【#1】Văn Khấn Quan Lớn Đệ Tam

Bài Khấn Quan âm Bồ Tát, Văn Khấn Quan Lớn Đệ Tam, Bài Khấn Quan Ngũ Hổ, Bài Khấn Quan Đệ Tam, Văn Khấn Yết Cáo Táo Quân Thổ Thần, Văn Khấn Quan Nam Tào Bắc Đẩu, Bài Khấn Trả Nợ Tào Quan, Bài Khấn Quan Thế âm Bồ Tát, Văn Khấn Quan Ngũ Hổ, Bài Khấn Quan âm, Văn Khấn Rằm Tháng 7 Tại Cơ Quan, Bài Khấn Quan Giám Sát, Bài Khấn Phật Bà Quan âm, Văn Khấn Đền Quán Thánh, Bài Khấn Nguyện Quan Thế âm Bồ Tát, Văn Khấn Quan Hoàng Bảy, Bài Khấn Phật Quan âm, Bài Khấn Rằm Tháng 7 Tại Cơ Quan, Văn Khấn Quan Công, Bài Khấn Quan Thần Linh Thổ Địa, Bài Khấn Quan Thánh, Văn Khấn Quan Thần Linh Ngoài Mộ, Bài Khấn Quan Tuần Tranh, Bài Khấn Quan Lớn Tuần Tranh, Văn Khấn Khai Trương Quán ăn, Những Khó Khăn Quản Trị Mua Hàng, Văn Khấn Quan Hoàng Mười, Văn Khấn Quan Lớn Tuần Tranh, Văn Khấn Khai Quần Ngựa Ma Giay, Những Khó Khăn Trong Quản Lý Mua Hàng Gặp Phải, Che Do Xuat Ngu Quan Nhan Co Hoan Canh Kho Khan, Sự Tích Cây Quần Thiết Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị, Sự Tích Cây Quần Thiết Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị, Sự Cần Thiết Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân Trong Tình Hình Mới, Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình Hình Mới, Bien Phap Tang Cương Quan Lý Các Moi Quan He Quan Nhan Tring Tinh Hinh Moi, Những Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hôi Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình Hì, Những Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sơ, Những Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sơ, Nêu Yêu Cầu, Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Môi Quan Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình Hì, Sự Cần Thiết Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình Hình, Tăng Cường Sinh Lý Nam Quan Ly Cac Moi Quan He Xa Hoi Cua Quan Nhan O Don Vi Co So Trong Tinh Hinh M, Yêu Câu Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình , Yêu Câu Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình, êu Yêu Cầu, Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Môi Quan Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình Hìn, Chuyên Đề Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình Hình Mới, Đồng Chí Cho Biết Các Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ, Những Biện Pháp Tu Táp Tăng Chiều Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở, Những Biện Pháp Tu Táp Tăng Chiều Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở , Nêu Yêu Cầu, Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Môi Quan Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình Hì, Sự Cần Thiết Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình Hình , Yêu Cầu Quản Lý Các Mối Quan Hệ Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình Hình Mớiphim Quỳnh Búp Bê Tậ, Sự Cần Thiết Yêu Cầu , Biện Pháp Tăng Cường Quản Lí Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Dơn Vị C, Phoi Hop Chat Che Giua Gia Dinh Dia Phuong Va Don Vi Trong Quan Ly Cac Moi Quan He Xa Hoi Cua Quan N, Sự Cần Thiết Yêu Cầu Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị, Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình Hình Mới, Các Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Các Mmois Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở, Tăng Cường Quản Lý Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân Dơn Vị Cơ Sở Trong Tình Hình Mới, Sự Cần Thiết Yêu Cầu , Biện Pháp Tăng Cường Quản Lí Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Dơn Vị C, Sự Cần Thiết, Yêu Cầu, Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân, Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình Hình Mới, Tăng Cường Quản Lí Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tinh Hinh Mới, Tăng Cường Quản Lí Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tinh Hinh Mớ, Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân, Bien Pháp Tăng Cường Quản Lý Các Mói Quan Hẹ Của Quan Nhan, Nhũng Yêu Cầu Quản Lí Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình Hình Mới, Yêu Cầu Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân Trong Giai Đoạn Hiệnnay, Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở, Nêu Yêu Cầu Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hộicủa Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tinh Hinh Mới, Bai Viet Thu Hoach Vè Tăng Cường Quản Lý Các Mói Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân, Yêu Cầu Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình Hình Mớig, Yêu Cầu Quản Lý Các Mỗi Quan Heejxax Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình Hình Mới?, ăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình Hình Mới, Yêu Cầu Và Các Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân, ăng Cường Quản Lí Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tinh Hinh Mới, Các Biện Pháp Cơ Bản Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở, Bài Tập Tình Huống Về Lãnh Đạo Quản Lý Cấp Phòng Tại Các Cơ Quan Quản Lý Nhà Nước, Các Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân, Quản Lý Lực Lượng Nồng Cốt Dân Quân Tự Vệ Và Quân Dự Bị Động Viên, Quản Lý Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình Hình Mới, Bài Thu Hoạch Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân, Quản Lý Các Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình Hình Mới, Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình Hình Mới, Phoi Hop Chat Che Trong Quan Ly Cac Moi Quan He Xa Hoi Cua Quan Nhan, Thuc Trang Ve Cong Tác Quản Lý Các Moi Quan He Xa Hoi Cua Quan Nhan, Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân Cuaan, Yêu Cầu Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình Hình Mới, Tăng Cường Năng Lực Quản Lý Môi Quan He Quan Nhan, Tai Liệu Tăng Cương Quản Lý Các Mối Quan Hệ Của Quân Nhân, Sự Cần Thiết Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân, Yêu Cầu Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Trong Tình Hình Mới, Yeu Cau Cau Quan Ly Cac Moi Quan He Xa Hoi Cua Quan Nhan O Don Vi Co So Trong Tinh Hinh Moi, : Nêu Yêu Cầu Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình Hình Mới, Bài Thu Hoạch Về Tăng Cường Quản Lý Các Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở, Yêu Cầu Quản Lí Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Trong Tình Hình Mới, Nêu Yêu Cầu Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Trong Tình Hình Mới, Neu Yeu Cau Quan Ly Cac Moi Quan He Xa Hoi Cua Quan Nhan O Don Vi Co So Trong Tinh Hinh Moi, Neu Yeu Cau Quan Ly Cac Moi Quan He Cua Quan Nhan Trong Tinh Hinh Moi, Bài Khấn Lễ ăn Hỏi, Văn Khấn âm Hán,

Bài Khấn Quan âm Bồ Tát, Văn Khấn Quan Lớn Đệ Tam, Bài Khấn Quan Ngũ Hổ, Bài Khấn Quan Đệ Tam, Văn Khấn Yết Cáo Táo Quân Thổ Thần, Văn Khấn Quan Nam Tào Bắc Đẩu, Bài Khấn Trả Nợ Tào Quan, Bài Khấn Quan Thế âm Bồ Tát, Văn Khấn Quan Ngũ Hổ, Bài Khấn Quan âm, Văn Khấn Rằm Tháng 7 Tại Cơ Quan, Bài Khấn Quan Giám Sát, Bài Khấn Phật Bà Quan âm, Văn Khấn Đền Quán Thánh, Bài Khấn Nguyện Quan Thế âm Bồ Tát, Văn Khấn Quan Hoàng Bảy, Bài Khấn Phật Quan âm, Bài Khấn Rằm Tháng 7 Tại Cơ Quan, Văn Khấn Quan Công, Bài Khấn Quan Thần Linh Thổ Địa, Bài Khấn Quan Thánh, Văn Khấn Quan Thần Linh Ngoài Mộ, Bài Khấn Quan Tuần Tranh, Bài Khấn Quan Lớn Tuần Tranh, Văn Khấn Khai Trương Quán ăn, Những Khó Khăn Quản Trị Mua Hàng, Văn Khấn Quan Hoàng Mười, Văn Khấn Quan Lớn Tuần Tranh, Văn Khấn Khai Quần Ngựa Ma Giay, Những Khó Khăn Trong Quản Lý Mua Hàng Gặp Phải, Che Do Xuat Ngu Quan Nhan Co Hoan Canh Kho Khan, Sự Tích Cây Quần Thiết Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị, Sự Tích Cây Quần Thiết Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị, Sự Cần Thiết Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân Trong Tình Hình Mới, Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình Hình Mới, Bien Phap Tang Cương Quan Lý Các Moi Quan He Quan Nhan Tring Tinh Hinh Moi, Những Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hôi Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình Hì, Những Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sơ, Những Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sơ, Nêu Yêu Cầu, Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Môi Quan Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình Hì, Sự Cần Thiết Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình Hình, Tăng Cường Sinh Lý Nam Quan Ly Cac Moi Quan He Xa Hoi Cua Quan Nhan O Don Vi Co So Trong Tinh Hinh M, Yêu Câu Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình , Yêu Câu Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình, êu Yêu Cầu, Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Môi Quan Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình Hìn, Chuyên Đề Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình Hình Mới, Đồng Chí Cho Biết Các Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ, Những Biện Pháp Tu Táp Tăng Chiều Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở, Những Biện Pháp Tu Táp Tăng Chiều Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở , Nêu Yêu Cầu, Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Môi Quan Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình Hì,

【#2】Văn Khấn Tại Đền Quan Lớn Đệ Tam Thoải Phủ Chuẩn Tín Ngưỡng Đạo Mẫu Việt Nam

Văn khấn tại đền Quan lớn đệ Tam Thoải Phủ chuẩn tín ngưỡng đạo Mẫu Việt Nam

Tín ngưỡng văn hóa đạo Mẫu Việt Nam có Tam Tòa Thánh Mẫu, Ngũ vị tôn Quan, Thập vị ông Hoàng,… Mỗi người đều ngự riêng tại bản đền, bản điện với bài văn khấn đền và quyền phép khác nhau. Cùng chúng tôi tìm hiểu về Quan lớn đệ Tam Thoải Phủ qua bài viết sau đây.

Thần tích Quan lớn đệ Tam Thoải Phủ

Quan Lớn Đệ Tam được biết đến là con trai thứ ba của Vua Cha Bát Hải Động Đình. Ông được vua cha yêu mến và tín nhiệm, giao cho quyền cai quản chốn Long Giai Động Đình, cận bên cạnh phụ vương. Dưới thời Hùng Vương, theo lệnh vua cha, ông cùng hai người em (có sách nói là hai người thân cận) lên giúp Vua Hùng chỉ huy thuỷ binh, lúc này ba vị giáng ở đất Hà Nam, được nhân dân tôn thành “Tam Vị Đại Vương”, trong đó, Quan Đệ Tam là người anh cả trong ba người.

Có điển tích lại kể rằng Quan Tam Phủ giáng trần vào nhà quý tộc dưới thời Hùng Vương, ông trở thành vị tướng quân thống lĩnh ba quân thuỷ lục. Ông đã hy sinh trong một trận huyết chiến và hạ thân (mình) trôi về hai bên bờ con sông Lục Đầu). Ông hoá đi, về chầu Long Cung, là người cầm cân nảy mực, thông tri Tam Giới, quyền cai các thanh đồng đạo quan. Vậy nên có khi người ta còn gọi là Ông Cai Đầu Đồng.

Hầu như những người đã ra hầu Tứ Phủ, khi hầu hàng Quan Lớn, ai cũng phải hầu về Quan Đệ Tam. Ông là một trong những vị quan lớn hay về ngự đồng nhất. Khi ngự đồng, ông mặc áo trắng thêu rồng, hổ phù; làm lễ tấu hương, khai quang, chứng sớ điệp và ông múa đôi song kiếm. Khi có đại tiệc khai đàn mở phủ, người ta thỉnh quan về chứng đàn Thoải Phủ (gồm có long chu phượng mã, lốt tam đầu cửu vĩ,… tất cả đều màu trắng).

Trong hàng quan lớn, bởi danh tiếng lẫy lừng nên ông được thờ phụng ở khắp nơi. Nhưng đầu tiên phải kể đến Đền Lảnh Giang ở Mộc Nam, Duy Tiên, Hà Nam (gần Hưng Yên) tương truyền là nơi hạ thân của ông trôi về, sau đó phải nói đến Đền Xích Đằng cũng thuộc Hà Nam (hai ngôi đền này chỉ cách nhau cây cầu Yên Lệnh nối hai bờ sông Lục Đầu) là nơi thờ thượng thân của ngài. Ngoài ra còn có Đền Cửa Đông tại thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn (gần Đền Mẫu Thoải)

Tiệc Quan lớn đệ Tam diễn ra vào ngày nào ?

Ngày mở tiệc được tổ chức tại ngày 24/6 âm lịch, dân gian còn gọi đây là ngày đản sinh của ngài.

Văn khấn Quan lớn đệ Tam Thoải Phủ chuẩn tín ngưỡng đạo Mẫu Việt Nam

“Trịnh giang biên giành ngân lai láng

Đôi vầng hồng soi rạng nam minh

Con vua thủy quốc Động Đình

Đệ tam thái tử giáng sinh đền Rồng

Đức gồm vẹn thung dung hòa mặc

Bẩm sinh thành tư chất long nhan

Thỉnh mời thái tử thái tử vương quan

Phi phương diện mạo dung nhan khác thường

Hằng tấu đối thiên đường thủy phủ

Trấn nam minh quy đủ bốn phương

Ra uy chấp chính kỉ cương

Cầm cân nảy mực sửa sang cõi đời

Chốn long giai cầm quyền thay chúa

Phép màu quan tối tú tối linh

Lệnh truyền thủy bộ chư dinh

Sửa sang đai giáp chơi miền trần gian

Dâng một triền nhang lòng thành dâng một triền nhang

Tấu về thủy phủ các ban các tòa thiên đình cho tới diêm la

Thiên đình cho tới diêm la tấu vè thoải phủ vua cha động đình

Chốn ấy là chốn thủy cung”

【#3】Quan Lớn Đệ Tam: Thần Tích, Văn Khấn, Nơi Thờ

Khâm Sai Thoải Phủ Đệ Tam Hoàng Thái Tử Vương Quan Tôn Thần

Quan lớn đệ Tam là ai?

– Tên đầy đủ: Đệ Tam Thượng thiên hoàng thái tử vương quan

– Tước phong: Thủy tào điển sứ – Đệ tam thủy thần nhạc đại vương thượng đẳng tối linh thần.

Như vậy, quan Lớn Đệ Tam Thoải Phủ hay còn gọi là Thái tử Đệ Tam. Quan lớn vốn là con trai thứ ba của Vua Cha Bát Hải Động Đình, là người rất được vua cha yêu quý nên giao quyền cai quản chốn Long Giai Động Đình, cận bên cạnh phụ vương.

Nhưng lại có điển tích nói rằng, chỉ có một mình Quan Tam Phủ giáng trần vào nhà quý tộc dưới thời Hùng Vương, ông trở thành vị tướng quân thống lĩnh ba quân thuỷ lục. Sau đó trong một trận quyết chiến, ông hy sinh (phần thượng thân (đầu) và hạ thân (mình) trôi về hai bên bờ con sông Lục Đầu). Ông hoá đi, về chầu Long Cung, là người cầm cân nảy mực, thông tri Tam Giới, quyền cai các thanh đồng đạo quan. Vậy nên có khi người ta còn gọi là Ông Cai Đầu Đồng.

Quyền phép của Quan lớn Đệ Tam

Khi hát văn có một đoạn rất hay nói về tài phép của quan:

“Hoá tức thì lâu đài điện các

Dâng nước về Thuỷ Quốc một khi

Có phen lấy ngọc lưu ly

Đùng đùng dâng nước phép thì ai đang”

Trong hệ thống thống thần linh Tam, Tứ Phủ, Quan Lớn Đệ tam là vị nam thần có vai trò quan trọng, ông đảm nhiệm cai quản “đầu đồng”, bút phê sớ khảo. Là vị thần tối cao của Thoải phủ (một trong bốn phủ: Thiên – Địa – Nhạc – Thoải), ông được thờ phụng khắp các khu vực sông nước với nhiều sự linh thiêng của bậc Thượng đẳng thần.

Thần tích về Quan lớn đệ tam

Căn cứ vào thần tích “Hùng triều nhất vị thuỷ thần xuất thế sự tích” (sự tích ra đời một vị thuỷ thần triều vua Hùng) do Bát phẩm thư lại Nguyễn Hiền, tuân theo bản cũ triều trước, chép lại vào niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 2 (1736). Thần tích đang được lưu giữ tại Đền Lảnh Giang (dân gian coi nơi thờ chính) như sau:

Ngày xưa, ở trang An Cố, huyện Thuỵ Anh, phủ Thái Ninh, trấn Sơn Nam có vợ chồng ông Phạm Túc ăn ở phúc đức, chỉ hiềm một nỗi ông bà tuổi đã cao mà vẫn chưa sinh được một mụn con nối dõi. Một đêm trăng thanh gió mát, vợ ông (bà Trần Thị Ngoạn) đang dạo chơi bỗng gặp một người con gái nhà nghèo, cha mẹ mất sớm, không có anh em thân thích, đi tha phương cầu thực.

Động lòng trắc ẩn, bà Ngoạn liền đón cô về làm con và đặt tên là Quý.Vài năm sau, trong lúc gia đình đang vui vầy, đột nhiên ông Túc mắc bệnh rồi qua đời. Hai mẹ con đã tìm một nơi đất tốt để an táng cho ông.

Sau ba năm để tang cha, một hôm nàng Quý ra bờ sông tắm gội, ngâm mình dưới nước, bỗng mặt nước nổi sóng, từ phía xa một con thuồng luồng khổng lồ bơi tới quấn lấy nàng, khiến nàng kinh hoàng ngất lịm. Lúc tỉnh dậy thì thấy mình nằm bên bờ sông và thuồng luồng đã bỏ đi.

Từ hôm đó nàng thấy trong lòng chuyển động và mang thai. Không chịu được những lời gièm pha khinh thị, nàng đành phải trốn khỏi làng đến xin ngụ cư ở trang Hoa Giám (nay thuộc thôn Yên Lạc).

Rồi đến ngày mùng 10 tháng Giêng năm Tân Tỵ, nàng Quý chuyển dạ, sinh ra một cái bọc. Cho là điểm chẳng lành, nàng liền đem chiếc bọc đó quẳng xuống sông. Chiếc bọc trôi theo dòng nước tới trang Đào Động (xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, Thái Bình), mắc phải lưới của ông Nguyễn Minh.

Sau nhiều lần gỡ bỏ, nhưng bọc vẫn cứ mắc vào lưới. Ông Minh thấy lạ bèn khấn: “Nếu bọc này quả là linh thiêng thì cho tôi lấy dao rạch thử xem sao”. Khấn xong ông Minh rạch ra, bỗng thấy ba con rắn từ trong bọc trườn xuống sông.

Con thứ nhất theo hướng về cửa sông Đào Động, con thứ hai về Thanh Do, con thứ ba về trang Hoa Giám – nơi nàng Quý đang sinh sống. Nhân dân các trang ấp trông thấy đều sợ hãi, cùng nhau ra bờ sông tế tụng, xin được lập sinh từ để thờ.

Lạ thay, vào một đêm trăng sáng, trời bỗng nổi cơn giông, ngoài cửa sông sấm sét nổi lên dữ dội. Đến gần sáng, gió mưa ngớt dần, mọi người đều thấy dưới sông có tiếng người ngâm vịnh:

Sinh là tướng, hóa là thần Tiếng thơm còn ở trong dân muôi đời Khi nào giặc dã khắp nơi Bọn ta mới trở thành người thế gian (1)

(1)Tương truyền ba vị tướng thời Hùng là con của Thủy Đế và nàng Quý. Nàng Quý là con nuôi của vợ chồng ông Phạm Túc. Do vậy về sau nhân dân ghép họ Phạm cho các ông).

Bấy giờ Thục Phán có ý định cướp ngôi vua Hùng Duệ Vương. Thục Phán cầu viện binh phương Bắc đánh vào kinh đô. Duệ Vương bèn lập đàn cầu đảo. Đêm ấy nhà vua chiêm bao thấy có người sứ giả mặc áo xanh từ trên trời bước xuống sân rồng, truyền rằng: “Nhà vua nên triệu ba vị thuỷ thần sinh ở đạo Sơn Nam, hiện còn là hình con rắn thì tất sẽ dẹp xong được giặc”. Tỉnh dậy Duệ Vương liền cho sứ giả theo đường chỉ dẫn trong giấc mộng tìm về đạo Sơn Nam. Sứ giả vừa đến trang Đào Động (nay thuộc xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình), bỗng nhiên trời đổ mưa to, sấm sét nổi lên dữ dội ở cửa sông. Một người mặt rồng mình cá chép, cao tám thước đứng trước sứ giả xưng tên là Phạm Vĩnh, xin được đi dẹp giặc. Sau đó, ông Phạm Vĩnh gọi hai em đến bái yết thân mẫu, rồi cùng nhau đi yết kiến Duệ Vương. Hai em và các tướng hợp lại, dưới sự chỉ huy của ông, quân Thục đều bị tiêu diệt.

Vì có công lớn nên nhà vua lại phong cho ông là “Nhạc Phủ Ngư Thượng Đẳng Thần” nhưng ông không nhận, chỉ xin cho dân Đào Động hàng năm không phải chịu sưu dịch. Được vua Hùng đồng ý, ông Phạm Vĩnh cùng hai em về quê hương bái yết thân mẫu và khao thưởng gia thần, dân chúng.

Ngày 25 tháng 8 năm Bính Dần, trong lúc ông đang ngự tại cung thất của mình, bỗng dưng giữa ban ngày trời đất tối sầm, mưa gió ầm ào đổ xuống. Khi trời quang mây tạnh, dân làng không nhìn thấy ông đâu nữa. Cho là điều kỳ lạ, nhân dân trang Đào Động làm biểu tâu với triều đình.

Được tin ông Phạm Vĩnh về trời, nhà vua liền gia phong cho ông là “Trấn Tây An Tam Kỳ Linh Ưng Thái Thượng Đẳng Thần”, đồng thời đặt lệ quốc lễ, ban sắc chỉ cùng 400 quan tiền cho dân Đào Động rước thần hiệu, tu sửa đền miếu để phụng thờ. Các triều đại sau đó cũng có sắc phong cho ông (hiện trong đền còn giữ 12 sắc phong. Sắc sớm nhất là đời Lê Cảnh Hưng, sắc muộn nhất vào triều Nguyễn, niên hiệu Duy Tân thứ 7, ngày 18 tháng 10 có chép: “Sắc cho xã An Lạc, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam phụng thờ Trấn An Tây Nam Tam Kỳ Linh ứng triều Hùng thiêng liêng rõ rệt, trước đây chưa có dự phong. Gặp nay trẫm vâng chịu mệnh lớn, nghĩ đến công thần biểu dương phong cho vị thần, phò giúp nền nếp quốc gia, cho phép y theo lệ cũ kính thờ”.

Đền Lảnh Giang

Đền thờ quan lớn đệ tam ở đâu?

Hiện nay, đền thờ Quan lớn Đệ Tam chính là:

  • Đền Lảnh Giang (Mộc Nam, Duy Tiên, Hà Nam): Đền Lảnh Giang còn có tên gọi là Lảnh Giang linh từ, tọa lạc tại thôn Yên Lạc, xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên. Đền thờ Tam vị danh thần là ba anh em Quan Lớn Đệ Tam và thờ Tiên Dung công chúa và Chử Đồng Tử. Đây là một công trình kiến trúc đồ sộ, uy linh. Tam quan xây theo kiểu chồng diêm tám mái, các đầu đao cong vút thanh thoát hình đầu rồng đắp nổi, đan xen mặt nguyệt, lá lật cách điệu mềm mại. Phía trước Tam quan là hồ bán nguyệt, nước hồ phẳng lặng như bàn ngọc thạch bày lên những đóa hoa súng đỏ tươi. Giũa hồ, ngọn bảo tháp đứng trầm mặc được nối với cửa đền bằng chiếc cầu cong tạc hình lưỡi long hướng địa, ẩn hiện dưới bóng cây si già hàng ngàn năm tuổi. Đền Lảnh Giang được xây dựng theo kiểu nội công ngoại quốc gồm 3 tòa, 14 gian, hai bên có nhà khách, lầu thờ, 4 bên có tường gạch bao quanh. Trong đền có nhiều đồ thờ giá trị như tượng Tiên Dung công chúa, khánh long đình, khám đặt tượng thờ 3 vị tướng thời Hùng vương được chạm khắc công phu theo phong cách đời Lê. Ngoài ra đền còn giữ được hai kiệu bát cống long đình, một sập thờ và nhiều hoành phi, câu đối, nhang án. Đến Đền Lảnh Giang chúng ta có thể đến chiêm ngưỡng đền thờ Cô Bơ Thoải Phủ ngay bên Đền Lảnh Giang. Xung quanh đền Lảnh Giang còn có Đền Đức Vua Cha thờ vua Lê; Đền thờ Ngọc Hoa Công chúa, em gái của Tiên Dung Công Chúa; đền thờ Trần Khánh Dư, một vị tướng của Trần Hưng Đạo.
  • Xích Đằng (Hưng Yên): Toàn bộ ngôi đền được xây dựng trên một khu đất rộng, kiến trúc nếp nhà cao, thoáng đãng, tăng thêm vẻ hoành tráng cho ngôi đền. Tam quan được xây dựng theo kiểu chồng diêm hai tầng tám mái là khoảng sân đền có đặt đôi rùa đá và đôi nghê đá ngày đêm canh gác cho sự uy linh của ngôi đền. Cung thứ nhất là ban công đồng các quan, tiếp đến là cung Tam tòa Thánh mẫu, cung thứ ba thờ Quan Lớn Đệ Tam, cuối cùng là cung cấm đặt tượng của Ngài được đúc bằng đồng. Ngoài các ban thờ chính còn có các ban thờ khác: Ban chúa Sơn Trang, ban Vương ông nhà Trần, ban thờ ông Hoàng Mười, Hoàng Bảy… Trong đền có rất nhiều hiện vật giá trị: Hai quả chuông đồng, hệ thống các bức đại tự, câu đối được sơn son thiếp vàng ca ngợi công đức của Ngài với dân với nước. Trong khuôn viên ngôi đền còn có cây cổ thụ là sự hợp thân, quấn quýt lấy nhau của năm loại cây: Đa, Sung, Khế, Cọ, cây lá nón bao trùm lên mái ngôi đền, tỏa bóng râm mát.

Đây là 2 nơi thờ chính vị nam thần thượng cổ: Trấn Tây An Tam Kỳ Linh Ưng Thái Thượng Đẳng Thần (dân gian vẫn gọi Quan Lớn Đệ Tam).

Ngoài ra, còn nhiều ngôi đền cạnh sông nước cũng thờ phụng quan Đệ Tam như:

  • Đền Cửa Đông tại thành phố Lạng Sơn
  • Đền Lâm Du thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội
  • Đền Tam Kì thuộc thành phố Hải Phòng
  • Đền Quan Lớn – Phủ Dầy……

Sắm lễ Quan lớn đệ tam như thế nào?

Trong hàng quan lớn, vì danh tiếng bậc nhất nên Quan Lớn Đệ Tam cũng được lập đền thờ phụng ở khắp nơi. Để ca ngợi tài đức, công lao của ông, văn hát:

“Giáp bạc bao phen rực lửa hồng Xông pha trăm trận cũng như không Ra tay cứu nước trừ nguy biến Tiếng để ngàn thu với non sông […] Gươm thần ba thước tay ngang dọc Tài dậy trời Tây, chí lấp bể Đông”

Giữa những lời văn dập dìu, khói hương nghi ngút tại khắp đền, phủ thờ Quan Lớn Đệ Tam, mỗi người đến đều chuẩn bị những mâm lễ màu trắng để cầu bình an sức khỏe. Có cụ đã 70, 80 cũng sai con cháu đưa đi lễ Quan vào dịp tháng 6 âm lịch như một cái lệ khó bỏ mà dân gian vẫn gọi tháng tiệc “Thoải phủ

Quan lớn Đệ Tam ngự đồng như thế nào?

Khi ông về ngự đồng, khai quang chứng đàn mã sớ điệp, văn thường hát đoạn:

“Lòng thành thắp một chiện nhang

Tấu về Thoải Phủ các ban các toà

Thiên Đình, Thoải Phủ, Diêm La

Tấu về Thoải Phủ Vua Cha Động Đình

Vốn xưa là chúa Thủy Tinh…”

Hầu như những người đã ra hầu Tứ Phủ, khi hầu hàng Quan Lớn, ai cũng phải hầu về Quan Đệ Tam. Có thể coi ông là vị Quan Lớn tài danh hàng đầu. Khi ngự đồng, ông mặc áo trắng thêu rồng, hổ phù; làm lễ tấu hương, khai quang, chứng sớ điệp và ông múa đôi song kiếm. Khi có đại tiệc khai đàn mở phủ, người ta thỉnh quan về chứng đàn Thoải Phủ (gồm có long chu phượng mã, lốt tam đầu cửu vĩ…: tất cả đều màu trắng).

Ngày tiệc Quan Lớn Đệ Tam

Ngày tiệc của Quan Lớn Đệ Tam là ngày 24/6 âm lịch (tương truyền là ngày đản nhật giáng sinh của ông).

Hàng năm tại Đền Lảnh Giang, nhân dân địa phương tổ chức 2 kỳ lễ hội chính vào các ngày từ 18 đến 25 tháng 6 và tháng 8 âm lịch. Theo tục lệ địa phương thì kỳ lễ hội tháng 6 là để dành cho các khách thập phương, còn kỳ lễ hội tháng 8 chủ yếu dành cho các khách quanh vùng. Những ngày này thường gặp nước sông Hồng dâng cao nhưng lòng dân vẫn hướng về ngày lễ hội. Có nhiều năm nước ngập nhưng các thiện nam tín nữ cùng nhân dân bản địa vẫn bơi thuyền ra đền dâng lễ và thực hiện đầy đủ các nghi thức để tỏ lòng tôn kính tam vị danh thần họ Phạm, Tiên Dung và Chử Đồng Tử.

*****************************

Bản văn Quan lớn Đệ Tam:

Trịnh giang biên giành ngân lai láng

Đôi vầng hồng soi rạng nam minh

Con vua thủy quốc Động Đình

Đệ tam thái tử giáng sinh đền Rồng

Dọc:

Đức gồm vẹn thung dung hòa mặc

Bẩm sinh thành tư chất long nhan

Thỉnh mời thái tử thái tử vương quan

Phi phương diện mạo dung nhan khác thường

Dâng một triền nhang lòng thành dâng một triền nhang

Tấu về thủy phủ các ban các tòa thiên đình cho tới diêm la

Thiên đình cho tới diêm la tấu vè thoải phủ vua cha động đình

Chốn ấy là chốn thủy cung

Phú:

Nhanh dâng một chuyện tâu thỉnh đức vương quan

Đệ tử con tiến văn đàn

Dâng sự tích đệ tam hoàng thái tử

Sơn xuyên dục tú “hà hải chung linh”(2)

Người con vua thoải quốc động đình

Sắc phong tặng vương quan hoàng thái tử

Văn thần cẩm tú võ tổng lược thao

Bẩm dung y diện mạo hồng hào

Ngôn trung chính tài cao quán cổ

Thơ:

Giáp bạc bao phen nhuộm đỏ hồng

Xông pha trăm trận dạ như không

Ra tay cứu nước trừ nguy biến

Tiếng để ngàn thu với núi sông

Xá lửng:

Chiếc thuyền lam nổi dòng Xích Bích

Đưa quân chèo du lịch bốn phương

Có phen tuần thú sông Thương

Trở ra tỉnh Bắc , Quế Dương, Lục Đầu

Nay ông đã về chầu nhân đức

Độ nhân gian vạn ức siêu sinh

Nay ông về chốn thủy đình

Cuông phù đệ tử khang ninh thọ trường.

Văn khấn quan lớn Đệ Tam

Bản ngắn gọn dành cho khách thập phương

Nam mô a di dà phật (3 lần) Con lạy chín phương trời, con lạy mười phương đất, con lạy chư phật mười phương, mười phương chư phật.

Con lạy toàn thể chư phật, chư tiên, chư thánh.

Con lạy: ………..( tên thánh chủ bản đền. Ví dụ, đến đền Quan Đệ Tam ta khấn: Con lạy Quan lớn Đệ Tam tối linh) Đệ tử con tên là:…………. tuổi:……….

Ngụ tại:…………………………… Hôm nay là ngày…., Chúng con đến đây có chút hương hoa, phẩm quả, lễ mặn (chú ý dâng gì thì kêu đó nghe – không có lễ mặn mà kêu lễ mặn là phải tội đó, nên nhớ không bày lễ mặn ở cúng Phật) xin dâng lên các chư tiên, chư thánh để cảm tạ ơn đức của các ngài đã phù hộ độ trì cho chúng con suốt thời gian qua. Vừa qua, được sự lưu tâm độ trì của các ngài mà công việc (Nếu đã xin việc gì cụ thể mà thành công thì xin trình bày ) của con đã hanh thông vẹn tròn. Chúng con xin được cảm tạ và lễ tạ tất cả các Ngài. Hôm nay, chúng con tới đây với tất cả lòng thành kính xin các ngài phù hộ độ trì cho con các việc sau: ( Nêu cụ thể các việc cần xin, các khó khăn có thể gặp phải và có thể cả hướng định giải quyết ra sao). Một lần nữa, thay mặt gia chung chúng con, con xin các ngài giang tay cứu giúp cho chúng con. Chúng con xin đa tạ …( tên vị thánh bản đền) và toàn thể các chư tiên, chư thánh. Nam mô a di dà phật (3 lần).

Bản đầy đủ dành cho các thanh đồng đạo Mẫu

Con lạy chín phương Trời, con lạy mười phương Đất, con lạy mười phương chư Phật ,chư Phật mười phương,

– Nam Mô Bản sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

– Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

– Nam Mô Đương Lai Hạ Sinh Di Lặc Tôn Phật.

– Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát.

Con Lạy Chư Đại Bồ Tát, Chư Hiền Thánh Tăng. Hộ Pháp Chư Thiên, Thiện Thần Bồ Tát.

Con lạy Tam Tòa Thánh Mẫu:

Con Lạy Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên

Con Lạy Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn

Con Lạy Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ

Con Lạy Mẫu Đệ Tứ Khâm Sai

Con Lạy Hội Đồng Quan Tứ Trụ Triều Đình

Con Lạy Tam Phủ Công Đồng, Tứ Phủ Vạn Linh hội Đồng Tiên Thánh Đông A Phủ.

Con lạy Ngũ Vị Vương Quan, Tôn Quan Đệ Nhất Thượng Thiên, Tôn quan Đệ Nhị Giám Sát, Tôn Quan Đệ Tam Thoải Phủ, Tôn quan Đệ Tứ Khâm Sai, Tôn Quan Đệ Ngũ Tuần Tranh.

Con lạy Tôn Quan Điều Thất.

Con cung thỉnh mời Tứ Phủ Chầu Bà,

Chầu Đệ Nhất Thượng Thiên

Chầu Đệ Nhị Thượng Ngàn Đông Cuông

Chầu Đệ Tam Thoải Phủ

Chầu Đệ Tứ Khâm Sai

Chầu Năm Suối Lân

Chầu Lục Cung Nương

Chầu Bảy Tiên La

Chầu Bát Nàn Đông Nhung Đại Tướng Quân

Chầu Cửu Sòng Sơn

Chầu Mười Đồng Mỏ

Con lạy Hội Đồng Chầu Bé – Con Lạy Chầu Bé Thượng Ngàn Quyền Cai Bắc Lệ

Con lạy Tam Tòa chúa bói – Hội đồng Chúa bói Chúa chữa – Chúa Mán – Chúa Mường

Con Lạy Chúa Đệ Nhất Tây Thiên

Chúa Đệ Nhị Nguyệt Hồ

Chúa Đệ Tam Lâm Thao

Tiên Chúa Thác Bờ

Con Lạy Ngũ Phương Bản Cảnh Vũ Quận Bạch Hoa – Năm Phương Chúa Bà

Con cung thỉnh mời Tứ Phủ Thánh Hoàng, thập vị quan Hoàng

Con lạy 36 tòa Sơn Trang -Sơn Trang, Tám Tướng Thập Nhị Tiên Nàng

Con lạy Tứ Phủ Thánh Cậu trên Ngàn dưới Thoải, Con lạy Cậu đệ nhất Hoàng Thiên , Cậu Hoàng Đôi Thượng Ngàn, Cậu Hoàng Ba Thoải, Cậu Hoàng Tư Long Thành , Con Lạy Cậu Bé Hoàng Thiên , Cậu Bé Thượng Ngàn, Cậu Quận Phủ Dầy, Cậu Đồi Ngang Phố Cát. Con lạy cậu bé bản Đền( Bản Điện).

Con Lạy Hội Đồng Quan Ngũ Dinh, Đôi quan Thanh Xà Bạch Xà, Sơn Thần Bản Thổ Ngũ Hổ Thần Tướng-

-Con cung thỉnh mời chư vị Chúa Chầu các Quan thủ Đền thủ Điện, Chư vị Thành Hoàng Bản Thổ , Chư vị Thần thổ cư đồng ngự dải đất này.

-Đệ tử con tên là:…………. tuổi:……….

Ngụ tại:……………………………

Kim niên kim nguyệt cát nhật lương thời. Hôm nay ngày:… Tháng:… Năm:…

( Dâng gì cầu gì khấn nấy hoặc theo bài bên dưới)

Nhân …………..

Đệ tử con nhất tâm 1 lòng, nhất tòng 1 đạo, nhất tâm trí thiết, nhất dạ chí thành, đêm tưởng ngày mong, tu thiết hương, hoa, đăng, trà, quả, thực (mang miệng về tâu, mang đầu về bái), trên con tấu thượng thiên, dưới con đệ trình long cung thuỷ phủ cùng đồng gia quyến đăng cung phụng cửa đình thần tam tứ phủ ……………(tên đền) linh từ.

Mong trên Cha độ, dưới Mẫu thương, đèn trời đuốc biển soi đường dẫn lối, phù hộ độ trì cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hoà, vuốt ve che trở cho gia chung chúng con trong 3 tháng hè, 9 tháng đông, tai qua nạn khỏi- Đầu năm chí giữa, nửa năm chí cuối được bình an vô sự, cửa nhà khang ninh, cầu danh đắc danh, cầu phúc đắc phúc, đắc tài sai lộc…… Dãi tấm lòng thành cúi xin Phật Thánh Chúa Tiên anh linh chứng giám!!!

Cung thỉnh công đồng Lục Cung Tiên Tổ dòng họ….. nguyên quán…..,Tổ Cô Mãnh Tướng, cậu bé cô bé tại gia, chư vị tiên linh trong dòng họ theo hầu Phật Thánh cửa Đình Thần Tam Tứ Phủ, trên tấu tòa vàng Thượng Thiên, dưới tấu Thủy Cung Địa Phủ ,cho con cháu nhất một lòng, tòng một đạo Sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm…

—— HẾT ——-

“Trăm cảnh nghìn cảnh không bằng bến Lảnh đò Mây”, hàng trăm người dân từ khắp nơi đổ về các nơi phụng thờ nhớ công ơn vị Thần thượng cổ với niềm mong mỏi tâm linh nơi của Thánh. Dù vẫn còn nhiều huyền tích nhưng thượng thần Thổ Lệnh, Quan Lớn Đệ Tam, ba anh em họ Phạm và câu chuyện nàng Quý Nương sinh ra bọc trứng đã ăn sâu tâm thức người dân, để hậu thế về sau khắp miền sông Lục Đầu, Tam Giang, Tranh Giang, Vị Thủy, Đà Giang đều có bóng dáng người anh hùng họ Phạm thời Hùng Triều.

【#4】Đền Nguyên Phi Ỷ Lan

1. ĐỀN NGUYÊN PHI Ỷ LAN

Tìm hiểu một chút qua những giai thọai lịch sử về Nguyên Phi Ỷ Lan để biết tại sao bà nổi tiếng là tài năng và đức độ như vậy:

Nằm ở phía tay trái, trước cửa đền thờ Nguyên phi Ỷ Lan là đôi rồng chầu bằng đá phủ phục, với đường nét, chạm khắc hết sức tinh xảo.

4.

Đền thờ được xây dựng từ cuối thế kỷ XI, là nơi phụng thờ bà ngay trên quê hương của mình. Đền có kiến trúc theo lối cung đình thời Lý, có 72 cửa, thuộc loại cổ nhất nước ta, cách không xa đền phía tay phải có chùa mang tên: “Linh Nhân tư Phúc Tự” do chính Linh Nhân Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan xây dựng cùng với hàng trăm ngôi chùa khác, được khánh thành tháng 03 năm Ất Mùi (1115).

5.

Ngay cạnh đền là chùa Tư Phúc do nguyên phi Ỷ Lan cho xây dựng năm 1115. Đền và chùa còn lưu giữ nhiều hiện vật quí như: Ba chân tảng đá chạm cánh sen, hai đầu sư tử đá, một thành bậc chim phượng đều ở thời Lý, bốn tấm bia đá thời hậu Lê, một khám thờ chạm rồng uốn khúc yên ngựa, chạm thủng hoa văn linh vật thời Mạc, năm hoành phi, hai câu đối ca ngợi công đức của thái hậu Ỷ Lan.

Hàng năm cứ vào dịp từ 19 đến 21 tháng 2 âm lịch, du khách thập phương lại hành hương về Dương Xá tham dự lễ hội truyền thống kỷ niệm ngày Nguyên phi Ỷ Lan đăng quang và ngày 24, 25 tháng 7 âm lịch, ngày mất của bà. Tất cả cùng về thắp hương tưởng niệm, nhớ về người phụ nữ có tài kinh bang tế thế, từng đã 2 lần nhiếp chính trông coi việc nước mà người phụ nữ đã nổi danh trong lịch sử nước nhà.

(VOV) – Chùa Dâu tọa lạc ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội khoảng 30km. Chùa có nhiều tên gọi: Diên Ứng tự, Pháp Vân tự, Thiền Đình tự, Cổ Châu tự. Nơi đây là trung tâm thành cổ Luy Lâu từ thế kỷ thứ II sau Công nguyên.

Có câu thơ lưu truyền dân gian:

Dù ai đi đâu về đâu

Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về,

Dù ai buôn bán trăm nghề

Nhớ ngày mồng tám thì về hội Dâu

Theo ghi chép trong sách sử và bia đá, đây là ngôi chùa Phật giáo cổ nhất Việt Nam, là nơi giao lưu của hai luồng văn hóa Phật giáo, một từ Ấn Độ sang, một từ phương Bắc xuống. Chùa được xây dựng từ thế kỉ thứ 2 (khởi công xây dựng năm 187 và hoàn thành năm 226) dưới thời Sĩ Nhiếp làm thái thú. Chùa Dâu thờ nữ thần Pháp Vân nên gọi là chùa Pháp Vân và nằm trong vùng đất Cổ Châu nên cũng gọi là chùa Cổ Châu. Chùa gắn liền với truyện cổ tích Tứ pháp của người Việt xưa.

Vào đầu công nguyên, các tăng sĩ Ấn Độ, tiêu biểu là Khâu Đà La, đã tới Dâu – tức Luy Lâu tiến hành truyền bá đạo Phật, lập nên trung tâm Phật giáo Luy Lâu – trung tâm Phật giáo lớn nhất và cổ xưa nhất của Việt Nam. Chùa tháp được xây cất nguy nga bên cạnh thành quách, đền đài, cung điện, lầu gác, phố chợ sầm uất của đô thị Luy Lâu, trong đó chùa Dâu là trung tâm trong hệ thống các chùa thờ Phật và thờ tứ pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện), một nét độc đáo trong sự kết hợp giữa Phật giáo Ấn Độ và tín ngưỡng dân gian của người Việt. Chùa Dâu trở thành trung tâm của Thiền phái Tì ni đa lưu chi – Thiền phái đầu tiên của Phật giáo Việt Nam.

Kiến trúc chùa Dâu còn đến ngày nay được dựng dưới thời Trần năm 1313 và trùng tu nhiều lần qua các thế kỷ tiếp theo. Vua Trần Anh Tông đã sai trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi về kiến thiết lại chùa Dâu thành chùa trăm gian, tháp chín tầng, cầu chín nhịp. Bao quanh tòa điện chính hình chữ công là những dãy nhà ngang, nhà dọc vây kín theo kiểu nội công ngoại quốc.

Chính giữa sân chùa trước bái đường, Mạc Đĩnh Chi đã cho dựng ngôi tháp Hòa Phong cao chín tầng, nay chỉ còn ba. Ngôi tháp vuông xây bằng gạch trần, dáng chắc khỏe nổi bật giữa khung cảnh xung quanh. Tháp tượng trưng cho ngọn núi vũ trụ, bốn góc tháp có bốn tượng Thiên vương trấn giữ, trên tháp treo một khánh đồng cổ.

Tháp Hòa Phong Tháp xây bằng loại gạch cỡ lớn ngày xưa, được nung thủ công tới độ có màu sẫm già của vại sành. Thời gian đã lấy đi sáu tầng trên của tháp, nay chỉ còn ba tầng dưới, cao khoảng 17 m nhưng vẫn uy nghi, vững chãi thế đứng ngàn năm. Mặt trước tầng 2 có gắn bảng đá khắc chữ “Hòa Phong tháp”. Chân tháp vuông, mỗi cạnh gần 7 m. Tầng dưới có 4 cửa vòm. Từ “Hoà Phong” có nghĩa là ngọn gió mát mẻ, tốt lành.

Trong tháp có treo một quả chuông đồng đúc năm 1793 và một chiếc khánh đúc năm 1817. Có 4 tượng Thiên Vương – 4 vị thần trong truyền thuyết cai quản 4 phương trời- cao 1,6 m ở bốn góc

Trước tháp, bên phải có tấm bia vuông dựng năm 1738, bên trái có tượng một con cừu đá dài 1,33 m, cao 0,8 m. Điều này làm ngạc nhiên nhiều du khách, bởi xưa kia nước Việt không có con cừu. Truyền sử kể rằng: vào thời Luy Lâu còn là trung tâm văn hoá, chính trị, kinh tế của cả nước ta, có vị sư người Tây Thiên sang nước ta tu hành truyền bá đạo Phật. Ông dắt theo 2 con cừu. Một hôm sơ ý để 2 con đi lạc, 1 con lạc đến chùa Dâu, 1 con lạc đến lăng Sĩ Nhiếp (thái thú Giao Chỉ thời đó), dân ở 2 vùng này đã tạc tượng 2 con cừu bằng đá ở nơi chúng đến để thờ. Do vậy hiện nay chùa Dâu có 1 con, lăng Sĩ Nhiếp (cách đó 3 km) có 1 con.

Trải qua bao biến động lịch sử, thành lũy, đền dài, dinh thự của trung tâm Luy Lâu bị hoang phế. Nhưng chùa Dâu với tháp Hòa Phong vươn cao và hàng trăm gian chùa cổ kính vẫn tồn tại với thời gian. Lịch sử đã từng khẳng định vị trí của chùa Dâu trong đời sống văn hóa, tâm linh dân tộc. Chùa là một danh lam bậc nhất của xứ kinh Bắc xưa nay. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử-văn hóa quốc gia.

Chỉ dẫn đường đi: Cùa Dâu nằm trên địa phận xã Thanh Khương – Thuận Thành – Bắc Ninh. Có thể tới chùa bằng nhiều đường, tuy nhiên đường ngắn nhất tính từ trung tâm TP Hà Nội là: Cầu Chương Dương- Đường Nguyễn Văn Cừ – Cầu Chui – đường QL 5 – tỉnh lộ 181 – Dương Xá ( Gia Lâm ) – Phú Thị ( Gia Lâm ) – Thuận Thành – Phố Dâu – Chùa Dâu.

18 vị La Hán trong chùa

Các pho tượng Bồ Tát, Tam Thế, Đức Ông, Thánh Tăng được đặt ở phần hậu điện sau chùa chính

Tư liệu tổng hợp. Ảnh Lê Bích

3. CHÙA BÚT THÁP

Năm 1876, vua Tự Đức khi đi qua đây thấy một ngọn tháp hình cây bút khổng lồ vươn lên trời xanh liền đặt tên là Bút Tháp…

Khi nói về các danh thắng của đất Kinh Bắc, không thể không nhắc tới chùa Bút Tháp. Ngôi chùa nổi tiếng này còn được gọi là Ninh Phúc tự, nằm ở bên đê hữu ngạn sông Đuống, ngày nay thuộc thôn Bút Tháp, xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Theo các tư liệu lịch sử, chùa có từ đời vua Trần Thánh Tông (1258-1278). Đến thế kỷ 17, chùa trở nên nổi tiếng với sư trụ trì là Hòa thượng Chuyết Chuyết (1590-1644), người tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa, người sang Việt Nam hoằng bá Phật pháp từ năm 1633. Năm 1644, Hòa thượng viên tịch và được vua Lê phong là “Minh Việt Phổ Giác Quảng Tế Đại Đức Thiền Sư”.

Sau khi Hòa thượng Chuyết Chuyết viên tịch, Hoàng thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc đã rời bỏ cung thất về chùa tu hành. Thấy chùa xuống cấp nhiều, bà cùng con gái là công chúa Lê Thị Ngọc Duyên xin Chúa Trịnh Tráng bỏ tiền của ra công đức để trùng tu lại ngôi chùa. Đến năm 1647, việc trùng tu hoàn thành. Về cơ bản, quy mô và cấu trúc của chùa Bút Tháp hiện nay chính là ngôi chùa được xây dựng trong thời kỳ đó.

Năm 1876, vua Tự Đức khi đi qua đây thấy một ngọn tháp hình cây bút khổng lồ vươn lên trời xanh liền đặt tên tháp là Bút Tháp, nhưng trên đỉnh vẫn ghi tên gốc của ngọn tháp là tháp Bảo Nghiêm. Từ đó ngôi chùa và thôn xóm quanh chùa mang tên là Bút Tháp. Ngoài ra, nhân dân trong vùng còn gọi là chùa Nhạn Tháp.

Trong lịch sử của mình, chùa được trùng tu vào các năm 1739, 1903, 1915, 1921 và gần đây vào năm 1992-1996. Đây là ngôi chùa được đánh giá là có kiến trúc quy mô hoàn chỉnh nhất còn lại ở Việt Nam. Chùa cũng là nơi lưu giữ tượng Bồ tát Quan Thế Âm thiên thủ thiên nhãn bằng gỗ lớn nhất, một tuyệt tác điêu khắc cổ đã được công nhận là bảo vật Việt Nam.

Một số hình ảnh Đất Việt ghi nhận về chùa Bút Tháp:

Bút tháp là một trong số ít những ngôi chùa cổ có kiến trúc theo kiểu “Nội Công Ngoại Quốc”, được xây dựng trên quy mô lớn của Đồng bằng Bắc Bộ còn lại đến ngày nay..

Cụm kiến trúc trung tâm ở Chùa Bút Tháp bao gồm 8 đơn nguyên chạy song hành được bố trí đăng đối trên một đường “Thần Đạo” và được bao bọc bởi hai dãy hành lang chạy suốt dọc chùa ở hai bên.

Điểm nhấn kiến trúc của chùa là tháp Bảo Nghiêm, hay Bút Tháp, nơi thờ Hòa thượng Chuyết Chuyết. Tháp cao 13,05 m, gồm 5 tầng với một phần đỉnh xây bằng đá xanh. Ngoài tầng đáy rộng hơn, 4 tầng trên gần giống nhau, rộng 2m. 5 góc của 5 tầng có 5 quả chuông nhỏ. Lòng tháp có một khoang tròn đường kính 2,29 m.

Phần chân tháp được bao quanh bằng hai vòng tường cấu tạo bằng cột và lan can. Riêng ở tầng dưới cùng của toà tháp này có mười ba bức chạm đá với lấy đề tài chủ yếu là các con thú.

Ngọn tháp là minh chứng cho tài ghép đá và nghệ thuật điêu khắc tuyệt vời của người thợ Việt Nam xưa.

Một nét kiến trúc đặc sắc khác là chiếc cầu đá có ba nhịp uốn cong dẫn từ thượng điện đến ngôi tòa nhà Tích Thiện am, một công trình cấu tạo khung gỗ có 3 tầng mái.

Hai bên cầu là hai hồ nhỏ thông nhau, có trồng cây thủy sinh, tạo nên sự hài hòa giữa vẻ đẹp kiến trúc và thiên nhiên.

Cũng như tháp Bảo Nghiêm, cầu đá là nơi hội tụ của nhiều bức phù điêu và tượng đá giàu tính nghệ thuật.

Chùa Bút Tháp là nơi lưu giữ tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay nổi tiếng do nhà điêu khắc họ Trương tạc năm 1656, hiện được công nhận là bảo vật quốc gia. Đây được coi là một kiệt tác độc nhất vô nhị về tượng Phật và nghệ thuật tạc tượng – nghệ thuật làm nổi bật triết lý nhà Phật bằng ngôn ngữ tạo hình hàm súc.

Gác chuông chùa có 2 tầng, 8 mái.

Một góc sân chùa nhìn từ gác chuông.

Vườn tháp tổ, nơi lưu giữ di cốt của các thiền sư từng tu hành tại chùa.

Văn bia của chùa.

Nghê đá ngoài cổng Tam quan.

Cách Hà Nội gần 30km, nằm ấp mình bên bờ đê phía nam của dòng sông Đuống hiền hoà, nghiêng trôi một “dòng lấp lánh”, làng tranh Đông Hồ đã trải qua biết bao thăng trầm để cố giữ cho “hồn dân tộc” mãi được “sáng bừng trên giấy điệp”.

(GNO-Bắc Ninh): Tranh Đông Hồ, hay tên đầy đủ là tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ, một dòng tranh dân gian Việt Nam với xuất xứ từ làng Đông Hồ (xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh).Đầu xuân về thăm làng tranh Đông Hồ

5. ĐỀN THỜ KINH DƯƠNG VƯƠNG

Ở thôn Á Lữ, xã Đại Đồng Thành (Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) có khu đền thờ và lăng mộ một đế vương, thủy tổ của người Việt là Kinh Dương Vương.

Lăng mộ Kinh Dương Vương

Đền Kinh Dương Vương

Thời Lê Thánh Tông, sử gia Ngô Sĩ Liên chép “Kỷ Hồng Bàng”: “Tổ tiên người Việt có vua đầu gọi là Kinh Dương Vương tinh thần đoan chính, có đức tính của thánh nhân. Vương lấy con gái thần Động Đình sinh ra Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy Âu Cơ sinh ra một bọc trứng nở ra thành 100 con. Lạc Long Quân mang 50 con đi khai phá miền biển, Âu Cơ mang 50 con đi khai phá miền núi. Con trưởng nối ngôi là Hùng Vương, đặt quốc hiệu là Văn Lang, định đô ở Phong Châu, chia thành 15 bộ. Hùng Vương trải 18 đời”. Kỷ Hồng Bàng kéo dài từ năm 2879 đến năm 258 trước công nguyên.

Đền thờ Kinh Dương Vương nằm ở khu đất thoáng rộng ở giữa thôn Á Lữ, rộng đến 3.000m2, cảnh quan rất đẹp. Bên trong hậu cung đền có ba ngai thờ: Ngai Kinh Dương Vương đặt ở gian giữa, ngai Lạc Long Quân ở bên phải, ngai Âu Cơ đặt ở bên trái. Ngoài các đồ thờ cúng, đền có lưu giữ 15 đạo sắc phong thời Nguyễn, khẳng định đền thờ Kinh Dương Vương là lăng tẩm đế vương bằng chữ Hán, có một sắc phong của vua Tự Đức năm thứ 33, tạm dịch là: Xã Á Lữ từ lâu phụng thờ đền Kinh Dương Vương, vị vua khai sáng văn minh, thánh của người Việt. Chuẩn cho tiếp tục thờ theo nghi lễ quốc khánh.

Đền thờ và lăng mộ Kinh Dương Vương trường tồn cùng với thời gian, luôn được nhân dân và Nhà nước bảo vệ, trùng tu tôn tạo, xây dựng lại với đạo lý vấn tổ, tầm tông.

Hồng Bàng là tổ nước ta

Nước ta khi ấy tên là Văn Lang.

Lễ hội Kinh Dương Vương luôn được duy trì nhiều nghi lễ và một số hoạt động dân gian. Từ năm 2000, Nhà nước ta tổ chức quốc giỗ 10-3. Con cháu thập phương về dự hội Kinh Dương Vương diễn ra đồng thời với đền Hùng ở Phú Thọ. Vị thánh mở nước luôn được đời đời ngưỡng vọng.

Ngày 20-2-2000, ông Nguyễn Khoa Điềm – Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin về dâng hương đền và lăng Kinh Dương Vương, đã ghi: “Kinh Dương Vương – Lạc Long Quân – Âu Cơ là thủy tổ của đất nước, mở ra thời đại các vua Hùng làm rạng rỡ non sông đất Việt. Di sản và những nơi thờ cúng của các vị là tài sản quý báu thiêng liêng của dân tộc. Nhà nước ta nhất định sẽ có chính sách trùng tu, tôn tạo ngày càng tốt đẹp hơn.

Mong muốn nhân dân Á Lữ chăm lo giữ gìn di tích thờ phụng Kinh Dương Vương – Lạc Long Quân – Âu Cơ để làm nơi giáo dục muôn đời”.

6. CHÙA PHẬT TÍCH

(ĐVO) Tọa lạc trên sườn phía Nam núi núi Lạn Kha (còn gọi là núi Phật Tích) ở xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, chùa Phật Tích nổi tiếng trong lịch sử với kiến trúc đẹp và cảnh sắc thanh tịnh.

Chùa Phật Tích nổi tiếng trong lịch sử với kiến trúc đẹp và cảnh sắc thanh tịnh.

Chùa đã bị phá hủy phần lớn vào năm 1947. Nhiều hạng mục công trình mới được khôi phục lại trong thời gian gần đây.

Tuy vậy, nhiều dấu tích của ngôi chùa cổ vẫn được lưu giữ, như những bức tường làm bằng đá xếp chồng lên nhau.

10 tượng thú bằng đá cao 1m vẫn được giữ gìn, gồm sư tử, voi, tê giác, trâu, ngựa, mỗi loại hai con, nằm trên bệ hoa sen tạc liền bằng những khối đá lớn. Chúng được tạo tác trong thế chầu phục để thể hiện sự cảm hóa của Phật pháp.

Tòa Tam bảo là nơi đặt tượng Phật A Di Đà bằng đá xanh làm từ thời Lý, được coi là báu vật quốc gia của Việt Nam.

Ngay dưới chân tượng là tầng hầm, nơi trưng bày nền móng đại bảo tháp nổi tiếng của thời Lý mới được khai quật. Dựa vào diện tích gần 100m2 của nền móng, các chuyên gia ước tính ngọn tháp cao khoảng 42m..

Sau tòa Tam bảo là vườn tháp với 32 ngôi bảo tháp là nơi cất giữ xá lị của các bậc chư Tổ, chư Tăng đã viên tịch tại chùa. Phần lớn các tòa tháp được dựng vào thế kỷ 17.

Vườn hoa mẫu đơn ở sân chùa, nơi xảy ra câu truyện Từ Thức gặp tiên đã được phỏng dựng. Theo câu chuyện này, Từ Thức đi xem hội hoa mẫu đơn, gặp Giáng Tiên bị bắt trói vì tội hái trộm hoa. Từ Thức bèn cởi áo xin tha cho tiên nữ. Sau Từ Thức từ quan đi du ngoạn các danh lam thắng cảnh, đến động núi ở cửa biển Thần Phù gặp lại Giáng Tiên…

Từ sân chùa, có một lối đi xuyên qua rừng thông để lên đỉnh núi.

Trên đỉnh núi đặt Đại Phật tượng A Di Đà, cao 27m, thực hiện theo nguyên mẫu bảo tượng A Di Đà trong chùa. Công trình được khánh thành vào dịp mừng Đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội năm 2010 và là pho tượng Phật bằng đá lớn nhất Đông Nam Á tính đến thời điểm hiện tại.

Cách Đại Phật tượng không xa là tòa bảo tháp cao vút.

Phong cảnh vùng đất Kinh Bắc nhìn từ đỉnh núi Lạn Kha.

Vùng quê Kinh Bắc cổ kính và văn hiến có không ít những đền thờ thần mẫu, trong đó đền thờ Bà Chúa Kho ở làng Cổ Mễ ven chân núi Kho, nằm bên bờ sông Cầu (thuộc phường Vũ Ninh, TP Bắc Ninh) được coi là một ngôi đền thờ mẫu điển hình trong vùng. Hàng năm, cứ vào dịp đầu và cuối năm, hàng nghìn lượt khách thập phương trong cả nước lại về vãng cảnh, cầu may ở đền Bà Chúa Kho, các hoạt động tín ngưỡng và dịch vụ hành lễ cũng theo đó được mùa làm ăn sôi động.

Hình ảnh Bà Chúa Kho được truyền tụng trong dân gian với sự ngưỡng mộ tôn thờ của dân vùng Kinh Bắc và khách thập phương cả nước. Tương truyền, bà Chúa Kho là người phụ nữ nhan sắc tuyệt trần, lại khéo tổ chức sản xuất, tích trữ lương thực, trông nom kho tàng quốc gia trong và sau chiến thắng Như Nguyệt (1076), có công chiêu dân dựng lập làng xóm vùng Quả Cảm, Cổ Mễ, Thượng Đồng. Giúp mọi người khai khẩn đất đai nông nghiệp… Sau này bà trở thành một vị hoàng hậu (tương truyền vào thời Lý), giúp nhà vua trong việc kinh bang đất nước, giữ gìn kho lương, bà đã bị giặc giết trong lúc phát lương cứu đỡ dân làng vào ngày 12 tháng giêng năm Đinh Tỵ (1077). Cảm kích đối với tấm lòng bao dung của bà, nhà vua đã có chiếu phong cho bà là Phúc Thần, nhân dân Cổ Mễ nhớ ơn và lập đền thờ ở vị trí kho lương trước kia. Không ai biết tên thật của Bà là gì, chỉ gọi một cách tôn kính là Bà Chúa Kho. Hàng năm nhân dân địa phương tổ chức ngày tưởng nhớ đến bà rất trang nghiêm trọng thể.

Ngôi đền nhìn về hướng Nam, phía trước là dải đồng trũng, uốn khúc theo triền núi bên dòng sông Cầu, quanh năm nước đầy tạo thành hồ lớn – gọi là hồ Đồng Trầm (hiện đã được quy hoạch xây dựng Khu Du lịch). Đền có kiến trúc của thời Lê, được bố trí theo chiều dọc, chạy từ chân lên sườn núi Kho. Cổng tam quan là công trình mở đầu cho cụm kiến trúc này, các công trình chính của đền bao gồm sân đền, hai dải vũ, toà tiền tế, công đệ nhị và hậu cung, tất cả tạo thành một thể thống nhất, uy nghi. Chị Hồng, quê ở TP Nam Định, người có 7 năm liền đến lễ ở đền Bà Chúa Kho kể: “Mình đi nhiều nơi song thích nhất kiểu kiến trúc ở đây. Mấy năm trước đến đây mình thường bị những người bán lễ, sớ, khấn thuê bám theo, chèo kéo, ép giá nhưng giờ hiện tượng này gần như không còn. Các khu vực bán hàng, dịch vụ hành lễ được quy hoạch rõ ràng, mỗi cửa hàng đều treo bảng giá chi tiết dưới sự giám sát, quản lý chặt chẽ của các cụ trong Ban Quản lý di tích, an ninh trật tự cũng được bảo đảm nên mình thấy rất yên tâm và thoải mái”.

Có thể nói, hiện tượng tín ngưỡng thờ mẫu ở đền Bà Chúa Kho là nét văn hoá dân gian vừa làm thoả mãn nhu cầu tín ngưỡng tâm linh vốn có của một bộ phận người dân Việt vừa giúp các hộ dân trong vùng phát triển nghề dịch vụ, tăng thêm thu nhập gia đình. Đồng thời, tạo thêm nguồn kinh phí để trùng tu, tôn tạo các công trình trong cụm di tích ngày càng khang trang, tố hảo. Lại sắp bước vào mùa lễ hội, hy vọng các cơ quan chức năng sớm quan tâm, phối hợp chặt chẽ bảo đảm an ninh trật tự, văn minh quanh khu vực cụm di tích để vượng khí tốt lành của đền Bà Chúa Kho được ban phát đều khắp cho tất cả dân chúng đến vãn cảnh và hành lễ nhằm giữ gìn nét văn hoá lành mạnh trong đời sống tín ngưỡng của nhân dân.

(Nguồn: chúng tôi

【#5】Ngày Thần Tài 2021 Mậu Tuất Đầu Năm Mua Vàng Có Đen Không?

Đầu năm mua vàng có đen không, xui nhiều hay ít thao quan niệm dân gian về ngày vía thần tài 10/01 năm Đinh Dậu 2021. Tìm hiểu mua vàng đầu năm có tốt không?

Xem đầu năm mua vàng có đen không?

Nhiều người làm ăn buôn bán chưa có kinh nghiệm nhưng vẫn muốn đầu xui đuôi lọt hoặc có thờ có thiêng có kiêng có lành nên cũng tìm hiểu xem đầu năm mua vàng có đen không? Hay đây là dịp tốt để mua vàng lấy may đầu năm âm lịch.

Có người chờ đợi cả tiếng đồng hồ nhưng ai nấy đều vui vẻ. Thông thường chỉ mua 0,5-1 chỉ vàng lấy may nhưng qua đó thể hiện ước nguyện của mỗi người về một năm tài lộc, làm ăn may mắn.

Để tránh mua phải hàng giả, khi đi mua vàng trong ngày vía Thần Tài phải chú ý chọn cửa hàng có tên tuổi, có uy tín, có nhiều mẫu mã đa dạng để lựa chọn, lưu ý giấy mua bán rõ ràng.

cúng vía thần tài lúc mấy giờ năm nay

Chuyên gia phong thủy Nguyễn Vũ Tuấn Anh (Trung tâm Nghiên cứu Lý học Đông phương, Hội Nghiên cứu Phát triển khoa học Việt Nam – Đông Nam Á) cho rằng nên thắp hương Thần tài vào buổi sáng lúc 7 – 9h (giờ Thìn) là đẹp nhất. Trước khi cúng Thần tài nên lau dọn bàn thờ Thần tài cẩn thận.

Có nên mua vàng ngày thần tài 2021 Mậu tuất

Vào ngày mùng 10 tháng Giêng hằng năm, nhà nhà lại nô nức sắm sửa lễ vật cúng vía Thần tài. Bàn thờ Thần tài (đi kèm với Ông Địa) là một chiếc khám nhỏ, sơn son thếp vàng. Trên bàn thờ nhất định phải có tượng Thần tài, Ông Địa bằng sứ để thờ. Ngoài ra còn cần hũ gạo, muối, nước; lọ hoa; bát nhang; đĩa bày trái cây và khay 5 chén nước.

lễ vật cúng ngày vía thần tài

Các chuyên gia phong thủy cho rằng, trong ngày vía Thần tài mọi người nên làm lễ cúng Thần tài để cầu may mắn, tài lộc. Lễ vật thường mua: 1 bình bông, 1 con tôm, 1 con cá lóc nướng, 1 con cua, 1 miếng heo quay, 1 bộ giấy tiền vàng mã, 1 đĩa ngũ quả, chum rượu, để cúng lấy vía Thần tài cầu xin cho năm mới làm ăn phát đạt.

Đồ cúng thường là các món ăn ngon như heo vịt quay, gà, hoa quả, nước uống hàng ngày… vì dân gian truyền rằng, Thần tài rất thích món Cua biển và heo quay, chuối chín vàng.

Ngoài ra,dân gian còn có tục mua vàng đặt lên bàn thờ lúc cúng để xin lộc Thần tài, cúng xong mang trên người sẽ được may mắn quanh năm.

Ngoài ngày vía Thần tài mùng 10 tháng Giêng, mọi người vẫn chọn mùng 10 âm lịch hàng tháng để cúng Thần tài, cầu xin cho may mắn về tài lộc trong tháng đó. Thế nên trở thành thông lệ, vào mùng 1 và 15 hoặc mùng 10 âm lịch hàng tháng, cùng với bàn thờ tổ tiên, các bàn thờ khác trong nhà cũng được các gia đình bày cỗ cúng.

Cúng Thần tài để trả lễ khi gặp vận hên, tài lộc. Đồ cúng thường là các món ăn ngon như lợn, vịt quay, gà, hoa quả, nước uống hằng ngày…

Dân gian truyền miệng rằng, Thần tài rất thích món Cua biển và heo quay, chuối chín vàng. Vậy nên, thống thường các gia chủ thường đốt hương mỗi sáng từ 6h-7h và chiều tối từ 6h-7h, mỗi lần 5 cây nhang vào ngày cúng. Thay nước uống khi đốt nhang, thay nước trong bình hoa và thờ nải chuối chín vàng.

văn khấn thần tài mùng 10 tháng giêng Tết âm lịch 2021

Vào ngày Thần tài mùng 10 Tết âm lịch, gia chủ sửa soạn sắm lễ vật được nêu ở trên. Nếu là cửa hàng hoặc công ty thì thực hiện ở ngay ở cửa hàng, công ty. Sau khi thắp hương thì đọc bài khấn Thần tài này.

Kính lạy ngài Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân.

– Con kính lạy Thần tài vị tiền.

– Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

Tín chủ con là:……………………… Tuổi:……..

Ngụ tại ………………………………

Hôm nay là ngày……. tháng……. năm…… (âm lịch).

Tín chủ con thành tâm sửa biện, hương hoa, lễ vật, kim ngân, trà quả và các thứ cúng dâng, bầy ra trước án kính mời ngài Thần tài tiền vị và chư vị tôn Thần.

Cúi xin Thần tài thương xót tín chủ, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật phù trì tín chủ chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia đạo hưng long thịnh vượng, lộc tài tăng tiến, tâm đạo mở mang, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ cúi xin được phù hộ độ trì.

Phục duy cẩn cáo!

cách cúng vía thần tài mùng 10 tháng giêng Mậu Tuất 2021

  • Thường ngày nên đốt nhang mỗi sáng từ 6h – 7h và chiều tối từ 6h – 7 giờ, mỗi lần đốt 5 cây nhang. Thay nước uống khi đốt nhang, thay nước trong lọ hoa, và chưng thờ nải chuối chín vàng.
  • Gạo, muối thì cất lại dùng cho có lộc, không được rãi ra ngoài.
  • Vàng, bạc đại đốt ở ngoài.
  • Rượu hay nước thì đứng ngoài cửa tưới vào nhà, có ý nghĩa là đem lộc vào.
  • Bộ tam sên hay bánh trái chia nhau trong nhà dùng không cho người ngoài.
  • Tránh để các con vật chó mèo quậy phá làm ô uế bàn thờ Thần tài.
  • Hàng tháng thường lau bàn thờ, tắm cho Thần tài vào ngày cuối tháng và ngày 14 âm lịch với nước lá bưởi, hay rượu pha nước. Khăn lau và tắm cho Thần tài không được dùng vào việc khác.
  • Khi thỉnh tượng Thần tài, Thổ Địa ngoài cửa hàng về, cần gói bọc trong giấy đỏ, hoặc trong hộp sạch sẽ, mang vào chùa nhờ các Sư trong chùa “Chú nguyện nhập Thần”, và nhờ các Sư chọn cho ngày tốt đem về nhà để an vị Thần tài, Thổ Đại.
  • Về nhà dùng nước lá bưởi rửa và đặt lên bàn thờ, mua các đồ cúng về cúng khấn là được, lần sau cúng vái bình thường.
  • Khi thỉnh Thần tài, Thổ Địa cũng có Thần tài, Thổ Địa hợp với gia chủ, cũng có Thần tài, Thổ Địa không hợp với gia chủ, chọn tượng Thần Tài, Thổ Địa mặt tươi cười, mặt sáng sủa, tượng không bị nứt, vỡ, nhìn tượng toát lên vẻ phú quý.

Giá vàng SJC 24k mới nhất ngày hôm nay

kiêng mua vàng đầu tháng, chọn ngày tốt mua vàng, mua vang ngay nao thi tot, mua vàng ngày nào tốt, đầu năm có nên bán vàng, bán vàng đầu năm, mùng 1 đầu tháng có nên mua vàng, mùng 1 có nên mua vàng không

Comments

【#6】Những Điều Cần Biết Về Nghi Thức Thờ Cúng Trong Đêm Giao Thừa Dịp Tết Nguyên Đán

Lễ cúng giao thừa (trừ tịch) là gì?

Giao thừa hay còn gọi là trừ tịch chính là thời điểm giờ phút cuối cùng của năm cũ qua đi sắp bắt đầu sang năm mới. Đêm trừ tịch là đêm cuối cùng của năm rất tối nên thường được ví “tối trời như đêm ba mươi”. Đêm trừ tịch được coi là đêm của sự tĩnh lặng, thiêng liêng để rũ bỏ những phiền muộn. Theo như tục lệ từ xa xưa của người Việt thì vào đêm trừ tịch người ta sẽ làm lễ trừ tịch với ý nghĩa đem bỏ hết tất cả những thứ xấu xa của năm cũ để đón chào những điều mới mẻ tốt đẹp của năm mới sắp tới và để khu trừ ma quỷ. Lễ trừ tịch được tiến hành vào đêm giao thừa nên thường vào giờ Tý từ 11 giờ đến 1 giờ nên còn được gọi với tên khác là lễ giao thừa.

Lễ cúng đêm giao thừa cúng ai?

Lễ giao thừa được tổ chức là để đón các vị Thiên binh chính là 12 vị hành khiển. Người ta tin rằng, mỗi một năm có một vị hành khiển coi việc nhân gian và sau khi kết thúc năm đó thì vị hành khiển ấy sẽ bàn giao công việc cho vị thần khác vì thế nhân gian sẽ làm lễ cúng để tiễn vị thần cũ, đón thần mới. Sau 12 năm các vị hành khiển sẽ luân phiên trở lại cai quan nhân gian. Vào thời điểm giao thừa thì các vị hành khiển đi thị sát dưới hạ giới nên rất vội vàng không thể vào trong nhà nên bàn cúng thường sẽ được đặt ở ngoài trời để các vị có thể dễ dàng hưởng lễ.

– Năm Tý: Chu Vương Hành Khiển, Thiên Ôn Hành Binh chi Thần, Lý Tào Phán quan.

– Năm Sửu: Triệu Vương Hành Khiển, Tam thập lục phương Hành Binh chi Thần, Khúc Tào Phán quan.

– Năm Dần: Ngụy Vương Hành Khiển, Mộc Tinh chi Thần, Tiêu Tào Phán quan.

– Năm Mão: Trịnh Vương Hành Khiển, Thạch Tinh chi Thần, Liêu Tào Phán quan.

– Năm Thìn: Sở Vương Hành Khiển, Hỏa Tinh chi Thần, Biểu Tào Phán quan.

– Năm Tỵ: Ngô Vương Hành Khiển, Thiên Hải chi Thần, Hứa Tào Phán quan.

– Năm Ngọ: Tấn Vương Hành Khiển, Thiên Hao chi Thần, Nhân Tào Phán quan.

– Năm Mùi: Tống Vương Hành Khiển, Ngũ Đạo chi Thần, Lâm Tào Phán quan.

– Năm Thân: Tề Vương Hành Khiển, Ngũ Miếu chi Thần, Tống Tào Phán quan.

– Năm Dậu: Lỗ Vương Hành Khiển, Ngũ Nhạc chi Thần, Cự Tào Phán quan.

– Năm Tuất: Việt Vương Hành Khiển, Thiên Bá chi Thần, Thành Tào Phán quan.

– Năm Hợi: Lưu Vương Hành Khiển, Ngũ Ôn chi Thần, Nguyễn Tào Phán quan.

Cần sắp dọn bàn thờ cúng giao thừa như thế nào?

Thờ cúng tổ tiên là một tín ngưỡng dân gian có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống tâm linh của người Việt. Chính vì vậy mà trong mỗi gia đình người Việt ta thường có bàn thờ tổ tiên. Bàn thờ là nơi thờ cúng linh thiêng để tỏ lòng thành kính, biết ơn tưởng nhớ tới những người đã khuất của con cháu còn sống. Tùy theo điều kiện gia cảnh của mỗi gia đình mà cách sắp đặt và trang trí bàn thờ sẽ khác nhau tuy nhiên điểm chung chính là bàn thờ tổ tiên luôn được đặt ở vị trí trang trạng nhất.

Cúng giao thừa ngoài trời cần làm như thế nào?

Bàn thờ cúng giao thừa ngoài trời sẽ được đặt ngoài trời có thể là ngay trước cửa nhà gồm một chiếc hương án trên có bình hương, hai ngọn nến hoặc hai ngọn đèn dầu. Lễ vật trong mâm cúng giao thừa thường gồm: một chiếc thủ lợn hoặc một con gà, một đôi bánh chưng, kẹo bánh, mứt, hoa quả, trầu cau, rượu, cốc nước lã, vàng mã và có thẻ là thêm chiếc mũ của Đại Vương hành khiển. Còn đối với lễ cúng giao thừa tại chùa thì lễ vật cúng sẽ là đồ chay. Đến giờ cử hành lễ khi chương trống vang lên thì người chủ lễ sẽ ra làm lễ rồi những người khác sẽ lễ theo để cầu xin một năm mới nhiều may mắn.

Cúng giao thừa trong nhà như thế nào?

Sau khi kết thúc lễ cúng giao thừa ngoài trời thì các gia đình có thể tiến hành cúng giao thừa trong nhà. Cúng giao thừa trong nhà chính là lễ cúng tổ tiên và Thổ công của gia đình mình để cầu xin được phù hộ độ trì cho gia đình mình gặp nhiều may mắn, tốt lành trong năm mới. Mâm lễ cúng trong nhà cũng gần tương tự với lễ cúng giao thừa ngoài trời.

Lễ vật trong mâm cúng thường gồm: bánh chưng, thịt gà, xôi, giò hoặc chả kèm một số món ăn khác tùy theo sự chuẩn bị của mỗi gia đình, hương hoa, đèn nến, bánh kẹo, mứt, rượu bia, nước ngọt, nước lã.

Khi chuẩn bị đầy đủ mâm cúng trên bàn thờ thì chủ nhà tiến hành thắp hương cúng, khấn. Đầu tiên gia chủ sẽ thắp hương khấn Thổ Công là vị thần cai quản trong nhà để xin phép thần cho phép tổ tiên gia đình mình về ăn Tết cùng con cháu. Tất cả các thành viên trong gia đình sẽ đứng trước bàn thờ một cách trang nghiêm để cầu xin tổ tiên phù hộ độ trì cho con cháu có một năm mới mạnh khỏe, an khang thịnh vượng.

Sau khi tiến hành xong các thủ tục cúng lễ giao thừa thì các cụ xưa có một số tục mà cho đến ngày hôm nay con cháu vẫn còn lưu truyền và thực hiện như:

– Đi lễ đình, đền, chùa, miếu, điện: thường thì sau khi kết thúc lễ cúng giao thừa ở nhà thì mọi người thường rủ nhau đến các đình chùa, miếu, điện để lễ Thần, Phật phù hộ cho bản thân và người thân của mình được may mắn, bình an. Tùy vào mỗi người, có người có thể chuẩn bị mâm lễ chay và lễ mặn để đi lễ nhưng cũng có người chỉ đến thắp hương tuy nhiên điều quan trọng nhất chính là lòng thành tâm.

– Lựa chọn hướng xuất hành: Khi bắt đầu từ nhà bước ra ngoài chơi hay đi lễ thì người ta hay chọn giờ, hướng xuất hành phù hợp với năm, với tuổi của mình để mong được gặp may mắn, tốt lành trong cả năm.

– Hái lộc: Khi đi lễ tại các đình, chùa, miếu, điện xong thì thường có tục hái lộc có nghĩa là hái một nhành cây hay bông hoa mang về nhà để cắm trên bàn thờ tổ tiên cho tới khi héo tượng trưng cho ý nghĩa lấy lộc của trời đất, thần phật.

– Hương lộc: đây cũng là một trong những tục có từ thời xưa. Theo tục này thì khi người ta đi lễ tại các đình, chùa, miếu, điện sẽ dốt một nắm hương tại nơi mình đi lễ khấn vái rồi sau đó sẽ mang nắm hương đó về bàn thờ nhà mình cắm. Ngọn lửa của hương có ý nghĩa tượng trưng cho sự phát đạt và được lấy từ nơi thờ thần thánh, phật tức là cầu xin các vị thánh, phật phù hộ cho cả năm được phát tài phát lộc, may mắn.

– Tục xông nhà: tục xông nhà cho tới nay vẫn rất được quan tâm và chú trọng. Sau thời khắc giao thừa sẽ chuyển sang năm mới, các gia đình thường tìm một người dễ vía, hợp tuổi với gia chủ để xong nhà có nghĩa là người đầu tiên từ bên ngoài bước vào nhà trong năm mới. Người xông nhà có thể là một thành viên trong gia đình hoặc là một người khác đều được. Việc kén người xông nhà này mang ý nghĩa là mong muốn người xông nhà sẽ mang lại nhiều may mắn, tốt lành đến cho gia đình gia chủ.

【#7】Lễ Tạ Cuối Năm Ở Đền Chùa: Đầu Năm Vay Ở Đâu, Cuối Năm Trả Ở Đó

(Lichngaytot.com) Theo quan niệm truyền thống của người Việt, đầu năm đi lễ xin lộc thì cuối năm phải đi trả lễ. Vậy khi đi lễ tạ cuối năm ở đền chùa miếu phủ, chúng ta nên làm gì để được Thần Phật chứng giám lòng thành?

  • 1. Đầu năm vay ở đâu, cuối năm trả ở đó
  • 2. Sắm lễ tạ cuối năm ở chùa, đình, đền, miếu, phủ như thế nào?
  • – Lễ Chay
  • – Lễ Mặn
  • – Lễ đồ sống
  • – Lễ mặn Sơn Trang
  • – Lễ ban thờ Cô, thờ Cậu
  • – Lễ thần Thành Hoàng, Thư Điền
  • 3. Các bài văn khấn phổ biến ở đình, đền, miếu, phủ
  • Văn khấn Thành hoàng ở Đình, Đền, Miếu
  • Văn khấn lễ Tam Toà Thánh Mẫu
  • Văn khấn ban Công Đồng
  • 4. Lưu ý quan trọng nếu muốn linh thiêng
  • 5. Lễ tạ cuối năm ở đền chùa nào linh nhất miền Bắc?
  • 6. Lễ tạ cuối năm ở đền chùa nào linh nhất miền Nam?

Việc đi lễ tạ ở đình, đền, miếu, phủ… cuối năm là lệ lâu đời của người Việt. Đây cũng là nét đẹp văn hóa thể hiện sự cảm tạ, lòng biết ơn đối với các vị Thần linh, thần chủ đã che chở, mang tới bình an cho gia đình trong suốt 1 năm qua.

Vậy nên sắm lễ tạ cuối năm thế nào cho đủ đẩy, đi chùa hay đền nào lễ tạ là linh thiêng nhất…?

1. Lễ tạ cuối năm ở đền chùa: Đầu năm vay ở đâu, cuối năm trả ở đó

Thông thường, với lễ tại các chùa (thờ Phật) không có vay có trả, không cần đầu năm đi lễ, cuối năm tiến hành lễ tạ để trả ơn, mà đi lễ chùa đầu năm hay cuối năm đều là để cầu mong sự bình an, may mắn.

Hoặc nếu thành tâm hướng Phật, các phật tử đi lễ chùa cuối năm để cảm tạ Thần Phật che chở bình an trong suốt năm qua cũng không vấn đề gì, là điều nên làm.

Tuy nhiên, với đình, đền, miếu, phủ (gọi rút gọn là đền phủ) thì cần tiến hành nghi lễ này.

Theo quan niệm dân gian, đầu năm đi kêu cầu, xin lễ, vay lễ ở đền phủ nào thì cuối năm dù bận rộn, đau ốm cũng phải cố gắng sắp xếp thời gian để quay về nơi đó làm lễ tạ. Điều này không chỉ là tín ngưỡng dân gian mà còn thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn của người dân đất Việt.

Hơn nữa, người ta cho rằng luật trời “Có vay có trả”, ăn lộc Thánh thì phải biết tạ lễ, tạ ơn. Người vong ân bội nghĩa tất sẽ gặp quả báo, chẳng thể nào có được những điều tốt đẹp mãi. Đi trả lễ cho tâm hồn thanh thản, yên tâm bước sang năm mới với nhiều điều may mắn hơn.

Đi lễ chùa đúng cách: Sắm lễ đủ, Văn khấn chuẩn, Trình tự đúng

Ngày rằm mùng 1, đầu năm, cuối năm lên chùa dâng hương là điều nhiều người thường làm. Nhưng đi lễ chùa đúng cách như thế nào thì chưa chắc đã nhiều người

2. Sắm lễ tạ cuối năm ở chùa, đình, đền, miếu, phủ như thế nào?

Lễ vật tùy tâm, không ai quy định chính xác về những món đồ lễ bắt buộc phải có khi đi chùa lễ tạ cuối năm nhưng thường thì theo phong tục , đồ lễ sẽ gồm có những món sau.

Lễ Chay:

Đây là lễ thường dùng để dâng lên ban thờ Phật, Bồ Tát, gồm có hương hoa, trà bánh, trái cây, phẩm oản…

Người ta cũng dâng lễ Chay lên ban thờ Thánh Mẫu, khi này nên sắm thêm đồ vàng mã.

Lễ Mặn:

Là lễ dâng lên ban thờ Ngũ vị quan lớn, tức ban Công Đồng. Thường gồm có gà lợn, giò chả… đã được nấu chín.

Lễ đồ sống:

Là lễ dâng cúng lên quan Ngũ Hổ, Bạch Xà, Thanh Xà ở hạ ban Công Đồng Tứ Phủ.

Lễ này thường có 5 quả trứng vịt sống đặt cùng đĩa muối, gạo, 2 quả trứng gà sống đặt trong 2 chén nhỏ, 1 miếng thịt mồi (thịt lợn) sống được khía không đứt rời thành 5 phần. Lễ này cũng có thêm tiền vàng.

Lễ mặn Sơn Trang:

Đây là lễ dâng lên 15 vị thờ tại ban Sơn Trang, gồm có 1 vị chúa, 2 vị hầu cận và 12 vị cô Sơn Trang.

Lễ này thường có những đồ đặc sản như cua, ốc, lươn, ớt, chanh… Cũng có nơi dâng thêm xôi chè nấu bằng gạo nếp cẩm nữa. Lễ mặn Sơn Trang được sắm theo con số 15 như 15 con ốc, 15 quả ớt… để chia đều cho 15 vị được thờ tại ban này (gồm 1 vị chúa, 2 vị hầu cận, 12 vị cô sơn trang)

Lễ ban thờ Cô, thờ Cậu:

Lễ này thường có oản, hoa quả, hương đèn, hia hài, nón áo, gương lược… cũng có cả những món đồ chơi nhỏ xinh thường làm cho trẻ nhỏ. Những lễ vật này thường nhỏ xinh và khá cầu kì, bắt mắt.

Lễ thần Thành Hoàng, Thư Điền:

Gồm lễ mặn là chân giò lợn luộc, xôi, rượu, tiền vàng…

3. Các bài văn khấn phổ biến ở đình, đền, miếu, phủ

Văn khấn Thành hoàng ở Đình, Đền, Miếu

Hương tử con là:………………………………………………………………………………. Tuổi………………………

Ngụ tại:……………………………………………………………………………………………………………………………

4. Lưu ý quan trọng nếu muốn linh thiêng

5. Lễ tạ cuối năm ở đền chùa nào linh nhất miền Bắc?

– Đền Bà Chúa Kho (Bắc Ninh)

Đây là ngôi đền nổi tiếng linh thiêng về cầu lộc kinh doanh, làm ăn buôn bán, nằm ở tỉnh Bắc Ninh, cách trung tâm Hà Nội 25 km.

– Phủ Tây Hồ (Hà Nội)

Phủ Tây Hồ là một trong những chốn linh thiêng nơi đất kinh kì, bốn mùa tấp nập du khách thập phương tới cầu tài cầu lộc. Phủ Tây Hồ thờ bà Chúa Liễu Hạnh, nằm ở phường Quảng An, quận Tây Hồ.

– Đền Bảo Hà (Đền Ông Hoàng Bảy ) (Lào Cai)

Ngôi đền này hiện nay ở xã Bảo Hà, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai, nằm trong khu di tích lịch sử văn hóa quốc gia. Đền Bảo Hà thờ thần Vệ quốc Hoàng Bảy, hay còn gọi là ông Hoàng Bảy. Ông chính là một anh hùng có công đánh giặc phương Bắc, giữ làng giữ nước.

– Đền chúa Thác Bờ (Hòa Bình)

Một trong những ngôi đền, chùa mà người dân miền Bắc hay lui tới tạ lễ cuối năm là đền Chúa Thác Bờ ở Hòa Bình. Đền Bờ gồm có đền Trình (đền Chúa) và đền Chầu (đền ông Chẩu).

– Đền Bắc Lệ (Lạng Sơn)

Đền Bắc Lệ thờ bà Chúa Thượng Ngàn, là 1 trong 2 ngôi đền thờ Mẫu nổi tiếng ở miền Bắc. Đền Bắc Lệ nổi tiếng là nơi cầu duyên linh thiêng bậc nhất xứ Lạng, những người lận đận về tình duyên thường hay đến đây cầu cúng.

Chi tiết về các ngôi đền, chùa linh thiêng ở miền Bắc, xem bài viết:

6. Lễ tạ cuối năm ở đền chùa nào linh nhất miền Nam?

Lễ tạ cuối năm ở chùa nào miền Nam là linh nhất? Câu trả lời thường là:

– Chùa Bà (Tây Ninh)

Chùa Bà nằm trên núi Bà Đen, thuộc ấp Ninh Trung, xã Ninh Sơn, tỉnh Tây Ninh. Chùa Bà còn được gọi là chùa Bà Đen, chùa Phật, chùa Thượng…

– Miếu Bà Chúa Xứ (An Giang)

Miếu Bà Chúa Xứ nằm ở dưới chân núi Sam, thuộc thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang. Ở xứ sở miền Tây này, ngôi miếu là địa điểm du lịch tâm linh nổi tiếng với khoảng 2 triệu lượt khách hành hương mỗi năm.

– Chùa Ông (TPHCM)

Mặc dù nổi tiếng gần xa vì linh thiêng, cầu gì được nấy nhưng chùa Ông chỉ là 1 ngôi chùa nhỏ nằm giữa vùng đô thị sầm uất ở trung tâm Quận 5. Chùa còn có tên khác là chùa Minh Hương hay chùa Quan Đế Thánh Quân, tức thờ Quan Vân Trường.

Nơi đây ban đầu là địa chỉ tâm linh của cộng đồng người Hoa ở Sài Gòn, nhưng sau này cũng có nhiều người Việt tìm đến khấn vái, cầu nguyện sau khi nghe tiếng lành đồn xa. Người dân đến đây không chịu cầu an, cầu tài lộc mà còn cầu tình duyên, cầu con cái, cầu học hành đỗ đạt nữa.

Thiên Thiên

【#8】Chuẩn Bị Lễ Cúng Và Văn Khấn Đêm Giao Thừa Đúng Và Đầy Đủ Nhất

Câu hỏi:Lễ cúng giao thừa là gì? Chuẩn bị lễ cúng giao thừa như thế nào là đúng và đủ nhất?

Trả lời:

Lễ cúng giao thừa là gì?

Lễ cúng đêm Giao thừa tiễn năm cũ, đón năm mới là nghi lễ rất quan trọng đối với mỗi gia đình trong năm mới.

Theo Giáo sư Ngô Đức Thịnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và bảo tồn văn hóa tín ngưỡng Việt Nam, lễ cúng đêm Giao thừa hay còn gọi là lễ trừ tịch được thực hiện vào đêm 30 Tết với ý nghĩa tiễn đưa những điều xấu, xui xẻo của năm cũ để đón điều tốt đẹp trong năm mới.

Lễ cúng giao thừa là phong tục truyền thống lâu đời của người Việt

Theo phong tục truyền thống, người Việt tin rằng mỗi năm có một vị quan Hành khiển cai trị hạ giới khác nhau. Giao thừa cũng là thời khắc chuyển giao công việc cai trị của các vị quan Hành khiển. Mâm cỗ cúng đêm giao thừa có thể coi như một buổi tiệc để tiễn đưa vị thần năm cũ và nghênh đón vị thần mới. Gia đình sắm lễ với mong muốn cả nhà được bình an, hạnh phúc trong năm mới.

Chuẩn bị lễ cúng giao thừa như thế nào?

Quan niệm dân gian cho rằng việc bàn giao tiếp nhận công việc của các vị thần diễn ra rất khẩn trương, các vị ấy chỉ có thể ăn vội vàng hoặc đi ngang qua chứng kiến tấm lòng của gia chủ. Vì vậy mâm cỗ cúng quan Hành khiển thường đặt ngoài cửa chính.

Mâm cỗ cúng Giao thừa ngoài trời là cỗ mặn, gồm có xôi gà, hoặc thủ lợn, bánh chưng, mứt, trầu cau rượu nước, vàng mã và hoa quả

“Lễ vật không cần quá cầu kỳ, hầu hết là những sản vật gần gũi với đời sống gia đình, miễn sao đảm bảo thanh tịnh. Cúng Giao thừa người ta đặc biệt chú ý đến gà cúng, gà thường là gà trống choai, mới tập gáy, thân hình cân đối, mào cờ, mỏ vàng, chân vàng và chưa từng đạp mái”, GS Thịnh hướng dẫn.

Mâm cúng ngoài trời phải đặt ở nơi sạch sẽ, trên mâm có một bát gạo để cắm hương, hai ngọn nến hoặc đèn dầu.

Bài cúng đêm giao thừa theo Văn khấn cổ truyền Việt Nam Lễ khấn giao thừa được thực hiện bởi người lớn tuổi nhất trong nhà

Cúng đêm Giao thừa trong nhà là để lễ tổ tiên, với mong muốn cầu xin tổ tiên phù hộ cho gia đình gặp nhiều điều tốt lành năm mới. Mâm cỗ này có thể được cúng sớm hơn, lễ vật tùy từng điều kiện gia đình.

Nội dung của bài văn khấn giao thừa là:

Nam mô A-di-đà Phật (3 lần)

Kính lạy:

– Con kính lạy chín phương trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương

– Con kính lạy Đức Đương Lai Hạ Sinh Di Lặc Tôn Phật

– Con kính lạy Đức Bồ-tát Quán Thế Âm cứu nạn cứu khổ chúng sinh

– Con kính lạy Hoàng Thiên, Hậu Thổ, chư vị tôn thần

– Con kính lạy ngài cựu niên đương cai Hành khiển

– Con kính lạy các ngài Ngũ Phương, Ngũ Hổ, Long Mạch, Táo Quân, chư vị tôn thần.

Nay là phút giao thừa năm Ất Mùi với năm Bính Thân, chúng con là: …………….., sinh năm: ………, hành canh: ……….. tuổi, cư ngụ tại số nhà:………, ấp/khu phố:……….., xã/phường ……….., quận/huyện/ thành phố …………………., tỉnh/thành phố ……………………

Nhân phút thiêng liêng Giao thừa vừa tới, năm cũ qua đi, đón mừng năm mới, tam dương khang thái, vạn tượng canh tân. Nay ngài Thái Tuế tôn thần trên vâng lệnh Ngọc Hoàng Thượng-đế, giám sát vạn dân, dưới bảo hộ sinh linh tảo trừ yêu nghiệt.

Quan cũ về triều cửa khuyết, lưu phúc, lưu ân. Quan mới xuống thay, thể đức hiếu sinh, ban tài tiếp lộc. Nhân buổi tân xuân, tín chủ chúng con thành tâm, sửa biện hương hoa phẩm vật, nghi lễ cung trần, dâng lên trước án, cúng dàng Phật-Thánh, dâng hiến Tôn Thần, đốt nén tâm hương, dốc lòng bái thỉnh.

Chúng con kính mời: Ngài Cựu niên đương cái Thái tuế, ngài Tân niên đương cai Thái tuế chí đức tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị đại vương, ngài bản xứ thần linh Thổ địa, ngài Hỷ thần, Phúc đức chính thần, các ngài Ngũ phương, Ngũ thổ, Long mạch, Tài thần, chư vị bản gia Táo quân, và chư vị Thần linh cai quản ở trong xứ này, cúi xin giáng lâm trước án thụ hưởng lễ vật.

Nguyện cho tín chủ, minh niên kháng thái, vạn sự tốt lành, bốn mùa tám tiết được chữ bình an, gia đạo hưng long thịnh vượng, bách sự hanh thông, ngày ngày được hưởng ơn trời, Phật, chư vị tôn thần.

Chúng con kính cẩn tiến dâng lễ vật, thành tâm cầu nguyện. Cúi xin chín phương trời, mười phương chư Phật cùng chư vị tôn thần chứng giám phù hộ độ trì.

Nam mô A-di-đà Phật (3 lần, 3 lạy)

【#9】Văn Khấn Cúng Lễ Đêm Giao Thừa

Văn khấn cúng lễ đêm giao thừa

Giao thừa là thời khắc đất trời giao hòa, âm dương hòa quyện để vạn vật bừng lên sức sông mới. Đối với người Việt Nam, phút giao thừa thật thiêng liêng và trang trọng.

Theo phong tục Việt Nam từ cổ xưa, nhà nhà đều cúng lễ ngoài trời và cúng lễ trong nhà.

Ý nghĩa lễ cúng đêm giao thừa

Lẽ trời đất có khởi thuỷ phải có tận cùng, một năm có bắt đầu ắt phải có kết thúc, bắt đầu vào lúc giao thừa, cũng lại kết thúc vào lúc giao thừa. Phong tục cúng lễ giao thừa hay còn goi là lễ trừ tịch thực hiện vào lúc giao tiếp giữa hai năm cũ mới. Ý nghĩa của lễ là bỏ đi điều xấu của năm cũ để đón những cái mới mẻ tốt đẹp của năm mới.

Lễ thường được tiến hành vào giờ Chính Tý, tức đúng 12 giờ đêm hôm 30 tháng chạp.

Người xưa tin rằng mỗi năm có một vị Hành khiển trông coi việc nhân gian. Hết năm thì vị thần năm cũ bàn giao công việc cho vị thần năm mới. Cho nên phải cúng giao thừa ở ngoài trời để tiễn đưa thần năm cũ và đón rước thần năm mới.

Có 12 vị Hành khiển và 12 vị Phán quan. Phán quan là vị thần giúp việc cho các vị Hành khiển. Mỗi vị làm một năm dưới dương gian và cứ sau 12 năm thì lại có sự luân phiên trở lại.

1. Năm Tý: Chu vương Hành khiển, Thiên ôn hành binh chi thần, Lý tào phán quan.

2. Năm Sửu: Triệu vương Hành khiển, Tam thập lục thương hành binh chi thần, Khúc tào phán quan.

3. Năm Dần: Ngụy vương Hành khiển, Mộc tinh hành binh chi thần, Tiêu tào phán quan.

4. Năm Mão: Trịnh vương Hành khiển, Thạch tinh hành binh chi thần, Liễu tào phán quan.

5. Năm Thìn: Sở vương Hành khiển, Hỏa tinh hành binh chi thần, Biểu tào phán quan.

6. Năm Tỵ: Ngô vương Hành khiển, Thiên hao hành binh chi thần, Hứa tào phán quan.

7. Năm Ngọ: Tần vương Hành khiển, Thiên mao hành binh chi thần, Ngọc tào phán quan.

8. Năm Mùi: Tống vương Hành khiển, Ngũ đạo hành binh chi thần, Lâm tào phán quan.

9. Năm Thân: Tề vương Hành khiển, Ngũ miếu hành binh chi thần, Tống tào phán quan.

10. Năm Dậu: Lỗ vương Hành khiển, Ngũ nhạc hành binh chi thần, Cự tào phán quan.

11. Năm Tuất: Việt vương Hành khiển, Thiên bá hành binh chi thần, Thành tào phán quan.

12. Năm Hợi: Lưu vương Hành khiển, Ngũ ôn hành binh chi thần, Nguyễn tào phán quan.

Lễ vật và cách cúng đêm giao thừa

Lễ vật trong lễ cúng giao thừa gồm có:

– Hương hoa, vàng mã

– Đèn nến

– Trầu cau

– Rượu

– Bánh kẹo

– Mâm cỗ mặn ngày Tết đầy đặn, thơm ngon, tinh khiết.

Sau khi cung kính bày lễ lên bàn thờ thì đốt nến (đèn), thắp nén hương thơm và thành kính cầu khấn.

Nam mô A Di Đà Phật !

Nam mô A Di Đà Phật !

Nam mô A Di Đà Phật ! (3 lạy)

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Đức Dương lai hạ sinh Di lặc Tôn Phật.

– Con kính lạy Hoàng thiên, Hậu Thổ, chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy Long Mạch, Táo quân, chư vị Tôn thần

– Con kính lạy:

– Các cụ Tổ Tiên nội, ngoại chư vị Tiên linh.

Nay phút giao thừa năm: ………………………….

Tín chủ (chúng) con là: ……………………………

Phút giao thừa vừa tới, giờ Tý đầu xuân, đón mừng nguyên đán, tín chủ chúng con thành tâm, sửa biện hương hoa phẩm vật, dâng lên trước án, cúng dâng Phật Thánh, dâng hiến Tôn thần, tiến cũng Tổ tiên, đốt nén hương, thành tâm kính lễ.

Chúng con xin kính mời ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, Phúc đức chính thần, các ngài Ngũ phương, Ngũ thổ, Long Mạch Tài Thần, các ngài Bản gia Táo quân và chư vị Thần linh cai quản ở trong xứ này giáng lâm trước hương án thụ hưởng lễ vật.

Con lại kính mời các cụ Tiên lnh Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Bá Thúc Huynh Đệ, Cô Di, Tỷ Muội, nội ngoại Gia tộc, chư vị Hương linh, cúi xin giáng về linh sàng thụ hưởng lễ vật.

Tín chủ chúng con lại kính mời vong linh các vị Tiền chủ, Hậu chủ, y thảo thụ mộc ngụ tại đất này, nhân tiết giao thừa, giáng lâm trước hương án thụ hưởng lễ vật.

Cúi xin các vị phù hộ độ trì cho toàn thể gia chủ. Chúng con năm mới tốt lành, sức khoẻ dồi dào, tấn tài tấn lộc, vạn sự tốt lành, vạn điều như. Chúng con lễ bạc tâm thành, nhất tâm kính lễ, cúi xin phù hộ độ trì.

Nam mô A Di Đà Phật !

Nam mô A Di Đà Phật !

Nam mô A Di Đà Phật ! (3 lạy)

Văn khấn cúng đêm giao thừa ngoài trời

Nam mô A Di Đà Phật !

Nam mô A Di Đà Phật !

Nam mô A Di Đà Phật ! (3 lạy)

Nay phút giao thừa năm: …………….

Chúng con là: …………………….

Ngụ tại: …………………….

Phút giao thừa vừa tới, nay theo vận luật, tống cựu nghênh tân, giờ Tý đầu Xuân, đón mừng Nguyên Đán, tín chủ chúng con thành tâm, sửa biện hương hoa phẩm vật, nghi lễ cung trần, dâng lên trước án, cúng dâng Phật Thánh, dâng hiến Tôn Thần, đốt nén tâm hương dốc lòng bái thỉnh.

Chúng con xin kính mời :

Ngài Cựu niên Đương cai, Ngài Tân niên Đương cai Thái tuế chí đức Tôn thần, Ngài Bản Cảnh Thành Hoàng chư vị Đại Vương, Ngài Bản xứ Thần Linh Thổ Địa, Phúc Đức Chính Thần, các Ngài Ngũ phương, Ngũ thổ, Long Mạch Tài Thần, các Ngài Bản gia Táo Quân và chư vị Thần Linh cai quản ở trong xứ này. Cúi xin giáng lâm trước án thụ hưởng lễ vật.

Nguyện cho tín chủ: Minh niên khang thái, trú dạ cát tường. Thời thời được chữ bình an, gia đạo hưng long thịnh vượng.

Dãi tấm lòng thành cúi xin chứng giám.

Nam mô A Di Đà Phật !

Nam mô A Di Đà Phật !

Nam mô A Di Đà Phật ! (3 lạy)

【#10】Bài Văn Khấn Tam Toà Thánh Mẫu Đi Lễ Đền Chùa Đầu Năm 2021

Bài văn khấn Tam Toà Thánh Mẫu đi lễ Đền Chùa đầu năm 2021: Chuẩn bị lễ mặn gồm gà, lợn, giò, chả… được làm cẩn thận, nấu chín. Tùy vào mỗi người mà có những mâm cỗ cúng khác nhau. Sau đó bạn khấn nôm trước ban thờ Tam Toà Thánh Mẫu theo mẫu văn khấn như sau. # Bài văn khấn Tam Toà Thánh Mẫu năm 2021 Chuẩn bị lễ mặn gồm gà, lợn, giò, chả… được làm cẩn thận, nấu…

Bài văn khấn Tam Toà Thánh Mẫu đi lễ Đền Chùa đầu năm 2021: Chuẩn bị lễ mặn gồm gà, lợn, giò, chả… được làm cẩn thận, nấu chín. Tùy vào mỗi người mà có những mâm cỗ cúng khác nhau. Sau đó bạn khấn nôm trước ban thờ Tam Toà Thánh Mẫu theo mẫu văn khấn như sau.

Chuẩn bị lễ mặn gồm gà, lợn, giò, chả… được làm cẩn thận, nấu chín. Tùy vào mỗi người mà có những mâm cỗ cúng khác nhau. Sau đó bạn khấn nôm trước ban thờ Tam Toà Thánh Mẫu theo mẫu văn khấn như sau.

  • + Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
  • + Con lạy chín phương trời, mười phương chư Phật, chư phật mười phương.
  • + Con kính lạy Đức Hiệu Thiên chí tôn kim quyết Ngọc Hoàng Huyền cung cao Thượng đế.
  • + Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.
  • + Con xin kính Cửu trùng Thanh Vân lục cung công chúa.
  • + Con kính lạy Đức thiên tiên Quỳnh Hoa Liễu Hạnh Mã Hoàng Công chúa, sắc phong Chế Thắng Hoà Diệu đại vương, gia phong Tiên Hương Thánh mẫu.
  • + Con kính lạy Đức đệ nhị đỉnh thượng cao sơn triều mường Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương.
  • + Con kính lạy Đức đệ tam thủy phủ, Lân nữ công chúa.
  • + Con kính lạy Đức đệ tứ khâm sai Thánh Mẫu, tứ vi chầu hà, năm tòa quan lớn, mười dinh các quan, mười hai Tiên cô, mười hai Thánh cậu, ngũ hổ Đại tướng, Thanh Hoàng Bạch xà đại tướng.
  • + Hưởng tử (chúng) con là: …………… Ngụ tại: …………….
  • + Hôm nay là ngày ……. tháng …… năm …… Hương tử con đến nơi Điện(Phủ, Đền) ……… chắp tay kính lễ khấu đầu vọng bái, lòng con thành khẩn, dạ con thiết tha, kính dâng lễ vật, cúi xin các Ngài xót thương phù hộ độ trì cho gia chung chúng con sức khỏe dồi dào, phúc thọ khang ninh, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, cầu bình an đắc bình an, vạn sự hanh thông, gặp nhiều may mắn.
  • + Hương tử con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.
  • # Ý nghĩa của lễ Tam Tòa Thánh Mẫu

    Theo nếp xưa người Việt Nam ở khắp mọi miền đất nước hàng năm vẫn xem ngày đi lễ, đi trẩy Hội ở các Đình, Đền, Miếu, Phủ vào các ngày lễ, tết, tuần tiết, sóc, vọng và ngày Hội, để tỏ lòng tôn kinh, ngưỡng mộ biết ơn các bậc Tôn thần đã có công với đất nước. Các vị thần linh, Thành Hoàng, Thánh Mẫu là các bậc tiền nhân đã có công với cộng đồng làng xã, dân tộc trong lịch sử đấu tranh giữ nước và dựng nước của người Việt Nam.