Tượng Phật A Di Đà

--- Bài mới hơn ---

  • Sự Tích Đức Phật A Di Đà
  • 5. Nghi Cúng Vía Phật A Di Đà
  • Phân Biệt Cách Dùng Kỷ 5 Ly Và Kỷ 3 Ly Trong Thờ Cúng
  • Hỏi Đáp Phật Giáo: Xá Lợi Phật Là Gì?
  • Phong Tục Thờ Cúng Gia Tiên Và Đức Phật Trong Văn Hóa Phật Giáo
  • Tượng Phật A Di Đà thường được thờ trong chùa hoặc các gia đình theo đạo Phật. Vậy ý nghĩa của việc thờ cúng tượng Phật A Di Đà là gì?

    Tìm hiểu hình tượng Phật A Di Đà

    Phật A Di Đà là một trong các vị thần có tuổi thọ “vô lượng thọ” (không thể lượng được tuổi thọ). Ngài là vị giáo chủ của cõi cực lạc phương Tây. Phật A Di Đà được biết đến với 48 lời nguyện lớn trước khi trở thành Phật. Một trong những lời nguyện đó là sẵn sàng tiếp dẫn chúng sinh khi chúng sinh niệm danh hiệu của ngài. Vì thế, các Phật tử thường có thói quen niệm “A Di Đà Phật” mỗi khi gặp chuyện không may để mong có được sự giúp đỡ, độ trì của Ngài.

    Tượng Phật A Di Đà trong thờ cúng thường có 2 hình dạng:

    • Tượng Phật A Di Đà ngồi kiết già trên tòa sen, tay kiết định ấn, tương tự tượng Phật Thích Ca.
    • Tượng Phật A Di Đà đứng trên hoa sen, lơ lửng trong hư không, bên dưới là biển cả sóng dậy chập chồng, mắt Ngài nhìn xuống, tay mặt đưa lên ngang vai, tay trái duỗi xuống như sẵn sàng chờ đợi tiếp cứu những người đang trầm mịch. Tượng ấy gọi là tượng Di Đà phóng quang. Tay phải của Phật A Di Đà đưa lên biểu thị tứ thánh (Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát, Phật), tay trái duỗi xuống biểu thị lục phàm (Thiên, nhơn, A-tu-la, súc sanh, ngạ quỉ, địa ngục). Nghĩa là Ngài sẵn sàng tiếp độ lục phàm đưa lên quả vị tứ thánh.

    Ý nghĩa của việc thờ cúng tượng Phật A Di Đà

    • Đức Phật A Di Đà xuất hiện để thực hiện nghĩa vụ phổ độ chúng sinh. Ngài đưa con người thoát ra khỏi những điều khốn khổ trong cuộc sống. Hướng về những điều thiện, tránh những cái ác trong cuộc sống.
    • Nếu con người sớm thức tỉnh, nhận ra chân lý của sự khổ đau, thoát khỏi bể ái thì sẽ được Phật dẫn dắt. Nhờ đó con người nhận ra những điều chân lý và tránh khỏi buồn đau cuộc sống.
    • Phật A Di Đà thường được thờ cạnh Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và Phật Di Lặc. Hàm ý để thể hiện cho quá khứ, hiện tại và tương lai. Trong đó Phật A Di Đà được coi là hiện hữu của quá khứ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Kiêng Kỵ Và Cách Thờ Cúng Tượng Phật A Di Đà
  • Nghi Cúng Đại Lễ Đức Phật Thành Đạo Ngày Mồng 08.12.âl
  • Phật Giáo: Nghi Cúng Lễ Phật Thành Đạo
  • Nghi Cúng Lễ Phật Thành Đạo
  • Phật Giáo Không Có Nghi Lễ Cúng Sao Giải Hạn
  • Sự Tích Đức Phật A Di Đà

    --- Bài mới hơn ---

  • 5. Nghi Cúng Vía Phật A Di Đà
  • Phân Biệt Cách Dùng Kỷ 5 Ly Và Kỷ 3 Ly Trong Thờ Cúng
  • Hỏi Đáp Phật Giáo: Xá Lợi Phật Là Gì?
  • Phong Tục Thờ Cúng Gia Tiên Và Đức Phật Trong Văn Hóa Phật Giáo
  • Shop Bán Tượng Phật Đẹp Tại Quận 5
  • Đức phật A Di Đà là một ngôi giáo chủ trên cõi Lạc Bang, oai đức không cùng, thệ nguyện rất lớn, mở môn phương tiện, độ kẻ chúng sanh ra khỏi Ta bà đem về Tịnh độ.

    Trong Kinh Bi Hoa nói rằng: “Về khoảng hằng sa kiếp trước, có một đại kiếp gọi là Thiện trì”. Khi ấy tại cõi Tản đề lam thế giới có vua Chuyển Luân Thánh Vương, tên Vô Tránh Niệm, thống lãnh cả bốn xứ thiên hạ: một là Đông thắng thần châu, hai là Nam thiệm bộ châu, ba là Tây ngưu hóa châu, và bốn là Bắc cu lô châu, tiếng nhơn hiền đồn dậy bốn phương, đức từ thiện đượm nhuần khắp xứ, nên hết thảy nhân dân ai nấy cũng sẳn lòng ái kính.

    Vua ấy có nhiều người con và có một vị đại thần, tên là Bảo Hải, con dòng Phạm Chí, rất tinh thông về nghề xem thiên văn.

    Ông Bảo Hải lại có một người con trai tướng tốt lạ thường, từ dưới chân lên đến trên đầu đều có ba mươi hai dấu tốt.

    Khi con ông mới sanh ra, thì có các hàng khách tôn quý đem nhiều đồ lễ vật đến dưng cho, nhơn vậy mà đặt tên là Bảo Tạng.

    Lúc khôn lớn, thì Bảo Tạng xem biết việc đời là thống khổ thân mạng lại vô thường, tự nhiên sanh lòng chán ngán, bỏ cuộc vinh hoa, liền xuất gia tu hành, chẳng đặng bao lâu mà đã thành Phật, hiệu là Bảo Tạng Như Lai, đủ các đạo Pháp nhiệm mầu, thần thông rộng lớn. Khi thành Phật rồi, thì Ngài dạo khắp các nơi mà hóa độ chúng sanh, có nhiều hàng đệ tử đã chứng đặng quả Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát, nên nhơn dân ai nấy cũng sẵn lòng hoan nghinh.

    Có một bữa kia, vua Vô Tránh Niệm nghe Phật Bảo Tạng cùng Đại chúng đến giảng Đạo tại vườn Diêm Phù, gần bên thành, thì tự nghĩ rằng: “Nay Ta muốn đến chỗ Phật, đặng xem coi giảng Đạo lý gì mà thiên hạ tín ngưỡng đông như thế!”

    Nghĩ như vậy rồi, vua cùng các vị vương tử, đại thần và quyến thuộc bèn đến vườn Diêm phù lễ Phật vừa xong, liền đi chung quanh ba vòng, rồi ngồi bên Ngài mà nghe Pháp.

    Vua Vô Tránh Niệm xem thấy Đức Bảo Tạng Như Lai khoanh chân ngồi trên bảo tọa có hình con sư tử, rất bực trang nghiêm, đủ tướng tốt đẹp, chung quanh thân Ngài có ánh sáng nhiều sắc chói lòa.

    Còn trong Pháp hội thì thấy: nào là những người đã xuất gia làm đệ tử của Phật cạo tóc đắp y, nào là những hàng vương tử đại thần mặc đồ anh lạc, nào là cung nga mỹ nữ dung mạo tốt xinh, nào là sĩ, nông, công, thương, áo xiêm chỉnh đốn, kẻ thì chấp tay ngồi im lặng, người thì quỳ gối thưa hỏi, xem bộ ai nấy cũng chăm ngó Phật mà nghe Pháp cả.

    Vua Vô Tránh Niệm quan sát khắp đủ mọi lẽ, bèn ngắm nhìn thân mình, rồi trở lại ngó Phật, mắt sững không nháy, lòng thiệt hoan nghênh, cái tâm niệm tín ngưỡng tự nhiên phát lộ, liền đảnh lễ Ngài và đi xung quanh ba vòng, rồi cũng ngồi xuống một bên Ngài mà chăm nghe lời giảng dạy.

    Vua nghe đức Bảo Tạng Như Lai diễn đủ các Pháp, thì lòng đã mở thông, căn thân thanh tịnh, rõ đường giải khổ, biết sự làm lành, liền quỳ xuống chấp tay mà thưa rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Nay tôi muốn sắm đủ những đồ ăn uống: áo chăn, mền nệm và thuốc men, đặng dưng cúng cho Ngài và đại chúng luôn trọn ba tháng ở đây mà giảng đạo, xin Ngài từ bi ai nạp”.

    Vua Vô Tránh Niệm thấy Phật nhận lời, liền trở về truyền lịnh sắm sửa đủ mọi lễ, cứ đúng buổi mà dưng cúng không hề trễ nãi.

    Vua lại khuyên bảo các vị vương tử, đại thần, quyến thuộc và nhơn dân rằng: “Các ngươi có biết hay không?

    Nay Trẫm đã mở lòng bố thí, kính thỉnh Đức Bảo Tạng Như Lai và đại chúng đến mà cúng dường trọn ba tháng. Những đồ báu trọng ngon đẹp của Trẫm thọ dụng bấy lâu nay đều đem dâng cúng tất cả. Các ngươi cũng thể theo ý Trẫm xả bớt huyễn tài mà cúng Phật Tăng đặng cầu phước báu”

    Cả thảy đều vâng lời vua khuyên, hết lòng sắm sửa lễ vật mà dưng cúng Phật.

    Có một hôm, quan Đại thần Bảo Hải, là phụ thân Đức Bảo Tạng Như Lai, nằm chiêm bao thấy vua Vô Tránh Niệm làm sự bố thí thì lớn, mà việc cầu phước báu thì nhỏ. Sự ao ước của vua còn thuộc về phước hữu lậu trong cõi nhơn thiên, chưa thoát ra khỏi luân hồi sanh tử.

    Vậy nên quan Đại thần chẳng đặng vui lòng, vì ý của ông muốn làm sao cho vua phát tâm cầu quả Bồ đề, tu thành Phật đạo mà cứu vớt mọi loài chúng sanh, chớ không muốn cho vua cầu phước báu nhỏ nhen như hàng tiểu dân vậy.

    Quan Đại thần suy nghĩ như vậy, bèn đến chỗ Phật Bảo Tạng Như Lai tỏ điềm chiêm bao ấy, và tâu với vua Vô Tránh Niệm rằng: “Muôn tâu Đại Vương! Xin suy nghĩ đến việc này. Về sự sanh tử luân hồi phải bỏ thân này mang lốt khác, nên khó đặng thân người. Nay Đại Vương đã cảm lấy phước báu làm đặng vương thân, thiệt là quí báu biết dường nào! Các Đức Phật tùy cơ duyên của chúng sanh cảm triệu mà ứng hiện ra đời, cũng như bông ưu đàm ứng thời mà nở, thiệt là ít có! Nay Đại Vương gặp Phật xuất thế, thì phần hân hạnh biết bao! Dứt trừ lòng dục vọng, làm mọi sự phước duyên, cũng là việc khó mà Đại vương làm đặng như vậy, thiệt là ít ai bì đặng!

    Xin Đại Vương thứ lỗi cho ngu thần hỏi lời này: Ngày nay Đại Vương cúng dường Phật Tăng, dùng phước duyên đó mà cầu nguyện những việc chi, xin cho ngu thần rõ.

    Nếu Đại Vương muốn cầu sanh về cõi Trời mà làm một vị thiên tử hưởng sự phước thọ hay là muốn cầu sanh về cõi Nhơn gian làm vua Chuyển Luân, thống lãnh bốn châu thiên hạ như ngày nay vậy, thì cũng còn ở trong khổ ải, chớ chưa ra khỏi vòng sanh tử luân hồi.

    Thưa Đại Vương! Hai sự phước báu tôi đã trần tấu đó đều là tướng vô định, đều là sự vô thường, thí như cơn gió thổi, dường tợ đám mây tan, có chắc chắn lâu dài chi đâu mà phải cầu nguyện!

    Nếu sanh về cõi Trời, khi hưởng sự khoái lạc mà có tạo ác nghiệp, thì cũng phải đọa vào địa ngục, đặng chịu khổ. Còn như sanh về cõi nhơn gian, thì lại chịu mọi sự khổ não phần thì oán cừu gặp gỡ, phần thì ân ái chia lìa cái khổ trạng ấy không thể kể xiết.

    Vì Đại Vương nhờ nhân duyên tu phước đời trước, nên mới hưởng đặng sự tôn vinh như vầy. Nếu nay Đại vương giữ gìn giới luật, thì sẽ đặng phước báu lớn hơn nữa: còn như tu học chánh pháp, thì sẽ thành chưởng trí.

    Vậy xin Đại vương nên phát tâm cầu đạo Vô Thượng Bồ Đề, chớ đừng cầu nguyện những việc phước nhỏ nhen như hạng người thường kia vậy.

    Vua Vô Tránh Niệm nghe quan Đại thần Bảo Hải khuyến thỉnh như thế, thì tâm lượng tự nhiên mở rộng, liền đáp rằng: ” Trẫm chẳng cầu những việc như khanh nói đó đâu! Trẫm muốn trải khắp trong đường sanh tử, làm sự bố thí, trì giới, hầu nghe những pháp mầu nhiệm, tu hạnh Bồ Tát và cứu vớt chúng sanh, do nhân duyên ấy mà phát tâm Bồ Đề”.

    Đại thần Bảo Hải lại nói rằng: “Bồ đề là một đạo rất trong sạch sáng suốt, rất ngay thẳng chính đáng rất trang nghiêm tốt đẹp, rất rộng lớn cao sâu, khắp cả hư không, trùm cả sa giới rất có oai thần mảnh lực.

    Vả lại đạo Bồ đề là hạnh bố thí, sẽ đặng giàu sang, là hạnh trì giới, sẽ đặng thanh tịnh, là hạnh nhẫn nhục, sẽ đặng vô ngã, là hạnh tinh tấn, sẽ đặng bất thối, là hạnh thiền định, sẽ đặng vắng lặng, là hạnh Bát nhã, sẽ đặng sáng suốt.

    Tu được như vậy mới đến chỗ an lạc và mới chứng đặng quả Niết Bàn. Vậy xin Đại vương nên phát tâm mà cầu đạo ấy.

    Vua Vô Tránh Niệm đáp rằng: “Này khanh! Đương thời trung kiếp, mỗi người sống lâu chỉ có tám vạn tuổi mà thôi! Nay Đức Bảo Tạng Như Lai ứng hiện ra đời mà giáo hóa chúng sanh, hoặc có kẻ chứng pháp Tam muội, hoặc có người đặng bực Bồ Tát, hoặc đặng thọ ký làm Phật, hoặc đặng quả báo nơi cõi Nhơn Thiên. Trong hàng chúng sanh có một người nào không trồng căn lành mà Đức Như Lai chẳng nói Pháp đoạn khổ.

    Tuy Ngài là phước điền của chúng sanh, song những người không có căn lành thì Ngài không có thể hóa độ cho dứt đặng mọi sự khổ não”.

    Nay Trẫm phát Bồ đề tâm, tu Bồ Tát hạnh, học đạo Đại thừa, chứng pháp môn rất mầu nhiệm, chuyên làm Phật sự mà giáo hóa chúng sanh. Trẫm muốn cầu làm sao cho khi thành Đạo Bồ đề, thì Thế giới đặng trang nghiêm thanh tịnh chúng sanh không còn có một chút khổ gì. Nếu đặng như vậy thì Trẫm sẽ chứng đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

    Vua Vô Tránh Niệm nói như vậy rồi, bèn đi với quan Đại thần Bảo Hải đến chỗ Đức Bảo Tạng Như Lai, thấy Ngài đương nhập định, lại dùng phép thần thông biến hóa và phóng hào quang sáng suốt, hiện cả mười phương thế giới của Chư Phật ra trước mặt cho chúng hội xem: hoặc có cõi Phật đã Niết Bàn rồi, hoặc có cõi Phật đương Niết Bàn, hoặc có các cõi vị Bồ Tát mới ngồi nơi đạo tràng dưới cây Bồ đề, đương hàng phục chúng ma, hoặc có cõi Phật mới thành đạo và mới nói Pháp, hoặc có cõi Phật thành đạo đã lâu, đương còn nói Pháp, hoặc có thế giới toàn là các bực Bồ tát, hoặc có thế giới toàn là những hàng Thinh Văn và Duyên Giác, hoặc có thế giới không có Phật, Bồ Tát, Thinh Văn và Duyên Giác chi hết, hoặc có thế giới đủ năm món ác trược, hoặc có thế giới đủ các thứ trang nghiêm, hoặc có thế giới hèn dơ nhớp, hoặc có thế giới tốt đẹp lạ thường, hoặc có thế giới mà nhơn dân sống lâu vô cùng, hoặc có thế giới mà nhơn dân thọ mạng ngắn ngủi, hoặc có thế giới thường bị tai nạn thủy hỏa, hoặc có thế giới hằng bị tai nạn gió bão, hoặc có thế giới gần thành tựu, hoặc có thế giới đã thành tựu rồi.

    Đại thần Bảo Hải thấy vậy, bèn tâu với vua Vô Tránh Niệm rằng: “Nay Đại vương nhờ sức oai thần của Đức Như Lai mà đặng thấy các thế giới, vậy Đại vương phát Bồ đề tâm muốn cầu lấy thế giới nào”

    Vua chấp tay mà thưa với Đức Bảo Tạng Như Lai rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Chẳng biết các vị Bồ Tát tu hạnh gì mà chiếm đặng cõi Phật tốt đẹp trang nghiêm, tu nghiệp gì mà chiếm đặng thế giới xấu xa ác trược.

    Do nghiệp gì mà đặng thọ mạng lâu dài, tạo nghiệp gì mà thọ số ngắn ngủi? Xin Ngài chỉ dạy cho tôi biết mà tu học”.

    Đức Bảo Tạng Như Lai nói rằng: “Vì bởi các vị Bồ Tát có sức thệ nguyện, muốn ở cõi thế giới thanh tịnh, không có các điều ác trược, nên sau khi thành đạo được về ở cõi ấy rất trang nghiêm.

    Còn các vị Bồ Tát nào do sức thệ nguyện, muốn ở cõi thế giới ngũ trược đủ sự phiền não, nên sau khi thành đạo về ở cõi ấy”.

    Vua Vô Tránh Niệm lễ Phật rồi lui trở về trong cung, một mình ngồi im lìm mà suy nghĩ đến sự thệ nguyện của mình, mong cầu cho đặng cõi cực kỳ tốt đẹp, đặng tiếp dẫn chúng sanh.

    Suy nghĩ rồi vua bèn trở lại lễ Phật mà thưa rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Vì tôi muốn chứng đạo Bồ đề, nên đem công đức cúng dường Ngài và đại chúng trong ba tháng mà cầu đặng cõi Phật rất thanh tịnh trang nghiêm.

    Bạch đức Thế Tôn!

    1- Nay tôi nguyện trong khi tôi thành Phật, làm sao đặng một thế giới đủ sự vui đẹp, hình dạng nhơn dân trong cõi ấy toàn là sức vàng và không có những đường địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh xen ở chung lộn. Hết thảy chúng sanh nơi cõi ấy chẳng khi nào còn phải thối chuyển mà đọa vào trong ba đường dữ đó nữa, và người nào cũng đủ sáu phép thần thông và căn thân tốt đẹp.

    2- Tôi nguyện tất cả chúng sanh được về cõi ấy, đều thành đàn ông tươi tốt vô cùng, không còn thọ báo sắc thân đàn bà và cũng chẳng cần có danh hiệu của người đàn bà nữa. Hết thảy chúng sanh khi được về đó, thần thức đầu thai trong bông sen, lúc bông nở ra thì căn thân xinh tốt, thọ mạng lâu dài, không kể xiết đặng.

    3- Tôi nguyện cõi ấy đặng trang nghiêm, cảnh vật thiệt xinh đẹp, không có mọi sự nhiễm trược, hằng có hoa tốt hương thơm mùi bay các hướng.

    4- Tôi nguyện cho chúng sanh trong cõi ấy, ai nấy cũng đều đặng ba mươi hai tướng tốt, sáu phép thần thông, trong giây phút dạo khắp các cõi Phật trong mười phương, đặng cúng dường và nghe Pháp, rồi trở về cũng chưa trễ buổi ăn.

    5- Tôi nguyện nhơn dân trong cõi ấy đều đặng mọi sự thọ dụng tự nhiên, đúng giờ ăn thì có đủ các món ngon vật lạ hiện ra trước mắt, còn muốn bận đồ gì thì có áo xiêm tốt đẹp hiện ra bên mình, không cần phải sắm sửa như trong cõi nhơn gian vậy.

    6- Tôi phát nguyện cầu đặng cõi Phật như vậy, đặng từ rày về sau, đời đời kiếp kiếp, thường tu hạnh Bồ tát, làm sự hi hữu mà tạo thành cõi Tịnh Độ, đến thời kỳ chứng đạo thì ngồi dưới cây Bồ đề mà thành quả Chánh Giác, phóng hào quang soi các thế giới cho các Đức Phật đều xem thấy, đặng khen ngợi danh hiệu của tôi.

    7- Tôi nguyện khi thành Phật rồi, những loài chúng sanh ở trong thế giới khác, đã có tu tập thiện căn, hễ nghe danh hiệu tôi mà muốn sanh về cõi tôi, đến khi lâm chung đặng vãng sanh, chỉ trừ những người phạm tội ngũ nghịch, tội chê bai các Pháp Đại thừa và phá hư Chánh Pháp mà thôi.

    8- Tôi nguyện khi tôi thành Phật rồi, mà có chúng sanh ở các thế giới đã phát Bồ đề tâm, tu Bồ tát đạo, muốn sanh về cõi tôi, thì đến khi mạng chung, tôi và đệ tử tôi đều hiện thân đến trước mặt người ấy đặng tiếp dẫn.

    9- Tôi nguyện khi tôi nhập diệt, trải vô số kiếp về sau những người nữ nhơn ở trong các thế giới nghe danh hiệu tôi mà chăm lòng vui mến và phát Bồ đề tâm, cho đến lúc thành Phật, cứ cảm báo đặng làm thân đàn ông hoài, chớ không khi nào còn mang lấy thân đàn bà nữa.

    Bạch Đức Thế Tôn! Tôi nguyện đặng cõi Phật như vậy, chúng sanh như vậy, mọi sự thanh tịnh trang nghiêm như vậy, thì tôi mới chịu thành Phật.

    Đức Bảo Tạng Như Lai nghe vua Vô Tránh Niệm nguyện mấy lời ấy rồi khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Đại vương phát nguyện sâu lớn, muốn cõi thanh tịnh. Kìa Đại vương hãy xem qua hướng Tây, cách trăm ngàn muôn ức cõi Phật có một thế giới gọi là Tôn Thiện Vô Cấu, giáo chủ cõi ấy hiệu là Tôn Âm Vương Như Lai, hiện nay đương vì các bực Bồ Tát mà giảng dạy Pháp Đại thừa, giáo hóa các người Thượng căn, chứ không diễn thuyết mấy Pháp quyền tiểu”.

    Trong cõi ấy cũng không có chúng sanh căn trí Tiểu thừa và cũng không có một người nữ nhân. Nhưng y báo (y báo là cảnh vật) và chánh báo (chánh báo là căn thân) của Phật Tôn Âm Vương Như Lai thiệt thanh tịnh trang nghiêm, rất xứng hiệp với chỗ cầu nguyện của Đại vương đó! Vì Đại vương có thệ nguyện muôn cõi thanh tịnh, nên nay Ta đổi hiệu Đại vương là Vô Lượng Thanh Tịnh.

    Khi Vô Lượng Thanh Tịnh mãn một trung kiếp, thì Đức Phật Tôn Âm Vương Như Lai nhập Niết Bàn, Chánh Pháp truyền bá đặng mười trung kiếp. Đến khi diệt rồi, trải qua sáu mươi trung kiếp, thì cõi Tôn thiện vô cấu đổi tên lại là: Di Lâu Quang Minh có Đức Phật, hiệu là Bất Khả Tư Nghị Công Đức Vương Như Lai, ứng hiện ra đời mà hóa đạo chúng sanh. Sau khi Đức Phật ấy nhập Niết Bàn rồi, trải vô số hằng sa kiếp và vô lượng Phật diệt độ, thì cõi Di lâu Quang Minh đổi tên lại là: An lạc, đến thời kỳ Vô Lượng Thanh Tịnh chứng quả về cõi đó mà thành Phật thì hiệu là: A Di Đà Như Lai (dịch là Vô Lượng Thọ), sống lâu vô cùng, tiếp dẫn vô lượng chúng sanh trong các thế giới về đó, rồi giáo hóa cho thành Phật đạo tất cả.

    Vua Vô Tránh Niệm nghe Phật Bảo Tạng Như Lai thọ ký như vậy liền thưa rằng: “Bạch Đức thế Tôn! Nếu lòng thệ nguyện của tôi quả đặng y như lời thọ ký của Ngài, thì tôi kỉnh lễ xin nhờ Ngài dùng phép thần thông làm cho các Đức Phật ở trong hằng sa thế giới cũng thọ ký cho tôi như Ngài nữa”.

    Vua Vô Tránh Niệm thưa rồi, đương cúi đầu thi lễ, tức thì mười phương thế giới thảy đều vang động.

    Vua ở trong pháp Hội nghe Chư Phật đều thọ ký cũng như lời Đức Phật Bảo Tạng đã nói trên đó, thì rất đổi vui mừng, liền chấp tay đảnh lễ, rồi ngồi nghe Phật Bảo Tạng thọ ký cho các vị Bồ Tát khác.

    Từ đó về sau, vua Vô Tránh Niệm mạng chung thọ sanh ra các đời khác, kiếp nào cũng giữ lời bổn nguyện, tu hạnh Bồ Tát cứu độ chúng sanh, trải vô lượng kiếp quả mãn công viên hiện thành Chánh Giác, đến nay đã mười đại kiếp rồi, Ngài ở cõi Cực Lạc Thế Giới bên Tây Phương, đương giảng dạy các Pháp Đại Thừa và hằng tiếp dẫn chúng sanh đem về cõi ấy.

    (SỰ TÍCH PHẬT A-DI-ĐÀ VÀ BẢY VỊ BỒ TÁT

    Phật học tạp chí Từ Bi Âm (200-204)

    Thanh Tâm sưu tầm và đánh máy)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tượng Phật A Di Đà
  • Những Kiêng Kỵ Và Cách Thờ Cúng Tượng Phật A Di Đà
  • Nghi Cúng Đại Lễ Đức Phật Thành Đạo Ngày Mồng 08.12.âl
  • Phật Giáo: Nghi Cúng Lễ Phật Thành Đạo
  • Nghi Cúng Lễ Phật Thành Đạo
  • Đèn Cúng Phật In Hoa Sen Chữ A Di Đà Phật

    --- Bài mới hơn ---

  • Công Đức Cúng Dường Một Bó Hoa Đến Phật
  • “tán Hoa Cúng Phật” Tạ Ơn Tam Bảo Sau Đại Hội Pg Tp.hcm
  • Tam Thế Phật Là Gồm Những Ai? Cách Thờ Tam Thế Phật Tại Gia
  • Mẫu Bàn Thờ Tam Thế Phật Và Những Điều Bạn Chưa Biết
  • Cách Bài Trí Và Thờ Bộ Tượng Tam Thế Phật Ngồi Tại Gia
  • Đèn cúng Phật in chìm hoa sen 3D Chữ A Di Đà Phật được khắc chìm trong khối hình cầup bằng pha lê trong suốt, chân đế bằng chất liệu hợp kim nguyên khối, sơn tĩnh điện màu nâu đồng, chống oxy hóa cao, cảm giác cầm chắc chắn, an toàn khi trưng bày trên không gian cao, tạo sự uy nghiêm cho không gian thờ cúng. Đây là một tuyệt tác được thiết kế để trưng bày bàn thờ Phật, bàn thờ gia tiên, ánh hào quang 5 màu từ đèn Led là những vệt ánh sáng dài, sáng đẹp, điều khiển bởi bộ Adapter nhỏ gọn, có chế độ điều chỉnh màu nhanh chậm tùy ý.

    Đặc tính siêu tiết kiệm điện của đèn Led, kết hợp màu sắc đẹp khi vận hành, Đèn cúng Phật in chìm hoa sen 3D Chữ A Di Đà Phật ngoài công dụng trưng bày bàn thờ cúng thêm trang trọng trong các dịp lễ cúng, thì tại gia đình hoặc đạo tràng có thể sử dụng để tô điểm không gian chung thêm ấm áp và thiêng liêng hơn.

    Tại Shop Tĩnh Tâm Quán ngoài cung cấp dòng sản phẩm Tượng Phật A Di Đà , Bổn Sư Thích Ca, Quán Thế Âm Bồ Tát… Thì dòng sản phẩm tượng Phật bằng gỗ, gốm, đá ép, đá lưu ly cũng được chế tác tinh xảo, giúp cho mỗi người khi lễ lạy đều sinh tâm hoan hỉ.

    “Shop Tĩnh Tâm Quán – Kênh Mua Bán Online Tranh Tượng Phật Đồ Thờ Cúng cam kết với khách hàng luôn đảm bảo tính chính xác rõ ràng, nguồn góc xuất xứ cũng như thái độ hoan hỷ khi phục vụ với mong muốn đem lại cho Quý khách hàng cảm giác mua hàng ONLINE ĐÚNG MẪU ĐÚNG CHẤT LƯỢNG AN TOÀN CAO ”

    – Với phương châm: ” Chữ Tín Làm Đầu”

    – Chất lượng phục vụ tốt

    – Giao hàng đúng hẹn

    – Dịch vụ nhanh, chuẩn xác độ tinh cậy cao.

    – Hàng hóa được chọn lọc rất kỹ trước khi phát hành.

    A Di Đà Phật!

    Shop Tĩnh Tâm Quán

    Web: tinhtamquan.com

    Fanpage : Shop Tĩnh Tâm Quán

    Call: 0932.808.715 – zalo – Viber – Messger

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đèn Thờ Phật Đèn Điện Thờ Cúng Đèn Hoa Sen Thờ Cúng 48Cm
  • Đèn Thờ Phật Đèn Điện Thờ Cúng Đèn Hoa Sen Thờ Cúng
  • Ý Nghĩa Của Hoa Sen Cúng Phật Để Không Phạm Đại Kỵ P, Dâng Hoa Cúng Phật
  • Tranh Vẽ ‘nhân Quả Ba Đời’ Của Diệu Trí
  • Những Câu Chuyện Về Nhân Quả
  • 5. Nghi Cúng Vía Phật A Di Đà

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Biệt Cách Dùng Kỷ 5 Ly Và Kỷ 3 Ly Trong Thờ Cúng
  • Hỏi Đáp Phật Giáo: Xá Lợi Phật Là Gì?
  • Phong Tục Thờ Cúng Gia Tiên Và Đức Phật Trong Văn Hóa Phật Giáo
  • Shop Bán Tượng Phật Đẹp Tại Quận 5
  • Sớ Điệp Chữ Việt Âm Hán Văn
  • Chùa Quang Thiện, California, USA

    Ấn hành 2002

    5. NGHI CÚNG DƯỜNG THÁNH ĐẢN ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ

    (Ngày 17-11 Âm Lịch) * Tiết thứ làm nghi: – Chuông trống Bát Nhã. – Cử nhạc khai đàn. – Chủ lễ đăng điện. – Cử nhạc tham lễ. – Chủ lễ niệm hương. – Dâng hương – tác lễ. Nguyện đem lòng thành kính, Gởi theo đám mây hương, Phưởng phất khắp mười phương, Cúng dường ngôi Tam Bảo. Thề trọn đời giữ đạo, Theo tự tánh làm lành, Cùng pháp giới chúng sanh, Cầu Phật từ gia hộ: Tâm Bồ đề kiên cố, Chí tu học vững bền, Xa biển khổ mông mênh, Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát. Đấng Pháp vương vô thượng, Ba cõi chẳng ai bằng, Thầy dạy khắp trời người, Cha lành chung bốn loại. Qui y tròn một niệm, Dứt sạch nghiệp ba kỳ, Xưng dương cùng tán thán, LỄ PHẬT: Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng, Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn, Lưới Đế châu ví đạo tràng, Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời . Trước bảo tọa thân con ảnh hiện, ĐẢNH LỄ TAM BẢO: (3 lần) Lư vàng vừa bén, Pháp giới hương bay, Mười phương chư Phật thảy đều hay, Theo gió cuốn mây bay, Xin gởi lòng này, Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát.Thiên thủ thiên nhãn, vô ngại đại bi tâm đà la ni. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da bà lô kiết đế thước bàn ra dạ, ta bà ha. Án tất điện đô mạn đà ra bạt đà dạ ta bà ha. Tán lễ Tây phương, Cực lạc thanh hương, Sen vàng chín phẩm hoa hương, Cây báu thành hàng, Thường nghe thiên nhạc du dương. A Di Đà Phật đại phóng từ quang, Hóa đạo chúng sanh vô lượng, Giáng cát tường. Hiền tiền chứng đẳng ca dương, TỤNG BÀI Ý NGHĨA KỶ NIỆM NGÀY THÁNH ĐẢN: (Tất cả đồng ngồi, tụng châm, đậu câu thay vì bạch sớ). Nam mô Tây phương Giáo Chủ Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật. Chúng con cung kính nghe rằng: Thân vàng tươi tốt, Ba đời uy đức huy hoàng; Ao báu sen vàng, Mười cõi hào quang rực rỡ. Tịnh nghiệp pháp môn nguyện mở, Thiện nhơn liên xã xin đăng, (3 lần) Niệm Phật vãng sanh Thánh cảnh. Nhớ đức Di Đà Đại thánh, Thương tình tiếp dẫn Lạc bang. Hôm nay tất cả chúng con: Cung kính quỳ trước đạo tràng, Chí thành dâng nguyện lên pháp cúng. Di Đà kinh văn phúng tụng, Hồng danh Thánh hiệu xưng dường

    TÁN HƯƠNG:

    Theo ngài Tuệ Viễn cao tăng, (11)

    Dâng đủ ngũ căn hương, (1)

    Cúng đầy bát đức thủy. (2)

    Cúng duờng Cực lạc Đạo sư, Tôn vinh giờ thiêng vía Thánh Đông Tây hai cảnh, Cảm cách một lòng, Cúi đầu cầu mong, Dủ lòng chứng giám. Tất cả chúng con nghĩ rằng: Tự tánh Di Đà mặc cảm, Duỳ tâm Tịnh độ nghĩ suy. A Di Đà Phật là gì? Là vô lượng quang, Vô lượng thọ, Là vô biên trí tuệ từ bi! Duy tâm Tịnh độ là gì? Là đất nước trang nghiêm công đức Là phương trời tự tại an vui! Thế nhưng tất cả chúng con, Từ vô thỉ kiếp đến nay:

    Cùng thất chi quả quí, (3)

    Với chúng diệu hoa tươi. (4)

    Đến như thế giới chúng con:

    Sáu đường sanh tử tới lui, (9)

    Ba cõi luân hồi qua lại. (10)

    Đến đây tất cả chúng con: Nguyện phát minh thể tánh chơn thường, Hầu thấy Di Đà tự tánh. Mong xây dựng cuộc đời đạo hạnh, Ngõ thành Tịnh độ duy tâm. Cúi đầu thệ nguyện âm thầm, Nam mô Tây phương Giáo Chủ Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật, tác đại chứng minh. Duy nguyện: Núi bạch hào uyển chuyển, Biển thệ nguyện bao la. Thả thuyền vô để đến Ta bà, Rước chúng hữu tình về Cực lạc. Đồng lên bờ giác, Cùng thoát bến mê, Viên mãn lời thề, TÁN: Tây phương thế giới cõi an lành, Người vật nơi đây thảy hóa sanh. Bảy báu trang nghiêm đầy đất nước, TỤNG: (Kinh A Di Đà, lễ 12 Phật hiệu sau kinh hoặc tụng 48 lời nguyện; nên soạn kinh trước khi làm lễ). – TỤNG: (Bát Nhã Tâm kinh: Ma ha Bát nhã … hoặc: A Di Đà Phật thân kim sắc …) – TÁN: A Di Đà Phật, Thệ nguyện khôn lường, Phóng quang tiếp dẫn khắp muôn phương, Thánh đản ca dương, Nam mô Tây Phương A Di Đà Phật. CHỦ LỄ XƯỚNG: Tôn vinh Thánh Đản lễ viên hoàn, Công đức vô biên nguyện cúng dàng, Xin nguyện chúng sanh cùng pháp giới, PHỤC NGUYỆN: Vừng hồng Phật nhựt huy hoàng, Tiếng gọi Pháp âm vang dội, Trang nghiêm Pháp hội, Thanh tịnh Tăng đoàn, Sông núi bình an, Phổ nguyện: Đàn na thí chủ, Tăng ích phước điền, Pháp giới nhơn thiên, Nam mô A Di Đà Phật. TỤNG: Nguyện tiêu ba chướng trừ phiền não, Nguyện được trí tuệ thật sáng tỏ, Nguyện bao tội chướng thảy tiêu trừ, Nguyện sanh Cực Lạc cảnh Tây phương, Chín phẩm hoa sen là cha mẹ, Hoa nở thấy Phật chứng vô sanh, Bất thoái Bồ Tát là bạn hữu, Nguyện đem công đức này, Hướng về khắp tất cả, Đệ tử và chúng sanh Tự qui Phật, xin nguyện chúng sanh, thể theo đạo cả, phát lòng vô thượng. Tự qui y Pháp, xin nguyện chúng sanh thấu rõ kinh tạng, trí tuệ như biển. Tự qui y Tăng, xin nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, hết thảy không ngại. Thù ân kỷ niệm, Lễ đã viên thành, Chuông trống hòa thanh, Cúi đầu lễ tất. * Ghi chú: (1 lễ) (1 lễ) (1 lễ) (đồng hòa) (3 lần)

    Tám nạn, ba tai kinh hãi, (5-6)

    Bốn suy, tám khổ chán chường. (7-8)

    1. Ngũ căn hương: Tín, Tấn, Niệm, Định, và Tuệ – 5 công hạnh.

    2. Bát đức thủy: Nước có 8 công đức: ngọt, lạnh, mềm dẻo, nhẹ, trong sạch, không hôi, uống rồi không khô cổ, uống không hại bao tử.

    3. Thất giác chi: Bảy giác quán là trạch pháp, tinh tấn, hỷ xả, khinh an, niệm, định và hành xả.

    4. Chúng diệu hoa: các thứ hoa quí; xem kinh A Di Đà Sớ Sao thì rõ hơn.

    5. Tám nạn: Địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, Uất đơn việt, (nơi đầy đủ mọi thứ sung sướng) trời sống lâu, câm điếc, ngọng lịu, thông minh thế gian, trước Phật, sau Phật.

    6. Ba tai: chiến tranh, đói khát và bệnh hoạn.

    7. Bốn suy: sanh, già, bệnh, chết; hoặc: thành, trụ, hoại, không.

    8. Tám khổ: sanh, lão, bệnh, tử, thương yêu xa nhau, oán ghét gặp nhau, tìm cầu không được, và năm ấm đầy nhầy (tức thân thể to mập, nặng nề, và tinh thần suy nhược); Năm ấm gồm: sắc, thọ, tưởng, hành và thức.

    9. Sáu đường: Địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, người, trời và A tu la.

    10. Ba cõi: Cõi dục, cõi sắc, và cõi vô sắc.

    11. Cao tăng Huệ Viễn: Tổ lập ra Tịnh nghiệp Đạo tràng để giáo hóa người tu pháp môn Tịnh độ đầu tiên ở Trung Quốc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Tích Đức Phật A Di Đà
  • Tượng Phật A Di Đà
  • Những Kiêng Kỵ Và Cách Thờ Cúng Tượng Phật A Di Đà
  • Nghi Cúng Đại Lễ Đức Phật Thành Đạo Ngày Mồng 08.12.âl
  • Phật Giáo: Nghi Cúng Lễ Phật Thành Đạo
  • Đầu Xuân, Bàn Về Lời Khấn Nam Mô A Di Đà Phật

    --- Bài mới hơn ---

  • Lễ Hội Phật Tích Xuân Canh Tý 2022 Đã Sẵn Sàng
  • Cách Khai Quang Tượng Phật Di Lặc Đơn Giản, Chính Xác
  • Cách Thức Đi Lễ Phủ Tây Hồ Đề Cầu Xin May Mắn Và Tài Lộc
  • “Cách Cúng Thần Tài, Thổ Địa” Giúp Đắt Hàng, Đông Khách Tại Cửa Hàng
  • Văn Khấn Thần Tài Ngày Khai Xuân
  • Nam Mô A Di Đà Phật – Câu cửa miệng người đi lễ    

                                   

    Từ xa xưa, người Việt nói chung và người theo đạo Phật nói riêng thường xuất hành ngày đầu Xuân bằng việc đi lễ chùa, cầu sức khỏe, bình an cho gia đình trong một năm mới. Người Việt tin rằng, đi lễ chùa đầu năm không đơn giản chỉ là để ước nguyện, mà là khoảnh khắc để con người hòa mình vào chốn tâm linh, bỏ lại phía sau bao vất vả trong cuộc mưu sinh. Lễ xong, người đi lễ thường xin nhà chùa một thứ gì đó về làm lộc đầu năm như là gạo, muối, diêm…

    Tết cũng là lúc người dân chú trọng vô cùng chuyện cúng lễ, ngưỡng vọng trời đất, thần Phật, tổ tiên, cầu cho một năm mới nhiều may mắn.

    Theo tập tục văn hoá truyền thống, ở mỗi tỉnh thành, làng, xã Việt Nam đều có các Đình, Đền, Miếu, Phủ là nơi thờ tự Thần linh, Thành Hoàng, Thánh Mẫu.

    Các vị Thần linh, Thành Hoàng, Thánh Mẫu là các bậc tiền nhân đã có công với cộng đồng làng xã, dân tộc trong lịch sử đấu tranh giữ nước và dựng nước của người Việt Nam.

    Ngày nay, theo nếp xưa người Việt Nam ở khắp mọi miền đất nước hàng năm vẫn đi lễ, đi trẩy Hội ở các Đình, Đền, Miếu, Phủ vào các ngày lễ, tết, tuần tiết, sóc, vọng và ngày Hội, để tỏ lòng tôn kinh, ngưỡng mộ biết ơn các bậc Tôn thần đã có công với đất nước.

    Nơi thờ tự Đình, Đền, Miếu, Phủ còn là những nơi sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng. Con người hy vọng rằng bằng những hành vi tín ngưỡng, có thể cầu viện đấng Thần linh phù hộ cho bản thân, cùng gia đình, cộng đồng được an khang, thành đạt và thịnh vượng, yên bình, biến hung thành cát, giải trừ tội lỗi…

    Trong thực tế, hầu hết người dân Việt đến đền, đình, chùa, miếu, phủ đều bắt đầu bài khấn bằng một câu là “Nam mô A Di Đà Phật”. Kể cả những người “sành” đi đình, miếu, phủ cũng khấn vậy. Thậm chí khi khấn tổ tiên ở nhà, khấn lễ vào các dịp tuần tiết, dù không theo đạo Phật, người dân cũng khấn ‘Nam Mô A Di Đà Phật’. Tuy  nhiên câu khấn này thực chất chỉ dành để khấn ở chùa.

    ‘Nam Mô A Di Đà Phật’ (được gọi là Lục tự Hồng danh – Danh lớn 6 chữ) có nghĩa là gì? Theo các tài liệu Phật giáo, Nam Mô ở đây có 6 nghĩa: kính lễ, quy y, phụng thờ, cứu ngã, độ ngã, quy mạng.

    A: Có nghĩa là Vô, Không

    Di Đà: Nghĩa là lượng

    Phật: Người Giác ngộ

    Do đó, Nam Mô A Di Đà Phật có nghĩa là: Kính lễ đấng Giác ngộ vô lượng hoặc cũng có nghĩa là: Con quay về nương tựa vào đấng Giác ngộ vô lượng.

    Kỳ thực Nam Mô A Di Đà Phật còn biểu thị sự tôn kính đối với Phật, Bồ Tát, như trong câu “Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát”.

    Phật A Di Đà (tiếng Phạn là Amitābha) là vị Phật có danh hiệu là Vô Lượng Phật, Vô Lượng Quang Phật, Vô Lượng Thọ Phật, là một trong các vị Phật quan trọng nhất trong Phật giáo. Phật A Di Đà là giáo chủ của Thế giới Tây phương Cực Lạc, là thế giới mà Ngài kiến lập. Phật Thích Ca Mâu Ni là giáo chủ của Thế giới Ta Bà, tức là thế giới có chúng ta đang sinh sống.

    Phật Giáo là một tư tưởng triết học lớn, do đức Phật Thích Ca Mâu Ni là người khởi xướng. Chính vì vậy hình tượng Đức Phật là đại diện Phật giáo chính là đại diện cho những tư tưởng triết học và giáo lý mà bản thân Phật giáo muốn đem đến cho người dân. Đó là những khuyên răn về việc hướng thiện, về luật nhân quả tức là tự mình làm việc thiện sẽ nhận lại cho mình những điều tốt đẹp.

    Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên theo đường biển. Những vết tích đầu tiên được được ghi nhận với truyện cổ tích Chử Đồng Tử học đạo của một nhà sư Ấn Độ. Đạo Phật có nhiều tông phái, trong đó các tông phái có ảnh hưởng lớn ở Việt Nam gồm: Thiền tông, Tịnh độ tông, Mật tông, Nam tông.Tuy nhiên, chỉ những Phật tử theo Tịnh độ tông tụng Nam Mô A Di Đà Phật (Kính lễ đấng Giác ngộ vô lượng). Họ tin rằng, trong Thập Lục Quán Kinh Phật dạy: nếu chúng sinh nào niệm một lần danh hiệu của Phật A Di Đà sẽ tiêu được 8 muôn ức kiếp tội nặng. Các phái Phật giáo khác như Thiền tông, Phật giáo nguyên thủy không tụng niệm câu này.

    Dù vậy, sáu chữ Hồng Danh xưng niệm Phật hiệu đã trở thành câu niệm Phật quen thuộc và phổ biến rất rộng rãi trong giới Phật tử xuất gia cũng như cư sĩ tại gia.

    Mức độ thông dụng trong sinh hoạt hàng ngày chứng tỏ lòng tín niệm của Phật tử thể hiện ở câu chào khi gặp nhau gồm có bốn chữ A-di-đà Phật!

    Từ đó, Nam Mô A Di Đà Phật được lưu truyền rộng rãi, có sức ảnh hưởng sâu rộng thành câu mở đầu và kết thúc các bài khấn của những người đi lễ, các tín chủ dù ở nhà, ở chùa, hay đình, đền, miếu, phủ…

    Vì sao người dân lễ thần, thánh, gia tiên cũng khấn Nam Mô A Di Đà Phật?

    Hiện nay, có nhiều sách giới thiệu các bài khấn nhưng tựu trung hai cuốn sách được sử dụng nhiều nhất là cuốn Văn khấn cổ truyền Việt Nam (NXB Văn hóa Thông tin xuất bản) do Hòa thượng Thích Thanh Duệ và Nguyễn Bích Hằng thẩm định, chỉnh lý, tuyển chọn. Trong sách này, các bài khấn đều có bắt đầu và kết thúc bằng Nam Mô A Di Đà Phật.

    Quyển sách thứ hai là Tập văn cúng gia tiên (NXB Văn hoá Dân tộc ấn hành), trong quyển sách này không có sáu chữ Hồng Danh xưng niệm Phật hiệu.

    Người Việt Nam theo Phật giáo từ lâu nên văn hóa Phật giáo thấm đẫm hơn cả. Vì thế, khi khấn, người ta thường mở đầu bằng câu: Nam Mô A Di Đà Phật 3 lần và vái lạy hay “Lạy chín phương trời, lạy mười phương Phật”, sau đó là các vị thần linh sông núi, thành hoàng bản cảnh… rồi đến anh linh tiên hiền tiên liệt, tổ tiên các đời. Kết thúc lại bằng Nam Mô A Di Đà Phật 3 lần kèm vái lạy.

    Một số nhà nghiên cứu cho rằng việc lễ thần, thánh, gia tiên cũng khấn Nam Mô A Di Đà Phật là không đúng.

    Lý do câu Nam Mô A Di Đà Phật thành câu cửa miệng là vì Phật giáo ở Việt Nam bị hiểu sai. Do nhiều tác động của cuộc sống vật chất đặc biệt là sự kém hiểu biết một bộ phận người dân do chỉ đến với Phật giáo theo tư cách những người không nghiên cứu hay tu hành, cộng thêm tâm lí đám đông mới dẫn sự lệch lạc như vậy về quan niệm về Phật giáo.

    Chính vì hiểu sai nên dẫn đến những hành động chưa đúng thậm chí là sai lệch gây ra nhiều sự biến tướng, sai lệch trong các hoạt động văn hóa tâm linh.

    Việc ‘dân dã hóa’ Đức Phật được biểu hiện rất rõ. Ví dụ như việc thờ cúng tổ tiên không phải là một tôn giáo nhưng khi bắt đầu khấn nhiều người lại khấn câu đầu tiên là Nam Mô A Di Đà Phật.

    Tín ngưỡng thờ Mẫu không phải là Phật giáo, nhưng khi nhiều người đến phủ Tây Hồ, phủ Dầy câu đầu tiên khấn cũng lại là Nam Mô A Di Đà Phật.

    Đền, phủ, đình, miếu… không thờ Phật do đó câu nói này hoàn toàn không phù hợp.

    Đền, phủ, đình, miếu… là những nơi thờ thần linh, thờ những người có công nên khi đứng trước ban thờ, người khấn trước tiên hãy tỏ lòng thành kính, sau đó mới khấn những ước muốn, tâm nguyện trong sáng.

    1. Chùa:

    Chùa là cơ sở hoạt động và truyền bá Phật giáo, là nơi tập trung sinh hoạt, tu hành và thuyết giảng đạo Phật của các nhà sư, tăng, ni. Mọi người kể cả tín đồ hay người không theo đạo đều có thể đến thăm viếng, nghe giảng kinh hay thực hành các nghi lễ Phật giáo. Ở một số nơi, chùa còn là nơi cất giữ xá lị và chôn cất các vị đại sư.

    2. Đình:

    Đình là nơi thờ Thành hoàng của các làng, đồng thời là nơi hội họp, bàn việc của dân làng. Đình được coi là trung tâm sinh hoạt văn hóa gắn bó với một cộng đồng cư dân và mang đặc trưng của nền văn minh lúa nước Việt Nam.

    Thành hoàng là người có công với dân, với nước, lập làng, dựng ấp hay sáng lập nên một nghề (ông tổ của nghề). Dưới các triều vua thường có sắc phong cho Thành hoàng, vì hầu hết Thành hoàng đều có công với nước. Dân làng, hay phường hội đi lập nghiệp nơi khác cũng xây miếu, đền thờ Thành hoàng quê gốc của mình tại nơi ở mới.

    3. Đền:

    Đền là công trình kiến trúc được xây dựng để thờ cúng một vị Thánh hoặc những nhân vật lịch sử được tôn sùng như thần thánh. Ở Việt Nam, phổ biến nhất là các đền thờ được xây dựng để ghi nhớ công ơn của các anh hùng có công với đất nước hay công đức của một cá nhân với địa phương được dựng theo truyền thuyết dân gian.

    Các đền nổi tiếng có thể kể đến ở nước ta như Đền Hùng, đền Kiếp Bạc, đền Sóc, đền Trần… thờ các anh hùng dân tộc. 

    Đền Voi Phục, đền Bạch Mã, đền Kim Liên, đền Quán Thánh…thờ các vị thánh theo truyền thuyết dân gian. 

    4. Miếu:

    Miếu là một dạng di tích văn hóa trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam có quy mô nhỏ hơn đền. Đối tượng được thờ ở miếu rất đa dạng, thể hiện ở tên gọi của miếu – tên gọi theo đối tượng được thờ thường phiếm chỉ và tượng trưng.

    Ví dụ: miếu Cô, miếu Cậu, miếu thờ thần núi gọi chung là miếu Sơn thần, miếu thờ thần nước gọi là miếu Hà Bá hoặc miếu Thủy thần. Miếu thờ thần đất gọi là miếu thổ thần hoặc thần Hậu thổ.

    Miếu thường được xây trên gò cao, nơi sườn núi, bờ sông hoặc đầu làng, cuối làng, những nơi yên tĩnh để quỷ thần có thể an vị, không bị mọi sự ồn ào của đời sống dân sinh. Ở một số nơi, trong các ngày giỗ thần như ngày sinh, ngày hóa (nhân thần), ngày hiện hóa (thiên thần) làng mở tế lễ, mở hội, nghinh rước thần từ miếu về đình. Tế lễ xong, lại rước thần về miếu yên vị. Miếu nhỏ còn được gọi là Miễu (cách gọi của người miền Nam).

    5. Phủ:

    Phủ là đặc trưng của tín ngưỡng thờ Mẫu (tín ngưỡng bản địa của người Việt Nam). Một số nơi thờ tự (ở Thanh Hóa) gọi đền là phủ. Có thể hiểu Phủ là nơi thờ tự Thánh Mẫu khá sầm uất, mang tính chất trung tâm của cả một vùng lớn, vượt ra ngoài phạm vi địa phương, thu hút tín đồ khắp nơi đến hành hương (tương tự như chốn Tổ của sơn môn đạo Phật).

    Ngôi phủ sớm nhất còn lại hiện biết là điện thờ các thần vũ nhân ở chùa Bút Tháp, có niên đại vào giữa thế kỷ XVII.

    Bài viết: “Đầu Xuân, bàn về lời khấn Nam Mô A Di Đà Phật”

    Tiến sĩ Nguyễn Thị Bích Hạnh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đạo Mẫu Việt Nam: Chùa Hương Tích Hà Tĩnh
  • Chùa Hoa Yên (Chùa Yên Tử Hay Chùa Vân Yên)
  • Động Hương Tích – Quần Thể Di Tích Chùa Hương
  • Bài Khấn Đức Thánh Bà Ở Bia Bà La Khê Hà Đông Hà Nội.
  • Bài Văn Khấn Đức Thành Bà Tại Đền Bia Bà La Khê Hà Đông Và Ý Nghĩa Bài
  • Nghi Thức Tụng Kinh Nam Mô A Di Đà Phật

    --- Bài mới hơn ---

  • Dâng Cúng Hoa Tươi Thế Nào Khi Lễ Chùa Mới Được Nhiều Phúc Báu?
  • Một Số Người Cho Rằng Bất Cứ Bông Hoa Gì Cũng Dùng Để Cúng Phật Được
  • Công Đức Mua Hoa Cúng Phật
  • Hoa Cẩm Chướng Có Cúng, Thờ Tết Được Không?
  • Hoa Tươi Hà Nội
  • Việt Nam là một đất nước đa dạng về tôn giáo và tín ngưỡng. Có những tôn giáo được truyền bá vào Việt Nam từ rất lâu đời và trở thành đời sống tinh thần cho đại đa số người dân Việt. Phật giáo luôn là một trong những tín ngưỡng văn hóa lớn nhất của chúng ta với rất nhiều những chùa chiền, miếu thờ hay những lễ nghi thờ cúng khác nhau. Việc thờ cúng tranh tượng phật trong gia đình sẽ giúp cho các gia chủ được bình an, hạnh phúc, sức khỏe dồi dào và luôn gặp may mắn trong cuộc sống. Hình Phật A Di Đà là một trong số đó.

    Nguồn gốc Phật A Di Đà

    Nhiều người cho rằng việc thờ cúng một vị thần Phật nào đó hoặc đặt niềm tin vào một thế lực siêu nhiên chỉ là việc làm vô căn cứ, đó là sản phẩm của trí tưởng tượng của con người. Phật giáo được truyền bá vào Việt Nam từ rất lâu đời, đi cùng với đó là những câu chuyện, những sự tích với các bài học khác nhau, những vị thần phật cũng luôn gắn liền với sự mơ hồ. Phật A Di Đà là một vị phật được thờ cúng nhiều nhất hiện nay trong chùa, miếu hay cúng tại gia. Tuy nhiên rất ít người có thể biết được rằng Phật A Di Đà có thật không?

    Theo giáo lý Phật giáo thì Phật A Di Đà là giáo chủ cõi “Tây Phương Cực Lạc”, đây là một cõi Niết Bàn mà các Phật tử luôn muốn hướng đến. Khoảng cách giữa chốn trần gian và “Tây Phương Cực Lạc” là “Mười Muôn Ức Cõi”. Trong kinh A Di Đà đã nói rõ, chính Phật Thích ca Mâu Ni bằng trí tuệ siêu việt và sự giác ngộ của mình Phật đã thấy nhân duyên lớn của chúng sinh ở Ta Bà với Đức Phật A Di Đà và cõi Tây phương Cực lạc nên đã giới thiệu pháp môn Tịnh độ để người hữu duyên tu tập. Như vậy hầu hết những phật tử đều là người phàm nên quan niệm về cõi Tây Phương Cực Lạc và đức phật A Di Đà không thể kiểm chứng được. Vì vậy những phật tử muốn biết phật A Di Đà có thật hay không còn tùy thuộc vào duyên của mỗi người. Tuy nhiên phật Thích Ca Mâu Ni đã kiểm chứng về sự giác ngộ và duyên của người phàm với cõi Tây Phương Cực Lạc thì chúng ta cứ tin và thành tâm tu tập sẽ có ngày giác ngộ được.

    Một sự tích khác là theo kinh Bi Hoa, về đời vua Chuyển Luân Thánh Vương tên Vô Tránh Niệm có vị đại thần tên là Bảo Hải, tức là thân phụ của Phật Bảo Tạng. Một hôm vua Vô Tránh Niệm nghe Phật thuyết pháp liền phát tâm cúng dường đầy đủ các lễ vật cho đức Phật và Đại chúng trong ba tháng. Vị đại thần Bảo Hải khuyên vua nên phát tâm bồ đề cầu đạo vô thượng. Vua liền nguyện nếu sau này thành Phật sẽ làm giáo chủ cảnh giới trang nghiêm thanh tịnh để giáo hóa chúng sanh. Vua Vô Tránh Niệm vừa phát nguyện xong, đức Bảo Tạng Như Lai liền thọ ký cho vua sau này thành Phật sẽ lấy hiệu là A Di Đà và ở cõi Tây Phương Cực Lạc. Vị Đại Thần Bảo Hải sau này cũng thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni.

    Sự truyền bá Phật A Di Đà

    Như chúng ta đã nhắc đến ở trên việc thờ cúng tranh tượng phật luôn là tín ngưỡng văn hóa và còn là đời sống tinh thần của các phật tử. Mỗi một vị phật hay Bồ Tát sẽ ứng với các lời cầu nguyện khác nhau. Với Phật A Di Đà được gắn với ánh chiều tà rạng rỡ, lan ra khắp mọi ngõ ngách vũ trụ mà không làm thiêu đốt hay mù lòa. Chính vì thế việc thờ cúng tranh phật hoặc tượng phật A Di Đà sẽ giúp cho các gia chủ có được sự soi sáng trong cuộc đời, tránh được những điều đen tối, xua đuổi tà ma và bảo vệ gia đình. Ánh sáng của Phật A Di Đà luôn có thể tiêu diệt được những thế lực xấu xa, bảo vệ chúng sinh và giúp chúng sinh giác ngộ phật giáo.

    Ngày nay việc truyền bá thông tin vô cùng dễ dàng phật giáo cũng ngày càng phát triển và được người dân tin cậy nhiều hơn. Đây là đời sống văn hóa của người dân Việt Nam khi mà cuộc sống quá xô bồ, luôn cần một niềm tin vào một thế lực nào đó để mong muốn được bình yên, có cuộc sống an lạc thanh thản. Việc thờ cúng hoặc treo ảnh Phật A Di Đà trong nhà sẽ giúp cho các gia chủ có thể răn dạy được con cháu, luôn hướng đến điều tốt và có cuộc sống yên bình.

    Bài niệm trong việc thờ cúng Phật A Di Đà

    Các gia đình có treo hoặc thờ cúng phật A Di Đà luôn có bài niệm riêng ở trong kinh giáo. Trong đó câu niệm Nam Mô A Di Đà Phật là nhiều nhất. Trong sáu chữ này luôn chứa đựng huyền cơ và cả một câu chuyện trong đó. Đầu tiên chúng ta phải nhắc đến sự ngắn gọn trong câu niệm. Rất nhiều tín đồ phật giáo phải bỏ công sức và sự khó khăn để có thể học được những câu niệm trong kinh phật. Với câu niệm Nam Mô A Di Đà Phật vừa đơn giản lại rất dễ nhớ, dễ thuộc. Chính vì thế mà câu niệm này được các tín đồ sử dụng nhiều nhất cho các trường hợp thờ cúng phật giáo. Với câu niệm Nam Mô A Di Đà Phật tất cả các tín đồ từ trung đến hạ, người già, người trẻ đều có thể niệm được.

    Theo giải thích pháp môn niệm phật thì từ “Nam Mô” có nghĩa là quy y, lòng quyết tâm vâng theo những lời phật dạy. Mỗi một cá nhân niệm “Nam Mô” là cả sự thành kính và sự mong mỏi được soi sáng trong dòng đời tất bật, được bao bọc trước những giông bão và những chấp niệm tâm ma. Đặc biệt trong phật giáo có một câu “Niệm một tiếng Nam Mô cả đời ăn không hết”. Vì vậy chúng ta có thể thấy sức mạnh của hai từ Nam Mô.

    Từ A Di Đà có nghĩa là vô lượng quang và vô lượng thọ. Khi niệm A Di Đà đây là giai đoạn tương tục giác của các tín đồ. Phật A Di Đà chủ quản cõi Tây Phương Cực Lạc nên luôn hướng đến việc soi sáng cho chúng sanh. Khi các tín đồ niệm A Di Đà là sự khao khát được dẫn lối, sự giác ngộ của bản thân về một cõi Niết Bàn không tranh đoạt, không có vướng bận, không có khổ đau.

    Phật là viết tắt của từ Phật Đà có nghĩa là giác ngộ, dứt bỏ luân hồi, con người được giải thoát. Bao gồm cả 6 chữ thành một câu niệm dễ dàng nhưng chứa đựng trong đó là cả một sự giải thoát của con người.

    Nghi thức tụng kinh Nam Mô A Di Đà Phật

    Bởi là một vị phật vô lượng có thể phổ độ chính sanh nên việc tụng kinh hoặc cúng dường luôn có những nghi thức nhất định. Đối với kinh A Di Đà được chia thành nhiều khâu và các nghi thức khác nhau. Đầu tiên được nhắc đến nhiều nhất là cúng hương, cúng tán thán phật, cúng quán tưởng, tán lư hương, chú đại bi, sám hối, nghi thức trì tụng…Trong đó chúng ta phải kể đến “Chú Đại Bi”. Đây là bài chú được các chúng sanh sử dụng nhiều nhất với mong muốn sám hối mọi lỗi lầm, mong được các vị phật dẫn đường chỉ lối cho cuộc sống thanh thản.

    Các cách tụng kinh A Di Đà theo từng nghi thức đã có nhắn đến trong kinh phật, các tín đồ cần phải tìm hiểu kỹ lưỡng kinh phật để có thể thực hiện nghi lễ đúng nhất. Đặc biệt đối với các gia chủ cần phân biệt được giữa cách tụng kinh và thờ cúng Phật A Di Đà với Phật Thích Ca Mâu Ni. Bởi vì xét về tạo hình hai vị Phật có tạo hình gần giống nhau nên rất dễ gây nhầm lẫn cho người mới tiếp cận Phật giáo.

    Việc treo hình Phật A Di Đà trong gia đình cũng cần phải chú trọng đến một số điều cấm kỵ. Các gia chủ không thờ cúng mà chỉ treo ảnh phật cũng cần phải có được sự thành kính tuyệt đối với ngài, không được có những hành động hoặc lời nói khiếm nhã. Khi treo tranh Phật A Di Đà cần lựa chọn địa điểm phù hợp. Nên treo tranh tại những nơi trang trọng, cao ráo như là đối diện cửa ra vào hoặc là trên bàn thờ để thể hiện sự tin kính. Các gia chủ nên lưu ý tuyệt đối không được treo hình Phật A Di Đà ở gần cầu thanh hoặc đối diện, trong phòng ngủ cũng không được treo tranh Phật A Di Đà, bếp và khu chỗ vệ sinh cũng không được. Khi lau chùi vệ sinh tranh Phật A Di Đà cũng cần sử dụng khăn lau sạch, mới. Đặc biệt không được để ảnh Phật A Di Đà dưới đất hoặc cất trong tủ, trong két sắt hoặc treo quá thấp.

    Như vậy chúng ta có thể nói Phật A Di Đà là một vị phật đầy quyền năng với tấm lòng bao dung cả thiên hạ. Đối với các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á như: Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản…đại đa số người dân là theo phật giáo nên nền văn hóa thờ cúng được truyền bá rất rộng và đầy đủ chi tiết. Tuy nhiên mỗi một quốc gia lại có những văn hóa, tôn giáo khác nhau nên trong việc thờ cúng cũng có những sự thay đổi cho phù hợp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Pháp Môn Cúng Tứ Thời Của Đạo Cao Đài
  • Sớ Cúng Bổn Mạng I (Phương Phi Tiên Nữ)
  • Sớ Cúng Đáp Nguyện Lành Bệnh (Vô Thượng Y Vương)
  • Có Nên Khắc Tên Người Hiến Cúng Vào Tượng Phật, Kinh Sách Không?
  • Nghi Thức Hiến Cúng Vu Lan
  • Phân Biệt Phật Thích Ca Và Phật A Di Đà Để Không Nhầm Lẫn

    --- Bài mới hơn ---

  • Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni Bằng Gỗ Mít Sơn Son Thếp Vàng
  • Lược Sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni
  • Bài Khấn Phật Dược Sư
  • Chúng Ta Hiểu Sai Về Đức Phật Di Lặc Như Thế Nào
  • Sự Tích Đức Phật Di Lặc
  • (Lichngaytot.com) Không ít người nhầm tưởng Phật Thích Ca và Phật A Di Đà là một. Bởi khi nhắc tới hai vị Phật này, mọi người thường hay niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” hay “Nam Mô Bổn Ni Thích Ca Mâu Ni Phật”. Vậy làm thế nào để phân biệt và không nhầm lẫn giữa hai Ngài?

    1. Phật Thích Ca và Phật A Di Đà là 2 vị Phật tách biệt

    Về , nếu được hỏi có phải Phật Thích Ca và Phật A Di Đà là tên một vị Phật, rất nhiều người sẽ phân vân không biết câu trả lời như thế nào. Bởi bạn vẫn thấy mọi người niệm Nam Mô A Di Đà Phật hay Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, dễ nhầm tưởng đây là 1 vị Phật.

    Tuy nhiên, câu trả lời chính xác, đây là 2 vị Phật tách biệt. Một Vị có thật trong lịch sử và một Vị xuất hiện trong kinh Phật giáo.

    2. Tìm hiểu Phật Thích Ca là ai?

    Phật Thích Ca Mâu Ni là người sáng lập ra đạo Phật. Ngài được xác nhận là có thật trong lịch sử, chính là Hoàng Tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm của vương quốc Thích Ca, thuộc Ấn Độ ngày nay. Ngài sinh vào khoảng năm 624 TCN, là Thái tử con Vua Tịnh Phạn và Hoàng Hậu Ma Da.

    Theo sách sử ghi lại, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là bậc giáo chủ cõi Ta Bà. Ngài từng sống trên trái đất này và đã sáng lập ra Phật Giáo. Theo thuật ngữ Phật giáo, cõi Ta Bà (đau khổ) chính là trái đất, nơi con người đang sinh sống.

    Ở cõi giới này, Đức Phật Thích Ca giáo hóa chúng sinh, nên người đời tôn xưng Đức Phật Thích Ca là bậc giáo chủ cõi Ta Bà. Ngài là vị Phật lịch sử chứ không phải là một vị Phật huyền thoại.

    3. Tìm hiểu Phật A Di Đà là ai?

    Phật A Di Đà là vị Phật được tôn thờ nhiều nhất trong Phật giáo Đại thừa. Tên của Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Thọ, là thọ mệnh vô lượng và Vô Lượng Quang, ánh sáng vô lượng.

    Đức Phật A Di Đà là giáo chủ cõi Cực lạc (an vui) Tây phương. Trong cuộc đời hoằng Đạo của Đức Phật Thích Ca, rải rác trong các Kinh điển, Ngài đã giới thiệu cho tín đồ của mình về Đức Phật A Di Đà và cõi nước Đức Phật A Di Đà đang giáo hóa chúng sinh.

    Đức Phật Thích Ca sau khi chứng Thánh quả, Ngài có khả năng vận dụng trí tuệ, thần thông thấy biết sự vận hành của tất cả sự vật, hiện tượng, nhân sinh trong vũ trụ một cách chuẩn xác.

    Nhờ khả năng đặc biệt này nên Ngài thấy rõ quá trình tu hành của Đức Phật A Di Đà qua nhiều kiếp. Thấy rõ môi trường sống và đời sống sinh hoạt của chúng sanh ở Tây Phương Cực Lạc do Đức Phật làm giáo chủ. Như vậy, Phật A Di Đà là vị Phật được Đức Phật Thích Ca giới thiệu cho chúng ta.

    Theo lời dạy của Phật Thích Ca, con người nếu muốn sau khi chết được tái sinh về cõi Tây Phương Cực Lạc thì trong quá trình sống, làm việc luôn hướng về điều thiện, làm điều thiện, siêng năng niệm Thánh hiệu: Nam Mô A Di Đà Phật, thì khi chết chúng ta sẽ đước tái sinh về cõi Tây Phương Cưc Lạc này.

    Sau khi tái sinh đến cõi này, chúng ta tiếp tục cùng mọi người tu hành theo sự hướng dẫn của Phật A Di Đà cho đến khi chứng đắc Thánh quả giải thoát. Theo đó, các Phật tử thường chào nhau bằng Phật hiệu ” Nam mô A Di Đà Phật”.

    Có thể bạn chưa biết:

    4. Phân biệt Phật A Di Đà và Phật Thích Ca qua hình dáng, đặc trưng

    – Về Phật Thích Ca

    Phật Thích Ca thường trong các chùa Phật giáo Bắc tông (Đại Thừa) đều thờ Ngài ở chính giữa chính điện. Nên gọi Ngài là đấng Trung Tôn, vì Ngài là vị Giáo chủ cõi Ta bà này.

    Hình tượng Ngài không nhất thiết phải giống người Ấn Độ, vì theo quan niệm Phật giáo Bắc tông, nhất là Thiền tông cho rằng, mỗi người đều có ông Phật (Phật tính) nên người nước nào tạc tượng giống người nước đó. Từ nét mặt cho đến hình tướng. Nên hình tượng thờ trong các chùa không nhất thiết phải giống nhau. Đó là xét trên đại thể, còn các chi tiết tương đối giống nhau.

    – Hình dáng đặc trưng của Phật Thích Ca

    + Tóc Phật Thích Ca có thể búi tó hoặc có các cụm xoắn ốc.

    + Phật Thích Ca mặc áo cà sa hoặc áo choàng qua cổ màu vàng hoặc nâu, không đắp y khoát vuông để trống trước ngực với chữ Vạn (tức không có chữ Vạn).

    + Phật có thể ngồi trên tòa sen, nhục kế trên đỉnh đầu, đôi mắt mở ba phần tư.

    + Tay tượng Phật Thích Ca có thể xếp ngay ngắn trên đùi, hai bàn tay bắt ấn thiền, ấn chuyển pháp luân hoặc ấn kim cương hiệp chưởng…

    + Phật cũng có thể cầm một chiếc bát màu đen hoặc xanh đen, dấu hiệu cho giáo chủ.

    Phật Thích Ca Mầu Ni có thể được minh họa cùng hai vị tôn giả là Ca Diếp (vẻ mặt già, bên trái) và A Nan Đà (vẻ mặt trẻ, bên phải). Đây là hai đại đệ tử của Phật Thích Ca khi ngài còn ở thế gian.

    – Về Phật A Di Đà

    + Phật A Di Đà trên đầu có các cụm tóc xoắn ốc, mắt nhìn xuống, miệng thoáng nụ cười cảm thông cứu độ, khoác trên người áo cà sa màu đỏ (tượng trưng cho màu mặt trời lặn phương Tây),

    + Áo có thể khoát vuông ở cổ, trước ngực có chữ “vạn”.

    + Phật A Di Đà có thể trong tư thế đứng, tay làm ấn giáo hóa – tức là tay mặt đưa ngang vai, chỉ lên, tay trái đưa ngang bụng, chỉ xuống, hai lòng bàn tay hướng về phía trước; trong mỗi tay, ngón trỏ và ngón cái chạm nhau làm thành vòng tròn.

    + Phật A Di Đà cũng có thể ngồi kiết già trên tòa sen, tay bắt ấn thiền (tay để ngang bụng, lưng bàn tay phải nằm chồng lên lòng bàn tay trái, hai ngón cái chạm nhau). Trên tay Phật có thể giữ một cái bát, là dấu hiệu cho giáo chủ.

    Phật A Di Đà thường được minh họa cùng hai vị Bồ Tát là Quán Thế Âm (bên trái, cầm cành dương và bình nước cam lộ) và Đại Thế Chí (bên phải, cầm bông sen xanh).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Danh Hiệu Đức Phật Thích Ca Mâu Ni
  • Phật Thích Ca Mâu Ni Là Ai?
  • Những Cần Biết Về Chùa Phật Tích Bắc Ninh
  • Bí Mật 400 Năm Về Sự Tu Hành Của Thiền Sư Chuyết Chuyết Và Nhục Thân Của Ngài Tại Chùa Phật Tích
  • Thỉnh Phật Bà Quan Âm Tại Gia Và Những Điều Cần Lưu Ý
  • Ý Nghĩa Và Cách Thỉnh Tượng Phật A Di Đà Đúng Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Ý Nghĩa Thờ Phụng Đức Phật Dược Sư Lưu Ly
  • Cách Nhận Diện Tượng Phật Dược Sư Đơn Giản Nhất
  • Hiển Thị Bản Việt Dịch Kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh Niệm Tụng Nghi Quỹ Cung Dưỡng Pháp Trong Đại Chánh Tạng
  • Cách Lập Đàn Và Tụng Kinh Dược Sư – Việt Lạc Số
  • Thỉnh Phật Thánh Thần Tiểu Khoa Tiếng Việt
  • Ý nghĩa của tượng Phật A Di Đà

    Phật A Di Đà là hiện thân của an lành, của những điều tốt đẹp. Vậy ý nghĩa của tượng Phật A Di Đà là gì? Tượng Phật giúp con người thoát khỏi bể khổ trong cuộc sống này. Từ đó Ngài hướng con người về những điều thiện nhân, phúc lành. Đó là lý do nhiều người thờ Phật A Di Đà trong nhà nhằm cầu mong sự an bình, sức khỏe, tai qua nạn khỏi.

    Quan niệm của cõi Niết bàn thì “đời là bể khổ”. Tuy nhiên, con người tự giác ngộ và sống một cuộc sống thanh tịnh, yên bình khi thấu hiểu chân lý và được Đức Phật dẫn dắt tránh xa tham – sân – si – mạn – nghi – ác kiến, lục dục của trần thế.

    Phật A Di Đà là vị Phật đại diện cho những giá trị tốt đẹp của quá khứ nên Ngài hướng còn người nhìn về quá khứ từ đó cố gắng để có 1 tương lai tốt đẹp hơn.

    Ý nghĩa của tượng Phật A Di Đà chính là tượng trưng cho Ngài hướng con người đến cái thiện, tránh mọi phiền muộn. Mọi người có thể tụng kinh niệm Phật sẽ giúp tâm thanh tịnh, tăng cường sự tập trung, dũng khí.

    Khi trưng bày tượng Phật A Di Đà trong nhà sẽ có được sự bình an, may mắn trong cuộc sống. Phật A Di Đà sẽ hỗ trợ tối đa cho tinh thần, trí tuệ để làm việc hiệu quả và năng suất, giúp gắn kết các mối quan hệ đồng nghiệp tốt hơn.

    Dưới ánh sáng vô biên của Phật, chúng ta sẽ tránh được những tai ương, vận xấu, gặp dữ hóa lành, khi mất đi được vãng sinh vào thế giới cực lạc.

    Dù tâm linh không thống trị vũ trụ nhưng những ý niệm, thuyết pháp của tâm linh Phật giáo luôn soi đường chỉ lối, giúp con người hướng tới những điều tốt đẹp nhất

    Cách thỉnh tượng Phật A Di Đà

    Như những ý nghĩa của tượng Phật A Di Đà tôi đã nói ở trên thì thờ Ngài trong nhà rất tốt cho gia chủ nhưng đây cũng chính là “con dao hai lưỡi” nếu không biết cách thờ đúng, thậm chí còn rước họa cho gia đình. Khi làm đúng cách thỉnh tượng Phật A Di Đà thì mọi người hoàn toàn yên tâm.

    Đầu tiên để thỉnh tượng Phật A Di Đà về cúng thì gia chủ phải có tâm hướng Phật, lòng tôn kính Phật. Mọi người không nên mua theo ngẫu hứng hoặc nghe theo thầy bà. Đặc biệt không nên có suy nghĩ: thờ phật A Di Đà với mục đích cầu tài lộc, phước lành, trừ họa. Mà chúng ta chỉ nên thờ khi muốn tâm thanh tịnh, lòng hướng thiện.

    Tham khảo sự hướng dẫn của các sư thầy trong chùa để chọn tượng Phật A Di Đà phù hợp với gia đình mình là điều các gia chủ nên làm. Vì tượng Phật cúng có nhiều vị phật khác nhau như: Tượng Phật Quan Âm, Tượng Phật Thích Ca, Tượng Phật Di Lặc,… Và tượng Phật còn có rất nhiều mẫu và chất liệu như đá, gỗ, gốm, sứ, đồng,… 

    Đồng thời, để các sư thầy làm phép, tụ kinh, làm lễ khai quang điểm nhãn cho bức tượng trước khi thỉnh về nhà thờ phụng.

    Khi thỉnh tượng Phật về bàn thờ gia tiên, gia chủ chọn ngày tốt làm lễ an vị Phật và thỉnh Phật về nhà thờ. Vị trí đặt bức tượng Phật cũng vô cùng quan trọng, bàn thờ Phật cần được đặt ở trên cao nơi trang nghiêm chính của ngôi nhà với đầy đủ các vật phẩm thờ cúng khác: lọ hoa, mâm bồng, ngai chén, đài thờ,… Tùy vào kích thước của bàn thờ để lựa chọn một mẫu tượng Phật phù hợp nhằm mang đến sự hài hòa.

    Tránh tuyệt đối đặt tượng Phật A Di Đà ở những không gian riêng tư, ô uế như: phòng ngủ, phòng tắm, nhà bếp,…

    Ngoài thờ tại gia thì nhiều người cũng sử dụng tượng Phật A Di Đà để trang trí, thờ cúng trên xe ô tô. Với các mẫu tượng Phật để xe ô tô thường được làm bằng đồng và có kích thước nhỏ. Như vậy tượng Phật A Di Đà được thỉnh về để tăng thêm bình an trong mỗi chặng đường đi.

     Vậy là mọi người đã biết được ý nghĩa và cách thỉnh của tượng Phật A Di Đà về thờ phụng. Chúc mọi người luôn bình an, tâm thanh tịnh và luôn 1 lòng hướng thiện.

    Nếu muốn thỉnh tượng Phật về thờ, hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn thêm về cách thỉnh và chọn mẫu tượng Phật phù hợp. Đặc biệt chúng tôi luôn có giá tốt nhất cho các tín đồ Phật giáo.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Bài Trí Ban Thờ Tượng Phật A Di Đà Tại Gia Đúng Chuẩn
  • Nghi Thức Thí Cô Hồn – Pratique Du Bouddhisme – Hành Pháp Phật
  • Chìa Khóa Hạnh Phúc Gia Đình
  • Phật Giáo Và Sự Thờ Cúng – Samanta
  • Cách Bài Trí Và Thờ Bộ Tượng Tam Thế Phật Ngồi Tại Gia
  • Những Kiêng Kỵ Và Cách Thờ Cúng Tượng Phật A Di Đà

    --- Bài mới hơn ---

  • Tượng Phật A Di Đà
  • Sự Tích Đức Phật A Di Đà
  • 5. Nghi Cúng Vía Phật A Di Đà
  • Phân Biệt Cách Dùng Kỷ 5 Ly Và Kỷ 3 Ly Trong Thờ Cúng
  • Hỏi Đáp Phật Giáo: Xá Lợi Phật Là Gì?
  • Trong Phật giáo cũng như trong dân gian, Phật A Di Đà là vị Phật được tôn thờ nhiều nhất. Cái tên A Di Đà của Ngài có nghĩa là Vô Lượng Thọ – Vô Lượng Quang mang ý nghĩa thọ mệnh vô lượng và ánh sáng vô lượng.

    Theo kinh phật, Phật A di đà là đại diện của sự quang minh, vô lượng. Phật A Di Đà được tôn sùng bởi những Phật tử và những người tín đạo, mọi người thường cầu bình yên và trường thọ trước Phật A Di Đà vì Ngài chính là giáo chủ của thế giới Tây phương cực lạc.

    Tiền thân Đức Phật A Di Đà

    Theo Vô Lượng Thọ kinh, xa xưa có một vị Phật Thế Tự Tại Vương xuất thế thuyết pháp, chuyển luân thành thánh vương và khi đó phát tâm xuất gia, gọi là tỳ khiêu Pháp Tạng. Tỳ Khiêu Pháp Tạng đứng trước Phật Thế Tự Tại Vương, đề xuất tâm đạo vô thượng, đưa ra 48 tâm nguyện và thề nguyện xây dựng cảnh giới cực lạc trang nghiêm, tu tập đạo Bồ Tát và thành Phật. Ngài vốn hy vọng trong vô số đất Phật thập phương, thành tựu tịnh thổ cực lạc là điều kỳ diệu nhất, đẹp đẽ nhất, tài giỏi nhất. Vì thế Phật Thế Tự Tại Vương đã cấp cho vị tỳ khiêu này đất Phật. Tỳ khiêu Pháp Tạng liền lấy chọn lựa nơi đẹp đẽ nhất để xây dựng tịnh thổ của mình. Tỳ khiêu Pháp Tạng bắt đầu thực hiện tu học Lục Ba La Mật, và viên mãn khi cuối cùng đã trở thành Phật, pháp danh Phật A Di Đà.

    Một ghi chép khác có tên là Kinh Bi Hoa lại kể rằng, ngày xưa, ở cõi San Đề Lam có một vị vua tên Vô Tránh Niệm. Nhờ đại thần Bảo Hải khuyến tiến, nhà vua đã có dịp được gặp đức Phật Bảo Tạng. Ngài thành tâm cúng dường, quy y thọ giáo và phát nguyện sau này sẽ tu luyện thành Phật và sẽ làm giáo chủ một cõi nước trang nghiêm, thanh tịnh nhằm giáo hóa chúng sanh. Đức Phật Bảo Tạng chứng giám và thọ ký cho ngài Phật hiệu A Di Đà, cõi nước sẽ nằm ở phương Tây và có tên Cực lạc. Khi nhà vua đạt được phát nguyện của mình trở thành Phật A Di Đà, Ngài đã thuyết pháp tại Tây phương Cực lạc và thực hiện ý nguyện phổ độ chúng sinh.

    Hình dáng tượng Phật A Di Đà

    Hình ảnh tượng Phật A Di Đà quen thuộc đó là những cụm tóc xoắn ốc trên đầu đức Phật, mắt ngài nhìn xuống, miệng ngài thoáng nụ cười cảm thông cứu độ. Ngài khoác trên người áo cà sa màu đỏ, đây là màu sắc tượng trưng cho mặt trời lặn ở Tây phương. Cổ áo có thể khoát vuông, trước ngực hiện có chữ “vạn” đặc trưng của nhà Phật.

    Tư thế đầu tiên của tượng Phật A Di Đà là tư thế đứng, hai tay làm ấn giáo hóa, tay phải đưa ngang vai, chỉ lên; tay trái đưa ngang bụng, chỉ xuống; mỗi tay, ngón trỏ và ngón cái chạm nhau tạo thành vòng tròn và hai lòng bàn tay hướng về phía trước.

    Tư thế thứ hai của tượng Phật A Di Đà là tư thế ngồi kiết già trên tòa sen, tay Ngài bắt ấn thiền. Tay Phật có thể giữ một cái bát là dấu hiệu cho giáo chủ một cõi.

    Ấn thiền là tư thế tay để ngang bụng, lưng bàn tay phải nằm chồng lên lòng bàn tay trái, hai ngón cái chạm nhau. Một dạng khác của ấn thiền là các ngón giữa, ngón áp út và ngón út của hai bàn tay nằm lên nhau, ngón cái và ngón trỏ mỗi tay tạo thành hai vòng tròn chạm vào nhau. Ấn này còn gọi là Ấn thiền A Di Đà.

    Nhân vật thường xuất hiện đi kèm với Phật A Di Đà là hai vị Bồ Tát là Quán Thế Âm (bên trái, cầm cành dương và bình nước cam lộ) và Đại Thế Chí (bên phải, cầm bông sen xanh).

    Ý nghĩa của tượng phật A Di Đà

    “Niệm Phật A Di Đà cứu khổ chúng sinh” đây là câu mà dân gian thường nói. Chúng sinh chính là chúng ta trong cõi trần thế. Mỗi người một hoàn cảnh, cuộc đời khác nhau và mỗi người đều mang một niềm riêng, một nỗi đau riêng. Phật A Di Đà với tấm lòng từ bi vĩ đại sẽ giáo hóa, dẫn dắt chúng sinh đến miền cực lạc. Sự hiện diện của ngài giúp chúng sinh thoát ra khỏi những khổ ải. Phật A Di Đà luôn đưa đôi tay của mình ra, giảng giải giúp chúng sinh thoát tục, thoát khỏi bể khổ của trần gian.

    Tượng phật A Di Đà mang một ý nghĩa rất lớn đối với chúng sinh. Tượng Phật A Di Đà không chỉ được đặt trong những ngôi chùa từ nhỏ đến lớn mà còn được các Phật tử thỉnh về thờ tại gia. Tất cả mọi người khi lễ Phật A Di Đà đều mong Ngài giúp thoát khỏi những muộn phiền, thoát khỏi những chấp niệm nơi trần thế để trở về với sự từ bi hỷ xả của đức Phật. Bất kỳ ai chỉ cần có cái tâm tu hành, hướng thiện đều sẽ nhận được sự chỉ dẫn của Phật A Di Đà để loại bỏ tạp niệm và chỉ còn sự vô ưu, an yên.

    Nhìn chung, Phật A Di Đà là một đức Phật đứng đầu thế giới Tây Phương cực lạc. Với sự tuệ giác của mình, đức Phật A Di Đà luôn đạt được tôn sùng và kính ngưỡng của mọi người trên thế gian. Việc thể hiện tín ngưỡng bằng việc thờ tượng A Di Đà tại chùa hay tại gia thực chất đó là sự mong cầu sự thanh bình, mong cầu sự tĩnh lặng. Nếu bạn đang cần một chỗ dựa cho cái tâm của mình, bạn có thể tìm đến với đức Phật A Di Đà.

    Cách thờ cúng tượng Phật A Di Đà

    Tượng phật A Di Đà không chỉ có ý nghĩa về mặt tôn giáo mà còn là một văn hóa tinh thần của đại đa số người dân Việt Nam. Việc thờ cúng tượng phật A Di Đà tại nhà hoặc ở những địa danh chùa, miếu luôn giúp cho chúng ta có được nơi yên bình, có thể gửi gắm được những tâm tư, những mong muốn, tìm kiếm được sự thanh thản trong tâm hồn.

    Khi đã xác định được vị trí đặt bàn thờ thì gia chủ cũng cần quan tâm đến hướng của tượng phật A Di Đà. Hầu hết các gia đình đều đặt tượng phật A Di Đà hướng ra cửa lớn hoặc cửa phòng thờ. Một số quan niệm lại cho rằng nên đặt tượng phật A Di Đà về hướng tây bắc. Bởi lẽ trong phật giáo luôn có một cõi “Tây Thiên Cực Lạc” bình yên và tràn ngập an lành. Đây cũng chính là cõi mà các vị Phật mong muốn con người hướng đến để được cuộc sống vĩnh hằng. Đặt tượng phật A Di Đà hướng tây bắc như là một sự thành kính đối với phật giáo và cũng là khát khao của con người mong muốn đạt được.

    Những điều kiêng kỵ khi thờ cúng tượng phật A Di Đà

    Có những điều cần phải thực hiện thì khi thờ cúng tượng phật A Di Đà, cũng có những điều kiêng kỵ mà các gia chủ cần tránh.

    Theo Phật giáo và một số quan niệm dân gian thì hướng đông bắc và hướng tây nam là hai trong năm hướng ngũ quỷ hung nhất. Vì thế khi đặt bàn thờ tượng phật A Di Đà nên tránh hai hướng này. Không được đặt tượng phật A Di Đà ở hướng đông bắc nhìn về hướng tây nam và ngược lại cũng không được đặt tượng phật A Di Đà nhìn về hướng đông bắc.

    Nguyên liệu làm bàn thờ cũng phải được chọn lựa rất kỹ. Hầu hết hiện nay chúng ta lập bàn thờ đều sử dụng nguyên liệu chính là gỗ. Chính vì thế các gia chủ cần lưu ý lựa chọn loại gỗ tốt, bền chắc và đặc biệt phải là gỗ mới chưa sử dụng lần nào. Nếu các gia chủ lấy gỗ đã sử dụng lập bàn thờ là một việc làm không tôn trọng đối với vị phật sẽ ảnh hưởng đến gia đình của bạn.

    Tránh việc đặt bàn thờ tượng phật A Di Đà gần phòng tắm hoặc đối diện phòng tắm. Ngoài ra các gia chủ cũng cần lưu ý không được đặt bàn thờ tượng phật A Di Đà dưới phòng vệ sinh hoặc đối diện với cầu thang, ở phòng ngủ cũng tuyệt đối không được đặt bàn thờ…Những vị trí này đều rất nhạy cảm hoặc là nơi ô uế hoặc là không thanh tịnh.

    Trên bàn thờ tượng phật A Di Đà có thể được thờ cúng với các vị thần khác nhau nhưng gia chủ cần phải lưu ý khi đặt vị trí bát hương để tôn trọng cả hai bên.

    Sự khác nhau của tượng phật A Di Đà và Thích Ca

    Trong văn hóa thờ cúng của người Việt có rất nhiều những vị phật khác nhau và chúng ta có đôi khi nhầm lẫn giữa các vị phật trong đó có tượng phật A Di Đà và Thích Ca là hay bị nhầm lẫn nhất. Phật Thích Ca là vị phật sáng lập ra phật giáo truyền bá đến ngày nay còn phật A Di Đà là vị phật thể hiện cho sự trường thọ, ánh sáng vĩnh cửu. Phật A Di Đà cũng là vị phật được thờ cúng nhiều nhất trong dân gian.

    Sự khác biệt giữa hai tượng phật này cũng rất dễ phân biệt. Đối với phật A Di Đà thì trên đầu ngài là có những cụm tóc xoắn ốc, khoác áo cà sa đỏ, miệng mỉm cười bao dung đối với chúng sinh và đôi mắt nhìn xuống, từ ái. Tượng phật A Di Đà có rất nhiều tư thế khác nhau như là: ngồi kiết già trên đài sen, đứng trên đài sen…Phật Thích Ca thì tạo hình sẽ hơi khác một chút. Tóc của phật Thích Ca búi tóc hoặc có những cụm tóc xoắn ốc. Phật Thích Ca luôn mặc áo cà sa hoặc áo choàng qua cổ màu vàng hoặc nâu. Nếu tượng phật Thích Ca hở ngực thì sẽ không có chữ ” Vạn”, đôi mắt của phật mở ba phần tư rất từ ái và có vẻ sáng suốt.

    Việc thờ cúng tượng phật A Di Đà luôn là một trong các hoạt động của đời sống tinh thần của người dân Việt Nam nói riêng và cả khu vực Đông Nam Á nói chung với những ý nghĩa khác nhau.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghi Cúng Đại Lễ Đức Phật Thành Đạo Ngày Mồng 08.12.âl
  • Phật Giáo: Nghi Cúng Lễ Phật Thành Đạo
  • Nghi Cúng Lễ Phật Thành Đạo
  • Phật Giáo Không Có Nghi Lễ Cúng Sao Giải Hạn
  • Dâng Hương Cúng Phật Trong Nghi Lễ Phật Giáo Bắc Truyền
  • Cách Bài Trí Ban Thờ Tượng Phật A Di Đà Tại Gia Đúng Chuẩn

    --- Bài mới hơn ---

  • Ý Nghĩa Và Cách Thỉnh Tượng Phật A Di Đà Đúng Nhất
  • Ý Nghĩa Thờ Phụng Đức Phật Dược Sư Lưu Ly
  • Cách Nhận Diện Tượng Phật Dược Sư Đơn Giản Nhất
  • Hiển Thị Bản Việt Dịch Kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh Niệm Tụng Nghi Quỹ Cung Dưỡng Pháp Trong Đại Chánh Tạng
  • Cách Lập Đàn Và Tụng Kinh Dược Sư – Việt Lạc Số
  • Đức Phật A Di Đà là giáo chủ Tây phương giới, Ngài biểu tượng cho thế giới Cực Lạc. Ngoài hệ thống chùa, tịch xá, tu viện, nhiều gia đình thờ phụng tượng Đức Phật tại gia. Nhưng cách sắp xếp, bài trí tượng Phật A Di Đà như thế nào mới tốt?

    Tìm hiểu nguồn gốc Phật A Di Đà

    A Di Đà Phật được phiên âm từ Amitābha có nghĩa là ánh sáng vô lượng, hay còn được biết đến với tên gọi Amida hoặc Amitāyus có nghĩa là thọ mạng vô lượng. Dựa vào tên gọi này, Đức Phật A Di Đà được xem là đức Phật Vô Lượng Thọ Vô Lượng Quang hay Tiếp Dẫn đạo sư. Ngài là một trong những vị Phật được thờ trong Phật giáo Đại thừa, Tịnh Độ tông, ngụ ở tịnh độ của mình và đến thế giới này với vai trò là một thế lực cứu độ.

    Phật A Di Đà lần đầu tiên được nhắc đến trong Kinh Vô Lượng Thọ, khi Đức Phật Thích Ca trong một lần thuyết giảng lúc tại thế. Tuy vậy, các bằng chứng khảo cổ chỉ tìm thấy kinh Vô Lượng và các ghi chép về Phật A Di Đà vào khoảng thế kỷ 1 trước công nguyên. Phần giải thích lịch sử nguồn gốc về niềm tin A Di Đà được trích ở bách khoa toàn thư Việt Nam cho rằng Phật A Di Đà là 1 sản phẩm của học giả Phật giáo của thế kỷ thứ 1 trước công nguyên. Do đó, không có cơ sở nào chứng minh được Đức Thích Ca có thật sự nói về Phật A Di Đà hay không, hay Phật A Di Đà chỉ là một sản phẩm của học giả.

    Đến hiện tại, vẫn còn rất nhiều tranh cãi về nguồn gốc Phật A Di Đà

    Còn theo Đại Kinh A Di Đà, Đại Kinh Sukhāvatīvyūha, Phật A Di Đà từng là một vị tăng tên là Pháp Tạng – Dharmākara trong 1 kiếp trước. Ngài nguyện khi đắc quả Phật sẽ tịnh hoá và trang nghiêm một thế giới và biến nó thành một trong những quốc độ thanh tịnh và đẹp đẽ nhất. Sau đó Dharmākara đắc đạo trở thành Phật A Di Đà. Phật A Di Đà giờ đây đang cư ngụ tại thế giới đã tịnh hoá, gọi là Cực Lạc tịnh độ ở Tây phương. Từ thế giới này Ngài sẽ đến với chúng ta, vây quanh bởi những vị Bồ Tát, đón những chúng sinh đã khuất và dẫn họ đi tái sinh trong đất nước thanh tịnh của Ngài.

    Trong lịch sử Phật giáo thì Phật A Di Đà được tôn thờ sớm nhất trong lịch sử. Ngài được coi là Đức Phật ở kiếp trước. Trong Tam Thế Phật thì Đức Phật cũng biểu thị cho thế quá khứ. Tượng Phật A Di Đà thường được vẽ hoặc đúc với màu đỏ, tượng trưng cho màu mặt trời lặn phương Tây. Một tay của Ngài bắt ấn thiền định, tay kia giữ một cái bát, biểu trưng của một giáo chủ, cũng có khi một tay Đức Phật cầm tòa sen, một tay xòe ra đưa xuống đất có ý nghĩa để dẫn dất chúng sinh lên tòa sen về cõi tịnh độ.

    Ý nghĩ thờ tượng Phật A Di Đà

    Đức Phật A Di Đà xuất hiện vớ 48 đại hạnh nguyện lớn, trong đó chủ yếu nói về việc Ngài phổ độ chúng sinh khi thành Phật. Ngài đưa con người thoát ra khỏi những điều khốn khổ trong cuộc sống. Hướng về những điều thiện, tránh những cái ác trong cuộc sống. Dẫn dắt những người đã mất ở trần thế về thế giới Tây phương Cực lạc, nơi Ngài làm Giáo chủ.

    Nếu con người sớm thức tỉnh, nhận ra chân lý của sự khổ đau, thoát khỏi bể ái thì sẽ được Phật dẫn dắt. Nhờ đó con người nhận ra những điều chân lý và tránh khỏi buồn đau cuộc sống.

    Phật A Di Đà thường được thờ cạnh Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và tượng Phật Di Lặc. Hàm ý để thể hiện cho quá khứ, hiện tại và tương lai. Trong đó Phật A Di Đà được coi là hiện hữu của quá khứ. Ngoài ra, nhiều gia đình cũng thờ tượng Tây phương Tam Thánh gồm Phật A Di Đà ở giữa, hai bên là Quán Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát. Việc thờ phụng bộ ba này biểu thị cho sự giác ngộ và mong cầu được cứu độ khỏi đau khổ lầm than, dùng ánh sáng trí tuệ để dẫn đường con người về chánh thiện.

    Phật A Di Đà là giáo chủ Tây phương Cực lạc, có hạnh nguyện cứu vớt chúng sanh

    Cách bài trí tượng Phật A Di Đà đúng chuẩn

    1. Vị trí đặt tượng Phật A Di Đà

    Nếu thờ tượng Phật A Di Đà tại gia, nên đặt bàn thờ Phật ở vị trí chính của phòng khách, đối diện với vị trí ngồi bình thường của chủ nhà. Bàn thờ Đức Phật ở vị trí trung tâm của nhà để có thể phát huy tác dụng cảm hóa an lạc. Gia chủ có thể tham khảo ý kiến của pháp sư hay thầy phong thỷ về vị trí tốt. Tránh đặt tượng Phật gần những nơi như phòng ngủ, phòng vệ sinh, gần cầu thang, lối đi lại. Như vậy sẽ thể hiện sự bất kính với các vị Phật, Bồ Tát.

    Hoặc thờ ban Phật trong không gian phòng thờ riêng biệt, không nên thờ chung với ban thờ gia tiên. Sau tượng Phật không nên có cửa sổ. Tượng Phật phải đặt đối diện với cửa sổ có đủ ánh sáng để cho người khách bước vào có thể thấy ngay được.

    Tượng Phật A Di Đà nên đặt ở phòng vắng lặng, không gian thờ cúng riêng, tránh nơi ra vào nhiều người, ồn ào ảnh hưởng tới sự thanh tịnh nơi Phật. 

    Như đã nói ở trên. không nên thờ tượng Phật cùng với ban thờ gia tiên. Trừ giả nếu không gian nhỏ thì hãy đặt tượng Phật ở vị trí trung tâm, cao nhất, gia tiên tiền tổ đặt xung quanh. Tuyệt đối không thờ chung bát hương. Một số gia đình có thờ thêm các tượng phong thủy, ban Thần tài, Thổ Địa thì vị trí của ban thờ Ngài cũng là trung tâm và tuyệt đối.

    Bài trí tượng Phạt A Di Đà đúng chuẩn sẽ giúp gia chủ có được bình an

    2. Bài trí tượng Phật A Di Đà đúng chuẩn

    Có 3 cách để bài trí tượng Đức Phật cơ bản và đúng chuẩn:

    Thứ nhất: Thờ độc tôn, là thờ chỉ 1 vị Phật hoặc 01 vị Bồ Tát, như: Phật Thích Ca, Phật Di Đà, Quan Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát…

    Thứ hai: Thờ theo bộ, Những vị Phật và Bồ Tát hay thờ cùng với Phật A Di Đà gồm có:

    Tây Phương Tam Thánh: Phật A Di Đà là Cung chủ của Tây Phương giới, Ngài ngồi ở vị trí trung tâm. Bồ Tát Ðại Thế Chí cầm cành hoa sen màu xanh đứng bên tay phải Ðức Phật A Di Ðà, bên tay trái là Bồ Tát Quán Thế Âm cầm nhành dương liễu và bình tịnh thủy. Hai vị Bồ Tát, một bên đại diện cho tinh thần đại trí, một bên biểu thị cho tinh thần đại bi.

    Tam Thế Phật: Ý chỉ vị Phật của 3 thời. Phật A Di Đà tượng trưng cho thời quá khứ, Phật Thích Ca là thời hiện tại và Phật Di Lặc biểu trưng thời tương lai. Dựa theo thứ tự đó, ở giữa là tượng Đức Phật Thích Ca, Ngài Di Lặc ở phía tay trái Đức Phật, bên còn lại à vị trí chủa Phật A DI Đà.

    Bài trí tượng Phật A Di Đà thờ độc tôn

    Thứ ba: Thờ phối hợp, là thờ theo bộ kết hợp với thờ độc tôn, như thờ: Tam Thế Phật bậc trên, thờ Bồ Tát Quan Âm bậc dưới. Tượng Tây Phương Tam Thánh bậc trên, thờ Bồ Tát Di Lặc bậc dưới. Phật Thích Ca bậc trên, Tây Phương Tam thánh bậc dưới… Kiểu thờ này chủ yếu được áp dụng trong chùa, đền, miếu… những nơi không gian thờ cúng chuyên biệt và rộng rãi.

    Những lưu ý khi thờ tượng Phật A Di Đà tại gia

    + Giống như bất kì một vị Phật hay Bồ Tát khác, khi thỉnh tượng về thờ tại gia, đều sẽ có nhưng lưu ý và cấm kị gia chủ cầm nắm rõ. Có như vậy mới không phạm vào đại kị hay bất kính với các vị Phật, Bồ Tát.

    + Nên đặt ban thờ để Phật hướng ra ngoài cửa chính. Tại vị trí đó sẽ có tác dụng hữu ích với những người đã khuất trong gia đình gia chủ. Ngài sẽ cứu độ, giải trừ đau khổ của người thân, giúp người đó siêu thoát.

    + Không đặt ban thờ Phật ở vị trí gần nhà bếp, nhà vệ sinh, phòng ngủ hay những nơi dễ bị uế khi lây như góc cầu thang và hướng quay về nhà tắm.

    + Gia chủ không nên thờ chung Thần khác như Thổ công, Thần Tài, Quan Công… cùng với Tây Phương Tam Thánh, bởi vì Thần thánh vẫn nằm trong lục đạo luân hồi. Nếu gia chủ có hành động thờ chung sẽ dẫn tới việc phạm phải điều cấm kỵ trong nhà Phật.

    + Nếu thờ Tam Thánh, cần lưu ý về vị trí sắp xếp 2 vị Bồ Tát 2 bên. Vị trí của ban thờ phải ở vị trí trên cao nhất, ít nhất đỉnh tượng Bồ Tát phải được thờ cao hơn đỉnh đầu của gia chủ trở lên.

    Khi thờ tượng Phật tại nhà cần tránh những cấm kị để không bị mang vận xấu cho gia đình

    + Chỉ nên dùng hoa quả và được đặt trên đĩa đựng trái cây khi dâng lễ. Và đặc biệt đồ trái cây để cúng không được dùng trong việc khác, hay để cúng cùng với ban gia tiên.

    + Nếu trong nhà có ban thờ gia tiên thì nên đặt ban gia tiên ở tường nhà bên trái hoặc phải của ban thờ Phật. Bởi lễ trong 10 phương 3 cõi chúng sinh, Phật là thầy. Ngay cả những người đã khuất cũng cần có sự giác ngộ từ Phật, chính vì vậy khi được đặt ban gia tiên bên cạnh ban thờ Phật. 

    + Không dùng chung bát hương với gia tiên, không đặt tượng Phật A Di Đà thấp hơn ban thờ gia tiên.

    Mua tượng Phật A Di Đà ở đâu uy tín?

    Bảo Long là đơn vị uy tín, chuyên chế tác và bán tượng Phật A Đi Đà, tượng Phật bằng đồng, đồ thờ đồng khác… Sử dụng công nghệ đúc truyền thống của làng nghề Ý Yên Nam định. Cùng với đó là các nghệ nhân lâu nắm, tài hoa. Các mẫu sản phẩm của chúng tôi luôn đa dạng từ hình dáng, mẫu mã, kích thước. Riêng về chất lượng sản phẩm, chúng tôi tự tin là đơn vị hàng đầu chuyên về đồ đồng hiện nay. 

    Cùng với sự phát triển của công nghiệp hóa, yêu cầu về chất lượng và thẩm mĩ càng cao. Bảo Long cũng không bị tụt hậu phía sau mà luôn tiên phong trong việc đổi mới, cập nhật xu hướng. Nếu nhìn vào các sản phẩm của chúng tôi, sẽ thấy từ hoa văn chi tiết đều tỉ mỉ và có hồn. Riêng với tượng Phật bằng đồng, là một trong những sản phẩm nổi bật của công ty. Chúng tôi nhận thi công đúc các mẫu tượng Phật đầy đủ kích cỡ phục vụ từ chùa đền, đến thờ tại gia. Đặc biệt, vì là đơn vị trực tiếp sản xuất, giá thành của Bảo Long luôn ổn định và phù hợp với túi tiền người mua.

    ĐÚC ĐỒNG BẢO LONG

    Hotline: 0984.888.889 – 0915.979.388

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghi Thức Thí Cô Hồn – Pratique Du Bouddhisme – Hành Pháp Phật
  • Chìa Khóa Hạnh Phúc Gia Đình
  • Phật Giáo Và Sự Thờ Cúng – Samanta
  • Cách Bài Trí Và Thờ Bộ Tượng Tam Thế Phật Ngồi Tại Gia
  • Mẫu Bàn Thờ Tam Thế Phật Và Những Điều Bạn Chưa Biết
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100