Phổ Hiền Bồ Tát Là Ai?

--- Bài mới hơn ---

  • Có Thể Tu Theo 10 Hạnh Nguyện Của Bồ Tát Phổ Hiền Được Không?
  • Phân Biệt Đức Phổ Hiển Và Văn Thù Bồ Tát * Phong Linh Gems
  • Bài Văn Khấn Lễ Quan Thế Âm Bồ Tát Chuẩn Nhất Cho Phật Tử
  • Hình Tượng Bồ Tát Quán Thế Âm Nghìn Tay Nghìn Mắt
  • Văn Khấn Đền Quán Thánh
  • Thấy Phổ Hiền Bồ Tát là thấy chân lý do đó chúng ta phải tránh xa mọi ảo vọng để trở về với chân lý. Gạt bỏ mọi vô minh, đừng lấy chân làm giả mà hãy dùng trí tuệ mà nhìn thẳng vào chân lý để được giác ngộ như chư Phật.

    Tây phương Tam Thánh thì có Đức Phật A Di Đà ở cõi Tây Phương Cực Lạc với hai vị thị giả là Quán Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát. Còn Phật Thích Ca Tam Tông thì có Phổ Hiền Bồ Tát hầu bên trái Đức Phật và Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát hầu bên phải. Chúng ta cũng thấy tượng Phổ Hiền Bồ Tát cưỡi voi trắng sáu ngà, hay tay chắp lại.

    Vài đức tính của Phổ Hiền Bồ Tát

    Bồ Tát không sống riêng cho mình mà sống cho người khác. Họ phục vụ với tinh thần vị tha. Các Ngài không ham muốn, không bám víu vào danh thơm tiếng tốt. Các Ngài thì chỉ chú trọng đến việc làm, đến sự phục vụ. Chẳng màng được tiếng khen, không sợ bị chê trách. Bồ Tát thản nhiên trước lời tán dương hay khiển trách. Họ quên mình trong khi phục vụ kẻ khác, có khi hy sinh đến cả mạng sống để cứu chúng sinh khỏi chết. Họ thực hành tâm Bi (Karunã) và tâm Từ (Metta) đến mức cao độ. Bồ Tát chỉ mong sự tốt đẹp và an lành cho thế gian. Các Ngài thương tất cả chúng sinh như bà tử mẫu thương đứa con duy nhất của bà. Chúng ta thương con cái của chúng ta vì chúng là con của chúng ta, có nghĩa là tình thương của chúng ta có điều kiện bởi vì nếu con cái của người khác thì chưa chắc chúng ta thương nó. Còn Bồ Tát thì tình thương của họ là tình thương vô điều kiện, có nghĩa là đối với tất cả chúng sinh họ đều thương xót như nhau. Họ thực hiện tánh cách bình đẳng giữa họ và tất cả chúng sinh (para atma samata) cũng như đặt mình trong kẻ khác (para atma Parivartna).

    Khi Phổ Hiền Bồ Tát chưa xuất gia học đạo, thì Ngài là con thứ tư của vua Vô Trách Nhiệm, có tên là Năng Đà Nô. Nhờ Phụ Vương khuyên bảo, nên Thái Tử phát tâm cúng dường Phật Bảo Tạng và thưa với Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Nay con có món công đức cúng dường Ngài và đại chúng trong ba tháng, xin hồi hướng về đạo vô thượng Chánh giác, nguyện phát tâm Bồ đề, tu hạnh Bồ Tát mà giáo hóa mọi loài chúng sanh, đặng thành Phật đạo và nguyện đặng cõi Phật rất thanh tịnh trang nghiêm, bao nhiêu những sự tốt đẹp và sự giáo hóa chúng sanh đều y như thế giới của Phổ Hiền Bồ Tát vậy”. Đức Bảo Tạng Như Lai liền thọ ký rằng:”Hay thay! Hay thay! Ngươi phát thệ nguyện rộng lớn, muốn độ hết thảy chúng sanh đều thành Phật đạo. Trong khi tu Bồ tát đạo, dùng trí Kim Cang mà phá nát các núi phiền não của mọi loài chúng sinh. Vì vậy, nên ta đặt hiệu ngươi là: Kim Cang Trí Huệ Quang Minh Công Đức, trải hằng hà sa kiếp làm nhiều Phật sự rất lớn, rồi đến thế giới Bất Huyền ở phương Đông mà thành Phật, hiệu là Phổ Hiền Bồ Tát“.

    Phổ Hiền Bồ Tát tượng trưng cho chân lý, còn Văn Thù Bồ Tát tượng trưng cho chân trí, lý trí dung thông. Ngài tượng trưng cho tam muội, còn Văn Thù Bồ Tát tượng trưng cho Bát Nhã. Ngài tượng trưng cho hạnh, còn Văn Thù Bồ Tát tượng trưng cho giải. Ngài tượng trưng cho từ bi, còn V ăn Thù Bồ Tát tượng trưng cho trí tuệ. Do đó, Đức Phật dùng chân trí thâm đạt chân lý hoặc dùng Bi, Trí viên mãn cho nên hai Ngài thường có mặt bên trái, bên phải Đức Phật.

    Hình tướng Phổ Hiền Bồ Tát

    Chúng ta thường thấy tượng Phổ Hiền Bồ Tát ngồi trên voi trắng sáu ngà có nghĩa là Ngài dùng đại hạnh hóa độ chúng sinh, đưa họ từ bờ mê đến bến giác. Con voi sáu ngà là tượng trưng cho Lục độ: Bố thí, Trì giới, Tinh tấn, Nhẫn nhục, Thiền định, Trí huệ. Ngài chèo thuyền Lục độ để cứu vớt chúng sinh đang chìm đắm trong bể khổ. Mặc dù bể khổ thì rộng lớn mênh mông còn chúng sinh thì vô lượng, nhưng Ngài vẫn không ngại nhọc nhằn tiếp tục cứu vớt chúng sanh kiếp nầy sang kiếp khác. Với chiếc chèo bố thí, cánh buồm tinh tấn, mục tiêu thiền định, tay lái trí tuệ, Ngài luôn luôn kiên nhẫn tiến tới mà chẳng ngại sóng gió để cứu giúp chúng sinh.

    Thấy Phổ Hiền Bồ Tát là thấy chân lý do đó chúng ta phải tránh xa mọi ảo vọng để trở về với chân lý. Gạt bỏ mọi vô minh, đừng lấy chân làm giả mà hãy dùng trí tuệ mà nhìn thẳng vào chân lý để được giác ngộ như chư Phật. Chúng ta phải noi theo 10 hạnh nguyện lớn của Ngài để diệt tan mọi ích kỷ hẹp hòi. Mười hạnh nguyện của Ngài là:

    -Lễ kính chư Phật – Khen ngợi Như Lai. -Cúng dường khắp cả – Sám hối nghiệp chướng. -Tùy hỷ công đức – Thỉnh Phật chuyển pháp luân. -Thỉnh Phật thường ở đời – Thường theo học Phật. -Hằng tùy thuận chúng sanh – Hồi hướng khắp hết. (Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Phổ Hiền hạnh nguyện).

    Phổ Hiền Bồ Tát sau khi mạng chung, sinh ra các thân khác và các đời khác. Nhưng kiếp nào cũng nhờ lời thệ nguyện mà chăm làm các việc Phật sự và hóa độ chúng sinh đặng cầu cho mau viên mãn những điều mà ngài đã ao ước. Bởi vì có lòng tu hành tinh tấn như vậy, nên nay ngài đã thành Phật, ở cõi Bất Huyền và hóa thân vô số ở trong các thế giới mà giáo hóa chúng sinh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Đức Phổ Hiển Và Văn Thù Bồ Tát
  • Văn Khấn Ngày Rằm Tháng 11 Âm Lịch
  • Văn Khấn Lễ Đức Quan Thế Âm Bồ Tát (Phật Bà Quan Âm) Ở Chùa
  • Văn Khấn Lễ Đức Quán Thế Âm Bồ Tát
  • Bài Văn Khấn Lễ Quan Âm Bồ Tát Chuẩn Nhất Cho Phật Tử
  • Kính Ngưỡng Phổ Hiền Bồ Tát

    --- Bài mới hơn ---

  • 10 Hạnh Nguyện Lớn Của Bồ Tát Phổ Hiền * Phong Linh Gems
  • Quan Ngũ Hổ Là Ai? Bài Văn Khấn Quan Ngũ Hổ
  • Bài Văn Khấn Cúng Sao Giải Hạn Và Cách Cúng Sao Giải Hạn Đúng Nhất
  • Bài Cúng Giải Hạn Sao Thuỷ Diệu Cho Nam & Nữ
  • Những Bài Văn Khấn Tại Đền, Chùa, Đình, Miếu, Phủ Cầu May Mắn
  • Mục Lục

    1. Danh xưng Phổ Hiền Bồ Tát 1
    2. Sức mạnh của Phổ Hiền Bồ Tát 2
    3. Hình tượng Phổ Hiền Bồ Tát 3
    4. Ngày vía Phổ Hiền Bồ Tát 4
    5. Hạnh nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát 5
    6. Làm thế nào để thỉnh nguyện Phổ Hiền Bồ Tát 8

    1. Danh xưng Phổ Hiền Bồ Tát

    Phổ Hiền là danh xưng phiên âm từ tiếng Phạn, trong đó Phổ nghĩa là phổ biến, Hiền là Đẳng Giác Bồ Tát, Phổ Hiền là vị Bồ Tát Đẳng Giác có mặt mọi lúc mọi nơi, hiện thân theo cầu khẩn của chúng sinh, có năng lực và pháp giới tỏa chín phương mười cõi.

    Theo Đại Nhật Kinh Sơ có viết: “Phổ Hiền Bồ Tát, Phổ nghĩa là trải khắp mọi nơi, Hiền là diệu thiện nhất. Ý nói Phổ Hiền Bồ Tát dựa hạnh nguyện phát ra từ tâm Bồ Đề và sự cân bằng của thân, khẩu, ý phổ khắp mọi nơi, diệu thiện thuần nhất, có đủ các đức, vì thế gọi là Phổ Hiền”.

    Phổ Hiền là vị Bồ Tát quốc độ của Thượng Vương Như Lai, tương truyền đã lãnh đạo 500 vị Đại Bồ Tát tới nghe thuyết pháp kinh Pháp Hoa và phát tâm hộ trì chánh pháp của Đức Phật Thích Ca. Ngài đại diện cho trí tuệ, thấu hiểu muôn điều trên thế giới, nắm trong tay hào quang của tri thức, trí huệ thấu hiểu cái nhất thể của sự đồng nhất và khác biệt.

    Mật Tông xưng tụng Bồ Tát Phổ Hiền là Thiện Nhiếp Kim Cương, Chân Như Kim Cương, Như Ý Kim Cương.

    2. Sức mạnh của Phổ Hiền Bồ Tát

    Thêm vào đó, Phổ Hiền Bồ Tát cùng với Quan Thế Âm Bồ Tát , Văn Thù Bồ Tát và Địa Tạng Bồ Tát được xưng là Tứ đại Bồ Tát – những vị Bồ Tát có sức mạnh và lòng từ bi bao trùm chúng sinh. Từ đó có thể thấy địa vị của vị Bồ Tát này trong Phật giáo tương đối lớn, với những ý nghĩa rất đặc biệt.

    Phổ Hiền là vị Bồ Tát đại diện cho lý, định, hạnh, nắm giữ lý đức, định đức và hạnh đức của chư Phật. Nói cách khác, Ngài là hiện thân của trí tuệ, lý trí với cái nhìn hướng thiện nhưng khách quan và tầm hiểu biết sâu sắc. Sức mạnh đến từ trí tuệ, trí huệ, tức là từ lý tính và huệ nhãn, thấu suốt cõi đời, rao truyền tri thức.

    Đây là loại sức mạnh chân lý vững chãi, trải qua thể nghiệm, vừa ôn hòa từ bi nhưng cũng hết sức mạnh mẽ kiên định. Tâm tính thanh tịnh, lấy Lục độ thâu nhiếp vạn hạnh, không ngại chướng ngại, vượt qua khó khăn. Vì thế mà Phổ Hiền là vị Bồ Tát bảo hộ cho những người truyền đạo, bảo hộ Phật pháp.

    Những người đang khó khăn, nguy nan, thái chí nản lòng nên cầu khẩn Phổ Hiền Bồ Tát. Ngài không cứu khổ độ nạn mà hướng con người tới ánh sáng của tri thức, của thiền định, tĩnh tâm, mở rộng tất cả các giác quan và có chí hướng vươn lên phía trước, thoát khỏi những khổ ải.

    Phổ Hiền Bồ Tát là vị Phật bản mệnh của người tuổi tuổi Thìn và tuổi Tị, có thể giúp đỡ, che chở vượt qua sóng gió, soi đường chỉ lối tiến tới chân tâm, nhận ra hướng đi sáng suốt với trí tuệ tuyệt vời. Thỉnh bản mệnh Phật, đeo phúc bên người , không chỉ là cầu mong sự tốt lành mà còn mang ý nghĩa hướng thiện, lúc nào cũng như Phật ở bên, điều chỉnh con người sống theo những lời dạy của Phật, tốt đời đẹp đạo.

    3. Hình tượng Phổ Hiền Bồ Tát

    Phổ Hiền là vị Bồ Tát cưỡi voi trắng sáu ngà, voi trắng là biểu tượng Phật giáo tượng trưng cho trị huệ và sự dũng cảm, vượt qua muôn ngàn chướng khổ. Sáu ngà của voi là sáu chiến công, chiến thắng sáu giác quan bình thường của con người. Có thể nói, Phổ Hiền Bồ Tát cưỡi voi trắng sáu ngà mang ý nghĩa trí huệ của ngài lớn mạnh, đủ để vượt qua tất cả những tầm thường của đời sống, tiến tới cảnh giới cao nhất.

    Đồng thời, ở một ý nghĩa khác voi trắng sáu ngà có ngụ ý là sáu độ, sáu phương pháp tu hành để đạt cảnh giới Niết Bàn. Bốn chân voi là bốn loại thiền định là sơ thiền, nhị thiền, tam thiền và tứ thiền – một trong những pháp môn luyện thân tâm của nhà Phật.

    Đây cũng là biểu hiện của hạnh nguyện rộng lớn bởi voi có sức chuyên chở, cũng giống như Phổ Hiền Bồ Tát mang chân lý tỏa khắp muôn nơi, đưa chúng sinh từ bờ mê bến giác đến bờ cõi đạo hạnh nhà Phật, tâm tư sáng tỏ. Dẫu muôn trùng khó khăn, Bồ Tát vẫn dùng lục đạo để đưa chúng sinh thoát khỏi bể khổ, không nền hà hiểm nguy, sẵn sàng vượt moi chông gai thử thách.

    Ngoài ra, hình tượng của Phổ Hiền cũng thường xuyên gắn với những pháp khí hoặc hình ảnh quen thuộc của Phật giáo như hoa sen, ngọc như ý, trang sách ghi thần chú của Bồ Tát. Cũng có nơi hình tượng Phổ Hiền là vị Bồ Tát mặc trang phục màu trắng, mang ý nghĩa nhất thể.

    Phổ Hiền Bồ Tát tay trái cầm ngọc như ý pháp bảo, hoặc tay phái cầm nhánh hoa sen thanh khiết bên trên có ngọc chau, ngón cái và ngón trỏ bắt ấn tạo thành hình tam giác. Hoặc cũng có thể là hình ảnh Bồ Tát tay cầm cuốn kinh, tay cầm Kim Cương Chủy.

    Mỗi tạo hình Bồ Tát đều mang ý nghĩa riêng nhưng chung quy lại để thể hiện trí huệ của Phổ Hiền, là vị bảo vệ Phật pháp, coi trọng pháp giới.

    4. Ngày vía Phổ Hiền Bồ Tát

    Ngày 21/2 hàng năm là ngày vía Phổ Hiền Bồ Tát. Trong ngày này Phật tử và chúng sinh hướng Phật làm lễ kính ngưỡng công đức của Phổ Hiền đồng thời noi gương Ngài, tiến tới chân lý, sống cuộc đời minh bạch. Ngày này nên ăn chay, đọc kinh Hoa Nghiêm và tới chùa làm lễ công quả, cúng dường chư Phật để tâm an, lòng thanh tịnh.

    5. Hạnh nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát

    Nhất giả Lễ kính chư Phật.

    Nhị giả Xưng tán Như Lai.

    Tam giả Quảng tu cúng dường.

    Tứ giả Sám hối nghiệp chướng.

    Ngũ giả Tùy hỷ công đức.

    Lục giả Thỉnh chuyển pháp luân.

    Thất giả Thỉnh Phật trụ thế.

    Bát giả Thường tùy Phật học.

    Cửu giả Hằng thuận chúng sanh.

    Thập giả Phổ giai hồi hướng.

    Trên con đường độ hóa chúng sinh, Phổ Hiền Bồ Tát có 10 hạnh nguyện, tức là 10 điều mà Ngài nguyện sẽ hoàn thành trên con đường tu thành chính quả cũng như trong suốt những chặng đường thành Phật tiếp theo, thể hiện ý chí nguyện vọng và tấm lòng đức độ của vị Bồ Tát này.

    Thứ nhất là kính lễ chư Phật, bày tỏ niềm tôn kính về nhân cách, công đức và hạnh nguyên viên mãn của tất cả những bậc đã giác ngộ. Giữ tam nghiệp thân, miệng, ý luôn thanh tịnh, theo đúng pháp giới để cảm ứng được những điều tốt đẹp của các bậc Phật, trở về nguồn cội, phát triển vô lượng hạnh nguyện và khơi gợi công đức vốn có trong chính mình.

    Thứ hai là thường xuyên xưng tụng công đức của Phật Như Lai . Như Lai là bậc Bồ tát có đạo hạnh vô lượng vô kiếp, xưng tụng công đức, bày tỏ lòng tôn kính với Ngài đồng thời noi gương học hỏi, coi đây là điểm tựa để bản thân nhìn theo, loại bò tà niệm, thân tâm an lạc.

    Thứ ba là thờ phụng và cúng dường chư Phật. Công đức tự tâm, không chỉ tôn kính mà còn học hỏi, noi gương đức tính, đạo hạnh của những bậc giác ngộ. Tôn thờ cái đẹp, cái thiện, gieo hạnh lành, truyền hành tốt tới chúng sinh muôn loài, trường tồn vĩnh cửu.

    Thứ tư là sám hối ác nghiệp và tuân theo tịnh giới. Ăn nan những lỗi lầm, những nghiệp ác từ khởi thủy đến nay để giảm bớt những ô trọc cuộc đời. Đồng thời tuân theo tịnh giới, giữ vững khuôn phép nhà Phật để cái ác không thể khởi sinh.

    Thứ năm là tùy hỉ công đức tất cả Phật, Bồ tát và lục giới (Trời, Người, A Tu La, Địa, Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sinh) và 4 sanh (Noãn, Thai, Thấp, Hóa). Trên con đường thực hành hạnh của Bồ tát, tùy tâm hoan hỉ tiến hành công đức không phân biệt loài, thể hiện chính tâm thánh thiện, bình đẳng.

    Thứ sáu là thỉnh lễ tất cả những buổi Phật giảng pháp. Pháp là kim chỉ nam cho người tu hành, là con đường đưa chúng sinh thoát khỏi bể khổ. Phổ Hiền Bồ Tát thỉnh giác và bảo vệ lễ pháp của Đức Phật, mong muốn thấm nhuần Phật pháp và để Phật pháp truyền bá rộng khắp.

    Thứ bảy là thỉnh cầu Phật, Bồ Tát không nhập Niết Bàn mà lưu lại thế gian giảng pháp. Niết Bàn là cảnh giới tịch diệt, rũ bỏ mọi tham sân si trở về cực lạc vô ngã vô thường, tiến tới trạng tháu hoàn toàn vắng lặng. Hóa duyên đã mãn, các vị Phật và Bồ Tát đều nhập Niết Bàn nhưng Phổ Hiền Bồ Tát vì chúng sinh mà cầu đạo, muốn các bậc giác độ ở lại thế gian lưu truyền tâm ý.

    Thứ tám là theo Phật Tỳ Lô Giá Na học giáo pháp. Phật Tỳ Lô Giá Na là pháp thân của tất cả các đức Như Lai, theo Phật học pháp, trở về với nguồn gốc giác ngô để đạt thành tựu hạnh nguyện tam muội.

    Thứ chín là cúng dường chúng sinh, vì chúng sinh mà thực hiện 4 nhiếp pháp: bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự; từ đó cảm hóa chúng sinh để chúng sinh nhập thiện tâm.

    Thứ mười là hồi hướng công đức cho tất cả chúng sinh để thành Phật. Phát nguyện độ sinh, mang công đức hồi hướng về bồ đề cầu thành Phật. Đây là hạnh nguyện cuối cùng, cũng là nền tảng của 9 hạnh nguyện kể trên.

    Đồng thời, trong Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện, khi giải thích mỗi một hạnh nguyện đều nhấn mạnh phải “niệm niệm chẳng ngừng nghỉ, không có gián đoạn; ba nghiệp thân, khẩu, ý không có mệt mỏi”, để chứng minh mỗi hạnh nguyện bất kể là thân hạnh, ngôn ngữ hoặc ý niệm đều phải là nguyện hạnh kiên định phát từ nội tâm, thời thời khắc khắc không có gián đoạn.

    Ví dụ như trong Kinh có giải thích hạnh “lễ kính chư Phật” như sau: “khi hư không giới tận thì lễ kính mới tận; mà hư không giới thì không thể tận, nên lễ kính cũng không có cùng tận. Cũng như vậy cho đến chúng sinh giới tận, chúng sinh nghiệp tận, chúng sinh phiền não tận, thì lễ kính mới tận; mà chúng sinh giới cho đến phiền não không có cùng tận nên lễ kính cũng không có cùng tận.”

    6. Làm thế nào để thỉnh nguyện Phổ Hiền Bồ Tát

    Phổ Hiền Bồ Tát là vị Bồ Tát đại diện cho chân lý, thờ Ngài là thờ chân lý và hiểu thấu ý nghĩa của trí tuệ, sáng suốt. Ngoài việc cung dưỡng Bồ tát, thường xuyên là những việc tốt như ăn chay, phóng sinh, bố thí, không phạm giới luật, không sát sinh, không không nghiệp, rũ bỏ tham sân si,… thì phải kính lễ Phổ Hiển bằng chính cách sống hướng tới trí huệ.

    Bản thân cảnh tỉnh ăn năn, tránh xa mọi vọng tưởng, trở về với chân lý minh bạch nhất. Sống dưới ánh sáng chân lý mà bản thân vô minh, được soi tỏ thấu suốt mà chính mình mờ mịt, lấy giả làm thật, càng ngày càng xa cách cái tường minh thì dẫu thờ phụng Phổ Hiền Bồ Tát cũng bằng không.

    Con người cần phải mở mang trí tuệ, không ngừng học hỏi, nhìn thẳng vào chân lý để có giác ngộ. Bồ Tát không giải quyết nhu cầu của chúng sinh, Ngài phổ độ, dẫn dắt để chúng sinh bỏ tối tìm sáng, bỏ ác tìm thiện, bỏ u mê tìm thấy lý tưởng đúng đắn, hướng người ta tới những giá trị đích thực của cuộc sống.

    Những hạnh nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát cũng là lời nhắc nhở và mục tiêu mà bất cứ ai cũng nên tôn trọng, học hỏi. Hạnh nguyện rộng lớn, xóa tan cái vỏ ích kỷ hẹp hòi để bản thân tiến gần hơn tới giới hạn của thân tâm an lạc. Còn ích kỉ thì còn khổ đau, còn mong cầu thì còn phải khổ nạn. Từ bi vô hạn, sáng suốt vô biên, kính ngưỡng Phổ Hiền để cảnh tỉnh chính mình, mong cầu bản thân bỏ đi những thứ nhỏ nhen, tạm bợ mà con người đang vì nó tạo nghiệp khổ ngập trời.

    Tâm Lan

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cúng Cầu Siêu Và Đọc Bài Văn Khấn Vong Thai Nhi Tháng Cô Hồn Thế Nào Mới Đúng?
  • Bài Văn Khấn Chùa Đồng Yên Tử
  • Nội Dung Bài Văn Khấn Tại Chùa Đồng Yên Tử Để Cầu May Xin Lộc Đầu Năm
  • Động Sơn Trang Thờ Ai? Bài Văn Khấn Ban Sơn Trang Đầy Đủ
  • Văn Khấn Ngày Rằm Và Mùng 1 Tại Gia
  • 10 Hạnh Nguyện Lớn Của Bồ Tát Phổ Hiền * Phong Linh Gems

    --- Bài mới hơn ---

  • Quan Ngũ Hổ Là Ai? Bài Văn Khấn Quan Ngũ Hổ
  • Bài Văn Khấn Cúng Sao Giải Hạn Và Cách Cúng Sao Giải Hạn Đúng Nhất
  • Bài Cúng Giải Hạn Sao Thuỷ Diệu Cho Nam & Nữ
  • Những Bài Văn Khấn Tại Đền, Chùa, Đình, Miếu, Phủ Cầu May Mắn
  • Bài Văn Khấn Cúng Thổ Công Ngày Rằm Mùng Một Hàng Tháng
  • Phổ Hiền Thập Đại Nguyện Hạnh là nội dung hạt nhân trong việc tin ngưỡng và tu trì của Bồ Tát Phổ Hiền, xuất phát từ Phẩm Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh Nguyện trong Kinh Hoa Nghiêm. Phật Giáo Hán truyền coi Bồ Tát Phổ Hiền là biểu tượng cho đại hạnh thực tiễn, cùng với Bồ Tát Quán Âm (biểu tượng cho Từ Bi), Bồ Tát Văn Thù (biểu tượng cho trí tuệ), Bồ Tát Địa Tạng (biểu tượng cho thệ nguyện); cùng hình thành nên nội hàm tín ngưỡng và tinh thần tiêu biểu của bốn tâm hạnh Bi-Trí-Nguyện-Hạnh của Phật Giáo Đại Thừa.

    Phổ Hiền thập hạnh là do Bồ Tát Phổ Hiền nhân vì để tán thán công đức thù thắng của Như Lai trong Hải ấn Tam Muội mà tuyên nói với các hàng Bồ Tát đại chúng và Thiện Tài Đồng Tử trên Hội Hoa Nghiêm rằng muốn thành tựu công đức này của Phật cần phải tu 10 loại hạnh nguyện quảng đại. Chính như lời trong kinh nói: “giả như hết thảy chư Phật trong mười phương có cùng diễn thuyết liên tục trải bất khả thuyết Phật sát vi trần số kiếp cũng không thể nói hết được công đức của Như Lai, nếu muốn thành tựu công đức này, phải nên tu mười đại hạnh nguyện. “

    Tự xưa đến nay, Phổ Hiền thập hạnh luôn được người tu trì Phật Giáo Hán truyền trân trọng và phụng hành. Các đạo tràng Phật Giáo Hán truyền đều đưa Phổ Hiền thập hạnh vào nội dung thời khóa buổi sớm mỗi ngày nhằm nhắc nhở phương hướng tu hành tổng thể của người tu học Phật. Do đó, Phổ Hiền thập hạnh không chỉ là tinh thần đặc trưng “đại hạnh” đại biểu cho Phật Giáo Hán truyền mà còn nói chính là thực tiễn Phật Pháp, bởi trong thập hạnh hàm chứa hết thảy các pháp môn tu trì khác. Đồng thời, trong Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện, khi giải thích mỗi một hạnh nguyện đều nhấn mạnh phải “niệm niệm chẳng ngừng nghỉ, không có gián đoạn; ba nghiệp thân, khẩu, ý không có mệt mỏi”, đã chứng minh mỗi một hạnh nguyện bất kể là thân hạnh, ngôn ngữ hoặc ý niệm đều phải là nguyện hạnh kiên định phát từ nội tâm, thời thời khắc khắc không có gián đoạn. Ví dụ như trong Kinh có giải thích hạnh “lễ kính chư Phật” như sau: “khi hư không giới tận thì lễ kính mới tận; mà hư không giới thì không thể tận, nên lễ kính cũng không có cùng tận. Cũng như vậy cho đến chúng sinh giới tận, chúng sinh nghiệp tận, chúng sinh phiền não tận, thì lễ kính mới tận; mà chúng sinh giới cho đến phiền não không có cùng tận nên lễ kính cũng không có cùng tận.”

    Điểm đặc sắc của Phổ Hiền thập hạnh là tâm lượng của mỗi một nguyện hạnh đều phải lớn như bầu hư không, tức bất kì nguyện nào khi phát cũng phải hằng tâm kiên cố, kiên trì đến cùng, phương hướng tu hành là độ tận hết thảy chúng sinh. Nghị lực hằng tâm kiên chí rộng lớn tự lợi lợi tha như vậy, không riêng chỉ là người xuất gia cần phải nuôi dưỡng thành tựu trên bước đường tu tập, mà cư sĩ Phật Giáo cũng càng cần phải nỗ lực hướng tới, đạt được trên con đường truy cầu chân lí, thậm chí thực tiễn vào cuộc sống thường nhật của mình.

    Căn cứ vào “Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh Nguyện Phẩm” thì nội dung của Phổ Hiền thập nguyện gồm: 1. Lễ kính chư Phật; 2. Xưng tán Như Lai; 3. Quảng tu cúng dường; 4. Sám hối nghiệp chướng; 5. Tùy hỷ công đức; 6. Thỉnh chuyển pháp luân; 7. Thỉnh Phật trụ thế; 8. Thường tùy Phật học; 9. Hằng thuận chúng sinh; 10. Phổ giai hồi hướng.

    Việc chú giải cụ thể về “Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh Nguyện Phẩm” tương đối phong phú đa dạng, nhưng tóm lược hàm nghĩa chủ yếu của 10 hạnh nguyện như sau:

    1. Lễ Kính Chư Phật: Tin sâu mười phương ba đời hết thảy chư Phật, đồng thời tự thanh tịnh ba nghiệp thân – khẩu – ý của bản thân để thường tu lễ kính.

    2. Xưng Tán Như Lai: Dùng các loại âm thanh và ngôn từ để xưng tán công đức sâu dày của hết thảy các Như Lai.

    3. Quảng Tu Cúng Dường: Ngoài dùng hoa man, âm nhạc, ô lọng, y phục, các loại hương hoa (dạng bôi quét, hương đốt hoặc dạng bột) cúng dường; còn có thể dùng “pháp” để cúng dường như: như pháp tu hành, lợi ích chúng sinh, nhiếp thọ chúng sinh, chịu khổ thay chúng sinh, chuyên cần tu bồi thiện căn, không xả hạnh Bồ Tát, không bỏ tâm Bồ Đề cùng các pháp khác hồi hướng cúng dường. Như lời trong kinh nói: trong các loại cúng dường thì dùng “pháp” cúng dường là thù thắng nhất.

    4. Sám Hối Nghiệp Chướng: Là thanh tịnh ba nghiệp, do tham-sân-si từ vô thủy kiếp quá khứ đến nay dẫn tạo các loại nghiệp ác nơi thân-khẩu-ý, nay xin phát lồ sám hối hết thảy, nguyện không tái phạm ác nghiệp mà thường trụ tịnh giới.

    5. Tùy Hỷ Công Đức: Hoan hỷ tán thán thiện pháp, công đức của hết thảy chư Phật, bao gồm hết thảy pháp thế gian và xuất thế gian. Trong đó cũng bao gồm hết thảy công đức của các vị Bồ Tát, Thanh Văn, Bích Chi Phật; cùng công đức của các dạng loài trong tứ sinh, lục thú của hết thảy các thế giới khắp mười phương.

    6. Thỉnh Chuyển Pháp Luân: Ân cần, thành kính dùng lời nói- hành động- ý nghĩ, cùng các loại phương pháp khác để thỉnh mời chư Phật tuyên thuyết diệu pháp.

    7. Thỉnh Phật Trụ Thế: Khuyên hết thảy các vị Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác cho đến hết thảy các vị Thiện tri thức sắp thị hiện Niết Bàn vì lợi ích của chúng sinh mà dừng nhập Niết Bàn.

    8. Thường Tùy Phật Học: Thường theo tùng học tập Phật Pháp nơi đức Thế Tôn Tỳ Lô Giá Na Phật cùng hết thảy chư Như Lai trong khắp ba đời mười phương vi trần số Phật sát.

    9. Hằng Thuận Chúng Sinh: Bất luận là sinh loại, hình trạng, tướng mạo, thọ lượng, chủng tộc, danh hiệu, tâm tánh, tri kiến, dục lạc, ý hạnh, uy nghi của chúng sinh ra sao đều bình đẳng tùy thuận, thừa sự, hồi hướng, nhiêu ích hết thảy chúng sinh không phân biệt. Cung kính đối đãi như với cha mẹ, sư trưởng và chư Phật không khác.

    10. Phổ Giai Hồi Hướng: Dùng công đức của 9 loại nguyện hạnh bên trên để hồi hướng cho vô lượng chúng sinh trong hư không pháp giới, nguyện để chúng sinh thường đắc an lạc, không còn các phiền não đau khổ, cuối cùng thành tựu đạo quả vô thượng Bồ Đề.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kính Ngưỡng Phổ Hiền Bồ Tát
  • Cúng Cầu Siêu Và Đọc Bài Văn Khấn Vong Thai Nhi Tháng Cô Hồn Thế Nào Mới Đúng?
  • Bài Văn Khấn Chùa Đồng Yên Tử
  • Nội Dung Bài Văn Khấn Tại Chùa Đồng Yên Tử Để Cầu May Xin Lộc Đầu Năm
  • Động Sơn Trang Thờ Ai? Bài Văn Khấn Ban Sơn Trang Đầy Đủ
  • Có Thể Tu Theo 10 Hạnh Nguyện Của Bồ Tát Phổ Hiền Được Không?

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Biệt Đức Phổ Hiển Và Văn Thù Bồ Tát * Phong Linh Gems
  • Bài Văn Khấn Lễ Quan Thế Âm Bồ Tát Chuẩn Nhất Cho Phật Tử
  • Hình Tượng Bồ Tát Quán Thế Âm Nghìn Tay Nghìn Mắt
  • Văn Khấn Đền Quán Thánh
  • Văn Khấn Thần Linh Ngoài Nghĩa Trang Tết Thanh Minh
  • Theo như hạnh nguyện của ngài Phổ Hiền, người tu hành không thể thành Phật thành Bồ tát, không thể chứng quả nếu không phát nguyện đời đời, kiếp kiếp làm lợi lạc cho chúng sinh, coi chúng sinh như cha mẹ mình. Vậy thì hạnh nguyện của ngài Phổ Hiền rất phù hợp với thời đại ngày hôm nay.

    Bồ tát Phổ Hiền là ai?

    Ngài được xem là một trong tứ đại Bồ tát của Phật giáo (tứ đại Bồ tát là Bồ tát Quán Thế Âm, Bồ tát Văn Thù, Bồ tát Địa Tạng và Bồ tát Phổ Hiền). Ngài và Bồ tát Văn Thù là thị giả của Phật Thích Ca Mâu Ni. Bồ tát Văn Thù cưỡi sư tử đứng thị giả ở bên trái và Bồ tát Phổ Hiền cưỡi voi trắng đứng thị giả ở bên phải.

    Nếu như Bồ tát Văn Thù đại biểu cho trí, tuệ, chứng, nắm giữ trí tuệ và chứng đức của chư Phật. Bồ tát Phổ Hiền đại biểu cho lý, định, hạnh, nắm giữ lý đức, định đức và hạnh đức của chư Phật.

    Các ngài cũng diễn giải sự hoàn bị viên mãn của lý trí, định tuệ và hạnh chứng của Như Lai. Cả hai vị bản tôn cùng với Phật Tỳ Lô Giá Na được gọi là Hoa Nghiêm Tam Thánh. Mật Tông xưng tụng Bồ tát Phổ Hiền là Thiện Nhiếp Kim Cương, Chân Như Kim Cương, Như Ý Kim Cương. Ngài còn được xem là đồng thể với Kim Cương Tát Đỏa.

    10 hạnh nguyện của Bồ tát Phổ Hiền là gì?

    Trong pháp hội Hoa Nghiêm, ngài Phổ Hiền Bồ tát sau khi khen ngợi công đức thù thắng của Phật đã nói với đại chúng rằng muốn trọn nên công đức như Phật thì phải tu mười điều rộng lớn như sau:

    Một là lễ kính các đức Phật. Hai là khen ngợi các đức Như Lai. Ba là rộng sắm đồ cúng dường. Bốn là sám hối các nghiệp chướng. Năm là tùy hỷ các công đức. Sáu là thỉnh đức Phật thuyết pháp. Bảy là thỉnh đức Phật ở lại đời. Tám là thường học đòi theo Phật. Chín là hằng thuận lợi ích chúng sanh. Mười là hồi hướng khắp tất cả.

    Sau đó nhờ sự thưa hỏi của Thiện Tài Đồng Tử- một vị Bồ tát sơ địa, ngài Phổ Hiền đã giảng giải thêm về 10 hạnh nguyện này.

    Trong mỗi khóa lễ, chư Tăng/ni đều đọc tụng mười hạnh nguyện. Đọc tụng để làm gì? Đọc như một nghi thức hành lễ, đọc xong rồi quên, rồi bỏ đó, rồi ngày mai lại đọc tiếp? Hay đọc để cho thấm vào máu, vào tim để tu theo?

    Ngày nay Đức Phật không còn nữa cho nên một số điều không còn thực hiện được, như:

    – Lễ kính các đức Phật. -Rộng sắm đồ cúng dường. -Thỉnh Phật thuyết pháp. -Thỉnh Phật trụ thế, khoan nhập Niết Bàn.

    Vậy chúng ta phải hiểu như thế nào và tu như thế nào nếu muốn tu theo đại hạnh nguyện của ngài Phổ Hiền?

    Lễ kính các đức Phật có nghĩa là gì?

    Ngày nay Phật không còn nữa cho nên chúng ta kính lễ ai? Chúng ta đảnh lễ tượng Phật. Chúng ta đảnh lễ các tháp miếu thờ Phật. Chúng ta đảnh lễ các di tích mà Phật đã sinh sống, đã đi qua, đã hành đạo hay khi Phật nhập Niết Bàn, đảnh lễ xá lợi Phật.

    Chúng ta còn đảnh lễ tất cả các vị hiền-thánh đã tu theo Phật, các thiện tri thức đang hoằng dương chánh pháp.Chúng ta còn đảnh lễ tất cả những ai có hạnh từ bi, có lòng khoan dung, có ý thiện lành, có tâm bố thí, có hạnh nhẫn nhục. Đảnh lễ những đức tính cao quý này chính là đảnh lễ chư Phật vậy. Nhưng khi đảnh lễ, theo ngài Phổ Hiền, chúng ta phải nguyện thanh thịnh ba nghiệp Thân-Khẩu-Ý chứ không phải đảnh lễ khơi khơi cho có lệ.

    Khen ngợi các đức Như Lai có nghĩa là gì?

    Theo kinh điển, trong tất cả các pháp hội, trước khi trình bày trước đại chúng, các hàng đại Bồ tát, đại sĩ, thiện tri thức đều khen ngợi các đấng Như Lai. Như vậy, khởi đầu các buổi thuyết pháp, thay vì đi ngay vào đề tài, chúng ta nên nói lời tán Phật giống như Đức Phật còn tại thế.

    Rộng sắm đồ cúng dường có nghĩa là gì?

    Ngày nay Phật không còn nữa chúng ta cúng dường ai? Chúng ta cúng dường chư Tăng/ni để chư Tăng/ni có phương tiện sinh sống và tu học.

    Tuy nhiên chúng ta phải nhớ rằng chư Tăng/ni không phải là Phật mà chỉ là đệ tử của Phật còn đang tu học, cho nên chúng ta chỉ cúng dường cho những ai giới hạnh trang nghiêm. Tuyệt đối không cúng dường cho những ai hành tà đạo, xa lìa giới luật và sống đời phóng dật.

    Tuy nhiên cúng dường chúng sinh là quan trọng nhất.

    Chúng ta có rất nhiều cách cúng dường chúng sinh như: Mở trường học, xây nhà thương, giúp đỡ học sinh nghèo, cưu mang trẻ mồ côi, giúp người cô đơn bạc phước, xây cầu, tặng nhà tình nghĩa, cơm chay miễn phí, an ủi người khi hoạn nạn…đều là những hành vi cao quý.

    Đức Phật dạy rằng hằng thuận vì lợi ích chúng sinh là cúng dường chư Phật.

    Sám hối các nghiệp chướng có nghĩa là gì?

    Chỉ có bậc tri thức, kẻ thiện lương mới thấy mình lỗi lầm. Kẻ hung ác không bao giờ thấy mình sai trái. Sám hối để lương tâm thanh thản và nhắc nhở chúng ta sẽ không còn làm chuyện xấu nữa. Sám hối là một phương thuật để tu hành.

    Chúng ta cần sám hối từ lúc chào đời, từ thuở ấu thơ đã làm cho cha mẹ buồn phiền. Rồi khi cắp sách đến trường chúng ta gây bao ai oán cho thầy/cô. Rồi khi vào đời chúng ta tạo bao đau khổ cho bạn bè và anh chị. Chúng ta cần phải sám hối xem trong cuộc đời chúng ta có bao giờ nói lời hung dữ, nói lời lừa dối, nói lời đâm thọc, nói lời vu oan giá họa?

    Chúng ta cũng cần phải xét xem chúng ta có hạ nhục ai một cách quá đáng không? Là người có quyền thế chúng ta đã gây khổ đau nào cho xã hội? Là nhân viên thi hành luật pháp chúng ta có bao che cho tội phạm, các sòng bài, các ổ mãi dâm các tổ chức buôn bán ma túy khiến gây đảo điên, bất công và băng hoại xã hội?

    Là thương gia, nhà sản xuất chúng ta có lường đảo khách hàng, chế đồ dỏm, bơm hóa chất vào đồ ăn khiến bao người mắc bệnh nan y không thuốc chữa?

    Chúng ta cần phải sám hối xem chúng ta có trốn thuế, qua mặt chính quyền, hối lộ để làm ung thối quốc gia?

    Là quan tòa xét xử chúng ta có bất công khiến bao người bị hàm oan, kẻ có tội lại được tha, kẻ thật thà lại lãnh án?Là nhà tu hành chúng ta phải xét xem chúng ta có lừa đảo tín đồ không?Chúng ta còn phải sám hối với bao loài vật mà chúng ta đã giết hại. Chúng ta sát hại chúng không phải vì đói mà vì thú vui săn bắn, nhậu nhẹt khoái khẩu hay chỉ vì tính hung ác.

    Chúng ta cũng cần phải sám hối vì đã tàn phá bao loài cây cỏ, núi rừng khiến gây cảnh lụt lội, bão tố, cuồng phong, đất đai sụp lở. Chúng ta không những sám hối với người sống mà cả những người đã chết. Chúng ta cần phải sám hối tới ngọn ngành.

    Sám hối ngày đêm cho đến khi không còn gì để sám hối nữa. Như thế mới gọi là sám hối nghiệp chướng.

    Tùy hỷ công đức có nghĩa là gì?

    Chúng ta phải thấy rằng làm thiện nguyện giúp đời là niềm vui. Làm thiện nguyện là nuôi dưỡng tâm lành là nâng cao phẩm giá. Một đất nước sẽ hùng mạnh nếu có nhiều người tham gia thiện nguyện. Một siêu cường hay đế quốc cũng sẽ sụp đổ nếu con người chỉ biết ích kỷ, sống cho mình.

    Bảo nhau làm sạch đường phố là tùy hỷ công đức. Bảo nhau dọn vệ sinh các bãi rác, biển hồ sông suối, cho công viên khang trang sạch sẽ là tùy hỷ công đức. Bảo vệ môi trường là tùy hỷ công đức. Bảo vệ loài tôm cá, bảo vệ rừng để cân bằng sinh thái là tùy hỷ công đức.

    Tới chùa làm công quả, dọn dẹp vệ sinh, giữ gìn an ninh trật tự cho các buổi lễ lớn là tùy hỷ công đức. Của ít lòng nhiều, không cứ là bao nhiêu đem cúng chùa là tùy hỷ công đức.

    Công đức không tùy thuộc khối lượng khổng lồ mà là sự tăng trưởng tâm lành ngay trong chính con người mình.

    Thỉnh Phật thuyết pháp có nghĩa là gì?

    Ngày nay Phật không còn nữa cho nên chúng ta phải khuyến khích và kính trọng các đạo sư giảng pháp. Khi pháp Phật lan truyền thì đạo còn và Phật vẫn còn ở với chúng ta. Khi Phật pháp suy tàn, không còn ai nhắc nhở tới nữa thì đạo diệt và Phật cũng không còn. Thế nhưng chúng ta phải biết phân biệt thế nào là tà sư thế nào là đạo sư.

    Có năm tiêu chuẩn để thẩm định điều người đang nói, đang giảng là chánh pháp. Giảng sư dù có nói gì đi nữa thì nó phải nằm trong Ngũ Pháp Ấn, đó là: Khổ, Vô Thường, Nhân-Quả, Tánh Không và Niết Bàn. Ví dụ, một người trổ hết tài hùng biện nhưng chỉ nói về phép mầu, Thiên Đàng, Địa Ngục, ban phúc, giáng họa, chỉ tập trung vào cầu nguyện van vái mà không có pháp tu chứng trên bản thân mình… không hề nói tới Khổ Đế, Tập Đế, Diệt Đế và Đạo Đế thì chắc chắn đó là tu sĩ ngoại đạo, không phải đạo sư, không phải là đệ tử của Phật.

    Thỉnh Phật trụ thế có nghĩa là gì?

    Bây giờ Đức Phật đã nhập niết bàn hơn 2000 năm, làm sao thỉnh Phật ở mãi với chúng ta? Thế nhưng muốn Phật vẫn còn ở mãi với chúng ta, có hai cách:

    – Hoằng dương chánh pháp. Chúng ta phải làm thế nào để khắp nơi được biết về đạo Phật, hiểu về đạo Phật rồi tu theo Phật.

    – Mỗi Tăng/ni phải là hình ảnh sống động của Phật. Nếu Tăng/ni hư đốn, thuyết pháp thì nói toàn chuyện trên trời dưới biển mà tham – sân – si vẫn còn, đạo hạnh không có, vướng mắc vào những xấu xa của thế tục… thì đạo suy tàn và Phật cũng chẳng còn ai nhắc nhở tới nữa.

    Hiện nay có thể Đức Đạt Lai Lạt Ma là hình ảnh tiêu biểu của Phật Giáo, một đại đệ tử của Phật hoàn hảo về hai phương diện Từ Bi và Trí Tuệ. Khi nào thấy Tăng/ni mà như thấy Phật thì đạo hưng thịnh và Phật vẫn còn ở với chúng ta. Khi nào thấy Tăng/ni mà xa lánh thì đạo diệt.

    Thường học đòi theo Phật có nghĩa là gì?

    Thường học đòi theo Phật là thể hiện những gì Phật dạy nơi chính bản thân mình chứ không phải tối ngày tụng niệm những gì Phật dạy. Đạo Phật không phải là đạo để thuyết giảng, không phải đạo của nghi thức thờ phượng, mà phải thể hiện ngay trên bản thân mình.

    Sự chứng đắc được hiển lộ qua lời ăn, tiếng nói, cách đi đứng nằm ngồi, cách cư xử, cách hành động lúc nào cũng an nhiên, tự tại, uy nghiêm nhưng từ bi, sống ở trên đời, làm việc đời việc đạo nhưng không vướng mắc chuyện đời. Như thế mới là học đòi theo Phật.

    Hằng thuận lợi ích chúng sanh có nghĩa là gì?

    Chúng sinh từ vô thủy đã sống trong tham – dục. Hàng Bồ tát tu theo Phật phải nương theo tham – dục của chúng sinh để giáo hóa chúng sinh. Chúng sinh có thể chỉ đến chùa cầu tài, cầu lộc. Nhưng Bồ tát nương theo đó mà giảng về lòng tham và thế nào là tu phước.

    Chúng sinh có thể đến chùa để xin dâng sao giải hạn nhưng Bồ tát nương theo đó mà giảng về nghiệp báo và nhân quả. Chúng sinh có thể đến chùa vì khủng hoảng tinh thần, Bồ tát nhân đó mà giảng về hạnh vô úy.

    Chúng sinh đến chùa xin làm lễ thành hôn (hằng thuận), dù biết rằng ái dục là cội nguồn của khổ đau và sinh tử tương tục nhưng bồ tát nhân đó giảng về đạo vợ chồng và hiếu đạo. Chúng sinh có thể đến chùa nói rằng, “Con bị ma nhập, quỷ ám”. Bồ tát có thể tụng cho nạn nhân một thời kinh rồi khuyên nạn nhân về nhà tập thể dục, ăn chay, tụng kinh sám hối, niệm Phật. Nếu có thể thực hành Thiền Quán cho tình thần trở nên sáng suốt dũng mãnh…hy vọng có thể qua khỏi.

    Nói tóm lại, người tu hành theo Phật vừa lấy cứu cánh là giải thoát bản thân nhưng cũng lấy mục tiêu giúp đời. Do đó những gì lợi lạc, an vui cho chúng sinh thì bBồ tát nguyện làm. Như thế mới gọi là hằng thuận lợi ích chúng sinh.

    Hồi hướng khắp tất cả có nghĩa là gì?

    Hồi hướng về khắp tất cả là chuyển sự thành công của mình với lòng biết ơn tới tất cả mọi người.

    – Lãnh đạo thành công tuyệt đỉnh nhưng phải hiểu đó là sự hy sinh, nỗ lực của cả quốc gia dân tộc mà mình chỉ là người dẫn dắt.

    – Vị nguyên soái có chiến thắng lẫy lừng nhưng phải hiểu thành công đó có được là do sự hy sinh xương máu của bao chiến sĩ và sự đóng góp của toàn dân ở hậu phương.

    – Một tỷ phú thành công trên thương trường là do công sức của bao nhân viên và tiền bạc của người tiêu thụ.

    – Một đứa con thành công trên đời là do công ơn giáo dục của cha mẹ và thầy cô.

    – Một nhà văn nổi tiếng là nhờ độc giả. Truyện Kiều mai đây không được dạy trong văn học sử, không còn ai đọc nó nữa thì Truyện Kiều cũng đi vào quên lãng.

    Hồi hướng về khắp tất cả là xả bỏ cái Ngã, là khiêm tốn, là chia xẻ niềm vui với tất cả mọi người. Nói cho cùng ra, trên cõi đời vô thường này, chẳng có gì là của mình. Hồi hướng về khắp tất cả là một hạnh hy hữu và vô cùng cao thượng của Phật Giáo.

    Tạm Kết Luận:

    Đối với kẻ ngoại đạo hay người không hiểu, thì đạo Phật chỉ là một đạo rất tầm thường, yếm thế. Kinh qua lịch sử, đạo Phật không có một đế chế, không có đạo quân chinh phạt, không có chiến thắng… để khiến nhân loại phải khiếp sợ. Mà sự sợ hãi (khủng bố) lại là một nhân tố rất quan trọng để tin theo một tôn giáo, nhất là tôn giáo thờ thần. Trong khi đó, đệ tử của Phật thì tương chao dưa muối, cho gì ăn nấy, không rượu thịt, chân đi đất, quần áo thì chỉ là thứ y phục của dân nghèo, phẩm phục không sa hoa, lộng lẫy.

    Thế nhưng khi nghiên cứu và tìm hiểu về nó thì đạo Phật là một đạo vĩ đại. Đạo Phật là đạo của Trí Tuệ và Từ Bi. Nó hoàn toàn nhân bản, thực tiễn, không lấy phép mầu của thần linh để làm nền tảng chiêu dụ tín đồ. Tính nhân ái của đạo Phật và hàng đệ tử của Phật bao trùm cả thế giới, không chỉ xót thương loài người và còn cả núi rừng, cây cỏ và thú vật. Đó là một đạo hy hữu của thế gian này.

    Theo như hạnh nguyện của ngài Phổ Hiền, người tu hành không thể thành Phật thành Bồ tát, không thể chứng quả nếu không phát nguyện đời đời, kiếp kiếp làm lợi lạc cho chúng sinh, coi chúng sinh như cha mẹ mình. Vậy thì hạnh nguyện của ngài Phổ Hiền rất phù hợp với thời đại ngày hôm nay.

    Do đó, ngoài hàng ngũ xuất gia, hàng cư sĩ và Phật tử tại gia vẫn có thể tu theo hạnh nguyện Phổ Hiền. Đọc tụng mỗi ngày và tùy duyên, tùy hoàn cảnh mà làm bất cứ việc gì, dù nhỏ bé mà lợi lạc cho đời là tu theo ngài Phổ Hiền. Thế giới này sẽ trở thành Cực Lạc nếu mỗi ngày, mỗi lúc, mỗi nơi có thêm một ngài Phổ Hiền Bồ Tát.

    Xin kính lạy ngài Phổ Hiền và tất cả các ngài Phổ Hiền của ngày mai.

    Thiện Quả Đào Văn Bình (California ngày 28/3/2019)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phổ Hiền Bồ Tát Là Ai?
  • Phân Biệt Đức Phổ Hiển Và Văn Thù Bồ Tát
  • Văn Khấn Ngày Rằm Tháng 11 Âm Lịch
  • Văn Khấn Lễ Đức Quan Thế Âm Bồ Tát (Phật Bà Quan Âm) Ở Chùa
  • Văn Khấn Lễ Đức Quán Thế Âm Bồ Tát
  • Lễ Phật Đản – Chùa Phổ Hiền

    --- Bài mới hơn ---

  • Lễ Mở Phủ Trình Đồng
  • Đại Trai Đàn Siêu Độ Vong Hồn Nịch Tử Phát Tấu, Khai Phương, Phá Ngục, Giải Kết, Mông Sơn Thí Thực – Việt Lạc Số
  • Trái Cây Ngũ Quả Cúng Đầy Tháng Thôi Nôi Gồm Những Gì?
  • Chọn Hương Nhang Sạch Cúng Rằm Trung Thu
  • Văn Cúng Rằm Tháng 10 Ngày Nào ? Ý Nghĩa Rằm Tháng 10
  •  

    CHƯƠNG TRÌNH ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN – PL 2559 – 2022

    Dưới sự chứng minh của Hoà-Thượng Thích Như-Điển,

    TT Thích Thị Qủa, TT Thích Đồng Văn

    _(())_

    Từ vườn Lâm Tỳ Ni Đức Thế Tôn Đản sinh

    Đóa Vô Ưu tươi nở ngát hương thơm mười phương

    Thành Ca Tỳ La Vệ gió reo vui trời bừng sáng

    Người người hân hoan loan tin vui Tất Đạt Đa thái tử ra đời

    Ánh sáng Như Lai diệt tham sân si sáng soi Đạo Vàng

    NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

    _(())_

    Trân trọng kính mời quý Phật tử đồng hương đến tham dự đông đủ.

     

    Thứ bảy, ngày 16/05/2015

    09 giờ 00 : Phật tử tề tựu

    09 giờ 15 : Khai thị và Truyền Giới Bát Quan Trai

    10 giờ 45 : Tịnh Tu

    11 giờ 45 : Quá Đường và Kinh Hành

    13 giờ 00 : Chỉ Tịnh

    14 giờ 00 : Tịnh Tu+Thính Pháp

    17 giờ 00 : Mông Sơn Thí Thực

    18 giờ 00 : Dược Thực

    19 giờ 00 : Tịnh Độ

    20 giờ 00 : Tịnh Tu+Pháp Đàm

    22 giờ 00 : Chỉ Tịnh

     

    Chủ nhật, ngày 17/05/2015 :

                06 giờ 00 : Công Phu Khuya

                07 giờ 30: Điểm tâm

                09 giờ 30 : Lễ Xả Giới + Lễ Quy-y Tam Bảo+ Lễ Tạ Pháp

                10 giờ 15 : Đại Lễ Phật Đản:

                        * Cung thỉnh Chư Tôn Đức Quang Lâm Chánh Điện (hát bài Kính Mến Thầy)

                         * Cung Thỉnh Chư Tôn Đức an toạ

                         * Lời nói đầu

                         * Lễ Dâng Hoa (Oanh vũ GĐPT) 

                         * Diễn Văn Phật Đản (Sư Cô) 

                         * Lời Đạo Từ của Hoà Thượng Phương Trượng

                         * Chư Tôn Đức Niệm Hương Bạch Phật

    (hát bài Trầm Hương Đốt)

    – Tụng Kinh Mừng Khánh Đản

    – Lễ Tắm Phật (Đồng tụng bài kệ tắm Phật)

    11 giờ 45: Cúng Dường Trai Tăng và Thời Ngọ Trai

                                            Cúng Chư Tiên Linh Trí Tự

     13 giờ 30: Văn Nghệ Cúng Dường Phật Đản

     14 giờ 15: Họp BCH nhân Mùa Phật Đản, dưới sự chứng minh của HT

                 17 giờ 00: Mông Sơn Thí Thực và hoàn mãn

    (Chương trình có thể tùy nghi thay đổi)

     

    Album hình ảnh ngày Đại Lễ Phật Đản 2022-PL 2559:

    https://plus.google.com/…/102928…/albums/6159482403899111857

    _o0o_

     

     

    LÁ THƯ PHẬT ĐẢN

     

     

    HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI STRASBOURG-PHÁP QUỐC

    Association Bouddhique Phổ-Hiền de Strasbourg

    CHÙA PHỔ-HIỀN

    7, Rue de Guebwiller – 67 100 STRASBOURG Tél. 03 88 84 58 31

    E-mail : [email protected] – Website : www. chúng tôi ***************************

     

    PL. 2559-Réf. PH16, 30/04/2015

     

     

    Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

     

    Lá thư Phật Đản 2559

     

    Kính thưa quý Phật tử cùng quý đồng hương!

     

    Từ sau ngày đặt viên đá đầu tiên đến nay, chúng ta ai nấy đều nôn nóng muốn biết chi tiết về ngôi Chùa Phổ-Hiền mới… Nhân trong thư mời dự lễ mừng ngày Đức Từ Phụ Đản Sanh, chúng tôi xin trình bày đôi điều cho quý chư liệt vị tường.

     

    Thưa quý vị, sự việc xây dựng đang diễn tiến tốt đẹp như ý muốn của chúng ta, mọi thủ tục giấy tờ và thầu khoán cũng như những vấn đề khác đang tiến hành trong sự cân nhắc rất cẩn thận trước khi khởi công. Tuần nào cũng vậy, vào tối thư năm, dưới sự chứng minh của Sư Bà, Sư Cô cùng Ông Kiến trúc sư và kỹ sư về bê-tông, về hệ thống điện nước, sưởi, những đường thông rãnh nước, đường nước vào v.v…cùng ban kiến thiết mà chúng ta tạm gọi là Groupe de Travail, chứ thực ra những buổi họp đó đều mở rộng cho tất cả bà con Phật tử, ai nấy đều có thể tham gia, đóng góp ý kiến…, những ý kiến hợp lý đều được xem xét và thông qua theo như nhu cầu và điều kiện của công trình xây cất.

     

     

    Thật vậy, Chùa xây lên cũng vì Phật tử, vì sự hoằng pháp độ sanh, nếu không vì lợi ích chung thì chắc chắn không thể nào thành tựu được.

     

    Tất cả chi tiết về sơ đồ xây dựng và làm việc có dán tại Chùa, xin mời quý vị đến tham khảo,  vì chỉ trong vài trang giấy rất hạn hẹp, chúng tôi không thể nào trình bày đầy đủ được. Chúng tôi cũng như quý Phật tử đều rất lo lắng, đó là: Tài Chánh. Thật đúng vậy! Thưa chư liệt vị, vì kinh tế đương thời, vì cuộc sống… Chùa không biết làm sao để mở lời kêu gọi hổ trợ. Hiện tại các ban, nhất là ban ngoại vụ lo chạy khắp nơi để được sự trợ giúp của chính quyền điạ phương, hoặc xin TVA, mọi việc cũng có rất nhiều khả quan, nhưng họ không chiụ giải ngân liền cho mình được… Vì vậy, mượn tiền nhà băng là là điều không tránh khỏi.

    Lãi xuất và đìều kiện cũng không thể bỏ qua được. Còn các ban Nội vụ và quý cô, quý bác ở Chùa thì lo từng cái bánh để phát hành, gây quỹ. Như vậy làm sao để tránh mượn tiền nhà băng? Chỉ có Hội thiện… Theo sự tính toán về ngân quỹ hiện tại thì: nếu có 50 người cho mượn 10000 thì Chùa khỏi cần vay muợn, hoặc 100 người / mỗi người cho muợn 5000 hoặc 200 người/mỗi người 2500 hoặc 334 người / mỗi người 1500€ (giá trị của 1m²) thì chắc là không cần mượn nhà băng. Đó là số tiền cần mượn, nhưng thật ra, chỉ cần một góp sức nhỏ của quý Phật tử và quý đồng hương nhưng với một tấm lòng to lớn góp sức xây dựng, cầu nguyện cho sự thành tựu của ngôi Chùa… thì nhất định sẽ thành công.

     

    Theo kinh nghiệm của quý Chư Tôn Đức đã từng xây Chùa cho biết, thì sự xây Chùa nhất là trong điều kiện khó khăn như vậy không thể lường được. Tuy nhiên luôn có sự mầu nhiệm đưa đến và từ những phát tâm của chư liệt vị là công đức không thể nghĩ bàn. Vì vậy, quý vị phải vững niềm tin cho ngôi Chùa Phổ Hiền Strasbourg trong tương lai nhất định sẽ thành tựu viên mãn.

     

    Về giấy chứng nhận Hội Thiện, những tháng Sư Cô kiết đông không ai kiểm soát, nên một số người nóng lòng và bị trễ nải… mong quý vị thông cảm cho, thủ quỹ Chùa đang liên lạc với nhà băng để có thể kiểm tra trực tiếp lúc nào cũng được, không cần phải chờ đầu tháng mới có giấy nhà băng gởi về.

     

    Nhân mùa Phật Đản, chúng tôi kính chúc Chư Liệt vị thân tâm thường lạc, trí tánh thường minh và tâm bồ đề hằng kiên cố.

     

     

    Thay mặt Hội Phật Giáo và Chùa Phổ Hiền

    Tỳ Kheo Ni, TN Như  Quang

    (đã ký )

     

     

    Quý Phật tử phát tâm xây dựng chùa Phổ Hiền mới với mọi hình thức (Hội Thiện, cúng dường, hộ trì Tam Bảo…).

    Xin mời vào mục Cúng Dường này để biết rõ về cách thức gởi tiền. 

     

    Nam Mô Công Đức Lâm Bồ Tát Ma Ha Tát

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cửa Hàng Phật Giáo, Siêu Thị Đồ Thờ Tượng Đài Loan
  • Cúng Dường Hoa, Quả Đèn, Nước Có Ý Nghĩa Gì?
  • Kinh Thien Dao The Dao (Audio)
  • Sớ Văn Dâng Cúng Tại Điện Thờ Phật Mẫu (Bài 1)
  • Cúng Xe Nên Cúng Hoa Gì?
  • Phân Biệt Đức Phổ Hiển Và Văn Thù Bồ Tát

    --- Bài mới hơn ---

  • Phổ Hiền Bồ Tát Là Ai?
  • Có Thể Tu Theo 10 Hạnh Nguyện Của Bồ Tát Phổ Hiền Được Không?
  • Phân Biệt Đức Phổ Hiển Và Văn Thù Bồ Tát * Phong Linh Gems
  • Bài Văn Khấn Lễ Quan Thế Âm Bồ Tát Chuẩn Nhất Cho Phật Tử
  • Hình Tượng Bồ Tát Quán Thế Âm Nghìn Tay Nghìn Mắt
  • Ngài Phổ Hiền tượng trưng cho CHÂN LÝ, còn Văn thù tượng trưng cho CHÂN TRÍ, lý trí dung thông. Phổ Hiền tượng trưng cho tam muội, còn Văn Thù tượng trưng cho Bát Nhã. Phổ Hiền tượng trưng cho hạnh, còn Văn Thù tượng trưng cho giải. Phổ Hiền tượng trưng cho từ bi, còn Văn Thù tượng trưng cho trí tuệ. Do đó, đức Phật dùng chân trí thâm đạt chân lý hoặc dùng Bi, Trí viên mãn cho nên hai Ngài thường có mặt bên phải và bên trái đức Phật Thích Ca.

    Phổ Hiền Bồ tát dịch âm là Tam mạn đà bạt đà la hoặc Tam mạn đà bạt đà. Phổ là biến khắp. Hiền là Đẳng giác Bồ tát. Phổ Hiền là vị Bồ tát Đẳng giác có năng lực hiện thân khắp mười phương pháp giới, tùy mong cầu của chúng sinh mà hiện thân hóa độ. Ngài là một trong những vị Bồ tát quan trọng trong Phật giáo Đại thừa.

    Phổ Hiền Bồ tát được xem là người hộ vệ của những ai tuyên giảng đạo pháp và đại diện cho “Bình đẳng tính trí” tức là trí huệ thấu hiểu cái nhất thể của sự đồng nhất và khác biệt. Ngài dùng đại hạnh hóa độ chúng sinh, đưa họ từ bờ mê đến bến giác.

    Bồ tát ngồi trên voi trắng sáu ngà. Voi trắng tượng trưng cho trí huệ vượt chướng ngại, sáu ngà tượng trưng cho sự chiến thắng sáu giác quan. Voi sáu ngà là tượng trưng cho Lục độ: Bố thí, Trì giới, Tinh tấn, Nhẫn nhục, Thiền định và Trí huệ. Ngài chèo thuyền Lục độ để cứu vớt chúng sinh đang chìm đắm trong bể khổ. Mặc dù bể khổ thì rộng lớn mênh mông còn chúng sinh thì vô lượng nhưng Ngài vẫn không ngại nhọc nhằn tiếp tục cứu vớt chúng sinh từ kiếp này sang kiếp khác. Với chiếc chèo bố thí, cánh buồm tinh tấn, mục tiêu thiền định, tay lái trí tuệ, Ngài luôn luôn kiên nhẫn tiến tới mà chẳng ngại sóng gió để cứu giúp chúng sinh.

    Tùy khí của Ngài chính là viên bảo châu mà Ngài thường cầm nơi tay trái hoặc tay phải cầm hoa sen, trên đóa hoa là viên bảo châu. Trong hệ thống Ngũ Phật, Phổ Hiền nằm trong nhóm của Phật Đại Nhật. Biểu tượng của Bồ tát Phổ Hiền là ngọc như ý, hoa sen, có khi là trang sách ghi thần chú của Bồ tát.

    Phổ Hiền Bồ tát thường xuất hiện trong bộ ba cùng với Phật Thích Ca và Văn Thù Sư Lợi gọi là Thích Ca Tam Tôn. Ngài đứng bên phải, còn Văn Thù đứng bên trái và có khi các Ngài được vây quanh bởi mười sáu vị hộ pháp bảo vệ cho kinh Bát Nhã. Ngài thường xuất hiện như một vị Bồ tát với vương miện và y trang đầy ắp châu báu như một ông hoàng và nhiều tranh ảnh tượng.

    Trong nhiều biểu thị, một hoặc hai bàn tay Ngài bắt ấn giáo hóa, với ngón cái và ngón trỏ chạm nhau thành hình tam giác. Trong những hình ảnh khác Ngài cầm cuộn kinh hay kim cương chử nơi tay trái. Trong hội họa Phật giáo Mật tông Ngài được thể hiện bằng màu xanh lục hoặc màu vàng.

    Tại Trung Quốc, Phổ Hiền được xem là một trong bốn Đại Bồ tát, trú xứ của Phổ Hiền là núi Nga Mi, nơi Bồ tát lưu trú sau khi cưỡi voi trắng sáu ngà từ Ấn Độ sang Trung Quốc.

    Căn bản tu tập của Phật giáo Đại thừa, Kim Cương thừa là Nhị Tư Lương (Phúc – Trí, Phương Tiện – Trí Tuệ, Bồ Đề tâm – Trí Tuệ). Nếu Văn Thù đại diện cho Trí Tuệ thì Phổ Hiền đại diện cho Hạnh Nguyện, phương tiện lớn lao vĩ đại.

    Thấy Phổ Hiền Bồ tát là thấy chân lý, do đó chúng ta phải tránh xa mọi ảo vọng để trở về với chân lý. Gạt bỏ mọi vô minh, đừng lấy chân làm giả mà hãy dùng trí tuệ mà nhìn thẳng vào chân lý để được giác ngộ như đức Phật. Chúng ta phải noi theo mười hạnh nguyện lớn của Ngài để diệt tan mọi ích kỷ hẹp hòi.

    Mười hạnh nguyện của Bồ tát Phổ Hiền:

    6. Thỉnh Chuyển Pháp Luân

    3. Văn Thù Sư Lợi Bồ tát:

    Văn Thù Sư Lợi dịch âm là Mạn thù thất lỵ, thường được gọi tắt là Văn Thù, dịch là Diệu Đức, Diệu Cát Tường, cũng có lúc được gọi là Diệu Âm. Diệu Đức được hiểu là mọi đức đều tròn đầy.

    Trong Phật giáo Tây Tạng, các vị luận sư xuất sắc thường được xem là hiện thân của Văn Thù. Dưới tên Diệu Âm “Người với tiếng nói êm dịu”. Văn Thù Bồ tát thường được tán tụng trước khi hành giả nghiên cứu kinh điển, nhất là kinh điển thuộc hệ Bát Nhã Ba La Mật Đa. Văn Thù là vị Bồ tát tượng trưng cho kinh nghiệm giác ngộ, đạt được bằng phương tiện tri thức.

    Ngài có lúc chính thức thay mặt đức Thế Tôn diễn nói Chánh pháp, có lúc lại đóng vai người điều khiển chương trình để giới thiệu đến thính chúng một thời pháp quan trọng của đức Bổn sư. Ngài thấu hiểu Phật tánh bao gồm cả ba đức: Pháp thân, Bát nhã và Giải thoát cho nên trong hàng Bồ tát Ngài là thượng thủ, là một trong những vị Bồ tát quan trọng của Phật giáo.

    Là vị Bồ tát tiêu biểu cho trí tuệ, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát thường được miêu tả với dáng dấp trẻ trung ngồi kiết già trên một chiếc bồ đoàn bằng hoa sen. Biểu tượng đặc thù của Ngài là trên tay phải, dương cao lên khỏi đầu, là một lưỡi gươm đang bốc lửa. Nó mang hàm ý rằng chính lưỡi gươm vàng trí tuệ này sẽ chặt đứt tất cả những xiềng xích trói buộc của vô minh phiền não đã cột chặt con người vào những khổ đau và bất hạnh của vòng sinh tử luân hồi bất tận và đưa con người đến trí tuệ viên mãn.

    Trong khi đó, tay trái của Ngài đang cầm giữ cuốn kinh Bát Nhã trong tư thế như ôm ấp vào giữa trái tim. Đây là biểu trưng cho tỉnh thức, giác ngộ. Đôi khi, chúng ta cũng thấy tay trái của Ngài cầm hoa sen xanh, biểu thị cho đoạn đức. Có nghĩa là dùng trí tuệ để dứt sạch mọi nhiễm ô tham ái, như hoa sen ở trong bùn mà không nhiễm bùn.

    Chiếc giáp Ngài mang trên người gọi là giáp nhẫn nhục. Nhờ nó nên các mũi tên thị phi không xâm phạm vào thân. Nó có thể che chở cho Ngài vẹn toàn tâm từ bi do đó bọn giặc sân hận oán thù không thể nào lay chuyển được hạnh nguyện của Bồ tát. Bồ tát không bao giờ rời chiếc giáp nhẫn nhục bởi nếu thiếu nó thì các Ngài không thể nào thực hiện được tâm Bồ đề.

    Văn Thù Bồ tát thường ngồi trên lưng sư tử xanh. Ở đây, hình ảnh sư tử xanh là biểu thị cho uy lực của trí tuệ. Vì sư tử vốn là loài thú chúa ở rừng xanh, có sức mạnh và uy lực hơn tất cả các loài thú khác. Cho nên, lấy hình ảnh sư tử để biểu trưng cho năng lực vô cùng của trí tuệ. Đó cũng là trí của Phật. Bồ tát Văn Thù nhờ trí này nên đã chuyển hóa những vô minh, phiền não, những ý niệm chấp ngã, pháp trở về vô lậu và chứng chân thật tính.

    Nói về Phật giáo Á châu thì Ngũ Đài sơn bên Trung Quốc được xem như là nơi trụ tích của Văn Thù Bồ tát. Kinh Hoa Nghiêm nói rằng: “Ngài Văn Thù trụ lại ở núi Thanh Lương phía Đông Bắc và hiện đang thuyết pháp cho chư Bồ tát nghe”. Mà núi Thanh Lương sau này được ám chỉ là núi Ngũ Đài.

    b) Ý nghĩa của việc thờ tượng Văn Thù Bồ tát:

    Chúng ta thờ tượng Văn Thù Sư Lợi Bồ tát là để hướng về trí tuệ sẵn có của chúng ta. Vô minh, ái dục đã đưa chúng ta lặn hụp trong vòng sinh tử luân hồi, chịu chồng muôn nỗi khổ đau. Chúng ta hãy thức tỉnh để quay về với trí tuệ sẵn có của mình và dùng thanh gươm trí tuệ chặt đứt lưới tham ái để vượt ra khỏi bể khổ thâm sâu.

    Vâng, chỉ có trí tuệ mới có đủ công năng cứu chúng ta ra khỏi vòng luân hồi nghiệp báo. Thêm nữa, Bồ tát là tấm gương sáng cho lợi tha, chúng ta phải dùng lưỡi kiếm trí tuệ này để cứu thoát mọi người trước kẻ thù phiền não, của con rắn độc tham sân si. Có thực hành được như vậy, mới xứng đáng đảnh lễ đức Văn Thù Sư Lợi tay cầm kiếm, mình mặc giáp, ngồi trên lưng sư tử.

    Công đức ở trong tự tính chẳng phải bố thí, cúng dường mà có được. Cho nên nói phước chẳng bằng công đức, bố thí chẳng kịp trì kinh là vậy.

    Có thể thấy, trong Phật giáo, nhất là Phật giáo Đại thừa, những nhân vật và hình tượng, ngoài ý nghĩa lịch sử, truyền thuyết, nó còn mang tư tưởng triết học, ẩn dụ và biểu trưng. Người học Phật chúng ta nếu không nắm bắt được tinh thần này thì chắc chắn sự nhận thức sẽ dễ rơi vào định kiến, cực đoan và bị các quan niệm tôn giáo hữu thần đồng hóa.

    Diệu Âm Minh Tâm (tổng hợp)

    Diệu Âm Minh Tâm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Ngày Rằm Tháng 11 Âm Lịch
  • Văn Khấn Lễ Đức Quan Thế Âm Bồ Tát (Phật Bà Quan Âm) Ở Chùa
  • Văn Khấn Lễ Đức Quán Thế Âm Bồ Tát
  • Bài Văn Khấn Lễ Quan Âm Bồ Tát Chuẩn Nhất Cho Phật Tử
  • Văn Khấn Mùng 1 Tết Canh Tý
  • Văn Khấn Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát Ở Chùa

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Nhập Trạch Nhà Chung Cư Và Thủ Tục Chuẩn Bị Đồ Lễ
  • Chuẩn Bị Mâm Lễ Vật Cúng Mùng 5 Tháng 5
  • Văn Khấn Bài Cúng Cô Hồn Ngoài Trời Hàng Tháng
  • Cách Lập Bàn Thờ Cửu Huyền Thất Tổ Và Cách Thờ Cúng
  • Cúng Sửa Nhà: Văn Khấn, Lễ Vật, Và Những Điều Cần Lưu Ý
  • Một số lưu ý khi đi lễ phật ở chùa

    Lưu ý khi sắm lễ

    Đến dâng hương tại các chùa chỉ được sắm các lễ chay: hương, hoa tươi, quả chín, oản phẩm, xôi chè… không được sắm sửa lễ mặn chư cỗ tam sinh (trâu, dê, lợn), thịt mồi, gà, giò, chả…

    Việc sắm sửa lễ mặn chỉ có thể được chấp nhận nếu như trong khu vực chùa có thờ tự các vị Thánh, Mẫu và chỉ dâng ở đó mà thôi. Tuyệt đối không được dâng đặt lễ mặn ở khu vực Phật điện (chính diện), tức là nơi thờ tự chính của ngôi chùa. Trên hương án của chính điện chỉ được dâng đặt lễ chay, tịnh. Lễ mặn (nhưng thường chỉ đơn giản: gà, giò, chả, rượu, trầu cau…) cũng thường được đặt tại ban thờ hay điện thờ (nếu xây riêng) của Đức Ông – Vị thần cai quản toàn bộ công việc của một ngôi chùa.

    Không nên sắm sửa vàng mã, tiền âm phủ để dâng cúng Phật tại chùa. Nếu có sửa lễ này thì thí chủ đặt ở bàn thờ Thần Linh, Thánh Mẫu hay ở bàn thờ Đức Ông.

    Tiền giấy âm phủ hay hàng mã kiêng đặt ở ban thờ Phật, Bồ Tát. Tiền thật cũng không nên đặt lên hương án của chính điện, mà nên bỏ vào hòm công đức.

    Hoa tươi lễ Phật là hoa sen, hoa huệ, hoa mẫu đơn, hoa ngâu… không dùng các loại hoa tạp, hoa dại…

    Thứ tự hành lễ ở Chùa cần theo thứ tự như sau:

    1. Đặt lễ vật: Thắp hương và làm lễ ban thờ Đức Ông trước.

    2. Sau khi đặt lễ ở ban Đức Ông xong, đặt lễ lên hương án của chính điện, thắp đèn nhang.

    3. Sau khi đặt lễ chính điện xong thì đi thắp hương ở tất cả các ban thờ khác của nhà Bái Đường. Khi thắp hương lên đều có 3 lễ hay 5 lễ. Nếu chùa nào có điện thờ Mẫu, Tứ Phủ thì đến đó đặt lễ, dâng hương cầu theo ý nguyện.

    4. Cuối cùng thì lễ ở nhà thờ Tổ (nhà Hậu)

    5. Cuối buổi lễ, sau khi đã lễ tạ để hạ lễ thì nên đến nhà trai giới hay phòng tiếp khách để thăm hỏi các vị sư, tăng trụ trì và có thể tuỳ tâm công đức.

    Văn khấn phật bà Quan Âm Bồ Tát ở Chùa

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

    Nam mô Đại từ, Đại bi Linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát.

    Kính lạy Đức Viên Thông giáo chủ thùy từ chứng giám.

    Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm …..

    Tín chủ con là …………………

    Ngụ tại ……………………………

    Thành tâm đến trước Phật đài, nơi điện Đại bi, kính dâng phẩm vật, hương hoa kim ngân tịnh tài, ngũ thể đầu thành, nhất tâm kính lễ dưới Toà sen hồng.

    Cúi xin Đức Đại Sỹ không rời bản nguyện chở che cứu vớt chúng con như mẹ hiền phù trì con đỏ. Nhờ nước dương chi, lòng trần cầu ân thanh tịnh, thiện nguyện nêu cao. Được ánh từ quang soi tỏ, khiến cho nghiệp trần nhẹ bớt, tâm đạo khai hoa, độ cho đệ tử cùng gia đình bốn mùa được chữ bình an, tám tiết khang ninh thịnh vượng, lộc tài tăng tiến, gia đạo hưng long, mầm tai ương tiêu sạch làu làu, đường chính đạo thênh thang tiến bước. Cầu gì cũng được, nguyện gì cũng thành.

    Dãi tấm lòng thành, cúi xin bái thỉnh.

    Cẩn nguyện

    Mẫu tượng phật bà quan âm bằng gỗ

    Mọi thông tin chi tiết quý khách vui lòng liên hệ:

    Công ty TNHH đồ gỗ mỹ nghệ Phú Cường

    Xóm Hàn – Sơn Đồng – Hoài Đức – Hà Nội

    email: [email protected]

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Sắp Mâm Cỗ Cúng Ông Công Ông Táo Đúng Và Đầy Đủ Nhất
  • Bài Khấn Cầu Công Danh Khi Đi Chùa Hương
  • Cách Cúng Cô Hồn Đúng Nhất Để Tránh “rước Vong” Vào Nhà
  • Tam Tai 2022: Chi Tiết Tuổi Gặp Hạn, Cách Cúng Giải Hạn Tam Tai
  • Nghi Lễ Cúng Ông Công Ông Táo
  • Tụng Kinh, Lạy Phật, Sám Hối – Chùa Phổ Hiền

    --- Bài mới hơn ---

  • Thỉnh Phật Bà Quan Âm Về Nhà Có Phải Gửi Tượng Vào Chùa Trước Không?
  • Ý Nghĩa Ngày Vía Đức Quán Thế Âm 19/2 Âl
  • 15 Điều Mà Chị Em Cần Biết Để “hồi Xuân”
  • Đậu Nành Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Tinh Chất Mầm Đậu Nành – “Thần Dược” Cho Sức Khỏe Và Sắc Đẹp Phụ Nữ
  • Tụng kinh, lạy Phật, Sám hối và Thiền quán

     

     

    Trong quá trình tiến tu, Thái tử Sĩ Ðạt Ta ngồi thiền định dưới cội bồ đề trong 21 ngày là đạt quả vị Vô thượng Ðẳng giác. Còn chúng ta đầy phiền não, nên ngồi yên thì trần lao hiện ra. Chẳng những không thành Phật, mà tu một lúc chúng ta trở thành hung ác, phiền muộn. Ðó là vì chúng ta chất chứa toàn nghiệp trần lao, nên khi tu, tâm phiền não này có sẵn và tự động bộc phát. Trái lại tâm đức Phật có toàn hột giống thanh tịnh, nó tự nảy mầm, kết thành quả Bồ đề khi Ngài tư duy, thâm nhập thiền định. Có thể ví tâm nhơ bẩn của chúng sinh như đất có sẵn hột cỏ, gặp phân, nước, cỏ lên nhanh. Chúng ta tự xác định mình là chúng sanh với đầy đủ chúng sanh nghiệp, chúng sanh phiền não, nên không thể nào làm như Phật. Từ thân phận chúng sanh phàm phu ấy khởi tu, chúng ta cần nỗ lực chuyển nghiệp trước. Ðức Phật dạy rằng quá trình tu tập để chuyển nghiệp không đơn giản, phải trải qua 3 a-tăng-kỳ kiếp mới chuyển được tất cả nghiệp ác của chúng ta.

    Mỗi a-tăng-kỳ kiếp là thời gian vô định, tùy thộc vào năng lực tu hành của từng người khác nhau. A-tăng-kỳ thứ nhất, chúng ta làm sao cho sạch nghiệp, đắc được quả vị A La Hán, mới coi như hoàn tất giai đoạn một. Bước qua a-tăng-kỳ thứ hai, chúng ta tu quán nhân duyên và phát sanh được trí huệ vô lậu, thấy được quá khứ cùng mối tương quan của ta và người. Và ở a-tăng-kỳ thứ ba, chúng ta phải tu Bồ Tát đạo cho viên mãn. Như vậy, một đời người không thể nào thực hiện trọn vẹn 3 việc: thanh tịnh hóa thân tâm, phát sanh trí tuệ và thực hiện đầy đủ công đức. Thành tựu 3 việc này rồi, mới ngồi Bồ Ðề đạo tràng 21 ngày, phá ma quân, thành Vô thượng Ðẳng giác.

     

    Ý thức tinh thần Phật dạy như thế, chúng ta tự biết không thể tu chân thật môn để tiếp cận được chân lý. Từ đó, chúng ta phải trở lại tu phương tiện của đức Phật, tức tạo điều kiện để chúng ta thâm nhập Phật đạo. Phương tiện mà chúng ta thường tu là đọc tụng kinh điển, kết hợp với tu thiền quán. Vì có đọc kinh điển chúng ta mới tâm đắc và suy nghĩ về lời Phật dạy. Chúng ta đọc tụng và quán sát 12 bộ kinh là 12 vấn đề lớn của đức Phật dạy, đó là bước đầu quán sát giáo pháp Pháp thân. Vì chúng ta không thể thấy trực tiếp Pháp thân Phật, nên coi lời dạy của Phật là Pháp thân Ngài.

    Trong thời gian này, chúng ta siêng năng đọc tụng kinh điển và ngồi yên quán sát lời dạy đó để ứng dụng trong cuộc sống. Lúc ấy chúng ta chỉ mới tu trong tâm. Phương tiện này giúp tâm ta thanh tịnh dễ dàng. Thật vậy trên bước đường tu, chúng ta tự làm cho tâm thanh tịnh không đơn giản. Ðiển hình như Kiều Trần Như hay Xá lợi Phất tu trải qua 60 kiếp cũng không đắc được A La Hán. Nhưng có đức Phật đắc đạo rồi, giống như có người phát minh ra chân lý, chúng ta chỉ cần nghiên cứu chân lý thì dễ hơn, còn tự tìm ra không nỗi. Chúng ta dễ đắc đạo nhờ nương theo giáo pháp Phật có sẵn, suy nghĩ, chứng nghiệm trong cuộc sống. Tu theo pháp Phật, quán sát pháp, phiền não chúng ta tự lắng yên.

     

    Tôi tâm đắc pháp tu này, vì khi đọc tụng lời Phật, tôi tự cảm thấy an lành, tức lấy hình ảnh đẹp để xóa hình ảnh xấu trong lòng. Tu đúng pháp như vậy, mỗi niệm tâm, ta cảm thấy thăng hoa cuộc sống tâm linh, dần dần đẹp, khỏe, giàu, được kính trọng thêm; vì đã lấy Phật đức trang nghiêm thân tâm. Cách tu này có kết quả nhanh nhất. Thật vậy, ta là phàm phu, nhưng khoác áo Phật vào thân, đưa pháp Phật vào lời nói, lấy tâm Phật gắn vào tâm chúng ta, thì chúng ta trở thành biểu tượng của Phật.

    Như vậy, chỉ mới quán pháp Phật, có giáo pháp Pháp thân thôi, mà chúng ta biến thành thường trú pháp thân Phật, vì lời nói, suy nghĩ, việc làm của chúng ta giống Phật, khiến người liên tưởng đến Phật. Không làm được như vậy, mà chúng ta tu mang hình thức tu, là phạm tội phá pháp. Suy nghĩ lời Phật dạy là Thiền và đọc tụng kinh điển là Giáo; kết hợp hai pháp phương tiện này lại để tu mới có kết quả tốt. Vì đọc kinh suông, không suy nghĩ, không hiểu nghĩa, cũng chẵng có tác dụng gì. Và không thiền thì làm sao phát sanh trí tuệ.

     

    Trong quá trình tu đọc tụng kinh điển và thiền quán, mỗi ngày phiền não chúng ta lắng yên và tâm trí trở nên sáng suốt. Còn để nguyên phiền não mà đọc tụng kinh thì chúng ta quên lời Phật dạy, không áp dụng được trong cuộc sống lẫn lộn Phật và ma, tất nhiên đầu óc cũng u mê. Ngoài việc sử dụng pháp tụng kinh kèm với thiền quán, chúng ta còn có pháp phương tiện thứ hai là lạy Phật và thiền quán.

    Người đọc tụng kinh điển, nhưng không đạt được kết quả tốt vì không kết hợp pháp đọc tụng kinh với thiền quán, tức miệng đọc mà tâm nghĩ sai trái, nên phước không sanh. Trong lúc đọc tụng kinh và nghĩ đến Phật thì phải hiện tướng bên ngoài tốt, dễ thương; vì Phật dạy tướng tùy tâm hiện. Căn cứ vào lời dạy ấy, nên chưa hiện hảo tướng là biết tâm chúng ta chưa tốt. Ngài Thiên Thai dạy chúng ta phải lạy Phật, sám hối cho đến thấy hảo tướng Phật và hảo tướng ta hiện ra. Thấy hảo tướng Phật, là Phật đã vào tâm ta và sẽ thể hiện ra hình tướng của ta, nên lúc ấy tâm ta mới là thiền, thân mới làm giống Phật. Tu ở giai đoạn hai, chúng ta vừa lạy Phật vừa quán tưởng với tất cả tâm thành. Lạy mà không quán tưởng thì lạy một cách máy móc, lạy hư không hay lạy khối xi măng, làm sao có phước được. Tệ hơn nữa, thân lạy Phật mà tâm khởi niệm ác, chắc chắn đọa.

     

     

     

    Trên tinh thần quán tưởng mới là quan trọng, chúng ta phải thiền quán trước thì mới thấy thân ta ở trước Phật và có Phật để chúng ta lạy. Quán được một Phật hay nhiều Phật, hay nói khác nương được lực Phổ Hiền để “nhứt thân phục hiện sát trần thân”, tức đảnh lễ không sót một vị Phật nào, thể hiện tâm thành đạt đến đỉnh cao nhất. Lạy Phật suông không có thiền quán chẳng khác gì chúng ta làm một động tác thể thao, không đạt được lợi lạc nào cho đời sống tâm linh. Lạy kèm theo thiền quán thì lạy xong nét mặt chúng ta sáng ra, vui tươi, không mệt. Mỗi lần tu, chúng ta kiểm chứng việc lạy Phật đúng hay sai bằng cách căn cứ vào kết quả sau khi lạy. Lạy nhẹ nhàng, không tháo mồ hôi, không thấy mệt, tâm hồn thanh thản, an lạc là biết chúng đã nhập tâm, cảm được mười phương Phật, nên hành lễ đạt đến siêu tự nhiên, không biết nóng lạnh, vượt được sự chi phối của ngoại duyên, thâm nhập đạo. Còn lạy Phật đổ mồ hôi đầm đìa, thở không ra hơi, tim đập dồn dập, đến mức sợ không dám lạy nữa là chúng ta đã tu sai pháp.

     

    Người tu đúng phải có kết quả tốt. Chúng ta nỗ lực huân tu Phật pháp, càng đem giáo pháp nhiều vào tâm càng tốt. Riêng tôi, nhờ siêng năng đọc tụng kinh điển, suy gẫm những việc làm cao quý của Phật và Bồ Tát càng thấy thích tu. Và sử dụng phương tiện lạy Phật song hành với thiền quán, nên thấy Phật, mới lạy được Phật, công đức mới sanh, được những điều bất tư nghì như sức khỏe lại tăng theo tuổi đời, tâm hồn an vui theo nghịch cảnh. Tu a-tăng-kỳ kiếp thứ nhất cho đến sạch nghiệp, tức đạt đến vị trí của Bồ Tát đệ bát địa, chuyển A lại da thức thành Bạch tịnh thức thì tâm không còn móng khởi điều gì nữa.

    Ðến phương tiện thứ ba, chúng ta sám hối, nhưng cũng phải kèm thea gia công thiền quán. Chúng ta thường chọn ngày 15 và 30 làm lễ sám hối, Phật gọi là ngày trưởng tịnh. Ngày 15 trăng tỏ và 30 không có trăng là thời gian mà mặt trăng ảnh hưởng đến cơ thể chúng ta, tạo thành nhiều chuyển đổI, kể cả tâm lý cũng đổi theo. Ngày ấy chúng ta không tu thì nghiệp ác dễ sanh trưởng. Vì vậy, đức Phật chọn ngày này để tu, không cho làm, sợ sanh phiền não, không phải chọn đó là ngày tốt.

     

     

     

    Chúng ta ngồi yên để kiểm điểm lại là vừa sám hối vừa tu tập thiền quán mới thực là sám hối. Có người nghĩ lạy Phật sẽ hết tội, nhưng Phật không bắt tội cũng không tha tội cho ta được. Ngài không đẩy ta vào địa ngục, cũng không đưa ta lên thiên đàng. Chúng ta không cầu xin Phật. Nhưng tại sao chúng ta lạy Phật? Lạy Phật và sám hối chính là mượn hình ảnh thánh thiện trọn lành của Phật để thay thế hình ảnh xấu ác, tội lỗi. Vì thế, tu sám hối, chúng ta phải quán được 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp của Ngài, 3.000 oai nghi, 80.000 tế hạnh, đem đức tướng ấy của Phật so với thân ô uế, tội lỗi, dễ ghét của chúng ta, để thấy rõ chúng ta phạm những sai lầm gì mà ra nông nỗi này và đức Phật tạo phước đức gì mà Ngài cao sang như vậy. Muốn biết tội đời trước, chúng ta nhìn thành quả đời này của mình. Ðời trước sát sanh hại mạng, gian tham nên đời này bệnh hoạn, yếu đuối, nghèo khó.

    Chúng ta sám tiền khiên, hối hậu quá, nghĩa là nhận ra sai lầm quá khứ và ăn năn, không tái phạm. Chúng ta theo Phật, hiện tại cứ lo làm việc tốt thì hạt giống tốt tự lên, lâu ngày điều tốt này thay cho sai lầm xấu của quá khứ. Còn chúng ta cứ sống với xấu ác quá khứ thì một thời gian sau, xấu ấy sẽ bộc phát thành hiện tại. Nếu ác nghiệp cũ không khởi hiện hành thì nó cũng bị hư hoại luôn. Kiểm chứng kết quả tu thấy chúng ta không còn giận, không còn buồn là biết chúng ta đã tiêu hủy được hạt giống xấu. Muốn hạt giống ác mất, phải trồng hạt giống tốt, là trồng căn lành bằng cách lạy Phật, sám hối. Nghĩ về Phật, về Thánh hiền, tán thán công đức các Ngài thì những điều cao quý ấy trang nghiêm tâm ta, tội lần tiêu, lòng chúng ta tự thanh thản.

    Tóm lại, tụng kinh, lạy Phật, sám hối song hành với thiền quán, chúng ta quan sát xem Phật, Bồ Tát, Thánh hiền làm gì, chúng ta tập làm theo, để điều chỉnh thân tâm chúng ta lần cho giống các Ngài. Chuyển hóa được tâm thành thánh thiện, chắc chắn hoàn cảnh cũng tự chuyển đổi tốt đẹp theo ; vì Phật dạy y báo tùy thuộc chánh báo. Nương theo những chiếc phao phương tiện mà đức Phật để lại, chúng ta hành xử lợi lạc cho mình và người để Phật pháp còn mãi trên thế gian lợi lạc chúng hữu tình.

    (Hòa Thượng Thích Trí Quảng)

    --- Bài cũ hơn ---

  • How To Get To Miễu Bà Chúa Xứ In Thủ Đức By Bus?
  • Làm Sao Để Đến Miễu Bà Chúa Xứ Ở Thủ Đức Bằng Xe Buýt
  • Miếu Bà Ở Phước Tân
  • Địa Danh “Ba Thắc Cổ Miếu”
  • Viếng Miếu Bà Thiên Hậu Ở Vĩnh Châu – Sóc Trăng
  • Kinh Nghiệm Hay Về 4 Mẫu Tượng Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát Phổ Biến.

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Thờ Cúng Phật Bà Quan Âm Bằng Đá
  • Bàn Thờ Phật Quan Âm: Ý Nghĩa, Hướng Đặt, Cách Bài Trí
  • Bàn Thờ Phật Quan Âm Treo Tường Tphcm
  • Bàn Thờ Phật Cho Chung Cư Và Biệt Thự Hiện Đại Và Đơn Giản
  • Mẫu Mới Hiện Đại Cho Chung Cư Biệt Thự √
  • Chia sẻ hữu ích về 4 mẫu tượng Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát phổ biến và kinh nghiệm thỉnh tượng phù hợp cho mọi người. Chia sẻ từ điêu khắc gia.

    Có thể nói, Phật Bà Quan Thế Âm Bồ tát chính là một trong 06 vị Bồ tát quan trọng nhất của Phật giáo Đại Thừa. 05 vị còn lại là: Địa Tạng Vương Bồ tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, Phổ Hiền Bồ tát và Di Lặc Bồ tát.

    Chúng sinh khi đang đau khổ thường hướng về Phật Bà Quan Âm để mong được chở che, dẫn dắt.

    Tượng Phật Quan Âm Bồ Tát chính là một trong những mẫu tượng Phật phổ biến được thờ nhiều nhất tại các chùa và tại nhà riêng của các Phật tử vì việc sỡ hữu một tôn tượng Phật Quan Âm là mong ước của mọi Phật tử với mong muốn gia đạo được bình an, êm ấm.

    Khi muốn tìm hiểu và lựa chọn tượng Phật Bà Quan Âm Bồ tát, đa phần quý sư thầy, cô và các cô chú Phật tử cũng có nhiều băn khoăn khi lạc vào thị trường tượng Phật đa dạng mẫu mã, chất liệu và kích thước hiện nay.

    Ở bài viết này, Trần Gia mong muốn chia sẻ những kiến thức, kinh nghiệm đã trải qua, hi vọng sẽ phần nào giúp được quý sư thầy, cô và các cô chú, anh chị Phật tử giải đáp những thắc mắc còn tồn đọng, hiểu được những kiến thức căn bản và thỉnh cho mình được những tôn tượng Phật Mẹ Quan Âm phù hợp nhất.

     

    XEM THÊM TƯỢNG QUAN ÂM ĐẸP NHẤT DO ĐIÊU KHẮC TRẦN GIA TÔN TẠO

    I/  Đầu tiên, cùng tìm hiểu sơ lược về các mẫu tượng Phật bà Quan Thế Âm Bồ tát thường gặp:

    1/ Mẫu tượng Phật Bà Quan Âm đứng ( hoặc ngồi ) đài sen:

    • Sen là loài hoa sống trong bùn đất nhơ nhớp, thế nhưng vẫn luôn vươn cao ngẫng đầu và tỏa hương thơm ngào ngạt với nét đẹp tinh khiết và hoa sen được xem là biểu trưng của Phật.
    • Hình ảnh tượng Quan Âm Bồ Tát đứng ( hoặc ngồi ) đài sen với ý nghĩa cứu khổ, cứu nạn, phổ độ chúng sinh ở cõi đời tràn lan đau khổ, tai ương về với cuộc sống thanh bình.

    2/ Tượng Quan Âm Tự Tại:

    • Quán Tự Tại là một trong những danh xưng của Quan Thế Âm Bồ Tát với ý nghĩa “chỉ cần biết quán chiếu chính mình, nhận chân được rõ ràng chính mình, thì lúc đó bản thân đã có thành tựu được Tự Tại rồi”.
    • Tượng Quan Âm Tự Tại thường được diễn tả bằng hình ảnh Phật Bà Quan Âm ngồi gác chân phải trên đá, sen và nước và rất… Tự Tại.

    Tượng Mẹ Quan Âm ngồi trên sóng nước sơn bằng nhựa composite sơn giả đồng.

    3/ Mẫu tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay ( tượng Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn ):

    Tượng Phật Quan Âm nghin mắt nghìn tay bằng đồng

    • Phật Bà Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn còn có tên gọi là Thiên Thủ Thiên Nhãn Thập Nhất Diện Quán Thế Âm được biểu hiện do do Đại Nguyện từ bi cứu nạn cho tất cả chúng sinh trong thế giới của Quan Thế Âm Bồ tát với hình ảnh ngài có: 11 cái đầu, 1000 cánh tay, với một con mắt trên mỗi bàn tay. Trong đó:

    + Thiên Nhãn biểu thị cho 1000 vị Phật ở quá khứ.

    + Thiên Thủ biểu thị cho 1000 vị Phật ở hiện tại.

    • Theo Thập Nhất Diện Thần Chú Tâm Kinh Nghĩa Sơ ý nghĩa của 11 mặt Phật:

    + 03 mặt phía trước có tướng hiền lành ( Đại Từ ) biểu thị cho việc nhìn thấy chúng sinh hiền thiện mà sinh tâm Từ.

    + 03 mặt bên trái có tướng giận dữ ( Đại Bi ) biểu thị cho việc nhìn thấy chúng sinh ác độc mà sinh tâm Bi.

    + 02 mặt bên phải có tướng ló răng nanh biểu thị việc nhìn thấy kẻ có Tịnh Nghiệp liền phát lời khen hiếm có, siêng năng tịnh tiến  trong Phật đạo

    + 01 mặt phía sau có tướng Bạo Đại Tiếu biểu thị việc nhìn thấy chúng sinh Thiện Ác Tạp Tuế mà sinh nụ cười quái dị, sửa ác hướng theo đạo.

    + 01 mặt trên cùng có tướng Như Lai biểu thị sự Mãn Túc Nguyện.

    4/ Tượng Phật Quan Âm Trụ Long Quá Hải ( tượng Quan Âm cưỡi rồng):

    Mang ý nghĩa Phật Bà Quan Âm cầm bình Cam Lộ đứng trên Rồng lướt trên biển khổ , cứu độ chúng sinh , giúp tiêu trừ Tam Độc Tham Sân Si .

    Hình tượng Phật Quan Âm cưỡi rồng ( tượng Phật Mẹ Nam Hải )

    (hình ảnh sưu tầm internet)

    II / Khi thỉnh tượng Phật bà Quan Thế Âm Bồ tát, đầu tiên cần xác định tượng Phật được thỉnh để thờ ở chùa hay nhà riêng?

    1/ Thỉnh tượng Phật Bà Quan Âm thờ ở chùa sẽ chia ra 02 vị trí chính:

    a/ Tượng Phật Quan Âm đặt trong chánh điện:

    • Thông thường, tượng Phật Bà Quan Âm đặt bên trái, tượng Phật Bổn Sư chính giữa, tượng Phật Địa Tạng Vương Bồ Tát sẽ được đặt bên phải với kích thước tổng thể của tượng ( bao gồm tượng Phật , đài sen , hào quang ) sẽ dao động từ 1 mét đến 2,5 mét ( tượng Địa Tạng Vương và tượng Phật Bà Quan Âm sẽ có sự đồng điệu về kích thước ).
    • Các chất liệu thông dụng để làm tượng là:  đồng, nhựa composite, gỗ…
    • Tượng có thể có hoặc không có hào quang ( lá bồ đề ) phía sau.

    b/ Tượng Phật Bà Quan Âm đặt ngoài trời:

    • Tượng thường có dáng đứng trên đài sen, có thể có kích thước từ vài mét đến vài chục mét tùy theo vị trí, diện tích và ngân sách thỉnh tượng của chùa.
    • Chất liệu thông dụng để tạc tượng: xi măng, nhựa composite, đá… ( lưu ý với chất liệu đá sẽ bị hạn chế, rất khó để tìm được những phôi đá đáp ứng được kích thước quá lớn ).
    • Cách đặt tượng Phật Bà Quan Âm ngoài trời: nên chọn vị trí trang nghiêm nhất và là nơi mọi người dễ chiêm bái.

    2/ Thỉnh tượng Phật Bà Quan Âm Bồ tát thờ tại gia:

    Tượng Quan Âm Bồ Tát nhỏ được thỉnh thường có kích thước dao động từ 30cm đến 100cm tùy vào diện tích phòng thờ của gia chủ hoặc dao động từ 100cm đến 200 cm nếu đặt trên sân thượng, ngoài trời… Các chất liệu thông dụng để tạc tượng Phật như: đồng, gỗ, nhựa composite, bột đá, gốm sứ… với ngân sách từ vài trăm ngàn đến vài chục triệu tùy theo chất liệu và kích thước của tượng Phật. Thường các Phật tử thờ tượng Phật Bà Quan Âm ngoài trời hoặc trên sân thượng.

    3/ Thỉnh tượng Phật đặt trong xe hơi ( xe ô tô ):

    Đa phần các Phật tử đều thỉnh cho mình một tượng Phật Quan Âm nhỏ có kích thước khoảng dưới 20 cm bằng các chất liệu như : gỗ, bột đá, gốm sứ, nhưa composite… Tượng được đặt trên taplo xe hơi hoặc treo phía trên với mục đích có Đức Phật chở che, mang lại cảm giác yên tâm, an toàn, vững tay lái trên mọi nẻo đường.

    III / Xác định ngân sách thỉnh tượng để lựa chọn những chất liệu, kích thước tượng Phật phù hợp nhất trong khoảng ngân sách của mình:

    • Cùng một kích thước nhưng chỉ cần thay đổi về chất liệu, chi phí thỉnh tượng đã có thể tăng lên gấp nhiều lần.
    • Vd: cùng 1 tượng Phật kích thước 150 cm từ nhựa composite chuyển sang đồng chi phi có thể tăng lên gấp hàng chục lần.
    • Cần chú ý vấn đề vận chuyển: cơ sở sản xuất, cửa hàng cung cấp tượng Phật vận chuyển về nơi an vị tượng có được miễn phí vận chuyển? Hỗ trợ 1 phần chi phí vận chuyển hay tính phí vận chuyển? Để xác định các chi phí phát sinh có thể làm chậm trễ thời điểm đã định để an vị tượng Phật.

    IV / Xác định thời gian sản xuất tượng Phật có đáp ứng được ngày an vị tượng đã định sẵn hay không?

    • Đối với các mẫu tượng Phật Bà Quan Âm Bồ tát có kích thước phổ biến, một số cơ sở cung cấp tượng Phật đã có tượng sẵn, chúng ta chỉ việc thỉnh tượng Phật về ngay.
    • Một số cơ sở sản xuất chỉ làm theo đơn đặt hàng để đảm bảo tượng luôn mới và hoàn hảo nhất. Thời gian sản xuất có thể dao động tùy vào số lượng đơn hàng tại thời điểm đó của cơ sở điêu khắc tượng Phật.
    • Đối với tượng Phật có kích thước lớn hoặc tượng có kích thước đặc biệt, việc sản xuất tượng Phật sẽ trải qua nhiều công đoạn: tạo mẫu, đổ khuôn, làm nguội, sơn vẽ… nên thời gian sẽ kéo dài hơn nhiều, thông thường sẽ mất vài tháng, có khi vài năm để hoàn thành.

    V / Dựa vào chất liệu, ngân sách, thời gian đã định ở trên để lựa chọn cơ sở sản xuất, cửa hàng cung cấp tượng Phật phù hợp nhất:

    • Thông thường, mỗi nơi sản xuất tượng Phật chỉ sản xuất chuyên về một chất liệu sở trường.
    • Cũng có một số cơ sở lớn với nguồn nhân sự lành nghề có thể đảm nhận luôn những chất liệu khác nhau khi khách hàng yêu cầu.
    • Quy trình sản xuất ở các cơ sở hầu hết đều giống nhau, sự khác biệt quan trọng nhất đến từ những điêu khắc gia, nghệ nhân ở khâu tạo mẫu tượng Phật để tạo ra được những tác phẩm có hồn, thần thái và nét riêng của cơ sở mình.
    • Mỗi người thợ tạo mẫu đều có cái nhìn, cái tâm và tài năng khác nhau nên hầu như tạo ra những tác phẩm rất riêng biệt. Dù cách nhận xét về tác phẩm của mỗi người không giống nhau, có thể tích cực hoặc tiêu cực, nhưng chúng ta cũng không nên phủ nhận tâm huyết của người thợ đặt trong mỗi tác phẩm.

    VI / Xác định phương thức thanh toán tại cơ sở điêu khắc, cửa hàng mua bán tượng Phật:

    • Đối với những tôn tượng có sẵn, chúng ta chỉ việc thanh toán và thỉnh tượng về hoặc đặt cọc và thanh toán phần còn lại khi tượng được vận chuyển đến nơi an vị.
    • Đối với những tôn tượng phải làm theo đơn đặt hàng, chúng ta sẽ tạm ứng một phần để cơ sở tiến hành sản xuất và thanh toán phần còn lại khi đã nhận được tượng đúng với yêu cầu.
    • Đối với những tôn tượng có kích thước lớn và giá trị cao, phần thanh toán có thể chia nhỏ ra nhiều phần hơn nữa theo từng công đoạn. Giá trị thanh toán bao nhiêu sẽ tùy thuộc vào việc trao đổi giữa cơ sở sản xuất và bên thỉnh tượng Phật để phù hợp nhất.

    VII / Cùng chiêm ngưỡng nét chân dung tượng Phật Bà Quan Âm Bồ tát đẹp nhất do cơ sở điêu khắc tượng Phật Trần Gia tôn tạo:

    Mẫu tượng Phật Bà Quan Thế Âm Bồ tát đứng đài sen bằng nhựa composite sơn vẽ, dát vàng chi tiết.

    Mẫu tượng Quan Âm Bồ Tát đẹp đứng trên mây nước sơn vẽ rất tinh xảo.

    Mẫu tượng Quan Âm lộ thiên sơn trắng đơn giản.

    Tượng Quan Âm Bồ tát đứng đài sen kích thước nhỏ sơn vẽ, dát vàng.

    Tượng Phật Bà đứng đài sen nhựa composite sơn màu xanh biển.

    Mẫu tượng Quan Âm lộ thiên cao 370 cm sơn màu trắng.

    Cùng chiêm ngưỡng cận cảnh chân dung tượng Phật Bà Quan Thế Âm Bồ tát.

    Tượng Phật Bà Quan Âm bằng composite sơn vẽ rất tinh xảo.

    Tượng Quan Âm tự tại đẹp

    Cơ sở điêu khắc tượng Phật Trần Gia tự hào là đơn vị chuyên nghiệp hàng đầu tại Việt Nam trong lĩnh vực tôn tạo , sản xuất những tượng Phật đẹp với chất lượng cao, là nơi bán tượng Phật Quan Âm cao cấp, đa dạng kích thước, mẫu mã. Chúng tôi hân hạnh được phục vụ rất nhiều khách hàng trong nước và quốc tế.

    Xin mời quý Phật tử cùng chiêm ngưỡng video tổng hợp những hình ảnh tượng Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát đẹp nhất của Trần Gia.

    Cửa hàng bán tượng Phật Quan Âm của điêu khắc Trần Gia đã nhận được rất nhiều nhận xét tích cực và sự tán dương vì tôn tượng thể hiện được thần thái, dung mạo của Đức Phật.

     

    XEM THÊM TƯỢNG QUAN ÂM ĐẸP NHẤT DO ĐIÊU KHẮC TRẦN GIA TÔN TẠO

     

    Nhận xét tích cực từ quý khách hàng của cơ sở điêu khắc tượng Phật Trần Gia:

     

    CƠ SỞ ĐIÊU KHẮC TRẦN GIA.

    Chuyên Tư Vấn – Thiết Kế – Thi Công Các Công Trình Nghệ Thuật 

    Đa Dạng Kích Thước – Đa Dạng Chất Liệu .

    Trụ sở chính :  27 Đường số 1, khu phố 5, P. Hiệp Bình Phước, Q. Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh

    Lâm Đồng      : 57 Nguyễn Chí Thanh, Nghĩa Lập, Đơn Dương, Lâm Đồng

    Website          : dieukhactrangia.com

    Hotline            : 0931.47.07.26

    ​Email               : [email protected]

    Hãy liên hệ cửa hàng bán tượng Phật Quan Âm của Trần Gia để được tư vấn và giải đáp thắc mắc mua tượng Phật Bà Quan Âm ở đâu ?  tượng Mẹ Quan Âm giá bao nhiêu?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Đặt Tượng Quan Âm Ngoài Trời
  • Thờ Tượng Phật Tại Gia: Điều Cấm Kỵ?cách Sắp Xếp Vị Trí 2022
  • Cách Bố Trí Bàn Thờ Phật Hợp Phong Thủy
  • 100 Mẫu Bàn Thờ Phật Đẹp Nhất
  • Cách Thức Thờ Phật & Thờ Gia Tiên
  • Văn Khấn Đức Quán Thế Âm Bồ Tát

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Quán Thế Âm Bồ Tát Ở Chùa
  • Văn Khấn Lễ Đức Quan Thế Âm Bồ Tát (Phật Bà Quan Âm)
  • Văn Khấn Lễ Đức Quan Thế Âm Bồ Tát (Phật Bà Quan Âm) Đầy Đủ Nhất
  • Ý Nghĩa Ba Ngày Vía Của Bồ Tát Quán Thế Âm
  • 19/02 Ý Nghĩa Nhân Ngày Vía Quan Thế Âm Bồ Tát
  • Văn khấn Đức Quán Thế Âm Bồ Tát

    Bài văn khấn Phật bà quan âm

    Cách cúng phật bà Quan Âm

    Trong tín ngưỡng của người Việt thì Phật bà quan thế âm bồ tát chính là Mẹ hiền cứu giúp cho những ai đang gặp khổ đau, cuộc sống bế tắc. chúng tôi xin giới thiệu tới các bạn Văn khấn cúng và cách cúng trong lễ Đức Quán Thế Âm Bồ Tát chuẩn nhất.

    Ý nghĩa lễ Quán Thế Âm Bồ Tát

    Ngày nay, theo nếp xưa người Việt Nam ở khắp mọi miền đất nước hàng năm vẫn đi lễ, đi trẩy Hội ở các Chùa vào các ngày lễ, tết, tuần tiết, sóc, vọng và ngày Hội, để tỏ lòng tôn kinh, ngưỡng mộ biết ơn Phật, Bồ Tát, Thánh Tăng cùng Thần linh.

    Nơi thờ tự còn là những nơi sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng. Con người hy vọng rằng bằng những hành vi tín ngưỡng, có thể cầu viện đấng linh thiêng phù hộ cho bản thân, cùng gia đình, cộng đồng được an khang, thành đạt và thịnh vượng, yên bình, hóa giải vận hạn, biến hung thành cát, giải trừ tội lỗi…

    Lễ vật cúng lễ Quán Thế Âm Bồ Tát

    Theo phong tục cổ truyền khi đến Chùa nên có lễ vật có thể to, nhỏ, nhiều, ít, sang, mọn tuỳ tâm.

    – Lễ Chay: Gồm hương hoa, trà, quả, phẩm oản… dùng để lễ ban Phật, Bồ Tát.

    Hạ lễ sau khi lễ Quán Thế Âm Bồ Tát

    Sau khi kết thúc khấn, lễ ở các ban thờ, thì trong khi đợi hết một tuần nhang có thể viếng thăm phong cảnh nơi thừa tự, thờ tự.

    Khi thắp hết một tuần nhang có thể thắp thêm một tuần nhang nữa. Thắp nhang xong, vái 3 vái trước mỗi ban thờ rồi hạ sớ đem ra nơi hoá vàng để hoá.

    Văn khấn lễ Quán Thế Âm Bồ Tát

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô Đại từ, Đại bi Linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát.

    Kính lạy Đức Viên Thông giáo chủ thùy từ chứng giám.

    Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm …..

    Tín chủ (chúng) con là: …………………

    Ngụ tại: ……………………………

    Thành tâm đến trước Phật đài, nơi điện Đại bi, kính dâng phẩm vật, hương hoa kim ngân tịnh tài, ngũ thể đầu thành, nhất tâm kính lễ dưới Toà sen hồng.

    Cúi xin Đức Đại Sỹ không rời bản nguyện chở che cứu vớt chúng con như mẹ hiền phù trì con đỏ. Nhờ nước dương chi, lòng trần cầu ân thanh tịnh, thiện nguyện nêu cao. Được ánh từ quang soi tỏ, khiến cho nghiệp trần nhẹ bớt, tâm đạo khai hoa, độ cho đệ tử cùng gia đình bốn mùa được chữ bình an, tám tiết khang ninh thịnh vượng, lộc tài tăng tiến, gia đạo hưng long, mầm tai ương tiêu sạch làu làu, đường chính đạo thênh thang tiến bước. Cầu gì cũng được, nguyện gì cũng thành.

    Dãi tấm lòng thành, cúi xin bái thỉnh.

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Điều Cần Chú Ý Trong Văn Khấn Và Thực Hiện Lễ Cúng Phóng Sinh Rằm Tháng 7
  • Bài Văn Khấn Cúng Phóng Sinh Tại Nhà Và Cách Cúng Phóng Sinh
  • Văn Khấn Rằm Tháng 7, Cúng Chúng Sinh, Phóng Sinh Tại Gia Chuẩn Nhất
  • Tổng Hợp Các Bài Văn Khấn Trong Tang Lễ Việt Nam (Phần Ii)
  • Văn Khấn Khi Đi Phủ Tây Hồ
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100