【#1】Chuyên Gia Chỉ Ra Sai Lầm Trong Đốt Vàng Mã Rằm Tháng 7 Ai Cũng Mắc

Trong tháng 7 âm lịch, người Việt thường có tục lệ cúng cô hồn (xá tội vong nhân) với ý nghĩa tưởng nhớ, cầu siêu cho các vong hồn đói khổ, lang thang, không nơi nương tựa. Ngoài ra, đây cũng là dịp báo hiếu hay còn gọi là lễ Vu Lan của những người theo đạo Phật.

Vào ngày này, các gia đình thường làm mâm cơm cúng tổ tiên và một mâm cỗ cúng chúng sinh ngoài trời. Quan niệm “trần sao âm vậy”, nên nhiều người có thói quen đốt tiền, vàng mã với mong muốn người chết có cuộc sống đủ đầy ở thế giới bên kia.

Theo tục lễ cũ, những vàng mã ấy là do các gia đình tự cắt theo kiểu tượng trưng, không tốn kém và thể hiện lòng thành, tâm nguyện của người sống. Tuy nhiên, vài năm trở lại đây, tập tục đốt vàng mã trong ngày xá tội vong nhân đã bị biến tướng.

Người ta quan niệm rằng dâng cúng càng nhiều thì càng được thánh thần hay người âm phù hộ mà sẵn sàng bỏ ra hàng triệu, thậm chí hàng chục triệu đồng để mua những mô hình vật dụng đốt cho người âm. Thậm chí, nhiều người còn tin rằng đốt thật nhiều vàng mã là cách để họ báo hiếu cha mẹ đã khuất và tự hào vì đã lo được một cái lễ tươm tất, đầy đủ hơn người.

Tuy nhiên trao đổi với PV Dân trí, Ts Vũ Thế Khanh – Tổng giám đốc Liên hiệp Khoa học công nghệ tin học ứng dụng UIA cho rằng, đây là những quan niệm sai lầm. Thực tế, tục lễ đốt vàng mã có nguồn gốc từ Trung Quốc.

Theo tích xưa kể lại, trước đây, nhiều dân tộc ở Trung Quốc có tục lệ chôn đồ vật theo người chết, nhất là những đồ mà khi còn sống người đó luôn gắn bó. Sau này, đến thời Vương Dũ liền chế ra vàng bạc, quần áo bằng giấy… để cúng rồi đốt đi, thay thế cho vàng bạc và đồ dùng thật. Nghề làm vàng mã từ đó trở nên thịnh hành.

Tuy nhiên, có một thời gian, việc đốt vàng mã cho người âm không còn phổ biến, nghề này cũng dần bị mai một dần. Lúc bấy giờ, hậu duệ của Vương Dũ là Vương Luân đã tiến hành bài binh bố trận cho một người giả chết rồi đưa vào quan tài.

Khi họ hàng thân quyến đến nhà thắp nhang, cúng lễ và đốt rất nhiều tiền vàng thì bỗng dưng “người chết” sống lại và phán rằng: “Do biếu nhiều vật dụng, tiền bằng hàng mã, lại có cả hình nhân thế mạng nên đã mua chuộc đươc Ma quỷ, Diêm Vương di căn cải mệnh, và đã được tha mạng”.

Ở nước ta, do bị đô hộ của văn hoá Trung Quốc thời gian dài nên cũng bị ảnh hưởng bởi phong tục này. Hàng năm, trên phạm vị toàn quốc, người ta tốn hàng hàng nghìn tỷ để dùng vào việc đốt đồ mã.

Tuy nhiên, việc đốt vàng mã mang màu sắc mê tín dị đoan, đó là tín ngưỡng dân gian do ảnh hưởng của Văn hóa Trung Hoa từ xa xưa, hoàn toàn không phải là tín ngưỡng của Đạo Phật. Hiện nay, một số chùa vẫn duy trì tục đốt vàng mã, tục lệ này do các Phật tử tự đem vào chùa chứ các Tăng Ni không chủ trương việc này.

Theo Tiến sỹ Vũ Thế Khanh, việc cúng cho người đã mất dù đồ vật thật hay là đố tượng trưng thì người đã khuất cũng không thể nhận được mà chủ yếu là thể hiện đươc tấm lòng thành của những người còn sống. Đương nhiên, việc cúng đồ mã nhiều không những gây lãng phí tiền của mà còn ảnh hưởng xấu đến môi trường.

“Nếu cứ đổ xô đốt vàng mã, tốn kém cho người cõi âm với mong muốn được nhiều tài lộc, được trợ duyên thăng quan tiến chức thì cũng chẳng khác nào hối lộ người đã mất. Điều này đi ngược lại với truyền thống, văn hóa hướng về tổ tiên, trân trọng chính những người đang sống quanh mình. Vì vậy, các gia đình chỉ đốt tiền vàng một cách văn minh, vừa phải phù hợp với phong tục, tập quán của dân gian ta”, tiến sỹ Vũ Thế Khanh khẳng định.

Chuyên gia này cũng cho biết, trong dịp rằm tháng 7 và lễ Vu Lan tại các tư gia, các gia đình có thể thắp hương, làm mâm lễ cúng cầu nguyện cho người đã khuật.

Cũng có thể chuẩn bị các đồ cúng lễ theo truyền thống cho các “cô hồn” tại các khu vực công cộng như: cháo loãng, bánh kẹo, khoai sắn, muối, gạo… Lễ cúng gia tiên tốt nhất nên dùng đồ chay, thanh tịnh. Không nên đốt vàng mã, không cúng tiền giả, không cúng đồ sát sinh, các đồ tanh hôi.

Thực hiện các lễ đàn tâm linh, tụng kinh sám hối , tụng kinh Vu lan báo hiếu cho linh hồn cha mẹ tổ tiên được xóa bỏ nghiệp chướng tham sân si, phiền não để trở về cảnh giới an lạc. Ngoài ra, nên tích đức, làm các việc thiện lành, khởi niệm từ bi với mọi chúng sinh và hồi hướng công đức cho ông bà tổ tiên.

Tiến sỹ Vũ Thế Khanh cũng khẳng định, muốn thành tựu mùa Vu Lan báo hiếu, điều quan trọng nhất là con cháu hiếu thảo thực hành những việc hiếu hạnh phụng dưỡng cha mẹ, ông bà đang còn sống, và phát nguyện hồi hướng công đức cho họ khi đã khuất. Nếu không làm được việc đó, thì việc đi lễ chùa, mâm cao cỗ đầy, dâng cúng vàng mã chỉ mang tính hình thức, tốn kém thời giờ và tiền của.

Hiệp Nguyễn

【#2】Toà Thánh Cao Đài Và Nhạc Lễ Cao Đài Trên Youtube.com

Résultats de recherche

Hội thánh Cao đài Tòa thánh Tây Ninh khai giảng lớp tập huấn đạo sự chúng tôi

Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây chúng tôi

TRẦN VĂN KHÊ – Âm nhạc truyền thống Việt Nam: ÂM NHẠC ĐẠO CAO ĐÀItranvankhevietnam.blogspot.com

Tòa thánh Cao đài Tây Ninh tổ chức Đại lễ hội yến Diêu Trì Cung chúng tôi

Phú yên: Ban Cai quản Họ đạo Cao đài Tây Ninh chúng tôi Hòa tổ chức lễ chúng tôi

Đại hội Hội thánh Cao đài Tây Ninh nhiệm kỳ chúng tôi

Tòa Thánh Tây Ninh – thánh địa linh thiêng của đạo Cao Đài – HỘI KỶ chúng tôi

LỄ HỒNG THỆ VÀ BAN HÀNH ĐẠO LỊNH CHO CHỨC SẮC TÂN THĂNG – TÂN PHONG chúng tôi

38. BIỂU DIỄN NHẠC LỄ CAO ĐÀI NGÀY ĐẠI LỄ ĐỨC CHÍ TÔN 2021 – PHẦN 2 chúng tôi

Phú yên: Ban Cai quản Họ đạo Cao đài Tây Ninh chúng tôi Hòa tổ chức lễ chúng tôi

Tòa thánh Tây Ninh – di sản của vẻ đẹp kiến trúc độc đáovntrip.vn

Tây Ninh: Đón bằng công nhận múa trống Chhay-dăm là Di sản văn hóa chúng tôi

Kiến trúc bí ẩn của tòa thánh Tây Ninh – Thời sự – chúng tôi

TOÀ THÁNH CAO ĐÀI TÂY NINH – Sunrise chúng tôi

Kiến trúc bí ẩn của tòa thánh Tây Ninh – Thời sự – chúng tôi

Sự sáng tạo, kiến trúc độc đáo, thiêng liêng nơi Tòa thánh Cao Đàibtgcp.gov.vn

Đạo Cao Đài – chúng tôi

Đại lễ Hội Yến Diêu Trì Cung tại Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh – Phố chúng tôi

Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây chúng tôi

Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh – Wikipedia tiếng Việtvi.wikipedia.org

Về Tây Ninh dự lễ hội lớn của đạo Cao Đàivietravel.com

ĐẠO CAO ĐÀI – QUÁN VĂNquanvan.net

TOÀ THÁNH CAO ĐÀI TÂY NINH – Sunrise chúng tôi

Đạo Cao Đài – Wikipedia tiếng Việtvi.wikipedia.org

Phát huy các giá trị văn hóa của đạo Cao đài trong đời sống cư dânlyluanchinhtri.vn

Tây Ninh: Cội nguồn và ý nghĩa tâm linh của người đạotayninh.tintuc.vn

Doi dieu ve nhac le va xuong le Cao Dai (Le Anh Dung)thienlybuutoa.org

Khám phá Tòa Thánh cốt tre nổi tiếng thế giới ở Tây chúng tôi

Thanh That Cao Dai Thanh Pho Vinh chúng tôi

Qua vùng “đất Thánh” Tây Ninh – Báo ảnh Việt chúng tôi

Khai mạc triển lãm nhân Đại lễ Vía Đức Chí Tôn năm Đinh Dậu 2021 chúng tôi

Chúc mừng Đại lễ khai đạo Cao Đàidaidoanket.vn

Nhạc tang lễ, làm sao giữ được nét xưa? – Báo Ấp Bắc điện tửbaoapbac.vn

Chùm ảnh: Tòa Thánh Tây Ninh – dấu ấn kiến trúc độc đáo của đạo Cao chúng tôi

TÒA THÁNH CAO ĐÀI TÂY chúng tôi

ĐẠO CAO ĐÀI – QUÁN VĂNquanvan.net

Anh Van – chúng tôi

Thanh That Cao Dai Thanh Pho Vinh chúng tôi

Video Nhạc Lễ Cao Đài Tây Ninh . ~ Thiện Tâm Cao Đàithientamcaodai.blogspot.com

Qua vùng “đất Thánh” Tây Ninh – Báo ảnh Việt chúng tôi

Đền Thờ Phật Mẫu Báo Ân Từ – Thánh Thất Cao Đàithanhthatcaodai.org

Tây Ninh] Tòa Thánh Tây Ninh – một kiến trúc độc đáo của thế giới chúng tôi

Tìm Hiểu Cao Đài Ban Chỉnh Đạocaodaibanchinhdao.net

Chùm ảnh: Tòa Thánh Tây Ninh – dấu ấn kiến trúc độc đáo của đạo Cao chúng tôi

il y a 2 jours Về Tây Ninh dự lễ hội lớn của đạo Cao Đài – VnExpss Du lịchvnexpss.net

Nghi thức – nhạc lễ trong cúng đình ở Đồng Nai – Báo Đồng Nai điện tửbaodongnai.com.vn

Cao Đài Vấn Đáp 72 câu – Nhịp Cầu Giáo Lýnhipcaugiaoly.com

Qua vùng “đất Thánh” Tây Ninh – Cảm nhận Việt chúng tôi

Đạo Cao Đài – chúng tôi

Tòa thánh Tây Ninh – di sản của vẻ đẹp kiến trúc độc đáovntrip.vn

Xây dựng lại chợ Long Hoa nổi tiếng của đạo Cao Đài – Báo Lao Độngbaomoi.com

Anh Van – chúng tôi

Sự sáng tạo, kiến trúc độc đáo, thiêng liêng nơi Tòa thánh Cao Đàibtgcp.gov.vn

Vai Tro Cua Hiep Thien chúng tôi

TOÀ THÁNH CAO ĐÀI TÂY NINH – Sunrise chúng tôi

CHƠN KINH CAO ĐÀI – CAO ĐÀI – ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘsites.google.com

TamDuyen.com ” NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA ĐẠI LỄ HỘI YẾN DIÊU TRÌ chúng tôi

Kiến trúc bí ẩn của tòa thánh Tây Ninh – Thời sự – chúng tôi

đàn cổ nhạc lễ – Free Online Videos Best Movies TV shows – chúng tôi

Hành trình Đạo Cao Đài từ 1975 (phần 4)rfa.org

TÒA THÁNH CAO ĐÀI TÂY chúng tôi

Khám phá Tòa Thánh cốt tre nổi tiếng thế giới ở Tây chúng tôi

Đền Thờ Phật Mẫu Báo Ân Từ – Thánh Thất Cao Đàithanhthatcaodai.org

LỄ HỒNG THỆ VÀ BAN HÀNH ĐẠO LỊNH CHO CHỨC SẮC TÂN THĂNG – TÂN PHONG chúng tôi

Về Tây Ninh xem múa rồng nhan đại lễ Diêu Trì chúng tôi

Cao Đài Vấn Đáp 72 câu – Nhịp Cầu Giáo Lýnhipcaugiaoly.com

Đạo Cao Đài – Wikipedia tiếng Việtvi.wikipedia.org

CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT: Tòa thánh cốt tre nổi tiếng thế giới lại nằm chúng tôi

Hội yến diêu trì cung, đến hẹn lại vềtayninhonline.vn

đàn cổ nhạc lễ – Free Online Videos Best Movies TV shows – chúng tôi

Đại hội Nhơn sanh tại Tòa Thánh Cao Đài Tây chúng tôi

Tim Hieu Dao Cao Dai Qua Kien Truc Toa Thanh Tay chúng tôi

Du hành xe buýt TPHCM: Toà Thánh Cao Đài, Tây Ninh (Tết 2011, ngày chúng tôi

Vai trò cây đờn cò trong cổ nhạcrfa.org

Qua vùng “đất Thánh” Tây Ninh – Báo ảnh Việt chúng tôi

Hình Ảnh – Thư Viện Hạc Trắngthuvienhactrang.vn

Hòa Tấu 30 lớp nam.NHẠC LỄ CAO ĐÀI TÂY NINH – chúng tôi

Download Hòa Tấu Xuân Nữ Tây Ninh Nhạc Lễ Cao đài chúng tôi

Tấn Thành Bàu Năng -Tanthanh80 Tây Ninh channel , Tấn Thành Bàu Năng chúng tôi

Nghi thức – nhạc lễ trong cúng đình ở Đồng Nai – Báo Đồng Nai điện tửbaodongnai.com.vn

Tay Ninh Dong Huong Hoi chúng tôi

Sự sáng tạo, kiến trúc độc đáo, thiêng liêng nơi Tòa thánh Cao Đàibtgcp.gov.vn

Tây Ninh Du Ký – chúng tôi

Dàn nhạc lễ và dàn nhạc ngũ âm của dân tộc Khmer Nam bộdulichsoctrang.org

Anh Van – chúng tôi

Tây Ninh những ngày cuối tuần thú vịbillbalo.com

il y a un jour Lễ khai ấn đền Trần-Nam Định 2021: Đảm bảo đủ ấn phát cho nhân dânhcmcpv.org.vn

BƯỚC ĐẦU HỌC ĐẠO (Dành cho Tân tín đồ Cao Đài)caodaism.org

Descargar MP3 de Xuan Nữ gratis. chúng tôi

Chùm ảnh: Tòa Thánh Tây Ninh – dấu ấn kiến trúc độc đáo của đạo Cao chúng tôi

TÒA THÁNH CAO ĐÀI TÂY chúng tôi

Nhạc Sĩ vào Quân đội từ Thiếu Sinh Quân- Nguyễn Văn Đông từ trần tại chúng tôi

Du lịch Tây Ninh: Viên ngọc chưa được mài sáng – Báo Người Tiêu Dùngbaomoi.com

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA CỦA ĐẠO CAO ĐÀI / Tạp Chí Liên Giao Cao Đàitapchiliengiaocaodai.org.vn

il y a 10 heures 61 tác phẩm giành giải thưởng âm nhạc Hội Nhạc sĩ Việt Nam năm 2021vov.vn

Khám phá Tòa Thánh cốt tre nổi tiếng thế giới ở Tây chúng tôi

CAO ĐÀI TỪ ĐIỂN Q.3 (v2012)caodaism.org

Nghi Thuc Va Y nghia Tang chúng tôi

Cao Đài Vấn Đáp 72 câu – Nhịp Cầu Giáo Lýnhipcaugiaoly.com

Thanh That Cao Dai Thanh Pho Vinh chúng tôi

Trí Giác Cung – Địa Linh Động – Thánh Thất Cao Đàithanhthatcaodai.org

Tay Ninh Dong Huong Hoi chúng tôi

Tây Ninh: Cội nguồn và ý nghĩa tâm linh của người đạotayninh.tintuc.vn

LỄ MÃN KHÓA LỚP TẬP HUẤN NHẠC, LỄ, ĐỒNG NHI CỦA THÁNH THẤT SÀI GÒN chúng tôi

il y a 5 jours DThU – Trường Đại học Đồng Thápdthu.edu.vn

Vận hành tổ hợp tòa nhà cao nhất Đông Nam bộ tại Tây chúng tôi

Giáo lý Cao Đài – Wikipedia tiếng Việtvi.wikipedia.org

TOÀ THÁNH CAO ĐÀI TÂY NINH – Sunrise chúng tôi

Qua vùng “đất Thánh” Tây Ninh – Cảm nhận Việt chúng tôi

Qua vùng “đất Thánh” Tây Ninh – Báo ảnh Việt chúng tôi

Tìm Hiểu Cao Đài Ban Chỉnh Đạocaodaibanchinhdao.net

KINH CÚNG TUẦN CỬU – CAO ĐÀI – ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘsites.google.com

Tòa thánh Tây Ninh – di sản của vẻ đẹp kiến trúc độc đáovntrip.vn

Đến với Tây Ninh mùa nắng cháy – Du lịch – chúng tôi

il y a 10 heures Vũ khúc cánh đồng của ca sĩ Mai Hoa giành giải thưởng cao nhất của …vtc.vn

Du hành xe buýt TPHCM: Toà Thánh Cao Đài, Tây Ninh (Tết 2011, ngày chúng tôi

Nghi thức – nhạc lễ trong cúng đình ở Đồng Nai – Báo Đồng Nai điện tửbaodongnai.com.vn

Di sản văn hóa Tây Ninh từ A đến Z! chúng tôi

Độc đáo nghệ thuật chèo thuyền Bát Nhã – Báo Tây Ninh chúng tôi

Hội yến diêu trì cung, đến hẹn lại vềtayninhonline.vn

Tòa Thánh Tây Ninh – thánh địa linh thiêng của đạo Cao Đài – HỘI KỶ chúng tôi

Coopmart Gò Dầu tại Tây Ninh đã sẵn sàng đi vào hoạt độngvov.vn

Tìm hiểu Nghi thức Tế lễ thờ cúng Hùng Vương. – Sở Văn hoá, Thể thao chúng tôi

Đạo Cao Đài – chúng tôi

Hinh anh Toa Thanh Tay chúng tôi

CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT: Tòa thánh cốt tre nổi tiếng thế giới lại nằm chúng tôi

Anh Van – chúng tôi

il y a 16 heures Chấn chỉnh việc ‘Trao tiền phát Ấn’ tại Đền Trầnvietnamnet.vn

Hình Ảnh – Thư Viện Hạc Trắngthuvienhactrang.vn

Chúng tôi sẽ nhớ mãi về ‘Thằng Hèn Vĩ Đại’ – BBC News Tiếng Việtbbc.com

Noi O Toa Thanh Tay Ninh Xua va chúng tôi

il y a un jour Văn hóabaovanhoa.vn

Nhạc Sĩ vào Quân đội từ Thiếu Sinh Quân- Nguyễn Văn Đông từ trần tại chúng tôi

Thanh That Cao Dai Thanh Pho Vinh chúng tôi

il y a 15 heures Cây vĩ cầm Ave Maria – Quá khứ đau thương được vẽ bằng âm nhạcvovworld.vn

nam xuan – Free Online Videos Best Movies TV shows – chúng tôi

Trí Giác Cung – Địa Linh Động – Thánh Thất Cao Đàithanhthatcaodai.org

Tay Ninh Dong Huong Hoi chúng tôi

Nghi Lễ: HOÁN ĐÀN, Đạo CAO ĐÀI – TÒA THÁNH TÂY NINH (Việt Nam)getlink.pro

Chùm ảnh: Tòa Thánh Tây Ninh – dấu ấn kiến trúc độc đáo của đạo Cao chúng tôi

il y a 4 heures Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóatruyenhinhthanhhoa.vn

Nét độc đáo trong hôn nhân truyền thống của người Dao ở Tuyên Quang chúng tôi

il y a 3 heures Thăm, tặng quà Tết các cơ sở tôn giáo – Báo Khánh Hòa điện tửbaokhanhhoa.vn

【#3】Hướng Dẫn Nghi Thức Động Thổ, Đổ Móng, Đổ Mái, Khánh Thành Nhà (Xưởng,…) Mới 2021

Phúc hoạ là do nhân quả của chính chúng ta tạo thành, nên không kiêng tuổi, mượn tuổi, kiêng giờ. Đủ điều kiện xây nhà về tiền, thời tiết phù hợp, thời gian: Trời sáng, quan tâm tới thợ, biết tạo phúc trong khi xây nhà: ” ĐỨC NĂNG THẮNG SỐ

1. Thời Gian

– Vì lý do trên đất, có các vong linh quỷ thần trú ngụ trên cây, dưới mặt đất, nên khi chúng ta làm nhà, cần phải chặt cây đào đất, vì thế chúng ta phải làm lễ trước bảy ngày, để thông báo, khiến cho các vị vong linh quỷ thần biết và xin họ di chuyển đến chỗ khác, trong thời gian chúng ta làm nhà, sau khi làm nhà xong thì chúng ta lại thỉnh họ về.

– Trường hợp trên đất có nhà cửa nhưng tín chủ không ở tại đó, cũng làm lễ dỡ nhà san đất, trước 7 ngày. Dỡ nhà san đất xong, thì làm lễ động thổ trước một ngày hoặc có thể làm lễ động thổ và tiến hành làm luôn trong cùng ngày.

– Trường hợp dỡ nhà đang ở để xây trên đất cũ, thì làm lễ trước 7 ngày tại nhà, trước khi dỡ nhà. Khi dỡ nhà xong, làm lễ làm lễ động thổ trước một ngày hoặc có thể làm lễ động thổ và tiến hành làm luôn trong cùng ngày.

– Trường hợp đất mới đã san gạt xong từ trước, thì làm lễ động thổ tại đất trước bảy ngày, sau mới chính thức cuốc đất làm móng.

2. Đồ Lễ & Cách Sắp Lễ

Đồ lễ: Hương, hoa, nước trà, quả, thực, đèn hoặc nến:

      Hương: Các loại hương đốt có hương thơm.
      Hoa: Các loài hoa có hương thơm (không kiêng về tên hoa và số lượng).
      Trà: Nước trà tỏa hương của sáu vị là đắng, cay, chua, chát, mặn, ngọt là sáu vị nuôi sống tất cả chúng sinh.
      Quả: Số lượng tùy ý không kiêng kị 2 quả hay 4 quả. Nên cúng quả đã chín vì có hương từ vị để dâng cúng.
      Thực: Hiến cúng Phật bày lễ một bát cơm và một cốc nước (nếu không có bát hương Phật, thì không sắp). Hiến cúng chư Thiên chư Thần bày lễ một bát cơm và một cốc nước chè. Hiến cúng các vong linh có cơm chay, không cần nhiều món chỉ cần đơn giản cơm, rau, đậu, lạc, canh rau.

3. Các Nghi Lễ

– Động Thổ Dỡ Nhà Cũ và San Đất, Cuốc Móng.

– Động Thổ San Đất Mới, Cuốc Móng.

– Đổ Móng, Đổ Mái.

– Về Nhà Mới (Lễ tạ)

Các nghi lễ dân gian như: Hoàn long mạch, tạ đất… trong các bài hướng dẫn đều đã có, đó là cúng dường Tam Bảo, hồi hướng phúc đến cho các vị chư Thiên, chư Thần Linh.

4. Tạo Phúc

Trong đời sống của chúng ta luôn luôn bị chi phối bởi phúc báo:

Có người có phúc làm ra tiền, lại có phúc được thụ hưởng những đồng tiền làm ra đó.

Có người có phúc không làm ra tiền nhưng lại được thụ hưởng tiêu tiền từ người khác.

Có người có phúc làm ra tiền, nhưng không có phúc được thụ hưởng những đồng tiền do chính mình làm ra.

B. Nghi Lễ

1. Nghi Lễ Xin Dỡ Nhà Cũ, Động Thổ, San Đất Và Cuốc Móng

(dành cho trường hợp phá công trình cũ xây công trình mới)

Thời gian trước 7 ngày.

– Địa điểm: Tại ban thờ của gia đình.

Không có ban thờ Phật, thì làm lễ tại ban thờ gia tiên. Có chuông mõ thì dùng, không có thì đọc không chuông mõ.

– Đồ lễ: Như hướng dẫn. Ngày đầu làm mâm cơm cúng, sáu ngày sau, mỗi ngày đều sới một bát cơm, pha một cốc nước cúng, khi cúng khấn theo văn khấn hướng dẫn.

– Bài hướng dẫn có 2 phần:

a. Dành cho trường hợp cúng lễ, nhưng không có thời gian tụng kinh.

b. Dành cho trường hợp cúng lễ, có thời gian tụng kinh.

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chư Phật ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 lễ)

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Chính Pháp ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 lễ)

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Tăng bậc Hiền Thánh ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 lễ)

Chúng con xin phép, sau buổi lễ này, chúng con xin làm nghi pháp động thổ, 5 nhát cuốc xuống đất, 5 nhát búa đập nhà. Đến ngày (sau 7 ngày)….. gia đình con xin chính thức dỡ ngôi nhà này và san gạt lại đất. (Từ buổi thứ hai không đọc phần in đậm nữa)

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

(Xong ra động thổ….)

– Nếu gia đình phóng sinh và cúng thí thực, thì làm theo trên phần hướng dẫn.

* Ngày thứ 6, nghi thức vẫn như cũ, thay nội dung trong văn khấn:”…. Đệ tử con tên là: ……… Pháp danh: ……… Hiện đang ở tại: chúng tôi đình chúng con có duyên sự, ngày mai chúng con xin chính thức dỡ nhà san đất, để xây dựng ngôi nhà mới…..”

Hôm sau (ngày thứ 7), gia đình bắt đầu làm.

*Dỡ nhà san đất cuốc móng xong, làm nghi lễ theo hướng dẫn ĐỔ MÓNG, ĐỔ MÁI. HẾT

Ngày đầu làm mâm cơm cúng, sáu ngày sau, mỗi ngày đều xới một bát cơm, pha một cốc nước cúng, khi cúng khấn theo văn khấn hướng dẫn.

Tán Pháp

Pháp Phật sâu mầu chẳng gì hơn,

Trăm ngàn muôn kiếp khó được gặp.

Nay con nghe thấy vâng gìn giữ,

Nguyện hiểu nghĩa chân đức Thế Tôn.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! (3 lần)

Một thời Thế Tôn trú ở thành Vương Xá (Ràjagaha). Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ kheo:

Các loài hữu tình nào, này các Tỷ kheo, vào buổi sáng, thân làm việc thiện, nói lời nói thiện, ý nghĩ điều thiện, các loài hữu tình ấy, này các Tỷ kheo, có một buổi sáng tốt đẹp.

Các loại hữu tình nào, này các Tỷ kheo, vào buổi trưa, thân làm việc thiện, nói lời nói thiện, ý nghĩ điều thiện, các loài hữu tình ấy, này các Tỷ kheo, có một buổi trưa tốt đẹp.

Các loại hữu tình nào, này các Tỷ kheo, vào buổi chiều, thân làm việc thiện, nói lời nói thiện, ý nghĩ điều thiện, các loài hữu tình ấy, này các Tỷ kheo, có một buổi chiều tốt đẹp.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! (1 vái)

Một thời, Thế Tôn trú ở Savatthi, tại khu vườn ông Cấp Cô Độc (Anathapindika). Rồi gia chủ Cấp Cô Độc (Anathapindika) đi đến, sau khi đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Cấp Cô Độc (Anathapindika).

Này Gia chủ, có năm lý do để gầy dựng tài sản. Thế nào là năm?

Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn, thâu góp với sức mạnh của bàn tay, kiếm được do đổ mồ hôi, thâu được một cách hợp pháp. Tự mình làm an lạc, hoan hỷ. Làm cho cha mẹ, vợ con, người phục vụ, người làm công được an lạc, hoan hỷ. Đây là lý do thứ nhất để gầy dựng tài sản.

Lại nữa, này gia chủ, vị Thánh đệ tử kiếm được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn… Vị này làm cho bạn bè, thân hữu an lạc, hoan hỷ. Đây là lý do thứ hai để gầy dựng tài sản.

Này gia chủ, vị Thánh đệ tử kiếm được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn… Các tai họa để trở thành trắng tay bị chặn đứng và vị ấy giữ gìn tài sản được an toàn cho vị ấy. Đây là lý do thứ ba để gầy dựng tài sản.

Lại nữa, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử kiếm được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn… Vị ấy có thể hiến cúng cho bà con, cho khách, cho hương linh đã chết; hiến cúng cho vua và chư Thiên. Đây là lý do thứ tư để gầy dựng tài sản.

Này gia chủ, vị Thánh đệ tử kiếm được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn… Vị ấy tổ chức cúng dường các vị Sa môn, Bà la môn. Sự cúng dường tối thượng này đưa đến phước báu vô lượng ở cõi người, cõi trời. Đây là lý do thứ năm để gầy dựng tài sản.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! (1 vái)

(Đọc Biến thủy, Biến thực)

Chú biến thực: Nam mô tát phạ đá tha, nga đá phả rô chỉ đế, ám tam bạt ra, tam bạt ra hồng. (7 lần)

Chú biến thủy: Nam mô tô rô bà ra, đát tha nga đá ra, đát điệt tha, án tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô sa bà ha. (7 lần)

Phổ cúng dường: Án nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhật ra hồng. (7 lần)

Chúng con xin phép, sau buổi lễ này, chúng con xin làm nghi pháp động thổ, 5 nhát cuốc xuống đất, 5 nhát búa đập nhà. Đến ngày (sau 7 ngày)….. gia đình con xin chính thức dỡ ngôi nhà này và san gạt lại đất. (Từ buổi thứ hai không đọc nữa phần in đậm)

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

(Xong ra động thổ….)

– Nếu gia đình phóng sinh và cúng thí thực, thì làm theo trên phần hướng dẫn.

* Ngày thứ 6, nghi thức vẫn như cũ, thay nội dung trong văn khấn: “…. Đệ tử con tên là: ……… Pháp danh: ……… Hiện đang ở tại: chúng tôi đình chúng con có duyên sự, ngày mai chúng con xin chính thức dỡ nhà san đất, để xây dựng ngôi nhà mới…..”

Hôm sau (ngày thứ 7), gia đình bắt đầu làm.

* Dỡ nhà san đất cuốc móng xong, làm nghi lễ theo hướng dẫn ĐỔ MÓNG, ĐỔ MÁI. HẾT

2. Động Thổ San Đất và Cuốc Móng

(Trường hợp đất trống)

– Thời gian: Làm lễ trước 7 ngày. Đến ngày thứ 7, ra phần đất để cuốc móng.

– Địa điểm làm lễ: Làm lễ tại nơi đất. Vị trí: Thuộc trong phần đất. Hướng bàn lễ: Tùy ý gia đình thấy thích hợp.

– Đồ lễ: Theo hướng dẫn, nếu không tiện, thì không làm cơm chay, chỉ làm xôi (1 đĩa), chè (3 bát). Bày lễ lên bàn hoặc một chiếc mâm kê cao.

– Bài hướng dẫn có 2 phần:

a. Dành cho trường hợp cúng lễ, nhưng không có thời gian tụng kinh.

b. Dành cho trường hợp cúng lễ, có thời gian tụng kinh

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chư Phật ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 lễ)

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Chính Pháp ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 lễ)

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Tăng bậc Hiền Thánh ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 lễ)

Chúng con xin phép, sau buổi lễ này, chúng con xin làm nghi pháp động thổ, 5 nhát cuốc xuống đất. Đến ngày….. gia đình con xin chính thức cuốc móng để làm nhà. Hôm nay chúng con làm lễ, cáo bạch xin phép để các vị chư Thiên, chư Thần Linh cùng các vong linh được biết, khiến không làm tổn hại đến các vị.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

(Xong ra động thổ….)

– Nếu gia đình phóng sinh và cúng thí thực, thì làm theo trên phần hướng dẫn.

Pháp Phật sâu mầu chẳng gì hơn,

Trăm ngàn muôn kiếp khó được gặp.

Nay con nghe thấy vâng gìn giữ,

Nguyện hiểu nghĩa chân đức Thế Tôn.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! (3 lần)

(Ngồi đọc kinh)

Một thời Thế Tôn trú ở thành Vương Xá (Ràjagaha). Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ kheo:

Các loài hữu tình nào, này các Tỷ kheo, vào buổi sáng, thân làm việc thiện, nói lời nói thiện, ý nghĩ điều thiện, các loài hữu tình ấy, này các Tỷ kheo, có một buổi sáng tốt đẹp.

Các loại hữu tình nào, này các Tỷ kheo, vào buổi trưa, thân làm việc thiện, nói lời nói thiện, ý nghĩ điều thiện, các loài hữu tình ấy, này các Tỷ kheo, có một buổi trưa tốt đẹp.

Các loại hữu tình nào, này các Tỷ kheo, vào buổi chiều, thân làm việc thiện, nói lời nói thiện, ý nghĩ điều thiện, các loài hữu tình ấy, này các Tỷ kheo, có một buổi chiều tốt đẹp.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! (1 vái)

Một thời, Thế Tôn trú ở Savatthi, tại khu vườn ông Cấp Cô Độc (Anathapindika). Rồi gia chủ Cấp Cô Độc (Anathapindika) đi đến, sau khi đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Cấp Cô Độc (Anathapindika).

Này Gia chủ, có năm lý do để gầy dựng tài sản. Thế nào là năm?

Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn, thâu góp với sức mạnh của bàn tay, kiếm được do đổ mồ hôi, thâu được một cách hợp pháp. Tự mình làm an lạc, hoan hỷ. Làm cho cha mẹ, vợ con, người phục vụ, người làm công được an lạc, hoan hỷ. Đây là lý do thứ nhất để gầy dựng tài sản.

Lại nữa, này gia chủ, vị Thánh đệ tử kiếm được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn… Vị này làm cho bạn bè, thân hữu an lạc, hoan hỷ. Đây là lý do thứ hai để gầy dựng tài sản.

Này gia chủ, vị Thánh đệ tử kiếm được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn… Các tai họa để trở thành trắng tay bị chặn đứng và vị ấy giữ gìn tài sản được an toàn cho vị ấy. Đây là lý do thứ ba để gầy dựng tài sản.

Lại nữa, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử kiếm được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn… Vị ấy có thể hiến cúng cho bà con, cho khách, cho hương linh đã chết; hiến cúng cho vua và chư Thiên. Đây là lý do thứ tư để gầy dựng tài sản.

Này gia chủ, vị Thánh đệ tử kiếm được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn… Vị ấy tổ chức cúng dường các vị Sa môn, Bà la môn. Sự cúng dường tối thượng này đưa đến phước báu vô lượng ở cõi người, cõi trời. Đây là lý do thứ năm để gầy dựng tài sản.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! (1 vái)

Chúng con xin phép, sau buổi lễ này, chúng con xin làm nghi pháp động thổ, 5 nhát cuốc xuống đất. Đến ngày….. gia đình con xin chính thức cuốc móng để làm nhà. Hôm nay chúng con làm lễ, cáo bạch xin phép để các vị chư Thiên, chư Thần Linh cùng các vong linh được biết, khiến không làm tổn hại đến các vị.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

(Xong ra động thổ….)

– Nếu gia đình phóng sinh và cúng thí thực, thì làm theo trên phần hướng dẫn.

* Cuốc Móng Xong, Làm Tiếp Theo Nghi Lễ Đổ Móng, Đổ Mái.

3. Nghi Lễ Đổ Móng, Đổ Mái

– Thời gian: Làm lễ trước 1 ngày hoặc trước khi đổ móng, mái.

– Địa điểm làm lễ: Làm lễ tại nơi đất. Vị trí: Thuộc trong phần đất. Hướng bàn lễ: Tùy ý gia đình thấy thích hợp (đổ mái làm ở dưới đất, không cần làm trên mái).

– Đồ lễ theo hướng dẫn, nếu không tiện, thì không làm cơm chay, chỉ làm xôi (1 đĩa), chè (3 bát). Bày lễ lên bàn hoặc một chiếc mâm kê cao.

– Bài hướng dẫn có 2 phần: a. Dành cho trường hợp cúng lễ, nhưng không có thời gian tụng kinh.b. Dành cho trường hợp cúng lễ, có thời gian tụng kinh

– Nếu gia đình phóng sinh và cúng thí thực, thì làm theo trên phần hướng dẫn.

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chư Phật ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 lễ)

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Chính Pháp ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 lễ)

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Tăng bậc Hiền Thánh ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 lễ)

Tán Pháp

Pháp Phật sâu mầu chẳng gì hơn,

Trăm ngàn muôn kiếp khó được gặp.

Nay con nghe thấy vâng gìn giữ,

Nguyện hiểu nghĩa chân đức Thế Tôn.

Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! (3 lần)

Một thời Thế Tôn trú ở thành Vương Xá (Ràjagaha). Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ kheo:

Các loài hữu tình nào, này các Tỷ kheo, vào buổi sáng, thân làm việc thiện, nói lời nói thiện, ý nghĩ điều thiện, các loài hữu tình ấy, này các Tỷ kheo, có một buổi sáng tốt đẹp.

Các loại hữu tình nào, này các Tỷ kheo, vào buổi trưa, thân làm việc thiện, nói lời nói thiện, ý nghĩ điều thiện, các loài hữu tình ấy, này các Tỷ kheo, có một buổi trưa tốt đẹp.

Các loại hữu tình nào, này các Tỷ kheo, vào buổi chiều, thân làm việc thiện, nói lời nói thiện, ý nghĩ điều thiện, các loài hữu tình ấy, này các Tỷ kheo, có một buổi chiều tốt đẹp.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! (1 vái)

Một thời, Thế Tôn trú ở Savatthi, tại khu vườn ông Cấp Cô Độc (Anathapindika). Rồi gia chủ Cấp Cô Độc (Anathapindika) đi đến, sau khi đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Cấp Cô Độc (Anathapindika).

Này Gia chủ, có năm lý do để gầy dựng tài sản. Thế nào là năm?

Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn, thâu góp với sức mạnh của bàn tay, kiếm được do đổ mồ hôi, thâu được một cách hợp pháp. Tự mình làm an lạc, hoan hỷ. Làm cho cha mẹ, vợ con, người phục vụ, người làm công được an lạc, hoan hỷ. Đây là lý do thứ nhất để gầy dựng tài sản.

Lại nữa, này gia chủ, vị Thánh đệ tử kiếm được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn… Vị này làm cho bạn bè, thân hữu an lạc, hoan hỷ. Đây là lý do thứ hai để gầy dựng tài sản.

Này gia chủ, vị Thánh đệ tử kiếm được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn… Các tai họa để trở thành trắng tay bị chặn đứng và vị ấy giữ gìn tài sản được an toàn cho vị ấy. Đây là lý do thứ ba để gầy dựng tài sản.

Lại nữa, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử kiếm được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn… Vị ấy có thể hiến cúng cho bà con, cho khách, cho hương linh đã chết; hiến cúng cho vua và chư Thiên. Đây là lý do thứ tư để gầy dựng tài sản.

Này gia chủ, vị Thánh đệ tử kiếm được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn… Vị ấy tổ chức cúng dường các vị Sa môn, Bà la môn. Sự cúng dường tối thượng này đưa đến phước báu vô lượng ở cõi người, cõi trời. Đây là lý do thứ năm để gầy dựng tài sản.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! (1 vái)

– Nếu gia đình phóng sinh và cúng thí thực, thì làm theo trên phần hướng dẫn.

* Làm Tiếp Theo Hướng Dẫn Nghi Lễ Khánh Thành (Về Nhà Mới)

4. Hướng Dẫn Nghi Lễ Khánh Thành (Về Nhà Mới, Tạ Lễ)

Có thể chuyển xong bàn thờ và đồ đạc, rồi mới làm lễ (Giải nghi về việc làm lễ xong, mới được chuyển đồ đạc: Tất cả đồ đạc của mình, cũng thuộc tài sản của mình, giống như gạch cát… dùng để xây ngôi nhà này, mình vẫn chuyển về để xây dựng). Nghi lễ về nhà mới, mang ý nghĩa tạ lễ (lễ tạ ơn).

Đồ Lễ: Như phần hướng dẫn.

– Bài hướng dẫn có 2 phần:

a. Dành cho trường hợp cúng lễ, nhưng không có thời gian tụng kinh.

b. Dành cho trường hợp cúng lễ, có thời gian tụng kinh.

Con kính bạch chư Phật chứng minh và gia hộ cho gia đình chúng con, được hồi hướng tất cả công đức lành tạo ra ngày hôm nay, để gia đình được bình an hoà thuận, thọ mạng kéo dài (nguyện gì đọc nấy)….. cùng nhau gặp được Chính Pháp, tinh tấn tu hành cho tới ngày liễu thoát luân hồi sinh tử.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

– Nếu gia đình phóng sinh và cúng thí thực, thì làm theo trên phần hướng dẫn.

* Nếu Gia Đình Muốn Tu Tập Tiếp Thì Theo Chương Trình Tại Đây:Bài 8 –

Hướng Dẫn Nương Đức Chư Tăng Chùa Ba Vàng, Tu Tập Hằng Ngày Để Chuyển Hoá Nghiệp Oan Gia Trái Chủ

Tán Pháp

Pháp Phật sâu mầu chẳng gì hơn,

Trăm ngàn muôn kiếp khó được gặp.

Nay con nghe thấy vâng gìn giữ,

Nguyện hiểu nghĩa chân đức Thế Tôn.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! (3 lần)

(Ngồi đọc kinh)

Một thời Thế Tôn trú ở thành Vương Xá (Ràjagaha). Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ kheo:

Các loài hữu tình nào, này các Tỷ kheo, vào buổi sáng, thân làm việc thiện, nói lời nói thiện, ý nghĩ điều thiện, các loài hữu tình ấy, này các Tỷ kheo, có một buổi sáng tốt đẹp.

Các loại hữu tình nào, này các Tỷ kheo, vào buổi trưa, thân làm việc thiện, nói lời nói thiện, ý nghĩ điều thiện, các loài hữu tình ấy, này các Tỷ kheo, có một buổi trưa tốt đẹp.

Các loại hữu tình nào, này các Tỷ kheo, vào buổi chiều, thân làm việc thiện, nói lời nói thiện, ý nghĩ điều thiện, các loài hữu tình ấy, này các Tỷ kheo, có một buổi chiều tốt đẹp.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! (1 vái)

Một thời, Thế Tôn trú ở Savatthi, tại khu vườn ông Cấp Cô Độc (Anathapindika). Rồi gia chủ Cấp Cô Độc (Anathapindika) đi đến, sau khi đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Cấp Cô Độc (Anathapindika).

Này Gia chủ, có năm lý do để gầy dựng tài sản. Thế nào là năm?

Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn, thâu góp với sức mạnh của bàn tay, kiếm được do đổ mồ hôi, thâu được một cách hợp pháp. Tự mình làm an lạc, hoan hỷ. Làm cho cha mẹ, vợ con, người phục vụ, người làm công được an lạc, hoan hỷ. Đây là lý do thứ nhất để gầy dựng tài sản.

Lại nữa, này gia chủ, vị Thánh đệ tử kiếm được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn… Vị này làm cho bạn bè, thân hữu an lạc, hoan hỷ. Đây là lý do thứ hai để gầy dựng tài sản.

Này gia chủ, vị Thánh đệ tử kiếm được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn… Các tai họa để trở thành trắng tay bị chặn đứng và vị ấy giữ gìn tài sản được an toàn cho vị ấy. Đây là lý do thứ ba để gầy dựng tài sản.

Lại nữa, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử kiếm được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn… Vị ấy có thể hiến cúng cho bà con, cho khách, cho hương linh đã chết; hiến cúng cho vua và chư Thiên. Đây là lý do thứ tư để gầy dựng tài sản.

Này gia chủ, vị Thánh đệ tử kiếm được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn… Vị ấy tổ chức cúng dường các vị Sa môn, Bà la môn. Sự cúng dường tối thượng này đưa đến phước báu vô lượng ở cõi người, cõi trời. Đây là lý do thứ năm để gầy dựng tài sản.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! (1 vái)

* Nếu Gia Đình Muốn Tu Tập Tiếp Thì Theo Chương Trình Tại Đây:

Bài 8 – Hướng Dẫn Nương Đức Chư Tăng Chùa Ba Vàng, Tu Tập Hằng Ngày Tại Nhà, Để Chuyển Hoá Nghiệp Oan Gia Trái Chủ

HẾT Hướng Dẫn Nghi Thức Lễ Cúng Thí Thực Và Phóng Sinh Tại Nhà

【#4】Dâng Sao Giải Hạn Đầu Năm: Vung Tiền Cúng Lễ Có Tránh Được Vận Hạn?

Vậy dâng sao giải hạn là gì mà lại có thể khiến nhiều người đến thế tiêu tốn vô số tiền bạc?

Nguồn gốc của dâng sao giải hạn – Thiên văn học cổ Trung Hoa

Dâng sao giải hạn là một trong những ứng dụng vào đời sống của thiên văn học cổ Trung Hoa. Người xưa cho rằng số mệnh của con người có thể xem và biết trước được bằng cách lập lá số theo thời gian sinh và sắp xếp lá số theo quy luật của các vì sao, từ đó đoán trước cát hung và tìm cách để đón lành tránh dữ.

Vì thế mà khoa thiên văn học Trung Hoa có thể nói là cha đẻ của mọi khoa chiêm tinh, đẩu số sau này. Hơn thế nữa, các nhà thuật số còn gây được trong dân gian một phong trào thờ sao cúng sao, mà ta thường gọi là “Dâng sao giải hạn”. Xin liệt kê ra một số môn phổ biến nhất như:

1. Khoa Tử Vi Đẩu Số

Khoa này do Đạo sĩ Trần Đoàn thời Tống tạo ra, nó thường dùng khoảng 108 vì sao lớn nhỏ để đoán định về số kiếp vận hạn con người. Đây là khoa duy nhất mà chúng tôi đánh giá cao vì đã áp dụng những triết lý tu thân của Đạo gia vào phương pháp suy đoán vận mệnh.

Nó đã ghi dấu trong lịch sử với những huyền thoại đoán mệnh còn lưu truyền từ thời Tống và thời Trần (Việt Nam). Nhưng trải qua nhiều năm, môn này đã thất truyền và hiện nay không còn ai có thể sử dụng đúng giá trị của nó, gồm tất cả các nhà tử vi nổi tiếng khắp thế giới.

2. Diễn Cầm Tam Thế

Diễn Cầm Tam Thế dùng Nhị thập bát tú để đoán định về số mạng con người theo nguyên tắc “Niên vi cốt, Nguyệt vi bì” (năm sinh thuộc sao nào làm cốt; tháng sinh thuộc sao nào làm da; cốt da vừa nhau thời tốt; da cốt không vừa nhau thời xấu).

3. Khoa Bát Tự

Nhị thập bát tú cao siêu ở trên trời nay biến thành những con thú đủ loại nơi trần thế. Ví dụ: Giác là con sâu, Cang là con rồng, Đê là con nhím, Phòng là con thỏ, Tâm là con chồn, Vỹ là con cọp, Cơ là con báo, v.v.

Khoa Bát Tự cũng là một khoa đẩu số chỉ dùng Can Chi của năm, tháng, ngày, giờ sinh và 48 vì sao để đoán định mệnh con người. Khoa này do Trần Tử Bình lập vào đời Tống, và giản dị hơn tử vi.

4. Khoa Lục Nhâm

Khoa này nếu dùng đúng, kết hợp với phong thủy thì chính là bộ môn đã từng phục vụ cho giới vua chúa các triều đại. Tuy nhiên cũng như tử vi, khoa này đã thất truyền hoàn toàn. Những điều còn lưu lại đều không đáng nhắc đến.

5. Khoa Nhật Nguyệt Tinh

Khoa này chỉ dùng khoảng 30 sao để đoán định may rủi của từng ngày từng giờ. Gồm có: Thập nhị tướng (Chu Tước,Thanh Long, Bạch Hổ, Huyền Vũ, Thái Âm (Mặt trăng), Thập nhị thần (Thái Ất…)

Khoa này chỉ dựa vào Mặt Trời (Thái Dương), Mặt Trăng (Thái Âm) và Ngũ Tinh là:

– Kim Tinh (Thái Bạch)

– Mộc Tinh (Mộc Đức)

– Thủy Tinh (Thủy Diệu)

– Hỏa Tinh (Vân Hán)

– Thổ Tinh (Thổ Tú)

Cộng với La Hầu (Rahou) và Kế Đô (Ketou) để đoán may rủi mỗi năm. Họ còn bày ra cách cúng sao để giải hạn.

Tất cả những khoa đẩu số, lý số nói trên tuy đều dựa vào ảnh hưởng của các vì sao để đoán định họa phúc con người, nhưng hoàn toàn xa lạ với các ứng dụng thực tế của khoa thiên văn học Trung Hoa.

Người xưa có dâng sao giải hạn hay không?

Thiên văn hay chiêm tinh là quan sát các vì sao trên trời để suy ra họa phúc nơi trần thế, trên thì có thể giúp vua định ra chính sách cai trị quốc gia, dưới thì giúp quan lại và nhân dân biết mùa màng mà canh tác, biết địa thế phong thủy mà xây dựng cơ nghiệp, hoàn toàn không phải để cho thường nhân dùng để chiêu tài, cầu may và tránh rủi.

Câu trả lời là “có”. Mặc dù chúng tôi không công nhận hiệu quả thực tế của việc dâng sao giải hạn, nhưng quả thật trong lịch sử cũng đã từng có chuyện dâng sao giải hạn được ghi lại như sau:

Người dâng sao nổi tiếng nhất chính là Gia Cát Lượng, quân sư và nhà quân sự thiên tài thời Tam Quốc, được giới thuật số suy tôn là ông Tổ của ngành đoán mệnh và chiêm tinh đẩu số. Cùng với bộ tiểu thuyếtTam Quốc Diễn Nghĩa mà câu chuyện cúng sao của ông đã đi vào huyền thoại :

“Đêm hôm ấy, Khổng Minh gượng bệnh ra trướng, ngẩng xem thiên văn. Xem xong, Khổng Minh kinh hãi lắm, vào trướng bảo Khương Duy rằng: “Ta nguy đến nơi mất rồi!”

Duy nói: “Sao thừa tướng lại dạy thế?”

Khổng Minh nói: “Ta thấy trong ba ngôi sao Tam thai, ngôi khách tinh sáng lắm mà ngôi chủ tinh thì u ám, các sao tướng phụ bóng tối lờ mờ. Xem tượng trời như thế đủ biết mệnh ta”.

Lễ dâng sao trong sử sách:

Duy nói: “Tượng trên trời đã thế, sao thừa tướng không dùng phép dâng sao giải hạn mà kéo lại được không?”.

Khổng Minh nói: “Ta vốn biết phép ấy, nhưng chưa biết lòng trời làm sao. Ngươi hãy dẫn bốn mươi chín tên giáp sĩ, cầm cờ thâm, mặc áo thâm, đứng vòng quanh ngoài trường, ta ở trong cầu đảo sao Bắc Đẩu. Nếu như trong bảy ngày, ngọn đèn chủ không tắt, thì ta sống lâu thêm được một kỷ nữa. Nếu đèn tắt, ta không thọ được. Phàm những người tạp nhạp, không được cho vào. Những đồ gì ta cần dùng đến, cứ sai hai đứa tiểu đồng trang biện là đủ”.

Ngày xưa các quan trông coi thiên văn của Hoàng gia chính là những người đề xuất và tổ chức các lễ dâng sao khi quan sát thấy một số thiên tượng đặc biệt xuất hiện nhằm mục đích để xin Thiên Thượng bảo hộ cho hoàng tộc và quốc gia tránh khỏi tai ương.

Tấn thư – Thiên Văn chí chép: “Đời Minh Đế, năm Thái Hòa nguyên niên (323), quan thái sử lệnh là Hứa Chí tâu rằng: “Sắp có nhật thực, xin được cùng với quan thái úy đi làm lễ dâng sao”.

Như vậy dâng sao giải hạn thực chất là một nghi lễ có thật trong lịch sử, tuy nhiên mục đích của nó và người thực hiện đều rất cao cả vì dân vì nước chứ không phải biến tướng như hiện nay khi mà nhà nhà người người đều mong chờ cúng sao để tiêu tai giải hạn cầu may cho bản thân mình.

Ai có thể làm dâng sao giải hạn?

Việc dâng sao giải hạn cũng chính là nạn nhân của thời gian và sự tam sao thất bản cùng lòng tham của thế nhân đã biến một học vấn siêu phàm trở nên quá tầm thường và dung tục. Theo chúng tôi thì việc dâng sao giải hạn là có thật nhưng nó không được dùng phổ biến ở nhân gian và hiện nay đang được dùng sai trên quy mô lớn bởi các lý do sau:

Thực chất việc dâng sao giải hạn chép trongTam Quốc Diễn Nghĩa là có thật. Nó chính là một bí thuật của Đạo gia (chứ không phải của Phật gia) và chỉ có thể được thực thi bởi những người tu luyện chân chính trong một số trường hợp đặc định.

Như ví dụ trên thì Gia Cát Lượng mong muốn kéo dài tuổi thọ để tiếp tục phò vua giúp nước và không phải lúc nào cũng thành công vì Thiên ý hầu như không thể thay đổi.

Gia Cát Lượng hay các nhà cầm binh danh tiếng ngày xưa như Tôn Tẫn, Quỷ Cốc Tử, Trần Hưng Đạo đều là người tu Đạo hay ít nhất cũng là đệ tử ngoại môn của Đạo gia chứ không phải là một người thường.

Ngay cả các quan trong Khâm Thiên Giám mà có đề xuất Hoàng đế làm lễ dâng sao thì cũng phải là những người chuyên nghiệp trong nghiên cứu về lý số và thiên văn hàng đầu quốc gia.

Vậy việc hiện nay người dân thường kéo đến đình hay chùa mong muốn dâng sao giải hạn là việc đã sai ngay từ đầu. Chùa đình không thể làm dâng sao giải hạn, họ tổ chức việc đó mục đích chính là kiếm tiền mà thôi.

Dâng sao là gì?

Và dĩ nhiên các đạo sĩ chân chính như Gia Cát Lượng vốn là người tu Đạo sẽ không bao giờ xuất hiện nơi người thường để thu tiền mà làm lễ cho thường dân được.

Nên nếu bạn không tìm được bậc đạo sĩ chính tông thì tốt nhất không nên dâng sao vì nó sẽ không có tác dụng gì hết. Đây chỉ là cơ hội làm giàu cho thầy cúng, người buôn hàng mã và viết sớ mà thôi.

Người xưa thờ Trời nên việc xem thiên văn thiên tượng mà định ra chính sách quốc gia là quan trọng nhất. Ngoài ra còn có thể dùng ứng dụng của thiên văn học vào việc làm lịch, định ra lịch nông nghiệp, tiết khí để người dân theo đó mà cày cấy nuôi trồng.

Giải hạn thực chất là gì?

Triều đình xưa có hẳn cơ quan chuyên trách thiên văn và lịch số (Khâm Thiên Giám) và các chức quan này đều có ảnh hưởng cực kỳ quan trọng đến Hoàng đế trong các quyết sách.

Các vua chúa Trung Hoa và Việt Nam xưa còn dùng bầu trời như là một đài quan sát để kiểm soát, để theo dõi tình hình các miền trong nước và phiên trấn. Vì thế mới phân trời đất thành châu, thành dã.

Mỗi vùng trời lại ứng với vùng đất, rồi nhân các thiên tượng xảy ra ở vùng trời nào thì biết được các biến cố sẽ xảy ra ở vùng đất nào. Dâng sao chính là nghi lễ mà vua chúa dùng khi thấy các thiên tai dị tượng xảy ra nhằm cầu mong cho quốc gia an định và không xảy ra loạn lạc chiến tranh.

Vận hạn chính là tiến trình lên xuống biến đổi của vạn vật và hay được dùng để chỉ trạng thái của một quốc gia hay của một giai đoạn nào đó của đời người. Vận hạn hanh thông là tốt và ai cũng mong cầu, trái lại ai cũng sợ vận hạn xấu sẽ ảnh hưởng đến thân thể sức khỏe, của cải và có khi tiêu tan cả sự nghiệp.

Trung Dung viết: “Quốc gia tương hưng tất hữu trinh tường; quốc gia tương vong tất hữu yêu nghiệt” (Khi nước sắp hưng thịnh sẽ thấy những điềm lành; khi nước sắp nguy vong, sẽ thấy những điềm gở).

Ví dụ như đời Hán: “Những năm Nguyên Quang (134-129) và Nguyên Thú (122-117) đời Hán Vũ Đế sao chổi cờ Si Vưu lại xuất hiện hai lần, dài choán nửa vòm trời. Sau đó quân ở kinh sư xuất chinh 4 lần, giết Hung Nô trong vòng mấy chục năm, chinh phạt rợ Hồ còn khốc liệt hơn nữa”.

Và nước Việt ta cùng với Cao Ly trước khi bị mất nước: “Khi nước Việt mất (111 TCN) sao Huỳnh Hoặc (Hỏa Tinh) đóng ở chòm sao Đẩu (sao Nam Đẩu là phân dã của Ngô-Việt). Khi Cao Ly bị diệt (108 TCN) có sao chổi hiện ra ở vùng Hà Giới (ở vào các chòm sao Nam Hà và Bắc Hà)”.

Nguồn gốc của việc giải hạn khi cúng sao thời cổ thực chất chính là dùng nghi lễ cúng tế kết hợp với việc tu dưỡng thay đổi nội tâm của người cúng (nhà vua) mà cảm động đến lòng Trời để dừng việc trách phạt xuống trần gian.

Vậy ngày nay có cần thiết phải dâng sao giải hạn hàng năm?

Ngoài ra để thực hiện nghi lễ có hiệu quả thì yêu cầu ngày xưa rất nghiêm khắc. Nhà vua chẳng những phải kiền tịnh thân thể trong một thời gian dài thanh tâm quả dục (tĩnh tâm và kiêng không gần gũi nữ sắc) sau đó còn phải thành tâm xuống chiếu tự trách mình, nhận lỗi với thiên hạ và chủ động thay đổi chính sách không phù hợp.

Vì vận hạn xấu tốt là do Trời định căn cứ theo tội nghiệp hay phước đức của nhà vua (và cả quốc gia) mà thi hành, nên chỉ có thể giải hạn khi nhà vua thật tâm thay đổi, dùng lòng thành mà cảm động lòng trời, đạt đến Thiên Nhân giao cảm thì mới có công hiệu.

Tấn thư – Thiên Văn Chí chép:

“Đời Minh Đế, năm Thái Hòa nguyên niên (323), quan thái sử lệnh là Hứa Chí tâu rằng: “Sắp có nhật thực”, xin được cùng với quan thái úy đi làm lễ nhương sao.

Vua phán: “Ta nghe rằng nếu chính trị của loài người mà không hẳn hoi, thời Trời lấy những điềm tai dị mà đe dọa để khuyến cáo. Khuyến cáo cốt để cho họ sửa mình. Cho nên nhật nguyệt che khuất lẫn nhau để tỏ rõ rằng phép cai trị có điều chẳng phải.

Xuân Thu chép:

“Trẫm từ khi tức vị đến nay không làm rạng sáng được thánh đức của các bậc tiên đế, và cách thi nhân giáo hóa có điều không hợp với Hoàng Thần (Hoàng Thiên), vì thế nên Trời cao muốn thức tỉnh để trẫm sửa đổi lại nền hành chánh, tu tỉnh lại hạnh kiểm ngõ hầu báo đáp thần minh.

“Trời đối với người y như cha đối với con. Chưa có cha nào muốn khiển trách con, mà con có thể làm bữa cơm thịnh soạn dâng lên, xin tha lỗi được.

“Nay hình hạc bề ngoài sai quan thượng công và quan thái sử lệnh cùng đi làm lễ nhương sao, thì lẽ ấy chưa từng nghe thấy vậy.

“Quần công, khanh sĩ, đại phu phải cố gắng làm chu toàn phận vụ để bồi bổ những chỗ trẫm còn khuy khuyết. Bèn phong thưởng tất cả”.

“Mỗi khi có nhật thực vua thường ăn bớt bát để tỏ lòng hối hận, lại sai vua chư hầu dâng lễ vật ở đền xã để tỏ lòng tôn kính thần minh. Vua chư hầu đánh trống ở triều đình mình như muốn nhắc dân phải hết lòng phụng sự quốc quân”.

Qua ví dụ trên ta thấy rằng cổ nhân thực ra không cổ hủ và lạc hậu như chúng ta hay cố tình gán ghép. Họ cho rằng việc quan trọng nhất mà một người chân chính cần làm thực ra không phải dâng sao giải hạn mà phải lo hoàn tất những nghĩa vụ và nhiệm vụ của bản thân mình một cách hoàn thiện nhất thì mới không lo trời Phật trách phạt.

Điều ấy hoàn toàn hợp lý, minh bạch và thực tế, trong khi đó chúng ta, những con người của thế kỷ 21 tự hào về khoa học kỹ thuật mà lại mê muội mong rằng những mâm cỗ cúng, những tờ sớ viết vội vã và những tâm mong cầu lại có thể giúp ta tai qua nạn khỏi, vậy ai dám nói mình sáng suốt hơn người xưa?

Họ hoàn toàn không còn quan tâm đến những mong cầu của con người mà chỉ phù hộ cho những ai là người tốt với tâm trong sáng nhất mà họ biết được. Do đó khi chúng ta mang những tâm mong cầu bình an, tài lộc mà dâng cúng sao lên thì khác nào dâng những thứ rác rưởi lên trước mặt Thần linh?

Vậy thì làm thế nào mà lại có thể giải hạn được, tôi nghĩ là không thể được mà còn đem lại tội nghiệp vô tận cho người dâng sao.

Chúng ta đang ở đâu trong vũ trụ, chúng ta có số mệnh hay không, mệnh số của ta do ai quyết định và làm thế nào để nghênh lành tránh dữ?

Để trả lời cho những vấn đề trên, cổ nhân Đông phương đã có tri thức đáng kinh ngạc về vạn vật, về vũ trụ lưu truyền cho đến ngày hôm nay. Trong đó kho tri thức vĩ đại nhất chính là thiên văn học, mà di sản xuất sắc nhất của nó còn đến hôm nay chính là thiên văn học cổ Trung Hoa, cùng thiên văn học cổ Ấn Độ vốn phổ biến trên khắp châu Đông Á, Bắc Á và Đông Nam Á.

Đây cũng là nguồn gốc chân thực của dâng sao giải hạn, một trong những ứng dụng của thiên văn học cổ đại Trung Hoa. Nó giúp người xưa củng cố thêm niềm tin và tôn kính với Thần linh (người đã truyền lại nền văn minh cho họ) cố gắng trau dồi đạo đức và sống thuận theo ý trời để đạt được sự an bình trường tồn cho quốc gia và dân tộc.

Trước thế kỷ 16, phương Đông (Trung Hoa, Ấn Độ, Việt Nam, Nhật Hàn) quả thật đã đi trước phần còn lại của thế giới, họ đã có những nghiên cứu rất sâu sắc về bầu trời, các vì sao và ứng dụng của chúng đến với vận mệnh con người và quốc gia, quân sự, phong thủy, v.v.

Nhưng thế sự biến đổi vô thường đã làm mất đi hầu hết những tinh hoa quan trọng nhất, làm biến dị những gì còn sót lại. Điều đó khiến cho hậu nhân ngày nay nhắm mắt mà cười chê ông cha là lạc hậu, trong khi hàng năm vẫn vô tư bái lạy một cách hàm hồ để cầu mong tiêu tai giải nạn, thăng quan phát tài.

Mong rằng bài viết này sẽ giúp mọi người chúng ta có cái nhìn đúng đắn hơn để đem lại hạnh phúc cho bản thân bằng cách sống cuộc sống đúng đắn và đạo đức, đừng tiêu tốn thời gian và tiền bạc một cách vô bổ nữa. Chúc mọi người một năm mới không cần cúng sao cũng an lành và hạnh phúc!

【#5】17 Bài Văn Tế Thập Loại Cô Hồn Dành Cho Chẩn Tế

Đầy đủ 17 bài văn tế thập loại Cô Hồn dành cho chẩn tế âm linh cô hồn, chiến sĩ trận vong, đồng bảo tử nạn, chiêu hồn, giải oan bạt độ, cúng tế thí thực.

KỆ CÚNG THÍ CÔ HỒN

(Thí thực cô hồn I)

Trước cửa Phật lập đàn phổ thí,

Cho trọn đều quân lợi âm dương,

Quang minh tỏ khắp mười phương,

Kính dâng một nén tâm hương ngạt ngào.

Cơn mưa tuệ dồi dào tưới khắp,

Bóng mây từ che rợp mọi nơi,

Lọt đâu dưới đất trên trời,

Từ bi tế độ muôn đời viên thông.

Trên đức Phật rất công rất chính,

Dạy cho đời luyện tính tu tâm,

Thương người đọa kiếp tối tăm,

Giáo Hội chỉ dẫn khỏi lầm khỏi mê.

Lòng từ mẫn mọi bề thương hết,

Nay gặp ngày Đản tiết nên quy,

Trước Đàn tề chỉnh oai nghi,

Tuyên dương để chứng quy y thực hành.

Hạnh giải thoát chúng sinh khổ não,

Cõi Ta bà sáu đạo loanh quanh,

Âm ty địa ngục đã đành,

Dương gian địa ngục nỗi tình thêm thương.

Nói không xiết trăm đường đày đọa,

Rồi mang tai trát họa vào thân,

Không sao khỏi nghiệp tham sân,

Ăn quanh, ăn quẩn muôn phần thiết tha.

Nào những hạnh ranh ma quỉ quái,

Dối lừa nhau chẳng nghĩ nên chăng?

Bo bo giữ thói ở xằng,

Cái dây oan nghiệt chằng chằng ngày đêm.

Nào những hạng lòng chim dạ thú,

Ghét ghen nhau làm đủ tội tình,

Khư khư quen thói chẳng lành,

Cái vòng cương tỏa loanh quanh buộc vào.

Nào những kẻ yếu đau què quặt,

Phận hẩm hiu trời bắt chịu đày,

Thật là khổ ách không may,

Nào ai có muốn thân này thế đâu!

Nào những kẻ âu sầu lòa lẫm,

Số cưu mang câm điếc phải đành,

Thực là khốn khổ thương tình,

Ý ai chẳng muốn thân mình phong quang?

Vì túc trái ngỡ ngàng sao đó,

Hoặc tiền nhân nghiệp thọ thế nào,

Thực lòng luống những lao đao,

Cửa từ bi nỡ để ngơ sao đành.

Thầy nay dạy thực hành chánh đạo.

Dòng Thiền học Phật giáo chủ trương,

Quang minh quảng đại vô lường,

Ba thừa giáo hóa mọi phương thi hành.

Giữ một mực chí thành tinh tiến,

Dập các duyên hư huyễn hão huyền,

Những môn tà đạo lưu truyền,

Nay quy Phật đạo cấp liền bỏ đi.

Trước Đàn ngoại lễ nghi các thưùc,

Trên đài sen tỏ đức huyên minh,

Thầy đây lập nguyện chí thành,

Tuyên dương diệu pháp chúng sinh thỏa nguyền.

Hiện nay có chư Thiên hậu thổ,

Cửa từ bi tế độ không cùng,

Đạo tràng Thiền học lưu thông,

Tu hành chân thật thủy chung một lòng.

Đàn phổ thí phẩm vật nghi tiết,

Thầy dạy thêm cho biết công duyên,

Những người quỳ trước Phật tiền,

Đem câu nhân quả phổ truyền rộng ra.

Dặn hết thảy gần xa thiện tín,

Nên thành tâm phát nguyện quy y,

Nương nhờ Tam bảo hộ trì,

Ăn chay niệm Phật mà quy cho tròn.

Xem nhân thế càn khôn che chở,

Nhứt hoàn hương duyên nợ phong trần,

Hỡi ai kết quả tạo nhân,

Xem cơ mầu nhiệm muôn phần không xa.

Muốn xét lại cho hay nghiệp trước,

Hiện thọ đây thấy được tỏ tường,

Muốn mong kiếp nữa vẻ vang,

Sự hành trì phải sửa sang tự giờ.

Nhân mấy quả trong cơ chuyển hóa,

Nhân có đầy thì quả mới nên,

Thầy nay chỉ dẫn căn nguyên,

Cõi dương gian đó hiển nhiên rõ ràng.

Ơn đức Phật lời vàng khuyên nhủ,

Dạy chúng sinh tín thụ cho hay,

Phúc thời vui vẻ như đây,

Họa thời khổ não đọa đầy như trên.

Nam Mô Sinh Tịnh Độ Bồ-tát Ma ha tát.

-Trích Kinh Nhật Tụng, chùa Hoằng Pháp xb, Sàigòn, 1971

Ngạ quỷ đói

SÁM TRIỆU CÔ HỒN

(Thí thực cô hồn 2)

Hỡi linh hồn trước sau tề tựu,

Nghe lời khuyên để rũ tội mình,

Quan Âm Địa Tạng oai linh,

Thích Ca Phật Tổ câu kinh giải nàn.

Hỡi uổng tử hồn oan phưởng phất!

Noi tâm lành của Phật làm gương,

Diêm La cực khổ trăm đường,

Mau tu thì đặng Tây phương thâu về.

Hỡi linh hồn chết chìm đáy biển,

Và bao người độc dược bỏ thân!

Tiếng chuông tỉnh thức dần dần,

Đừng ham cõi tục trầm luân luân hồi.

Hỡi các hồn chết thiêu chết chém,

Hổ giảo thân bị yểm bị trù!

Kíp tìm kinh kệ sớm tu,

Khỏi vòng xích sắt tội tù nghiệp oan.

Hỡi hồn thác trong cơn binh lửa,

Chết phong ba chết giữa núi non!

Nếu nghe chuông dục bon bon,

Mùi hương tỏa khắp hồn còn nghe kinh.

Hỡi hồn ơi! Vì tình chư Phật,

Ta khuyên hồn đất Phật là nơi,

Các hồn sẽ đặng thảnh thơi,

Hưởng mùi hương Phật suốt đời đặng an.

Hỡi hồn đã lỡ làng trót dại,

Theo đàng taø quỉ quái yêu tinh,

Nay đây khẩn nguyện chân kinh,

Khuyên hồn phải rán sửa mình cho tinh.

Hỡi hồn ở đầu ghềnh cuối bãi,

Nương gió mây thừa thải từ xưa!

Hồn ơi! Hồn hỡi! Tránh chừa,

Những người gian ác dối lừa Phật tiên.

Hỡi hồn tỉnh trông đèn Phật Tổ,

Ngài ra ơn gột khổ sanh linh.

Hỡi hồn bị bịnh bỏ mình,

Và hồn dậy phá chân kinh loạn trần.

Nghe ta kinh kệ giải phân,

Cầu cho hồn đặng muôn phần yên vui.

Hỡi hồn ơi! Muốn vui muốn sướng,

Ta khuyên hồn đừng tưởng tà tâm,

Mùi hương lư ngọc bổng trầm

Khéo tu hồn sẽ an tâm giữa trời.

Các hồn bị cá xơi, rắn cắn,

Cùng những hồn số vắn vô danh,

Hãy nghe kinh kệ ăn năn,

Rồi đây hồn sẽ vô ngần thảnh thơi.

Hỡi những hồn vì lời gièm xiểm,

Nên hủy mình chết lụn căm gan,

Sớm nghe kinh, chiều sẽ an nhàn,

Phật kia dẫn lối chỉ đàng hồn tu.

Nam mô độ hộ muôn hồn,

Vì hồn trót dại quáng mù từ xưa.

Kinh là phước, cầu đưa tội lỗi,

Tu là lành, sám hối ngàn năm.

Lạy cầu chư Phật từ tâm,

Khẩn van Bồ-tát giáng lâm cứu hồn.

Tiếng chuông ngân hương thơm giải thoát.

Nước nhành dương rảy mát xác phàm,

Hỡi hồn cư ngụ muôn am!

Về đây hưởng thực cầu van sửa mình.

Nam Mô Bộ Độ Đế Rị Già Rị Đa Rị Đát Đa Nga Đa Gia (3 lần)

-Trích Tam Bảo Tôn Kinh, Thích Ca Tự xb, Sàigòn, 1974

-Bài dùng để cúng thí thực cô hồn trong các buổi lễ.

SÁM VĂN CHIÊU HỒN CA

(Thí thực cô hồn 3)

NGUYỄN DU

Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt,

Toát hơi may lạnh ngắt xương khô;

Não người thay buổi chiều thu!

Ngàn lau khóm bạc, lá ngô dòng vàng,

Đường bạch dương bóng chiều man mát,

Ngọn đường lê lác đác mưa sa,

Lòng nào lòng chẳng thiết tha?

Cõi dương còn thế huống là cõi âm.

Trong trường dạ tối tăm trời đất,

Xót khôn thiêng phảng phất u minh!

Thương thay thập loại chúng sinh,

Phách đơn, hồn chiếc, lênh đênh quê người.

Hương khói đã không nơi nương tựa,

Phận mồ côi lần lữa đêm đêm;

Còn chi ai khá ai hèn,

Còn chi mà nói kẻ hiền người ngu!

Tiết đầu thu dựng Đàn giải thoát,

Nước tịnh bình rưới hạt dương chi.

Muôn nhờ Phật lực từ bi,

Giải oan cứu khổ hồn về Tây phương.

Nào những kẻ tính đường kiêu hãnh,

Chí những lăm cướp gánh non sông;

Nói chi đương thuở thị hùng,

Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau!

Bỗng phút đâu mưa bay, ngói lở,

Khôn đem mình làm đứa sất phu;

Giàu sang càng nặng oán thù,

Máu tươi lai láng, xương khô rã rời.

Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc,

Quỷ không đầu van khóc đêm mưa;

Đã hay thành bại là cơ,

Mà u hồn biết bao giờ cho tan!

Nào những kẻ màn loan, trướng huệ,

Nhưõng cậy mình cung quế Hằng nga;

Một phen thay đổi sơn hà

Mảnh thân chiếc lá biết là làm sao?

Trên lầu cao dưới dòng nước chảy,

Phận đã đành trâm gãy bình rơi;

Khi sao đông đúc vui cười,

Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương!

Thảm thiết nhẽ không hương, không khói,

Hồn ngẩn ngơ dòng suối, ngàn sim;

Thương thay chân yếu tay mềm,

Càng năm càng héo, càng đêm càng rầu.

Nào những kẻ mũ cao áo rộng,

Ngòi bút son thác sống ở đây;

Kinh luân chất một túi đầy,

Đã đêm Quản, Cát, lại ngày Y, Chu.

Thịnh mãn lắm oán thù càng lắm,

Trăm loài ma mồ nấm chung quanh;

Nghìn vàng không đổi được mình,

Lầu ca, viện xướng, tan tành còn đâu?

Kẻ thân thích vắng sau vắng trước,

Biết lấy ai bát nước nén nhang?

Cô hồn thất thểu dọc ngang,

Mạng oan khôn nhẽ tìm đường hóa sinh.

Nào những kẻ bày binh bố trận,

Đem mình vào cướp ấn Nguyên nhung.

Gió mưa sấm sét đùng đùng,

Rải thây trăm họ, làm công một người.

Khi thất thế cung rơi, tên lạc,

Bãi sa trường, thịt nát máu rơi;

Bơ vơ góc biển chân trời,

Nắm xương vô chủ biết vùi nơi nao?

Trời thăm thẳm mưa gào gió thét,

Khí âm huyền mờ mịt trước sau;

Ngàn cây nội cỏ rầu rầu,

Naøo đâu điếu tế nào đâu chưng thường?

Cũng có kẻ tính đường trí phú,

Làm tội mình nhịn ngủ bớt ăn;

Ruột rà không kẻ chí thân,

Dẫu làm nên nữa dành phần cho ai?

Khi nằm xuống không người nhắn nhủ,

Của phù vân dù có như không;

Sống thời tiền chảy bạc ròng,

Thác không đem được một đồng nào đi.

Khóc ma mướn thương gì hàng xóm,

Hòm gỗ đa, bó đóm đưa đêm;

Ngẩn ngơ nội lộc đồng chiêm,

Tàn hương, giọt nước, biết tìm vào đâu?

Cũng có kẻ rắp càu chữ quí,

Dấn mình vào thành thị lân la;

Mấy thu lìa cửa, lìa nhà,

Văn chương đã chắc đâu mà chí thân?

Dọc hàng quán phải tuần mưa nắng,

Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng?

Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng,

Anh em thieân hạ láng giềng người dưng.

Bóng phần tử xa chừng hương khúc,

Bãi tha ma kẻ dọc người ngang;

Cô hồn nhờ gởi tha hương,

Gió trăng hiu hắt, lửa hương lạnh lùng.

Cũng có kẻ vào sông ra bể,

Cánh buồm mây chạy xế gió đông;

Gặp cơn giông tố giữa dòng,

Đem thân chôn giấp vào lòng kình nghê.

Cũng có kẻ đi về buôn bán,

Đòn gánh tra chín dạn hai vai;

Gặp cơn mưa nắng giữa trời,

Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?

Cũng có kẻ mắc vào khóa lính,

Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan;

Nước khe cơm vắt gian nan,

Dãi dầu nghìn dặm, lầm than một đời.

Buổi chiến trận mạng người như rác,

Phận đã đành đạn lạc tên rơi;

Lập lòe ngọn lửa ma chơi,

Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương.

Cũng có kẻ nhỡ nhàng một kiếp,

Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa;

Ngẩn ngơ khi trở về già,

Ai chồng con tá biết mà cậy ai?

Sống đã chịu một đời phiền não,

Thác lại nhờ hớp cháo lá đa;

Đau đớn thay phận đàn bà,

Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

Cũng có kẻ nằm cầu gối đất,

Rồi tháng ngày hành khất ngược xuôi;

Thương thay cũng một kiếp người,

Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan.

Cũng có kẻ mắc đoàn tù rạc,

Gởi mình vào chiếu rách một manh;

Nấm xương chôn rấp góc thành,

Kiếp nào cởi được oan tình ấy đi.

Kìa những đứa tiểu nhi tấm bé,

Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha;

Lấy ai bồng bế xót xa.

U ơ tiếng khóc, thiết tha nỗi lòng.

Kìa những kẻ chìm sông lạc suối,

Cũng có người sẩy cỗi sa cây;

Có người gieo giếng thắt dây,

Ngược trôi nước lũ, kẻ lây lửa thành,

Người thì mắc sơn tinh thủy quái,

Người thì sa nanh sói ngà voi;

Có người hay đẻ không nuôi,

Có người sa sẩy, có người khốn thương.

Gặp phải lúc đi đường nhỡ bước,

Cầu Nại hà kẻ trước người sau;

Mỗi người một kiếp khác nhau,

Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ?

Hoặc là ẩn ngang bờ, dọc bụi,

Hoặc là nương ngọn suối chân mây;

Hoặc là điếm cỏ bóng cây,

Hoặc là quán nọ, cầu này bơ vơ.

Hoặc là nương thần từ Phật tự,

Hoặc là nhờ đầu chợ, cuối sông;

Hoặc là trong quảng đồng không,

Hoặc nơi gò đống, hoặc vùng lau tre.

Sống đã chịu mọi bề thảm thiết,

Ruột héo khô, dạ rét căm căm;

Dãi dầu trong mấy mươi năm,

Thở than dưới đất, ăn nằm trên sương;

Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn,

Lặn mặt trời lẩn thẩn tìm ra;

Lôi thôi bồng trẻ dắt già,

Có khôn thiêng nhẽ! Lại mà nghe kinh.

Nhờ pháp Phật siêu sinh Tịnh độ,

Bóng hào quang cứu khổ độ ưu;

Rắp hòa tứ hải quần chu,

Não phiền trút sạch, oán thù rửa không.

Nhờ đức Phật thần thông quảng đại,

Chuyển pháp luân tam giới thập phương,

Nhởn nhơ Tiêu Diện đại vương,

Linh kỳ một lá dẫn đường độ sinh.

Nhờ Phật lực uy linh dũng mãnh,

Trong giấc mê khuya tỉnh chiêm bao;

Mười loài là những loài nào,

Gái trai, già trẻ đều vào nghe kinh.

Kiếp phù sinh như bào như ảnh,

Có chữ rằng: vạn cảnh giai không;

Ai ơi lấy Phật làm lòng,

Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.

Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo,

Của có chi bát nước nén nhang;

Gọi là manh áo thoi vàng,

Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.

Ai đến đấy dưới trên ngồi lại,

Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu:

Phép thiêng biến ít thành nhiều,

Trên nhờ Tôn giả chia đều chúng sinh.

Phật hữu tình từ bi phổ độ,

Chớ ngại rằng có có không không;

Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng,

Nam mô nhất thiết siêu thăng thượng đài.

-Trích Tập san Hoằng Pháp số 2, Tổng Vụ Hoằng Pháp xb. Sàigòn, 1973

VĂN TẾ CÔ HỒN

(Thí thực cô hồn 4)

TRÀ AM VIÊN THÀNH

Tượng nghe đại địa sơn hà,

Luống trong sinh tử cửa nhà vốn không.

Cô hồn hoạnh tử yểu vong,

Nương thuyền Bát nhã thoát vòng mê luân.

Trên thì tướng tướng, vương công,

Dưới thì công, cổ, sĩ, nông chư vì.

Gái trai những kẻ tôn ti,

Hoặc là tử trận, có khi oan tình.

Hoặc là vương pháp gia hình,

Uống trúng độc dược hại mình tự nhiên.

Sa cơ sống gió chìm thuyền,

Lỡ làng lời hẹn, cưu phiền mang chung.

Xà thương hổ đả hải hùng,

Huyết hồ sản nạn(1) phút trông sẩy rồi!

Hoặc là mắc phải thiên lôi,

Vong thân chú trớ bồi hồi mạng chung.

Hoặc là đường sá lỡ làng,

Mắc phải dịch lệ ôn hoàng chẳng dung.

Hà sa phẩm loại khôn cùng,

Lòng thành tín chủ mời chung các loài.

Từ rằng theo bóng Như lai,

Đã không cứu vớt lấy ai nương nhờ.

Từ đường đâu có phụng thờ,

Cô đơn độc lập, bơ phờ cỏ cây.

Thảm thương mặt nước cung mây,

Rả rời xương thịt, hồn bay lạc loài.

Chẳng hay thử vãng hàn lai,

Bốn mùa cốt nhục không ai kiếm tìm.

Thân bằng ít kẻ tri âm,

Lấy ai cứu vớt mà hòng thoát ly!

Thảm thương về chốn thổ ty,

Luôn trong diểu diểu lấy gì mà ra!

Nương nhờ tín chủ toàn gia,

Thọ tài hưởng thực mà qua Liên trì.

Từ rằng vâng phép từ bi,

Siêu phàm nhập thánh liễu kỳ oan thân.

Sớm khuya cửa Phật ân cần.

Phù trì gia chủ thừa ân những ngày.

Đừng còn theo thói mê say,

Tham lam quyết đoạn, từ rày lánh xa.

Nam mô đức Phật Di Đà,

Phóng quang tiếp dẫn hà sa cô hồn.

Trước triệu thỉnh lủy triều đế chủ,

Trên ngai vàng trải nối hầu vương.

Chín tầng điện các đài gương,

Nước non muôn dặm, mười phương cầm quyền.

Nghìn năm vương khí danh truyền.

Xe loan để tiếng oán phiền chưa thôi!

Tiếng quyên kêu nguyệt bồi hồi,

Gành đầu huyết nhiễm, hận thôi chín trường.

Tiền vương hậu bá khôn lường,

Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

Lại thỉnh kẻ Ngũ lăng tài tuấn,

Đấng hiền lương trí dũng khôn ngoan.

Giá trong tieát trắng làm quan,

Một lòng báo quốc nên trang đan thành.

Nam châu bắc huyện thơm danh,

Theo nơi tang thác bỏ đành quê hương.

Thiên nhai hải giác khôn lường,

Sa cơ tạo hóa theo đường Bồng lai.

Than ôi! Những đấng anh tài,

Theo dòng thệ thủy cách đài dương quan.

Lại thỉnh kẻ đăng đàn bái tướng,

Chức phong hầu đứng trước muôn dân.

Sức dời bảo đỉnh nghìn cân,

Trường thành muôn dặm vinh thân tháng ngày.

Trước hùm sương nhiễm, ghê thay!

Sa cơ một phút đổi thay công hầu.

Thương ôi người ngựa ở đâu,

Xui nên họa cả thảm sầu khôn dung.

Xiết bao tướng súy anh hùng,

Lánh nơi vinh hiển theo cùng âm ty.

Những người sa trụy bất kỳ,

Nghe lời triệu thỉnh đồng thì đến đây.

Lại thỉnh kẻ văn nhân tài tử,

Chốn thư phòng cửa Khổng vào ra,

Bút nghiên kinh sử ngâm nga,

Văn chương tu luyện đợi khoa nương mình.

Mơ màng lấp lóa đèn huỳnh,

Công phu khổ dụng đăng trình gặp khi.

Mười năm tân khổ mong thi,

Naøo hay một phút xa kỳ công danh!

Hồng lô tính tự rành rành,

Đất vàng một nấm lấp thành văn chương.

Văn nhân tài tử không lường,

Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

Lại thỉnh kẻ xuất trần thượng sĩ,

Nương rừng Thiền lánh chỗ phàm phu.

Cao Tăng quyết chí tinh tu,

Trăm năm giới luật công phu dùi mài.

Giữ gìn phạm hạnh hôm mai,

Tỳ-kheo Ni chúng khác người thế gian.

Hoàng hoa, thủy trúc luận bàn,

Không đàm bí mật nên mang thế tình.

Bóng đèn lấp lóa hư minh,

Than ôi! Một phút dứt tình Thiền lâm.

Nghe lời Bát nhã, Phạm âm,

Truy y Thích tử lại lâm đáo đàn.

Lại thỉnh kẻ hoàng quan dã cảnh,

Chốn Bồng lai sớm luyện đan tiên.

Nương theo thạch động đào nguyên,

Tu tâm luyện tính chu truyền thảnh thơi.

Danh thơm chưa nức trong đời.

Vô thường khi đã đổi dời công phu.

Thương ôi! Sương tuyết dãi dầu,

Tiêu điều gió thảm hoa sầu hơi sương.

Huyền môn đạo sĩ khôn lường,

Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

Lại thỉnh kẻ nhung y chiến sĩ,

Với những kẻ lâm trận kiện nhi.

Cầm bạch tiết, vác hồng kỳ,

Tức gan quyết chí trận kỳ hơn thua.

Trung thành hết sức phò vua,

Nào hay một phút xa đưa dặm trường.

Thương ôi! Huyết lụy sa trường,

Thà ôm xương trắng để đường cho ai!

Trận vong binh sĩ an tài,

Nghe lời triệu thỉnh đáo đài lai lâm.

Lại thỉnh kẻ cung phi mỹ nữ,

Chốn lâu đài khuê các vào ra.

Ướp xông hương xạ diềm dà,

Phấn thoa sáp đánh màu da khác người.

Mặt hoa mày liễu tốt tươi,

Hình dung yểu điệu, miệng cười như hoa,

Hồn tiên kim ốc vào ra,

Hoa tàn nguyệt khuyết phút đà thấy đâu!

Thương ôi! Ngọn gió thổi sầu,

Đống xương khô héo dãi dầu cỏ sương.

Quần thoa phụ nữ khôn lường,

Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

Lại thỉnh kẻ giang hồ kỵ lữ,

Trải tháng ngày mua bán tranh đua.

Đổi dời lừa tráo hơn thua,

Đào công nối nghiệp bán mua so lường.

Chẳng ngờ nổi trận phong sương,

Mình vào ngư phúc dương trường, khốn thay!

Hồn dời bể bắc dặm dài,

Phách về đông hải ngàn ngày thảnh thơi.

Tha hương lữ khách lỡ thời,

Nghe lời triệu thỉnh lại nơi Pháp đàn.

Lại thỉnh kẻ hoài thai thập nguyệt,

Chịu đắng cay tọa thảo tam triêu;

Bằng khi loan phụng hòa yêu,

Hùng bi hiệp mộng xiết bao tháng ngày.

Gái trai còn hãy chưa hay,

Đêm trường mẫu tử, phút này giai quy.

Thương ôi! Hoa nở chính kỳ,

Nào hay một phút gặp khi mưa dầm.

Huyết hồ sản nạn lỗi lầm,

Nghe lời triệu thỉnh lai lâm pháp đàn.

Lại thỉnh kẻ nhung di man địch,

Tiếng chẳng thuần ngọng lịu như câm.

Lại còn trong dạ hiểm thâm,

Cưu điều hung dữ lưu tâm hại người.

Khinh khi Tam bảo chê cười,

Tội khiên chất để bằng mười hà sa.

Ngổ ngang mắng mẹ khinh cha,

Ác cao như núi chết mà không tha.

Chẳng may hồn phách la đà,

Mịt mờ vũ trụ bao là đớn đau!

Thương ôi! Ẩn ẩn phương nào,

Ngày xuân chẳng thấy ra vào u quan!

Hỡi người bội nghịch si ngoan,

Nghe lời triệu thỉnh lai quang pháp đàn.

Lại thỉnh kẻ cơ hàn cái giả,

Bị lao tù mắc phải gia hình.

Gặp cơn thủy hỏa bất bình,

Một đời bỗng chốc vô tình mệnh vong.

Nghìn năm oan khí chưa xong,

Linh hồn nhất điểm nhạn mong mơ màng.

Trời xanh tiếng hạc rộn ràng,

Gió lay hoa rụng lỡ làng, thương thay!

Mấy người hoạnh tử xưa nay,

Nghe lời triệu thỉnh đến ngay pháp đàn.

-Trích Tra Am và Sư Viên Thành, Nguyễn Văn Thoa, Tra Am ấn hành. Nha Trang, 1972

1 Câu này thỉnh kẻ cô hồn hoạnh tử khi lâm sản hoạc bị sẩy thai, sút thai.

SÁM VĂN THÍ THỰC HỒI HƯỚNG

(Thí thực cô hồn số 5)

Sắm sanh ẩm thực đủ đầy

Gọi hồn về hưởng an bày đủ đông

Tiệc chay cúng thí vừa xong

Canh gà văng vẳng giọt rồng thậm thâm

Trước đàn ngưỡng vọng thiền âm

Bình hoa lợt bóng, đỉnh trầm phai hương

Cam lồ rưới khắp mười phương

Ao sen nay đã tỏ tường sang chơi

Cô hồn ơi ! Chiến sĩ ơi !

Mau mau nhẹ bước tách dời Tây thiên

Từ rày bá tánh bình yên

Phước lành để lại trong miền nhân gian

Tuổi đời lộc nước chứa chan

Gót lân nổi dấu, cầm loan in dần

Nghinh ngang cõi thọ đài xuân

Dấu ma lẳng bặt châu trần tiêu diêu

Vinh hoa phú quí đủ điều

Tu hành đạo đức thương yêu giống nòi

Ngày ngày niệm Phật hẳn hòi

Đèn từ đuốc huệ sáng soi cõi lòng

Đến khi trăm tuổi mạng chung

Được về cõi Phật thoát vòng tử sanh

A Di Đà Phật phóng quang

Nguy nguy kim tướng muôn ngàn ảnh trung

Khổ đau biển cả chập chùng

Hãy mau niệm Phật mà cùng bước lên

Đài sen hoa nở vãng sanh

Bạn cùng Bồ Tát chung quanh vui đùa

Từ đây bỏ việc hơn thua

Nương nhờ tự lực cửa chùa quy y.

Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

– Trích soạn lại theo “Pháp Thí Thực Khoa Nghi” – chùa Niệm Phật Bình Dương ấn hành 1974.

VĂN TẾ CÔ HỒN

(Thí thực cô hồn số 6)

Hỡi ôi !

Miền U cảnh lạnh lùng tăm tối,

Chốn Huỳnh tuyền nhiều lối nhọc nhằn.

Ẩn dạ đài đợi dứt kiếp căn,

Cõi Tịnh độ siêu thăng chưa được.

Ấy bởi tội lỗi gây kiếp trước,

Nhiều nghiệt oan, ít phước đức công.

Nên phải mang phiền não dập dồn,

Chịu thống khổ, phách hồn xiêu lạc.

Cầu chư Phật oai thần tế bạt,

Lên Thiên đàng, siêu thoát trần ai.

Nay trai diên đạm bạc kỉnh bày,

Xin chư vị tề lai thọ hưởng.

Giúp lê thứ quốc gia thạnh vọng,

Hộ đạo tràng tăng trưởng cơ duyên,

Độ mười phương sanh chúng bình yên,

Cùng thí chủ diên niên hạnh phúc.

Lụy trào đế hầu vương đáng kính,

Vận nước vong khó tính mưu thành.

Xưa cửu trùng điện các liệt oanh,

Rủi một phút tan tành cơ nghiệp.

Chư tướng soái binh cơ quyền nhiếp,

Chốn chiến trường nhiều dịp tận trung.

Vì sa cơ hồn xuống Diêm cung,

Nơi dương thế âm dung đà khuất.

Tài bút nghiên văn thần báo quốc,

Tấm lòng son công chất nhà vàng.

Nào hay đâu dị lộ tìm đàng,

Rồi một thuở danh vang tể tướng.

Nhà cơ cẩn thấy trời bốn hướng,

Lo bút nghiên vụ tưởng công danh.

Mười năm ngồi cửa sổ lạnh tanh,

Ba thước đất vùi danh tài tử.

Nhàm cuộc thế lánh thân am tự,

Nương Phật đường gắng giữ kệ kinh.

Đèn tắt khuya Thiền thất hư minh,

Hồn theo gió đăng trình âm cảnh.

Thảm cho đấng tu chơn dưỡng tánh,

Chốn lâm tòng đói lạnh không màng.

Lòng dốc trông nhập đặng Tiên bang,

Chí chưa toại tầm đàng Địa phủ.

Những sĩ tốt tùng chinh đội ngũ,

Tại trận tiền củ củ oai hùng.

Chịu tuyết sương mưa nắng lạnh lùng,

Lằn tên đạn không dung tánh mạng.

Lo đồ lợi thương hồ buôn bán,

Nương thủy triều ngày tháng kinh thương.

Sóng ba đào phong võ khó lường,

Thân trôi nổi gởi xương bụng cá.

Mười tháng chẵn mang con trong dạ,

Lúc lầm bồn mạng đã tìm Tiên.

Thị huyết hồ nạn sản chi khiên,

Hoa mới nở vội liền mưa gió.

Tánh ngỗ nghịch hiếu trung chẳng có,

Công sanh thành chưa rõ cao dày.

Hoặc huyền lương độc dược ra tay,

Bị lôi chấn đọa đày ngục thất.

Người bóng quáng thêm mang bịnh tật,

Thác giữa đàng không đất gởi thây.

Hồn dật dờ theo gió theo mây,

Thành Uổng tử đêm ngày đói lạnh.

Người nghèo khó đốn cây non lãnh,

Chịu nhọc nhằn khổ hạnh cơ hàn.

Bị độc trùng ác thú hổ lang,

Hoặc hỏa thán tầm phong dị lộ.

Người lương thiện tao phùng tật đố,

Bị ngọt ngon dụ dỗ hại thầm.

Oan hồn tìm đến chốn u thâm,

Còn mắc phải gian cầm gìn giữ.

Gái khuê các giai nhơn mỹ nữ,

Chẳng trọn tình cư xử nợ khiên.

Xưa hương xông phấn ướp phấn duyên,

Nay đến chốn Huỳnh tuyền sở ỷ.

Kẻ tù tội mắc vòng lao lý,

Chúng tôi đoài nô tỷ khổ thân.

Thêm phạt hành độc thủ bất nhân,

Hồn lìa cách dương trần rất thảm.

Bị hỏa hoạn tâm hồn mê ám,

Lúc kinh hoàng khổ thảm biết bao !

Tìm đường ra khỏi ngọn lửa cao,

Rủi một phút thân thiêu tro bụi.

Cơn thủy nạn hoảng kinh bối rối,

Họa lụt tràn trôi nổi cửa nhà.

Mạng số suy, thần tử chẳng tha,

Theo dòng nước hồn ma vĩnh biệt.

Khi bão tố đá cây ngã liệt,

Sập cửa nhà đè chết nào hay.

Hồn dật dờ theo cảnh gió mây,

Chịu đau đớn đọa đày nẻo tối.

Cuộc tang thương tuần hoàn thay đổi,

Chấn động miền non núi đất liền.

Bị lấp chôn hồn phách đảo điên,

Chịu muôn nỗi não phiền đau đớn.

Bị xe cán nát thây rùng rợn,

Vận kiếp xui họa lớn nào hay.

Bà con trông than khóc thảm thay,

Cơn hoảng hốt hồn lai uổng tử.

Vì ái dục si tình tự tử,

Cơn đắm mê nào sợ tội mang.

Gieo mình nơi biển nghiệp sông oan,

Hồn phách chịu muôn vàn lạnh lẽo.

Ít phước đức họa tai lôi kéo,

Đời lao công nhiều nẻo hiểm nguy,

Trên giàn cao ngã té bất kỳ,

Thân tan nát hồn phi phách tán.

Nơi chiến địa lâm cơn tạc đạn,

Thi hài tiêu tứ tán khó nhìn.

Thảm thương cho hồn phách linh đinh,

Miền âm cảnh muôn nghìn khổ não.

Người lương thiện chết oan điên đảo,

Vì đạn tên lạc náo xóm làng.

Oan hồn cam vào chốn nguy nan,

Chịu u ám, xa đàng giải thoát.

Bị khổ bức vì tình đen bạc,

Tự hủy mình cam chác nghiệp sâu.

Mũi đạn xuyên, muôn kiếp khổ sầu,

Hồn phưởng phất biết đâu nương dựa !

Bị cướp giặc lòng tham hung dữ,

Đoạt của rồi giết chủ thác oan.

Hồn dật dờ thảm khổ muôn đàng,

Kết thù oán khôn toan siêu độ.

Đời mạc kiếp loạn ly tội lỗi,

Bị hiếp dâm đến nỗi bỏ mình.

Phách hồn oan lạc lối u minh.

Lòng khổ bức muôn nghìn oán hận.

Đời giặc giã nghịch thù vô tận,

Chôn sống người giữa đám đồng hoang.

Tiếng khóc la oán khí đầy tràn,

Trong giây phút dương gian cách biệt.

Giặc bất lương giết người chẳng tiếc,

Trói lương dân thù ghét quăng sông.

Lặn hụp nơi nước cuốn giữa dòng,

Thân trôi nổi, oan hồn thơ thẩn.

Bị oán chạ chém đâm tàn nhẫn,

Hoặc thù hiềm giết lẫn mạng vong.

Hồn phất phơ nơi chốn long đong,

Biết bao thuở thoát vòng khổ não.

Xe lật đổ, đụng nhau táo bạo,

Chết giữa đàng khôn bảo toàn thi.

Thây nằm phơi, hồn đã biệt ly,

Bà con thấy, ai bi thống thiết !

Người tắm biển tắm sông biệt tích,

Kẻ lội chìm, tê liệt tay chân.

Cơn rủi ro dòng nước gởi thây,

Hồn lạnh lẽo tháng ngày thảm khổ.

Trong cơ xưởng nhơn công phục vụ,

Bị máy lôi vào chỗ hiểm nguy.

Hoặc điện hơi giựt ngã cấp kỳ,

Rủi một phút hồn phi phách tán.

Còn nhiều loại hồn oan ta thán,

Nơi suối vàng thê thảm ngậm ngùi,

Các hồn chưa mãn kiếp Phong đô,

Đương xiêu lạc khắp nơi khổ não.

Lời thiển bạc nay đà trần tố,

Thương xót thay nỗi khổ các vì.

Hồn linh thiêng hiển hích chứng tri,

Xin sám hối tiền phi hậu quá.

Xét tội lỗi oan khiên vay trả,

Giác ngộ tua diệt cả ác duyên,

Ý tịnh thanh dứt sạch não phiền,

Giữ ba nghiệp vẹn tuyền trong sạch.

Quy y Phật tịnh yên hồn phách,

Nhẫn tâm tồn, giải sạch cừu oan.

Phật dạy rằng tạo tội, tội mang,

Luật nhân quả rõ ràng khó tránh.

Muốn giải thoát, noi gương Phật Thánh,

Chưởng Bồ đề, xa lánh tội căn.

Nguyện Từ Tôn Tam Bảo mười phang,

Độ chư vị thoát đàng khổ não.

Dẫn Hồn Vương lòng thương khuyên bảo,

Thập Điện đồng mở đạo Từ bi.

Giảm phạt hành, ân huệ bố thi,

Đức Địa Tạng đại bi cứu rỗi.

Linh hồn đặng xa nơi ngục tối,

Vãng sinh miền Tịnh Độ thảnh thơi.

Hết lòng thương nay tỏ mấy lời,

Xin chư vị khắp nơi chứng chiếu.

Nam mô A Di Đà Phật.

VĂN TẾ CHƯ CHIẾN SĨ TRẬN VONG

CHƯ LƯƠNG DÂN TỬ NẠN

(Thí thực cô hồn số 7)

Hỡi chư chiến sĩ trận vong !

Hỡi chư lương dân tử nạn !

Nhơn sanh tự cổ thùy vô tử,

Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.

Người sanh trên thế ai không chết,

Để tấm lòng son rạng sử xanh.

Ngọc tuy nát vẫn còn trong sạch,

Tre cháy tiêu, mắt nọ cũng còn.

Chí trung cang nghĩa khí sắc son,

Gương Thánh Đế nay còn nêu đó !

Nợ nước non ai ai cũng có,

Phận công dân giao phó phải mang.

Hễ đứng làm nghĩa sĩ anh trang,

Phải đáng bực trung thần liệt nữ.

Chí Quang Trung đâu màng sanh tử,

Chuyện Trưng Vương thanh sử còn ghi.

Nay tuy là u hiển biệt ly,

Lòng tưởng nhớ các vì tha thiết,

Tưởng là tưởng đức dày oanh liệt,

Chốn chiến trường sương tuyết hy sinh.

Nhưng chẳng may vì nước bỏ mình,

Ấy cũng bởi trọn gìn trung đạo.

Thôi nợ nước nay đà tận báo,

Xin hồi đầu chánh đạo tu thân.

Nương cửa thiền phủi sạch trược trần,

Sớm kinh kệ chiều lần chuỗi hột,

Lấy cam lộ nhành dương nước Phật,

Rửa cừu oan diệt tất não phiền.

Khá nguyện về Cực lạc Tây thiên,

Mà an dưỡng thiêng liêng Bổn giác

Sen chín phẩm nở ra trước mắt,

Hết tử sanh quả Phật thấy liền.

Hỡi các vì hồn có linh thiên,

Nơi chín suối khá liền sám hối,

Cầu Trời Phật xá tha tội lỗi,

Dắt dìu ra khỏi lối u minh.

Một lòng thiềng Phật Pháp trọn gìn,

Hộ thí chủ khương ninh phước thọ.

Giúp lê thứ, trợ an quốc tộ,

Lập đức công báo bổ tứ ân,

Lời thiết tha đạo đức phân trần,

Xin liệt vị hiển linh chứng chiếu.

Nam Mô A Di Đà Phật.

VĂN TẾ CHIẾN SĨ TRẬN VONG

ĐỒNG BÀO TỬ NẠN.

(Thí thực cô hồn số 8)

Hỡi ôi !

Cơn tạo hóa xoay vần khó tránh,

Cuộc trần gian hết thạnh đến suy,

Chúng sanh phải chịu khổ nguy,

Sanh già bịnh tử biệt ly thảm sầu.

Việc may rủi biết đâu chọn lánh,

Nhận làm người mang gánh sự trần,

Tam cang mới nặng muôn cân,

Ngũ thường xử vẹn là phần tu mi.

Lẽ sống thác là tùy số phận,

Nghĩa vụ tròn đâu quản gì thân,

Mình là bổn phận con dâu,

Quốc gia hữu sự báo ân đã đành.

Vì tổ quốc lợi quyền chủng tộc,

Giận quân thù chí dốc tòng quân,

Ra đi dạ luống bâng khuâng,

Màn sương gối tuyết vô chừng gian nan.

Khi lặn suối trèo non vượt bể,

Khi lên truông qua ải xuống đèo,

Đai cơm, bầu nước, gươm đeo,

Chút thân sống thác do theo số trời.

Ra nhập ngũ thân thời chẳng kể,

Khổ thay vì cha mẹ ở nhà,

Nhớ con thổn thức canh gà,

Thương con dựa cửa trông mà sầu đau.

Khi sớm tối ai vào thăm viếng,

Lúc ốm đau lo chuyện thuốc thang ?

Đêm ngày giọt lệ chứa chan,

Cầu trời con đặng thoát nàn đao binh.

Chữ trung đặng, mất tình hiếu thảo,

Đánh liều theo máy tạo vần xoay,

Trước cờ da ngựa bọc thây,

Tiếng kêu cứu nước làm khuây sao đành!

Còn thương hỡi gia đình thảm cảnh,

Vợ cùng con hiu quạnh trước sau,

Con thơ vợ yếu lao nhao,

Lấy ai bảo bọc đói đau cơ hàn ?

Đêm tủi phận dở dang duyên nợ,

Ngày gượng vui qua đỡ thời gian,

Trông cho chiến thắng khải hoàn,

Dưỡng nuôi con dại hiệp đoàn phu thê.

Nhớ đến cảnh ủ ê tấc dạ,

Cùng anh em chung chạ một nhà,

Xóm làng cô bác ông bà,

Nguyện cầu binh cách hết mà về quê.

Người muốn vậy không hề được vậy,

Bãi trường sa thịt nát máu tơi,

Tên rơi đạn lạc hết đời,

Nắm xương vô chủ lạc nơi chiến trường!

Người nằm chết ngổn ngang bờ bụi,

Dưới hố hầm chân núi cội cây,

Kẻ thời ngọn lửa thiêu thây,

Người thời trôi lấp sông nầy rạch kia.

Ai có phước thi hài chôn lấp,

Kẻ nợ phần phó mặc cá chim,

Hỡi ơi ! Nợ nước trọn niềm,

Đến ngày chung cuộc xác tìm đâu ra ?

Vợ con với mẹ cha đâu biết,

Chừng hay tin thì việc đã rồi,

Nợ trần phủi sạch ai ôi,

Ghi vào lịch sử muôn đời ngợi khen !

Khen anh dũng xông pha tên đạn,

Liều thân sinh cứu nạn quốc dân,

Sống làm Tướng, thác làm Thần,

Non sông gánh vác tử phần đao binh.

Chùa thỉnh Phật lập đàn chẩn tế,

Tụng cầu siêu cáo lễ Phật trời,

Trận vong chiến sĩ vì đời,

Thoát vòng lục đạo về nơi trai đàn.

Nén hương đốt gội nhuần trước án,

Tế anh linh tỏ rạng danh thơm,

Ít nhiều hoa quả kỉnh đơm,

Gọi là tưởng nhớ người ơn giúp đời.

Dạ thương tiếc anh hùng dũng cảm,

Nguyện vong hồn sinh ký tử qui,

Hồi đầu nương cửa từ bi

Về miền Cực lạc Liên trì hoá sinh.

Chúng tôi đã lòng thành khấn vái,

Phật mười phương quảng đại độ siêu,

Nương đàn chẩn tế tiêu dao,

Chư vong chiến sĩ đồng bào chứng tri.

SÁM VĂN THÍ THỰC HỒI HƯỚNG

(Thí thực cô hồn số 9)

Sắm sanh ẩm thực đủ đầy

Gọi hồn về hưởng an bày đủ đông

Tiệc chay cúng thí vừa xong

Canh gà văng vẳng giọt rồng thậm thâm

Trước đàn ngưỡng vọng thiền âm

Bình hoa lợt bóng, đỉnh trầm phai hương

Cam lồ rưới khắp mười phương

Ao sen nay đã tỏ tường sang chơi

Cô hồn ơi ! Chiến sĩ ơi !

Mau mau nhẹ bước tách dời Tây thiên

Từ rày bá tánh bình yên

Phước lành để lại trong miền nhân gian

Tuổi đời lộc nước chứa chan

Gót lân nổi dấu, cầm loan in dần

Nghinh ngang cõi thọ đài xuân

Dấu ma lẳng bặt châu trần tiêu diêu

Vinh hoa phú quí đủ điều

Tu hành đạo đức thương yêu giống nòi

Ngày ngày niệm Phật hẳn hòi

Đèn từ đuốc huệ sáng soi cõi lòng

Đến khi trăm tuổi mạng chung

Được về cõi Phật thoát vòng tử sanh

A Di Đà Phật phóng quang

Nguy nguy kim tướng muôn ngàn ảnh trung

Khổ đau biển cả chập chùng

Hãy mau niệm Phật mà cùng bước lên

Đài sen hoa nở vãng sanh

Bạn cùng Bồ Tát chung quanh vui đùa

Từ đây bỏ việc hơn thua

Nương nhờ tự lực cửa chùa quy y.

Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

– Trích soạn lại theo “Pháp Thí Thực Khoa Nghi” – chùa Niệm Phật Bình Dương ấn hành 1974.

VĂN TẾ LIỆT SĨ

(Thí thực cô hồn 10)

Hỡi chư Liệt sĩ ôi!

Họa đao binh từng đốt nung đất Việt

Nạn xâm lăng đã giày xéo trời Nam

Phận làm trai, đành gánh vác nợ non sông

Người chiến sĩ, phải hy sinh đời oanh liệt

Nhớ những anh hùng xưa!

Vì chánh nghĩa, mất còn nào tiếc

Rửa nhục chung, sống chết đâu màng

Chốn sa tràng, trải mật phơi gan

Nơi chiến địa, nóng sôi nhiệt huyết

Gió đạn, mưa bom ào ạt, xông pha bắn giết

Núi xương, biển máu lăn mình, dày đẫm đau thương

Màn trời chiếu đất, lướt trời nồng, dãi nắng dầm sương

Vó ngựa sa trường, dày gió bụi, mang sao đội nguyệt

Vì nước vì dân, trước cái chết, vươn mình quyết tiến

Thương nòi thương giống, giữa đời trai, nung chí anh hùng

Đạn nổ súng rền, gió hơi bom,

long trời lở đất, thi gan tiến tiến xung phong .

Cờ phất còi reo, tiếng trống dục,

chật đất tràn đồng, gắng sức đùng đùng tử chiến.

Dưới làn bom, thịt nát xương tan,

Đành ngã gục không hề khuất tiếc.

Trước mũi súng, ruột tuông máu đổ,

cam lụy mình chẳng khứng phục hàng.

Người chiến sĩ, đền xong nợ nước,

trang sử xanh đánh dấu hiên ngang.

Đấng anh hùng, rửa sạch nhục chung,

đài liệt sĩ nêu gương trung liệt.

Than ôi!

Vì nước quên mình, sống oanh liệt chết càng oanh liệt.

Xả thân báo quốc, sống vinh quang chết cũng vinh quang

Cảm thương người, tai nạn tràn lan

Thương xót kẻ, uổng oan mất tích

Nhờ đức Phật độ về cõi tịnh

Nương tiếng Kinh thoát kiếp đao binh

Nơi dạ đài, người tử si có linh

Nương thể phách, về trai đàn chứng giám

Hỡi ơi! Thương thay!

Có linh xin chứng! Có linh xin chứng!

– Trích soạn “Kinh Nhựt tụng” – Chùa Niệm Phật Bình Dương 1994.

VĂN TẾ CÔ HỒN (II)

(Thí thực cô hồn 11)

Từng nghe đạo cả, kỉnh thuật lời quê

Cõi nhơn gian thủy lục ê chề

Nỗi hồn phách tử vong ngao ngán

Trên đến bực vương hầu khanh tướng

Dưới đến người sĩ cổ nông công

Nào kẻ ty, nào người tôn

Nào là nam, nào là nữ

Hoặc có kẻ buộc mình trong linh ngữ

Hoặc có người sẩy bước chốn sa tràng

Hoặc sa hầm sa hang

Hoặc trúng thang trúng dược

Đau ngang, dây buộc, sản nạn, huyết bồn

Hoặc nước bệnh dịch ôn, hoặc suông búa sấm

Phép vua giảo trảm, trù ẻo vong thân, loài ấy rất nhiều

Nhiều đã quá nhiều, dẫu muốn kể, kể sao cho xiết

Kìa nương dựa, mả mồ đà mất biệt,

Nào từ đường, nơi chỗ có chi chi

Bơ vơ bên bụi dưới cây, lài lạc chốn đầu gành cuối biển

Khổ nhiều nỗi gió mưa xao xuyến,

Biết mấy thu lạnh nắng đổi thay

Chẳng bốn mùa nào kẻ lạc trai

Mãn tám tiết vắng người đơm quảy

Rầu rầu rỉ rỉ, cõi u minh biết mấy xuân thu

Mù mù mịch mịch, đường xuất lý m

ảng đợi trông ngày tháng

Hội vô giá may vừa gặp khoản,

Nương theo công bí mật hôm nay

Này hà sa Phật tử là ai, rày gặp lúc tiêu diêu cõi thánh

Nọ lụy thế oan thân mấy kẻ, lại nhờ ơn giải thoát nợ trần

Chiến sĩ ôi! Cô hồn ôi!

Ngôi liên đài quanh quất bên thân

Miền tịnh độ chán chường gần trước mặt

Ngón tay búng chẳng phiền nhọc sức

Đã chứng vào trong bực vô sanh

Lòng hởi lòng, lòng vốn hư minh

Ấy rõ thấu, ngôi Quan Âm Phật.

Nam Mô Siêu Lạc Độ Bồ Tát Ma Ha Tát.

– Trích soạn theo Kinh Nhật Tụng – Bồ Tát Như Nguyện Thích Thiện Huê – Chùa Niệm Phật – Bình Dương 1974.

HỒI HƯỚNG TẾ VĂN

(Thí thực cô hồn 12)

Kiến văn như huyển ế

Tam giới nhược không hoa

Văn phục, ế căn trừ

Trần tiêu, giác viên tịnh

Phục dĩ,

Nguyên chơn như thanh tịnh

Tội tánh vốn là không

Biển khổ rộng mênh mông

Sóng quanh theo đuổi mãi

Bởi nghiệp cảm chúng sanh mang phải

Khiến trầm luân kiếp nọ chịu đọa đày

Địa ngục đà thọ báo đắng cay

Ngạ quỉ lại chuyển sanh đói khát

Đã chẳng có ngày giải thoát

Ắt là không chỗ đặng siêu thăng

Ví chẳng nhờ từ nguyện đức kim thân

Để mở đặng đảo huyền dây ác thú

Chơn thuyên ấy, niệm đôi câu chú

Thí ra trên tiệc cam lồ

Bảo cự kia, thắp một ngọn đèn

Soi khắp trong đường minh giới

Nào những mấy dòng mê cả thảy

Khiến đều về cực lạc phương tây

Buổi đạo tràng nay, khắp thỉnh vào viên thí thực

Đem công đức ấy, trở về trong núi Thiết vi

Diệm nhiên Đại sĩ một tay

Thống lãnh cả ba mươi sáu bộ chúng

Ngạ quỉ hằng hà sa số

Vô lượng vô biên xiết kể biết bao

Cúi xin từ kiếp bỏ liền

Cho đến ngày tái thế

Tiêu nghiệp chướng chẳng còn chút để

Rửa tội khiên phút đã sạch rồi

Vạc nóng dầu sôi, biến làm bồn liên trì bát đức

Lò hừng lửa cháy, hóa thành tòa hương cái thất trân

Kìa mũi gươm trần, kiếm thọ hóa ra ngọc thọ

Nọ con dao sắc, đao sơn đổi lại bửu sơn

Khắp nơi bủa chật thiết sàng

Hiện pháp tòa Bồ đề là đó

Với chảo đựng đầy đồng trấp đỏ

Sái đề hồ cam lộ vào đây

Gặp người trái chủ hôm nay

Buổi đó hết đòi hết hỏi

Nhóm kiếp oan gia buổi trước,

Cùng nhau thôi vấn thôi vương

Dạ hưng từ ngục chủ yêu thương

Lòng từ thiện minh quang bảo hộ

Thân phụ mẫu đa sanh kim với cổ

Nay thời nhập Thánh siêu phàm

Nợ nhơn thân lụy thế hết còn

Rày đã thừa ân giải thoát

Cõi thiên thượng ngũ si chẳng hiện

Miền nhơn gian tứ tướng có chi

Tu la đà bỏ cả sân si

Địa ngục lại hết điều khổ não

Hồn ngạ quỉ nhộn nhàng sáu đạo

Hứng gió thanh khỏi chốn lửa hồng

Giống làm sanh chật nức mười loài

Lên bờ giác lánh nơi đường tối

Khắp xin cả hữu tình một nỗi

Quốc độ này, quốc độ nọ

Và vô lượng các quốc độ thảy

Cùng nhau chung chứng chơn thường

Lại nguyện cùng hàm thức mấy loài

Thế giới đó, thế giới đây

Và vô lượng các thế giới nào

Buổi đó đều nên Phật đạo

Tứ ân khắp báo

Tam hữu đều nhờ

Người trong pháp giới bao giờ

Ai ai cũng đồng nên chưởng trí.

– Trích soạn “Kinh Nhựt Tụng ” Chùa Niệm Phật – Bình Dương 1974.

SÁM CẦU SIÊU THỦY LỤC VỚT VONG

(Thí thực cô hồn 13)

Nam mô Từ phụ Di Đà,

Xin ngài cứu khổ Ta bà trầm luân.

Thương đời bá tánh vạn dân,

Các hồn hoạnh tử cõi trần thác oan.

Thế gian mong được an nhàn,

Khai đàn Thủy lục làm đàn vớt vong.

Chết ao, khe, biển, suối, sông,

Linh đinh trôi nổi số đông quá nhiều.

Gió giông bão tố thủy triều,

Thảm thương thân xác dập dìu nổi trôi.

Hồn phi phách lạc mất rồi,

Cá ăn, sấu nuốt, khổ thôi đủ điều.

Cõi đời sanh tử mơi chiều,

Sống nơi hầm lửa đốt thiêu thân mình.

Lại còn giặc giã đao binh,

Trúng nhằm súng đạn thình lình mạng vong.

Núi rừng đồng rộng biển sông,

Các hồn oan ức nguyện đồng tiêu diêu.

Hôm nay khẩn đảo cầu siêu,

Những hồn chìm đắm thủy triều tai ương.

Sông sâu biển rộng bốn phương,

Sa chơn đắm đuối vấn vương khổ sầu.

Thành tâm lạy Phật khẩn cầu,

Độ hồn lên khỏi biển sâu vào bờ.

Linh đinh hồn vía mịt mờ,

Nương nhờ Phật lực kịp giờ cứu an.

Cầu cho hồn đặng nhẹ nhàng,

Thủy Long thần nữ dẫn sang hồn về.

Hồn về cảnh Phật đề huề,

Kíp nghe kinh kệ trầm mê khỏi nàn.

Quan Âm đại sĩ từ hàng,

Cứu hồn ra khỏi sáu đàng trầm luân.

Nguyện cho hồn đặng vui mừng,

Khỏi nơi lạnh lẽo gian truân khổ sầu.

Nương nhờ Phật lực nhiệm mầu,

Thả đèn thủy lục, bắt cầu vớt vong.

Vớt vong khỏi chốn suối sông,

Về nơi no ấm non bồng tiêu dao.

Đưa vong khỏi biển ba đào,

Đến nơi bờ giác lên mau lạ thường.

Nam Mô Địa Tạng Minh Vương,

Vì lời đại nguyện xót thương Ta bà.

Chúng sanh chìm đắm hải hà,

Cầu ngài cứu vớt vượt qua biển trần.

Nổi trôi khổ sở tấm thân,

Âm nhơn lạnh lẽo muôn phần thiết tha.

Nam mô đức Phật Thích Ca,

Cầu ngài tế độ vớt mà vong linh.

Ở trong thế giới U Minh,

Dẫn qua Cực lạc vãng sanh Liên trì.

Nguyện ngài giáo chủ A Di,

Độ vong trầm nịch đồng qui Liên thành.

Ở yên mát mẻ tu hành,

Cầu cho giải thoát hóa sanh sen vàng.

Nam mô Tịnh độ Lạc bang,

Độ vong hồn đặng Tây phang mau về.

– Trích xuất từ “Pháp môn tu Tịnh Độ” Niết Bàn Tịnh Xá – Vũng Tàu ấn hành, 1970, Tr. 313-315.

– Bài này dùng để tụng trong đàn thủy lục vớt vong ở bờ biển, bên sông, có thêm nghi thức vớt vong và cầu siêu chư linh. Vì thế nên không phải là bài phổ biến. Tuy nhiên, có thể dùng tụng ở các đàn kỳ siêu, chẩn tế, thí thực ở chùa, ở nhà cũng được.

VĂN HỒI HƯỚNG CÚNG THÍ

(Thí thực cô hồn 14)

Bích Liên Pháp Sư

SÁM TÁN KHÔ LÂU

(Thí thực cô hồn 15)

Bích Liên Pháp Sư

Hôm qua đồng vắng ngoạn du

Thấy liền Đại đức khô lâu một vùng

Bốn bên ghê gốc bịt bùng

Mồ hoang cỏ mọc, mây trùng xanh xanh

Dàu dàu âm khí lạnh tanh

Lá sen thổi ngọn, gió quanh đưa sầu

Khô lâu ơi hỡi! Khô lâu

Quê người ở mé giang đầu thiu thiu

Nằm phơi ngọn gió, chìu hiu

Cỏ giăng nệm đất, trăng khêu đèn trời

Phèo phèo khí lạnh đòi nơi

Anh em lai vãng, có người nào đâu

Khô lâu ơi hỡi! Khô lâu

Ấy người quân tử ở đâu bên đường

Nhà ai vang vọng đêm trường

Mưa tuôn gió thổi, tuyết sương khác nào

Đau thay gan ruột như bào

Chan chan hạt lụy, như trào dòng châu

Khô lâu ơi hỡi! Khô lâu

Đôi khuôn con mắt, thấy đâu chốn này

Xiết thay, người thế ra chi

Kiếp phù sanh gởi tháng ngày bao lăm

Ác vàng thỏ bạc xa xăm

Bóng quang âm thoắt, trăm năm mấy hồi

Dần dà chi nữa người ơi

Sớm lìa biển khổ, cho rời kiếp ma

Hôm nay thiện tín trai gia

Nghi diên mở hội, gọi là “minh dương”

Lò vàng vừa bén mùi hương

Đạo tràng mời khắp mười phương cô hồn

Bao nhiêu tội chướng để dồn

Bây giờ tiêu hết chi còn nữa đâu

Ân triêm phước lợi thắm mầu

Mau mau dời bước lên chầu Tây phương.

– Bài do Hòa Thượng Bích Liên – Bình Định, diễn nôm khoảng năm 1940.

– Chép lại từ bản thảo “Nghi cúng cô hồn” của Hòa Thượng Thành Lệ, Bến Tre

TRẠO VĂN DIỄN ÂM

(Thí thực cô hồn 16)

Bích Liên Pháp Sư

Hôm nay cúng thí trai đàn,

Dây nhân duyên gặp A Nan cơ lành.

Quan Âm cứu khổ đã đành,

Hiện làm Tiêu Diện quỉ hình lạ thay.

Niệm câu Mô Phật từ bi,

Tuyên lời bí mật đức dày công cao.

Độ người thập loại nao nao,

Mùi cam lồ ấy hưởng vào một phen.

Trước đây triều đại còn truyền,

Lên ngôi đế chúa sẵn quyền tôn vinh.

Hầu vương huân thích vang danh,

Cây vàng lá ngọc tập tành tiếng sang.

Trung cung, Tể chấp, đại quan,

Kìa trang thể nữ, nọ hàng tần phi.

Điềm hoa tươi đã vứt đi,

Mùi cam lồ hưởng tiệc này phải chăng.

Hàng quốc sĩ, bậc triều thần,

Dọc ngang trong cõi hồng trần giúp xong.

Chăn dân bủa hóa giữa giòng,

Nào hay chưa toại tấm lòng trung lương.

Đau lòng một chiếu thôi thương,

Phải khi trích án sa trường biên bang.

Hồn còn trìu mến giang san,

Tiệc cam lồ hỡi, vội vàng đôi chân.

Người võ sĩ, kẻ nhung thần,

Một tay thống lãnh ba quân nhộn nhàng.

Băng xông trăm trận mũi vàng,

Trống rầm rộ đất, chiêng vang rân trời.

Đánh Nam dẹp Bắc tơi bời,

Chiến trường phút sẩy chân người vào trong.

Tấm lòng vì nước mà vong,

Tiệc cam lồ chứng hội đồng đêm thanh.

Những người học cổ cùng kinh,

Chức văn chương khéo như hình gấm thêu.

Bóng quang, hột tuyết dòm theo,

Chí trong cửa sổ nghiệt nghèo xiết bao!

Ta đà mạng vận làm sao,

Bảng vàng chẳng thấy lúc nào đề danh.

Hương hồn uất uất chi linh,

Mùi cam lồ đã sẵn dành tiệc xuân.

Những người cắt ái từ thân,

Cửa không sớm đã chân lần vào trong.

Tầm thầy hỏi đạo Thiền tông,

Chút vì muốn thoát khỏi vòng tử sanh.

Trải bao lạnh nắng xoay quanh,

Sự vô thường đã đến mình nào hay!

Hồi quang soi chút bóng dày,

Mùi cam lồ hưởng đêm nay bỉ bàng.

Những người võ phục huỳnh quan,

Sớm đã quyết chí theo đàng tu chơn.

Luyện hoàn thuốc, nấu lò đơn,

Dưỡng trong cái tánh, cho hoàn khí nguyên.

Lao thần khổ hạnh đòi phen,

Chỉ mong lên đặng ngôi tiên mới đành.

Thôi đừng tiếc chút dị hình,

Tiệc cam lồ đã sẵn dành vị thanh.

Những người con thảo cháu lành,

Với người nghĩa dũng trung thành xưa kia.

Những người liệt nữ trinh thê,

Cái thân coi chết như về đâu đâu.

Với người trọng tiết vong xu,

Khí tinh anh để ngàn thu còn truyền.

Hồn còn chói lọi linh thiêng,

Đến đây hưởng thọ một diên cam lồ.

Những người đạo nữ Ni đồ,

Chốn huỳnh môn ấy năm mùa gởi thân.

Phụng loan bỏ khống duyên phần,

Nhơn gian chẳng nhiễm sự trần chút chi.

Còn chưa liễu đặng vô vi,

Nước trôi sóng lãng ra gì tử sanh!

Hồn người thăm thẳm thanh thanh,

Vị cam lồ đã phỉ tình cho chăng?

Những người địa lý thiên văn,

Nghề hay y dược chứa thầm âm dương.

Bói qui, dịch sủ qui vàng,

Kẻ tinh coi gió, người tường bủa sao.

Mách người hung kiết biết bao,

Vô thường để khỏi mang vào hoạn thân.

Thôi rày xả ngụy qui chân,

Cam lồ bảo mãn mười phần tiệc hương.

Những người tọa mãi hành thương,

Cả bao nhiêu món ngoài đường kinh doanh.

Lắm hay nghề nghiệp mưu sanh,

Toan phường tài lợi trong vành bán buôn.

Quê xưa hương tỉnh bỏ luôn,

Chết chôn đất khách, theo phương cảnh người.

Một niềm lữ mộng vơi vơi,

Mùi cam lồ đã khắp rời u minh.

Những người phạm pháp tạo hình,

Ngục tù buộc mãi lấy mình vào nơi.

Hại người toan lấy của người,

Oan gia trái chủ trả đời nào xong!

Người tật ác, kẻ tai hung,

Hoặc là đói khát lạnh lùng vong thân.

Suối vàng kíp kíp đôi chân,

Mùi cam lồ ấy, thọ phần thanh lương.

Những người ngựa đạp, xe thương,

Vách đè thân nát như tương rã rời!

Kẻ suông roi quỉ, sấm trời.

Kẻ cam tự vận, người thời huyền lương.

Hoặc là thủy hỏa tai ương,

Kẻ suông độc rắn, người vương miệng hùm.

Hồn người bất hạnh trầm trầm,

Một cam lồ rưới dầm dầm xiết bao.

Những người âm huyết dương mao,

Chỗ sanh trưởng vốn ẩn vào man di.

Thi công mà trả nợ đày,

Kẻ làm lẽ mọn, người thì tớ tôi.

Hoặc người ngọng, lịu, điếc, đui,

Tật nguyền chẳng có nơi chui đụt nào.

Hồn người oan khổ biết bao,

Mùi cam lồ hưởng dạt dào tiệc hoa.

Những người ngỗ nghịch mẹ cha,

Oán rủa trời đất, mắng la đốt bằm.

Những người chê Phật khinh Tăng,

Đốt hủy kinh tượng hung hăng nhiều bề.

Lắm điều tà kiến trầm mê,

Chịu trong khổ báo ê chề chẳng thôi.

Hồn người thật ác, thương ôi,

Mùi cam lồ hưởng cho rồi tiệc hoa.

Cửa nhà đại thí mở ra,

Hãy xin tiến bạt cho ma cô hồn.

Tiên vong hòa tổ hòa tôn,

Oan gia trăm họ cũng dồn về đây.

Đường ba, nạn tám thiếu chi,

Bao nhiêu bình đẳng, đêm này siêu thiên.

Cậy chưng Phật Pháp quang miên,

Mùi cam lồ hưởng một diên ê hề.

A Di Đà Phật Bồ Đề,

Xưa kia sẵn có lời thề vô biên,

Đường mê trông thấy nhãn tiền,

Đắm phiêu biển khổ liền liền thảm thay!

Ngậm ngùi vội duỗi hai tay,

Thuyền từ chống thẳng vớt ngay mọi người.

Nguyện cho khắp chỗ ai ơi,

Chúng sanh đều đến nhập nơi Liên trì.

– Đây là bài diễn nôm của Hòa Thượng Bích Liên – Bình Định soạn, khoảng năm 1940.

– Bài này dùng để tán trạo, một loại tán có nhạc hòa cùng sử dụng trong lễ chẩn tế cô hồn, thay cho 12 câu thỉnh trong Du Già Trung Khoa.

VĂN THỈNH THẬP LOẠI CÔ HỒN

(Thí thực cô hồn 17)

Bích Liên Pháp Sư

Dấu người thập loại biết là đâu?

Hồn phách mơ màng trải mấy thu,

Cồn biển nghinh ngang bầu thế giới,

Những mồ vô chủ thấy mà đau!

Tịch mịch dạ canh thâm,

Hoa Đàm bá phạm âm,

Cô hồn văn triệu thỉnh,

Bộ bộ tốc lai lâm.

– Nhứt tâm triệu thỉnh:

Ác vàng tên ruỗi,

Thỏ bạc thoi dong,

Ôm lòng đau, cốt nhục nỗi xa trông,

Sửng mắt nhắm, anh hùng còn đâu đó!

Lò bảo đảnh, màu hương nhen mới tỏ,

Giọng thiền lưu, rày ngõ với vong linh,

Nghe lời triệu thỉnh đành rành,

Hồn chơi trong cõi U minh xin về.

– Nhứt tâm triệu thỉnh:

Màu non lờ lạc,

Dòng nước thầm thì,

Xuân đi rồi, hoa hỡi còn đây,

Người mới đó, chim rày đã lặn.

Vài lượt thắp, hương trầm bay tứ tán,

Đôi phen mời, linh sản ở đâu đây,

Vong linh ơi hỡi có hay,

Nghe lời triệu thỉnh, kíp day cõi trần.

– Nhứt tâm triệu thỉnh:

Biển trần lênh láng,

Sóng nghiệp lao xao,

Người mê man trong giấc chiêm bao,

May tỉnh đặng, phân hào trong huyền diệu.

Sống chẳng niệm Di Đà Phật hiệu,

Uổng một vòng chơi nẻo nhân gian,

Đầy ba phen, hương thắp bảo đàn,

Ba lần triệu thỉnh, suối vàng hồn linh.

Xin vâng Tam Bảo pháp lành,

Nương lời bí mật, đêm thanh trở về.

Về đây hưởng thọ hương huê,

Cam lồ pháp thực, ê chề thiếu chi.

– Trước thỉnh kẻ, hoàng vương đế bá,

Triều đại xưa, trải quá biết bao!

Đền đài chín lớp ở cao,

Non sông muôn dặm chiếm vào một tay.

Thuyền chiến phút đổi thay vượng khí,

Xe loan còn rầm rĩ vắng thinh,

Đỗ quyên kêu trót tàn canh,

Mây buồn đượm mãi trên cành đào hoa.

Trước sau vương bá những là,

Hồn hương xin chứng tiệc hoa sẵn sàng.

– Lại thỉnh kẻ đăng đàn bái tướng,

Dựng ngọn cờ bảo thưởng hầu quan,

Ngàn cân, lực cử đảnh vàng,

Thân trường thành vững trăm ngàn dặm khơi.

Trướng hùm lạnh, luống đời Hạng Mã,

Khói lang tàn, nào gã Phàn Long,

Ngựa xe chiến tướng vắng không,

Hoa lùa cỏ nội mấy vùng buồn thiu!

Anh hùng tướng soái bao nhiêu,

Pháp diên hãy chứng ít nhiều phải chăng?

– Lại thỉnh kẻ: Ngũ lăng tài tuấn,

Phẩm hiền lương, bách phận danh thần.

Ba năm thanh tiết làm quan,

Lòng son một tấm, trung quân rõ ràng.

Nhà châu huyện, xa làng phụ mẫu,

Xóm nước trời, theo dấu thần tiên,

Chinh chinh biển loạn sóng ngàn,

Mờ mờ hồn bướm ly miền dương quang.

Văn thần xiết kể muôn ngàn,

Chốn này xin chứng Pháp đàn kính dâng.

– Lại thỉnh kẻ: Tao ông mặc khách,

Lối cửa hoàng, nhà bạch vào ra,

Rừng văn nhẹ bước, Thám hoa,

Ngàn cung bút chiến, chơi trò các vi.

Tan bữa đốm, tiếc dày công học,

Mòn dĩa nghiên, uổng nhọc chí bền,

Lụa hồng bảy thước đề tên,

Đất vàng một cụm, lấp nền văn chương.

Văn nhân biết mấy đâu lường,

Hồn hoang xin chứng tiệc hương mấy phần.

– Lại thỉnh kẻ: Xuất trần phi tích,

Thượng sĩ kìa với khách Cao Tăng,

Trai tinh ngũ giới, đạo hằng,

Gái Tỳ khưu, lại đủ ngằn nét tu.

Làn hoa trúc, vài câu mật đế,

Nhà hổ-nô, vắng kệ khổ không,

Tam canh song tẩm lạnh lùng,

Nhà thiền leo lét đèn chong canh dài.

Trung lưu này những bi ai,

Chơn hồn xin hãy chứng lai pháp đàn.

– Lại thỉnh kẻ: Huỳnh quan dã khách,

Dòng vũ y phong cách nhà tiên,

Tu chơn trong động đào nguyên,

Trước châu lãng uyển, khí rèn tánh tu.

Trời nêu tiếng, tam lưu chưa toại,

Đất chôn hồn, tứ đại Diêm Vương,

Lò đơn lẫm quán lạnh sương,

Tiêu đàn gió thảm, thổi tàn hạnh hoa.

Bao nhiêu đạo sĩ những là,

Mùi hương phó cảm, thấu nhà hư vô.

– Lại thỉnh kẻ: Giang hồ cơ lữ,

Đường bắc nam trải thử hành thương,

Lợi quyền muôn dặm, toan đương,

Ngàn vàng trữ lại trong hàng hóa buôn.

Thân sương gió, thịt chôn bụng cá,

Bước đá mây, xương rã đường dê,

Phách theo mây cuốn sè sè,

Hồn theo ngọn nước xuôi về biển Đông.

Thương nhân, sau trước một dòng,

Bữa nay xin chứng vào trong tiệc đàn.

– Lại thỉnh kẻ: Lướt xông chiến trận,

Sức phương cường, mình bận áo binh,

Cờ điều phất bóng tương tranh,

Trong chòm mũi bạc, đan mình chống đương.

Ruột gan nát, thao trường kim cổ,

Da thịt rơi, đầy chỗ can qua,

Cát vàng văng vẳng tiếng ma,

Mờ mờ sương trắng ai mà thấu cho.

Xưa nay mấy kẻ tốt đồ,

Đêm này xin hưởng cam lồ tiệc trai.

– Lại thỉnh kẻ: Nghén thai mười tháng,

Lót chiếu rơm ngồi mãn ba ngày,

Trước mừng loan phụng hiệp bầy,

Sau thì trông giấc hùng bi cho tường.

Vầng cung phụng, phút tường hung cát.

Tuồng ngỏa chương, rơi nát mẹ con,

Nhành hoa nở, trận mưa tuông,

Đường khi trăng tỏ, gặp cuồng mây xâm.

Những người sản nạn qui âm,

Nghe lời triệu thỉnh, lai lâm pháp đàn.

– Lại thỉnh kẻ: Bốn phương mọi rợ,

Với những người ú ớ điếc đui,

Chết mình, tôi tớ lui thui,

Liều thân hầu hạ, bởi người ghen tương.

Khinh Tam Bảo, tội dường cát bãi,

Nghịch song thân, ác dẫy cõi người,

Đêm trường thăm thẳm bóng mơi,

Cửa mù thiu thỉu như trời thu đông.

Những người bội nghịch hoang hung,

Pháp diên xin chứng vào trong cho đầy.

– Lại thỉnh kẻ: Cung khuê thuở trước,

Gái má đào, sắc nước kém đâu,

Bức tranh chỉ phấn, đua nhau,

Áo quần long xạ, ganh màu thiên hương.

Hồn vân vũ, tan vườn kim cốc,

Ruột trăng hoa, héo trạm mã khôi,

Phong lưu ngày trước đâu rồi,

Xương khô lạnh lẽo trong chồi cỏ cây.

Những trang xinh tốt xưa nay,

Lửa hương xin chứng tiệc chay bỉ bàng.

– Lại thỉnh kẻ: Cơ hàn khất cái,

Cùng tù nhơn mang phải trọng hình,

Gặp tai nước lửa hại mình,

Hoặc truông hùm sói, tan tành thịt xương.

Khí oán, mãi đầy dường thuốc độc,

Hồn kinh, vì sấm lốc mờ xiêu,

Mưa chiều khói lạnh nước reo,

Lá thu gió thổi dập dìu như bay.

Những người hoạnh tử xưa nay,

Cam lồ rày đã sẵn bày tiệc hương.

– Lại thỉnh kẻ: Sáu đường pháp giới,

Những cô hồn mười loại đâu đây,

Diện-Nhiên sở thống một tay,

Nòi kia dịch-lệ, giống này trần-sa.

Nương cây cỏ, bóng ma mường tượng,

Ly-mỵ, hòa vọng-lượng uy danh,

Hồn cô, phách trệ linh đinh,

Tiên vong, với kẻ thân tình gần xa.

Bao nhiêu tiệu thỉnh những là,

Ai ai xin cũng chứng qua tiệc này.

Nãy giờ mời thỉnh tỏ bày,

Hồn linh xin hãy về đây chứng đàn.

Cùng qui y Phật, Pháp, Tăng,

Sửa mình niệm Phật, siêu thăng liên đài.

A Di Đà Phật Như Lai,

Từ bi tiếp độ hoa khai thoát trần.

– Trích trong “Khóa chẩn tế cô hồn nghĩa.” – Hòa Thượng Bích Liên soạn diễn Nôm, khoảng năm 1940. Chùa Viên Giác Tân Bình tàng bản.

【#6】Văn Tế Lễ Khánh Thành Tại Nhà Thờ Tộc Trần Văn

Duy : Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, tuế thứ Ất Mùi niên, sơ nhị ngoạt, sơ nhị nhật. Quảng Nam tỉnh, Duy Xuyên huyện, Nam Phước thị trấn, Xuyên Tây xã, Mỹ Quang ấp, Cồn Đô Bàu Đô xứ.

Trần Văn Tộc Xuyên Tây đồng hiệp ủy :

– Thập tam thế Tự tôn TRẦN VĂN KIM – Chánh bái

– Tả phân hiến Thập nhị thế Trần Văn Châu

– Hữu phân hiến Thập nhị thế : Trần Văn Hai

Hiệp bổn tộc sanh nhơn nam nữ; tử tôn; hôn tế nội ngoại đại tiểu đẳng. Tư nhơn Khánh hạ từ đường, cẩn dĩ hương đăng, hoa quả, kim ngân, sanh tư bàn soạn, phù lang tửu, thanh chước thứ phẩm chi nghi.

Cảm cáo vu : Thượng Thượng niệm : (được hiểu như là phần “kính thưa” hoặc “giới thiệu” các người dự)Thượng niệm :

Thượng Thượng niệm : Phụng vị bổn âm đường Dĩnh Xuyên quận Thái Thái… Thủy Tổ TRẦN VĂN TỘC lịch đại tiền quá vãng chư Thần vị.

– Hiển Thủy Tổ Hậu Hiền khai cơ sáng nghiệp Mỹ Xuyên Tây : Trần Công húy Nga đại lan chi Thần.

– Triệu Thủy Tổ Tỉ chi chánh vị

– Hiển Tiên Tiên Tổ khảo, tỉ thần vị

– Tiên Tiên Tổ bá, thúc, cô chư tiên linh liệt vị

– Hiển Tiên Tổ khảo, tỉ thần vị

– Tiên Tổ bá, thúc, cô chư tiên linh liệt vị

– Hiển Cao Cao Tổ khảo, tỉ thần vị

– Cao Cao Tổ bá, thúc, cô chư tiên linh liệt vị

– Cao tổ khảo, tỉ thần vị

– Cao tổ bá, thúc, cô chư tiên linh liệt vị

– Hiển Tằng tổ khảo, tỉ thần vị

– Tằng tổ bá, thúc, cô chư tiên linh liệt vị

– Hiển Tổ khảo, tỉ thần vị

– Tổ bá, thúc, cô chư tiên linh liệt vị

– Hiển Khảo, Tỉ thần vị

– Tùng bá, thúc, cô chư tiên linh liệt vị

– Huynh, đệ, tỷ, muội thúc bá đồng đường chư tiên linh liệt vị.

– Đệ dẫn : Vong linh tử, tôn ; vô tự tùng tự, hữu danh vô vị hữu vị vô danh, sút sảo tảo vong sa lạc bất tường, hương hồn, thanh hồn đồng liệt vị

Cập thập tam, thập tứ, thập ngũ thế huynh, đệ, tỷ, muội đồng đường, đồng thân chư hương linh.

– Đệ dẫn Vong linh tử, tôn hôn điệt; vô tự tùng tự, hữu danh vô vị hữu vị vô danh, đẵng đẵng chư hương linh liệt vị.

Viết cung duy Tiên Tổ : (Đây là phần “Hậu ngữ Nho”)

Nhân sanh hồ Tổ, vật bổn hồ Thiên. Mộc hữu sở bổn, thủy sở hữu sởnguyên. Ngưỡng triệu bồi như tăng niệm bách thế bất thiên. Mông võ lộ nhi trung, tư vạn đại như kiến. Tư nhơn tiết thuộc Xuân thiên, khánh thành đại hỷ, bổn Tộc cẩn dụng lễ nghi Tam Tuần hiến tế chư Tiên linh tại tân cơ Từ đường Trần Văn Tộc. Nguyện kì giám cách tích dĩ bình yên.

Ngưỡng lại phò trì chi gia huệ dã!

Rằng kính dâng các đấng Tổ Tiên : (Từ đây trở xuống là phần “Hậu ngữ Nôm”, là phần con cháu về dự hiểu được nội dung nên thường chăm chú lắng nghe hơn. Do đó phần này phải viết bằng nhiều kĩ thuật viết lách…)

Sông suối có nguồn, làm người ai cũng có Tiên Tổ. Non cao bể thẳm ngậm ngùi hai chữ triệu bồi. Xuân lại thu qua cảm khái một câu sương lộ.

Tổ Tiên ta xưa : Từ đất Bắc vạn năm phát tích, đầu thế kỉ 15 di cư Nam tiến lập nghiệp ở làng mới Mỹ Xuyên Tây.

Thăm thẳm móng hường in dấu, khai cơ lập thổ, công tài bồi xây dựng từ triều Lê.

Kì vĩ thay chân cứng đá mềm, trải bao phen phong ba bão táp, thương hải tang điền.

Nghĩ câu “Phúc đức vun trồng, cành lá sum suê nhờ cội cả / Nghĩa nhân gìn giữ, sông hồ dài rộng bởi nguồn sâu”.

Đây trời Nam một dải phân lưu, xây dựng nền nhân, sông Thu Thủy an vui lạc thổ.

Mỹ Xuyên cố quận đề vinh, giấy cũ mực xưa tàng thư viện ghi tên trường bác cổ. Bộ vàng ghi chép cũng đồng thời quý tộc Hậu hiền.

Khoa danh sự nghiệp đầy sân rực rỡ bóng vương hòe. Phú quý phong lưu, trước cửa sum vầy cây tạ thọ.

Miếu mộ trang nghiêm tế tự huy hoàng trong thế phổ. Cửa Thánh hiền rực vẻ hiếu trung, nghề thầy thợ rành tay mực thước.

Mở tiểu sử Tiên linh ôn lại, lập công lập đức đất Xuyên Tây vằng vặc để muôn đời.

Đem Tông đồ phổ hệ soi chung, phái Nhất, phái Nhì, phái Ba, phái Tư, dấu lộ quốc y hy tên Liệt Tổ. Chín suối tuy rằng xa cách, mảnh âm dương tưởng tượng chốn canh tường.

Dù Quảng Huế, Phú Ninh, Đà Nẵng, Đồng Nai, Hà Nội, Sài Gòn, Á, Âu, Mỹ, Úc… cũng chung cùng Quê Cha Đất Tổ Trần Văn Tộc làng Mỹ Xuyên Tây.

Nhớ chữ “Hải đức sơn công”, “Đức Tổ khai cơ lưu hậu thế”, hậu sinh một dạ kính thành dốc lòng báo bổ, “nền xưa tái tạo niệm Tiền Nhân”.

Tám góc mái vút cao ! Long Lân Quy Phụng đủ đầy !Nghi môn/ Hương Đỉnh/ Sư Rồng Gia Huy/ Long Mã/ Bình Phong/ Khóm Thờ/Miếu Thần/ Cửa Gõ/ Ngói Hài

Hôm nay tiết thuộc Xuân thiên, nhằm mùng Hai tháng Hai Ất Mùi kim niên, Gia Tộc dụng nghi Tam Tuần trang nghiêm Tế lễ Khánh thành, kính cẩn dâng lên Tổ Tiên ngôi từ đường mới Uy Nghiêm, Ấm Mát :

Thư Họa/ Đá Mài/ Câu Đối/ Hoành Phi

Kính dâng lên Tiên linh hương đăng trà tửu, sanh tư bàn soạn, lễ mọn lòng thành, gợi nhớ thâm ân chín chữ cù lao, khai cơ truyền kế.

Khắc ghi câu : “Khuyên dặn cháu con, nền móng tốt tươi, không chuyển đổi / Chí xưa thành tựu, rạng ngời thế đức, mãi thơm danh”

Tâm niệm : “Trên : không phụ ơn khai cơ của Tiên Tổ” / Dưới: nêu gương cho con cháu noi theo” ; “Tổ củng tôn bồi” truyền thống “Trung hậu, Hiếu học”.

“Vầng nhật nguyệt mười phương rạng rỡĐức Tổ Tông muôn thưở sáng ngờiNgẩng trông: phúc ấm nối đờiTế thần, Thần tại về nơi Từ đườngĐể con cháu lửa hương phụng sựNghìn năm sau : Xuân Tự, Thu Thường”Phục duy cẩn cáo./. (Người viết : Trần Văn Hảo)Ghi chú : a) Phần “Kính thưa” và phần “Hậu ngữ Nho” thì dựa theo nội dung đĩa ghi âm khánh thành Nhà thờ Tộc ta năm 1992 ; còn phần “Hậu ngữ Nôm” thì có cổ có tân cho phù hợp ngôi từ đường mới xây lại năm 2014 và khánh thành tháng 3/2015b) Văn thư TVH sẽ viết một số câu “Hỏi – Đáp (Phần 3)” về thể thức, nội dung và ý nghĩa một số từ ngữ trong bài văn tế như trên.

Ngưỡng mong Tổ Tiên hiển linh chứng giám tâm thành. Trăm lạy kính xin gia hộ cho chú bác, anh em, nội ngoại cháu con ở mọi miền được an khương, thành đạt.

【#7】Lễ Giao Thừa, Cách Bày Lễ Và Văn Sớ Khấn Nguyện

Lễ là để tạo ra sự chân thành sâu lắng cần cho việc sửa mình. Sửa mình là để giao tiếp với người thành công. Và giao tiếp được với người trong lễ mới sửa được người thuận với mình.

Nhưng nay, lễ là một giá trị rất lớn trong sinh hoạt văn hóa của người Việt chỉ còn lại là sự tùy tiện, ai hiểu sao thì làm vậy. Và tai hại hơn hết, gần đây vì sự quay lại với lễ, với đức tin vào đời sống tín ngưỡng, sự nổi lên của một bộ phận các thầy gọi là phong thủy, càng làm biến dạng một cách đáng báo động về đời sống tín ngưỡng của người dân.

Từ những năm tháng bỏ đi, từ những tháng ngày quên lãng, từ những nhận thức ấu trỉ về lễ về tín ngưỡng và tôn giáo một thời đến khi trở lại, dựng lại niềm tin đã mất chúng ta đã xây nó trên một cái nền – của các bà già truyền miệng. Tai hại là ở đó truyền đi.

Chúng tôi chưa có thời gian chuyên sâu, nhưng xin góp một phần rất nhỏ, từ hiểu biết của mình, xin gởi đến quý vị bài viết này để quý vị nắm được phần nào về lễ giao thừa, cách bày lễ và văn sớ khấn nguyện. Hy vọng bước vào năm mới chúng tôi đi sâu hơn về vấn đề này để cống hiến cho quý vị một cái nhìn toàn cảnh và hiểu biết chính xác về lễ Tết.

Phần I: Cách bày mâm cỗ giao thừa Cách bày bàn lễ

Đây là cách đúng khi thiết một mâm lễ, đó là bao giờ cũng phải có ban thượng và ban hạ. Ban thượng dành cho Thần linh, vị Thần chính trong lễ mình muốn cúng. Ban hạ là những tùy tùng bộ hạ của vị thần đó.

Có thể để một cái bàn lớn trong nhà thường dùng, đặt lên đó một cái mâm nhôm hoặc mâm đồng kê dưới 3 cái chén làm chân, thế là chúng ta có một ban thượng. Những thứ đặt trên bàn, dưới và quanh cái mâm là ban hạ.

Nơi đặt bàn lễ

Tục xưa của cha ông chúng ta, Tết đến, cúng giao thừa chính là cúng lễ “tống cựu nghinh tân”.

Người Việt quan niệm đất có Thổ Công, sông có Hà Bá. Nhất nhất vạn vật đều có chủ, nghĩa là có một vị thần cai quản, làm chủ. Vận hành năm tháng bốn mùa cũng có vị thần. Vì vậy mâm lễ phải đặt ngay trước thềm hiên nhà, ngay chính giữa và mặt xây ra ngoài trời.

Cách bày lễ vật.

Lễ vật của giây phút giao thừa tuyệt đối không được dùng lễ mặn. Chúng ta muốn trời đất giao hòa, chúng ta muốn có vượng khí, chúng ta muốn có sự linh diệu cát tường, thì phải tránh ngay chuyện máu thịt động vật tế lễ.

Thứ nhất, ở nơi đâu có máu xương loài vật và sự chết chóc thì chỉ hấp dẫn ác quỷ và hung thần nhiễu hại. Hãy nhớ điều đó.

Thứ hai, giờ khắc trời đất chuyển giao, là thời khắc thuộc về thanh khí. Đó là lúc năng lượng của khí đang đi lên -hướng thượng, rất tốt để hấp dẫn điều cát tường như ý. Bụt Thích Ca Mâu Ni cũng trong khoảng thời khắc khi sự chuyển giao đã lên đến điểm cân bằng, đó là lúc sao mai vừa lộ mà đạt đến trạng thái giác ngộ. Giữa nhân gian có trược khí và thanh khí, có chiều hướng thượng và hướng hạ. Vì vậy lễ vật là tuyệt đối thanh khiết.

Thứ ba, ai cũng biết câu chuyện cây nêu. Trong câu chuyện cây nêu nói lên việc quỷ ăn rau củ. Và người Việt nhờ Bụt mới đuổi được quỷ ra biển Đông. Và dưới sự van xin của quỷ, con người có thương lượng với quỷ một năm chỉ cho phép quỷ được trở lại vào dịp tết để thăm viếng, nhưng nhìn thấy nơi nào có dấu hiệu cây nêu thì không được đặt chân đến phá hoại.

Ban thượng gồm có 1 đĩa trái cây (5 loại có 5 màu, trái cây gần gũi với vườn quê Việt), 1 đĩa hoa, 3 đĩa chè 2 đĩa xôi loại nhỏ, 2 cốc nước trong, 2 cốc, rót rượu và trà. 1 đĩa cau trầu. 12 ngọn nến nhỏ (nến để trong cái cốc để không bị gió thổi tắt). 1 cốc để gạo dùng làm bát hương thắp. Hương 3 nén, 5 nén, 12 nén hoặc 18 nén.

Ban hạ cũng gồm như trên, có thêm 2 đĩa muối gạo, thêm bánh trái và hoa quả nhiều hơn. Đây là mâm cho những vị tùy tùng bộ hạ của thần linh.

Tất cả là tùy thuộc ở tấm lòng thành và tùy nghi không gian nhà mình. Chỉ có một ban. Nhưng nhớ để cao, không được để trên 1 cái ghế thấp sơ sài quá.

Lễ gồm 1 khay lớn để nải chuối và 5 loại hoa quả trên đó đặt chính giữa. 1 đĩa hoa, 1 đĩa quả, 1 cốc nước trong, 1 cốc rượu, 3 chén chè 2 đĩa xôi, thêm bánh kẹo tùy ý, 1 cốc gạo thay làm bát hương. 12 ngọn nến, 1 đĩa cau trầu. Có thể cắm hương vào trên mâm quả, hoặc xông trầm thơm.

Phần II: Sớ âm hán

“Sớ tống cựu nghinh tân lễ”

Phục dĩ:

Tuần hành tam giới, chức chưởng vạn bang.

Sơ niên giao hội chi kỳ – tống cựu nghinh tân chi lễ.

Sớ vị:

Việt Nam Quốc, Quảng Trị tỉnh, …… huyện, ………. xã, ……… thôn.

Kim tín chủ:

…………………….

…………………….

Ngôn niệm:

Sanh cư trung giới, mạng hệ thượng thiên.

Hà càn khôn – phú tải chi ân,

Cảm oai quang – phò trì chi đức.

Tư giả – bổn nguyệt cát nhật,

Nãi Thánh thần – giao hội chi kỳ

Y đệ tử – lễ cầu chi nhật.

Kim tắc, cẩn cụ sớ văn, hòa nam bái tấu:

Nhất tâm phụng thỉnh:

Cựu Bính Thân niên, Đương niên Hành Khiến, Hành binh chi thần, tùy tùng phán quan, Quỹ vương sứ giả!

Tân Đinh Dậu niên, Đương niên Hành Khiến, Hành binh chi thần, tùy tùng phán quan, Quỹ vương sứ giả! Nhất thiết oai linh đồng thùy chiếu giám!

Phục nguyện:

Đông tàn tống cựu,

Xuân chí nghinh tân.

Kiêm chủ tể, thống trị chư bang, quyền tri họa phước.

Thừa xa giá, tùng hành tam giới, chức trưởng vạn niên.

Lâm ngự diêu linh,

Tường vân thoại khí.

Nguyện hâm hưởng – phước thọ khương ninh.

Bảo trai chủ – vĩnh ưng xương thạnh.

Tứ thời lợi lạc, an cường bát tiết, phong dinh đại nẫm.

Cẩn sớ!

Phần III: Sớ dịch nghĩa

Văn Sớ

“Lễ Tống Cựu Nghinh Tân”

Phục dĩ (1)

Tuần hành ba cõi, cai quản nhân gian,

Gặp lúc, đầu năm giao hộị

Thiết lễ, tống cựu nghinh tân!

Sớ tâu:

Nay ở,

Nước Việt Nam, tại thôn …………, xã ……………., huyện ………………, tỉnh ……………….,

Gia cư phụng Phật, Thánh – Thần Tổ – Tiên, dâng lên hương hoa, trà quả đèn nến, thực phẩm cúng dường.

Tín chủ chúng con:

Tên họ………………….. chúng tôi năm………………..

Cùng vợ: chúng tôi năm………………..

Và các con: chúng tôi năm………………..

…………………..

Thiết nghĩ!

Thân sống dương gian,

Mệnh thuộc thiên giới. (2)

Thuận càn khôn, hưởng ân che chở – Cảm oai quang, nhờ đức phò trì.

Gặp lúc Thánh Thần giao hội

Nhân thế Đệ tử lễ cầu

Nay có sớ văn, kính cẩn dâng lên, cùng nhau bái trình:

PHỤNG THỈNH CUNG TIỂN:

Đức Thánh Hành Khiển năm cũ Bính Thân, vị Thần Hành binh, các vị Phán quan tùy tùng, cùng những Sứ giả làm Quỷ vương hộ giá!

PHỤNG THỈNH CUNG NGHINH:

Đức Thánh Đương niên Hành Khiến năm mới Đinh Dậu, vị Thần Hành binh, các vị Phán quan tùy tùng, cùng những Sứ giả làm Quỷ vương hộ giá!(3)

LẠI NGUYỆN:

Đông qua tống cựu

Xuân đến nghinh tân

Thay mặt Chủ tể, thống trị toàn cầu, biết rõ họa phúc

Thừa hành xa giá, theo khắp ba cõi, đứng đầu vạn năm

Đem đến điều lành

Gieo truyền khí tốt

Nguyện nhận trọn phúc thọ khương ninh

Mong luôn hưởng hưng thịnh, thái bình

Bốn mùa lợi lạc, quanh năm may mắn, Vạn sự hanh thông, công việc thuận tiến.

Cúi đầu cân sớ!

Phần IV: Văn khấn giao thừa trước tổ tiên và tam bảo

Ngưỡng nguyện: Phật pháp tăng tam bảo có mặt khắp mười phương thương tưởng chứng giám!

Ngưỡng nguyện: Việt Nam vạn cổ anh linh, hồn thiêng sông núi, tiên hiền liệt thánh, minh quân đế chúa, văn quan võ tướng, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, có công đóng góp, khai canh lập ấp, dựng làng mở nước, trải dài 5000 năm lịch sử bách tính anh linh chứng giám!

Ngưỡng nguyện: Hết thảy chư vị thiện thần khắp hết nhân gian hộ vệ những người làm lành chứng giám!

Nay đúng thời khắc giao thừa thiêng liêng, tiển năm, đón năm mớ cũ Đinh Dậu, đón năm mới, chúng con kính cẩn dâng lễ lên Tam Bảo, dâng lên Hồn Thiêng sông Núi Anh Linh dân Tộc, dâng lên chư vị Tôn Thần, dâng lên Tổ Tiên, xin chứng nhận mà độ trì ban ơn che chở!

Kính Nghe!

Tự thủa Vua Hùng

Dựng nước Văn Lang

Rạng danh Lạc Việt

Đạo Thờ Tổ Tiên

Truyền đến hôm nay

Năm ngàn năm qua

Văn minh nòi giống

Tứ đó khơi dòng

Là người con Việt

Là người có Đạo

Con nguyện tri ân

Lễ kính cúng dường

Trước dâng lên Bụt

Các bậc sư tổ

Đã đem đạo vàng

Truyền vào nước con

Đời đời nối nhau

Hơn hai ngàn năm

Phát huy sự nghiệp

Giúp nước giúp dân

Kế đến là ơn

Tiên hiền liệt thánh

Chư vị tôn thần

Anh minh che chở

Trước khói hương thơm

Không quên nhớ ơn

Anh hùng liệt nữ

Vị nước quên mình

Con nguyện ghi ơn

Tiên Tổ nội ngoại

Ông bà cha mẹ

Nhiều đời quá vãng

Giờ phút thiêng liêng

Cung Nghinh Tân Xuân

Đinh Dậu Minh Niên

Thiết lễ cúng dường

Dâng Phật Thánh Thần

Hồn thiêng sông núi

Anh linh dân tộc

Bách tính Đại Việt

Nghinh xuân đoàn tụ

Con cháu lạc hồng

Uống nước nhớ nguồn

Tận hiếu tận trung

Trước án hương thiêng

Cúi đầu kính lễ

Nguyện xin chứng giám

Độ trì ban ơn!

(Lời khấn lễ Tống Cựu Nghinh Tân)

Nay giờ khắc thiêng liêng

Phút giao thừa mầu nhiệm

Con thành tâm thiết lễ

Lễ tống cựu nghinh tân

Nguyện khói hương thơm này

Cùng ánh nến rực sáng

Và hoa quả phẩm vật

Từ lòng con thanh tịnh

Dâng lên cúng Thiện thần

Đức Hành Khiến năm cũ

Đức Hành Khiến năm mới

Bính Thân và Đinh Dậu

Cúng các vị Hành binh

Các Phán quan thùy tùng

Chư quỷ vương sứ giả

Có mặt cùng thọ hưởng

Xin chứng cho lòng con

Mà nhận lễ phẩm này.

Chúng con ở nơi đây

Tại số nhà………….

Giờ phút này quý báu

Lòng biết ơn tràn dân

Không quên niềm thương tưởng

Nhớ ân đức cao dày

Của tiên hiền liệt thánh

Bậc Quân chủ, khanh tướng

Người trí dũng anh tài

Và muôn vạn con dân

Của non sông Đất Việt

Đã vì nước quên mình

Gìn giữ vững biên cương

Từ đất liền, hải đảo

Móng Cái đến Cà Mau

Để vẹn nòi Rồng Tiên

Để chung giống Lạc Hồng

Trọn nên nghĩa Đồng Bào

Đạo đức và truyền thống

Hiếu nghĩa và yêu thương.

Hương hoa quả nến đèn

Tâm thành lời khấn nguyện

Xin chứng giám tấc lòng

Mà độ trì ban ơn

Cho gia đình dòng họ

Cho thế hệ tương lai

Hưởng no ấm thanh bình

Được hanh thông công việc

Đạt thành trong ý nguyện.

Con nguyện luôn nỗ lực

Nâng cao tầm hiểu biết

Thực hành các việc thiện

Mở rộng lòng yêu thương

Chung tay góp sức mình

Tạo an lạc hạnh phúc

Cho con và tất cả.

Cúi đầu trước chư vị

Tri ân và kính lễ!

Chú ý:

Với lá sớ trên quý vị chỉ nên: một là đọc bằng âm Hán, hai là chỉ đọc bằng âm Việt đã được dịch. Đó là lá sớ cúng lễ tống cựu nghinh tân. Hai bài văn khấn sau một bài trước ban thờ Tổ tiên trong giờ phút giao thừa. Một bài cúng trước án hương lễ tống cựu nghinh tân. Chúng tôi chỉ dùng là Đương Niên Hành Khiến trước khi chứng minh được nguồn gốc vì sao xưa nay các văn sở dùng tên các vị mà chúng ta cho là ngườ Trung Hoa. Trong tiến Hán, viết là Khiển, nhưng phải đọc là Khiến.

Kính chúc quý vị một năm mới an khang – hạnh phúc!

Bạn đang đọc bài viết Lễ giao thừa, cách bày lễ và văn sớ khấn nguyện tại chuyên mục Phong thủy ứng dụng của Tạp chí Bất động sản Việt Nam. Mọi thông tin góp ý và chia sẻ, xin vui lòng gửi về hòm thư [email protected]

【#8】Bài Văn Khấn Rút Chân Hương Bàn Thờ Chuẩn Nhất, Thần Tài Ưng Ý Ban Tiền Tài Vàng Bạc Cho Gia Chủ

Dân gian xưa có quan niệm rằng chân hương trong bát càng nhiều, xếp chồng lên nhau tầng tầng lớp lớp thì gia đình càng có nhiều phúc lộc, may mắn. Nhưng theo ông Vũ Thế Khanh ((Tổng Giám đốc Liên hiệp khoa học Công nghệ và tin học ứng dụng UIA) cho rằng quan niệm trên chỉ là suy đoán, không hề có căn cứ.

Theo ông Khanh thì việc tỉa chân hương là một trong những việc quan trọng nhất trong khâu dọn dẹp bàn thờ. Cũng theo ông thì việc để bát hương quá đầy không chỉ khiến bát hương bị rác, bàn thờ bụi bẩn mà còn tiềm ẩn nguy cơ hỏa hoạn cao.

Ai là người bao sái bát hương, ban thờ?

Người bao sái ban thờ nên chọn người chỉn chu, thành tâm trong việc thờ cúng để thực hiện công việc này vì việc bao sái bàn thờ, tỉa chân hương đòi hỏi sự tỉ mỉ, sạch sẽ và thành kính.

Trước khi bao sái, người này cần tắm gội chay sạch, ăn mặc chỉn chu và thắp hương xin phép gia thần, gia tiên. Mỗi gia đình nên chuẩn bị một chiếc bàn bên trên trải vải đỏ, hoặc giấy đỏ để đặt bài vị. Nếu bàn thờ có đặt chung bài vị gia tiên với các thần thì gia chủ cần phải để ra hai chỗ khác nhau để tránh bị lẫn lộn. Đợi hương tàn hãy bắt đầu công việc.

Cách sắm lễ bao sái xin tỉa chân hương

– 1 đĩa xôi

– 1 miếng thịt luộc

– 1 đĩa hoa trái theo mùa

– 1 ấm trà và bộ 5 chén nhỏ

– 3 chén rượu nhỏ

– 1 tách nước sôi để nguội

– 3 lễ tiền vàng

– 2 lọ hoa

Ðầu tiên gia chủ thắp hương bái cúng thổ công, gia tiên xin bao sái bát hương.

Văn khấn trước khi rút chân hương Nam Mô A Di Ðà Phật! Nam Mô A Di Ðà Phật! Nam Mô A Di Ðà Phật! Tín chủ tên là…………………………………………………………………….. Cư ngụ tại địa chỉ:………………………………………………………………………….. Hôm nay ngày….. tháng…… nam tín chủ con tự xét thấy bản thân mình để hương án có chút bụi bẩn, có chút chưa được tịnh tịnh, xanh yên. Tín chủ xin kính cáo với các chư Vị (tùy theo bàn thờ có thờ thần linh, hộ pháp, hay gia tiên…), chọn được ngày lành tháng tốt hôm nay xin cho phép tín chủ được sái tịnh để cho bàn thờ được trang nghiêm thanh tịnh, kính mong các chư vị chứng minh và gia hộ. Mong các vị tạm ẩn tạm lánh, độ cho cho con lau dọn được khang trang mỹ hảo, cho hương án được an chính vị, cho âm phần được an yên, cho gia cư được lạc thổ. Cho cũng tài không động, cũng lộc không hao. Chúng con người trần mắt thịt, tội lỗi đầy thân, chỉ biết kính cẩn tâm thành nếu có gì si mê lầm lỡ kính xin được tha thứ bỏ quá đại xá cho.

Xong vái 3 vái, cắm 3 nén hương, đợi hương tàn rồi bắt đầu lau dọn.

Văn khấn sau khi rút chân hương

Bài khấn xin thỉnh các Vị các Ngài về (sau khi lau dọn xong). Sắp xếp đồ cúng đã chuẩn bị lên.

Thắp 9 nén hương khấn:

Con lạy 9 phương trời Con lạy 10 phương đất Con kính lạy chư Phật 10 phương Con kính lạy 10 phương chư Phật Con kính lạy quan đương niên, đương cảnh, quan hành khiển, thần binh. Con kính lạy các Ngài ngũ phương, ngũ mạch, tài thần, táo quân. Tín chủ con là:…………………………………………….. Hôm nay tân niên xuân tiết, ngày lành tháng tốt. Con chọn được thời hoan khắc hỉ để sái tịnh lại hương án. Nay việc đương đã tròn, cũng thỉnh các vị các ngài hồi vị hương án cho con được tiếp tục phát tâm thờ phụng cốt vị. Nam cư lộc tài con xin tạ Nam mới lộc mới con mong cầu. Xin các vị các ngài độ cho tấm lòng thành, phù cho gia chủ con được an bình, thuận lợi. Xuất hành đi đến nơi về đến chốn. Cuộc sống duyên lành mang tới, duyên dữ mang di. Tài lộc đủ đầy, việc đương thăng tiến. Tâm trần con có. Lễ trần con dâng. Nếu âm điều con có thiếu sót, kính xin được tha thứ, chở che. Mong các vị các ngài linh thiêng giáng hạ, chúng con xin kính thành cẩn cáo. Nam Mô A Di Ðà Phật! Nam Mô A Di Ðà Phật! Nam Mô A Di Ðà Phật! Thông tin trong bài chỉ mang tính tham khảo!

【#9】Văn Khấn Về Mộ Mới Khi Sang Cát, Cải Táng Đầy Đủ Nhất

Sang cát, cải táng là gì?

  • Sang cát là xây cho người mất một ngôi nhà mới.
  • Cải táng là việc đào quan tài lên cho xương người mất vào một cái tiểu mới, đẹp hơn rồi chôn xuống một nơi khác xây cho người đã khuất một ngôi nhà mới, xinh đẹp hơn.

Một đời người khi từ trần để về với Ông Bà, mấy chục năm người ta sống trong căn nhà …biệt thự…..so với thiên thu an nghỉ dưới phần Mộ thì chỉ là một khoảng thời gian quá ngắn ngủi. Người ta có thể có nhiều tài sản, nhà cửa, đất đai v.v nhưng khi mất đi chỉ có mấy mét vuông đất để nắm xương mà thôi, chẳng những thế mà nhà cửa, biệt thự đất cát là của phù du có thể sang nhượng, đổi chác, mua bán chứ phần Mồ, Mả, Lăng mộ của ông bà thì vĩnh viễn không thay đổi được. và người đang sống cũng chịu nhiều ảnh hưởng bởi mồ mả ông bà tổ tiên và người đã khuất.

Nơi an nghỉ cuối cùng là nơi tối quan trọng cho người đã khuất và người đang sống, chính vì như thế nên đã cải táng thì ta hết sức phải cân nhắc chuẩn bị kỹ lưỡng.

Tại sao phải sang cát, cải táng, bốc mộ?

Xin trích một đoạn trong “Việt Nam Phong tục” của Phan Kế Bính: “… Cải táng có nhiều cớ. Một là vì nhà nghèo, khi cha mẹ mất, không tiền lo liệu, mua tạm một cỗ ván xấu, đợi xong ba năm thì cải táng, kẻo sợ ván hư nát thì hại đến di hài. Hai là vì chỗ đất mối kiến, nước lụt thì cải táng. Ba là vì, các nhà địa lý, thấy chỗ mả vô cớ mà sụt đất hoặc cây cối ở trên mả tự nhiên khô héo, hoặc trong nhà có kẻ dâm loạn điên cuồng, hoặc trong nhà đau ốm lửng củng, hoặc trong nhà có kẻ nghịch ngợm, sinh ra kiện tụng lôi thôi, thì cho là tại đất mà cải táng. Bốn là, những người muốn cầu công danh phú quý, nhờ thầy địa lý tìm chỗ cát địa mà cải táng. Lại có người thấy nhà khác phát đạt, đem mả nhà mình táng gần vào chỗ mả nhà kia, để cầu được hưởng dư huệ…”

Phong tục cải táng khởi nguồn từ thời Bắc thuộc khi quan lại và thương lái Trung Quốc chết tại Nam mà gia đình có nhu cầu đưa xương cốt về chính quốc. Về sau thành lệ và thành phong tục, cũng do yếu tố địa lý Đồng bằng Bắc Bộ phần nhiều là đất pha cát phù xa , khi chôn người chết xuống phần nhiều là tiêu hết thịt (thậm chí có chỗ đất còn hao cả xương nếu không cải táng thì chỉ còn đất) mà cát phù xa thì bẩn nên phải tắm rửa thay áo. Trong khi đó gỗ áo quan chôn trên đất tại Đồng Bằng Bắc Bộ nhanh hỏng và hay xập ván thiên bởi mùa lũ thì đầy nước, mà mùa cạn thì khô, mối lại hay tụ lại trên chỗ đất cao (mồ mả hay cao hơn ruộng) nên hay xông vào áo quan.

Nhưng nói chung lại, cải táng, sang cát, bốc mộ là một phong tục lâu đời, là thể hiện cái tâm của người sống với người thân đã khuất, an tâm với niềm tin… họ không bỏ người thân thối rữa trong đất ẩm, mà tặng họ một ngôi nhà mới đẹp đẽ, chắc chắn hơn. Bằng cách bốc mộ giải phóng linh hồn người thân khỏi mộ, người chết có thể biến đổi thành tổ tiên linh thiêng, linh hồn có thể phù hộ cho gia đình được an lành.

Xe thêm: Sang cát bốc mộ cần chuẩn bị những gì?

Khi nào thì sang cát, cải táng, bốc mộ?

Thường là 3 năm người mất đã hoàn toàn “sạch”, tuy nhiên do một số lý do tâm linh mà thời gian bốc mộ lui lại 5 đến 7 thậm chí nhiều gia đình đến 9 năm mới được.

Năm để tiến hành cải táng phải lựa chọn theo tuổi của vong, tránh những năm xung sát. Ngoài ra còn phải căn cứ theo tuổi của trưởng nam trong nhà, vì khi vong đã mất thì mọi sự may rủi đều gánh trên vai của người trưởng nam.

Thời gian tốt nhất trong năm để tiến hành cải táng là từ cuối Thu đến trước ngày Đông Chí của năm. Phải nhờ thầy phong thủy xem tuổi của vong và tuổi trưởng nam để tìm ngày tốt. Sau khi chọn được ngày bốc mộ, cũng phải chọn xem giờ bốc mộ, nhưng phải làm vào ban đêm hoặc sáng sớm, khi không có ánh sáng mặt trời, tránh cho xương cốt gặp ánh sáng mặt trời sẽ bị đen, bị hỏng.

SẮP LỄ CÚNG VỀ MỘ MỚI

  • 1 lễ mặn gồm xôi, rượu, thịt, hương, hoa quả, nước…. nhiều ít tùy tâm
  • 1 ít gạo muối: 7 gạo 3 muối, nhiều ít tùy tâm 1 ít tiền âm phủ

Đây là lễ bắt buộc, còn gia chủ muốn thêm gì có thể tùy nghi biện lễ… không bắt buộc

VĂN KHẤN SANG CÁT, CẢI TÁNG

( Chắp tay ngang ngực hoặc lễ 4 lễ)

Con nam mô a di Đà Phật.

Nam mô bổn sư Thích Ca mâu Ni Phật ( 2 lần)

Hôm nay ngày …..tháng… năm….

Tín chủ con tên là…. tuổi….

Đồng gia quyến là…. tuổi….

Ngụ tại….. Thôn… Xã ..huyện…. Tỉnh….

Kính cẩn tâu rằng:

Gia đình con vì có …. vong linh …., đại hạn lâm chung ngày….. Tháng…. Năm….

(Trước kia nương nhờ tại nghĩa trang: Bãi… Thôn… Xã… Huyện… Tỉnh… Đọc tên bãi an táng lúc trước khi chuyển về bãi này, nếu vẫn cùng một bãi thì không phải đọc dòng này)

Thành tâm tu thiết lễ nghi Hương hoa …..có thứ gì khấn thứ đó…

Về tại bãi ……thôn…. Xã…. Huyện…. Tỉnh…

Thành Tâm xin cho vong linh ( bố, mẹ, anh, chị…..) được nương nhờ các chư vị thần linh tại nơi đây

CON XIN CUNG THỈNH:

  • Thừa Thiên hiệu Pháp quang thái hậu …. Tổ thần
  • Thổ quang. Thổ Địa …….tổ thần
  • Địa kỳ Địa mạch …….tôn thần
  • Long mạch, Phong Thủy ….tôn thần
  • Nhị thập tứ Sơn….. tôn thần
  • Nhị thập tứ hướng….. tôn thần
  • Nhị thập bát hướng…. tôn thần
  • Ngũ phương thủ mộ…. tôn thần
  • Đạo lỗ thần quan….. tôn thần
  • Thần linh chúa đất….. tôn thần
  • Chu tước Huyền Vũ cai quản xứ….. tôn thần

Chư vị đẳng thần an vị tọa Chấp thủ lễ vật, từ bi gia hộ, độ cho phần mộ Chư chân linh gia tiên, tiền tổ nhà chúng con. Đội ơn các thần linh che chở, bảo hộ cho vong linh nhà chúng con được siêu sinh tịnh độ…… Con xin được đặt phần mộ vào…. Giờ… Ngày… Tháng… Năm

(Đến giờ thì hạ huyệt, nếu hạ huyệt trước, cúng tạ sau thì không cần đọc chỗ xin hạ huyệt. Nếu tiến mã, quần áo…. đồ dùng cho vong linh các cụ gia tiên khác thì phải khấn thêm….và nên có lễ riêng cho vong linh các cụ )

Khấn thêm:

Sau khi khấn xong, châm 3 nén hương, chỉ vào chỗ quần áo muốn tiến cho vong linh, đọc câu thần chú:

Mục liên tôn giả đại từ bi

Tào tác trung nguyên huyết bổn trì

Thành kính mục Liên lai chứng giám

Vũ Lâm sứ giả trưởng minh y

Thiêu chỉ thành khôi, ôi thành sắc

Hỏa quang tam muội biến tùy nghi

Cấp phó cho các vong linh….. Lai dung thụ

Vô Danh ngoại quỷ khước trừ chi

……

Đọc tiếp:

Thanh chỉ biến vi thanh y

Bạch chỉ biến vi bạch y

Hồng chỉ biến vi hồng y

Hắc chỉ biến vi hắc y

Hoàng chỉ biến vi Hoàng y

Kim Ngân Tài mã lai hình xa hạ…

Đọc tiếp

ÁN PHẠ NHẬT HOA MINH KHÔNG ( 3 lần)

********************

Chú ý khi tầm long địa huyệt, chọn đất bốc mộ, cải táng

Khi xem thế đất, phong thuỷ tốt thật ra mọi người đều không nhớ một điều rằng: ” Tiên tích Phúc – Hậu tầm Long “, nhà không có phúc thì kể cả đến cụ Tả Ao hay Cao Biền, Lưu Bá Ôn có sống dậy cũng đành chịu chết, không thể giúp gì được.

Khi táng di hài Tổ tiên, chắc người ta phải chọn Địa huyệt thật tốt mà an táng, song song với việc trên, người tại tiền phải nỗ lực tu dưỡng thân, tâm cầu lấy gốc rễ của Đạo. Nếu chỉ chú trọng quan sát hình thể Địa Huyệt,sẽ cho kết quả trái ngược, làm tổn hại đến con cháu đời sau.

Nếu như có Nhân, tất phải có Quả; nhưng Nhân -Quả thiện ác tùy vào Tâm khi chiêu lấy họa phúc.

Một việc rất quan trọng là phải cân được phúc đức của dòng họ người cải táng. Phúc phận của dòng họ đó như thế nào phải đặt vào khu Địa Huyệt có năng lượng tương đồng mới có kết quả. Không phải cứ thấy con Long to mà ham đặt huyệt mộ dòng họ vào đó, bởi nhiều khi không hợp hoặc không tụ đủ Phúc mà lợi bất cập hại.

Không vì khu đất kết Huyệt quá to, quá mạnh, quá nhiều đời mà đặt vào khi phúc phận của dòng họ chưa đủ. Việc đó giống như ta đặt cái quạt máy sử dụng điện 110v vào mạch điện 220v, lúc đó cái quạt sẽ bị cháy rụi.

Thông thường những gia đình bình thường về phúc phận chỉ cần một con giun cũng đủ cho một cuộc sống bình an, ổn định, đâu có cần tới những con Long, những Huyệt kết đắc địa. Những Huyệt lớn chỉ sử dụng cho những vị, những dòng họ đã đủ phước báu do Thiên định mà thôi.

Những việc Tầm Long Địa Huyệt còn phải hội thêm phần cảm ứng tức là Thiên Đạo (Đạo Trời ); sự ứng nghiệm của việc hành thiện lập âm chất, tạo nhân quả tốt.

Tục ngữ có câu :”Âm địa tốt không bằng Tâm địa tốt “. Do vậy, tìm kiếm chọn lọc được Địa mạch Huyệt vị, Phong Thủy Sư và mọi thành viên trong dòng họ phải tích đức hành thiện làm căn bản. Nếu kẻ nào có phẩm chất cao thượng, thì ắt Thiên cơ sẽ ứng, Địa cơ theo đó mà tăng thêm sự tốt lành cho con cháu đời sau hưởng Phúc. Bởi Tâm địa thiện lương thì tương ứng với Địa mạch cát lợi, vận Trời ứng cho chứ chẳng phải chủ quan tâm về hình thức mà quên đi nội dung, cứ tưởng rằng tầm được Long huyệt rồi con cháu đời sau sẽ được hưởng Phúc.

Cái gốc chúng ta chẳng lo mà lại đi lo cái ngọn, rõ là ta chẳng biết gì cả.

Nếu như các Phong Thủy Sư họ tài giỏi như thế thì ắt họ phải giành những huyệt Đế vương, Công Hầu, Khanh tướng cho con cháu họ chứ dại gì mà họ chỉ cho ai ?

Tamlinh.org (Tổng hợp)

【#10】Bài Khấn Ở Chùa Phúc Khánh

Bài Khấn ở Chùa Phúc Khánh, Mau Thiep Moi Le Khanh Thanh Chua, Mẫu Giấy Mời Khánh Thành Chùa, Bài Khấn Lễ Chùa, Bài Khấn Đi Chùa Yên Tử, Văn Khấn Chùa, Văn Khấn Lễ Chùa, Văn Khấn Khi Đi Chùa Hà, Bài Khấn Chùa Hoa Yên, Khân Tai Chua Yen Tử, Văn Khấn Đi Chùa, Bài Khấn Vào Chùa, Bài Khấn Đi Đền Chùa, Văn Khấn Bà Chúa Kho, Bài Khấn Đi Chùa, Bài Khấn Đi Chùa Đầu Năm, Bài Khấn Chùa, Bài Khấn Nôm Khi Đi Chùa, Văn Khấn Khi Đi Chùa, Văn Khấn ở Chùa, Bài Khấn Xin Sửa Chữa Nhà, Bài Khấn Khi Đi Chùa, Văn Khấn Chùa Hà, Bài Khấn Chùa Yên Tử, Bài Khấn Khi Vào Chùa, Bài Văn Khấn Chùa Yên Tử, Bài Khấn Bà Chúa Kho, Bài Khấn ở Chùa, Bài Khấn Đền Bà Chúa Kho, Văn Khấn Chùa Yên Tử, Kế Hoạch Khắc Phục Sua Chữa, Cách Viết Sớ Phúc Thọ Đi Chùa, Khấn Chùa Đồng Yên Tử, Khấn Tại Chùa Đồng Yên Tử, Bài Khấn Đền Bà Chúa Thác Bờ, Bài Khấn Đi Chùa Hương, Bài Khấn Khi Đi Chùa Hương, Bài Khấn ở Chùa Đồng Yên Tử, Bài Khấn Bà Chúa Thác Bờ, Bài Khấn Vay Tiền Bà Chúa Kho, Bài Khấn Chúa Thác Bờ , Văn Khấn Chùa Đồng Yên Tử, Bài Khấn Tại Chùa Đồng Yên Tử, Bài Khấn Phật Khi Đi Chùa, Bài Khấn Chùa Đồng Yên Tử, Văn Khấn Tại Chùa Đồng Yên Tử, Văn Khấn Chùa Đồng, Ke Hoach Khac Phuc Sua Chua Ca Nhan 2021, Bài Khấn Đền Trình Chùa Hương, Kế Hoạch Khắc Phục Sữa Chữa Khuyết Điểm Của Bch Hội Phụ Nữ 2021, Ke Hoach Khac Phuc Sua Chua Khuyet Diem Ca Nhan, Đơn Xin Nghỉ Việc Đi Khán Chữa Bệnh, Những Khó Khăn Tâm Lý Của Học Sinh Đầu Tiểu Học ( Lớp 1 ) Và Biện Pháp Khắc Phục, Ke Hoach Khac Phuc Sua Chua Han Che Khuyet Diem Ca Nhan 2021, Bản Đăng Ký Tâm Guuong Đao Duc Sửa Chữa, Khắc Phục Khuyết Điểm Theo Nqtw 4, Bản Đăng Ký Sửa Chữa Khắc Phục Khuyết Điểm Theo Nqtw 4 (khóa Xii), Don Xac Nhan Song Chung Nhu Vo Chong .khi Chua Dang Ky Ket Hon De Duoc Gham Nui Nha Hanh Phuc, Mau Thu Moi Khanh Nha Tho Ho, Công Văn Khánh Hòa, Văn Tế Khánh Thành Nhà Thờ Tổ, Báo Cáo Thực Tế Khánh Hòa, Văn Tế Khánh Thành Nhà Thờ Họ, Hà Nam Khánh Giao, Xà Đơn Khánh Trình, Đơn Giá 84 Tỉnh Khánh Hòa, Võ Khánh Linh, Võ Khánh Vinh, Sở Kế Hoạch Đầu Tư Khánh Hòa, Khánh Đơn 2013, Khánh Đơn 2014, Giấy Mời Dự Lễ Khánh Thành, Mẫu Giấy Mời Khánh Thành Nhà Thờ Tộc, Giấy Mời Dự Lễ Khánh Thành Nhà Thờ Họ, Giấy Mời Dự Lễ Khánh Thành Câu, Giấy Mời Dự Lễ Khánh Thành Nhà Văn Hóa, Giay Moi Khanh Thanh, Báo Cáo Tài Chính Công Ty Yến Sào Khánh Hòa, Hiệp ước Trùng Khánh, Giấy Mời Khánh Thành Nhà Thờ, Đề Thi Minh Họa 2021 Khánh Hòa, Khanh Thanh Nha Van Hoa Thon, Điểm Thi Ielts Của Khánh Vy, Mẫu Giấy Mời Khánh Thành Nhà Thờ Họ, Quốc Khánh 2/9/2017, Mẫu Giấy Mời Dự Lễ Khánh Thành, Thủ Tục Hành Chính Khánh Hòa, Thư Mời Khánh Thành Lăng Mộ, Mục Sư Huỳnh Quốc Khánh, Mẫu Giấy Mời Dự Lễ Khánh Thành Nhà Thờ Họ, Mau Giay Moi Khanh Thanh Nha Van Hoa Au , Mẫu Giấy Mời Khánh Thành Nhà Văn Hóa, Mẫu Giấy Mời Khánh Thành, Thiep Moi Le Khanh Thanh, Mẫu Giấy Mời Khánh Thành Nhà Văn Hóa Thôn, Thiệp Mời Khánh Thành Lăng Mộ, Mẫu Giấy Mời Khánh Thành Lăng Mộ, Mau Giày Moi Khanh Thanh Tru So Lam Viec, Giay Moi Khanh Thanh Lang Mo, Công Ty Tnhh Việt Đức Khánh Hòa, Danh Bạ Điện Thoại Khánh Hòa,

Bài Khấn ở Chùa Phúc Khánh, Mau Thiep Moi Le Khanh Thanh Chua, Mẫu Giấy Mời Khánh Thành Chùa, Bài Khấn Lễ Chùa, Bài Khấn Đi Chùa Yên Tử, Văn Khấn Chùa, Văn Khấn Lễ Chùa, Văn Khấn Khi Đi Chùa Hà, Bài Khấn Chùa Hoa Yên, Khân Tai Chua Yen Tử, Văn Khấn Đi Chùa, Bài Khấn Vào Chùa, Bài Khấn Đi Đền Chùa, Văn Khấn Bà Chúa Kho, Bài Khấn Đi Chùa, Bài Khấn Đi Chùa Đầu Năm, Bài Khấn Chùa, Bài Khấn Nôm Khi Đi Chùa, Văn Khấn Khi Đi Chùa, Văn Khấn ở Chùa, Bài Khấn Xin Sửa Chữa Nhà, Bài Khấn Khi Đi Chùa, Văn Khấn Chùa Hà, Bài Khấn Chùa Yên Tử, Bài Khấn Khi Vào Chùa, Bài Văn Khấn Chùa Yên Tử, Bài Khấn Bà Chúa Kho, Bài Khấn ở Chùa, Bài Khấn Đền Bà Chúa Kho, Văn Khấn Chùa Yên Tử, Kế Hoạch Khắc Phục Sua Chữa, Cách Viết Sớ Phúc Thọ Đi Chùa, Khấn Chùa Đồng Yên Tử, Khấn Tại Chùa Đồng Yên Tử, Bài Khấn Đền Bà Chúa Thác Bờ, Bài Khấn Đi Chùa Hương, Bài Khấn Khi Đi Chùa Hương, Bài Khấn ở Chùa Đồng Yên Tử, Bài Khấn Bà Chúa Thác Bờ, Bài Khấn Vay Tiền Bà Chúa Kho, Bài Khấn Chúa Thác Bờ , Văn Khấn Chùa Đồng Yên Tử, Bài Khấn Tại Chùa Đồng Yên Tử, Bài Khấn Phật Khi Đi Chùa, Bài Khấn Chùa Đồng Yên Tử, Văn Khấn Tại Chùa Đồng Yên Tử, Văn Khấn Chùa Đồng, Ke Hoach Khac Phuc Sua Chua Ca Nhan 2021, Bài Khấn Đền Trình Chùa Hương, Kế Hoạch Khắc Phục Sữa Chữa Khuyết Điểm Của Bch Hội Phụ Nữ 2021,