【#1】Ngày Thần Tài 2021 Mậu Tuất Đầu Năm Mua Vàng Có Đen Không?

Đầu năm mua vàng có đen không, xui nhiều hay ít thao quan niệm dân gian về ngày vía thần tài 10/01 năm Đinh Dậu 2021. Tìm hiểu mua vàng đầu năm có tốt không?

Xem đầu năm mua vàng có đen không?

Nhiều người làm ăn buôn bán chưa có kinh nghiệm nhưng vẫn muốn đầu xui đuôi lọt hoặc có thờ có thiêng có kiêng có lành nên cũng tìm hiểu xem đầu năm mua vàng có đen không? Hay đây là dịp tốt để mua vàng lấy may đầu năm âm lịch.

Có người chờ đợi cả tiếng đồng hồ nhưng ai nấy đều vui vẻ. Thông thường chỉ mua 0,5-1 chỉ vàng lấy may nhưng qua đó thể hiện ước nguyện của mỗi người về một năm tài lộc, làm ăn may mắn.

Để tránh mua phải hàng giả, khi đi mua vàng trong ngày vía Thần Tài phải chú ý chọn cửa hàng có tên tuổi, có uy tín, có nhiều mẫu mã đa dạng để lựa chọn, lưu ý giấy mua bán rõ ràng.

cúng vía thần tài lúc mấy giờ năm nay

Chuyên gia phong thủy Nguyễn Vũ Tuấn Anh (Trung tâm Nghiên cứu Lý học Đông phương, Hội Nghiên cứu Phát triển khoa học Việt Nam – Đông Nam Á) cho rằng nên thắp hương Thần tài vào buổi sáng lúc 7 – 9h (giờ Thìn) là đẹp nhất. Trước khi cúng Thần tài nên lau dọn bàn thờ Thần tài cẩn thận.

Có nên mua vàng ngày thần tài 2021 Mậu tuất

Vào ngày mùng 10 tháng Giêng hằng năm, nhà nhà lại nô nức sắm sửa lễ vật cúng vía Thần tài. Bàn thờ Thần tài (đi kèm với Ông Địa) là một chiếc khám nhỏ, sơn son thếp vàng. Trên bàn thờ nhất định phải có tượng Thần tài, Ông Địa bằng sứ để thờ. Ngoài ra còn cần hũ gạo, muối, nước; lọ hoa; bát nhang; đĩa bày trái cây và khay 5 chén nước.

lễ vật cúng ngày vía thần tài

Các chuyên gia phong thủy cho rằng, trong ngày vía Thần tài mọi người nên làm lễ cúng Thần tài để cầu may mắn, tài lộc. Lễ vật thường mua: 1 bình bông, 1 con tôm, 1 con cá lóc nướng, 1 con cua, 1 miếng heo quay, 1 bộ giấy tiền vàng mã, 1 đĩa ngũ quả, chum rượu, để cúng lấy vía Thần tài cầu xin cho năm mới làm ăn phát đạt.

Đồ cúng thường là các món ăn ngon như heo vịt quay, gà, hoa quả, nước uống hàng ngày… vì dân gian truyền rằng, Thần tài rất thích món Cua biển và heo quay, chuối chín vàng.

Ngoài ra,dân gian còn có tục mua vàng đặt lên bàn thờ lúc cúng để xin lộc Thần tài, cúng xong mang trên người sẽ được may mắn quanh năm.

Ngoài ngày vía Thần tài mùng 10 tháng Giêng, mọi người vẫn chọn mùng 10 âm lịch hàng tháng để cúng Thần tài, cầu xin cho may mắn về tài lộc trong tháng đó. Thế nên trở thành thông lệ, vào mùng 1 và 15 hoặc mùng 10 âm lịch hàng tháng, cùng với bàn thờ tổ tiên, các bàn thờ khác trong nhà cũng được các gia đình bày cỗ cúng.

Cúng Thần tài để trả lễ khi gặp vận hên, tài lộc. Đồ cúng thường là các món ăn ngon như lợn, vịt quay, gà, hoa quả, nước uống hằng ngày…

Dân gian truyền miệng rằng, Thần tài rất thích món Cua biển và heo quay, chuối chín vàng. Vậy nên, thống thường các gia chủ thường đốt hương mỗi sáng từ 6h-7h và chiều tối từ 6h-7h, mỗi lần 5 cây nhang vào ngày cúng. Thay nước uống khi đốt nhang, thay nước trong bình hoa và thờ nải chuối chín vàng.

văn khấn thần tài mùng 10 tháng giêng Tết âm lịch 2021

Vào ngày Thần tài mùng 10 Tết âm lịch, gia chủ sửa soạn sắm lễ vật được nêu ở trên. Nếu là cửa hàng hoặc công ty thì thực hiện ở ngay ở cửa hàng, công ty. Sau khi thắp hương thì đọc bài khấn Thần tài này.

Kính lạy ngài Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân.

– Con kính lạy Thần tài vị tiền.

– Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

Tín chủ con là:……………………… Tuổi:……..

Ngụ tại ………………………………

Hôm nay là ngày……. tháng……. năm…… (âm lịch).

Tín chủ con thành tâm sửa biện, hương hoa, lễ vật, kim ngân, trà quả và các thứ cúng dâng, bầy ra trước án kính mời ngài Thần tài tiền vị và chư vị tôn Thần.

Cúi xin Thần tài thương xót tín chủ, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật phù trì tín chủ chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia đạo hưng long thịnh vượng, lộc tài tăng tiến, tâm đạo mở mang, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ cúi xin được phù hộ độ trì.

Phục duy cẩn cáo!

cách cúng vía thần tài mùng 10 tháng giêng Mậu Tuất 2021

  • Thường ngày nên đốt nhang mỗi sáng từ 6h – 7h và chiều tối từ 6h – 7 giờ, mỗi lần đốt 5 cây nhang. Thay nước uống khi đốt nhang, thay nước trong lọ hoa, và chưng thờ nải chuối chín vàng.
  • Gạo, muối thì cất lại dùng cho có lộc, không được rãi ra ngoài.
  • Vàng, bạc đại đốt ở ngoài.
  • Rượu hay nước thì đứng ngoài cửa tưới vào nhà, có ý nghĩa là đem lộc vào.
  • Bộ tam sên hay bánh trái chia nhau trong nhà dùng không cho người ngoài.
  • Tránh để các con vật chó mèo quậy phá làm ô uế bàn thờ Thần tài.
  • Hàng tháng thường lau bàn thờ, tắm cho Thần tài vào ngày cuối tháng và ngày 14 âm lịch với nước lá bưởi, hay rượu pha nước. Khăn lau và tắm cho Thần tài không được dùng vào việc khác.
  • Khi thỉnh tượng Thần tài, Thổ Địa ngoài cửa hàng về, cần gói bọc trong giấy đỏ, hoặc trong hộp sạch sẽ, mang vào chùa nhờ các Sư trong chùa “Chú nguyện nhập Thần”, và nhờ các Sư chọn cho ngày tốt đem về nhà để an vị Thần tài, Thổ Đại.
  • Về nhà dùng nước lá bưởi rửa và đặt lên bàn thờ, mua các đồ cúng về cúng khấn là được, lần sau cúng vái bình thường.
  • Khi thỉnh Thần tài, Thổ Địa cũng có Thần tài, Thổ Địa hợp với gia chủ, cũng có Thần tài, Thổ Địa không hợp với gia chủ, chọn tượng Thần Tài, Thổ Địa mặt tươi cười, mặt sáng sủa, tượng không bị nứt, vỡ, nhìn tượng toát lên vẻ phú quý.

Giá vàng SJC 24k mới nhất ngày hôm nay

kiêng mua vàng đầu tháng, chọn ngày tốt mua vàng, mua vang ngay nao thi tot, mua vàng ngày nào tốt, đầu năm có nên bán vàng, bán vàng đầu năm, mùng 1 đầu tháng có nên mua vàng, mùng 1 có nên mua vàng không

Comments

【#2】Bài Văn Khấn Tam Toà Thánh Mẫu Đi Lễ Đền Chùa Đầu Năm 2021

Bài văn khấn Tam Toà Thánh Mẫu đi lễ Đền Chùa đầu năm 2021: Chuẩn bị lễ mặn gồm gà, lợn, giò, chả… được làm cẩn thận, nấu chín. Tùy vào mỗi người mà có những mâm cỗ cúng khác nhau. Sau đó bạn khấn nôm trước ban thờ Tam Toà Thánh Mẫu theo mẫu văn khấn như sau. # Bài văn khấn Tam Toà Thánh Mẫu năm 2021 Chuẩn bị lễ mặn gồm gà, lợn, giò, chả… được làm cẩn thận, nấu…

Bài văn khấn Tam Toà Thánh Mẫu đi lễ Đền Chùa đầu năm 2021: Chuẩn bị lễ mặn gồm gà, lợn, giò, chả… được làm cẩn thận, nấu chín. Tùy vào mỗi người mà có những mâm cỗ cúng khác nhau. Sau đó bạn khấn nôm trước ban thờ Tam Toà Thánh Mẫu theo mẫu văn khấn như sau.

Chuẩn bị lễ mặn gồm gà, lợn, giò, chả… được làm cẩn thận, nấu chín. Tùy vào mỗi người mà có những mâm cỗ cúng khác nhau. Sau đó bạn khấn nôm trước ban thờ Tam Toà Thánh Mẫu theo mẫu văn khấn như sau.

  • + Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
  • + Con lạy chín phương trời, mười phương chư Phật, chư phật mười phương.
  • + Con kính lạy Đức Hiệu Thiên chí tôn kim quyết Ngọc Hoàng Huyền cung cao Thượng đế.
  • + Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.
  • + Con xin kính Cửu trùng Thanh Vân lục cung công chúa.
  • + Con kính lạy Đức thiên tiên Quỳnh Hoa Liễu Hạnh Mã Hoàng Công chúa, sắc phong Chế Thắng Hoà Diệu đại vương, gia phong Tiên Hương Thánh mẫu.
  • + Con kính lạy Đức đệ nhị đỉnh thượng cao sơn triều mường Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương.
  • + Con kính lạy Đức đệ tam thủy phủ, Lân nữ công chúa.
  • + Con kính lạy Đức đệ tứ khâm sai Thánh Mẫu, tứ vi chầu hà, năm tòa quan lớn, mười dinh các quan, mười hai Tiên cô, mười hai Thánh cậu, ngũ hổ Đại tướng, Thanh Hoàng Bạch xà đại tướng.
  • + Hưởng tử (chúng) con là: …………… Ngụ tại: …………….
  • + Hôm nay là ngày ……. tháng …… năm …… Hương tử con đến nơi Điện(Phủ, Đền) ……… chắp tay kính lễ khấu đầu vọng bái, lòng con thành khẩn, dạ con thiết tha, kính dâng lễ vật, cúi xin các Ngài xót thương phù hộ độ trì cho gia chung chúng con sức khỏe dồi dào, phúc thọ khang ninh, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, cầu bình an đắc bình an, vạn sự hanh thông, gặp nhiều may mắn.
  • + Hương tử con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.
  • # Ý nghĩa của lễ Tam Tòa Thánh Mẫu

    Theo nếp xưa người Việt Nam ở khắp mọi miền đất nước hàng năm vẫn xem ngày đi lễ, đi trẩy Hội ở các Đình, Đền, Miếu, Phủ vào các ngày lễ, tết, tuần tiết, sóc, vọng và ngày Hội, để tỏ lòng tôn kinh, ngưỡng mộ biết ơn các bậc Tôn thần đã có công với đất nước. Các vị thần linh, Thành Hoàng, Thánh Mẫu là các bậc tiền nhân đã có công với cộng đồng làng xã, dân tộc trong lịch sử đấu tranh giữ nước và dựng nước của người Việt Nam.

    【#3】Ba Bài Văn Khấn Mẫu Phổ Biến Tại Đền, Chùa Việt Nam

    Xemtuvi12congiap xin gửi tới bạn đọc ba bài văn khấn Mẫu phổ biến nhất ở đền chùa hay miếu Việt Nam để độc giả cùng tham khảo.

    Các vị Thần linh, Thành Hoàng, Thánh Mẫu là các bậc tiền nhân đã có công với dân tộc trong lịch sử của người Việt Nam.

    Nơi thờ tự Đình, Đền, Miếu, Phủ còn là những nơi sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng. Con người hy vọng rằng bằng những hành vi tín ngưỡng, có thể cầu viện đấng Thần linh phù hộ cho bản thân, cùng gia đình, cộng đồng được an khang, thành đạt và thịnh vượng, yên bình, biến hung thành cát, giải trừ tội lỗi…

    Theo phong tục của dân tộc ta khi đến Đình, Đền, Miếu, Phủ nên mang những lễ vật. Lễ vật có thể to hoặc nhỏ, ít hoặc nhiều không quan trọng mà tùy vào tâm của người mang lễ vật cầu khấn và bài văn khấn được đọc thể hiện được thành tâm của người đến kính lễ.

    Văn khấn Mẫu Thượng Thiên

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy)

    – Con kính lạy Đức Hiệu Thiên chí tôn kim quyết Ngọc Hoàng Huyền cung cao Thượng đế.

    – Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

    – Con xin kính Cửu trùng Thanh Vân lục cung công chúa.

    – Con kính lạy Đức thiên tiên Quỳnh Hoa Liễu Hạnh Mã Hoàng Công chúa, sắc phong Chế Thắng Hoà Diệu đại vương, gia phong Tiên Hương Thánh Mấu.

    – Con kính lạy Đức đệ nhị đỉnh thượng cao sơn triều mường Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương.

    – Con kính lạy Đức đệ tứ khâm sai Thánh Mẫu, tứ vi chầu bà, năm tòa quan lớn, mười dinh các quan, mười hai Tiên cô, mười hai Thánh cậu, ngũ hổ Đại tướng, Thanh Hoàng Bạch xà đại tướng.

    Hưởng tử (chúng) con là: ……………

    Ngụ tại: …………….

    Hôm nay là ngày ……. tháng …… năm ……

    Hương tử con đến nơi Điện (Phủ, Đền) ……… chắp tay kính lễ khấu đầu vọng bái, lòng con thành khẩn, dạ con thiết tha, kính dâng lễ vật, cúi xin các Ngài xót thương phù hộ độ trì cho gia chung chúng con sức khỏe dồi dào, phúc thọ khang ninh, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, cầu bình an đắc bình an, vạn sự hanh thông, gặp nhiều may mắn.

    Hương tử con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Văn khấn Mẫu Thượng Ngàn

    “Na mô A Di Đà Phật!

    Na mô A Di Đà Phật!

    Na mô A Di Đà Phật!

    Hương tử chúng con dốc lòng kính lạy Đức chúa thượng ngàn đỉnh thượng cao sơn triều mường sơn tinh công chúa Lê Đại Mại Vương ngọc điện hạ.

    Kính lạy:………………………………………………………………..

    Đức Thượng ngàn chúa tể Mị Nương Quế Hoa công chúa tối tú tối linh, cai quản tám mươi mốt cửa rừng trong cõi Nam giao.

    Chư tiên, chư thánh chư thần, bát bộ sơn trang, mười hai tiên nương, văn võ thị vệ, thánh cô thánh cậu, ngũ hổ bạch xà đại tướng.

    Hương tử con là:…………………………………………………….

    Ngụ tại:………………………………………………………………….

    Nhân tiết…………….. chúng con thân đến………………. phủ chúa trên ngàn, đối nén tâm hương kính dâng lễ vật, mội dạ chí thành, chắp tay khấn nguyện. Cúi xin lượng cả bao dũng, thể đức hiếu sinh, ra tay cứu vớt, độ cho chúng con cùng cả gia quyến bốn mùa được chữ bình an, tám tiết hưng long thịnh vượng, lộc tài quảng tiến, công việc hanh thông, giải vận giải hạn, biến hung thành cát, đổi họa ra tường, như ý sở cầu, tòng tâm sở nguyện.

    Giãi tấm lòng thành, cúi xin chứng giám

    Cẩn tấu”.

    Văn khấn mẫu Liễu Hạnh

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật!

    Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

    Con xin kính lạy Thánh mẫu Liễu Hạnh, Chế thắng Hoà Diệu, Đại vương Tốỉ linh chí linh.

    Mấu Đệ nhất thiên tiên!

    Mấu Đệ nhị thượng ngàn!

    Mấu Đệ tam thoải cung!

    Hương tử con là……………..

    Ngụ tại………………..

    Hôm nay là ngày………….

    Tại: Phủ Tây Hồ, phường Quảng Bá, Quận Tây Hồ

    Thành kính dâng lễ vật

    Cung thỉnh Tam Toà Thánh Mẫu, vua cha Ngọc Hoàng, Tam phủ công đồng, Tứ phủ vạn linh, hội đồng các Quan, Bát bộ Sơn trang, Thập nhị quan Hoàng, Thâp nhị chầu Cô, Thập nhị quan Cậu, Ngũ lôi thiên tướng, Ngũ hổ thần quan, Thanh Bạch xà Thần linh, chấp kỳ lễ bạc chứng giám phù hộ độ trì cho hương tử con được hưởng: Gia quyến mạnh khoẻ, bình an, đắc lộc, đắc thọ, bách sự như ý…

    Hương tử con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật!

    【#4】Cách Sắm Lễ Và Các Bài Văn Khấn Tại Đình Đền Chùa Miếu Phủ

    Theo tập tục văn hóa truyền thống, ở mỗi tỉnh thành, làng, xã Việt Nam đều có các Đình, Đền, Miếu, Phủ là nơi thờ tự Thần linh, Thành Hoàng, Thánh Mẫu.

    Các vị Thần linh, Thành Hoàng, Thánh Mẫu là các bậc tiền nhân đã có công với cộng đồng làng xã, dân tộc trong lịch sử đấu tranh giữ nước và dựng nước của người Việt Nam.

    Ngày nay, theo nếp xưa người Việt Nam ở khắp mọi miền đất nước hàng năm vẫn đi lễ, đi trẩy Hội ở các Đình, Đền, Miếu, Phủ vào các ngày lễ, tết, tuần tiết, sóc, vọng và ngày Hội, để tỏ lòng tôn kính, ngưỡng mộ biết ơn các bậc Tôn thần đã có công với đất nước.

    Đình, Đền, Miếu, Phủ cùng với sự lưu truyền sự linh diệu của các thần trong nhiều trường hợp đã đi vào trang sử oai hùng của dân tộc Việt Nam góp phần không nhỏ vào việc duy trì tình cảm yêu nước.

    Nơi thờ tự Đình, Đền, Miếu thờ thần linh, Phủ còn là những nơi sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng. Con người hy vọng rằng bằng những hành vi tín ngưỡng, có thể cầu viện đấng Thần linh phù hộ cho bản thân, cùng gia đình, cộng đồng được an khang, thành đạt và thịnh vượng, yên bình, biến hung thành cát, giải trừ tội lỗi…

    Cách sắm lễ đi đền chùa miếu phủ

    Theo phong tục cổ truyền khi đến Đình, Đền, Miếu, Phủ nên có lễ vật có thể to, nhỏ, nhiều, ít, sang, mọn tuỳ tâm. Mặc dù ở những nơi này thờ Thánh, Thần, Mẫu nhưng người ta vẫn có thể sắm các lễ chay như hương hoa quả, oản,… để dâng cũng được.

    1. Lễ Chay: Gồm hương hoa, trà, quả, phẩm oản… dùng để lễ ban Phật, Bồ Tát (nếu có).

    Lễ chay cũng dùng để dâng ban Thánh Mẫu. Trong trường hợp này sắm thêm một số hàng mã để dâng cũng như: tiền, vàng, nón, hia…

    2. Lễ Mặn: Gồm gà, lợn, giò, chả… được làm cẩn thận, nấu chín. Nếu có lễ này thì đặt bàn thờ Ngũ vị quan lớn tức là ban công đồng.

    3. Lễ đồ sống: Gồm trứng, gạo, muối hoặc thịt mồi (một miếng thịt lợn khoảng vài lạng)

    Đây là lễ dành riêng cho việc dâng cúng quan Ngũ Hổ, Bạch xà, Thanh xà đặt ở hạ ban Công Đồng Tứ phủ.

    Theo lễ thường thì gồm 5 quả trứng vịt sống đặt trong một đĩa muối, gạo, hai quả trứng gà sống đặt trong hai cốc nhỏ, một miếng thịt mồi được khía (không đứt rời) thành năm phần, để sống.

    Kèm theo lễ này cũng có thêm tiền vàng.

    4. Cỗ mặn sơn trang: Gồm những đồ đặc sản Việt Nam: cua, ốc, lươn, ớt, chanh quả… Nếu có gạo nếp cẩm nấu xôi chè thì cũng thuộc vào lễ này.

    Theo lệ thường, khi sắm lễ mặn sơn trang, người ta thường sắm theo con số 15: 15 con ốc, cua, 15 quả ớt, chanh hoặc có thể chỉ cần 1 quả nhưng được khía ra làm 15 phần… Con số 15 này tương ứng với 15 vị được thờ tại ban sơn trang: 1 vị chúa, 2 vị hầu cận, 12 vị cô sơn trang

    5. Lễ ban thờ cô, thờ cậu: Thường gồm oản, quả, hương hoa, hia, hài, nón, áo… (đồ hàng mã) gương, lược… Nghĩa là những đồ chơi mà người ta thường làm cho trẻ nhỏ. Những lễ vật này cầu kỳ, nhỏ, đẹp và được bao trong những túi nhỏ xinh xắn, đẹp mắt.

    6. Lễ thần Thành Hoàng, Thư điền: Thường dùng lễ mặn: chân giò lợn luộc, xôi, rượu, tiền, vàng…

    Các bài văn khấn tại đình đền chùa miếu phủ

    Văn khấn Thành hoàng ở Đình, Đền, Miếu

    – Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

    – Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

    – Con xin kính lạy ngài Kim Niên Đương cai Thái tuế chí đức Tôn thần.

    – Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành Hoàng chư vị Đại Vương.

    Hưởng tử con là………………………………………………..Tuổi………….

    Ngụ tại……………………………………………………………………….

    Hôm nay là ngày…… tháng……năm………………..(Âm lịch)

    Hương tử con đến nơi…………… (Đình hoặc Đền hoặc Miếu) thành tâm kính nghĩ: Đức Đại Vương nhận mệnh Thiên đình giáng lâm ở nước Việt Nam làm Bản cảnh Thành Hoàng chủ tể một phương bấy nay ban phúc lành che chở cho dân. Nay hương tử chúng con thành tâm dâng lên lễ bạc, hiến tế hương hoa, phẩm oản…

    Cầu mong đức Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương chứng giám, rủ lòng thương xót, phù hộ che chở cho chúng con sức khoẻ dồi dào, mọi sự tốt lành, lắm tài nhiều lộc, an khang thịnh vượng, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

    Hương tử con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Phục duy cẩn cáo!

    Văn khấn ban Công Đồng

    – Con lạy chín phương trời, mười phương Chư phật, Chư phật mười phương

    – Con lạy đức Vua cha Ngọc Hoàng Thượng Đế

    – Con lạy Tam Toà Thánh Mẫu

    – Con lạy Tam phủ Công Đồng, Tứ phủ Vạn linh

    – Con lạy Tứ phủ Khâm sai

    – Con lạy Chầu bà Thủ Mệnh

    – Con lạy Tứ phủ Đức Thánh Hoàng

    – Con lạy Tứ phủ Đức Thánh Cô

    – Con lạy Tứ phủ Đức Thánh Cậu

    – Con lạy cộng đồng các Giá, các Quan, mười tám cửa rừng, mười hai cửa bể.

    – Con lạy quan Chầu gia.

    Hương tử con là:…………………………………….Tuổi…………………..

    Cùng đồng gia đại tiểu đẳng, nam nữ tử tôn

    Ngụ tại:……………………………………………………….

    Hôm nay là ngày…… tháng…… năm………………(Âm lịch). Tín chủ con về Đền…………… thành tâm kính lễ, xin Chúa phù hộ độ trì cho gia đình chúng con sức khoẻ dồi dào, phúc thọ khang ninh, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, cầu bình an đắc bình an, vạn sự hanh thông, gặp nhiều may mắn.

    Phục duy cẩn cáo!

    Văn khấn lễ Tam Toà Thánh Mẫu

    Đức đệ tứ khâm sai Thánh Mẫu, tứ vi chầu bà, năm toà quan lớn, mười dinh các quan, mười hai Tiên cô, mười hai Thánh cậu, ngũ hổ Đại tướng, Thanh Hoàng Bạch xà đại tướng

    – Con kính lạy Đức Hiệu Thiên chí tôn kim quyết Ngọc Hoàng Huyền khung cao Thượng đế.

    – Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

    – Con xin kính Cửu trùng Thanh Vân lục cung công chúa.

    – Con kính lạy Đức thiên tiên Quỳnh Hoa Liễu Hạnh Mã Hoàng Công chúa, sắc phong Chế Thắng Hoà Diệu đại vương, gia phong Tiên Hương Thánh Mẫu.

    – Con kính lạy Đức đệ nhị đỉnh thượng cao sơn triều mường Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương.

    – Con kính lạy Đức đệ tứ khâm sai Thánh Mẫu, tứ vi chầu bà, năm toà quan lớn, mười dinh các quan, mười hai Tiên cô, mười hai Thánh cậu, ngũ hổ Đại tướng, Thanh Hoàng Bạch xà đại tướng.

    Hưởng tử con là……………………………………….Tuổi……………….

    Ngụ tại………………………………………………………..

    Hôm nay là ngày…… tháng……năm………………………….(Âm lịch)

    Hương tử con đến nơi Điện (hoặc Phủ, hoặc Đền)………chắp tay kính lễ khấu đầu vọng bái, lòng con thành khẩn, dạ con thiết tha, kính dâng lễ vật, cúi xin các Ngài xót thương phù hộ độ trì cho gia đạo chúng con sức khoẻ dồi dào, phúc thọ khang ninh, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, cầu bình an đắc bình an, vạn sự hanh thông, gặp nhiều may mắn.

    Hương tử con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Phục duy cẩn cáo!

    Cơ sở Đá mỹ nghệ Hà An chúng tôi với thâm niên 30 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực thi công, tư vấn thiết kế các kiến trúc tâm linh, làm lăng mộ đá tại Ninh Bình. Với đội ngũ nghệ nhân chế tác đá lành nghề, chúng tôi cung cấp cung tư vấn thiết kế nhiều hạng mục đá mỹ nghệ rộng khắp 64 tình thành trên cả nước.

    Bên cạnh yếu tố kỹ thuật chuyên môn cao chúng tôi còn có kinh nghiệm trong việc tư vấn tâm linh, phong thủy cho mộ phần âm trạch. Điều này ở Đá mỹ nghệ Hà An luôn luôn hướng đến và tư vấn khách hàng bằng tất cả sự hiểu biết, kinh nghiệm cũng như tâm huyết nghề đá của mình.

    Liên hệ Cơ sở đá mỹ nghệ Hà An

    Địa chỉ: Làng Đá Mỹ Nghệ Ninh Vân, Hoa Lư, Ninh Bình

    Điện thoại: 0904.255.468

    Website: https://maulangmoda.com

    Chúng tôi xin cam kết đem lại các sản phẩm chế tác từ đá với chất lượng tốt nhất và giá cả hợp lý theo thị trường.

    【#5】Bài Văn Khấn Tam Tòa Thánh Mẫu Tại Đền, Đình, Chùa, Miếu

    Các vị Thần linh, Thành hoàng, Thánh mẫu được biết đến là các bậc tiên nhân đã có công với làng xã, dân tộc ta trong lịch sử đấu tranh giữ nước và dựng nước của người Việt Nam. Ngày nay, tiếp nối nếp xưa, người Việt Nam ở khắp mọi miền trên đất nước hàng năm vẫn xem ngày đi lễ, trẩy hội ở các đền, đình, miếu, phủ vào các dịp lễ, ngày tết, tuần tiết, sóc, vọng và ngày hội để nhằm bày tỏ lòng thành kính, sự biết ơn đối với các bậc tôn thần đã có công với đất nước.

    Đình, Đền, Miếu, Phủ cùng với sự lưu truyền linh diệu các thần đã đi vào những trang sử oai hùng của dân tộc Việt Nam góp phần vào việc duy trì tình cảm yêu nước cho thế hệ con cháu tiếp bước. Ngoài ra, nơi thờ tự Đình, Đền, Miếu, Phủ còn là nơi để sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng. Con người hy vọng, mong muốn rằng bằng những hành vi tín ngưỡng này, có thể dùng để cầu viện Thần linh phù hộ cho bản thân, cho gia đình cũng như cộng đồng được an khang, thịnh vượng, yên bình, biến hung thành cát….

    2. Lễ vật và cách cúng lễ Tam Tòa Thánh Mẫu

    Theo phong tục truyền thống thì khi đến Đình, Đền, Miếu, Phủ chúng ta nên có lễ vật có thể to, nhỏ, nhiều, ít, sang, mọn tuỳ tâm để thể hiện sự thành kính. Mặc dù ở những nơi thờ Thánh, Thần, Mẫu người ta vẫn có thể sắm các lễ chay như: hương hoa quả, oản,… để dâng cũng được.

    – Lễ Mặn: Nếu gia chủ có quan điểm lễ cúng phải dùng mặn thì gia chủ nên mua đồ chay hình tướng lợn, gà, giò, chả.

    – Lễ đồ sống: Gia chủ tuyệt đối không dùng các đồ cúng lễ sống gồm: gạo, muối, trứng hoặc thịt tại các ban quan Bạch xà, Ngũ Hổ, Thanh xà đặt ở hạ ban Công Đồng Tứ phủ.

    – Cỗ sơn trang: Gồm những đồ đặc sản chay Việt Nam, lưu ý không được dùng ốc, cua, lươn, ớt, …..Nếu có gạo nếp cẩm nấu xôi chè thì cũng thuộc vào lễ này.

    – Lễ ban thờ cô, thờ cậu: lễ này thường gồm oản, quả, hương hoa, lược, gương, … những món đồ chơi mà người ta thường làm cho trẻ nhỏ.

    – Lễ thần Thành Hoàng, Thư điền: Nên dùng chay mới có phúc và những lời cầu nguyện được linh ứng.

    3, Văn khấn sau khi lễ tam tòa thánh mẫu

    Sau khi kết thúc nghi thức khấn, lễ ở các ban thờ, thì trong lúc đợi hết tuần nhang gia chủ có thể viếng thăm phong cảnh nơi thờ tự.

    Khi thắp hết tuần nhang có thể tiến hành thắp thêm một tuần nhang nữa. Thắp nhang xong, gia chủ vái 3 vái trước mỗi ban thờ rồi tiến hành hạ sớ đem ra nơi hoá vàng để hoá.

    Hoá sớ xong gia chủ mới hạ lễ dâng cúng khác. Khi hạ lễ thì hạ theo thứ tự từ ban ngoài cùng vào đến ban chính. Riêng các đồ lễ cúng ở bàn thờ Cô, thờ Cậu như gương, lược… thì gia chủ nên để nguyên trên bàn thờ.

    Cửa hàng: 66, Nguyễn Đức Thuận, tổ 17, phường Thạch Bàn, Long Biên

    Xưởng sản xuất số 1: Xóm 1, Giang Cao, Bát Tràng, TP Hà Nội, Việt Nam

    Xưởng sản xuất số 2: Lô B14 – Cụm làng nghề sản xuất tập trung Bát Tràng – Gia Lâm – Hà Nội

    Bài Văn Khấn An Vị Bát Hương Thần Linh Và Gia Tiên Chuẩn

    【#6】Bài Văn Khấn Tại Đền Cô Mười Đồng Mỏ Theo Chuẩn Văn Hóa Đạo Mẫu Việt Nam

    Để tưởng nhớ công ơn giúp vua dẹp loạn giặc Minh, người dân khắp mọi miền đất nước sắm lễ và chuẩn bị bài văn khấn tại đền dâng cô Mười Đồng Mỏ tại Lạng Sơn. Cùng chúng tôi đi sâu tìm hiểu thần tích linh diệu của cô qua bài viết sau đây.

    Thần tích linh diệu của cô Mười Đồng Mỏ (Cô Mười Mỏ Ba)

    Cô Mười Mỏ Ba theo hầu cận Chầu Mười Mỏ Ba. Khi xưa, cô có công cùng chầu Mười Mỏ Ba giúp vua Lê đánh giặc Minh, tiêu diệt tán quân của tướng Liễu Thăng.

    Hiện nay, thần tích về cô Mười Mỏ Ba còn lưu truyền lại rất ít, gần như là không có. Dựa vào số ít tích còn lưu truyền lại, cô Mười là một vị thánh cô xinh đẹp. Giống như câu trong văn hát hầu cô có nói: ” Hình dung nhan sắc ai mà dám đương”. Cô luôn miệng cười rất gần gũi, thân thiện với mọi người.

    Khi cô Mười Đồng Mỏ về ngự đồng thường mặc áo vàng, cầm cung kiếm cưỡi trên mình ngựa theo chầu bà xông pha trận mạc , sau này cô cũng được thờ tại đền Chầu Mười.

    Xem tử vi năm 2021 của bạn như thế nào qua bài viết: TỬ VI 2021 – XEM TỬ VI NĂM KỶ HỢI 2021.

    Đền thờ cô Mười Đồng Mỏ

    Đền thờ cô Mười Đồng Mỏ, hay còn gọi là Cô Mười Mỏ Ba tọa lạc tại huyện Đồng Mỏ – Lạng Sơn. Đền Mỏ Ba là nơi thờ chính là Chầu Mười Đồng Mỏ và Cô Mười Đồng Mỏ.

    Đền Chầu Mười được dân lập ngay sát cửa ải Chi Lăng. Đây chính là nơi năm xưa chầu trấn giữ. Chính là Đền Chầu Mười Đồng Mỏ hay Đền Mỏ Ba, lập tại xã Mỏ Ba, thị trấn Đồng Mỏ, Lạng Sơn, lập trên ngọn núi cao.

    Đôi nét về Chầu Mười Đồng Mỏ

    Chầu Mười Mỏ Ba vốn là người Tày. Bà giáng thếdưới thời Lê Thái Tổ Trung Hưng khởi binh chống giặc Minh.

    Chầu vốn sinh ra và trưởng thành trong một gia đình có truyền thống đao cung tại vùng đất Mỏ Ba (Đồng Mỏ), Lạng Sơn. Chầu lớn lên và trở thành tài nữ hào kiệt. Chầu đã tập hợp mọi người ở miền đất Mỏ Ba đứng lên khởi nghĩa, giúp vua Lê đánh đuổi giặc Minh. Vua rất tin tưởng, giao cho chầu trấn giữ các châu, nơi cửa ải Chi Lăng. Chính trong trận quyết chiến Chi Lăng, Xương Giang, chầu đã lập chiến công. Chính tay chầu chém cụt đầu viên tướng Liễu Thăng ngay tại mảnh đất này. Kháng chiến thắng lợi, bà được vua phong công, giao cho cai quản vùng Mỏ Ba, Đồng Mỏ, trấn giữ ải Chi Lăng. Tại vùng Mỏ Ba, bà giúp dân lập xóm ấp làng bản, dạy dân làm ăn, được già trẻ xa gần ai ai cũng mến phục. Đến cuối mùa thu thì chầu về tiên.

    Chầu Mười rất hay về ngự đồng, góp vui trong những ngày lễ Tết tại vùng đất Lạng Sơn. Khi ngự đồng, chầu thường mặc áo vàng, một múa kiếm, tay kia múa cờ lệnh (hoặc mồi) là khi chầu xông pha nơi trận mạc.

    Bài văn khấn tại đền cô Mười Đồng Mỏ theo chuẩn văn hóa đạo Mẫu Việt Nam

    “Ai lên Đồng Mỏ – Chi Lăng

    Cô Mười nhan sắc miệng cười nở hoa

    Chắp tay bái lạy Cô Mười

    Hình dung nhan sắc ai mà dám đương

    Xa xôi chẳng quản đường trường

    Băng ngàn vượt núi, cưỡi mây đi về

    Về đồng mặc áo vàng tươi

    Đai hoa, khăn thắt đúng người Sơn Trang

    Cô Mười đẹp tựa sao sa

    Cô đẹp như sao Bắc Đẩu – Ngân Hà

    Đồng Mỏ – Cô Mười vào ra

    Mẫu khen Cô đẹp nhất tòa Sơn Trang

    Ai lên Đồng Mỏ tìm vàng

    Tâm thành khấn nguyện thỉnh ngay Cô về

    Đường trường cách trở giang khê

    Xe loan giá ngự về đền hôm nay

    Thanh nhàn ngồi tựa đầu non

    Trăng thanh gió mát véo von trên ngàn

    Nắng nghe tiếng nhật, tiếng khoan

    Cô Mười Đồng Mỏ đánh đàn ca ngâm

    Khi gió mát lúc êm trời

    Khi Cô dệt lụa, lúc lại quay tơ

    Thanh nhàn hái lá đề thơ

    Chơi chùa Non Nước lững lờ vào ra

    Cô mười đẹp tựa Hằng Nga

    Hằng Nga kém sắc, Tây Thi kém tài

    Trên ngàn có một không hai

    Khi xưa Cô vốn là người thần tiên

    Hôm nay loan giá về đền

    Vâng lệnh Mẫu truyền cứu độ trần gian

    Gió đưa hoa huệ thơm lành

    Giẻo tay Cô ngắt một cành phong lan

    Cô đi dưới ánh trăng vàng

    Dơ tay che nắng, nắng tràn khe tay

    Gió đưa tà áo tung bay

    Làn môi tươi thắm, lông mày kẻ cong

    Cô hái hoa cúc màu vàng

    Cài lên trên tóc mà lòng Cô vui

    Trầu cau làm đẹp đôi môi

    Rượu cần làm đẹp giáng người thần tiên

    Hôm nay loan giá về đền

    Mẫu yêu vì nét Tiên Cô mặn mà

    Hôm nay giá ngự đền trung

    Cuông phù đệ tử hưng long thọ trường.”

    【#7】Huyền Tích Linh Sơn Thánh Mẫu Núi Bà Đen

    Cũng theo các bậc kỳ lão, tên gọi núi gắn liền với những giai thoại ly kỳ của Bà Đen, người được vua Gia Long phong thánh hiệu “Linh Sơn Thánh Mẫu”.

    Ngày nay, cứ đến dịp rằm tháng giêng (âm lịch) hàng năm, cả triệu lượt khách hành hương khắp nơi tìm về núi Bà Đen để viếng, bái Linh Sơn Thánh Mẫu.

    Trèo núi cấm không được kêu… mệt!

    Ngày nay, con đường bộ lên núi được đầu tư xây dựng một cầu thang dựng đứng, đi vòng vèo quanh những tảng đá từ chân núi lên đến chùa. Chỉ cần mất 1 giờ để leo đến Điện Bà. Trước năm 1975, khách thập phương muốn lên chùa phải leo trèo qua những tảng đá dưới những tán rừng đầy thú dữ suốt nửa ngày mới đến nơi. Thuở đó, việc đi viếng Bà là cả một chuyến phiêu lưu, mạo hiểm đúng cả nghĩa bóng lần nghĩa đen. Dù vậy, danh tiếng linh thiêng, cứ đến rằm tháng Giêng (âm lịch) hàng năm, khách thập phương vẫn lũ lượt leo núi viếng Bà.

    Một góc chùa ngày thường.

    Hồi đó, có một giao ước bất thành văn rằng: Khi leo núi cấm thốt tiếng “mệt”. Những đoàn người hì hục leo núi, thỉnh thoảng hỏi nhau: “Mệt không?” Cả đoàn người phải đồng thanh hô lớn: “Khỏe!”, mặc dù ai cũng thở ra đằng tai. Tiếng hô “khỏe” lan truyền từ người mới đến chân núi lan dài đến người leo đến gần Điện Bà thành một thứ âm thanh vang dội núi rừng.

    Cho đến tận ngày nay giao ước này vẫn tồn tại. Họ tin rằng, đi viếng mà than thở mệt nhọc, sẽ không được Bà ban điều khấn xin, thậm chí còn gặp nguy hiểm khi leo núi?

    Bà Hai Đông, 82 tuổi, là cựu giáo viên thời Pháp, cư ngụ ở Tân Trung, ven Tỉnh lộ 793 dưới chân núi, giải thích: “Hồi kháng Pháp, đường lên núi không chỉ cheo leo hiểm trở, tăm tối mà còn đầy cọp, beo, rắn, rết. Người hành hương không dám đi lẻ một mình mà phải kết thành từng đoàn. Hồi còn thiếu nữ, chính tôi từng đi xem xác người bị cọp núi Bà vồ. Muốn đi vía Bà, đoàn người hành hương phải đi từ sáng tinh mơ mới kịp trở về chân núi trước khi trời tối.

    Việc hô “khỏe” của các đoàn hành hương có nhiều lợi ích. Thứ nhất, họ tự khích lệ quyết tâm vượt qua cơn mệt nhọc và nỗi sợ hãi để đi đến nơi về thật sớm. Thứ hai, các thành viên của đoàn sẽ không lạc nhau. Thứ ba, việc hô to như vậy sẽ xua đuổi thú dữ. Lâu dần, việc hô như vậy thành lệ, truyền sang đời sau và biến thành niềm tin tâm linh là Bà cấm than mệt khi đi viếng Bà?”

    Bà Hai Đông còn cho biết, ngày xưa Bà Đen nổi tiếng linh thiêng chỉ 2 phép: Phát duyên và phát vận. Căn cứ vào đó, hầu hết người đi viếng Bà chỉ cầu xin được tình duyên và gặp vận may. Các phép khác, Bà không ban.

    Truyền thuyết về Bà Đen

    Có đến 3 truyền thuyết về Bà Đen.

    Truyền thuyết thứ nhất cho rằng, ngày xưa, chủ vùng núi này là người phụ nữ Phù Nam có tên là Rê Đeng. Do người đời sau đọc trại thành Đen.

    Truyền thuyết thứ hai cho rằng, bà Đen tên thật là Lý Thị Thiên Hương, con gái một vị quan trấn nhậm Trảng Bàng thuộc triều Nguyễn tên là Lý Thiên. Mẹ là bà Ðặng Ngọc Phụng, người gốc ở Bình Ðịnh vào Trảng Bàng lập nghiệp.

    Trong làng có chàng trai Lê Sĩ Triệt, mồ côi cha mẹ, được một nhà sư nuôi dạy từ nhỏ, văn hay võ giỏi.

    Lần nọ, Thiên Hương lên núi cúng chùa bị một đám côn đồ vây bắt. Giữa lúc nguy khốn thì chàng Lê Sĩ Triệt xông ra đánh đuổi, cứu được nàng. Ðể đáp ơn chàng, cha mẹ nàng Thiên Hương hứa gả nàng cho Lê Sĩ Triệt. Chưa kịp đám cưới thì Lê Sĩ Triệt phải tòng quân đánh Tây Sơn.

    Khi Lê Sỹ Triệt tòng quân, ở nhà Lý Thị Thiên Hương bị kẻ xấu vây bắt, toan hãm hiếp. Giữ lòng trung trinh, nàng Hương nhảy xuống khe núi tử tiết. Sau khi chết, nàng Lý Thị Thiên Hương hiển thánh báo mộng cho vị sư trụ trì trên núi biết. Trong mộng, nàng Hương xuất hiện trong hình dáng một người phụ nữ đen đúa? Vị sư bèn đi tìm thi thể nàng đem về mai táng. Vì vậy, vị sư gọi nàng là nàng Đen. Người đời sau gọi là Bà Đen để tỏ lòng tôn kính.

    Khi nàng Đênh 13 tuổi, có một nhà sư tên là Trung Vân Danh, đạo hiệu Trừng Thanh tìm đến lưng chừng núi Một dựng chùa, thờ Phật và hoằng pháp độ sanh.

    Mộ đạo, nàng Đênh đã xin theo nhà sư Trừng Thanh học đạo. Thấy nàng Đênh xinh đẹp, quan trấn thủ Trảng Bàng cho người mai mối xin cưới cho con trai. Khi hai gia đình chuẩn bị lễ vật cho lễ cưới thì bất ngờ nàng mất tích. Gia đình hai bên cho người tìm kiếm khắp nơi thì phát hiện một khúc chân nghi là của nàng Đênh. Mọi người đồn đoán rằng nàng Đênh đã bị cọp vồ. Gia đình mai táng khúc chân và lập mộ cho nàng dưới chân núi.

    Từ đó, người ta gọi ngọn núi Một là núi Bà Đênh, đọc trại dần thành Bà Đen?

    Khi chúa Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn đánh đuổi, chạy đến núi Bà Đen lẩn tránh. Thiếu lương thực, từ vua đến lính đều đói lả. Nghe dân cư đồn về sự linh thiêng của bà Đen, trong cơn tuyệt vọng, chúa Nguyễn Ánh đã cầu khẩn xin phò trợ. Đêm đó, bà Đênh xuất hiện trong mộng của chúa Nguyễn Ánh. Bà cho biết Nguyễn Ánh đang nằm ngủ dưới gốc một loại cây cho trái có thể cứu đói binh sĩ.

    Khi thức giấc chúa Nguyễn Ánh trông thấy trên cành cây mình đang nằm ngủ có nhiều quả nhỏ chi chít. Hái xuống ăn thử thì có vị rất ngon. Ông truyền cho binh sĩ hái loại quả ấy ăn lót dạ. Ông đã đặt tên cho loại quả ấy là “tùng quân”.

    Năm 1790, Nguyễn Ánh đưa binh lính quay lại núi đúc tượng, cất lại điện thờ. Sau đó phong sắc Linh Sơn Điện và phong Bà là Linh Sơn Thánh Mẫu.

    Từ thuở khai hoang

    Ngày nay, sau nhiều lần trùng tu, xây mới, trên nền xưa của Linh Sơn Tự hiện diện một ngôi chùa khang trang có tên gọi là Linh Sơn Tiên Thạch Tự vừa thờ Phật vừa thờ Bà Đen. Sự giao thoa tín ngưỡng mặc nhiên đó đã được người dân chấp nhận.

    Căn cứ vào các nguồn sử liệu của Quốc Sử quán triều Nguyễn thì Vua Gia Long phong sắc cho Bà Đen. Điều đó có nghĩa là truyền thuyết về Bà Đen có trước khi Nguyễn Ánh vào núi lánh nạn Tây Sơn.

    Và cũng có nghĩa là điện thờ Bà Đen có tên gọi chính thức là Linh Sơn Điện. Như vậy, Linh Sơn Điện là vị trí của ngôi chùa Thượng. Còn một hang đá do các vị sư chi phái Liễu Quán (thuộc phái Lâm Tế Chánh Tông) làm nơi ẩn cư niệm Phật, được gọi là Linh Sơn Thạch Động Tự hoặc chùa Hang.

    Điện thờ Bà mang tín ngưỡng thờ Mẫu. Còn ngôi chùa là tín ngưỡng Phật giáo ẩn cư của chi phái Liễu Quán (Lâm Tế).

    Trở lại lịch sử, vào thế kỷ thứ XVIII, khi các chúa Nguyễn mở rộng bờ cõi về phía Nam thì một số cao tăng thuộc Thiền phái Liễu Quán cũng theo làn sóng di cư xuôi Nam đi tìm chốn non hoang, động vắng tu pháp.

    Năm 1763, Thiền sư Ðạo Trung Thiện Hiếu là đệ tử của Thiền sư Ðại Cơ và thuộc đời thứ tư của chi phái Liễu Quán tìm đến hang đá hoang vu trên núi Bà làm nơi định thiền. Đó chính là chùa Hang.

    Lúc đó Thiền sư Đạo Trung đã nhặt được một số tượng đồng cổ. Trong đó có một tượng thánh nữ bằng đồng màu đen. Vị sư đã cất miếu hương khói cho bức tượng này.

    Thuở đó đã có cư dân Việt và Cao Miên sinh sống dưới chân núi. Họ gọi Thiền sư Đạo Trung là “sư Bưng Đĩa” (Vì quan sát thấy Thiền sư thường nâng đĩa đựng hoa quả cúng tổ). Sau khi ẩn tu ở hang đá suốt 30 năm, Thiền sư Đạo Trung giao thạch điện cho đệ tử là Thiền sư Tính Thiện (tức Tánh Thiện Thanh Thanh). Thiền sư Đạo Trung về Thủ Dầu Một (Bình Dương) khai môn chùa Long Hưng. Kế nghiệp Thiền sư Tính Thiện là Thiền sư Hải Hiệp Từ Tạng.

    Năm 1784, Nguyễn Ánh vào núi lánh nạn Tây Sơn. Năm 1790, Nguyễn Ánh sắc phong Linh Sơn Thánh Mẫu. Năm 1820, Vua Minh Mạng cử Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn Gia Định Thành lần thứ 2. Và một lần nữa, Vua Minh Mạng ban sắc phong Linh Sơn Thánh Mẫu cho Bà Đen. Vua Minh Mạng còn ban chỉ cho Lê Văn Duyệt xây cất ngôi Linh Sơn Điện khang trang hơn.

    Sau khi xây cất linh điện xong, Tổng trấn Lê Văn Duyệt đã giao cho Thiền sư Hải Hiệp gìn giữ. Tín ngưỡng thờ Mẫu và Phật hợp nhất trong một ngôi điện thờ.

    Năm 1857, Thiền sư Tánh Thọ Phước Chí từ chùa Phước Lâm, Tây Ninh lên núi thăm viếng thì phát hiện Thiền sư Hải Hiệp viên tịch từ lúc nào, thân xác đã hóa thổ. Điều lạ là, ngón tay út bàn tay trái của Thiền sư Hải Hiệp vẫn còn nguyên vẹn?

    Thiền sư Tánh Thọ đã đem ngón tay út của Thiền sư Hải Hiệp chôn dưới đáy chùa Hang để lập bia mộ. Gần 100 năm sau, mộ của Thiền sư Hải Hiệp được tín đồ cải táng ra ngoài xây tháp. Khi đào lên, ngón tay út vẫn còn nguyên và được cải táng?

    Sau khi chôn cất ngón tay cho sư phụ, Thiền sư Tánh Thọ tiếp tục tu hành tại Linh Sơn Điện.

    Sau năm 1940, quân Pháp và quân Nhật lần lượt chiếm đóng núi Bà Đen và phá hủy hoàn toàn Linh Sơn Điện. Tượng Bà bằng đồng, màu đen bị chúng cướp và thất lạc.

    Mãi đến năm 1956, một nhà giáo có uy tín ở địa phương, tên là Nguyễn Văn Hảo được một người phụ nữ đen đúa báo mộng cho biết, bà chính là Linh Sơn Thánh Mẫu. Bà bảo ông Hảo đến chùa Phước Lâm sẽ gặp bà? Ông Hảo bán tín bán nghi nhưng vẫn đến chùa Phước Lâm gặp vị sư trụ trì. Ông Hảo vừa kể xong câu chuyện nằm mơ thì vị sư trụ trì chùa Phước Lâm thất kinh xác nhận: “Một người lính Nhật đã bí mật giao cho tôi bức tượng trước khi về nước. Không ai biết chuyện này?” Câu chuyện này, được một nữ nhà giáo – con gái ruột của ông Nguyễn Văn Hảo – kể cho người viết nghe từ năm 1980.

    Ngay sau khi phát hiện bức tượng đồng Bà Đen được cất giấu ở chùa Phước Lâm, nhà sư Nguyên Chất – Trụ trì chùa Phước Lâm – cùng nhà giáo Nguyễn Văn Hảo và bạn bè lên núi xây cất lại nơi thờ Bà. Lần xây cất này, công trình được đặt tên là Linh Sơn Tự. Vào khoảng 1970, quân đội Mỹ xây dựng 1 trạm ra đa tình báo đặt trên đỉnh núi để kiểm soát địa bàn Tây Ninh và dòm vào căn cứ Trung ương Cục. Trước khi đưa quân lên núi, giặc Mỹ đã ném hàng tấn bom đạn và hơi cay các loại vào những nơi chúng nghi ngờ có quân ta trú đóng. Do giao tranh ác liệt, ngôi chùa bị cháy bởi bom napal Mỹ. Bức tượng Bà lại thất lạc lần nữa.

    Năm 1975, ni sư Diệu Nghĩa, đệ tử đời sau của sư Nguyên Chất đã xây lại chùa. Lần này, ngôi chùa có tên là Linh Sơn Tiên Thạch Tự. Năm 1992, ni sư Diệu Nghĩa đã cùng tín đồ tái thiết ngôi chùa suốt 3 năm. Ngày nay, ngôi chùa thật khang trang và rộng rãi, sẵn sàng cung nghinh khách hành hương viếng Bà, lễ Phật.

    Nông Huyền Sơn

    【#8】Đền Mẫu Âu Cơ, Ấm Áp Một Huyền Tích Xưa

    Nằm ở phía Tây của tỉnh Phú Thọ, huyện miền núi Hạ Hòa vốn là miền quê sơn thủy hữu tình, nơi xưa kia, trong huyền thoại, mẹ Âu Cơ cùng 50 người con đi khai thiên phá thạch, dạy dân trồng lúa nước, trồng dâu dệt vải.

    Theo quốc lộ 32C, men theo dòng sông Hồng, chúng tôi trở về và dừng chân tại xã Hiền Lương, nơi tọa lạc ngôi đền thờ Mẫu đúng vào thời điểm tết đến xuân về. Một phong cảnh thanh bình, trù phú hiện ra trước mắt…

    Ấm áp một huyền tích…

    Tương truyền vợ chồng Đế Lai ở động Lăng Xương (xã Trung Nghĩa, huyện Thanh Thủy ngày nay) sinh được người con gái đặt tên là Âu Cơ. Khi Âu Cơ cất tiếng khóc chào đời thì hương thơm tỏa ngát, trên trời có mây lành che chở, điềm báo “Tiên nữ giáng trần”. Lớn lên Âu Cơ ngày càng xinh đẹp, chăm đọc chữ, giỏi đàn sáo, tinh thông âm luật. Âu Cơ được Lạc Long Quân kén làm vợ và đưa về núi Nghĩa Lĩnh, sau đó sinh ra bọc trăm trứng nở ra một trăm người con trai.

    Khi các con lớn khôn, Lạc Long Quân nói với Âu Cơ: ” Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên duyên phận đến đây đã hết “. Hai người bàn định chia đôi số con để ngườilên rừng, người xuống biển nhằm gây dựng mở mang non sông bờ cõi. Lạc Long Quân đưa 50 người con về miền biển làm nghề chài lưới, Âu Cơ đưa 49 người con lên núi khai phá rừng hoang, để lại người con trưởng làm vua, 18 chi đời đều gọi Hùng Vương. Mẹ Âu Cơ cùng 49 người con lên miền ngược thấy đất Hiền Lương phong cảnh tươi đẹp, sơn thủy hữu tình nên đã chọn làm nơi dừng chân khai sơn phá thạch.

    Rồi đến một đêm, Mẹ mơ thấy Tiên ông bảo rằng: ” Ngày mai con phải đi về phương Nam gặp tiên“. Tỉnh giấc Mẹ đi về phương Nam, đến chân một trái núi nhìn lên Mẹ thấy trái núi như một ngai vàng. Bỗng Tiên ông xuất hiện tay cầm gậy, tóc trắng râu dài, xung quanh mây vần vũ. Tiên ông bảo rằng: ” Ngọc Hoàng sai con xuống hạ giới này sản sinh ra một giống người. Nay đã đông đàn dài lũ, chúng đã biết làm ăn sinh sống. Vậy đến ngày mùng 7 tháng giêng này con phải về trời theo lệnh vua cha nghe con, trước khi về trời lên núi Nỏ ta cho người đón “. Nói rồi, Tiên hòa vào đám mây biến mất. Mẹ Âu Cơ bỗng bừng tỉnh, bà thắp một nén nhang và quay về nơi ở.

    Nay dãy núi đó gọi là núi Ông (Thuộc địa phận xã Xuân Áng- Hạ Hòa- Phú Thọ). Rồi đến tết năm đó, Mẹ cho gọi đông đủ con cháu trong vùng về ăn tết, thật vui vẻ, thật to với nhiều trò chơi hấp dẫn. Sáng ngày mùng 7 tháng giêng, Mẹ Âu Cơ dặ các con ở nhà chăm chỉ làm ăn và phải thương yêu lấy nhau, Mẹ lên núi ít ngày hái thuộc.

    Thế rồi, Mẹ đi theo hướng Tây lên núi Nỏ, gặp một khe đá, mẹ đi ngược theo triền đá, khi mặt trời lên bằng lẩy, Mẹ cũng vừa thấm mệt, bỗng nghe thấy có tiếng rúc rích cười. Thì ra là một bầy tiên nữ đã mang xiêm váy xuống đón mẹ. Một tiên nữ quỳ lạy trước Mẹ thưa rằng: ” Chúng con tuân lệnh Ngọc Hoàng về đây đón Mẹ. Mời Mẹ xuống ao tắm và thay váy áo để về trời cho kịp”.

    Các tiên đã đem cả áo từ trời xuống cho Mẹ tắm và thay. Dòng nước Mẹ Âu Cơ tắm chảy xuống chân núi, tạo thành một con suối. Người đời sau gọi đó là Ao Trời- Suối Tiên là như vậy (Ngày nay thắng cảnh này thuộc địa phận xã Quân Khê- Hạ Hòa- Phú Thọ).

    Sau khi thay xiêm áo, Mẹ giữ lại dải lụa đào và ngước nhìn về phía chân núi xa xa. Nơi đó Mẹ đã nuôi dạy cháu con và gắn bó cả cuộc đời. Khi theo các tiên nữ bay về trời, Mẹ Âu Cơ cố bay lượn thật thấp để nhìn thấy cháu con và nơi ở lần cuối. Bất thần, Mẹ thả dải khăn đào xuống như để lại tình thương yêu vô bờ cho con cháu.

    Con cháu đang vui chơi, bỗng trời tối sầm, bão tố nổi lên. Rồi một dải lụa đào bay lượn trên không, bay mãi rồi từ từ rơi xuống ôm lấy cả ngôi nhà và đàn cháu con đang nhảy múa. Ai cũng hiểu: Mẹ đã về trời ! Đàn con thắp nhang cầu nguyện cho Mẹ rồi họ gập dải khăn của Mẹ đặt lên bàn thơ. Tại đây, sau này con cháu đã dựng đền thờ Mẹ. Từ đó đến nay, dân trong vùng cứ đến mùng 7 tháng giêng lại làm lễ linh đình, tưởng nhớ Mẹ tại đền Mẫu Âu Cơ và bao giờ cũng đem dải lụa đào trải trên ngọn cây đa cổ thụ tại đền để ghi nhớ công ơn cao dầy của Mẹ Âu Cơ.

    Đền Quốc Mẫu nằm ở giữa cánh đồng lúa phì nhiêu của xã Hiền Lương, ven quốc lộ 32C. Ngôi đền tọa lạc dưới gốc đa cổ thụ quanh năm xanh tốt. Xưa kia, ngôi đền được nhân dân xã Hiền Lương xây bằng chất liệu mật mía, trải qua chiến tranh, ngôi đền vẫn không hề bị phá hủy. Ngày nay, đền được xây dựng và tu bổ khang trang hơn, là nơi để du khách thập phương viếng thăm. Đền Mẫu Âu Cơ mãi là nơi hội tụ những huyền tích về người Mẹ của muôn dân đất Việt, là điểm đến tâm linh trong hành trình về cội nguồn.

    Du khách thập phương về chiêm bái đền Mẫu Âu Cơ vào tháng giêng hằng năm.

    Tưng bừng lễ hội tri ân Quốc Mẫu

    Hằng năm, cứ vào dịp tết Nguyên đán, đất trời Hiền Lương (Hạ Hòa- Phú Thọ) lại dậy lên một không khí linh thiêng và bao điều huyền thoại về truyền thuyết Mẫu Âu Cơ dừng chân nơi đây sinh cơ lập ấp trong hành trình đưa 50 người con đi “khai thiên phá thạch”.

    Từ bao đời nay, người dân Hiền Lương huyện Hạ Hòa tổ chức trang trọng lễ hội đền Mẫu Âu Cơ vào mùng 7 tháng giêng. Ngày lễ chính của Đền Âu Cơ là ngày “Tiên giáng” mùng bảy tháng giêng, ngoài ra trong năm còn có các ngày lễ khác là ngày 10-11 tháng 2, ngày 12 tháng 3, ngày 13 tháng 8, ngày “Tiên thăng” 25 tháng Chạp. Đây là dịp để muôn dân đất Việt và du khách thập phương hướng về cội nguồn. Điều đặc biệt trong lễ hội đền Mẫu là các phong tục và hoạt động đều gắn liền với văn hóa trồng lúa nước của người dân bản địa nơi đây.

    Xưa kia, trong huyền tích, Mẹ Âu Cơ dừng chân tại Hiền Lương lập sơn trang, dạy dân trồng lúa nước, trồng dâu nuôi tằm và dệt vải. Chính vì vậy, lễ vật dâng lên Mẫu Mẹ cũng gắn liền với sự trù phú của đời sống nông nghiệp ở vùng này. Để làm các lễ vật dâng lên Mẹ, đến gần ngày lễ, người dân Hiền Lương bơi thuyền ra giữa sông Hồng, chọn nơi nước trong nhất múc nước về để chế biến các thứ bánh và lễ dâng Quốc Mẫu. Nghi thức này được người dân tổ chức trang trọng và thiêng liêng.

    Trăm thứ bánh làm nên thơm thảo, người dân quanh vùng Hiền Lương tấp nập làm bánh ngọt để dâng lên Mẫu Mẹ. Bánh được làm bằng bột gạo nếp thơm và mật mía ngon, nhào kỹ rồi lăn thành hình tròn dài, cắt thành từng đoạn như đốt tre hấp chín. Một trăm cầu bánh ngọt cùng với xôi nếp, chè lam, 100 phẩm oản bằng xôi nếp, hoa thơm là lễ vật dâng lên Mẫu Mẹ Âu Cơ vào ngày chính lễ. Lễ chỉ dùng đồ chay để dâng Mẫu chứ không dùng đồ mặn.

    Sáng mùng bảy tháng giêng, cờ xí rợp trời, trống chiêng vang lừng, hương trầm lan tỏa khắp nơi, dải lụa đào hồng tung bay trên ngọn đa, người người tụ về bên gốc đa già để mở hội. Đúng giờ thìn từ bảy giờ đến chín giờ, đám rước từ đình đến đền Mẫu đến sân đền. Đội rước này là nam giới, đi đầu là những lá cờ thần, sau kiệu là những vị chức sắc, các bô lão mặc áo thụng xanh, áo dài khăn xếp rồi đến dân làng đi trẩy hội.

    Đến sân đền chính, đội tế nữ gồm 12 cô gái thanh tân có nhan sắc và học vấn tiến hành nghi lễ tế. 12 cô gái mặc áo dài đủ các màu, đầu đội khăn kim tuyến, chân đi hài thêu, thắt lưng lụa, chủ lễ mặc hoàn toàn màu đỏ. Sau nghi lễ tế, hội diễn ra với nhiều hoạt động bằng các trò chơi dân tộc như đu tiên, đánh cờ người, chọi gà, tổ tôm…cùng các hoạt động người dân dâng sớ, thắp hương cầu khấn Mẫu Mẹ.

    Đền Mẫu Âu Cơ và lễ hội là dịp, là nơi để con dân bách Việt hướng về cội nguồn, tri ân công đức của Quốc Mẫu Âu Cơ, nhân lên đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Để rồi, người dân Hiền Lương còn truyền nhau mãi câu ca: ” Anh em Bách Việt ta ơi !/ Ngày xuân thong thả tới nơi xem tường/Dân ngày hội tế Mẫu Vương/ Người sinh ra tổ Hùng Vương nước nhà”…

    【#9】Về Thăm Đền Mẫu Âu Cơ

    Nằm ở phía Tây của tỉnh Phú Thọ, huyện miền núi Hạ Hòa vốn là miền quê sơn thủy hữu tình, nơi xưa kia, trong huyền thoại, mẹ Âu Cơ cùng 50 người con đi khai thiên phá thạch, dạy dân trồng lúa nước, trồng dâu dệt vải. Theo quốc lộ 32C, men theo dòng sông Hồng, chúng tôi trở về và dừng chân tại xã Hiền Lương, nơi tọa lạc ngôi đền thờ Mẫu. Một phong cảnh thanh bình, trù phú hiện ra trước mắt…

    Tương truyền vợ chồng Đế Lai ở động Lăng Xương (xã Trung Nghĩa, huyện Thanh Thủy ngày nay) sinh được người con gái đặt tên là Âu Cơ. Khi Âu Cơ cất tiếng khóc chào đời thì hương thơm tỏa ngát, trên trời có mây lành che chở, điềm báo “Tiên nữ giáng trần”. Lớn lên Âu Cơ ngày càng xinh đẹp, chăm đọc chữ, giỏi đàn sáo, tinh thông âm luật. Âu Cơ được Lạc Long Quân kén làm vợ và đưa về núi Nghĩa Lĩnh, sau đó sinh ra bọc trăm trứng nở ra một trăm người con trai. Khi các con lớn khôn, Lạc Long Quân nói với Âu Cơ: ” Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên duyên phận đến đây đã hết “. Hai người bàn định chia đôi số con để ngườilên rừng, người xuống biển nhằm gây dựng mở mang non sông bờ cõi. Lạc Long Quân đưa 50 người con về miền biển làm nghề chài lưới, Âu Cơ đưa 49 người con lên núi khai phá rừng hoang, để lại người con trưởng làm vua, 18 chi đời đều gọi Hùng Vương. Mẹ Âu Cơ cùng 49 người con lên miền ngược thấy đất Hiền Lương phong cảnh tươi đẹp, sơn thủy hữu tình nên đã chọn làm nơi dừng chân khai sơn phá thạch.

    Rồi đến một đêm, Mẹ mơ thấy Tiên ông bảo rằng: ” Ngày mai con phải đi về phương Nam gặp tiên “. Tỉnh giấc Mẹ đi về phương Nam, đến chân một trái núi nhìn lên Mẹ thấy trái núi như một ngai vàng. Bỗng Tiên ông xuất hiện tay cầm gậy, tóc trắng râu dài, xung quanh mây vần vũ. Tiên ông bảo rằng: ” “. Nói rồi, Tiên hòa vào đám mây biến mất. Mẹ Âu Cơ bỗng bừng tỉnh, bà thắp một nén nhang và quay về nơi ở. Nay dãy núi đó gọi là núi Ông (Thuộc địa phận xã Xuân Áng- Hạ Hòa- Phú Thọ). Rồi đến tết năm đó, Mẹ cho gọi đông đủ con cháu trong vùng về ăn tết, thật vui vẻ, thật to với nhiều trò chơi hấp dẫn. Sáng ngày mùng 7 tháng giêng, Mẹ Âu Cơ dặ các con ở nhà chăm chỉ làm ăn và phải thương yêu lấy nhau, Mẹ lên núi ít ngày hái thuộc. Thế rồi, Mẹ đi theo hướng Tây lên núi Nỏ, gặp một khe đá, mẹ đi ngược theo triền đá, khi mặt trời lên bằng lẩy, Mẹ cũng vừa thấm mệt, bỗng nghe thấy có tiếng rúc rích cười. Thì ra là một bầy tiên nữ đã mang xiêm váy xuống đón mẹ. Một tiên nữ quỳ lạy trước Mẹ thưa rằng: ” Ngọc Hoàng sai con xuống hạ giới này sản sinh ra một giống người. Nay đã đông đàn dài lũ, chúng đã biết làm ăn sinh sống. Vậy đến ngày mùng 7 tháng giêng này con phải về trời theo lệnh vua cha nghe con, trước khi về trời lên núi Nỏ ta cho người đón Chúng con tuân lệnh Ngọc Hoàng về đây đón Mẹ. Mời Mẹ xuống ao tắm và thay váy áo để về trời cho kịp”.

    Các tiên đã đem cả áo từ trời xuống cho Mẹ tắm và thay. Dòng nước Mẹ Âu Cơ tắm chảy xuống chân núi, tạo thành một con suối. Người đời sau gọi đó là Ao Trời- Suối Tiên là như vậy (Ngày nay thắng cảnh này thuộc địa phận xã Quân Khê- Hạ Hòa- Phú Thọ). Sau khi thay xiêm áo, Mẹ giữ lại dải lụa đào và ngước nhìn về phía chân núi xa xa. Nơi đó Mẹ đã nuôi dạy cháu con và gắn bó cả cuộc đời. Khi theo các tiên nữ bay về trời, Mẹ Âu Cơ cố bay lượn thật thấp để nhìn thấy cháu con và nơi ở lần cuối. Bất thần, Mẹ thả dải khăn đào xuống như để lại tình thương yêu vô bờ cho con cháu.

    Con cháu đang vui chơi, bỗng trời tối xầm, bão tố nổi lên. Rồi một dải lụa đào bay lượn trên không, bay mãi rồi từ từ rơi xuống ôm lấy cả ngôi nhà và đàn cháu con đang nhảy múa. Ai cũng hiểu: Mẹ đã về trời ! Đàn con thắp nhang cầu nguyện cho Mẹ rồi họ gập dải khăn của Mẹ đặt lên bàn thơ. Tại đây, sau này con cháu đã dựng đền thờ Mẹ. Từ đó đến nay, dân trong vùng cứ đến mùng 7 tháng giêng lại làm lễ linh đình, tưởng nhớ Mẹ tại đền Mẫu Âu Cơ và bao giờ cũng đem dải lụa đào trải trên ngọn cây đa cổ thụ tại đền để ghi nhớ công ơn cao dầy của Mẹ Âu Cơ.

    Đền Quốc Mẫu nằm ở giữa cánh đồng lúa phì nhiêu của xã Hiền Lương, ven quốc lộ 32C. Ngôi đền tọa lạc dưới gốc đa cổ thụ quanh năm xanh tốt. Xưa kia, ngôi đền được nhân dân xã Hiền Lương xây bằng chất liệu mật mía, trải qua chiến tranh, ngôi đền vẫn không hề bị phá hủy. Ngày nay, đền được xây dựng và tu bổ khang trang hơn, là nơi để du khách thập phương viếng thăm. Đền Mẫu Âu Cơ mãi là nơi hội tụ những huyền tích về người Mẹ của muôn dân đất Việt, là điểm đến tâm linh trong hành trình về cội nguồn.

    Hằng năm, cứ vào dịp tết Nguyên đán, đất trời Hiền Lương (Hạ Hòa- Phú Thọ) lại dậy lên một không khí linh thiêng và bao điều huyền thoại về truyền thuyết Mẫu Âu Cơ dừng chân nơi đây sinh cơ lập ấp trong hành trình đưa 50 người con đi “khai thiên phá thạch”.

    Từ bao đời nay, người dân Hiền Lương huyện Hạ Hòa tổ chức trang trọng lễ hội đền Mẫu Âu Cơ vào mùng 7 tháng giêng. Ngày lễ chính của Đền Âu Cơ là ngày “Tiên giáng” mùng bảy tháng giêng, ngoài ra trong năm còn có các ngày lễ khác là ngày 10-11 tháng 2, ngày 12 tháng 3, ngày 13 tháng 8, ngày “Tiên thăng” 25 tháng Chạp. Đây là dịp để muôn dân đất Việt và du khách thập phương hướng về cội nguồn. Điều đặc biệt trong lễ hội đền Mẫu là các phong tục và hoạt động đều gắn liền với văn hóa trồng lúa nước của người dân bản địa nơi đây. Xưa kia, trong huyền tích, Mẹ Âu Cơ dừng chân tại Hiền Lương lập sơn trang, dạy dân trồng lúa nước, trồng dâu nuôi tằm và dệt vải. Chính vì vậy, lễ vật dâng lên Mẫu Mẹ cũng gắn liền với sự trù phú của đời sống nông nghiệp ở vùng này. Để làm các lễ vật dâng lên Mẹ, đến gần ngày lễ, người dân Hiền Lương bơi thuyền ra giữa sông Hồng, chọn nơi nước trong nhất múc nước về để chế biến các thứ bánh và lễ dâng Quốc Mẫu. Nghi thức này được người dân tổ chức trang trọng và thiêng liêng. Trăm thứ bánh làm nên thơm thảo, người dân quanh vùng Hiền Lương tấp nập làm bánh ngọt để dâng lên Mẫu Mẹ. Bánh được làm bằng bột gạo nếp thơm và mật mía ngon, nhào kỹ rồi lăn thành hình tròn dài, cắt thành từng đoạn như đốt tre hấp chín. Một trăm cầu bánh ngọt cùng với xôi nếp, chè lam, 100 phẩm oản bằng xôi nếp, hoa thơm là lễ vật dâng lên Mẫu Mẹ Âu Cơ vào ngày chính lễ. Lễ chỉ dùng đồ chay để dâng Mẫu chứ không dùng đồ mặn.

    Đền Mãu tại Xã Hiền Lương, Hạ Hòa, Phú Thọ.

    Sáng mùng bảy tháng giêng, cờ xí rợp trời, trống chiêng vang lừng, hương trầm lan tỏa khắp nơi, dải lụa đào hồng tung bay trên ngọn đa, người người tụ về bên gốc đa già để mở hội. Đúng giờ thìn từ bảy giờ đến chín giờ, đám rước từ đình đến đền Mẫu đến sân đền. Đội rước này là nam giới, đi đầu là những lá cờ thần, sau kiệu là những vị chức sắc, các bô lão mặc áo thụng xanh, áo dài khăn xếp rồi đến dân làng đi trẩy hội.

    Đến sân đền chính, đội tế nữ gồm 12 cô gái thanh tân có nhan sắc và học vấn tiến hành nghi lễ tế. 12 cô gái mặc áo dài đủ các màu, đầu đội khăn kim tuyến, chân đi hài thêu, thắt lưng lụa, chủ lễ mặc hoàn toàn màu đỏ. Sau nghi lễ tế, hội diễn ra với nhiều hoạt động bằng các trò chơi dân tộc như đu tiên, đánh cờ người, chọi gà, tổ tôm…cùng các hoạt động người dân dâng sớ, thắp hương cầu khấn Mẫu Mẹ.

    Đền Mẫu Âu Cơ và lễ hội là dịp, là nơi để con dân bách Việt hướng về cội nguồn, tri ân công đức của Quốc Mẫu Âu Cơ, nhân lên đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Để rồi, người dân Hiền Lương còn truyền nhau mãi câu ca: ” Anh em Bách Việt ta ơi !/ Ngày xuân thong thả tới nơi xem tường/Dân ngày hội tế Mẫu Vương/ Người sinh ra tổ Hùng Vương nước nhà”…

    Nguyễn Thế Lượng Trường THPT Hạ Hòa- Phú Thọ

    【#10】Sự Tích Và Bài Văn Khấn Đền Mẫu Cửu Trùng Thiên【Phúc An】

    Sự tích và bài văn khấn tại đền thánh Mẫu Cửu Trùng Thiên

    02 tháng 3, 2021

    Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên còn có các danh hiệu khác như Mẫu thượng thiên, Thiên Thanh công chúa, Thanh Vân công chúa, Cửu trùng thánh Mẫu (Mẫu Cửu), Lục Cung vương Mẫu, Mão Dậu Công Chúa.

    Hương tử chúng con thành tâm kính lạy Đức Hiệu Thiên chí kim quyết Ngọc Hoàng Huyền cung cao Thượng đế.

    Kính lạy Đức Cửu Trùng Thanh Vân lục cung công chúa.

    Kính lạy Đức thiên tiên Quỳnh Hoa Liễu Hạnh Mã Hoàng công chúa, sắc phong Chế Thắng Hòa Diệu đại vương, gia phong Tiên Hương Thánh mẫu.

    Kính lạy Đức đệ nhị đỉnh thượng cao sơn triều mường Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương.

    Kính lạy Đức đệ tam Thủy Phủ, Lân nữ công chúa.

    Kính lạy Đức đệ tứ khâm sai Thánh mẫu, tứ vị Chầu bà, năm toà quan lớn, mười dinh các quan, mười hai Tiên cô, mười hai Thánh cậu, ngũ hổ Đại tướng, Thanh Hoàng Bạch xà đại tướng.

    Tài như nước đến, lộc như mây về, bốn mùa không hạn ách nào xâm, tám tiết có phúc lành tiếp ứng.

    Lại xin: Thể đức hiếu sinh, rủ lòng cứu độ, khiến cho chúng con như ý sở cầu, cho hương tử tòng tâm sở nguyện.

    Dãi tấm lòng thành, cúi xin chứng giám.

    Nhiều ý kiến cho rằng Cửu trùng thánh Mẫu được đồng nhất với Cửu Thiên Huyền nữ (bên Trung Hoa), Cửu thiên huyền nữ bên Trung Hoa được xây dựng với một hình tượng nữ thần linh thiêng với các sự tích kỳ bí.

    Còn trong tâm linh người Việt Mẫu Cửu trùng thanh vân là vị Thánh Mẫu ngự nơi 9 tầng mây, là vị nữ thần quyền hành cai quản thiên cung, cai quản Lục cung sáu viện (Lục cung Vương Mẫu).

    Ngoài ra Mẫu Cửu Trùng Thanh Vân còn có danh hiệu khác là Bán Thiên Công Chúa ( Mẫu Bán Thiên). Hầu hết các Đền, Phủ hay những Điện thờ tại gia đều có ban thờ Mẫu bán thiên ngoài trời.

    Ý kiến khác về Mẫu Cửu Trùng Thiên

    Mẫu Cửu Trùng Thiên đã có vào thời vua Hùng Kinh Dương Vương giúp Hữu Hùng Thị đánh giặc ác chúa tên là Xuy Vưu.

    Nhưng có ý kiến cho rằng Mẫu Cửu Trùng Thiên chính là Cửu Thiên Huyền Nữ bên Trung Quốc. Tuy nhiên, Cửu Thiên Huyền Nữ là một nữ thần với hình tượng linh thiêng huyền bí. Mẫu Cửu lại là nữ thần cai quản thiên đình trên chín tầng mây. Như vậy, có thể nói Mẫu Cửu Trùng Thiên là vị nữ thần của riêng Việt Nam chứ không phải của Trung Quốc.

    Đền Mẫu là một ngôi đền cổ kính uy nghi nằm trên một quả núi, gần chợ Đồng Đăng. Đền Mẫu Đồng Đăng còn có tên “Đồng Đăng linh tự”, là nơi thờ Phật và Mẫu Bán thiên. Đây là một trong những nơi thờ tự nổi tiếng trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt Nam.

    Đền Mẫu nằm ở trung tâm thị trấn Đồng Đăng thuộc huyện Cao Lộc tỉnh Lạng Sơn, cách cửa khẩu Hữu Nghị 4km. Đây là ngôi đền lớn có giá trị đặc biệt về kiến trúc, tín ngưỡng tôn giáo và lịch sử, là nơi nhân dân các dân tộc trong tỉnh, du khách trong nước và quốc tế đến để thờ cúng, sinh hoạt văn hóa tâm linh, nguyện cầu sự che chở của các đấng linh thiêng cho cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc, qua đó gắn kết tinh thần cộng đồng và giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

    Đền thờ chính của Mẫu Cửu Trùng Thiên ở những đâu khác ?

    Tại thô Bằng Sở, xã Ninh Sở, Thường Tín Hà Nội có một ngôi đền tên gọi: Đền Mẫu Cửu Trùng. Đền có từ lâu đời nhưng có từ thời nào thì chưa rõ.

    – Tại đền Cô Chín Sòng Sơn thì tại Cung Cấm là thờ Mẫu Cửu Trùng Thiên.

    – Tại Đền Rồng – Thanh Hóa cũng có môt cung thờ Mẫu Cửu Trùng Thiên.

    – Đền Mẫu Cửu Trùng nằm ở Thôn Bằng Sở, xã Ninh Sở, Thường Tín, Hà Nội.

    – Tượng Mẫu Cửu Trùng Thiên tại Ba Vì.

    MẪU CỬA TRÙNG THIÊN ĐƯỢC THỜ NHƯ THẾ NÀO?

    Lễ Mẫu vào ngày mùng 9 tháng 9. Ngày tiệc của Mẫu Cửu Trùng Thiên cũng được tổ chức ngày này luôn.

    Như trên đã nói Tam Tòa Thánh Mẫu thường không có Mẫu Cửu Trùng Thiên. Mẫu Cửu Trung Thiên thường được thờ ngoài trời với tên ban Mẫu Cửu Trùng Thiên hoặc ban Mẫu bán Thiên. Thường ở các đền phủ đều có ban thờ Mẫu Cửu Trùng Thiên ở ngoài trời.

    Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên là thánh mẫu cai quản 9 tầng trời bao gồm :

    Tầng Trời thứ 1: trên từng Trời nầy có Vườn Ngạn Uyển do Nhứt Nương DTC cai quản.

    Tầng Trời thứ 2: trên từng Trời nầy có Vườn Ðào Tiên của Ðức Phật Mẫu do Nhị Nương cai quản.

    Tầng Trời thứ 3: tên gọi là Thanh Thiên.

    Tầng Trời thứ 4: Huỳnh Thiên.

    Tầng Trời thứ 5: Xích Thiên.

    Tầng Trời thứ 6: Kim Thiên.

    Tầng Trời thứ 7: Hạo Nhiên Thiên, do Ðức Chuẩn Ðề Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát cai quản.

    Tầng Trời thứ 8: Phi Tưởng Thiên, do Ðức Từ Hàng Bồ Tát cai quản.

    Tầng Trời thứ 9: Tạo Hóa Thiên, do Ðức Phật Mẫu cai quản và Ðức Phật Mẫu chưởng quản tất cả 9 từng Trời của Cửu Trùng Thiên.

    – Bên dưới là Cửu Trùng Thiên (9 từng Trời)

    Kế trên là từng Trời thứ 10: Hư Vô Thiên, do Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật chưởng quản.

    Kế tiếp là từng Trời thứ 11: Hội Nguyên Thiên.

    Trên hết là từng Trời thứ 12: Hỗn Nguyên Thiên.

    Hai từng Trời 11 và 12 do Ðức Di-Lạc chưởng quản.

    12 từng Trời ấy được gọi chung là Thập nhị Thiên. Trong Thập nhị Thiên có Cửu Trùng Thiên.

    Các Ðấng Thần, Thánh, Tiên, Phật khai hóa Cửu Trùng Thiên được gọi là Cửu Thiên Khai Hóa.

    Các Ðấng Thần, Thánh, Tiên, Phật khai mở Thập nhị Thiên được gọi chung là Thập nhị Khai Thiên.

    Tại mỗi cung có vẽ một bức tranh lớn nói lên ý nghĩa của mỗi cung theo Bát Quái đồ:

    – Khi có tế lễ Chức sắc Ðại Thiên phong hàng Tiên vị qui liễu, Hội Thánh cho dựng bên trên Ðài Cửu Trùng Thiên một cái nhà rộng có 8 cột cao khoảng 12 mét đứng theo hình Bát Quái, nóc nhà có 8 mái tạo thành 8 cung Bát Quái.

    Cung Càn: vẽ cảnh Rồng bay trên mây.

    Cung Khảm: vẽ cảnh biển cả mênh mông.

    Cung Chấn: vẽ cảnh sấm chớp.

    Cung Ly: vẽ cảnh núi phun lửa.

    Cung Khôn: vẽ cảnh con trâu cày đất.

    Cung Ðoài: vẽ cảnh đầm nước, ao hồ.

    Phải khắc phục ngay nếu bị giống thế này ?

    Không còn cách nào nhanh và kinh tế bằng cách này: