 3 ngày sau lễ) kiểu gì cũng phải có 1 – 2 ngày có mưa. Nếu để ý kỹ sẽ thấy, mưa rửa đền không nói cụ thể rơi đúng vào ngày nào mà chỉ cần rơi vào 1 trong 3 ngày trước và 1 trong 3 ngày sau đều được coi là đúng. Vì thế, mưa rửa đền có thể rơi vào ngày 7/3, 8/3 hoặc 9/3; tương tự có thể rơi vào ngày 11/3 hoặc 12/3, 13/3 (âm lịch). Với xác suất 50%, mà chỉ cần 33%, kiểu gì cũng đúng.

Giỗ tổ Hùng vương là ngày nhớ về cội nguồn tổ tiên, ghi nhớ công ơn dựng nước và giữ nước của dân tộc, vì vậy hãy “Các vua Hùng đã có công dựng nước bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước”.

Văn Khấn Giỗ Tổ Họ Đồng Bá / 2023

Thứ ba – 19/02/2019 21:52

Duy: Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tỉnh Hải Dương, thị xã Chí Linh, xã Văn Đức, thôn Khê Khẩu,Nhà Trưởng tộc họ Đồng Bá.

Hôm nay ngày 20 tháng 2 năm 2019, tức ngày 16 tháng Giêng năm Kỷ Hợi. Nhân ngày kỵ nhật cụ Đồng Quý Công (tự Phúc Trung) – cụ Thượng tổ khai sinh ra dòng họ Đồng Bá, thôn Khê Khẩu, xã Văn Đức, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

Cùng các bậc cao niên, các con trai, gái, dâu, rể, cháu,chắt nội, ngoại đồng tộc và thân hữu gần xa. Về đây tề tựu, nhân ngày húy kỵ cụ Thượng tổ .Xin kính cẩn tiến lễ: Hương, đèn, phù lưu thanh tước, trà rượu, kim ngân minh y, hoa quả, bánh kẹo, mâm cỗ, đẳng vật chi nghi, lễ mọn tâm thành, cẩn chiêu cáo vu :

Cung thỉnh: + Cụ Thượng tổ ông Đồng Quý Công tự Phúc Trung tên thật Đồng Bá Trung. + Cụ Thượng tổ bà Nguyễn Thị Vân.

Cung thỉnh liệt vị tiên tổ: + Cụ ông Đồng Bá Thâm; cụ bà Nguyễn Thị Xuân; cụ Đồng Bá Lý Tặng: con trai, con dâu cả và cháu đích tôn của cụ Thượng tổ. + Cụ ông Đồng Bá Tham, con trai thứ hai của cụ Thượng tổ. + Cụ ông Đồng Bá Giao, cụ bà Vũ Thị Tuyết, con trai, con dâu thứ 3 của cụ Thượng tổ, nay là cụ tổ nghành 1. + Cụ ông Đồng Bá Chí, cụ bà Nguyễn Thị Hiệu, con trai, con dâu thứ 4 của cụ Thượng tổ, nay là cụ tổ nghành 2. + Cụ ông Đồng Bá Tập, cụ bà Nguyễn Thị Sách con trai, con dâu thứ 5 của cụ Thượng tổ, nay là cụ tổ nghành 3. + Cụ bà Đồng Thị Thuận là con gái của cụ Thượng tổ.

Kính lạy cụ Thượng tổ và các vị tổ tiên dòng họ.

Lẽ tự nhiên: Con người ta, trăm họ đều có Tổ có Tông . Giọt nước kia, triệu khối cũng có nguồn có ngọn . Muôn lá ngàn cành, đều sinh ra từ gốc rễ . Nghìn suối trăm sông, cùng khởi tự sơn khê.

Mừng hôm nay: Trên đất quê hương, tưng bừng ngày húy nhật. Nhà thờ trưởng tộc họ ta, ngào ngạt khói hương. Toàn thể già trẻ gái trai, con cháu nhà nhà, Về đây tề tựu, với tấm lòng thành, tưởng nhớ các Tiên linh.

Tự hào thay : Được làm con cháu hậu duệ cụ Thượng tổ họ Đồng Bá.

Kiêu hãnh thay : Được mang dòng máu liệt vị Tiên linh họ Đồng Bá .

Nhớ thuở xưa : Quê hương họ ta, phụng thờ Thượng tướng quân Trần Hiển Đức, xưa thuộc bản trang Khê Khẩu sứ, thuộc huyện Đông Triều, phủ Kinh Môn, Hồng Châu đạo nay là thôn Khê Khẩu, xã Văn Đức, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

Cụ Thượng tổ Đồng Bá Trung sinh cơ, lập nghiệp, khai sinh dòng họ. Trải biết bao sóng gió, vượt muôn vàn gian lao, mở trời mở đất, sinh con, sinh cháu , đức lưu quang truyền nối đời đời.

Thời Phong kiến,con cháu họ Đồng Bá chung lưng đấu cật cùng nhau xây dựng xóm làng.

Khi giặc ngoại xâm xâm lăng bờ cõi,con cháu họ Đồng Bá ta không phân biệt già trẻ, gái trai đều cầm vũ khí bảo vệ quê hương đất nước. Tiếp bước tiên tổ, các thế hệ tiếp theo đã trên dưới thuận hòa, kỷ cương giữ vững, người người nhà nhà ra sức sản xuất, xây dựng, sẵn sàng hăng hái xung phong chiến thắng giặc đói, địch họa, thiên tai; tiếp tục mở mang quy mô dòng họ, lấy điều “nhân làm gốc” , thương yêu đùm bọc lẫn nhau, từ một gốc, đã nảy nhiều cành.

Tổ tiên dòng họ ta, lấy nông nghiệp làm gốc, chăm lo trồng trọt chăn nuôi; lấy sự học mở mang học vấn làm đầu, quyết chí tu thân tích đức; giỏi việc nhà chăm việc nước, nhiều người làm chức việc xã thôn; Chữ Hiếu chữ Trung, việc trong Họ, công giữa cộng đồng, trước sau giữ trọn.

Tự thuở khai sinh dòng Họ, đến nay lịch sử đã 4 thế kỉ, 3 thời đại trải hơn 300 năm ; Nhờ ơn đức cụ thượng tổ và các vị liệt tổ, liệt tông dòng họ nay đã đến đời thứ 9, họ Đồng Bá ngày càng phát triển thịnh vượng an khang, con con cháu cháu đời đời sinh sôi nảy nở.

Hôm nay đây: Vận nước trải qua đã lắm thăng trầm Lòng dân vẫn qui về một mối Trên nhờ ơn Đảng, Bác Hồ Giương cao ngọn cờ cách mạng Trong Họ nhờ hồng phúc Tổ tiên truyền lại ý chí kiên cường giành được độc lập tự do, ấm no hạnh phúc

Nên Nhân ngày giỗ Tổ ngưỡng vọng tôn linh. Lễ bạc, lòng thành những mong tường tỏ. Công Tổ tiên non cao, biển rộng. Phận cháu con phải cúng, phải thờ.

Toàn gia nguyện Tiếp nối nghiệp Tổ tông truyền lại, dạy cháu con mãi mãi noi theo. Mở lòng nhân, trồng cây đức. Giữ nếp nhà, vững bền muôn thuở.

Cúi xin Tổ tiên ban phúc, ban ân. Xá mọi lỗi lầm, dõi theo phù hộ. Điều lành mang đến, điều dữ mang đi. Thêm của, thêm người hanh thông quan lộ. Cho tử tôn, phồn thịnh khang ninh. Để dòng họ, trường tồn tiến bộ. Giãi tấm lòng thành, cúi xin thấu tỏ.

Cẩn cáo!

© Ghi rõ nguồn “ Trang thông tin họ Đồng Bá, Khê Khẩu, Văn Đức, Chí Linh, Hải Dương: http://hodongba.vn ” khi phát hành lại thông tin từ website này.

Những tin mới hơn Những tin cũ hơn

Văn Khấn Âm Hán : Cúng Giỗ Tổ Tiên / 2023

Kim nhân : Hiển khảo (hiển, tỷ, hiển tổ khảo, tổ tỷ….đọc linh vị người được cúng giỗ) (nếu cúng chính giỗ thì đề huý nhật phục lâm, nếu cúng trước ngày giỗ đề :huý nhật lai lâm).

Văn khấn Cáo âm phần long mạch, sơn thần, thổ phủ

(Khấn thần đất, thần núi ở nghĩa trang)

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam !

……………… tỉnh, ………….. quận, …………. phường, ……cụm ……….

Tại Hiển (đọc linh vị vong linh táng tại mộ đó)…………………. mộ tiền. Viết :

Tiên linh minh u trạch ư bản xứ chi nguyên.

Thích tư nhân : (Nếu cúng giỗ trước ngày đề :Lai nhật huý lâm, nếu đúng ngày đề : huý nhật.)

Cẩn dĩ : hương đăng, trà tửu, quả phẩm, hàn âm, kim ngân minh y, đẳng vật chi nghi, cung trần bạc tế.

Tôn thần đức đại, tải phụ công thâm, bảo hữu tý vong linh yên ổn, đồng tộc khang ninh, quân triêm phcú khánh, thực lại tôn thần, âm phù chi lực – dã.

Kính dĩ : Thổ công, Thổ phủ, tiền Chu tước, hậu Huyền vũ, tả Thanh long, hữu Bạch hổ, liệt vị chư thần, đồng lai hâm cách.

Văn tế tiên tổ

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam !

…………… tỉnh, ……………. quận, …………… phường, ………cụm …….

Lê(Nguyễn, Trần…) đường. đại tộc hậu duệ tôn, hiệp dữ chư vị thúc phụ, kỳ lão, cập nội ngoại/tử tôn/hôn tế/đồng tộc đẳng/ cảm kiền cáo vu :

Tư nhân : Huý nhật (nếu cúng trước ngày giỗ :Lai nhật huý lâm )

Cẩn dĩ : hương đăng, trà tửu, quả phẩm, hàn âm, kim ngân minh y, đẳng vật chi nghi, cung trần bạc tế.

Hiển : (đọc linh ị của người được giỗ)

Kính thỉnh Cao tổ khảo, liệt vị chư tiên linh vị tiền.

Ẩm phương truyền/ tu tri tỉnh xuất; Nhụ hương đạo/ yếu thức điền sinh//

Nhân cư/ thiên địa chi giang, chiếu nhiên giá lý;

Thế trọng/ tổ tiên chi báo, bản xuất vu tình.

Ân cần thế nghiệp, trung hậu gia thanh.

Di quyết/ tôn mưu yến dực, trường lưu/ ư phong kỷ;//

Thích tư/ Lạc thổ hạc cao, cửu luyến ư trà hinh//

Thiết tư/ mộc bản đồng căn/ kha diệp/ trùng khan sướng mẫu; Cảm dụng/ lễ nghi tận vật//phỉ phong/thức ngụ tinh thành//

Tu bằng/ cảm cách ư tiên linh.

Tư nhân/ Tổ huý/ Đồng tộc phụ nghênh. Cung trần phỉ lễ/ Mặc ngụ đan thành.

Kính cáo Táo quân, thổ thần, long mạch chiếu giám.