【#1】Tiểu Thuyết Búp Sen Xanh Tieu Thuyet Bup Sen Xanh Doc

BÚP SEN XANH

Cơn dông mùa hạ dấy lên ở phía nam. Mây đen từng khối ùn ùn như nấm từ dưới chân trời đùn lên. Thoáng chốc, các ngọn núi của dãy Dăng Màn (1), Thiên Nhẫn … đã ngập chìm vào mây đen đục. Mảng nắng hẹp dần. Cảnh sắc hai bờ sông Lam đã ngả màu sẫm. Những bóng mây trôi qua các cánh đồng chiêm đang mùa thu hoạch, loang lổ, mảng sáng, mảng tối, ô xanh, ô vàng, nhìn về xa xa như một tấm da báo trải rộng hút tầm mắt.

Từ trong khối mây đen dày đặc, thỉnh thoảng quắc lên một roi chớp xanh lè, ngoằn ngoèo rạch sáng vào da trời chì. Tiếp sa u roi chớp là tiếng trời gầm …

Bên gốc cây đa đầu làng Chùa (2) có mấy con bò đứng ngủ, mồm nhai uể oải, những cục bọt trắng xốp đọng hai bên mép. Những con ruồi bò bay nhớn nhác tránh né mỗi lần con bò quất mạnh cái đuôi vào hai bên hông. Một tốp người đi làm đồng về ngồi nghỉ chân bên gốc đa đang gạ ông Xẩm hát cho nghe một bài mới. Ông Xẩm ngước đôi mắt mù lòa về phía có tiếng sấm xa xa, hai cánh mũi phập phồng đón nhận mùi hoa sen từ đầm làng đưa tới. Ông nhíu đôi lông mày đen, hỏi n hững người đang ngồi bên cạnh:

– Trời sôi bụng hay … hay là tiếng súng của cụ Đình (3) ở trên rừng lại kéo về nữa đó, bà con?

Qua nhiều giọng cười giòn, ông Xẩm gật gật đầu nghe, vẻ đắc ý vớ i câu nói đáp lại lời ông hỏi:

– Tiếng sấm của cơn dông chiều đó ông ạ. Trời dạo này loạn dông chứ có cơn mưa nào đâu! Còn cái công việc “bình Tây” của các quan Nghè, quan Cử thì … vận nước Nam mình hỏng mất rồi! Vua Hàm Nghi đã bại trận, Tây dương (4) đày vua đi biệt xứ. Ôi! Có còn ch i nữa mà mong với đợi, hở ông?

Một cụ già, tay vót hom giỏ, từ nãy vẫn ngồi im lặng nghe mọi người trò chuyện. Bỗng cụ cắm lưỡi mác xuống đất, tựa hai bàn ta y lên cán, mắt chớp chớp, nói:

– Răng lại nhủ là ” có còn chi nữa mà mong với đợi” ? Nước có lúc suy lúc thịnh, nhưng có khi mô hết được những bậc hiền tài lo việc giữ nước, việc cứu nước. Cây cổ thụ ni bị gãy thì rồi sẽ có cây khác mọc lên. Rừng không bao giờ hết cây, dân không khi mô hết người tài cao chí lớn mô.

Mọi người nhìn cụ già vẻ hợp lý. Ông Xẩm đưa ống tay áo lên lau hai hố mắt. Ông vẫn mấp máy cánh mũi về phía ngọn gió:

– Dịp ni sen nở nhiều. Ngồi ở chỗ mô cũng được n gửi hương sen.

– Ông ơi – một cô bé gái gọi – cháu biếu ông mấy cái gương se n luộc, ông ăn cho mát ruột ạ.

Ông Xẩm cầm trong tay những cái gương sen đã luộc chín nhũn như tấm mền ong, giọng cảm động, hỏi:

– Cháu là con nhà ai mà thảo ăn rứa?

Cô bé chỉ mỉm cười. Mấy ngườ i ngồi cạnh ông già mù nói to:

– Con gái anh nho Sắc đó, ông ạ.

Ông Xầm nở nụ cư ời trên cung môi héo hắt, nói:

– Ngỡ đứa mô chứ cháu Thanh, con gái đầu lòng của anh chị nho Sắc , cháu ngoại thầy tú Hoàng (5) thì … thì tôi mô có lạ lẫm chi! Để rồi tôi hát cho bà con ở đây và cháu Thanh cùng nghe nhớ.

Bé Thanh lại đưa ông Xẩm cái bầu nước:

– Ông uống ngụm nước mát rồi hẵng hát, ông ạ.

– Cảm ơn lòng thảo của cháu. Ông không khát. Chứ chá u đem nước ra đồng cho ai rứa?

– Dạ … ch o mệ cháu ạ.

– Ờ. Vậy ra mệ cháu vẫn chưa ở cữ, còn đi làm đồng xa được. Chứ … cháu thích được bồng em gái hay bồng em trai, nói cho ông biết để ông hát mừng cháu nào?

– Cháu thí ch mệ cháu sinh em trai nữa ạ.

Ông già mù gật đầu, mỉm cười, tay lần mò lên dây đàn. Mọi người ngồi quanh gốc đa đã xúm xít bên ông Xẩm. Mấy con bò vẫn lim dim mắt ngủ, bọt mép tụ tan, tan tụ. Tiếng đàn bầu réo rắt b ay lên theo lời ca của ông Xẩm:

Trời có thấu chăng trời!

Nước Nam cơ khổ nhiều đời đắng cay

Vì chưng Tây thổ sang đây,

Nó vào Gia Định, ở rày Đồng Nai.

Dần dà ra Lục tỉnh, Đàng ngoài,

Các quan tâu đánh, vua ngài không cho.

Bởi vì vua Tự Đức không biết đường lo,

Nó vào nó chiếm mất cả thành đô kinh kỳ …

Bé Thanh chưa hiểu thấu ý nghĩa lời ca, nhưng hai mắt của bé lim dim, bé lắng nghe tiếng đàn ông Xẩm. Những người ngồi cạnh bé Thanh, mặt luôn luôn biến đổ i theo từng lời ca của ông Xẩm.

Trời ơi có thấu lúc này,

Khắp nơi khổ cực rạc rài tấm thân.

Một nước làm năm bảy nước ăn,

Để cho quan Tây bắt phu, bắt thuế trong dân nặng nề.

Các quan ta tức giận nhiều bề,

Lập binh tiến đánh Tây thì cho tan

Để mà khôi phục nước Nam …

Đang lúc mọi người đắm vào tiếng đàn não ruột, lời ca xé lòng của ông Xẩm thì một bà tựa tay trên lưng bò, chỉ tay về phía đầm sen, gọi:

– Cháu Thanh ơi! Mệ cháu … Mệ cháu … có chuyện chi … người ta đ ang dìu mệ cháu về nhà kia kìa!

Bé Thanh với cái tuổi lên bảy, dáng mảng khảnh, rời khỏi gốc đa, tay cầm cái bầu nước, chạy hối hả về những người đang dìu mẹ mình. Chạy đến với mẹ nhưng trong đầu bé Thanh vần còn vọng theo những lòi ca của ông Xẩm:

“… Lập binh tiến đánh Tây thì cho tan … Để mà khôi phục nước Nam … kẻo dân tình cơ khổ gian nan nhiều bề …”

Dưới bóng tre đầu làng, bà đồ ( vợ ông đồ Hoàng Xuân Đường, bà ngoại của bé Thanh) cùng mấy người đứng tuổi cũng đang chạy ra phía đầm sen. Gió đồng lùa những dải lưng, dải yếm của họ bay phấp phới về phía sau …

Về tới đầu sân, cơn đau chuyển sinh lại thốn thoáy, mệt quá chị nho Sắc phải ngồi thụp xuống bên gốc cây thị. Chim chiều về tổ đang ríu rít trên ngọn cây. Bà đồ c hốc chốc lại mắng yêu con gái:

– Tham công tiếc việc cho lắm … Đã biểu ở nhà, gần kỳ sinh nở rồi … đừng có đi mần đồng xa nữa …

Bà giục cô An, em gái của chị nho Sắc :

– An, con vô quạt than lên … Mau …

Bà lại giục bé Thanh:

– … Cháu đi sang bên nhà với ông. Giữ cả em Khiêm ở bên đó. Tối ni tụi bay ăn cơm, ngủ ở bên nhà bà cả nhớ.

Bé Thanh bước qua dãy chè mạn hảo ngăn đôi sân nhà mình với sân của ông bà ngoại. Thanh vừa nghe tiềng mẹ rên, vừa nghe rõ tiếng ông ngoại ho khúc khắc và tiếng của bố thay ông ngo ại đang giảng bài cho học trò:

” … Các trò hãy lắng nghe giảng rồi hãy chép bài sau … Khổng Tử viết: Tự thiên tử dĩ chí ư thứ dân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bản. Nghĩa là: Từ ông vua cho đến kẻ thường dân, ai nấy đều phả i lấy việc sửa mình làm gốc …”

Từ bên hè nhà chị nho Sắc , tiếng cô An nói khỏa lấp cả tiếng khóc chào đời của đứa trẻ khiến anh nho Sắc n gừng giảng bài trong giây lát.

– Ồ ồ … chị nho lại sinh con trai … sinh con trai nữa rồi. Mặ t mày sáng láng, khôi ngô lắm.

Bà đồ quát: ” Cái con bé, có im cái miệng quở độc cháu đi không!” Bà giục rối rít: ” Đưa cái thanh nứa … mau lên … cắt rốn cho cháu. Rồi. Xong rồi … Đưa cái quần cũ của cha mi đây …trên dây phơi ấy. Tao giặt kỹ rồi. Ủ cháu vô quần ông cho có khước … có hơi ấm ông, nó sẽ được sáng dạ, học giỏi hơn ông, hơn cha cho mà coi …”

Bà còn dặn chị nho Sắc : ” Con nhớ là hằng ngày phải chăm lau sạch đĩa đèn rồi hãy đổ dầu thắp. Các cụ thường dạy:Sinh con dạ sáng làu làu, nhớ mẹ ngày trước chăm lau đĩa đèn”.

Tiếng rên của chị nho im bặt. Tiếng khóc oa oa của đứa bé vẫn chưa dứt hẳn. Và cái ngôn ngữ đầu tiên của đứa bé đã hòa âm trong tiếng gà gọi con lên ổ, tiếng bò gọi bê vào chuồng, tiếng chim kêu ríu rít trên mái nhà, tiếng l á reo, tiếng đồng xa vọng về …

Hương sen từ ngoài đầm bay theo gió pha lẫn mùi bồ kết cháy từ nồi than trong buồng chị nho Sắc tỏa ra ngào ngạt.

Làng Chùa nhòa trong khói sương lam. Đám học trò của cha con ông đồ đã lũ lượt ra về từ lâu. Chúng đi theo lối cổng lớn, không đi tắt qua sân của chị nho Sắc như mọi ngày. Đầu ngõ nhà chị nho đã tre o một cành xương rồng gai (6).

Cái cánh cổng chống làm bằng khung tre kết cành rào, hình chữ nhật, đã được sập xuống, cài chặt. Khu vườn nhà ông đồ cũng như mọi nhà khác ở làng Chùa đều đã trở nên một cõi riêng biệt, kín bưng. Giữa cảnh vắng lạnh này nổi lên tiếng ếch nhái kêu gào trời làm mưa cứ ra rả không mệt mỏi. Vô số đốm sáng lập lòe xanh ảo của bầy đom đóm bay chập chà chập chờn trong tối mênh mông.

Ông đồ ngồi xếp bằng trên phản gụ, tựa khuỷu tay xuống mặt cái gối cốt bông bọc vải điều gấp cao ba thớt. Anh nho Sắc ngồi đối diện với ông nhạc, vẻ thoải mái. Bé Khiêm ngủ say, nằm sát bên đùi ông, chân duỗi dài sang gần chỗ bố ngồi, ngọn đèn dầu lạc đậu trên mép đĩa tỏa sáng khắp gian nhà. Những con thiêu thân sa vào đĩa dầu vẫy đôi cánh mỏng yếu ớt, chới với …Bên cạnh cây đèn, cái đỉnh trầm thư thả nhả ra những sợi khói thơm mảnh như chỉ. Hương sen ngoài đầm đưa vào nhè nhẹ.

Anh nho Sắc cầm cái nậm chuyên rượu vào chén cho bố vợ. Ông đồ uống một hơi cạn chén rượu :

– Mừng cho nhà ta, mừng cho cả họ Nguyễn làng Sen …

Ông đồ đứng lên, dáng cung kính, thắp năm nén hương, vái năm vái trước bàn thờ gia tiên. Ông đứng nghiêm trang trước làn hương khói. Anh nho Sắc cũng đứng chắp tay thành kính ở phía sau ông. Từ phía đầm sen tiếng chim cuốc khắc khoải: Quốc …Quốc!

Hai cha con ông đồ trở lại chỗ ngồi. Ông đồ dằn từng tiếng: “Dạ …thính … tử chúng tôi … thốn … tâm … can…” (đêm nghe chim tử quy nhói tim gan). Anh nho Sắc nhận thấy ở người bố vợ, người thầy học của mình từ ngày lâm bệnh, tâm trạng có nhiều trăn trở, nhiều hoài cảm. Anh muốn đứa con trai thứ của mình được ông đặt tên cho. Anh nói:

– Thưa cha, cha đặt cho cháu đêm nay luôn ạ.

– Tôi đang nghĩ.

Ông đồ gõ gõ ngón tay trên mặt gối, nói tiếp :

– “Sinh con quý tử khó nuôi … trồng cây ngon trái lắm người lăm le…” Con người ta có thể xét đoán được hiệu quả trước của công việc mình sắp làm. Ví như khi ta cầm nắm hạt giống trong tay thì ta đã dám tin chắc sẽ có những mầm cây mọc lên bập bạp, và nhìn các mầm non xanh tốt đoán biết được cây quả của nó sau này. Cho nên, tôi muốn đặt cho cháu tên là Côn (7), tự là Tất Thành.

Anh nho Sắc chớp chớp mắt, môi hé nụ cười:

– Côn … ấy là tích loài cá hóa chim bằng, phải không thưa cha?

– Chính vậy đó. Theo mong ước của tôi thì … thằng bé sẽ có chí vùng vẫy bốn bể, dù gặp truân chuyên chìm nổi, nhưng ắt thành công. Cho nên tự Tất Thành.

Anh nho Sắc nâng cây bút lông thỏ dúng vào nghiên son. Hương trầm, hương sen như tỏa khắp gian nhà và tụ hội vào ngọn bút Nguyễn Sinh Sắc đang nắn nót dòng chữ Nguyễn Sinh Côn, tự Tất Thành.

Gió Lào thổi từng cơn dài. Bầu trời, mặt đất bốc mùi nóng khét như sắp sửa bùng cháy. Những cánh đồng khô nẻ hoang hoác, thưa thớt bóng người. Không một con cò, con vạc đi kiếm ăn trên đồng. Cây cối đói nước đứng rũ rượi. Giữa trời nắng lửa, những con diều hâu sải cánh liệng tìm mồi dưới đất. Quạ khoang, quạ đen bay thành bầy về phía ngàn xanh, nơi đang có tiếng súng của nghĩa quân Phan Đình Phùng .

Trên các ngả đường quan, đường liên hương từng tốp người đi kiếm ăn, đầu đội nón mê. Trên mình chỉ có chiếc khố dây. Thỉnh thoảng có vài ba bà nhà giàu đi chợ, nón thúng quai thao, váy lụa quét gót, chùm xà tích bạc (8) buông dài song song với các dải yếm, dải thắt lưng màu hoa lý, hoa hiên.

Anh nho Sắc tay cầm ô che nắng, tay xách một khăn gói vải tây điều đựng đầy những thang thuốc bắc. Ngọn gió lào từ phía cửa thành ùa đến thổi tung tà áo dài vải thâm đất trên người anh; gió mạnh, cái ô trên tay anh lảo đảo. Anh sải từng bước dài qua cửa Tả đi về phía cửa Tiền. Anh thấy ở phía trước một lá cờ ba sắc phật phờ trên cao. Dưới chân cột cờ , những người che ô đội nón, lác đác có cả những mũ trắng, lố nhố rất đông. Anh định mang thuốc về sớm, nhưng trước việc lạ này, anh rảo bước lại nơi đó. Trên quãng đường gần tới đám hội, cờ đuôi nheo treo hai bên và cờ lá chuối cắm vòng quanh khán đài rực rỡ.

Anh nho Sắc dừng lại ở ngoài cổng chào tết bằng lá dừa, trang trí hoa cờ, đèn lồng. Trên cổng cao gắn bốn chữ cao cỡ to, xếp lối chữ triện: “Đại Pháp vạn tuế”. Từ bên trong cổng chào, tiếng kèn thổi oang oang chói tai, khác hẳn tiếng đàn đáy, đàn bầu mà anh đã quen thuộc. Một người mặc đồ sang trọng, treo trước ngực một mảnh giấy điều hình đuôi én, chữ vàng: ” Quốc khánh đại Pháp”. Ông ta tiến đến, chìa tay:

– Xin mời huynh vô dự ngày lễ đại khánh của Pháp quốc.

Anh nho Sắc chẳng ưa gì cái trò này của bọn thực dân Pháp và lũ quan lại làm tay sai cho chúng, nhưng anh cần nhìn tận mắt cái việc chúng đang bày ra giữa quê hương mình. Anh vừa bước vào trong cái cổng chào, một con mụ người Pháp mũi diều hâu, mắt mèo, tóc lông bò rừng, váy hoa dài lệt bệt phồng to như cái nơm, áo hở ngực, lồ lộ dây chuyền vàng quấn cổ, hai cổ tay hai vòng ngọc biêng biếc xanh, chân đi giày gót cao nghều, bước vội đưa cho anh một gói vuông bọc giấy đỏ, bên trong có chữ: ” Đại Pháp vạn tuế”. Mụ đầm nói, anh nghe như tiếng chim tiếng vượn. Anh chẳng hiểu gì nhưng bất giác anh cứ cầm lấy gói quà từ tay mụ đầm. Một người thô ng ngôn đứng tuổi nói với anh:

– Bà lớn phát quà nhân ngày quốc khánh của nước Đại Pháp. Mời anh vô dự lễ và nghe hiểu thị.

Một tay xách khăn gói đầy thuốc bắc. Một tay cầm gói quà của mụ đầm đưa và cái ô ngoắc vào khuỷu cánh tay, anh nho Sắc bước từng bước nặng trĩu. Giữa tháng bảy nhưng là tháng năm âm lịch, nắng xế chiều gay gắt. Cả đám người đứng chen chúc dưới bóng rạp mái bằng. Những người đứng vòng ngoài đều phải dương ô, đội nón. Anh nho Sắc lách vào mé rạp, ngó lên phía khán đài. Một đám quan lại áo thụng, khăn chít ngồi khép nép ở mấy dãy ghế đầu. Một tên Tây cao l ớ n mặc đồ nhà binh, hai cầu vai gắn sắc hàm sĩ quan có ngù lua tua phủ xuống. Cả khuôn mặt hắn như nhuộm phẩm điều do nắng hè của cái xứ nhiệt đới này phả cháy. Anh nho Sắc vừa nhìn hắn chằm chằm, vừa lắng nghe tên thông ngôn nói giọng Nam Kỳ: “Cái xứ An Nam này đã chịu ân s â u nghĩa nặng của nước Đại Pháp từ thời chúa Nguyễn ở đàng trong bị giặc áo vải Tây Sơn đánh bật ra tận đảo Côn Lôn … Nước An Nam nầy mà không có sự giúp đỡ của Đại Pháp thời cái họa nội chiến giữa Đàng trong với Đàng ngoài không thể chấm dứt được. Và nếu không sớm có mặt người Pháp thời cái xứ sở hẻo lánh, tối tăm này đã bị người Bồ Đào Nha hoặc người Hà Lan hay người Anh chiếm đóng rồi. Hỡi các ngài tại mắt xứ An Nam! Hãy nhận ra sự có mặt của người Pháp ở đây là một duyên may hiếm có …”.

Càng nghe nhiều những lời khoe khoang sức mạnh, hăm dọa, mạt sát, dụ dỗ … của tên Pháp thực dân, anh nho Sắc càng thấy nhói đau, mặt cứ tối sầm lại. Anh lẳng lặng ra về. Anh lê từng bước nặng nề ra khỏi thành Vinh. Ngay trên lối về huyện lỵ Nam Đàn, một đám người ăn xin còn ngồi trốn nắng dưới bóng cây. Anh mở cái gói quà của ngày Quốc khánh Pháp mà mụ đầm đưa cho anh – toàn là bánh, kẹo được bọc giấy bóng, giấy bạc – đem phát tất cả cho đám người đang đói lả bên lề đường. Anh tự nhủ: Tây dương đã an tọa thế ấy thì quân quan Phan Đình Phùng , quan Tôn Thất Thuyết dù cố sức mấy cũng khó lòng chuyển được vận nước đang suy!

Trên đường từ thành Vinh về làng Chùa , anh nho Sắc đeo đuổi bao nhiêu ý nghĩ ngổn ngang. Anh lo sức khỏe của bố vợ đang ngày một sa sút. Vợ anh sinh lần này bị mất sữa và bị bệnh hậu sản. Anh đã cắt hàng chục thang thuốc cho vợ uống, bệnh có thuyên giảm, nhưng vẫn khôn có sữa cho con bú. Bé Côn vừa phải đi bú nhờ vừa phải ăn cơm bà ngoại mớm cho.

Điều trăn trở lớn nhất trong lòng anh nho Sắc : Biết mất nước mà không lo việc cứu nước là phạm điều bất trung. Nhưng khốn nỗi, gánh gia đình của anh quá nặng. Mới hăm bảy tuổi mà đã ba con. Còn là cậu học trò, chưa có khoa cử gì. Đã nhiều đêm anh và bố vợ ngồi đàm luận việc nước việc nhà cạn mấy đĩa dầu. Anh thường suy nghĩ về những lời bố vợ nói: vợ chồng anh sinh ra giữa thời buổi bọn bạch quỷ đến hà hiếp nhà vua, nhưng nước nam ta chưa mất hẳn cho Tây – lang – sa (9). Đến thời các con của anh ra đời thì: Bé Thanh sinh năm Giáp Thân. Năm đó nhà vua đã ký hòa ước giao cả nước ta cho người Tây – lang – sa cai trị ( tức năm 1884 ký hòa ước Pa – tơ – nốt công nhận quyền đô hộ của Pháp ở Việt Nam ). Sang năm Ất Dậu, Tây – lang – sa đã cử quan “đầu triều” (10) sang ngự trị bên cạnh nhà vua nước Nam . Rồi quan quân thần Tôn Thất Thuyết phải rước vua Hàm Nghi lánh ra đồn trú ở vùng rừng núi Quảng Trị, Quảng Bình và xuống chiếu Cần Vương. Đến lượt bé Nguyễn Sinh Khiêm ra đời, năm Mậu Tý (1888), vua Hàm Nghi bị sa vào tay giặc! Ôi! Vua đã bị T ây – lang – sa đày đi biệt xứ tận nước người (11). Tây – lang – sa lại đưa Đồng Khánh lên ngôi. Người ta truyền rằng, trước lúc bọn Tây – lang – sa đày vua Hàm Nghi đi, chúng còn dụ dỗ, mua chuộc đủ phương kế, nhưng nhà vua không chịu khuất phục, nhận việc đi đày chứ không cam chịu nhục để trở lại ngai vàng! Chúng nó thay vua thì cũng đổi “quan Tây đầu triều” khác sang nước mình cai trị. Cái tên của nó ngoằn ngoèo khó nhớ, khó gọi … Hình như là Bè hay Buôn bè (12), rồi gì gì ấy nữa kia. Năm nay, bé Côn ra đời, lại một tên “quan Tây đầu triều” khác đến cai quản xứ mình. Thế cuộc xoay vần như vậy đó! Các con anh sinh ra giữa lúc nước ta đã mất hẳn cho bọn bạch quỷ rồi! Đất nước ta đang đắm chìm vào đêm tối. Những anh hùng nghĩa khí dám xả thân cứu sơn hà xã tắc đều bị thất bại! Ôi! Dân N am ta khác nào đàn gà con đã bị diề u hâu cướp mất mẹ!…

Anh nho Sắc mải miết nghĩ suy về những điều tâm sự của bố vợ, người thầy, mà cũng chính là tâm trạng anh trước bối cảnh “quốc loạn, gia bần”. Vì mải n ghĩ quên cả đường dài. Lúc về gầ n đến cây đa đầu làng anh mới nhận ra mình đã đi sắp đến nhà. Nỗi lo về bệnh tình của bố vợ, về cảnh vợ bị ốm, mất sữa lại dấy động trong lòng anh. Và trước mắt anh chập chờn hình ảnh khoa thi Hương (13) sắp đến.

Anh rẽ sang con đường mòn đi tắt về phía đầm sen để bà con ngồi gốc đa hóng mát nghe ông Xẩm đàn hát được tự nhiên.

Bên đầm sen, trước lối vào nhà, anh dừng bước đón nhận làn hương mát. Giữa đất trời khô cháy bao la, đầm sen như mặt gương xanh làm dịu bầu nóng hạ. Những bông sen trắng, sen hồng đua sắc khoe màu với đàn ong đi kén mật. anh chợt nghe trong sân nhà có tiếng bé Nguyễn Sinh Khiêm đang nựng em, nói chệch âm vì chưa thật rõ tiếng: ” Anh cho eng (em) Côông ( Côn) cái búp sen nì … Búp sen xanh, đẹp … đẹp lắm em ạ …”

Anh nho Sắc đi thẳng vào nhà lớn, nơi ông nhạc nằm dưỡng bệnh. Chị nho Sắc đã gượng dậy được, đang bế bé Côn ngồi dưới gốc thị, mớm cơm cho con.

Chú thích:

(1) Trên dãy Trường Sơn, đoạn qua địa phận Nghệ Tĩnh.

(2) Tên chữ là làng Hoàng Trà

(3) Ở đây chỉ nghĩa quân của Phan Đình Phùng , cụ Đỗ Đình Nguyên, thường người ta gọi là cụ Đình.

(4) Chỉ thực dân Pháp.

(5) Chỉ ông Hoàng Xuân Đường.

(6) Tục lệ ngày xưa, nhà có người mới sinh thường treo ở đầu ngõ một cành gai to để người lạ không tự tiện vào nhà, sợ đứa bé bị mặc vía dữ.

(7) Theo cụ Nguyễn Sinh Khiêm kể và ghi trong Tất Đạt tự ngôn, trang 81

(8) Một loại dây bằng bạc, con gái nhà giàu dùng để đeo chìa khóa hòm, ống đụng thuốc lào ăn trầu, nhưng thường có ý nghĩa trang điểm là chính.

(9) Chỉ thực dân Pháp.

(10) Khâm sứ Ray-no (Rheinort)

(11) Nước An-giê-ri, một thuộc địa của Pháp lúc đó.

(12) Pôn Be (Paul Bert)

(13) Khoa thi chọn cử nhân

Xong tuần tang bố vợ, anh nho Sắc gầy rộc như qua một trận ốm. Chị nho Sắc và cô An thì phải bắt tay ngay vào công việc : ngày đi làm đồng, tối dệt vải quá nửa đêm mới đi ngủ. Số tiền tốn kém vào việc ma chay tuy được những học trò, bạn hữu phúng điếu nhiều, nhưng chẳng thấm tháp, cho nên mẹ con bà đồ phải lấy công dệt vải để trang trải. Phần thì kỳ thi Hương cũng không còn xa nữa, cả nhà bà đồ đều lo lắng, mong đợi nhiều ở anh nho Sắc trong kỳ thi này.

Từ ngày ông đồ mất, vợ chồng anh nho Sắc về ăn chung với bà đồ. Ngôi nhà tranh ba gian của ông bà đồ dựng lên cho vợ chồng nho Sắc ra ở riêng nay tạm cho những chị em làng Chùa mượn làm nơi nhóm phường kéo sợi. Những đêm trăng, từ mái nhà này những điệu ví dặm được cất lên cùng với tiếng xa quay…

Một hôm, có mấy người bà con bên họ ngoại của bà đồ đến dự lễ đốt vàng mã cho ông đồ nhân tết “xá tội vong nhân” rằm tháng bảy. Khách ở lại nghỉ đêm. Bà đồ ngồi ở giữa giường. Ba chị em bé Thanh, Khiêm, Côn ngồi vây quanh bà nghe bà kể chuyện với khách. Trăng rằm sáng như ban ngày. Những khóm cúc ngoài cửa sổ ngả bóng vào trang sách của anh nho Sắc đang học. Chị nho Sắc thì ngồi dệt trên khung cửi ở gian nhà đầu hồi phía Tây. Cô An đi quay sợi với phường vải bên nhà chị nho Sắc .

Mấy người khách cứ tấm tắc khen :

– Bác có được người con rể như anh nho Sắc thật là quý hóa.

Bà đồ đã từ lâu được ấm lòng về điều ấy. Cho nên bà nhắc lại chuyện cũ với một giọng hối hận :

– Vợ chồng nhà nho đã có ba mặt con. Ấy vậy mà cái bụng của tôi vẫn chưa hết áy náy về cái tích tôi không muốn gả con Loan cho nho Sắc .

Bà mời khách ăn trầu. Bé Thanh và bé Côn tranh nhau được giã trầu giúp bà. Bé Khiêm thì ngồi lì xì, nghịch trò xếp những thứ trong cơi trầu thành ô, thành hình khối… Bà đồ vẫn cái giọng đều đều :

-Ngay lúc ông nhà tôi đón nho Sắc về nhà này, quần áo lấm lem bùn đất, tóc đỏ hoe như râu ngô khô, mặt mũi đen nhẻm, chỉ có hai con mắt sáng tinh anh, cặp lông mày dài mượt lộ rõ một đứa trẻ có tướng mạo. Tôi thương nó như con đẻ từ bữa ấy kia. Hơn mười năm nho Sắc ăn học trong nhà ni, tôi không hề chê nổi một tí chi về đường ăn nết ở cả. Nhưng khi ông nhà tôi đưa ra cái việc gả con Loan cho nho Sắc là tôi không thuận bụng. Tôi đâu có tính chi cái chuyện “môn đăng hộ đối” mà sợ miệng thế gian cười chê rằng con gái nhà có danh có giá mà hư đốn để bố mẹ phải gán luôn cho đứa con nuôi đã ăn ở trong nhà. Được cái, ông nhà tôi đã quyết là làm… Ông đã xuống tận quê ngoại thưa chuyện ni với cha mẹ tôi. Ông còn mời cả họ Hoàng lại để ông thưa việc ông gả con gái đầu lòng cho nho Sắc …

Đối với ba chị em Thanh, Khiêm, Côn thì đây là lần đầu tiên được nghe bà ngoại nói kỹ về bố mẹ mình.

Chú thích:

(14) Vương Thúc Quý.

(15) Phan Bội Châu.

(16) Chẳng.

(17) Khoảng 9 giờ sáng

– Hắn gọi “cái hạng các anh”, rứa là hắn nhủ cả đám chúng mình.

Từ cái hôm ấy, tất cả con trai chưa vợ ở làng Sài “ăn thề” với nhau : Không ai được hỏi cô Đèn làm vợ. Nếu con trai ở làng khác đến làng Sài dạm hỏi cô Đèn thì đón đường đánh. Cuộc trả thù này đã hãm duyên cô Đèn cho tới năm cô đã ba mươi tuổi mà vẫn chưa lấy được chồng. Có người gợi ý với bố cô Đèn nên soạn một cơi trầu, một bầu rượu mời đám trai làng đèn, xin lỗi để họ xá cho… Ông đã bàn với con gái cái điều ấy. Nhưng cô Đèn vẫn một mực không chịu nhún mình với đám trai làng. Khi ông Nguyễn Sinh Nhậm từ làng Sen đánh liều sang xin ăn hỏi cô Đèn, trai làng Sài họp lại bàn luận… Họ xót xa cho cô Đèn : Một người con gái tài hoa, nhan sắc nhất làng mà phải chịu cái “án treo” quá lứa, lỡ duyên, nay phải đi làm vợ kế của một người làng khác! Chúng ta không nên ngăn cản nữa. Đọ gươm khi còn trên yên, đừng ch ém theo lúc người đã ngã ngựa!

Trai làng Sài đã dựng một cổng chào ở đầu làng trên con đường đi sang làng Sen . Họ còn nhờ cử nhân Hồ Sĩ Tạo làm cho một bài văn chúc. Lúc đám rước dâu tới cổng chào, trai làng Sài bận quần trắng, áo dài, đội khăn, đứng thành hai hàng. Một người có giọng bình văn hay bước ra đọc bài chúc. Họ nhà trai đã đáp lễ mười quan (18) tiền đồng, một v ò rượu tăm và một cái thủ lợn.

Cô Hy về làm bạn với ông Nguyễn Sinh Nhậm được ít lâu thì năm Quý Hợi (1863) sinh con trai. Ông Nhậm đặt tên cho con là Nguyễn Sinh Sắc. Cuộc sống của gia đình rất êm ấm. Nhưng niềm hạnh phúc của mẹ con cô Đèn đã tắt phụt như ngọn đèn trước gió : Nguyễn Sinh Sắc mới lên ba thì ông Nguyễn Sinh Nhậm chết. Trước lúc trút hơi thở cuối cùng, ông Nhậm gọi cả hai người con trai, người con dâu đến bên giường và căn dặn vợ chồng Nguyễn Sinh Thuyết : “Cha phải hai lần xây dựng bạn trăm năm mà cũng mà cũng chỉ được có hai mụn con trai. Cha những mong có đôi ba lần sinh nữa cho đông anh đông em, cũng như rừng nhiều cây bão tố không xô ngã được. Không ngờ cha phải sớm từ giã các con. Tội nhất là em Sắc của các con còn quá bé bỏng. Mẹ kế của các con thì tuổi trẻ chưa qua! Cho nên vợ chồng con phải thay cha giúp mẹ kế của các con nuôi em Sắc nó nên người, mà điều hệ trọng là làm sao cho bé Sắc có năm ba chữ thánh hiền. Điều mong muốn cuối cùng của cha là : Dầu cha đã khuất, các con phải kính trọng người mẹ kế của các con như lúc cha đang tại đườ ng. (Ý nói như lúc còn sống)”.

Sau ngày ông Nhậm qua đời, vợ chồng ông Nguyễn Sinh Thuyết ngỏ ý đón mẹ con bà Hy về ở chung. Nhưng bà Hy e ngại sẽ không tránh khỏi sự va chạm giữa bà với con dâu riêng của chồng. Với tấm thân quả phụ ngoài ba mươi tuổi, Hà Thị Hy cặm cụi thờ chồng, nuôi con. Hằng ngày bà đem con theo ra đồng làm lụng, tối về, vòng tay mẹ ấp cổ con trong xó nhà hiu quạnh. Hà Thị Hy lòng đầy hy vọng một vài năm nữa, con trai mình biết nhớ được mặt chữ thì cho đi học. Nào ngờ, một buổi sáng, hàng râm bụt còn đẫm sương mai, bé Sắc chạy từ trong nhà ra ngõ, gọi thất thanh:

-Anh…ơi…! M…ệe mch …ết… mệ…em chết!…Anh… ơ…ii!

Vợ chồng Nguyễn Sinh Thuyết hốt hoảng chạy tắt vườn băng qua bờ rào sang nhà người mẹ kế. Nhưng cô Đèn – Hà Thị Hy đã tắt nghỉ trên giường góa bụa. Hàng xóm cũng đã ùa tới. Tiếng khóc thương tiếc người thiếu phụ bạc mệnh dậy lên với những lời than thở : “Ôi! Một người con gái đã một thời sáng lên như ngọn đèn mà cũng ngắn ngủi như ngọn đèn!”.

Tin cô Đèn chết bay sang làng Sài. Những người cùng lứa với cô Đèn cảm thấy đột ngột. Đám trai làng trước đây đã “cầm duyên” cô nghe tin này càng sửng sốt. Họ rủ nhau sang ngay làng Sen tham gia việc chôn cất cô Đèn. Nghĩa tử là nghĩa tận, gia đình anh Thuyết vui lòng chấp thuận để trai làng Sài được đào huyệt và tự tay khiêng quan tài cô Đèn đến tận nơi yên nghỉ cuối cùng. Những bạn hát ở trong “phường hát ả đào” làng Sài cũng mang theo đàn, phách vừa đi vừa hát những bài tiễn biệt cô Đèn. Trai làng Sài còn nhờ ông Hồ Sĩ Tạo làm “Văn ai” khóc cô Đèn. Ông cử họ Hồ đã đứng trước mộ cô Đèn đọc bài “Văn ai”. Mọi người xúc động theo giọng bi ai của ông cử họ Hồ thổn thức đọc điếu văn.

Cha chết. Mẹ lại chết. Nguyễn Sinh Sắc mới hơn bốn tuổi đầu về ở với người anh cùng cha khác mẹ, lòng trống trải, mắt ngơ ngác, xa lạ với tất cả. Những đêm đầu tiên ở trong nhà anh, Sắc cứ ngỡ là ở nơi bãi hoang. Thỉnh thoảng Sắc khóc thét : “Mệ !… Mệ… ơi ii!” Người anh cứ phải nằm xuống ôm em giữ cho em ngủ. Nhưng, hễ rời vòng tay anh ra, Sắc lại giật mình khóc thét trong đêm khuya. Người chị dâu khó tính lại nạt nộ em, cằn nhằn chồng: “Nó không ngủ thì c ho nó đi ra cồn để ma nó bắt”.

Sợ chị dâu mắng, bé Sắc nhắm nghiền mắt nằm im thin thít. Hình ảnh mẹ bay lượn trong quầng ảo giác xanh đỏ tím vàng. Và Sắc thấy một váng hào quang tỏa sáng. Mẹ của Sắc hóa thành bà tiên trong truyện cổ tích mà mẹ đã kể cho Sắc nghe. Sắc bỗng thấy lâng lâng như nhấc mình bay lên theo mẹ. Rồi mẹ của Sắc lại như một con cò trắng chở Sắc bay qua đồng xanh, qua sông xanh, qu a ngàn xanh, qua biển xanh…

Thuyết tưởng em đã ngủ yên, anh rón rén dậy. Anh đến thì thầm dặn vợ đừng mắng mỏ đứa em mồ côi bố mẹ đang tuổi trứng nước. Bé Sắc đã choàng dậy, giấc mơ tan biến, chỉ thấy một mình trống trải. Sắc chạy ra sân, ra ngõ, ra đường cái theo dòng nhớ trong mơ. Đến bờ ao sen, từng bầy đom đóm bay, Sắc bắt đầu rùng mình sợ hãi, bấy giờ mới khóc to gọi : M…ệ… ơ i i! Mệ… ơi … về… với con… Mệ… ơi!

Đêm tối như mực. Tiếng chó sủa rinh làng. Vợ chồng anh Thuyết, bà con trong họ, trong xóm đổ x ô ra đường đuổi theo bé Sắc…

Qua một trận ốm kéo dài, ai cũng tưởng bé Sắc không sống nổi. Nhờ được ông ngoại săn sóc thuốc thang, Sắc đã khỏe mạnh. Tiếc thay, ông ngoại của Sắc lại từ trần mà bà ngoại thì đã mất từ lâu, Sắc lại trở về làng Sen sống với anh Thuyết.

Làm theo lời cha dặn lúc hấp hối, Nguyễn Sinh Thuyết cho Sắc đi học chữ nho ngày một buổi; học về, đi chăn bò, cắt cỏ. Hôm đưa em đến thầy tú Vương xin học, anh Thuyết bưng cơi trầu, chai rượu đi trước, Sắc mặc áo năm thân nhuộm nâu non, quần dài quá gối đi theo anh. Chị Thuyết đứng trước cửa nhà bếp nói với ra sân :

– Gớm! Nhà vua nỏ thừa bảng vàng để ghi danh ông nghè, ông cống cho cái nòi “xướng ca vô loài” mà học với hành, tốn nghiên tốn bút.

Anh Thuyết quay phắt lại. Anh vớ cái cọc chống rèm. Chị Thuyết ba chân bốn cẳng chạy lủi qua phía hè bếp. Anh Thuyết quát với mấy tiếng mắng vợ. Rồi anh quay lại dỗ ngọt em :

– Chị mi độc mồm vậ y thôi chứ nỏ để bụng chi mô.

Sắc đưa ống tay áo lau nước mắt đi theo anh đến nhà thầy học.

Ngay những buổi ban đầu, thầy tú Vương đã nhận ra Sắc là một học trò sáng dạ. Thầy đã thử cho Sắc về nhà học một tối phải thuộc lòng và đến viết trầm (19) cho thầy xem năm mươi chữ ít nét, ba mươi chữ nhiều nét. Nguyễn Sinh Sắc đã đem lại sự ngạc nhiên cho thầy. Và thầy tú Vương cầm bàn tay học trò Nguyễn Sinh Sắc xem từng đường vân dạng. Thầy tấm tắc : “Đúng. Rất đúng. Con nòi. Nòi cầm ca. Nòi nhả ngọc phun châu. Nòi cô Đèn. Tài hoa lắm. Con gắng học. Con sẽ làm nên nếu con có chí học. Mỗi chữ là một con mắt. Người không có chữ trong đầu là người mù giữa thế gian”.

Lời thầy tú Vương như một ánh chớp mở vào thế giới tuổi thơ của Nguyễn Sinh Sắc. Rồi Sắc thấy lởn vởn trong ý nghĩ của mình một câu hỏi : Chị Thuyết thường mắng mình là “con nhà xướng ca vô loài”. Còn thầy tú Vương thì khen mình là : “Con nòi. Nòi cầm ca. Nòi nhả ngọc phun châu. Nòi cô Đèn…” Sắc tự tin : Điều thầy nói với học trò là lời mẹ nói với con. Và từ hôm Sắc được thầy khen, Quý và San kết thân với Sắc. Biết Sắc thiếu hơi ấm bố mẹ, San và Quý mỗi khi có quà bánh đều để phần đem đến lớp học cho Sắc. Có lần Sắc nói với bạn :

– Các cậu cho mình nhiều thứ, mình nỏ có chi cả!

Hiểu nỗi lòng của bạn, San, Quý an ủi Sắc :

– Đừng nghĩ ngợi có hay không có cái chi đối đãi nhau, nhà t ụi mình đầy đủ hơn nhà Sắc mà.

Được thầy khích lệ, được bạn an ủi, Sắc càng chăm chỉ việc nhà để đỡ bị chị dâu mắng mỏ vì quá ham học. Một lần Sắc ngồi đun cám lợn, chị dâu đang thái chuối ngoài sân. Sắc dùng que củi than tập viết lên nền nhà. Vì quá say sưa viết, Sắc quên khuấy, nồi cám bị khê nặc. Chị Thuyết từ ngoài sân chạy vào hắt cả rổ rau chuối vào người Sắc, mắng té tát : “Đồ mặt nạc đóm đày. Cháy nồi của tau rồi. Học với hành, chữ với nghĩa chi cái thứ cái thứ mi…!”. Sắc biết mình có lỗi nên bặm môi chịu chửi, không khóc, không tỏ vẻ khó chịu với chị. Vả lại Sắc đã nhận ra tính khí người chị dâu nóng, phàm miệng, nhưng miếng ăn thì nhường nhịn cho chồng, cho em. Hằng ngày chị Thuyết phải xới cơm chia : Anh Thuyết, cột trụ gia đình, được ăn mỗi bữa ba bát cơm độn, xới đầy. Sắc được hai bát vừa, chị Thuyết chỉ có một bát đầy và vét cháy. Nhiều hôm anh Thuyết bưng bát cơm thứ ba vừa đi quanh sân vừa ăn, rồi lẻn ra sau nhà ngắt lá chuối gói nửa bát cơm còn lại giấu vào cái nón mê của Sắc thường đội đi chăn trâu. Biết gói cơm này là của anh đã giấu chị nhường cho mình, Sắc mang theo ra bãi chăn trâu mới ăn .

Từ ngày ông đồ Hoàng Xuân Đường tạ thế, nhà bà đồ trở nên eo hẹp tiền tiêu. Cả nhà bảy miệng ăn chỉ trông vào hoa lợi của hơn hai mẫu ruộng mà đã cho cấy rẽ mất một nửa, số còn lại chị nho Sắc và cô An gánh vác. Ngoài ra, hai chị em cô Loan phải kéo sợi dệt vải luôn tay mới có tiền bút nghiên cho anh Sắc học ôn thi. Anh nho Sắc lại nhiều bạn lui tới đàm đạo việc học, việc đời. Có bạn ở tận xa, cách xã, cách huyện, thường đến ở chơi trong nhà cả tuần trăng. Bà đồ thấy ấm dạ vì chồng đã khuất mà nhà không vắng khách văn, có con rể được nhiều người trọng nể. Nhiều hôm khách của anh nho Sắc đến chơi đông, ở lại ăn cơm, mẹ con bà đồ thường phải nấu thêm hai, ba lần mới đủ. Thỉnh thoảng gặp hôm chưa giã kịp gạo, khách ở lại ăn cơm đông, ba mẹ con bà đồ phải nhịn cơm cho khách. Riêng ba chị em bé Thanh, Khiêm, Côn thì được ăn cơm vét nồi, cơm cháy. Bé Khiêm và bé Côn vô ý động bát đũa lớn tiếng, bà đồ khẽ dặn cháu :

– Tụi bây khẽ tay chứ! Có khách đang ăn cơm trên nhà, các cháu phải có ý có tứ.

– Bé Côông là hay khua bát đũa nhất. – Cô An trách yêu bé Côn.

Côn phụng phịu hỏi bà :

– Khách ở mãi trên nớ (kia), chúng cháu ở tận dưới nhà ni, răng lại không được nói to, không được chạm bát đũa, hở bà?

– Khách đang trò chuyện, khách đang ăn cơm mà các cháu làm ồn, đụng chạm soàng soạng dưới nhà thì khách họ cười người nhà mình vô ý, hoặc là có ý đuổi khách về. Cháu bà rõ chưa?

Côn gật gật đầu, hỏi thêm bà :

– Chị Thanh cạo cháy trong nồi mạnh tay cũng bị dì An mắng, vì răng rứa bà?

– Ồ! Cháu của bà còn chưa biết cả cái việc ấy nữa. Cháu ơi !… Khách đang ăn cơm mà các cháu cạo cháy sào sạo toáng lên thì có khác chi ngăn khách đừng ăn nữa, hết cơm rồi. Cháu rõ chưa?

Côn cười xòa, rúc đầu vào nách bà, nũng nịu. Vừa qua giỗ đầu ông Hoàng Xuân Đường, anh nho Sắc đi thi Hương khoa Giáp Ngọ (1894) trường Nghệ (Vinh). Bà đồ làm mâm cơm cúng gia tiên, cầu danh cho con rể. Anh cử Vương Thúc Quý, anh nho Phan Văn San thì đem lễ rượu, hương, trầu đi cúng đền Thánh Cả, chùa Đạt để thần phật phù hộ cho anh nho Sắc thi đỗ. Bà con Nguyễn Sinh cũng như họ Hoàng đều mong ngóng, đợi chờ anh nho Sắc ở khoa thi này. Dân làng Sen , làng Chùa ai cũng biết anh nho Sắc là người học giỏi vào hàng thứ nhất trong vùng, chỉ e “học tài thi phận”. Hằng ngày nhà bà đồ từ sáng đến tối liên tiếp người đến thăm tin vui ở dưới trường thi về. Bé Côn thấy nhà vui như hội, túm áo anh Khiêm kéo ra sân nhảy lò cò, đánh khăng, bắt anh cõng từ sân ra ngõ, từ ngõ vào sân. Ông Xẩm trải manh chiếu bên ngõ nhà bà đồ, lên dây đàn… Anh em bé Côn và cả đám trẻ trong làng đã ùa đến, đứa ngồi, đứa đứng xúm quanh ông Xẩm. Hôm nay ông ca tích truyện Tống Trân – Cúc Hoa. Cả đám trẻ ngồi lịm. Có đứa mũi thò lò, nước đãi chảy ướt ngực quên cả lau chùi. Các bà già, các chị ở trong ở trong nhà đi ngang qua đều ghé lại nghe… Lúc ông Xẩm ca đến đoạn Cúc Hoa bán yếm lấy tiền cho chồng đi thi, nhiều bà khóc. Bé Côn, bé Khiêm thì mắt chớp lia lịa, nhìn đắm đuối cái miệng ông Xẩm dẻo quẹo.

Bà đồ từ trong nhà bưng ra một rá khoai lang, một bát gạo, ghé sát ông Xẩm :

– Nghe ông ca cái tích Cúc Hoa nuôi chồng ăn học, bán yếm lấy tiền lộ phí cho chồng đi thi…. tiết nghĩa lắm lắm. Tôi nỏ có chi nhiều, chỉ có mớ khoai, lẻ gạo biếu ông…

Ông Xẩm đón lấy món quà ở tay bà đồ, cảm động nói :

– Xin đội ơn cụ. Được ăn lộc của gia đình cụ thì kẻ hèn mọn ni cũng mở mặt mở mày thêm.

– Tí khoai tí gạo có đáng chi mô mà ông nghĩ ơn huệ, ông!

– Ôi! Thưa cụ, của tuy ít mà lòng nhiều. Một củ khoai của cụ bớt miệng để cho kẻ nghèo khó còn hơn những nhà giàu bá hộ sẻ cả gánh, cả đống của, cụ ạ.

Một người hàng xóm hỏi ông Xẩm :

– Ông hát tích Cúc Hoa nuôi chồng ăn học, bán yếm cho chồng đi thi đỗ tới trạng nguyên. Còn chị Loan làng Chùa ta quạnh năm canh cửi giúp chồng đèn sách, dệt vải may áo cho chồng đi thi thì liệu anh nho Sắc khoa ni có đỗ đạt chi không, hở ông Xẩm?

– Con người ta… – ông Xẩm đáp – Tui không giỏi môn tướng số, nhưng tui có linh tính. Trời phú cho kẻ mù mắt một thứ ánh sáng khác để biết việc đời. Từ hôm cậu nho Sắc đi thi, tui nằm ngủ đều mơ thấy mặt trời chiếu vô cái túp lều tranh của tui. Tui là kẻ cùng đinh đến ngụ ở cái làng Chùa ni thì nỏ có đáng chi để mà báo mộng về sự đỗ đạt, thăng quan, tiến chức? Tui nghĩ : Cái báo mộng mặt trời chiếu vô lều tranh ấy là làng Chùa ta sắp có hiền nhân quân tử đến. Người đó hẳn là cậu nho Sắc thi Hương đỗ. Cho nên mấy bữa ni tui chỉ đàn ca những tích truyện về sự học hành thi cử, về người có công cứu nước, cứu đời…

Việc anh nho Sắc đi thi Hương còn được bàn tán ngoài ruộng vụ mười. Chị nho Sắc , cô An gánh mạ, gặp ai trên đồng họ cũng hỏi việc thi cử của anh nho Sắc đã có tin gì vui dưới trường thi đưa về chưa. Có chị em trách chị nho :

– Gớm! Cả năm nay nặng lo đèn sách cho chồng đến nỗi bỏ chị em phường vải chúng mình. Các anh nho San, anh cử Quý vẫn đưa cánh con trai làng Sen , Đan Nhiễm xuống hát với phường vải nhà mình luôn đấy. Cả cái An cũng theo chị bỏ phường, bỏ hát hẳn?

Chị nho Sắc phân trần :

– Mình có bận bịu với đèn sách năm anh ấy đi thi. Nhưng chị em mình nỏ đi hát với phường là vì còn có tang cha.

– Tụi mình biết cái lẽ ấy lắm. Nhưng vắng tiếng hát của Loan, của An, tụi này nhớ mà trách đó thôi…

– Loan này, – một cô bạn hỏi chị nho Sắc – tau nghe nói mi đã bán đôi khuyên vàng để lo việc thi cử cho anh ấy?

– Có vậy. Vì… nhờ trời mà anh ấy đậu Hương thí thì còn vô kinh để dự Hội thí nữa kia.

– Gái có công thì chồng chẳng phụ, Loan ạ.

Từ cánh đồng sâu cách nơi chị em nho Sắc cấy hai thửa ruộng, một giọng hát trong trẻo cất lên :

Chim khôn ăn trái nhãn lồng,

Gái ngoan nuôi chồng nấu sử sôi kinh.

Thi Hương, thi Hội, thi Đình (21)

Tên chồng trên bảng xướng danh rõ ràng.

Ngày về áo mão vua ban,

Võng anh đi trước, võng nàng theo sau.

Cô An nghe trọn tiếng hát của người bạn gái, cười mỉm, nói với chị mình :

– Mấy đứa ấy, chúng nó ước mơ cuộc sống của anh chị lắm nên mới hát vậy đó.

Chị nho Sắc cầm nắm mạ trong tay, đứng thẳng người nói với sang các cô vừa hát “ghẹo” mình:

– Nạ dòng ni quen đi chân đất, đội nón lá, nỏ dám nằm võng che lọng mô nhớ!

Mọi người đang vui câu chuyện trên ruộng lúa xế chiều thì, từ phía trong làng thấp thoáng từng tốp người lớn, trẻ con kéo ra phía đường quan. Chị em thợ cấy đều ngừng tay để mắt cả về phía đó. Chị nho Sắc như có linh tính báo… lòng thấp thỏm, trống ngực nháo động.

Một bóng người chạy tắt cánh đồng về phía ruộng bà đồ. Hai chị em nho Sắc càng hồi hộp… Còn cách mấy đám ruộng, người con ông chú của chị nho đã gọi to :

– Về Chị nho ơi!… Chị An ơi! Anh nho đỗ cử nhân rồi! Về thôi. Cả làng đang ra đường đón quan tân khoa kia kìa.

Hai chị em nho Sắc nhìn nhau. Hai giọt lệ đọng bên khóe mắt chị nho Sắc như giọt sương trên lá răm non. Mấy cô bạn giọng vui mừng giục thoắng :

– Về thôi Loan ơi! Từ rày tụi này nỏ gọi tên, gọi chị nho nữa mô mà gọi là bà cử đó.

– Tụi bay đừng gọi chi khác, cứ tên Loan, tên Sắc mà gọi.

Người em con chú đứng trên bờ, vẻ sốt ruột :

– Hai chị nghỉ tay thôi. Bữa khác rồi cấy nốt. Về nhà còn lo việc trầu nước mời khách họ đến mừng chứ.

Chị nho Sắc đã qua phút giây xúc động, giọng từ tốn :

– An về trước đi em. Chị ở lại cấy cho hết số mạ ni kẻo hỏng mất. Ông nghè ông cống cũng sống về ăn, em ạ.

Đồng quê chiều tím. Chị nho Sắc quảy trên vai đôi gióng nhẹ tênh, lần từng bước theo bờ ruộng chênh vênh. Gió chiều vuốt nhẹ tấm áo nâu non, nếp váy thâm bạc màu lượn theo dáng người thắt đáy lưng ong của chị. Chị ngoái nhìn thửa ruộng đã cấy kín, niềm hy vọng một vụ lúa tốt đang nảy mầm trong lòng chị. Chị ghé xuống bến Đầm Sen rửa chân tay. Tiếng chim chiều “quốc… quốc…” trong lũy tre rậm rạp như tiếng gọi từ lòng chị vang lên. Chị vừa bước về đầu ngõ đã có tiếng reo : “Ồ! Chị cử Sắc đã về kia!”. Vừa lúc đó vợ chồng anh Nguyễn Sinh Thuyết chạy ra, đon đả :

– Chào thím cử… Răng thím về muộn rứa?

Chị nho Sắc chào và đáp chuyện với anh chồng, chị dâu bằng nụ cười tươi. Và, chị cảm thấy ngường ngượng về cách gọi mới : “thím cử”, “chị cử”. Bé Côn cầm tay bác Thuyết gái đi ra đón mẹ cũng ríu ra ríu rít hỏi :

– Mệ ơi. Cha thi đỗ cử nhân thì được cấy (cái) chi mà ai cũng vui, cũng đến mừng nhà ta, hở mệ?

– Ấy chớ! Con không được hỏi rứa. Cha mắng chết.

– Cháu Côông của chú thím nó sớm khôn lắm. Trời để sống nó còn học sỏi (giỏi) hơn cả cha chứ nỏ bỡn mô, thím ạ.

Chị nho Sắc mời anh chồng lên nhà khách và đón chị dâu vàn nhà dưới, trong đó bà đồ đang trò chuyện với các bà khách đến chúc mừng con rể bà đạt vinh hiển.

Từ thềm nhà trên cho ra tới cuối sân, khách ngồi kín cả hai ghế tràng kỷ, các chõng tre, và nhiều người ngồi xổm, ngồi bệt xuống các khúc gỗ… Trước mặt mọi người là dãy bát nước chè xanh đặc quánh. Những miếng trầu têm cánh phượng, cau đậu được đặt ngay ngắn. Anh Nguyễn Sinh Sắc được mọi người gọi là quan cứ thì ngồi ghế tựa đầu bàn. Hương lý, hào mục ngồi trên hai dãy tràng kỷ…

Anh Sắc giọng từ tốn:

– Thưa các thầy trong hội đồng hương lý! Thưa các bác, các chú, các o, các dì và bà con nội ngoại, xóm làng! Điều trước nhất tôi xin mọi người đừng gọi tôi là quan cử. Sự đỗ đạt của tôi không hẳn là cái thang lên quan. Tôi sinh từ làng Sen . Tôi lớn lên trên đất làng Chùa . Tôi là dân và bao giờ cũng vẫn là người dân của làng ta, của xứ sở ta.

Ông chánh hương hội xoa xoa hai bàn tay, nói :

– Thưa.. Thưa… Thưa..

Bé Côn ngồi trên đùi bác Nguyễn Sinh Thuyết nghiêng cổ nhìn ông chánh hương hội có bộ râu chuột ba chòm cứ thưa mãi mà chưa nói thành câu liền phì cười làm mọi người cười theo. Anh nho Sắc lừ mắt về phía Côn. Côn tựa đầu vào ngực bác Thuyết, giấu mặt. ông chánh hương hội nói ề à :

– Quan… Quan cử đã… đã nói thực tâm như vậy là… là cái gốc của người có đạo nghĩa, ở chỗ “Dân vi quý”, ở chỗ “Dân vạn đại, quan nhất thời”. Vậy thì, xin được gọi là “ông cử” ạ.

Mọi người vừa uống nước, ăn trầu, vừa nói râm ran, tỏ vẻ đồng tình gọi là “ông cử Sắc”. Viên lý trưởng trịnh trọng thay mặt hội đồng hào lý :

– Thưa ông cử tân khoa. Theo tục lệ làng ta, hội đồng hào lý đã họp và quyết định cấp ba sào ruộng “học điền” do ông đã đưa vinh hiển về cho dân, cho xã này…

Anh cử Sắc đã từ chối việc cấp ruộng “học điền”. Viên lý trưởng phải giở cuốn hương ước (lệ luật trong làng) và nhắc lại lai lịch :

– Đất Chung Cự quê ta là đất hiếu học lâu đời, người đỗ đạt cũng khá nhiều. Theo sách “Đăng khoa lục” thì từ đời vua Lê Dương Hòa (1635) xã Chung Cự ni đã có người thi đỗ. Tính cả người đi thi Hương, thi Hội cả thảy là 96 khoa, toàn xã ta đã có 193 người đậu gồm có hiếu sinh, giám sinh, cử nhân, tú tài. Làng Chùa này có 29 người, làng Sen đậu 53 người, làng Ngọc Đình tới những 72 người, làng Vân Hội được 25 người, làng Cường Kỵ có 10 người, làng Tỉnh Lý 3 người, làng Khoa Cử chỉ có một người đậu. – Viên lý trưởng nhấn giọng : – Đó, tục lệ cấp ruộng “học điền” của quê ta có từ cái thuở xa xưa ấy.

Anh cử Sắc đã không thể từ chối, nói :

– Thôi thì đất lề quê thói, thầy lý đã nói vậy, tôi xin nhận một sào rưỡi thôi ạ. Sào rưỡi ni tôi xin dân làng và hội đồng hào lý được phép bán lấy tiền để sửa lại ngôi nhà thờ họ bị hư hỏng đã lâu ngày.

Cả mặt sân thấu ngoài ngõ dậy lên những tiếng tấm tắc : “Hiếm có người tốt như anh cử Sắc. Trong khi có bao nhiêu kẻ lòng tham không đáy đục khoét của dân, dùng chức vụ đè đầu dân, cưỡi lên cổ dân thì trái lại, anh cử Sắc từ chối “lộc” của làng thưởng cho mình, không chịu nhận cái danh vị mà mình có được” . Bé Côn thủ thỉ hỏi bác Thuyết :

– Bác ơi, học điền là cấy chi, hả bác?

– Là ruộng công dành để cấp cho người trong làng học đỗ đạt cao, cháu ạ.

Từ ban chiều, gió trở hướng xe mây về phía cửa sông. Kinh thành tĩnh lặng và lắng sâu vào bao la. Những cây đèn kính hộp đứng từng dãy dài quanh đường thành vào đại nội đã được thắp sáng. Ngoài Cồn Hến, những ánh lửa thấp thoáng như sao sa và ánh đèn li ti của các con thuyền neo trên sông bồng bà bồng bềnh, mặt nước từ phía kinh thành lên tận Kim Long sáng màu ngọc.

Nguyễn Sinh Sắc ngồi xếp bằng trên phản, cùng uống rượu với quan thượng thư Bộ Binh Đào Tấn. Ba mẹ con chị cử Sắc ăn cơm ở gian nhà dưới, không dám đụng mạnh đũa bát, không dám ho hay dặng hắng một tiếng. Sự yên lặng của đêm kinh thành như lắng đọng vào gia đình người học trò xứ Nghệ này.

Cậu bé Côn không chịu nổi cái cảnh vắng lặng kéo dài. Côn cứ ngấp nghé ở cửa buồng nhìn mặt quan thượng thư. Côn nghe mẹ nói thì thầm với hai anh em lúc quan thượng thư Đào Tấn vừa mới đến nhà mình : “Một vị quan đứng đầu một bộ trong triều đến nhà một học trò nghèo mà không có lính cận vệ, không người hầu tráp đi theo là hiếm có ở đời đó, các con ạ”. Côn vừa ngẫm nghĩ điều mẹ nhận xét vừa quan sát diện mạo quan thượng thư Bộ Binh Đào Tấn. Côn cảm thấy cha mình với thượng thư Đào Tấn khác nhau về tuổi (30), giống nhau về cốt cách. Quan chỉ mặc có chiếc áo dài xuyến, quần bằng vải cát bá, chít khăn lượt, đi giày hạ (giày da láng, mũi nhái, hở gót), giống như cha lúc đến trường Quốc tử giám. Hai người ngồi vừa bình văn vừa nhấm nháp vị “rượu tiến” cửa quan Đào Tấn đưa đến. Nghe được điều gì của cha nói, của quan Đào Tấn nói, không hiểu thấu, Côn đến hỏi mẹ. Nhưng Côn không thỏa mãn về những lời mẹ dẫn giải. Côn lại tựa lưng vào thành giường của mẹ, nghe cha trò chuyện với quan Đào Tấn.

– Thưa cụ thượng, kẻ hàn sĩ này trộm nghĩ : Quan đi đôi với quyền. Quyền sinh quyền sát. Vì thế mới có câu : “Nhất tự cách trùng”. Nhưng, cả xứ Nghệ chúng tôi, ai ai đều lưu lại trong tâm trí cái đức sáng của quan tổng đốc Đào Tấn.

– Những năm ngồi trên ghế tổng đốc ở xứ Nghệ là thời gian có ích nhất trong đời làm quan của tôi. Bởi vì, người xứ Nghệ rất coi trọng lễ, nghĩa, liêm, sỉ. Đúng như người xa đã luận giải: Lễ – nghĩa – liêm – sỉ là bốn cái rường cột để giữ vững quốc gia. Nếu người trong nước mà vô lễ, vô nghĩa, vô liêm, vô sỉ thì quốc gia ấy ắt sụp đổ và có thể bị diệt vong.

Nguyễn Sinh Sắc vẻ thành kính:

– Những bậc tai mắt ở Nghệ Tĩnh đều cho rằng, những vị thượng quan từ nơi khác đến chăn dân xứ Nghệ, chỉ có cụ thượng là bậc túc nho hơn cả.

– Xin đa tạ về lời khen cao giá ấy. Thực tình, tôi đến ngồi ghế tổng đốc An Tĩnh chẳng khác người phải lĩnh trọng trách đến “đánh trống ở cửa nhà sấm”. Và cũng nhờ có được những năm sống trên đất Nghệ, tôi mới có thêm hiểu biết để sửa chữa vở tuồng Sơn Hậu, nâng tình bạn giữa Đổng Kim Lân với Khương Linh Tá vượt lên khỏi quy tắc của tuồng cũ.

– Đôi câu đối của cụ thượng ghi ở ngay cửa Tiền thành Vinh đã khiến cho hàng nghìn con mắt tinh đời của dân xứ Nghệ thán phục.

Quan Đào Tấn nhấp rượu, môi hé nở tươi, đôi lông mày dài quá mắt chuyển động. Ông nói :

– Đó là một tấc lòng của kẻ công bộc cho dân xứ Nghệ.

– Thưa…. Không dám, thưa quan thượng thư. – Anh cử Sắc xuýt xoa về câu nói khiêm nhường của quan thượng thư Đào Tấn.

Quan Đào Tấn vẫn một giọng nhún nhường :

– Làm quan là làm người đầy tớ của dân chúng. Đó là điều tôi học người xưa. Ngày nay kẻ làm quan móc túi của dân mà không biết đỏ mặt nhiều vô kể. Nhưng dân không dám đuổi cổ quan đi là bởi quan nhiều quyền, dân không có thế lực. Thiết tưởng dù dân không làm gì nổi thì kẻ làm quan đục khoét của dân vẫn lưu ở trên đời một tiếng xấu : “Nhân bất khả vô sỉ”… (31)

– Thưa quan thượng : “Hành kỷ hữu sỉ” (32). Người xưa đã nói về những điều tốt đẹp ấy là rất quý, rất hiếm. Cái quý hơn, hiếm có hơn là quan thượng đã làm được những việc tốt đẹp trên bước hoạn lộ của mình. Vì vậy mà những học giả (người có kiến thức rộng) xứ Nghệ đã nhận ra được cái chân tâm (thật lòng) của quan thượng mà quan đặt vào đôi câu đối tại cửa Tiền thành Vinh.

Quan Đào Tấn hơi sửng sốt, nhìn cử nhân Nguyễn Sinh Sắc nâng ly rượu lên trước tầm mắt của hai người :

– Quan cử là người thứ hai, sau quan Phó bảng Đặng Nguyên Cẩn, đã đọc ra cái điều sâu kín nhất trong đáy lòng của “Kẻ ở ẩn tại triều” này… Xin cạn với nhau ly rượu về sự tri ân, tri tri diện, tri tâm (biết người, biết mặt, biết lòng) và – nét buồn bỗng phủ lên gương mặt nhân từ của quan Đào Tấn – tôi xin báo một tin buồn với quan cử là : Quan ngự sử Phan Đình Phùng đã… từ trần trên núi Quạt.

– Ôi ! Anh cử Sắc đánh đổ ly rượu xuống chiếu – Quan ngự sử mới bốn mươi… chín tuổi !

– Tin báo về triều – quan Đào Tấn giọng run run – là Nguyễn Thân đã cho binh lính tìm dược mộ quan ngự sử và đào lên, thiêu thi hài thành tro rồi nhồi với thuốc súng bắn xuống dòng sông La!

– Quan ngự sử và Nguyễn Thân đều được lịch sử lưu lại. Nhưng danh thơm thuộc về quan ngự sử, tiếng nhục của Nguyễn Thân dù rửa cạn nước sông Trà Khúc cũng không sạch.

– Tôi vừa làm xong câu đối điếu quan ngự sử, xin đọc để quý quan bình cho. Giọng quan Đào Tấn lúc trầm lắng xót xa, lúc sôi nổi, giận dữ. Qua từng chữ từng câu trong đôi câu đối, anh Sắc hiểu được những suy tư cao cả, sâu kín trong tâm hồn ông. Anh càng cảm thông và kính phục quan Đào Tấn, một vị văn quan đương tại triều này. Anh xúc động lau nước mắt. Ngọn đèn tọa đăng run rẩy. Gió lạnh tràn qua mái tranh để lại cái rét buốt trong nhà người học trò xứ Nghệ.

Côn mải nghe chuyện quên cả buồn ngủ. Lúc cha tiễn quan thượng thư Đào Tấn ra tận hàng đèn ngoài đường thành, Côn mới nằm xuống ôm lấy anh Khiêm cho ấm. Nhưng Côn còn hỏi với sang mẹ đang ngồi dệt vải :

– Ông Phan Đình Phùng chết là hết người đánh Tây, hả mệ?

– Ngủ đi con. Ngày con khôn lớn con mới hiểu cái việc hệ trọng ấy.

Côn nhắm mắt : hình ảnh chàng Thạch Sanh hiện đến. Côn lại mở mắt và vẫn cảm thấy ngứa ngáy trong lưỡi, nói :

– Nghe mệ kể chuyện Thạch Sanh, ước chi con cũng có phép thần thông, có cây đàn thần thì con cũng sẽ gẩy đàn cho giặc Tây ngủ hàng loạt, thu hết súng ống về, rồi nấu cho chúng một niêu cơm ăn mãi không hết, trải chiếu hoa trên đường, tống tiễn chúng về Tây.

Chị cử Sắc mỉm cười giục con :

– Đã biểu ngủ đi. Cha mi vô kia rồi. Ngủ đi con, khuya lắm rồi.

Chú thích:

(28) Kinh đô của vua

(29) Dưới thời nhà Nguyễn, con trai thuộc dòng họ nhà vua gọi là mụ, con gái là mệ.

(30) Đào Tấn sinh năm 1845, Nguyễn Sinh Sắc sinh năm 1863.

(31) Người không biết xấu hổ thì không còn là người nữa (lời Mạnh Tử)

(32) Phải biết giữ mình, làm việc bậy là xấu hổ (lời Mạnh Tử)

Đến hết thiết triều các hoàng tử đi trước, tiếp sau là các chư công rồi tới các hoàng thân tiến vào điện Thái Hoà. Các quan văn, võ và các tôn tước từ tam phẩm trở lên đứng ở Đơn Bệ, từ tứ phẩm trở xuống đứng tại Long Trì. Tất cả các quan đều đứng theo thứ tự phẩm hàm đã khắc trên bảng đá nhỏ, gọi là phẩm sơn. Buổi lễ thiết triều này, viên khâm sứ và đám quan binh Tây cũng có mặt chố hố giữa điện Thái Hoà. Dọc hai bên Long Trì có có các đội nhạc. Ngoài Ngọ Môn, các đơn vị tượng binh, kỵ binh được dàn thành đội hình hướng vào sân rồng.

Từ trên lầu Ngũ Phụng của Ngọ Môn, vọi đồng nổi lên chín tiếng. Côn nghe cảm thấy rờn rợn, da nổi gai ốc. Nhưng hai mắt Côn giương rộng, không nhấp nháy, nhìn vua Thành Thái ngự trên kiệu rồng từ điện Cần Chánh, đi qua Đại Cung Môn vào điện Thái Hòa. Vua còn rất trẻ, mặt hơi trái xoan, mũi thắng, mắt xếch, lông mày thanh, dài quá mắt, môi đỏ tươi, cằm có rãnh sâu. Vua đội mũ cửu long, tay cầm hốt ngọc, áo gấm, cổ đeo chuỗi ngọc sa xuống trước ngực chiếc kim thánh hình bướm trên đó đúc bốn chữ nổi bằng vàng : “Đại Nam Hoàng Đế”.

Vua bước lên ngai vàng, ngồi hướng mặt về Nam . Nhã nhạc nổi lên. Các quan làm lễ lạy vua năm lạy. Một quan đại thần hai tay nâng trước mặt một tờ hạ biểu (35), đầu hơi cúi, bước đi lừ đừ, mũ cánh chuồn rung ra rung rinh, bộ râu ba chòm màu cước phủ trắng ngực áo. Ông quỳ xuống trước ngai vàng, dâng lên vua tờ hạ biểu, các quan đều phủ phục xuống sân rồng và lạy tạ năm lạy nữa. Quan đại thần hạ biểu xong lui xuống. Quan thượng thư Bộ Lễ tiến lên tâu với vua : cuộc lễ Vạn Thọ đã xong. Vua nâng hốt ngọc lên phía trước quần thần và từ từ bước lên xa giá trở về nội cung… Sau buổi xem lễ Vạn Thọ về, Côn bị cảm, nóng dầu. Chị cử Sắc lo quá. Chị vừa sờ trán con vừa hỏi, vẻ hệ trọng :

– Có lẽ con đã nhìn mặt vua mà không được vua ưng nên bị quở phạt, hở con?

– Nỏ phải mô, mệ ạ. Con bị cảm là do con đứng bị gió hắt vô giữa mặt.

Côn thì thầm với mẹ :

– Mệ ơi!

– Chi rứa con?

– Con thấy vua, người nhà vua, các quan trong triều mặt mũi đều bình thường như mọi người mà sao họ sướng gấp vạn lần, còn dân lại không được lấy một lần là bởi tại đâu, hả mệ?

Chị cử Sắc tái mặt, bịt bàn tay lên miệng con :

– Ôi cha! Con còn bé mà… mà… Đã bảo ở gần cung vua con phải giữ mồm giữ miệng…

Mùa hè năm cuối cùng của thế kỷ mười chín.

Một hôm Côn đang cặm cụi hon từng đống lá dưới hàng cây thì một bà hàng xóm chạy ra, gọi :

– Côn ơi! Mẹ cháu đau bụng chuyển sinh rồi.

Côn hót vội những đông lá vào sọt, na bên lưng, chạy vội về nhà. Côn ném cái sọt lá vào một góc sân, chạy vào buồng với mẹ. Chị Sắc vừa rên vừa nói :

– Con có dám đi sang Dương Nổ gọi cha về ngay không?

– Con đi gọi bà mụ (bà đỡ) cho mệ đã.

– Mệ đã nhờ người đi mời bà mụ rồi.

Côn vội khoác cái áo năm thân, vừa đi vừa cài khuy. Nắng chiều xiêu xiêu trên thành nội. Bóng Côn ngã dài trên ngõ vắng ngập lá vàng rơi. Ngay tối hôm đó, anh cử Sắc cùng con trai từ Dương Nổ về thành nội. Chị Sắc đã sinh con trai. Anh đặt ngay tên cho đứa con út là Nguyễn Sinh Nhuận. Anh giải thích với vợ :

– Đã gần mười năm, nay nhà (mình) mới sinh thêm một lần nữa. Vì vậy tôi đặt tên cho là Nhuận. Nhuận nghĩa là thêm. Ví như “năm nhuận” là năm có dôi ra một tháng.

– Mình không đặt tên chữ cho con à? – Chị Sắc hỏi chồng. – Tự của nó là Tất Danh. Nhà nhớ cho con nhá.

Chị Sắc nhẩm nhớ trong trí : Nguyễn Thị Thanh, tự Bạnh Liên; Nguyễn Sinh Khiêm, tự Tất Đạt; Nguyễn Sinh Côn, tự Tất Thành; Nguyễn Sinh Nhuận, tự Tất Danh… Chị Sắc muốn được trò chuyện với chồng nhiều, nhưng trong người mệt luỗi như muốn đứt hơi! Anh cử Sắc quạt muỗi, đắp chăn vải mỏng cho hai anh em bé Khiêm, Côn ngủ. Anh khơi to ngọn đèn, giở bộ sách thuốc ra đọc. Anh kê từng vị thuốc ra giấy và nỗi lo lắng về tình trạng sức khỏe của vợ dấy lên trong lòng anh. Anh trăn trở mãi và đành phải cho vợ biết ngay việc anh sắp phải đi xa :

– Nhà vừa ở cữ, lại không được khỏe. Tôi thấy khó xử với lệnh trên truyền xuống giữa lúc cảnh nhà quẫn bức này.

– Có chuyện chi mà hệ trọng lắm vậy nhà?

– Quan tế tửu mới vừa chuyển lệnh của quan thượng thư Bộ Học chọn cử tôi đi Thanh Hóa coi thi Hương.

Chị cử Sắc thở dài não nuột :

– Cổ nhân đã dạy: “Sứ trời sớm giục đường mây, phép công là trọng niềm tây xá nào” (36). Nhà cứ yên tâm đi làm việc lớn mà triều đình đã sắp đặt. Việc nhà, xin nhà đừng bận tâm lo nghĩ nhiều mà hao tổn tâm thần, nhãng sao phần đèn sách.

– Thi cử là công việc tuyển chọn người học vấn chân tài. Tôi không thể từ chối được. Hiềm một nỗi… nhà… nhà đang bệnh… Bệnh sản sau ngày sinh nở là độc lắm. Tôi vắng nhà, việc lo liệu thuốc thang chẳng có ai. Bé Khiêm nó cũng sẽ đi với tôi. Bé Côn còn trẻ nít, nó xoay xở sao nổi cái công việc mà người lớn cũng còn thấy bất lực kia mà!

– Nhà cho con đi hầu tráp, tôi yên cái bụng. Mệ con tôi ở nhà sẽ tự lo liệu được mọi việc. Tôi lo cho cha con đi xa gặp phải lúc nhà không còn tiền, vì gần một năm nay, tôi đau yếu, thai nghén, không dệt được là bao…

– Tôi đi đã có tiền cấp phí của Bộ Học.

Hai vợ chồng anh cử Sắc bàn bạc việc nhà trong mấy hôm liền. Hơn một tháng sau, cha con anh cử Sắc lên đường đi chấm thi Hương ở Thanh Hoá.

Bệnh hậu sản của chị cử Sắc ngày càng nặng. Sức khỏe của chị suy sụp rất nhanh từ sau ngày anh vắng nhà.

Với cái tuổi lên mười, Côn đã phải nấu cháo, sắc thuốc, chăm sóc bệnh tình của mẹ. Hằng ngày, Côn còn phải bế em sang hàng xóm xin những bà mẹ đang nuôi con thơ cho em được bú nhờ. Các bạn nhỏ trong thành nội cũng thường bế em giúp Côn đi xin sữa và gọi bằng cái tên thân mật : em Xin. Từ đó mọi người quên hẳn cái tên Nguyễn Sinh Nhuận.

Thấm thoắt đã hết năm 1900 – năm cuối cùng của thế kỷ mười chín. Côn sốt ruột hỏi mẹ :

– Răng cha và anh Khiêm đi hoài, đi mãi, chẳng thấy về hả mệ?

– Mệ cũng thấy bồn chồn. Cha con biểu đi chừng bốn năm tháng. Nay đã gần Tết rồi.

– Liệu cha và anh Khiêm có kịp về Tết ni không mệ nhể?

– Chắc là kịp. Nhưng mệ ngợ là cha con sẽ ghé về quê thăm bà. – Ngày Tết mà mệ chưa khỏi bệnh, cha, anh Khiêm vẫn chưa về, nhà ta mất Tết, con lại chẳng được ngồi canh nồi bánh tét, không được đốt pháo đón giao thừa!

– Mệ sẽ cho con tiền mua bánh pháo dài, con đốt bằng thích.

– Con thích có bánh tét, bánh chưng hơn, mệ ạ. Còn pháo thì để anh Khiêm đốt cho vui nhà trong ngày Tết chứ con không ưa tiếng nổ inh tai, nhức óc mô.

Đêm tháng chạp. Gió hú dài trên đường thành. Côn đặt tay lên ngực mẹ, hỏi :

– Mệ ơi ! Mệ có làm sao không?

– Mệ không sao đâu. Con ngủ đi, trằn trọc mãi vậy. Chị Sắc thở dà i: – Con săn sóc mẹ ốm, lại chăm nom em nữa… e chừng con sụp mất!

– Mệ đừng lo. Con vững lắm. Còn có các đứa bạn con, chúng nó tốt bụng với con lắm.

– Ừ. Con có những đứa bạn rất thảo miếng ăn, đối với con cứ như anh chị em trong một nhà ấy.

– Con bận mấy thì bận, con cũng giúp bạn con cách bồi bìa sách, đóng quyển học (vở học). Các bạn con cứ biểu con có hoa tay, mệ ạ.

– Phải rồi. Bạn đối xử tốt với mình thì mình càng phải ăn ở tốt với bạn. – Chị Sắc sợ con làm quá sức, dặn: – Từ mai, con đừng nấu nướng chi mà xách vịm (37) ra hàng cơm gánh hoặc con đến trại lính mua một suất cơm về ăn và nhá cho em. Con cần có thì giờ nghỉ, chơi nhởi con ạ.

Ngày 22 tháng chạp năm Canh Tý (10-2-1901), kinh thành Huế nhuộm màu ảm đạm. Nền trời chì. Gió hiu hiu thổi. Người đi chợ Tết đông như hội. Dưới sông, thuyền hàng, đò dọc, đò ngang đi về như mắc cửi. Nhiều người đã sắm hoa Tết, vác những cành mai, bưng chậu thủy tiên, vẻ hớn hở. Côn xách một vịm cơm trong cái gióng mây ba tao (38) vừa đi vừa theo dõi con chim sâu mới ra ràng đang nhảy nhót trên hàng cây hoa đại sau cửa Đông Ba. Côn định đặt vịm cơm xuống bãi cỏ đuổi bắt con chim con. Bỗng tiếng Công tôn nữ Huệ Minh gọi yếu ớt : “Côn… ơi! Mệệ… Côn… chết…… Côn… ơi…!”

Côn ném vịm cơm xuống. Cái vịm sành vỡ làm đôi, cơm tưng tóe trên vạt cỏ úa vàng… Côn chạy một mạch về nhà, miệng ra lớn : M… ệệ… Mệệ… ô… ii!

Một ông từ phía đại nội chạy tới níu lấy Côn và b ịt miệng, không cho Côn khóc la :

– Náu lặng! Náu lặng ngay không thì mất đầu.. . Đây là nơi gần với cung vua, gần tòa sở các quan làm việc, không ai được la to, mi đã rõ chưa?

Huệ Minh, Kỳ và đám trẻ thành nội cũng chạy theo Côn về nhà. Côn mím chặt môi không cho bật ra tiếng khóc. Càng chạy nhanh càng dồn nén nỗi đau tắc nghẹn, nước mắt trào giàn giụa, đất trời quay tít trước mặt. Côn lại òa lên khóc khi thấy mẹ đã thõng một cánh tay xuống bên thành giường, một tay vẫn ôm vòng qua cổ bé Xin và bé Xin không biết mẹ chết cứ ngậm vú mẹ nhay nhay. Côn phủ phục xuống bên mẹ gọi : Mệ! Mệ! Mệ! M… ệệ ô…ii! Mẹ bỏ chúng con… sao… mệ… ôi! Cha…chưa… kịp… về… mệ… ơi!

Huệ Minh chạy vào bế bé Xin ra khỏi vòng tay thi hài chị cử Sắc. Bé Xin giãy nảy, chuồi chuồi chân, khóc thét… Ngoài sân, hàng xóm đã đổ tới khá đông và có tiếng nhắc nhở :

– Khóc khẽ thôi. Luật lệ cấm mọi tiếng động mạnh đó, nghe.

Nhiều tiếng tặc lưỡi và xuýt xoa :

– Tội nghiệp bà cử! Cha con ông cứ vẫn chưa về… Tội thân anh em bé Côn! Mệ chết mà chẳng có một ai thân thích ở gần!

– Giữa lúc năm hết, Tết đến mà mệ chết, cha vắng nhà, ở giữa đất khách quê người này, liệu anh em bé Côn sẽ sống ra sao đây?

– Vậy ra… ông bà cử Nghệ không có ai là người ruột thịt ở miệt ni à?

– Chẳng có một người nào cả.

– Vậy thì chị em xa, ta là láng giềng gần, mỗi người một tay để đưa bà Cử về nơi an nghỉ cuối cùng.

Vì luật của triều đình, những người chết trong thành nội không được phép làm đám ma ở đó, phải chuyển áo quan ra bên ngoài để hành lễ.

Kinh thành Huế nghiêng nghiêng dưới gầm trời u ám cuối năm. Chiếc quan tài bà cử Sắc – Hoàng Thị Loan – phủ chiếc chiếu hoa “song thọ”, trên nắp áo quan đặt đĩa đèn dầu cháy leo lét, vật vờ. Sáu người đàn ông dàn ra hai hàng khiêng tay chiếc áo quan đi từ từ ra phía cửa hậu, tuần qua Đông Thành Thủy Quan. Nguyễn Sinh Côn, đầu đội khấu rơm, mặc áo đại tang, chống gậy, chân đất, đi sau quan tài mẹ. Huệ Minh bế bé Xin đi sóng bước với Côn. Một đoàn bạn nhỏ thành nội, tay cầm hoa huệ, hoa tam vị, cành đại… mặt em nào cũng buồn rượi đi bên Côn. Những người hàng xóm đi đưa đám bà cử Sắc phải đi phía cửa Đông Ba ra sông Hương đợi thuyền chở quan tài từ Đông Thành Thủy Quan tới. Chiếc quan tài đặt vào lòng con đò. Côn gục đầu xuống nắp áo quan mẹ. Ở đầu áo quan, sáp nến chảy dài và tụ lại thành cục, thành hòn dưới chân cây nến. Dòng khói hương cuồn cuộn. Bé Xin vừa mút tay vừa gào mẹ… Côn vừa khóc nấc dồn dồn, toàn thân rưng lên. Các bạn nhỏ thành nội xúm xít bên Côn.

Con đò chở áo quan tách khỏi bến, những chiếc đò chở người đưa đám nối theo sau.

Ngôi mộ bà cử Sắc đã được vun cao. Mọi người thành kính đặt một nắm đất cuối cùng lên mộ rồi lần lượt ra về. Người nào cũng ngoảnh lại, cám cảnh nhìn hai anh em bé Côn…

Bãi tha ma Nam Giao hoang vắng. Bóng chiều ôm tròn ngôi mộ màu đất mới nghi ngút khói hương. Côn phủ phục xuống lạy tạ trước tấm bia gỗ trên đầu ngôi mộ mang hàng chữ đen: Hoàng Thị Loan sinh năm Mậu Thìn (1868) tại làng Hoàng Trù, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, từ trần ngày 22 tháng Chạp năm Canh Tý (10-2-1901) tại kinh đô Huế.

Chôn cất mẹ xong, Côn lại bế em về với ngôi nhà hoang vắng trong thành nội. Bà con hàng xóm, các nhà có con học ông cử Sắc đều muốn đón anh em Côn về ở với gia đình họ. Nhưng Côn không đến ở nhà ai. Em còn nhỏ, đang lâm bệnh ỉa chảy, lại là ngày Tết, nhà nào cũng có cỗ bàn sang trọng, khách khứa đông vui người ta sẽ khó chịu về sự có mặt của hai đứa trẻ mồ côi mẹ này! Những đêm đầu tiên vắng mẹ, Côn thấy rờn rợn trong đầu. Bé Xin nhớ hơi mẹ, thèm sữa gào khóc; không dỗ được em nín, khổ quá, Côn khóc luôn với em. Tiếng “eng éc” của con chim cú lợn kêu từ đêm trước lại hiện đến trong Côn với cảm giác như bị cái cột nứa cứa vào bàn tay. Côn cất tiếng ru :

À ơi. Bồng bồng bế bế bồng bồng…

Cò con theo mẹ sang sông đắm đò…

À ơi đắm đò ướt hết thân cò…

Cò con cò mẹ lò dò sang sông…

Bồng… bồng… bế… bế… ớ… bồng… ơ… bồng…

Cái cảm giác sợ hãi đã bay biến thì nỗi cô đơn lại bao trùm lấy tâm trí Côn lúc cả kinh thành bay lên theo tiếng pháo giao thừa. Côn phải dỗ em bằng kẹo, bánh của các bạn đem đến cho. Tuy em Xin chưa biết nói, Côn vẫn trò chuyện với em như nó đã tiếp nhận được mọi điều của anh nói ra :

– Em ăn cái bánh ni ngon hơn mọi thứ bánh khác, đây là lộc của đức Hoàng phi Thành Thái cho anh em mình đó. Em có biết không, mẹ Công tôn nữ Huệ Minh thưa với đức Hoàng phi về tình cảnh của anh em mình, cha mình là cử nhân, là giám sinh đang chấm thi ngoài tỉnh Thanh…

Mặc anh dỗ dành, nựng chiều, bé Xin vẫn không ăn bánh, không đòi bú và cả tiếng khóc cũng đang đuối dần! Côn bế em vào lòng, tựa lưng bên bàn thờ mẹ nhìn đau đáu trong đêm đen quạnh quẽ mịt mù…

Nguyễn Sinh Sắc về tới T hành N ội, bàng hoàng trước cảnh vợ đã từ trần, đứa con út đang hấp hối trên tay bé Côn.

Ông buông thõng hai tay, mắt mở to trống rỗng khi đôi mắt thơ ngây của bé Xin như hai dấu chấm đen ánh lên lần cuối cùng rồi lặn vào vĩnh viễn.

Chôn cất đứa con út xong, ông cử Sắc đưa hai con trai trở về Nghệ. Trên đường về, tâm trạng ông chẳng khác nào một danh tướng thất trận. Ông sẽ nói gì, nói thế nào khi về gặp lại người mẹ vợ cao cả đã hai lần bán ruộng gom tiền cho ông đi thi, vào kinh đô học; người đã nén tình cảm để con gái đầu lòng đi nuôi chồng ăn học. Nay trở về : vợ, đứa con út nằm lại vĩnh viễn bên bờ sông Hương…Suốt dọc đường thiên lý, hàng tháng trời, ông gặp lại những kỷ niệm của vợ chồng ông cùng đi vào lần trước. Và hình ảnh vợ quảy gánh trẩy kinh giúp chồng ăn học như dãy núi dài theo bước chân ông về thấu quê nhà.

Được tin cha con ông cử nhân Nguyễn Sinh sắc đã về, bà con họ hàng, làng xóm lũ lượt đến chia buồn.

Cụ đồ lưng đã bắt đầu còng xuống, ôm chầm ấy hai đứa cháu ngoại mồ côi mẹ, nhìn chàng rể về một mình, cụ kêu khóc như xé trời, thủng đất! Cô An thấy vắng chị chạy vào buồng ôm mặt nức nở. Thanh không thấy mẹ về, nằm lăn ra đất, ngất xỉu. Bà Thuyết và mấy người nữa bế vội cháu Thanh vào nhà. Tiếng khóc trùm lên lũy tre làng. Bàn thờ bà Hoàng Thị Loan kê ở gian giữa của ngôi nhà cũ. Ông cử Sắc kính cẩn đặt lên bàn thờ tấm bài vị của vợ mà ông mang từ Huế.về. Mọi người thân lần lượt vào thắp hương và lễ vái…

Phan Bội Châu và Vương Thúc Quý phúng viếng một đôi câu đối bằng vóc trắng, mang dòng chữ.

Hai chục năm đầu gối tay kề (39), nghĩa vợ tình chồng gương sáng mãi;

Mấy bạn hiền bút nghiên khuya sớm, sân Trình cửa Khổng(40) bảng vàng tươi.

Trong dịp này quan Đào Tấn cũng cho lính hầu từ thành Vinh (41) mang lễ lên làng C hùa phúng viếng bà vợ ông cử Sắc.

Lập xong bàn thờ và làm lễ phát tang vợ cho bên nội bên ngoại xong, Nguyễn Sinh Sắc tính việc trở lại kinh đô Huế dự thi Hội, khoa Tân Sửu (1901), lòng ông đầy trở trăn : Ông vào kinh đô thi Hội khoa Ất Mùi (1895) tốn kém nhiều, mẹ vợ phải bán ruộng. Nhưng khoa thi ấy ông không đỗ ông lại đưa vợ và hai con trai vào Huế. Mẹ vợ lại bán ruộng lần nữa mới có đủ tiền cho ông trẩy kinh với bao hy vọng chàng rể trở về có “ân tứ vinh quy” bõ cái công nuôi chàng rể sách đèn.

Nào ngờ, vợ ông từ trần giữa lúc khoa thi sắp mở! Ông lại phải “gà trống nuôi con” về làng dựa vào mẹ vợ đã chồn lưng mỏi gối.

Mẹ vợ lại phải ẵm cháu ngoại thay con gái, và bán ruộng lần thứ ba, để có đủ tiền thuê xe phu trạm cho chàng rể kịp vào kinh đô ứng thí. Ông Sắc lên đường vừa chân ướt chân ráo đã có người đến nhà cụ đồ An thủ thỉ :

– Cụ không có con trai. Con gái cụ đã qua đời, chàng rể thì trẻ chưa qua già chưa đến ắt còn phải tính chuyện bà kế, bà thiếp chứ. Vậy mà cụ không để ruộng làm của “lập tự”, làm ruộng giỗ lại đem bán cho chàng rể đi học, đi thi những ba lần? Khoa thi này ông cử Sắc có chiếm được bảng vàng, vinh quy bái tổ thì họ Nguyễn làng Sen được tiếng thơm chứ cụ và họ Hoàng làng Chùa này được cái chi hả cụ?

Cụ đồ An cười. Giọng cụ trở nên bồi hồi :

– Cha tôi một đời đèn sách, bốn lần thi Hương cả bốn lần đều chỉ đỗ bốn cái tú tài. Dân làng gọi là cụ “tú đụp” Kẻ Sía. Tôi cũng được năm ba chữ cha dạy cho, lúc lấy chồng thì lại giúp chồng đèn sách, hai lần thi Hương ông nhà tôi cũng chỉ là “tú kép”. Nay được chàng rể đang có chí cần công khổ học như cha tôi, như chồng tôi lẽ nào tôi không hết lòng? Cha tôi thường dạy : Ruộng không đẻ ra chữ được mà chữ sẽ đẻ ra ruộng. Có ruộng cả ao liền để lại cho con mà con dốt nát thì nó sẽ nướng vào canh bạc là trắng tay. Tôi bán ruộng cho chàng rể có chữ lẽ nào người có chữ lại ăn ở vô nghĩa, bạc tình?

Cụ đồ An – Nguyễn Thị Kép đã sáu tư sáu lăm tuổi. Răng cụ còn nguyên. Tóc chưa có mấy sợi bạc. Nhưng, cái chết của người con gái đầu lòng đã làm biến đổi hình hài của cụ. Nhất là hai con mắt khóc nhiều quá, màng kéo lên như làn khói mỏng. Đêm nào cụ cũng phải ôm chặt lấy cháu Côn như đang được ôm con gái thuở còn bé. Để bà khuây khỏa phần nào, Côn vòi bà kể chuyện cổ tích hoặc kể lại cho bà nghe việc Côn xem sân rồng, cung điện, ngai vàng… Đặc biệt là Côn được nhìn thấy mặt vua Thành Thái mà mắt Côn không hề có làm sao cả. Rồi Côn sực nhớ hình ảnh ông già mù, Côn hỏi bà :

– Ông Xẩm đi hát dạo ở đâu xa mà từ hôm cháu về nỏ gặp ông ấy, hả bà?

– Ông ấy chết đã hai năm rồi, cháu ạ.

Côn thở dài:

– Ông Xẩm mắt mù, nhưng chuyện chi ông ấy cũng biết. Vắng ông Xẩm, làng ta cũng giảm phần vui, bà nhể.

– Trước lúc trút hơi thở cuối cùng, ông Xẩm đã nhắc nhớ tên từng người trong làng mình. Ông ấy cứ nói cảm ơn, cảm ơn cha mẹ cháu có tới mấy lần.

Bỗng từ bên hàng xóm có những tiếng gào khóc, than vãn. Côn hỏi bà :

– Nhà ai có người chết mà họ khóc giữa giờ này, hở bà?

– Người ta khóc chồng, khóc con bị bắt đi phu làm đường Cửa Rào – Trấn Ninh đó cháu ạ.

Côn ôm chặt lưng bà. Tiếng khóc bên hàng xóm xói vào lòng, Côn không tài nào ngủ được. Côn thủ thỉ :

– Cháu đi từ kinh đô Huế về, trên đường, người làm phu mở đường đông như kiến ấy bà ạ. Cháu thấy người Tây họ cưỡi ngựa, có cả lính người Nam đi theo. Ông Tây có cái roi gân bò dài quất xuống đầu, xuống lưng những người gầy gò áo quần rách mướp, không giơ nổi cái cuốc!

– Cái kiếp dân mình khổ hết đường vậy đó, cháu ơi! – Cụ đồ An vuốt nhẹ tóc cháu, giọng xúc động – Mười người đi phu chỉ thấy về lại được ba, bốn.

Cụ dằn từng tiếng:

Ông quan áp trước

Cậu lính áp sau

Roi quất vùi đầu

Thân phu đài coi rẻ

Áo mặc còn giẻ

Nón đội còn mê

Mãn hạn trở về

Ba phần còn một…

Lặng đi một lúc, cụ đồ đặt ngổn tay lên mi mắt cháu nhẹ nhàng nói :

– Khuya lắm rồi, ngủ đi cháu, kẻo mai cháu lại ngủ gật trong lớp học, thầy Quý sẽ phạt đấy.

– Bà ơi! – Côn nói, vẻ thận trọng. – Dạo ni cháu thấy chú giải San (Phan Bội Châu vừa đậu giải nguyên) thường dẫn nhiều bạn đến chơi nhà thầy Vương Thúc Quý. Cháu thấy các ông bạn lạ ấy cũng nhắc đến tên cha cháu. Cháu nhớ được tên của mấy ông như : Đặng Tử Kính, Đặng Thái Thân, Đặng Nguyên Cẩn, Đặng Thúc Hứa, Tôn Gia Nhuận, Đặng Văn Bá, Lê Văn Huân… Hình như.. các ông bàn chuyện đánh Tây, bà ạ.

– Ấy! Phải kín miệng cháu ơi! Việc hệ trọng của những người tai mắt, cháu đừng có bép xép mà sinh họa lớn, nghe cháu!

Côn nằm im một lát, lại hỏi :

– Người tai mắt là người nào, hở bà?

– Người tai mắt là người có nhiều chữ, có chí lớn, lo nghĩ những công việc ích nước lợi dân, khác hẳn với những người thường. Chẳng hạn, các ông nghè, ông cử mà cháu vừa nói tên đó…

– Vậy cha cháu có được gọi là người tai mắt không bà?

thầy Vương Thúc Quý. Cháu thấy các ông bạn lạ ấy cũng nhắc đến tên cha cháu. Cháu nhớ được tên của mấy ông như : Đặng Tử Kính, Đặng Thái Thân, Đặng Nguyên Cẩn, Đặng Thúc Hứa, Tôn Gia Nhuận, Đặng Văn Bá, Lê Văn Huân… Hình như.. các ông bàn chuyện đánh Tây, bà ạ.

– Ấy! Phải kín miệng cháu ơi! Việc hệ trọng của những người tai mắt, cháu đừng có bép xép mà sinh họa lớn, nghe cháu!

Côn nằm im một lát, lại hỏi :

– Người tai mắt là người nào, hở bà?

– Người tai mắt là người có nhiều chữ, có chí lớn, lo nghĩ những công việc ích nước lợi dân, khác hẳn với những người thường. Chẳng hạn, các ông nghè, ông cử mà cháu vừa nói tên đó…

– Vậy cha cháu có được gọi là người tai mắt không bà?

– Phải. Cha cháu là người tai mắt.

– Cha cháu đi vô kinh thi Hội đến nay… lâu rồi mà nỏ có tin chi về, bà nhể.

– Đừng nhắc mà cha cháu sốt ruột, dễ bị vấp ngã trong lúc đi lại, cháu ạ. – Cụ đồ lại giục : – Ngủ đi cháu!

Côn nhắm mắt. Hương sen từ ngoài ao làng thoang thoảng quanh buồng ngủ. Trong phút chập chờn Côn thấy loáng thoáng búp sen xanh ẩn hiện trong đầm sen bát ngát giữa đồng quê. Bên tai Côn, tiếng chim đêm hè văng vẳng. Và có cả giọng ca của ông Xẩm tưởng hồi trong giấc mơ :

Nước Nam ta sao lại có Tây?

Thần dân quyết đánh, vua rày không nghe…

Nghe tiếng chim khách, từ trong lớp học Côn nhìn ra vườn. Những ngọn cây cúi xuống nhô lên, vật và vật vờ. Từng chiếc lá vàng chao rơi lấp loáng. Cả đám học trò đang cặm cụi tập làm câu đối bỗng giật mình nhìn ra vườn vì tiếng thốt bất ngờ của Côn :

– Ồ… ồ… Những trái tim… những trái tim vàng bay!

Thầy đồ ngồi bên án thư nhìn Côn, nghiêm giọng :

– Trò Côn đứng dậy!

Côn khoanh tay trước ngực đứng nghiêm. Gió ngoài vườn luồn qua cửa sổ, lật nhẹ tà áo dài của Côn lên phía trước, cái khăn vành rế ôm choàng quanh đầu, trông dáng hình Côn như búp nấm. Hai con mắt Côn long lanh nhìn thầy. Giọng thầy đồ vẫn nghiêm :

– Đang trong giờ làm văn tập, tại san trò dám nói nhảm?

– Thưa thầy, con thấy những lá vàng rụng xuống như những trái tim bay lượn ạ.

Thầy đồ đưa mắt ra vườn, mỉm cười. Ông hỏi Côn :

– Trò đã làm xong câu đối chưa?

– Thưa thầy, con làm xong rồi ạ.

– Trò đọc to lên! Cả lớp chao mắt về Côn, chỉ có Nguyễn Sinh Khiêm là nhìn xuống trang sách trước mặt, nhưng tai vẫn ghé về phía Côn. Côn đọc rõ từng tiếng :

Chung Sơn vượng khí thành kiên cố,

Trắc Lĩnh đa vân thị lão niên. (42)

Hơn hai chục cặp mắt học trò đều lộ vẻ ngạc nhiên, khâm phục Nguyễn Sinh Côn. Thầy đồ đứng dậy, chống hai bàn tay xuống án thư, suy tưởng. Đôi mắt nhìn về phía Nguyễn Sinh Côn, ông hỏi :

– Có trò mô đã làm xong nữa không?

Cả lớp ngồi im lặng. Thầy đồ giọng ấm áp.

– Trò Côn ngồi xuống kẻo mỏi chân. Các trò ơi! Thầy dạy học từ ngày thầy mới có dúm tóc bằng quả thị, nay đã có những sợi bạc, nhiều người học trò đỗ đạt cao hơn thầy, đã làm tới quan huyện, quan phủ… Nhưng, thầy chưa hề ngạc nhiên với một học trò nào có thiên tư như trò Nguyễn Sinh Côn! Thầy biết cái lẽ : Khen người trẻ tuổi đang ở trước mặt mình là có hại. Nhưng với trò Côn thì thầy lại tự cho phép mình làm trái với cái điều ấy. Bởi lẽ, cái thần sáng của trò Côn rất khác thường. Vốn chữ của trò Côn chưa có nhiều, nhưng cái tỏa sáng trong trí lự lại vượt ra khỏi lứa tuổi ấy. Như các trò đã rõ, thầy ra đầu đề bài tập làm câu đối : vế trên có “Chung Sơn” vế dưới có “Trắc Lĩnh”. Chỉ có vậy mà Côn đã tạo nên một bức tranh hùng vĩ trong hai vế câu đối mà ta tưởng là của một thi nhân chân cảm (43). – thầy đồ chùng giọng – quả là “thi trung hữu hoạ”. (44)

Chợt ông sửng sốt nhìn ra phía đường làng. Học trò nhìn theo thầy : một tốp lính và có cả tiếng nhạc ngựa đang phi về làng. Cả lớp học lắng xuống. Tiếng nhạc ngựa xa dần, vào sâu trong xóm. Thầy đồ nhắc nhở :

– Các trò chú ý. Nghe ta giảng tiếp…

Tiếng giảng bài của thầy đồ đều đều giữa ban trưa thoang thoảng hương. Từ nhà bên đã rộn lên những tiếng nói, tiếng cười hể hả… Một ông lão chống gậy trúc đi từ ngoài ngõ vào. Thầy trò rời khỏi án thư, đi ra cửa. Các học trò nhìn theo dáng đi khoan thai của ông lão và thầy học của mình. Ông lão giọng trang nghiêm:

– Xin kính báo với thầy: quê ta đã có hồng phúc. Ông Nguyễn Sinh Sắc đã đậu Hội thí, Phó bảng .

– Quan Phó bảng ! – Thầy đồ mắt nhìn đằm thắm, nói giọng xúc động: – Quan cử Sắc của chúng ta đã… Đất quê ta đã có Phó bảng phát khoa!

– Quan trên đã sức giấy về… Cả huyện sẽ đón quan “vinh quy bái tổ”.

Thầy đồ nói với học trò :

– Hôm nay thầy cho các trò nghỉ sớm…

Đám học trò tay xách ống bút, tay cắp cặp sách tỏa ra các ngõ đường làng. Hai anh em Côn lâng lâng nhìn những lá vàng bay xoay xoay trong nắng xế chiều.

Côn chạy lên trước anh Khiêm. Côn ôm cả sách, cả ống bút chạy ùa thẳng vào nhà tìm bà, báo tin mừng. Không thấy bà ở trong nhà trên, Côn xuống nhà ngang, sang nhà thờ mẹ, vẫn không thấy bà. Côn đứng thừ ra trước bài vị thờ mẹ, hai hàng nước mắt trườn chầm chậm trên má.

Cụ đồ An từ ngoài ao sen đi vào thấy cháu đàng thẫn thờ bên bàn thờ mẹ, cụ nén xúc động dừng bước bên gốc cây thị. Côn rời khỏi bàn thờ mẹ, thấy bà, liền lau nước mắt bằng ống tay áo, chạy ra với bà. Từ ngoài ngõ, ông tiên chỉ của làng dẫn đầu một đoàn người, bưng theo cơi trầu, chai rượu. Cụ đồ hơi bối rối chưa biết có chuyện gì. Mọi người chào cụ rối rít. Cụ mời họ vào nhà. ông tiên chỉ đặt trầu rượu lên án thư, giọng ông hơi trầm :

– Thưa cụ chúng tôi được hội đồng lý hương ủy thác tới đây kính báo với cụ và thân quyến việc quan Nguyễn Sinh Sắc đã đem vinh hiển về cho nhà, vinh hoa cho làng xóm, quan là người đầu tiên ở đất này chiếm được bảng Hội thí…

Cụ đồ nước mắt lưng tròng, hai bàn tay nhăn nheo bấu chặt lấy thành tràng kỷ mà chân vẫn không hết run. Cụ hỏi, lưỡi hơi líu lại :

– Thưa… thưa quý cụ… xin quý cụ dạy biểu cho mệ con, bà cháu nhà tôi phải làm chi bây giờ?

– Quan Phó bảng sẽ vinh quy về bên quê nội. Mọi việc đều có hội đồng hương lý lo liệu. Cụ cứ bình tâm.

Cả buổi chiều, nhà cụ đồ người ra vào nhộn nhịp như ngày Tết. Mâm cơm đã dọn ra từ lúc gà mới lên chuồng mà vẫn đậy lồng bàn, chẳng khác gì cái ngày vợ chồng ông Nguyễn Sinh Sắc đưa cả con cái lên đường vào kinh đô Huế ăn học.

Đêm tĩnh mạc. Tiếng mõ rao lõm lồi trong làn gió tây nam : Chiềng làng… chiềng xã… cốc cốc cốc… thượng hạ khắp nơi … cốc cốc cốc… nghe rõ từng lời… cốc cốc cốc… mà làm cho đúng… cốc cốc cốc… Quan trên hoả tốc… cốc cốc cốc… sức xuống dân ta… cốc cốc cốc… chọn đất dựng nhà… cốc cốc cốc.. đắp đàng, trải chiếu… cốc cốc cốc… Nào cáng, nào lọng… cốc cốc cốc… Nào trống, nào chiêng… cốc cốc cốc… xuống tận tỉnh đường cốc cốc cốc… rước quan Phó bảng … cốc cốc cốc… là Nguyễn Sinh Huy… cốc cốc cốc… bái tổ vinh quy…cốc cốc cốc… Chiềng làng… chiềng xã.. cốc cốc cốc…

Cụ đồ cô An, chị Thanh, anh Khiêm, bé Côn nghe tiếng ông mõ rao đều nao nao trong lòng. Niềm vui, nỗi buồn chen lấn nhau trong tâm hồn từng người. Không khí trong nhà lặng lẽ chẳng có vẻ gì là nhà của một ông “tân khoa Hội thí” sắp vinh quy.

Đêm sang canh. Tiếng lá rơi nghiêng xuống mái nhà phát ra một âm thanh mỏng thiếc. Cụ đồ nghe tiếng con cháu thở đều đều trong giường. Cụ rón rén bưng cây đèn đi sang bàn thờ người con gái xấu số, Hoàng Thị Loan. Cụ gục đầu bên bàn thờ con, không để tiếng khóc bật to, toàn thân cụ rung lên, cái bàn thờ cũng rung theo. Nước mắt đổ ra nhiều mà nỗi đau đớn vẫn không vơi. Cụ ngước lên, nhìn bài vị và thầm trò chuyện như có mặt con :

– Loan ơi! Từ chốn kinh đô xa xôi con có về thấu nhà lúc ni không con? Hay linh hồn con còn vảng vất bên chồng con trên đường vinh quy. – Cụ lại nức nở : – Con ơi ! Mười sáu tuổi con đã phải dành tiền chéo áo, đụm gạo chéo khăn để nuôi chồng đèn sách. Giừ chồng con được thành đạt thì con đã khuất núi! – Cụ đồ lại gục xuống bàn thờ : – Loan ơi! Con rời chồng giữa cái tuổi “trẻ chưa qua, già chưa tới”! Chồng con không thể đứng vây để “gà trống nuôi con” được. Chồng con ắt phải có đôi có lứa với một người khác, người đó sẽ cư xử ra răng (ra sao) với các con của con?

Tiếng gà gáy đầu cất lên mở cửa chân trời. Cụ đồ chợt nhớ là đêm đã tàn. Cụ bưng cây đèn, rời bàn thờ con gái trở về buồng. Cụ dừng lại bên giường cháu Khiêm. Cụ giắt chặt chiếu đắp che kín gió cho cháu ngủ ngon. Bước đến bên giường cô An, cụ sững sờ nhìn vòng tay của con gái kê dưới đầu cháu Thanh. Nước mắt lại giàn giụa xuống má, cụ lẩm bẩm :

– Giá con An nhà mình chưa nhận trầu ăn hỏi… Giá mà mình có một đứa con gái nữa… Mẹ mất thì bú vú dì. Dì thay chị làm mẹ các cháu thì còn chi bằng!

Cụ thắp hương vái vái trước bàn thờ chồng : “Ông ơi! Con rể, người học trò của ông đã đạt được cái điều ông từng mơ ước… Chắc ông đang mỉm cười nơi chín suối!”.

Cụ ghé lưng nằm xuống giường, ôm chặt lấy bé Côn.

Sương sớm rung theo tiếng trống làng. Cả một vùng quê dậy lên cái âm thanh náo nhiệt : Trống đại, trống dờn, trống thủ cổ, chiêng, chũm choẹ, đàn bát âm.

Trên con đường quan, nắng trải mịn vàng. Dẫn đầu đoàn rước là người làng Sen , làng Chùa . Tiếp theo là người các làng trong xã Chung Cự rồi các làng thuộc tổng Lâm Thịnh và các tổng khác của huyện Nam Đàn.

Nguyễn Sinh Khiêm, Nguyễn Sinh Côn xứng xính trong bộ áo dài đứng ở hàng đầu đoàn học trò. Hội đồng lý hương của mỗi xã đứng theo đơn vị xã mình. Một ông lão chít khăn mỏ rìu đỏ, ngang lưng thắt đai vàng, tay cầm ống vọi đồng nâng lên miệng, gọi dài giọng :

– Hàng… ngũ… đã… chỉnh… tề… nghe… ba… hồi… trống… tiền… trước… hậu…sau… tuần… tự… mà… bước…

Trống lệnh nổi lên. Cờ ngũ hành giương cao phía trước. Cả đoàn người rùng rùng chuyển bước giữa đồng quê tháng mười, tiến về thành phố Vinh.

Tại thành Vinh đã diễn ra một cuộc nghênh tiếp và tiễn đưa vị tân khoa Phó bảng Nguyễn Sinh Huy. Quan bố chánh vẻ mặt ủ dột đi đằng sau quan tổng đốc Đào Tấn, nói vẻ xúc xiểm :

– Thưa cụ Thượng, ngài là một đại quan đứng đầu một Bộ của triều đình, đương kim tổng đốc, việc gì phải đi tiễn ra tận cửa Tiền một ông tân khoa vinh quy?

Quan Đào Tấn cười mỉm :

– Tôi không làm nghi lễ theo phẩm hàm (thứ bậc trong hàng quan lại). Tôi đón tiếp, tiễn đưa một trí giả có học vị hơn tôi…

Quan tổng đốc Đào Tấn vượt lên khỏi quan bố chánh. ông sóng bước với quan Phó bảng Nguyễn Sinh Huy. Qua cửa thành, hai hàng lính bồng súng chào. Hai người lính cáng bước đến. Quan Đào Tấn chìa tay mời :

– Kính mời quan tân khoa lên cáng hồi hương. Đám rước quan vinh quy cũng đã đợi đón tại địa phận cửa thành Tây.

Quan Phó bảng chắp tay vái :

– Đa tạ cụ Thượng và quý quan. Xin cụ Thượng cho phép kẻ hàn nho (học trò nghèo) này được giữ trọn nếp nhà. Đường đất từ đây về tới quê nhà chẳng còn xa nữa. Tôi rất cảm kích trước tấm lòng của cụ Thượng: “Thiên hạ chi sự thành ư đại độ chi chí sĩ, nhi bại ư hàn lậu chi tiểu nhân” . (45)

Quan Đào Tấn trở vào tỉnh đường, tốp lính vệ mang cáng không đi theo quan Phó bảng . Đoàn người đi rước quan Phó bảng vinh quy đã đợi ở ngã ba Cầu Rầm. Nhìn một bể người đông đảo, võng lọng, cờ quạt, trống kèn, quan Phó bảng lặng người, hai mắt chớp chớp, lắc đầu…

Viên lục sự huyện Nam Đàn thay mặt cho các hương chức và dân chúng trong miền, thưa với quan Phó bảng :

– Thưa quan tân khoa! Khi nhận được trát (giấy truyền lệnh) của quan trên sức về, từ quan trên đến thứ dân trong huyện đều vui mừng cho Nam Đàn, cho Chung Cự, cho Kim Liên, đất văn vật đã hun đúc thêm một bậc Phó bảng phát khoa. Ai nấy đều nô nức xin được đi rước quan vinh quy. Chẳng hay trong cuộc đón rước ni có điều chi không phải thì xin quan lớn nguyện lượng mà đại xá cho…

Quan Phó bảng đứng giữa đám đông, nói :

– Tôi thật không ngờ cái việc đỗ đạt của tôi đã gây ra sự mất công, mất việc của bao nhiêu người.

– Thưa quan Phó bảng , – lý trưởng xã Chung Cự trình bày – việc đón rước các vị quan tân khoa vinh quy là theo luật lệ của nhà vua xuống chiếu cho dân phải thi hành. Vậy kính quan trên lên võng để vinh quy bái tổ ạ.

– Tôi học được dăm ba chữ thánh hiền, nhờ phúc tổ chiếm được một chút khoa bảng. Tôi chưa làm được một việc chi có ích cho dân mà đã gây ra sự phiền nhiễu dân tình. Vả lại, từ nhỏ tôi ăn học, tôi lớn lên ở trong nhà bố mẹ vợ, nay tôi sẽ về đó, chứ về làng Sen tôi mô có nhà cửa ở đó?

– Thưa quan Phó bảng , quan đem vinh dự về cho làng xã. Nhân dân ai cũng được thơm lây. Cho nên dân làng Sen theo sự bày biện của hội đồng hương lý đã dựng nhà đón quan về quê nội để đúng với thể thức Vinh quy. Thực tình dân làng Hoàng Trù cũng định làm nhà to đón quan về bên đó.

Quan Phó bảng chau mày khi nghe việc quê nội, quê ngoại của mình đều muốn đua nhau làm nhà đón mình “vinh quy”. Ông nói giọng trầm trầm :

– Thưa tất cả bà con, thưa các thầy hào lý! Việc bà con dân làng thuận làm nhà cho tôi bên nội cũng như bên ngoại, thực tình tôi rất khó xử. Tôi không dám nghĩ một điều chí khác về tấm lòng vàng của dân làng. Nhưng nghĩ về mình thấy việc thi đỗ đại khoa của tôi chưa đem lại một chút lợi ích chi cho dân làng cả. Biết mô lúc tôi ra ngồi ghế quan trường tôi lại trở thành cái nạn cho dân : “Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan” mà.

Cả khối người cười rộ và ào lên như sóng :”Không đâu, quan Phó bảng Sắc của chúng tôi sẽ là ông quan vì dân, thương dân…” Họ công kênh hai cậu con trai quan Phó bảng Sắc lên vai. Quan Phó bảng nhìn hai con mặt đỏ gay thẹn thùng. Ông nói với dân mà cũng là lời tự răn mình :

– Tôi luôn nhớ và làm theo bằng được cái điều: Thực kỳ thực bất hủy kỳ khí, ấm kỳ thụ giả bất chiết kỳ chi. Nghĩa là : ăn cơm xong đừng đập bát, ngồi mát dưới bóng cây chớ bẻ cành .

Cả khối người lại reo lên cùng tiếng trống tiếng chiêng. Quan Phó bảng Sắc chắp hai tay giơ cao qua đầu nói :

– Xin bà con để tôi cùng đi bộ về kẻo mất ngày mất buổi.

Các ông lý hương vẫn nài nỉ quan Phó bảng lên võng. Nhưng ông vừa đi vừa khuyên họ miễn cho ông phải nằm để người khác khiêng.

Quá trưa, đám rước quan Phó bảng vinh quy về tới con đường rẽ vào làng Sen . Nhân dân làng Sen và các làng bên đã đứng thành hai hàng dài. Đường trải kín chiếu hoa. Quan Phó bảng nhìn con đường về làng, hỏi ông tiên chỉ tay cầm bó hương nghi ngút và cái biển có bốn chữ ” Phó bảng phát khoa” :

– Thưa cụ tiên chỉ, làng đón tôi về “vinh quy bái tổ” sao còn “rào” đường lại?

Ông tiên chỉ và mọi người đều dồn mắt xuống con đường làng rực rỡ chiếu hoa. Giọng ông tiên chỉ hơi run :

– Thưa thưa… thưa quan lớn…

– Ấy chết! – ông Sắc đỡ lời. – Tôi vẫn là dân của làng Sen chứ có khác chi mô.

Ông tiên chỉ bình tĩnh lại :

– Thưa quan Phó bảng , dân làng muốn được bày tỏ lòng cung kính lúc quan về vinh quy ạ.

– Câu nói đầu lưỡi của dân ta là : “Quan nhất thời, dân vạn đại”. Dù tôi đỗ đạt cao tới đâu, làm đến chức tước to lớn mấy, tôi vẫn là con người bình thường, người dân. Dân là gốc. Gốc rễ của tôi là đứa bé mồ côi cha mẹ, đi chân đất, ngồi lưng trâu, nay tôi nên người có chữ, “chữ là mắt” thì càng phải biết dạo lý, sống có đạo lý . Đạo lý là gốc. Chính kỳ bổn nhi vạn vật lý. Nghĩa là : Cái gốc đúng thì vạn sự được yên ổn.

Những chiếc chiếu trải được cuốn lại. Ông Sắc sải bước trên con đường làng khấp khểnh hố chân trâu. Ông đứng sựng, mắt đăm đăm nhìn ngôi nhà mới dựng, cô đơn giữa một khoảnh đất rộng quá tầm ước đoán của ông. Bà con đứng đầy sân, đầy vườn. Hai người bạn thân – cử Quý, giải San – và người anh – Nguyễn Sinh Thuyết – xúm xít bên ông. Những người bạn danh nho này đều nhận thấy ông Phó bảng Sắc không vui, đang có điều gì áy náy trong lòng.

Ông giải San hỏi :

-Chắc quan bác đang có điều chi đó không vui?

– Tôi thấy ngượng về sự đón rước ồn ào này và làng đã dựng cho tôi nhà quá lớn, vườn quá rộng.

– Cái nhà ngang để đun bếp là dỡ ở bên tôi đưa về đó chú ạ. – ông Thuyết nói.

Viên lý trưởng vẻ cung kính thưa :

– Bẩm quan Phó bảng , thể theo nguyện vọng của dân chúng và ý kiến chung của hội đồng lý hương thì cấp một mẫu bảy sào đất công điền để làm ruộng lộc điền, và bốn sào mười bốn thước làm vườn, dựng nhà năm gian để gia đình quan có chỗ trú nắng mưa. Lẽ ra dân làng phải xây nhà ngói rước quan về ở mới thỏa, vì lần đầu tiên trong lịch sử xã Chung Cự này, quan là người chiếm được bảng vàng Hội thí.

Một vị khác trong hội đồng lý hương thưa tiếp :

– Thưa quan tân khoa, dân làng còn mong muốn được bổ theo đầu người trong xã, góp tiền lại mở hội ăn mừng ba ngày, có hát trò nhà tơ, hát tuồng và hát chèo trong suất ba đêm liền…

Bà con đứng ở sân và tận ngoài đường đều hưởng ứng : “Phải mở hội ăn mừng… ăn mừng thật to mới thỏa dạ cái dịp vui hiếm có ni ạ”.

Vẻ mặt ông Sắc càng buồn buồn. Đôi lông mày nét mực tàu chuyển động lấp láy, giọng ông xúc động :

– Tôi rất cảm kích trước sự đối đãi hậu hĩ của dân làng, của hội đồng hương lý. Nhưng, tôi rất đau lòng, vì ruộng đất làng ta chia cho đầu người thì mỗi người chỉ được một mảnh đủ cho chó nằm thòi đuôi. Nhưng số ruộng đó hầu hết lại ở trong tay một số ít người. Nay lại dành cho một mình tôi những một mẫu bảy sào ruộng cày, bốn sào mười bốn thước đất vườn. Ồ! Chẳng hóa ra việc đỗ đại khoa của tôi chưa thấy cái vinh dự cho dân làng là đâu mà lại là cướp ruộng, tức là cướp bát cơm của dân rồi! Bà con nghĩ coi, giữa ngày mùa ni mà nhiều nhà không có một hạt thóc để nhổ râu! Cho nên, tôi xin hoàn lại ba sào vườn, bảy sào ruộng. Tôi nhận một mẫu ruộng, nhưng dân làng cho tôi được quyền bán một phần nửa lấy tiền gộp lại với số tiền mà dân làng đã góp để ăn mừng; tất cả món tiền này đem chia cho những nhà nghèo nhất trong làng với mức nhà được ít là sáu tiền, nhà được nhiều là một quan. – Ông hạ thấp giọng : – Thiết tưởng, người đáng được ăn mừng nhất của cái ngày này là thầy Hoàng Xuân Đường, là Hoàng Thị Loan. Than ôi! Cả hai người ân nhân của tôi đều đã khuất!

Cả làng, những cặp mắt ướt nhìn về quan Phó bảng Sắc. Ông cử Quý xua tan cái không khí nặng nề bằng cách cho hai người chức sắc treo lên bức văn trướng bằng lụa và ông cất giọng đọc.

Tiếng tri âm trong bài văn trướng cứ lắng sâu, lắng sâu tận đáy tâm hồn quan Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Còn Nguyễn Sinh Côn lại ghi sâu vào lòng mình về những điều cha nói với dân làng trong buổi “vinh quy”.

Chú thích:

(38)Một loại quang bằng mây đan, chuyên để xách hũ, liễn, nồi đất…

(39) Vợ chồng cụ Nguyễn Sinh Sắc ở với nhau được gần hai mươi năm

(40) Ý nói những người học chữ nho

(41) Đào Tấn lại được triều đình cử ra làm Tổng đốc An Tĩnh lần thứ hai, từ 1898 đến 1902

(42) Núi Chung khí vượng nên kiên cố

Non lĩnh nhiều mây hóa lâu năm

(43) Nhà thơ có cảm xúc chân thực

(44) Như có bức vẽ trong thơ

(45) Việc trong thiên hạ thành được là do ở người độ lượng lớn lao mà hỏng bởi ở đứa tiểu nhân bỉ lậu. Cụ Sắc mượn câu này trong sách “Vân Đài loại ngữ” của Lê Quý Đôn, ca ngợi Đào Tấn, khinh tên Bố chánh Nghệ An.

Ông Sắc đưa các con về làng Sen ở, nhưng vẫn để cô Thanh con gái đầu lòng của ông, hằng ngày về làng Chùa săn sóc bà ngoại. Độ vài ngày ông về làng Chùa một lần. Cô Hoàng Thị An đã lấy chồng.

Những ngày đầu về ở ngôi nhà mới, Côn nhớ bà ngoại cồn cào ruột gan. Có những lần, đang đêm Côn thức giấc, đi một mình dưới ánh trăng khuya từ làng Sen sang làng Chùa về với bà ngoại. Cụ đồ An cũng nhớ các cháu đến mất ăn mất ngủ. Nhiều hôm cụ cảm thấy như người mất hồn, để cái gì ở đâu cũng chẳng nhớ nữa. Mà Côn là đứa cháu để lại trong lòng cụ nhiều nỗi nhớ bồi hồi nhất. Lúc giã trầu lại nhớ cháu Côn thường nhai trầu hộ bà. Bưng bát cơm ăn, cụ lại nhớ cháu Côn thường hay gắp tiếp thức ăn lên bát cho bà. Tối tối đau xương, đau mình, cụ càng nhớ cháu Côn ngồi cạnh đấm lưng an ủi bà. Cụ nhớ cả cái tính tinh nghịch của cháu Côn : Côn hay rủ đám trẻ trong xóm đi trêu chó để chúng sủa om sòm, bị người ta đến nhà rầy la bà ngoại.

Một hôm, cụ đồ An đang cho lợn ăn ở vườn sau, nghe tiếng bà hàng xóm nói to đằng trước sân : “Cụ tú ơi cụ tú ơi… cháu nhà bà…”. Bé Khiêm chạy vội ra mách bà về tội em Côn đi trêu chó nhà bên cạnh đang bị người ta đuổi sang tận nhà mắng mỏ. Côn chạy từ ngoài ngõ về, vào nhà bưng cái ghế đẩu của ông ngoại đem tới đặt trước bà hàng xóm mời :

– Cháu mời bà ngồi ghế có tựa lưng mà chửi cho đỡ mỏi chân ạ.

Bà hàng xóm nổi máu tam bành chạy thẳng ra sau vườn xỉa xói bàn tay trước mặt cụ đồ :

– Tui nể cụ… tui nể cụ… không thì… tui cho cậu ấy một trận nên thân trời đất… Con nhà khoa cử, nhà thầy, nhà quan có danh có giá mà nghịch ngợm như quỷ sứ như bầy bò vô học…

Cụ đồ chết lặng đứng! Lần đầu tiên bà bị một người hàng xóm chửi nặng lời, xúc phạm đến nền nếp gia phong, gia giáo… Vừa đau xót về những lời cay độc của bà hàng xóm, cụ vừa giận cháu, định đánh cho mấy roi, nhưng, nhưng bé Côn đã chạy lại ôm chầm lấy bà :

– Bà ơi !… Cháu đã thấy cái tội dại dột của cháu. Xin bà tha lỗi cho cháu! Từ rày trở đi cháu sẽ không còn dại dột như vậy nữa. Cháu cũng xin bà đừng mách với cha cháu, bà nhá…

Cụ đồ nguôi cơn giận. Cụ thấy cháu mình đã nhận thấy lỗi và hứa với bà sẽ sửa lỗi. Chiều, ông Sắc về. Bữa cơm chiều vẫn vui vẻ như thường lệ, cụ đồ ăn cơm ở nhà dưới với con gái Hoàng Thị An và người cháu họ ở giúp việc. Ba cha con ông Sắc ngồi cùng mâm ở nhà trên, nơi cụ tú dành ba gian làm trường học. Bữa cơm gần xong, ông Sắc và miếng cơm cuối cùng, hỏi :

– Hôm nay các con ở nhà học thuộc bài: Lạc dân chi lạc giả, dân diệc lạc kỳ lạc (46), rồi chứ? Có mảng chơi quá không?

Bé Khiêm thưa :

– Dạ, chúng con đều học thuộc bài rồi. Chỉ có em Côn đi trêu chó…

Côn ngừng nhai miếng cơm trong miệng, mặt tái mét.

– Trêu chó thế nào?

– Thưa cha, em Côn đã đầu têu cùng mấy bạn nữa đến ngõ nhà bà Chắt ném mảnh sành vào sân trêu đàn chó săn đang nằm trên sân. Chó sủa dậy cả xóm. Bà Chắt sang nhà ta mắng trước mặt bà ta là “Con nhà khoa cử, nhà thầy, nhà quan mà nghịch ngợm như…”

Khiêm không dám nhắc lại nguyên những lời bà hàng xóm mắng. Ông Sắc để bát đũa xuống mâm. Bé Côn nắm chặt đũa, nhắm mắt lại đợi cái bợp tai của cha sẽ giáng vào má mình. Nhưng nghe tiếng cha thở dài, Côn mở mắt thấy cha lặng lẽ đứng lên, di tới móc áo. Cha khoác lên người cái áo dài đen, đi xuống nhà dưới. Côn, Khiêm đều nhìn theo cha…

Ông Sắc đứng trước cụ đồ, khoanh tay. Cụ đồ cũng đã buông bát đũa đứng dậy. Ông Sắc nói :

– Thưa mẹ, trưa nay, lúc con đi vắng, ở nhà cháu Côn đã gây ra cái việc nhỏ mà tai hại lớn, gia phong ta bị những lời xúc phạm. Con là cha của cháu Côn, con dại cái mang. Con xin lỗi mẹ và trước vong linh cha, trước vong linh nhà con, con chịu cái lỗi : “Phụ bất giáo tử hành tai” (Con làm điều tai hại do cha không dạy bảo).

Cụ đồ giọng xúc động :

– Sau lúc xảy việc, bé Côn đã biết lỗi của mình và có hứa với bà là cháu sẽ không còn nghịch ngợm cái trò trêu chó hàng xóm nữa. Anh đứng phận làm cha, nhận cái lỗi “con dại cái mang”, mẹ đây là bà của nó, mẹ cũng có lỗi : “con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”.

Ông Sắc trở lại mâm cơm. Bé Côn vẫn ngồi không nhúc nhích. Bé Khiêm nhìn em đầy ái ngại và tự trách đã lỡ mách cha… Ông Sắc nghiêm giọng :

– Côn!

– Dạ… thưa cha!

– Từ ngày mai, mỗi bữa con bớt ăn một bát cơm. Cơm nước xong con quảy sọt đi lặt phân bò, chiều về tắm rửa xong, con vào án thư viết hai chữ Nhân Cách, khổ chữ hàng tám, đủ năm mươi trang giấy rộng nộp cho cha rồi mới ăn cơm tối. Con làm những việc ấy trong bảy ngày.

Vâng lời cha, Côn đã làm đầy đủ những việc ấy một cách vui vẻ.

Quan Phó bảng Sắc mở trường dạy học. Người ở các huyện dọc sông Lam đến xin cho con học rất đông, nhưng quan Phó bảng chỉ nhận dạy một số ít, ông dành một phần thời giờ để đàm đạo văn chương, thời cuộc với Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý. Nhất là từ sau chuyến đi Yên Thế tiếp xúc với Hoàng Hoa Thám trở về Phan Bội Châu thường gặp gỡ quan Phó bảng Sắc, quan đốc học Đặng Nguyên Cẩn, quan nghè Ngô Đức Kế, các ông Đặng Thúc Hứa, Đặng Tử Kính, Đặng Thái Thân, Lê Văn Huân, Đặng Văn Bá, Tôn Gia Nhuần…. cùng nhau lo việc đại nghĩa. Nhưng quan Phó bảng Sắc cho là thời vận chưa phải lúc… ông cũng khước từ cả việc triều đình Huế gọi vào kinh đô nhận chức. Ông lấy lý do phải ở nhà phụng dưỡng mẹ già. Đô Sát Viện đã tư giấy về cho tổng đốc Nghệ An xem xét lại thái độ Phó bảng Sắc đối với triều đình, vì theo bản tự khai gia cảnh trong hồ sơ thí sinh thì Nguyễn Sinh Huy tức Sắc mồ côi cha mẹ từ lúc còn nhỏ. Nay triều đình bổ nhiệm đi làm quan lại vịn cớ có mẹ già?

Quan tổng đốc Đào Tấn biết rõ gia cảnh của quan Phó bảng Sắc đã làm tờ trình về triều đình Huế. Ông đề cao quan Phó bảng Sắc là một người có đức sáng, vợ chết đã thay vợ chăm sóc tuổi già của mẹ vợ. Bà mẹ vợ và bên nội, bên ngoại đã khuyên quan Phó bảng Sắc lấy vợ kế để có người “đỡ túi nâng khăn” vì ông ở cái tuổi chưa tới bốn mươi, nhưng ông từ chối. Triều đình Huế căn cứ ở lời đề đạt của quan tổng đốc Đào Tấn đã vui lòng để quan Phó bảng Sắc ở nhà làm tròn chữ hiếu.

Người con gái đầu, cô Nguyễn Thị Thanh của quan Phó bảng Sắc đã tới tuổi mười tám, ông giao cả việc nhà và chăm sóc bà ngoại cho cô. Ông đưa hai con trai đi thăm bạn bè và viếng cảnh đẹp trong tỉnh. Những nơi hợp cảnh hợp người, ông thường ở lại lâu, vừa dạy học vừa thù tạc với bạn, ngoạn cảnh núi sông, đền đài.

Chuyến đi xa nhà đầu tiên, quan Phó bảng Sắc dẫn hai con ra Diễn Châu thăm một người bạn ở làng Vạn Phần (Võ Tất Đắc) mới từ quan trở về dạy học, và ông đến làng Quỳnh Đôi để tạ ơn ông Hồ Sĩ Tạo, người đã giúp đỡ ông vào học trường Quốc tử giám.

Trên đường từ Vinh ra Phủ Diễn, Côn mang bên nách chiếc tay nải bằng vải tây điều, chân đi dép da bò, bước thoăn thoát theo cha. Nhưng, Côn ham ngắm cảnh hai bên đường, thường tụt lại sau. Bị anh Khiêm mắng, Côn cáu lại anh : “Anh lắm lời quá!”. Ông Sắc quắc mắt, nghiêm giọng :

– Côn! Vì đang ở trên đường, nếu ở nhà thì cha bất con nằm xuống đánh mười roi về tội bất đễ. Anh con có nói sai, xử sự sai với con thì đã có cha phân xử, hoặc con phải nói với anh bằng một thái độ lễ phép. Con không được nói với anh câu nói của con nhà vô giáo dục như vậy.

Ông Ông dừng bước bên sông Cấm :

– Con khoanh tay xin lỗi anh đi con!

Côn đặt chiếc khăn gói trên vai xuống bãi cỏ, khoanh hai tay trước ngực, giọng chân thành :

– Xin anh cả tha lỗi cho em…

Cậu cả Khiêm rơm rớm nước mắt, chạy lại xách tay nải lên:

– Để anh mang đỡ em một đoạn kẻo em mệt đi không kịp cha. Ba cha con Phó bảng lại thủng thẳng bước trên con đường mà sông núi mây trời đẹp như bức gấm thêu.

Đi hết dãy núi Cấm, sang địa phận Diễn Châu, mảnh đất nổi tiếng trong lịch sử với tên gọi Châu Diễn, Côn tần ngần nhìn ngôi đền cổ kính có nhiều tòa từ trên đỉnh núi xuống tận chân núi, sát đường thiên lý. Côn ngạc nhiên hơn khi đứng trên dốc nhìn về phía Tây, đối diện với ngôi đền, dãy núi xa xa rất nhiều hình nhiều vẻ, càng ngắm, núi càng biến hóa những hình ảnh theo sự tưởng tượng của Côn. Hòn lèn gần nhất, nằm ở giữa cánh cổng bát ngát màu xanh, lại y như một con người cụt đầu đứng hiên ngang giữa đời.

Côn nói với cha :

– Thưa cha, con muốn được cha chỉ bảo chúng con về sự tích ngôi đền ni, về tên của các hòn núi kia, trông lạ mắt quá cha ạ. Thấy con ham muốn tìm hiểu về cội nguồn, ông Sắc bước đến bên gốc cây tùng già, giở cơm nắm cho hai con ăn. Dưới bóng cây cổ thụ, ba cha con quan Phó bảng cùng nhìn về phía núi non biêng biếc trải tận chân trời xa. ông kể cho con nghe trọn câu chuyện tình sử Mỵ Châu – Trọng Thủy. Côn ngạc nhiên hỏi cha :

– Thành Cổ Loa ở mãi tận đâu, thưa cha?

– Cha chưa đi tới đó, nhưng cha đọc sách thấy xa… xa lắm, con ạ.

Khiêm lắc đầu, giọng hơi kéo dài :

– Người đời xưa có lẽ họ bịa chuyện chứ nàng Mỵ Châu kiếm đâu cho đủ lông ngỗng mà rải khắp con đường dài ấy cha?

Ông Sắc cười. Côn nói, vẻ thán phục :

– Chuyện My Châu – Trọng Thủy hay tuyệt, tài tình lắm. Con nhận thấy vua nhà Triệu nước Tàu nham hiểm ghê gớm. Chàng Trọng Thủy ngoan ngoãn làm theo mẹo của cha bày đặt. Còn vua nhà Thục nước ta lại trọng chữ tín, thành thật muốn hai nước ở kề nhau có hòa hiếu để dân được sống yên ổn làm ăn. Nhưng vua nước ta lại không đề phòng sự gian giảo, bội ước của vua nhà Triệu. Nàng Mỵ Châu lại ruột để ngoài da. Cha vậy, con vậy thì giữ nước làm sao được? Nhưng câu chuyện lại cho thấy điều đáng trọng không khinh được vua Thục là: Người đã phải tự chém con gái mình và tự xử án mình bằng hành nhảy xuống biển về tội để mất nước chứ không cam chịu nộp mình cho giặc nước.

Quan Phó bảng Sắc hơi sững sờ nhìn hai con, nhìn ngôi đền thờ Thục Phán :

– Con nói đúng. Nước có lúc thịnh, lúc suy. Đó là điều thường thấy trong trời đất. Nhưng con người ta lại phải biết giữ trọn khí tiết. Vua Thục Phán thuộc loại đó. Con hãy để ý về phong cảnh núi non, đền đài. Con vừa hỏi cha về hòn núi kia giống một người cụt đầu. Người ta thường gọi nó là hòn Hai Vai hoặc là núi “Tướng-quân-rơi-đầu” đó con ạ. Còn phía xa xa kia là hòn Trống Thủng. Từ hòn Trống Thủng một dãy núi dài dằng dặc sát chân trời, đó là núi Cờ Rách.

Hai mắt Côn chơm chớp nhìn theo hướng tay chỉ của cha. Khiêm thì ngạc nhiên thất lên :

– Ai tưởng tượng ra đầu tiên hình dáng các hòn núi nớ (ấy) hẳn là mắt tiên, cha nhể?

– Từ lòng người mà suy ngẫm ra… con ạ. Người ta còn gọi vùng núi ấy là Vùng Ba Hòn. Theo chuyện kể từ hồi xửa hồi xưa thì nước ta có giặc từ phương Bắc tràn vào, dân ở khắp miền đất nước ta nhất tề đứng dậy chống giặc giữ nước. Từ vùng Nghệ Tĩnh ni có một vị tướng kéo đại binh ra Bắc đánh dư trăm trận, chẳng may trong một trận giáp chiến con ngựa của ông vấp phải cọc qụy chân trước, bọn giặc xúm lại, ông bị một lát đại đao đi qua cổ, đầu rơi xuống đất. Ông nhoai người ra lấy được đầu lắp lên cổ và phi ngựa mở đường máu chạy trở về. Quân sĩ của ông cũng kéo cờ mở trống về theo. Trên đường về, vị tướng này đã gặp một ông lão tại phía Bắc sông Mã (Thanh Hóa). Vị tướng dừng ngựa hỏi:

– Thưa ông từ xưa đã có người nào bị chặt đầu, lại chắp lên cổ mà sống được không?

– Thưa tướng quân, sống được ạ.

Vị tướng lại thúc ngựa phi về tới Diễn Châu, quân sĩ bủa ra tận vùng Yên Thành. Vị tướng gặp một bà già ở phía Nam sông Bùng liền hỏi :

– Thưa cụ xưa nay có người nào bị chặt đầu, lại tự mình chắp vào cổ mà vẫn sống được không?

Bà cụ lắc đầu :

– Loài quỷ, loài yêu tinh thì mới có thể bị chặt đầu này mọc ra đầu khác, còn loài người thì nếu bị chặt đầu là chết.

Bà cụ vừa nói dứt lời, đầu vị tướng quân rơi xuống đất. Và ông đã hóa thành hòn núi Hai Vai. Ngựa của ông chạy thêm một đoạn lên vùng Yên Thành, hóa núi Mã Phục, tại làng Yên Mã. Trống, cờ cũng hóa thành núi Trống Thủng, núi Cờ Rách…

Nghe cha kể xong câu chuyện, Khiêm vẻ mặt đăm chiêu nghĩ ngợi… Côn mắt vẫn nhìn về hòn lèn Hai Vai, nói :

– Cha ơi! Ước vọng của dân ta thật là đẹp. Tưởng tượng của người ta đến là tuyệt! Phải không cha?

– Con nói đứng. Dáng núi non của quê ta thường thể hiện sự khát vọng của con người.

Một hôm ba cha con quan Phó bảng Sắc đi qua xã Bạch Ngọc, thấy đền Quả Sơn uy nghi hơn cả đền Thục Phán An Dương Vương. Côn lại ngạc nhiên hỏi cha :

– Chắc vị thần ni có công lớn lắm cho nên mới được dân làm đền thờ nguy nga, cha nhể?

– Đền ni thờ một ông quan đời nhà Lý đó con ạ.

– Quan trường mà cũng bắt dân làm đền thờ! Ồ! Tệ quá phải không cha?

– Con nghĩ hơi xốc nổi đó. Trong đám người làm quan có kẻ bất tài, đục khoét nhân dân, lại có người tài cao, đức trọng, làm lợi cho dân, được dân nhớ ơn làm đền thờ phụng. Con nên nhớ đền Quả Sơn ni là nơi thờ quan Lý Nhật Quang. Ngài là con thứ tám của vua Lý Thái Tổ, được phong tước Uy Minh hầu. Năm Tân Ty, vua Lý Thái Tông cử Lý Nhật Quang vào làm quan coi giữ đất Nghệ. Ngài đã có công mở mang bờ cõi dẹp yên giặc phía Tây, phía Nam của đất nước. Chính ngài đã giết chết vua Chiêm là Sạ Đẩu khi Sạ Đẩu đem quân xâm lược nước ta. Nghề nông, nghề tằm tang, dệt lụa, đánh cá, làm muối được sớm thịnh hành khắp xứ Nghệ là do công lao của quan Lý Nhật Quang. Khi nghe tin triều đình vời Lý Nhật Quang trở về Thăng Long, dân Nghệ đã lũ lượt kéo đến tỉnh đường xin quan ở lại tiếp tục chăn dân. Nhưng ngài đã không thể làm khác với lệnh của triều đình được. Trên đường ngài về Thăng Long, bọn nịnh thần đã đón giết vì sợ có ngài tại triều thì chúng sẽ bị vạch mặt… Nhân dân Nghệ An nghe tin dữ ni đã tự ý để tang ngài và lần lượt làm ba mươi hai ngôi đền thờ Uy Minh hầu Lý Nhật Quang…

Nghe xong câu chuyện của cha kể, Côn im lặng một hồi lâu. Côn nói như khoe với cha về điều mình thích thú :

– Bây giờ con mới hiểu ra cái ý nghĩa câu vè mà bà ngoại thường nói vui :

Dân vạn đại, quan nhất thời,

Ghế quan ai ngồi xin chớ thờ ơ.

Thương dân, dân lập đền thờ,

Hại dân, dân đái ngập mồ thối xương.

Quan Phó bảng vừa cười vừa nói :

– Bà ngoại nói không phải để mua vui đâu mà bà dạy cha, dạy những người có học, có chức trọng quyền cao đó con ạ.

Quan Phó bảng Sắc đã dẫn con trai đi hầu khắp những nơi nổi tiếng về phong cảnh đẹp, về di tích lịch sử của Nghệ An. Ông lại đưa hai con sang Hà Tĩnh. Hai anh em Khiêm, Côn được cha dẫn về thăm nhà thờ họ Nguyễn Tiên Điền, thăm mộ đại thi hào Nguyễn Du. Côn tần ngần đứng bên cha, bên anh trước mộ Nguyễn Du và chạnh lòng thầm nhớ những câu thơ trong truyện Kiều :

Sè sè nấm đất bên đường,

Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng, nửa xanh.

Rằng sao trong tiết thanh minh,

Mà đây hương khói vắng tanh thế này ?…

Côn hỏi cha :

– Nguyễn Du đã để lại Truyện Kiều mà bà ngoại thuộc mẹ của con thuộc, dì An và bao nhiêu người ở làng ta đều thuộc. Công lao lớn ấy sao dân lại không làm đền thờ ông Nguyễn Du, hả cha?

– Người quê mình không coi công việc làm thơ, làm văn là trọng, con ạ. Thậm chí lại coi những người đàn giỏi hát hay là “đồ xướng ca vô loài”.

– Sao con lại thấy có ngôi đền thờ thằng ăn trộm bị đánh chết, hả cha?

Quan Phó bảng phì cười :

– Cha làm sao giải thích nổi những điều ấy với con được?

Khiêm chau da trán, nhưng đã kìm được, chỉ nói “mát” em :

-Việc đời đã dớ dận mi lại “thông minh” dớ dận nốt.

– Hứ, – Côn lườm anh Khiêm – anh đừng có khinh em là dớ dận. Anh không để ý chứ vừa rồi ta đi qua một cái miếu thờ cả cái tên ăn trộm ăn cướp nữa. Trước cửa miếu có một hàng chữ lớn, đắp nổi : “Đạo tặc tối linh tôn thần”.

Khiêm im lặng. Ba cha con quan Phó bảng như rơi vào khoảng không và trong dòng suy nghĩ của mỗi người hiện lên một câu hỏi lớn về những việc đời…

Trong chuyến đi về Hà Tĩnh, quan Phó bảng Sắc lưu lại huyện Đức Thọ một thời gian. Phần nhiều, cha con ông ở trong nhà ông Phạm Khắc Doãn. Côn đã được dịp nhìn tận mắt những dấu tích tội ác của thực dân Pháp vừa gây ra tại vùng này, là quê hương của Phan Đình Phùng , là đất đứng chân của nghĩa quân Cần Vương trong suốt mười năm ròng.

Một hôm, đám trẻ làng Đông Thái nô nức đến xem dinh thự của Hoàng Cao Khải, phụ chánh đại thần, tước quận công, vừa xây xong.

Giữa làng quê rợp bóng tre cao vút lên những tòa nhà to lớn, bốn phía tường cao bao bọc. Qua cổng vào là một dãy tường hoa. Trước sân, một bể cạn lớn, cây si già hòn non bộ. Ba ông Lã Vọng ngồi thu lu trên các bậc đá. Tuy là từ nơi khác mới đến, Côn vẫn đi ở hàng đầu đám trẻ tới dinh quận công họ Hoàng. Từ ngoài hàng cây đầu làng cột vô số ngựa của các quan ở xa về dự lễ khánh thành dinh cụ quận. Những chiếc xe kéo gọng đồng vàng chóe, những chiếc cáng điều, cáng vóc để san sát trong vườn cây. Trong sân gạch, các quan khách đang ngồi trên những bộ ghế tràng kỷ, ghế bành tượng bằng gu khảm xà cừ, lót nệm gấm, vóc điều. Các quan khách đang hướng cả tâm trí về hòn non bộ. Theo ý muốn của Hoàng Cao Khải, mỗi vị khách tặng cho một bài thơ tứ tuyệt mà hòn non bộ là đề tài. Trong lúc các quan đang say sưa bình thơ, uống rượu vui vẻ đám trẻ làng Đông Thái đứng ngoài tường hoa xô nhau nhốn nháo ngấp ngó vào sân. Côn vẫy tay về phía sau :

– Im nghe bình thơ kìa!

Có tiếng đáp lại :

– Thơ của các quan nỏ hay, nỏ thích.

Mấy tên lính hầu rượu nghe giật mình. Các quan đều nghiêm mặt nhìn ra đám trẻ. Một tên lính toan chạy ra đuổi đánh đám trẻ, nhưng ông Hoàng Cao Khải vẻ cao đạo, rộng lượng của một ông quan đại thần đang ở tại làng, nói :

– Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò. Chấp chi câu nói của đứa học trò đồng ấu ấy.

Hoàng Cao Khải chống can (47) đi ra. Đám trẻ từ ngoài xa đã ùa chạy. Hoàng Cao Khải dụ dỗ :

– Các cháu đừng sợ. Lại đây ông cho kẹo. Cháu nào lúc nãy chê thơ các quan nếu làm được thơ hay ông sẽ thưởng nhiều thứ đẹp lắm.

Đám trẻ làng Đông Thái vẻ sợ sệt đã lần lần theo Côn, đứng xúm xít trước lối vào sân nhìn Côn, vẻ cầu cứu. Côn nhìn các bạn rồi quay sang nói với Hoàng Cao Khải:

– Ông ơi, ông phải hứa không đánh cháu nếu thơ cháu không vừa ý của ông.

– Ồ! Đời nào ông lại nỡ đánh mắng cháu, dù cho cháu có làm điều chi dại dột.

Côn đọc chậm rãi, mắt đăm chiêu nhìn Hoàng Cao Khải :

Kìa ba ông lão bé con con

Biết có tình gì với nước non.

Hoàng Cao Khải gật gật đầu, đắc ý. Đám quan khách cũng nhìn cả về phía Côn, lắng nghe, vẻ khâm phục. Côn đọc tiếp :

Trương mắt làm chi ngồi mãi đó

Hỏi xem non nước mất hay còn?

Hoàng Cao Khải căng tròn cả hai mắt nhìn Côn. Giọng y hơi rung :

– Thằng bé ni con ai? Con nhà ai hề?

– Con quan Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc bên Nghệ An ạ.- Một em nhỏ đáp.

Hoàng Cao Khải cầm cái can không vững, đi trở vào. Y nói lầm bầm :

– Hổ phụ sinh hổ tử…

Chú thích:

(46) Nếu vui niềm vui của dân thì dân cũng vui niềm vui của mình – Sách Mạnh Tử

(47) Gậy

Chương II: THỜI NIÊN THIẾU

Những ngày sửa soạn theo cha lên đường vào kinh đô Huế lần thứ hai, Côn bận rộn với nhiều thứ việc không lường trước được.

Côn theo cha đi đắp đất, thắp hương ở mộ ông bà nội, mộ ông bà ngoại. Anh Khiêm và Côn bưng trầu, rượu đi với cha cúng thần ở đền, cúng tổ họ bên nội, họ bên ngoại. Hai anh em Côn còn đến chào thầy Vương Thức Quý. Thầy cử Quý đã tặng cho hai người học trò giỏi này bộ sách “Nhất nhật t am tỉnh ngô thân” (58). Ông nói :

– Sách này là của thầy soạn ra và chép thành nhiều bản để cho con cháu dùng. Nay hai trò đi xa quê, xa thầy theo cha vô kinh đô, thầy không có thứ chi đáng giá để tặng, xét thấy tập sách này là tâm huyết của thầy thầy đem tặng hai trò. Tập sách sẽ thay thầy nói tiếng nói của lòng thầy với hai trò.

Lúc thầy cử Quý tiễn hai anh em Khiêm ra tới gốc cây đào trước vườn ông cầm tay Côn nói, lòng ấm áp :

– Chuyến đi xa quê lần này của con, thầy tin là con sẽ được thành đạt như con đã làm một vế đối vượt cả cái vế thầy ra cho cả lớp. Con còn nhớ vế câu đối ấy chứ?

– Thưa thầy con vẫn nhớ ạ.

– Dù con chưa quên vế câu đối của mình làm ra, nhưng thầy muốn ôn lại kỷ niệm của buổi dạy học hôm ấy – ông đặt tay lên vai Khiêm, nói : – Hẳn là trò Khiêm còn nhớ lúc thầy rót dầu vào đĩa đèn, vì vô ý để dầu vương ra đế đèn, thầy đã ra cho các trò một vế câu đối : “Thắp đèn lên dầu vương ra đế”…

Khiêm đáp:

– Con đã đối: “Đốt nhang rồi gió quạt bay tàn”. Nhưng thầy biểu : “Đối được, nhưng nghĩa còn hẹp, ý còn cạn. Các bạn khác cũng đối được tương tự như con”. Riêng vế đối của Côn được thầy khen hơn cả…

– Quả thật – ông cử Quý dặt dặt bàn tay vào vai Khiêm mà mắt vẫn không rời Côn – con đã để lại trong trí thầy một vế câu đối sẽ không bao giờ phai mờ : “Cưỡi ngựa dong thẳng Tấn lên Đường” (59). Hôm nay con lên đường, thầy chúc con “thẳng tấn” đến đích lớn mà con mơ ước.

Ở nhà thầy học về, hai anh em Côn đến chào bác Thuyết. Vợ chồng ông Thuyết đã làm mâm cỗ to cúng gia tiên cầu yên cho việc đi của cha con quan Phó bảng Sắc được “chân cứng đá mềm”. Trong bữa ăn sum họp này, bà Thuyết đã kể lại với ba cháu, vẻ hối hận, về sự cư xử của mình không đúng với em chồng – quan Phó bảng Sắc – hồi còn bé. Nhưng, quan Phó bảng Sắc với thái độ của một người đại lượng, nở nụ cười đôn hậu, nói :

– Hồi còn nhỏ tôi cũng có những việc dại dột, bác nổi nóng lên thì mắng, khi lặng lại thương chớ chả có chi là quá cả. Việc chi đã qua rồi là ta bỏ quá đi, bác ạ.

Côn bâng khuâng nhiều trong buổi chiều đi cùng cha sang làng Sài, quê của bà nội.

Côn không được biết mặt bà nội nhưng hình ảnh bà nội như từ trong tranh tố nữ hiện ra đang cùng đi với con, cháu trên đường làng rợi tiếng ve. Tiếng ve trên quê hương bà nội lại đánh thức những kỷ niệm tuổi thơ trong tâm trí của Côn. Càng gần tới ngày lên đường, Côn càng thấy nao nao. Côn đến từ giã các bạn học, bạn chơi diều giấy, bạn đi săn chim chóc, đánh khăng, đánh vật, đánh đáo. Xin phép cha, Côn đón các bạn về nhà ngủ chung mấy tối cuối cùng. Côn trải chiếu xuống sân. Trăng giữa tháng mập mạp đính vào nền trời mờ ảo. Đám bạn của Côn nằm chéo ngang, chéo dọc gối đầu lên nhau, ngửa mặt nhìn trăng, miệng nhai ngô rang. Câu chuyện của họ cũng giòn như ngô nổ… Côn và Khiêm vẻ bận rộn chạy ra chạy vào, đem nước, đem các món ăn ra tiếp bạn. Chị Thanh quý bạn của em như quý bạn của mình. Cô lo việc rang ngô, rang nhộng, bổ dừa giúp em. Thấy chị ngồi trước bếp, mồ hôi ướt áo, Côn ái ngại :

– Vì chúng em mà chị mang lấy cái mệt vào thân, chị nhể?

Thanh cười hiền :

– Mai kia hai em đi với cha, nhà lại vắng tanh vắng ngắt, còn đâu có những cái đêm vui như đêm nay.

– Chị Thanh ơi, – bạn của Côn gọi – chúng em sẽ “làm giặc” ở cái nhà ni còn hơn cả lúc hai em trai chị ở nhà, chỉ sợ lúc ấy chị lại mắng bọn em về “tội” đến luôn mòn đường chết cỏ thôi.

– Nhớ nhá, – Thanh nói – các em nhớ nhá. Mặt trăng còn đó, chị còn đây để coi lúc Khơm, Côông vắng nhà, các em có giữ đúng lời đã hứa không?

Sân trăng đầy tiếng cười. Côn và các bạn lại xoắn xuýt với nhau trong dòng chuyện dưới ánh trăng. Thanh tắt bếp định lên võng nằm thì một bà hàng xóm khua gậy, đánh tiếng từ đầu ngõ :

– Cô chiêu (cách gọi con gái nhà quan) còn thức hay ngáy (ngủ) rồi?

Nghe tiếng gọi quen thuộc, Thanh đứng ở cửa bếp đáp :

– Mời cố vô nhởi (chơi), cháu chưa đi nghỉ mô.

Bà hàng xóm ngồi ở cái chõng tre, tựa vào vách, lối cửa ra vào. Thanh đưa cho bà một miếng trầu, bà cụ lần dải lưng lấy cái cối giã trầu, tay ngoáy ngoáy giã, giọng bà nói, miệng không còn kín hơi, phều phào :

– Nghe tin quan sắp trẩy kinh. Hai cậu ấm cũng trẩy theo. Chờ lúc ni quan vắng nhà tui mới dám sang, tui nhờ cô chuyển tới quan và hai cậu ấm sự biết ơn của tui.

– Ấy chết! Cố dạy quá lời chứ cha cháu và chúng cháu chỉ có cái bụng ăn ở với xóm giềng cho phải chả giúp đỡ cho ai việc chi đáng kể cả.

– Dân làng ni đã được hưởng lộc của quan Phó bảng ngay cái dịp quan vinh quy bái tổ. Ai lại quên được cái ơn ấy cô! Bà cụ giọng xúc động : – Cô ơi! Từ đời xửa đời xưa thì tui không rõ. Nhưng, từ lúc tui có mắt để nhìn, có tai để nghe thì tui chưa từng thấy, chưa từng nghe ở xứ mình có người từ chối bổng lộc, đem phần bổng lộc của mình chia cho người đói khát trong làng như quan Phó bảng ta. Mà nhà quan cũng nghèo chứ đâu giàu có chi kia chứ!

Bà cụ vừa nhai trầu vừa nhìn ra sân. Dưới ánh trăng ngà, các bạn nhỏ vẫn đang nằm gác chân lên nhau và đang dốc vốn chuyện ra “đãi” nhau đêm vui cuối cùng rồi ra chưa biết ngày nào anh em Côn mới có dịp về thăm quê. Bà nói, giọng dè dặt :

– Cô ơi! Tui thưa với cô cái việc kín ni, vì cậu ấm Côông đã dặn tui không được để đến tai quan Phó bảng , cũng không được nói lại với cô và cậu ấm Khơm.

Cô Thanh hơi sửng sốt :

– Có việc chi… hệ trọng rứa cố?

– Nói giấu chi cô. Cậu Côông làm phúc cho người nghèo. Hồi tháng tám năm ngoái và dịp giêng, hai vừa qua, tui bị đứt bữa… đã mấy ngày không đỏ lửa bếp, bụng đói cồn cào, mắt mờ, chóng xoay mặt mày… Cậu ấm Côông gặp tui đang moi một cây chuối tơ ăn cầm hơi. Cậu đã về xúc gạo, khoai lát khô cho tui. Cậu dặn tui là không được cho ai biết.

Cô Thanh ngồi duỗi hai chân ra thềm nhà thoải mái, nói :

– Cháu ngỡ là cái việc chi chớ việc nó xúc gạo, ngô, khoai của nhà đưa giúp những người đứt bữa lỡ nồi, cha cháu đã biết cố ạ… Vừa qua cũng có mấy người đến “mách” với cháu việc hai em cháu thường xúc trộm gạo cho họ lúc đói giáp hạt. Lần đầu cháu cũng rầy la hắn, nhưng cha cháu biểu : “Nếu nó lấy trộm của trong nhà đi đánh bạc, hoặc làm điều vô lương thì phải ngăn cản, còn nó đem giúp những người đói là tốt”.

– Rõ là – bà cụ thở phào, nói – con nhà tông, giống lông giống cả cánh. Cái đức của quan Phó bảng sáng như ngọc nên chi con gái, con trai của quan đều “thương người như thể thương thân”. Mới rồi, tui sang làng Chùa thăm một người bà con. Tui gặp bà em họ. Bà nớ cứ siếc sẩm với tui về chuyện năm nọ, cậu ấm Côông trêu chọc bầy chó, chúng nó sủa dai quá, bà đã nổi nóng nói lời phũ phàng và lời nói nớ đã thấu tai quan Phó bảng . Quan đã phạt cậu ấm và quan còn đến nhà xin lỗi cho con. Bà càng hối tiếc trước sự nhún nhường của quan Phó bảng . Mà bà cứ nghĩ là cậu ấm Côông bị cha phạt nặng vậy, chắc oán bà lắm. Nỏ hay, hôm bà đi gánh rạ ngoài đồng về, bị đứt chạc, xổ tung giữa đàng. Vừa lúc cậu ấm Côông đi tới. Cậu ấm đã dừng lại bốc rạ và bó giúp cho bà. Bà em họ của tôi càng ngượng với cậu ấm. Bà định phân bua với cậu ấm về cái chuyện cũ, nhưng cậu ấm đã nói chặn ngay : “Cháu đã nghịch quá trớn. Bà có mắng cháu nặng lời lúc bà còn quá giận cũng đúng lắm. Cháu đã nhận ra cái sai của mình rồi, bà ạ”. Cậu ấm còn gánh rạ giúp bà về tận ngõ…

Đêm yên tĩnh. Một vài tiếng chó sủa phía bìa làng. Thanh đưa chân bà cụ ra ngõ và khép cánh cổng tre lại ánh trăng như tấm lụa khoác lên mọi cảnh vật. Thanh đi rón rén, sợ làm dở giấc của hai em đang êm gối trên đùi bạn dưới ánh trăng khuya.

Trường Tiểu học Pháp – Việt của tỉnh Thừa Thiên xây dựng trên nền chợ Đông Ba cũ, ở ngoài quách cửa Chính Đông. Năm 1899 chợ Đông Ba dời ra ngoài. Cái đình chợ dùng làm trường học. Người ta ngăn làm năm gian, bốn gian là bốn lớp, một gian còn lại làm văn phòng nhà trường. Trường Tiểu học tỉnh Thừa Thiên mang tên Đông Ba là từ cái tích ấy.

Thành và Đạt đã tháo vòng bạc khỏi cổ, mặc quần áo bà ba trắng, lúc đến trường thì mặc áo dài đen. Phạm Gia Cần cũng cải cách việc ăn mặc và cùng vào học trường Đông Ba với anh em Thành. Thành vừa tới cửa trường; những bạn nhỏ thành nội năm xưa đã ùa đến xúm quanh, hỏi tíu tít… Các bạn vẫn quen gọi anh là Côn. Phạm Gia Cần nhắc :

– Côn là tên “lót ổ” thôi nghe. Chúng mình phải gọi Tất Thành, tên chữ của bạn ấy.

Diệp Văn Kỳ ôm choàng lấy cổ Thành, du qua du lại nói :

– Nghe nói Côn… ờ quên, nghe nói Thành trở vô đây đã gần một tháng nay mà bọn mình không biết chỗ ở để đến chơi.

– Vì – Thành nói – chưa có chỗ ở hẳn hoi, mình chưa tiện đi đón hoặc nhắn tin các bạn đến với mình. Nay thì gia đình mình đã dọn đến ở tại thuộc viên, dãy nhà bên trái sau cửa thành Đông Ba…

– Ồ! Gần… gần đây thôi. – Đám bạn thành nội reo to lên.

Kỳ hớn hở :

– Tan học bọn mình kéo đến nhà Thành nhá…

Thành nhìn như đếm từng kỷ niệm đọng trên những gương mặt quen thuộc từ tuổi ấu thơ. Anh hỏi Kỳ :

– Mệ Minh Huệ và bạn Hạnh (Lê Thị Hạnh) có đi học chữ mới không?

– Hai “bà” ấy ham cái chữ “dắt dây” hơn cả loại chữ “vẽ bùa” cũ kỹ đó. Họ đang học ở trường Tam Toà (64) ấy…

Thành cười hiền, giọng buồn buồn :

– Mình về quê đã gần bốn năm, nhưng mình vẫn canh cánh bên lòng cái ơn của các bạn đối với mình lúc gặp hoạn nạn. Lúc mệ chết, mình bối rối, lại còn đang thơ dại chưa nghĩ thấu, nay mình đã biết nghĩ càng thấm thía tấm lòng của các bạn hồi đó…

– Nhắc chi chuyện buồn đã qua, hả Thành?

– Đâu phải chỉ là nhắc mà mình phải nhớ nghĩa của bạn bè. Nên về quê, mình đã kế lại cho bà ngoại của mình nghe chuyện bạn bè giúp đỡ trong lúc mệ chết, cha đi vắng chưa về. Bà mình khóc. Bà dặn mình : “Một miếng khi đói bằng một gói khi no. Cháu được các bạn vun tay vô giúp đỡ lúc cháu gặp cảnh tối lửa tắt đèn thì phải nhớ đời. Nhớ ơn đền nghĩa là người có thủy có chung. Nhiều khi mình chẳng có dịp đền đáp công ơn của người giúp mình mà lại giúp đỡ người khác lúc hoạn nạn thì đó cũng là cách nhớ ơn đền nghĩa…”

Đám bạn thành nội xúc động về tấm tình sâu sắc của Thành. Họ đang nói dở câu chuyện tình bạn cũ thì tiếng trống trường đã nổi lên… Tất cả xếp hàng, trật tự bước vào lớp.

– Hầy! (Thành giật mình nhìn lên, cười với Kỳ) Đây rồi! Bắt gặp đây rồ i… Ấy ! Thành đọc… Răng mắt… Thành khóc?

– Mình đọc thư của chị Thanh mới gửi vô. – Thầy và anh Đạt về rồi. Còn có một vị khách cũng về với thầy nữa. Thầy cho mình đi tìm Thành về. A nh Đạt đang đun nước pha trà.

Cầu Thành Thái sau bao ngày gãy gục đã được dựng lại. Nó như chiếc đòn gánh, một đầu gánh những lâu đài nhà Nguyễn bên tả ngạn, một đầu gánh những dinh thự thực dân Pháp bên hữu ngạn sông Hương. Nguyễn Tất Thành trên đường đến trường Quốc học đi trên chiếc “đòn gánh” ấy, mắt nhìn đau đáu hai bờ sông Hương nặng trĩu hai đầu gánh. Anh bồi hồi nhớ về một câu hò của người chèo đò trên sông đã cất tiếng lên trong một đêm khuya vắng :

…Lập lên trường thi võ đua tài

Cớ mần răng cửa Thuận An, Tây đóng

Trấn Bình Đài, cờ Tây treo ?

Nước sông Hương thơm nức

Dòng sông Hương trong veo

Cầu tên vua gãy nhịp khác chi thuyền gãy chèo giữa khơi…

Trước đây đã bao nhiêu lần Tất Thành đi với anh Tất Đạt, với bạn bè qua cổng trường Quốc học. Nhưng, Thành chẳng để ý tới cái “Thiên đường trường học” này làm gì. Giờ đây, khi anh đã là “sĩ tử” của cái “thiên đường” này, anh mới thấy hết, càng ngạc nhiên và lòng đầy ngờ vực khi nhìn kỹ nó. Cổng trường bằng gỗ lợp ngói, bên trên là cái gác chuông, kiểu kiến trúc cổ. Hai bên là hai con rồng nổi, ghép bằng mảnh sứ. Cổng trường nhìn đối diện cửa Ngọ Môn, ở bên tả ngạn sông Hương. Trên cổng trường gắn tấm biển nền đỏ, chữ vàng : “Pháp tự quốc học trường môn” bằng chữ Hán. Trên hàng chữ Hán này lại có hai chữ quốc ngữ đắp nổi: “Quốc học”. Trong đầu anh hiện lên chồng chồng lớp lớp những dấu hỏi : Trường Quốc học? Chữ Pháp? Trường học lớn nhất của nước nhà sao lại lấy chữ Pháp làm chính? Phải chăng từ nay chữ Pháp là quốc tự của Việt Nam ? Và Việt Nam đâu còn là tên của nước mình nữa, mà là “xứ Đông Pháp” rồi! Dưới bậc Tiểu học họ đang còn mị dân mình bằng cái tên ghép : Trường Pháp – Việt. Lên bậc trung học, các quan thực dân Pháp không giấu mục đích thực dân của họ : Trường Quốc học chữ Pháp. Nghĩa là trường học của nước Pháp dạy tiếng Pháp, đào tạo người làm việc cho nước Pháp ở ngay trên xứ thuộc địa của nước Pháp… Anh lại tự nhủ : Thầy Lê Văn Miến được người Pháp đưa sang Pháp đào tạo với mục đích lúc về xứ sở sẽ là một tay sai đắc lực trong bộ máy cai trị, nhưng thầy Miến lại lựa chọn cho mình một hướng đi khác…

Tất Thành cảm thấy mỉa mai cho cái cơ ngơi “Thiên đường trường học” vốn là doanh trại đội lính thủy hoàng gia, với hai dãy nhà tranh, phên nứa. Mỗi dãy nhà ngăn ra làm nhiều phòng nhỏ làm lớp học và phòng các bộ môn : phòng từ hàn (văn phòng, phòng luyện võ), phòng diễn thuyết, phòng khách, phòng diễn ảo thuật. Phòng ông Hiệu trưởng được tu bổ khang trang hơn hết…

Nguyễn Tất Thành ngồi vào lớp học. Học trò đã ngồi gần kín các dãy ghế. Nhưng, ngoài sân trường còn có những chiếc xe song mã, xe độc mã… tiếp tục đến… Có tiếng xì xào : “Chà! Chà! Các mệ, các mụ chừ mới đến… Con cháu nhà vua có khác ! Đó… đó… mệ Hường Kiên, mệ Hường Đề, mụ Ưng Thuần, mụ Ưng Hoát, mụ Ưng Nghệ… Lại còn các cậu ấm con các quan đại thần cũng chừ mới đến trường!”

Trong lớp im bặt. Cả lớp đứng dậy khoanh vòng tay trước ngực. Một thầy giáo người Pháp bước vào lớp, nói tiếng Pháp, giọng mũi : “Các trò ngồi xuống”. Ông điểm danh cả lớp. Thành ngồi ở hàng ghế gần cuối lớp, theo thứ tự A, B… Đạt ngồi ở hàng ghế vần Đ. Ông ghi số học trò có mặt và vắng mặt lên góc bảng đen. Ông giới thiệu cho học trò biết một số đặc điểm của lớp nhất trung học. Vẫn cái giọng mũi ồm ồm, ông nói :

– Lớp nhất trung học của niên khoá này có một mệ, hai mụ. Nhưng, học trò của nhà trường này đều bình đẳng, không phân biệt đối xử.

Trong lớp có tiếng xầm xì. Ông giáo người Pháp nhíu mày nhìn xuống, cả lớp im phăng phắc. Ông nói cao giọng hơn :

– Trong lớp nhất trung học này có hai trò đã đậu bằng cử nhân và sáu trò bằng tú tài nho học. Đặc biệt có trò Phan Khải, quê tỉnh Quảng Nam , năm mười bảy tuổi đậu tú tài nho học.

Thành nhìn về phía vần K Lê Đình Thám ngồi cạnh Thành nói khẽ : “Phan Khải tuổi Mậu Tý (1888), đậu tú tài khoa thi 1905 vừa rồi”. Tất Thành nói nhỏ với Lê Đình Thám : “Vậy ra anh Khải cùng tuổi với anh Võ Liêm Sơn và anh Tất Đạt của tôi”.

– Võ Liêm Sơn quê Nghệ hay bên Tĩnh? – Lê Đình Thám hỏi rất khẽ.

Võ Liêm Sơn ngồi ngay ở hàng ghế trước nên cũng nghe được và quay đầu về sau nở nụ cười với Thành và Thám.

Ông giáo người Pháp vẫn tiếp tục nói về đặc điểm của lớp :

– …Còn một đặc điểm nữa, tuy nhỏ nhưng đáng phải kể đến là, có hai cặp anh em ruột học cùng một lớp. Một là Lê Đình Dương, Lê Đình Thám, con quan tổng đốc Lê Đỉnh, quê Quảng Nam . Hai là Nguyễn Tất Đạt, Nguyễn Tất Đạt, Nguyễn Tất Thành, con quan Phó bảng Nguyễn Sinh Huy thừa biện Bộ Lễ, quê tỉnh Nghệ An…

Nguyễn Tất Thành hơi cúi nhìn xuống bàn, tránh những cái nhìn của các bạn trong lớp. Chân anh miết mạnh xuống đất. Đầu óc anh như một dòng sông chảy xiết : hình dáng ông thầy giáo người Pháp đang ở trước mặt anh lẫn trong bao nhiêu hình ảnh những tên thực dân Pháp với hành động dã man, kinh tởm mà anh đã gặp lúc tuổi thơ ở quê nhà, ở trên dọc đường thiên lý anh đi qua, ở tại kinh đô Huế.

Ông giáo người Pháp chuyển giọng nói vui vẻ :

– Trong lớp học khóa này có những cặp học trò là hai anh em ruột thì cũng có trường hợp ba anh em ruột cùng làm thầy giáo. Đó là thầy Hăng-ri Lơ Bơ-rít (Henri Le Bris), thầy Ơ-gien Lơ Bơ-rít (Eugène Le Bris) và cô giáo Y-von Lơ Bơ-rít (Yvonne Le Bris). Các trò còn có thể được học với thầy Lơ Bơ-rít Gơ-ri-phông (Le Bris Griffon), thầy Quai-nhắc (Queignac), thầy Lơ Bơ-rơ-tông (Le Breton). Nhưng các thầy thích được gọi bằng cái tên An Nam như là Lê Bá Tôn (Le Baston) – ông giáo Pháp cười khà khà. – Và thầy đây, – ông ta chỉ tay vào ngực mình – thầy đây cũng rất thích được gọi tên An Nam : Ngô Đế Mân, tức là No-đơ-măng (Nordeman). – Ông ta cười càng giòn hơn và giọng nói lại chuyển sang nghiêm trang : – Các trò còn có thể được học với các thầy người An Nam danh tiếng như thầy Lê Văn Miến, đã từng sang du học tại Pháp. Thầy Miến chẳng những là một sinh viên xuất sắc ở một trường lớn tại Pa-ri mà còn là một sinh viên giỏi, có tài của trường Mỹ thuật Pa-ri nữa. Rồi thầy Hoàng Thông, thầy Hồ Đắc Khải, thầy Nguyễn Đình Hòe… Thầy Hòe có biệt tài dịch thơ ngụ ngôn La Phông-ten (La Fontaine). Và nhiều thầy nổi danh khác nữa, các trò học lần lần sẽ biết…

Khi kết thúc buổi khai trường, ông giáo No-đơ- măng nói dõng dạc trước lớp : “Trường Quốc học chữ Pháp nhằm mục đích đào tạo nhân tài có lòng trung thành tuyệt đối với nước Đại Pháp và có tinh thần phụng sự cho công cuộc khai hóa của người Pháp…”

Từ “Thiên đường trường học” bước ra, Nguyễn Tất Thành lòng buồn man mác, anh gieo từng bước trên cái “đòn g ánh” gánh hai bờ sông Hương…

Chú thích:

(65) Đại ý : Đức lớn ở lòng, sự thông minh hiện lên trong mắt.

(66) Có chí thì nên

(67) Dựng nước giúp đời

Sáng ngày hai mươi mốt tháng sáu, năm Đinh Mùi (30-7-1907) dòng sông Hương như một khúc ruột quặn đau.

Mây của cơn giông từ đêm hôm trước đang tụ đọng từng khối đen đè nặng bầu trời kinh đô Huế!

Chim không bay về!

Hoa vườn Thượng uyển ủ rũ!

Mặt người dân kinh đô nặng trĩu căm hờn, ánh lên trong mắt niềm thương nhớ đức vua. Mỗi nhà một nhang án, hương nghi ngút, đặt trước sân, đầu ngõ, và mọi người quần áo chỉnh tề tiễn biệt đức vua Thành Thái!

Lệnh của tòa khâm : “Lính cấm trại, quan, viên chức túc trực tại triều”. Quan thừa biện Nguyễn Sinh Huy mặc triều phục vào Bộ Lễ từ sáng tinh mơ. Trước lúc vào triều, ông đốt một nén hương vòng, đặt lên án thư giữa sân, vái năm vái.

Thành cùng với anh Đạt nhập vào đám đông dân chúng. Từ cửa Đông Ba qua các ngả đường quanh Hoàng thành, dân lập bàn thờ hai dãy san sát.

Trên các ngả đường đều có lính gác. Tại cửa Đông Ba, Thượng Tứ, Ngọ Môn, lính Tây lính ta đứng hai hàng. Tên Đờ La-xuýt chễm chệ trên lưng con ngựa chiến, ghìm cương cho ngựa đi nước xăm, dẫn đầu một đơn vị lính kỵ binh lướt qua lướt lại dọc đường thành…

Từ bên hữu ngạn sông Hương, tên khâm sứ Lê-véc- cơ ngồi trong chiếc xe hơi hình thù như con bọ hung, qua cầu Thành Thái. Trên lầu Ngũ Phụng, tiếng vọi đồng cất lên : “Thần dân giữ trong nghiêm lịnh. Giờ đức vua lên đường biệt xứ bắt đầu”.

Mọi người đứng tại chỗ, cúi đầu xuống. Nguyễn Tất Thành đứng nghiêm trang nhìn lên phía Ngọ Môn. Lòng anh đau thắt. Bên tai anh những tiếng khóc nức nở. Nhiều cụ già quỳ thấp xuống hai bên đường. Anh nhìn thấp thoáng đức vua chân đi giày hở gót, mặc thường phục. Theo sau đức vua là các quan cùng triều. Tên khâm sứ Lê-véc-cơ bước tới. Đức vua dừng bước. Tên sĩ quan cận vệ của hắn tiến đến bên vua. Hắn nói và hai tay làm điệu bộ – vì xa, Tết Thành không nghe tiếng tên khâm sứ nói những gì. Một tên sĩ quan cận vệ hai tay nâng ra trước mặt vua Thành Thái trang giấy khổ rộng và bút nghiên. Đức vua cầm ném xuống đất chửi vào mặt tên Lê-véc-cơ, rỗi sải bước qua mặt nó, đi lên phía trước… Dân chúng chắp tay vái theo vua Thành Thái…

Cơn mưa chiều ập xuống kinh thành. Gió! Gió! Gió nổi từng cơn! Từng cơn gió xe mưa trong trời xa mù mịt!

Ba cha con quan thừa biện ngồi trong nhà nhìn mưa. Thành hỏi cha :

– Chúng con đứng đằng xa, chẳng rõ lão khâm sứ nói những gì mà đức vua đã không nén nổi giận?

– Họ đã làm theo lệnh ông toàn quyền Bô (Beau); mua chuộc và cưỡng ép đức vua phải tuyên cáo với quốc dân về tội âm mưu chống lại nước Đại Pháp. Nếu đức vua chịu theo điều kiện ấy thì mới được trở lại nguyên vị. Nếu không thì bị đày đi biệt xứ qua bể châu Phi. (70)

– Hừ! Người Pháp, người Pháp – Đạt kéo dài giọng – giở cái trò bần tiện quá!

Thành hỏi thêm cha :

– Đức vua Thành Thái đã cự tuyệt cái điều kiện hèn hạ ấy mà lúc lên đường đi đày biệt xứ, lão khâm sứ vẫn còn đón đường ép đức vua thì thật là dơ, phải không cha?

– Cái kế ấy thâm độc lắm chứ con. Họ chọn lúc bắt đầu cất bước ra đi, mà là đi đày. Đó là lúc dễ mềm yếu nhất dễ bỏ nhân cách cao thượng, tiết tháo, để chọn lấy sự sống an nhàn, chịu tiếng hèn hạ. Do đó viên khâm sứ đã viết sẵn lời tuyên cáo đưa cho đức vua ký. Đức vua đã nổi giận. Đức vua ném giấy bút xuống đất, mắt đức vua long lanh, ngài nói với thần dân:

Muôn dân nô lệ từng đàn,

Vui chi bệ ngọc ngai vàng riêng ta?

Hỡi ôi mất nước tan nhà,

Cừu thù quốc sỉ ấy là nợ chung.

Cơn mưa chiều kéo dài. Tiếng mưa âm vang như nhữ ng tiếng nức nở của đất trời!

Chú thích:

(69) Gỗ cây mai già đun sôi để nguội

(70) Thực dân Pháp đưa vua Thành Thái vào giam tại Ô Cấp (Vũng Tàu). Mãi đến năm 1915 chúng mới bí mật đưa ông sang đảo Rê-uy-ni-ông (Réunion). Ngày 3-5-1916 chúng lại đày vua Duy Tân, con vua Thành Thái, sang một chỗ với cha.

Bóng cây in xuống vuông sân như bông hoa đen xòe rộng cánh. Những con bồ câu rỉa lông phơi nắng ở một góc sân. Mấy khóm hoa râm bụt lập lòe lửa đỏ bên bờ giậu xanh…

Quan Phó bảng Nguyễn Sinh Huy mặc áo, đội khăn xong với lấy cái ô treo ở xà nhà :

– Ta đi con!

Nguyễn Tất Thành nâng cái khăn gói bằng vải tây điều khoác vào vai. Anh nhìn cha với đôi mắt băn khoăn. Quan Phó bảng quay nhìn bàn thờ vợ lần cuối. Làn khói hương vẫn bay lang thang khắp nhà tĩnh lặng ông hơi cúi đầu bước ra sân. Thành hạ thấp rèm cửa. Căn nhà kín mít im lìm. Đàn chim bồ câu rời khỏi góc sân chạy lúp xúp, bay là là theo bịn rịn bên chân cha con ông Phó bảng . Ông dừng lại:

– Chim đòi ăn đó. Con vô lấy thóc cho chim ăn.

Thành rê những nắm thóc xuống sân. Đàn chim xúm xít dưới bàn tay anh. Quan Phó bảng giương cánh ô lên, bóng ô đổ dài, lúng liếng trên mặt sân.

Quan Phó bảng đi trước . Thành mang khăn gói của cha đi sau. Hai cha con lặng lẽ bước về hướng sông Hương. Gần tới bến đò, Thành sải bước đi gần bên cha :

– Con sang đò với cha, cha nhá?

Quan Phó bảng nhìn con :

– Một mình cha đi thôi.

Gió dưới sông càng thổi mạnh, cái ô như muốn tuột ra khỏi tay quan Phó bảng . Tà áo, ống quần của hai cha con bay lùa cả về phía sau. Đôi chân Nguyễn Tất Thành sải dài chắc nịch rướn lên gió ngược.

Bến đò rộng thênh thang. Mặt sông mênh mông. Khách đợi đò đứng rải rác từng nhóm. Hai cha con quan Phó bảng dạo bước dọc ven sông. Thành nói, gió phả nhập nhòa giọng điệu :

– Như con đã thưa với cha hôm nọ, học hết niên khóa này con sẽ đi vô miền trong. Con băn khoăn… lúc ấy con muốn tìm đến gặp cha thì…

Quan Phó bảng chau mày. Chân ông bước hơi ngập ngừng, cái ô trên đầu ông chan đảo mạnh. ông nói, giọng cứng rắn:

– Cha đã kính thư vào ông Hồ Tá Bang tổng lý (72) công ty Liên Thành. Nếu lập được trường học Dục Thanh tại Phan Thiết, có thể cha tới dạy chữ nho, con nhận một chân dạy chữ mới. Nhược bằng cha không đến đó, con càng phải cứng rắn tìm cho mình một hướng dung thân, nuôi chí lớn..

Quan Phó bảng nét mặt tươi sáng, nhìn xuống sông, con đò đang từ từ cập bến. Ông đặt bàn tay lên vai con :

– Anh Đạt của con ở ngoài quê vào, con nói lại với anh con những điều cha dặn. Với con, cha mong đợi rất nhiều . Cha đi nhá.

Thành đưa hai tay nâng khăn gói trao cho cha. ông Huy giơ cao cái ô. Chân ông bước xiêu xiêu, bóng đổ về phía sau và ngắn dần. Ông đi giữa đám hành khách chen chúc xuống đò. Thỉnh thoảng ông ngoái đầu lại nhìn con…

Thành xòe bàn tay che nắng nhìn theo cha. Con đò rời bến, mũi con đò như lưỡi gươm chẻ ngang dòng sông loang loáng xanh. Cái ô quan Phó bảng Nguyễn Sinh Huy như một cái nấm nhòa vào nắng quáng.

Chú thích:

(71) Đúng ra phải dịch là “Những người khốn khổ” (tác phẩm của nhà văn hào Pháp Vích-to Huy-gô).

(72) Sau này gọi là tổng giám đốc.

Nguyễn Tất Thành ngồi trong lớp nhìn lên bảng đen :

Giờ học lịch sử cuộc cách mạng Pháp 1789.

Ông giáo người Pháp Gơ-ri-phông (Griffon) bước vào. Cả lớp đứng dậy đều răm rắp. Ông ta bước lên bục giảng, đưa mắt “điểm danh” từng dãy bàn. Ông nói giọng thổ : “Các trò ngồi xuống. Hôm nay chúng ta học phần : Nguyên nhân nổ ra cuộc cách mạng 1789”.

Giáo sư Gơ-ri-phông bước xuống bục, đi xuống đi lên giữa những dãy ghế học trò đang chăm chú chép bài. Tai nghe, tay chép lia lịa mà lòng Thành ngổn ngang với bao vấn đề của bài học lịch sử.

“Nhà vua chỉ nhận tước phong của Thượng đế và có có trách nhiệm trước Thượng đế. Quyền của nhà vua không có giới hạn. Nhà vua có toàn quyền đối với tính mệnh và tài sản của dân.

“Dân không có quyền mà có bổn phận vâng lệnh vua. Báo chí, sách vở không được in ra nếu chưa được kiểm duyệt. Nhà vua có quyền lấy tài sản của dân bằng mệnh lệnh tịch thu. Nhà vua muốn bắt giam người nào chỉ cần một tờ lệnh.

“Nhà vua sống trong cung điện ở Véc-xay (Versailles). Có từ một vạn bảy ngàn đến một vạn tám ngàn quần thần mà số phục dịch vua và vợ con vua là một ngàn người. Mỗi năm nhà vua tiêu tốn cho mình là 50 triệu bảng (73), chiếm một phần mười lợi tức nhà nước.

“Nước Pháp thời trước cuộc đại cách mạng 1789 có trên hai mươi sáu triệu dân, chia thành ba giai cấp : giáo hội, quý tộc, thứ dân. “Giáo hội là giai cấp đứng hàng đầu trong cả nước. Giai cấp này có độ một trăm ba mươi ngàn giáo sĩ được tổ chức thành một đoàn thể chặt chẽ. Nhà vua công nhận cho giáo hội quyền thu thuế nhận mọi bổng lộc, có tòa án riêng. Giáo hội chiếm một phần mười diện tích ruộng đất trong toàn nước Pháp, có nhiều lâu đài, biệt thự cho thuê ở khắp các thành phố lớn.

“Giai cấp quý tộc được ưu đãi thứ hai sau giáo hội. Quý tộc gồm hai hạng : quý tộc dòng giống, thuộc dòng dõi chính thống; quý tộc hàm là hạng bỏ tiền mua từ những đời cha, ông trước.

“Quyền lợi của đám quý tộc : mặc sắc phục riêng, ngồi ở hàng danh dự lúc vào nhà thờ, nơi yến tiệc; miễn để quân đội trưng dụng nhà, hưởng đặc quyền trước pháp luật, chỉ bị xử trước quốc hội mà thôi. Quý tộc còn được các quyền : sử dụng đất đai, quyền thu thuế quyền săn bắn, quyền xử án, bắt phu, ưu tiên qua cầu đi đường.

“Giai cấp thứ dân gồm những người công chức nhỏ, sĩ quan cấp thấp, bác sĩ, kỹ sư, nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ, luật sư, thương gia, kỹ nghệ gia, thợ thuyền, dân cày”…

Chép xong bài, cả lớp đặt bút xuống bàn, tháo ống áo lót cánh tay viết ra, ngồi nghe thầy giảng. Thành nhìn chăm chăm ông giáo Gơ-ri-phông mà anh không nghe rõ thầy giáo nói những gì. Trước mắt anh là một nước Pháp có cụ Vi-ta-li nhân từ thương yêu đùm bọc bé Rê-mi. Có Giăng Van-giăng đau khổ mà độ lượng, trọng lời hứa, nuôi nấng Cô-dét suốt đời ông. Có những người mẹ như má Bác-bơ-ranh, như Phăng-tin. Có gia đình bác trồng hoa A-canh, ai cũng tốt bụng. Có anh sinh viên Ma-ri-uýt hăng hái cách mạng, có em thiếu niên Ga-vơ-rốt dũng cảm. Và nước Pháp đầy rẫy những tên mật thám Gia-ve, những thằng người như Đơ-rit- xcôn, Tê-nác-đi-ê nham hiểm, đểu cáng (74).

Càng nghe thầy giảng, dòng suy nghĩ của anh càng dài. Những câu hỏi lớn nối tiếp hiện ra theo các nhân vật mà anh đã gặp trong những trang sách thuê đọc ở quán sách cụ Lừa. Lòng anh càng trăn trở về một câu hỏi : Nước Pháp đã sinh ra được những nhà tư tưởng như Mông-tét-ki-ơ (Montesquieu), Rút-xô (Rousseau), Vôn-te (Voltaire) và Công-đoóc-xê (Condorcet)… Họ đã đề xướng ra Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Họ đã đấu tranh đòi quyền cơ bản của con người – Nhân quyền. Vậy mà ở đất nước Nam này lù lù cái ông Tây từ đâu đến chân lấm đầy máu của con người?

Thành chợt tỉnh, trước mặt vẫn là ông giáo người Tây Gơ-ri-phông đang thao thao bất tuyệt :

– Các trò về học thuộc bài. Học lịch sử là phải học thuộc tất cả những chi tiết trong từng sự kiện, từng thời đại từng ông vua, vị tướng. Các trò phải noi gương trò Nguyễn Văn Thơ, Hồ Đắc Ưng (75) hiện học ở lớp trên các trò. Trò Thơ đã nhớ tất cả năm sinh, ngày chết của các vua, các tướng, các danh nhân người Pháp và các biến cố trên thế giới. Còn trò Hồ Đắc Ưng lại có bộ óc biệt tài, đã nhớ hết tên các con sông, các dãy núi của nước Pháp. Trò Ưng còn thuộc làu làu tên nước, tên thủ đô, thành phố lớn của các quốc gia trên khắp hoàn cầu…

Tan buổi học, cả lớp ùa ra sân. Thành nhìn quanh các phía không thấy anh Đạt. Thành bước dọc theo lối cỏ mịn, gương mặt anh trầm tư. Võ Liêm Sơn, Lê Đình Thám, Võ Chuẩn, Lê Thanh Cảnh ở phía sau chạy ùa lên cùng đi ngang hàng với Thành, cười đùa tíu tít…

Bất chợt Sơn hỏi Thành :

– Thầy Gơ-ri-phông đưa cậu ấm Thơ, cậu ấm Ưng lên tận mây xanh, Thành thấy sao?

Thành nhìn Chuẩn và Cảnh :

– Xin nhường để bạn Chuẩn và bạn Cảnh là hai bộ máy nhớ nhất lớp của chúng mình cho cảm tưởng trước.

Chuẩn mỉm cười. Cảnh ít tuổi nhất nhóm nhanh nhảu nói :

– Học thuộc tên các vua, tên sông, tên núi, tên các kinh đô, thành phố lớn có khó chi. Thầy nêu gương hai người trên lớp đàn anh là mẹo của thầy để chúng ta phải học thuộc bài…

Thành mặt buồn buồn, lơ đãng :

– Các anh ấy đã học lên được lớp cao, thuộc lòng được nhiều pho sử ký, pho địa dư của nước Pháp. Biết nhiều càng quý, không sợ thừa. Tiếc là hai anh ấy lại quên mất lịch sử nước nhà, chẳng nhớ nổi tên các con sông, các trái núi ở quê hương mình!

Lê Đình Thám nói :

– Có lần chính hai anh đến chơi ở nhà bác tôi. Ông bác họ tôi rặt lấy sức nhớ sử sách ở bên Pháp của hai anh ra so bì với đám con cháu trong nhà. Bỗng anh Thơ thấy trên án thư cuốn sách “Hồng Nghĩa giác tư y thư” của Tuệ Tĩnh, liền hỏi :

– Sách thuốc của Tàu phải không thưa bác?

– Cháu coi lại tên tác giả và đọc lời tựa thì biết.

Bác tôi thấy anh Thơ lúng túng, lật giở pho sách trên tay một lúc khá lâu mà vẫn chưa phân rõ được là sách ta hay sách Tàu. Thấy vậy, bác tôi phải dẫn giải rạch ròi :

– Tuệ Tĩnh là nhà đại danh y của nước ta. Ngài là người đầu tiên đặt nền móng y học Việt Nam với phương sách : “Thuốc Nam Việt chữa người Nam Việt”. Pho sách “Hồng Nghĩa giác tư y thư” của ngài có nghĩa là pho sách thuốc giác tư của vị danh y. Hồng Nghĩa tức là quê của Tuệ Tĩnh, làng Nghĩa Phú, huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương. Còn chữ giác tư là gốc của câu : “dĩ tư đạo lý giác tư dân” nghĩa là lấy đạo lý này mà giác ngộ cho dân. Như vậy là nhà đại danh y Tuệ Tĩnh đặt tên sách với ý chỉ dẫn cho người làm thuốc nước mình một phương hướng trị bệnh cứu dân…

Thành và mấy bạn học cùng lớp vừa đi vừa say sưa nghe Thám kể chuyện. Đi quá lối rẽ về Ao Hồ, Thành chia tay các bạn, trở về quán trọ. Trong tâm trí anh vẫn sừng sững một câu hỏi : Những nhà cách mạng Pháp (1789) đã dấy động dân chúng Pháp đánh đổ bọn thống trị tàn bạo, đặc quyền đặc lợi, giải phóng con người xác lập quyền cơ bản của con người mà quyền Tự do là trên hết, sao dân chúng Pháp vẫn còn “Những kẻ khốn nạn”, những kẻ “Không gia đình”? Anh tâm niệm : Điều cha mình nói chí phải : Công bằng viễn lộ hà xứ thị?

Cuộc nổi dậy của người Thừa Thiên – Huế kéo dài đến ngày thứ tư thì bị dập tắt.

Nguyễn Tất Thành bị cảnh sát săn đuổi. Anh phải sống ẩn náu trong nhà một vài bạn học mà cảnh sát và nhà trường không để ý tới. Thành được anh Đạt và một số bạn hằng ngày đem cho những tin tức mới ở trường, Tòa khâm sứ cho người sang trường Quốc học khiển trách về vụ học sinh đã tham gia biểu tình chống “nhà nước bảo hộ”. Tòa khâm còn ban bố lệnh : “Những trò nào chỉ là a tòng, vì bị rủ rê mà nhập đoàn nhập ngũ đi reo thì phải làm giấy tự thú với Hiệu trưởng mới được học tiếp. Những trò nào đứng ra hô hào dân chúng và học trò tham gia bạo loạn thì phải đuổi khỏi trường ngay”.

Thầy Lê Văn Miến và một số thầy người Việt phản đối việc đuổi và bắt học trò làm giấy đầu thú. Viên khâm sứ nguyên có biết thầy Miến tại Pa-ri, đã nhiều lần mời thầy sang tòa khâm chơi, nhưng thầy từ chối. Thậm chí mỗi lần y đến trường Quốc học, cố ý để gặp thầy Lê Văn Miến, ông đều tránh mặt y. Lần này, đề lấy lòng thầy Miến, y đã “miễn tội” cho những học sinh tham gia vụ biểu tình chống bắt phu giảm sưu thuế của bà con nông dân Thừa Thiên – Huế. Nhưng, Nguyễn Tất Thành vẫn phải làm “tờ thư” nộp cho Hiệu trưởng và đi theo Hiệu trưởng đến tòa khâm để cam đoan từ nay về sau không được làm việc gì gây tổn hại đến “sự nghiệp của nhà nước bảo hộ”.

Đạt đưa thầy Lê Văn Miến đến gặp Thành. Thầy Miến chân thành nói :

– Trước ngày đi Bình Khê nhận chức, quan Phó bảng có dặn thầy : “… hãy vì tình bằng hữu giúp tôi trong việc chăm sóc các cháu Đạt, cháu Thành, đặc biệt là cháu Thành học tới thành chung”. Nếu quan Phó bảng không gửi gắm thì thầy vẫn làm phận sự ấy với hai trò. Thầy rất quý cái tâm, cái chí sáng của trò. Thầy muốn trò. chịu nhẫn nhục để học cho tới bằng thành chung rồi trò sẽ tự quyết con đường sống của mình…

– Thưa thầy, – Thành nói từ tốn – con không lỗi đạo thầy trò. Vừa qua, con hành động đúng. Con đã có năm ba chữ, biết suy nghĩ, con sang tuổi mười tám rồi, con không thể thờ ơ trước việc đồng bào mình bị chà đạp, phải đứng dậy đòi được quyền sống. Con biết ơn thầy muốn giúp con được tiếp tục học đến đầu đến đũa ở cái trường này. Nhưng, thưa thầy, con cam chịu bị đuổi ra khỏi trường chứ không thể tự trói mình nộp mạng cho tòa khâm!

– Thưa thầy – Đạt nói – vừa rồi Công tôn nữ Huệ Minh gặp con cho biết : mệ đã gặp vợ ông khâm sứ, nhờ xin cho Thành được trở lại tiếp tục học, do vậy mà tòa khâm mới có cái “đặc ân” gửi sang trường…

– À! – Thầy giáo Miến hơi cúi xuống, vẻ ngạc nhiên. – Thì ra đằng sau cái việc tòa khâm cho trò Nguyễn Tất Thành được trở lại trường học còn có…

– Thưa thầy – giọng Thành đanh lại – lão khâm sứ đã dám chìa bản “đầu thú” viết sẵn ra trước mặt đức vua Thành Thái giữa lúc vua bước ra khỏi hoàng cưng lên đường đi đày. Đức vua đã ném cái tờ giấy nhục nhã ấy xuống đất ngẩng cao đầu : “Muôn dân nô lệ từng đàn, vui chi bệ ngọc ngai vàng riêng ta?…”. Thưa thầy, vua ung dung đi đày, không quay trở lại ngồi trên ngai vàng nô lệ. Cái ghế học trò! Con yêu nó như yêu cái thềm nhà in dấu vết con tập bò, tập đi. Nhưng con không thể chịu nhục ôm cái ghế để có mảnh bằng thành chung. Thầy hiểu cho lòng con…

– Tất Thành! Con đừng nói thêm một lời nào nữa! – Thầy Lê Văn Miến hai bàn tay bưng lấy mặt nói. – Con hãy đi… đi theo tiếng gọi của lòng con…Thầy và vị thân sinh của con…

Thầy giáo Lê Văn Miến nghẹn ngào nuốt trở vào những lời ông chưa kịp nói ra. Ông từ biệt Nguyễn Tất Thành, người học trò đã để lại trong tâm trí ông cái ấn tượng như con số 1 đứng ở đầu hàng số dài vô tận…

Thầy giáo Miến đi rồi, Thành càng bâng khuâng về lời thầy nói lúc đầu : “Thầy đã ở tại thủ đô nước Pháp. Quả là một cường quốc bậc nhất hoàn cầu. Nước Việt Nam là hàng nhược tiểu, thua kém họ nhiều lắm. Các bậc tiền nhân, các nhà có khoa bảng đã dám đứng ra chống người Pháp, rất đáng kính phục, nhưng chỉ là lấy gậy chọc trời. Rốt cuộc, hết thất bại này đến thất bại khác. Lớp người tai mắt như Trần Cao Vân, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế, Nguyễn Hàm, Nguyễn Thành, Nguyễn Văn Ngôn, Đặng Văn Bá, Lê Văn Huân, Phạm Văn Ngôn… đều bị gông cổ đày đi biệt xứ. Quan nghè Trần Quý Cáp bị chặt đầu, mất xác. Phan Bội Châu và những đồng chí của ông hiện đang sống lênh đênh, phiêu bạt trên đất Phù Tang, đất Tàu…”

Tất Thành băn khoăn : Ông Phan Bội Châu coi Nhật là cường quốc của châu Á, chọn Nhật làm chỗ dựa để đuổi người Pháp, giành độc lập cho nước nhà. Nhưng nghe nói Nhật đang bắt đầu trở mặt với ông Phan, thân thiện với Pháp. Thầy giáo Lê Văn Miến đi Pháp về thấy Pháp là nước hùng mạnh, thấy nước nhà nhỏ yếu tuyệt vọng Thầy đã coi việc ta mất nước cho Pháp gần như một định luật, không còn phương cứu nữa…

Đạt đi tiễn thầy Miến rồi về quán trọ Ao Hồ, lúc trở lại vẫn thấy Thành ngồi trầm ngâm như pho tượng, anh an ủi em :

– Nếu không còn ở lại Huế nổi thì em vô Bình Khê với cha, hoặc em về Nghệ An với chị Thanh. Em nghĩ ngợi nhiều có ích gì?

– Không nghĩ sao được anh? Bao nhiêu người tai mắt của đất nước lần lượt bị giết, bị hạ ngục, hoặc đày đi Côn Lôn, Lao Bảo… Còn nữa thì lại nuốt hận, coi việc nước mình mất cho Pháp là điều không tránh khỏi.

– Thầy Miến nói cũng có phần nào đúng chứ em?

– Anh biểu có phần đúng là những phần nào?

– Chúng mình đi đến đâu cũng thấy người Pháp họ đến nắm quyền cai trị, cai trị từ vua cai trị xuống. Chúng mình học, đọc sách, thấy nước Pháp họ văn minh, thứ gì họ cũng hơn hẳn nước mình. Nước lớn ức hiếp nước bé, kẻ mạnh bắt nạt người yếu, thời nào cũng vẫn có chuyện đó, em ạ.

– Điều anh nói đó là hoàn toàn đứng. Nhưng, em thấy nếu cuộc đời chì quay có một chiều : lớn thắng bé, mạnh được yếu, thì nhân loại từ xưa tới nay chi có lăn theo cái trật tự ấy. Trái lại, dân tộc ta nhỏ mà đã thắng nhà Hán, thắng nhà Tống, thắng nhà Nguyên, thắng nhà Minh, thắng nhà Thanh. Tổ tiên đã dám đánh thắng kẻ thù dân tộc lớn mạnh hơn mình gấp bao nhiêu lần, lẽ nào ngày nay lại không có ai dám dương đầu với quân Pháp cường bạo?

Đạt ngồi lặng nhìn hai bàn chân em luôn luôn xê dịch trên nền nhà. Anh hỏi em một cách đột ngột :

– Em định thế nào?

– Em rời khỏi Huế ngay hôm nay.

– Em đi đâu?

– Em đi lần vô miền trong.

– Để làm gì?

– Em còn muốn đi xa nữa. Đi để biết, để học, để rồi làm được một việc gì có ích cho dân mình, nước mình…

– Em đã nghĩ kỹ chưa?

– Từ lâu em đã tìm, đã lựa chọn cho mình một hướng đi, anh ạ.

– Em đã quyết thì hành. Anh học hết niên khóa này, anh cũng sẽ chọn một hướng sống hợp với mình…

Hai anh em nhìn nhau. Mắt ướt! Ngoài vườn khuya, tiếng chim rời rạc vọng vào như từng giọt lệ rơi : quốc… quốc…

【#2】3 Cách Bày Mâm Ngũ Quả Ngày Tết Theo Phong Tục Miền Bắc Trung Nam

1. Ý nghĩa mâm ngũ quả ngày Tết

Mỗi độ Tết đến xuân về trên bàn thờ gia tiên của gia đình Việt đều bày biện mâm ngũ quả. Đây là phong tục có từ đâu đời và trở thành nét văn hóa đẹp của người dân Việt Nam. Mâm ngũ quả có ý nghĩa rất sâu sắc và đặc biệt. Tết là thời điểm giao thoa giữa năm cũ và năm mới, là thời điểm người ta tổng kết lại một năm làm lụng cũng như ước mong năm mới những điều tốt đẹp hơn. Và ngũ quả chính là thể hiện cho năm ước nguyện của ông cha ta là: Phú – Quý – Thọ – Khang – Ninh. Ngũ quả còn thể hiện công sức, thành quả của người nông dân sau một năm dài vất vả. Nó là biểu trưng cho sự sung túc, đủ đầy. Dù năm đó làm ăn được ít hay nhiều thì vẫn có mâm ngũ quả trên bàn thờ.

Mâm ngũ quả ngày Tết thể hiện ước muốn cuộc sống đủ đầy, sung túc (Nguồn: tintucvietnam.vn)

Ngoài ra, mâm ngũ quả đẹp ngày Tết còn thể hiện cho ngũ hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ – năm hành sinh ra vạn vật trong vũ trụ nhằm mong muốn sự hài hòa, cân bằng và trọn vẹn trong cuộc sống. Ngũ quả có năm màu tượng trưng cho từng hành. Ví dụ, màu đỏ tượng trưng cho hành Hỏa thường thấy ở các loại quả táo, thanh long. Màu trắng tượng trưng cho hành Kim thường thấy ở quả lê, mận, roi. Màu xanh tượng trưng cho hành Mộc thường thấy ở quả chuối, đu đủ, na, sung, dưa hấu. Màu vàng tượng trưng cho hành Thổ thường thấy ở các loại quả quýt, cam, phật thủ, xoài, bưởi. Và màu tối sẫm của hành Thủy thường thấy ở quả nho.

Ngũ quả tượng trưng cho 5 màu trong ngũ hành (Nguồn: baoxehoi.net)

2. Cách bày mâm ngũ quả ngày Tết theo phong tục 3 miền Bắc – Trung – Nam

2.1. Cách bày mâm ngũ quả ngày Tết miền Bắc

Miền Bắc rất coi trọng mâm ngũ quả trong ngày Tết, dù nhà giàu hay nhà nghèo thì trên bàn thờ luôn có mâm ngũ quả để dâng lên ông bà tổ tiên. Mâm ngũ quả của người dân miền Bắc thường có năm loại quả là chuối xanh, bưởi (hoặc phật thủ), đào, hồng và quýt. Mỗi loại quả là một ý nghĩa và mong ước riêng của người dân.

Mâm ngũ quả của người dân miền Bắc bày biện vào dịp Tết (Nguồn: lh3.googleusercontent.com)

Quả chuối xanh tượng trưng cho hành Mộc được coi là trọng tâm của mâm ngũ quả. Nải chuối có hình giống bàn tay ngửa lên để che chở, bảo vệ cũng như đem lại phúc lộc cho gia chủ. Chuối xanh được đặt ở dưới cùng. Tùy vào kích thước mỗi gia đình muốn mà có thể dùng từ một đến hai, ba nải chuối chụm lại với nhau. Bạn nên lựa chọn loại trái cây nội địa này với mã đẹp và đều nhau để mâm ngũ quả đẹp hơn.

Màu xanh của chuối tượng trưng cho mạng Mộc trong ngũ hành (Nguồn: lamsao.com)

Quả bưởi hoặc quả phật thủ có màu vàng tượng trưng cho hành Thổ. Loại quả được đặt ở vị trí trung tâm và nằm ngay trong lòng nải chuối. Nhiều gia đình hiện nay dùng quả Phật thủ để thay thế quả bưởi vì nó có mười cánh chụm lại như hình bàn tay Phật. Bạn dùng quả nào cũng được vì chúng đều có ý nghĩa là may mắn, trời phật ban lộc, bình an.

Quả phật thủ rất được ưa chuộng vào dịp Tết đến (Nguồn: phatthu.com)

Tiếp theo là quả đu đủ, quả sung được đặt trên mâm ngũ quả với ước mong cuộc sống sẽ luôn đầy đủ, sung túc, tránh cảnh bần hàn, khó khăn.

Quả đu đủ không thể thiếu trong mâm quả ngày Tết (Nguồn: dkn.tv)

Bên cạnh đó trên mâm ngũ quả của người dân miền Bắc còn có thêm các loại quả mang các màu biểu tượng cho từng mùa khác nhau và các hành tương ứng như quả có màu đỏ như cam quýt, quả ớt (hành Hỏa), quả roi, mận có màu trắng (hành Kim) hay quả hồng xiêm, nho có màu sẫm (hành Thủy). Nếu để ý, người miền Bắc thường chọn số trái là số lẻ trong mâm ngũ quả vì quan niệm sẽ mang lại may mắn hơn. Tuy nói là ngũ quả nhưng thực tế người dân thường bày biện nhiều hơn năm loại quả và màu sắc cũng rất đa dạng, sao cho mâm ngũ quả thật đầy đặn, đẹp mắt để năm mới thật sung túc và an khang.

Mâm ngũ quả ngày Tết miền Bắc với nhiều màu sắc theo ngũ hành (Nguồn: youtube.com)

2.2. Cách bày mâm ngũ quả ngày Tết miền Nam

Với người dân miền Nam họ mua các loại trái cây tươi ngon tại siêu thị online Adr và bày biện mâm ngũ quả theo phát âm của từng trái làm sao để có thể đạt được: cầu, sung, vừa, đủ, xài tương ứng với năm loại quả là: mãng cầu, sung, dừa, đu đủ và xoài. Bên cạnh đó, để làm đế họ sẽ chọn ba quả dứa (quả thơm) để tạo nên sự chắc chắn.

Mâm ngũ quả của người miền Nam thể hiện mong ước Cầu Sung Vừa Đủ Xài (Nguồn: baomoi.com)

Ngoài ra, người miền Nam thường hay quan tâm đến ý nghĩa tên gọi của mỗi loại trái cây, ví dụ như dưa hấu, loại trái cây quen thuộc luôn góp mặt trong mâm ngũ quả của người dân Nam Bộ vì dưa hấu có ruột đỏ vỏ xanh thể hiện cho lòng trung nghĩa của người dân miền Nam. Họ lại khá kỵ quả chuối vì nó có phát âm gần giống “chúi” thể hiện sự nguy khó hay quả cam, quýt vì có câu Quýt làm Cam chịu cũng không tốt. Do đó, bạn sẽ không thấy các loại quả này ở mâm ngũ quả Tết của người miền Nam.

Dưa hấu đã trở thành một thức quả trang trí không thể thiếu trong mâm quả ngày Tết (Nguồn: chiecthiavang.com)

2.3. Cách bày mâm ngũ quả ngày Tết miền Trung

Miền Trung là dải đất khó khăn, nghèo khổ nhất cả nước. Trước Tết, miền Trung gánh chịu rất nhiều cơn bão nên thực sự ở đây hoa quả không nhiều. Tuy nhiên, với sự thông thương như hiện nay thì bạn có thể tìm mua nhiều loại hoa quả dù ở vùng không trồng được.

Với người dân miền Trung, họ rất thật thà, chất phác nên cũng không quá câu nề mâm ngũ quả. Chủ yếu là họ dâng sự thành tâm, nhà có gì thì cúng nấy. Miền Trung là nơi có sự giao thoa giữa miền Bắc và miền Nam nên mâm ngũ quả của họ cũng khá đủ đầy, có thể có cả những loại hoa quả của miền Nam và miền Bắc.

Mâm ngũ quả của người miền Trung thể hiện sự thành tâm (Nguồn: shanam.vn)

3. Ngoài chưng mâm ngũ quả ngày Tết, bàn thờ cần có những gì và bài trí ra sao?

Ngoài mâm ngũ quả thì ngày Tết bạn cần chú ý bày biện đầy đủ và đúng các vật dụng khác nữa. Đầu tiên, đó là bá hương tượng trưng cho sự tinh tú và là trung tâm của bàn thờ. Trên bàn thờ nên có ba bát hương, bát hương to nhất đặt ở giữa, hai bát hương nhỏ ở hai bên tạo nên tư thế tam tài. Trên các bát hương nên cắm trụ hương vòng. Ngoài ra, bạn có thể mua bộ đỉnh, lư hương thiết kế tinh tế để trên bàn thờ thêm phần trang trọng. Ở hai góc ngoài cùng của bàn thờ thì bày trí hai cây đèn dầu hoặc hai cây nến. Hai cây đèn thể hiện cho mặt trời và mặt trăng luôn thắp sáng cho bàn thờ cả ngày lẫn đêm. Gia đình có thể dùng hương nén, hương sào hoặc hương vòng để thắp ngày Tết đều được.

Bàn thờ ngày Tết được bày trí đủ đầy thể hiện sự sung túc, ấm no (Nguồn: media.laodong.vn)

Trên bàn thờ ngày Tết không thể thiếu bình hoa. Bình hoa bàn thờ Tết bạn có thể chưng các loài hoa thật có ý nghĩa tốt đẹp như hoa hồng, hoa cúc, hoa lay ơn hoặc có những gia đình cắm một cành đào nhỏ. Tránh dâng các loài hoa có ý nghĩa buồn hay mùi quá hắc. Hoặc thay vào đó bạn có thể mua thêm các loại cây, hoa giả trang trí để tăng thêm không khí và màu sắc cho ngày Tết trong gia đình.

Trên bàn thờ không thể thiếu lễ vật dâng cúng. Các lễ vật này bao gồm giấy tiền, vàng mã, quần áo. Ở phía trước của bàn thờ bày biện 3 hoặc 5 chiếc ly nhỏ, một bình trà và đĩa đĩa bánh kẹo, mứt Tết, trầu cau. Khi thực hiện cách bày mâm ngũ quả ngày Tết bạn cần chú ý bày biện sao cho đẹp mắt cùng với các vật dụng khác. Mâm ngũ quả có thể nằm ở giữa hoặc ở bên phải. Chum nước, bánh kẹo, đèn dầu luôn ở phía trên. Bình hoa, bình hương, bát hương nằm ở khu vực phía trong.

【#3】Bài Văn Khấn Cúng Lễ Đổ Bê Tông (Cất Nóc)

Tổng hợp những bài văn khấn, bài cúng cất nóc, đổ mái nhà.

Làm nhà, xây nhà là một trong những việc quan trọng nhất của một đời người. Để việc xây dựng được diễn ra thuận lợi, các thành viên sống trong nhà được khỏe mạnh, mọi sự tốt lành thì từ khi chuẩn bị làm nhà đều phải xem ngày tốt, chọn giờ Hoàng Đạo để tiến hành.

Một ngôi nhà từ lúc khởi công cho đến lúc hoàn thành được phân chia thành nhiều giai đoạn khác nhau. Mỗi giai đoạn đều quan trọng và được gia chủ lưu tâm từ việc tìm ngày giờ tốt, chuẩn bị lễ vật cúng, văn khấn… để mong thần linh và gia tiên chứng giám, phù hộ độ trì.

Cúng Cất nóc, đổ mái là khâu cuối cùng trong việc hình thành lên một khung nhà hoàn chỉnh, không có nóc thì không thành nhà, nên lễ cúng cất nóc là vô cùng quan trọng. Để lễ cất nóc diễn ra thành công, thì gia chủ cần chọn được ngày giờ tốt, phù hợp với tuổi, sau đó chuẩn bị các thủ tục cúng cất nóc, đổ mái nhà sao cho thành tâm và đúng nghi thức nhất.

Lễ cất nóc hay còn gọi là lễ Thượng lương, khi làm lễ này, gia chủ cần sắm lễ và chuẩn bị văn khấn đổ mái nhà như sau.

Nam mô a di Đà Phật

Nam mô a di Đà Phật

Nam mô a di Đà Phật

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương

Con kính lạy Hoàng thiên Hậu thổ chư vị Tôn thần

Con kính lạy quan Đương niên

Con kính lạy các tôn thần bản xứ.

Tín chủ (chúng) con là: ………

Ngụ tại: ………

Hôm nay là ngày ….. tháng ……… năm ……

Tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương, dâng lên trước án, có lời thưa rằng: Vì tín chủ con khởi tạo …………….. cất nóc căn nhà ở địa chỉ: …………… ngôi dương cơ trụ trạch để làm nơi cư ngụ cho gia đình, con cháu.

Nay chọn được ngày lành tháng tốt, kính cáo chư vị linh thần, cúi mong soi xét và cho phép được động thổ (cất nóc, chuyển nhà, sửa chữa, mở cổng, xây thêm…)

Tín chủ con thành tâm kính mời:

Ngài Kim Niên Đường cai Thái Tuế chí đức tôn thần,

ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại vương,

ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa,

ngài Định phúc Táo quân,

các ngài Địa chúa Long Mạch tôn thần và tất cả các vị Thần linh cai quản trong khu vực này.

Cúi xin các Ngài, nghe thấu lời mời, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho chúng con được vạn sự tốt lành, công việc hanh thông, chủ – thợ được bình an, ngày tháng hưởng phần lợi lạc, âm phù dương trợ, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

Tín chủ lại xin phổ cáo với các vị Tiền chủ, Hậu chủ và các vị Hương linh, cô hồn y thảo phụ mộc, phảng phất quanh khu vực này, xin mời các vị tới đây thụ hưởng lễ vật, phù trì tín chủ, cũng như chủ thợ đôi bên khiến cho an lành, công việc chóng thành, muôn sự như ý.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật

Nam mô a di Đà Phật

Nam mô a di Đà Phật

Nội dung của bài khấn đổ mái nhà tầng 3, bài khấn đổ mái nhà tầng 2 cũng tương tự như bài cúng đổ mái tầng 1. Gia chủ chỉ cần thay đổi nội dung phần tầng sẽ đổ mái trong bài văn cúng cất nóc nhà là được. Khi thực hiện khoa cúng cất nóng, gia chủ có thể viết thêm sớ đổ mái.

Nếu gia chủ cảm thấy bài cúng lễ đổ trần nhà dài và không thể nhớ ngay lập tức thì có thể viết, hoặc in bài văn khấn lễ cúng cất nóc nhà ra giấy rồi đọc. Trước khi đọc văn khấn lễ đổ mái cất nóc, đổ trần nhà, gia chủ cần tắm gội sạch sẽ, áo quần tề chỉnh, thành tâm kính lễ.

Cũng giống như khi đọc các bài văn khấn khác, khi đọc bài khấn đổ trần cất nóc, bạn không nên đọc to thành tiếng mà chỉ nên đọc lầm rầm vừa đủ cho chính mình nghe. Tốc độ đọc bài văn cúng đổ mái nhà cũng không nên quá nhanh hoặc quá chậm mà nên vừa phải.

Trong trường hợp gia chủ không được tuổi làm lễ cất nóc mà mượn tuổi làm lễ thì việc đọc văn cúng đổ trần nhà, văn khấn gác đòn dông sẽ được chuyển cho người được mượn tuổi thực hiện. Trong trường hợp này, bạn cần lưu ý, phần tên tín chủ trong bài văn khấn cất nóc lễ đổ trần nhà sẽ là tên của người được mượn tuổi.

Trên đây là những thông tin chi tiết về ý nghĩa của lễ cất nóc nhà, cách xem ngày tốt đổ trần nhà theo tuổi, các lễ vật cúng đổ mái nếu như bạn chưa biết lễ cúng cất nóc nhà cần gồm những gì, cùng với nội dung bài cúng đổ trần nhà tầng 1, văn khấn đổ trần tầng 2, tầng 3 đầy đủ nhất.

Hi vọng với bài khấn đổ mái nhà tầng 1, bài cúng lễ cất nóc và những đồ cần sắm lễ đổ mái nhà, thủ tục làm lễ đổ trần trong bài sẽ giúp gia chủ giải đáp được câu hỏi cất nóc nhà có phải cúng không và chuẩn bị thật tốt để nghi lễ cúng đổ mê tầng 1 tiến hành suôn sẻ.

【#4】Văn Khấn Từ Đường

Văn khấn từ đường hay gọi là văn khấn nhà thờ Họ là bài văn khấn được nhiều người quan tâm khi tiến hành thủ tục cúng tại nhà thờ họ. Đây là phương thức giao tiếp giữa con cháu trong nhà đối với tổ tiên đã mất. Bài văn khấn từ đường cụ thể ra sao, cách sắm lễ và ý nghĩa ngày cúng như thế nào?

Ý nghĩa cúng nhà thờ họ là gì?

Theo quan niệm của người Việt, thờ cúng tổ tiên đã có nhiều thay đổi nhưng vẫn giữ nguyên ý nghĩa lớn lao. Thờ cúng tổ tiên dòng họ là nguyên tắc đạo đức làm người. Đây là hình thức thể hiện tấm lòng hiếu thuận, sự biết ơn và cảm tạ của tất cả con cháu còn sống đến các bậc sinh thành.

Vì thế, ngoài ngày giỗ tổ tiên tại gia đình từng nhà, người Việt còn xây dựng từ đường để thờ cúng dòng họ. Khi đó, tộc trưởng là người chịu trách nhiệm lo toan giỗ họ và thụ hưởng hương quả của tổ tiên. Trong ngày giỗ họ, toàn bộ con cháu đều góp giỗ. Sẽ có gia phả để ghi chép các tấm lòng hảo tâm và lịch sử cội nguồn của dòng họ mình. Ngoài ra, với tấm lòng hảo tâm từ con cháu đóng góp một phần xây dựng nhà thờ họ, từ đường dòng họ được khang trang và sắm sửa đồ thờ cúng được tốt nhất đó.

Sắm lễ cúng nhà thờ họ?

Các lễ vật cúng từ đường nhà thờ họ cũng đơn giản vào ngày giỗ gần giống với những ngày giỗ giỗ ông bà hay giỗ thường niên. Chỉ có quy mô sẽ lớn hơn rất nhiều do sự có mặt của hầu hết người trong dòng họ. Những đồ lễ bạn cần chuẩn bị như:

Hoa cúc tươi

Mâm ngũ quả

Hương thơm

Cau tươi, trầu xanh

Nước lọc, Rượu trắng

Bánh kẹo, phẩm oản

Nước ngọt

Ngoài đồ lễ chay ra, bạn chuẩn bị mâm cỗ mặn gồm các món ăn truyền thống như: gà luộc, xôi chè, thịt lợn, giò lụa, nem rán, món canh,… để cúng tổ tiên và tiếp đãi gia đình.

Văn khấn từ đường – Nhà thờ Họ?

Nam mô Nhật Nguyệt Quang Minh Phật

Nam mô Địa Vương Mẫu Phật

Nam mô Ta bà Giáo chủ Bổn sư Thích ca Mâu Ni Phật

Nam mô Mười phương chư Phật, Chư Phật mười phương.

Nam mô Chư vị Bồ Tát

Kính lạy: Hội đồng Thánh Mẫu

Kính lạy: Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Kính lạy: Chư Tiên, Chư Thánh, Chư Thần

Kính lạy: Thổ Thần, Thần Linh, Thổ Địa, Táo Phủ Thần Quân, Ngũ phương Địa mạch,Tiếp dẫn Tài Thần, Tiếp dẫn Lộc Thần, Tiền Hậu địa chủ, Chúa Bà bản cảnh, các tiểu Thần trong khu vực.

Kính lạy: Cửu huyền Thất Tổ, Thất Tổ Cửu Huyền.

Cao Cao tằng Tổ khảo, Cao Cao tằng Tổ tỷ, Cao tằng Tổ khảo, Cao tằng Tổ tỷ, Hiền khảo, Hiền tỷ, Bá, Thúc, Đệ, Huynh, Cô, Dì, Tỷ, Muội.

Cộng đồng nội – ngoại Gia tiên dòng họ …

Kính lạy: Chầu Tổ Cô, Hoàng Tổ Mãnh, Bà Cô, Ông Mãnh dòng họ …

Hôm nay là Ngày… Tháng… Năm…….Con tên là:………………………………

Đang cư ngụ tại địa chỉ:…………….

Đại diện cho con cháu dòng họ …

Xin kính dâng lễ vật, cầu xin bề trên chấp lễ chấp bái.

Chúng con cầu xin các vị Gia tiên Tiền Tổ dòng họ… độ trì dạy bảo dẫn dắt cho tất cả con cháu trong dòng họ để mọi gia đình trong dòng họ …: Già được mạnh khỏe, trẻ được bình an. Con cháu hiếu thảo với Ông Bà Cha Mẹ.

Chúng con cầu xin, gia tiên tiền tổ độ trì để toàn thể con cháu trong dòng họ …: Cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, cầu sức khỏe được sức khỏe, cầu tiến tới được tiến tới, cầu con được con, cầu cháu được cháu. Để cho toàn bộ dòng họ … chúng ta ngày càng đông đúc, phú quý, giàu sang, nhà cửa khang trang, hiển vinh mãi mãi.

Chúng con xin hứa: Luôn luôn ghi lòng tạc dạ công ơn sinh thành dưỡng dục của Tổ tiên. Giữ vững được truyền thống nội ngoại thương yêu, đoàn kết, sống có tôn ti trật tự trên kính dưới nhường. Phát huy được truyền thống vẻ vang, cần cù lao động, siêng năng học tập của cha ông tiên tổ.

【#5】Bài Văn Khấn Cúng Cô Hồn Tháng 7 Âm Lịch Chuẩn Nhất

Kính lễ mười phương Tam Bảo chứng minh!

Hôm nay, ngày …. tháng ….. năm …….

Gia đình con ………………………… Ngụ tại: ………………………………………………

Phát lòng thành tịnh, thiết lập đạo tràng, bày tiệc cam lồ, Kỳ an gia trạch, Kỳ an bổn mạng. Nhờ ơn tế độ, thêm sự phước duyên, nguyện xin gia đình yên ổn, thuận lợi bán buôn, dòng họ quy hướng đạo mầu, con cháu học hành tinh tiến, nguyện cầu thế giới hòa bình, nhơn sanh phước lạc.

Kính thỉnh:Cô hồn xuất tại côn lôn

Ở tam kì nghiệp, cô hồn vô số

Những là mãn giả hằng hà

Đàn ông, đàn bà, già trẻ lớn nhỏ

Ôi! Âm linh ơi, cô hồn hỡi

Sống đã chịu một đời phiền não

Chết lại nhờ hớp cháo lá đa

Thương thay cũng phận người ta

Kiếp sinh ra thế, biết là tại đâu

Đàn cúng thí vâng lời phật dạy

Của có chi, bát nước nén nhang

Cũng là manh áo thoi vàng

Giúp cho làm của ăn đàng thăng thiên

Ai đến đây dưới trên ngồi lại

Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu

Phép thiêng biến ít thành nhiều

Trên nhờ tôn giả chia đều chúng sanh

Phật hữu tình từ bi tế độ

Chớ ngại rằng có có không không

Nam mô Phật, Nam mô Pháp,Nam mô Tăng

Độ cho nhứt thiết siêu thăng thượng đài.Chân ngôn biến thực:

NAM MÔ TÁT PHẠ ĐÁT THA, NGA ĐÀ PHẠ LÔ CHỈ ĐẾ, ÁN TÁM BẠT RA, TÁM BẠT RA HỒNG (7 lần)

Chân ngôn cúng dường:

ÁN NGA NGA NẴNG TAM BÀ PHẠT PHIỆT NHỰT RA HỒNG (7 lần).

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Với người Việt chúng ta,cúng cô hồn là nghi lễ truyền thống, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Quan niệm người Việt, con người luôn có hai phần là linh hồn và thể xác. Khi con người chết đi, phần linh hồn vẫn tồn tại, có người được đầu thai kiếp khác, có người thì bị đầy xuống địa ngục, làm quỷ đói quấy nhiễu dương gian.

Cứ mỗi năm, người Việt hay làm lễ cúng cô hồn, thường xuyên nhất là vào mùng 2 & 16 âm lịch và Rằm là mùng 1 & 15 âm lịch. Được biết là Ở Trung Quốc, việc cúng cô hồn được thực hiện vào ngày 14 – 07 âm lịch, riêng ở Việt Nam thì thời gian thường kéo dài cả một tháng

Theo Phật giáo, cúng rằm tháng bảy hay còn gọi ngày Vu Lan báo hiếu. Ngày cúng rằm tháng 7, chúng ta nên đến chùa, hoặc cúng tại gia gồm các lễ như: Cúng thí cô hồn, cúng phóng sanh, cúng Phật, cúng gia tiên và thần linh.

Tháng 7 không chỉ dành để “báo hiếu” mà còn là khoảng thời gian tất cả mọi người nên thành tâm giúp đỡ các linh hồn đói khát.

Có 2 mâm lễ cúng cô hồn để xóa tội vong nhân:

Mâm lễ cúng cô hồn 1 bao gồm:

Quan trọng hơn cả là khi cúng cô hồn chúng ta phải nên đọc Thần chú đúng và đủ để thể hiện tấm lòng của mình mong cho chính sinh được no đủ.

Theo truyền thống tín ngưỡng thờ phụng tổ tiên của người dân Việt Nam, tháng 7 có ngày “xá tội vong nhân” nên nhiều người thường chuẩn bị mâm cơm cúng trước nhà để cúng các vong linh chơ vơ không gia đình. Theo dân gian hay còn gọi là cúng cô hồn, cúng thí thực (tặng thức ăn).

Ngoài mâm cơm cúng tổ tiên để tỏ lòng thành kính, báo hiếu, nhớ đến tổ tiên, các người họ hàng đã mất thì mâm cúng chúng sinh cũng rất quan trọng, buộc phải cúng đúng để không gặp xui xẻo trong tháng 7 cũng như tích đức, tích phước cho con cháu, xóa tội cho vong linh của gia đình dưới suối vàng.

Theo Đại đức Thích tâm Kiên, Trụ trì chùa Một Cột (Hà Nội) cho hay, tín ngưỡng dân gian Việt Nam coi tháng 7 là tháng cô hồn (hay còn gọi là tháng ma quỷ).

Từ mùng 2/7 – 12/7 âm lịch, Diêm Vương ra lệnh khởi đầu mở Quỷ Môn Quan “thả cửa” cho ma quỷ và chấm dứt sau 12 giờ đêm của rằm tháng 7 cần quay lại địa ngục. Các cô hồn được xoá tội, thoát về dương thế, vất vưởng khắp nhân gian. Vì những cô hồn thường sợ ánh sáng, không dám đến đón nhận các thiết bị phẩm cúng bố thí nên mọi người cần chọn cúng vào buổi chiều tối hoặc tối hẳn, cô hồn dễ nhận được đồ mà các gia chủ cúng.

– Đặt lễ cúng trước cửa nhà (hay nơi đang buôn bán).- Sau khi cúng xong, những lễ vật cúng cô hồn không đem vào nhà. Đồ vàng mã đốt ngay tại chỗ, còn đĩa muối, gạo rải ra tám hướng. Sau đótiến hành đốt vàng mã.

– Theo những chuyên gia, đối với mâm cúng phật thì chỉ chuẩn bị đồ chay, còn đối với mâm cúng ông bà, tổ tiên hay cúng cô hồn tháng 7 thì có thể cúng các đồ mặn.

– Khi rải tiền vàng ra mâm cúng cần để 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, mỗi hướng từ 3-5-7 cây hương.

– Khi việc cúng xong xuôi, thường có tục giật cô hồn (cướp đồ cúng).

– Trước khi dọn đồ ra cúng, trường hợp gia chủ chưa kịp thắp nhang khấn vái mà có người tranh nhau giật đồ cúng từ trên tay thì ngay lập tức cần buông thả đồ cúng ra khỏi tay. Bởi theo dân gian, thí dụ giật lại, hậu quả nhận được là điều xui xẻo.

【#6】Bài Cúng Lễ Tạ Mộ Và Lễ Tạ Đất ( Thần Linh Thổ Địa)

 Bài Cúng Lễ Tạ Mộ Và Lễ Tạ Đất

Việc lễ tạ mộ phần và lễ tạ thần linh Thổ địa nơi ở là vấn đề mà ai cũng quan tâm, bởi vì phần âm có yên thì người dương mới ổn và có an cư thì mới lạc nghiệp.

Thường thì phải mời thầy giúp cho vấn đề này mới là đúng phép, vì họ hiểu biết về tâm linh, có chuyên môn và có pháp. Tuy nhiên trong những trường hợp mà mộ phần đã được yên ổn, gia đình có đi gọi hồn được biết là phần mộ có sự phù trợ thường xuyên cho gia đình, giúp cho trong cuộc sống gặp được nhiều may mắn, thì cần phải làm lễ tạ phần mộ để bày tỏ lòng biết ơn đối với vong linh và đương nhiên sự tác động hai chiều luôn mang đến những kết quả tốt đẹp. Đối với gia trạch thì do có duyên lành mà gia đình gặp được vị thầy có tâm đức lập cho lô nhang thờ cúng được đúng, đủ. Gia chủ lại có tâm có tín, khấn lễ chu đáo theo lệ, nhờ vậy thần linh Thổ địa ban ân, giúp cho phong thủy yên lành, toàn gia mạnh khỏe, không khí gia đình đầm ấm, vui tươi. Không có yêu ma xâm hại quấy nhiễu, điềm lành mang đến, điềm dữ mang đi, kinh doanh đắt hàng đông khách, giao dịch có tín có uy….Và để bày tỏ tấm lòng biết ơn đối với gia thần, gia đình cũng thành tâm sửa biện lễ vật để dâng tạ thần linh Thổ địa. Thường thì đầu năm cúng, cuối năm tạ. Tức là vào đầu năm sắm sửa lễ để cúng tạ mộ phần, tạ thần linh Thổ địa nơi gia đình sinh sống. Cuối năm lại làm như vậy nữa. Sau đây là hướng dẫn cách cúng lễ đơn giản, thông thường áp dụng đối với những gia đình vốn đã có sự yên ổn về nơi ở, về mộ phần. Do đó có thể tự sắm sửa lễ vật và cúng lễ mà không lo sai phạm. Những trường hợp gia chung bị động chạm long mạch, đất ở có yêu tà, lô nhang lập chưa đúng, ….Những trường hợp mồ mả bị động do nhiều lý do, vong linh không được yên….thì nhất định phải mời thầy pháp đến giúp cho mọi việc từ gia chung yên ổn đến mồ yên mả đẹp, rồi mới được làm theo hướng dẫn này.

Sắm lễ: Sau đây hướng dẫn cách làm ở tại phần mộ : Hương thơm Hoa tươi ( hoa hồng đỏ) 10 bông Trầu 3 lá, Cau 3 quả cành dài đẹp Trái cây 1 mâm to Xôi trắng 1 mâm bên trên bày Gà luộc nguyên con ( Nhớ là gà giò hoặc là trống thiến) Rượu trắng 0,5 lít + Chén đựng rượu 5 cái 10 lon bia + 2 bao thuốc lá + 2 gói chè ( 1 lạng/gói) 2 nến cốc màu đỏ dùng để thắp khi làm lễ

Phần mã thì có : 1 cây vàng hoa đỏ ( 1000 vàng) 5 con ngựa 5 màu ( đỏ, xanh, trắng, vàng, chàm tím) cùng với 5 bộ mũ, áo, hia ( loại to) cùng với đồ kèm theo ngựa là cờ lệnh, kiếm, roi. Mỗi ngựa trên lưng có 10 lễ vàng tiền ( một lễ gồm có tiền xu, vàng lá, tiền âm phủ các loại..) Có 4 đĩa để tiền vàng riêng như sau : 1 đĩa để 3 đinh vàng lá, 1 đinh xu tiền 1 đĩa có 1 đinh vàng lá, 7 đinh xu tiền 1 đĩa có 9 đinh vàng lá, 1 đinh xu tiền 1 đĩa có 1 đinh xu tiền Đối với vong linh tùy theo là nam, phụ, lão, ấu, mà có áo quần tương ứng dâng tiến, tùy theo mùa xuân , đông cho phù hợp. Ngoài ra có tiền âm phủ các loại kèm theo, tiền xu, vàng lá….mỗi thứ ít nhiều.

Chú ý : nếu phần mộ nhỏ thì phải có thêm mâm, thêm bàn để bày lễ lên sao cho phù hợp. Đối với nghĩa trang có nơi thờ thần linh Thổ địa riêng thì phải bày lễ hai nơi. Trong đó lưu ý phần mã (chữ bôi đen) là trình bày ở nơi thờ thần linh Thổ địa. Có nơi dâng cây đại thiếc ( thay vàng hoa đỏ) Ngoài ra tùy theo phong tục tập quán ở mỗi nơi mà có sự gia giảm điều chỉnh thích ứng.

NAM-MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT!

– Quan đương xứ thổ địa chính thần

– Thổ địa Ngũ phương Long mạch Tôn thần,

– Tiền thần Chu Tước, Hậu thần Huyền Vũ, Tả thần Thanh Long, Hữu thần Bạch Hổ – Liệt vị Tôn thần cai quản ở xứ này.

Con kính lạy vong linh ……….

Hôm nay là ngày…tháng…năm…, nhằm tiết …..

Chúng con là:…………… Thành tâm sắm sanh phẩm vật, hương hoa phù tửu lễ nghi, trình cáo Chư vị Tôn Thần về việc lễ tạ mộ phần.

Nguyên có vong linh thân nhân của gia đình chúng con là:……….hiện phần mộ an táng ở noi này.

Đội ơn Chư vị Tôn thần che chở, ban ân, vong linh được yên ổn vui tươi nơi chín suối. Lại nhờ có duyên lành, gia đình chúng con được vong linh thường về ghé thăm, linh ứng giúp chỉ dẫn các công các việc được đầu xuôi đuôi lọt, nhờ thế toàn gia được an ninh khang thái, từng bước tiến bộ.

Nay nhằm ngày lành tháng tốt, gia đình chúng con sắm sửa lễ tạ mộ những mong báo đáp ân thâm, tỏ lòng hiếu kính. Cúi xin Chư vị Tôn Thần lai giáng án tiền, nhận hưởng lễ vật, chứng minh tâm đức. Cúi mong vong linh chấp kỳ lễ bạc, lời kêu tiếng khấn, tờ đơn cánh sớ, tùy phương ứng biến, độ trì toàn gia, từ trẻ tới già, luôn được vui tươi, mạnh khỏe. Chúng con dâng biếu vong linh tài mã gồm : ….( đọc tên các đồ mã dâng cho vong) Âm dương cách trở, bát nước nén hương, giãi tấm lòng thành, cúi xin chứng giám. Cẩn cáo.

Cách sắm lễ và văn khấn tạ thần linh Thổ địa bản gia nơi gia đình sinh sống.( hay còn gọi là lễ tạ đất)

Sau đây trình bày nghi thức đối với gia đình có một ban thờ gồm 3 lư hương thờ : Quan Đương Xứ Thổ Địa Chính Thần, Hội đồng gia tiên và Bà Cô Tổ dòng họ. Hương thơm Hoa tươi ( hoa hồng đỏ) 10 bông chia ra hai lọ hai bên Trầu 3 lá, Cau 3 quả cành dài đẹp Trái cây 2 đĩa bày ở hai bên Xôi trắng 2 đĩa to cũng bày hai bên Gà luộc nguyên con bày vào 1 đĩa ( Nhớ là gà giò hoặc là trống thiến). Hoặc là một cái chân giò lợn ( chân trước) luộc, chân trái hay phải đều được. Rượu trắng 0,5 lít + Chén đựng rượu 3 cái 10 lon bia + 6 lon nước ngọt bày ở hai bên ban thờ 1 bao thuốc lá + 1 gói chè ( 1 lạng/gói) Một số bánh kẹo bày vào một đĩa to. Vì ở gia đình thường có đèn thờ nên không cần phải dùng nến cốc, nếu không có đèn thờ thì phải dùng đôi nến khi thắp hương làm lễ.

Phần mã thì có : 6 con ngựa, trong đó : 5 con ngựa 5 màu ( đỏ, xanh, trắng, vàng, chàm tím) cùng với 5 bộ mũ, áo, hia ( loại nhỏ) kèm theo ngựa là cờ lệnh, kiếm, roi. Mỗi ngựa trên lưng đặt 10 lễ tiền vàng. 1 con ngựa đỏ to hơn 5 con ngựa trên, cũng kèm theo mũ, áo, hia nhưng to hơn và cờ, roi, kiếm. 1 cây vàng hoa đỏ ( 1000 vàng ) 1 đĩa đựng 50 lễ vàng tiền ( dâng gia tiên)

NAM-MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT!

– Quan đương xứ thổ địa chính thần

– Thổ địa Ngũ phương Long mạch Tôn thần,

Hôm nay là ngày…tháng…năm…, nhằm tiết …..

Chúng con là:……………

Thành tâm sắm sanh phẩm vật, hương hoa phù tửu lễ nghi, trình cáo Chư vị Tôn Thần về việc lễ tạ thần linh Thổ Địa.

Gia đình chúng con nhờ có duyên lành mà đến an cư lạc nghiệp nơi này.

Đội ơn thần linh Thổ địa che chở, ban ân, đất này được phong thủy yên lành, khí sung, mạch vượng, bốn mùa không hạn ách tai bay, tám tiết có điềm lành tiếp ứng. Trong ngoài ấm êm, toàn gia mạnh khỏe. Nay nhằm ngày lành tháng tốt, gia đình chúng con sắm sửa lễ tạ mong báo đáp ân thâm, tỏ lòng tôn kính. Cúi xin Chư vị Tôn Thần lai giáng án tiền, nhận hưởng lễ vật, chứng minh tâm đức. Cung kính nghĩ rằng thần linh Thổ địa sẽ tùy duyên ứng biến phù hộ cho gia đình chúng con được an cư, đạt được những điều mong ước, cho nhà cao cửa rộng, cho tăng tài tiến lộc, cho nhân vật hưng long. Âm dữ dương đồng, dốc lòng cầu khấn, cúi xin soi tận, ý khẩn tâm thành. Kính thỉnh Bản gia tiên tổ liệt vị chân linh đồng lai hâm hưởng.

【#7】Bài Văn Khấn Cúng Cô Hồn Tháng 7 Cách Cúng Cô Hồn Chuẩn Nhất

Văn khấn cô hồn là gì, cần chuẩn bị những gì trong lễ cúng cô hồn, những lưu ý và hướng dẫn cúng cô hồn đúng cách. Cúng cô hồn, cúng chúng sinh là sự chia sẻ đau khổ cho các cô hồn chúng sanh thiếu phước, không siêu thoát. Dân gian tin rằng cúng cô hồn vào tháng 7 âm lịch là một hình thức “cứu giúp” các hồn lang thang, đói khổ. Dưới đây là bài văn khấn và cách sắm lễ vật cúng chúng sinh trong tháng cô hồn – tháng 7 Âm lịch. Mời các bạn cùng tham khảo.

Tháng cô hồn là gì?

Tháng 7 âm lịch hàng năm còn được gọi là “tháng cô hồn” hoặc “mở cửa mả”. Dân gian quan niệm đây là tháng của ma quỷ, đặc biệt là ngày Rằm tháng Bảy là ngày “xá tội vong nhân” – ngày Diêm Vương mở cửa Quỷ Môn Quan để ma quỷ được tự do trở về dương thế, đó cũng chính là ngày “âm khí xung thiên”.

Nguồn gốc của tháng cô hồn bắt nguồn từ việc Diêm Vương cho mở cửa Quỷ môn quan vào ngày 2/7 hàng năm để quỷ đói được trở lại trần gian rồi đến rằm lại quay về.

Chính vì thế mà theo tục lệ dân gian, người trần gian phải cúng cháo, gạo, muối cho quỷ đói để chúng không quấy nhiễu cuộc sống thường ngày. Có những nơi, người ta gọi quỷ đói là “anh em tốt”, “thần cửa sau” để lấy lòng những linh hồn quỷ đói này.

Có thể cúng từ ngày mùng 1 đến 15 tháng 7 (âm lịch).

Ở Việt Nam, cúng cô hồn là một tín ngưỡng tâm linh truyền thống của người Việt, được truyền từ đời này sang đời khác. Người Việt cho rằng, con người bao gồm hai phần là hồn và xác. Khi con người mất đi nhưng phần hồn vẫn tồn tại, có người thì được đầu thai kiếp khác hay có người thì bị đầy xuống địa ngục, làm quỷ đói quấy nhiễu dương gian.

Hàng năm, người Việt cúng cô hồn kéo dài một tháng, tùy thuộc vào từng gia đình, từng vùng miền khác nhau chứ không ấn định riêng một ngày nào. Người dân cũng quan niệm rằng, tháng cô hồn là tháng ma quỷ, không đem lại may mắn nên hầu hết các công việc cưới hỏi, khởi công xây dựng, mua sắm, đi xa,… đều tránh tháng 7.

Văn khấn cúng cô hồn

Bài văn khấn 1 KÍNH LỄ MƯỜI PHƯƠNG TAM BẢO CHỨNG MINH Hôm nay ngày………….Chúng con tên………….. Ở tại số nhà………………………………………… Phát lòng thành tịnh, thiết lập đạo tràng,bày tiệc cam lồ, Kỳ an gia trạch, Kỳ an bổn mạng. Nhờ ơn tế độ, thêm sự phước duyên, nguyện xin gia đình yên ổn, thuận lợi bán buôn, dòng họ quy hướng đạo mầu, con cháu học hành tinh tiến, nguyện cầu thế giới hòa bình, nhơn sanh phước lạc. Cô hồn xuất tại côn lôn Ở tam kì nghiệp, cô hồn vô số Những là mãn giả hằng hà Đàn ông, đàn bà, già trẻ lớn nhỏ Ôi! Âm linh ơi, cô hồn hỡi Sống đã chịu một đời phiền não Chết lại nhờ hớp cháo lá đa Thương thay cũng phận người ta Kiếp sinh ra thế, biết là tại đâu Đàn cúng thí vâng lời phật dạy Của có chi, bát nước nén nhang Cũng là manh áo thoi vàng Giúp cho làm của ăn đàng thăng thiên Ai đến đây dưới trên ngồi lại Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu Phép thiêng biến ít thành nhiều Trên nhờ tôn giả chia đều chúng sanh Phật hữu tình từ bi tế độ Chớ ngại rằng có có không không Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng Độ cho nhứt thiết siêu thăng thượng đài. Chân ngôn biến thực: Nam mô tát phạt đát tha nga đa, phà lồ chí đế án tam bạt ra, tam bạt ra hồng (3 lần) Chân ngôn cúng dường: Án nga nga nẵng tam bà phạt phiệt nhựt ra hồng (3 lần). Bài văn khấn 2 KÍNH LỄ MƯỜI PHƯƠNG TAM BẢO CHỨNG MINH Hôm nay ngày……tháng……năm………………(Âm lịch). Con tên là:…………………..tuổi……………….Ngụ tại số nhà …, đường…, phường (xã)… , quận (huyện ) ……………, tỉnh (Tp):………………… Trân trọng kính mời các chư vị khuất mặt, khuất mày, kẻ lớn, người nhỏ, thập loại cô hồn, các Đảng, âm binh ngoài đường, ngoài xá, hửu danh vô vị, hửu vị vô danh, các chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn…về nơi đây hưởng lộc thực đầy đủ… Phát lòng thành tịnh, thiết lập đạo tràng, bày tiệc cam lồ, Kỳ an gia trạch, Kỳ an bổn mạng. Nhờ ơn tế độ, thêm sự phước duyên, nguyện xin gia đình yên ổn, thuận lợi bán buôn, phù hộ được buôn may bán đắt, mọi sự được sở cầu như ý, dòng họ quy hướng đạo mầu, con cháu học hành tinh tiến, nguyện cầu thế giới hòa bình, nhơn sanh phước lạc. Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng. Độ cho nhứt thiết siêu thăng thượng đài. – Chân ngôn biến thực : (biến thức ăn cho nhiều) NAM MÔ TÁT PHẠ ĐÁT THA, NGA ĐÀ PHẠ LÔ CHỈ ĐẾ, ÁN TÁM BẠT RA, TÁM BẠT RA HỒNG (7 lần) Chân ngôn Cam lồ thủy: (biến nước uống cho nhiều) NAM MÔ TÔ RÔ BÀ DA, ĐÁT THA NGA ĐA DA, ĐÁT ĐIỆT THA. ÁN TÔ RÔ, TÔ RÔ, BÁT RA TÔ RÔ, BÁT RA TÔ RÔ, TA BÀ HA (7 lần) Chân ngôn cúng dường: ÁN NGA NGA NẴNG TAM BÀ PHẠT PHIỆT NHỰT RA HỒNG (7 lần). Sau khi cúng xong, các vật phẩm cúng cô hồn không đem vào nhà. Đồ mã đốt ngay tại chỗ. Đĩa muối gạo rải ra tám hướng. Bài viết chỉ có tính chất tham khảo cho những ai quan tâm!

Lễ vật cúng cô hồn đúng và đầy đủ nhất

Sắm lễ:

– Tiền vàng từ 15 lễ trở lên, quần áo chúng sinh từ 20 đến 50 bộ.

– Tiền chúng sinh (tiền trinh), hoa, quả 5 loại 5 mầu (ngũ sắc).

– Bỏng ngô, khoai lang luộc, ngô luộc, sắn luộc.

– Kẹo bánh, Tiền mặt (tiền thật, các loại mệnh giá).

– Nếu cúng thêm cháo thì thêm mâm gạo muối (5 bát, 5 đôi đũa hoặc thìa)

– 12 cục đường thẻ .

– Mía (để nguyên vỏ và chặt tùng khúc nhỏ độ 15 cm)

– Nước: 3 chun (hay 3 ly nhỏ ), 3 cây nhang, 2 ngọn nến nhỏ.

Chú ý: Không cúng xôi, gà. Khi rải tiền vàng ra mâm, để 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, mỗi hướng từ 3-5-7 cây hương. Bày lễ và cúng ngoài trời.

Thời gian: Có thể cúng từ ngày mùng 1 đến 15 tháng 7 (âm lịch).

Cách mời vong đi sau khi cúng cô hồn

Nhiều gia đình mời cô hồn về nhà cúng chúng sinh, nhưng khi xong nghi lễ không biết mời đi, nên cô hồn vẫn luẩn quẩn trong nhà quấy quả gia chủ. Vì vậy, sau khi nghi lễ cúng xong, các gia đình nhất định phải làm những việc như sau:

+ Vãi gạo, muối ra sân, ra đường và đốt vàng mã.

+ Tục giật cô hồn: tức người sống giành giật những mâm cúng, rồi người ta thường đốt vàng mã cho cô hồn, cho tiền người sống bằng cách thảy tiền cùng với bánh kẹo. Họ tin nếu người sống mà giành giật càng đông, tức họ đã mua chuộc được các cô hồn các đảng không đến quấy phá gia đình mình.

【#8】Văn Khấn Trong Lễ Tang

Trong phần này, chúng tôi xin giới thiệu văn khấn ở những nghi lễ quan trọng từ khi người mất tới khi được 100 ngày.

Phần văn khấn từ giỗ đầu (tròn một năm sau ngày mất) chúng tôi chuyển sang phần văn khấn khi cúng giỗ.

1) Văn khấn lễ Thiết Linh:

Lễ Thiết Linh là lễ sau khi lập xong bàn thờ tang, đặt linh vị

2) Văn khấn lễ Thành Phục:

Lễ Thành Phục là lễ sau khi gia đình thân nhân mặc đồ tang, tề tựu quanh linh cữu.

3) Văn khấn lễ Chúc Thực:

Lễ Chúc Thực là lễ dâng cơm khi còn để linh cữu ở nhà.

4) Văn khấn Lễ cáo Long Thần Thổ Địa:

Là lễ cúng Long Thần Thổ Địa trước khi đào huyệt.

5) Văn khấn lễ Thành Phần:

Lễ Thành Phần là lễ khi đắp xong mộ.

6) Lễ Hồi Linh:

Lễ Hồi Linh là lễ rước ảnh hoặc linh vị từ mộ về.

7) Vản khấn lễ Chầu Tổ (Triều Tổ lễ cáo):

Sau khi làm lễ Hồi Linh ở bàn thờ tang xong thì làm lễ cáo yết với Tổ Tiên ở bàn thờ chính, nếu là gia đình nhà con thứ thì yết cáo tại nhà thờ của chi họ, nơi thờ ông bà nội, hoặc cụ nội.

Lễ Tế Ngu là lễ ba ngày sau khi mất hoặc ba ngày sau khi chôn cất xong.

Theo tục xưa:

Ngày đầu là Sơ Ngu

Ngày thứ hai là Tái Ngu.

Ngày thứ ba là Tam Ngu.

8) Lễ Chung Thất và Tốt Khốc:

Lễ Chung Thất là lễ 49 ngày. Lễ Tốt Khốc là lễ 100 ngày.

9) Lễ Triệu tịch Điện văn:

Lễ Triệu tịch Điện văn là lễ cúng cơm trong 100 ngày.

10) Lễ Tiểu Tường, Đại Tường (Giỗ Đầu, Giỗ thứ Hai):

Giỗ Đầu và Giỗ thứ Hai là hai lễ giỗ rất quan trọng.

11) Văn khấn lễ Đàm Tế (Tức là lễ hết tang Trừ phục):

Sau 2 năm và 3 tháng dư ai, chọn một ngày tốt làm lễ: Đắp sửa mộ dài thành mộ tròn, cất khăn tang, huỷ đốt các thứ thuộc phần lễ tang, rước linh vị vào bàn thờ chính, bỏ bàn thờ tang.

12) Văn khấn lễ rước linh vị vào chính điện và yết cáo Tiên Tổ:

Cách tiến hành nghi lễ: chép sẵn linh vị mới phủ giấy (hoặc vải) đỏ, khi Đàm Tế ở bàn thờ tang xong, thì đốt linh vị cũ cùng với bảng đen phủ quanh khung ảnh và văn tế. Sau đó rước linh vị, bát hương và chân dung (nếu có) đưa lên bàn thờ chính, đặt ở hàng dưới. Trường hợp nhà không có bàn thờ chính thờ gia tiên bậc cao hơn thì không phải làm lễ này mà yết cáo gia thần và yết cáo Tổ ở nhà thờ tổ.

13) Lễ Cải Cát:

Lễ Cải Cát là lễ sang Tiểu, sửa mộ, dời mộ.

Văn khấn lễ Thiết Linh

Nam mô A Đi Đà phật

Nam mô A Đi Đà phật

Nam mô A Đi Đà Phật

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ

– Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ Kháo, Cao Tằng Tổ Tỷ họ………….

Hôm nay là ngày…… tháng…… năm …………………… Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là……… ……………. vâng theo lệnh mẫu thân (nếu là cha) và các chú bác, cùng với anh rể, chị gái và các em trai gái dâu rể con cháu nội ngoại kính lạy.

Nay nhân ngày lễ thiết Linh thích nghi lễ cổ truyền

Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.

Trước linh vị của: Hiển……………. chân linh.

Xin kính cấn trình thưa rằng:

Than ôi! Gió thổi nhà Thung

(nếu khóc cha hoặc Huyên nếu khóc mẹ)

Mây che núi Hỗ

(nếu khóc cha hoặc núi Dĩ nếu khóc mẹ.)

Dung mạo một mai vắng vẻ, bão xô cây,

nghĩ lại ngậm ngùi thay

Âm dương đôi ngả xa vời, mây phủ núi,

trông càng đau đớn nhẽ!

Sương bay chớp nhoáng, bạch vân nghi ngút,

cõi phù sinh;

Nến đỏ hương thơm, án toạ hắt hiu đồ sự tử.

Vài tuần nghi tiết, mong anh hồn thấu khúc tình văn;

Tấc dạ bi hoài, trông linh vị, tuôn dòng ai lệ!

Ôi! Thương ôi!!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Văn khấn lễ Thành Phục

Nam mô A Đi Đà Phật

Nam mô A Đi Đà Phật

Nam mô A Đi Đà Phật

– Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương

– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân

– Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ.

Hôm nay là ngày……. tháng…….. năm …………………

Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là. ……………………

vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ thân)và các chú bác, cùng với anh rể, chị gái và các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

Nay nhân ngày Lễ Thành Phục theo nghi lễ cổ truyền,

Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.

Trước linh vị của: Hiển………………….. chân linh

Xin kính cẩn trình thưa rằng:

Than ôi! Núi Hỗ (nếu khóc cha hoặc núi Dĩ nếu khóc mẹ) mây che

Chồi Thung (nếu khóc cha hoặc Huyên nếu khóc mẹ) gió bẻ.

Cõi trăm năm, trời khéo hẹp hòi thay;

Cơ một phút, đời sao mau mắn nhẽ !

Sân Lai tử, những mong ngày tháng rộng,

Bõ công ơn áo nặng cơm dàyl

Đồ Thôi y, đâu đã lạ lùng thay, càng cám cảnh

đầu tang tóc chế..

Ôi! Thương ôi!

Trời đất làm chi cực thế! Chạnh nhớ cha (hoặc mẹ) điều ăn nết ở, tấm lòng sầu chín khúc, rồi năm canh.

Ai xui nên nỗi này! Nỡ để con, rày nhớ mai mong, nước mắt chảy hai hàng, đầy một mẻ.

Nay vừa chế phục sẵn rồi; bày đặt tang nghi theo lệ

Gậy khăn tuân cứ lối thường;

Thành phục kính dâng tiền tế

Thương ôi!

Nam mô a di đà phật!

Nam mô a di đà phật!

Nam mô a di đà phật!

Văn khấn lễ Chúc Thực

Nam mô a di đà phật!

Nam mô a di đà phật!

Nam mô ai di đà phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.

– Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân.

– Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ họ………

Hôm nay là ngày…. Tháng…. Năm……

Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là……… vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ thân)và các chú bác, cùng với anh rể, chị gái và các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy

Nay nhân lễ Chúc Thực theo nghi lễ cổ truyền,

Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành,

Trước linh vị của: Hiển… chân linh

Xin kính cẩn trình thưa rằng:

Thiết nghĩ! Nhân sinh tại thế,

Họa mấy người sống tám, chín mươi,

Đôi ba mươi năm cũng kể một đời.

Song vận số biết làm sao tránh được

Nhớ hồn thuở trước: trong buổi xuân xanh

Ơn mẹ cha đạo cả sinh thành, đêm ngày dạy dỗ:

Đường ăn, nỗi ở, việc cửa việc nhà.

Lại lo bề nghi thất, nghi gia

Cho sum họp trúc, mai mấy đóa

Cương thường đạo cả, lòng những lo hiếu thảo đền ơn

Nếp kiệm cần hằng giữ sớm hôm.

May nối được gia đường cơ chỉ,

Ba lo bảy nghĩ, vất vả trăm bề

Cho vẹn toàn đường nọ lối kia,

Tuy khó nhọc chưa cam thỏa dạ;

Bỗng đâu gió cả, phút bẻ cành mai,

Hoa lìa cây, rụng cánh tơi bời.

Yến lìa tổ, kêu xuân vò võ.

Tưởng hồn trường thọ, dìu con em, khuyên nhủ nên người.

Ai ngơ trăng lặn sao dời, hồn đã biến về nơi Tây Trúc

Từ nay lấy ai chăm sóc, ngõ cúc, tường đào.

Từ nay quạnh bóng ra vào, cỗi Nam, cành Bắc.

Ngày chầy sáu khắc, đêm vắng năm canh:

Tưởng phất phơ thoáng hiện ngoài mành.

Tưởng thấp thoáng bóng hình trên khói

Hiên mai bóng rọi, vào ngẩn ra ngơ.

Hết đợi thôi chờ, nắng hồng giá lạnh

Ai hay số mệnh!

Thuốc trường sinh, cầu Vương mẫu chưa trao.

Bút Chú tử, trách Nam Tào sớm định.

Bùi ngùi cám cảnh, tuôn rơi hàng nước mắt dầm dầm

Nhớ nơi ăn, chốn ở, buồng nằm:

Như cắt ruột, xét lòng con trên trần thế.

Mấy dòng kể lể. Chiêu hồn về than thở nguồn cơn.

Cầu anh linh phù hộ cháu con. Cầu Thần Phật độ trì, cho vong hồn siêu thoát…

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Văn khấn Lễ cáo Long Thần Thổ địa

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Bản cảnh Hậu Thổ Thần chư vị.

Tang chủ là: ……………………………………………….

Ngụ tại:…………….

Hôm nay là ngày … tháng…. Năm, gia đình có táng cố phụ (hay cố mẫu) là họ………… húy hiệu…….. tiền tước là….. thọ chung ngày ….ở khu đất này, kính dâng lễ vật……..lễ nghi các thứ

Thiết nghĩ:

Đất có dữ lành

Đều do họa phúc

Kết phát dựa vào âm đức,

Cũng nhờ Thần lực hiển linh

Ấy thực thường tình

Xiết bao cảm cách.

Những mong mồ yên mả đẹp.

Vậy dâng lễ bạc tâm thành.

Nhờ ơn Đại đức

Thấu nỗi u tình

Khiến cho vong linh.

Được yên nơi chín suối.

Phù hộ dương trần con cháu nội, ngoại bình yên.

Chúng con lễ bạc tâm thành cúi xin được phù hộ độ trì

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Văn khấn lễ Thành Phần

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân

Con kính lạy chư gia tiên Cào Tằng Tổ khảo, Cao Tằng Tổ tỷ họ………

Hôm nay là ngày…. Tháng ……. Năm …….. Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là. ……………………

vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ thân)và các chú bác, cùng với anh rể, chị gái và các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

Nay nhân ngày Lễ Thành Phục theo nghi lễ cổ truyền,

Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.

Trước linh vị của: Hiển………………….. chân linh

Xin kính cẩn trình thưa rằng:

Than ôi!

Mây núi Hỗ mịt mờ, mờ mịt

(nếu khóc cha hoặc núi Dĩ nếu khóc mẹ)

Chữ vô thường ngán nhẽ cuộc phù sinh;

Cơn bể dâu thay đổi, đổi thay

Cơ huyền diệu, ghê thay vòng tạo hóa

Ôi! Thương ôi!

Người thế ấy, mà sao phận thế ấy, bỗng đâu số trời xui khiến, cõi âm dương, đôi ngả đã xa vời;

Vận đến đây, hay là mệnh đến đây, thắm đã nấm đất vun vùi, đường từ hiếu, trăm năm không gặp gỡ

Mắt trông thấy, đào sâu lấp kín, tủi nỗi lòng, chín khúc ngổn ngang;

Tai vẳng nghe, trống giục, chiêng hồi, đầy nước mắt hai hàng lã chã

Nay đã phân kim lập hướng, cầy được thỏa yên;

Gọi rằng bát nước nén hương, kính trần bái tạ

Hỡi ơi! Xin hưởng!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

(Nghỉ một lát đọc tiếp hai câu sau)

Xuất chủ kính dâng ba chén rượu, xem như còn sống ở cao đường;

Thành Phần xin đốt một tuần hương, kính rước hồi linh về bảo toạ.

Văng khấn lễ Hồi Sinh.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân

– Con kính lạy chư gia tiên Cào Tằng Tổ kHảo, Cao Tằng Tổ tỷ họ………

Hôm nay là ngày…. Tháng ……. Năm …….. Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là. ……………………

vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ thân) và các chú bác, cùng với anh rể, chị gái và các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

Nay nhân ngày Lễ Hồi linh theo nghi lễ cổ truyền,

Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.

Trước linh vị của: Hiển……….chân linh

Xinh kính cẩn trình thưa rằng:

Than ôi! Xót nghĩ phụ thân (hoặc mẫu thân)

Thân thi táng tất, hồn phách đã yên.

Xa nơi trần giới, về chốn cửu nguyên.

Nay hồi linh,phụng nghênh thần chủ, rước về linh điện

Để con cháu sớm hôm phụng sự

Tới hạn kỳ làm lễ cáo thiên.

Cha (hoặc mẹ) hỡi có thiêng!

Từ nay phách định hồn yên!

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật

Văn khấn lễ Chầu Tổ (Triều Tổ lễ cáo)

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân

– Con kính lạy chư gia tiên Cào Tằng Tổ kHảo, Cao Tằng Tổ tỷ họ………

Hôm nay là ngày…. Tháng ……. Năm ………..

Hậu duệ tôn là…………………………………………………………. Vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ thân nếu là cha) và các chú bác, cùng với anh rể, chị gái và các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại. Kính cáo Tổ Tiên:

Vì có: Hiển Khảo (hoặc Hiển Tỷ)……………………thọ chung ngày …….. nay đã an táng xong, làm lễ hồi linh.

Kính theo kễ nghi phong tục, xin kính dâng lễ vật gồm hương hoa chuối ỏan, trầu cau, đèn nến, xôi gà thịt rượu, gọi là lễ bạc tâm thành. (Nếu sắp lễ có những thứ khác thì khi khấn tùy theo đồ lễ mà kể ra).

Kính cẩn quỳ trước linh vị của: Cao Tằng Tổ Khảo Cao Tằng Tổ Tỷ, liệt vị Tiên linh. Trình thưa rằng:

Vật vốn nhờ trời

Người sinh nhờ Tổ.

Xót nay phụ thân (hoặc mẫu thân)

Theo Tiên theo Tổ

Sơ ngu vừa đặt tế điện

Nghĩ trước nghĩ sau

Vật mọn kính bày lễ số.

Ngửa trông chứng giám lòng thành;

Cúi nguyện phù trì bảo hộ.

Chúng con lễ bạc tâm thành tâm kính bái cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Văn khấn lễ Tế Ngu

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân

– Con kính lạy chư gia tiên Cào Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ tỷ.

Hôm nay là ngày…. Tháng ……. Năm ………..

Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là………vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ mẫu nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

Này nhân ngày lễ Tế Ngu theo nghi lễ cổ truyền,

Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.

Trước linh vị của:Hiển……………..chân linh

Xin kính cẩn trình thưa rằng.

Than ôi! Trên tòa Nam cực, lác đác sao thưa; (nếu khóc cha hoặc đổi là Bắc vụ nếu khóc mẹ).

Trước chốn Giao trì, tờ mờ mây khóa.

Cơ tạo hóa làm chi ngang ngửa thế, bóng khích câu,

khen khéo trêu người.

Chữ cương thường nghĩ lại ngậm ngùi thay,

tình hiếu đễ chưa yên thỏa dạ.

Ơn nuôi nấng áo dày cơm nặng, biển trời khôn xiết

biết công lao;

Nghĩ sớm hôm ấp lạnh quạt nồng, tơ tóc những

hiềm chưa báo quả;

Ngờ đâu! Nhà Thung (nếu là cha hoặc Nhà Huyên nếu là mẹ) khuất núi, trời mây cách trở muôn trùng;

Chồi Tử mờ sương, âm dương xa vời đôi ngả.

Trông xe hạc lờ mờ ẩn bóng, cám cảnh cuộc phù sinh chưa mấy, gót tiên du đã lánh cõi trần ai.

Rồi khúc tằm. áy náy trong lòng, thương thay hồn bất tử về đâu, cửa Phật độ biết nhờ ai hiện hóa.

Suối vàng thăm thẳm, sáng phụ thân (hoặc mẫu thân) một mình lìa khơi,

Giọt ngọc đầm đìa, đàn con cháu, hai hàng lã chã.

Lễ Sơ Ngu (hoặc Tái Ngu, Tam Ngu) theo tục cổ, trình bày:

Nhà đơn bạc, biết lấy gì để dóng dả.

Đành đã biết: đất nghĩa trời kinh, nào chỉ ba tuần nghi tiết,

đủ lễ báo đền

Cũng gọi là: lưng cơm chén nước, họa may chín suối anh linh,

được về yên thỏa

Ôi! Thương ôi!

Chúng con lễ bạc tâm thành, thành tâm kính lễ cúi xin được phù hộ độ trì.

Kính cáo!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Văn khấn Lễ Chung Thất và Tốt Khốc

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

Hôm nay là ngày….tháng….năm….., âm lịch tức ngày…..tháng….năm…………….dương lịch.

Tại (địa chỉ):……………………………………………………

Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là………vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ mẫu nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

Nay nhân ngày lễ Chung Thất (lễ Tốt Khốc) theo nghi lễ cổ truyền, có kính cẩn sắm các thứ lễ vật gồm:…………………………..

Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.

Trước linh vị của Hiển:………………… chân linh

Xin kính cẩn trình thưa rằng:

Núi Hỗ sao mờ, nhà Thung bóng xế. (Nếu là cha)/ Núi Dĩ sao mờ, nhà Huyên bóng xế. (nếu là mẹ)

Tình nghĩa cha sinh mẹ dưỡng, biết là bao;

Công ơn biển rộng, trời cao khôn xiết kể.

Mấy lâu nay: Thở than trầm mộng mơ màng;

Tưởng nhớ âm dương vắng vẻ.

Sống thời lai lai láng láng, hớn hở chừng nào!

Thác thời kể tháng kể ngày, buồn tênh mọi lẽ!

Ngày qua tháng lại, tính đến nay Chung Thất (hoặc Tốt Khốc) tới tuần;

Lễ bạc tâm thành gọi là có nén nhang kính tế.

Xin mời: Hiển………………………………………………

Hiển……………………………………………………………..

Hiển………………………………………………………………

Cùng các bị Tiên linh, Tổ Bá, Tổ Thúc, Tổ Cô và các vong linh phụ thờ theo Tiên Tổ cùng về hâm hưởng.

Kính cáo; Liệt vị Tôn thần: Táo Quân, Thổ Công, Thánh sư, Tiên sư, Ngũ tự Gia thần cùng chứng giám và phù hộ cho tòangia được mọi sự yên lành tốt đẹp.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Văn khấn lễ Triệu lịch Điện Văn

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân

– Con kính lạy chư gia tiên Cào Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ tỷ

Hôm nay là ngày…. Tháng ……. Năm ………..

Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là………vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ mẫu nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

Nay nhân ngày lễ cúng cơm trong trăm ngày theo nghi lễ cổ truyền.

Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.

Trước linh vị của: Hiển………………………………chân linh.

Xin kính cẩn trình thưa rằng:

Than ôi! Thương nhớ phụ thân, bỏ về cõi thọ

(hoặc Thương nhớ mẫu thân, bỏ về cõi thọ)

Gót thừa vân, nghĩ đã xa khơi;

Lòng ái nhật, nghĩ càng tủi hổ.

Lưng cơm bát nước, miếng trân cam, tỏ dạ kính thành;

Sớm rượu trưa trà, đạo thần hôn, giữ lòng ái mộ.

Ngậm ngùi, hồn phách biết về đâu;

Tưởng tượng bóng hình còn mãi đó.

Ôi! Thương ôi!

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật

Văn khấn Lễ Tiểu Tường, Đại Tường (Giỗ đầu, giỗ thứ 2)

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân

– Con kính lạy chư gia tiên Cào Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ tỷ

Hôm nay là ngày…. Tháng ……. Năm ………..

Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là………vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ mẫu nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

Nay nhân ngày Giỗ Đầu (Giỗ thứ Hai) theo nghi lễ cổ truyền,

Kính dâng lễ mọn biểu lòng thành.

Trước linh vị của: Hiển………………chân linh.

Xin kính cẩn thưa rằng:

Than rằng:

Mây che núi Hỗ (nếu là cha hoặc núi Dĩ nếu là mẹ)

muôn dặm mơ màng

Gió thổi cành Thung (nếu là cha hoặc cành Huyên nếu là mẹ)

một vùng nghi ngút

Nhớ thưở trước, một nhà sum họp, vui vầy những ước,

đặng trăm năm

Mà bấy nay, đôi ngả cách xa, nông nỗi nào ngờ, nên một phút.

Ơn chín chữ, trời cao biển rộng, hiểm chưa chút công đền nghĩa trả, gánh cương thường, nghĩ nặng trên vai;

Đêm năm canh, than vắn thở dài, những mơ màng tiếng nói điều ăn, lòng tưởng vọng, thấm đau trong ruột.

Cõi trần thế, xuân qua thu lại, ngày trời kể, chẵn một năm tròn; (hoặc hăm bốn tháng tròn).

Giỗ Tiểu Tường (hoặc Đại Tường) lễ bạc tâm thành, chén rượu dâng một vài tuần rót.

Nhà đơn bạc, còn nhiều bề khiếm khuyết, hương thơm, nến đỏ, việc lễ nghi, tạm gọi theo thời;

Bài văn ai kể mấy khúc nôm na, tâm động, thần tri, miền minh phủ, may chi thấu chút.

Xin kính mời:

Hiển:………………………………………….

Hiển:………………………………………….

Hiển:………………………………………….

Cùng các vị Tiên linh Tổ bá, Tổ Thúc, Tổ Cô và các vong linh phụ thờ theo Tiên Tổ về hâm hưởng.

Kính cáo: Liệt vị Tôn thần, Táo Quân, Thổ Công, Thánh Sư, Tiên Sư, Ngũ tư Gia thần cùng chứng giám và phù hộ cho tòan gia an ninh khang thái, vạn sự tốt lành.

Cúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Cẩn cáo!

Văn khấn Lễ Đàm tế

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân

– Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ tỷ

Hôm nay là ngày…. Tháng ……. Năm ………..

Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là………vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ mẫu nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

Nay nhân ngày Lễ Đàm Tế theo nghi lễ cổ truyền,

Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.

Trước linh vị của: Hiển……………………..chân linh

Xin kính cẩn trình thưa rằng:

Than ôi! Nhớ bóng phụ thân (hoặc mẫu thân);

Cách miền trần thế

Tủi mắt nhà Thung (nếu là cha hoặc nhà Huyền nếu là mẹ)

mây khóa, thăm thẳm sầu phiền.

Đau lòng núi Hỗ (nếu là cha hoặc núi Dĩ nếu là mẹ)

sao mờ, đầm đìa ai lệ

Kể năm đã quá Đại Tường;

Tính tháng nay làm Đàm Tế.

Tuy lẽ hung biến cát; tang phục kết trừ;

Song nhân tử sự thân, hiếu tâm lưu để.

Lễ bạc, kính dâng gọi chút, há dám quên, cây cội nước nguồn,

Suối vàng, như có thấu chăng, họa may tỏ,

trời kinh đất nghĩa.

Xin kính mời: Hiển……………………………………….

Hiển……………………………………….

Hiển……………………………………….

Cùng các vị Tiên linh Tổ bá, Tổ Thúc, Tổ Cô và các vong linh phụ thờ theo Tiên Tổ về hâm hưởng.

Kính cáo: Liệt vị Tôn thần, Táo Quân, Thổ Công, Thánh Sư, Tiên Sư, Ngũ tư Gia thần cùng chứng giám và phù hộ cho tòan gia an ninh khang thái, vạn sự tốt lành.

Chúng con lễ bạc tâm thành cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Văn khấn lễ rước linh vị vào chính điện và yết cáo Tiên Tổ

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân- –

– Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ tỷ

Hôm nay là ngày…. Tháng ……. Năm ……….., tại tỉnh……huyện……xã……thôn……………………………………….

Tín chủ là…………………(nếu lễ gia thần) hoặc Hậu duệ tôn là……………………(nếu lễ gia tiên, tự xưng hô với vị được liệt thờ cao nhất).

Quỳ trước linh vị của……………………………(đọc linh vị của vị thờ cao nhất), liệt chư Tiên linh.

Kính nghĩ:

Gót tiêu dao, mịt mù mù mịt, đâu hạc nội, đâu mây ngàn?

Cõi trần thế, thay đổi đổi thay, nay sương dâu, mai bãi bể.

Lá rụng về cội, phách tuy giáng, hồn lại được siêu thăng.

Nước chảy về nguồn, thác là quy, sinh chẳng qua tạm ký.

Nhân sinh do tổ, gốc phải vững, phúc quả mới mong bền;

Hiểu tử sự thân, tế như tại, nhân tâm nào dám phế.

Bày nhân: Hiển khảo(hoặc tỷ)……………………………..

(đọc linh vị bố hoặc mẹ)

Thọ chung ngày…………..tính đến nay đã:

Quý húy Đại Tường;

Đến tuần Đàm Tế.

Quá hai năm trừ phục, cáo Tiên linh;

Đủ ba tháng dư ai, theo cổ lệ.

Cầu gia thần chứng giám, cho từ đường phảng phất linh hồn;

Nguyện Tiên Tổ phù trì, để bạch triệu quy hồi phách thể.

Đến ngày giỗ chạp, con cháu nhớ tháng ngày,

làm lễ dâng hương;

Nối gót Tổ Tiên, ông cha tiếp thế thứ, theo hàng phối tế.

Lễ bạc, kính dâng gọi chút, há dám quên cây cội, nước nguồn;

Suối vàng, như thấu cho chăng, họa may tỏ trời kinh, đất nghĩa.

Xin kính mời: Hiển……………………………………….

Hiển……………………………………….

Hiển……………………………………….

Cùng các vị Tiên linh Tổ bá, Tổ Thúc, Tổ Cô và các vong linh phụ thờ theo Tiên Tổ về hâm hưởng.

Kính cáo: Liệt vị Tôn thần, Táo Quân, Thổ Công, Thánh Sư, Tiên Sư, Ngũ tư Gia thần cùng chứng giám và phù hộ cho tòan gia an ninh khang thái, vạn sự tốt lành.

Chúng con lễ bạc tâm thành cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Văn khấn lễ Cải Cát

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân

– Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ tỷ

Hôm nay là ngày…. Tháng ……. Năm ……….., tại tỉnh……huyện……xã……thôn……………………………………….

Hiển khảo (hoặc tỷ)………………………………………mộ tiền

Than rằng: Thương xót cha (hay mẹ)xưa, vắng xa trần thế.

Thác về, sống gửi, đất ba thước phải vùi chôn.

Phách lạc hồn bay, hình trăm năm khó gìn để;

Lúc trước việc nhà bối rối, đặt để còn chưa hợp hướng phương.

Tới nay, tìm đất tốt lành, sửa sang lại, cầu an hình thể.

Rày thân: Phần mộ dời xong, lễ Ngu kính tế.

Hồn thiêng xin hưởng, nguyện cầu vĩnh viễn âm phần.

Phúc để di lưu, phù hộ vững bền miêu duệ.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Xin lưu ý: Theo phong tục trước và sau khi dời mộ phải khấn trình với Long mạch, Sơn thần và Thổ thần nơi cũ và nơi mới. Sau đây là văn khấn Long Mạch, Sơn thần và Thổ thần.

Văn khấn Long Mạch, Sơn Thần và Thổ Thần

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Con kính lạy Đức Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy các ngài Long Mạch, Sơn Thần, Thổ địa, Thần linh cai quản trong xứ này.

Hôm nay là ngày……tháng…..năm……………………….

Tín chủ (chúng)con là:……………………………………..

Ngụ tại………………………………………………………..

Nhân hôm nay ngày Cải Cát (dời mộ, sửa mộ) của…………… mộ phần tại…………………………

Chúng con cùng tòan thể gia quyến tuân theo nghi lễ sắn sửa hương hoa lễ vật dâng lên án toạ Tôn thần cùng chư vị uy linh, kính cẩn tâu trình.

Kính cáo Sơn Thần, Thổ Thần, Long Mạch và các vị Thần linh, cúi xin chứng minh, phù hộ cho tòan gia chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

【#9】Văn Khấn Cúng Thanh Minh Ngoài Mộ

Văn khấn cúng Thần Linh, Thổ Địa ngoài mộ

Tạ mộ vào dịp cuối năm thường diễn ra trong khoảng 23 – 30 Tết. Lễ tạ mộ tổ tiên rất quan trọng, nhưng quan trọng không kém là việc cúng thần linh, thổ địa ngoài mộ, các quan cai quản nghĩa trang. Văn khấn thần linh thổ địa ngoài nghĩa trang dưới đây sẽ giúp bạn có bài văn khấn thần linh thổ địa cũng như khấn vong linh gia tiên trong dịp tạ mộ cuối năm hay Tiết Thanh Minh.

Ngoài ra, Ông bà ta xưa chọn Tiết Thanh Minh là ngày cắt cỏ trên mộ và đắp đất lên mộ (tảo mộ) vì ngày này thời tiết chuyển sang ấm dần, mưa nhiều hơn, cây cỏ tốt hơn trùm lên mộ, có thể làm mộ sụt lở. Nhân lúc đi Thanh Minh tảo mộ, để tưởng nhớ tổ tiên, người thân đã khuất, mọi người có thể dạo chơi ngắm cảnh cỏ cây tươi tốt, nên còn gọi là Đạp Thanh. Nguyễn Du có câu:

“Thanh Minh trong tiết tháng ba

Lễ là tảo mộ, hội là Đạp Thanh”

1. Thanh Minh năm 2021 vào ngày nào

Xem giờ hoàng đạo trong ngày Tết thanh minh 2021

Theo cách tính của lịch âm, tiết thanh minh thường sẽ rơi vào khoảng thời gian từ ngày 4 hoặc 5 của tháng 4 (sau khi kết thúc tiết xuân phân) và kết thúc vào khoảng ngày 20 hoặc 21 tháng 4 theo dương lịch hàng năm.

Dựa theo cách tính chi tiết, ngày thanh minh năm 2021 rơi vào thứ 7 ngày mùng 4 tháng 4 dương lịch (12/3 âm lịch). Tại các lốc lịch hiện nay, các nhà xuất bản thường đề rõ ngày để người dùng dễ dàng theo dõi.

2. Ý nghĩa Tiết Thanh minh là gì?

Thanh minh tuy không phải là một trong những ngày lễ tết lớn trong năm nhưng lại mang nét văn hóa gắn liền với đạo đức của người Việt. Nhiều nhà văn hóa cho rằng, Tết Thanh minh chính là ngày lễ mà ở đó bổn phận của con cháu tưởng nhớ công lao của tổ phụ, của những người đi trước được thể hiện rõ nét. Chính vì vậy, trong ngày lễ này, các hoạt động báo hiếu, trả nghĩa, đền đáp phần nào ơn sinh thành tạo dựng của tổ tiên được tổ chức rất long trọng.

Ngày lễ Thanh minh nhắc nhở con người ta sống hướng về cội nguồn, biết ơn những người đi trước. Chính sự tốt đẹp trong ý nghĩa này khiến cho ngày thanh minh năm 2021 được rất nhiều người coi trọng, tìm hiểu và duy trì thực hiện.

3. Những việc cần làm trong tiết Thanh Minh

Người dân Việt Nam lấy ngày tết Thanh Minh là dịp để đi sửa phần mộ của tổ tiên, dòng họ mình để phần mộ được sạch sẽ. Khi đi tảo mộ, mọi người thường mang theo cuốc, xẻng để đắp lại những chỗ mồ bị nứt, bị hở, rẫy những cây cỏ dại và những cây hoang mọc xung quanh, trùm lên mộ và cũng để tránh cho các loài rắn, chuột đào hang, làm tổ.

Sau khi hoàn thành, mọi người thường thắp những nén hương thơm ngát và có thể trồng nên trên mộ một vài cây hoa nhỏ như cây bỏng, hoa mười giờ… Hoặc là mọi người cắm những bông hoa tươi đẹp cho các linh hồn đã khuất.

4. Cách sắm lễ cúng tiết Thanh Minh

Lễ âm phần long mạch, sơn thần thổ phủ

Lễ trong tiết Thanh Minh gồm có: hương đèn, trầu cau, tiền vàng, rượu thịt (chân giò, gà luộc hoặc một khoanh giò nạc độ vài lạng), hoa quả.

Khi đến nghĩa trang hay khu vực có để mộ phần của gia đình mình thì gia chủ đặt lễ vào chỗ thờ chung. Sau đó thắp đèn, nhang, vái ba vái vị Linh thần Thổ địa rồi khấn.

5. Văn khấn lễ âm phần Long Mạch, Sơn thần thổ phủ nơi mộ

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ, chư vị Tôn thần:

– Con kính lạy các ngài Thần linh bản xứ cai quản trong khu vực này.

Hôm nay là ngày:…………………………………………………………………………………………………………………

Tín chủ (chúng) con là:…………………………………………………………………………………………………………..

Nhân tiết Thanh minh (hoặc là nhân tiết thu, tiết đông, hoặc nhân ngày lành tháng tốt.. .) tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương kính dâng trước án, kính mời chư vị Tôn thần lai lâm chiếu giám.

Lễ vong linh ngoài mộ

Gia đình chúng con có ngôi mộ của……………………………………………………………………………………………

Táng tại xứ này, nay muốn sửa sang xây đắp (hoặc tảo mộ, bốc mộ…) vì vậy chúng con xin kính cáo các đấng Thần linh, Thổ công, Thổ phủ Long Mạch, Tiền Chu Tước, Hậu Huyền Vũ, Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ và Chư vị Tôn thần cai quản trong khu vực này, chúng con kính mời các vị chư Thần về đây chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho vong linh được an nhàn yên ổn, siêu thoát. Cúi xin các vị phù hộ độ trì cho tín chủ chúng con toàn gia mạnh khỏe an bình, bốn mùa không tật ách, tám tiết hưởng thái bình.

Nếu viết văn khấn ra giấy thì đọc, xong hoá ngay cùng tiền vàng. Trong khi đợi tuần nhang thổ địa thì mọi người trong gia đình đi viếng thăm các ngôi mộ của gia đình mình, thắp lên mộ mấy nén. Đứng trước ngôi mộ và khấn:

6. Văn khấn lễ vong linh ngoài mộ

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương

– Con Kính lạy Hương linh (Hiển khảo, Hiển tỷ hoặc Tổ Khảo

Hôm nay là ngày……………………………………………………………………………………………………………………

Nhân tiết:……………………………………………………………………………………………………………………………..

Tín chủ (chúng) con………………………………………………………………………………………………………………..

Ngụ tại:……………………………………………………………………………………………………………………………….

Chúng con và toàn thể gia đình con cháu, nhờ công ơn võng cực, nền đức cao dầy, gây dựng cơ nghiệp của chạnh lòng nghĩ đến âm phần ở nơi hoang vắng, tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương kính dâng trước mộ, kính mời chân linh .lai lâm hiến hưởng. Chúng con xin phép được sửa sang phần mộ, bồi xa, bồi thổ, cho được dầy bền, tu sửa minh đường hậu quỷ cho thêm vững chắc. Nhờ ơn Phật Thánh phù trì, đội đức trời che đất chở, cảm niệm Thần linh phù độ, khiến cho được chữ bình an, âm siêu dương thái. Con cháu chúng con xin vì chân linh

Phát nguyện tích đức tu nhân, làm duyên, làm phúc cúng dâng Tin Bảo, giúp đỡ cô nhi quả phụ, tế bần cứu nạn, hiếu thuận tông nhân để lấy phúc này hướng về Tiên Tổ.

Cúi xin linh thiêng chứng giám, thụ hưởng lễ vật, phù hộ độ trì con cháu, qua lại soi xét cửa nhà. Che tai cứu nạn, ban tài tiếp lộc, điều lành mang đến, điều dữ xua đi. Độ cho gia đạo hưng long, quế hờ tươi tốt, cháu con vinh hưởng lộc trời, già trẻ nhuần ơn Phật Thánh.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin chứng giám.

Sau khi khấn xong, đợi hết 2/3 tuần hương thì đi lễ tạ các nơi, hóa vàng, xin lộc và mọi người trở về nhà làm lễ gia thần và gia tiên ở nhà.

7. Văn khấn Thanh minh tại nhà

Gia chủ sửa sang quần áo nghiêm túc, đứng trước hương án, thắp hương, đốt đèn, sau đó khấn:

Nam mô A di Đà Phật!

Nam mô A di Đà Phật!

Nam mô A di Đà Phật!

Con lạy chín phương trời, mười phương chư phật, chư phật mười phương

Con lạy gia tiên tiền tổ, họ hàng nội ngoại hai bên gia tộc họ…

Con lạy bà tổ cô ông mãnh, ông bà, cô bé Đỏ, cậu bé Đỏ tại gia

Hôm nay là ngày… tháng… năm…

Nay con giữ việc phụng thờ tên là…, tuổi…, sinh tại xã…, huyện…, tỉnh… cùng toàn gia, trước bàn thờ gia tiên cúi đầu bái lễ.

Kính mời thổ công Táo quân đồng lai cách cảm.

Kính dâng lễ bạc: trầu rượu, trà nước, vàng hương, hoa quả cùng phẩm vật lòng thành nhân dịp tiết Thanh Minh, kính mời hương hồn nội ngoại tổ tiên, kỵ, cụ, ông bà, cha mẹ, cô dì chú bác, anh chị em chứng giám và hưởng lễ.

Con thành tâm thành kính cúi xin gia tiên tiền tổ, bà tổ cô ông mãnh, ông bà… phù hộ độ trì, đề tâm xếp nếp, vuốt ve che chở cho đại gia đình con bình an, thịnh vượng, ba tháng mùa hè chín tháng mùa đông đều mát mẻ, tốt tươi. Điều lành mang lại, điều dữ mang đi cho công việc của gia đình con đều thuận buồn xuôi gió, gặp nhiều may mắn.

Chúng con kính dâng lễ bạc tâm thành, cúi xin gia tiên chứng minh chứng giám cho lòng thành của toàn thể gia quyến.

Nam mô A di Đà Phật!

Nam mô A di Đà Phật!

Nam mô A di Đà Phật!

Sau khi đọc xong bài vấn, gia chủ vái ba vái, chờ tuần hương sau đó hóa vàng, hạ mâm lễ để thụ lộc.

8. Một số lưu ý khi đi tảo mộ

Trước khi ra mộ, bạn cần phải bày cỗ, thắp hương xin phép gia tiên trước khi đi tảo mộ.

Khi đi tảo mộ, dù bạn có phải xách nặng đến thế nào cũng đừng thuê người xách, mà hãy để con cháu trong nhà xách.

Khi làm lễ nên là người con trưởng, cháu đích tôn, hoặc là người kế thừa việc thờ tục trong dòng họ.

Thắp hương ở nơi thờ thổ công, thổ địa ở nơi chôn cất trước khi thắp hương ở mộ.

Sau khi làm lễ xong mới tiến hành dọn dẹp xung quanh mộ.

Dọn dẹp chỉ nên dọn dẹp cỏ, trồng hoa, lau chùi,.. Còn với những ngôi mộ chưa xây thì thêm việc đắp đất. Nhỏ cỏ chỉ nên làm ở bề mặt trên, không nên giựt mạnh, đào bới gây sạt lở mộ.

Đốt vàng mã nên đốt đúng nơi quy định, không đốt quá gần mộ gây ảnh hưởng tới âm khí của mộ.

Sau khi đến nơi, các trưởng lão sẽ lo phần lễ bái, còn con cháu đứng nghiêm túc chấp tay cầu nguyện. Trong lúc đang làm lễ, mọi người không nên nô đùa, nói chuyện quá to, thể hiện một cách nghiêm tục, trang nghiêm, tôn trọng với người đã khuất.

【#10】Bài Văn Khấn Cô Chín

Văn khấn cầu xin ở đền cô Chín

Trong Tứ phủ thánh cô, cô Chín nổi tiếng tài phép, xinh đẹp, sắc sảo. Cô được thờ chính tại Đền Cô Chín Giếng. Khi dâng lễ chắc chắn không thể thiếu được văn khấn Cô Chín đền Sòng để mong cô phù hộ, nghe được lời câu khẩn từ mọi người.

Đền cô Chín

Đền Chín Giếng (còn gọi là Đền Cô Chín) là nơi thờ Cửu Thiên Huyền Nữ – con gái thứ chín của Ngọc Hoàng Thượng Đế. Đền Chín Giếng cách đền Sòng Sơn 1km về phía Đông, thuộc Trang Cổ Đam, Phú Dương, Phủ Tống Sơn, Thanh Hóa; Nay là phường Bắc Sơn, thị xã Bỉm Sơn, Thanh Hóa. Được khởi dựng cùng thời với Đền Sòng Sơn (Thời Cảnh Hưng, triều vua Lê Hiển Tông 1740 – 1786). Được tu sửa vào năm 1939. Năm 1993 được Bộ Văn Hóa – Thông tin công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa cấp Quốc Gia. Năm 2004 được trùng tu tôn tạo.

Trong trận chiến giữa Tiền Quân Thánh và Chúa Liễu Hạnh tại Sòng Sơn, Liễu Hạnh lâm nạn, biến thành con rồng ẩn về nơi Cửu Thiên Công Chúa đang ngự là chín cái giếng thiêng; Chúa Liễu Hạnh được Cửu thiên Huyền Nữ hóa phép che chở; được Phật Bà Quan Âm ra tay cứu đỡ , nên Liễu Hạnh thoát được lưới vây của Tiền Quân Thánh. Cảm tạ đức từ bi của Phật bà Quan Âm, Chúa Liễu quy y theo Phật, và cảm tình cưu mang của Cửu Thiên Huyền Nữ, chúa Liễu Hạnh kết nghĩa chị em với Cửu Thiên Huyền Nữ. Bởi vậy, hàng năm khi lễ rước bóng Thánh Mẫu Liễu Hạnh bao giờ kiệu rước Thánh Mẫu cũng được rước đi từ Đền Sòng sang đến Cô Chín, như muốn nói lên hình ảnh chị đến thăm em – Một nét đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam.

Để ghi nhớ và tri ân đối với Cửu Thiên Huyền Nữ , đã có công cứu hộ Chúa Liễu Hạnh, Nhân dân lập đền thờ ngay bên cạnh chín cái giếng thiêng, Vì vậy ngồi đền đó được dân quen gọi là Đền Chín Giếng, hoặc Đền Cô Chín. Trước đền là suối Sòng ( Dòng suối tự nhiên chảy qua đền Sòng và Đền Chín Giếng). Dưới mặt suối thiên nhiên kiến tạo nên cảnh quan kỳ vĩ với 9 miệng giếng sâu quanh năm dâng nguồn nước trong xanh, không bao giờ vơi cạn.

Lễ hội Đền Cô Chín

Đền Cô Chín là một trong những ngôi đền linh thiêng nhất xứ Thanh. Đền đã được nhà nước xếp hạng di sản lịch sử cấp quốc gia. Đến tham quan và đi lễ Đền Cô ngoài việc dâng hương tại cung thờ Cô Chín quý khách còn được tham quan dòng suối trong mát( tương truyền là chín miệng giếng thiêng).

Hàng năm có rất nhiều du khách khắp 4 phương đến tham quan và dâng lễ tại đền Cô Chín. Vào ngày 26/2 âm lịch thường có lễ hội truyền thống( lễ rước kiệu từ đền Sòng Sơn sang đền cô Chín rồi lên đèo Ba Dội). Ngày 9/9 âm lịch là chính hội của đền Cô chín nhưng ngay từ những ngày đầu xuân năm mới người dân cả nước đã nô nức chảy hội về đền cô để cầu xin Sức Khoẻ – Bình An – Tài Lộc – Làm Ăn Kinh Doanh.

Chuẩn bị lễ vật Đền Cô Chín

Tại Đền cô có rất nhiều đia chỉ bày bán phong phú nhiều đồ lễ. Bên cạnh những mâm lễ mặn là những mâm vàng mã, cây tiền, những cành vàng, cành bạc. Mâm lễ được sắp tuỳ tâm đôi khi là thẻ hương, bông hoa và vài tập tiền âm phủ, có người cầu kỳ thì đĩa xôi, con gà, mâm quả đủ đầy không nữa thì dâng nhưng bộ vàng mã đặc trưng. Bước vào cửa Cô thắp nén hương và thành tâm cầu khấn để xin lộc Cô, cầu khấn cho một năm khoẻ mạnh, làm ăn buôn bán phát tài, phát lộc, cầu con cầu của…

Văn Khấn Cô Chín

Con Nam Mô A Di Đà Phật

Con Lạy 9 phương trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương

Con Nam Mô thường trụ thập phương Phật

Con Nam Mô thường trụ thập phương Pháp

Con Nam Mô thường trụ thập phương Tăng

Con sám hối con lạy Phật tổ như Lai

Con sám hối con lạy Phật thích ca

Con sám hối con lạy Phật bà Quán thế âm bồ tát ma ha tát

Con nam mô a di đà phật

Con sám hối Thiên phủ, nhạc phủ, thoải phủ, địa phủ, Công đồng 4 phủ vạn linh

Con lạy Ngọc Hoàng Thượng đế

Con lạy Vua Cha Bát Hải Đồng Bằng

Con lạy Quan Nam Tào, Bắc đẩu

Con Lạy Tứ vị Chúa tiên tứ vị thánh Mẫu: Mẫu cửu trùng thiên, Phủ giày Quốc Mẫu, Mẫu nghi thiên hạ, Sòng Sơn Quốc Mẫu. Sơn Lâm Đông Cuông Quốc Mẫu. Sơn Lâm Bắc Lệ Thánh Mẫu. Thuỷ Cung Thánh Mẫu.

Con lạy Tứ vị Vua Bà Cờn Môn

Con lạy Đức ông Trần triều hiển thánh hưng đạo đại vương.Đức ông đệ tam Cửa suốt. Nhị vị vương Cô. Cô bé Cửa suốt. Cậu bé Cửa Đông.

Con lạy Tam vị chúa mường

Chúa mường đệ nhất tây thiên

Chúa mường đệ nhị Nghuyệt Hồ

Chúa mường đệ tam Lâm Thao

Chúa Năm Phương bản cảnh

Con lạy Ngũ vị Tôn Ông Hội Đồng Quan Lớn

Quan lớn đệ nhất

Quan lớn đệ nhị giám sát

Quan lớn đệ tam Lảnh giang

Quan lớn đệ tứ khâm sai

Quan lớn đệ ngũ tuần tranh

Con lạy Tứ Phủ Chầu Bà

Chầu bà đệ nhất, Chầu bà đệ nhị Đông Cuông

Chầu đệ tam thoải phủ, Chầu Thác Bờ

Chầu đệ tứ khâm sai quyền cai bốn phủ

Chầu Năm Suối Lân, Chầu Sáu Lục Cung Nương

Chầu Bảy Kim Giao, Chầu Tám Bát nàn Đông Nhung

Chầu Cửu Đền Sòng, Chầu Mười Đồng Mỏ Chi Lăng

Chầu Bé Công Đồng Bắc Lệ.

Con lạy Tứ Phủ Ông Hoàng

Ông Hoàng Cả, Ông Đôi Triệu Tường, Ông Hoàng Bơ

Ông Hoàng Bảy Bảo Hà, Ông Tám Bắc Quốc Suối Mỡ

Ông Chín Cờn Môn, Ông Mười Nghệ An

Con Lạy Tứ phủ Thánh Cô 9 Sòng Sơn

Con lạy quan thủ gia chầu bà thủ bản đền. Quan đứng đầu đồng, chầu cai bản mệnh. Hội đồng các quan, hội đồng các giá trên ngàn dưới thoải. 12 cửa rừng 12 cửa bể,

Con Lạy Chúa sơn lâm sơn trang. Ông Thanh xà bạch xà cùng các cô tiên nàng chấp lễ chấp bái. Con lạy táo quân quan thổ thần. Bà Chúa đất, bà chúa bản cảnh cai quản bản đền hoãn tĩnh linh đền.

Hôm nay là ngày: ……… tháng ……….năm …………

Tín Chủ ……………..Tuổi ………….

Ngụ Tại ………………………………

Con xin: ………………………………….