Sớ Thiên Quan Âm Hán Việt, Hán Nôm

--- Bài mới hơn ---

  • Tải Bài Sớ Văn Cúng Táo Quân 2021
  • Sớ Cúng Rằm Tháng Bảy
  • Tiễn Ông Táo Về Trời: Đốt Vàng Mã Đúng Cách Để Rước Lộc Cả Năm
  • Cúng Thần Tài Đầu Năm Mới Vào Giờ Nào Là Tốt Nhất?
  • Phủ Tây Hồ Và Tín Ngưỡng Thờ Mẫu Liễu Hạnh
  • Sớ Thiên Quan âm Hán Việt, được sưu tầm để cho các bạn tham khảo, các thầy chùa, thầy cúng và các bạn yêu thích Hán nôm, Hán Việt lưu trữ.

    伏 以 上 承

    天 之 大 德 曰 生 相o 帝 體 好 生 之 念o人 之 所 欲 者 壽o 有 生 求 延 壽 之 文o 某 節 祈 安o 天 官 錫 福 爰 有

    越 南 國 依 于

    家 處 居 奉

    佛 聖 獻 供 某 天 拜 禱o 天 官 祈 安 請 福o 送 厄 迎 祥o 求 康 寧 延 壽 事o 今 臣 信 主 即 日 仰 干

    大 德 俯 鉴 小心o 言 念 臣 等o 群 居 中 土o 頂 戴

    上 天o 軺 瞻 太 歳 之 權o 八柱 擎 天 行 化o 景 仰

    當 該 之 令o 五 方 溥 地 安 民o 今 年 行 行 病 行 灾o 偶 有 巡 遊 之 運 値o 民 眾 欲 安 欲 逸o 必 先 禮 禱 以 迎 祥o 爰 兹 旬 臨 某 節o 日 屆吉 時o 依 寺 堂 而 啓 建 法 坛o 禮 用 陳 于 式 燕 仗 玄 文 而 宣 行 科 範o 福 上 迓 于 初 筵o 謹 具 投 詞o 虔 伸 奏 上

    三 界 主 瘟o 天 符 大 帝 匡 輔 先 生 玉 陛 下

    當 年 某 王 行 遣 至 徳 尊 神o 某 行 兵 之 神o 某 曹 判 官 治 下

    當 境 城 隍 本 土 大 王 上 等 神 祠 下

    五 方 五 帝o 瘟 部 雜 部o 道 路 神 官 o 普 及

    四 辰 行 灾 之 神 位 前

    會 同 左 右 文 武 官 僚 案 下 恭 望

    天 神 職 掌 當 年o 權 該 週 歲o九 霄 欽

    帝 令o 行 時 而 春 脚 留 蘇o 萬 隊 擁 雄 兵o 到 處 而 秋 毫 無 犯o 伏 願

    五 瘟 聖 者o 遄 歸 東 海 之 津o

    行 病 鬼 王 速o 去 某 之 界o 福 留 民 社o 家 廷 盛 旺o 四 時 無 限 厄 凶 灾o 慶 溢 諸 家o 人 物 康 寧o 八 節 有 榮 花 勝 利o 咸 孚 燕 喜o 共 木

    鴻 庥o 但 臣 下 情 無 任 激 切 屏 营 之 至 謹 疏

    天 運 年 月 日 臣 叩 首 上 疏

    SỚ CÚNG QUAN THÁNH( Trung huyền nhật nguyệt )

    Phục Dĩ :

    Trung huyền nhật nguyệt thường chiếu như tại chi anh linh , khí tác sơn hà vĩnh ngưỡng vô cùng chi huệ trạch , nhất thành thượng đạt thốn niệm diêu thông .

    Sớ vị : Việt Nam Quốc …………….. gia cư phụng Phật Thánh tu hương hiến cúng ………. Thánh đức phủ giám phàm tâm . Ngôn niệm : Trung can lẫm lẫm , chánh khí đường đường , chiến Ngụy chinh Ngô , Tam Quốc anh hùng đệ nhất phong kim đô ấn thiên thu nghĩa khí vô song , tại Nho tại Đạo tại Thiền , nhân dân chiêm ngưỡng , hộ Quốc hộ Dân hộ Vật đại đại tôn sùng , tư giả cung trần tố phẩm dĩ hiến hoa diên , kiền thành phúng tụng Tiêu Tai Chư Phẩm thần Chú , tập thử thiện nhân kỳ tăng Phúc thọ , kim tắc cẩn cụ sớ văn hòa nam bái tấu .

    – Nam Mô Hiệp Thiên Đại Đế Hán Thất Hán Thọ Đình Hầu Quan Thánh Đế Quân Bồ Tát Chứng minh .

    Diên phụng : Linh Quan Vương Thiên Quân Thái Ất Lôi Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn . Cửu Thiên Phụ Nguyên Khai Hóa Linh Ứng Trương Tiên Đại Đế Thất Khúc ………. Thánh Thiên Tôn . Oai hiển Võ Linh Hầu Quan Thánh Thái Tử . Mã Tiền Uy Dũng Công Châu Đại Tướng Quân . Thị tùng bộ hạ nhất thiết oai linh , đồng thùy chiếu giám cọng giáng cát tường .

    Phục nguyện : Hộ Quốc hộ kỳ thần dân mặc tứ sùng thành chi Phúc chỉ , tại thượng tại kỳ tả hữu trường chiêm hiễn hách chi oai linh , khuôn phò đệ tử dĩ bình an , bảo hộ sinh nhân nhi cát khánh .

    Ngưỡng lại Thánh từ chứng minh . Cẩn sớ .

    Tuế thứ ………….. niên ………………….nguyệt ………………nhật ,thời .

    Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sớ Cúng Quan Thánh ( Trung Huyền Nhật Nguyệt )
  • Sớ Lễ Ngọc Hoàng Ngày Thánh Đản Đại Lễ 越南道教
  • Sớ Cúng Rằm Tháng Bảy Ontao Doc
  • Cúng Rằm Tháng Chạp 2021 Có Gì Khác So Với Ngày Rằm Hàng Tháng Và Phải Chuẩn Bị Những Gì?
  • Phân Biệt Văn Khấn Và Sớ
  • Sự Khác Nhau Giữa Bài Vấn Khấn Bằng Chữ Hán Và Chữ Nôm

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Bài Văn Khấn Văn Phòng Theo Tục Lệ Người Việt Nam
  • Văn Khấn Lễ Ban Tam Bảo
  • Văn Khấn Mùng Một Tết Chuẩn Nhất Cả Ngoài Trời Lẫn Gia Tiên
  • Văn Khấn Cúng Giao Thừa Trong Nhà Và Ngoài Trời Năm Kỷ Hợi 2021
  • Bài Văn Khấn Cúng Giao Thừa Trong Nhà Năm Kỷ Hợi 2021
  • Cúng giỗ được chia thành dịp trong năm, có thể là giỗ thường, giỗ gia tiên … Nhiều người cúng gia tiên bằng bài văn khấn chữ Hán, nhiều người lại cúng bằng chữ Nôm. Vì thế nên có các bài văn khấn khác nhau. Cùng tìm hiểu sự khác nhau giữa bài vấn khấn bằng chữ Hán và chữ Nôm

    Các bài cúng giỗ trong năm

    Bài văn cúng giỗ đầu : Hay còn được gọi là giỗ tiểu tường. Là ngày giỗ năm đầu tiên của người đã khuất. Vì thế ngày giỗ đầu thường được làm rất chu đáo, trang nghiêm và thường bi ai.

    Cúng ngày giỗ thường : Hay còn được gọi tên là Cát Kỵ là ngày giỗ của người đã mất hàng năm được tính từ năm thứ 3 trở đi. Thông thường chỉ làm giỗ trong thời gian là 5 năm sau đó thì gửi vào nhà thờ họ để thờ chung vào những dịp lễ tết và rằm tháng giêng.

    Văn khấn gia tiên ngày giỗ bằng chữ Nôm

    Con lạy chín phương trơi, mười phương trư phật, trư phật mười phương

    Con lạy Hoàng Thiên hậu Thổ chư vị Tôn Thần

    Con lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân

    Con lạy các ngài Thần linh, Thổ đia cai quản đất này.

    Hôm nay là ngày tháng năm (âm lịch)

    Ngày trước giỗ tiên thường của:

    Chúng con cùng toàn thể gia quyến tuân theo nghi lễ, thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả đốt nén tâm hương, trước án tọa Tôn thần cùng các trư vị uy linh, kính cẩn tâu trình.

    Chúng con mời các vị Bản gia Thổ công, Táo quan, Long Mạch và các Thần Linh thiêng hiển hiện trước án, chứng giám cho tấm lòng thành thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho toàn gia chúng con an ninh khang vạn thái, vạn sự tốt lành.

    Kính thỉnh các tiên linh, gia tiên chugns con và những vong hồn nội tộc được thờ phụng cùng về âm hưởng.

    Chúng con lễ bạc tâm thành cúi xin được phù hộ độ trì.

    Văn cúng giỗ bằng âm hán như thế nào

    Để hiểu hơn về văn cúng giỗ bằng âm hán bạn có thể tìm hiểu bài khấn mẫu sau đây.

    Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

    Đệ … Thập … Niên, tuế thứ … nguyệt … nhật … tỉnh … huyện … xã … phường … thôn…

    Trưởng nam: … Cùng thừa mẫu mệnh hiệp dữ chư thúc, dữ dồng bào đệ, tỷ, muội, nội, ngoại tử, tôn hôn, tề đẳng toàn gia kính bái.

    Cần dĩ: … chi nghi, cung trấn bạc tề

    Hiển: … tôn linh vi tiền, cảm kiền cáo vu

    Kính kỵ: .. liệt vị chư tiên linh, cập phụ vị, thương vong đẳng lòng tự, đồng lai hâm hưởng.

    Kính cáo: Bản gia đông trù mệnh Táo phủ thần quân, bản gia tiên thánh, tiên sư, bản viên thổ công, bản đường ngũ tự gia thần, mặc thùy chiều giám, đồng lai giám cánh, tích chi hanh cát.

    Bài văn khấn bằng chữ Nôm được nhiều người sử dụng do dễ đọc, dễ khấn còn đối với bài văn khấn bằng chữ Hán dành riêng cho những người thầy cúng. Hi vọng qua bài viết này các bạn đã hiểu được sự khác nhau giữa bài vấn khấn chứ Hán và chữ Nôm. Cảm ơn các bạn đã theo dõi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Chuẩn Nhất Lễ Chạp Mộ Cuối Năm Mời Gia Tiên Về Ăn Tết
  • Cầu Cho Quốc Thái Dân An
  • Mâm Cúng Tất Niên Cần Những Gì? Cúng Ngày Nào Đẹp [ Vượng Phú…]
  • Bài Văn Khấn Ban Công Đồng Đầy Đủ Nhất
  • Sự Tích Đền Cô Chí Mìu Bắc Giang
  • Bài Văn Khấn Ông Công Ông Táo Bằng Tiếng Việt, Chữ Nôm Và Tiếng Hán

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Ông Táo Hàng Ngày
  • Văn Khấn Rằm Tháng 7 Tại Nhà Chuẩn Bộ Văn Khấn Cổ Truyền Việt Nam
  • Lễ Cúng Ông Công Ông Táo Về Chầu Trời
  • Bài Văn Khấn Cúng Lễ Cầu Duyên, Văn Cúng Ông Tơ, Bà Nguyệt Cầu Duyên
  • Văn Khấn Tết Nguyên Đán
  • H.T (Tổng hợp)

    Hôm nay là ngày 23 tháng Chạp – ngày các Táo về trời. Xin giới thiệu để bạn đọc tham khảo những bài văn khấn ông Công ông Táo phổ biến nhất bằng tiếng Việt, chữ Nôm và tiếng Hán.

    Theo lệ, ngày 23 tháng Chạp, các gia đình Việt Nam sẽ sắm sửa lễ vật, bày biện ban thờ, cúng tiễn ông Công ông Táo chầu trời. Xin giới thiệu ba bài văn khấn ông Công ông Táo phổ biến nhất bằng chữ Hán, chữ Nôm và tiếng Việt để bạn đọc tham khảo.

    Văn khấn ông Công ông Táo bằng chữ Nho (chữ Tàu)

    Nam Quốc….. ……………………………………….

    *Tỉnh….. …………………………………………….

    *Thị….. ………………………………………..

    *Địa danh.Phường,Xã,Thôn ………………………..

    *Đệ tử……………..Tên…………………

    Hôm nay ngày ……Tại ………

    Tấu thỉnh Thổ Công táo quân thiên đình, tam giới, thần thánh chư thiên.

    Thiên phủ, địa phủ, thủy phủ. Nhạc phủ vạn pháp thần thông. Tấu thỉnh Thổ Địa thần kỳ, Thành Hoàng xá lệnh. Cung duy Thổ Công Táo Quân thiên đình.

    Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân. Thổ Gia Thổ Trạch Tứ Phương Ứng Giáng.

    Thỉnh Môn Thần, Phúc Sự. Thỉnh Tĩnh Thần Thanh Thủy. Thỉnh Hỏa Thần Thượng thiên

    Thỉnh Bếp Thần Linh Hỏa. Thỉnh Vua Bếp Tam Tài. Thỉnh Xí Thần. Thỉnh Khố Cung Thần trông nom trông gia nhân. Thỉnh Ngũ Phương Ngũ Đế.

    Hỏa hóa ngân lưỡng tống táo vương. Thượng thiên hảo sự quảng tuyên dương. Phụng đạo tụng kinh

    Kì thao thanh bình đệ tử…… Phàm cư đại trung hoa…tỉnh…thị…hiệu. Kim nhật kiền thành. Dĩ hương chúc thanh sái chi nghi kính cáo

    Cửu thiên trù phủ tôn thần chi vị tiền viết duy:

    Thần linh thông thiên phủ. Trạch phái nhân hoàn. Công sùng viêm đế. Đức bị dưỡng quần sinh.

    Đệ tử mỗi niên tứ quý. Ngưỡng lại tôn thần bảo hữu. Nhật thực tam xan. Toàn cảm đại đức khuông phù.

    Thánh đức quảng bác. Thốn tâm nan báo. Nhật thường chi gian. Ngôn hoặc phi lễ. Hành hoặc phi nghi. Trù tạo chi tế. Hoặc phần mao cốt. Hoặc đôi uế ô.

    Bất tri cấm kị. Mạo phạm táo quân đại vương. Hàng tai trí họa. Dĩ trí gia trạch bất an.

    Kinh doanh bất thông. Nhân đinh bất vượng. Sinh súc bất lợi. Thường sinh tật bệnh chi tai.

    Đệ tử hạp gia kiền niệm. Bặc kim đại cát lương thần.

    Phụng tụng táo vương phủ quân chân kinh nhất quyển

    Bổ tạ linh văn nhất hàm.

    Thành khẩn lễ bái.

    Thượng phụng

    Cửu thiên nhạc trù tư mệnh

    Thái ất nguyên hoàng định phúc . Phụng thiện thiên tôn vị tiền. Phục nguyện đại thi xá hựu.Vĩnh tăng phúc lộc. Phùng hung hóa cát. Phổ ước an ổn. Thánh từ động hồi. Chiêu cách văn sơ

    Thiên vận…niên….nguyệt….nhật.

    Văn cúng ông Táo bằng tiếng Việt

    Nam mô a di đà Phật!

    Nam mô a di đà Phật!

    Nam mô a di đà Phật!

    Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương

    Con kính lạy Ngài đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân.

    Tín chủ (chúng) con là: ……………

    Ngụ tại:…………

    Hôm nay, ngày 23 tháng chạp tín chủ chúng con thành tâm sắp sửa hương hoa phẩm luật, xiêm hài áo mũ, kính dâng tôn thần. Thắp nén tâm hương tín chủ con thành tâm kính bái.

    Chúng con kính mời ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân hiển linh trước án hưởng thụ lễ vật.

    Cúi xin Tôn thần gia ân xá tội cho mọi lỗi lầm trong năm qua gia chủ chúng con sai phạm. Xin Tôn thần ban phước lộc, phù hộ toàn gia chúng con, trai giá, già trẻ sức khỏe dồi dào, an khang thịnh vượng, vạn sự tốt lành.

    Chúng con lễ bạn tâm thành, kính lễ cầu xin, mong Tôn thần phù hộ độ trì.

    Nam mô a di đà Phật!

    Nam mô a di đà Phật!

    Nam mô a di đà Phật!

    Bài khấn nôm cúng ông Công ông Táo ngày 23 tháng Chạp

    Hôm nay là ngày… tháng… năm…

    Tên tôi (hoặc con là)…, cùng toàn gia ở…

    Kính lạy đức “Đông Trù tư mệnh Táo phủ Thần Quân:

    (Có thể khấn thêm: Thổ địa Long Mạch Tôn Thần. Ngũ phương ngũ thổ Phúc Đức chính Thần)

    Hàng năm gặp tiết hết năm, tháng vừa cuối Chạp. Gia đình sửa lễ bạc dâng lên. Cảm tạ phúc dày nhờ Thần phù hộ. Kính mong thần tâu bẩm giúp cho:

    Bếp trong nếp sống rất hòa, ngoài mặt dám rằng cũng đẹp. Cảm thông xin tấu thực thà. Cầu mong giúp đỡ lợi lạc. Người người lo ấm, cả nhà thêm tiếng tốt lẫy lừng. Việc việc thành công, một cửa ngút khí lành man mác. Muôn trông ơn đức vô cùng.

    Cẩn cốc (vái 4 vái)

    Xin giới thiệu cách chuẩn bị mâm cỗ cúng ông Công ông Táo ngày 23 tháng Chạp đơn giản mà đầy đủ nhất để bạn đọc tham khảo.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Ông Hoàng Bảy
  • Bài Văn Khấn Ông Địa Thần Tài Nhân Ngày Khai Trương Trọng Đại
  • Bài Văn Khấn Ông Công Ông Táo Như Thế Nào
  • Văn Khấn Ông Công Ông Táo 23 Tháng Chạp Âm Lịch
  • Văn Khấn Đền Ông Hoàng Bảy Đầy Đủ Và Chi Tiết Nhất
  • Chữ Nôm Là Gì? Sự Khác Nhau Giữa Chữ Hán Và Chữ Nôm ⇒By Tiếng Trung Chinese

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Cúng Nhà Thờ Họ Ngày 1 Và Rằm Hàng Tháng
  • Bài Văn Khấn Nôm Ông Hoàng Bảy Đầy Đủ
  • Truyền Thuyết Và Bài Văn Khấn Ông Hoàng Mười
  • Tìm Hiểu Sự Tích Và Bài Văn Khấn Ông Hoàng Mười
  • Tiệc Ông Hoàng Mười Vào Ngày Nào? Sắm Lễ, Văn Khấn
  • Chữ Nôm (字喃), còn gọi là Quốc âm (chữ Hán: 國音), là một hệ chữ ngữ tố từng được dùng để viết tiếng Việt, gồm các từ Hán-Việt và các từ vựng khác. Nó bao gồm bộ chữ Hán tiêu chuẩn và các chữ khác được tạo ra dựa theo quy tắc.

    Chữ Nôm là gì? Định nghĩa

    Cả hai từ “Chữ” và “Nôm” trong chữ Nôm đều là từ Hán Việt cổ. Từ chữ bắt nguồn từ cách phát âm trong tiếng Hán thượng cổ của chữ “tự” 字 (có nghĩa là chữ).

    Từ “Nôm” bắt nguồn từ cách phát âm trong tiếng Hán trung cổ của chữ “nam” 南 (có nghĩa là phía nam). Ý của tên gọi chữ Nôm là đây là thứ chữ dùng để ghi chép tiếng nói của người phương Nam (tức người Việt, xưa kia người Việt tự xem mình là người phương Nam, còn người Trung Quốc là người phương Bắc).

    Tên gọi chữ Nôm khi viết bằng chữ Nôm có thể viết bằng rất nhiều cách khác nhau:

    字喃,(⿰字宁)喃,(⿰字守)喃,喃,茡喃,芓喃,(⿰字文)喃,喃,佇喃,宁喃

    字諵,(⿰字宁)諵(⿰字守)諵,諵,茡諵,芓諵,(⿰字文)諵,諵,佇諵,宁諵

    Vậy còn Chữ Nho là gì?

    Danh từ chữ Nho được dùng để chỉ chữ Hán do người Việt dùng trong các văn bản ở Việt Nam.

    Các quan điểm về sự hình thành của chữ Hán Nôm

    Cách cấu tạo chữ Nôm có thể đã manh nha ló dạng từ những năm đầu khi người Hán chinh phục đất Giao Chỉ (Miền Bắc Việt Nam) và đặt nền đô hộ trên các bộ lạc người Việt vào đầu Công Nguyên.

    Vì ngôn ngữ khác biệt, những “chữ Nôm” đầu tiên xuất hiện vì nhu cầu ghi địa danh, tên người hoặc những khái niệm không có trong Hán văn. Song chứng cứ còn lưu lại hết sức ít ỏi, khó kiểm chứng được một cách chính xác.

    Phạm Huy Hổ trong “Việt Nam ta biết chữ Hán từ đời nào?” thì cho rằng chữ Nôm có từ thời Hùng Vương. Văn Đa cư sĩ Nguyễn Văn San lại cho rằng chữ Nôm có từ thời Sĩ Nhiếp cuối đời Đông Hán thế kỷ thứ 2.

    Nguyễn Văn Tố dựa vào hai chữ “bố cái” trong danh xưng “Bố Cái đại vương” do nhân dân Việt Nam suy tôn Phùng Hưng mà cho rằng chữ Nôm có từ thời Phùng Hưng thế kỷ thứ 8.

    Ý kiến khác lại dựa vào chữ “cồ” trong quốc hiệu “Đại Cồ Việt” (大瞿越) để cho rằng chữ Nôm có từ thời Đinh Tiên Hoàng.

    Trong một số nghiên cứu vào thập niên 1990, các học giả căn cứ vào đặc điểm cấu trúc nội tại của chữ Nôm, dựa vào cứ liệu ngữ âm lịch sử tiếng Hán và tiếng Việt, so sánh đối chiếu hệ thống âm tiếng Hán và tiếng Hán Việt đã đi tới kết luận rằng âm Hán Việt (âm của người Việt đọc chữ Hán) ngày nay bắt nguồn từ thời nhà Đường-nhà Tống thế kỷ 8-9.

    Và nếu âm Hán Việt có từ thời Đường, Tống thì chữ Nôm không thể ra đời trước khi cố định cách đọc Hán Việt (nếu xét chữ Nôm với tư cách hệ thống văn tự) và chỉ có thể ra đời sau khoảng thế kỷ thứ 10 khi người Việt thoát khỏi nghìn năm Bắc thuộc với chiến thắng của Ngô Quyền vào năm 938.

    Về văn bản thì khi tìm chứng tích trước thời nhà Lý, văn tịch hoàn toàn không lưu lại dấu vết chữ Nôm nào cả. Sang thời Lý thì mới có một số chữ Nôm như trong bài bi ký ở chùa xã Hương Nộn, huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ (tạc năm 1173 niên hiệu Chính Long Bảo Ứng thứ 11) hay bia chùa Tháp Miếu, huyện Yên Lãng (nay thuộc Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc (tạc năm 1210 triều vua Lý Cao Tông).

    Trước tác thì phải sang thời nhà Trần mới có dấu tích rõ ràng. Hàn Thuyên là người có công lớn phát triển thơ Nôm thời kỳ này với việc mở đầu thể Hàn luật.

    Sự hình thành và Phát triển của chữ Hán Nôm

    Ban đầu khi mới xuất hiện, chữ Nôm thuần túy mượn dạng chữ Hán y nguyên để ghi âm tiếng Việt cổ (mượn âm để chép tiếng Quốc âm). Phép đó gọi là chữ “giả tá”.

    Dần dần phép ghép hai chữ Hán lại với nhau, một phần gợi âm, một phần gợi ý được dùng ngày càng nhiều và có hệ thống hơn.

    Phép này gọi là “hài thanh” để cấu tạo chữ mới. Kể từ thời Lê về sau số lượng sáng tác bằng chữ Nôm tăng dần trong suốt 500 năm từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19. Dồi dào nhất là các áng thi văn có tính cách cảm hứng, tiêu khiển, và nặng phần tình cảm.

    Những tác phẩm Nôm này rất đa dạng: từ Hàn luật (thơ Nôm (tiếng Việt) theo luật Đường), đến văn tế, truyện thơ lục bát, song thất lục bát, phú, hát nói, tuồng, chèo.

    Thi ca chữ Nôm đã diễn tả đầy đủ mọi tình cảm của dân tộc Việt, khi thì hào hùng, khi bi ai; khi thì trang nghiêm, khi bỡn cợt.

    Chữ Hán Nôm Trước thế kỷ 15

    Một số di tích còn lưu lại dấu vết chữ Nôm trước thế kỷ 15 nhưng số lượng không nhiều ngoài vài văn bia.

    Tuy nhiên có thuyết cho rằng một tác phẩm quan trọng là tập Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, dịch Nôm là Phật nói cả trả ơn áng ná cực nặng đã ra đời vào thời nhà Lý khoảng thế kỷ 12. Đây cũng là đặc điểm vì tập này là văn xuôi, một thể văn ít khi dùng chữ Nôm.

    Nhà Trần cũng để lại một số tác phẩm chữ Nôm như mấy bài phú của vua Trần Nhân Tông: “Cư trần lạc đạo phú” (居塵樂道賦) và “Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca” (得趣林泉成道歌).

    Chữ Hán Nôm Thế kỷ 15 -17

    Thời kỳ này phần lớn thi văn lưu truyền biết tới nay là thơ Hàn luật bát cú hoặc tứ tuyệt.

    Một số là trước tác cảm hứng riêng như:

    • Quốc âm thi tập (Nguyễn Trãi)
    • Hồng Đức quốc âm thi tập (Lê Thánh Tông)
    • Bạch Vân am thi tập (Nguyễn Bỉnh Khiêm)
    • Ngự đề hoà danh bách vịnh (Chúa Trịnh Căn)
    • Tứ thời khúc vịnh (Hoàng Sĩ Khải)
    • Ngọa long cương (Đào Duy Từ)

    nhưng cũng không thiếu những tác phẩm theo dạng sử ký như: Thiên Nam Minh giám, Thiên Nam ngữ lục.

    Thơ lục bát cũng xuất hiện với tác phẩm “Cảm tác” của Nguyễn Hy Quang, được sáng tác năm 1674.

    Thế kỷ 17 cũng chứng kiến sự xuất hiện nhưng đã sớm nở rộ của văn học Nôm Công giáo, với những tác giả tên tuổi như nhà truyền giáo Girolamo Maiorica (chủ trì biên soạn hơn 45 tác phẩm nhiều thể loại), thầy giảng Gioan Thanh Minh (viết tiểu sử các danh nhân và thánh nhân), thầy giảng Lữ-y Đoan (viết Sấm truyền ca, truyện thơ lục bát phỏng tác từ Ngũ Thư).

    Chữ Hán Nôm Thế kỷ 18 – 19

    Thơ Hàn luật của những thế kỷ kế tiếp càng uyển chuyển, lối dùng chữ càng tài tình, hóm hỉnh như thơ của Hồ Xuân Hương hay Bà Huyện Thanh Quan.

    Ngược lại thể thơ dài như Ai tư vãn của Ngọc Hân Công chúa cùng thể song thất lục bát trong Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm lưu danh những nữ sĩ biệt tài thời trước.

    Riêng Chinh phụ ngâm được xem là một tuyệt tác, có phần trội hơn nguyên bản chữ Nho.

    Thể song thất lục bát cũng lưu lại tác phẩm Cung oán ngâm khúc, lời văn cầu kỳ, hoa mỹ nhưng thể thơ phổ biến nhất là truyện thơ lục bát, trong đó phải kể Truyện Kiều (Nguyễn Du) và Lục Vân Tiên (Nguyễn Đình Chiểu).

    Văn từ truyện thơ bình dị hơn nhưng lối hành văn và ý tứ không kém sâu sắc và khéo léo.

    Những tác phẩm truyện Nôm khuyết danh khác như:

    tất cả được phổ biến rộng rãi khiến không mấy người Việt lại không biết vài câu, nhất là Truyện Kiều.

    Dưới triều đại nhà Tây Sơn, do sự hậu thuẫn của Quang Trung hoàng đế, toàn bộ các văn kiện hành chính bắt buộc phải viết bằng chữ Nôm trong 24 năm, từ 1788 đến 1802.

    Thời kỳ cuối của chữ Nôm xuất hiện nhiều tác phẩm thi ca theo thể hát nói như của Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh, Tú Xương v.v.

    Những thể cũ song thất lục bát và lục bát (các truyện Nôm) vẫn góp mặt song thêm vào đó là những vở tuồng hoặc chèo dân gian cũng được soạn bằng chữ Nôm như Kim Thạch kỳ duyên, Chàng Lía (Văn Doan diễn ca), Quan Âm Thị Kính.

    Đối ngược lại tài liệu văn học thì triết học, sử học, luật pháp, y khoa và ngữ học tuy có được ghi lại bằng chữ Nôm nhưng tương đối ít. Văn vần thì có Đại Nam quốc sử diễn ca (thời Nguyễn).

    Đặc biệt là cuốn từ điển song ngữ Hán Nôm Đại Nam Quốc ngữ do Văn Đa Nguyễn Văn San soạn năm Tự Đức thứ 30 (1877).Song sử liệu, nhất là chính sử cùng các văn bản hành chính của triều đình thì nhất thể đều bằng chữ Hán.

    Ngoại lệ là những năm tồn tại ngắn ngủi của nhà Hồ (thế kỷ 15) và nhà Tây Sơn (thế kỷ 18).

    Những văn bản hành chính như sổ sách, công văn, giấy tờ, thư từ, khế ước, địa bạ v.v. chỉ đôi khi xen chữ Nôm nếu không thể tìm được một chữ Hán đồng nghĩa để chỉ các danh từ riêng (như tên đất, tên làng, tên người), nhưng tổng thể vẫn là văn bản Hán Việt.

    Sự Suy giảm của chữ Hán Nôm

    Dưới chính quyền thuộc địa và bảo hộ của Pháp, vào cuối thế kỷ 19 tại Nam Kỳ và đầu thế kỷ 20 tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ, vị thế của chữ Hán và chữ Nôm bắt đầu giảm sút.

    Kỳ thi Hương cuối cùng tại Nam Kỳ được tổ chức vào năm 1864, tại Bắc Kỳ là năm 1915, tại Trung Kỳ là năm 1918 và kỳ thi Hội sau cùng được tổ chức vào năm 1919.

    Trong chừng mực nào đó, chữ Hán vẫn tiếp tục được dạy trong thời Pháp thuộc. Học chính Tổng quy (Règlement général de l’Instruction publique) do Toàn quyền Albert Sarraut ban hành năm 1917 quy định ở cấp tiểu học, mỗi tuần dạy Hán tự một giờ rưỡi và dạy tiếng Pháp (lớp nhì và lớp nhất) ít nhất 12 giờ.

    Ở cấp trung học, mỗi tuần quốc văn (gồm Hán tự và Quốc ngữ) dạy 3 giờ trong khi Pháp văn và lịch sử Pháp dạy 12 giờ.

    Bên cạnh bộ Quốc-văn giáo-khoa thư của nhóm Trần Trọng Kim, Nha Học chính Đông Pháp còn tổ chức và cho sử dụng bộ Hán-văn tân giáo-khoa thư xuất bản lần đầu năm 1928 do Lê Thước và Nguyễn Hiệt Chi biên soạn, đều được dùng rộng rãi cho tới trước năm 1949.

    Tại miền Bắc, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dừng việc dạy chữ Hán trong nhà trường kể từ năm 1950. Còn tại miền Nam, Giáo dục Việt Nam Cộng hòa quy định dạy chữ Hán cho học sinh trung học đệ nhất cấp….? Sau tái thống nhất, chương trình giáo dục phổ thông của Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam không giảng dạy chữ Hán.

    Chữ Nôm và chữ Quốc ngữ

    Chữ Nôm và chữ Quốc ngữ là hai hệ chữ dùng để viết tiếng Việt, chúng có vai trò khác nhau trong dòng lịch sử và văn hóa.

    Chữ Quốc ngữ được các nhà truyền giáo Dòng Tên tại Việt Nam sáng chế dựa trên ký tự Latinh vào nửa đầu thế kỷ 17 và suốt một thời gian dài tới cuối thế kỷ 19 chỉ được lưu hành trong giới Công giáo.

    Tuy nhiên, trái với nhiều người lầm tưởng, trong thời kỳ này, lượng văn thư Kitô giáo chữ Nôm vượt xa chữ Quốc ngữ, và sách chữ Nôm vẫn được người Công giáo sử dụng cho đến giữa thế kỷ 20.

    Thời Pháp thuộc, chính quyền thuộc địa muốn tăng cường ảnh hưởng của tiếng Pháp và hạn chế ảnh hưởng của Hán học cùng với chữ Hán. Sự giảm sút của chữ Hán cũng dẫn đến sự suy giảm của chữ Nôm.

    Về văn tự thay thế để viết tiếng Việt, họ bất đắc dĩ phải chấp nhận sự hiện hữu của chữ Quốc ngữ do các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha chế tạo.

    Các phong trào cải cách như Hội Trí Tri, phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục và ngành báo chí mới hình thành đã góp phần quan trọng vào việc truyền bá chữ Quốc ngữ.

    Ngày nay, tiếng Việt hầu như được viết hoàn toàn bằng chữ Quốc ngữ, trong khi đó chỉ rất ít người, chủ yếu là các học giả, có thể đọc viết được chữ Nôm.

    Một số người cho rằng chữ Quốc ngữ đã làm lu mờ vị thế của chữ Nôm nhưng một số khác thì nhấn mạnh rằng về mặt kỹ thuật, hai hệ chữ này không loại trừ nhau, nghĩa là, người ta vẫn có thể biết chữ Quốc ngữ đồng thời học chữ Nôm vì điều này không ai ngăn cấm cả.

    Những cách tạo chữ Nôm

    Mượn cả âm và nghĩa của chữ Hán

    Mượn cả âm đọc (âm Hán Việt) và nghĩa của chữ Hán để ghi lại các từ từ Hán Việt. Âm Hán Việt có ba loại là:

    • Âm Hán Việt tiêu chuẩn: bắt nguồn từ ngữ âm tiếng Hán thời Đường.

      Ví dụ: “ông” 翁, “bà” 婆, “thuận lợi” 順利, “công thành danh toại” 功成名遂.

    • Âm Hán Việt cổ: bắt nguồn từ ngữ âm tiếng Hán trước thời Đường.

      Ví dụ: “mùa” 務 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là”vụ”), “bay” 飛 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là “phi”), “buồng” 房 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là “phòng”).

    • Âm Hán Việt Việt hoá: là các âm gốc Hán bị biến đổi cách đọc do ảnh hưởng của quy luật ngữ âm tiếng Việt.

      Ví dụ: “thêm” 添 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là “thiêm”), “nhà” 家 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là “gia”), “khăn” 巾 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là “cân”), “ghế” 几 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là “kỉ”).

    Ba loại âm Hán Việt kể trên đều được dùng trong chữ Nôm.

    Mượn âm chữ Hán, không mượn nghĩa

    Mượn chữ Hán đồng âm hoặc cận âm để ghi âm tiếng Việt. Âm mượn có thể là âm Hán Việt tiêu chuẩn, âm Hán Việt cổ hoặc âm Hán Việt Việt hoá. Khi đọc có thể đọc giống với âm mượn hoặc đọc chệch đi.

    Ví dụ: Đọc giống như âm Hán Việt tiêu chuẩn:

    • chữ “một” 沒 có nghĩa là “chìm” được mượn dùng để ghi từ “một” trong “một mình”,
    • chữ “tốt” 卒 có nghĩa là “binh lính” được mượn dùng để ghi từ “tốt” trong “tốt xấu”,
    • chữ “xương” 昌 có nghĩa là “hưng thịnh” được mượn dùng để ghi từ “xương” trong “xương thịt”,
    • chữ “qua” 戈 là tên gọi của một loại binh khí được mượn dùng để ghi từ “qua” trong “hôm qua”.

    Đọc chệch âm Hán Việt tiêu chuẩn:

    • “gió” 這 (mượn âm “giá”),
    • “cửa” 舉 (mượn âm “cử”),
    • “đêm” 店 (mượn âm “điếm”),
    • “chạy” 豸 (mượn âm “trãi”).

    Đọc giống như âm Hán Việt cổ:

    • chữ “keo” 膠 (“keo” trong “keo dán”, âm Hán Việt tiêu chuẩn là “giao”) được dùng để ghi lại từ “keo” trong “keo kiệt”,
    • chữ “búa” 斧 (“búa” trong “cái búa”, âm Hán Việt tiêu chuẩn là “phủ”) được dùng để ghi lại từ “búa” trong “chợ búa” (“búa” trong “chợ búa” là âm Hán Việt cổ của chữ “phố” 鋪).

    Mượn nghĩa chữ Hán, không mượn âm

    Mượn chữ Hán đồng nghĩa hoặc cận nghĩa để ghi lại âm tiếng Việt.

    Ví dụ:

    • chữ “dịch” 腋 có nghĩa nghĩa là “nách” được dùng để ghi lại từ “nách” trong “hôi nách”,
    • chữ “năng” 能 có nghĩa là “có tài, có năng lực” được dùng để ghi lại từ “hay” trong “văn hay chữ tốt”.

    Tạo chữ ghép Chữ ghép, còn gọi chữ là chữ hợp thể, là chữ được tạo ra bằng cách ghép hai hoặc nhiều hơn chữ khác thành một chữ.

    Các chữ cấu thành nên chữ ghép có thể đóng vai trò là thanh phù (bộ phận biểu thị âm đọc của chữ ghép) hoặc nghĩa phù (bộ phận biểu thị ý nghĩa của chữ ghép) hoặc vừa là thành phù vừa là nghĩa phù hoặc dùng làm phù hiệu chỉnh âm chỉ báo cho người đọc biết chữ này cần phải đọc chệch đi.

    Chúng có thể được viết nguyên dạng hoặc bị viết tỉnh lược mất một phần hoặc thay bằng chữ giản hóa. Thanh phù luôn có âm đọc giống hoặc gần giống với âm đọc của chữ ghép.

    Phù hiệu chỉnh âm được dùng trong chữ Nôm là bộ “khẩu” 口 (đặt ở bên trái chữ ghép), dấu “cá” 亇 (bắt nguồn từ chữ “cá” 个 viết theo thể thảo thư, đặt ở bên phải chữ ghép), dấu nháy “?” (đặt ở bên phải chữ ghép), bộ “tư” 厶 (đặt ở bên trên hoặc bên phải chữ ghép), dấu “冫” (đặt bên trái chữ ghép, chỉ thấy dùng trong các bản văn bản Nôm ở vùng Nam Bộ Việt Nam).

      “chân” 蹎 (“chân” trong “chân tay”): chữ này được cấu thành từ chữ “túc” 足 và chữ “chân” 真. “Túc” 足 có nghĩa là “chân” được dùng làm “nghĩa phù” biểu thị ý nghĩa của chữ ghép.

    Trong chữ ghép chữ “túc” 足 khi đứng ở bên trái phải viết dưới dạng biến thể gọi là “bàng chữ túc” ⻊. Chữ “chân” 真 (“chân” trong “chân thành”) đồng âm với “chân” trong “chân tay” được dùng làm thanh phù biểu thị âm đọc của chữ ghép.

    • “gạch” ? (“gạch” trong “gạch ngói”): chữ này được cấu thành từ chữ “thạch” 石 và chữ “ngạch” 額. “Thạch” 石 có nghĩa là “đá” được dùng làm nghĩa phù, ý là gạch thì được làm bằng đất đá. “Ngạch” 額 dùng làm thanh phù.
    • “khói” : chữ này được cấu thành từ chữ “hỏa” 火 và chữ “khối” 塊 bị tỉnh lược một phần (tỉnh lược bộ “thổ” 土 ở bên trái chữ “khối” 塊). “Hỏa” 火 có nghĩa là lửa, gợi ý nghĩa của chữ ghép (lửa cháy tạo ra khói), “khối” 塊 gợi âm đọc của chữ ghép.
    • “ra” : chữ này được cấu thành từ chữ “la” 羅 giản hóa và chữ “xuất” 出. “Xuất” 出 có nghĩa là “ra” biểu thị ý nghĩa của chữ ghép.
    • “trời” : chữ này được cấu thành từ chữ “thiên” 天 có nghĩa là “trời” và chữ “thượng” 上 có nghĩa là “trên”, ý là “trời” thì nằm ở trên cao.
    • “lử” : (“lử” trong “mệt lử”) gồm chữ “vô” 無 có nghĩa là “không có” và chữ “lực” 力 có nghĩa là “sức, sức lực”, ý là “lử” là không còn sức lực gì nữa.

    Tiếng Việt hiện đại không có phụ âm kép nhưng trong tiếng Việt từ giai đoạn trung đại trở về trước thì lại có phụ âm kép. Trong chữ Nôm hợp thể để biểu thị các phụ âm kép người ta dùng một hoặc hai chữ làm thanh phù. Nếu dùng hai chữ làm thanh phù thì một chữ sẽ dùng để biểu thị phụ âm thứ nhất của phụ âm kép, chữ còn lại biểu thị phụ âm thứ hai của phụ âm kép. Ví dụ:

    – “blăng” : “Blăng” hiện nay đã biến đổi thành “trăng, giăng”. Chữ “blăng” ? được cấu thành từ chữ “ba” 巴, chữ “lăng” 夌 và chữ “nguyệt” 月. “Ba” 巴 biểu thị phụ âm thứ nhất “b” của phụ âm kép “bl”, “lăng” 夌 biểu thị phụ âm thứ hai “l” và phần vần của từ “blăng”, “nguyệt” 月 có nghĩa là “mặt trăng” biểu thị ý nghĩa của chữ ghép này.

    – “mlời” : “Mlời” hiện nay đã biến đổi thành “lời, nhời” (“lời” trong “lời nói”). Chữ “mlời” ? được cấu thành từ chữ “ma” 麻 (bị tỉnh lược thành “亠”) và chữ “lệ” 例. “Ma” 麻 biểu thị phụ âm thứ nhất

    – “m” của phụ âm kép “ml”, “lệ” 例 biểu thị phụ âm thứ hai “l” và phần vần cửa từ “mlời”.

    – “tlòn” : “ Tlòn” hiện nay đã biến đổi thành “tròn”. Chữ này được cấu thành từ chữ “viên” 圓 (bị tỉnh lược bộ “vi” 囗 ở phía ngoài thành “員”) và chữ “lôn” 侖. “Viên” 圓 có nghĩa là “tròn” được dùng làm nghĩa phù. “Lôn” 侖 là thanh phù, biểu thị phụ âm thứ hai “l” của phụ âm kép “tl” và phần vần của từ “tlòn”.

    – “krông” 滝: “Krông” hiện nay đã biến đổi thành “sông”. Chữ này được cấu thành từ bộ “thủy” 水 và chữ “long” 竜. “Thủy” có nghĩa là “sông” biểu thị ý nghĩa của chữ ghép. “Long” 竜 biểu thị phụ âm thứ hai “r” của phụ âm kép “kr” và phần vần của từ “krông”.

    – “sláu” : “sláu” hiện nay đã biến đổi thành “sáu”. Chữ này được cấu thành từ chữ “lão” và chữ “lục”. “Lục” 六 là nghĩa phù, có nghĩa là “sáu”. “Lão” 老 là thanh phù, biểu thị phụ âm thứ hai “l” của phụ âm kép “sl” và phần vần của từ “sláu”.

    Lược bớt nét của chữ Hán để biểu thị phải đọc chệch đi

    Lược bớt ít nhất là một nét của một chữ Hán nào đó để gợi ý cho người đọc biết rằng chữ này phải đọc chệch đi.

    Ví dụ:

    – chữ “ấy” : lược nét chấm “丶” trên đầu chữ “ý” 衣. Việc lược bớt nét bút này gợi ý cho người đọc biết rằng chữ này không đọc là “y” hay “ý” (chữ 衣 có hai âm đọc là “y” và “ý”) mà cần đọc chệch đi.

    – “khệnh khạng” : chữ “khệnh ? là chữ “cộng” 共 bị lược bớt nét phẩy “㇒”, chữ “khạng” ? là chữ “cộng” 共 bị lược bớt nét mác “㇔”.

    – “khề khà”: chữ “khề” ? là chữ “kỳ” bị lược bớt nét phẩy “㇒”, chữ “khà” ? là chữ “kỳ” bị lược bớt nét mác “㇔”.

    Mượn âm của chữ Nôm có sẵn

    Dùng chữ Nôm có sẵn để ghi lại từ tiếng Việt đồng âm hoặc cận âm nhưng khác nghĩa hoặc đồng nghĩa nhưng khác âm với chữ được mượn. Khi đọc có thể đọc giống với âm đọc của chữ được mượn hoặc đọc chệch đi.

    Ví dụ:

    • Đọc giống với âm đọc của chữ được mượn: chữ “chín” ? (“chín” trong “chín người mười ý”) được dùng để ghi từ “chín” trong “nấu chín”.
    • Đọc chệch âm: chữ “đá” ? (“đá” trong “hòn đá”) được dùng để ghi từ “đứa” trong “đứa bé”.

    Nhược điểm của chữ Hán Nôm

    Nhìn chung chữ Nôm thường có nhiều nét hơn, phức tạp hơn chữ Hán (do phần lớn là những chữ buộc phải ghép 2 chữ Hán lại) nên khó học, khó nhớ hơn cả chữ Hán vốn cũng đã khó nhớ.

    Để đọc viết được chữ Nôm đòi hỏi phải có vốn hiểu biết chữ Hán nhất định. Hệ chữ Nôm cũng không có sự thống nhất: có thể có nhiều chữ dùng để ghi cùng một âm tiết, hoặc ngược lại, một chữ có thể có nhiều cách đọc khác nhau.

    Tình trạng này còn do “tam sao thất bản”, phần vì trình độ người thợ khắc chữ ngày xưa, phần vì khâu in mộc bản có chất lượng không cao (chữ bị nhòe, mất nét). Do đó có người nói “chữ Nôm phải vừa đọc vừa đoán”, “nôm na là cha mách qué”.

    Về mặt ngữ học thì do âm trong tiếng Việt nhiều hơn số âm trong tiếng Hán (tiếng Việt có 4500 đến 4800 âm; tiếng Hán Quan thoại có khoảng 1280 âm) nên người viết phải dùng dấu nháy đặt cạnh một chữ để biểu thị những chữ cận âm.

    Người đọc vì vậy phải giỏi mà đoán cho trúng âm, khiến chữ Nôm rất khó đọc.

    Chữ Nôm của các dân tộc khác

    Ở Việt Nam, không chỉ có dân tộc Kinh chế tạo ra chữ Nôm, một vài dân tộc thiểu số khác như Tày, Dao, Ngạn,… cũng tạo ra chữ Nôm dựa trên chữ Hán để lưu lại ngôn ngữ của họ.[19]

    Chữ Nôm Tày

    Chữ Nôm Dao

    Chữ Nôm Ngạn

    Người Ngạn, một nhóm cư dân ở tỉnh Cao Bằng tự nhận thuộc dân tộc Tày nhưng về mặt ngôn ngữ thì gần với người Giáy, từng sử dụng chữ Nôm Ngạn trộn với chữ Hán trong các bài mo (khấn cúng).

    “Chữ nôm” của các nước khác

    Do 喃 nôm = 口 khẩu + 南 nam nên chữ “喃 nôm” trong tên gọi “chữ Nôm” thường được hiểu với ý nghĩa là “ngôn ngữ của người Nam”.

    Tuy nhiên, nếu mở rộng khái niệm “chữ nôm” ra cho tất cả các hệ chữ được sáng tạo dựa trên chữ Hán thì có người còn gọi những chữ được các dân tộc phương bắc như Nhật Bản, Triều Tiên là “chữ nôm Nhật”, “chữ nôm Triều”, hay gọi những hệ thống chữ của các dân tộc thuộc Trung Quốc như Tráng, Đồng, v.v. là “chữ nôm Choang”, “chữ nôm Đồng”, v.v.

    Kokuji (国字 Quốc tự) trong hệ thống Kanji của người Nhật cũng được tạo thành từ chữ Hán để ghi lại những từ và khái niệm riêng trong tiếng Nhật.

    Ví dụ: 畑 hatake = 火 hoả + 田 điền, nghĩa là cánh đồng khô, để phân biệt với 田 là ruộng trồng lúa nước; 鮭 sake = 魚 ngư + 圭 khuê, nghĩa là cá hồi Nhật Bản; 瓩 kiloguramu = 瓦 ngoã + 千 thiên, nghĩa là kílô-gam.

    Trong hệ thống Kanji hiện đại, cũng có nhiều chữ không có trong các tự điển Trung Quốc nhưng không phải là Kokuji vì đó chỉ là cách đơn giản hoá những chữ Hán đã có sẵn theo kiểu của người Nhật.

    Ví dụ:

    円 là giản thể của 圓 viên; 売 là giản thể của 賣 mại.

    Tương tự như Kokuji của người Nhật, người Triều Tiên cũng dùng chữ Hán để tạo thành một số chữ biểu ý riêng trong hệ thống Hanja của họ. Ví dụ: 畓 dap = 水 thuỷ + 田 điền, nghĩa là ruộng nước, để phân biệt với 田 là đồng khô; 巭 bu = 功 công + 夫 phu, nghĩa là người lao động.

    Chữ Choang vuông Sawndip của người Tráng ở cực nam Trung Quốc được phát triển dựa trên chữ Hán và thường được so sánh với chữ Nôm của dân tộc Kinh ở Việt Nam do có nhiều điểm tương đồng giữa hai hệ thống chữ viết này.

    Tuy nhiên, ngoài những cách tạo chữ tương tự với cách tạo chữ Nôm là giả tá, hình-thanh và hội ý, còn có những chữ vuông Choang được tạo ra bởi những cách sơ khai hơn là tượng hình và chỉ sự

    Tuy nhiên, cũng nên phân biệt những “chữ nôm” này với những bộ chữ biểu âm như Kana và Hangul trong tiếng Nhật và tiếng Hàn hiện đại.

    Các phần mềm viết chữ Hán Nôm

    Có nhiều phần mềm máy tính tạo ra ký tự chữ Nôm bằng cách gõ chữ Quốc ngữ.

    HanNomIME là phần mềm chạy trên Windows hỗ trợ cả chữ Hán và chữ nôm.

    Vietnamese Keyboard Set hỗ trợ gõ chữ Nôm và chữ Hán trên Mac OS X.

    WinVNKey là bộ gõ đa ngôn ngữ trên Windows hỗ trợ gõ chữ Hán và chữ Nôm bằng âm Quốc ngữ.

    Weasel Hannom là bộ gõ của Ủy ban phục sinh Hán Nôm được xây dựng trên cơ sở bộ gõ Weasel.

    Phông chữ Nôm nằm trong cơ sở dữ liệu Unihan. VietUnicode là phông Unicode chứa các ký tự chữ Nôm. Nó là một dự án trên SourceForge. Phông TrueType có thể tải về từ.

    Một số từ điển chữ Nôm trên mạng Internet có Từ điển ở Viện Việt học (tiếng Việt) Nom character index (Tiếng Anh).

    Trích nguồn: vi.wikipedia.org

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghi Lễ Chạp Mộ Mời Gia Tiên Về Ăn Tết
  • Văn Khấn Tảo Mộ Tết Thanh Minh Tại Nhà Và Tại Mộ Đầy Đủ Nhất
  • Bài Văn Khấn Tết Thanh Minh Năm 2021 Chuẩn Nhất
  • Bài Cúng Tết Thanh Minh Theo ‘văn Khấn Cổ Truyền’
  • Văn Khấn Tổ Tiên Trong Nhà Rằm Tháng Bảy( Tết Trung Nguyên)
  • Văn Khấn Nôm

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Khấn Cúng Giỗ Cha Mẹ, Ông Bà Nội Ngoại Như Thế Nào
  • Bài Văn Cúng Khấn Hóa Vàng Mã Chuẩn Nhất Và Cách Sắm Lễ Hóa Vàng
  • Bài Cúng Rằm Và Cách Chuẩn Bị Lễ Vật Cúng Rằm Hàng Tháng
  • Bài Văn Khấn Cúng Cô Hồn Hàng Tháng
  • Bài Văn Khấn Và Lễ Vật Cúng Cô Hồn Hàng Tháng
  • Cúng giỗ – Truyền thống của sự tôn kính, hiếu thảo

    • Cúng giỗ – được coi là nghi lễ vô cùng quan trọng để tưởng nhớ đến thời điểm mà những người thân của mình qua đời của người Việt. Đây được coi là thời điểm, để những người thân trong gia đình, tưởng niệm thương nhớ đến những người đã khuất, cũng như thể hiện lòng hiếu kính đối với Tổ tiên, ông bà.
    • Đối với những gia đình có điều kiện, thì có thể tiến hành tổ chức vô cùng linh đình, mời những người thân, hàng xóm lãng giềng của mình đến dự giỗ. Còn những gia đình không có điều kiện, thì chỉ cần có được mân cơm với đĩa muối, quả trứng, ba nén nhang, 1 đôi nến cũng những món ăn đơn giản dị, cũng đã chứng tỏ được lòng thành kính của mình đối với tổ tiên, ông bà của mình. Lòng thủy chung, thương xót người đã khuất chỉ phụ thuộc vào việc con cháu phải nhớ ngày người mất để làm giỗ, không liên quan đến việc làm giỗ lớn hay nhỏ.

    Những ngày quan trọng trong cúng giỗ

    Trong truyền thống cúng giỗ của người Việt, thì có ba thời điểm cúng quan trọng, mà tất cả gia đình đều phải thực hiện, đó chính là: giỗ đầu, giỗ hết và giỗ thường.

    • Giỗ đầu: Chính là ngày giỗ đầu tiên của những người đã mất cách đó tròn 1 năm, và đang còn trong thời gian để tang và đây là ngày vô cùng đau buồn của gia đinh cũng những người thân của người đã khuất. Trong ngày giỗ này, thường được tổ chức vô cùng long trọng nghiêm trang, con cháu của người mất mặc tang lễ.
    • Giỗ hết: Tức là thời điểm mà người mất đã tròn 2 năm và chưa mãn tang. Thời điểm này chắc chắn vẫn chưa thể giúp những người còn sống nguôi ngoai đi nỗi đau, nên được tổ chức nghiêm trang, và nhiều gia đình con cháu họ vẫn mặc tang lễ.
    • Giỗ thường: là ngày giỗ sau ngày người mất từ ba năm trở đi. Trong lễ giỗ này, con cháu chỉ mặc đồ thường phục, không khóc như ngày đưa ma nữa, không còn cảnh bi ai, sầu thảm, là dịp để con cháu người quá cố sum họp để tưởng nhớ người đã khuất và diện mời khách không còn rộng rãi như 2 giỗ trước.

    Văn khấn, bài cúng

    Bài khấn 1

    Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

    Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.

    Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân.

    Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

    Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ tiên nội ngoại họ…………………………

    Tín chủ (chúng) con là:………………………………Tuổi……………………..

    Ngụ tại:………………………………………………………………………………

    Hôm nay là ngày……………tháng……….năm…………….(Âm lịch).

    Chính ngày Giỗ Đầu của………………………………………………………………

    Năm qua tháng lại, vừa ngày húy lâm. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Nhân ngày chính giỗ, chúng con và toàn gia con cháu, nhất tâm sắm sửa lễ vật kính dâng, đốt nén tâm hương dãi tỏ tấc thành.

    Thành khẩn kính mời…………………………………………………………………

    Mất ngày…………. Tháng………………năm…………………(Âm lịch)

    Mộ phần táng tại:……………………………………………………………………..

    Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu bình an, gia cảnh hưng long thịnh vượng.

    Tín chủ con lại xin kính mời các cụ Tổ Tiên, nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá thúc, Cô Di và toàn thể các Hương linh gia tiên đồng lai hâm hưởng.

    Tín chủ lại mời vong linh các vị Tiền chủ, Hậu chủ trong đất này cùng tới hâm hưởng.

    Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Bài khấn 2 (văn cúng giỗ bằng âm hán)

    VĂN CÚNG ĐÁM GIỖ KỴ

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    ……….Thành, …………huyện, …………..xã,……………thôn,……………..xứ chi nguyên.

    Tuế thứ……………..niên,………………ngoạt,………………..Nhựt

    Tư nhơn ………………………..cùng toàn gia nam nữ tự tôn tiểu đẳng. Tiết………chánh nhựt kiết thời.

    -Kính lễ kỷ niệm Tằng tổ khảo…………………, thuộc ………… quận.

    -Thành tâm cẩn dụng hương đăng hoa quả thanh chước thứ phẩm chi nghi

    -Cẩn ủy lễ bái tự tôn……………………..cẩn dĩ phỉ nghi

    KÍNH CÁO VU

    -Thiết niệm Hiển Tằng Tằng tổ khảo tỷ ………………. quận chư tôn linh vị tiền.

    -Cung niệm Hiển tằng tổ tỷ ……….quận chánh lễ chư tôn linh vị tiền.

    -Hiển chư tôn linh vị tiền

    -Hiển Hiển khảo tỷ chư tôn linh tọa tiền

    -Hiển Bá Hiển thúc Hiển cô chư tôn linh

    -Phối niệm Ngoại gia Tằng tổ khảo chư tôn linh

    -Cập đường đường bá thúc huynh đệ cô di tỷ muội, Đẳng chư hương hồn đồng lai liệt vị bổn ban.

    CUNG DUY TIÊN TỔ KHẢO TỶ

    -Tánh bẫm từ tường đức dưỡng thuần túy

    – Cây có cội mới thắm chồi xanh lá – Nước có nguồn mới thành bể cả sông sâu – Chữ trung chữ hiếu làm đầu – Con cháu tâm niệm vì đâu có mình – Công cha như núi Thái Sơn – Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra – Toàn gia đẳng nhớ ơn hiếu để – Nay hậu thế thành tâm kính lễ – Cầu cho phước tổ ân triêm – Con cháu hậu thể hưởng thêm suốt đời – Toàn gia nam nữ ghi lời – Nghĩa đời nay an đức đời sau – Nên cung thỉnh tỏ lòng hiếu để – Nay kỷ niệm kính lễ – Nguyện tâm linh xin hưởng phò trì – Giữa án thờ rượu chúc tam tuần – cầu tiên tổ vui miền lạc cảnh.

    Ngưỡng lại Tiên tổ ông bà lưu gia ư huệ phước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Khấn Cô Chín Đền Sòng Sơn Thanh Hoá
  • Văn Khấn Cô Chín Những Điều Chưa Biết Về Cô Chín
  • Văn Khấn Bàn Thờ Thiên Địa Ngoài Trời
  • Văn Khấn Ngoài Trời Ngày Mùng 1 Hàng Tháng Đầy Đủ Chính Xác Nhất
  • Bài Cúng Rằm Tháng 7 Tại Nhà Theo Tập Văn Cúng Gia Tiên
  • Xưng Hô Theo Lối Hán Việt Cổ Ngữ – Phần Mềm Viết Sớ – Phần Mềm Viết Sớ Hán Nôm

    --- Bài mới hơn ---

  • Cúng Tổ Ngành Sân Khấu
  • Hướng Đến Ngày Giỗ Tổ Ngành May
  • Cách Cúng 100 Ngày Cho Người Mất Đúng Phong Tục Tín Ngưỡng
  • Nghi Thức Cúng Bái Tổ Tiên
  • Tục Thờ Cúng Gia Tiên Của Người Việt Trong Ngày Tết
  • Việt Lạc xin liệt kê các cách xưng hô theo lối Hán Việt cổ ngữ để quý thầy tham khảo

    Chúng tôi mạn phép tổng hợp các cách xưng hô theo lối Hán Việt cổ ngữ từ các bài viết trên mạng internet, tạo thành 1 bảng cho dễ tra cứu. Mong sẽ giúp ích được cho bạn đọc.

    Bảng tổng hợp các cách xưng hô theo lối Hán Việt

    Ông Sơ

    Cao Tổ Phụ

    高祖父

    Bà Sơ

    Cao Tổ Mẫu

    高祖母

    Chít

    Huyền Tôn

    玄孫

    Ông Cố

    Tằng Tổ Phụ

    曾祖父

    Bà Cố

    Tằng Tổ Mẫu

    曾祖母

    Chắt

    Tằng Tôn

    曾孫

    Ông Nội

    Nội Tổ Phụ

    內祖父

    Bà Nội

    Nội Tổ Mẫu

    內祖母

    Cháu Nội

    Nội Tôn

    內孫

    Ông Nội Đã Mất

    Nội Tổ Khảo

    內祖考

    Bà Nội Đã Mất

    Nội Tổ Tỷ

    內祖妣

    Cháu

    Nội Tôn

    內孫

    Cháu Nối Dòng

    Đích Tôn

    嫡孫

    Ông Ngoại

    Ngoại Tổ Phụ

    外祖父

    Bà Ngoại

    Ngoại Tổ Mẫu

    外祖母

    Ông Ngoại

    Ngoại Công

    外公

    Bà Ngoại

    Ngoại Bà

    外婆

    Ông Ngoại Đã Mất

    Ngoại Tổ Khảo

    外祖考

    Bà Ngoại Đã Mất

    Ngoại Tổ Tỷ

    外祖妣

    Cháu Ngoại

    Ngoại Tôn

    外孫

    Ông Nội Vợ

    Nhạc Tổ Phụ

    岳祖父

    Bà Nội Vợ

    Nhạc Tổ Mẫu

    岳祖母

    Ông Nội Vợ Đã Mất

    Nhạc Tổ Khảo

    岳祖考

    Bà Nội Vợ Đã Mất

    Nhạc Tổ Tỷ

    岳祖妣

    Cháu Nội Rể

    Tôn Nữ Tế

    孫女婿

    Cha Đã Mất

    Hiển Khảo

    顯考

    Mẹ Đã Mất

    Hiển Tỷ

    顯妣

    Con Trai Mất Cha

    Cô Tử

    孤子

    Con Gái Mất Cha

    Cô Nữ

    孤女

    Con Trai Mất Mẹ

    Ai Tử

    哀子

    Con Gái Mất Mẹ

    Ai Nữ

    哀女

    Con Trai Mất Cả Cha Và Mẹ

    Cô Ai Tử

    孤哀子

    Con Gái Mất Cả Cha Và Mẹ

    Cô Ai Nữ

    孤哀女

    Cha Ruột

    Thân Phụ

    親父

    Cha Ghẻ

    Kế Phụ

    繼父

    Cha Nuôi

    Dưỡng Phụ

    養父

    Cha Đỡ Đầu

    Nghĩa Phụ

    義父

    Con Trai Lớn (Con Cả)

    Trưởng Tử

    長子

    Con Trai Lớn

    Trưởng Nam

    長男

    Con Trai Thứ Hai (Con Kế)

    Thứ Nam

    次男

    Con Trai Thứ Hai (Con Kế)

    Thứ Nam

    次女

    Con Trai Út

    Quý Nam

    季男

    Con Trai Út

    Vãn Nam

    晚男

    Con Trai Nói Chung

    Nam Tử

    男子

    Con Gái Lớn (Con Cả)

    Trưởng Nữ

    長女

    Con Gái Út

    Quý Nữ

    季女

    Con Gái Út

    Vãn Nữ

    晚女

    Con Gái Nói Chung

    Nữ Tử

    女子

    Mẹ Ruột

    Sinh Mẫu

    生母

    Mẹ Ruột

    Từ Mẫu

    慈母

    Mẹ Ghẻ

    Kế Mẫu

    繼母

    Con Của Bà Vợ Nhỏ Gọi Bà Vợ Lớn Của Cha Là

    Đích Mẫu

    嫡母

    Mẹ Nuôi

    Dưỡng Mẫu

    養母

    Mẹ Có Chồng Khác

    Giá Mẫu

    嫁母

    Má Nhỏ (Tức Vợ Bé Của Cha)

    Thứ Mẫu

    次母

    Mẹ Bị Cha Từ Bỏ

    Xuất Mẫu

    出母

    Bà Vú Nuôi

    Nhũ Mẫu

    乳母

    Chú Vợ

    Thúc Nhạc

    叔岳

    Bác Vợ

    Bá Nhạc

    伯岳

    Cháu Rể

    Điệt Nữ Tế

    侄女婿

    Chú Ruột

    Thúc Phụ

    叔父

    Vợ Của Chú

    Thím = Thẩm

    Bác Ruột

    Bá Phụ

    伯父

    Cháu Của Chú Và Bác Tự Xưng Là

    Nội Điệt

    內姪

    Cha Chồng

    Chương Phụ

    嫜父

    Dâu Lớn

    Trưởng Tức

    長媳

    Dâu Thứ

    Thứ Tức

    次媳

    Dâu Út

    Quý Tức

    季媳

    Dâu Nói Chung

    Hôn Tử

    婚子

    Cha Vợ (Sống)

    Nhạc Phụ

    岳父

    Cha Vợ (Chết)

    Ngoại Khảo

    外考

    Mẹ Vợ (Sống)

    Nhạc Mẫu

    岳母

    Mẹ Vợ (Chết)

    Ngoại Tỷ

    外妣

    Rể

    Tế

    婿

    Chị, Em Gái Của Cha Ta Kêu Bằng Cô

    Thân Cô

    親姑

    Ta Tự Xưng Là

    Nội Điệt

    內姪

    Chồng Của Cô

    Cô Trượng

    姑丈

    Chồng Của Cô

    Tôn Trượng

    尊丈

    Chồng Của Dì

    Di Trượng

    姨丈

    Chồng Của Dì

    Biểu Trượng

    表丈

    Cậu

    Cựu Phụ

    舅父

    Mợ

    Cựu Mẫu

    舅母

    Mợ

    Cấm

    Ta Tự Xưng Là

    Sanh Tôn

    甥孫

    Cậu Vợ

    Cựu Nhạc

    舅岳

    Cháu Rể

    Sanh Tế

    甥婿

    Vợ

    Chuyết Kinh

    拙荊

    Vợ Chết Rồi

    Tẩn

    Ta Tự Xưng Là

    Lương Phu

    良夫

    Vợ Bé

    Thứ Thê

    次妻

    Vợ Bé

    Trắc Thất

    測室

    Vợ Lớn

    Chánh Thất

    正室

    Vợ Sau

    Kế Thất

    繼室

    Anh Ruột

    Bào Huynh

    胞兄

    Em Trai

    Bào Đệ

    胞弟

    Em Trai

    Xá Đệ

    舍弟

    Em Gái

    Bào Muội

    胞 妹

    Em Gái

    Xá Muội

    舍 妹

    Chị Ruột

    Bào Tỷ

    胞 姊

    Anh Rể

    Tỷ Trượng

    姊 丈

    Anh Rể

    Tỷ Phu

    姊夫

    Em Rể

    Muội Trượng

    妹丈

    Em Rể

    Muội Phu

    妹 夫

    Em Rể

    Khâm Đệ

    襟弟

    Chị Dâu

    Tợ Phụ

    似婦

    Chị Dâu

    Tẩu

    Chị Dâu

    Tẩu Tử

    嫂 子

    Em Dâu

    Đệ Phụ

    弟 婦

    Em Dâu

    Đệ Tức

    弟媳

    Chị Chồng

    Đại Cô

    大 姑

    Em Gái Của Chồng

    Tiểu Cô

    小姑

    Anh Chồng

    Phu Huynh

    夫兄

    Anh Chồng

    Đại Bá

    大伯

    Em Trai Của Chồng

    Phu Đệ

    夫弟

    Em Trai Của Chồng

    Tiểu Thúc

    小叔

    Chị Vợ

    Đại Di

    大姨

    Em Vợ (Gái)

    Tiểu Di Tử

    小姨 子

    Em Vợ (Gái)

    Thê Muội

    妻妹

    Anh Vợ

    Thê Huynh

    妻兄

    Anh Vợ

    Đại Cựu

    大舅

    Anh Vợ

    Ngoại Huynh

    外兄

    Em Vợ (Trai)

    Ngoại Đệ

    外弟

    Em Vợ (Trai)

    Thê Đệ

    妻弟

    Em Vợ (Trai)

    Tiểu Cựu Tử

    小舅子

    Con Gái Đã Có Chồng

    Giá Nữ

    嫁女

    Con Gái Chưa Có Chồng

    Sương Nữ

    孀女

    Cha Ghẻ (Con Tự Xưng)

    Chấp Tử

    執子

    Tớ Trai

    Nghĩa Bộc

    義僕

    Tớ Gái

    Nghĩa Nô

    義奴

    Cha Chết Trước, Rồi Đến Ông Nội Chết. Tôn Con Của Trưởng Tử Đứng Để Tang, Gọi Là

    Đích Tôn Thừa Trọng

    嫡孫承重

    Cha Chết Chưa Chôn

    Cố Phụ

    故父

    Mẹ Chết Chưa Chôn

    Cố Mẫu

    故母

    Cha Chết Đã Chôn

    Hiển Khảo

     顯 考

    Mẹ Chết Đã Chôn

    Hiển Tỷ

    顯 妣

    Mới Chết

    Tử

    Đã Chôn Hay Hỏa Táng

    Vong

    Anh Ruột Của Cha

    Đường Bá

    堂伯

    Mình Tự Xưng Là

    Đường Tôn

    堂孫

    Em Trai Của Cha

    Đường Thúc

    堂叔

    Chị Và Em Gái Của Cha

    Đường Cô

    堂 姑

    Anh Em Bạn Với Cha Mình

    Niên Bá

    年伯

    Anh Em Bạn Với Cha Mình

    Quý Thúc

    季叔

    Anh Em Bạn Với Cha Mình

    Lệnh Cô

    令姑

    Mình Tự Xưng Là

    Thiểm Điệt

    忝姪

    Mình Tự Xưng Là

    Lịnh Điệt

    令姪

    Bác Của Cha Mình

    Tổ Bá

    祖伯

    Chú Của Cha Mình

    Tổ Thúc

    祖叔

    Cô Của Cha Mình

    Tổ Cô

    祖姑

    Con Cháu Thì Tự Xưng Là

    Vân Tôn

    云孫

    Gia Tiên Bên Nội

    Nội Gia Tiên

    內家先

    Gia Tiên Bên Ngoại

    Ngoại Gia Tiên

    外家先

    Con Thừa Lệnh Mẹ Đứng Ra Cúng Cho Cha

    Cung Thừa Mẫu Mệnh

    恭承母命

    Con Thừa Lệnh Cha Đứng Ra Cúng Cho Mẹ

    Cung Thừa Phụ Mệnh

    恭承父命

    Ngoài ra cần nhấn mạnh một số quy tắc để xưng hô giữa các đời như sau:

    Danh xưng khi sống

    Danh xưng khi đã mất

    Cha

    Hiển khảo (đã mai táng rồi)Cố phụ (khi còn trên đất, chưa chôn)

    Mẹ

    Hiển tỷ (đã chôn rồi)Cố mẫu (chưa mai táng)

    Ông nội (đời thứ 3)

    Hiển tổ khảo

    Bà nội

    Hiển tổ tỷ

    Ông cố (đời thứ 4)

    Hiển tằng tổ khảo

    Bà cố

    Hiển tằng tổ tỷ

    Ông cao (đời thứ 5)

    Hiển cao tổ khảo

    Bà cao

    Hiển cao tổ tỷ

    Từ đây trở lên, mỗi đời thêm một chữ “cao” và chỉ thêm tố đa là 2 chữ nữa mà thôi. Nếu trên 3 chữ cao thì chỉ dùng thêm một chữ “thượng” nữa.Ví dụ: Thượng cao cao cao tổ khảo.

    Con

    Hiển thệ tử (con trai)Hiển thệ nữ (con gái)

    Cháu nội (3 đời)

    Hiển đích tôn (cháu nội trưởng)Hiển nội tôn (cháu nội thứ)

    Cháu cố (4 đời)

    Hiển tằng tônCháu cao (5 đời) Hiển huyền tôn

    Cách xưng hô của người đứng cúng

    Trường hợp

    Xưng hô

    Cha chết

    Con trai xưng: Cô tử (chưa chôn)Con gái xưng: Cô nữ

    Mẹ chết

    Con trai xưng: Ai tửCon gái xưng: Ai nữ

    Cha, mẹ đều chết (một người đã chết trước, nay thêm một người nữa)

    Con trai xưng: Cô ai tửCon gái xưng: Cô ai nữCon gái đã có chồng: Giá nữ

    Cha,mẹ chết chôn cất xong xuôi , từ đây về sau

    Con trai xưng: Hiếu tử hay Thân tửCon gái xưng: Hiếu nữ hay Thân nữRể xưng: Nghĩa tếDâu xưng: Hôn

    Cháu nội trưởng (cha chết trước ông bà): Ðích tôn thừa trọng

    Cháu nội trưởng (cha chưa chết): Ðích tôn

    Cháu nội : Nội tôn

    Cháu gọi bằng cố (4 đời) : Tằng tôn

    Cháu gọi bằng cao (5 đời)  : Huyền tôn

    Cháu 6 đời: Lai tôn

    Cháu 7 đời: Côn tôn

    Cháu 8 đời: Nhưng tôn

    Cháu 9 đời: Vân tôn

    Cháu 10 đời: Nhĩ tôn

    Dòng trực hệ, cháu gọi là tôn, sau đời thứ 10 đều gọi là Tự tôn.

    Vợ của cháu thêm chữ hôn sau chữ tôn; ví dụ: vợ của cháu nội là nội tôn hôn

    Cháu gái thêm chữ nữ sau chữ tôn; ví dụ: cháu nội gái là nội tôn nữ.

    Chồng của cháu gái thêm chữ tế sau chữ tôn; ví dụ: chồng của cháu nội gái là nội tôn tế.

    Dòng bàng hệ, hậu duệ tôn, cháu gọi là Ðiệt.

    Cũng có ý cho rằng nên xưng hô thế này

    • Khảo, tỷ : Cha Mẹ
    • Tổ khảo, tổ tỷ : Ông Bà
    • Tằng tổ khảo, tỷ: Cụ Đời thứ 3
    • Cao tổ khảo, tỷ: Kỵ, Đời thứ 4
    • Thiên tổ khảo, tỷ: Đời thứ 5
    • Liệt tổ khảo, tỷ: Đời thứ 6
    • Thái tổ khảo, tỷ: Đời thứ 7
    • Viễn tổ khảo, tỷ: Đời thứ 8
    • Tỳ tổ khảo, tỷ: Đời thứ 9
    • Thời phong kiến, nhà vua thờ tổ tiên chín đời đến Tỳ Tổ. Còn quan lại và bình dân thờ bảy đời đến Thái Tổ.

    Các cách xưng hô theo lối Hán Việt cổ ngữ trên có thể áp dụng trong các văn sớ, điệp… khi liệt kê tử tôn gia quyến hoặc liệt kê vong linh phụ tiến trong lòng sớ hoặc xưng hô khi đứng cúng, rất mong bài này sẽ giúp ích ít nhiều cho quý vị.

    Mong được sự tham khảo và góp ý từ quý thầy, quý đồng đạo xa gần.

    Ngoài ra, để hỗ trợ công việc sớ sách được nhanh chóng, chính xác và thẩm mỹ hơn, quý bạn hữu có thể tham khảo phần mềm viết sớ tự động Việt Lạc Sớ do công ty Việt Lạc phát triển.

    Mọi chi tiết vui lòng liên hệ: 096.536.2819

    Nguồn tham khảo

    • https://sites.google.com/site/mjnhchan/cach-xung-ho
    • http://www.oocities.org/nghilephatgiao/N09_CachGhiCungVan.htm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Xưng Hô Các Chức Danh Trong Khấn Vái Theo Hán Việt
  • Bật Mí Cách Làm Thịt Gà Cúng Nhanh Mà Đẹp
  • Cách Viết Sớ Đi Lễ
  • Tin Tức, Giải Trí, Kinh Tế, Xã Hội
  • 16 Món Ngon Ngày Giỗ Miền Bắc
  • Văn Khấn Giỗ Bằng Âm Hán

    --- Bài mới hơn ---

  • Top 10 Văn Khấn Cầu Yên Đầu Năm Xem Nhiều Nhất,
  • Lễ Cúng Khai Trương Cửa Hàng Công Ty Gồm Những Gì
  • Văn Khấn Trước Khi Lau Dọn Bàn Thờ
  • Văn Khấn Cúng Rằm Tháng 7 Bàn Thờ Thần Tài
  • Văn Khấn Công Đồng Tam Tứ Phủ
  • CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    ……………Thành, ……………..huyện, ………………..xã, ………………….thôn, ……………………xứ chi nguyên.

    Tuế thứ……………….niên, ……………ngoạt, ……….Nhựt

    Tư nhơn Trưởng nam ……………………… cùng toàn gia nam nữ tử tôn hôn tế nội ngoại đẳng.

    Cung lễ kỷ niệm tiền hàng phụ (mẫu) thân……… trọng phủ (trọng nương), …………..quận

    Từ trần ngày….tháng….năm……

    Thành tâm cẩn dụng …………….hương đăng hoa quả thanh chước thứ phẩm chi nghi.

    Cẩn ủy lễ bái …………………. Cẩn dĩ phỉ nghi.

    KÍNH CÁO VU

    Cung niệm Trung tư hiển khảo hoặc (Phụ tiến hiển tỷ) , trọng ………….., …………….quận

    Đã cung lễ Đại tường ngày……tháng…..năm………

    Nay gia đẳng kỷ niệm tiền hàng cầu linh hồn phụ ……… hiển hiện khôn thiên đồng lai chứng giám tam tuần lễ nghi kính viếng. Cầu xin phò trì con cháu toàn gia đẳng hưng thịnh bình an khương thái.

    Lễ thành tiền hàng xin thỉnh hương linh thân …….. vào với ông bà thờ hằng đúng ngày kỷ niệm.

    Thương thay xin thượng hưởng.

    CUNG DI CỐ PHỤ (MẪU)

    Công cha mẹ như trời cao biển rộng

    Nghĩa sanh thành tận bể cả sông sâu

    Con cháu hãy nhớ vì đâu có mình

    Còn cha còn mẹ là hơn,

    Mất cha mất mẹ như đờn đứt dây

    Đờn đứt dây thì còn nối lại

    Cha mẹ mất rồi biết kiếm đâu ra.

    Đàn cháu con bồi hồi thương xót quá

    Phải nhớ câu tử hiếu phụng tiên

    Nghĩa đời nay ân đức đời sau

    Nên cung thỉnh tỏ lòng hiếu để

    Hôm nay là ngày tiền hàng kính lễ

    Thỉnh tiên linh chung vọng gia đường

    Hàng năm lo việc khói hương phụng thờ

    PHỤC LỄ CẨN CÁO

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Đọc Bài Văn Khấn Cúng Đầy Tháng Cúng Mụ Cho Bé Gái Trai
  • Văn Khấn Cúng Đất Đai, Thổ Công Chuẩn Nhất Hiện Nay
  • Bài Cúng Tết Đoan Ngọ Mùng 5 Tháng 5
  • Văn Khấn Thần Linh Mùng 1 Và Ngày Rằm Hàng Tháng
  • Cúng Lễ Hóa Vàng Tiễn Ông Bà Tổ Tiên Thế Nào Cho Đúng?
  • Văn Khấn Giải Hạn Sao Vân Hán

    --- Bài mới hơn ---

  • Khi Nào Thì Nên Cầu Cúng Lễ Bái Tổ Tiên?
  • Bài Cúng Rằm Tháng 7 Tại Nhà Theo Văn Khấn Cổ Truyền Việt Nam
  • Học Hành, Thi Cử Thế Nào Để Đạt Điểm Cao?
  • Hàng Ngày Cúng Cụ Chớ Khấn Nôm, Cứ Đọc Đúng Câu Này Lộc Đổ Gấp 10, Cầu Gì Được Nấy
  • Những Ngôi Chùa Cầu Tự Linh Nghiệm
  • Để giảm nhẹ vận hạn người xưa thường làm lễ cúng dâng sao giải hạn vào đầu năm (là tốt nhất) hoặc hàng tháng tại chùa (là tốt nhất) hay tại nhà ở ngoài trời với mục đích cầu xin Thần Sao phù hộ cho bản thân, con cháu, gia đình đều được khoẻ mạnh, bình an, vạn sự tốt lành, may mắn, thành đạt và thịnh vượng.

    Theo quan niệm dân gian thì 9 ngôi sao chiếu mệnh chỉ xuất hiện vào những ngày nhất định trong tháng, từ đó hình thành tục dâng sao giải hạn vào các ngày như sau:

    Sao Thái Dương: Ngày 27 hàng tháng

    Sao Thái Âm: Ngày 26 hàng tháng

    Sao Mộc Đức: Ngày 25 hàng tháng

    Sao Vân Hán: Ngày 29 hàng tháng

    Sao Thổ Tú: Ngày 19 hàng tháng

    Sao Thái Bạch: Ngày 15 hàng tháng

    Sao Thuỷ Diệu: Ngày 21 hàng tháng

    Sao La Hầu: Ngày 8 hàng tháng

    Sao Kế Đô: Ngày 18 hàng tháng

    2. Sắm lễ dâng sao giải hạn: Sao Vân Hán

    Lễ cúng dâng sao Vân Hán vào ngày 29 hàng tháng, thắp 15 ngọn nến.

    Theo quan niệm xưa, Vân Hán là tai tinh (sao xấu) chủ về ốm đau, bệnh tật.

    Lễ vật gồm có: Hương, hoa, tiền vàng, phẩm oản; Bài vị màu đỏ; Mũ đỏ; 36 đồng tiền.

    Hướng về phương Nam để làm lễ giải sao.

    3. Văn khấn dâng sao giải hạn: Sao Vân Hán

    – Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

    – Nam mô Hiệu Thiên chí tôn Kim Quyết Ngọc Hoàng Thượng đế.

    – Con kính lạy Đức Trung Thiện tinh chúa Bắc cực Tử Vi Tràng Sinh Đại đế.

    – Con kính lạy ngài Tả Nam Tào Lục Ty Duyên Thọ Tinh quân.

    – Con kính lạy Đức Hữu Bắc Đẩu cửu hàm Giải ách Tinh quân.

    – Con kính lạy Đức Nam phương Bính đinh Hoả Đức Tinh quân.

    – Con kính lạy Đức Thượng Thanh Bản mệnh Nguyên Thần Chân quân.

    Tín chủ (chúng) con là:……………………………………….

    Hôm nay là ngày…… tháng………năm….., tín chủ con thành tâm sắm lễ, hương hoa trà quả, đốt nén tâm hương, thiên lập linh án tại (địa chỉ)……………………………………………………………để làm lễ giải hạn sao Vân Hán chiếu mệnh:

    Cúi mong chư vị chấp kỳ lễ bạc phù hộ độ trì giải trừ vận hạn; ban phúc,lộc, thọ cho con gặp mọi sự lành, tránh mọi sự dữ, gia nội bình yên, an khang thịnh vượng.

    Tín chủ con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chùa Hà Nơi Linh Thiêng Cầu Duyên: Đi Thì Lẻ Bóng Về Thì Có Đôi
  • Lên Chùa Hà Cầu Duyên: Khi Đi Lẻ Bóng Khi Về Có Đôi
  • Văn Khấn Cầu Duyên Chùa Hà: Nên Hành Lễ Tránh Mùng 1, Ngày Rằm
  • Bài Văn Khấn Cầu Tự Tại Chùa Hương Ý Nghĩa Và Linh Nghiệm Nhất
  • Bài Văn Khấn Cầu Tự (Văn Khấn Cầu Con Cái)
  • Văn Khấn Nôm (Phần Iv)

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Lễ Ông Táo Chầu Trời Ngày 23 Tháng Chạp :: Ma Phương :: Tinh Hoa Đông Phương
  • Tết Táo Quân Vào Ngày 23 Tháng Chạp
  • Ngày Ông Táo Về Trời Là Ngày Bao Nhiêu, Các Nghi Lễ Cúng?
  • Bài Văn Khấn Ông Táo 23 Tháng Chạp (Tháng 12) Năm 2021
  • Bài Văn Khấn Cúng Ông Táo Hàng Ngày Đúng Chuẩn Phong Tục
  • VĂN KHẤN LỄ ÔNG TÁO CHẦU TRỜI.

    NAM-MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT !

    Kính lạy Ngài Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân !

    Tín chủ con là :………….

    Ngụ tại :…………………..

    Nhằm ngày 23 tháng Chạp , tín chủ chúng con thành tâm , sửa biện hương hoa phẩm vật , xiêm hài áo mũ , nghi lễ cung trần , dâng lên trước án , dâng hiến Tôn Thần , đốt nén Tâm Hương dốc lòng bái thỉnh.

    Chúng con kính mời :

    Ngài Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân giáng lâm trước án thụ hưởng lễ vật.

    Phỏng theo lệ cũ , Ngài là vị chủ , Ngũ Tự Gia Thần , soi xét lòng trần , Táo Quân chứng giám.

    Trong năm sai phạm , các tội lỗi lầm , cúi xin Tôn Thần , gia ân châm chước. Ban lộc , ban phước , phù hộ toàn gia , trai gái trẻ già , an ninh khang thái.

    Dãi tấm lòng thành , cúi xin chứng giám.

    Cẩn cáo.

    VĂN KHẤN TẤT NIÊN

    Nam mô A Di Đà Phật .

    Kính lạy : Hoàng Thiên hậu Thổ chư vị tôn Thần .

    Ngài Kim niên đương cai Thái tuế chí đức tôn Thần .

    Ngài bản cảnh Thành Hoàng chư vị đại Vương .

    Ngài bản xứ Thần linh Thổ địa . Ngài định Phúc Táo quân . Các ngày Địa Chúa Long mạch Tôn Thần và tất cả các Thần linh cai quản trong khu vực này .

    Hôm nay là ngày 30 tháng Chạp năm Mậu Tý.

    Tín chủ chúng con là : ..Ngụ tại :

    Trước Án tọa kính cẩn thưa trình : Đông tàn sắp hết , năm kiệt tháng cùng , xuân tiết gần kề , minh niên sắp tới . Nay là ngày 30 Tết , chúng con cùng toàn thể Gia quyến sắm sanh phẩm vật hương hoa , cơm canh cụ soạn , sửa lễ Tất niên , dâng cúng Thiên Địa , Tôn Thần , phụng hiến Tổ tiên , truy niệm chư Linh . Theo như thường lệ Tuế trừ cáo tế , cúi xin chư vị Tôn Thần , Liệt vị Gia tiên , bản xứ tiền hậu Chủ hương linh , giáng lâm án tọa , phù thùy chứng giám , thụ hưởng lễ vật , phù hộ cho toàn Gia , lớn bé trẻ già , bình an thịnh vượng . Độ cho chúng con mọi duyên thuận lợi , công việc hanh thông . Người người được chữ bình an , tháng ngày được hưởng phần lợi lộc . Âm phù – Dương trợ , sở nguyện tòng tâm . Bốn mùa không hạn ách nào xâm , tám tiết có điềm lành tiếp ứng .

    Dãi tấm lòng thành , Cúi xin chứng giám . Cẩn cáo .

    VĂN KHẤN LỄ GIAO THỪA NGOÀI TRỜI. NAM-MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT ! ( 3 lần )

    Kính lạy : _ Đức Đương lai hạ sinh DI LẶC TÔN PHẬT.

    _ Hoàng Thiên , Hậu Thổ , chư vị Tôn Thần.

    _ Ngài Cựu Niên Đương cai Hành khiển.

    _ Đương niên Thiên Quan Chu Vương Hành khiển , Thiên Ôn hành binh chi thần , Lý Tào phán quan năm Mậu Tý.

    _ Các Ngài Ngũ phương , Ngũ thổ , Long mạch , Táo Quân , chư vị Tôn Thần.

    Nay là phút giao thừa năm Kỷ Sửu

    Chúng con là…………….. Ngụ tại ………………….

    Phút thiêng giao thừa vừa tới , năm cũ qua đi , đón mừng năm mới , tam dương khai thái , vạn tượng canh tân.

    Nay Ngài Thái Tuế tôn thần trên vâng lệnh Thượng Đế giám sát vạn dân , dưới bảo hộ sinh linh tảo trừ yêu nghiệt.

    Quan cũ về triều để khuyết , lưu phúc lưu ân. Quan mới xuống thay , thể đức hiều sinh , ban tài tiếp lộc.

    Nhân buổi tân xuân , tín chủ chúng con thành tâm , sửa biện hương hoa phẩm vật , nghi lễ cung trần , dâng lên trước án. Cúng dâng Phật Thánh , dâng hiến Tôn Thần , đốt nén tâm hương dốc lòng bái thỉnh.

    Chúng con kính mời : Ngài Cựu niên Đương cai , Ngài Tân niên Đương cai Thái Tuế Chí đức Tôn thần , Ngài Bản cảnh Thành Hoàng Chư vị Đại Vương , Ngài Bản xứ Thần Linh Thổ Địa , Phúc Đức Chính Thần , các Ngài Ngũ phương , Ngũ thổ , Long mạch Tài Thần , các Bản gia Táo Quân và chư vị Thần Linh cai quản ở trong xứ này. Cúi xin giáng lâm trước án thụ hưởng lễ vật.

    Nguyện cho tín chủ : Minh niên khang thái , trú dạ cát tường. Thời được chữ bình an , gia đạo hưng long thịnh vượng.

    Dãi tấm lòng thành cúi xin chứng giám.

    Cẩn cáo.

    VĂN KHẤN LỄ GIAO THỪA TRONG NHÀ.

    NAM-MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT ! ( 3 lần )

    Kính lạy : _ Đức Đương Lai hạ sinh DI LẶC Tôn Phật.

    _ Hoàng Thiên , Hậu Thổ chư vị Tôn Thần.

    _ Long Mạch , Táo Quân , chư vị Tôn Thần.

    _ Các cụ Tổ Tiên nội , ngoại chư vị tiên linh.

    Nay phút giao thừa năm Kỷ Sửu

    chúng con là………………………

    Ngụ tại………………………………………

    Phút giao thừa vừa tới , nay theo vận luật , tống cựu nghênh tân , giờ Tý đầu Xuân , đón mừng Nguyên Đán , tín chủ chúng con thành tâm , sửa biện hương hoa phẩm vật , nghi lễ cung trần , dâng lên trước án , cúng dâng Phật Thánh , dâng hiến Tôn Thần , tiến cúng Tổ Tiên , đốt nén tâm hương dốc lòng bái thỉnh.

    Ngài Bản Cảnh Thành Hoàng chư vị Đại Vương , Ngài Bản xứ Thần Linh Thổ Địa , Phúc Đức Chính Thần , các Ngài Ngũ phương , Ngũ thổ , Long Mạch Tài Thần , các Ngài Bản gia Táo Quân và chư vị Thần Linh cai quản ở trong xứ này. Cúi xin giáng lâm trước án thụ hưởng lễ vật. Con lại kính mời các cụ tiên linh Cao Tằng Tổ Khảo , Cao Tằng Tổ Tỷ , Bá thúc huynh đệ , Cô di tỷ muội , nội ngoại tộc chư vị hương linh cúi xin giáng về linh sàng hâm hưởng lễ vật.

    Tín chủ lại kính mời các vị vong linh Tiền chủ , Hậu chủ , y thảo phụ mộc ở trong đất này. Nhân tiết giao thừa , giáng lâm trước án chiêm ngưỡng tân xuân , thụ hưởng lễ vật.

    Nguyện cho tín chủ : Minh niên khang thái , trú dạ cát tường. Thời thời được chữ bình an , gia đạo hưng long thịnh vượng.

    Dãi tấm lòng thành cúi xin chứng giám.

    Cẩn cáo.

    VĂN KHẤN THẦN LINH TRONG NHÀ ( MÙNG 1 ).

    NAM-MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT ! ( 3 LẦN )

    Kính lạy : _ Đức Đương Lai hạ sinh DI LẶC Tôn Phật.

    _ Phật Trời , Hoàng Thiên Hậu Thổ.

    _ Chư vị Tôn Thần.

    Hôm nay là ngày mồng 1 tháng Giêng , nhằm ngày Tết Nguyên Đàn đầu xuân , giải trừ gió đông lạnh lẽo , hung nghiệt tiêu tan , đón mừng Nguyên Đán xuân thiên , mưa móc thấm nhuần , muôn vật tưng bừng đổi mới. Nơi nơi lễ tiết , chốn chốn tường trình.

    Nhân tiết minh niên sắm sửa hương hoa , cơm canh lễ vật bày ra trước án , dâng cúng Thiên Địa Tôn Thần. Thiết nghĩ Tôn Thần hào khí sáng loà , ân đức rộng lớn.

    Ngôi cao vạn trượng uy nghi , vị chính mười phương biến hiện. Lòng thành vừa khởi , Tôn Đức càm thông. Cúi xin giáng lâm trước án , chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật.

    Nguyện cho chúng con mọi người hoan hỷ vinh xương , con cháu cát tường khang kiện. Mong ơn Đương Cảnh Thành Hoàng , đội đức Tôn Thần Bản xứ.

    Hộ trì tín chủ , gia lộc gia ân , xá quá trừ tai.

    Đầu năm chí giửa , nửa năm chí cuối , sự nghiệp hanh thônmg , sở cầu như ý.

    Dãi tấm lòng thành cúi xin chứng giám.

    Cẩn cáo.

    Các cụ Tổ Khảo , Tổ Tỷ , Bá thúc huynh đệ , Cô di tỷ muội , đường thượng tiên linh các hương hồn nội tộc , ngoại tộc.

    Nay theo Tuế luật , Âm Dương vận hành tới tuần Nguyên Đán , mồng Một đầu xuân mưa móc thấm nhuần , đón mừng năm mới.

    Con cháu tưởng niệm ân đức Tổ Tiên , như trời cao biển rộng , khôn đem tấc cỏ báo ba xuân.

    Do đó chúng con cùng toàn thể con cháu trong nhà sửa sang lễ vật , oản quả hương hoa kính dâng lên trước án.

    Kính mời các cụ Cao Tằng Tổ Khảo , Cao Tằng Tổ Tỷ , Bá thúc đệ huynh , Cô di tỷ muội , nam nữ tử tôn nội ngoại. Cúi xin thương xót con cháu , linh thiêng giáng về linh sàng , hâm hưởng lễ vật.

    Phù hộ độ trì cho con cháu năm mới an khang , mọi bề thuận lợi , sự nghiệp hanh thông.

    Bốn mùa không hạn ách nào xâm , tám tiết có điềm lành tiếp ứng. Tín chủ lại mời : các vị vong linh , tiền chủ , hậu chủ ở trong đất này cùng về hâm hường.

    Dãi tấm lòng thành cúi xin chứng giám.

    Cẩn cáo.

    VĂN KHẤN LỄ TẠ NĂM MỚI ( MÙNG 3 ). (HO

    NAM-MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT ! ( 3 lần )

    Kính lạy : _ Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn Thần.

    _ Ngài Đương niên , Ngài Bản Cảnh Thành Hoàng , các Ngài Thổ Địa , Táo Quân , Long Mạch Tôn Thần

    _ Các Tổ Khảo , Tổ Tỷ , nội ngoại tiên linh.

    Hôm nay là ngày mồng ba tháng Giêng năm Kỷ Sửu

    Tín chủ chúng con ……………………..

    Ngụ tại ……………………………………

    Thành tâm sửa biện hương hoa phẩm vật , phù tửu lễ nghi , cúng dâng trước án.

    Kính cẩn thưa trình : Tiệc xuân đã mãn , Nguyên Đán đã qua , nay xin thiêu hoá kim nân , lễ tạ Tôn Thần , rước tiễn tiên linh trở về Âm giới.

    Kính xin : lưu phúc lưu ân , phù hộ độ trì , dương cơ âm mộ , mọi chỗ tốt lành . Cháu con được chữ bình an , gia đạo hưng long thịnh vượng

    Lòng thành kính cẩn , lễ bạc tiến dâng , lưiợng cả xét soi , cúi xin chứng giám.

    Cẩn cáo.

    Bài chú khi gặp nạn Quan Thế Âm Bồ Tát nhiệm màu Thanh tịnh trang nghiêm nhiều kiếp tu Là thuyền tế độ khắp kẻ đau Khắp sứ kêu cầu đều ứng có

    Nguyễn Văn Huynh @ 07:29 28/12/2011

    Số lượt xem: 363

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Cúng Ông Táo Chầu Trời Vào 23 Tháng Chạp
  • Cách Lập Bàn Thờ Và Hướng Đặt Bàn Thờ Ông Táo Sinh Tài Lộc
  • Chia Sẻ Bài Văn Khấn Cúng Ông Táo Theo Văn Khấn Cổ Truyền Việt Nam
  • Văn Khấn Cúng Ông Táo Đầy Đủ Và Cách Chuẩn Bị Cho Nghi Lễ Thờ Cúng
  • Bài Văn Khấn Cúng Ông Công Ông Táo Chầu Trời 23/12…
  • Văn Khấn Giỗ Thường Bằng Âm Hán

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Khấn Cúng Cho Ngày Giỗ Chính
  • Văn Khấn Giỗ Thường Hàng Năm Cho Ông Bà Tổ Tiên Chuẩn Nhất?
  • Văn Khấn Ngày Cáo Giỗ
  • Tìm Hiểu Về Bài Văn Khấn Cúng Lễ Tiểu Tường Và Đại Tường
  • Văn Khấn Ngày Giỗ Đầu
  • Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đệ ….Thập….niên, tuế thứ…., ….nguyệt, …nhật.

    tỉnh, ….huyện, …..xã (phường), ……..thôn.

    Tín chủ con là: cung thừa phụ mẫu mệnh cập chư thúc mệnh, hiệp dữ bào đệ, tỷ muội, nội ngoại, tử, tôn, hôn, tế đẳng đồng gia gia kính bái.

    Kim nhân: Hiển khảo (tỷ) hoặc Tổ khảo (tỷ) hoặc Tằng tổ khảo (tỷ)..huý nhật.

    Cẩn dĩ: hương đăng (hương đèn nến), trà tửu (chè rượu), quả phẩm (hoa quả), phù lưu (trầu cau), trư nhục (thịt lợn), tư thành (xô), hàn âm (gà), tỉnh quả (bánh trái), kim ngân minh y (vàng mã), đẳng vật chi nghi (các thứ khác), cung trần bạc tế.

    Hiển: ………tôn linh vi tiền, Cảm kiền cáo vu:

    ViếtV: (Chú ý: Nếu cúng giỗ trước ngày thì dùng: Lai nhật huý lâm, nếu cúng giỗ đúng ngày thì ghi: Huý nhật phục lâm)

    Tuế tự lưu dịch / lai nhật huý lâm /Truy viễn cảm thần /Bất thăng vĩnh mộ /Cung trần phỉ lễ /Tinh sảng hữu thành /Thức biểu hiếu tâm /Ngưỡng duy lai hâm.

    Kính thỉnh: Tiên Tổ khảo, Tiên Tổ tỷ (trên kỵ)

    Tằng Tổ khảo, Tằng Tổ tỷ (cụ)

    Kính kỵ: Liệt vị chư tiên linh, cập phụ vị, thương vong đẳng tòng tự, đồng lai hâm hưởng.

    Kính cáo: Bản gia Đông trù Tư mệnh Táo phủ thần quân, bản gia tiên thánh, tiên sư, bản viên thổ công, bản đường ngũ tự tôn thần, mặc thuỳ chiếu giám, đồng lai giám cách, tích chi hanh cát.

    http://Thuviengiadinh.com

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Cúng Giao Thừa Trong Nhà Và Ngoài Trời Chuẩn Nhất
  • Văn Khấn Lễ Giao Thừa Trong Nhà Năm Đinh Dậu (2017)
  • Bài Cúng Giao Thừa Ngoài Trời Năm 2021
  • Văn Khấn Giao Thừa Bàn Thờ Thần Tài
  • Văn Khấn Giao Thừa Năm 2021 Đón Nhiều Tài Lộc, An Khang, Thịnh Vượng,…
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100