Dâng Hương Lễ Phât, Lễ Mẫu, Văn Khấn Lễ Phật, Lễ Mẫu Như Thế Nào

--- Bài mới hơn ---

  • Bài Cúng Phật Rằm Tháng Giêng
  • Lễ Và Văn Khấn Tạ Thần Linh Thổ Địa (Tạ Đất Cuối Năm) Tại Nhà
  • Văn Khấn Nhập Trạch Bài Cúng Chuyển Về Nhà Mới, Lễ Vật Cần Chuẩn Bị Gì?
  • Bài Văn Cúng, Văn Khấn Giải Hạn Cầu An Đầu Năm
  • Bài Cúng Tất Niên Cuối Năm Ở Cơ Quan 2022
  • Dâng hương lễ Phật, lễ Mẫu như thế nào cho đúng. Dâng hương lễ Phật ở các chùa chỉ nên sắm cô chay, như: hương, hoa, xôi, oản, bánh, kẹo, hoa tươi. Không được dùng cỗ mặn như thịt các loại, Rượu, không dùng vàng mã, tiền âm phủ, kể cả tiền thật.

    Nếu cúng đường tiền thật thì nên cho vào hòm công đức.

    Hoa dùng là hoa tươi, sạch, không dùng hoa dại, tốt nhất là hoa sen, hoa huệ, hoa hồng, hoa cúc vạn thọ.

    Các bước dâng hương tại chùa như sau:

    1. Nếu chùa có ban thờ Thổ thần, Thổ địa thì đặt lễ khấn ở ban này trước tiên, sau đó khấn các vị: xin phép lên chùa lễ chư vị và lễ Phật, Bồ tát.

    2. Khi vào điện thờ Phật, đặt lễ lên ban thờ chính: đó là ban thờ Phật, ban thờ Bồ tát, ban thờ Thánh tăng, sau đó ban thờ Đức Ông

    3. Khi sắp xong lễ ở tất cả các ban, lúc đó mới thắp nhang, thỉnh 3 hồi chuông, trước tiên lễ Phật, Bồ tát.

    Bài văn khấn như sau:

    Bài văn khấn trước điện thờ Phật

    – Nam Mô đức giáo chủ Thích Ca Mầu ni Phật (3 lần).

    – Nam Mô Dược sư Lưu ly quang Phật (3 lần).

    – Nam Mô Đức Di lặc Phật (3 lần).

    – Nam Mô Chư vị Bồ tát (3 lần).

    Hôm nay ngày….. Tháng…… Năm (lịch âm)

    Đệ tử chúng con kinh cần dâng lên chư Phật, chư Bồ tát tấm lòng thanh tịnh, tâm chí thành hướng đến xả trừ Tam Độc: Tham, Sân, Si, tăng làm điều thiện, không làm điều ác, Kính cẩn Tam Bảo.

    Kính cầu chư Phật, chư Bồ tát gia trì cho chúng con sức mạnh Phật Pháp để chúng con an lành khang thái.

    Nam mô A di đà Phật

    Sau khi lễ Phật Bồ tá xong, ta quay sang lễ ban Đức Ông, tiếp đén ban Đức thánh Hiền.

    4. Đặt lễ, dâng hương điện thờ Mẫu (nếu chùa có điện thờ Mẫu) sau đó lễ Mẫu.

    – Nam Mô A di đà Phật (3 lần).

    – Nam Mô Tam Thế Phật

    – Nam Mô đức giáo chủ Thích Ca Mầu ni Phật

    Con kính lạy đức Ngọc Hoàng Thượng Đế.

    Con kính lạy Mẫu Đệ Nhất Tiên Thiên.

    Con kính lạy Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn.

    Con kính lạy Mẫu Đệ Tam Thoải Cung.

    Con kính lạy Đệ tứ Khâm sai Thánh Mẫu, Tứ vị chầu bà, Năm tòa Quan lớn, Mười dinh các quan, 12 Tiên cô, 12 Thánh cậu, Ngũ hổ đại tướng, Thanh hoàng, Bạch hoàng xà đại tướng.

    Con là…………Ngụ tại…………………

    Hôm nay là ngày……………Tháng…………………Năm…………..âm lịch.

    Chúng con: đèn, nhanh đến Điện (Chùa, đền , phủ) …….Chắp tay kính lễ, khấu đầu vọng bái với tấm lòng thành tha thiết, kính dâng lễ vật, cúi xin các ngài xót hương phù hộ độ trì cho toàn gia, cho con sức khỏe dồi dào, bình an khang thái, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, vạn sự hanh thông, giải hung, gặp may, vạn sự như ý.

    Nam mô A di đà Phật

    Cẩn cáo (sáu đó vái 5 vái)

    5. Lễ ở nhà thờ Tổ, ở đó có tượng các vị tổ là tăng ở chùa sở tại, đặc biệt có tượng đứcTổ Tây (Bồ Đề Đạt Ma).

    Một điều cơ bản, ngày lên chùa lễ Phật, lễ Mẫu cần có tâm thanh tịnh, nghĩa là trước ngày đó hãy xếp lại tất cả những khúc mắc, xích mích với người xung quanh nếu có; không: uống rượu, ăn thịt dê, bò, chó; phải tắm rửa sạch sẽ thân thể và ăn mặc chỉnh tề khi lên chùa, khi đứng trước tượng Phật, Bồ tát….

    Khi khấn có thể đứng, quỳ tùy ý. Khi đứng hay quỳ cần ngay ngắn, nghiêm trang, hai tay chắp trước ngực, hai ngón cái của bàn tai chạm ngực, đầu hơi cúi xuống, nhưng mắt ngửng lên nhìn với dáng vẻ mông lung hướng về chính điện thờ. Khi dứt bài văn khấn, ta vái nhẹ nhàng 3 hoặc 5 vái, đi ra giật lùi hoặc đi ngang trước điện, trước ban thờ.

    • Cây Cà gai leo, Tên khoa học, Thành phần hóa học, tác dụng chữa bệnh của cây
    • Cây Hoàng cầm, Tên khoa học, Thành phần hóa học, tác dụng chữa bệnh của cây
    • Cây Hồng hoa, Rum, Tên khoa học, Thành phần hóa học, tác dụng chữa bệnh của cây
    • Cây Hoàng cầm râu, Bán chi liên, Tên khoa học, Thành phần hóa học, tác dụng chữa bệnh của cây
    • Cây Mạch môn đông, Tên khoa học, Thành phần hóa học, tác dụng chữa bệnh của cây
    • Nấm Linh chi, Nấm lim – Ganoderma lucidum, tác dụng chữa bệnh của Nấm
    • Cây Me rừng, Chùm ruột núi, Phyllanthus emblica L, và tác dụng chữa bệnh của cây
    • Cây Hà thủ ô trắng, Dây sữa bò, Streptocaulon juventas và tác dụng chữa bệnh của cây
    • Cây Hà thủ ô, Hà thủ ô đỏ, Polygonum multiflorum Thumb và tác dụng chữa bệnh của cây
    • Cây Hàm ếch, Trầu nước, Saururus chinensis và tác dụng chữa bệnh của cây
    • Cây Cỏ tranh, Bạch mao, Tên khoa học, Thành phần hóa học, tác dụng chữa bệnh của cây
    • Cây Cỏ xạ hương, Tên khoa học, Thành phần hóa học, tác dụng chữa bệnh của cây

    Dâng hương lễ Phật, lễ Mẫu như thế nào cho đúng. Dâng hương lễ Phật ở các chùa chỉ nên sắm cô chay, như: hương, hoa, xôi, oản, bánh, kẹo, hoa tươi. Không được dùng cỗ mặn như thịt các loại, Rượu, không dùng vàng mã, tiền âm phủ, kể cả tiền thật.

    Nếu cúng đường tiền thật thì nên cho vào hòm công đức.

    Hoa dùng là hoa tươi, sạch, không dùng hoa dại, tốt nhất là hoa sen, hoa huệ, hoa hồng, hoa cúc vạn thọ.

    Các bước dâng hương tại chùa như sau:

    1. Nếu chùa có ban thờ Thổ thần, Thổ địa thì đặt lễ khấn ở ban này trước tiên, sau đó khấn các vị: xin phép lên chùa lễ chư vị và lễ Phật, Bồ tát.

    2. Khi vào điện thờ Phật, đặt lễ lên ban thờ chính: đó là ban thờ Phật, ban thờ Bồ tát, ban thờ Thánh tăng, sau đó ban thờ Đức Ông

    3. Khi sắp xong lễ ở tất cả các ban, lúc đó mới thắp nhang, thỉnh 3 hồi chuông, trước tiên lễ Phật, Bồ tát.

    Bài văn khấn như sau:

    Bài văn khấn trước điện thờ Phật

    – Nam Mô đức giáo chủ Thích Ca Mầu ni Phật (3 lần).

    – Nam Mô Dược sư Lưu ly quang Phật (3 lần).

    – Nam Mô Đức Di lặc Phật (3 lần).

    – Nam Mô Chư vị Bồ tát (3 lần).

    Hôm nay ngày….. Tháng…… Năm (lịch âm)

    Đệ tử chúng con kinh cần dâng lên chư Phật, chư Bồ tát tấm lòng thanh tịnh, tâm chí thành hướng đến xả trừ Tam Độc: Tham, Sân, Si, tăng làm điều thiện, không làm điều ác, Kính cẩn Tam Bảo.

    Kính cầu chư Phật, chư Bồ tát gia trì cho chúng con sức mạnh Phật Pháp để chúng con an lành khang thái.

    Nam mô A di đà Phật

    Sau khi lễ Phật Bồ tá xong, ta quay sang lễ ban Đức Ông, tiếp đén ban Đức thánh Hiền.

    4. Đặt lễ, dâng hương điện thờ Mẫu (nếu chùa có điện thờ Mẫu) sau đó lễ Mẫu.

    – Nam Mô A di đà Phật (3 lần).

    – Nam Mô Tam Thế Phật

    – Nam Mô đức giáo chủ Thích Ca Mầu ni Phật

    Con kính lạy đức Ngọc Hoàng Thượng Đế.

    Con kính lạy Mẫu Đệ Nhất Tiên Thiên.

    Con kính lạy Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn.

    Con kính lạy Mẫu Đệ Tam Thoải Cung.

    Con kính lạy Đệ tứ Khâm sai Thánh Mẫu, Tứ vị chầu bà, Năm tòa Quan lớn, Mười dinh các quan, 12 Tiên cô, 12 Thánh cậu, Ngũ hổ đại tướng, Thanh hoàng, Bạch hoàng xà đại tướng.

    Con là…………Ngụ tại…………………

    Hôm nay là ngày……………Tháng…………………Năm…………..âm lịch.

    Chúng con: đèn, nhanh đến Điện (Chùa, đền , phủ) …….Chắp tay kính lễ, khấu đầu vọng bái với tấm lòng thành tha thiết, kính dâng lễ vật, cúi xin các ngài xót hương phù hộ độ trì cho toàn gia, cho con sức khỏe dồi dào, bình an khang thái, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, vạn sự hanh thông, giải hung, gặp may, vạn sự như ý.

    Nam mô A di đà Phật

    Cẩn cáo (sáu đó vái 5 vái)

    5. Lễ ở nhà thờ Tổ, ở đó có tượng các vị tổ là tăng ở chùa sở tại, đặc biệt có tượng đứcTổ Tây (Bồ Đề Đạt Ma).

    Một điều cơ bản, ngày lên chùa lễ Phật, lễ Mẫu cần có tâm thanh tịnh, nghĩa là trước ngày đó hãy xếp lại tất cả những khúc mắc, xích mích với người xung quanh nếu có; không: uống rượu, ăn thịt dê, bò, chó; phải tắm rửa sạch sẽ thân thể và ăn mặc chỉnh tề khi lên chùa, khi đứng trước tượng Phật, Bồ tát….

    Khi khấn có thể đứng, quỳ tùy ý. Khi đứng hay quỳ cần ngay ngắn, nghiêm trang, hai tay chắp trước ngực, hai ngón cái của bàn tai chạm ngực, đầu hơi cúi xuống, nhưng mắt ngửng lên nhìn với dáng vẻ mông lung hướng về chính điện thờ. Khi dứt bài văn khấn, ta vái nhẹ nhàng 3 hoặc 5 vái, đi ra giật lùi hoặc đi ngang trước điện, trước ban thờ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Cúng Giỗ Mẹ Và Những Điều Cần Chuẩn Bị Trong Ngày Này
  • Cụm Di Tích Đình Đền Chùa Cầu Muối
  • Cúng Thôi Nôi Cho Bé Trai Miền Bắc Cần Chuẩn Bị Những Gì?
  • Cách Làm Lễ Cúng Khai Trương Mùng 4 Tết Năm Canh Tý 2022
  • Văn Khấn Cúng Lễ Cải Cát (Sang Tiểu, Sang Cát, Bốc Mộ, Sửa Mộ, Dời Mộ)
  • Tuyển Tập Mẫu Văn Khấn Phật Bà Quan Âm Hay Tại Nhà

    --- Bài mới hơn ---

  • Quần Thể Di Tích Phủ Dầy (Nam Định)
  • Cách Sắm Lễ Và Các Bài Văn Khấn Quan Thế Âm Bồ Tát
  • Văn Khấn Nôm Quan Hoàng Bảy Đầy Đủ Nhất
  • Sắm Lễ Đi Chùa Tây Thiên, Kinh Nghiệm Đi Thiền Viện Tây Thiên
  • Bài Khấn Quan Tuần Tranh
  • Văn khấn Phật bà Quan Âm tại nhà nên khấn bài nào hay khấn ra sao để thể hiện, giãi bày được sự thành tâm, kính cẩn cũng như ước nguyện của gia chủ là điều không phải hành giả nào cũng làm được. Hiểu được điều đó, bài viết sau đây của chúng tôi dành riêng ra để chia sẻ về cách khấn và mẫu bài văn khấn Phật bà Quan Âm tại nhà hiện đang được áp dụng.

    Cách thờ cúng Phật bà Quan Âm tại nhà

    Thờ cúng Phật bà Quan Âm tại nhà ngoài thành tâm thì gia chủ còn cần phải thật chỉnh chu trong việc thờ cúng như giữ cho bàn thờ luôn sạch sẽ, tươm tất và còn cần tuân thủ tuyệt đối những nguyên tắc sau đây:

    – Chọn hướng bàn thờ Phật: Bàn thờ Phật phải hướng ra cửa chính, để đón tài lộc cho gia chủ. Hướng ra cửa chính vừa đáp ứng được yếu tố phong thủy theo hướng nhà vừa giúp cho không gian thờ tự của gia đình thêm trang nghiêm, sang trọng.

    – Cách bài trí bàn thờ Phật bà Quan Âm: Bàn thờ chính giữa được đặt tượng Phật, bát hương được đặt dưới chân phật, 2 bên là 2 cây đèn (nên sử dụng đèn dầu hoặc nến thì ban thờ sẽ ấm cúng hơn), 2 bên phía sau là bình hoa và đĩa hoa quả. Gia chủ khi bày ban thờ Phật cũng giống như bày bàn thờ gia tiên, cần tuân thủ theo nguyên tắc đông bình – tây quả.

    – Gia chủ nên cầu khấn, tụng kinh niệm Phật vào buổi sáng, trước khi mặc áo tràng, quỳ trước bàn thờ Phật thắp một cây nhang đánh 3 tiếng chuông rồi lạy 3 lạy.

    – Buổi tối phải tắm rửa sạch sẽ, ăn vận chỉnh chu rồi thắp 3 cây nhang lên bàn thờ Phật, đánh 1 hoặc 3 tiếng chuông đều được

    Văn khấn Phật bà Quan Âm tại gia

    Thờ cúng Phật bà Quan Âm tại nhà ngoài những phân tích về việc thờ cúng đã nêu ở trên thì sau khi thắp nhang gia chủ còn cần đọc bài văn khấn quan âm sau đây:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bàn Thờ Phật Nên Đặt Quay Về Hướng Nào ? Văn Khấn Bàn Thờ Phật Tại Nhà
  • Văn Khấn Cúng Lễ Ở Đình, Đền, Chùa, Miếu, Phủ
  • Văn Khấn Đền Ông Hoàng Mười Nghệ An Cầu May Mắn Cả Năm 2022
  • Văn Khấn Ông Công Ngày Rằm
  • Văn Khấn Cúng Ông Công Ông Táo 23 Tháng Chạp
  • Thượng Đế & Phật Mẫu

    --- Bài mới hơn ---

  • Giới Thiệu Khái Quát Về Đạo Cao Đài – Cecrs
  • Vài Nét Về Chữ Hiếu Trong Đạo Cao Đài Qua Quyển Kinh Thiên Đạo Và Thế Đạo
  • Ý Nghĩa Loài Hoa Mẫu Đơn
  • Địa Mẫu Chân Kinh (Kỳ 1)
  • Độ Cứng Hrc – Hrb – Hb – Hv – Leeb Của Kim Loại Phổ Biến
  •  

     

                          THƯỢNG ĐẾ  &  PHẬT MẪU

     

                                             QUÍ NGÀI LÀ AI?

                            

              Phàm làm con người trên quả địa cầu nầy, lắm lúc chúng ta ngồi suy tư về sự hiện hữu của mình, rồi tự dưng sẽ nhìn thấy cả một kỳ diệu trong việc cấu trúc nên hình thể con người. Từ các cơ quan như: Cơ quan thị giác, cơ quan xúc giác, cơ quan thính giác, cơ quan vị giác, cơ quan khứu giác… và các bộ máy như: Bộ máy tuần hoàn, bộ máy tiêu hóa, bộ máy bài tiết… cho đến hệ thần kinh chi chit trong cơ thể rồi đến các trung khu trên não bộ…Các chức năng của những bộ phận nêu trên họat động một cách vi diệu khiến chúng ta phải thừa nhận có bàn tay sáng tạo của Đấng Tạo Hóa đã vẽ nên hình! Đó là phần hữu hình, còn về mặt vô hình như: Tánh linh, mặc khải, cảm nhận, kiến thức, tư tưởng, ý thức, tiềm thức, vô thức, lương tâm, linh hồn….ai đã tạo nên? Phải chăng cũng là Đấng Tạo-hóa?

              Vượt ra ngoài phạm vi lớn hơn, với vũ trụ bao la, các vì tinh tú luôn luôn vận hành theo một trật tự vi diệu, vạn vật sinh tồn, thiên nhiên mầu nhiệm…Có thể nói, vũ trụ hãy còn nhiều bí mật mà loài người chưa đủ khả năng khám phá! Ắt phải có một Đấng Chúa Tể cả Càn Khôn Vũ Trụ với quyền năng vô đối đã tạo nên.

              Từ các suy tư kể trên, qua kinh sách của đạo Cao Đài, qua các đàn cơ dạy đạo của Đức Chí Tôn và các Đấng Thiêng Liêng, chúng ta đã được giải đáp rất nhiều về những bí mật của vũ trụ, về sự nhiệm mầu của Đấng Tạo Hóa, và về sự hiện hữu của hai Đấng tối cao, tối linh mà nhơn loại tôn thờ. Đó là Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế và Đức Diêu Trì Kim Mẫu mà người tín đồ Cao Đài gọi là Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu.

     

              Vậy Thượng Đế, Ngài là ai? Ngài như thế nào? Ngài ở đâu? Ngài làm gì? Đó là những câu hỏi muôn đời và vẫn chưa có câu trả lời nào được con người chấp nhận một cách trọn vẹn. Ngoại trừ các bậc chơn tu đã giác ngộ mới nhận diện được Ngài, còn phần đông chúng ta chỉ cảm nhận Ngài qua đức tin trong tôn giáo của mình mà thôi. Điển hình như Pascal, một khoa học gia, một nhà toán  học, một triết gia lớn của nhơn loại đã nói: “ Dù không thể dùng lý trí để chứng minh sự hiện hữu của Thượng Đế vì Ngài quá siêu việt đối với sự hiểu biết của con người, nhưng chúng ta cần phải tin tưởng vào Đấng sáng tạo tối cao.”

              Với Pascal, niềm tin ở Thượng Đế  là nền tảng để khám phá mọi bí mật của thế giới vô hình, là yếu tố cần thiết để diện kiến được Ngài, là điều hữu ích cho kiếp làm người. Do đó Pascal đã khẳng định:

     “Hãy quỳ xuống, anh sẽ thấy được Thượng Đế” Vậy thì:

     

    I-THƯỢNG ĐẾ, NGÀI LÀ AI?

              Điều nầy giáo lý của các tôn giáo đã có lời giải đáp đặt trên nền tảng đức tin của từng tôn giáo. Riêng về tôn giáo Cao Đài, nhờ phương tiện thông linh bằng cơ bút, người tín đồ Cao Đài mới biết chắc rằng: Có một Đấng duy nhứt, tối cao, tối đại, tối linh …đã tạo ra Càn Khôn Vũ Trụ và vạn vật. Đấng ấy trong thời Hạ Nguơn mạt pháp nầy đã giáng cơ mở Đạo và dạy Đạo. Ngài tự xưng là: Ngọc Hoàng Thượng Đế kim viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Tát. Với danh xưng nầy có nghĩa Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế nay gọi là Đấng Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.

              Như trên đã nói, với phương tiện cơ bút, Đức Chí Tôn khai Đạo và dạy Đạo nên cũng nhờ váo đó nhơn loại ngày nay có thể biết rõ ràng về Thượng Đế. Chính Ngài đã giáng cơ giải thích về thân thế củ Ngài như sau:

               “Khi chưa có chi trong Càn Khôn Thế Giới thì khí Hư vô sinh ra chỉ có một mình Thầy và ngôi của Thầy là Thái Cực. Thầy phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi ra Tứ Tượng, Tứ Tượng biến Bát Quái. Bát Quái biến hóa vô cùng mới lập ra Càn Khôn Thế giới. Thầy lại phân tánh Thầy mà sanh ra vạn vật là: Vật chất, thảo mộc, côn trùng, thú cầm và gọi chung là Chúng Sanh.

              Các con đủ hiểu rằng, chi chi hữu sanh cũng bởi do Chơn Linh Thầy mà ra. Hễ có sống ắt có Thầy. Thầy là cha của sự sống vì vậy lòng háo sanh của Thầy vô cùng tận. “

              Một đàn cơ khác, Đức Chí Tôn giải thích thêm:

               “ Khai thiên địa vốn Thầy, sanh Tiên Phật cũng Thầy. Thầy đã nói một Chơn Thần mà đã biến Càn Khôn Thế Giới và cả Nhơn Loại. Thầy là chư Phật, chư Phật là Thầy. Các con là chư Phật, chư Phật là các con. Có Thầy mới có các con, có các con rồi

    mới có chư Thần, Thánh, Tiên, Phật.

              Thầy khai Bát Quái mà tác thành Càn Khôn Thế Giới nên mới gọi là Pháp. Pháp có, mới sanh ra Càn Khôn Vạn vật, rồi mới có người nên gọi là Tăng.

               Thầy là Phật, chủ cả Pháp và Tăng lập thành các Đạo mà phục hồi các con hiệp một cùng Thầy.”

              Nói tóm lại, như trên đã trình bày: Khi trời đất chưa phân định, không gian lúc bấy giờ chỉ là Hư Vô Chi Khí. Với cái tên gọi như vậy, vì cái thể của nó trống không đối với mắt phàm của con người, nhưng kỳ thực trong cái không ấy vẫn chứa đựng một nguồn sống tiên khởi. Từ nguồn sống ấy biến ra muôn loài, vạn vật…Trong đó có con người. Con người gọi tên nguồn sống ấy bằng nhiều danh hiệu khác nhau, chẳng hạn như Đức Chúa Trời, Đức Chí Tôn, Đấng Tạo Hóa, Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, Đấng A- La, Đấng Giê- Hô- Va….

               Vậy Thượng Đế tuy vô hình nhưng thực sự hiện hữu.

     

    II – THƯỢNG ĐẾ Ở ĐÂU?

              Nhờ Thánh Ngôn của đạo Cao Đài, chúng ta biết được nơi ngự của Đức Chí Tôn là Bạch Ngọc Kinh, là một tòa nhà to lớn làm bằng ngọc trắng được mô tả qua đàn cơ ngày 1-1 năm Bính Dần (1926) như sau:

              Một tòa thiên các ngọc làu làu,

              Liền bắc cầu qua, nhấp nhóa sao.

              Vạn trượng then gài ngăn Bắc Đẩu,

              Thiên trùng nhiếp khảm hiệp Nam Tào.

               Chư Thần chóa mắt màu thường đổi,

              Liệt Thánh kinh tâm phép vẫn cao.

               Dời đổi chớp giăng đoanh đỡ nổi,

               Vững bền muôn kiếp chẳng hề xao.

     

              Để có một khái niệm rõ ràng về hình ảnh của Bạch Ngọc Kinh, chúng ta hãy nhớ lại hình ảnh Tòa Thánh Tây Ninh được Đức Hộ Pháp Phạm công Tắc đứng ra xây cất theo mô hình do Đức Giáo Tông Lý Thái Bạch giáng cơ vẽ ra, phỏng theo hình ảnh của Bạch Ngọc Kinh trên cõi Thiêng Liêng. Do đó Tòa Thánh Tây Ninh cũng được gọi là Bạch Ngọc Kinh tại thế.

              Ngoài Bạch Ngọc Kinh, Đức Chí Tôn còn ngự tại Linh Tiêu Điện ở Ngọc Hư Cung thuộc từng trời Hư Vô Thiên mỗi khi có Đại Hội Quần Tiên, nơi đó Đức Chí Tôn ngự trên  đài cao để chủ tọa Đại Hội Ngự Triều.

              Linh Tiêu nhứt tháp thị Cao Đài,

               Đại Hội Quần Tiên thử ngọc giai,

               Vạn trượng hào quang tùng thử xuất,

               Cổ danh bửu cảnh lạc Thiên Thai.

    III – THƯỢNG ĐẾ LÀM GÌ?

              Trong bài kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế mà người tín đồ Cao Đài tụng niệm hằng ngày có một đoạn cho chúng ta biết vài nét về quyền hành của Đức Thượng Đế. Bài kinh viết bằng Hán Tự và xin được diễn Nôm như sau:

    Đức Thượng Đế tạo ra vạn vật và dưỡng dục vạn vật,

    Trên thì chưởng quản 36 tầng trời và 3.000 thế giới.

    Dưới chưởng quản 72 địa cầu và Tứ Đại Bộ Châu.

    …………………………………………………………………….

    Là vua của Nhật, Nguyệt, Tinh và thời gian.

    Tức là vua của không gian và thời gian.

    Là chủ của Thần, Thánh, Tiên, Phật.

    Là Đấng Huyền Khung Cao Thượng Đế Ngọc Hoàng,

    Là Đấng Đại Thiên Tôn.

               Cũng cần nói  thêm, trong bài kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế có câu: “ Hóa dục quần sanh “  đã cho chúng ta thấy Thượng Đế luôn luôn quan tâm đến sự thăng tiến của vạn vật.

               Thật vậy, kể từ Nhứt Kỳ Phổ Độ, qua Nhị Kỳ Phổ Độ, rồi đến Tam Kỳ Phổ Độ, Thượng Đế đã mở ra nhiều mối Đạo ở nhiều nơi…. cũng không ngoài mục đích dạy dỗ con người tìm con đường trở về cõi Thiêng Liêng Hằng Sống và thăng cao Thiên vị.

              Với hai chữ “Trở về “mà chúng tôi vừa mới nói, xin được nói rõ hơn, giáo lý Cao Đài cho biết, Linh hồn hay Chơn linh là điểm Linh Quang từ khối Đại Linh Quang của Đức Chí Tôn ban cho để nhập vào phàm thể của mỗi người. Chơn Linh ấy làm con người có tánh Thánh hầu gìn giữ và dạy dỗ phàm thể.

               Bởi nguồn gốc Chơn Linh của mỗi con người là do một phần Chơn Linh của Đức Chí Tôn từ cõi Thiên nên Đức Chí Tôn hằng nói: “Thầy là các con, các con là Thầy “và chính vì thế, khi rời khỏi xác phàm, Chơn Linh con người tìm đường trở về gốc cũ ở cõi Thiêng Liêng Hằng Sống. Người tín đồ Cao Đài cho rằng cái chết của xác phàm tại trần gian là sự “Qui hồi cựu vị “hay ngắn gọn hơn là “Qui vị “để chỉ sự trở về của Linh Hồn.

    IV – VỚI ĐẠO CAO ĐÀI, THƯỢNG ĐẾ VỪA LÀ CHA VỪA LÀ THẦY:

               Với một Đức Chí Tôn duy nhứt, nhưng trong giáo lý Cao Đài khi giáng cơ dạy Đạo, Ngài thường xưng là THẦY. Vậy Đức Thượng Đế có lúc là Cha, lại có lúc là Thầy. Đó là điều mà Đức Hộ Pháp có lần đã vấn Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn.

              Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn  là cố Đại văn hào của nước Pháp, lãnh lịnh Đức Chí Tôn làm Chưởng Đạo Hội Thánh Ngoại Giáo đạo Cao Đài.

               Đức Hộ Pháp hỏi : Cha và Thầy khác nhau, tại sao Đại Từ Phụ của chúng ta lấy danh xưng là Thầy ?

              Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn trả lời bằng một bài thơ chữ Pháp xin tạm dịch ra văn xuôi như sau :

    Ngài cùng trong một lúc là Cha và Thầy:

    Bởi vì chính Ngài sanh ra tất cả con người chúng ta.

    Ngài nuôi dưỡng thân thể chúng ta bằng vật lành mạnh

    Và tạo ra linh hồn chúng ta bằng phép ThiêngLiêng.

    Nơi Ngài,tất cả là thông thái và trí huệ.

    Sự tiến hóa của linh hồn là công nghiệp của Ngài không ngừng.

    Những vật chất hèn mọn là châu báu trước mắt Ngài.

    Những linh hồn hèn hạ, Ngài biến chúng thành ThầnThánh.

    Luật của Ngài là Bác ái, Quyền của NgàilàCôngchánh

    Ngài chỉ biết Đạo Đức và không biết thói xấu.

    CHA : Ngài ban cho các con sanh khí của Ngài.

    THẦY : Ngài di tặng cho họ cái Thiên Tánh riêng của Ngài

              Tóm lại, ngày nay, vào thời Nguơn Mạt Pháp, nhơn loại đang đắm chìm trong nền Văn minh vật chật, bỏ lơi con đường Đạo Đức khiến cho xã hội loài người càng ngày càng bất ổn, sống tranh giành, cấu xé, chiến tranh tàn sát nhau…và có cơ nguy dẫn  đến chỗ tự diệt vong. Trước cơ nguy nầy, để cứu vớt toàn thể con cái của Thượng Đế, Ngài đã dùng huyền diệu cơ bút khai sáng nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ tại Việt Nam vào năm 1926. Với nền tân tôn giáo nầy, mọi kinh kệ, lễ bái, giáo lý, Pháp Chánh Truyền, Thể Pháp, Bí Pháp…nhất nhất đều do Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế chỉ dạy qua cơ bút rõ ràng … Như vậy, Thượng Đế quả thực hiện hữu. Ngài đang chưởng quản cả Càn Khôn Vũ Trụ. Dưới mắt Ngài những vật hèn mọn là châu báu, những linh hồn hèn hạ, Ngài biến chúng thành Thần Thánh. Sự tiến hóa của linh hồn là công nghiệp không ngừng của Ngài. Luật của Ngài là Bác Ái, quyền của Ngài là Công Chánh. Ngài là Giáo Chủ của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ dưới tôn chỉ: Tam Giáo Qui Nguyên, Ngũ Chi Phục Nhứt và với Thiên Đạo Ngài truyền Bí Pháp giải thoát con người, với Thế Đạo, Ngài đưa xã hội loài người lập đời Thánh Đức.

              Thượng Đế quả thật hiện hữu, Ngài là Cha của muôn loài, là Chúa Tể cả Càn Khôn Vũ Trụ, nếu không trọn đức tin nơi Ngài, đó là một mất mát rất nhiều cho kiếp sống làm con người!

     

     

     

    V-VÀI CẢM NHẬN

      Đức Chí Tôn, với  Càn Khôn Vũ Trụ Vạn Vật Ngài là Chúa Tể, với toàn thể nhơn loại Ngài là Đấng Cha chung, đặc biệt với người tín đồ Cao Đài, Ngài vừa là Cha, vừa là Thầy và cũng vừa là Giáo Chủ của đạo Cao Đài.Ở mỗi cương vị, Ngài có cách hành sử khác nhau:

              Là Chúa Tể, trên thì Chưởng Quản Tam Thập Lục Thiên, Tam Thiên Thế giới, dưới thì Thất Thập Nhị Địa, rồi Tứ Đại Bộ Châu…Guồng máy quản trị của Ngài có chư Thần Thánh Tiên Phật tùng hộ …Tất cả thiên vạn sự đều chu toàn một cách vi diệu…mà con người khó thấu hết được!

              Đức Chí Tôn vừa là Cha Thiêng Liêng, vùa là Thầy nên việc gần gũi và dễ cảm nhận hơn khi Ngài nói: “ Một trường thi công quả, các con muốn đến đặng nơi Cực Lạc thì phải đi tại cửa nầy mà thôi”

               Vậy, mở Đạo là mở trường thi công quả, mở Đại Hội Long Hoa là mở cửa đón con cái trúng tuyển của Ngài vào Bạch Ngọc Kinh.

               Thầy mở trường dạy học trò với tất cả lòng thương yêu, với hồng ân Đại Ân Xá…Học trò một lòng sùng kính Thầy, nguỡng mộ Thầy, ngày đêm chăm chỉ tu học.  Học trò đông, thi đỗ nhiều nên ngôi trường của Thầy là ngôi trường chung cho nhơn loại, đạo do Thầy mở vào thời Tam Kỳ Phổ Độ cũng là nền đạo chung của toàn thể nhơn loại. Do vậy, người tín đồ Cao Đài hãy mau truyền khắp nơi trên thế giới, để nhơn loại  cùng nhau hiệp lực hoàn thành đời Thánh Đức. Đó là Thánh ý của Đức Chí Tôn đang mong chờ con cái của Ngài mau chóng làm cho nên hình tướng.

               Tóm lại, Đức Chí Tôn là Cha, Ngài đã bày tỏ tình Cha đối với con là Hồng Oai, Hồng Từ, Vô Cực, Vô Thượng…Là Thầy, Ngài muốn chính tay Thầy dìu dắt các con cho nên Đạo…

    Riêng việc tự đảm nhận vai trò Giáo Chủ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Ngài đã hạ mình một cách tận cùng, vì là Đấng Chúa Tể cả Càn Khôn Vũ Trụ mà phải hạ mình tá danh là Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát để điều hành mối đạo nơi quả Địa cầu thứ 68 hết sức nhỏ bé nầy… Tất cả cũng vì đàn con đang đắm chìm trên biển trần khổ. Với nỗi niềm nầy, có lần Ngài đã phân trần với đàn con của Ngài qua đàn cơ ngày 11 tháng 9 năm 1929 như sau:

              Các con coi, bậc Chí Tôn như Thầy mà hạ mình độ rỗi nhơn sanh… là thế nào? Phải xưng là một vị Tiên Ông và Bồ Tát, hai phẩm chót của Tiên, Phật. Đáng lẽ thế thường phải để mình vào phẩm tối cao, tối trọng., còn Thầy thì khiêm nhường…. là thế nào? Các con phải khiêm nhường sao cho bằng Thầy. Thầy lại nói, buổi lập Thánh Đạo, Thầy đến độ rỗi kẻ có tội lỗi. Nếu đời không tội lỗi, đâu đến nhọc công Thầy.

               Sau đó, ngày 13 tháng 2 năm 1927 Thầy giáng cơ giải thích tiếp rằng:

               Thầy đã nói Ngũ Chi Đại Đạo bị qui phàm là vì khi trước Thầy giao chánh giáo cho tay phàm, càng ngày càng xa Thánh giáo mà lập ra phàm giáo, nên Thầy nhứt định đến chính mình Thầy đặng dạy dỗ các con mà thôi, chớ không chịu giao chánh giáo cho tay phàm nữa.

               Như vậy, chúng ta cả thảy đều thấy rõ: Chính Thầy trực diện dạy dỗ các con, chính Thầy dìu dắt các con trên con đường Đạo cho đến khi các con của Ngài được hội hiệp cùng Ngài trên cõi Thiêng Liêng Hằng Sống. Bằng từng ấy, chúng ta cũng đủ cảm nhận: Thầy đến với chúng ta với cả tình thương vô bờ bến, với ý chí không lực nào cản nổi để giải cứu con cái

     của Ngài từ thể xác  cho đến Linh hồn.

                   Đó là nguyện ước của Thầy, tuy nhiên phần đạt đạo hãy còn ở chỗ chúng ta  có quyết tâm cùng không. Bởi cớ đó nên Đức Chí Tôn quả quyết rằng:

                   Nếu các con không tự lập ở cõi thế nầy, là cái đời tạm của các con, thì Thầy cũng không bồng ẵm các con mà đỡ lên cho đặng. Ấy vậy vấn đề tự lập là vấn đề các con phải lo đó.

                  Còn điều nữa cũng cần nghĩ thêm, là trong thời buổi nầy, Đức Chí Tôn đến khai đạo không phải để nhân loại sùng bái Ngài, mà là để cứu rỗi nhân loại và lập đời Thánh Đức cho nhơn loại.

                  Điều nầy, Đức Hộ Pháp đã từng thuyết giảng rằng: Lạy Đức Chí Tôn không đem lợi ích gì cho Ngài đâu, mà lợi ích là cho chính mình đó.

                 Ngoài ra Đức Chí Tôn cũng vì đàn con đang đau khổ nên không còn nghĩ đến cái oai linh cao vòi vọi của một Đấng là Chúa Tể cả Càn Khôn Vũ Trụ mà sẵn sàng tá thế một cách hết sức giản dị để  đem lại cho các con cái của Ngài mọi sự dễ dàng trên con đường tu luyện, Ngài không đòi hỏi phải tốn của hao tiền để thiết lập những ngôi đền đồ sộ để thờ kính Ngài. Chỉ dụng lấy TÂM thờ kính Ngài cũng đủ lắm rồi!         

                      Bạch Ngọc từ xưa đã ngự rồi,

                      Không cần hạ giới vọng cao ngôi.

                      Sang hèn trối kệ, tâm là quí,

                      Tâm ấy tòa sen của Lão ngồi.

              Vậy thì, với Thầy chúng ta chỉ còn biết: Thầy vì nhơn loại mà khai Đạo: Thương nên hết lời chỉ giáo, Thương nên tha thứ mọi tội lỗi từ xưa, Thương nên dùng chính tay mình để dìu dắt đàn con…và đáp lại: Ai thương Thầy thì lòng được rộng mở, thương Thầy tâm sẽ được sáng lên, thương Thầy thì chơn thần được thăng  hoa…Càng thương Thầy sẽ thấy càng  gần Thầy. Gần đến mức độ cảm nhận được sự huyền diệu vô biên như Thầy đã từng nói: Thầy là các con,các con là Thầy.

                

     

                     ĐỨC PHẬT MẪU, BÀ MẸ THIÊNG LIÊNG

              Với con người, chúng ta chỉ nhìn thấy một thân xác là xác phàm. Đó là thân xác thứ nhứt, còn thân xác thứ hai là Chơn Thần do Phật Mẫu sanh và thân xác thứ 3 là Chơn Linh hay Linh hồn do Đức Chí Tôn ban cho.

              Vậy chúng ta ai ai cũng có hai Bà Mẹ: Mẹ phàm sanh con mang xác phàm, Mẹ Thiêng Liêng sanh con trên cõi Thiêng Liêng gọi là Chơn Thần hay còn gọi là Chơn Thân vì chính thân xác nầy mới là thân xác vĩnh cữu của mình. Thân xác thiêng liêng của một người dù là chất khí nhưng cũng có hình tướng giống xác phàm như khuôn đúc.

              Theo giáo lý Cao Đài, Thái Cực là ngôi của Đức Chí Tôn. Từ Thái Cực, Ngài phân ra Lưỡng nghi. Đó là Dương quang và Âm quang. Đức Chí Tôn chưởng quản khối Dương quang, còn phần Âm quang Đức Chí Tôn hóa thân ra Đức Phật Mẫu chưởng quản khối Âm quang.

              Đức Phật Mẫu vâng lịnh Đức Chí Tôn thâu lằn Sanh quang của ngôi Thái cực, rồi đem Âm quang phối hợp với Dương quang để tạo ra các tầng Trời, các quả Tinh cầu và các Địa cầu mà lập thành Càn Khôn Vũ Trụ.

              Tiếp theo, Đức Phật Mẫu tạo hóa ra Vạn linh nơi cõi Thiêng liêng vô hình. Vạn linh gồm có bát hồn: Kim thạch hồn, Thảo mộc hồn, Thú cầm hồn, Nhơn hồn, Thần hồn, Thánh hồn, Tiên hồn và Phật hồn.

              Đức Phật Mẫu lại cho Vạn linh đầu kiếp xuống các Địa cầu tạo thành Vạn vật tức là Chúng sanh. Chúng sanh gồm có: Kim thạch, Thảo mộc, Thú cầm và Nhơn loại.

              Đối với cha mẹ phàm trần, người cha tạo cho con duy có nhứt điểm tinh, còn huyết khí đều do người mẹ đào tạo mới có.

              Về phần thiêng liêng, Đức Chí Tôn chỉ ban cho mỗi người một Chơn Linh, còn Phật Mẫu tạo nên trí não và xác thịt. Do vậy, muốn cầu xin cho đặng siêu thoát linh hồn thì không ai hơn là cầu Đức Chí Tôn và về phần xác thịt, khi đau đớn, khổ sở…thì cầu xin Đức Phật Mẫu.

              Thật vậy, Đức Hộ Pháp Phạm công Tắc đã từng giảng:

              Thông thường, có nhiều điều ta đến xin Mẹ thì Mẹ cho, còn xin Cha thì không được. Do đó phái nữ cần quan tâm đến điều nầy cho lắm, mỗi khi bịnh hoạn, đau khổ, hoặc cầu nguyện sanh được con là một chơn linh cao siêu nhập thể… thì chỉ có Phật Mẫu mới có đủ quyền năng ban ơn ấy cho.

              Do kinh nghiệm bản thân, qua thời gian hơn 5 năm bị lưu đày trên đảo Madagascar, Đức Hộ Pháp Phạm công Tắc đã từng gặp nhiều nguy biến, tuy nhiên tất cả đều vượt qua, đã vượt qua ngoài sức tưởng tượng. Từ đó Đức Hộ Pháp Phạm công Tắc đặt trọn niềm tin cứu độ nơi Đức Phật Mẫu và đến khi trở về Tòa Thánh Tây Ninh, Ngài thuyết giảng cho mọi tín đồ Cao Đài đều biết nếu lúc gặp nguy biến hay gặp lúc đau khổ, hãy quì xuống giữa không trung niệm danh Đức Phật Mẫu rồi cầu nguyện… ắt sẽ thấy được sự linh ứng kỳ diệu. Niệm danh của Phật Mẫu là : “Nam Mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn”

              Phật Mẫu là bà Mẹ Thiêng Liêng của vạn loài, Người chỉ biết yêu thương con cái của Người mà thôi. Dầu cho vạn vật, hễ đồng sanh với một bà Mẹ Thiêng Liêng ắt được coi đồng một mực, vì vậy tại Điện thờ Phật Mẫu, lúc vào bái lễ tất cả mọi người đều đồng đẳng, dù là Chức Sắc Thiên Phong cũng mặc đạo phục như một tín đồ bình thường. Trước mắt Mẹ tất cả đều là con cái của Ngài và Ngài luôn luôn lấy tình thương yêu và tâm công chánh đối với các con mà thôi.

              Với tình mẹ con sâu đậm như vậy, nên khi khai đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn giao trọn quyền cứu rỗi con cái của Ngài cho Phật Mẫu.

              Ngọc Hư định phép cũng nhiều,

              Phái vàng Mẹ lãnh dắt dìu trẻ thơ

    Hoặc:

              Ngồi trông con đặng phi thường,

              Mẹ đem con đến tận đường hằng sanh.

              ( Kinh tán tụng công đức Diêu Trì Kim Mẫu )

              Ngoài ra Đức Hộ Pháp còn khuyên tất cả mọi người trong kiếp sống hãy đặt chữ hiếu đối với cha mẹ phàm trần lên hàng đầu, vì Cha là hình ảnh của Đức Chí Tôn  và Mẹ là hình ảnh của Đức Phật Mẫu tại thế. Quả thật, con người đến khi nhắm mắt lìa trần, chơn hồn sẽ bái kiến Đức Phật Mẫu ở tầng Trời thứ 9 tại Diêu Trì Cung. Lúc bấy giờ chơn hồn nhìn gương mặt Đức Phật Mẫu chẳng khác gì với gương mặt Mẹ sanh ra mình. Nếu là con có hiếu, gương mặt bà Mẹ tươi cười và chơn hồn cảm thấy hạnh phúc vô cùng. Ngược lại, nếu là con bất hiếu, chơn hồn thấy gương mặt nghiêm nghị của Mẹ mình và tự cảm thấy đau khổ không thể nói hết được. Chính vì vậy Đức Hộ Pháp Phạm công Tắc trong những lần thuyết đạo, Ngài thường hay nhắc nhở đến đạo Hiếu của con người, nhất là giới trẻ và Ngài cũng thường lặp đi lặp lại hai câu đề cao về chữ Hiếu của Nho giáo như sau:

              Thiên Địa tứ thời, Xuân tại thủ,

              Nhơn sanh bách hạnh, hiếu vi tiên.

    Nghĩa là: Trời Đất có 4 mùa, mùa Xuân đứng đầu. Con người có trăm hạnh, hiếu hạnh là trên hết.

              Vậy làm người chúng ta đã thọ ơn Cha Mẹ phàm trần, thọ ơn Cha Mẹ Thiêng Liêng. Do đó trong cuộc sống chúng ta bao giờ cũng đặt Đạo Hiếu lên hàng đầu bằng cách thực thi đúng mức:

              Với Cha Mẹ phàm trần lo phụng dưỡng.

              Với Phật Mẫu yêu thương sanh chúng, giúp đỡ người thế cô, tật nguyền

              Với Đức Chí Tôn luôn hạ mình làm tôi tớ vạn linh.

              Đó là khuôn mẫu mà con người cần báo hiếu với các Đấng sanh thành mà Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc đã từng nhắc nhở trong những lần thuyết đạo

     

                                                                       Hiền Tài Phạm văn Khảm

     

     

     

     

     

                                           

     

    Total Views: 15164 ,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kinh Nhật Tụng: Vạn Phật Thánh Thành
  • Gợi Ý Các Món Ngon Thắp Hương Rằm Tháng Giêng Vừa Thơm Ngon Vừa Đơn Giản
  • Các Món Ngon Ngày Tết Dễ Làm 3 Miền Bắc, Trung, Nam
  • Các Món Ngon Ngày Tết Dễ Làm Của 3 Miền Bắc Trung Nam
  • Các Món Ăn Ngày Tết Tiêu Biểu Của Ba Miền Việt Nam – Embassy Of Vietnam In Seoul, Korea – 베트남 대사관
  • Văn Khấn Mẫu Ở Chùa

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Cúng Giếng Long Mạch
  • Văn Khấn Trong Lễ Tang, Giỗ Đầu, Giỗ Thứ 2
  • Văn Khấn Mùng 3 Tết 2022, Văn Khấn Hóa Vàng Hết Tết Năm Tân Sửu
  • Bài Văn Khấn Cúng Tất Niên Công Ty Cuối Năm
  • Văn Khấn Rước Ông Táo Về Nhà Ngày 30 Tết Bài Cúng Rước Ông Công Ông Táo Về Nhà
  • 1. Ý nghĩa lễ Tam Tòa Thánh Mẫu

    Các vị thần linh, Thành Hoàng, Thánh Mẫu là các bậc tiền nhân đã có công với cộng đồng làng xã, dân tộc trong lịch sử đấu tranh giữ nước và dựng nước của người Việt Nam.

    Ngày nay, theo nếp xưa người Việt Nam ở khắp mọi miền đất nước hàng năm vẫn xem ngày đi lễ, đi trẩy Hội ở các Đình, Đền, Miếu, Phủ vào các ngày lễ, tết, tuần tiết, sóc, vọng và ngày Hội, để tỏ lòng tôn kinh, ngưỡng mộ biết ơn các bậc Tôn thần đã có công với đất nước.

    Đình, Đền, Miếu, Phủ cùng với sự lưu truyền sự linh diệu của các thần trong nhiều trường hợp đã đi vào trang sử oai hùng của dân tộc Việt Nam góp phần không nhỏ vào việc duy trì tình cảm yêu nước. Nơi thờ tự Đình, Đền, Miếu, Phủ còn là những nơi sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng. Con người hy vọng rằng bằng những hành vi tín ngưỡng, có thể cầu viện đấng Thần linh phù hộ cho bản thân, cùng gia đình, cộng đồng được an khang, thành đạt và thịnh vượng, yên bình, biến hung thành cát, giải trừ tội lỗi…

    2. Lễ vật và cách cúng lễ Tam Tòa Thánh Mẫu

    Theo phong tục cổ truyền khi đến Đình, Đền, Miếu, Phủ nên có lễ vật có thể to, nhỏ, nhiều, ít, sang, mọn tuỳ tâm. Mặc dù ở những nơi này thờ Thánh, Thần, Mẫu nhưng người ta vẫn có thể sắm các lễ chay như hương hoa quả, oản,… để dâng cũng được.

    Lễ Chay: Gồm hương hoa, trà, quả, phẩm oản… dùng để lễ ban Phật, Bồ Tát (nếu có). Lễ chay cũng dùng để dâng ban Thánh Mẫu.

    Lễ Mặn: Nếu Quý vị có quan điểm phải dùng mặn thì chúng tôi khuyên mua đồ chay hình tướng gà, lợn, giò, chả.

    Lễ đồ sống: Tuyệt đối không dùng các đồ lễ sống gồm trứng, gạo, muối hoặc thịt tại các ban quan Ngũ Hổ, Bạch xà, Thanh xà đặt ở hạ ban Công Đồng Tứ phủ.

    Cỗ sơn trang: Gồm những đồ đặc sản chay Việt Nam: Không được dùng cua, ốc, lươn, ớt, chanh quả… Nếu có gạo nếp cẩm nấu xôi chè thì cũng thuộc vào lễ này.

    Lễ ban thờ cô, thờ cậu: Thường gồm oản, quả, hương hoa, gương, lược… Nghĩa là những đồ chơi mà người ta thường làm cho trẻ nhỏ. Nhưng lễ vật này cầu kỳ, nhỏ, đẹp và được bao trong những túi nhỏ xinh xắn, đẹp mắt.

    Lễ thần Thành Hoàng, Thư điền: Phải dùng chay mới có phúc và những lời cầu nguyện được linh ứng.

    3. Hạ lễ sau khi lễ Tam Tòa Thánh Mẫu

    Sau khi kết thúc khấn, lễ ở các ban thờ, thì trong khi đợi hết một tuần nhang có thể viếng thăm phong cảnh nơi thừa tự, thờ tự.

    Khi thắp hết một tuần nhang có thể thắp thêm một tuần nhang nữa. Thắp nhang xong, vái 3 vái trước mỗi ban thờ rồi hạ sớ đem ra nơi hoá vàng để hoá.

    Hoá sớ xong mới hạ lễ dâng cúng khác. Khi hạ lễ thì hạ từ ban ngoài cùng vào đến ban chính. Riêng các đồ lễ ở bàn thờ Cô, thờ Cậu như gương, lược… thì để nguyên trên bàn thờ hoặc giả nơi đặt bàn thờ này có nơi để riêng thì nên gom vào đó mà không đem về.

    4. Văn khấn lễ Tam Tòa Thánh Mẫu

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy)

    – Con kính lạy Đức Hiệu Thiên chí tôn kim quyết Ngọc Hoàng Huyền cung cao Thượng đế.

    – Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

    – Con xin kính Cửu trùng Thanh Vân lục cung công chúa.

    – Con kính lạy Đức thiên tiên Quỳnh Hoa Liễu Hạnh Mã Hoàng Công chúa, sắc phong Chế Thắng Hoà Diệu đại vương, gia phong Tiên Hương Thánh Mấu.

    – Con kính lạy Đức đệ nhị đỉnh thượng cao sơn triều mường Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương.

    – Con kính lạy Đức đệ tứ khâm sai Thánh Mẫu, tứ vi chầu bà, năm tòa quan lớn, mười dinh các quan, mười hai Tiên cô, mười hai Thánh cậu, ngũ hổ Đại tướng, Thanh Hoàng Bạch xà đại tướng.

    Hưởng tử (chúng) con là: ……………

    Ngụ tại: …………….

    Hôm nay là ngày ……. tháng …… năm ……

    Hương tử con đến nơi Điện (Phủ, Đền) ……… chắp tay kính lễ khấu đầu vọng bái, lòng con thành khẩn, dạ con thiết tha, kính dâng lễ vật, cúi xin các Ngài xót thương phù hộ độ trì cho gia chung chúng con sức khỏe dồi dào, phúc thọ khang ninh, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, cầu bình an đắc bình an, vạn sự hanh thông, gặp nhiều may mắn.

    Hương tử con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Khấn Cúng Tạ Mộ Mới Xây Xong Và Những Lưu Ý Khi Làm Lễ Tạ Mộ
  • Bài Cúng Rằm Tháng Giêng Tại Nhà Đầy Đủ Và Chuẩn Nhất
  • Văn Khấn Cúng Mụ
  • Bài Văn Khấn Cúng Đền Mẫu Cửu Trùng Thiên
  • Hướng Dẫn Cách Sắm Lễ Cúng Tạ Đất Cuối Năm
  • Văn Khấn Mẫu Thượng Ngàn

    --- Bài mới hơn ---

  • Cúng Vía Thần Tài Mùng 10 Tháng Giêng Chuẩn Nhất? Mua Vàng Khai Lộc Đỏ
  • Tam Tai 2022: Cách Cúng Giải Hạn Tuổi Tị, Dậu, Sửu Hiệu Quả
  • Lễ Cúng Ông Công Ông Táo Cần Những Gì Và Ngày Giờ Đưa Ông Táo Chuẩn
  • Cách Viết Phong Bì Đi Đám Giỗ Đầu, Bốc Mộ Tình Cảm Nhất
  • Cách Buộc Gà Cúng Giao Thừa Nhanh, Đẹp Phổ Biến Nhất
  • Văn khấn mẫu thượng Ngàn, hay Lâm Cung Thánh Mẫu hay Bà Chúa Thượng Ngàn Bà là một trong ba vị Mẫu (cùng với mẫu Liễu Hạnh và Mẫu Thoải) được thờ cúng trong điện, cạnh đình, chùa của người Việt Nam.

    Nguồn gốc “Thánh Mẫu Thượng Ngàn”

    Mẫu Thượng Ngàn còn gọi là Mẫu Đệ Nhị, Lâm Cung Thánh mẫu hay Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn bởi Mẫu đứng thứ hai trong Tam Tòa Thánh Mẫu. Mẫu Thượng Ngàn có rất nhiều tên gọi như: Lê Mại Đại Vương, Bạch Anh Công chúa, Diệu Tín Thiền sư, La Bình Công Chúa, Lâm Cung Thánh mẫu, Mẫu Đệ nhị Nhạc Phủ, Sơn Tinh công chúa… Thượng Ngàn Thánh Mẫu thường mặc áo màu xanh, Ngài là một trong ba vị Mẫu được thờ cúng ở tại Tòa Phủ đền điện Mẫu.

    Mẫu Thượng Ngàn hay còn gọi là Lâm Cung Thánh Mẫu hoặc Bà Chúa Thượng Ngàn. Bà là một trong ba vị Mẫu (cùng với mẫu Liễu Hạnh và Mẫu Thoải) được thờ cúng trong điện, cạnh đình, chùa của người Việt Nam.

    Mẫu Thượng Ngàn là vị thần vâng phụng Tản Viên Sơn Thánh (Ngũ Nhạc Thần Vương) cai quản thổ dân, núi rừng, muông thú, chim chóc cây cối trên sơn lâm. Ngài là con gái của Sơn Thánh và Mị Nương (con gái vua Hùng). Tên là Nguyễn Thị Na (Na Bình Công chúa), từ nhỏ luôn luôn theo cha đi đây đó, nên Na Bình học hỏi rất nhiều, lại thêm tài thiên bẩm nên việc gì nàng cúng giỏi, Sơn thần, tù trưởng, sơn dân, thổ mán ai ai cũng kính trọng quý mến nàng. Khi Tản Viên về trời, nàng thay cha cai quản 81 cửa rừng Nam Giao, dân chúng tù trưởng các nơi, không ai là không ghi ơn nàng. Đấng Tối Cao còn ban thêm cho nàng nhiều phép thần thông, đi cạnh bên nàng luôn có 12 cô thổ mán theo hầu, họ là những người sơn nữ các nơi nàng đi qua, nguyện theo nàng học tập tu luyện. Một ngày đẹp trời, áng mây ngũ sắc hạ tới, nàng cùng 12 cô ngự mây bay về trời.

    Bởi vậy những người đi vào rừng, khai thác khoảng sản trong rừng thường tìm đến cầu xin sự che chở của bà nơi trốn rừng thiêng nước độc, cầu mong được bình yên, che chở.

    Ở các triều đại phong kiến Việt Nam, trước khi ra trận đánh giặc cũng thường làm lễ để cầu xin sự phù hộ của bà, sau mỗi chiến thắng đều sẽ làm lễ tạ ơn và sắc thượng phong cho bà là công chúa. Cũng theo truyền thuyết, trong một cuộc khởi nghĩa chống nhà Minh xâm lượng có lần quân Lam Sơn đã bị bao vây trong rừng, đêm tối bà đã hóa thân thành bó đuốc lớn để soi đường cho đoàn quân rút chạy an toàn về núi Chí Linh. Sau đó bà lại phù hộ cho đội quân có thêm sức mạnh trước cảnh đói rét mà rèn luyện binh khí, phản kích và giải phóng vùng Nghệ An. Đây cũng chính là tiền đề cho cuộc chiến dành thắng lợi trước nhà Minh, giành lại độc lập cho dân tộc.

    Văn khấn Mẫu Thượng Ngàn

    Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật! Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. Con kính lạy Đức chúa Thượng Ngàn đỉnh thương cao sơn triều mường Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương ngọc điện hạ. Con kính lạy Đức Thượng Ngàn chúa tể Mị Nương Quế Hoa công chúa tối tú tối linh, cai quản ba mươi sáu cửa rừng mười hai cửa bể. Con kính lạy chư Tiên, chư Thánh chư Thần, Bát bộ Sơn trang, thập nhị Tiên Nàng, Thánh cô Thánh cậu, Ngũ hổ Bạch xà Đại tướng. Hương tử con là ….. Nhân tiết …..Chúng con thân đến phủ chúa trên ngàn, đốt nén tâm hương kính dâng lễ vật, một dạ chí thành, chắp tay khấn nguyện. Cúi xin lượng cả bao dung, thể đức hiếu sinh, phù hộ độ tri cho chúng con cùng cả gia quyến chín tháng đông, ba tháng hè được sức khỏe dồi dào, phúc thọ khang ninh, lộc tài vượng tiến, công việc hanh thông, vạn sự tốt lành. Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin chứng giám, phù hộ độ trì. Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghi Lễ Cúng Rằm Tháng 7 Âm Lịch
  • Cúng An Vị Thần Tài Thổ Địa Như Thế Nào Mang Tài Lộc Cho Gia Chủ?
  • Văn Khấn Cúng Lễ Tạ Mộ Và Lễ Tạ Đất ( Thần Linh Thổ Địa)
  • Bài Cúng Đầy Tháng Bé Trai, Bé Gái Đầy Đủ Nhất
  • Văn Khấn Lễ Tất Niên 30 Tết
  • Văn Khấn Mẫu Đông Cuông

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Khấn Cúng Đất Đúng Chuẩn
  • Thủ Tục Lễ Cúng, Văn Khấn Chuyển Bàn Thờ Sang Vị Trí Khác Ra Sao?
  • Cách Cúng Xe Máy, Xe Ô Tô Mới Mua Về: Lễ Vật, Văn Khấn
  • Pháp Hồi Hướng Công Đức Viên Mãn
  • Văn Khấn Cúng Tổ Tiên Ngày Rằm Tháng 7
  • Đền Mẫu Đông Cuông cách thành phố Yên Bái hơn 50 km về phía Tây Bắc, thuộc xã Đông Cuông, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Đền Mẫu Đông Cuông thờ Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn và thờ Thần Vệ Quốc và các vị anh hùng dân tộc trong kháng chiến chống giặc Nguyên, chống Pháp.

    Trước đây đền có tên là “Đền Đông”, “Đền Mẫu Đông”, hay còn gọi là “Đông Quang linh từ”, còn bây giờ được gọi là “Đền Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn”.

    1. Vị trí Đền Mẫu Đông Cuông trong thờ Mẫu Thượng Ngàn

    Theo các thần tích về Mẫu Thượng Ngàn thì Mẫu Thượng Ngàn ở Bắc Lệ (Lạng Sơn) là công chúa Quế Hoa, ở Suối Mỡ (Bắc Giang) là Công Chúa La Bình thì ở Đông Cuông, Mẫu Thượng ngàn là Lâm Cung Thánh Mẫu.

    Căn cứ theo truyền thuyết thì Đền Công Đồng Bắc Lệ chính là nơi Mẫu Thượng Ngàn hiển linh, âm phù; Đền Suối Mỡ là thắng tích lưu lại dấu vết Mẫu tu tiên luyện đạo, còn Đền Đông Cuông (Yên Bái) là nơi Mẫu giáng sinh và ngự.

    Trong niềm tin tâm linh của các đệ tử Đạo Mẫu thì Đền Đông Cuông có vị trí vô cùng quan trọng, là nơi ngự chính và nơi giáng sinh của Mẫu Thượng ngàn.

    2. Sắm lễ mẫu Đông Cuông

    Theo phong tục từ xa xưa. Khi đến Đình, Đền, Miếu, Phủ nên mang những lễ vật. Lễ vật có thể to hoặc nhỏ, ít hoặc nhiều, quan trọng nhất vẫn là có tâm . Lễ chay như hương, hoa quả, oản để đang hương cũng được, bạn cũng có thể mua tại nơi thờ Thánh Mẫu.

    Lễ Chay: trong lễ chay bạn cần chuẩn bị hương hoa, trà, quả, phẩm oản… để dùng khi lễ ban Phật, Bồ Tát. Lễ chay cũng thường được dùng để dâng ban Thánh Mẫu.

    Lễ Mặn: đồ trong lễ mặn bao gồm: đồ chay có hình gà, lợn, giò, chả…Vì trong khi tạ lễ thì nên ăn chay.

    3. Văn khấn Mẫu Thượng Ngàn Đông Cuông

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

    Con kính lạy đức chúa Thượng Ngàn đỉnh thượng cao sơn triều mường Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương Ngọc điện hạ.

    Con kính lạy Đức Thượng Ngàn chúa tể Mị Nương Quế Hoa công chúa tối tú tối linh, cai quản ba mươi sáu cửa rừng mười hai cửa bể.

    Con kính lạy chư tiên, chư thánh chư thần, Bát bộ sơn trang, thập nhị tiên nương, thánh cô thánh cậu, Ngũ hổ Bạch xà Đại tướng.

    Hương tử con là: ……………………………

    Ngụ tại: …………………………………………..

    Nhân tiết ………. chúng con thân đến …………. phủ chúa trên ngàn đốt nén tâm hương, kính dâng lễ vật, một dạ chí thành, chắp tay khấn nguyện, cúi xin lượng cả bao dung, thể đức hiếu sinh ra tay cứu vớt, độ cho chúng con cùng cả gia quyến bốn mùa được chữ bình an, tám tiết hưng long thịnh vượng, lộc tài quảng tiến, công việc hanh thông, giải vận giải hạn, biến hung thành cát, đổi họa ra tường, như ý sở cầu, tòng tâm sở nguyện.

    Giãi tấm lòng thành, cúi xin chứng giám.

    Cẩn tấu.

    4. Một số sự tích về đền mẫu Đông Cuông

    1. “Trong Kiến Văn Tiểu Lục quyển X mục “Linh tích” thời hậu Lê, cụ Lê Quý Đôn viết:

    “Văn Châu, một người thuyền hộ xã Kính Chủ, huyện Thanh Ba (nay thuộc địa phận Lâm Thao- Phú Thọ) là học trò Hiệu như Nguyễn Đình Kính. Giữa niên hiệu Bảo Thái (1720 – 1729) đi buôn ở Đông Quang (nay thuộc huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái) bến sông này có miếu thờ Đông Quang Công Chúa vẫn nổi tiếng anh linh.

    Tục truyền Công Chúa là vợ Đại vương miếu Ngọc Tháp huyện Sơn Vi (sau đổi là huyện Lâm Thao). Một hôm trời đã tối, Văn Châu thấy một người từ trong miếu Đông Quang đi ra đến chỗ thuyền đỗ, gọi tên mình và bảo rằng: “Khi thuyền nhà ngươi trở về qua miếu Ngọc Tháp, phiền nhà ngươi nói giúp là kính tạ Đại vương, Chúa bà đã sinh con trai rồi, gửi lời về báo để đại vương biết”. Nói xong liền biến mất. Đường thuỷ mà thuyền buồm đi từ Đông Quang đến Ngọc Tháp phải ba, bốn ngày, thế mà ngày hôm ấy, Văn Châu bắt đầu đi từ sáng sớm mà đến giờ Thân đã tới Ngọc Tháp (chỗ này núi đá mọc nhô ra bến sông như hình ruột ốc, miếu ở trên núi, bên cạnh miếu có chùa Lăng Nghiêm) Văn Châu theo lời thầy dặn, đứng ở đầu thuyền nói lại rồi đi”.

    2. Thần Tích của dòng mo họ Hà coi việc giữ đền và tế tự chép:

    ” Đông Quang Công Chúa là Lê Thị Kiểm. Bà là vợ ông Hà Văn Thiên, người Tày Đông Cuông được triều đình giao cai quản vùng Đông Cuông và ngoại vi. Ông Thiên, hậu duệ của Hà Đặc, Hà Bổng (Trại chủ Quy Hoá) bị hy sinh trong chiến tranh chống quân Nguyên. Ông bà sinh hạ được một con trai. Khi Ông tạ thế, bà Kiểm và con trai ở lại Đồng Cuông rồi mất tại đấy. Dân lập miếu thờ ông bên Ghềnh Ngai (hữu ngạn sông Hồng) và thờ hai mẹ con bà bên tả ngạn, đối diện với miếu”.

    3. Trong nhân dân hai xã Đông Cuông và Ngòi A lưu truyền một huyền thoại:

    Ở xóm Đá Ôm, thôn Đồng Dẹt, xã Đông Cuông có một giếng nước sâu trong vắt. Giếng ở chân gò, nơi chúa họ Cầm ở (tù trưởng bộ tộc Tày). Một hôm, con gái tù trưởng là Cầm Thị Lả (Cầm Thị Lê) ra giếng gội đầu. Lỡ tay đánh rơi lược xuống giếng, nàng vội nhào theo vớt lược. Lược chẳng thấy chỉ thấy đáy giếng lộ ra một con đường rộng, sâu hút. Nàng theo đường ấy, đi mãi đến Thuỷ Cung rồi gặp Long Vương lấy làm chồng và sinh hạ được một con trai. Nhớ nhà, nàng bế con trở lại dương thế và hứa với Long Vương hàng năm sẽ xuống thăm chồng một lần và chỉ đi một mình không đem con đi cùng. Giếng Đồng Dẹt trở thành giếng thần. Tháng Giêng ngày mão, xã chọn thanh niên chưa vợ đi tát sạch giếng để lọc lấy nước trong thanh khiết cúng lễ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Cúng Xe Ô Tô, Xe Máy Mới Mua Về Chuẩn Nhất
  • Bài Văn Khấn Cúng Đất Tháng 2 Cập Nhật Chính Xác
  • Thủ Tục Cúng Đất Đai Thổ Công Chi Tiết Gồm Những Gì?
  • Hiểu Đúng Về Việc Xin Đài Âm Dương
  • Bài Văn Hồi Hướng Sau Khi Niệm Phật
  • Văn Khấn Lễ Thánh Mẫu

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Bà Chúa Kho
  • Văn Khấn Ban Thần Tài
  • Văn Khấn Khi Sửa Chữa Nhà
  • Văn Khấn Thần Linh Trong Ngày Rằm Và Mồng Một Hàng Tháng
  • Cách Cúng Lễ Vay Đền Bà Chúa Kho Đầu Năm
  • Nam mô a di đà Phật!

    Tín chủ chúng con thành tâm kính lậy đức hiệu Thiên chí tôn – Kim khuyết Ngọc Hoàng huyền khung cao Thượng đế.

    Kính lạy:

    • Đức trùng thanh vân

    • Lục cung công chúa

    • Đức Thiên tiên Quỳnh hoa Liễu Hạnh, mã hoàng công chúa, sắc phong chế thắng hòa diệu đại vương gia phong

    • Tiên hương Thánh mẫu

    • Đức đệ nhị đỉnh cao sơn triều mường Sơn tinh công chúa

    • Lê Mai đại vương

    • Đức đệ tam Thủy phủ – Lân nữ công chúa

    • Đức đệ tứ Khâm sai Thánh mẫu

    • Tứ vị chầu bà, Tam tòa Thánh mẫu

    • Năm Tòa Quan lớn

    • Mười dinh các quan

    • Mười hai Tiên cô

    • Mười hai Thánh cậu

    • Ngũ hổ Đại tướng

    • Thanh hoàng bạch xà Đại tướng

    Tín chủ con là ………………………………..tuổi…………..ngụ tại……………………………………..

    Tín chủ con nay sửa lễ tại …………………………………………………………………….

    Xin chắp tay kính lễ khấu đầu vọng bái. Lòng con thành khẩn, dạ con thiết tha, kính dâng lễ vật, cúi xin, mong các Ngài xót thương ủng hộ cho gia đình chúng con tiêu trừ tai nạn, điều lành thường tới, điều dữ thường lánh xa, hết tai ương bệnh tật trong nhà, hưởng thịnh vượng, an lành, mãi mãi Tài như nước đến, Lộc tựa mây về, bốn mùa không hạn ách, tám tiết có Phúc lành tiếp ứng.

    Lại xin: Thể đức hiếu sinh, rủ lòng cứu độ, khiến chúng con sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

    Nam mô a di đà Phật!

    Tín chủ chúng con nay dốc lòng kính lậy Đức Chúa Thượng Ngàn, đỉnh thượng cao sơn, triều Mường Sơn tinh công chúa – Lê đại mai Vương ngọc điện hạ.

    Kính lạy: Đức Thượng ngàn chúa tể Mỵ nương, Quế hoa công chúa, tối tú tối linh, cai quản 81 cửa rừng trong cõi Nam giao.

    Chư Tiên, chư Thánh, chư Thần, bát bộ Sơn trang, mười hai Tiên nương, văn, võ thị vệ, Thánh cô, Thánh cậu, Ngũ hổ, Bạch xà đại tướng.

    Nhân tiết ……………………………………………………………………………………………………………….

    chúng con xin cung kính thỉnh đến Phủ Chúa trên ngàn. Đốt nén Tâm hương, cúi dâng lễ vật, một dạ chí thành chắp tay khấn nguyện, cúi xin lượng cả bao dung. Thể đức hiếu sinh ra tay cứu vớt, độ cho tín chủ chúng con cùng Gia quyến, bốn mùa được chữ bình an, tam tiết được hưng long, thịnh vượng, lộc, tài quang tiến, công việc hanh thông, giải vận, giải hạn, biến hung thành cát, đổi họa ra tường, như ý sở cầu, tòng tâm sở nguyện.

    • Nam mô a di đà Phật

    • Nam mô Thập phương thường trụ Phật

    • Nam mô Thập phương thường trụ Pháp

    • Nam mô Thập phương thường trụ Tăng

    • Nam mô bổn sư Thích ca mâu ni Phật

    • Nam mô cực lạc Thế giới a di đà Phật

    • Nam mô dương lai hạ sinh Di lặc Thiên tôn Phật

    • Nam mô Thập phương Tam thế nhất thiết chư Phật

    • Nam mô đại trí Văn thù Sư lợi Bồ tát

    • Nam mô đại hạnh Phổ hiền Bồ tát

    • Nam mô đại bi Quán thế âm Bồ tát

    • Nam mô đại nguyện Địa Tạng Vương Bồ tát

    • Nam mô Lịch đại Tổ sư Bồ tát

    • Nam mô a di đà Phật

    Con xin thỉnh mời, thỉnh mời:

    • Con lạy Ngọc Hoàng Thượng đế

    • Con lạy Ngũ vị Tiên ông

    • Con lạy đệ nhất thượng Thiên

    • Con lạy đệ nhị Thượng ngàn

    • Con lạy đệ tam Thoải phủ

    • Con lạy đệ tứ Khâm sai

    • Con lạy tứ vị chầu bà

    • Con lạy tam tòa Thánh mẫu

    • Con lạy năm dinh Quan lớn

    • Con lạy Thập nhị Tiên cô

    • Con lạy Thập nhị Thánh cậu.

    • Con lạy Trần triều hiển Thánh Hưng Đạo Vương.

    Nay nhân ngày……..

    Tín chủ con có Phù tửu, nhang, đăng, lễ nghi, phẩm vật. Nhất Tâm tướng, vạn tâm cầu, mang miệng để tâu, mang đầu đến lễ, cùng cô cùng cậu, rủ lòng thương xót trước sau như một đôi đức từ bi, nay con có lỗi lầm điều chi, xin Mẫu đại xá phù trì, tất cả con cháu khang ninh, Tổ đức hiếu sinh, anh linh Thánh mẫu, cứu khổ trừ tai, tiến Phúc tăng tài, xin Ngài chứng giám.

    Nam mô a di đà Phật!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nên Cúng Giao Thừa Và Tết Như Thế Nào Cho Đúng?
  • Lễ Cúng Ông Công Ông Táo Như Thế Nào Là Chuẩn Nhất?
  • Văn Khấn Mùng 2 Tết Chuẩn Nhất
  • Văn Khấn Ông Công Ông Táo Chuẩn Nhất
  • Văn Khấn Tất Niên Chiều 30 Tết Chuẩn Nhất
  • Văn Khấn Mẫu Đông Cuông, Sắm Lễ Mẫu Đông Cuông

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Khấn Khai Trương Buôn Bán Đúng Chuẩn, Đầy Đủ & Chi Tiết
  • Văn Khấn Chuyển Về Nhà Mới
  • Ý Nghĩa Đặc Biệt Bài Khấn Phật Bản Mệnh Bạn Nên Biết * Hồn Đá Việt
  • Cách Bày Mâm Cúng Quan Thần Linh Đêm 30 Tết Uy Nghiêm, Thành Kính Đón Phước Lộc Vào Nhà Ngay Ngày Đầu Năm Mới
  • Cúng Động Thổ Khởi Công Làm Nhà: Cách Sắm Lễ Vật, Bài Cúng Chuẩn
  • Đồ thờ Sơn Đồng xin chia sẻ tới quý vị bài văn khấn Mẫu Đông Cuông chuẩn và cách sắm lễ cúng đền Mẫu Đông Cuông đầy đủ nhất.

    Theo truyền thì Mẫu Đông Cuông chính là Lê Mại Đại Vương Công Chúa, là hiện thân của Mẫu Thượng Ngàn.

    Đền Đông Cuông ở đâu?

    Đền Mẫu Đông Cuông cách thành phố Yên Bái hơn 50 km về phía Tây Bắc, thuộc xã Đông Cuông, huyện Văn Yên, tỉnh Lào Cai. Đền Mẫu Đông Cuông thờ Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn và thờ Thần Vệ Quốc và các vị anh hùng dân tộc trong kháng chiến chống giặc Nguyên, chống Pháp.

    Trước đây đền có tên là “Đền Đông”, “Đền Mẫu Đông”, hay còn gọi là “Đông Quang linh từ”, còn bây giờ được gọi là “Đền Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn”.

    Theo các thần tích về Mẫu Thượng Ngàn thì Mẫu Thượng Ngàn ở Bắc Lệ (Lạng Sơn) là công chúa Quế Hoa, ở Suối Mỡ (Bắc Giang) là Công Chúa La Bình thì ở Đông Cuông, Mẫu Thượng ngàn là Lâm Cung Thánh Mẫu.

    Căn cứ theo truyền thuyết thì Đền Công Đồng Bắc Lệ chính là nơi Mẫu Thượng Ngàn hiển linh, âm phù; Đền Suối Mỡ là thắng tích lưu lại dấu vết Mẫu tu tiên luyện đạo, còn Đền Đông Cuông (Yên Bái) là nơi Mẫu giáng sinh và ngự.

    Trong niềm tin tâm linh của các đệ tử Đạo Mẫu thì Đền Đông Cuông có vị trí vô cùng quan trọng, là nơi ngự chính và nơi giáng sinh của Mẫu Thượng ngàn.

    Sắm lễ cúng mẫu Đông Cuông

    Theo phong tục từ xa xưa. Khi đến Đình, Đền, Miếu, Phủ nên mang lễ vật. Lễ vật có thể to hoặc nhỏ, ít hoặc nhiều nhưng quan trọng nhất vẫn là phải có tâm. Lễ chay như hương, hoa quả, oản để đang hương cũng được, bạn cũng có thể mua tại nơi thờ Thánh Mẫu.

    – Lễ Chay: trong lễ chay bạn cần chuẩn bị hương hoa, trà, quả, phẩm oản… để dùng khi lễ ban Phật, Bồ Tát. Lễ chay cũng thường được dùng để dâng ban Thánh Mẫu.

    – Lễ Mặn: đồ trong lễ mặn bao gồm: đồ chay có hình gà, lợn, giò, chả…Vì trong khi tạ lễ thì nên ăn chay.

    Văn khấn Mẫu Thượng Ngàn – Đông Cuông

    Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. Con kính lạy đức chúa Thượng Ngàn đỉnh thượng cao sơn triều mường Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương Ngọc điện hạ. Con kính lạy Đức Thượng Ngàn chúa tể Mị Nương Quế Hoa công chúa tối tú tối linh, cai quản ba mươi sáu cửa rừng mười hai cửa bể. Con kính lạy chư tiên, chư thánh chư thần, Bát bộ sơn trang, thập nhị tiên nương, thánh cô thánh cậu, Ngũ hổ Bạch xà Đại tướng. Hương tử con là: …………………………… Ngụ tại: ………………………………………….. Nhân tiết ………. chúng con thân đến …………. phủ chúa trên ngàn đốt nén tâm hương, kính dâng lễ vật, một dạ chí thành, chắp tay khấn nguyện, cúi xin lượng cả bao dung, thể đức hiếu sinh ra tay cứu vớt, độ cho chúng con cùng cả gia quyến bốn mùa được chữ bình an, tám tiết hưng long thịnh vượng, lộc tài quảng tiến, công việc hanh thông, giải vận giải hạn, biến hung thành cát, đổi họa ra tường, như ý sở cầu, tòng tâm sở nguyện. Giãi tấm lòng thành, cúi xin chứng giám.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Giỗ Đầu, Giỗ Thứ 2 Tại Nhà
  • Văn Khấn Gia Tiên Ngày Mùng 1 Hàng Tháng Năm 2022
  • Cách Cúng Về Nhà Mới Như Thế Nào Mới Đúng?
  • Hướng Dẫn Các Nghi Thức Cúng Trong Đêm Giao Thừa
  • Nội Dung Bài Cúng Cô Hồn Chuẩn Có Thể Bạn Chưa Biết
  • Bài Văn Mẫu Khấn Tại Chùa

    --- Bài mới hơn ---

  • Đền Mẫu Đông Cuông Yên Bái Và Một Số Huyền Tích
  • Bài Văn Mẫu Đông Cuông
  • Mẫu Cửu Trùng Thiên Có Phải Là Mẫu Liễu Hạnh? Lời Giải Đáp
  • Văn Khấn Cô Chín Chuẩn Tứ Phủ Công Đồng Đầy Đủ Nhất
  • Bài Văn Khấn Cô Sáu Lục Cung Chuẩn Công Đồng Tứ Phủ
  • Chùa là nơi thờ Phật, cũng là nơi sinh hoạt tín ngưỡng công cộng của người Việt Nam từ xưa tới nay.

    1. Ý nghĩa

    Chùa là nơi thờ Phật, cũng là nơi sinh hoạt tín ngưỡng công cộng của người Việt Nam từ xưa tới nay.

    Theo phong tục cổ truyền: Mọi người Việt Nam trong các ngày Rằm, mồng Một, ngày Lễ Tết, cùng những ngày có việc hệ trọng, thường đến Chùa lễ Phật với tấm lòng thành cầu khấn nhờ nghiệp lực vô biên của Phật, của chư vị Bồ Tát, Hiền thánh mà được thiện duyên, gặp may cầu cho được: mạnh khoẻ, sống lâu, tai qua, nạn khỏi, hạn ách tiêu trừ, có con nối dõi, yêu vui thân mệnh, gia đình hoà thuận, hạnh phúc an khang, thế giới hoà bình, văn minh xã hội và ngoài ra không chỉ cầu cho người sống ở thế giới bên kia được siêu sinh Tịnh độ… Ước vọng chính đáng ấy được thể hiện qua các bài văn khấn.

    2. Sắm lễ

    Việc sửa soạn đi lễ Chùa, sắm lễ vật để đi lễ Chùa đều có những quy định mà người hành lễ phải tuân thủ là:

    – Đến dâng hương tại các Chùa chỉ được sắm các lễ chay: hương, hoa tươi, quả chín, oản phẩm, xôi chè… không được sắm sửa lễ mặn chư cỗ tam sinh (trâu, dê, lợn), thịt mồi, gà, giò, chả…

    Việc sắm sửa lễ mặn chỉ có thể được chấp nhận nếu như trong khu vực Chùa có thờ tự các vị Thánh, Mẫu và chỉ dâng ở đó mà thôi. Tuyệt đối không được dâng đặt lễ mặn ở khu vực Phật điện (chính diện), tức là nơi thờ tự chính của ngôi Chùa. Trên hương án của chính điện chỉ được dâng đặt lễ chay, tịnh. Lễ mặn (nhưng thường chỉ đơn giản: gà, giò, chả, rượu, trầu cau…) cũng thường được đặt tại ban thờ hay điện thờ (nếu xây riêng) của Đức Ông – Vị thần cai quản toàn bộ công việc của một ngôi chùa.

    – Không nên sắm sửa vàng mã, tiền âm phủ để dâng cùng, Lễ Phật tại Chùa. Nếu có sửa lễ này thì chủ đặt ở bàn thờ Thần Linh, Thánh Mẫu hay ở bàn thờ Đức Ông.

    – Tiền giấy âm phủ hay hàng mã kiêng đặt ở ban thờ Phật, Bồ Tát và cả tiền thật cũng không nên đặt lên hương án của chính điện. Mà tiền, vàng công đức nên để vào hòm công đức đặt tại Chùa.

    – Hoa tươi lễ Phật là: hoa sen, hoa huệ, hoa mẫu đơn, hoa ngâu… không dùng các loại hoa tạp, hoa dại…

    – Trước ngày dâng hương Lễ Phật ở Chùa cần chay tịnh trong đời sống sinh hoạt ngày thường: ăn chay, kiêng giới, làm việc thiện…

    – Tại Chùa, cứ đến rằm tháng Bảy thì mọi người sắm sửa lễ vật đến cầu siêu cho ông bà, cha mẹ hay những người đã khuất, thậm chí cho cả cô hồn. Vào tiết này, sắm thêm lễ vật đặc trưng: đồ hàng mã chế tác theo hình vật dụng thường ngày: mũ, áo, xe cộ… nhưng chớ có sắm sửa các hình nhân thế mạng. Ngoài ra còn có lễ vật cúng chúng sinh: cháo lá đa, ngôi, bánh đa, khoai… Tất cả dâng đặt ở bàn thờ Đức Thánh chứ không đặt ở bàn thờ khác hay ban chính điện.

    Riêng với các trường hợp “bán khoán” hay làm lễ “cầu siêu” thì cần phải sắm sửa lễ vật theo chỉ dẫn cụ thể của vị Tăng trụ tại Chùa.

    Đến Chùa hành lễ cần theo thứ tự như sau:

    1. Đặt lễ vật: Thắp hương và làm lễ ban thờ Đức Ông trước.

    2. Sau khi đặt lễ ở ban Đức Chúa xong, đặt lễ lên hương án của chính điện, thắp đèn nhang, thỉnh 3 hồi chuông rồi làm lễ chư Phật, Bồ Tát.

    3. Sau khi đặt lễ chính điện xong thì đi thắp hương ở tất cả các ban thờ khác của nhà Bái Đường. Khi thắp hương lên đều có 3 lễ hay 5 lễ. Nếu Chùa nào có điện thờ Mẫu, Tứ Phủ thì đến đó đặt lễ, dâng hương cầu theo ý nguyện.

    4. Cuối cùng thì lễ ở nhà thờ Tổ (nhà Hậu)

    5. Cuối buổi lễ, sau khi đã lễ tạ để hạ lễ thì nên đến nàh trai giới hay phòng tiếp khách để thăm hỏi các vị sư, tăng trụ trì và có thể tuỳ tâm công đức.

    Cùng Danh Mục:

    Liên Quan Khác

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Khấn Tam Tòa Thánh Mẫu Ở Chùa, Đình, Điện, Đền Chuẩn Nhất
  • Bài Văn Khấn Phủ Tây Hồ
  • Bàn Về Tín Ngưỡng Cửu Thiên Huyền Nữ Ở Vùng Huế (Phần 2)
  • Bài Khấn Mẫu Đồng Đăng
  • Tứ Vị Vua Bà ( Đền Cờn )
  • Các Mẫu Văn Khấn Mùng 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Khấn Mùng 2 Tết Năm Kỷ Hợi 2022
  • Văn Khấn Mùng 1 Tết Dành Cho Thổ Công, Thần Tài Và Gia Tiên
  • Bài Văn Khấn Thần Linh Và Tổ Tiên Ngày Mùng 1 Tết
  • Văn Khấn Cúng Gia Tiên Ngày Mùng 1 Tết Canh Tý 2022 Chuẩn Nhất
  • Các Bài Văn Khấn, Văn Cúng Gia Tiên Mùng 1 Tết, Ngày Rằm
  • 1. Các mẫu văn khấn Gia Tiên mùng 1

    Từ xa xưa, trong dân gian thường lưu truyền rất nhiều câu chuyện linh ứng của lời khấn thành tâm. Vì vậy, để chuẩn bị văn khấn, lễ cúng mùng 1 hàng tháng là một trong những việc quan trọng khi thực hiện các lễ cúng vào ngày mồng 1

    1.1. Bài văn khấn Gia Tiên ngày mùng 1 hàng tháng

    Chuẩn bị lễ cúng Gia Tiên mùng 1 hàng tháng

    Chuẩn bị đồ lễ như sau: – Nhang hương

    – Hoa tươi

    – Quả sạch

    – Bánh oản

    – Đồ chay

    – Bánh kẹo

    – Vàng mã

    – Trầu cau

    Mâm lễ cúng Gia Tiên ngày mùng 1 hàng tháng

    Mẫu bài văn khấn Gia Tiên mùng 1 hàng tháng

    Các bạn CLICK vào file tải miễn phí bài văn khấn Gia Tiên mùng 1 hàng tháng:

    1.2. Bài văn khấn Gia Tiên ngày mùng 1 Tết

    Chuẩn bị lễ cúng Gia Tiên ngày mùng 1 Tết

    Sắm lễ: – Hương, hoa, nước, quả (ngũ quả)

    – Trầu cau

    – Rượu

    – Đèn, nến

    – Lễ ngọt, bánh kẹo

    – Mâm cỗ mặn

    Mâm lễ cúng Gia Tiên ngày mồng 1 Tết

    Mẫu văn khấn Gia Tiên mùng 1 Tết

    Các bạn CLICK vào file tải miễn phí bài văn khấn Gia Tiên mùng 1 Tết:

    2. Các mẫu văn khấn Thổ Công mùng 1

    Theo truyền thống, vào mồng 1 hàng tháng, Tết Nguyên Đán, các gia chủ cần sắm đồ lễ cúng thổ công trong nhà mình. Vậy đồ lễ cúng thổ công cần có những gì? Bài văn khấn thổ công ra sao?

    2.1. Bài văn khấn Thổ Công ngày mùng 1 hàng tháng

    Chuẩn bị các lễ cúng Thổ Công mùng 1 hàng tháng

    Chuẩn bị lễ chay: – Hương

    – Hoa tươi

    – Rượu trắng

    – Trầu cau tươi

    – Trái cây tươi, bánh kẹo (tùy lễ vật của mỗi gia đình)

    – Nước trắng

    – Vàng mã

    Chuẩn bị lễ mặn: – Hương

    – Hoa tươi

    – Trầu cau

    – Rượu trắng

    – Nước trắng

    – Thịt luộc: thịt gà hoặc thịt lợn luộc

    – Các món mặn khác: món xào, món canh

    – Đồ vàng mã

    Mâm lễ cúng Thổ Công mồng 1 hàng tháng

    Mẫu văn khấn Thổ Công mùng 1 hàng tháng

    Các bạn CLICK vào file tải miễn phí bài văn khấn Thổ Công mùng 1 hàng tháng:

    2.2. Bài văn khấn Thổ Công ngày mùng 1 Tết

    Theo quan niệm dân gian, vào ngày mồng 1 Tết Nguyên Đán. Ngoài việc cúng Gia Tiên thì cúng Thổ Công trong nhà là điều không thể thiếu để cầu mong bình an, những điều tốt lành trong năm mới.

    Chuẩn bị lễ cúng Thổ Công mùng 1 Tết

    Lễ vật dâng cúng: – Hương, hoa, nước, quả (ngũ quả)

    – Trầu cau

    – Rượu

    – Đèn, nến

    – Lễ ngọt, bánh kẹo

    – Mâm cỗ mặn: Xôi, gà, bánh chưng, các món Tết đầy đủ.

    Mâm lễ cúng Thổ Công ngày mồng 1 Tết

    Mẫu bài văn khấn Thổ Công mùng 1 Tết

    Các bạn CLICK vào file tải miễn phí bài văn khấn Thổ Công mùng 1 Tết:

    3. Cách khấn khi đi Chùa mùng 1

    3.1. Chuẩn bị các lễ cúng ở Chùa mùng 1

    Sắm lễ: – Hương

    – Hoa tươi

    – Các loại quả

    – Oản

    – Xôi, chè

    – Vàng mã, tiền âm phủ (nên đặt ở bàn thờ thần linh, Thánh Mẫu hay ở bàn thờ Đức Ông)

    3.2. Cách hạ lễ khi đi Chùa

    – Đến chùa hành lễ phải đặt lễ vật, thắp hương và làm lễ ban thờ Đức Ông trước.

    – Tiếp theo là chính điện nơi thờ Tam Bảo.

    – Sau đó mới đi lễ ở tất cả các ban thờ khác của nhà Bái Đường. Nếu chùa nào có điện thờ Mẫu, Tứ Phủ thì đến đó đặt lễ, dâng hương cầu theo ý nguyện.

    – Cuối cùng là lễ ở nhà thờ Tổ.

    3.3. Mẫu bài văn khấn mùng 1 ở Chùa

    Các bạn CLICK vào file tải miễn phí các bài văn khấn mùng 1 ở Chùa:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Mùng 1 Tết 2022 Tân Sửu
  • Văn Khấn Mùng 1 Tết Nguyên Đán 2022 Tân Sửu
  • Rước Ông Táo Về Ngày Nào? Văn Khấn Rước Ông Táo Về Nhà Đêm 30 Tết
  • Văn Khấn ‘linh Thiêng’ Rước Ông Táo Về Nhà Sau Ngày 23 Tháng Chạp
  • Bài Văn Khấn Cúng Ông Táo Hàng Ngày Đúng Chuẩn Phong Tục
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100