【#1】Văn Khấn Cúng Khai Trương Cửa Hàng Quần Áo Mới Mang Lại Nhiều Tài Lộc Nhất

# Chuẩn bị mâm lễ vật cúng khai trương của hàng quần áo

Sau khi chọn được ngày tốt, người chủ sẽ tiến hành chuẩn bị các lễ vật để dâng lên thần linh trong mâm cúng. Tùy theo phong tục tập quán của từng vùng mà mâm lễ cúng khai trương sẽ chuẩn bị theo lễ nghĩa của vùng đấy. Các lễ vật thường có trong mâm lễ người miền nam:

# Bài băn khấn cúng khai trương cửa hàng quần áo mới

  • Nam mô a di Đà Phật!
  • Nam mô a di Đà Phật!
  • Nam mô a di Đà Phật!
  • Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
  • Con kính lạy quan Đương Niên hành khiển thái tuế chí đức Tôn thần.
  • Con kính lạy các ngài Bản cảnh thành hoàng chư vị Đại Vương
  • Con kính lạy các ngài Ngũ Phương, Ngũ Thổ, Long Mạch, Tài Thần, Định phúc Táo quân, chư vị Tôn thần.
  • Con kính lạy các thần linh cai quản trong khu vực này.
  • Tín chủ chúng con là: ……………
  • Hôm nay là ngày… tháng… năm….,
  • Tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương đăng hoa quả, thắp nén tâm nhang dâng lên trước án, lòng thành tâu rằng: Tín chủ con xây cất (hoặc thuê được) một gian hàng (nhà xưởng, văn phòng…) tại xứ này: …….(địa chỉ)… Tín chủ con là ……….. (chức vụ của người khấn).
  • Nay muốn khai trương khởi đầu việc kinh doanh (hoặc sản xuất) phục vụ nhân sinh. Do đó, chúng con chọn được ngày lành tháng tốt, sắm sanh lễ vật, cáo yết tôn thần, dâng cùng bách linh … cúi xin soi xét.
  • Chúng con kính mời quan Đương Niên, quan Đương cảnh, quan Thần linh Thổ địa, Định phúc táo quân, các ngài địa chúa Long Mạch, cùng tất cả các Thần linh cai quản khu vực này.
  • Các Ngài linh thiêng, giáng lâm trước án, thụ hưởng lễ vật, chứng giám lòng thành. Cúi xin các vị phù hộ cho chúng con buôn bán hanh thông, làm ăn thuận lợi, lộc tài vượng tiến, cầu gì được nấy, nguyện gì cũng thành.
  • Tín chủ lại xin phổ cáo với các vị Tiền chủ, Hậu chủ cùng chư vị Hương linh, y thảo phụ mộc, ngụ trong khu vực này, xin mời các vị tới đây thụ hưởng lễ vật, phù trì tín chủ con làm ăn buôn bán gặp nhiều may mắn, trăm sự thuận lợi.
  • Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.
  • Nam mô a di Đà Phật!
  • Nam mô a di Đà Phật!
  • Nam mô a di Đà Phật!

【#2】Hướng Dẫn Cúng Và Bài Văn Khấn Cúng Mở Cửa Mả

Một trong những nghi thức trong tục cúng của người Việt Nam chính là lễ cúng mở cửa mả. Đây là nghi thức tâm linh được tiến hành sau khi chôn cất người đã khuất sau 3 ngày, với mục địch là giúp vong linh của họ được siêu thoát. Và để có thể thực hiện nghi thức này một cách đúng đắn, bài viết sau đây sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vấn đề: Cách cúng và bài văn khấn cúng mở cửa mả.

Cách cúng mở cửa mả

Đối với việc cách cũng mở cửa mả, tuy là nghi thức quen thuộc, nhưng đối với nhiều người thì điều này vẫn còn khá mơ hồ, chính vì vậy, việc tiến hành nghi thức này vẫn còn nhiều thiếu sót. Và sau đây là cách cúng mở cửa mả hợp lý.

Đầu tiên là gia chủ cần chủ bị lễ vật hết sức tươm tất, cụ thể như sau:

  • Một cái than bằng bẹ chuối (nam 7 bặc, nữ 9 bặc), môt cây mía lao để cả ngon, một ít tiền vàng mã.
  • Hai bình bông, hai đĩa trái cây (1 cúng đất đai, 1 cúng vong)
  • Ba ống trúc dài khoảng bốn tấc vót nhọn một đầu: 1 đựng muối, 1 đựng nước, 1 đựng nước, bịt lại bằng nilon trên đầu
  • Bốn cây đèn cầy
  • Năm thứ đậu (100 gram chung cho 5 thứ), năm thẻ tre dài 4 tấc vót nhọn 1 đầu (để làm bài vị cúng ngũ phương ngũ thổ tôn thần)
  • Sáu chén chè, hai đĩa xôi, một bộ tam sênh (trứng, thịt, tôm)
  • Bảy cái chung, một bình trà, một xị rượu
  • Mười tám con chim để phóng sanh (thay cho gà)

  • Đối với ba ống trúc có chứa gạo, muối và nước thì nên đặt ở dưới chân mộ, phần uống đặt dựa vào 3 ông trúc với nhau và để phái trên bài vị của người đã khuất.
  • Tiếp đến, các gia chủ nên dọn những lễ vật đã chuẩn bị trước đó như: chè, xôi, bông, trái cây, chung cúng trà rượu, giấy tiêng vàng mã trước mộ (dưới chân) để cúng vong và ở một nơi sạch sẻ gần đó để cúng thần.
  • Tiếp theo, tiến hành cắm năm thẻ trẻ đã dán bài vị ngũ phương ngũ tôn thần ở bốn gốc của mộ người khuất.
  • Cuối cùng, tiến hành thắp hương trước mộ và mân cúng thần cùng các bài vị tôn thần và những bài vị xung quanh đó.

Nghi thức cúng

Sau khi thực hiện xong xuôi những bước làm trên, thì tiếp theo các gia chủ sẽ bắt đầu thắp nhang và khấn xin những vị tôn thần dẫn dắt linh hồn người chết về nghe kinh, chứng minh lễ khai mộ.

Cùng lúc đó, các vị sư thầy sẽ tiến hành tụng kinh và thỉnh tôn thần và triệu linh, làm phép sái tịnh.

Trong khi các sư thầy tụng kinh là làm pháp thì các thành viên trong gia đình hãy lần lượt chia nhau mỗi người một ít đậu, một người đại diện cầm cây mía, lồng chim theo thầy đi quanh mộ vừa niệm phật, vừa rải đậu.

Khi đi đủ 3 vòng thì các thành viên trở lại vị trí ban đầu, rồi tiến hành phóng sanh chim, đốt giấy tiền vàng mã, lạy tạ tôn thần và dẫn vong trở về nhà cúng an linh.

Ý nghĩa của lễ cúng cửa mã

Tất nhiên mỗi nghi thức cúng lễ đều mang những ý nghĩa khác nhau, và tất nhiên cúng cửa mả cũng không phải là ngoại lệ. Theo quan niệm của ông cha ta, thì sau khi khi chôn người mất được 3 ngày, thì những người thân của người đã mất phải tiến hành mở cửa mả, để vong linh của người mất nhanh chóng siêu thoát.

  • Theo đó, cây thang nam bảy nấc, nữ chín nấc là để người chết leo ra khỏi huyệt mồ.
  • Năm thứ đậu và gạo muối cùng nước dùng để hồn người chết ăn uống cho no dạ.
  • Còn cây mía lau chín đốt là tượng trưng cho chín chữ cù lao, vì lau là lao đồng âm.
  • Còn con gà con để tượng trưng các con nay côi cút như gà con lìa mẹ.
  • Gà con còn được hiểu là gà linh, khi bị đánh nó kêu lên làm vong hồn người chết đang mê muội chưa biết mình đã chết, tỉnh ra.

Rất nhiều người thắc mắc rằng, liệu lễ cũng cửa mả có phải là nghi thức xuất phát từ phật giáo hay không? Câu trả lời cho vấn đề này chính là không, mà nghi thức này bắt nguồn từ lúc Lão giáo du nhập vào Việt Nam.

Với những người đã mất, chúng ta tuy có tâm hiếu đạo nhưng làm các việc không đúng Chánh pháp, tức không khéo chính mình trực tiếp xô đẩy người thân vào cảnh giới ác đạo. Đối với vòng luân hồi bất tận, thì chúng ta đã mang quá nhiều ân oán với người xấu số. Chính vì lẽ đó, mà những nghi thức đối với những người đã mất, phải được tiến hành hết sức quy củ và đúng đắng, để những vong linh của họ nhanh chóng siêu thoát và đầu thai.

【#3】Cách Cúng, Văn Khấn, Bài Cúng Mở Cửa Mả

Một trong những nghi thức trong tục cúng của người Việt Nam chính là lễ cũng mở cửa mả. Đây là nghi thức được tiến hành sau khi chôn cất người đã khuất sau 3 ngày, với mục địch là giúp vong linh của họ được siêu thoát. Và để có thể thực hiện nghi thức này một cách đúng đắn, bài viết sau đây sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vấn đề: Cách cúng, văn khấn, bài cúng mở cửa mả.

Cách cúng mở cửa mả

Đối với việc cách cũng mở cửa mả, tuy là nghi thức quen thuộc, nhưng đối với nhiều người thì điều này vẫn còn khá mơ hồ, chính vì vậy, việc tiến hành nghi thức này vẫn còn nhiều thiếu sót. Và sau đây là cách cúng mở cửa mả hợp lý.

Đầu tiên là gia chủ cần chủ bị lễ vật hết sức tươm tất, cụ thể như sau:

  • Một cái than bằng bẹ chuối (nam 7 bặc, nữ 9 bặc), môt cây mía lao để cả ngon, một ít tiêng vàng mã
  • Hai bình bông, hai đĩa trái cây (1 cúng đất đai, 1 cúng vong)
  • Ba ống trúc dài khoảng bốn tấc vót nhọn một đầu: 1 đựng muối, 1 đựng nước, 1 đựng nước – bịt lại bằng nilon trên đầu
  • Bốn cây đèn cầy
  • Năm thứ đậu (100 gram chung cho 5 thứ), năm thẻ tre dài 4 tấc vót nhọn 1 đầu (để làm bài vị cúng ngũ phương ngũ thổ tôn thần)
  • Sáu chén chè, hai đĩa xôi, một bộ tam sênh (trứng, thịt, tôm)
  • Bảy cái chung, một bình trà, một xị rượu
  • Mười tám con chim để phóng sanh (thay cho gà)

Sau khi đã chuẩn bị những lễ vật cần thiết trên xong xuôi, thì tiếp theo bạn cần biết cách để sắp đặt chúng một cách hợp lý. Dưới đây là cách sắp xếp lễ cũng hợp lý mà các gia chủ cần tham khảo.

  • Đối với ba ống trúc có chứa gạo, muối và nước thì nên đặt ở dưới chân mộ, phần uống đặt dựa vào 3 ông trúc với nhau và để phái trên bài vị của người đã khuất.
  • Tiếp đến, các gia chủ nên dọn những lễ vật đã chuẩn bị trước đó như: chè, xôi, bông, trái cây, chung cúng trà rượu, giấy tiêng vàng mã trước mộ (dưới chân) để cúng vong và ở một nơi sạch sẻ gần đó để cúng thần.
  • Tiếp theo, tiến hành cắm năm thẻ trẻ đã dán bài vị ngũ phương ngũ tôn thần ở bốn gốc của mộ người khuất.
  • Cuối cùng, tiến hành thắp hương trước mộ và mân cúng thần cùng các bài vị tôn thần và những bài vị xung quanh đó.

Nghi thức cúng

Sau khi thực hiện xong xuôi những bước làm trên, thì tiếp theo các gia chủ sẽ bắt đầu thắp nhang và khấn xin những vị tôn thần dẫn dắt linh hồn người chết về nghe kinh, chứng minh lễ khai mộ.

Cùng lúc đó, các vị sư thầy sẽ tiến hành tụng kinh và thỉnh tôn thần và triệu linh, làm phép sái tịnh.

Trong khi các sư thầy tụng kinh là làm pháp thf các thành viên trong gia đình hãy lần lượt chia nhau mỗi người một ít đậu, một người đại diện cầm cây mía, lồng chim theo thầy đi quanh mộ vừa niệm phật, vừa rải đậu.

Khi đi đủ 3 vòng thì các thành viên trở lại vị trí ban đầu, rồi tiến hành phóng sanh chim, đốt giấy tiền vàng mã, lạy tạ tôn thần và dẫn vong trở về nhà cúng an linh.

Ý nghĩa của lễ cúng cửa mã

Tất nhiên mỗi nghi thức cúng lễ đều mang những ý nghĩa khác nhau, và tất nhiên cúng cửa mả cũng không phải là ngoại lệ. Theo quan niệm của ông cha ta, thì sau khi khi chôn người mất được 3 ngày, thì những người thân của người đã mất phải tiến hành mở cửa mả, để vong linh của người mất nhanh chóng siêu thoát.

  • Theo đó, cây thang nam bảy nấc, nữ chín nấc là để người chết leo ra khỏi huyệt mồ.
  • Năm thứ đậu và gạo muối cùng nước dùng để hồn người chết ăn uống cho no dạ.
  • Còn cây miá lau chín đốt là tượng trưng cho chín chữ cù lao, vì lau là lao đồng âm.
  • Còn con gà con để tượng trưng các con nay côi cút như gà con lìa mẹ.
  • Gà con còn được hiểu là gà linh, khi bị đánh nó kêu lên làm vong hồn người chết đang mê muội chưa biết mình đã chết, tỉnh ra.

Rất nhiều người thắc mắc rằng, liệu lễ cũng cửa mả có phải là nghi thức xuất phát từ phật giáo hay không? Câu trả lời cho vấn đề này chính là không, mà nghi thức này bắt nguồn từ lúc Lão giáo du nhập vào Việt Nam.

Với những người đã mất, chúng ta tuy có tâm hiếu đạo nhưng làm các việc không đúng Chánh pháp, tức không khéo chính mình trực tiếp xô đẩy người thân vào cảnh giới ác đạo. Đối với vòng luân hồi bất tận, thì chúng ta đã mang quá nhiều ân oán với người xấu số. Chính vì lẽ đó, mà những nghi thức đối với những người đã mất, phải được tiến hành hết sức quy củ và đúng đắng, để những vong linh của họ nhanh chóng siêu thoát và đầu thai.

Hy vọng rằng, với những chia sẻ cụ thể của bài viết: Cách cúng, văn khấn, bài cúng mở cửa mả trên đây, thì sẽ giúp cho những gia chủ có được sự hiểu biết cần thiết khi chuẩn bị nghi thức này, sao cho đúng đắn và tươm tất nhất, để cho vong linh của những người đã mất được ra đi nhẹ nhàng mà không còn ván vương quá nhiều với trần gian hiện tại.

【#4】Bài 1: Một Năm Của Người Việt Có Bao Nhiêu Ngày Tết?

Tết Thượng Nguyên diễn ra vào ngày rằm tháng Giêng, ngày trăng tròn đầu tiên của năm. Tết này phần lớn tổ chức tại chùa chiền, vì rằm Tháng Giêng còn gọi là ngày vía của Phật tổ.

Ta thường có câu: “Lễ Phật quanh năm không bằng rằm tháng giêng”. Tục ta tin rằng ngày rằm tháng giêng, đức Phật giáng lâm tại các chùa để chứng độ lòng thành của các tín đồ Phật giáo. Trong dịp này, chùa nào cũng đông người đến lễ bái và sau khi đi chùa, mọi người về nhà họp mặt cúng gia tiên và ăn cổ.

Là tiết thứ năm trong “nhị thập tứ khí” và đã được người phương Đông coi là một lễ tiết hàng năm. Tiết Thanh Minh đến sau ngày Lập Xuân 45 ngày. Nhân ngày thanh minh, dân ta có tục đi viếng mộ gia tiên và làm lễ cúng gia tiên sau cuộc tảo mộ.

Lễ tảo mộ: Tảo một chính là sửa sang ngôi một cho được sạch sẽ, rẫy hết cỏ dại, đắp lại nấm mồ cho to. Đây là dịp duy nhất trong năm mà có thể phạm tới hài cốt của người thân đã khuất mà không làm “chấn động” nhiều. Tuy vậy, có một số nơi người ta tảo mộ vào dịp trước và sau ngày Tết.

Nhiều làng ở vào vùng đất thấp, ruộng nương và cả bãi tha ma đều ngập nước, thì người ta đi tảo một vào đầu tháng chín, sau khi nước đã rút. Dù đi tảo mộ vào ngày nào thì việc thăm nom mồ mả tổ tiên cũng là việc nên làm. Nghĩ đến gia tiên tức là nghĩ đến gốc, tưởng đến nguồn.

“Hàn thực” nghĩa là ăn đồ nguội. Tết này vào ngày mồng Ba tháng Ba (âm lịch). Theo phong tục cổ truyền, ngày mồng 3 tháng 3 tức Tết Hàn Thực ta làm bánh chay.

Tết này có xuất xứ từ Trung Quốc, làm giỗ ông Giới Từ Thôi (một hiền sĩ thời Xuân Thu có công phò Tần Văn Công), bị chết cháy ở núi Điền Sơn. Đành rằng dân ta theo tục đó nhưng khi cúng chỉ cúng gia tiên nhà mình.

4. Tết Đoan Ngọ (Tết diệt sâu bọ)

Tết Đoan Ngọ còn gọi là tết Đoan Dương. Sáng sớm cho trẻ ăn hoa quả, rượu nếp, trứng luộc, bôi hồng hoàng vào thóp đầu, vào ngực, vào rốn để giết sâu bọ. Người lớn giết sâu bọ bằng rượu hoặc ăn rượu nếp.

Lý do ngày Tết Đoan Ngọ còn có tên là Tết diệt sâu bọ vì đây la giai đoạn chuyển mùa, chuyển tiết, dịch bệnh dễ phát sinh.

5. Tết Trung Nguyên (Rằm tháng Bảy)

Xuất phát từ truyền thuyết về Bồ tát Mục Kiền Liên đại hiếu đã cứu mẹ của mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ. Vu Lan là ngày lễ hằng năm để tưởng nhớ công ơn cha mẹ (và tổ tiên nói chung).

Ngoài ra, rằm tháng Bảy theo tín ngưỡng là ngày xá tội vong nhân. Bao nhiêu tội nhân ở dưới âm phủ ngày hôm đó đều được tha tội. Bởi vậy trên dương thế gia đình đều cúng gia tiên, còn ở chùa thường làm chay chẩn tế và cầu kinh Vu Lan.

Tết Trung Nguyên đồng thời để cúng những linh hồn bơ vơ không được ai chăm sóc. Người ta hay thả chim lên trởi, thả cá xuống sông để làm điều phúc đức.

Theo tục cúng cháo Xưa, tại các cầu quán, đình chùa, đều có tổ chức “cúng cháo” để cúng các cô hồn không ai cúng giỗ. Thông thường, người cúng đốt vàng mã và bày cúng ở trước cửa nhà.

6. Tết Trung Thu

Trung Thu ở giữa mùa thu, tức vào rằm tháng 8 Âm lịch. Tết Trung Thu là Tết của trẻ em. Trẻ em khắp Việt Nam mong đợi ngày Tết này vì được người lớn tặng quà bánh như lồng đèn, bánh Trung Thu. Tết này người ta thường cùng nhau ngồi uống trà thưởng Nguyệt, nên còn được gọi là Tết Trông trăng hay Tết Đoàn viên.

7. Tết Trùng Cửu (Tết Trùng Dương)

Nhằm ngày mồng Chín tháng Chín (âm lịch) là Tết Trùng Cửu. Tết này bắt nguồn từ sự tích của đạo Lão. Nho sĩ Việt Nam du nhập và theo lễ này, nhưng lại biến ngày Tết này thành cuộc du ngoạn núi non, uống rượu cúc.

8. Tết Hạ Nguyên (Tết Cơm Mới)

Tết Song thập (mùng 10 tháng 10 hoặc 15 tháng 10 Âm lịch). Tết này được tổ chức rất lớn ở nông thôn vì đầy là dịp nấu cơm gạo mới của vụ mùa vừa xong.

Trước là để cúng tổ tiên, sau để thưởng công cấy cầy. Trong Tết cũng có lễ dâng hương cầu cho quốc thái dân an, phong điều vũ thuận.

9. Tết Trùng Thập

Ngoài ra, mùng mười tháng mười Âm lịch cũng là Tết của các nhà thuốc. Cây thuốc mới tụ được khí âm dương, mới kết hợp được sắc tứ thời (Xuân – Hạ – Thu – Đông) nên trở nên tốt nhất.

Đến ngày này, người ta thường làm bánh dày, nấu chề để cúng gia tiên rồi đem biếu những người thân thuộc.

10. Tết Táo Quân

Rơi vào ngày 23 tháng Chạp, mỗi gia đình thường mua 2 mũ ông Táo, 1 mũ bà Táo bằng giấy và 3 con cá chép làm “ngựa” để tiễn Táo quân về trời.

Sau khi cúng trong bếp, mũ được đốt và cá chép được mang ra thả ở ao, hồ, sông…

11. Tết Nguyên Đán

Còn gọi là Tết Cả, Tết Ta, Tết Âm Lịch, Tết cổ truyền. Đây là dịp lễ quan trọng nhất trong văn hóa người Việt Nam. Chữ “Tết” là do chữ “Tiết” mà thành. “Nguyên” có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai. “Đán” là buổi sáng sớm. Cho nên đọc đúng phiên âm phải là “Tiết Nguyên Đán”.

Chi tiết về ngày Tết Nguyên Đán chúng tôi sẽ trình bày sâu trong các bài tiếp theo. Nghiệm lại các ngày Tết mà ông bà truyền lại, âu cũng là cố tạo cơ hội để nhà nhà xum họp, quốc thái dân an.

【#5】Bài Văn Khấn Khai Trương Cửa Hàng, Doanh Nghiệp, Công Ty Ngày Đầu Năm

Lễ khai trương cửa hàng, công ty đầu năm mới (hay còn gọi là ngày mở hàng) được các chủ doanh nghiệp, người kinh doanh rất coi trọng.

Nào cùng xem những bài văn khấn khai trương cửa hàng, doanh nghiệp, nhà xưởng ngày đầu năm.

Bài văn khấn khai trương cửa hàng, doanh nghiệp, công ty ngày đầu năm

Ông bà ta thường có câu nói “thuận buồm xuôi gió” để chỉ ngày đầu năm nếu thành công thì những ngày tháng còn lại sẽ rất dễ dàng.

Vì thế sau kỳ nghỉ Tết Nguyên Đán, ngày đầu tiên mở cửa làm ăn trở lại của các công ty, cửa hàng có ý rất quan trọng vì nếu mở hàng đầu năm may mắn thì cả năm sẽ làm ăn thuận lợi.

Lễ vật trong ngày cúng đầu năm có thể đến lòng thành của gia chủ đến các vị Thổ công, Thổ địa và vì thế tùy vào mỗi người mâm cổ sẽ có chút khác nhau.

Thông thường, lễ vật trong lễ khai trương cửa hàng gồm hương (nhan), hoa quả trái cây vàng mã, trầu cau, bánh kẹo mức… và mâm lễ mặn xôi, gà, cơm, canh…Có một vài doanh nghiệp còn dâng cả heo quay trong mâm cúng.

Sau phần lễ vật cúng sẽ là những bài văn khấn, chúng ta cùng xem những bài văn khấn sau đây.

Văn khấn khai trương cửa hàng, nhà xưởng, doanh nghiệp…

Bài văn khấn này là bài văn khấn cổ truyền trích trong “Văn khấn cổ truyền Việt Nam” do Thượng tọa Thích Thanh Duệ – Phó Viện trưởng Học viện Phật Giáo Việt Nam thẩm định và hiệu đính.

Theo trang: Vietnammoi.vn

Nào chúng ta cùng bắt đầu:

Nam mô a di Đà Phật (nói 3 lần)

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. Con kính lạy quan Đương Niên hành khiển thái tuế chí đức Tôn thần.

Con kính lạy các ngài Bản cảnh thành hoàng chư vị Đại Vương. Con kính lạy các ngài Ngũ Phương, Ngũ Thổ, Long Mạch, Tài Thần, Định phúc Táo quân, chư vị Tôn thần.

Con kính lạy các thần linh cai quản trong khu vực này. Tín chủ chúng con là: …(Họ tên của tín chủ)…………………. Hôm nay là ngày … tháng … năm …., tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương đăng hoa quả, thắp nén tâm nhang dâng lên trước án, lòng thành tâu rằng: Tín chủ con xây cất (hoặc thuê được) một gian hàng (nhà xưởng, văn phòng…) tại xứ này: …….(địa chỉ)… Tín chủ con là ……….. (chức vụ của người khấn). Nay muốn khai trương khởi đầu việc kinh doanh (hoặc sản xuất) phục vụ nhân sinh. Do đó, chúng con chọn được ngày lành tháng tốt, sắm sanh lễ vật, cáo yết tôn thần, dâng cùng Bách linh … cúi xin soi xét. Chúng con kính mời: quan Đương Niên, quan Đương cảnh, quan Thần linh Thổ địa, Định phúc táo quân, các ngài địa chúa Long Mạch, cùng tất cả các Thần linh cai quản khu vực này. Các Ngài linh thiêng, giáng lâm trước án, thụ hưởng lễ vật, chứng giám lòng thành. Cúi xin các vị phù hộ cho chúng con buôn bán hanh thông, làm ăn thuận lợi, lộc tài vượng tiến, cầu gì được nấy, nguyện gì cũng thành. Tín chủ lại xin phổ cáo với các vị Tiền chủ, Hậu chủ cùng chư vị Hương linh, y thảo phụ mộc, ngụ trong khu vực này, xin mời các vị tới đây thụ hưởng lễ vật, phù trì tín chủ con làm ăn buôn bán gặp nhiều may mắn, trăm sự thuận lợi. Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật ( nói 3 lần)

Lưu ý: Nếu ghi ra giấy, thì lúc đốt giấy vàng bạc hãy hóa luôn tờ giấy vái cúng chung với giấy vàng bạc.

Văn khấn mở cửa hàng, công ty để cả năm sung túc, phát tài phát lộc:

Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật!

Kính lạy: – Quan Đương niên Hành khiển Thái Tuế chí đức Tôn thần – Các Ngài Bản Cảnh Thành Hoàng chư vị Đại Vương – Các Ngài Ngũ Phương, Ngũ Thổ, Long Mạch, Tài Thần, Định Phúc Táo Quân chư vị tôn thần. – Các Thần Linh cai quản ở trong khu vực này.

Hôm nay là ngày….. tháng……. năm…… Tín chủ con là……… Sinh niên……… Hiện ngụ tại………….

Thành tâm sửa biện hương hoa lễ vật, các thứ cúng dâng bày ra trước án. Vì tín chủ con có xây cất (hoặc “thuê được”) 1 ngôi hàng ở tại xứ này là….. (ghi địa chỉ nơi đó) [nếu là cơ quan công xưởng thì khấn là: “Tín chủ con là Giám Đốc hay Thủ Trưởng, cùng toàn thể nhân viên công ty”] nay muốn khai trương khởi đầu việc kinh doanh (hoặc sản xuất) phục vụ nhân sinh, mại mãi tài vật giúp cho sinh hoạt.

Do đó, chúng con chọn được ngày lành tháng tốt sắm sanh lễ vật, cáo yết Tôn Thần, dâng cúng Bách Linh, cúi mong soi xét. Chúng con kính mời Quan Đương niên , Quan Đương Cảnh, Quan Thần linh Thổ Địa, Định Phúc Táo Quân, cùng các Ngài Địa Chúa Long Mạch, và tất cả Thần Linh cai quản ở trong khu vực này.

Cúi xin: Thương xót tín chủ giáng lâm trước án, chứng giám lòng thánh thụ hưởng lễ vật, độ cho chúng con buôn bán hanh thông, làm ăn thuận lợi, lộc tài vượng tiến, nhân sự bình an. Bốn mùa không hạn ách tai ương, tám tiết có điềm lành tiếp ứng, cầu gì cũng được, nguyện gì cũng thành. Tín chủ lại mời các vị Tiền chủ, Hậu chủ, cùng chư Hương Linh y thảo phụ mộc phảng phất ở trong khu vực này, xin hãy tới đây chiêm ngưỡng Tôn Thần, thụ hưởng lễ vật, phù trì tín chủ vận đáo hanh xương, tài lộc như gió mây tập hội. Dãi tấm lòng thành, cúi xin chứng giám. Cẩn cáo

Lễ khai trương công ty, cửa hàng đầu năm gồm những gì?

Theo trang chúng tôi trong mâm lễ khai trương ngày đầu năm phải gồm có những thứ sau.

– Một con gà (nếu có), hoặc một khoanh giò hay 200 gr thịt nạc vai heo luột.

– Một đĩa xôi hoặc bánh chưng

– Một đĩa muối gạo

– Một bát nước

– Nửa lít rượu trắng

– Bao thuốc, lạng chè

– Một bộ quần áo quan thần linh, mũ, hia tất cả màu đỏ, kiếm trắng

– Một đinh vàng hoa

– Năm lễ vàng tiền

– Năm cái oản đỏ

– Năm lá trầu, năm quả cau

– Năm quả tròn

– Chín bông hoa hồng đỏ

Theo: Tuychon.vn

Bạn đang đọc bài viết Bài văn khấn khai trương cửa hàng, doanh nghiệp, công ty ngày đầu năm tại chuyên mục Thời sự, trên website Tin tức nóng – Tin tức mới nhất trong ngày

【#6】Họa Tiết Hoa Văn Dùng Trong Đồ Thờ Cúng

Chữ Thọ, Chữ Vạn, Phước Lộc Thọ …Sống thọ để hưởng phúc lộc vẫn là ước muốn muôn thuở muôn phương của nhân loại. Chữ thọ , chữ vạn được viết cách điệu để làm hoa văn đồ thờ cúng.

Chữ Thọ 壽

CHỮ THỌ theo chữ Hán xếp vào bộ sĩ gồm có 5 chữ cấu thành.

Chữ SĨ xếp trên đầu chữ Thọ. Sĩ nghĩa đen là học trò, học rộng là sự hiểu biết, là tư duy. Như vậy điều đầu tiên muốn sống lâu thì bộ óc luôn luôn phải suy nghĩ, tìm tòi sáng tạo. Có nhiều công trình khoa học có giá trị được đúc kết phát minh ở vào tuổi trên 70. Người Pháp có câu tục ngữ “Tôi suy nghĩ, là tôi tồn tại”. Như vậy thường xuyên suy nghĩ sáng tạo là giúp ta sống lâu.

Chữ cấu thành thứ 2 của chữ Thọ là chữ NHỊ, nghĩa đen là hai. Nghĩa rộng ra là quan hệ giao lưu qua lại. Người già muốn sống lâu phải thường xuyên giao tiếp tìm đối tác, trao đổi từng lĩnh vực của đời sống như văn hóa, chính trị, khoa học, kinh tế xã hội. Việc giao tiếp này cũng có nghĩa là nâng cao năng lực tư duy, giải tỏa những mắc mớ làm cho đầu óc thanh thản. Trong phương châm sống của người Trung Hoa, người già cần có vợ chồng chung thuỷ, có bạn bè tri kỉ để trao đổi tâm tình. Có nhiều cụ sống trên 80 tuổi, số bạn bè càng ngày ít vì các cụ đã dần dần ra đi, do đó cần phải tăng cường giao lưu để có nhiều bạn mới, có cơ hội gặp nhau thường xuyên, sống vui vẻ là ít bệnh tật hơn.

Chữ thứ 3 của chữ Thọ là chữ CÔNG, nghĩa là vận động. Người già muốn sống lâu cần vận động theo sức lực của mình, trong vận động đáng chú ý nhất là đi bộ.

Chữ thứ 4 là chữ Thọ là chữ KHẨU, nghĩa là miệng. Trong các chữ Hán có nghĩa phát ra lời nói, phần lớn có chữ Khẩu hoặc chữ Ngôn (nói). Chữ Khẩu trong chữ Thọ có nghĩa trừu tượng hơn.

Chữ Vạn 萬

Chữ Vạn là một biểu tượng chữ thập với bốn góc vuông về góc phải và hướng sang bên phải, có hướng các đầu mút xoay ngược chiều kim đồng hồ. Hình chữ “Vạn” lại nổi tiếng được biết đến như là một biểu tượng rất phổ biến tượng trựng cho vận may tốt lành.

Hiểu theo tiếng Phạn có nghĩa là “phúc lộc, an khang, thành công, thịnh vượng”. Đây là biểu tượng của sự may mắn, đã từng xuất hiện lần đầu khoảng 16.000 đến 14.000 trước công nguyên.

Biểu tượng này được lấy ý tưởng từ việc quan sát vũ trụ, hệ mặt trời, nó thể hiện nơi phát sinh ra nguồn sống vô tận, và sự vĩnh hằng. Chữ Vạn còn là một trong ba mươi hai tướng tốt của Phật , vị trí trên ngực. Nó biểu thị công đức vô lượng của Phật.

Trong tiếng Phạn, biểu tượng “Vạn” được gọi là Swastika, và phiên âm sang Hán ngữ là Thất-lợi-bạt-tha có nghĩa là Cát Tường Hải Vân (vầng mây lành trên biển) hay Cát Tường Hỷ Triền (vòng xoay tốt lành). Biểu tượng này được quan niệm như một cát tướng. Nó biểu thị tính chất tốt lành của dân tộc Ấn Độ cổ đại nói riêng và của cả chủng người Aryan nói chung. Bà la môn giáo cho rằng biểu tượng “Vạn” chỉ là chòm lông xoáy ở trước ngực của thần Vishnu là một trong những tướng tốt của các vị thần này. Nhưng nguồn gốc sâu xa của văn hóa Ấn Độ thì biểu tượng “Vạn” vốn hình chòm lông xoắn ốc trên đầu con bò. Mà bò thần Nadin cũng có khi lại chính là hiện thân của thần, nên về sau biến thành tướng lông xoắn trước ngực thần Vishnu là vậy. Từ tướng tốt của thần về sau, được mở rộng quan niệm thành một trong ba mươi hai tướng tốt của bậc đại nhân đại đức – Trên ngực Đức Thích Ca Mâu Ni. Vấn đề này từ thế kỷ thứ VIII trước Tây lịch, Bà la môn giáo đã ghi chép tướng “Vạn” là thụy tướng trước lồng ngực của Thần Vishnu. Và đến khoảng thế kỷ thứ III trước Tây lịch kinh Phật ghi chép về tướng tốt này. Nếu nói ở một chừng mực nào đó thì biểu tượng “Vạn” của Phật giáo chỉ chịu ảnh hưởng của Bà la môn giáo chứ không hoàn toàn đồng nhất với Bà la môn giáo!

Nhưng nếu quan sát, ta thấy hiện nay trong các sách viết về Phật giáo cũng như trong các ngôi chùa Việt Nam biểu tượng “Vạn” không có sự thống nhất về chiều xoay. Ai thích xoay kiểu nào thì làm kiểu đó! Có khi là theo chiều kim đồng hồ 卐 , có khi là ngược chiều kim đồng đồng hồ 卍 . Với các từ điển gia cũng tương tự. Thiều Chửu cho rằng “Chữ này trong kinh truyện không có, chỉ trong kinh nhà Phật có thôi. Nhà Phật nói rằng khi Phật giáng sinh trước ngực có hiện ra hình chữ 卐 người sau mới biết chữ ấy. Trong bộ Hoa-nghiêm âm nghĩa nói rằng: chữ 卐 nguyên không có, đến niên hiệu Tràng-thọ thứ hai đời nhà Chu mới chế ra và âm là vạn, nghĩa là muôn đức tốt lành đều họp cả ở đấy. Lại chữ 卐, nguyên tiếng Phạm là Śrīvatsalakṣaṇa. Các ngài La-thập, Huyền-trang dịch là đức 德, ngài Bồ-đề lưu-chi dịch là vạn 萬. Ở bên Ấn-Độ thì tương truyền là cái tướng cát tường, dịch là đức là nói về công đức, dịch là vạn là nói về công đức đầy đủ. Song nguyên 卐 là hình tướng chứ không phải chữ, cho nên dịch là cát-tường hải-vân-tướng mà theo hình xoay về bên hữu là phải hơn. Vì xem như nhiễu Phật thì nhiễu về bên hữu, hào quang của Phật ở khoảng lông mày phóng ra cũng xoay về bên hữu, thì viết xoay về bên hữu mới là tướng cát-tường, có chỗ làm xoay về bên tả 卍 là lầm”.

Chạm Ngũ Phúc

Ngũ Phúc là một từ nguyên ở trong Kinh Thư, (bộ sách do Khổng tử và các đệ tử biên dịch) thì ngũ phúc gồm năm (ngũ) điều:

Thọ (sống lâu)

Phú (giàu có)

Khang ninh (yên lành)

Du hảo đức (có đức tốt)

Khảo chung mệnh (vui, hết tuổi trời)

Dịch nghĩa:

Trường thọ là không bị chết non, phúc thọ là lâu dài

Phú quý là tiền của rất nhiều, địa vị tôn quý.

Khang ninh là thân thể khoẻ mạnh, tâm hồn yên ổn.

Hiếu đức là tính lương thiện, nhân hậu, bình tĩnh.

Thiện chung là có thể tiên liệu thời kỳ chết của mình. Khi lâm chung không gặp tai họa, thân thể không đau đớn vì bệnh tật, trong lòng không vương vấn và phiền não, ôn hoà tự tại rời khỏi nhân gian.

Ngũ phúc là “ngũ dơi” ?

Trong tiếng Hán chữ Phúc và Con Dơi đồng ân với nhau, vì vậy người ta tin rằng dơi sẽ đem lại trường thịnh và thành công. Trong triều đại nhà Thanh, dơi là linh vật được xếp đứng hàng thứ hai sau rồng. Trong số những biểu tượng may mắn thêu trên long bào, dơi đỏ được thêu nhiều nhất, nó thường xuất hiện cùng với hình ảnh mây và nước trên long bào…Điều đó cũng chứng tỏ Dơi là một biểu tượng đem lại may mắn, thịnh vượng.

Sập:

Sập sen – gia đình thủy tộc: Cảnh vật hài hòa, với cảnh đồng quê Việt Nam xưa có sen, có cò, vịt, cua, ốc,…Dành cho những người yêu thích sự hài hòa, tinh tế, có con mắt nghệ thuật.

Sập mai điểu

Mai Điểu: Với hình tượng cây mai cổ thụ trăm tuổi có sức sống mãnh liệt, tươi tốt, trên có thêm chim (điểu) ríu rít gọi nhau tượng trưng cho mùa xuân, sức sống tràn đầy,…

Sập ngũ phúc

Ngũ phúc: Với hình ảnh ngũ phúc (dơi) Phúc – Lộc – Thọ – Khang – Ninh-Mai. Mang ý nghĩa cát lộc, cát tường.

Hiểu thêm về một số tích cổ của tủ chè

Điển tích ” Tam anh chiến Lã Bố” miêu tả trận đánh nổi tiếng giữa ba anh em kết nghĩa Lưu , Quan, Trương đánh nhau với Lã Bố. Trận đấu diễn ra quyết liệt, hai bên đánh nhau đến trên tám mươi hiệp mà vẫn không phân thắng bại. Đặc biệt là các thế võ không bị sơ hở một tý nào. Điển tích này phù hợp với các gia đình có truyền thống võ nghệ như công an, quân đội…

Tích ” Vinh quy bái tổ” thì phù hợp với gia đình có truyền thống từ lâu đời nuôi dạy con cháu ăn học nên người, khi đỗ đạt cao về thăm quê hương trong tâm trạng vui vẻ, vinh hiển được quê hương, dòng họ đón rước trọng thể. Người làm quan trở về quê làm lễ bái yết tổ tiên, cầu mong cho ân đức được dài lâu, tiếp tục học hành tấn tới.

Điển tích ” Tam cố thảo lư” nói về Lưu Bị khi dựng nghiệp mưu đồ khôi phục nhà Hán rất cần người hiền tài, ông đã cùng hai em kết nghĩa là Quan Vân Trường và Trương Phi, ba lần gội gió tuyết, mưa sa đến lều cỏ trên đồi Ngọa Long cầu người học trò cày ruộng là Gia Cát Lượng ( Khổng Minh). Cảm mến ân đức của Lưu Bị, Khổng Minh đã xuống núi ( hạ sơn) hết lòng trung quân ái quốc, bình thiên hạ giúp cho việc tạo lập nên Nhà Thục, tạo thế chân kiềng chống lại hai nhà Ngụy và Ngô ở Trung Quốc.

Tùy vào từng gia đình khác nhau mà sẽ chọn cho mình một cách chơi phù hợp với hoàn cảnh, gia đạo. Tỷ như gia đình có truyền thống hiếu học mong muốn con cháu đỗ đạt làm quan thì chơi tích ” Văn vương cầu hiền – Tam cố thảo lư”. Gia đình muốn con cháu thành đạt trên đường công danh nói chung thì cũng có thể chơi tích “Vinh quy bái tổ” với ý nghĩa tổ tông phù hộ che chở cho con cháu thành đại nghiệp.

Vua Văn vương tức Chu Công Đán, vị vua đầu tiên của đời nhà Chu (thời Xuân Thu) ở Trung Quốc khi dựng lên nghiệp lớn, lên ngôi vua Chu Văn Vương. Vị vua anh minh này cần người hiền tài như khát nước, cứ nghe nói ở đâu có người hiền là ông tìm bằng được đến nơi cầu kiến. Nghe ở vùng sông Vị có một người kỳ tài, học rộng tài cao, rất muốn ra giúp nước nhưng nhiều người ghen ghét không dùng. Ông chán cảnh đời ra bờ sông ngồi câu cá, ngồi lâu đến mức hòn đá ông ngồi và chỗ để để chân đã mòn lõm xuống. Năm ấy ông đã trên tám mươi tuổi, người câu cá đó là ông Lã Vọng. Cảm ân đức của vua Văn Vương, không chê mình già, mời ra giúp nước. Lã Vọng đã hết lòng tham mưu phò tá nên đã giúp cho vua Văn Vương dựng nghiệp Nhà Chu được bền vững. Triều đại nhà Chu tồn tại được trên tám trăm năm ở Trung Quốc.

Còn ai không cảm thấy phù hợp với các điển tích trên thì có thể chơi các loại tủ khảm theo tích đã nêu trên là ” Đông bích đồ thư phủ – Tây viên hàn mạc lâm”. Dịch nghĩa là ” Phủ phía đông có ông thầy đồ đang dạy học trò. Vườn phía tây có mấy võ sinh đang tập luyện võ nghệ dưới trời rét lạnh”. Một gia đình có cả việc học văn lẫn luyện võ. Cảnh trong tranh khảm này miêu tả sự vui vẻ, đầm ấm của một gia đình có gia phong nền nếp và hạnh phúc.

Chân rùa

Sập thờ chân rùa đơn giả theo quan niệm tâm linh từ xưa của người Việt nói riêng và người phương đồng nói chung, Rùa là loài bò sát lưỡng cư, có tuổi thọ rất cao với những đồ ăn của rùa rất thanh đạm cùng với độ tuổi của rùa mà người ta vẫn mong gửi gắm con người sẽ được trường thọ, sống lâu như vậy. Rùa có thân hình chắc chắn cộng với khả năng sống lâu cho nên được ví như biểu tượng của sự trường tồn. Bên cạnh đó Rùa là loài vật ăn ít, có khả năng nhịn đói tốt nên được coi là thanh cao, thoát tục. Với những đồ thờ cúng từ ngàn xưa đã có những biểu tượng hình con rùa với những ý nghĩa đặc biệt mà con người muốn gửi gắm theo những hình vẽ, hình khắc vào đó.

Đôi hạc – Rùa

Ở Việt Nam hạc là con vật của đạo giáo. Hình ảnh hạc chầu trên lưng rùa trong nhiều ngôi chùa, miếu…, hạc đứng trên lưng rùa biểu hiện của sự hài hòa giữa trời và đất, giữa hai thái cực âm – dương. Hạc là con vật tượng trưng cho sự tinh tuý và thanh cao. Theo truyền thuyết rùa và hạc là đôi bạn rất thân nhau. Rùa tượng trưng cho con vật sống dưới nước, biết bò, hạc tượng trưng cho con vật sống trên cạn, biết bay. Khi trời làm mưa lũ, ngập úng cả một vùng rộng lớn, hạc không thể sống dưới nước nên rùa đã giúp hạc vượt vùng nước ngập úng đến nơi khô ráo. Ngược lại, khi trời hạn hán, rùa đã được hạc giúp đưa đến vùng có nước. Điều này nói lên lòng chung thuỷ và sự tương trợ giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn, hoạn nạn giữa những người bạn tốt.

Hạc đồng chạm tam khí của làng nghề đại bái

Chim hạc còn gọi là đại điểu hay nhất phẩm điểu là con chim của vũ trụ, của tầng cao, báo hiệu sự chuyển mùa, đại diện cho thế lực siêu nhiên từ trời cao mang tới.

Trong hình tượng trang trí, hạc có kích thước lớn, cao với ước mong phát triển của con người; mỏ dài, nhọn như mũi tên của sự vận động; đôi khi nó ngậm ngọc minh châu biểu trưng cho sang quý, hoặc khi ngậm hoa sen thì biểu trưng cho giác ngộ.

Trên đầu hạc thường đội đèn nến thể hiện sự tôn thờ ánh sáng chân lý, ánh sáng giác ngộ, xua đi bóng đen đêm tối.

Thân hạc hình khum, tượng trưng cho bầu trời, chân cao như chột chống trời.

ý nghĩa của đôi hạc trong văn hóa thờ cúng

+ Vị trí đặt hạc thờ tốt nhất:

– Tốt nhất là đặt con hạc ở hướng Nam, vì nó sẽ đem lại nhiều cơ hội tốt.

– Hướng Tây sẽ đem lại sự may mắn cho con cái của bạn, trong khi hướng Tây Bắc là hướng nên chọn nếu gia đình bạn là tộc trưởng.

– Đặt hạc ở hướng Đông sẽ có lợi cho con trai và cháu trai.

– Những tấm bình phong với hoa văn có thêu hình con hạc là một vật trấn Phong Thủy khá tốt, giúp bạn chặn đứng những điều không may có thể lọt vào nhà.

– Những khu vực không nên trưng hạc là phòng bếp, phòng tắm và nhà vệ sinh. Bạn cũng có thể bày hạc ở phòng ngủ, phòng ăn và phòng khách.

Kỳ lân

Đầu rồng đại diện cho trí tuệ, sức mạnh và quyền uy, sừng và thân giống hươu tượng trưng cho sự nhanh nhẹn, linh hoạt, thân có vẩy với lông đuôi dài lượng sóng, tạo hình kỳ lân biểu tượng cho người quân tử, chí nam nhi tung hoành giữa đất trời, thử thách nào cũng vượt qua.

Con Nghê

Nghê là linh vật phong thủy thuần Việt được người xưa tạo hình từ con chó thần, chó là loài vật trung thành, luôn bảo vệ chủ nên từ xưa cha ông ta đã tạo tác chó đá đặt trước cửa nhà để xua đuổi tà ma, bảo vệ gia chủ khỏi những thứ xấu vô hình. Dần dần với sự sáng tạo của nghệ nhân dân gian chó đá thành con nghê với tạo hình đẹp hơn, sống động hơn, có thêm họa tiết thể hiện sức mạnh, sự uy nghi với tạo hình đầu giống sư tử, có bờm rất oai nghiêm, mình thon, dáng thanh, chân như chân chó, đuôi dài vắt ngược lên lưng.

Hổ phù

Trong triết lý vũ trụ Nho giáo, không gian bên trong tự tại của là thế giới thần tiên linh diệu, mặt Hổ Phù chứa đựng bí quyết trường sinh bất lão. Mặt Hổ phù cũng là sự biểu hiện vũ trụ bao la vô bờ bến, là hình ảnh tượng trưng linh thiêng, là sự ám ảnh xua đuổi tà ma, chống lại ám khí, bảo vệ chủ nhân.

Thông thường có những sự phối hợp đa diện, đa chất liệu của motif mặt Hổ phù như Lưỡng long chầu Hổ phù, Lưỡng long chầu Hổ phù đội bầu Thái Cực… hình tượng này thường đặt giữa đỉnh mái các công trình quan trọng trong Hoàng thành và lăng tẩm. Nhưng đẹp và cân đối nhất là mặt Hổ phù trang trí ở các đầu hồi, cổng, bình phong với nghệ thuật khảm sành sứ hay đắp nổi nề hoạ tinh tế.

Tỳ hưu phong thủy

Tỳ hưu là con của rồng với tạo hình sống động tập hợp những nét đẹp của linh vật khác: đầu giống rồng có sừng, thân giống sư tử có thêm cánh, tạo hình có phần hung giữ có công dụng xua đuổi tà ma. Tạo hình tỳ hưu bằng đồng rất đặc biệt với miệng rộng thích ăn vàng bạc, mông to nhưng lại không có hậu môn nên của cải không bị thất thoát nên tỳ hưu cùng với cóc đồng tài lộc có công dụng chiêu tài kim tiền, hút tài lộc.

Cách phân biệt kỳ lân với nghê và tỳ hưu phong thủy cơ bản :

Cách bài trí

Đặt trước cửa nhà hoặc các công trình kiến trúcThường bày một đôi

Đặt trên bàn làm việc, trong két sắt, trên ban thờ thần tài … Đầu hướng ra cửa chính để thu hút tài lộc 4 phương cho gia chủ

Thường bày một đôi

Đặt trong phòng khách, tọa trước cổngDùng trong các dịp khánh thành công trình

Thường đứng một mình

cửu huyền thất tổ

“Cửu huyền: Chín đời: Cao (ông sơ), tằng (ông cố), tổ (ông nội), cha, mình, con, cháu, chắt, chít – Chín thế hệ trên, nếu phiên âm bằng chữ Hán thì được viết như sau: Cao – Tằng – Tổ – Khảo – Kỷ – Tử – Tôn – Tằng – Huyền. Như vậy, nếu lấy thế hệ mình làm chính thì tính ngược lên bốn đời và tính xuống bốn đời thành ra chín đời.

Thất tổ: Bảy đời: Cao, tằng, tổ, cao cao, tằng tằng, tổ tổ, cao tổ” – Thất Tổ: Là bảy ông tổ. Tổ là ông nội của đời mình; đi ngược lên sáu đời nữa gọi là thất tổ.

Như vậy người Việt Nam dùng cụm từ cửu huyền thất tổ để chỉ nơi thờ cúng ông bà, cha mẹ đã khuất.

tứ long ôm ngọc

Theo truyền thuyết, cai quản cõi Trời (Thiên Đình ) là Ngọc Hoàng thượng đế, ngài có 4 vị Hoàng Tử ai nấy đều tài giỏi, xuất chúng không ai trong trời đất sánh bằng. Thủơ đó, Hắc Ma thoát khỏi ngục giam của Trời định cướp Ngọc Trời xưng bá cõi Thiên Đình, Ngọc Trời có sức mạnh linh khí có thể thay đổi trời đất nên NGỌC HOÀNG cử hàng vạn thiên binh thiên tướng đi bảo vệ Ngọc Trời, nhưng không thể khống chế Hắc Ma và bảo vệ Ngọc Trời. Thấy việc nguy nan Tứ Hoàng Tử bèn xin Ngọc Hoàng đi bảo vệ Ngọc Trời. Những trận chiến kinh thiên động địa diễn ra giữa Tứ Hoàng Tử và Hắc Ma bất phân thắng bại, cuối cùng phần thắng thuộc về Tứ Hoàng Tử và vì thế Bốn vị Hoàng Tử vẫn bảo vệ Ngọc Trời cho tới tận ngày nay.

Và hình tượng của Bốn Vị Hoàng Tử tượng trưng cho Bốn Vị Rồng Thiêng là Đông Hải Long Vương, Nam Hải Long Vương, Tây Hải Long Vương, Bắc Hải Long Vương. Tới ngày nay, dân gian vẫn coi Rồng là linh vật có sức mạnh vô song, vô cùng linh thiêng, và là bậc Đế Vương cai quản 4 Phương, cùng nhau trông ôm chặt Ngọc Trời để bảo vệ Linh Khí của Trời Đất luôn được cân bằng.

Ý nghĩa của biểu tượng tứ long ôm ngọc: Hình ảnh Tứ Long ôm Ngọc Trời thể hiện sức mạnh của chính nghĩa, sức mạnh của sự đoàn kết.

Lưỡng long tranh châu

Trong bức tranh ” ngũ phúc lâm môn ” – phúc tới nhà nên cần vật dẫn và đón phúc vào nhà vì thế ta nên treo biểu tượng Dơi trước cửa đặc biệt là trong những ngày Tết.

bieu tuong doi phong thuy

– Loài dơi còn gọi là Phúc thử ( chuột phúc ) mang thuộc tính của loài chuột, xét theo phong thủy thì không phù hợp đặt biểu tượng hay treo tranh linh vật này ở hướng chính Nam vì hướng này là phương vị xung khắc đối với loài chuột thay vào đó ta treo ở hướng Đông Bắc, Tây Nam, Đông Nam hoặc ở hướng chính Bắc, là những vị trí tương hợp với Dơi.

cửu ngư quần tụ ” hay còn gọi là ” cửu ngư đồ “.

Số 9 trong từ Hán Việt đọc là Cửu nghĩa là lâu dài, vĩnh cửu. Cá trong chữ Hán đọc là Ngư âm đọc là “Yu” đồng âm với từ dư trong nghĩa dư dả như vậy hình ảnh 9 con cá chép với hoa sen mang nhiều ý nghĩa sâu sắc:

tranh đồng cửu ngư quần hội

1. sự bền lâu, vĩnh cửu

2. dư dả sung túc.

3. Sự thanh cao, trong trắng và tinh khiết (hình ảnh hoa sen)

4. Mang ý nghĩa triết lý trong đạo Phật – Nhân quả luân hồi : hoa nở (quá khứ), đài sen(hiện tại) và hạt sen có tâm sen mang mầm sống (tương lai).

5. Hôn nhân (hai hoa cùng một bụi)

6. Sự kế tục (hạt sen gọi là “tử” đồng âm với “tử” là con)

7. Thịnh vượng (lá hoa phủ ấm mặt nước).

8. Tiềm năng, sinh lực dồi dào (xuyên thủng bùn đất vượt lên mặt nước màu mỡ).

9. Sự kiên trì, ý chí vượt khó vươn lên cuộc sống tốt đẹp ( hình ảnh cá chép )

Ý nghĩa của biểu tượng hoa sen trong phật giáo

Đạo Phật lấy hoa sen làm Phật đài, là biểu tượng tinh thần về 5 điều cơ bản 1) Tính vô nhiễm: Sen mọc lên từ chốn tối tăm bùn lầy hôi tanh mà sen không bị vương bẩn. 2) Tính thanh lọc: Khi cây sen lớn lên, sinh sôi nẩy nở thì sẽ làm cho dòng nước nơi đó trở nên trong mát. 3) Tính thuỳ mị của mùi hương: Hương sen toả lên một mùi thơm thanh khiết, không quá nồng nàn, ngào ngạt. 4) Tính thuần khiết: Bông hoa sen từ khi nở tới lúc tàn không hề bị một loài ong bướm nào tới đậu lấy nhụy. 5) Tính kiên nhẫn: Cây sen từ lúc nẩy mầm trong bùn đất, ở đáy nước cho tới lúc vươn lên trên mặt nước rồi xoè lá, trổ hoa là cả một quá trình sinh trưởng kiên nhẫn lớn lao. Thêm nữa, hoa sen trong Phật học còn mang nhiều lớp nghĩa khác. Như kiết già, ngồi phỏng theo thế bông sen gọi là Liên hoa toạ. Khi hai tay chắp lại làm lễ Phật, phỏng theo hình búp sen thì gọi là Liên hoa hợp chứng

Vinh quy bái tổ

Theo sử sách ghi lại vào năm 1484, Vua Lê Thánh Tôn ban lệ “Bia Đá Đề Danh”, nghĩa là ghi lại danh tính của các tân khoa tiến sĩ trong các kỳ thi, bằng cách khắc vào bia đá, dựng ở Văn Miếu tại cố đô Thăng Long, để tên tuổi của họ lưu danh muôn thuở. Trên mỗi bia đá, ngoài khắc tên, tuổi, quê hương của các tân khoa tiến sĩ trong kỳ thi đó, còn có danh tinh của các quan trường chấm thi và một bài văn bia nói về ý nghĩa của việc học hành và việc phục vụ đất nước. Hiện nay tại Văn Miếu Hà Nội vẫn còn 82 bia đá trong tổng số 117 bia đã được lập.

Theo lệ đó mà hàng năm các tân khoa được nhà vua ban yến tiệc, mũ áo, cân đai và cho lính hầu đưa rước về nơi sinh quán “Vinh Quy Bái Tổ”. Dân chúng trong tỉnh huyện, làng xã hãnh diện đón rước vị tân khoa với cờ, lọng, chiêng, trống rầm rộ. Nếu vị tân khoa đã có gia đình thì người vợ cũng được đón rước cùng với chồng theo đúng lệ “ngựa anh đi trước, võng nàng theo sau”. Khi về tới làng, vị tân khoa sẽ đến nhà thờ tổ của dòng họ và đình làng bái tạ tổ tiên, rồi về bái tạ thầy dạy và cha mẹ.

Ý nghĩa của bức tranh ngũ phúc lâm môn

Phúc: nghĩa là những điều may mắn, tốt lành. Phúc thường có ngũ phúc, bách phúc, phúc mãn đường. Ông bà ta thường dạy bảo con cháu tích phúc, làm những điều phúc nghĩa là làm việc tốt, đem những điều tốt lành tới người khác tức là tích phúc cho đới sau.

Lộc: Có hai nghĩa là bổng lộc trời ban, lộc thời phong kiến còn có nghĩa là quan, làm quan sẽ có nhiều bổng lộc vua ban vì thế chữ lộc nghĩa là tiền tài

Thọ: nghĩa là sống lâu, sinh ra trong cõi đời ai chẳng mong muốn sức khỏe để sống lâu hưởng thụ cùng con cháu. “thọ” còn thể hiện quan niệm sống đẹp của người Việt Nam là ” kính lão đắc thọ”, vì thế mà hàng năm con cháu thường tổ chức lễ mừng thọ cho ông bà, cha mẹ.

Khang: nghĩa là mạnh khỏe., tết đến mọi người thường chúc nhau an khang, thịnh vượng – khỏe mạnh và tiền tài. Sức khỏe là tài sản quý giá nhất, không có sức khỏe tiền tài, bổng lộc cũng chỉ là hư vô.

Ninh: nghĩa là bình yên. Một cuộc sống gia đình sung túc, cháu con sum vầy không có nhiều lo toan, bon chen trong cuộc sống, vợ chồng hòa hợp, con cháu hiếu thảo, hào thuận, trên kính dưới nhường.

Ngũ phúc thường được khắc họa qua biểu tượng năm con dơi hay năm quả hồ lô đều có nghĩa là may mắn, tốt lành.

“Tùng – Hạc trường xuân”, hay Tùng Hạc diên niên

Vậy nên, xưa – nay, nhiều người thường dùng hình tượng chim Hạc (như tranh để treo trong nhà,hay hình khối chim Hạc đặt ở vườn hoặc hòn non bộ, v.v) để mong may mắn, trường thọ và lấy đó làm dăn mình. Nhưng mỗi hình dáng và vị trí đặt Hạc còn tượng trưng cho một ý nghĩa riêng trong bức tranh đồng mỹ nghệ Tùng Hạc Trường Xuân:

Hình dáng con hạc đứng trên phiến đá trước sóng triều ngụ ý tới phẩm chất cao quý, mạnh mẽ đối đầu với khó khăn, mang lại may mắn và ấm êm.

Hạc đang bay vút lên trời, tượng trưng cho một thế giới bên kia tốt đẹp, phiêu du; bởi vì khi ai đó chết đi, linh hồn của người ấy sẽ ngồi trên lưng Hạc và được Hạc chở lên thiên đường.

Hình ảnh chim Hạc thấp thoáng giữa những đám mây, lại tượng trưng cho tuổi thọ, sự uyên bác, sáng suốt và cuộc sống vương giả; hình ảnh ấy còn hàm ý chủ nhân đang vươn tới một vị trí cao, đầy quyền lực.

Hình ảnh bầy Hạc đang nô đùa xung quanh những cây Tùng, cây Thông tượng trưng cho sức chịu đựng dẻo dai, kiên cường của gia chủ để có được một cuộc sống danh tiếng, giàu sang.

【#7】Sự Cần Thiết Của Nghi Lễ Nhập Trạch Văn Phòng Mới

Mô tả

Đầu tiên cần phải lựa chọn và tìm được khung giờ tốt để có thể dọn tới văn phòng mới. Để tìm được thời gian dọn văn phòng tốt nhất nên tìm tới những vị thầy xem tướng, số, xem bói có tiếng. Bởi trong trường hợp không xem trước giờ có khả năng đơn vị sẽ lựa chọn phải khung giờ Hắc Đạo và đem tới điềm gở cho chủ văn phòng. Tiếp đó cần tìm hiểu cũng như lựa chọn Bài văn văn khấn nhập trạch văn phòng phù hợp nhất

Thời điểm lựa chọn để chuyển văn phòng tốt nhất là vào buổi sáng tránh trường hợp chuyển vào buổi chiều tối. Bởi đây là thời điểm có nhiều khí xấu sẽ ảnh hưởng không tốt tới nếu chuyển trong thời gian này có thể mang những điềm không may mắn tới doanh nghiệp mình.

Trong quá trình di chuyển đồ đặc sang văn phòng mới chủ doanh nghiệp phải đích thân dọn đồ. Cũng như quan sát đánh giá các đồ vật cũ nếu không sử dụng có thể đem cho hoặc vứt bỏ để tránh trường hợp phải di chuyển nhiều cũng như loại bỏ vía không tốt

Ngoài việc lựa chọn văn khấn nhập trạch cơ quan thì chủ đơn vị cũng cần chuẩn bị một mâm cúng đầy đủ và chỉn chu nhất. Gồm các món như: Một mâm ngũ quả, hương, hoa, 1 cặp đèn cày, 1 miếng thit luộc, 1 con tôm luộc, 1 quả trứng vịt lộn, 3 hũ nhỏ đựng muối – gạo- nước, tiền vàng mã đẹp, 1 đĩa muối gạo, 3 miếng trầu cau, xôi thịt.

– Con Nam Mô A Di Đà Phật (3 lần)

– Con lạy vua cha Ngọc Hoàng Thượng Đế.

– Con lạy quan……..vương hành khiển………….Chi thần…….tào phán quan.

– Con lạy quan Nam Tào Bắc Đẩu

– Con lạy Mẫu Thượng Thiên

– Con lạy Hội Đồng các quan

– Con lạy ông Thành Hoàng Làng, Thần Hoàng Bản Thổ

– Con lạy thần linh Táo Công Vua Bếp

– Con lạy Quan Thần đất, Quan Thần gò

– Con lạy Quan Đại Sự Long thần Thổ thần

Tại nước Cộng Hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, …………………..tỉnh,…………………………..Quận,……………………………..phường, nhà số………………………………………………………………………………………….

Con là…………………….., tuổi……………………….., cùng đồng gia nhân………………….

Hôm nay, ngày……………..tháng…………………năm………………………….(âm lịch)

Chúng con có nén hương, hoa và lễ vật. Chúng con kính dâng lên Vua Cha, Mẫu Mẹ, Hội đồng các quan về chứng lễ để (chúng) con xin nhập trạch về nhà (trụ sở) mới được may mắn thuận lợi, quan trần hàng xóm không gây phiền hà phức tạp gì, xung quanh nước chảy một dòng, thuận trên yên dưới. Cúng con xin cầu nguyện ba tháng hè, chín tháng đông cầu được ước thấy, cầu điều lành mang đến điều dữ mang đi, cầu nhân khang vật thịnh.

Chúng con xin tiếp tài, tiếp lộc, tiếp ngân,tiếp xuyến, tiếp lộc buôn bán làm cho gia trạch (cơ quan) gia trung luôn được bình an khỏe mạnh, ngày một tốt đẹp.

Con Nam Mô A Di Đà Phật (3 lần)

【#8】5 Việc Phải Làm Trong Ngày Vía Thần Tài Để Cả Năm May Mắn

– Thần Tài là một trong những vị thần nổi tiếng của tín ngưỡng phương Đông, chuyên trông coi tiền tài, vàng bạc cho gia chủ. Theo quan niệm dân gian, ngày mùng 10 tháng Giêng được chọn là ngày vía Thần Tài.

Vào ngày này, nhiều người đã sắm lễ vật để cúng vía Thần Tài, cầu xin một năm mới may mắn, thịnh vượng. VietNamNet xin gợi ý một số việc nên làm trong ngày vía Thần Tài để may mắn cả năm?

1. Lau dọn bàn thờ

Để việc thờ cúng trong ngày vía Thần Tài được suôn sẻ, hanh thông, gia chủ nên lau dọn bàn thờ thật sạch sẽ. Việc lau dọn này nên được thực hiện hàng ngày nhưng trong ngày Thần Tài cần chuẩn bị chu đáo hơn.

Bàn thờ là một chiếc khảm nhỏ sơn son thếp vàng, bên trong khảm là bài vị Thần Tài. Trước bài vị là bát hương kê trên 1 khay vàng giấy, hai bên bát hương là 2 cây đèn nhỏ, 1 khay nước gồm 3 cốc nước và 2 chén rượu.

Trên bàn thờ có thể đốt 3 nén nhang hướng vào hướng Tây.

2. Chuẩn bị đồ cúng

Thông thường nhiều người sẽ cúng hoa quả tuy nhiên trong ngày vía Thần Tài cũng nên cúng lễ mặn.

Lễ vật thường gồm: 1 lọ hoa, 1 con tôm, 1 con cá lóc nướng, 1 con cua, 1 miếng heo quay, 1 bộ giấy tiền vàng mã, 1 đĩa ngũ quả, chum rượu.

Dân gian truyền miệng Thần Tài rất thích món cua biển và heo quay, chuối chín vàng.

3. Mua vàng để cúng và tích trữ

Theo tín ngưỡng của cha ông ta từ xưa, người dân muốn năm mới được may mắn, công việc hanh thông, đắc tài đắc lộc, tiền bạc rủng rỉnh thì nên mua vàng vào ngày mùng 10 tháng Giêng hàng năm để lấy may.

Vì vậy trong ngày vía Thần Tài, rất nhiều người dân đổ xô ra các tiệm vàng để mua vàng về tích trữ và cúng trên bàn thờ Thần Tài.

Nhiều người dân đi mua vàng trong ngày vía Thần Tài. Ảnh VietNamNet

Ngoài ra, các vật phẩm phong thủy như cóc ngậm tiền, đá phong thủy… cũng buôn may bán đắt trong ngày Thần Tài.

Chuyên gia phong thủy Nguyễn Mạnh Linh từng cho hay, trào lưu người dân đổ xô đi mua vàng trong ngày “vía Thần Tài” mùng 10 tháng Giêng mong được may mắn tài lộc trong năm mới xuất hiện nhiều những năm gần đây.

Nhưng thực tế, ngày này không có tài liệu nào ghi chép rõ ràng. Trong ngày này, mọi người có thể đi mua bán vàng nhưng không nhất thiết cứ phải chen lấn, mua giá cao.

Ngay từ sáng ngày mùng 10, các gia đình nên có những việc làm biểu thị sự chào đón Thần Tài, chào đón tài lộc.

Gia chủ nên tắm gội sạch sẽ, mặc quần áo chỉnh tề và mở tất cả các cửa nhà, cửa sổ đối diện với hướng Tây (hướng Tài Lộc) để đón nhận nguồn năng lượng tích cực và tài lộc cho cả nhà.

Theo chuyên gia phong thủy Nguyễn Vũ Tuấn Anh (Trung tâm Nghiên cứu Lý học Đông phương, Hội Nghiên cứu Phát triển khoa học Việt Nam – Đông Nam Á), lễ cúng Thần Tài nên vào buổi sáng lúc 7 – 9h (giờ Thìn) là đẹp nhất. Trước khi làm lễ cúng cần lau dọn bàn thờ thận trọng. Mọi người lưu ý không chọn đồ giả bầy lễ.

Lễ Thần Tài nên đặt trong nhà. Nhiều người lễ ở nhà riêng thường đặt mâm cúng trước cửa hay ngoài sân, ban công là không nên vì dân gian quan niệm như vậy sẽ bị vong lang thang phá phách.

5. Đọc văn khấn Thần Tài

Một trong những việc rất quan trọng trong ngày vía Thần Tài là đọc đúng bài văn khấn Thần Tài. Để cung thỉnh Thần Tài về, mọi nhà khi hành lễ nên đọc to bài văn khấn trong ngày cúng vía Thần Tài để mọi việc được hanh thông, gia chủ làm ăn buôn bán phát tài phát lộc.

Văn khấn Thần Tài là điều không thể thiếu trong nghi lễ cúng ngày vía Thần Tài vào mùng 10 tháng Giêng hằng năm.

【#9】Rằm Tháng Bảy Là Ngày Mấy? Cách Sắm Lễ, Bài Văn Khấn Cúng Rằm Tháng Bảy

Ngày Rằm tháng Bảy vừa là ngày Lễ Vu Lan, vừa là ngày Tết Trung Nguyên (xá tội vong nhân ). Lễ Vu Lan là lễ báo hiếu còn Tết Trung Nguyên là ngày xá tội vong nhân.

Sự tích Rằm tháng Bảy – Vu lan báo hiếu

Người miền Bắc vẫn quen gọi ngày rằm tháng 7 là ngày “xá tội vong nhân” cúng các chúng sinh không nhà không cửa. Các chùa lớn vào ngày này thường mở khoá lễ phá ngục cho chúng sinh và tổ chức đại lễ Vu Lan.

Ở miền Nam, rằm tháng 7 thường gọi là tết Vu Lan, ngày để con cái báo hiếu cha mẹ. Sự tích của ngày cúng rằm tháng 7 cũng bắt nguồn từ Phật giáo. Theo đó, Mục Liên không phải tên thật mà chỉ là hiệu. Tên thật của Mục Liên là La Bộc.

Chuyện xưa kể rằng La Bộc là con ông Phổ Tướng và bà Thanh Đề. Vì gia đình túng thiếu, La Bộc phải đi buôn bán ở tỉnh Kiên Liên. Khi đã giàu có, La Bộc nhớ tới mẹ già liền cho người về quê biếu tiền mẹ. Bà mẹ ăn xài hết nhẵn số tiền đó rồi, lại sai người giết chó làm nhân bánh biếu sư. Đến lúc La Bộc về thì bà mẹ lại chối và nói rằng bao nhiêu tiền con gửi về cho đã đem cúng cả vào đền chùa miếu vũ rồi. Chẳng bao lâu bà mẹ chết.

Chịu tang mẹ 3 năm, La Bộc đi qua nước Ki Đô là nơi Phật ở, La Bộc xin ở lại tu luyện. Phật thương tình ưng thuận, sai thầy Kha Na cắt tóc ông và đặt tên là Đại Mục Khiên Liên (Mục Liên) và cho vào tu ở chùa Lã Bí trong rừng Quýt Sơn. Muốn đến rừng Quýt Sơn phải đi qua ngôi chùa Thiên Giai là nơi có những âm hồn nghe kinh. Mục Liên chỉ nhận ra người cha là Phổ Tướng còn mẹ là Thanh Đề thì không. Mục Liên ôm mặt khóc, Phật hiện lên bảo cho biết là Thanh Đề vì khi sống điêu ngoa gian ác nên bị đầy xuống ngục A Tỳ rồi. Mục Liên nghe vậy liền lặn lội xuống ngục A Tỳ tìm mẹ.

Nơi đây bà mẹ Mục Liên phải chịu trăm ngàn cực hình, thấy con tới bà khóc lóc nhờ con tìm cách cứu. Mục Liên thấy mẹ bị như vậy liền lấy bình bát, đem cơm dâng mẹ. Mẹ ngài được cơm nhưng chưa vào miệng cơm đã hoà ra than lửa đỏ hồng. Tôn giả Mục Liên thấy mẹ như thế gào khóc bi thảm, về bạch Đức Phật. Phật dạy phải nhờ tới uy lực mười phương Chúng Tăng, cách cứu độ để những bà mẹ hiện đang đau khổ đều được giải thoát.

Ngày rằm tháng 7 là ngày tự thứ của mười phương Tăng, tất thảy đều tư bi, ứng thọ. Ai được cúng đường Thánh Tăng thì tất cả đều vượt ác đạo, ứng niệm giải thoát. Cũng thế chiếc chậu Vu Lan đựng những tu lực chứng tâm hậu nhất của những đệ tử Đức Phật có thể chuyển nghiệp ác thành nghiệp lành của con người. Mục Liên làm đúng lời Phật dạy, quả nhân mẹ ông được giải thoát. Mục Liên theo mẹ bay lên trời cầu xin Đức Phật xoá tội cho bảy đời họ hàng nhà mình.

Cũng xuất phát từ tư tưởng “nhân- hiếu- trung- tín” của Nho giáo và Đạo giáo bên Trung Quốc, ngày rằm tháng 7 còn gọi là tết Trung Nguyên có tục tế lễ tổ tiên. Đạo giáo còn cho rằng Trung Nguyên một trong ba “nhật kỳ” của tam cung thần cai quản họa phúc của con người chính là ngày Địa cung xá tội. Theo tín ngưỡng dân gian thì ngày này ở âm phủ khảo chiếu sổ sách để đại xá cho các linh hồn ma quỷ cô đơn ngoài đồng nội.

Vì vậy ngày này cùng với cúng tổ tiên nhân dân còn nấu cháo hoa, bỏng ngô, tiền giấy cúng chúng sinh mong họ siêu thoát cũng để tích công đức cho bản thân.

Dựa vào tích ấy, vào ngày rằm tháng 7, các chùa đều làm lễ chay chạy đàn, phá ngục cho các tội nhân. Nhà nhà cũng theo đó thành kính làm lễ vì tin rằng ngày đó dưới âm vong nhân xá tội cho những người quá cố. Noi gương hiếu thuận của Mục Liên, ngày rằm tháng 7 trở thành ngày tết Vu Lan, con cái báo ân cha mẹ.

Lễ cúng rằm tháng bảy hay còn gọi cúng Tết Trung Nguyên. Cách cúng lễ Vu Lan, rằm tháng Bảy tại nhà thường có các lễ: cúng Phật, cúng thần linh, cúng gia tiên, cúng thí thực cô hồn và cúng phóng sinh.

Vào ngày rằm tháng Bảy, sắp một mâm cơm chay hoặc đơn giản hơn là mâm ngũ quả để cúng Phật rồi thụ lộc tại nhà. Khi cúng, tốt nhất là đọc một khoá kinh – Kinh Vu Lan – để hiểu rõ về ngày này, hồi hướng công đức cho những người thân trong quá khứ được siêu sinh. Kinh Vu Lan khá dài, nhưng không đến mức quá dài, lại thuộc thể thơ song thất lục bát nên đọc cũng nhanh thôi.

2. Cúng thần linh và gia tiên

Một số người Việt Nam tin rằng Lễ Xá tội vong nhân bắt nguồn từ công việc đồng áng của người nông dân trước kia. Hằng năm, cứ đến tháng 6-7 âm lịch là vào vụ thu hoạch mùa màng. Để công việc được may mắn, không gặp trắc trở, người dân thường cầu xin thần linh, thổ địa… bắt giam những yêu ma, oan hồn lại cho khỏi quấy nhiễu.

Đến đúng ngày 15/7, mọi việc phải được hoàn tất, đó cũng là lúc “ông thần tha ma, chủ nhà tha thợ cấy”, “mở cửa ngục xá tội vong nhân”. Và cũng vào ngày này, người ta thường làm một lễ cúng tạ ơn các thần linh, và một mâm tưởng nhớ ông bà tổ tiên để cầu nguyện cho các vong hồn siêu thoát và cầu bình an cho gia đình. Vì vậy nên đa phần các gia đình thường cúng cơm mặn, nhưng cúng chay tốt hơn.

a. Văn khấn cúng thần linh tại gia rằm tháng Bảy

Nam mô A Di Đà Phật

Kính lạy: Ngài Kim niên Đương cai Thái tuế Chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân và chư vị thần linh cai quản xứ này.

Hôm nay là ngày rằm tháng 7 năm …. (Nhâm Thìn)

Tín chủ chúng con tên là: … ngụ tại nhà số …., đường …., phường (xã) …., quận (huyện) …, tỉnh (thành phố) …. thành tâm sắm sửa hương hoa, lễ vật và các thứ cúng dâng, bày lên trước án.

Chúng con thành tâm kính mời: Ngài Kim niên Đương cai Thái tuế Chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân và tất cả các vị thần linh cai quản trong khu vực này. Cúi xin các ngài giáng lâm án tọa, soi xét chứng giám.

Nay gặp tiết Vu Lan, ngày vong nhân được xá tội, chúng con đội ơn Tam bảo, Phật trời phù hộ, thần linh các đấng chở che, công đức lớn lao nay không biết lấy gì đền đáp.

Do vậy, chúng con kính dâng lễ bạc, bày tỏ lòng thành, nguyện xin nạp thọ, phù hộ độ trì cho chúng con và cả gia đình chúng con, người người khỏe mạnh, già trẻ bình an hương về chính đạo, lộc tài vương tiến, gia đạo hưng long.

Giải tấm lòng thành cúi xin chứng giám.

b. Văn tế khấn Tổ tiên ngày rằm tháng Bảy

Nam mô A Di Đà Phật

Kính lạy Tổ tiên nội ngoại họ … và chư vị hương linh.

Hôm nay là rằm tháng bảy năm ….

Gặp tiết Vu Lan vào dịp Trung nguyên, nhớ đến Tổ tiên, ông bà, cha mẹ đã sinh thành ra chúng con, gây dựng cơ nghiệp, xây đắp nền nhân, khiến nay chúng con được hưởng âm đức. Vi vậy cho nên nghĩ, đức cù lao không báo, cảm công trời biển khó đền. Chúng con sửa sang lễ vật, hương hoa kim ngân và các thứ lễ bày dâng trước án linh tọa.

Chúng con thành tâm kính mời: Các cụ Cao tằng Tổ khảo, Cao tằng Tổ tỷ, Bá thúc đệ huynh, cô dì tỷ muội và tất cả hương hồn trong nội tộc, ngoại tộc của họ … (Nguyễn, Lê, Trần …)

Cúi xin thương xót con cháu, linh thiêng giáng lâm linh sàng chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho con cháu khỏe mạnh, bình an, lộc tài vượng tiến, gia đạo hưng long, hướng về chính đạo.

Tín chủ lại mời: các vị vong linh y thảo phụ mộc, phảng phất ở đất này, nhân lễ Vu Lan giáng lâm linh tọa, chiêm ngưỡng tôn thần, hâm hưởng lễ vật, độ cho tín chủ muôn sự bình an, sở cầu như ý.

Giải tấm lòng thành cúi xin chứng giám.

3. Cúng thí thực cô hồn (hay còn gọi cúng chúng sinh – theo Phật giáo miền Bắc) tại nhà

Ngoài việc cúng Phật, cúng thần linh và cầu siêu cho gia tiên, người Việt còn có lễ cúng bố thí cho các cô hồn khi tại thế thất cơ lỡ vận, không nơi nương tựa và chịu nhiều oan trái trong xã hội…

* Thời gian: Có thể cúng từ ngày mùng 1 đến 15 tháng 7 (âm lịch).

* Sắm lễ:

– Tiền vàng từ 15 lễ trở lên, quần áo chúng sinh từ 20 đến 50 bộ.

– Tiền chúng sinh (tiền trinh), hoa, quả 5 loại 5 mầu (ngũ sắc).

– Bỏng ngô, khoai lang luộc, ngô luộc, sắn luộc.

– Kẹo bánh. Tiền mặt (tiền thật, các loại mệnh giá).

– Nếu cúng thêm cháo thì thêm mâm gạo muối (5 bát, 5 đôi đũa hoặc thìa)

Chú ý: Không cúng xôi, gà. Khi rải tiền vàng ra mâm, để 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, mỗi hướng từ 3-5-7 cây hương. Bày lễ và cúng ngoài trời.

Sắp lễ cúng thí thực cô hồn tại nhà

Văn khấn:

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương,

Con lạy Đức Phật Di Đà.

Con lạy Bồ Tát Quan Âm.

Con lạy Táo Phủ Thần quân Phúc đức chính thần.

Tiết tháng 7 sắp thu phân

Ngày rằm xá tội vong nhân hải hà

Âm cung mở cửa ngục ra

Vong linh không cửa không nhà

Đại Thánh Khảo giáo A Nan Đà Tôn giả

Tiếp chúng sinh không mả, không mồ bốn phương

Gốc cây xó chợ đầu đường

Không nơi nương tựa đêm ngày lang thang

Quanh năm đói rét cơ hàn

Không manh áo mỏng, che làn heo may

Cô hồn nam bắc đông tây

Trẻ già trai gái về đây họp đoàn

Dù rằng: chết uổng, chết oan

Chết vì nghiện hút chết tham làm giàu

Chết tai nạn, chết ốm đâu

Chết đâm chết chém chết đánh nhau tiền tình

Chết bom đạn, chết đao binh

Chết vì chó dại, chết đuối, chết vì sinh sản giống nòi

Chết vì sét đánh giữa trời

Nay nghe tín chủ thỉnh mời

Lai lâm nhận hưởng mọi lời trước sau

Cơm canh cháo nẻ trầu cau

Tiền vàng quần áo đủ màu đỏ xanh

Gạo muối quả thực hoa đăng

Mang theo một chút để dành ngày mai

Phù hộ tín chủ lộc tài

An khang thịnh vượng hoà hài gia trung

Nhớ ngày xá tội vong nhân

Lại về tín chủ thành tâm thỉnh mời

Bây giờ nhận hưởng xong rồi

Dắt nhau già trẻ về nơi âm phần

Tín chủ thiêu hoá kim ngân

Cùng với quần áo đã được phân chia

Kính cáo Tôn thần

Chứng minh công đức

Cho tín chủ con

Tên là:………………………………

Vợ/Chồng:………………………….

Con trai:……………………………

Con gái:…………………………….

Ngụ tại:……………………………..

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

4. Cúng phóng sinh

Có thể phóng sinh chim, cá, tôm, cua v.v, tuyệt đối không phóng sinh rùa tai đỏ vì hủy hoại môi trường. Việc phóng sinh này tùy theo tín tâm và điều kiện của mỗi gia đình phật tử, không bắt buộc.

Văn khấn cúng phóng sinh

Chúng sanh nay có bấy nhiêu

lắng tai nghe lấy những lời dạy răn

các ngươi trước lòng trần tục lắm

nên đời nay chìm đắm sông mê

tối tăm chẳng biết làm lành

gây bao tội ác, lạc vào trầm luân

do vì đời trước ác tâm

nên nay chịu quả khổ đau vô cùng

mang, lông, mai, vẩy, đội sừng

da trơn, nhám, láng, các loài súc sanh

do vì ghen ghét, tham sân

do vì lợi dưỡng hại người làm vui

do vì gây oán chuốc thù

do vì hại vật, hại sanh thoả lòng

do vì chia cách, giam cầm

do vì đâm thọc chịu bao khổ hình

cầu xin Phật lực từ bi

lại nhờ Phật tử mở lòng xót thương

nay nhờ Tăng chúng hộ trì

kết duyên Tam bảo thoát vòng khổ đau

hoặc sanh lên các cõi trời

hoặc liền thức tỉnh về nơi cõi lành

hoặc sanh lên được làm người

biết phân thiện ác, tránh điều lầm mê…..

Chúng sanh quy y Phật

Chúng sanh Quy y Pháp

Chúng sanh Quy y Tăng….

Úm, ngâm ngâm ngâm (3 lần)

【#10】Trung Thu Nghe Dân Chợ Lớn Sài Gòn Kể Chuyện Văn Hóa, Tập Tục Cúng Kiếng Của Người Hoa

Những ngày này, đi dọc các tuyến đường chính của Chợ Lớn thuộc khu vực Quận 5, chúng tôi người ta dễ dàng bắt gặp hình ảnh các sạp treo kín lồng đèn rực rỡ. Từ đèn ông sao, đèn cá chép gắn liền với bao thế hệ tuổi thơ trẻ em Việt Nam, đến lồng đèn dạng cầu, dạng dài đậm hồn Đông Á.

Dĩ nhiên không ai dư tiền thừa của tới nỗi mua lồng đèn về rồi treo khơi khơi, nhưng một cách gián tiếp các hộ kinh doanh tạo nên cả khu lồng đèn làm đẹp phố phường những ngày rằm tháng 8. Dù công việc bán buôn không mấy suôn sẻ, nhưng các cô các chú cũng thấy vui trong lòng vì dù sao cũng đã góp phần làm đẹp cho đời.

“Năm nay bán hàng không bằng mọi năm, người ta tới tham quan nhiều hơn là mua đồ, còn mấy ngày nữa là tới Trung Thu mà bây giờ lồng đèn còn chất thành đống. Nghĩ cũng buồn lắm, nhưng thôi kệ. Thấy mấy đứa lớn kéo tới chụp hình cười nói làm vui vẻ cả con đường, ngày thường dễ gì được như vậy; còn mấy đứa nhỏ thì được ba má cõng trên vai, mắt mở to nhìn vào mấy cái lồng đèn rồi cười tít, cưng lắm”, một người kinh doanh lồng đèn trên đường Lương Nhữ Học nói.

Đến đêm muộn, khi lượng khách từ xa kéo đến đã vãn dần, phố lồng đèn lúc này chỉ còn đúng lồng đèn đúng nghĩa, thì cũng là lúc có thể trò chuyện để hiểu nhau hơn về những con người đầu hai thứ tóc nhưng vẫn “rước đèn” cùng các cháu các em, vẫn tô thêm những mảng màu nhí nhảnh cho cuộc sống vốn dĩ khó khăn.

Chuyện cái bánh trung thu trứng muối

Sinh ra và lớn lên tại Chợ Lớn nhưng mang trong mình dòng máu dân Quảng Đông, chú Minh cầm trên tay cái lồng đèn cá chép đặc trưng của người Việt để kể chuyện cái bánh trung thu của người Hoa. “Tính ra, bánh trung thu của Việt Nam mình chơi hơi bị sang luôn đó con”, chú chắc nịch.

Để phân minh “sang” là sang như thế nào, chú tiếp chuyện: “Bánh trung thu ở Việt Nam mình làm theo nguyên bản của bánh trung thu ở Quảng Đông, ngoài vỏ và nhân bánh ra thì còn có hai quả trứng muối ở giữa, tượng trưng cho Song Hỉ vì cái gì đi theo đôi cũng tốt đẹp mà.

Nhưng khắp cái châu Á này, không phải chỗ nào cũng làm bánh với trứng muối như vậy. Bởi vì người ta nuôi gà nhiều hơn nuôi vịt, gà cũng dễ nuôi công nghiệp hơn, nên số lượng ‘hột’ gà so với hột vịt phải nói là áp đảo một trời một vực, vậy mà dân ta vẫn chơi sang, vẫn muối hột vịt để làm bánh”.

Thật vậy, nếu 10 quả trứng được bán đi và tiêu thụ trên toàn cầu thì đã có 9 quả là đến từ con gà, nửa quả kia từ con vịt và nửa quả còn lại là từ các loài chim khác. Việt Nam, Trung Quốc và Thái Lan là các nước sản xuất và xuất khẩu trứng vịt nhiều nhất thế giới, chiếm gần 100% số lượng toàn cầu.

Trứng gà muối không bổ dưỡng cũng như không hòa vị với bánh tốt như trứng vịt muối, vì vậy ông cha ta từ lâu đã sử dụng hột vịt muối để làm tâm điểm của bánh là không thể sai, đừng nên cãi. Nhưng không phải ở đâu cũng có nguồn cung trứng vịt dồi dào như nước ta để làm bánh.

“Có nhiều nước khác cũng ăn Trung Thu như ở Việt Nam, ở Quảng Đông nhưng họ làm bánh trung thu theo một ‘trường phái’ khác. Ở đó, người ta làm bánh nhỏ xíu và thậm chí là không có lòng đỏ muối bên trong luôn. Thành thử ra, con mà đem tặng bánh trung thu ở Việt Nam cho dân ở nước khác, đảm bảo sẽ được khen là chơi lớn”, lão Minh cười khanh khách kể chuyện.

Ăn Quận 5, nằm Quận 3, xa hoa Quận 1

Trung Hoa trải dài từ bắc xuống nam, từ tây sang đông, kinh qua nhiều miền khí hậu và nhiều nền văn hóa nhỏ lẻ, nên người Hoa sau bao thế hệ đã tích lũy được cho mình cả kho tàng thực đơn, tạo nên một nền ẩm thực chỉ nhìn thôi là biết đó là món ăn Hoa.

Đến Chợ Lớn lập nghiệp từ thế kỷ 17, cộng đồng người Hoa ở miền nam Việt Nam vẫn gìn giữ được bản sắc của riêng mình qua cách xây dựng cộng đồng, kinh doanh buôn bán, diễn hát văn nghệ mà đặc biệt là nấu nướng ăn uống. Để biết được món Hoa có ngon không, cứ lẩm nhẩm câu thần chú “Ăn Quận 5, nằm Quận 3, xa hoa Quận 1”.

Đến Quận 5 – trung tâm của Saigon’s China Town – bạn sẽ được ngất ngây với thiên đường ẩm thực với cả trăm món ăn ngon mang đậm hương vị Trung Hoa truyền thống như: há cảo, sủi cảo, bánh bao, hủ tiếu sa tế, mì vịt tiềm, gà ác tiềm thuốc Bắc, cơm Triều Châu, cháo Tiều, heo quay, vịt quay, phá lấu, mì kéo sợi, hàu chiên trứng,…

“Nói không phải khoe, chứ chú không mở nhà hàng là hên cho tụi nó (các quán ăn khác), tại vì chú không muốn tụi nó bị ế thôi”, ông chủ sạp lồng đèn cười to, nói đùa, “Nói là nói vậy thôi, mặc dù không có học nấu bếp ngày nào, nhưng lúc nhỏ cũng được sư phụ mama (mẹ) dạy cho vài chiêu, nên bây giờ nấu đồ cũng ngon lành lắm à. Đã là người Quảng, người Hoa thì phải biết nấu ăn, không thôi bị nói là mất gốc, kì lắm”.

Nói về ẩm thực, chú Minh cũng chia sẻ một câu chuyện về văn hóa của người Hoa mà không biết vì lý do gì đã ảnh hưởng đến người Việt hiện đại rất nhiều: “Đi ăn tiệc, ăn hàng quán, ai cũng ăn rất dữ cho tới khi còn miếng cuối cùng thì không ai ăn, ai cũng nhìn nhau rồi cho qua miếng đó.

Có người thì nói là miếng dằn đĩa cho hà bá, không thôi nó lên nó kiếm mình; người khác thì nói là chừa lại miếng cuối để sau này còn có cái mà ăn, không thôi khổ đói kiếp này, kiếp sau; ba chú thì dạy là phép lịch sự; nhưng mà nói gì thì nói, gặp tao là tao ăn hết”, lão Minh lại bật cười thành tiếng, hề hước chia sẻ.

Tết nào cũng đều cúng kiếng tổ tiên

Xuôi theo tuyến phố rực rỡ ánh sáng lồng đèn, dừng chân ở một quán mì không biết có phải của người Hoa không nhưng chỉ viết bảng hiệu và thực đơn bằng Hán tự. Ăn một tô mì sủi cảo, được bà chủ quán khuyến mãi một lô chuyện kể về người Hoa.

Tết đầu năm mới, Tết Nguyên Tiêu nửa năm hay Tết Trung Thu,… Tết nào thì Tết, người Hoa vẫn luôn nhớ đến tổ tiên và cúng kiến đầy đủ mâm cỗ để tỏ lòng thành biết ơn với tiền nhân. Trước rằm, người ta lo đi chợ mua đồ về nấu nướng, mua hoa về trưng, mua nhang đèn đủ đầy.

“Cúng kiếng Tết Trung Thu cũng như mấy cái Tết khác, để bàn thờ được ấm, ấm ở đây không phải là ấm do nhang do đèn, mà ấm tình người, tình nghĩa con cháu của mình với ông bà tổ tiên. Sau nữa, cúng kiếng để các vong hồn kém may mắn, phải lang thang trong khổ lạnh, được chút ấm áp để mà không quấy phá người dương”, cô Hoa, chủ quán mì chia sẻ.

Cúng nào cũng có đủ đầy thức ăn và hoa đèn, cúng Trung Thu thì người Hoa trưng những gì lên mâm cỗ? Khác với người Việt, người Hoa thường cúng dâng vịt quay và dưa hấu bên cạnh bánh trung thu, bánh pía và các loại bánh kẹo thường thấy.

“Thịt vịt đẩy khí hỏa ra khỏi cơ thể, giúp cân bằng âm dương trong con người cũng như ở xung quanh mình, đó cũng là lý do tại sao bánh trung thu lấy trứng vịt muối làm nhân bên trong. Dưa hấu tượng trưng cho sự sinh sôi nảy nở, hình dáng tròn trịa cũng biểu thị sự tròn vẹn mà ai cũng muốn có”, cô bật mí về mâm cỗ nhà mình.

Ngoài ra, còn có bánh nguyệt là loại bánh to tròn có màu trắng giống Mặt Trăng trên bầu trời; có mì trường thọ là những sợi mì dai, dài, khó đứt với mong muốn được sống đời sống kiếp hoặc ít nhất cũng không phải bất đắc kỳ tử. Dĩ nhiên không thể không có vàng mã, giấy tiền âm phủ,…

Mâm cúng được bày trước sân, nghi ngút khói nhang từ giờ Mão đến giờ Hợi (6 giờ chiều đến sau 9 giờ tối), lúc này Mặt Trăng đã xuất hiện và leo cao dần lên trên bầu trời. Mang theo trong những làn khói trắng là ước nguyện của gia chủ về nhà cửa êm ấm, kinh doanh thuận lợi và xã hội thái bình, muôn dân no ấm.