Bài Khấn Trước Khi Phóng Sanh

--- Bài mới hơn ---

  • Bài Cúng Ở Phủ Tây Hồ
  • Văn Khấn Bài Cúng Khi Đi Lễ Phủ Tây Hồ Cầu Tài Lộc
  • Bài Cúng Chuyển Văn Phòng Mới ( Chuẩn Văn Khấn Nhất)
  • Cách Thờ Cúng Phật Di Lặc Như Thế Nào Để Đúng Phong Thủy Nhất ?
  • Cách Thờ Cúng Phật Di Lặc Sao Cho Phù Hợp Phong Thủy Nhất
  • Con vật cũng như người

    Đều sợ đau và chết

    Hãy nuôi dưỡng yêu thương

    Chớ giết, chớ bảo giết

    Trước hết ta phải hiểu

    Phóng sinh là gì ?

    Phóng sinh là giải phóng, thả tự do, cứu với sinh mạng của chúng sinh đang bị giam giữ và sắp bị tước đoạt mạng sống.

    Phóng sinh để làm gì?

    • Phóng sinh không phải là thấy mình thiện hơn người khác, thấy mình tốt hơn người khác mà thấy mình còn có nhiều lỗi hơn người khác, cần phải sửa đổi nhiều hơn.
    • Phóng sinh để ta tập dần khai mở lòng từ bi trong tâm thức của mình. Hun đúc dần những thói quen thiện nghiệp để các thói quen ác nghiệp dần dần được nhẹ nhàng đi.

    Mỗi một giai đoạn tu con người ta sẽ có sự nhận thức và hành động ở một chiều suy nghĩ khác.

    Thời gian phóng sinh tốt nhất ?

    Chúng ta đi phóng sinh trong bất cứ hoàn cảnh nào khi thấy ta có duyên. Có thể là thời gian rỗi như cuối tuần, hoặc ta đi ngoài đường bất chợt ta nhìn thấy và khởi tâm muốn cứu sống sinh mạng đó. Ăn chay được 1 ngày cũng là đang phóng sanh, đi đường gặp bất kỳ con vật gì đang nguy cấp phát tâm cứu giúp ngay thời điểm đó là tâm phóng sanh rồi.

    Các con vật phóng sinh không bắt buộc phải là con vật nào, mà cái này là tùy duyên và tâm khởi của mình. Tuy nhiên có 1 nguyên tắc, khi đã phóng sinh rồi thì không nên ăn lại các con vật mà ta đã khởi tâm cứu sinh mạng của chúng (đối với những người vẫn còn ăn mặn). Vấn đề chay mặn chúng tôi sẽ viết ở một phần khác.

    Không nên đặt trước đồ để phóng sinh, mà tùy duyên, có gì ta mua đó, nhiều hay ít tùy thuộc vào khả năng và tâm thức cả ta, chứ không bắt buộc là phải mua nhiều hay mua ít.

    Bài khấn xin trước khi phóng sinh

    Công đức phóng sanh lớn, phóng sanh là đồng nghĩa cứu 1 hoặc nhiều sinh mạng. Nhưng quy y cho vật trước khi phóng sinh mới là điều đáng quý. Đặc biệt, hướng tâm và niệm Phật cho loài vật mình phóng sinh. Chúng tu tâm tích đức đủ duyên được đầu thai lên làm người thì công đức đó người phóng sinh được hưởng.

    Khi đi phóng sinh cũng không nhất thiết cứ phải lễ bái rườm rà, không cần hương, khói, bầy đàn rầm rộ, mà là từ chính tâm của người phóng sinh phát ra.

    Ta chỉ cần khởi tâm và đọc như sau:

    Bài 1: Khấn nôm đơn giản trước khi phóng sinh

    Ngày hôm nay:….

    … Con tên là….

    … Địa chỉ tại….

    … Nay con xin phát nguyện phóng sinh cho ( con vật gì phóng sinh thì khấn rõ ví dụ như chim, cá, ốc…v.v)

    … Sau đó thì các bạn niệm : NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT 5, 10, 15, 20 phút trước những con vật phóng sinh đó. Như thế phóng sính sẽ trọn vẹn và đúng ý nghĩa. Nếu các bạn có tâm nguyện khấn cầu gì cho bản thân hay cho người thân hay con vật phóng sinh thì các bạn khấn. Còn không thì các bạn chỉ cần thành tâm niệm Phật là được.

    Bài 2: Khấn trước khi phóng sinh

    “Con xin Hội Đồng các đấng thiêng liêng cao cả, Hội đồng chư Phật, Hội đồng chư Thánh, Hội đồng chư Thiên, Hội đồng các quan, chư thần cùng các vị Thủy thần có trách nhiệm cai quản nơi đây. Con tên là………………….. sinh năm………………. hiện tại đang ở ………………….

    Hôm nay con khởi tâm đi mua……………. để phóng sinh, con xin các Ngài chứng tâm. Con xin cho tất cả các chúng sinh…………. được sống trong lẽ tự nhiên và cũng được chết trong lẽ tự nhiên. Không chết bởi bàn tay chặt chém của con người, để thỏa mãn thú vui ăn uống. Con khởi tâm giúp cho chúng sinh được nhẹ nhàng, để những kiếp sau đầu thai lên cảnh giới thân phận cao để nhận thức tâm linh tốt hơn. Con xin hồi hướng công đức này cho tất cả chúng sinh trong tam giới đều được nhận thức, giác ngộ và lợi lạc. Xin Hội đồng các Ngài gia hộ cho chúng con tỉnh giác tu tập.”

    Mọi người chú ý khi phóng sinh

    • Không phóng sinh ở nơi ao tù, nước đọng
    • Không phóng sinh ở nơi mà ta nhìn thấy họ chuẩn bị bắt lại những chúng sinh ta thả.
    • Mọi người chịu khó 1 tuần 1 lần phóng sinh vào thứ 7 hoặc chủ nhật hoặc rỗi lúc nào thì ta làm lúc đó.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Cúng Phật Hàng Ngày
  • Bài Văn Đọc Khi Cúng Phóng Sinh
  • Tục Cúng Ghe, Nét Đẹp Tâm Linh Ở Miền Tây Sông Nước Nam Bộ
  • Tín Ngưỡng Thờ Cúng Và Điều Cấm Kỵ Trên Sông Nước
  • Lễ Cúng Ở Vùng Ba Sông
  • Phương Pháp Phóng Sanh Đơn Giản

    --- Bài mới hơn ---

  • Sư Thầy Chỉ Cách Phóng Sinh Ngày Rằm Tháng Giêng Để Được Phúc Đức
  • Thế Nào Là Phóng Sinh? Mua Chim, Cá Về Thả Có Được Gọi Là Phóng Sinh?
  • Phóng Sanh Như Thế Nào Mới Có Ý Nghĩa Và Đúng Chánh Pháp
  • Phóng Sanh Như Thế Nào Mới Đúng Ý Nghĩa ?
  • Phóng Sinh Như Thế Nào Mới Đúng Tinh Thần Nhà Phật?
  • Lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam nói về việc giới sát phóng sinh như sau: “Chúng sinh từ xưa nay không dứt nổi nghiệp giết hại, ai ai cũng phạm vào việc sát sinh. Sát sinh có thể chia làm hai loại: Một là trực tiếp, hai là gián tiếp. Trực tiếp là tự mình giết hại chúng sinh, cắt xẻo lấy da thịt mà làm thức ăn. Gián tiếp là vì mình ăn thịt chúng sinh nên khiến cho người khác phải làm việc giết hại để phục vụ mình.

    “Cái nhân tạo ra của hai loại sát sinh này tích tụ lâu ngày, gặp duyên thì kết thành cái quả của nạn đao binh, chiến tranh. Có người cho rằng, muốn cứu vãn nạn chiến tranh thì phải làm nhiều việc thiện như sửa cầu, làm đường… Lời nói như vậy không thể tin cậy được. Bởi vì nay phải chịu nạn đao binh chẳng phải do cái nhân quá khứ phá hoại cầu cống, đường sá. Nay muốn lấy việc làm đường, sửa cầu cống mà giải trừ, thì là hai việc hoàn toàn khác nhau.

    “Tôi xin đem phương pháp phóng sinh đơn giản nói với các vị: Trước tiên phải gia trì chú Đại bi vào một ly nước sạch, rồi rưới lên mình chúng sinh được phóng sinh, miệng niệm bài sám hối như sau:

    Chúng con xưa nay tạo ác nghiệp

    Đều do ba độc tham, sân, si

    Từ thân, miệng, ý mà sinh ra

    Nay đối trước Phật cầu sám hối.

    “Sau khi niệm như vậy ba lần rồi, lại vì những súc sinh ấy mà niệm Tam quy y:

    Quy y Phật

    Quy y Pháp

    Quy y Tăng

    Quy y Phật không đọa địa ngục

    Quy y Pháp không đọa ngạ quỷ

    Quy y Tăng không đọa súc sinh

    “Tại sao đối với chúng sinh phải nói Tam quy y? Bởi vì tất cả chúng sinh đều có hai cái mạng: Một là thân mạng, hai là huệ mạng. Phóng sinh chẳng những cứu lấy thân mạng, mà cũng nên cứu lấy cái huệ mạng của chúng. Nói Tam quy y cho chúng nghe là tạo nhân lành cho chúng, nếu nghe mà nhận được thì đời sau sẽ không phải rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Nếu được thân người thì có thể phát tâm Bồ-đề, tin sâu Phật pháp, sẽ có khả năng thành Phật. Đây tức là cứu cái huệ mạng của chúng.”

    Pháp sư Viên Nhân dạy rằng: “Tật bịnh, ung thư, tai nạn… sở dĩ có thể bất hạnh sinh ra là duyên nơi nghiệp giết hại trước kia chúng ta đã tạo nên mà chiêu cảm lấy quả báo này. Phương thức giải quyết chính là phóng sinh. Nhờ vào việc bỏ tiền, bỏ sức để cứu mạng phóng sinh nên có thể đền trả vô số món nợ sát sinh trước kia mà chúng ta đã thiếu.

    “Điều quý báu nhất của mỗi chúng sinh đều là mạng sống. Giết hại chúng thì chúng oán hận nhất, oan cừu kết sâu nhất, cho nên nói nghiệp giết hại là nặng nhất. Ngược lại, cứu sống được chúng thì chúng cảm kích nhất, tạo được nhiều phước thiện nhất, cho nên nói công đức phóng sinh là đệ nhất.

    “Những ai phê phán, hủy báng việc phóng sinh, hoặc cản trở nghi ngờ việc phóng sinh cần phải lưu ý. Vì cản trở người phóng sinh thì cũng giống như sát sinh, khiến cho hàng ngàn hàng vạn sinh mạng không được giải cứu, phải hàm oan mà chết. Tội lỗi đó thật là vô lượng vô biên. Nhất định phải gấp rút sám hối, sửa lỗi, nếu không thì khổ hình nơi địa ngục nhất định không tránh khỏi.”

    Trích lục từ Phóng Sanh Vấn Đáp của PS Viên Nhân

    Giọng đọc của cư sĩ Thanh Trí

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Cúng Phóng Sinh Rằm Tháng Giêng Và Những Điều Cần Biết
  • Tết Ông Công, Ông Táo: Hiểu Đúng Để Có Ngày Tết Ý Nghĩa
  • Phong Tục Cúng Ngày Ông Công Ông Táo Có Gì Đặc Biệt?
  • Những Điều Ít Biết Về Tục Cúng Ông Công, Ông Táo
  • 5 Lưu Ý Khi Cúng Ông Công Ông Táo Năm 2022
  • Công Đức Phóng Sanh Không Thể Nghĩ Bàn

    --- Bài mới hơn ---

  • Cúng Dường, Nhận Cúng Dường Đúng Pháp
  • Cúng Rằm Tháng 7 Thế Nào Cho Đúng Với Tư Tưởng Của Đạo Phật
  • Cúng Dường Người Đã Khuất
  • Thừa Thiên Huế: Chùa Từ Lâm Tổ Chức Pháp Hội Trai Tăng Cúng Dường
  • Hướng Dẫn Cách Xem Ngày Tốt Chuyển Nhà Trong Năm 2022
  • LỜI NÓI ĐẦU

    LỜI NÓI ĐẦU

    Giáo lý của đạo Phật tuy rất sâu xa mầu nhiệm nhưng cũng vô cùng thiết thực, gần

    gũi; tuy nói tánh không, giải thoát, nhưng cũng không rời sự sống của muôn loài;

    tuy nói hành thiền, quán tịnh, nhưng nhất cử nhất động cũng đều vì lợi ích của

    tất cả chúng sanh. Bậc chân tu giác ngộ từ xưa nay chưa từng nghĩ đến việc lìa

    khỏi chúng sanh phiền não, để riêng mình được phần giải thoát. Chính đức Phật

    Thích Ca cũng từng thị hiện trải qua biết bao khó nhọc, suốt bốn mươi chín năm

    không một phút nghỉ ngơi để rộng truyền Chánh Pháp khắp nơi.

    Vì thế, đạo giải thoát không phải chỉ ở nơi thâm sơn cùng cốc, mà luôn hiển hiện

    quanh ta. Ngày nào chúng ta chưa thấy được điều ấy, chưa vận dụng được những lời

    dạy của đức Phật vào ngay trong cuộc sống hằng ngày, thì chúng ta chưa thể thực

    sự hưởng được phần lợi ích vô biên của giáo pháp. Và cũng vì thế, việc nghe hiểu

    được giáo pháp là điều vô cùng quý báu, nhưng vẫn chưa thể nào so sánh được với

    giá trị của việc thực hành giáo pháp. Chỉ có thực hành giáo pháp mới mang lại sự

    an vui lợi lạc cho chính ta và mọi người quanh ta; chỉ có thực hành giáo pháp

    mới giúp ta trực tiếp cảm nhận được những ý nghĩa sâu xa và mầu nhiệm trong từng

    lời dạy của đức Thế Tôn; và chỉ có thực hành giáo pháp mới có thể giúp ta xa lìa

    những khổ đau của thế tục, ngày một tiến gần hơn đến cảnh giới an lạc, giải

    thoát. Những ai có may mắn được tiếp xúc với giáo pháp, được đọc hiểu giáo pháp,

    nhưng nếu không tự mình thực hành thì cũng chẳng khác nào kẻ đếm tiền giúp cho

    người khác, trọn đời không có được chút giá trị quý báu nào cho chính mình.

    Trong vô số những pháp môn phương tiện mà đức Phật đã từng chỉ dạy, chỉ có

    phương pháp phóng sanh là dễ thực hành nhất, mà có thể sớm mang lại hiệu quả

    nhất. Sở dĩ như vậy, vì phóng sanh là trực tiếp giải cứu sinh mạng cho chúng

    sanh, mà sinh mạng lại chính là giá trị cao cả nhất, được trân quý nhất của tất

    cả chúng sanh. Giải cứu được sinh mạng cho chúng sanh tức là giúp chúng sanh giữ

    lại được cái giá trị cao cả nhất, đáng trân quý nhất. Như vậy, thử hỏi còn có

    việc làm nào ý nghĩa hơn, đáng làm hơn chăng? Chỉ một việc phóng sanh đơn giản

    dễ làm mà có thể gieo được cái nhân lành thù thắng không gì so sánh được, đó là

    cứu vớt sinh mạng cho những chúng sanh sắp phải nhận lấy cái chết. Dù là xét

    theo lý lẽ thường tình của thế gian hay theo giáo pháp nhân quả của Phật dạy,

    cũng đều có thể thấy được là việc làm ấy đáng trân trọng biết bao nhiêu, chắc

    chắn sẽ mang lại kết quả to lớn biết bao nhiêu!

    Mặc dù vậy, trong thực tế cũng có nhiều người không thấy được những ý nghĩa rất

    thiết thực của việc phóng sanh. Họ biện luận vòng vo, đưa ra lý này lẽ khác,

    luôn cho rằng việc phóng sanh thực ra chẳng có ý nghĩa gì!!! Vì sao vậy? Điều

    không thể phủ nhận là thói quen giết hại của con người từ xưa đến nay đã quá

    nặng nề. Có khi giết để ăn thịt, có khi giết để lấy da, xương, lông, sừng… và

    các bộ phận khác của thú vật mà sử dụng, nhưng cũng lắm khi giết hại chỉ vì lòng

    hiếu sát, chỉ vì để mua vui, giải trí trong chốc lát… Than ôi! Những kẻ xem

    thường sinh mạng muôn loài như thế ngày nay thật nhiều không kể xiết, mà người

    thực hành phóng sanh chỉ lác đác như đếm được trên đầu ngón tay. Vì thế, mặc cho

    có những người tích cực phóng sanh, mà số loài vật bị giết hại vẫn dường như

    không thấy giảm thiểu chút nào! Chính vì nhìn thấy thực trạng như vậy mà rất

    nhiều người đã nản lòng thối chí, cho rằng những nỗ lực phóng sanh chẳng qua

    cũng chỉ như dã tràng xe cát, nào có ích lợi gì!

    Nhưng cách suy nghĩ như thế thật là cạn cợt và vô lý. Cho dù kẻ giết hại nhiều,

    người phóng sanh ít, cũng không thể vì thế mà chúng ta lại bỏ đi việc làm tốt

    đẹp của chính mình. Ví như sau một trận động đất, người chết nhiều như rơm rạ,

    mà người còn sống sót chẳng có bao nhiêu, dù nỗ lực suốt ngày trời chẳng qua

    cũng chỉ tìm cứu được một vài sinh mạng. Nhưng cũng không thể vì thế mà bỏ đi

    công việc tìm kiếm cứu nạn. Hơn nữa, lại càng phải dốc sức đào bới, tìm kiếm

    tích cực hơn, may ra còn có thể kịp thời cứu sống được những nạn nhân khốn khổ

    đang bị đè trong đất đá. Cũng vậy, đồng loại của chúng ta càng ra sức giết hại,

    thì ta càng phải tích cực hơn trong việc phóng sanh, hầu có thể cứu chuộc được

    phần nào những tội lỗi nặng nề mà những kẻ si mê kia đang ngày đêm tạo tác.

    Mặt khác, cũng có không ít người mang nặng ý tưởng phân biệt giữa sự sống của

    con người với sự sống của loài vật. Họ cho rằng chỉ có con người mới thực sự có

    quyền được sống, còn loài vật sinh ra vốn chỉ để phục vụ đời sống con người (!),

    dù có giết chết bao nhiêu con vật cũng chẳng có gì là tội lỗi! Thật ra, những

    lập luận như thế thường chỉ là tự dối gạt chính mình, để bảo vệ cho việc làm sai

    trái của mình mà thôi. Vì hầu hết những người đưa ra lập luận như thế nhưng khi

    nhìn thấy cảnh những con vật bị giết chết, bị hành hạ đau đớn, cũng đều không

    thể dửng dưng vô sự, mà đều có sự động tâm thương xót tự trong sâu thẳm của lòng

    mình. Sở dĩ như thế là vì sự sống vốn không hề có phân biệt, cho dù là những con

    vật nhỏ hay lớn, sống trên cạn hay dưới nước, cũng đều biểu lộ những phẩm tính

    hoàn toàn giống nhau đối với sự sống còn. Tất cả đều thực hiện ham sống sợ chết,

    đều biết sợ hãi, đau đớn, mừng vui, yêu thương, oán giận… Như thế thì dựa vào

    đâu để tự cho rằng chỉ có con người mới có quyền được sống? Hơn nữa, nếu như

    trên thế giới này chỉ còn lại duy nhất loài người, liệu chúng ta có vui sống

    được hay chăng?

    Thật ra, muốn thấu hiểu mọi ý nghĩa sâu xa của việc phóng sanh cũng không phải

    là việc dễ dàng. Vì thế, các vị Tổ Sư từ xưa nay đã có không ít vị dành trọn

    cuộc đời để tuyên dương, giảng giải và khuyến khích mọi người cố gắng làm việc

    phóng sanh. Trong tập sách này, chúng tôi ghi lại những lời dạy của Pháp sư Viên

    Nhân, một bậc Cao Tăng Thạc Đức, người đã hết lòng cổ xúy cho việc phóng sanh.

    Sự giảng giải của Ngài, tuy nhiều chỗ đơn sơ mà không kém phần sâu sắc, thể hiện

    rõ trí tuệ của một bậc Cao Tăng thực tu thực chứng, hy vọng có thể qua đó mà

    giúp cho nhiều người hiểu sâu thêm về ý nghĩa và công đức của việc phóng sanh.

    Chúng tôi biên soạn sách này gồm hai phần, nhắm đến việc giảng dụ từ những ý

    nghĩa căn bản nhất cho đến sâu xa, thâm thúy nhất của việc phóng sanh. Vì thế,

    hy vọng là có thể phù hợp với nhu cầu tìm hiểu của đông đảo độc giả, từ những

    người đã am hiểu phần nào cho đến cả những người sơ cơ chưa từng nghe biết đến.

    Về phần giảng, ngoài những lời dạy của Lão Pháp sư Viên Nhân, chúng tôi cũng dẫn

    thêm quan điểm, ý kiến cũng như lời dạy của nhiều vị Tổ Sư, các bậc danh Tăng từ

    xưa nay, kể cả những vị đương đại. Trong phần này, phần lớn tư liệu là do chư

    Tăng ở Viện Chuyên Tu (Đại Tòng Lâm) cung cấp. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn

    và ghi nhận sự đóng góp quý báu của quý thầy.

    Về phần dụ, chúng tôi ghi lại những câu chuyện xưa nay minh họa cho ý nghĩa và

    kết quả của việc phóng sanh, chủ yếu là cho thấy việc thực hành phóng sanh được

    phước báu ra sao, cũng như việc giết hại sinh mạng phải chịu những quả báo như

    thế nào. Trong phần này, ngoài sự giúp đỡ của quý thầy ở Viện Chuyên Tu, chúng

    tôi cũng nhận được tập sưu tầm của Sư Cô Linh Lạc, do Sư cô Linh Bửu chuyển đến,

    và đặc biệt là chuyện kể của Đại Đức Thích Nhuận Châu ở Tịnh Thất Từ Nghiêm (Đại

    Tòng Lâm). Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của quý thầy và

    quý sư cô trong việc thực hiện tập sách này.

    Qua những lời giảng giải và những câu chuyện có xưa, có nay, hội đủ các yếu tố

    cổ kim, chúng tôi hy vọng có thể giúp cho tất cả mọi người đều thấy rõ được giá

    trị của việc cứu vật phóng sanh, cũng như sự nguy hại của việc giết hại sinh

    mạng, mà sớm có một sự chuyển hướng tốt đẹp trong đời sống.

    Tâm nguyện duy nhất của chúng tôi khi thực hiện tập sách này là mong sao có thể

    góp được một phần nhỏ bé trong việc khơi dậy lòng từ bi sẵn có nơi tất cả mọi

    người, khiến cho ai ai cũng thực hành việc giới sát phóng sanh, giúp cho loài

    vật sớm có được một cuộc sống an lành, không bị giết hại.

    Trong quá trình thực hiện, chắc chắn không thể tránh khỏi ít nhiều sai sót, kính

    mong các bậc tôn túc trưởng thượng rộng lòng chỉ bảo và quý vị độc giả gần xa

    niệm tình tha thứ.

    ******

     

    PHẦN I. CÔNG ĐỨC PHÓNG SANH

    LỜI DẪN

    Kinh Phạm Võng dạy rằng: “Người Phật tử nếu lấy tâm từ mà làm việc phóng sanh

    thì thấy tất cả người nam đều là cha mình, tất cả người nữ đều là mẹ mình. Vì

    mình trải qua nhiều đời đều do đó mà sinh ra, nên chúng sanh trong sáu đường đều

    là cha mẹ của mình. Nếu giết hại sinh mạng để ăn thịt tức là tự giết cha mẹ

    mình, cũng là giết thân cũ của mình. Tất cả đất, nước là thân trước của mình.

    Tất cả gió lửa là bản thể của mình. Cho nên, thường thực hành phóng sanh thì đời

    đời sinh ra thường gặp Chánh pháp. Khuyên dạy người làm việc phóng sanh, nếu

    thấy người đời giết hại súc vật, nên tìm phương tiện để giải cứu, khiến cho

    chúng được thoát khổ nạn.” (1)

    Đức Phật có trí tuệ vô thượng, trong kinh Phạm Võng đã sớm có lời ân cần khẩn

    thiết khuyên răn chúng ta. Giới sát phóng sanh thì tiêu trừ nghiệp chướng, lại

    trưởng dưỡng được tâm từ bi.

    Đức Phật còn nói rõ rằng: “Chúng sanh trong sáu đường đều là cha mẹ ta, cứu vật

    sống được tức là cứu được cha mẹ ta”.

    Mỗi một chúng sanh đều là anh em, thân quyến, cha mẹ, con cái, từ nhiều kiếp đến

    nay của chúng ta. Nếu đem nhãn quan của mình mở rộng đến chân tướng vô hạn của

    không gian, thời gian, của vũ trụ, đối diện với cha mẹ, thân quyến của mình lúc:

    bị bắt, bị nhốt, bị giết, bị ăn thịt… vẫn không cố gắng tận tâm mà rụt rè do

    dự; không gấp rút mà giải cứu họ, thật chẳng bằng loài cầm thú.

    Tuy nhiên, chính như Đại Sư Ấn Quang (2), tổ thứ 13 của Liên tông có nói:

    “Việc giới sát phóng sanh tuy cạn cợt dễ thấy, mà cái lý của giới sát phóng sanh

    thì sâu mà khó hiểu.”

    Trong thời mạt pháp mờ mịt như ngày nay, Chánh pháp suy vi, ma đạo thịnh hành,

    tánh người ngu tối thấp hèn, chúng sanh nghiệp chướng sâu nặng, bị vô minh che

    lấp, không có trí tuệ để chọn lấy pháp môn thù thắng, đơn giản dễ thực hành này;

    không có phước báu để tiêu trừ sát nghiệp vô tận nhiều đời tạo nên. Vì vậy nên

    đề xướng việc phóng sanh ngày nay thật là khó khăn, thường gặp phải sự cản trở

    phê phán rất nhiều. Thường thường vừa gặp phải sự phê bình, thì có nhiều cư sĩ

    phóng sanh đã mất hẳn niềm tin, sinh lòng thoái chuyển, tiếp đó thì bỏ đi cơ hội

    tốt nhất để tiêu trừ nghiệp chướng.

    Khó làm mà làm được mới đáng quý! Trong thời mạt pháp hôm nay, có một vị không

    sợ bị chê cười, phỉ báng, dị nghị; bất kể sự phê bình cản trở khó khăn, đối với

    việc phóng sanh vẫn cật lực đề xướng. Là vị sư phụ phóng sanh, đó là Lão Pháp sư

    Viên Nhân. Lão Pháp sư đối với cư sĩ đến thỉnh pháp đều khuyến khích: “Phải hết

    lòng niệm Phật, lấy giới làm thầy.”

    Ngoài ra đối với việc giới sát phóng sanh đặc biệt nhấn mạnh, chú trọng. Lão

    Pháp sư thường hay khuyên răn chúng ta: “Phóng sanh tức là trả nợ, trả vô số nợ

    sát sanh từ nhiều đời nhiều kiếp đến nay. Người đời nay nhiều bệnh tật đau khổ,

    đều là do thiếu món nợ sát sanh từ kiếp trước mà có. Trả nợ sát sanh, có phương

    pháp hay nhất là phóng sanh. Cứu mạng kẻ khác cũng như cứu mạng mình, tức là trả

    món nợ sát sanh trước kia đã thiếu”.

    Lão Pháp sư Viên Nhân dạy: “Nhân quả báo ứng như bóng theo hình. Sát sanh tự nó

    có ác báo của sát sanh. Phóng sanh tự có thiện báo của phóng sanh. Đừng nên để ý

    đến sự phê bình, hủy báng của kẻ khác. Chúng ta thực hành thiện nghiệp của mình,

    kẻ khác tạo ác nghiệp của chính họ. Mai sau quả báo hiện tiền, thiện ác nhân quả

    báo ứng tuyệt đối không bao giờ sai được”.

    Dưới sự chỉ dạy của Lão Pháp sư, những cư sĩ phóng sanh chẳng những tiêu trừ

    được túc nghiệp mà trong quá trình phóng sanh lại càng nuôi dưỡng được tấm lòng

    từ bi, thể hội được chân lý: Vạn vật chúng sanh là bình đẳng nhất như, đều có

    đầy đủ Phật tánh, đều có thể thành Phật. Sự chuyển biến của loại tâm từ bi này

    chẳng phải hạng người chỉ biết phê phán, chỉ trích kia có thể lãnh hội được

    trong muôn một.

    Trong nghĩa cử lương thiện của việc phóng sanh, bao nhiêu những chứng bệnh ung

    thư, ác tặc đều tiêu mất trong vô hình. Bao nhiêu sự kiện cảm ứng nhiệm mầu thật

    chứng, từ miệng các cư sĩ thốt ra liên tục. Bao nhiêu hình ảnh của loài vật cảm

    ơn thị hiện trước mắt.

    Quyển sách “Công Đức Phóng Sanh” này, hy vọng có thể khiến cho càng nhiều người

    hiểu rõ được sự thù thắng của việc phóng sanh, từ đó mà tự mình cố gắng làm công

    việc từ bi phóng sanh. Cũng hy vọng khiến cho những người đối với việc phóng

    sanh có sự nghi ngờ và phê bình, qua sự giảng giải trong sách này có thể cải

    chính một số thiên kiến của chính mình, không cản trở kẻ khác phóng sanh nữa;

    lại tiến thêm một bước để bỏ ác làm lành, rộng khuyên người đời phóng sanh.

    Qua lời dạy của Lão Pháp sư Viên Nhân, mong sao người nghe có thể một truyền ra

    mười, mười truyền ra trăm ngàn…Khiến cho người người đều khởi tâm từ bi, đều

    thực hiện việc phóng sanh. Nhờ đó mà phát triển việc giới sát, ăn chay, khiến

    cho mọi sự tàn bạo trong xã hội được tiêu trừ, tuần hoàn tăng trưởng, đất nước

    an lành, nhân dân thịnh vượng, vạn vật muôn loài trong trời đất đều được vui thú

    hồn nhiên, hưởng trọn thiên niên.

    Nam Mô A Di Đà Phật

    ******

     

    CHƯƠNG I: PHÓNG SANH LÀ GÌ?

    Thế nào gọi là phóng sanh? Phóng sanh tức là nhìn thấy các loại chúng sanh có

    mạng sống đang bị bắt nhốt, giam cầm, sắp sửa bị giết hại, kinh hoàng lúng túng,

    mạng sống trong phút giây nguy ngập, liền phát lòng từ bi tìm cách cứu chuộc.

    Như vậy tức là hành vi giải thoát, phóng thích, cứu lấy mạng sống.

    Luận Đại Trí độ dạy rằng: “Chư dư tội trung sát nghiệp tối trọng, chư công đức

    trung phóng sanh đệ nhất”. “Trong tất cả các tội ác, tội sát sanh là nặng nhất.

    Trong tất cả các công đức, phóng sanh là công đức lớn nhất”.

    Tại sao phải phóng sanh? Nói một cách đơn giản, phóng sanh tức là trả nợ, trả

    món nợ sát sanh mà chúng ta đã tạo sát nghiệp nặng nề từ nhiều đời nhiều kiếp

    đến nay.

    Kinh Hoa Nghiêm dạy rằng: “Nếu ác nghiệp này có hình tướng thì cho đến cùng tận

    hư không cũng không dung chứa hết”. Chúng ta ngay trong kiếp này tạo nghiệp giết

    hại chúng sanh quả thật đã không thể tính đếm được, huống chi là đã tạo trong

    nhiều đời nhiều kiếp!

    Nên biết chân lý: “Có nợ phải trả, có tội phải báo”.

    Xét lại tự thân mình toàn thân đều là sát nghiệp, đã tạo biết bao nghiệp giết

    hại, chẳng tránh khỏi phải khủng hoảng, xấu hổ, thật không đất dung chứa! Sao có

    thể không tự mình kịp thời sám hối, cố gắng phóng sanh, hầu mong đền trả nợ nần

    trong muôn một! Việc phóng sanh có thể trưởng dưỡng tấm lòng từ bi của mình. Nên

    khởi lòng bi mẫn phóng sanh, xem sinh mạng của loài vật như sinh mạng của chính

    mình. Được vậy thì sẽ chẳng cuồng vọng, điên đảo nữa; sẽ chẳng tạo nghiệp giết

    hại nữa; sẽ chẳng thiếu món nợ sát sanh nữa; sẽ chẳng phải luân hồi thọ báo nữa.

    Kinh Dược Sư Lưu Ly Bổn Nguyện Công Đức dạy rằng: “Cứu thả các sinh mạng được

    tiêu trừ bệnh tật, thoát khỏi các tai nạn. Người phóng sanh tu phước, cứu giúp

    muôn loài thoát khỏi khổ ách thì bản thân không gặp các tai nạn”.

    Phóng sanh có những công đức gì?

    Công đức phóng sanh rộng lớn vô biên, không thể tính đếm. Nay xin nói đại lược

    như sau:

    1. Không có nạn đao binh, tránh được tai họa chiến tranh tàn sát.

    2. Sống lâu, mạnh khỏe, ít bệnh tật.

    3. Tránh được thiên tai, dịch họa, không gặp các tai nạn.

    4. Con cháu đông đúc, đời đời xương thạnh, nối dõi không ngừng.

    5. Chỗ mong cầu được toại nguyện.

    6. Công việc làm ăn phát triển, hưng thạnh, gặp nhiều thuận lợi, thuận buồm xuôi

    gió.

    7. Hợp lòng trời, thuận tánh Phật, loài vật cảm ơn, chư Phật hoan hỷ.

    8. Giải trừ oán hận, các điều ác tiêu diệt, không lo buồn, sầu não.

    9. Vui hưởng an lành, quanh năm đều được an ổn.

    10. Tái sanh về cõi trời, hưởng phước vô cùng. Nếu có tu Tịnh độ thì được vãng

    sanh về thế giới Tây Phương Cực Lạc.

    Trong kinh Hoa nghiêm, phẩm Phổ Hiền hạnh nguyện dạy rằng: “Chúng sanh thương

    yêu nhất là thân mạng, chư Phật thương yêu nhất là chúng sanh. Cứu được thân

    mạng chúng sanh thì thành tựu được tâm nguyện của chư Phật”.

    Sau khi phóng sanh, tự mình có những thay đổi gì?

    Phóng sanh có thể nuôi dưỡng lòng từ bi của chúng ta. Trong khi thực hiện việc

    phóng sanh, chúng ta nhân đó có thể thấu hiểu được chân lý vạn vật đều bình

    đẳng, đều có cảm giác, đều có tánh Phật, đều có thể thành Phật. Nhờ đó, chúng ta

    có thể khởi tâm từ bi với hết thảy chúng sinh, lại còn tôn trọng trân quý. Tiến

    thêm một bước nữa, trong cuộc sống hằng ngày có thể thực hiện việc giới sát, ăn

    chay, cứu giúp sinh mạng muôn loài; các điều ác không làm, các điều thiện cố

    gắng làm; khởi tâm từ bi đối với tất cả muôn loài trên thế gian.

    Nên biết rằng, tâm Phật là từ bi. Khi chúng ta trưởng dưỡng lòng từ bi thì tâm

    ta với tâm Phật hợp nhau, chư Phật hoan hỷ thì tự nhiên dễ có sự cảm ứng đạo

    giao, việc học Phật tự nhiên dễ dàng thành tựu.

    Trong kinh Phạm võng, Bồ Tát Giới, giới sát văn có dạy: Nếu Phật tử, hoặc tự

    mình giết, bảo người giết, phương tiện giết, khen tặng sự giết, thấy giết mà tùy

    hỷ, nhẫn đến dùng bùa chú để giết, duyên giết, cách thức giết, nghiệp giết. Phàm

    tất cả loài hữu tình có mạng sống đều không ý giết. Là Phật tử lẽ ra phải luôn

    luôn có lòng từ bi, lòng hiếu thuận, lập thế cứu giúp tất cả chúng sanh mà trái

    lại tự phóng tâm nỡ lòng sát sanh, Phật tử này phạm «Bồ Tát Ba La Di tội).

    Tại sao hiện nay có nhiều người phản đối và chỉ trích việc phóng sanh? Phóng

    sanh là phương pháp dễ dàng nhất để tiêu trừ nghiệp chướng, lại đơn giản dễ làm.

    Chỉ cần phát tâm tùy thời, tùy chỗ, một người hay nhiều người, nhiều tiền hay ít

    tiền, đều có thể phóng sanh. Chính vì phóng sanh thù thắng nhiệm mầu như vậy, mà

    nhiều đời nhiều kiếp đến nay chúng ta có biết bao nhiêu oan gia trái chủ, tà ma

    ngoại đạo, đều không muốn chúng ta tiêu trừ nghiệp chướng, thành tựu đạo nghiệp

    một cách đơn giản như vậy. Vì thế nên chúng dùng trăm phương nghìn kế để tăng

    trưởng vô minh, làm lẫn lộn sự thấy nghe, mê hoặc nhân tâm, cản trở người ta

    phóng sanh.

    Kinh Chánh pháp niệm có dạy: “Tạo một ngôi chùa chẳng bằng cứu một sinh mạng”.

    Công đức phóng sanh to lớn đến như thế!

    Hỏi: Có thể nào nói rõ một cách đơn giản đạo lý của việc phóng sanh?

    Đáp: Có những điểm rất dễ thấy, dễ biết như sau:

    1. Nhân quả báo ứng như bóng theo hình, mảy may không sai chạy. Gieo nhân gì thì

    gặt quả ấy, đó là chân lý ngàn đời không thay đổi. Phóng sanh tức là cứu sống

    sinh mạng người ta. Đã gieo nhân lành ắt phải được quả lành. Cản trở và phê phán

    việc phóng sanh tức là làm phương hại người ta việc cứu sống sinh mạng. Đã gieo

    nhân ác ắt phải gặt quả ác.

    2. Trời đất vạn vật chúng sanh đều có linh tánh, đều biết tránh nơi hung dữ, tìm

    chỗ an lành; đều biết tham sống sợ chết, đều có vui, buồn, yêu, ghét, mừng,

    giận…Người thực hiện việc phóng sanh thì loài vật đều âm thầm cảm ơn và luôn

    mong có dịp báo đáp.

    3. Trời đất vạn vật muôn loài chúng sanh đều có đủ tánh Phật như chúng ta, nếu

    so sánh với nhau đều không hơn, không khác. Chỉ vì ác nghiệp trước đây sâu nặng,

    nên chúng phải sinh làm các loài súc sanh. Ngày nào nghiệp chướng tiêu trừ, thì

    cũng đều có thể chứng thành quả Phật như nhau. Vì thế, ngày nay thực hiện việc

    phóng sanh, cứu được một mạng sống, cũng giống như cứu được một vị Phật trong

    tương lai.

    4. Trời đất vạn vật muôn loài chúng sanh cùng với ta trong luân hồi từ vô thủy

    đến nay đều đã từng là: anh em, thân quyến. Vì thế, ngày nay thực hiện việc

    phóng sanh cũng giống như cứu vớt người thân của mình.

    5. Trời đất vạn vật muôn loài chúng sanh cùng với ta trong luân hồi quá khứ đều

    đã từng là oan gia cừu địch với nhau. Vì thế, ngày nay thực hiện việc phóng sanh

    là cơ hội có thể hóa giải oán thù, chấm dứt sự oan oan tương báo.

    Di Lặc Bồ Tát có kệ ngữ rằng:

    “Khuyên bạn siêng phóng sanh

    Lâu dài được trường thọ

    Nếu phát bồ đề tâm

    Đại nạn trời phải cứu”.

    Hỏi: Nay dù chúng ta cố sức làm việc phóng sanh, nhưng còn biết bao người khác

    vẫn khăng khăng tìm cách bắt giết, như vậy thì có ý nghĩa gì?

    Đáp: Người phóng sanh có công đức của việc phóng sanh. Kẻ bắt giết có tội lỗi

    của việc bắt giết. Chúng ta là người phóng sanh, làm công đức của chính mình,

    người ta bắt giết gây ra tội lỗi của chính họ. Mọi việc trong thế gian đều tương

    đối tồn tại: Có thiện tất có ác, có trung tất có gian tà. Không thể vì hành động

    tội lỗi của kẻ ác bắt giết, mà chúng ta lại không làm thiện hạnh phóng sanh hay

    sao?

    Giống như bác sĩ chữa trị cho bệnh nhân, cũng không thể bảo đảm bệnh nhân sau

    này sẽ mãi mãi mạnh khỏe.

    Gặp khi mất mùa phát tâm cứu tế, cũng không thể bảo đảm dân nghèo về sau mãi mãi

    chẳng đói thiếu.

    Anh thợ cất nhà cũng không thể bảo đảm căn nhà về sau vĩnh viễn sẽ chẳng hư

    hoại.

    Mọi việc trong thế gian đều là như vậy. Tại sao chỉ có một việc phóng sanh lại

    đặc biệt nghi ngờ? Con người hiện nay đối với việc danh lợi cá nhân trước mắt

    thì lỗ mãng, nóng nảy, không chút dè dặt. Nhưng đối với việc làm thiện phóng

    sanh thì lại vô cùng do dự, cố sức vạch lá tìm sâu, để chỉ ra những chỗ không

    nên của việc phóng sanh, quả thật là điên đảo!

    Sau khi Phật diệt độ, trong Kinh Phật Diệt Độ Hậu Quan Liệm Táng Tống có dạy

    rằng: “Nên giữ theo tâm từ, ban trải ân huệ đến muôn loài, xem thân mạng muôn

    loài chúng sanh như thân mạng của chính mình. Mở rộng lòng từ bi, dùng thân mình

    mà giúp an ổn cho muôn loài, tức là mở con đường hạnh phúc cho chúng sanh. Bảo

    hộ thân mạng muôn loài, thấm nhuần đến cả cỏ cây, khiến cho muôn loài đều không

    phải dứt tuyệt.”(3)

    Hỏi: Rất nhiều người phê phán rằng: Phóng sanh tức là phóng tử, vậy thì có ý

    nghĩa gì? Bỏ tiền mua những con vật để thả ra nhưng cũng không cứu sống được

    chúng. Như vậy thì phóng sanh nào có ý nghĩa gì?

    Đáp: Cần nêu rõ mấy ý như sau.

    Thứ nhất, những con vật thả ra mà không sống được chỉ là một số ít. Tuyệt đại đa

    số những con vật phóng sanh đều được sống còn trở về với thiên nhiên. Nếu ta

    không làm việc phóng sanh thì tất cả những con vật ấy 100% đều bị giết hại.

    Vậy không thể vì một số ít con vật bị chết mà hoàn toàn phủ nhận nghĩa cử cao

    đẹp của việc phóng sanh. Như vậy há chẳng phải vì mắc nghẹn mà bỏ ăn sao? Như

    vậy thật là quá ngu xuẩn.

    Thứ hai, trong những con vật thả ra, dù có bị chết thì ít nhất cũng được chết

    rất đúng chỗ, chết trong tự do, chết trong môi trường thiên nhiên quen thuộc,

    cũng còn tốt hơn là bị cắt xẻo, bị chiên dầu, trải qua cực hình nước sôi, lửa

    đốt mà chết, đau khổ gấp trăm ngàn lần!

    Thứ ba, đối với những con vật khi phóng sanh thả ra được sống thì chúng ta vui

    mừng vì đã tạo cho chúng cơ hội sống còn; đối với những con vật không may chết

    đi thì chúng ta nên thành tâm cầu nguyện sự tốt lành cho chúng. Bởi vì hôm nay,

    trong nhân duyên phóng sanh ngàn năm khó gặp này, ta đã vì những con vật ấy mà

    phát nguyện quy y Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng, nên khi nghiệp ác trong kiếp này

    vừa dứt thì chúng vĩnh viễn chẳng còn rơi vào trong ba đường ác (4) nữa.

    Hơn nữa, đã được nghe ta niệm sáu chữ hồng danh “Nam Mô A Di Đà Phật” tức là đã

    được gieo hạt giống đạo pháp trong tâm, vĩnh viễn không bao giờ hư mất, chỉ chờ

    khi hội đủ duyên lành sẽ phát khởi đại diệu dụng. Kiếp sau nghiệp báo đã hết,

    được sớm chuyển thế làm người, được niệm Phật tu hành, chứng thành Phật quả, còn

    có thể trở lại Ta Bà cứu độ vô số chúng sanh khổ nạn.

    Trong Khế Kinh Phật có dạy rằng:

    Giới sát phóng sanh, nếu không giết hại, làm việc phóng sanh thì được quả báo

    tuổi thọ dài lâu.

    Giữ giới không giết hại thì giải trừ được mọi oán thù, nuôi dưỡng được tâm từ

    bi, làm nảy nở hạt giống Bồ Đề.

    CHƯƠNG II: CÔNG ĐỨC PHÓNG SANH

    Hỏi: Có thể nào giảng giải thêm về ý nghĩa sâu xa hơn nữa của việc phóng sanh

    trong trường hợp những con vật thả ra bị chết?

    Đáp: Chúng ta có thể xem trong phẩm Lưu Thủy Trưởng Giả Tử thứ 16 trong kinh Kim

    Quang Minh. Tiền thân của Đức Phật có lần là con nhà trưởng giả, vì không nỡ

    nhẫn tâm thấy hàng vạn con cá đang dần dần bị chết khô trong vũng cạn, nên gấp

    rút dùng hai mươi con voi lớn chở nước đến, đổ vào để cứu sống sinh mạng đàn cá,

    lại vì một vạn con cá ấy mà thuyết pháp, niệm Phật. Trong ngày mạng chung, số

    thi thể cá này tích tụ trên bờ ao, thần thức của chúng được vãng sanh lên cõi

    trời Đao Lợi, hưởng phước không cùng. Nay xin trích dẫn nguyên văn trong kinh

    làm chứng: “Bấy giờ, cõi đất nơi ấy chấn động dữ dội, mười ngàn con cá cùng chết

    đi trong một ngày. Vừa chết rồi liền được sinh về cõi trời Đao Lợi”.(5)

    Sự thật, phước báu lớn lao của việc phóng sanh còn là ở chỗ thực hiện nghi thức

    phóng sanh, bao gồm việc quy y, niệm Phật.

    Loài súc sanh trong lúc sắp chết, thử hỏi có mấy con may mắn được quy y Phật,

    Pháp, Tăng? Lại còn được các vị pháp sư và cư sĩ đều vì chúng mà niệm Phật cầu

    nguyện cho được siêu độ. Nhờ đó mà nghiệp báo mau dứt, sớm được ra khỏi ba đường

    ác, há chẳng phải phước duyên sâu dày lắm sao? Nhờ đó mà nghiệp báo súc sanh sớm

    dứt, được chuyển sinh kiếp người, biết niệm Phật tu hành, nhanh chóng được vãng

    sanh về thế giới Tây Phương Cực Lạc, há chẳng phải là nhân duyên thù thắng hay

    sao? Cho nên khi cư sĩ khi phóng sanh phải luôn phát tâm từ bi mà cứu chuộc sinh

    mạng. Thử đặt mình vào vị trí nguy kịch ấy, vì cứu lấy mạng sống đang nguy ngập

    mà làm việc phóng sanh. Nếu vạn nhất con vật ấy có chết đi thì chúng ta cũng

    không có gì phải hổ thẹn với lương tâm, đồng thời cũng đã dành cho chúng sự cầu

    nguyện chân thành vô hạn.

    Trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật dạy rằng: “Tâm Phật chính là tâm đại từ bi,

    dùng tâm từ không vướng mắc mà hóa độ khắp cả chúng sanh”.(6)

    Hỏi: Muôn loài cầm thú có đến hàng ngàn, hàng vạn, chúng ta phóng sanh làm sao

    thả cho hết được?

    Đáp: Đức lớn của trời đất là sự sống, đạo lớn của Như Lai là từ bi. Thuận theo

    đạo trời thì hiếu sanh mà chán ghét sự giết hại. Nay ta cố gắng thực hiện việc

    phóng sanh, trưởng dưỡng tâm từ bi là hợp với lòng trời mà chư Phật lại hoan hỷ.

    Nên như cứu được một mạng sống, công đức đã là vô lượng vô biên, huống chi là

    cứu được nhiều mạng sống? Đến như muôn vạn loài súc sanh, dù hết lòng cứu vớt

    cũng không hết, đó là do từ nhiều đời nhiều kiếp đến nay cộng nghiệp tạo thành,

    chẳng phải trong một lúc có thể dứt hết. Chúng ta chỉ cần đem hết khả năng mình,

    tùy duyên mà thực hiện việc phóng sanh. Không thể vì muôn loài súc sanh quá

    nhiều không giải cứu hết mà lại không ra tay cứu lấy những sinh mạng trong muôn

    một.

    Kinh Đại Bát Niết Bàn dạy rằng: “Lòng đại từ đại bi gọi là tánh Phật”.(7) Lại

    cũng dạy rằng: “Lòng từ bi chính là Như Lai, Như Lai chính là lòng từ bi”.(8)

    Hỏi: Tôi nghĩ, thà đem số tiền làm việc phóng sanh để cứu tế cho những người

    nghèo khó đói thiếu, xem ra có hiệu quả thực tế hơn.

    Đáp: Già cả cô độc, bần cùng khổ nạn, tuy thật đáng thương xót, nhưng mạng sống

    chưa đến nỗi tức khắc tử vong, phải mất đi trong chốc lát. Còn loài vật đang

    nguy ngập kia, nếu chẳng kịp cứu giúp phóng sanh thì tức khắc sẽ bị giết để nấu

    nướng, phải bỏ mạng trong miệng con người. Một bên là cảnh ngộ đáng thương,

    nhưng vẫn còn giữ được tính mạng. Một bên là chỉ mành treo chuông, mạng sống bị

    đe dọa. So ra bên nào gấp rút hơn đã có thể thấy ngay.

    Nên biết, chúng sanh muôn loài so với chúng ta thì tánh Phật cũng đồng nhất,

    không sai khác. Chỉ vì vô minh che lấp, nghiệp báo nặng nề mà phải trầm luân

    trong cảnh giới súc sanh. Đối với tất cả chúng sanh, đức Phật đều thương yêu như

    đứa con. Cứu được một mạng sống tức là cứu được một người con Phật, nên chư Phật

    đều hoan hỷ. Lại nữa, cứu một chúng sanh cũng như cứu được một vị Phật tương

    lai, vì tất cả chúng sanh đều có tánh Phật, đều có khả năng thành Phật.

    Luận Trí độ dạy rằng: “Trong tất cả các tội ác, tội giết hại là nặng nhất. Trong

    tất cả các công đức, không giết hại là công đức lớn nhất.”(9) Trong kinh Phật

    cũng dạy rằng: “Tâm từ chính là nhân duyên đem đến mọi sự an lạc”.

    Hỏi: Nếu ai ai cũng làm việc phóng sanh mà không giết hại, các loài súc sanh sẽ

    sinh sản càng nhiều, tương lai thế giới này há chẳng phải sẽ trở thành thế giới

    cầm thú hay sao?

    Đáp: Như các loài kiến, mối, côn trùng… loài người không ăn chúng nó, để mặc

    tình chúng tự nhiên sinh sản, nhưng thế giới ngày nay có phải là thế giới của

    loài kiến chăng? Hay là thế giới của loài mối, của côn trùng chăng? Thật ra,

    những loài vật mà ta phóng sanh, khi được tự do sinh sản, được nuôi dưỡng trong

    thế giới tự nhiên, thì tự chúng có sự điều tiết phù hợp trong sinh thái và sinh

    sản cân bằng.

    Nghiệp ác của chúng ta hiện nay vẫn chưa được giải trừ, nếu lại cứ một mực lo

    lắng rằng các loài súc sanh trên thế giới sẽ quá nhiều, như vậy có khác nào

    người nông dân chưa xuống ruộng gieo giống mà lại cứ ngày ngày lo lắng mai sau

    lúa thóc chín đầy cả ruộng đồng, không sử dụng hết. Lo lắng vô cớ như thế há

    chẳng phải là buồn cười lắm sao?

    Nên biết rằng, nhân quả báo ứng như bóng theo hình, mảy may không sai chạy. Hiện

    nay, trên thế giới sở dĩ cầm thú rất nhiều chính là vì trước kia những người

    giết cầm thú quá nhiều, nay phải hóa sinh làm cầm thú. Như người ăn dê, dê chết

    rồi thành người, người chết lại thành dê, sinh sinh tử tử trở thành báo oán lẫn

    nhau, đời đời không dứt. Vì sự oan oan tương báo như thế, cùng làm súc sanh, cho

    nên có thế giới cầm thú. Nếu như người người đều có thể bỏ việc giết hại, làm

    việc phóng sanh, thì oan nghiệp hận thù giữa súc sanh và con người sẽ dần dần

    tiêu mất. Cầm thú súc sanh do đó dần dần giảm thiểu; cõi người, cõi trời ngày

    càng thêm đông. Như nước Sở chẳng ăn ếch mà ếch lại ít dần. Nước Thục chẳng ăn

    cua mà cua tự nhiên ngày càng hiếm. Thời xưa đã có tấm gương sáng, chúng ta nên

    tự phản tỉnh, xét soi.

    Kinh Đại Nhật có dạy rằng: “Phật pháp lấy tâm Bồ Đề làm chánh nhân, lấy lòng đại

    bi làm căn bản”.

    Hỏi: Khuyên những người làm nghề sát sanh thay đổi nghề nghiệp, đó là làm hại

    sinh kế của người ta. Như thế là thương loài súc sanh mà không thương người, có

    vẻ như không được hợp tình hợp lý chăng?

    Đáp: Xã hội có đủ các giới: sĩ, nông, công, thương, đủ các ngành nghề. Mỗi ngành

    nghề đều có thể kiếm ra tiền, đều có thể nuôi sống gia đình, lẽ nào cứ phải lấy

    việc sát sanh hại mạng để làm phương tiện mưu sinh cho mình hay sao? Nên biết

    rằng, nhân quả báo ứng mảy may không sai lệch. Đã tạo nghiệp giết hại ắt phải

    gặp quả báo bị giết hại. Ngày nay tuy có tạm thời được ăn sung mặc sướng, nhưng

    tương lai đến lúc thọ nhận quả báo e rằng chẳng có lúc được ngừng nghỉ, vả lại

    còn để họa lây đến con cháu đời sau. Quả là điều lợi chẳng bằng điều hại!

    Kinh Phạm Võng dạy rằng: “Bồ Tát nên sinh khởi tánh Phật, hiếu thuận từ bi,

    thường giúp đỡ cho hết thảy mọi người đều được an vui hạnh phúc”.(10)

    Hỏi: Việc phóng sanh có hạn chế đối tượng hay không?

    Đáp: Không có hạn chế! Phàm là các loài chim bay trên trời như: bồ câu, se

    sẻ…, các loài sống trong nước như tôm, cua, cá, ốc…, các loài sống trên mặt

    đất như: hươu, nai, dê, thỏ…, các loài chui sâu trong đất như: giun, trùng,

    kiến, mối… Chỉ cần có mạng sống thì đều có thể phóng sanh được.

    Luận Đại Trí Độ dạy: “Tâm đại từ là ban vui cho tất cả chúng sanh, tâm đại bi là

    cứu vớt khổ nạn cho tất cả chúng sanh”.(11)

    Hỏi: Tại sao khi thực hiện việc phóng sanh thường có nghi thức thọ Tam quy y và

    niệm Phật cho loài súc sinh?

    Đáp: Chánh pháp ngàn năm khó gặp. Chúng ta cùng với loài súc sanh ấy có nhân

    duyên, nên phát tâm cứu được mạng sống cho chúng, nhưng không thể cứu giúp chúng

    thoát khỏi luân hồi nghiệp báo. Vì vậy rất nên phát tâm đại từ bi, vì chúng mà

    truyền thọ Tam quy y, để giúp chúng kết duyên lành với Phật pháp. Chúng sanh nào

    có duyên lành được quy y Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng) thì không còn phải đọa vào

    ba đường ác, nên có thể giúp cho những súc sanh ấy khi nghiệp báo dứt hết, sẽ

    vĩnh viễn không rơi vào các đường ác nữa.

    Ngoài ra, khi thực hành nghi thức như vậy, vị pháp sư cùng tất cả cư sĩ tham gia

    đều vì chúng mà trì niệm danh hiệu Phật: “Nam Mô A Di Đà Phật”. Được nghe sáu

    chữ hồng danh ấy tức là đã gieo nhân lành vào tạng thức, nhờ đó mà kiếp sau

    chuyển thế làm người ắt sẽ gặp được Phật pháp, biết niệm Phật tu hành, được vãng

    sanh về thế giới Tây Phương Cực Lạc, vĩnh viễn thoát ly cái khổ của sáu đường

    luân hồi. Đây mới chính là ý nghĩa sâu xa mầu nhiệm nhất của việc phóng sanh.

    CHƯƠNG III

    NHỮNG LỜI KHAI THỊ CỦA LỊCH ĐẠI TỔ SƯ

    1. Đại sư Trí Giả

    Đại sư Trí Giả (12) được tôn xưng là Phật Thích Ca tái thế. Ngài sống vào giai

    đoạn các đời Trần, Tùy ở Trung Hoa.

    Đại sư nhìn thấy ngư dân ven biển ngày ngày bắt cá sát sanh. Ngài khởi lòng từ

    bi, liền dùng tiền cúng dường mua được một nơi ven biển Thượng Hải làm ao phóng

    sanh. Lại vì ngư dân giảng kinh nói pháp. Nhóm ngư dân sau khi nghe pháp đều đổi

    ngành chuyển nghiệp, tôn trọng mạng sống, ham làm điều thiện, còn đem hộ lương

    63 sở ở ven biển có từ 300-400 dặm làm ao phóng sanh. Đây là nơi phóng sanh đại

    quy mô sớm nhất từ trước đến nay trong lịch sử Trung Hoa. Vật mạng được cứu sống

    có đến hàng vạn ức. Tây Hồ hiện nay tức là ao phóng sanh mà năm xưa Đại sư sáng

    lập.(13)

    2. Đại sư Vĩnh Minh

    Đại sư Vĩnh Minh tương truyền là Phật A Di Đà từ bi thị hiện vào thời Ngũ Đại ở

    Trung Hoa. Đại sư, trước làm quan coi kho ở huyện Dư Hàn. Thường muốn làm việc

    phóng sanh nên lấy tiền trong quốc khố để mua: tôm, cá, chim… mà phóng sanh.

    Đến khi truy cứu bị khép tội lấy trộm quốc khố, phải xử tử hình, nhưng Ngài

    trước sau mặt không đổi sắc. Quốc Vương lấy làm lạ, gạn hỏi nguyên do. Đại sư

    đáp rằng: “Tôi vì phóng sanh nên mới làm việc này. Nay đã cứu được hàng ngàn,

    hàng vạn sinh mạng. Nhờ công đức này để vãng sanh về Thế Giới Tây Phương Cực

    Lạc, vì thế nên vui mừng chứ không hề lo sợ”. Vua hiểu chuyện, tôn trọng đức

    hạnh của Ngài bèn ra lệnh xá tội. Từ đó Ngài xuất gia làm Tăng sĩ, trọn đời niệm

    Phật tu hành, đắc đạo chứng quả. Đời sau tôn xưng Ngài là Tổ thứ sáu của Liên

    Tông (tức Tịnh độ tông).

    3. Đại sư Huệ Năng

    Đại sư Huệ Năng là Tổ thứ sáu của Thiền Tông. Từ sau khi được Ngũ tổ Hoằng Nhẫn

    ở Hoàng Mai truyền tâm ấn, vì tránh sự bức hại của kẻ xấu nên đi về Thiều châu ở

    Phương Nam mà ẩn mình, giấu kín thân phận, cùng sống chung trong một đoàn thợ

    săn.

    Đoàn thợ săn giao cho Ngài giữ lưới. Ngài lấy tâm từ bi làm hoài bão, gặp những

    con vật như: sói, cọp, nai, thỏ… bị sa lưới, đều tìm cách để phóng sanh. Phóng

    sanh như vậy được 16 năm, vật mạng được cứu sống không thể tính đếm hết, lại còn

    cảm hóa được nhóm thợ săn đổi nghề hướng thiện. Sau này, Đại sư ở tại đạo tràng

    Tào Khê làm hưng thịnh Thiền Tông, truyền khắp mọi nơi.

    4. Đại sư Hàn Sơn và Đại sư Thập Đắc

    Đại sư Hàn Sơn tương truyền là Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi thị hiện, còn đại sư Thập

    Đắc tương truyền là Bồ Tát Phổ Hiền thị hiện.

    Đại sư Hàn Sơn hỏi Ngài Thập Đắc: “Phóng sanh có thể thành Phật được chăng?” Đáp

    rằng: “Chư phật vô tâm, duy chỉ lấy từ bi làm tâm. Người có thể cứu cái khổ của

    sinh mạng tức là thành tựu tâm nguyện của chư Phật. Cho nên, sinh một niệm từ

    bi, cứu sống một sinh mạng tức là tâm nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm vậy. Ngày

    ngày làm việc phóng sanh thì tâm từ bi cũng ngày ngày tăng trưởng, mãi mãi không

    ngừng, niệm niệm đều chảy vào biển lớn đại từ bi của đức Quán Thế Âm. Khi ấy,

    tâm ta tức là tâm Phật, sao lại chẳng thành Phật?”

    Cho nên biết rằng: nhân duyên phóng sanh chẳng phải những điều lành nhỏ nhặt có

    thể so sánh được. Phàm là người đồng nguyện như ta nên rộng hành khuyến khích,

    khéo léo khiến cho mọi người đều biết trở về với tâm từ bi của chính mình mà hóa

    độ chúng sanh.

    5. Thiền sư Chí Công

    Vua Lương Võ Đế hỏi Thiền Sư Chí Công rằng: “Công đức phóng sanh như thế nào?”

    Thiền Sư đáp rằng:“Công đức phóng sanh không thể hạn lượng. Trong kinh dạy rằng:

    Muôn loài chúng sanh đều có tánh Phật, chỉ vì mê vọng nhân duyên nên khiến cho

    thăng trầm khác biệt. Cho đến sanh tử luân hồi trở thành quyến thuộc với nhau,

    thay đầu đổi mặt chẳng nhìn ra nhau được nữa. Nếu phát được tâm hỷ xả, khởi niệm

    từ bi, người chuộc mạng phóng sanh thì đời này ít bệnh sống lâu, tương lai chứng

    được quả Bồ Đề”.

    6. Thiền Sư Phật Ấn

    Thiền sư Phật Ấn có kệ rằng:

    “Miếng ăn, miếng trả ắt chẳng sai

    Lời chư thánh xưa nào hư dối?

    Giới sát, niệm Phật, thường phóng sanh

    Quyết về Tây phương, bậc Thượng phẩm.(14)

    7. Đại Sư Liên Trì

    Đại Sư Liên Trì sống vào triều đại nhà Minh, từ nhỏ ưa thích làm việc phóng

    sanh. Sau khi xuất gia, Ngài xây dựng ao phóng sanh ở hai nơi là Trường Thọ và

    Thượng Phương. Ngài có trước tác một bài Giới sát phóng sanh, khuyên dạy hết

    thảy người đời nên giới sát phóng sanh. Ngài cũng để lại cho hậu thế bức vẽ Liên

    Trì Đại Sư đồ giải. Tranh vẽ, văn chương của ngài đều đẹp đẽ phong phú, đều ân

    cần khẩn thiết khuyên răn người đời chân lý nhân quả báo ứng, cùng với nhiều sự

    thực chứng, cảm ứng rõ ràng nghiệp ác của việc sát sanh và nghiệp lành của việc

    phóng sanh. Đời sau tôn Ngài làm Tổ thứ tám của Liên Tông (tức Tịnh độ tông).

    Sau đây là những lời khuyên của Ngài về việc giới sát phóng sanh:

    1. Ngày sinh không được sát sanh

    Cha mẹ đau đớn, sinh ra ta vất vả. Ngày sinh ra ta chính là ngày mẹ ta chết dần

    đi. Vì vậy nên phải cấm tuyệt việc sát sanh, nên ăn chay, làm nhiều điều thiện,

    cầu cho cha mẹ tăng thêm phúc thọ. Cớ sao lại quên nỗi vất vả của cha mẹ mà nỡ

    lòng sát hại sinh linh?

    2. Sinh con không được sát sanh

    Không có con ắt phải buồn lo, sinh được con thì rất vui. Sao không nghĩ xem,

    loài cầm thú cũng biết yêu thương con, cớ sao mình sinh con ra lại khiến cho con

    của loài khác phải chết? Như vậy có thể yên tâm được sao? Than ôi đứa trẻ vừa

    mới sinh ra, đã không vì nó tích đức mà lại sát sanh, thế chẳng là mê muội lắm

    sao?

    3. Cúng giỗ không được sát sanh

    Khi cúng giỗ người đã khuất hoặc tảo mộ vào tiết xuân thu, đều nên cấm việc sát

    sanh để tạo phước đức. Trong tự nhiên sẵn có tám loại thực phẩm quý để dâng

    cúng,(15) đâu thể bới xương cốt dưới cửu tuyền lên mà ăn sao? Sát sanh để dâng

    cúng chính là đại bất hiếu!

    4. Hôn lễ không được sát sanh

    Việc cưới hỏi ở thế gian, có đủ nghi lễ thì thành chồng vợ, nào có phụ thuộc vào

    việc sát sanh? Khi lập gia đình là đã bắt đầu nghĩ đến việc sinh con. Trước lúc

    sinh con mà làm việc giết hại, quả là nghịch lý. Như vậy là ngày lễ tốt lành mà

    lại làm việc hung dữ, giết hại, chẳng phải là mê muội lắm sao?

    5. Đãi khách không được sát sanh

    Ngày lành cảnh đẹp, chủ hiền đãi bạn: rau, gạo, quả, trà, không trở ngại chi đến

    cảnh trí nhà Phật. Cớ sao lại giết hại mạng sống? Cùng cực béo ngọt, vui ca say

    sưa với cốc chén, giết hại oan uổng bao mạng sống trên mâm ăn! Than ôi! Người có

    tấm lòng, nhìn thấy như vậy chẳng buồn lắm sao?

    6. Cầu an không được sát sanh

    Người đời có thói quen sát sanh để tế thần, mong thần phù hộ. Không nghĩ rằng

    mình tế thần là muốn tránh cái chết, cầu sự sống, nhưng giết hại mạng sống loài

    khác để mong cho mạng mình sống lâu quả thật là nghịch lý, tàn độc hung ác.

    7. Buôn bán sinh sống không đưọc sát sanh

    Phàm là con người ai cũng phải vì cơm ăn áo mặc. Hoặc phải đi săn bắt, hoặc phải

    xuống nước bắt cá, mò tôm, hoặc phải giết trâu, bò, lợn, chó… cũng chỉ vì kế

    sinh nhai. Nhưng xét lại, những người không làm các nghề này cũng vẫn có cơm ăn

    áo mặc, đâu vì thế mà phải chết đói chết rét? Làm nghề sát sanh ắt sẽ chịu quả

    báo bị giết hại.

    Lấy việc giết hại mà được giàu có thì trăm người chẳng có lấy một! Ngược lại còn

    phải chịu ác báo trong nay mai, không có gì nguy hại hơn thế. Sao không cố gắng

    thay đổi nghề nghiệp, chọn những cách sinh nhai hiền lành chẳng phải tốt hơn

    sao?

    Người Phật tử phải luôn tâm niệm bảy điều này để làm kim chỉ nam trong đời sống

    hằng ngày.

    Người giữ giới không sát sanh: được thiện thần bảo hộ, tai ách tiêu trừ, tuổi

    thọ dài lâu, con cháu hiếu thảo hiền lương, mọi chuyện đều may mắn tốt đẹp.

    Nếu dốc hết sức làm việc phóng sanh, lại thêm chuyên tâm niệm Phật, không những

    tăng trưởng phước đức, mà còn nhất định sẽ được tùy nguyện vãng sanh, vĩnh viễn

    thoát khỏi luân hồi, tiến lên địa vị không thoái chuyển.

    8. Đại Sư Ngẫu Ích

    Đại Sư Ngẫu Ích dạy rằng:“Giết hại sinh mạng tức là giết mất các đức Phật tương

    lai trong tự tâm mình. Phóng sanh tức là cứu sống các đức Phật tương lai trong

    tự tâm mình. Nếu cứu sống các đức Phật tương lai, trong tự tâm tức là phép Tam

    Muội Niệm Phật chân thật. Tu tập phép Tam Muội Niệm Phật này tức là thường xuyên

    chuyển kinh Pháp Hoa đến trăm ngàn vạn ức bộ vậy”.

    9. Đại sư Ấn Quang

    Đại sư Ấn Quang được xem vị đại sư đệ nhất của Tịnh Độ Tông kể từ năm Dân quốc

    (1912) tới nay. Đời sau tôn xưng Ngài là Tổ đời thứ 13 của Liên Tông (tức Tịnh

    độ tông). Đại sư hết lòng đề xướng việc giới sát phóng sanh, không tiếc sức lực.

    Trong nhiều bài thuyết pháp, Đại sư đều giảng rõ về sự lý của việc giới sát

    phóng sanh, khuyến khích đệ tử cố gắng giới sát phóng sanh. Nay xin ghi lại vài

    câu pháp ngữ của Đại sư về việc giới sát phóng sanh như sau:

    “Người giới sát phóng sanh, đời sau được sinh lên cõi trời Tứ Thiên Vương, hưởng

    phước vô cùng. Nếu lại có tu Tịnh Độ thì được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc,

    công đức ấy thật vô bờ bến. Phàm những ai muốn cho việc nhà được bình an, thân

    tâm an ổn, tráng kiện, thiên hạ thái bình, nhân dân an lạc, chỉ cần khởi sự từ

    việc giới sát phóng sanh, ăn chay niệm Phật mà cầu thì đều được cả. Phật giáo

    truyền sang phương Đông, chỉ rõ lẽ nhân quả báo ứng, khuyên người giới sát phóng

    sanh, bỏ việc ăn thịt súc vật mà theo cách ăn chay”.

    10. Đại sư Hoằng Nhất

    Đại sư Hoằng Nhất là vị đại đức của Luật Tông trong thời cận đại, cũng đề xướng

    việc phóng sanh. Ngài dạy: “Xin hỏi quý vị, có muốn trường thọ chăng? Muốn lành

    bệnh chăng? Muốn khỏi tai nạn chăng? Muốn được con cái chăng? Nếu ai muốn thì

    nay đã có một phương pháp đơn giản, dễ thực hành, tức là phóng sanh vậy”.

    11. Lão Hòa Thượng Hư Vân

    Lão Hòa Thượng Hư Vân là bậc Thiền Tông đại đức, cũng dạy chúng ta: giới sát,

    phóng sanh, đoạn ác tu thiện. Ngài dạy: “Đây là cơ hội muôn kiếp khó gặp, chúng

    ta phải dũng mãnh tinh tấn, phải trong ngoài cùng tu.

    + Tu tập bên trong tức là chỉ đơn độc tham một câu thoại đầu: Niệm phật là ai?

    Hoặc niệm một câu A Di Đà Phật, không khởi tham, sân, si, các tạp niệm, khiến

    cho chân như pháp tánh được hiển bày.

    + Tu tập bên ngoài tức là giữ giới sát sanh, đem Mười điều ác chuyển thành Mười

    điều thiện. Chớ nên suốt ngày rượu thịt buông lung, tạo thành tội nghiệp vô

    biên”.

    12. Đại sư Diệu Thiện

    Đại sư Diệu Thiện cũng được Phật tử tôn xưng là đức Phật sống Kim Sơn. Việc

    phóng sanh là một trong các sinh hoạt thường ngày của Ngài. Ngài đối với các

    loài cầm thú như: chim, cá, rùa, ốc, cua… đều có lòng thương yêu, đối xử bình

    đẳng. Bất cứ đi đến đâu ngài cũng đều ưa thích làm việc phóng sanh.

    Ngài từng nói với những người đệ tử đang chịu khổ báo rằng: “Ta tuy có thể tạm

    thời làm cho bệnh khổ của ông giảm thiểu, nhưng nghiệp giết hại từ nhiều kiếp

    trước của ông vẫn chưa tiêu mất, e rằng sẽ có mối lo chết yểu. Có một phương

    pháp tiêu trừ nghiệp chướng hay nhất là làm việc phóng sanh và giới sát. Cho

    nên, phóng sanh là công đức lớn nhất. Ông nếu tin được lời tôi, hãy mau mau tùy

    sức mà mua lấy vật mạng để phóng sanh thì có thể tăng phước, tăng thọ”.

    13. Cư sĩ Lý Bỉnh Nam

    Lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam nói về việc giới sát phóng sinh như sau: “Chúng sanh từ

    xưa nay không dứt nổi nghiệp giết hại, ai ai cũng phạm vào việc sát sanh.

    Sát sanh có thể chia làm hai loại: Một là trực tiếp, hai là gián tiếp.

    +Trực tiếp là tự mình giết hại chúng sanh, cắt xẻo lấy da thịt mà làm thức ăn.

    + Gián tiếp là vì mình ăn thịt chúng sanh nên khiến cho người khác phải làm việc

    giết hại để phục vụ mình.

    “Cái nhân tạo ra của hai loại sát sanh này tích tụ lâu ngày, gặp duyên thì kết

    thành cái quả của nạn đao binh, chiến tranh. Có người cho rằng, muốn cứu vãn nạn

    chiến tranh thì phải làm nhiều việc thiện như: sửa cầu, làm đường… Lời nói như

    vậy không thể tin cậy được. Bởi vì nay phải chịu nạn đao binh chẳng phải do cái

    nhân quá khứ phá hoại cầu cống, đường sá. Nay muốn lấy việc làm đường, sửa cầu

    cống mà giải trừ, thì là hai việc hoàn toàn khác nhau.

    “Tôi xin đem phương pháp phóng sanh đơn giản nói với các vị: Trước tiên phải gia

    trì chú Đại bi vào một ly nước sạch, rồi rưới lên mình chúng sanh được phóng

    sanh, miệng niệm bài sám hối như sau:

    Chúng con xưa nay tạo ác nghiệp, Đều do ba độc tham, sân, si,

    Từ thân, miệng, ý mà sinh ra.

    Nay đối trước Phật cầu sám hối.

    “Sau khi niệm như vậy ba lần rồi, lại vì những súc sanh ấy mà niệm Tam quy y:

    Quy y Phật, Quy y Pháp, Quy y Tăng.

    Quy y Phật không đọa địa ngục. Quy y Pháp không đọa ngạ quỷ. Quy y Tăng không

    đọa súc sanh.

    “Tại sao đối với chúng sanh phải nói Tam quy y? Bởi vì tất cả chúng sanh đều có

    hai cái mạng: Một là thân mạng, hai là huệ mạng.

    + Phóng sanh chẳng những cứu lấy thân mạng, mà cũng nên cứu lấy cái huệ mạng của

    chúng.

    + Nói Tam quy y cho chúng nghe là tạo nhân lành cho chúng, nếu nghe mà nhận được

    thì đời sau sẽ không phải rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Nếu được thân

    người thì có thể phát tâm Bồ Đề, tin sâu Phật pháp, sẽ có khả năng thành Phật.

    Đây tức là cứu cái huệ mạng của chúng”.

    14. Pháp sư Viên Nhân

    Pháp sư Viên Nhân dạy rằng: “Tật bệnh, ung thư, tai nạn… sở dĩ có thể bất hạnh

    sinh ra là duyên nơi nghiệp giết hại trước kia chúng ta đã tạo nên mà chiêu cảm

    lấy quả báo này.

    Phương thức giải quyết chính là phóng sinh. Nhờ vào việc bỏ tiền, bỏ sức để cứu

    mạng phóng sanh nên có thể đền trả vô số món nợ sát sinh trước kia mà chúng ta

    đã thiếu.

    “Điều quý báu nhất của mỗi chúng sanh đều là mạng sống. Giết hại chúng thì chúng

    oán hận nhất, oan cừu kết sâu nhất, cho nên nói nghiệp giết hại là nặng nhất.

    Ngược lại, cứu sống được chúng thì chúng cảm kích nhất, tạo được nhiều phước

    thiện nhất, cho nên nói công đức phóng sanh là đệ nhất.

    “Những ai phê phán, hủy báng việc phóng sanh, hoặc cản trở nghi ngờ việc phóng

    sanh cần phải lưu ý. Vì cản trở người phóng sanh thì cũng giống như sát sanh,

    khiến cho hàng ngàn hàng vạn sinh mạng không được giải cứu, phải hàm oan mà

    chết. Tội lỗi đó thật là vô lượng vô biên. Nhất định phải gấp rút sám hối, sửa

    lỗi, nếu không thì khổ hình nơi địa ngục nhất định không tránh khỏi”.

    CHƯƠNG IV: GIẢI TRỪ NGHI VẤN

    Ý nghĩa phóng sanh, tích cực hay tiêu cực?

    Hỏi: Mỗi lần chúng tôi phóng sanh, thường phải đến tiệm bán chim để mua chim. Vì

    tiệm bán chim chỉ có mấy tiệm cố định, nên mua lâu rồi thì chủ tiệm chim đều

    biết trước là chúng tôi sẽ đến mua chim để phóng sanh. Vì thế, họ cố ý thu gom,

    tồn trữ, chuẩn bị rất nhiều chim chờ chúng tôi đến mua. Phóng sanh như vậy thì

    sớm đã bị người ta đoán biết, nên cũng như gián tiếp khuyến khích họ đi bắt chim

    về để bán cho chúng tôi thả. Như vậy thì việc phóng sanh vô tình lại tạo điều

    kiện giúp người khác tạo sát nghiệp. Vì thế, rất nhiều người phê phán chúng tôi,

    chê cười chúng tôi là ngu si. Ngay cả trong lòng chúng tôi cũng có chỗ nghi

    hoặc, nên thật chẳng dám đi mua chim để phóng sanh nữa. Có thể giải thích mối

    nghi này như thế nào?

    Đáp: Chúng ta thả chim, đến tiệm bán chim không nỡ nhìn thấy chúng bị bắt, bị

    giam, sắp bị giết, nên phát lòng từ bi cứu lấy chúng nó, đem chúng nó đi phóng

    sanh. Đó là một công đức đơn thuần, chỉ trong một ngày thì có thể hoàn thành.

    Nhờ đó mà vô số chim có được cơ hội sống còn trong tự nhiên, khác nào như được

    tái sinh lần nữa!

    Chủ nhân tiệm chim biết được chúng ta sẽ mua chim phóng sanh, vì thế mà trước đó

    đã thu gom, tồn trữ, tìm khắp các nơi để mua sỉ, mua lẻ, mang về một chỗ chờ đợi

    chúng ta đến mua. Như vậy thì lại càng phải cố gắng mua cho thật nhiều, điều này

    có gì mà phải phân vân, do dự? Chỉ cần khả năng cho phép, họ thu gom được càng

    nhiều chim thì ta càng nên mua chim để phóng sanh.

    Ông hãy suy nghĩ cho kĩ việc này. Vì biết chúng ta phóng sanh nên chủ nhân tiệm

    chim mới tìm mọi cách, nghĩ ra mọi biện pháp để thu gom những con chim bị bắt

    được ở khắp nơi, toàn bộ đều mang về một chỗ để chờ chúng ta giải cứu phóng

    sanh. Tất cả những con chim khổ nạn kia được giải cứu ắt phải mừng đến rơi lệ;

    tất cả thiên long hộ pháp phải hết lòng tán thán việc lành này; chư Phật, Bồ Tát

    đều hết lòng hoan hỷ khen ngợi; tất cả oán thân trái chủ của chúng ta phải cúi

    đầu thất vọng; Ma Vương, tà chúng phải tức giận đến dựng mày trợn mắt!

    Chúng ta hãy thử đặt câu hỏi: Nếu như ngày nay chúng ta không phóng sanh nữa,

    không thả chim nữa, thì những thợ săn bắt chim kia sẽ thôi không bắt chim nữa

    chăng? Các tiệm bán chim kia sẽ đóng cửa không buôn bán được nữa chăng? Câu trả

    lời chắc chắn là không. Chim vẫn bị người ta tung lưới ra bắt. Tiệm bán chim vẫn

    mở cửa buôn bán như trước. Nhưng khi ấy, những con chim xinh đẹp, quý giá thì bị

    bán cho người ta nhốt vào lồng để thưởng ngoạn, còn những con chim xấu xí, giá

    trị không cao có thể bị bán cho người đem đi tiềm, nướng, làm thành từng xâu

    chim nướng rao bán bên lề đường… Lại có những con quá xấu xí, gầy ốm, không

    thể bán được nhưng rủi ro sa vào lưới, khi ấy thợ săn chỉ chọn một số chim có

    giá trị đem bán, còn những con chim tội nghiệp ấy thì đưa tay bẻ cổ một cái rồi

    quăng thây trong rừng núi hoang vắng.

    Vì thế, nếu như thật có tiệm bán chim chỉ chuyên bán chim để phóng sanh thì cũng

    chẳng sao cả. Cứ mặc tình chúng ta đến mua, mặc tình mang đi thả. Phóng sanh là

    phóng sanh. Phóng sanh tuyệt đối là một việc tốt đẹp. Tiệm bán chim để phóng

    sanh thì cũng chẳng khác nào một trại tập trung tù giam để chờ đợi đại ân xá.

    Những con chim kia, hoặc là mừng vui, mừng vui vì có cơ hội gặp người thiện tâm

    phóng sanh cứu mạng; hoặc là lo sợ, lo sợ rằng chúng ta đánh mất tâm niệm phóng

    sanh. Nếu chúng ta nhụt tâm thoái chí, nghe theo những kẻ năm lần bảy lượt đẩy

    đưa cản trở, thì chúng nó dù một mảy may cơ hội sống còn đều chẳng có!

    Một cuộc đối thoại: Phóng sanh hay phóng tử?

    Một thanh niên nhìn thấy bà cụ già đang thả cá phóng sanh. Chàng chú ý quan sát

    rồi đến gần bà cụ thắc mắc thưa hỏi.

    + Chàng thanh niên: Thưa cụ, cụ hãy xem kìa! Số cá vừa thả ra đã chết đi rất

    nhiều, thi thể nổi lên mặt nước. Phóng sanh như vậy chắc hẳn phải gọi là phóng

    tử, như vậy thì có ý nghĩa gì đâu?(16)

    + Bà cụ: Này cậu thanh niên, cậu hãy nhìn lại cho thật kĩ, lẽ nào không thấy

    được sao? Vẫn còn một số cá lớn sống trên mặt nước, vui mừng tung tăng bơi lội

    đó. Trong quá trình phóng sanh giải cứu vật mạng, khó lòng tránh khỏi có một

    phần nhỏ cá bị chết. Điều này không thể tránh được. Cũng như trong chiến tranh,

    quân nhân giải cứu đồng bào bị vây. Trong quá trình giải cứu cũng khó tránh khỏi

    có một vài người không may tử vong. Tuy nhiên, cũng không phải vì thiểu số bị tử

    vong mà bỏ đi hành động giải cứu.

    Lại cũng như trong khi cấp cứu, bác sĩ cứu chữa bệnh nhân đang lâm nguy. Trong

    quá trình cấp cứu cũng khó tránh khỏi một số bệnh nhân không may tử vong. Vẫn

    không thể vì thiểu số bệnh nhân tử vong mà bác sĩ bỏ đi hành động cứu chữa.

    + Chàng thanh niên: Thưa cụ, lời cụ thật có đạo lý. Nếu chúng ta không làm việc

    phóng sanh thì tất cả những con cá kia chỉ duy nhất có một đường chết mà thôi.

    Toàn bộ đều sẽ bị bán đi, bị giết chết, bị ăn thịt!

    Nhờ có chúng ta làm việc phóng sanh nên ít nhất những con cá kia vẫn còn một tia

    hy vọng, một cơ hội sống sót, tối thiểu cũng có một phần cá được lấy lại tự do,

    được cơ hội sống còn. Còn những con cá không may chết đi thì ít nhất cũng tránh

    được cực hình cắt xẻo, lửa đốt, nước sôi…Không có người phóng sanh thì những

    con vật bị bắt chỉ có duy nhất một con đường chết, vả lại còn phải chết một cách

    vô cùng thê thảm. Nhờ có người phóng sanh, ít nhất cũng có thể cho những con vật

    tội nghiệp kia một cơ hội sống sót. Vạn nhất chẳng may chết đi thì cũng được

    chết trong lòng tự nhiên, chết được toàn thây, giảm được sự đau khổ rất nhiều.

    + Bà cụ: Cậu thanh niên này! Xem ra cậu rất có căn lành, vừa nói qua thì cậu đã

    hiểu được ngay. Kỳ thật, còn có ý nghĩa sâu xa hơn nữa của việc phóng sanh là

    quy y Tam bảo và niệm Phật. Chúng ta được biết, quy y Phật không đọa địa ngục,

    quy y Pháp không đọa ngạ quỷ, quy y Tăng không đọa súc sanh. Trong pháp hội

    phóng sanh, dưới sự chủ trì của pháp sư, những súc sanh trong nhân duyên ngàn

    năm khó gặp này sẽ được quy y Tam Bảo. Nhờ đó mà trải qua đời này, nghiệp báo

    súc sanh dứt hết thì có thể nhờ công đức quy y Tam Bảo mà thoát được ba đường

    ác. Lại có pháp sư và nhiều cư sĩ thiện tâm cùng chí thành vì súc sanh tụng niệm

    Phật hiệu “Nam Mô A Di Đà Phật”, nhờ đó mà gieo vào tạng thức của súc sanh một

    hạt giống lành tròn đầy. Trong tương lai, hạt giống niệm Phật ấy sẽ đâm chồi

    thành thục, giúp súc sanh được sinh làm người, biết niệm Phật tu hành, vãng sanh

    về thế giới Tây Phương Cực Lạc, vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi, chứng đắc quả

    Phật. Đây mới là ý nghĩa tích cực nhất trong việc phóng sanh.

    + Chàng thanh niên: Thưa cụ, vô cùng cảm ơn những lời giải thích của cụ. Con hôm

    nay cuối cùng đã hiểu rõ được ý nghĩa chân chánh của việc phóng sanh. Kỳ thật,

    chết chỉ là một hình thức. Những con cá bị chết quả nhiên đáng thương, nhưng

    ngày nay đã được quy y Tam Bảo, lại được nghe câu thánh hiệu bất khả tư nghị

    “Nam Mô A Di Đà Phật” thì thọ mạng của súc sanh sớm được kết thúc, sớm được giải

    thoát, sớm được siêu sanh, sau này sớm biết niệm Phật tu hành, vãng sanh về thế

    giới Tây Phương Cực Lạc. Xét như vậy thì những con cá bị chết kia cũng là có

    phước báu. Con trước đây cứ mãi phê phán việc vật mạng phóng sanh bị chết, nay

    mới biết được chính mình là ngu si biết chừng nào.

    + Bà cụ: Cậu thanh niên này! Tất cả chúng sanh trong sáu đường luân hồi đều là

    khổ, gồm cả chúng ta trong đó. Chúng ta phóng sanh đương nhiên phải hy vọng toàn

    bộ súc sanh đều được sống. Hết lòng hết dạ làm cho chúng được sống còn. Nhưng

    nếu vẫn không may có một số chết đi, chúng ta cũng thành tâm cầu nguyện cho

    chúng sớm được giải thoát, được chuyển sinh, sớm biết niệm Phật, được vãng sanh

    về Thế Giới Cực Lạc. Chúng ta tự mình cũng chán lìa cõi Ta Bà, cầu sanh Cực Lạc.

    Hy vọng chính mình cũng sớm dứt nghiệp báo, được vãng sanh về thế giới Tây

    Phương Cực Lạc.

    + Chàng thanh niên: Thưa cụ, đúng vậy! Kỳ thật cái chết cũng chẳng phải thực sự

    bất hạnh. Có cái chết nhẹ như lông hồng, có cái chết nặng như Thái Sơn. Sau khi

    chết được siêu sanh, được vãng sanh Tây phương Cực Lạc Thế Giới, đó mới là đại

    giải thoát chân chánh, mới là nơi quy trú tốt nhất của tất cả chúng sanh trong

    sáu đường luân hồi. Từ nay trở đi con nhất định cố gắng phóng sanh, lại còn rộng

    khuyên tất cả mọi người phóng sanh. Càng phải nói với mọi người rằng ngày nay

    con được hiểu rõ giá trị và ý nghĩa chân chánh của việc phóng sanh. Cảm ơn cụ,

    cảm ơn cụ!

    + Bà cụ: Cậu thanh niên này, cậu nhất định phải ghi nhớ: Phóng sanh tức là cho

    súc sanh một cơ hội sống, một sự tự do, lại có được một cơ hội quy y Tam Bảo,

    một cơ hội được nghe niệm Phật. Dù thế nào cũng đừng vì những sự hủy báng cản

    trở mà khiến cho vô số súc sanh đang thọ khổ nạn kia phải mất đi cơ hội sinh

    tồn.

    + Chàng thanh niên: Thưa cụ, đúng vậy! Phóng sanh cũng là dành cho chính chúng

    ta một cơ hội cứu thân chuộc mạng, đền trả nợ giết hại, một cơ hội rộng chứa

    phước điền, tiêu trừ nghiệp chướng. Nhất định không thể vì bất cứ sự cười chê

    nghị luận, phê phán nào mà thối tâm nhụt chí, bỏ lỡ đi cơ hội quý báu nhất để

    tiêu trừ nghiệp chướng của chính mình.

    CHƯƠNG V: BỐN PHÁP BẢO

    1. SÁM HỐI

    Khi chưa học Phật thường cống cao ngã mạn, tự cho mình là đúng. Sống trong đời

    mỗi ngày đều mưu tính làm cách nào để cho mình được hơn người một bậc; làm cách

    nào để có được gia tài đồ sộ; làm cách nào để thân mình đeo đầy vàng bạc; làm

    cách nào để thanh danh vang xa… Suốt một ngày có 24 giờ, mỗi khi thức dậy đều

    đuổi theo: tham, sân, si. Ngay cả trong giấc ngủ cũng bị ba món độc này trói

    buộc, nhưng tự mình ngu si không giác ngộ, vẫn ở trong hầm phẩn mà chẳng tự

    biết, thật đáng xấu hổ đến cùng cực.

    Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện dạy rằng: “Chúng sanh trong cõi Nam Diêm Phù Đề,

    mỗi một cử động, mỗi một ý nghĩ đều phạm vào tội lỗi”.

    Sau khi được học pháp Phật mới bừng tỉnh ra, nhận thấy chính mình quả thật xấu

    xa độc ác. Toàn thân đều là những nghiệp sát sanh, trộm cướp, tà dâm, vọng

    ngữ…tội nghiệp sâu nặng. Trong sinh hoạt hằng ngày, nhất cử nhất động, khởi

    tâm động niệm đều là xấu ác. Ngày ngày đối diện với tham, sân, si của mình mà

    chiến đấu, vẫn cứ thất bại, rồi lại chiến đấu…Từ đó mới thể hội được sâu sắc

    bốn chữ: cụ phược phàm phu kẻ phàm phu đầy dẫy phiền não). Trong nhiều kiếp từ

    vô thủy đến nay đã tích lũy biết bao tập khí nghiệp chướng; sớm đã đem sáu căn

    (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) buộc chặt vào đến nỗi không thoát ra được.

    Muốn thoát khỏi tập khí, tiêu trừ nghiệp chướng nào phải dễ dàng. Như hôm nay ta

    chỉ có một con đường là sám hối. Kinh Kim Quang Minh, phẩm Sám hối (phẩm thứ 3)

    dạy rằng:

    Sở vị Kim Quang, Diệt trừ chư ác, Thiên kiếp sở tác, Cực trọng ác nghiệp, Nhược

    năng chí tâm, Nhất sám hối giả, Như thị chúng tội, Tất giai diệt tận. Ngã kim dĩ

    thuyết, Sám hối chi pháp, Thị Kim Quang Minh, Thanh tịnh vi diệu, Tốc năng diệt

    trừ, Nhất thiết nghiệp chướng.

    Tạm dịch:

    Chỗ gọi là Kim Quang Diệt trừ các điều ác.

    Cho dù trong ngàn kiếp Tạo nghiệp ác nặng nề. Nếu có thể một lần

    Chí tâm cầu sám hối Thì những tội lỗi ấy Hết thảy đều tiêu trừ. Ta nay đã thuyết

    dạy,

    Pháp sám hối nhiệm mầu, Gọi là Kim Quang Minh.

    Pháp thanh tịnh vi diệu

    Có thể diệt trừ nhanh

    Hết thảy mọi nghiệp chướng.

    Pháp sám hối Kim Quang Minh này là pháp bảo vô giá. Chúng ta là phàm phu trong

    thời mạt pháp của cõi thế giới có đủ năm sự xấu ác mà nghe được pháp môn này,

    chính là nhờ đã từng đối trước trăm ngàn vạn ức đức Phật trồng các căn lành, nay

    mới có được phước báu này.

    Nguyện cho tất cả mọi người đều có thể thành tâm sám hối, phát lộ tội lỗi, cầu

    mong chư Phật, Bồ Tát gia hộ, sớm diệt trừ tội chướng sâu nặng, và nhờ vào công

    đức sám hối này mà hồi hướng cho khắp các chúng sanh hữu tình rộng lớn, cầu cho

    khắp nơi thảy đều thoát ly biển nghiệp, cùng sanh về cõi Tịnh Độ Cực Lạc.

    2. PHÓNG SANH

    Luận Đại Trí độ dạy rằng: “Trong tất cả các tội ác, tội giết hại là nặng nhất.

    Trong tất cả các công đức, không giết hại là công đức lớn nhất.” Vì đối với tất

    cả chúng sanh, điều quý báu nhất chính là mạng sống. Bị giết hại thì sanh ra oán

    thù sâu nặng nhất; được cứu sống thì cảm kích, mang ơn nhất.

    Pháp đầu tiên trong sáu pháp Ba La Mật là Bố thí. Bố thí gồm có: tài thí, pháp

    thí và vô úy thí, mà chỗ đáng quý của việc phóng sanh là tự nó bao gồm đủ cả ba

    việc tài thí, pháp thí và vô úy thí. Vì gồm đủ ba cách bố thí nên công đức của

    việc phóng sanh là cao quý, lớn lao nhất.

    Pháp sư Viên Nhân đã chỉ dạy cho chúng ta pháp bảo vô thượng thù thắng là việc

    phóng sanh, mọi người càng nên trân quý, nỗ lực thực hành, để chẳng phụ lòng

    pháp sư đã khổ tâm lao nhọc dạy dỗ chúng ta.

    3. ĂN CHAY

    Kinh Lăng Già dạy rằng: “Ăn thịt cùng với sát sanh đồng tội. Trong tất cả tội

    nghiệp, nghiệp giết hại là nặng nhất.” Vì đã tạo nghiệp giết hại ắt phải nhận

    chịu quả báo bị giết hại. Nhân quả báo ứng là thảm khốc nặng nề nhất.

    Ngờ đâu, điều bất hạnh nhất của chúng ta là suốt đời mải mê tạo nghiệp giết hại

    mà không tự biết. Bởi vì ăn thịt đồng tội với sát sanh, nên ăn thịt tức là sát

    sanh. Chúng ta ngày ngày ăn thịt, tức là ngày ngày tạo nghiệp giết hại. Ba bữa

    ăn thịt tức là ba bữa vay nợ giết hại. Chúng ta vì ăn thịt chúng sanh mà kết

    thành mối oán thù sâu như biển lớn, vô lượng vô biên không thể tính đếm, nên quả

    báo trong tương lai thật khiến cho người ta không thể tưởng tượng nổi, không dám

    nghĩ đến.

    Kinh Niết Bàn dạy rằng: “Người ăn thịt là đoạn mất hạt giống đại từ.”(17) Tâm

    Phật tức là tâm từ bi. Chúng ta tu hành học Phật, tức là học theo tâm đại từ bi

    của Phật. Học được một phần tâm từ bi của Phật thì đạo nghiệp của chúng ta thành

    tựu một phần. Học được mười phần từ bi của Phật thì đạo nghiệp của chúng ta

    thành tựu mười phần. Những người ăn thịt, sớm đã đoạn mất hạt giống đại từ bi,

    thì còn biết làm sao được? Tâm từ bi không được nuôi dưỡng, không nảy nở. Không

    có tâm từ bi thì sớm đã lìa xa tâm Phật. Nên tất cả việc tu hành đều chỉ còn là

    sự thất vọng buồn chán!

    Kinh Lăng Nghiêm dạy rằng: “Người ăn thịt thì chỗ cầu công đức đều không thành

    tựu”. Chúng ta muốn cầu cho thân thể khỏe mạnh, cuộc sống bình an, con cháu hiển

    đạt, sự nghiệp thuận lợi; muốn cầu cho nghiệp chướng tiêu trừ, đạo nghiệp thành

    tựu, liễu sanh thoát tử, vãng sanh Tây phương; nhưng nếu là người ăn thịt thì

    chỗ cầu tất cả công đức đều không thể thành tựu. Đây là lời dạy bảo từ kim khẩu

    đức Phật.

    Nếu chúng ta không thể ăn chay, vẫn cứ ăn thịt, tạo sát nghiệp như cũ, thì tất

    cả tâm nguyện của chúng ta xem như vô phương thực hiện! Chính vì việc ăn chay

    quan trọng như vậy, nên Pháp sư Viên Nhân vẫn luôn giữ theo lời dạy của đức

    Phật, một lần rồi hai lần, hai lần rồi ba lần, nỗ lực không ngừng khuyên dạy mọi

    người phải cố gắng học Phật, nhất định phải mau mau ăn chay, mau mau dứt bỏ cái

    thói quen ăn thịt từ lâu ngày.

    Nếu có thể lập tức sửa đổi thành người ăn chay hoàn toàn là hay nhất. Nếu không

    có cách chi lập tức sửa đổi như vậy, thì vẫn phải luôn thôi thúc chính mình, đốc

    thúc chính mình hướng hoàn toàn về mục tiêu bỏ thịt ăn chay mà thực hiện dần

    dần. Vì ăn một lần thịt là tạo một lần sát nghiệp, kết một lần oán thù. Ăn mười

    lần thịt là tạo mười lần sát nghiệp, kết mười lần oán thù. Mỗi một lần ăn thịt

    là tạo ra sát nghiệp, là kết thành mối oán thù sâu đậm với chúng sanh. Tương lai

    nhân quả báo ứng vẫn phải chính mình đền trả. Tạo được vô biên công đức thì

    chính mình được hưởng, gây ra vô biên tội lỗi thì cũng chính mình nhận lãnh lấy.

    Mỗi một người học Phật đều phải nghiêm chỉnh trong việc này. Dù thế nào cũng

    không thể xem thường!

    4. NIỆM PHẬT

    Kinh Đại Tập dạy rằng: “Thời mạt pháp, muôn ức người tu hành cũng ít có được một

    người đắc đạo. Chỉ có y theo pháp môn niệm Phật mà được độ thoát sinh tử”.

    Đại sư Thiện Đạo dạy rằng: “Đức Như Lai sở dĩ xuất hiện trên thế gian này, mục

    đích duy nhất là giảng thuyết về bổn nguyện to lớn của đức Phật A-di-đà”.

    Chỉ một câu A Di Đà Phật là tinh hoa cao trổi nhất của đức Phật thuyết pháp

    trong 49 năm; là con đường tắt trong đường tắt; là diệu pháp trong diệu pháp.

    Nương nhờ đại từ đại nguyện của đức A Di Đà Phật, nương nhờ sức Phật mà cắt

    ngang qua dòng trược lưu sinh tử, siêu thoát luân hồi quả báo.

    Thời mạt pháp tu hành, nếu lìa khỏi pháp môn niệm Phật thì trong muôn ức người

    tìm không ra một người thành tựu. Niệm Phật có đầy đủ công đức không thể nghĩ

    bàn. Chúng ta nên chỉ theo một môn này mà thâm nhập. Đời này, kiếp này nên hết

    lòng niệm Phật, không xen tạp, không lòng này ý khác. Vì niệm một câu Nam-mô A

    Di Đà Phật thì tương đương như tụng hết 3 tạng, 12 phần giáo điển.

    Một câu A Di Đà Phật cũng tức là pháp thiền. Kinh Đại Tập dạy rằng: “Nếu ai nhất

    tâm niệm được câu Nam Mô A Di Đà Phật thì gọi là pháp thiền vô thượng thâm

    diệu”.

    Một câu A Di Đà Phật cũng tức là pháp mật. Sáu chữ hồng danh toàn y theo Phạn

    văn, chưa phiên dịch một chữ nào, là câu chú chân thật nhất, đơn giản nhất.

    Thế nên, một câu niệm Phật cũng vừa là pháp thiền, vừa là pháp mật, lại vừa có

    thể bao quát cả 3 tạng 12 phần giáo điển.

    Trong kinh dạy rằng: “Hàng Bồ Tát Thập địa xưa nay vẫn chưa từng rời bỏ câu niệm

    Phật”. Khi chúng ta niệm Phật, mười phương chư Phật đều đến hộ niệm. Trên từ các

    vị Bồ Tát Đẳng Giác, dưới đến bao chúng sanh nhiều tội nghiệp, một niệm đó đều

    như nhau, chính là một câu Nam Mô A Di Đà Phật.

    Thử nghĩ xem, chúng ta là phàm phu đầy dẫy phiền não, có phước đức năng lực gì

    mà được phước báu cùng các vị Đại Bồ Tát cùng tu một pháp môn? Các vị Bồ Tát Văn

    Thù, Phổ Hiền, Quán Âm, Thế Chí đều dạy chúng ta niệm Phật. Pháp môn niệm Phật

    thù thắng như vậy, khó gặp như vậy, đời này kiếp này chúng ta càng phải nắm

    vững. Nếu không có thiện căn của nhiều đời nhiều kiếp thì chúng ta không thể

    được nghe, càng không thể tin nổi câu Phật hiệu này.

    Pháp sư Viên nhân đem một câu Nam Mô A Di Đà Phật mà dung hội vào mọi việc: ăn,

    mặc, ngủ nghỉ, trong sinh hoạt hằng ngày. Nhất cử nhất động đều không lìa khỏi

    việc niệm Phật. Đối với Ngài thì chim hót, ếch kêu, mỗi tiếng đều là tiếng niệm

    A Di Đà. Ngài lấy thân giáo thị hiện mà chỉ dạy chúng ta một lòng niệm Phật.

    Chúng ta may mắn được gặp pháp sư Viên Nhân là bậc mẫu mực trong sự hành trì

    niệm Phật chân chánh, lại còn được thân cận thỉnh ích. Đây là một phước báu hết

    sức to lớn. Nguyện cho tất cả mọi người niệm Phật đều có thể một lòng một dạ

    niệm Phật cầu vãng sanh, một đời thành tựu để chẳng cô phụ đại từ bi nguyện của

    đức Di Đà, cũng chẳng quên ơn dạy dỗ với sự lao nhọc và ân cần chỉ dạy của pháp

    sư.

    CHƯƠNG VI:

    1. PHÓNG SANH LÀ NUÔI DƯỠNG LÒNG TỪ BI

    Câu chuyện sau đây được ghi theo lời kể của bác sĩ Quách Huệ Trân. Bản thân vị

    bác sĩ này là một người tinh tấn tu tập, tín tâm sâu vững, về sau xuất gia trở

    thành Pháp sư Đạo Chứng.

    Tôi có một người bạn đồng học hiện là giáo sư tại một trường đại học ở Hoa Kỳ,

    cũng là một nhà khoa học về thực phẩm nổi tiếng trên thế giới. Khi anh còn đang

    học trung học, bỗng nhiên mắc phải một cơn bệnh nặng. Cha mẹ đưa đi bác sĩ khắp

    nơi, làm rất nhiều xét nghiệm cực khổ. Một hôm, tại Tổng Y Viện Vinh Dân, kết

    quả xét nghiệm tìm thấy trong phim chụp X Quang phần ngực của anh có một vết đen

    lạ. Nhưng lúc đó bác sĩ cũng chưa có kết quả chẩn đoán chính xác.

    Người bạn học này của tôi vì chịu rất nhiều đau khổ nên khởi tâm từ bi, rất cảm

    thông với nỗi đau khổ của người khác. Lúc học lên đến bậc đại học, anh bắt đầu

    học Phật pháp, lại còn phát tâm thọ trì Năm giới. Sau khi thọ giới, anh càng chí

    thành, tinh tấn.

    2. VÌ KIÊN TRÌ GIỮ GIỚI MÀ TỪ BỎ HỌC VỊ THẠC SĨ

    Sau đó, lúc đang học chương trình Cao Học ở Hoa Kỳ, bài vở và việc thực nghiệm

    rất bận rộn. Mỗi ngày anh phải thức đến 12 giờ đêm hay 1 giờ sáng. Lâu ngày, do

    học nhiều và làm việc quá sức, lại thiếu ngủ nghỉ cũng như ăn uống thất thường,

    nên dần dần anh thấy xuất hiện một số triệu chứng: môi trở nên trắng bệch.

    Khi anh sắp lấy được học vị Thạc Sĩ, lần cuối cùng phải làm một cuộc thí nghiệm,

    đòi hỏi phải giết rất nhiều chuột trong khi thực hiện. Anh vốn đã có bản tính từ

    bi, lại thêm tinh thần trì giới, nên kiên quyết không làm việc sát sanh, quyết

    định từ bỏ học vị thạc sĩ sắp có được. Người nhà và bè bạn đều chê trách:

    “Tại sao đã chịu cực khổ học hành ở Hoa Kỳ lâu như vậy mà cuối cùng lại bỏ đi?

    Biết bao người mong muốn có được học vị này, nay anh sắp có được sao lại từ bỏ?

    Chẳng lẽ chỉ vì không muốn giết chuột lại từ bỏ một công trình khó nhọc lâu ngày

    như vậy hay sao?…”

    3. LÒNG TỪ BI VƯỢT THẮNG DỤC VỌNG CÔNG DANH

    Anh là một người rất ôn hòa nên không muốn biện luận, phân trần gì cả. Nhưng tâm

    từ bi và trí tuệ học Phật của anh đã vượt thắng lòng ham muốn công danh, lợi lộc

    của thế gian. Do đó, anh đổi ngành học để không còn phải sát sanh trong việc

    nghiên cứu.

    Anh lại phải khó nhọc rất lâu, nhưng cuối cùng cũng có được học vị Thạc Sĩ. Do

    tích lũy sự mệt nhọc lâu ngày thành bệnh, và anh mắc bệnh ung thư máu. Anh đã

    trải qua đủ mọi cách xét nghiệm khổ sở, anh cũng biết được trình trạng vô phương

    cứu chữa của mình nên từ chối nhập viện.

    Anh kiên trì ăn chay trường, kiên trì và chí tâm niệm Phật. Trong thời gian này,

    anh lại tiếp tục đeo đuổi học vị Tiến Sĩ ở trường đại học Wisconsin tại Hoa Kỳ.

    Ở vào tình trạng bệnh tật như anh, đối với người khác hẳn đã không thể nào duy

    trì được ý chí và nghị lực, nhưng cuối cùng anh vẫn lấy được học vị Tiến Sĩ ở

    trường đại học Wisconsin.

    Trong khi theo đuổi việc học tập, cho dù bận rộn đến đâu anh cũng không từ bỏ

    việc sớm tối tụng kinh, niệm Phật. Nhờ sức Phật gia hộ, cũng như nhờ sức công

    đức giữ giới không sát sanh, thành tâm niệm Phật, khiến anh có thể duy trì được

    cuộc sống an lạc, bình thường. Đây là một sự cảm ứng âm thầm không thể nghĩ bàn.

    Cuối cùng, anh đã khỏi hẳn bệnh ung thư máu trước sự ngạc nhiên của giới y khoa.

    4. PHÓNG SANH LÀ CỨU LẤY SINH MẠNG CỦA CHÍNH MÌNH

    Qua câu chuyện của người bạn nói trên, tôi nhận ra rằng ai có tâm từ bi thì

    người đó có một phước báu đặc biệt. Phóng sanh chính là sự khai phóng, sinh khởi

    lòng từ bi. Anh thà từ bỏ học vị mà mọi người mong muốn để giữ lại mạng sống cho

    những con chuột thí nghiệm. Khi làm như vậy, anh vốn cũng không có chỗ mong cầu,

    chỉ vì không đành lòng trước nỗi đau khổ của chúng sanh, lại tôn trọng giới luật

    của đức Phật nên quyết không sát sanh.

    Anh đã ở vào tình trạng kiên quyết “thà trì giới mà chết”, nhưng kết quả ngược

    lại đã không chết mà cũng không phải khổ! Anh hiện nay còn có thể đi đến các nơi

    trên thế giới để diễn giảng học thuật, sắc mặt cũng hồng hào, bình thường trở

    lại.

    5. TIỀN BẠC, HỌC VỊ ĐỀU KHÔNG ĐỔI ĐƯỢC MẠNG SỐNG

    Khi mạng sống của chúng ta kết thúc, cho dù tiền bạc có nhiều bao nhiêu, học vị

    có cao bao nhiêu cũng không cách nào mua lại được một phút sinh mạng. Sinh mạng

    đáng quý như vậy, cho dù là một con trùng nhỏ, chúng ta cũng không cách nào

    khiến nó đã chết rồi sống lại. Cho nên khi nó còn sống, phải biết trân quý, tôn

    trọng sự sống tự do, an ổn của nó.

    Lúc bình thường, chỉ cần dùng rất ít tiền bạc là có thể cứu giúp, tránh được sự

    sợ hãi của loài vật khi bị giết, có thể đem lại cho nó sự sống, sao ta lại không

    chịu làm? Nếu chúng ta thử đặt mình vào tâm trạng phải đối diện với cái chết,

    hoặc bỗng nhiên mạng sống bị rơi vào trong tay kẻ khác, sắp bị giết hại, thì

    chúng ta sẽ cảm nhận ngay được tâm trạng khát vọng, mong mỏi được phóng sanh như

    thế nào!

    Không nỡ để chúng sanh khổ,

    Không nỡ để thánh giáo suy.

    Do nhân duyên như vậy,

    Phát khởi tâm đại bi.

    6. TÂM TRẠNG CỦA NGƯỜI SẮP BỊ GIẾT

    Có một người họ Hứa làm việc ở trường trung học Đông Sơn. Một hôm, ông ở lại

    trong ký túc xá của nhà trường. Ban đêm, có một bọn trộm lẻn vào, bắt ông trói

    lại và bịt kín mắt. Trong bóng tối, ông nghe bọn chúng bàn với nhau là phải giết

    chết ông, vì ông đã thấy mặt bọn chúng, e rằng sẽ gây bất lợi về sau. Bọn cướp

    tay cầm hung khí, trói gô ông lại. Ông thuật việc đó như sau:

    “Tuy chỉ có ba tiếng rưỡi đồng hồ mà đối với tôi như cả một đêm dài dằng dặc,

    dài nhất trong cả cuộc đời tôi…”

    Ông trải qua một tâm trạng cực kỳ kinh sợ, rối loạn, chẳng khác nào một con vật

    đang chờ đợi bị giết. May sao, trong lúc hoảng hốt đó ông chợt nhớ đến đức Phật

    A Di Đà, nhớ đến thế giới Cực Lạc là nơi mình có thể sanh về. Do đó, ông vội một

    lòng niệm Phật, cầu Phật tiếp dẫn vãng sanh. Không ngờ, ông niệm Phật hồi lâu

    thì bọn cướp cuối cùng đổi ý không giết ông, kéo nhau bỏ đi.

    Tâm trạng được sống sót sau khi đối diện với cái chết thực sung sướng làm sao!

    Ông họ Hứa này từ đó về sau hết sức đề xướng, cổ động cho việc không sát sanh,

    làm việc phóng sanh. Bản thân ông đã cảm nhận một cách sâu sắc rằng: giảm một

    phần nghiệp giết hại là thêm một phần khí chất từ bi, an lành; cũng như công đức

    niệm Phật thật không thể nghĩ bàn, có thể khích lệ người phát tâm từ bi và thay

    đổi nhân quả xấu ác cho cả hai bên.

    7. LỜI KẾT

    Thời mạt pháp suy vi, yêu ma mê hoặc mọi người. Thường thường nghe nói việc giới

    sát phóng sanh là hành vi ngu si chẳng có ý nghĩa gì. Tuy nhiên, hy vọng mọi

    người có thể thâm thiết thể hội và suy nghĩ: Đức Phật lẽ nào có thể nói dối hay

    sao? Các vị Tổ Sư như Trí Giả, Vĩnh Minh, Liên Trì, Ấn Quang… lẽ nào là ngu si

    cả hay sao?

    Hàng ngàn, hàng vạn sự thực chứng cảm ứng về việc giới sát phóng sanh từ xưa nay

    vẫn còn rành rành, đó là giả tạo hay sao? Hy vọng chúng ta có thể thấu hiểu sâu

    sắc được tấm lòng của các bậc thánh nhân, hiểu rõ đạo lý sâu xa. Nguyện cho tất

    cả mọi người đều thấu hiểu sâu xa, nỗ lực đề xướng việc phóng sanh, nắm lấy cơ

    hội thân người khó được này để tuyên dương, vận động cho việc giới sát, phóng

    sanh, mang lại sự sống yên vui cho muôn ngàn sinh mạng. Đó mới thật là một việc

    làm vô cùng vĩ đại, xưa nay hiếm có!

    PHẦN II. NHỮNG CÂU CHUYỆN PHÓNG SANH

    A. PHÓNG SANH ĐƯỢC PHƯỚC BÁU

    1. TÂM TỪ BI CHUYỂN HÓA CÔN TRÙNG

    Câu chuyện sau đây được ghi lại theo lời kể của Đại đức Thích Nhuận Châu. Thầy

    hiện nay đang tu học tại Tịnh Thất Từ Nghiêm, Đại Tòng Lâm.

    Đại Đức Thích Nhuận Châu từ khi mới xuất gia theo học với Thượng Tọa Thích Quảng

    Hạnh, cùng với một số huynh đệ khác tu tập tại chùa Đức Sơn, thuộc huyện Tân

    Thành, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Vào những năm cuối thập niên 1980, chùa được xây

    dựng trong vùng dân mới lập nghiệp, điều kiện kinh tế nói chung còn rất khó

    khăn. Dân cư trong vùng đa số chỉ sống nhờ vào nông nghiệp. Nhà chùa cũng có

    được một khoảnh đất khá rộng để trồng tỉa, tự túc một phần lương thực cho đồ

    chúng.

    Vụ mùa năm ấy, cũng như thường lệ, quý thầy trồng đậu phộng để ép dầu ăn quanh

    năm. Khi đậu vừa lên xanh tốt, bỗng thấy bắt đầu xuất hiện nạn sâu rầy ăn lá,

    khiến cho những cây đậu đang tươi tốt chẳng bao lâu trở thành vàng vọt, không

    phát triển. Những người nông dân quanh đó liền lập tức sử dụng thuốc trừ sâu

    phun xịt liên tục. Vì thế, đám đậu phộng của nhà chùa trở thành nơi trú ẩn của

    đám côn trùng. Trong khi những ruộng đậu chung quanh ngày càng xanh tốt trở lại

    thì ruộng đậu của chùa vẫn cứ vàng vọt, tưởng như sắp chết cả.

    Mấy chú tiểu trong chùa thấy vậy nóng lòng, muốn sử dụng thuốc trừ sâu để cứu

    lấy ruộng đậu, nhưng thầy Nhuận Châu và các thầy khác đều ngăn lại. Quý thầy

    nói: “Vì sự sống của mình mà diệt sự sống của muôn loài, như vậy đâu có hợp với

    lòng từ bi của nhà Phật? Huống chi, ruộng đậu này có mất sạch thì chúng ta cũng

    chưa đến nỗi phải chết, vậy sao lại nỡ dứt đi con đường sống của muôn vạn côn

    trùng?”

    Tuy nói thì nói vậy, nhưng trong điều kiện kinh tế khó khăn khi ấy, phần thu

    hoạch mỗi năm của đám đậu phộng này là một phần chính yếu cho sự sống của Tăng

    chúng trong chùa, nên quý thầy cũng không khỏi lo lắng. Vì thế, mấy hôm sau thầy

    Nhuận Châu liền mời thêm mấy thầy nữa cùng đi lên đám đậu phộng. Thầy đứng ở đầu

    đám đậu phộng, lâm râm khấn nguyện rằng: “Hết thảy các chúng sanh côn trùng xin

    hãy nghe đây. Quý vị cũng vì sự sống mà nương náu nơi đây. Chúng tôi cũng vì sự

    sống mà phải gieo trồng đám đậu phộng này. Nay chúng tôi không đành lòng làm hại

    quý vị, chỉ mong quý vị hạn chế sự tàn phá, để Tăng chúng trong chùa còn thu

    hoạch được đôi chút.” Khấn nguyện như vậy rồi, các thầy cùng nhau trì Chú Đại Bi

    ngay tại đám đậu phộng, cầu sức gia hộ của thần chú để chuyển hóa tình trạng bế

    tắc này.

    Thật kỳ diệu! Khoảng vài tuần sau đó, khi ra thăm lại đám đậu phộng, quý thầy

    đều ngạc nhiên khi thấy sự tàn phá trên đám đậu phộng dường như không còn nữa.

    Đám đậu phộng tuy vẫn chưa hết màu vàng vọt nhưng đã thấy đâm lá non và phát

    triển đôi phần.

    Kỳ lạ hơn nữa, đến vụ thu hoạch thì mỗi gốc đậu của nhà chùa đều sai trái, chắc

    hạt, dù cây đậu rất vàng vọt, ốm yếu. Trong khi đó, những đám đậu quanh đó tuy

    xanh tốt, rậm rạp nhưng khi nhổ lên lại chẳng được mấy trái! Năm ấy, chùa Đức

    Sơn được một mùa bội thu kỳ diệu, và cũng được một bài học thực tế vô cùng quý

    giá rằng lòng từ bi có thể chuyển hóa được tất cả.

    2. THỰC HÀNH PHÓNG SANH CHUYỂN HÓA ĐƯỢC GIA ĐÌNH

    khi thấy thầy đang sử dụng một chiếc máy tính xách tay đời mới nhất! Là những

    người làm công việc biên khảo và dịch thuật kinh điển, chúng tôi ai cũng ao ước

    có được một chiếc máy tính xách tay cấu hình mạnh, vì như vậy sẽ hỗ trợ rất

    nhiều cho công việc, nhất là những khi có việc phải đi lại nhiều nơi. Tuy nhiên,

    với một Tăng Sĩ sống đời đạm bạc như thầy Nhuận Châu mà có tiền để mua chiếc máy

    tính xách tay này thì quả là điều khác lạ. Dù được quen biết thầy đã lâu, nhưng

    tôi cũng thấy khó hiểu được sự kiện này.

    Khi tôi đánh bạo thưa hỏi, thầy bật cười vui vẻ rồi nói: “Chuyện dài lắm, nhưng

    nói tóm một điều là tôi làm gì có tiền để ‘xài sang’ đến thế! Chiếc máy tính này

    là của một người Phật tử mua gửi cúng dường cho tôi. Còn nhân duyên vì sao mà có

    sự cúng dường này tôi sẽ kể cho anh nghe.

    Tôi nghĩ, khi nào có dịp anh cũng nên kể lại cho nhiều người cùng biết”.

    Và rồi thầy chậm rãi kể lại cho tôi nghe đầu đuôi câu chuyện.

    Số là, cách đây khoảng một năm, có một nữ Phật tử là Việt kiều về thăm quê, được

    một người đệ tử của thầy Nhuận Châu giới thiệu về thầy nên sau khi trở về nhà ở

    nước ngoài liền viết cho thầy một bức thư khá dài. Trong thư, bà than vãn về vô

    số những chuyện rắc rối gần đây liên tục xảy ra với gia đình bà, nhất là những

    bất đồng giữa mọi người trong gia đình mà hầu như chẳng bao giờ có thể thấy được

    nguyên nhân rõ ràng. Cuối cùng, bà khẩn thiết xin thầy một lời chỉ dạy, một lời

    khuyên bảo, rằng bà phải làm gì để có thể sớm giải tỏa được những khó khăn trong

    cuộc sống như thế này?

    Thầy Nhuận Châu nói: “Thú thật, có lẽ đây là yêu cầu khó nhất đối với tôi từ xưa

    nay. Tôi chưa từng biết qua người nữ Phật tử này cũng như gia đình của bà, càng

    không thể hiểu được nội tình những sự rắc rối, khó khăn mà bà đang gánh chịu.

    Như vậy làm sao có thể giúp bà ấy một lời khuyên cụ thể? Nhưng bà cứ một mực đặt

    niềm tin nơi tôi, khẩn thiết cầu mong tôi chỉ giúp cho bà một lối thoát trong

    hoàn cảnh bế tắc hiện tại. Vì thế, tôi nghĩ chỉ có một phương pháp duy nhất là

    phải tạo phước đức để hóa giải những tội nghiệp từ trước. Mà muốn tạo phước đức

    một cách nhanh chóng nhất thì không gì bằng thực hành phóng sanh. Thế là tôi

    viết thư cho bà ấy, khuyên bà hãy kiên trì thực hành hạnh phóng sanh trong 6

    tháng, sau đó hãy viết thư cho tôi biết kết quả. Ý tôi là sau thời gian này, với

    hạt giống thiện căn đã gieo trồng, hy vọng bà ta có thể sẽ sáng suốt hơn trong

    việc nhìn lại vấn đề. Và như vậy tôi mới có thể giúp bà đưa ra một lời khuyên,

    một giải pháp cụ thể nào đó…”

    Sáu tháng sau, quả nhiên thầy nhận được thư trả lời của người nữ Phật tử này.

    Kết quả hoàn toàn bất ngờ. Thầy không cần phải đưa ra thêm bất cứ một lời khuyên

    nào khác, vì bà ta không còn đòi hỏi gì hơn nữa ngoài việc hết lời cảm ơn sự chỉ

    dạy của thầy. Mọi vấn đề đều đã được giải quyết một cách tốt đẹp đến không ngờ.

    Và hiện tại bà ta vẫn tiếp tục thực hành việc phóng sanh như một phần trong cuộc

    sống hằng ngày. Câu chuyện được bà kể lại như sau.

    Với sự hướng dẫn chi tiết trong thư của thầy Nhuận Châu, người nữ Phật tử này

    lập tức kính cẩn làm theo. Bà dành nhiều thời gian và tiền bạc để tìm mua các

    loài vật như chim, cá… và thả cho chúng trở về với tự nhiên. Chồng bà là một

    người nước ngoài, thấy bà làm như vậy thì lấy làm lạ, liền hỏi nguyên do. Theo

    lời dạy của thầy, bà nói rằng làm như vậy để được phước đức, cầu sự an ổn trong

    gia đình. Chồng bà không tin lắm, nhưng cũng không có ý cản trở. Không ngờ chỉ

    ít lâu sau đó, ông ta chợt nhận ra một điều lạ là mỗi khi họ dừng xe ở đâu đều

    có những bầy chim bay đến đậu quanh đó, cất tiếng kêu ríu rít. Khi xe lăn bánh

    rồi chúng vẫn còn bay theo một đoạn xa như tiễn biệt. Rồi ít lâu sau nữa, sáng

    nào khi họ chạy xe ra khỏi nhà cũng đều có những con chim bay đến chào mừng.

    Người chồng bắt đầu tin rằng việc phóng sanh không phải là vô ích. Ông đã nhận

    ra rằng loài vật cũng có những tình cảm và sự biết ơn không khác loài người. Vì

    thế, ông cũng bắt đầu cùng tham gia vào việc mua chim phóng sanh với vợ mình.

    Khi cùng nhau làm việc này, tình cảm của họ đối với nhau bắt đầu thay đổi rõ

    rệt. Cả hai đều trở nên hòa nhã và biết lắng nghe, luôn tôn trọng và cảm thông

    với nhau. Những bất đồng giữa họ hóa ra chẳng có gì là phức tạp và khó giải

    quyết cả. Nhờ có dịp tìm đến tiếp xúc với những con vật trong điều kiện bị bắt

    nhốt, bị giam cầm, bị đe dọa mạng sống, nên họ mới nhận ra rằng cuộc sống tự do

    của họ là đáng trân quý biết bao nhiêu. Và những va chạm xích mích hằng ngày

    trước đây đều trở nên vụn vặt không đáng kể khi so với sự may mắn lớn lao là họ

    đang được sống khỏe mạnh và tự do, không bị giam cầm hay đe dọa đến mạng sống.

    Nhờ vậy, chỉ trong một thời gian ngắn sau đó thì hai người đã trở nên một cặp vợ

    chồng hạnh phúc, hòa thuận.

    Dần dần, có những con chim tìm đến làm tổ quanh nhà họ, vì dường như chúng cảm

    thấy rằng sẽ được an ổn, được che chở. Thế là họ liền nghĩ đến việc mua thực

    phẩm để cho chúng ăn vào mỗi buổi sáng. Sân nhà của họ không bao lâu trở thành

    một sân chim vào mỗi sáng, và cả hai đều không ngờ rằng việc “nuôi chim” lại có

    thể mang đến cho họ niềm vui vô cùng lớn lao như vậy. Chỉ cần nhìn những con

    chim thật dễ thương nhảy nhót vui vẻ và vô tư trên sân, không một chút lo lắng

    hoảng hốt, họ cảm thấy như mọi sự mệt nhọc của công việc đều tan biến. Một thời

    gian sau, công việc đòi hỏi họ phải chuyển đi một nơi xa, đành phải bán căn nhà

    đang ở. Lúc này, với tâm từ bi đã được nuôi dưỡng trong thời gian qua, họ thực

    sự lo lắng cho đàn chim khi không có họ nơi đây. Vì thế, họ đã đưa ra một điều

    kiện trước khi chấp nhận bán nhà là người chủ mới phải cam kết bảo vệ đàn chim

    quanh nhà. Ngoài ra, họ còn trích từ tiền bán nhà ra một số tiền lớn và để lại

    cho người chủ mới để mua thực phẩm cho chim ăn. Người mua nhà hết sức ngạc nhiên

    trước những yêu cầu của những người bán nhà mà ông ta cho là quá kỳ lạ, nên cố

    gạn hỏi nguyên do. Sau khi nghe hai vợ chồng người “nuôi chim” này kể lại cặn kẽ

    mọi việc xảy ra kể từ khi họ thực hành phóng sanh, thật bất ngờ là người mua nhà

    liền phát tâm sẽ bỏ tiền mua thực phẩm cho chim ăn mà không cần hai vợ chồng

    người kia phải để lại số tiền ấy.

    Sau khi viết thư kể lại cho thầy Nhuận Châu nghe về mọi sự chuyển biến trong

    thời gian thực hành phóng sanh theo lời dạy của thầy, vị nữ Phật tử kia cũng bày

    tỏ lòng biết ơn sâu sắc và mong muốn được kính biếu thầy một món quà nhân dịp

    này. Được nghe nói về công việc biên khảo và dịch thuật của thầy, bà quyết định

    mua gửi tặng thầy một chiếc máy tính xách tay đời mới nhất.

    Có một điều thú vị là, cho đến nay thầy Nhuận Châu vẫn chưa từng gặp mặt vị nữ

    thí chủ kia!

    3. THẢ CÁ ĐƯỢC THOÁT NẠN

    Có một người đáp thuyền đi xa. Lên thuyền, nhìn thấy có hai con cá đang bơi lội

    rất vô tư trong một cái thùng, có thể đến trưa sẽ bị giết để nấu nướng. Người ấy

    động lòng mới nói với chủ thuyền: “Anh bán hai con cá này cho tôi đi!” Chủ

    thuyền đáp: “Được, nhưng giá 2 con cá này rất đắt, đến 300 đồng. Lúc nào anh

    muốn ăn, tôi sẽ làm thịt nấu nướng giúp anh.” Người ấy vui vẻ lấy ra 300 đồng

    tiền đưa cho chủ thuyền để mua hai con cá, lại nói rằng: “Hôm nay tôi không

    thích ăn cá, xin ông đừng nấu”.

    lúng túng trả lời: “Đừng! Đừng! Hôm nay tôi ăn chay!” Thật ra anh ta không ăn

    chay, nhưng chẳng qua muốn viện lý do để không phải giết chết hai con cá đang

    bơi lội trong thùng, nên mới nói dối rằng mình ăn chay. Rồi anh ta thả cá xuống

    sông, trả lại mạng sống và sự tự do cho chúng.

    Lại cách một ngày sau, thuyền đang giong buồm trên sông, bỗng cuồng phong nổi

    dậy, sóng cao ngút trời, cả thuyền đều sợ khiếp vía. Đang lúc mọi người hốt

    hoảng quỳ lạy khẩn cầu Trời Phật cứu mạng, bỗng nhiên thấy từ trên mây hiện ra

    hai chữ “giả chay”. Mọi người ai cũng thấy rất rõ. Có người liền hỏi lớn: “Trên

    thuyền chúng ta có người nào giả chay?” Hỏi đến mấy lần như thế thì người ấy

    nghĩ thầm: “Chắc là mình giả ăn chay, xúc phạm luật trời. Nếu giấu không nói ra

    ắt là làm hại tất cả mọi người”. Nghĩ vậy rồi lập tức lớn tiếng trả lời: “Là

    tôi, là tôi đây!” Mọi người đều nói: “Vậy ông nhảy xuống nước đi”. Rồi hè nhau

    xô đẩy anh ta xuống nước. Bỗng đâu trên mặt sông trôi đến một tấm ván lớn. Người

    ấy vừa bị đẩy xuống sông, bắt được tấm ván liền bám chặt vào một cách an toàn.

    Ngay khi ấy, một trận gió lớn đẩy anh tấp vào bờ và được người cứu sống. Nhìn

    lại chiếc thuyền kia không chịu nổi sóng to gió lớn đã lật úp, toàn bộ những

    người trên thuyền đều chết chìm, làm mồi cho cá.

    Chúng ta thử nghĩ xem, người giả ăn chay này, chính nhờ khởi lên một niệm từ bi

    làm việc phóng sanh mà hóa ra đã cứu được mạng sống của chính mình!

    4. DÙNG VOI CHỞ NƯỚC

    Từ khi đức Phật Thích Ca Mâu Ni giáng sinh nơi cõi đời ô trược này, thuyết pháp

    giáo hóa muôn loài, chúng sanh mới hiểu được lý “nhân quả báo ứng”, sát sanh,

    phóng sanh. Trong kinh Kim Quang Minh, phẩm Lưu Thủy Trưởng Giả Tử có nói về

    tiền thân của Ngài khi còn hành đạo Bồ Tát, đã trải lòng từ bi dùng voi chở nước

    cứu mạng chúng sanh. Câu chuyện như sau.

    Thuở xưa, ở Ấn Độ có một hiền giả, là con của một vị trưởng giả, có lòng nhân

    từ. Ngày kia, nhân có việc ra ngoài, nhìn thấy bên cạnh núi có một ao nước rộng

    lớn đang bị khô cạn. Trong hồ, có một đàn cá đến hàng vạn con đang sống. Trên

    trời thì nắng gắt, còn dưới ao lại cạn khô dần trong nay mai, tất cả những con

    cá đều đang nằm thoi thóp chờ chết.

    Vị hiền giả thấy rồi liền sinh lòng thương xót, lập tức về triều, vào cung yết

    kiến quốc vương, xin vua mở rộng lòng từ bi cấp cho 20 con voi trắng lớn để vận

    chuyển nước về đổ vào ao, giúp cho những loài động vật kia thoát nạn khô cạn.

    May thay! Vị quốc vương này là đệ tử Phật, trước đã quy y Tam Bảo. Sau khi nghe

    lời cầu thỉnh của vị hiền giả, quốc vương hoan hỷ chuẩn tấu.

    Sau đó, hai cha con hiền giả cùng đi đến quán rượu, mượn nhiều bình chứa rượu

    lớn, cho nước vào đầy rồi dùng voi chở đến đổ vào ao khô. Cứ mang nước đến rồi

    trở về lấy nước, nhiều lần qua lại mà không cảm thấy mệt nhọc chút nào, chỉ nghĩ

    đến sự sống còn của bầy cá dưới ao mà cố gắng không ngừng. Ông trời hình như cảm

    động tấm chân tình đó, nên đã bắt đầu rưới xuống những trận mưa lớn, thấm nhuần

    muôn loài cùng vạn vật, ban sự sống cho muôn vạn sinh linh. Cuối cùng, hàng vạn

    mạng sống trong hồ đã được cứu sống. Vị hiền giả thấy thế lòng vô cùng hoan hỷ,

    lại còn vì đàn cá nói pháp vô thường, khổ, không, vô ngã… Đàn cá số đông đến

    mười ngàn con, đã có phúc duyên được cứu sống lại nhờ nghe pháp, hiểu rõ lý

    “nhân quả báo ứng”, phát tâm bỏ ác làm lành, nên ngay trong ngày cùng bỏ thân

    cá, thần thức thác sinh lên cõi trời Đao Lợi, hưởng phước vô cùng.

    5. SA DI CỨU ĐÀN KIẾN

    Chuyện kể rằng có chú Sa Di là đệ tử của một bậc Cao Tăng. Vị này đã tu chứng

    Túc Mạng Thông, biết đệ tử của mình sẽ bị chết yểu và thời gian sống chỉ còn 7

    ngày thôi. Ngài bèn gọi chú Sa Di đến cho phép về gia đình thăm mẹ và người

    thân, dặn đến ngày thứ tám hãy trở lại chùa. Bổn ý của Ngài là muốn chú Sa Di

    khi từ giã trần gian này được chết trong vòng tay ấm cúng của gia đình, bên cạnh

    người thân.

    Khi thăm mẹ và người thân xong, chú Sa Di trở về chùa đúng thời hạn quy định. Vị

    thầy thấy đệ tử chẳng những không chết mà dung mạo lại thêm tươi tắn, trong lòng

    cảm thấy kỳ lạ. Ngài liền nhập định tìm xét lý do. Hóa ra, chú Sa Di trên đường

    trở về thăm nhà gặp một trận mưa lớn, nên tìm nơi trú. Sau khi hết mưa, chú định

    tiếp tục lên đường, chợt thấy bên hè nhà có một đàn kiến rất đông đang bị nước

    cuốn trôi. Chúng cố dùng chân quờ quạng tìm chỗ bám víu, cố chống chọi với cơn

    đại nạn. Có con vì yếu sức đành buông xuôi, mặc cho dòng nước cuốn trôi số phận

    nhỏ nhoi của mình. Thấy rồi, chú Sa Di chạnh nghĩ: “Bầy kiến kia nào có khác chi

    người, cũng đang cố gắng giành giật lấy sự sống trong tự nhiên. Trong lúc gian

    nan nguy cấp này, sao ta lại không cứu giúp?” Thế là, chú Sa Di nhặt một cành

    cây bên cạnh bắc qua làm cầu, lần lần cứu đàn kiến ra khỏi dòng nước.

    Khi ấy, vị thầy liền gọi chú Sa Di đến và nói: “Ta cho con về quê thăm mẹ là vì

    biết mạng sống của con chỉ còn không quá 7 ngày. May nhờ con biết khởi lòng từ

    bi cứu sống cả đàn kiến đông đảo, nên công đức lớn lao ấy đã giúp con được kéo

    dài tuổi thọ, được thêm tướng tốt”.

    Quả nhiên, về sau chú Sa Di ấy thọ đến 80 tuổi. Và sau sự việc đó, chú càng tinh

    tấn tu hành, chứng được quả A La Hán, vĩnh viễn dứt mọi nỗi khổ trôi lăn trong

    sáu đường.

    6. THẦY ĐỒ THẢ CÁ LÝ NGƯ

    Ở tại địa phương kia có một thầy đồ họ Khuất. Một hôm đang đi dạo bên bờ sông,

    thấy ngư phủ câu được một con cá lý ngư màu đỏ, định đem ra chợ bán. Khi nhìn

    con cá đang giãy giụa, thầy Khuất bỗng khởi lòng từ bi, thấy như ánh mắt đau đớn

    của nó đang hướng về thầy cầu cứu. Lòng không nỡ nhìn thấy cảnh ấy, thầy liền bỏ

    tiền mua lại con cá, xong đem đến chỗ vắng thả lại xuống sông.

    Về sau, thầy mang chứng bệnh trầm trọng, sắp phải qua đời. Một đêm, đang nằm

    thoi thóp trong phòng, bỗng mơ thấy có một người tướng mạo oai phong lẫm liệt,

    tự xưng là Long Vương.

    Long Vương bảo thầy Khuất: “Thọ mạng của tiên sinh lẽ ra đến đây đã dứt, song vì

    thầy có lòng từ bi cứu mạng con ta là Thái Tử Long Cung nên được phước báu, có

    thể sống thêm 12 năm nữa”. Nói xong biến mất. Năm ấy, Khuất tiên sinh mới được

    48 tuổi.

    Thầy Khuất tỉnh dậy, bệnh tật dường như tiêu mất, trong người khỏe khoắn bình

    thường. Từ đó tiếp tục sống cho đến 60 tuổi, rồi không bệnh mà chết, con cháu

    đông vầy, nhiều đời vinh hiển.

    7. BẦY CHIM CHÔN CẤT ÂN NHÂN

    Tôn Lương vốn là người quê mùa nhưng lòng dạ rất nhân hậu, tuy cảnh nhà nghèo

    túng nhưng thường làm việc cứu vật phóng sanh.

    Mỗi lần đi đâu, thấy những con chim bị người giăng bẫy bắt nhốt trong lồng, ông

    liền đem tiền dành dụm mua chim rồi thả chúng bay đi. Lúc mở cửa lồng để thả

    chim, nghe tiếng chim kêu ríu rít, rồi bay lượn vòng trên hư không trông rất tự

    do tự tại, lòng ông cảm thấy vui thích, khoan khoái. Và như thế, ông cũng không

    biết là mình đã thả được bao nhiêu bầy chim rồi, cho dù cuộc sống của ông vẫn

    nghèo thiếu.

    Ông mất vào năm 70 tuổi. Do không có người thân cũng không có bằng hữu, lại thêm

    gia cảnh nghèo khó nên không có tiền của để lại lo việc tang ma, không người

    chôn cất. Cuối cùng, người ta đem thi thể của ông bỏ nằm ở vùng núi ngoài thành,

    trông rất thê thảm.

    Bỗng dưng, có một bầy chim cả ngàn vạn con cùng bay đến, đông rợp cả bầu trời.

    Trong miệng mỗi con ngậm một cục đất, bay nhả thành hàng trên thi thể của Tôn

    Lương. Không quá một ngày đã chất đầy đất lên như một ngọn đồi lớn.

    Tôn Lương đã được an táng một cách hy hữu như thế. Mọi người chung quanh thấy

    việc kỳ lạ, họ cố tìm nguyên nhân. Cuối cùng mới hiểu, do vì lúc sanh tiền Tôn

    Lương thường mua chim phóng sanh, bầy chim cảm ơn cứu mạng nên ngậm đất đắp mộ

    để báo đáp.

    8. PHÓNG SANH TĂNG TUỔI THỌ

    Niên hiệu Đạo Quang nhà Thanh (1821- 1850), có vị Thái Thú Đồ Cầm Ô, trước lúc

    làm quan đã từng bệnh rất nặng, lại thêm uống nhầm thuốc nên suýt phải mất mạng.

    Trong lúc nguy ngập sắp từ trần, Thái thú phát nguyện: “Nếu được tai qua nạn

    khỏi, nguyện sám hối nghiệp chướng đã gây tạo, làm tất cả việc lợi ích cho mọi

    người.” Công danh phú quý đối với ông giờ đây như nước chảy mây bay, không còn

    vướng bận nữa.

    Đêm nọ, Thái Thú nằm mộng thấy đức Quán Âm Đại Sĩ hiện ra nói rằng: “Đời trước

    ngươi đã từng làm quan ở nước Sở, do xử lý công việc quá nghiêm khắc nên tổn

    thương đến lòng nhân hậu. Tuy công tâm làm việc nhưng cũng bị quả báo giảm mất

    tước vị và bổng lộc, thêm nữa là hay sát sanh hại vật nên đời nay quả báo phải

    bị chết yểu. May sao trong lúc bệnh ngươi đã phát thệ nguyện kiên cố, niệm niệm

    đều mong được làm lợi ích cho chúng sanh, không mảy may có tâm oán trách, nên

    thay đổi được nghiệp báo, có thể tạm qua được cơn bệnh này. Nhưng chỉ có mỗi một

    việc phóng sanh mới có thể tăng thêm phúc lộc và tuổi thọ, ngươi cần phải cố

    gắng.

    Sau khi tỉnh giấc, Thái Thú ghi nhớ rõ ràng từng lời trong giấc mơ và hối hận về

    những lỗi lầm của mình đã tạo từ trước, nên càng quyết tâm sửa ác tu thiện và

    cùng gia đình đồng giữ giới không sát sanh, lại thường xuyên làm việc phóng

    sanh.

    Mùa đông năm ấy, vua ban chiếu lệnh đưa ông đến nhậm chức Thái Thú Cửu Giang –

    Viên Châu. Phước báo đến với ông quá bất ngờ, ân đức vượt trội, khiến ông càng

    tích cực làm lành hơn nữa. Sang mùa đông năm sau, ông lành bệnh, lại còn khỏe

    mạnh hơn xưa. Đó là do phước báu phóng sanh cảm nên vậy.

    9. ĐƯỢC PHƯỚC SỐNG LÂU

    Trước kia, ở Tô Châu có một người tên Vương Đại Lâm, cả đời rất thương mến loài

    vật. Bất kể là loài vật nào ông cũng yêu thương và thường mua những con vật bị

    bắt đem phóng sanh.

    Khi thấy trẻ em trong thôn làng bắt các loài vật như cá, chim để vui chơi, ông

    liền dùng lời nhẹ nhàng khuyên răn, giải thích là làm như thế sẽ giảm lòng từ

    bi. Sau đó còn đem tiền cho bọn trẻ để đổi lấy con vật, rồi tìm chỗ an toàn thả

    chúng đi.

    Ông thường khuyên nhủ thanh thiếu niên: “Khi còn trẻ, các con cần rèn luyện đức

    tính nhân từ, thương mến sinh mạng chúng sanh, các con không nên nuôi dưỡng thói

    quen tàn nhẫn, giết hại chúng nó”.

    Đám trẻ trong làng đều nghe theo lời khuyên dạy chân tình của ông, nên trở thành

    những đứa trẻ hiền lành, ngoan ngoãn, hiếu thảo, thương người. Cha mẹ, người

    thân của chúng, ai cũng vui mừng khôn kể. Cho đến các bậc phụ huynh của những

    làng lân cận thấy thế, cũng bắt chước phương pháp ấy mà dạy dỗ con mình.

    Có thời gian, Vương Đại Lâm bệnh nặng sắp chết, trong cơn mê sảng bỗng nghe có

    người nói với ông: “Ông cả đời thương vật phóng sanh, phước báu và công đức vô

    lượng, nên được tăng tuổi thọ, sống thêm 36 năm nữa”.

    Sau đó, ông được lành bệnh. Sống thọ đến năm 97 tuổi mới từ biệt cõi đời. Con

    cháu năm đời đều vinh hiển và cùng sống chung trong một đại gia đình, thật hạnh

    phúc.

    10. ĐÀO AO PHÓNG SANH

    Vào thời Trần – Tùy, Đại Sư Trí Khải là Tổ Sư của Tông Thiên Thai. Vua Tùy Dạng

    Đế kính Ngài là bậc đạo hạnh, nên ban hiệu là Trí Giả.

    Đại Sư cảm thương cho sự tàn ác của người đương thời, giết hại muôn vạn sinh

    linh chỉ vì tìm cầu chút vị ngon nhất thời của cái lưỡi. Ngài muốn khuyến hoá

    mọi người phát triển tâm từ bi, nên đã cùng với nhiều đệ tử đi quyên góp khắp

    nơi. Số tiền xin được, Ngài mua một miếng đất rộng dài, ra sức đào ao thả cá,

    lại khuyên dạy người đời giữ giới không sát sanh và phóng sanh. Đồng thời, Ngài

    tâu lên triều đình xin vua hạ lệnh cấm không được bắt cá trong ao. Đến niên hiệu

    Trung Quán nhà Đường vẫn còn giữ nguyên lệnh ấy.

    Sang các đời vua khác, đều là các vị minh quân cùng các bậc Cao Tăng đồng xướng

    đạo dẫn đường dạy mọi người tu Mười điều lành. Niên hiệu Càn Nguyên, đời vua

    Đường Túc Tông, triều đình từng hạ chiếu ra lệnh cho các châu, huyện đều phải

    đào ao phóng sanh. Niên hiệu Thiên Hy năm đầu, đời Tống Chân Tông, cũng hạ chiếu

    lệnh bắt mọi người mở rộng việc đào ao thả cá. Tây Hồ ở Hàng Châu trước kia cũng

    là một ao phóng sanh, hiện nay là một thắng cảnh danh tiếng tại Trung Quốc.

    Khi nhà Minh lên ngôi, Đại Sư Liên Trì đã từng ở nơi đây tạo thêm hai ao phóng

    sanh, còn lập bia ghi chép sự lợi ích của việc phóng sanh hộ vật, và truyền rộng

    khắp thiên hạ. Từ đó cho đến nay, phong tục hay đẹp này đã ảnh hưởng sâu rộng

    trong nhân gian, người có lòng nhân, phát tâm từ bi thật vô số kể.

    11. THƯƠNG CON ĐỨT RUỘT

    Đời Tấn bên Trung Hoa, tại xứ Nhữ Nam có một người tên Hứa Chân Quân, thuở thiếu

    thời có thú vui săn bắn. Ngày kia, anh vào rừng săn thú, bắn trúng một nai con.

    Vừa định buông cung đến bắt nai, bỗng đâu có bóng con nai lạ từ xa phóng lại gần

    xác nai con, dùng miệng liếm trên vết thương của con vật. Nó không màng đến kẻ

    thù đang đứng bên cạnh, bao nguy hiểm đang rình chờ, chỉ cất lên tiếng kêu sầu

    não và bày tỏ cử chỉ yêu thương với con vật đã chết.

    Hứa Chân Quân nghĩ chắc đây là con nai mẹ, mới có cử chỉ trìu mến với chú nai

    nhỏ như thế, nên cũng chạnh lòng thương cho tình mẫu tử của chúng nó. Chỉ lát

    sau, nai mẹ ngã xuống đất chết. Hứa Chân Quân mang hai con nai trở về nhà, định

    xẻ thịt nấu thức ăn, phần còn lại sẽ đem phơi khô làm lương thực khi cần. Anh

    dùng dao mổ bụng nai mẹ trước, mới thấy là lá gan của nó đã nát ra, còn ruột thì

    đứt thành từng đoạn nhỏ. Thấy rồi, Chân Quân cảm động cho tình mẫu tử sâu đậm

    của loài vật, càng nghĩ càng thương đến ứa nước mắt. Từ đó, Quân vô cùng hối

    hận, bẻ gảy cung tên và từ bỏ nghề săn bắn.

    Tất cả loài vật đều có tình mẫu tử thiêng liêng như con người không khác. Giây

    phút sinh ly tử biệt, người mẹ nào không thương xót con mình. Hơn nữa, người mẹ

    còn bất chấp cả nguy hiểm đang chờ, chỉ một bề muốn cứu con thoát khỏi hoạn nạn.

    Nai mẹ kia nào khác với con người, thương con đến tan nát cả ruột gan. Ôi! Trên

    đời còn có gì sâu nặng hơn tình mẫu tử ư! Người ta sao nỡ vì miếng ăn ngon mà

    gây ra sự chia lìa sinh ly tử biệt?

    Về sau, Hứa Chân Quân được tiến cử làm quan. Nhân ý thức cuộc danh lợi chỉ như

    sương trên đầu ngọn cỏ nên đã sớm từ quan, lui về ở ẩn, theo thầy học đạo. Sau

    đó, ông chu du khắp nơi cứu dân độ thế, dạy người làm lành, lánh dữ.

    Sau khi tạ thế, vẫn còn hiển linh giúp dân. Vua Tống truy phong là Thần Công

    Diệu Tế Chân Quân, người đời gọi là Hứa Chân Quân hay Hứa Tinh Dương.

    B. SÁT SANH CHỊU ÁC BÁO

    1. ĐỨT LƯỠI VÌ DAO MỔ TRÂU

    Trước đây, ở vùng Giang Tô, huyện Thường Thục, cạnh sông Hoàng Hà, trong ngôi

    nhà tranh nghèo lụp xụp, có một người sống bằng nghề giết trâu. Cứ mỗi lần người

    ấy sắp làm thịt trâu, thì việc đầu tiên là cắt lấy lưỡi. Tội cho những con trâu

    bạc phước, đang còn sống mà bị người cắt lấy lưỡi, đau đớn vô cùng, rống tiếng

    kêu đau. Vậy mà người ấy không một chút động lòng, thản nhiên coi như chuyện

    bình thường. Khi hoàn tất công việc, người ấy đem lưỡi trâu về nhà ngâm rượu,

    đúng ngày đem ra nhâm nhi, hả hê với thức ăn đặc biệt do mình chế biến, chỉ

    riêng trâu ngậm ngùi.

    Có một hôm, ông để con dao mổ trâu phía trên cánh cửa ra vào, chợt nghe tiếng

    hai con chuột kêu rúc rích trên ấy. Tò mò, ông muốn biết xem chúng làm gì, nên

    bước lại gần ngước đầu nhìn lên. Thì ra hai con chuột kia nghe mùi tanh từ con

    dao mổ, tưởng là có thức ăn ngon nên đến tranh nhau, nào ngờ đụng vào con dao

    rơi xuống trúng ngay miệng của người đồ tể ấy, khiến cho đầu lưỡi của ông đứt

    lìa. Ông đau đớn giẫy giụa hồi lâu rồi mới chết.

    Người đồ tể kia một đời sát sanh hại vật, thói quen thành nghiệp, nên dửng dưng

    trước những đau đớn của loài vật. Ưa thích rượu thịt, cắt lưỡi chúng sanh, tội

    nhiều biết bao! Nếu ông hiểu được lý “nhân quả nghiệp báo” thì có lẽ đã lường

    trước được sự báo ứng mà dè dặt trong hành động, không để cho tâm hiếu sát sai

    khiến, hẳn đã biết dừng dao tạo nghiệp, không gây thương tổn cho loài vật như

    thế!

    2. ĐAU ĐỚN SUỐT BA THÁNG

    Nơi miền Giang Tô, thuộc trấn Nam Tường, huyện Gia Định, bên cạnh sườn núi phía

    nam, có một người tên Tào Thăng Nguyên, rất thích ăn thịt chó, thường giết chó

    để ăn thịt.

    Hôm ấy, Tào Thăng Nguyên đem con chó đã giết chết ngâm vào trong chậu nước, đang

    lúc tính toán sẽ phân chia thịt chó ra mấy phần. Bỗng con chó từ trong chậu nước

    ngồi bật dậy nhảy cao khoảng một thước, đầu sấn vào Tào Thăng Nguyên há miệng

    thật lớn cắn một cái, máu từ thân người của hắn chảy ra dầm dề. Quá đau đớn nên

    hắn hôn mê bất tỉnh. Trong cơn mê hắn nhớ lại tất cả cảnh hắn đã từng giết chó,

    và bị vô số chó chạy theo rượt cắn, nên sợ hãi kêu la. Người bàng quan không một

    ai dám nhìn tình trạng thê thảm của hắn.

    Sau khi Tào Thăng Nguyên bị chó cắn, kiếm tìm thầy thuốc trị bệnh, nhưng thuốc

    thang đều vô hiệu, bệnh không chút thuyên giảm. Thế rồi, vết thương càng ngày

    càng thêm lở loét, đau nhức thấu ruột gan, kêu khóc suốt ngày đêm, trọn ba tháng

    rồi mới chết. Quanh vùng ấy, những người thích ăn thịt chó, thấy sự việc xảy ra

    như thế, lòng lo sợ bị quả báo nên không dám giết chó ăn thịt nữa.

    3. CẮT LƯỠI THÚ VẬT CON BỊ KHUYẾT TẬT

    Trong sách Pháp Uyển Châu Lâm có ghi: Đời Đường Cao Tổ, niên hiệu Vũ Đức, có một

    nông phu rất hung ác. Sáng nọ, như thường lệ ông ra thăm đồng ruộng. Từ xa, ông

    trông thấy con trâu của nhà hàng xóm đang nhởn nhơ ăn lúa và giẵm đạp lên đám

    ruộng tươi tốt của ông. Giận quá, ông chạy đến nắm chặt lấy đầu trâu, lấy dây

    dàm quấn vào lưỡi trâu rồi dùng sức kéo mạnh một cái. Tức thời, lưỡi con vật bị

    đứt lìa, trông tình trạng của con vật trông thật thê thảm, đáng thương. Miệng

    đầy máu tuôn ra xối xả, khua dậm chân nhìn thấy rất đau đớn, nhưng hình như biết

    lỗi nên không dám rên la. Mọi người thấy vậy đến vây quanh xem rất đông. Thấy

    thảm cảnh của con trâu, ai nấy đều chỉ trích sự tàn nhẫn của người kia.

    Thời gian sau, người nông phu ấy lập gia đình, sinh được ba đứa con. Cả ba đứa

    trẻ đều bị câm. Mọi người nhân sự việc này mà xét đoán lý nhân quả. Bởi do lòng

    dạ tàn nhẫn mà ngay trong cuộc sống hiện tại của người nông phu kia bị chiêu cảm

    quả báo đau khổ như thế. Lý nhân quả không sai chạy chút nào.

    4. NGƯỜI TÀN ÁC CHẾT ĐAU ĐỚN

    Trước đây có một vị Tri Huyện họ Trương, đặc biệt thích ăn món chân ngỗng và

    trái tim của con dê còn sống.

    Mỗi lần muốn ăn món chân ngỗng, trước tiên ông sai người bắt ngỗng bỏ vào chảo

    sắt, sau đó đốt lửa. Nhưng phải là lửa lớn thì chân ngỗng mới ngon. Do vậy, ngọn

    lửa từ dưới lò được quạt cháy dữ dội, đỏ rực một vùng. Thương cho con ngỗng bị

    sức nóng của lửa đốt, hoảng hốt nhảy loạn cả lên. Nó quạt đôi cánh cố vùng lên

    khỏi nắp chảo, xoay bên này, bên kia, miệng kêu la nghe rất thảm. Ban đầu con

    ngỗng còn phản ứng mạnh, nhưng dần rồi nó quằn quại trong lòng chảo nóng, đến

    nỗi không còn cất tiếng kêu được nữa. Đôi chân của nó bị đốt phồng to lên, máu

    toàn thân tụ về, đau đớn khôn xiết, nhưng đó là chỗ mà người đời cho là món ăn

    đặc biệt. Thế rồi, nó liền bị người cắt đứt đôi chân. Lại tiếp tục đun nấu cho

    đến khi toàn thân ngỗng đều chín tới.

    Thử tưởng tượng như việc này mà xảy ra với chúng ta hoặc người thân của chúng ta

    thì quả là một cực hình không sao tưởng tượng nổi! Vậy mà có người lại nỡ làm

    như vậy với con vật chỉ vì một miếng ăn ngon. Thật tàn ác biết bao!

    Còn khi muốn ăn món dê, thì ông bắt trói con dê treo trên đầu cây cột sau bếp.

    Rồi dùng dao đâm xuyên ngực, xương sườn của con dê, sau đó mới moi lấy trái tim

    dê đem đi nấu nướng. Con dê đau đớn kêu la thảm thiết! Tiếng kêu của nó nghe rất

    sầu não, đôi mắt ngoái nhìn quanh quất như tìm vị cứu tinh, hai chân lay động

    như muốn vượt khỏi xích xiềng.

    Thế rồi, sau thời gian thụ hưởng như thế, thân của vị Tri Huyện kia bỗng sưng

    phù lên, đầy mụn nhọt độc, chạy chữa thế nào cũng không hết, rên la đau đớn suốt

    ngày. Và Tri Huyện bị quả báo hiện tiền kia, mang chứng bệnh thống khổ hành hạ

    rất lâu mới chết.

    5. NGƯỜI LÀM ÁC PHẢI BỊ CHẾT THÊ THẢM

    Đời Thanh, niên hiệu Ung Chánh, tại huyện Quỳ Hưng, tỉnh Triết Giang có người họ

    Ngụy thường theo nghiệp săn bắn. Người này dùng súng bắn chim thú và các loài

    ếch, nhái, rùa… rất giỏi, chuyên pha thuốc độc để giết cá, phá hủy tổ chim,

    sát sanh hại vật vô số kể, nghiệp ác của hắn thật không kể xiết.

    Mọi người chung quanh thấy thế tìm đủ mọi cách khuyên nhủ, còn đưa ra những việc

    về nhân quả báo ứng, mong rằng ông Ngụy biết sợ hãi hối hận mà giảm bớt việc sát

    sanh. Nhưng ông Ngụy không những chẳng nghe lời khuyên bảo mà còn cười chê những

    lời ấy là vô căn cứ.

    Càng về sau, ông ta tạo tội càng nhiều. Nhưng chẳng bao lâu, trên người ông mọc

    lên nhiều mụn nhọt độc, khắp thân phồng lên vô số bọc nước. Trong mỗi mụt nước

    có chỗ cứng như một viên sắt tròn. Tiếp đó da dẻ bị cháy sém, bắp thịt lở loét,

    ung mủ rồi dần dần thối rửa. Ông nằm trên giường bị bệnh khổ hoành hành, đau đớn

    kêu la không sao kể xiết. Căn bệnh kỳ lạ ấy hành hạ ông cho đến chết.

    Sau khi ông Ngụy chết, bỗng đâu có vô số loài vật như: cá, ếch, rùa, chim, lớp

    bò, lớp bay vào trong phòng mổ xé thi thể của ông mà ăn. Người vợ của ông thấy

    thế buồn thương vô hạn. Song, nghĩ đến chồng mình đã giết hại biết bao chúng

    sanh, nên ngày nay phải bị nghiệp báo như thế. Bà không dám làm hại chúng nữa.

    Chỉ trong chốc lát, thi thể ông Ngụy đã bị các con vật ăn hết sạch, chỉ còn trơ

    lại một bộ xương trắng.

    Ông Ngụy đã bị chết thê thảm, lại thêm quả báo xấu là không có con để nối dõi

    phụng thờ. Thật là một việc đáng cho chúng ta suy xét mà ngăn ngừa tâm ác đối

    với loài vật.

    6. CÁ LƯƠN TRẢ THÙ

    Có người họ Lục ở Quý Châu, đã hơn 60 tuổi, rất thích ăn lươn. Ông thích đến nỗi

    mỗi bữa cơm hằng ngày nhất định phải có món lươn hầm thì mới chịu ăn và ăn rất

    ngon. Thật chua xót thay, để đổi lấy sự ngon miệng cho ông mà biết bao nhiêu con

    lươn đã bị sát hại.

    Có một hôm, ông đến chợ mua lươn. Ông đòi chọn những con mập lớn. Bấy giờ, người

    bán lươn mới nhường cho ông tự chọn lấy. Ông Lục liền xắn tay áo thò vào chum mò

    bắt lươn, nào ngờ bầy lươn hè nhau cắn chặt vào cánh tay ông. Bị cắn đau, thêm

    phần hoảng sợ, nên sắc mặt ông tái xanh, té xỉu ngay xuống đất. Nhưng bầy lươn

    vẫn không chịu nhả ra, chụm thành một xâu đeo lủng lẳng trên tay ông. Lúc ấy,

    người trong chợ vây quanh đứng nhìn rất đông. Con ông hay tin liền chạy đến, nhờ

    mọi người phụ khiêng ông về nhà. Trước tình cảnh ấy, người nhà của ông đành phải

    dùng dao cắt đứt mấy con lươn. Song, phần đuôi lươn thì rơi xuống, mà đầu lươn

    vẫn không chịu nhả rời cánh tay ông. Không biết trải qua thời gian bao lâu,

    chúng nó mới chịu nhả ra. Nhưng hỡi ôi! Trên cánh tay ông, chỗ bị lươn cắn đã

    không còn một chút thịt. Ông họ Lục rên la hồi lâu rồi tắt thở!

    7. BẮT ẾCH BỊ QUẢ BÁO

    Năm Đạo Quang thứ 16 (1836), ở Tô Châu có vị quan ra cáo thị nghiêm cấm việc bắt

    ếch.

    Trong vùng có một nông dân tên Trương A Hỷ, vốn sinh sống bằng nghề bắt ếch, nên

    y vẫn lén lút bắt ếch đem bán. A Hỷ là người quê mùa ngu dốt, lại thêm bản tính

    hung bạo, ngang bướng. Có người thấy hắn làm nghề bị cấm nên khuyên nhủ: “Ếch là

    loài động vật bảo vệ cây nông nghiệp, rất có ích. Quan phủ đã dán cáo thị nghiêm

    cấm không cho bắt ếch, ông nên đổi nghề đi, còn có rất nhiều cách để sinh sống

    không phạm pháp, lại cũng không tổn hại lòng từ bi. Tội gì phải lén lút khổ sở

    như thế?”

    Mặc dù được nhiều người thương tình khuyên bảo, nhưng A Hỷ vẫn không đổi nghề.

    Một bữa nọ, sau trận mưa lớn, nước sông dâng lên cao, A Hỷ đến bờ sông bắt ếch.

    Vì vô ý nên trượt chân té xuống sông bị chết đuối. Hai ngày sau, thi thể hắn nổi

    phình lên mặt nước, có nhiều con ếch xanh bu trên thây chết tranh nhau cắn rỉa

    thịt. Cư dân ở gần thấy vậy rủ nhau đến xem rất đông. Tất cả đều sợ hãi mà bảo

    nhau rằng: “Có lẽ đây là quả báo hiện tiền do việc bắt giết ếch của hắn”.

    Cứ tưởng tượng lại hình ảnh khi hắn bắt ếch sống: chặt đầu rồi lột da, ếch kia

    oằn oại lâu lắm mới chết. Sự đau đớn của những con vật ấy thật là vô kể. Nếu

    chúng ta là những con ếch ấy thì sự đau đớn về thân xác cũng như niềm oán hận

    trong lòng sẽ sâu đậm lắm, cho nên đối với việc ếch trả thù như thế cũng là lẽ

    đương nhiên. Song nhìn thấy người vì sát sanh hại vật, thương tổn lòng từ bi mà

    bị quả báo đến thế kia, thì chúng ta cũng không khỏi thượng xét lại mình mà dè

    dặt không nên để cho ba nghiệp tạo ác.

    8. CỘNG NGHIỆP SÁT SANH

    Cư dân sống quanh vùng Thái Hồ, thuộc tỉnh Triết Giang hầu hết đều sống bằng

    nghề lưới chim, bắt cá. Cứ thế, cha truyền con nối, hết đời này đến đời khác,

    mọi người đều quen với nghề nghiệp ấy và không hề nghĩ là mình đang sống trên sự

    khổ đau của loài vật. Trong vùng ấy, riêng có gia đình ông Trần Văn Bảo lại

    thích làm việc lành. Mỗi khi thấy ai lưới chim, bắt cá, thấy mình đủ khả năng

    cứu giúp thì gia đình ông liền xuất tiền mua lại rồi đem phóng sanh, lại còn ân

    cần khuyên nhủ mọi người cùng nhau làm việc từ thiện. Ông thường nói rằng: “Chỉ

    một việc sát sanh đã làm thương tổn lòng từ bi, mất phước đức, giảm tuổi thọ,

    lại còn bị báo ứng rất đáng sợ, gần nhất là ngay trong đời này, xa nữa là trong

    nhiều đời sau”.

    Chuyện kể lại như sau: Đêm hôm ấy, có một người dân trong vùng đang trên đường

    ra chợ, chợt thấy có hai con quỷ, trong tay cầm rất nhiều lá cờ, vừa đi vừa nói

    với nhau: “Trừ gia đình ông Trần Văn Bảo ra, vì những người ấy thương người cứu

    vật, được miễn khỏi cắm cờ ngay nhà của họ, còn lại ta và ngươi cứ theo thứ tự

    cắm mỗi nhà một lá cờ”.

    Chỉ một thời gian ngắn sau đó, cả vùng ngư phủ đều bị bệnh dịch truyền nhiễm, có

    hơn 300 gia đình do bị bệnh dịch mà chết. Riêng gia đình ông Trần Văn Bảo không

    một ai bị bệnh cả. Cả đời ông Bảo làm việc thiện, lúc về già vẫn còn mạnh khỏe,

    sống rất thọ. Khi từ giã cõi đời, ông ra đi thật an nhiên tự tại.

    9. ẾCH ĐÒI MẠNG

    Năm Dân Quốc thứ nhất (1912), ở huyện Vô Vi thuộc tỉnh An Huy có một người thợ

    hớt tóc. Những bữa cơm hằng ngày của ông không bao giờ thiếu món thịt ếch. Vì

    thích ăn món thịt ếch mà ông đã giết không biết bao nhiêu con ếch vô tội.

    Có một đêm, khi chuẩn bị lên giường ngủ, ông chợt thấy ếch nằm đầy giường, trên

    gối, mền cho đến trên cổ áo, tay áo của ông đều có ếch bu đông nghẹt. Ông ngồi

    dậy, bước ra ngoài nhóm bếp lửa đun một nồi nước sôi, bắt hết những con ếch ấy

    bỏ vào nồi nước sôi cho chết. Xong rồi, tiếp tục leo lên giường định ngủ. Nhưng

    lại thấy ếch cũng đầy giường như khi nãy, còn nhiều hơn nữa là khác! Ông lại tìm

    cách đánh xua đuổi, bắt ếch bỏ ra ngoài, nhưng không bắt xuể. Suốt đêm như vậy,

    hình ảnh những con ếch khiến ông không hề chợp mắt được.

    Hôm sau, ông kể lại cho những người hàng xóm nghe sự việc lạ lùng này. Ngay khi

    ông đang thuật chuyện, bỗng la lên hoảng hốt: “Kìa, chúng nó lại đến, nhảy bám

    trên cổ tôi”. Nói xong, dùng tay phủi lia lịa. Kỳ lạ là mọi người chung quanh

    lại không hề nhìn thấy ếch!

    Chốc lát sau, ông lại la lên: “Kìa, ếch bu đầy trên đầu, trên mặt, trên mí mắt

    của tôi rồi!” Ông vừa phủi vừa chạy đi tìm dao cạo, cạo sạch cả lông mày, cả tóc

    trên đầu, mà vẫn chưa yên, cứ la ếch bu hoài!

    Thật ra, nào có ếch bám trên đầu người ấy! Đây chỉ là ảo giác do ông giết hại

    quá nhiều ếch mà sanh ra đó thôi. Mọi người thấy ông không còn tự chủ, la sảng

    như vậy mãi, đều bảo nhau: “Chắc ông này bị điên rồi”.

    Từ đó, ngày ngày ông thường la khóc vang trời, ngày đêm hốt hoảng, không một lúc

    nào tỉnh táo. Gia đình ông vì thế cũng rối bời, bất an không dứt. Chứng bệnh kỳ

    lạ ấy hành hạ ông suốt 6 năm trời rồi chết.

    10. SÁT SANH BỊ NƯỚC CUỐN

    Cư dân ở vùng Giang Tô, Nhuận Châu chuyên nghề đánh cá sinh nhai. Họ sống bằng

    nghề sát sanh như thế đã nhiều đời, tập nhiễm thành tính ác. Mỗi ngày, mọi người

    đều bắt ếch, bắt ốc, chài cá làm thức ăn, người lớn dạy trẻ em biết cầm dao để

    chặn bắt ếch. Người dân vùng này lấy sát sanh làm sở trường, đồng thời nuôi

    dưỡng, dạy dỗ con cháu như thế.

    Nhưng lạ một điều là trong vùng lại có một bà lão họ Khổng, tính thương người

    thương vật, tuổi đã 70 vẫn còn lao nhọc dệt vải kiếm sống qua ngày và dành tiền

    mua vật phóng sanh. Bà thường khuyên mọi người giảm bớt việc sát sanh hại vật,

    đem hết khả năng của mình cứu loài vật được đến đâu hay đến đó. Bà nói: “Hãy

    tránh giết loài trùng, kiến, ốc, nhái… Chớ cho đó là việc thiện nhỏ. Mọi người

    cần phải có tâm từ bi, thương xót mạng sống loài vật chung quanh. Nếu người

    trong thôn này cứ mãi sát sanh hại vật, thì mai sau ắt không tránh khỏi quả báo

    nặng nề”.

    Đời vua Càn Long, sáng ngày mùng 9 tháng 9 năm Ất Dậu, bờ đê sông Hoàng Hà bị

    sạt lở, nước tuôn tràn vào những vùng lân cận, gây tai họa khủng khiếp, trong đó

    có thành Nhuận Châu. Cả thành Nhuận Châu đều bị chìm trong biển nước. Nhà cửa,

    ruộng vườn, trâu bò… vô số kể đều chịu chung số phận nước cuốn trôi. Người,

    vật chết nổi phình lên giữa biển nước mêng mông, không biết đâu là bờ.

    Trước đó một ngày, người trong thôn nhìn thấy Khổng Bà bồng đứa cháu nhỏ trong

    nhà đi đến ngôi chùa trên núi cao, vào điện lễ Phật rồi xin ở lại qua đêm. Nhờ

    vậy, bà thoát được tai nạn hãi hùng này. Phải chăng, chính nhờ lòng nhân từ, yêu

    thương loài vật của bà Khổng đã giúp bà được an lành không phải chịu chung quả

    báo khủng khiếp của cả vùng?

    11. CON BA BA ĐÒI MẠNG

    Miền Nam tỉnh Giang Tô có một vị phú ông, tiền của nhiều đến ức vạn, cuộc sống

    xa hoa, lại thích ăn món ngon vật lạ. Một hôm, nhà ông chuẩn bị tổ chức yến tiệc

    linh đình, người đầu bếp đi chợ mua về một con ba ba lớn. Lúc chuẩn bị giết con

    ba ba ấy, nhìn thấy con vật chảy nước mắt, người đầu bếp không nỡ xuống tay,

    liền bẩm với chủ nhân hết sự tình và xin thả con vật. Phú ông chẳng những không

    thương xót, trái lại nổi giận tự cầm dao chặt đứt đầu con ba ba. Lưỡi dao sắc

    bén, nên chỉ một nhát là đầu con ba ba đứt lìa khỏi cổ. Nhưng việc xảy ra ngoài

    dự đoán đến không ngờ. Là cái đầu con ba ba lại nhảy lên bám chặt trên sàn nhà

    bếp. Ông và người đầu bếp đều kinh dị, nhưng vì đang chuẩn bị tiệc lớn nên cũng

    bỏ qua, cứ để đầu con ba ba trên sàn nhà như vậy, định sau rồi hãy tính.

    Khi thịt của con vật chế biến thành thức ăn thơm ngon, được chia thành hai đĩa

    dọn lên bàn tiệc. Ai nấy nghe mùi thơm đều thích chí đồng ăn Song đến khi phú

    ông gắp đũa thịt thứ nhất ăn rồi, lập tức nhức đầu, hoa mắt, xây xẩm và hôn mê

    bất tỉnh. Ông lại thấy cái đầu ba ba trên sàn nhà nhảy tới, nhảy lui trước mặt

    ông. Người nhà đưa ông vào phòng nghỉ, ông cũng lại thấy giường, nệm, màn, mùng

    … nơi nào cũng có cái đầu của con ba ba. Ông còn lải nhải một mình: “Ở đâu mà

    có đến ngàn vạn đầu con ba ba cắn vào mình mẩy, tay chân của tôi, làm cho đau

    nhức đến tận xương tủy”. Ông lải nhải như thế suốt ba ngày đêm, cuối cùng chịu

    không nổi sự đau đớn nên tắt thở mà chết.

    12. QUẢ BÁO HIỆN TIỀN

    Trong quyển bút ký của tiên sinh Ký Hiểu Lam có ghi câu chuyện: Quê ông có một

    người họ Cổ, tướng mạo xấu xí, thân hình to lớn, sống bằng nghề mổ giết trâu. Vợ

    con của ông cũng rất giỏi nghề này. Cách sử dụng dao của bà cũng nhanh nhẹn như

    ông không khác. Ngày qua tháng lại, cuộc sống của gia đình ông được sung túc ấm

    no. Nhưng ngậm ngùi thay, sự êm ấm, no say của họ được đổi bằng nỗi bất hạnh của

    những con vật bị giết.

    Thời gian sau, mắt ông Cổ bị đau nhức nhiều, tìm hết thầy này thầy nọ chữa trị,

    tiền của hao tổn mà vẫn không hết, lần hồi ông không nhìn thấy được gì nữa. Đôi

    mắt ông đã mù.

    Riêng phần vợ ông lại bị chứng bệnh lở loét hôi dơ. Máu mủ ung đầy, chảy ra tanh

    hôi, quần áo bị dính chặt vào người, hễ động đậy là đau nhức không chịu nổi.

    Suốt ngày rên la trên giường không nghỉ, lảm nhảm nói: “Đây là do lúc trước ta

    cắt cổ và lột da trâu, chúng đau đớn thế nào thì nay ta phải chịu gấp đôi như

    vậy. Ôi! Biết bao giờ mới khỏi cực hình này”. Nói xong, rên la liên tục suốt

    ngày đêm. Mọi người đến thăm, thấy tình cảnh ấy cũng thương tình, nhưng không

    biết làm sao!

    Thế rồi, sau thời gian bị hành hạ vì chứng bệnh quái ác, bà nhắm mắt lìa đời

    trong đau đớn, hãi hùng.

    Việc này đã được cô con dâu nhà họ Thẩm chính mắt trông thấy và kể lại.

    Ôi! Nghiệp giết hại loài vật tội báo rất nặng. Xét như con trâu thật có công rất

    lớn đối với con người, đã giúp chúng ta biết bao việc nặng nề, vì sao lại giết

    trâu ăn thịt? Quả báo hiện tiền, nhân quả không sai chạy, rất mong mọi người hãy

    để tâm suy nghĩ việc này thật thấu đáo.

    13. CẮM ĐẦU VÀO NỒI VÌ BẠO SÁT

    Có một người làm nghề đồ tể ở huyện Lâm Thanh – Đông Sơn. Một hôm, người ấy đem

    tiền mua một con trâu. Con trâu linh tính tự biết mình sẽ bị giết chết nên đứng

    hoài không chịu đi. Người kia nắm dây mũi kéo mạnh rồi đánh con trâu túi bụi,

    con trâu cố né đòn roi và nhất định không đi, cho đến khi sức gượng yếu dần, thế

    rồi để mặc cho người đồ tể kia kéo lôi quát tháo.

    Khi con trâu đi ngang trước cửa nhà phú hộ, nhìn thấy người chủ của nhà ấy, bỗng

    nhiên hai chân quỳ xuống, nước mắt chảy đầm đìa, như muốn xin người kia cứu

    mạng. Ông phú hộ thấy tình cảnh như thế, cảm động vô cùng, hỏi người đồ tể đã

    mua con trâu này với giá bao nhiêu? Đáp: Tám vạn quan tiền. Ông phú hộ ngỏ ý mua

    lại con trâu ấy để cứu mạng nó. Nhưng người đồ tể vì giận con trâu quá ương

    ngạnh, trì trệ không đi, làm ông mệt nhọc, nên nhất định không bán. Phú ông cứ

    năn nỉ mãi, song người ấy một mực từ chối, còn nói: “Bởi vì con trâu này đáng

    ghét, nên tôi nhất định đem nó về làm thịt mới hả giận của tôi”. Con trâu nghe

    lời người đồ tể nói, biết không còn hy vọng nào sống sót, liền từ từ bước đi

    theo ông.

    Người đồ tể giết trâu xong, đem thịt trâu bỏ vào trong nồi chưng nấu, rồi về

    phòng ngủ một giấc. Đến 3 giờ sáng ngày hôm sau mới đi xuống bếp nếm thử vị mặn

    lạt của nồi thịt trâu, nhưng đi lâu rồi mà chưa trở lại phòng ngủ tiếp. Vợ người

    đồ tể thấy kỳ lạ, nên đi tìm. Vừa bước xuống nhà sau, bà ấy liền hoảng kinh hồn

    vía. Trời ơi! Nửa phần trên của chồng bà đã đâm đầu vào trong chảo, bị chưng nấu

    chung với nồi thịt trâu.

    Thử nghĩ xem! Tất cả loài động vật cũng như con người đều tham sống sợ chết,

    thấy con trâu sợ hãi khi biết mình sẽ bị giết, đồ tể đã không có lòng thương

    xót, trở lại còn thêm lòng sân hận, ắt là nghiệp sát của người đồ tể này quá

    nhiều. Khi ấy, nỗi oán hận trong lòng của con trâu, rõ ràng thêm sâu. Hai nỗi

    sân hận đồng cảm với nhau, nên đồng chung số phận bị chưng nấu.

    14. GIẾT HEO BỊ QUẢ BÁO THẢM KHỐC

    Tại trấn Bà Đầu, huyện Hợp Phì, tỉnh An Huy, có người tên là Tuyên Tứ, hành nghề

    mổ heo đã hơn 20 năm. Ông tạo được 3 căn nhà: một căn để ở, còn hai căn kia thì

    cho người thuê, cộng thêm 200 mẫu ruộng.

    Cứ vào lúc 3 giờ sáng mỗi ngày, Tuyên Tứ dậy nấu nước làm heo, vợ ông cũng thức

    dậy phụ chồng. Vừa ra ngoài nhà sau, người vợ thấy trong chuồng heo có dáng 2

    người đàn bà nằm. Bà dụi mắt nhìn kỹ mấy lần, cũng vẫn thấy như thế. Lúc ấy, sợ

    quá bà liền đi tìm chồng thuật lại sự việc, còn nói thêm một câu: “Thôi mình hãy

    tìm nghề khác đi”. Ông không tin còn cười nhạo bà.

    Người vợ lấy con dao mổ heo ném vào trong cầu tiêu. Nên hôm ấy, Tuyên Tứ không

    thể giết heo, nhưng vẫn không hề có tâm đổi nghề.

    Hôm sau, người vợ mời hết thảy gia tộc đến thưa là nếu Tuyên Tứ không đổi nghề

    thì bà sẽ chia tay. Tuyên Tứ chấp nhận chia tay, chứ không bỏ nghề.

    Thế rồi, hai người chia đôi gia sản. Người vợ mang đứa con ra riêng nuôi dưỡng.

    Chỉ thời gian sau, đứa con mà hai vợ chồng yêu thương lại qua đời. Đến đây,

    Tuyên Tứ mới có một chút niềm hối hận. Vì buồn việc đứa con mất sớm, nên Tuyên

    Tứ đem tiền của dành dụm nướng vào trong cờ bạc. Cuối cùng, tất cả gia sản đều

    tiêu tan như mây khói. Ông lại mua mấy con heo nuôi để xây dựng lại sự nghiệp

    nhưng đều thất bại cả. Một tháng sau, miệng mũi của ông lúc nào cũng tuôn máu

    mủ, đau đớn vô cùng, nằm kêu la suốt ngày đêm như bị người thọc dao vào yết hầu

    vậy. Mãi một năm sau, ông mới chết.

    15. GIẾT DÊ BIẾN THÀNH DÊ

    Tại huyện Thường Thục, tỉnh Giang Tô, có người họ Tiết tên Khánh Quan, chuyên

    sinh sống bằng nghề giết dê, nhà rất giàu có sung túc. Hàng ngày, cứ vào lúc 3

    giờ sáng là ông đã thức dậy nấu nước sôi để làm thịt dê. Mặc cho những con dê

    hoảng sợ, kêu la thống thiết, ông vẫn thản nhiên cầm dao đâm tới. Nhiều người

    thấy nghe cảnh tượng đau lòng đó, không nhẫn tâm nhìn thêm nữa. Bạn bè thân tình

    cũng hết lời khuyên ông đổi nghề, nhưng ông nào có nghe. Trải qua 10 năm tạo

    nghiệp, số dê đã bị ông giết không biết là bao nhiêu nữa.

    Làm ác mà không thấy hối hận, nên quả báo xấu cuối cùng cũng đến. Khi Tiết Khánh

    Quan hơn 40 tuổi, bị một chứng bệnh kỳ quái, tìm thầy chữa trị biết bao nhưng

    vẫn không thuyên giảm, đến nỗi gia tài hao mòn, lần hồi kiệt quệ mà bệnh không

    thuyên giảm, lại còn sinh thêm biến chứng.

    Mũi của ông tự nhiên dài ra, rồi mặt từ từ biến thành mặt dê, rất đáng sợ. Ông

    vô cùng khổ sở, trốn tránh tất cả mọi người, ngày đêm hoang mang sầu thảm, lo

    không biết còn điều gì xảy ra nữa đây! Những đêm khuya lăn lộn vì chứng bệnh

    hoành hành, bấy giờ ông mới nghĩ đến lý nghiệp quả báo ứng, nên khuyên bảo gia

    đình bỏ hết đồ nghề giết dê và đổi nghề sinh sống.

    Năm sau, ông ta mang 300 lượng vàng cùng với người láng giềng đi đến tỉnh An Huy

    mua gạo về bán. Trong lúc đi đường, vì vô ý nên ông bị té xuống sông chết. Người

    nhà cố tìm vớt thi hài nhưng không thấy.

    16. MẤY LỜI TÂM HUYẾT

    Thuyết pháp giảng kinh, viết sách giáo lý nhà Phật, hoặc phát hành kinh sách,

    băng đĩa Phật pháp, biếu tặng cho mọi người, giúp cho họ được sớm hiểu đạo lý,

    thay đổi nếp sống tốt đẹp hơn, được như thế là hạnh phúc không gì bằng, đó gọi

    là pháp thí. Nếu không đủ điều kiện làm những việc ấy thì có thể thỉnh một số

    kinh sách, băng, đĩa, rồi chịu khó đem đến từng nhà cho mọi người mượn xem, hoặc

    đọc cho người khác nghe, nhất là cho những người không biết chữ. Việc làm này

    thật quý giá vô biên, đây cũng gọi là pháp thí. Chính đức Phật đã dạy: “Trong

    các sự bố thí, pháp thí có công đức lớn nhất”.

    Đời người trôi qua trong thoáng chốc, đường lợi danh dù rạng rỡ đến đâu cũng

    không giúp được gì khi nhắm mắt xuôi tay. Chỉ mỗi một việc tu tập theo Chánh

    pháp mới có thể giúp chúng ta được an vui trong hiện tại, thanh thản lúc qua

    đời. Vì thế, tích lũy vật chất của cải nhiều đến đâu cũng không có ý nghĩa bằng

    việc rộng truyền Chánh pháp giúp cho mọi người đều được phần lợi ích. Đó là việc

    làm thiêng liêng và cao cả nhất mà tất cả chúng ta đều nên góp sức. Việc truyền

    bá Chánh pháp luôn cần đến sự chung lưng góp sức của tất cả chúng ta.

    Khi làm việc hoằng pháp cũng không nên mong cầu công đức, hãy nghĩ nhiều đến

    những người quanh ta đang lầm đường lạc lối, đắm chìm trong tội lỗi không lối

    thoát. Hãy mau giúp đỡ, cứu vớt họ, cảnh tỉnh họ để cùng quay về chân lý, tìm ra

    lẽ sống an vui. Được như thế là chính ta đã làm lợi ích cho Phật pháp rồi vậy.

    Bất cứ ai trong chúng ta, nếu có điều kiện đều nên phát tâm góp sức vào việc

    phát hành kinh sách, sang băng, đĩa cho mọi người xem. Được vậy, cuộc sống hiện

    thời chắc chắn được an vui, mà con đường tương lai cũng sẽ ngày thêm tươi sáng!

    Biếu tặng cho người thân một số tiền nhỏ thì lòng ta không vui, nhưng không đủ

    sức biếu tặng nhiều hơn nữa! Chỉ có một cách là biếu tặng các loại kinh sách,

    băng đĩa giảng truyền Phật pháp, hướng dẫn việc tu tập để xây dựng đời sống

    thanh cao, thì dù chỉ một quyển sách, một cuốn băng… giá chỉ mấy ngàn nhưng

    quý giá hơn cả tiền trăm bạc triệu. Mấy lời tâm huyết, mong các vị thiện hữu

    cùng suy xét!

    Chú giải:

    Đại sư Ấn Quang (1862-1940): Tổ sư đời thứ 13 của Liên tông, tức Tịnh độ

    tông.

    Ba đường ác: tức ba cảnh giới địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh. Chúng sinh do

    tạo nhiều ác nghiệp nên phải sinh vào trong 3 cảnh giới này.

    Phật thuyết Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh: (Phật tâm giả, đại từ bi tâm thị.

    Dĩ vô duyên từ phổ nhiếp chúng sanh.)

    Kinh Đại Bát Niết Bàn: (Từ tức Như Lai, Như Lai tức từ.)

    Kinh Phạm Võng: (Bồ tát ưng sanh Phật tánh, hiếu thuận từ bi, thường trợ

    nhất thiết nhân sanh phước sanh lạc.)

    Tức Đại sư Trí Khải, sinh năm 538, mất năm 597.

    Chỉ các loại hoa quả, ngũ cốc.

    Kinh Đại Bát Niết Bàn, quyển 4, phẩm Như Lai tánh: (Phù thực nhục giả, đoạn

    đại từ chủng.)

    10 CÔNG ĐỨC NIỆM PHẬT LỚN TIẾNG

    1. Ðánh tan cái tâm hôn trầm, mê ngủ.

    2. Thiên ma kinh sợ.

    3. Tiếng vang xa khắp 10 phương.

    4. Ba đường ác được nhờ vào đó mà dứt khổ.

    5. Tiếng động chung quanh không xâm nhập vào làm loạn tâm mình được.

    6. Niệm tâm không tán loạn.

    7. Mạnh mẽ tinh tấn.

    8. Chư Phật vui mừng.

    9. Tam muội hiện tiền.

    10. Ðược vãng sanh Cực lạc.

    THEO KINH “Nghiệp Báo Sai Biệt” và Kinh “Ðại Tập Nguyệt Tạng” dạy:

    10 CÔNG ĐỨC PHÓNG SANH

    1. Không có nạn đao binh, tránh được tai họa chiến tranh tàn sát.

    2. Sống lâu, mạnh khỏe, ít bệnh.

    3. Tránh được thiên tai, dịch họa, không gặp các tai nạn.

    4. Con cháu đông đúc, đời đời hưng thạnh nối dõi không ngừng.

    5. Chỗ mong cầu được toại nguyện.

    6. Công việc làm ăn phát triển hưng thạnh, gặp nhiều thuận lợi.

    7. Hợp lòng trời, thuận tánh Phật, loài vật cảm ơn, chư Phật hoan hỷ.

    8. Giải trừ oán hận, các đều ác tiêu diệt, không có lo buồn sầu não.

    9. Vui hưởng an lành, quanh năm đều được an ổn.

    10. Tái sanh về cõi trời hưởng phước vô cùng, nếu có tu Tịnh Độ thì được vãng

    sanh về thế giới Tây Phương Cực Lạc

    10 CÔNG ĐỨC ẤN TỐNG KINH PHẬT

    Một là, những tội lỗi đã tạo từ trước, nhẹ thì được tiêu trừ, nặng thì chuyển

    thành nhẹ.

    ôn dịch, nước, lửa, trộm cướp, đao binh ngục tù.

    Ba là, vĩnh viễn tránh khỏi những quả báo phiền khổ, oán cừu oan trái của đời

    trước cũng như đời này.

    Bốn là, các vị hộ pháp thiện thần thường gia hộ nên những loài dạ xoa ác quỷ,

    rắn độc hùm beo tránh xa không dám hãm hại.

    Năm là, tâm được an vui, ngày không gặp việc nguy khốn, đêm ngủ không thấy ác

    mộng. Diện mạo hiền sáng, mạnh khỏe an lành, việc làm thuận lợi, được kết quả

    tốt.

    Sáu là, chí thành hộ pháp, tâm không cầu lợi, tự nhiên y phục đầy đủ, gia đình

    hòa thuận, phước lộc đời đời.

    Bảy là, lời nói việc làm trời người hoan hỷ, đến đâu cũng được mọi người kính

    mến ngợi khen.

    Tám là, ngu chuyển thành trí, bệnh lành mạnh khỏe, khốn nghèo chuyển thành thịnh

    đạt. Nhàm chán nữ thân, mệnh chung liền được nam thân.

    Chín là, vĩnh viễn xa lìa đường ác, sanh vào cõi thiện, tướng mạo đoan nghiêm,

    tâm trí siêu việt, phước lộc tròn đầy.

    Mười là, hay vì tất cả chúng sanh trồng các căn lành. Lấy tâm cầu của chúng sanh

    làm ruộng phước điền cho mình. Nhờ công đức ấy đạt được vô lượng phước quả thù

    thắng. Sanh ra nơi nào cũng thường được thấy Phật, nghe Pháp phước huệ rộng lớn,

    chứng đạt lục thông, sớm thành Phật quả.

    ẤN QUANG TỔ SƯ DẠY

    Ấn tống kinh, tượng Phật được công đức thù thắng như vậy, nên gặp khi chúc thọ,

    thành hôn, cầu phước, thoát nạn, sám hối, cầu tiêu trừ bệnh tật, cầu siêu độ

    hương linh, hãy tinh tấn phát tâm Bồ đề ấn tống, để trồng cội phước đức cho

    chính mình và thân bằng quyến thuộc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bố Thí Và Cúng Dường Như Pháp – Lời Phật Dạy Trong Kinh Tạng Nikàya
  • 7 Thủ Ấn Nhà Phật – 7 Trạng Thái Của Tâm
  • Thủ Ấn Của Đức Phật – Ý Nghĩa Sâu Xa Của Thủ Ấn – Pratique Du Bouddhisme – Hành Pháp Phật
  • Cúng Dường – Câu Chuyện Cô Gái Nghèo Cúng Dầu Cho Đức Phật
  • Giải Thích Ngắn Về Cúng Dường Mandala Để Thỉnh Cầu Giáo Pháp – Ripa Việt Nam
  • Phóng Sanh Như Thế Nào Mới Đúng Ý Nghĩa ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Phóng Sinh Như Thế Nào Mới Đúng Tinh Thần Nhà Phật?
  • Những Chú Ý Không Thể Bỏ Qua Khi Thờ Cúng Và Bài Trí Tượng Phật Tại Gia
  • Cúng Cô Hồn, Nghi Thức Ngắn Cho Phật Tử Tại Gia
  • Những Nghi Thức Khi Thờ Phật Tại Gia Mà Chúng Ta Nên Biết
  • Những Cấm Kỵ Khi Thờ Cúng Phật Tại Nhà
  • Hỏi: Vào những ngày Đại Lễ của Phật giáo như Phật Đản, Vu lan, con thường thấy một vài Phật tử mua chim hay bồ câu để phóng sanh. Nhưng họ mua không thả liền, mà họ đem vô chùa để nhốt chờ quý thầy làm lễ rồi mới thả. Có khi thầy bận việc, không làm lễ liền phải nhốt chúng trong lồng có khi qua cả đêm đến sáng hôm sau, đợi đến lúc thầy rảnh mới làm lễ thả, hoặc có khi phải chờ đến giờ hành lễ chánh thức (trường hợp như lễ Phật Đản) mới phóng sanh. Xin hỏi: phóng sanh như thế có đúng với ý nghĩa phóng sanh hay không? Và người mua vật để phóng sanh như thế có phước đức nhiều không ?

    Đáp: Điều nầy, nếu xét kỹ, ta thấy không đúng với ý nghĩa phóng sanh cho lắm. Thật ra, đúng nghĩa phóng sanh là sau khi mua con vật phải thả ngay. Động cơ phóng sanh là gì? Phải chăng tất cả đều do lòng từ bi mà ra. Vì lòng từ bi, nên thương xót con vật nào đó đang bị đau khổ kêu la cầu cứu. Chúng ta vì thương chúng không nở nhìn thấy chúng phải chết một cách đau thương, nên người Phật tử động lòng trắc ẩn từ bi mà bỏ tiền ra để mua chúng. Nhưng sau khi mua xong, thì tức tốc phải thả chúng ra ngay, để chúng được tự do thoải m ái.

    Người xưa nói: “Nhứt nhựt tại tù, thiên thu tại ngoại.” Nghĩa là: một ngày bị n hốt trong lao tù, bằng một ngàn năm sống được tự do ở bên ngoài. Như thế, thì mới đúng với ý nghĩa phóng sanh. Và như thế, mới thực sự có phước và mới thực sự là thể hiện đúng với lòng từ bi Phật dạy.

    Ngược lại, đằng nầy không thế. Mua rồi phải đem vô chùa chờ thầy làm lễ mới phóng thích. Gặp lúc thầy bận việc, không quan tâm tới, thế là những con vật bất hạnh kia phải kêu la, chen l ấn đạp nhau trong lồng, thật là đau khổ. Nếu chúng nói được, thì chúng sẽ cất cao giọng mà nói to lên rằng: “Xin mọi người hãy thương xót chúng tôi mà giùm ơn thả chúng tôi ra ngay, chớ đợi tới giờ mới làm lễ rồi khi làm lễ, thầy lại kéo dài giọng tụng ê a nữa, như thế chắc là chúng tôi phải chết mất đi thôi! Thà rằng hãy để cho người ta bắt chúng tôi mà họ làm thịt xơi chúng tôi đi, thì chúng tôi khỏi phải kéo dài sự đau khổ lê thê như thế nầy! Chớ các người ra ơn tế độ chúng tôi cái kiểu nầy, thì thật là tội nghiệp cho chúng tôi quá!”

    Lời kêu than của chúng thật là hữu lý. Sự thật là như thế. Có khi chờ thầy làm lễ xong, có con thì chết, có con thì què quặt bay đi không nổi… Như vậy, thì lại càng thêm tội chớ nào có phước đâu! Thử hỏi chúng ta làm lễ để ai chứng minh? Phật hay Bồ Tát? Hay chư Tôn Đức Tăng Ni? Chắc chắn Phật và Bồ Tát không thể chứng minh kéo dài sự đau khổ của chúng sanh như thế nầy rồi! Chư Tôn Đức Tăng Ni ư? Những vị nầy đầy lòng từ bi cũng không thể nào nhẫn tâm nhìn thấy cảnh tượng đau thương kêu la thảm thiết chúng bị n hốt lâu như thế!

    Tóm lại, cũng một việc làm, mới nhìn thì thấy như là có phước lắm, nhưng nếu không khéo, thì trở thành mang tội. Thế thì phóng sanh như thế, chẳng những không đúng ý nghĩa của việc phóng sanh mà nó còn không được phước như ý mình muốn. Vì vậy, mong rằng người Phật tử khi có hảo tâm muốn mãi vật phóng sanh, thì nên lưu tâm hơn về việc làm nầy.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phóng Sanh Như Thế Nào Mới Có Ý Nghĩa Và Đúng Chánh Pháp
  • Thế Nào Là Phóng Sinh? Mua Chim, Cá Về Thả Có Được Gọi Là Phóng Sinh?
  • Sư Thầy Chỉ Cách Phóng Sinh Ngày Rằm Tháng Giêng Để Được Phúc Đức
  • Phương Pháp Phóng Sanh Đơn Giản
  • Văn Khấn Cúng Phóng Sinh Rằm Tháng Giêng Và Những Điều Cần Biết
  • Đạo Tràng Phật Hạnh Tổ Chức Lễ Phóng Sanh Đầu Năm

    --- Bài mới hơn ---

  • Ý Nghĩa Nghi Quá Đường Và Cúng Đại Bàng.
  • Ngũ Hổ, Quan Ngũ Hổ Là Ai, Sự Tích Về Ngũ Hổ
  • Sắm Lễ Ông Hoàng Mười Gồm Những Gì?
  • Mâm Cỗ Cúng Táo Quân Gồm Những Gì?
  • Phong Tục Cúng Táo Quân Ngày 23 Tháng Chạp
  • Lại nữa, Liên hợp quốc(UNESCO) cũng đang kêu gọi loài người dừng bớt bàn tay sát hại thú vật, vì chính tương lai cuộc sống con người, và vì sự cân bằng sinh thái của trái đất.

    Và Pháp sư Viên Nhân cũng dạy rằng: “Tật bịnh, ung thư, tai nạn… sở dĩ có thể bất hạnh sanh ra là duyên nơi nghiệp giết hại trước kia chúng ta đã tạo nên mà chiêu cảm lấy quả báo này. Phương thức giải quyết chính là phóng sanh.”

    Vì vậy, phóng sanh là một thiện hạnh vô cùng cao đẹp, thiết thực và cụ thể, góp phần cứu lấy sinh mạng của chúng sinh và để chính ta bớt tạo nghiệp sát mà ai cũng từng mắc phải trong vô lượng kiếp. Ngoài ra cũng để thể hiện tâm bình đẳng đến muôn loài. Từ đó chiến tranh cũng sẽ giảm đi. Tương tự, nếu muốn cho đất nước mình hưng thịnh thì chúng ta phải biết trân quý sự sống của muôn loài, tức dốc toàn lực không giết hại, không đe dọa, không hành hạ mạng sống của chúng sinh. Vì điều quý báu nhất của mỗi chúng sanh đều là mạng sống. Giết hại chúng thì chúng oán hận nhất, oan cừu kết sâu nhất. Cho nên nói nghiệp giết hại là nặng nhất. Ngược lại, cứu sống được chúng thì chúng cảm kích nhất, tạo được nhiều phước thiện nhất. Do đó nói công đức phóng sanh là đệ nhất.

    Buổi Lễ diễn ra thật trang nghiêm bằng một nghi thức ngắn gọn. Mọi chúng sinh trước khi được trả về với thế giới tự do của chúng đều được TT Thích Chân Quang gia trì chú nguyện, kết hợp với sự chú tâm trì tụng bài kệ Phóng Sinh của Chư Tăng Ni và đông đảo Phật tử. Hy vọng sẽ có đầy đủ hiệu lực để cứu độ chúng giải thoát khỏi khổ đau sau khi thoát kiếp… và tất cả đều viên thành Phật đạo.

    Sau cùng còn có Lễ cúng thí thực âm linh cô hồn do ĐĐ Thích Nghiêm Giám làm chủ sám. Tất cả đồng hồi hướng cầu nguyện cho âm siêu dương thới, đất nước thái hòa, nhân dân an lạc.

    Tuệ Đăng

    Những hình ảnh ý nghĩa đầu năm 2022:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phóng Sinh Như Thế Nào Mới Đúng?
  • Văn Khấn Phật Tại Gia Và Những Nguyên Tắc Khi Thờ
  • Bộ Đồ Thờ Cúng Gồm Những Gì? Chọn Chất Liệu Nào Tốt Nhất?
  • Thờ Phật, Lạy Phật, Cúng Phật: Những Điều Cần Biết
  • Bàn Thờ Quan Âm Gồm Những Gì Và Cách Bày Trí Đúng Nhất
  • Lễ Phóng Sinh Và Bài Văn Khấn Phóng Sinh

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Khấn Quán Thế Âm Bồ Tát Tại Chùa
  • 3 Bài Văn Khấn Rằm Tháng Giêng Được Sử Dụng Nhiều Nhất !
  • Giới Thiệu Sơ Lược Về Động Sơn Trang
  • Hướng Dẫn Bài Văn Khấn Khi Sang Cát, Bốc Mộ Cho Người Thân
  • Bài Văn Khấn Nôm Cúng Thần Tài Chuẩn Đúng Cách
  • Ngày 23 tháng Chạp âm lịch hàng năm để tiễn ông Công ông Táo về trời người dân thường có tục phóng sinh cá chép hoặc các loài khác về với tự nhiên. Đây vốn là nét đẹp trong văn hóa tín ngưỡng của người Việt. Nhưng hiểu rõ và thực hiện đúng cách phong tục này thì không phải ai cũng biết. XEM THÊM Thả cá phóng sinh ngày ông Công ông Táo sai cách sẽ tạo thêm nghiệp 13 món quà CẤM TẶNG vào dịp tết nguyên đán 2022 Những đại kỵ cấm phạm phải khi chuẩn bị cúng tất niên ngày 30 tết Hóa giải sao hạn năm 2022 bằng đá ngọc phong thủy Nhà bếp được sắp xếp thế nào trong lễ cúng ông Táo để tránh cả năm xui xẻo Lễ cúng phóng sinh

    Đạo Phật quan niệm, phóng sinh tức là người có thiện tâm nhìn thấy chúng sinh bị bắt nhốt, giam cầm, sắp sửa bị giết hại thì phát lòng từ bi tìm cách cứu chuộc, giải thoát, phóng thích, cứu mạng sống của chúng sinh.

    Việc phóng sinh nên thành tâm làm phúc, cứu khổ, cứu nạn và ngẫu nhiên chứ không nên định sẵn và có thể làm quanh năm chứ không cứ dịp Rằm tháng Bảy hay cúng ông Công Ông Táo.

    Có thể phóng sinh chim, cá, tôm, cua v.v, tuyệt đối không phóng sinh rùa tai đỏ vì hủy hoại môi trường. Việc phóng sinh này tùy theo tín tâm và điều kiện của mỗi gia đình, không bắt buộc.

    Bài văn khấn phóng sinh:

    Chúng sanh nay có bấy nhiêu

    Lắng tai nghe lấy những lời dạy răn

    Các ngươi trước lòng trần tục lắm

    Nên đời nay chìm đắm sông mê

    Tối tăm chẳng biết làm lành

    Gây bao tội ác, lạc vào trầm luân

    Do vì đời trước ác tâm

    Nên nay chịu quả khổ đau vô cùng

    Mang, lông, mai, vẩy, đội sừng

    Da trơn, nhám, láng, các loài súc sanh

    Do vì ghen ghét, tham sân

    Do vì lợi dưỡng hại người làm vui

    Do vì gây oán chuốc thù

    Do vì hại vật, hại sanh thoả lòng

    Do vì chia cách, giam cầm

    Do vì đâm thọc chịu bao khổ hình

    Cầu xin Phật lực từ bi

    Lại nhờ Phật tử mở lòng xót thương

    Nay nhờ Tăng chúng hộ trì

    Kết duyên Tam bảo thoát vòng khổ đau

    Hoặc sanh lên các cõi trời

    Hoặc liền thức tỉnh về nơi cõi lành

    Hoặc sanh lên được làm người

    Biết phân thiện ác, tránh điều lầm mê…..

    Chúng sanh Quy y Phật

    Chúng sanh Quy y Pháp

    Chúng sanh Quy y Tăng….

    Úm, ngâm ngâm ngâm (3 lần)

    Nếu phóng sinh ở nhà, người dân nên:

    Chọn nơi chúng sinh có thể sống ở đó lâu dài không bị bắt, hay do môi trường xấu quá mà chết. Không nên cầm cả xô, hay túi vứt ra ao, hồ, sông, suối.

    Hãy cứu vớt đến cùng bằng cách bốc từng nắm nhẹ nhàng thả xuống ở nhiều nơi, không tập trung một chỗ. Cá chờ nó bơi khuất hãy về.

    Thả các chim thú về với môi trường thiên nhiên cần làm đúng nơi đúng chỗ, đúng thời điểm để chúng sống được, không nhất thiết thả ở ao hồ quanh chùa (nhất là chùa đô thị sẽ làm người tham đánh bắt lại và thêm tội).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Lễ Phật Và Sắm Lễ Đi Chùa Đầu Năm Mới
  • Tìm Hiểu Về Ngày Lễ Phật Đản
  • Văn Khấn 49 Ngày Mất
  • Văn Khấn Ngày Lễ Đức Phật Thích Ca Đản Sanh
  • Văn Khấn Ngày Lễ Phật Đản
  • Phóng Sanh Như Thế Nào Mới Có Ý Nghĩa Và Đúng Chánh Pháp

    --- Bài mới hơn ---

  • Phóng Sanh Như Thế Nào Mới Đúng Ý Nghĩa ?
  • Phóng Sinh Như Thế Nào Mới Đúng Tinh Thần Nhà Phật?
  • Những Chú Ý Không Thể Bỏ Qua Khi Thờ Cúng Và Bài Trí Tượng Phật Tại Gia
  • Cúng Cô Hồn, Nghi Thức Ngắn Cho Phật Tử Tại Gia
  • Những Nghi Thức Khi Thờ Phật Tại Gia Mà Chúng Ta Nên Biết
  • Trong vô số pháp môn mà Đức Phật đã chỉ dạy, chỉ có phương pháp phóng sanh là dễ thực hành nhất để trưởng dưỡng lòng từ bi của chúng ta. Trong Luận Đại Trí độ dạy rằng: “Trong tất cả các tội ác, tội sát sanh là nặng nhất. Trong tất cả các công đức, không giết hại là công đức lớn nhất.” Thế nào gọi là phóng sanh? Phóng sanh tức là nhìn thấy các loại chúng sanh có mạng sống đang bị bắt nhốt, giam cầm, sắp sửa bị giết hại, kinh hoàng lúng túng, mạng sống trong phút giây nguy ngập, liền phát lòng từ bi tìm cách cứu chuộc. Như vậy tức là hành vi giải thoát, phóng thích, cứu lấy mạng sống”.

    Đây là lời nguyện ước đừng loài nào sát hại loài nào, đừng ai coi nhẹ tính mạng của ai, đừng ai vì giận hờn và ác tâm mà mong cho ai đau khổ và khốn đốn.

    Trong vô số pháp môn mà Đức Phật đã chỉ dạy, chỉ có phương pháp phóng sanh là dễ thực hành nhất để trưởng dưỡng lòng từ bi của chúng ta. Trong Luận Đại Trí độ dạy rằng: “Trong tất cả các tội ác, tội sát sanh là nặng nhất. Trong tất cả các công đức, không giết hại là công đức lớn nhất.” Thế nào gọi là phóng sanh? Phóng sanh tức là nhìn thấy các loại chúng sanh có mạng sống đang bị bắt nhốt, giam cầm, sắp sửa bị giết hại, kinh hoàng lúng túng, mạng sống trong phút giây nguy ngập, liền phát lòng từ bi tìm cách cứu chuộc. Như vậy tức là hành vi giải thoát, phóng thích, cứu lấy mạng sống”.

    1. Không có nạn đao binh, tránh được tai họa chiến tranh tàn sát;

    2. Sống lâu, mạnh khỏe, ít bệnh;

    3. Tránh được thiên tai, dịch họa không gặp các tai nạn;

    4. Con cháu đông đúc, đời đời hưng thạnh nối dõi không ngừng;

    5. Chỗ mong cầu được toại nguyện;

    6. Công việc làm ăn phát triển hưng thạnh gặp nhiều thuận lợi;

    7. Hợp lòng trời, thuận tánh Phật, loài vật cảm ơn, chư Phật hoan hỷ;

    8. Giải trừ oán hận, các đều ác tiêu diệt, không có lo buồn sầu não;

    9. Vui hưởng an lành, quanh năm đều được an ổn;

    10. Tái sanh về cõi trời hưởng phước vô cùng, nếu có tu Tịnh Độ thì được vãng sanh về thế giới Tây Phương Cực Lạc.

    Kinh Dược Sư Lưu Ly bổn nguyện công đức dạy rằng:”Cứu thả các sinh mạng được tiêu trừ bệnh tật, thoát khỏi các tai nạn.” Người phóng sanh tu phước, cứu giúp muôn loài thoát khỏi khổ ách thì bản thân không gặp các tai nạn.

    Pháp sư Viên Nhân cũng dạy rằng: “Tật bịnh, ung thư, tai nạn… sở dĩ có thể bất hạnh sanh ra là duyên nơi nghiệp giết hại trước kia chúng ta đã tạo nên mà chiêu cảm lấy quả báo này. Phương thức giải quyết chính là phóng sanh. Nhờ vào việc bỏ tiền, bỏ sức để cứu mạng phóng sanh nên có thể đền trả vô số món nợ sát sanh trước kia mà chúng ta đã thiếu. Điều quý báu nhất của mỗi chúng sanh đều là mạng sống. Giết hại chúng thì chúng oán hận nhất, oan cừu kết sâu nhất, cho nên nói nghiệp giết hại là nặng nhất. Ngược lại, cứu sống được chúng thì chúng cảm kích nhất, tạo được nhiều phước thiện nhất, cho nên nói công đức phóng sanh là đệ nhất. Những ai phê phán, hủy báng việc phóng sanh, hoặc cản trở nghi ngờ việc phóng sanh cần phải lưu ý. Vì cản trở người phóng sanh thì cũng giống như sát sanh, khiến cho hàng ngàn hàng vạn sanh mạng không được giải cứu, phải hàm oan mà chết. Tội lỗi đó thật là vô lượng vô biên. Nhất định phải gấp rút sám hối, sửa lỗi, nếu không thì khổ hình nơi địa ngục nhất định không tránh khỏi.”

    Kinh Chánh pháp niệm có dạy: ” Tạo một ngôi chùa chẳng bằng cứu một sinh mạng.” Công đức phóng sinh rất là thù thắng, bất khả tư nghị. Cho nên hiện nay, thực hành phóng sanh được phổ biến rất nhiều trong đời sống tu tập của người Phật tử. Nhưng thực hành phóng sanh như thế nào mới có lợi ích, mới đúng chánh pháp?

    Ta thường thấy một số Phật tử mua chim, cá để phóng sanh. Nhưng họ không thả liền mà đem vô chùa chờ quý thầy làm lễ chú nguyện rồi mới thả. Có đôi khi quý thầy bận việc không làm lễ liền thì nhốt trong lồng qua đêm hay đến ngày hôm sau, đợi đến khi làm lễ thì mới thả. Hay trong những lễ lớn hay những dịp cầu an đầu năm hay cầu siêu, chúng ta thấy một số Phật tử gọi điện thoại đến chỗ bán chim, bán cá, bán lươn phóng sanh để đặt số lượng mua để phóng sanh. Hay có trường hợp thay vì mua 5 kg cá lớn thì người ta khăng khăng lấy số tiền đó để mua cho được 20kg cá nhỏ để phóng sanh và nghĩ rằng với số lượng phóng sanh càng nhiều thì công đức càng lớn. Thử hỏi phóng sanh như vậy có đúng không? Suy nghĩ như vậy có đúng chánh pháp không?…

    Chúng ta cần phải hiểu rằng, phóng sanh xuất phát từ lòng từ bi, lòng từ tâm, thương xót khi gặp một con vật bị nạn, mình ra tay cứu thoát, hoặc nhìn thấy một hoặc nhiều con vật sắp bị giết, mình bỏ tiền ra mua để cứu sống chúng. Nhưng hành động rất tốt và rất đẹp của việc phóng sanh mà thực hiện không đúng cách thì không đem lại hiệu quả, dẫn đến mê tín, thậm chí còn bị tội báo. Như vậy, để việc phóng sanh có ý nghĩa và đúng pháp, chúng ta cần lưu ý những điều sau:

    – Phóng sanh bằng cái tâm, chẳng cần được ai biết đến, chứ đừng theo phong trào, chạy theo chữ danh, muốn cho mọi người thấy để khen ngợi, để được tiếng tăm. Tâm từ bi mà không khởi sanh thì còn nói gì đến chuyện trưởng dưỡng.

    – Phóng sanh là tự do, không phân biệt số lượng ít nhiều, lớn nhỏ, mắc rẻ, không chọn mua con này hay con kia để phóng sanh, vì chúng sanh đều bình đẳng cho nên đối tượng phóng sanh bao gồm tất cả chúng sanh, không chọn ngày giờ tốt xấu, không nên chờ dịp này hay dịp khác,…. Nên khi ta phát tâm thì liền thực hiện, tùy vào khả năng từ một, hai con đến muôn ngàn con phải lập tức cứu thoát chúng. Quan trọng là sự thành tâm, lòng từ bi của người phóng sanh chứ không phải là số lượng sinh vật được phóng sanh.

    -Sau khi mua con vật để phóng sanh thì thả ngay càng nhanh càng tốt để chúng trở về môi trường sống tự nhiên, tự do thoải mái. Không nên chờ quý thầy chú nguyện rồi mới phóng sanh vì chúng ta phóng sanh từ lòng từ bi thì không thể nào nhẫn tâm nhìn thấy cảnh tượng “cá chậu, chim lồng”, tránh cho chúng phải chịu kéo dài nỗi khổ sợ hãi, ngột ngạt, tù túng vì bị giam cầm; có khi chúng phải mất mạng trước khi được ta phóng thích.

    – Khi phóng sanh tránh trường hợp đặt hàng trước vì khi chúng ta đặt hàng thì người bán sẽ truy bắt các con vật và nhốt chúng vào lồng hay chậu để chờ tới ngày giao. Điều này khiến các con vật đang sống trong môi trường tự nhiên tự do, có thể bị thương, bị đói, bị chết do bị giăng bắt. Cần tránh trường hợp mình tạo nghiệp tốt mà đẩy người khác phạm vào nghiệp ác. Ngoài ra, chúng ta không nên mua chim phóng sanh hoặc các loài vật được mang đến bán trong chùa. Vì việc làm này vô tình tiếp tay cho những người ác tâm, lợi dụng lòng từ của Phật tử, chuyên đánh bắt một vài loại chim (sẻ, én) để phục vụ cho phóng sanh.

    – Khi phóng sanh cần quan tâm đến môi trường sống của nó, thả chúng về đúng môi trường sống tự nhiên của nó, không nên mua cá nước ngọt mà thả ở nước lợ, không thả vào môi trường khó sinh tồn hay làm hại các sinh vật khác…

    – Khi phóng sanh cần thực hiện âm thầm, chọn nơi vắng vẻ càng tốt, vì pháp sự này không nên kích thích lòng tham của những người săn bắt, tạo thêm nghiệp chướng cho họ mà chính chúng ta cũng bị giảm phần công đức.

    – Phóng sanh là cơ hội để con vật có điều kiện quy y Tam Bảo và sám hối nghiệp chướng, khuyến phát tâm Bồ đề cho các loài hữu tình đó, nhờ công đức Quy y Tam bảo mà khi hết duyên mang thân súc sanh thì những loài hữu tình này sẽ được tái sanh lên cảnh giới cao hơn, được gặp Phật, nghe Pháp, giải thoát giác ngộ, tự độ cho bản thân và chúng sanh. Do đó, trong nghi thức phóng sanh có lễ quy y, sám hối cho chúng sanh, phát nguyện kết duyên lành với các chúng sanh đó, nguyện đời đời kiếp kiếp sanh ra được thân cận, làm quyến thuộc Bồ đề, cùng tu thành Phật đạo trước khi phóng sanh

    Tóm lại, người học Phật tăng trưởng lòng từ bi là điều rất cần thiết nhưng từ bi phải có trí tuệ. Để thực hiện việc phóng sanh có ý nghĩa và đúng pháp thì người phóng sanh cần có thực tâm và thực lòng, vận dụng tâm đại từ đại bi. Khi phóng sanh, chúng ta đi ra chợ, nơi bán các loài vật sẽ bị giết để làm thực phẩm cho con người (không có mục đích phục vụ cho việc phóng sanh). Khi đi mua không nên lặp lại nhiều lần ở một địa điểm và không có tính chất định kỳ để người bán không có sự chuẩn bị trước. Chúng ta gặp con gì thì mua con đó, không đặt trước, không phân biệt nhiều hay ít, lớn hay nhỏ mà chỉ tùy tâm và thành tâm. Sau đó cần chuẩn bị dụng cụ và chọn vị trí phù hợp để vận chuyển chúng đến nơi sẽ phóng sanh, cần tránh trường hợp thùng chứa quá nhỏ và vị trí quá xa. Trước khi phóng sanh, chúng ta nhiếp tâm chú nguyện đơn giản để khuyến phát tâm Bồ đề và để cho chúng gieo duyên lành với Phật Pháp: “Nam mô A Di Đà Phật (3 lần). Hôm nay, tôi gặp quý vị là có nhân duyên với nhau, nguyện nhiều đời làm quyến thuộc Bồ Đề, xin quý vị sám hối nghiệp chướng và quy y Tam Bảo.” Sau đó đọc tiếp:” Chúng sanh xưa nay tạo ác nghiệp, đều do ba độc tham sân si, từ thân miệng ý mà sanh ra, nay đối trước Phật cầu sám hối. Nam mô Cầu sám hối bồ tát (3 lần). Chúng sanh quy y Phật, chúng sanh quy y Pháp, chúng sanh quy y Tăng. Chúng sanh quy y Phật không đọa địa ngục. Chúng sanh quy y Pháp không đọa ngạ quỷ. Chúng sanh quy y Tăng không đọa súc sanh (3 lần). Nguyện đem công đức này, hướng về khắp tất cả, đệ tử và chúng sanh, đều trọn thành Phật đạo”.

    Ngoài ra, trong cuộc sống hằng ngày, khi thấy đàn kiến bị ngập nước, thấy con giun nằm chỗ đất khô, thấy con ốc bò trên đường đi, thấy tổ chim non bị rớt, thấy các loài chim, loài thú bị mắc nạn, … chúng ta lập tức tìm cách giải thoát cho chúng, đưa chúng về môi trường sống tự nhiên. Những việc làm đơn giản này cũng là thực hành hạnh phóng sanh.

    Hơn thế nữa, để thực hành hạnh phóng sanh một cách rốt ráo thì chúng ta cần phải phát nguyện ăn chay. Phóng sanh và ăn chay có liên hệ mật thiết và hỗ trợ nhau. Ăn chay cũng giúp giảm bớt số lượng chúng sanh bị bắt, bị giết để làm thực phẩm, cũng góp phần trưởng dưỡng lòng từ bi. Nếu chúng ta chỉ phóng sanh mà không ăn chay thì nghiệp sát vẫn không dứt.

    Giáo lý Đạo Phật rất cao sâu nhiệm màu nhưng vẫn vô cùng thiết thực. Người Phật tử nếu biết thực hành, ứng dụng giáo pháp một cách đúng đắn vào đời sống hằng ngày thì sẽ có một đời sống an lạc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thế Nào Là Phóng Sinh? Mua Chim, Cá Về Thả Có Được Gọi Là Phóng Sinh?
  • Sư Thầy Chỉ Cách Phóng Sinh Ngày Rằm Tháng Giêng Để Được Phúc Đức
  • Phương Pháp Phóng Sanh Đơn Giản
  • Văn Khấn Cúng Phóng Sinh Rằm Tháng Giêng Và Những Điều Cần Biết
  • Tết Ông Công, Ông Táo: Hiểu Đúng Để Có Ngày Tết Ý Nghĩa
  • Văn Khấn Ngày Lễ Đức Phật Thích Ca Đản Sanh

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn 49 Ngày Mất
  • Tìm Hiểu Về Ngày Lễ Phật Đản
  • Văn Khấn Lễ Phật Và Sắm Lễ Đi Chùa Đầu Năm Mới
  • Lễ Phóng Sinh Và Bài Văn Khấn Phóng Sinh
  • Bài Văn Khấn Quán Thế Âm Bồ Tát Tại Chùa
  • Đức Phật Thích Ca đản sinh tại vườn Lâm Tỳ Ni thuộc xứ Ca Tỳ La Vệ, được gọi là Thái tử Tất Ðạt Ða (hay Sĩ Ðạt Tha), con của đức vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma Gia. Ngài lớn lên trong hoàng cung, vâng lệnh song thân lập gia đình với công chúa Gia Du Ðà La, và hạ sinh Thái tử La Hầu La. Trong các chuyến xuất cung du ngoạn ngoại thành, Ngài chứng kiến các cảnh: sinh, lão, bệnh, tử trong nhân gian. Từ đó, Ngài luôn luôn trầm tư mặc tưởng, muốn tìm phương tự độ và cứu giúp chúng sinh thoát khỏi cảnh trầm luân sinh tử, cho nên Ngài lìa bỏ hoàng cung, lên đường tìm đạo giải thoát. Sau sáu năm tu khổ hạnh ở chốn rừng già, và 49 ngày đêm ngồi thiền định dưới cội cây bồ đề, tâm trí thanh tịnh, Ngài hoát nhiên giác ngộ, thành Phật, thành bậc vô thượng chánh đẳng chánh giác, vào năm Ngài được 30 tuổi. Sau đó, Ngài đi khắp nơi thuyết pháp, đem chân lý giác ngộ giảng dạy cho mọi người trong 50 năm ròng rã, và Ngài thị tịch, nhập Niết bàn, năm 80 tuổi tại khu rừng ta la song thọ.

    Chính vì thế, lễ Phật đản được tổ chức hàng năm, vào ngày rằm tháng tư, ở các nước theo đạo Phật là để kỷ niệm ngày Đức Phật ra đời.

    2. Ý nghĩa Lễ Phật Đản

    Theo truyền thống Đại lễ Phật đản ở Việt Nam được Phật giáo tổ chức trang trọng, thành kính. Sau khi đất nước thống nhất, Giáo Hội Phật giáo Việt nam được thành lập từ năm 1981 đến nay, hàng năm Đại lễ Phật đản được tổ chức vào đúng ngày rằm tháng 4 âm lịch, với lễ đài tổ chức Đại lễ trang trọng để dâng hương tưởng nhớ, tôn kính Đức Phật; lễ tắm Phật Thích Ca sơ sinh với sự cầu mong thân thể và tâm hồn trong sạch khi được dòng nước thơm và trong lành gột rửa. Lễ tắm Phật với sự tham dự của các cấp chính quyền và tăng, ni, phật tử.

    Ngoài các nghi lễ trên Giáo hội Phật giáo các tỉnh thành còn tổ chức xe hoa diễu dành trên các đường phố, các chùa làm lễ phóng sinh, thả hoa đăng trên sông, hồ, tổ chức văn nghệ, thuyết giảng Phật pháp, trang trí đèn lồng và cờ Phật giáo ở các chùa,… Trước và trong dịp Đại lễ, Giáo hội Phật giáo các tỉnh thành, các chùa, phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể, chính quyền địa phương tổ chức các hoạt động từ thiện, thăm hỏi và tặng quà cho những tăng, ni, Phật tử có uy tín, có công lao với Đạo pháp hoặc những gia đình Phật tử có thành tích trong xây dựng Phật pháp, xây dựng địa phương,… thực hiện ghi công, tri ân và báo ân theo tinh thần Phật giáo.

    3. Văn khấn Lễ Đức Phật Đản Sanh:

    NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

    Tình thương mà Ngài đã đánh thức chúng con trên mọi nẻo tăm tối khổ đau. Tình thương mà Ngài đã đánh thức chúng con thật cần thiết để giữ yên cho thế giới khỏi biến thành biển lửa chiến tranh thù hận.

    Kính lạy Đức Thế Tôn: đã đến lúc ánh sáng của ngọn đèn chánh pháp phải được vận dụng một cách trịnh trọng để xua tan bóng đêm tà kiến đang bao phủ nhân loại. Đã đến lúc tiếng chuông từ bi phải được lắng nghe một cách tha thiết để mọi trái tim cùng nhịp đập yêu thương,xây dựng tình người để thế giới mãi xanh màu hạnh phúc.

    Kính lạy Đức Thế Tôn: sức mạnh mà ngài đã khơi dậy trong chúng con thật có hiệu lực và hiệu lực mãi trước một thế giới quá nhiều bạo động và mâu thuẫn. Từ trong đại bi tâm Ngài xuất hiện như một sứ giả hòa bình,mang thông điệp tình thương đến cho cuộc đời thông qua con đường hóa giải. sức mạnh nội tâm đã giúp chúng con vượt qua mọi thử thách để tự chủ. Những lời dạy của Ngài thật thiết thực và hữu ích đã có giá trị suốt 2641 năm và sẽ còn giá trị mãi mãi.

    “Hận thù không dập tắt được hận thù, chỉ có tình thương mới dập tắt được hận thù”

    ” Chiến thắng ngàn quân giữa bãi chiến trường chưa gọi là thắng. Tự chiến thắng mình mới là chiến công oanh liệt nhất.”

    ” chính ngươi là hải đảo vững chắc cho tự thân ngươi. Không một người nào khác,không một nơi nào khác là nơi nương tựa. Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi.”

    Kính lạy Đức Thế Tôn: Nhân mùa đản sanh của Ngài,chúng con thành kính hái đóa Vô Ưu thanh khiết dâng lên cúng dường dường bậc vô thượng giác, Đấng Thiên Nhơn Sư như là tặng phẩm cao quý nhất xin dâng tặng cho cuộc đời với cầu nguyện chân thành tha thiết:” Mong cho cuộc đời mãi mãi được an vui, hạnh phúc. Người người gặp nhau nhìn nhau với tất cả tấm lòng thương yêu trọn vẹn.

    Xin cho khói trầm thơm, kết thành mây năm sắc, dâng lên khắp mười phương, cúng dường vô lượng Phật, vô lượng chư Bồ-tát, cùng các thánh hiền tăng, trên pháp giới dung thông, kết đài sen rực rỡ, nguyện làm kẻ đồng hành, trên con đường giác ngộ, xin mọi loài chúng sanh, từ bỏ cõi lãng quên, theo đường giới định tuê, quay về trong tĩnh thức.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Ngày Lễ Phật Đản
  • Cách Sắm Lễ, Bài Văn Khấn Tảo Mộ Tiết Thanh Minh
  • Bài Văn Khấn Cầu Công Danh Khi Đi Chùa Hương Chuẩn Nhất
  • Ba Bài Văn Khấn Mẫu Phổ Biến Tại Đền, Chùa Việt Nam
  • Bài Khấn Xin Giải Trừ Vận Hạn Khi Đi Chùa Hương
  • Bài Văn Khấn Cúng Phóng Sinh Tại Nhà Và Cách Cúng Phóng Sinh

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Điều Cần Chú Ý Trong Văn Khấn Và Thực Hiện Lễ Cúng Phóng Sinh Rằm Tháng 7
  • Văn Khấn Đức Quán Thế Âm Bồ Tát
  • Văn Khấn Quán Thế Âm Bồ Tát Ở Chùa
  • Văn Khấn Lễ Đức Quan Thế Âm Bồ Tát (Phật Bà Quan Âm)
  • Văn Khấn Lễ Đức Quan Thế Âm Bồ Tát (Phật Bà Quan Âm) Đầy Đủ Nhất
  • Cần nhất là áp dụng lời Phật dạy, từ bi luôn đồng hành cùng trí tuệ, phải khế lý khế cơ, không nên mù quáng hay vì ích kỷ cá nhân, tham cầu phúc báu thế tục mà uổng phí công việc thiện lành. người phóng sinh nên trau dồi thiện nghiệp, phóng sinh cho chúng sinh cũng chính là giải phóng những cấu bẩn, khổ đau của chính mình.

    Bài văn khấn cúng phóng sinh tại nhà

    Chúng sanh nay có bấy nhiêulắng tai nghe lấy những lời dạy răncác ngươi trước lòng trần tục lắmnên đời nay chìm đắm sông mêtối tăm chẳng biết làm lànhgây bao tội ác, lạc vào trầm luândo vì đời trước ác tâmnên nay chịu quả khổ đau vô cùngmang, lông, mai, vẩy, đội sừngda trơn, nhám, láng, các loài súc sanhdo vì ghen ghét, tham sândo vì lợi dưỡng hại người làm vuido vì gây oán chuốc thùdo vì hại vật, hại sanh thoả lòngdo vì chia cách, giam cầmdo vì đâm thọc chịu bao khổ hìnhcầu xin Phật lực từ bilại nhờ Phật tử mở lòng xót thươngnay nhờ Tăng chúng hộ trìkết duyên Tam bảo thoát vòng khổ đauhoặc sanh lên các cõi trờihoặc liền thức tỉnh về nơi cõi lànhhoặc sanh lên được làm ngườibiết phân thiện ác, tránh điều lầm mê…Chúng sanh quy y PhậtChúng sanh Quy y PhápChúng sanh Quy y Tăng…Úm, ngâm ngâm ngâm (3 lần).

    Cơ sở đá mỹ nghệ ninh vân chúng tôi chuyên thiết kế, thi công, lắp đặt, bán sẵn, các sản phẩm đá mỹ nghệ như: Lăng thờ chung bằng đá, Khu lăng mộ gia đinh dòng họ gia tộc bằng đá, lăng mộ đá đẹp, mộ đá một mái, mộ ba mái đá, mộ đá không mái, mộ đá đơn, mộ đá đôi, cổng tam quan đá đình chùa, cổng nhà thờ họ, mẫu mộ tháp đá, bàn thờ thiên bằng đá,cây hương thờ thiên ngoài trời, cột đá, đá kê chân cột, đài phun nước, linh vật,rồng đá, chiếu rồng, voi đá, ngựa đá, cuốn thư tắc môn bình phong đá , …

    Để được tư vấn tốt nhất về sản phẩm quý khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi theo địa chỉ.

    • Địa chỉ: Làng nghề đá Ninh Vân – Hoa Lư – Ninh Bình
    • Điện thoại tư vấn hỗ trợ khách hàng: 0904.576.345
    • Website: https://langdaninhvan.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Rằm Tháng 7, Cúng Chúng Sinh, Phóng Sinh Tại Gia Chuẩn Nhất
  • Tổng Hợp Các Bài Văn Khấn Trong Tang Lễ Việt Nam (Phần Ii)
  • Văn Khấn Khi Đi Phủ Tây Hồ
  • Văn Khấn Phủ Tây Hồ Đầu Năm
  • 10 Điều Cần Biết Về Bàn Thờ Phật Tại Gia
  • Văn Khấn Phóng Sinh Chuẩn Theo Đạo Phật

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Khấn Đưa Và Rước Ông Táo Về Nhà Cực Chuẩn
  • Đọc Văn Khấn Vái Gia Tiên Trong Ngày Cưới Thế Nào Cho Đúng?
  • Văn Khấn Ngày Mùng 1 Và 15 Hàng Tháng
  • Văn Khấn Thánh Mẫu Cửu Trùng Thiên
  • Văn Khấn Đi Lễ Phủ Tây Hồ
  • Bài văn khấn phóng sinh dưới đây thường được tụng trong các chùa khi thực hiện nghi thức phóng sinh trong ngày lễ lớn. Chúng ta cũng có thể tụng tại gia, vừa để giúp các con vật “sám hối” vì đã tạo nghiệp, vừa giúp chúng ta ngấm hơn những giáo lý đạo Phật, nên ăn ở nhân đức, tránh gây tội ác mà bị đọa làm súc sinh. Bên cạnh đó, cũng giúp chúng ta tạo thêm phần phúc đức cho bản thân và gia đình.

     NGUYỆN HƯƠNG

    Nguyện đem lòng thành kính.

    Gởi theo đám mây hương.

    Phưởng phất khắp mười phương.

    Cúng dường ngôi tam bảo.

    Thề trọn đời giữ đạo.

    Theo tự tánh làm lành.

    Cùng pháp giới chúng sanh.

    Cầu Phật từ gia hộ.

    Tâm bồ đề kiên cố.

    Xa bể khổ nguồn mê.

    Chóng quay về bến giác

    Nam Mô Bồ Tát Hương Cúng Dường ( 3 lần)

    Kính bạch chư vị Đại Giác ba đời hùng sư tác đại chứng minh.

    Hôm nay có thiện nhân (tín nữ) thế danh là …………… phát tâm mua chuộc mạng các chúng sanh(tên các loài động vật) ….. đây để phóng thích. Cúi mong tam bảo thường ở khắp 10 phương từ bi quang giáng đạo tràng này chứng minh gia hộ, cứu giúp cho các chúng sanh này luôn tin sâu tam bảo, thoát kiếp trầm luân, mạng căn dứt thác sanh vào đường lành, gặp chánh pháp tu hành sớm được giác ngộ giải thoát.

    Ngưỡng nguyện trên tam bảo thường ở khắp 10 phương từ bi quang giáng chứng minh gia hộ ( 3 lần)

    TÁN PHẬT

    Đại từ, đại bi thương chúng sanh,

    Đại hỷ, đại xả, cứu hàm thức.

    Tướng đẹp sáng ngời dùng trang nghiêm

    Chúng con chí tâm thành đảnh lễ.

    – Chí tâm đảnh lễ tất cả chư Phật ba đời tột hư không khắp pháp giới.(lễ 1 lễ)

    – Chí tâm đảnh lễ tất cả Chánh pháp ba đời tột hư không khắp pháp giới.(lễ 1 lễ)

    – Chí tâm đảnh lễ tất cả Tăng bậc Hiền Thánh ba đời tột hư không khắp pháp giới.(lễ 1 lễ)

    TÁN PHÁP

    Pháp Phật sâu mầu chẳng gì hơn,

    Trăm ngàn muôn kiếp khó được gặp.

    Nay con nghe thấy vâng gìn giữ,

    Nguyện hiểu nghĩa chơn Đức Thế Tôn.

    Qui kính Phật, Bồ Tát trên hội Bát Nhã (3 lần)

    TÂM KINH TRÍ TUỆ CỨU KÍNH RỘNG LỚN (Tụng kinh Bát Nhã)

    Khi Bồ Tát Quán Tự Tại hành sâu Bát Nhã Ba La Mật Đa, Ngài soi thấy năm uẩn đều không, liền qua hết thảy khổ ách.

    Này Xá Lợi Phất! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc. Thọ, tưởng, hành, thức, cũng lại như thế.

    Này Xá Lợi Phất ! Tướng “Không” của các pháp, không sanh không diệt, không nhơ không sạch, không thêm không bớt.

    Cho nên trong tướng “Không” không có sắc, không có thọ, tưởng, hành, thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không có sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp ; không có nhãn giới; cho đến không có ý thức giới; không có vô minh cũng không có hết vô minh, cho đến không có già chết cũng không có hết già chết; không có khổ, tập, diệt, đạo, không có trí tuệ cũng không có chứng đắc.

    Vì không có chỗ được, nên Bồ Tát y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, tâm không ngăn ngại.

    Vì không ngăn ngại nên không sợ hãi, xa hẳn điên đảo mộng tưởng, đạt đến cứu cánh Niết Bàn.

    Chư Phật trong ba đời cũng nương Bát Nhã Ba La Mật Đa được đạo quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

    Nên biết, Bát Nhã Ba La Mật Đa là đại thần chú, là Đại Minh Chú, là Vô Thượng Chú, là Vô Đẳng Đẳng Chú, hay trừ được hết thảy khổ, chơn thật không dối.

    Vì vậy nói chú Bát Nhã Ba La Mật Đa, liền nói chú rằng:

    “Yết đế, yết đế, Ba la yết đế, Ba la tăng yết đế, Bồ đề tát bà ha.”(3 lần)

    CHÚNG SINH(tên các loại động vật)… SÁM HỐI

    Chúng sanh(tên các loại động vật)…. lỡ tạo bao ác nghiệp

    Đều do vô thỉ tham sân si

    Từ thân miệng ý phát sinh ra.

    Hôm nay thảy đều xin sám hối.

    Nam mô Bồ tát Cầu sám hối (3 lần)

    Chúng sanh đây có bấy nhiêu,

    Lắng tai nghe lấy những điều dạy răn.

    Các ngươi trước lòng trần tục lắm,

    Nên đời nay chìm đắm sông mê,

    Tối tăm chẳng biết tu trì,

    Gây nên tội báo lại về mình mang,

    Sống đọa đày chết thường đau khổ,

    Lông vẫy sừng có đỡ được đâu,

    Dù là bơi trước lặn sau,

    Lưới vây tên bắn lưỡi câu thả mồi.

    Tát cạn bắt cùng hơi hun độc,

    Lúc đó dù kêu khóc ai thương,

    Nằm trên chốc thớt là thường,

    Hồn còn phảng phất, nấu rang xong rồi.

    Chúng bây loài thượng cầm hạ thú

    Tuy khác thân người cũng tánh linh

    Ngươi thường gặp nạn sát sinh

    Khó giữ cho toàn an bình tánh mạng

    Muôn phần chết nay ngươi cầm chắc

    Duyên may nhờ các bậc thiện nhân,

    Cứu cho ngươi được thoát thân,

    Đến đây lại được nhờ ơn pháp mầu.

    Vậy ngươi hãy hồi đầu qui Phật,

    Và dốc lòng qui Pháp, qui Tăng.

    Qui y rồi tội chướng sạch băng,

    Trí khôn sáng tỏ tưng bừng khắp nơi.

    Phát tâm tu sau rồi được hưởng,

    Về cõi tịnh sung sướng đời đời,

    Lên tòa Diệu – giác thảnh thơi,

    Không hề thối chuyển an vui tháng ngày.

    Xin đại chúng ra tay cứu khổ,

    Phát tâm cầu Phật độ chúng sanh,

    Cùng nhau dốc một lòng thành,

    Cầu cho ra khỏi thoát vòng trầm luân.

    CHÚNG SINH (tên các loài động vật) … QUY Y

    – Chúng sinh (tên các loài động vật)… xin quy y Phật

    – Chúng sanh(tên các loài động vật)… xin quy y Pháp

    – Chúng sanh(tên các loài động vật)… xin quy y Tăng

    – Chúng sanh(tên các loài động vật)… quy y Phật, đấng phước trí vẹn toàn.

    – Chúng sanh(tên các loài động vật)… quy y Pháp, đạo thoát ly tham dục.

    – Chúng sanh(tên các loài động vật)… quy y Tăng, bậc tu hành giải thoát.

    – Chúng sanh(tên các loài động vật)… đã quy y Phật, nguyện đời đời kiếp kiếp không quy y Trời, Thần, Quỷ, Vật.

    – Chúng sanh(tên các loài động vật)… đã quy y Pháp, nguyện đời đời kiếp kiếp không quy y ngoại đạo tà giáo.

    – Chúng sanh(tên các loài động vật)… đã quy y Tăng, nguyện đời đời kiếp kiếp không quy y thầy tà, bạn dữ.

    – Chúng sanh(tên các loài động vật)… quy y Phật rồi khỏi đọa địa ngục

    – Chúng sanh(tên các loài động vật)… quy y Pháp rồi khỏi đọa ngạ quỷ

    – Chúng sanh(tên các loài động vật) … quy y Tăng rồi khỏi đọa súc sinh

    TỨ HOẰNG THỆ NGUYỆN

    Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ.

    Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn.

    Pháp môn vô lượng thệ nguyện học.

    Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.

    CHÍ TÂM PHÁT NGUYỆN

    Một nguyện nguồn linh thường trong lặng.

    Hai nguyện tạng thức dứt lăng xăng.

    Ba nguyện khối nghi đều tan nát.

    Bốn nguyện trăng định mãi tròn đầy.

    Năm nguyện pháp trần không khởi diệt.

    Sáu nguyện lưới ái lìa buộc ràng.

    Bảy nguyện suy nghĩ hành Thập Địa.

    Tám nguyện nghe suốt bỏ Tam Thiên.

    Chín nguyện tâm vượn thôi nhảy nhót.

    Mười nguyện ý ngựa dứt cương yên.

    Mười một nguyện mở lòng nghe Phật dạy.

    Mười hai nguyện mến thích Tổ Sư Thiền.

    CHÍ TÂM HỒI HƯỚNG

    Phóng sinh công đức khôn tính kể.

    Thắng phước vô biên đồng hướng về

    Nguyện khắp pháp giới các chúng sanh

    Thảy đểu thể nhập vô sanh nhẫn.

    Nguyện tiêu ba chướng sạch phiền não

    Nguyện được trí tuệ thật sáng ngời

    Nguyện cả tội chướng thảy tiêu trừ

    Đời đời thường hành Bồ Tát đạo.

    Nguyện đem công đức tu hành này

    Trang trải mười phương khắp tất cả

    Hết thảy chúng con cùng các loài

    Đồng được lên ngôi Vô Thượng Giác.

    Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.

    PHỤC NGUYỆN

    Tất cả chúng con thành tâm phóng thích các chúng sinh đây, nguyện các chúng sanh này sau khi nghe pháp thọ trì tam quy được thoát khỏi nạn dao thớt, lửa, lưới…., sớm phát tâm tỉnh giác, lìa chỗ ngu si, khởi niệm từ bi, xa rời đường khổ. Tin sâu Tam bảo, thoát kiếp trầm luân, sanh về cõi an vui gặp chánh pháp tu hành sớm giác ngộ giải thoát.

    Nguyện cho thí chủ được tai ách tiêu trừ, oan khiên dứt sạch, bệnh căn thuyên giảm, gia quyến an khanh, lòng tin tam bảo càng sâu, tâm từ đối với chúng sinh tăng trưởng.

    Khắp nguyện, nước từ ban rải, chúng loại yên vui, mỗi mỗi chúng sanh được thấm nhuần mưa pháp, đồng phát tâm hướng về chánh pháp, mọi loài đều chứng ngộ Phật thừa.

    Nam mô Phật Bổn sư Thích ca Mâu ni

    (đồng niệm )

    – Chúng sanh (tên các loài động vật)… tự quy y Phật. Nguyện cho chúng sinh. Hiểu thấu đại đạo. Phát tâm vô thượng (1 lễ)

    – Chúng sanh(tên các loài động vật)… tự qui y Pháp: Nguyện cho chúng sanh. Thâm nhập ba tạng. Trí tuệ như biển (1 lễ)

    – Chúng sanh(tên các loài động vật)… tự qui y Tăng: Nguyện cho chúng sanh. Quản lý đại chúng. Tất cả không ngại (1 lễ)

    Nguyện đem công đức phóng sanh này.

    Hướng về khắp tất cả

    Đệ tử cùng chúng sanh.

    Đều trọn thành Phật đạo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Phóng Sinh Và Lễ Vật Cần Chuẩn Bị Theo Đạo Phật
  • Lễ Tạ Cuối Năm Gạt Đi Những Lo Âu Cầu Bình An Năm Mới
  • Văn Khấn Giỗ Đầu Và Việc Sắm Lễ Cho Người Âm
  • Lễ Thôi Nôi Cho Bé Trai, Gái: Mâm Cúng Thôi Nôi Gồm Những Gì & Bài Khấn
  • Văn Khấn Thỉnh Rước Ông Táo Về Nhà Mới & Cách Cúng Hàng Ngày
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100