【#1】Văn Khấn Quan Hoàng Bảy

Văn Khấn Quan Hoàng Bảy, Văn Khấn Quan Hoàng Mười, Văn Khấn ô Hoàng Bảy, Bài Khấn ông Hoàng Bảy, Văn Khấn ở Đền ông Hoàng Bảy, Văn Khấn ông Hoàng Bảy, Văn Khấn ô Hoàng 10, Bài Khấn ông Hoàng 7, Bài Khấn Đền ông Hoàng Bảy, Bài Khấn ở Đền ông Hoàng Mười, Văn Khấn ông Hoàng Mười, Văn Khấn Vua Cha Ngọc Hoàng, Bài Khấn ông Hoàng Mười, Văn Khấn ô Hoàng Mười, Bài Khấn ông Hoàng Mười Nghệ An, Mau Don Trinh Bai Cua Than Nhan Pham Nhan Ve Hoang Canh Kinh Te Kho Khan, Thủ Tục Ly Hôn Quận Hoàng Mai, Quản Trị Khủng Hoảng, Thủ Tục Đăng Ký Xe Máy Quận Hoàng Mai, Thủ Tục Hành Chính Quận Hoàng Mai, Văn Khấn Quan Nam Tào Bắc Đẩu, Văn Khấn Yết Cáo Táo Quân Thổ Thần, Bài Khấn Trả Nợ Tào Quan, Bài Khấn Quan âm Bồ Tát, Văn Khấn Quan Ngũ Hổ, Văn Khấn Quan Lớn Đệ Tam, Bài Khấn Quan Thế âm Bồ Tát, Bài Khấn Quan âm, Bài Khấn Quan Ngũ Hổ, Bài Khấn Quan Đệ Tam, Nhập Môn Quan Hệ Quốc Tế Hoàng Khắc Nam, Bài Khấn Phật Quan âm, Văn Khấn Quan Công, Bài Khấn Phật Bà Quan âm, Văn Khấn Đền Quán Thánh, Bài Khấn Quan Giám Sát, Bài Khấn Rằm Tháng 7 Tại Cơ Quan, Văn Khấn Rằm Tháng 7 Tại Cơ Quan, Bài Khấn Nguyện Quan Thế âm Bồ Tát, Bài Khấn Quan Thánh, Bài Khấn Quan Thần Linh Thổ Địa, Quần Đảo Hoàng Sa Và Trường Sa Thuộc Vùng Biển Nào, Bài Giải Quản Trị Ngân Hàng Trần Huy Hoàng, Văn Khấn Quan Thần Linh Ngoài Mộ, Văn Khấn Quan Lớn Tuần Tranh, Những Khó Khăn Quản Trị Mua Hàng, Khó Khăn Trong Lãnh Đạo Quản Lý, Văn Khấn Khai Trương Quán ăn, Bài Khấn Quan Lớn Tuần Tranh, Bài Khấn Quan Tuần Tranh, Văn Khấn Khai Quần Ngựa Ma Giay, Những Khó Khăn Trong Quản Lý Mua Hàng Gặp Phải, Che Do Xuat Ngu Quan Nhan Co Hoan Canh Kho Khan, Sự Tích Cây Quần Thiết Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị, Sự Tích Cây Quần Thiết Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị, Đáp án Lưu Hoàng Trí 7, Dap An Bai Tap Anh 7 Luu Hoang Qui, Văn Bản ở Nơi Hoang Dã, Nữ Hoàng Ai Cập Tập 1, Sổ Tay Dạy Dỗ Hoàng Đế, Lưu Hoằng Trí Lớp 9 Có Đáp án, ở Nơi Hoang Dã, Luu Hoang Chi, Luư Hơàng Trí Lớp 9, Lớp 11 Lưu Hoằng Trí, Sâm Đất Hoàng Sin Cô, Luu Hoang Tri 8, Lưu Hoàng Trí 58, Bài Tập Lưu Hoằng Trí Lớp 9, Đáp An Lưu Hoằng Trí Lớp 7 Cũ, Nữ Hoàng Ai Cập, Lưu Hoằng Trí, Tam Thất Hoang, Sbt Lưu Hoằng Trí 7, Lưu Hoằng Trí 10, Lưu Hoằng Trí 10 Có Đáp án, Đáp An Anh 9 Lưu Hoằng Trí, Đáp án Lưu Hoằng Trí Lớp 10, Đáp án Lưu Hoằng Trí Lớp 11, Đáp án Lưu Hoằng Trí Lớp 6, Đáp án Lưu Hoằng Trí Lớp 7, Đáp án Lưu Hoằng Trí Lớp 8, Lưu Hoằng Trí Lớp 7, Lưu Hoằng Trí 12, Tan Hoang, Lưu Hoằng Trí 6 Có Đáp An, Đáp án Lưu Hoằng Trí Lớp 9, Lưu Hoằng Trí Lớp 8, Lưu Hoằng Trí 7 Key, Lưu Hoằng Trí Lớp 6 Có Đáp án, Lưu Hoằng Trí Lớp 10, Lưu Hoằng Trí 11, Luu Hoang Tri 6, Đáp án Bài Tập Anh 7 Lưu Hoằng Trí, Lưu Hoằng Trí 6 Đáp án, Bài Tập Lưu Hoằng Trí Lop 11, Lưu Hoằng Trí 7, Luu Hoang Tri 7 Co Dap An, Lưu Hoằng Trí 7 Đáp án, Lưu Hoàng Trí 7 Uni 12,

Văn Khấn Quan Hoàng Bảy, Văn Khấn Quan Hoàng Mười, Văn Khấn ô Hoàng Bảy, Bài Khấn ông Hoàng Bảy, Văn Khấn ở Đền ông Hoàng Bảy, Văn Khấn ông Hoàng Bảy, Văn Khấn ô Hoàng 10, Bài Khấn ông Hoàng 7, Bài Khấn Đền ông Hoàng Bảy, Bài Khấn ở Đền ông Hoàng Mười, Văn Khấn ông Hoàng Mười, Văn Khấn Vua Cha Ngọc Hoàng, Bài Khấn ông Hoàng Mười, Văn Khấn ô Hoàng Mười, Bài Khấn ông Hoàng Mười Nghệ An, Mau Don Trinh Bai Cua Than Nhan Pham Nhan Ve Hoang Canh Kinh Te Kho Khan, Thủ Tục Ly Hôn Quận Hoàng Mai, Quản Trị Khủng Hoảng, Thủ Tục Đăng Ký Xe Máy Quận Hoàng Mai, Thủ Tục Hành Chính Quận Hoàng Mai, Văn Khấn Quan Nam Tào Bắc Đẩu, Văn Khấn Yết Cáo Táo Quân Thổ Thần, Bài Khấn Trả Nợ Tào Quan, Bài Khấn Quan âm Bồ Tát, Văn Khấn Quan Ngũ Hổ, Văn Khấn Quan Lớn Đệ Tam, Bài Khấn Quan Thế âm Bồ Tát, Bài Khấn Quan âm, Bài Khấn Quan Ngũ Hổ, Bài Khấn Quan Đệ Tam, Nhập Môn Quan Hệ Quốc Tế Hoàng Khắc Nam, Bài Khấn Phật Quan âm, Văn Khấn Quan Công, Bài Khấn Phật Bà Quan âm, Văn Khấn Đền Quán Thánh, Bài Khấn Quan Giám Sát, Bài Khấn Rằm Tháng 7 Tại Cơ Quan, Văn Khấn Rằm Tháng 7 Tại Cơ Quan, Bài Khấn Nguyện Quan Thế âm Bồ Tát, Bài Khấn Quan Thánh, Bài Khấn Quan Thần Linh Thổ Địa, Quần Đảo Hoàng Sa Và Trường Sa Thuộc Vùng Biển Nào, Bài Giải Quản Trị Ngân Hàng Trần Huy Hoàng, Văn Khấn Quan Thần Linh Ngoài Mộ, Văn Khấn Quan Lớn Tuần Tranh, Những Khó Khăn Quản Trị Mua Hàng, Khó Khăn Trong Lãnh Đạo Quản Lý, Văn Khấn Khai Trương Quán ăn, Bài Khấn Quan Lớn Tuần Tranh, Bài Khấn Quan Tuần Tranh,

【#2】Văn Khấn Nôm Quan Hoàng Bảy Đầy Đủ Nhất

Quan Hoàng Bảy Bảo Hà – đền chính Bảo Hà,Lào Cai là một vị quan hoàng anh linh và hay về ngự đồng chấm lính nhất.Hàng năm, cứ từ 7/7 tới 17/7 người dân nô nức kéo nhau về đề bái yết và dâng phẩm vật cầu xin ngài gia hộ.

Các lễ vật dâng ông gồm: chè,rượu,thuốc lá,hoa quả bánh kéo,nhang đèn thờ…

Văn khấn nôm ông Hoàng Bẩy

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Con lạy chín phương trời, mười phương chư Phật

Ngũ phương ngũ phật, thập phương thập phật

Hằng hà sa số Đức Phật công đức, công lượng vô biên.

Đệ trước án tiền, kín lạy Đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn quán thế âm bồ tát

Cung Phật thỉnh Thánh, cung thỉnh thiên cung tấu thỉnh thiên đình, sám hối:

Tam phủ thần vương, tứ phủ thánh đế

Con xin sám hối Thiên phủ Thánh Đế – Cao thiên Thượng thánh- Đại từ Nhân giả – Huyền khung Cao Thượng đế -Ngọc Hoàng Đại Thiên tôn.

Con sám hối Nhạc Phủ Thánh Đế – (Tản Viên Sơn Thánh) -ngũ nhạc thần vương – năm phương sơn động

Con sám hối Thủy Phủ Thánh Đế – (Lạc Long Quân Đại Đế) – Bát Hải Long Vương – tám phương cửa bể

Con sám hối Địa phủ Thánh Đế- thập điện minh vưong tòa chương địa phủ

Bắc Cực Trung Thiên Tam nguyên tam phẩm tam quan

Con sám hối Đại Thánh Nam Tào Lục Ty duyên thọ tinh quân

Con sám hối Đại Thánh Bắc Đẩu Cửu hoàn giải ách tinh quân

Cửu tinh thiên chúa thập nhị bát tú chư bộ thiên binh chư dinh văn võ.

Con sám hối tấu lạy quốc mẫu vua bà bơ tòa tiên thánh tứ phủ Thánh Mẫu:

Kính lạy Cửu trùng thánh mẫu .bán thiên công Chúa Thiên tiên thánh mẫu

Kính lạy địa tiên thánh mẫu quỳnh hoa Liễu Hạnh Vân Hương Thánh Mẫu

Mã Hoàng Công chúa, sắc phong Chế Thắng Hoà Diệu đại vương, gia phong Tiên Hương thiên tiên Thánh Mấu.

Kính lạy Thánh Mẫu Đệ Tam thủy cung, Xích Lân long Nữ,Thủy Tinh Công chúa

Kính lạy Đức Mẫu thượng ngàn Diệu nghĩa diệu tín thiền sư

Tuần Quán Đông Cuông đệ nhị đỉnh thượng cao sơn triều mường Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương.

Con lạy trần triều hiển thánh Hưng Đạo Đại Vưong

Trần triều Khải Thánh , Vương Phụ Vưong mẫu Vương phu nhân

Tứ vị Vưong tử- Nhị Vị Vương cô- vương tế vương tônLiệt vị tướng tướng công đồng Trần Triều

Con lạy Tam phủ Công Đồng, Tứ phủ Vạn linh

Bách vị các quan ngũ vị tôn quan

+ Quan đệ nhất Thượng Thiên

+Quan đệ nhị thượng ngàn

+Quan đệ tam thoải phủ

+Quan đệ tứ khâm sai

+ Quan đệ ngũ tuần tranh

Con sám hối điều thất tôn quan- Hoàng triệu tôn quan

Con lạy tứ phủ chầu bà thập nhị chầu bà

+ Chầu đệ nhất thượng thiên

+ Chầu đệ nhị thượng ngàn

+ Chầu đệ tam thủy phủ

+ Chầu đệ tứ khâm sai

+ Chầu năm Suối Lân

+ Chầu sáu Lục Cung

+ Chầu bảy Kim Giao

+ Chầu tám Bát Nàn

+ Chầu chín cửu tỉnh

+ Chầu mười Mỏ Ba

+ Chầu Bé Bắc Lệ

+ Chầu bà bản đền

Con lạy Tứ phủ thánh hoàng thập vị thánh hoàng

Sám hối ông bơ thoải quốc, ông bảy Bảo Hà, ông mười Nghệ An

Sám hối tứ phủ thánh cô

+ Cô đệ nhất thượng thiên

+ Cô đôi Đông Cuông

+ Cô bơ Thác Hàn

+ Cô tư địa phủ

+ Cô năm Suối Lân

+ Cô sáu Lục Cung

+ Cô bảy Kim Giao

+ Cô tám đồi chè

+ Cô Chín Sòng Sơn

+ Cô mười Đồng Mỏ

+ Cô bé sơn lâm

+ Cô bé bản đền

Sám hối tứ phủ thánh cậu: cậu cả cậu đôi cậu bơ cậu bé

Con lạy ngũ dinh thần tướng-ngũ hổ thần quan

Con lạy thanh xà tướng quân- bạch xà tướng quân

Con lạy công đồng các bóng các giá, mười tám cửa rừng, mười hai cửa bể.

Con lạy chầu chúa thủ đền cùng quan thủ điện, thổ địa thần kỳ thần linh bản xứ

Kim niên kim nguyệt ,cát nhật lương thời

Mậu tý niên…nguyệt…..thời

Đệ tử con nhất tâm nhất lễ đêm tưởng ngày mong nhất tâm chí thiết nhất dạ chí thành

nhất tâm tưởng vạn tâm cầu-tu thiết nhang hoa lễ vật tờ đơn cánh sớ

Mang miệng tới tâu-mang đầu tới bái-cửa đình thần tam tứ phủ .

Trên mẫu độ dưới gia hộ mẫu thương -vuốt ve che chở -phù hộ độ trì

Cho con: ba tháng hè chín tháng đông-đầu năm chí giữa nửa năm chí cuối ,

Tứ thời bát tiết-tháng thuấn ngày nghiêu-phong thuận vũ hòa -tai qua nạn khỏi.

Mẫu cho con được sáng hai con mắt-bằng hai bàn chân-,

Mẫu ban lộc dương tiếp lộc âm-cho lộc mùa xuân cho tài mùa hạ

Cho tươi như lá cho đẹp như hoa-phúc lộc đề đa tiền tài mang tới,

Mẫu cho con lộc ăn lộc nói-lộc gói lộc mở,lộc gần lộc xa,

Hồ hết lại có hồ vơi lại đầy-điều lành mang đến điều dữ mang đi.

Mẫu cứu âm độ dương cứu đường độ chợ-vuốt ve che chở nắn nở mở mang.

Cải hung vi cát cải hạo vi tường-thay son đổi số nảy mực cầm cân.

Mẫu phê chữ đỏ Mẫu bỏ chữ đen-cho con đựơc trăm sự tốt vạn sự lành

Trên quý dưới yêu trên vì dưới nể-cho gặp thầy gặp bạn gặp vạn sự lành

Mẫu ban danh ban diện ban quyền-cho con có lương có thực có ngân có xuyến-tài như xuyên chí lộc tựa vân lai

Cầu tài đắc tài cầu lộc đắc lộc-cầu bình an đắc bình an

Trồng cây đắp phúc cho con được nở cành xanh lá phúc lộc đề đa

Cho trên thuận dưới hòa-trên bảo dưới nghe trên đe dưới sợ.

Mẫu cho nước chảy một dòng-thuyền xuôi một bến,bách bệnh tiêu tán, vạn bệnh tiêu trừ

Năm xung Mẫu giải xung-tháng hạn giải hạn

Cho gia trung con dc trong ấm ngoài êm nhân khang vật thịnh duyên sinh trường thọ

Đệ tử con người trần mắt thịt nhỡn nhục nan chi việc âm chưa tường việc dương chưa tỏ.

Tuổi con còn trẻ, tóc con còn xanh ăn, con ăn chưa sạch, con bạch chưa thông

Ăn chưa nên đọi, nói chưa nên lời, không biết kêu sao cho thấu, tấu sao cho tường,

Con biết tới đâu con tâu tới đấy, ba điều ko sảy bảy điều ko sai.

Trăm tội mẫu xá vạn tội mẫu thương.Mẫu xá u xá mê xá lỗi xá lầm.

Mẫu soi đường chỉ lối cho con biết đường mà lội biết lối mà lần

Hôm nay đệ tử con lễ bạc tâm thành con giàu một bó con khó một nén giàu làm kép hẹp làm đơn,

Thiếu mẫu cho làm đủ vơi mẫu cho làm đầy.

Mẫu chấp kỳ lễ vật-chấp lễ chấp bái

Chứng tâm cho lời kêu tiếng khấn của con bay như phượng lượn như hoa tới cửa ngài ngồi tời ngai ngài ngự.

Cho con sở nguyện như ý sở cầu tòng tâm.

Con nam mô a di đà phật (3 lần)

【#3】Tại Sao Thường Cúng Rằm Tháng Bảy Trước Ngày 15?

Nguyên nhân nào mà vào dịp rằm tháng bảy, chúng ta thường cúng trước ngày 15 và hóa vàng mã cũng trước ngày này?

Đúng ngày 15 rằm, Phật tổ xá tội vong nhân trong vòng 01 ngày, mọi linh hồn kể cả tội lỗi, quỷ dữ dạ xoa đều được tự do, vì vậy nên nếu cúng các cụ đúng ngày này thì sợ bị những linh hồn này phá phách, cho dù ta đã cúng cháo cho họ, vậy nên các cụ có thể không nhận được gì con cháu cúng tế. Thế nên thường cúng trước là hợp lẽ – (Lê Hùng Sơn)

Đó chính là tín ngưỡng dân gian hay còn gọi là Pháp thế gian đó bạn, cái này ko phải của Phật Giáo thường thì người miền Bắc tin rằng nếu cúng đúng ngày rằm sẽ rước thêm âm binh và cô hồn vào trong nhà mình. Trong miền Nam thì thường họ cúng đúng vào rằm luôn. Ở miền Bắc cúng thổ công, gia tiên, ông bà bao giờ cũng trước ngày 12 sau đó sau ngày 15 trở đi mới cúng cô hồn, chúng sinh. Có người còn cho rằng nếu cúng thổ công gia tiên trùng vào ngày chúng sinh thì sợ ông bà mình ….không được ăn vì các cô hồn vồ hết.

Những điều trên là hoàn toàn mê tín nó chỉ giúp những ông già bà cả an tâm, và giúp 1 số người sợ hãi mà hướng thiện hơn, còn giới trí thức thì nên hiểu nền tảng của Phật Giáo là Nhân Quả chỉ có gieo Nhân lành thì mới có cơ hội hái Quả thiện thôi.

– (quangbson)

“Tích kể rằng: ngài Mục Kiền Liên là tôn giả rất giỏi của Đức Phật, người biết rất nhiều phép thần thông, khi nhìn thấy mẹ bị đói khổ ở Địa ngục liền dùng phép thần thông xuống địa ngục thăm mẹ. Ngài bưng bát cơm lên dâng mẹ, cơm chưa đưa vào miệng thì đã hóa thành lửa. Ngài Mục Kiền Liên rất đau đớn xin với Đức Phật cách cứu mẹ. Ngài đã phải nhờ đến các chư tăng tụng kinh niệm Phật cho mẹ của ngài, các nhà sư về tụng kinh niệm Phật với mong muốn trong quá trình này sẽ được Đức Phât độ trì gia hộ cho. Có nghĩa là làm cho bản chất xấu xa của bà ấy thay đổi, trở thành người tốt, khi nào trở thành người tốt mới được chúng tôi khi ông Mục Kiền Liên làm được như vậy, bà mẹ được tha khỏi ngục. Từ đấy trở đi, mọi người lấy rằm tháng bẩy là ngày lễ để con cháu thể hiện tấm lòng thành với tổ tiên,ngày đó gọi là ngày lễ Vu Lan.” Hanhthong”

Không phải vong nào cũng bị nhốt trong ngục, mà chỉ có những vong có tội mà thôi. Thường thì mọi người hay cúng trước ngày rằm để cho tiện. Tuy nhiên nên cúng đúng vào ngày rằm là tốt nhất. – (daiminh)

Truyền thuyết dân gian cho rằng từ mùng 2/7, Diêm Vương ra lệnh bắt đầu mở Quỷ Môn Quan và đến rằm tháng 7 thì “thả cửa” để cho ma quỷ túa ra tứ phương, đến sau 12 giờ đêm ngày 14/7 thì kết thúc và các ma quỷ phải quay lại địa ngục. Bởi vậy, vào đêm 14/7, người ta thường đốt nến, hóa vàng bạc hoặc giết gà vịt cúng quỷ đói để cầu được bình an và những điều tốt đẹp, không bị ma quỷ hại phá, đó chính là nguồn gốc của tên gọi Tết Quỷ. Nguồn cội của Tết Quỷ gắn liền với văn hoá Đạo giáo của Trung Quốc, bởi Phật giáo không có chủ trương sát sinh hoặc đốt vàng bạc hàng mã để cúng tế quỷ thần. (ST) – (VDNHMC)

Dưới âm cũng như trên Trần, có thể cúng trước để người âm đi về đỡ tắc đường, tránh xe cộ đi lại đông đúc… – (Duongquy)

Theo quan niệm dân gian thì vào ngày rằm tháng 7 sẽ có rất nhiều vong hồn được “thả” đi lang thang nên nếu ta hóa vàng mã vào ngày này thì sẽ bị cướp, giật mất người thân khó nhận.

Cũng vì vậy trên quần áo, đồ đạc hàng mã thường sẽ ghi rõ tên người nhận, khi cúng cũng đọc rõ tên và xin phép các thần linh thổ địa cho phép vong vào nhận đồ, cúng trước và hóa trước để người thân dễ nhận được. – (Minh)

Bạn Trần Cha Thân! Cúng rằm tức là ngày 15 âm lịch hằng tháng, phong tục ở quê mình thì thường cúng vào ngày mùng 1 và 15 âm lịch. Theo bên Phật thì 2 ngày này là ngày của Phật, (Phật thường đi cứu khổ cứu nạn chúng sanh vào 2 ngày này). Mẹ mình từng nói nếu cúng vào ngày 14 và hoá vàng mã ngày này thì người được cúng ko nhận được vì “cô hồn” cướp và giành giật hết. còn cúng ngày 1 &15 thì ngược lại, ngày đó là ngày của Phật nên các vong hồn được theo Phật và cô hồn ko giật được. Vì VẬY CÚNG RẰM LÀ PHẢI CÚNG VÀO NGÀY 15 BẠN NHÉ! Có lẽ bạn ko tin nhưng mình tin (ko phải mình mê tín đâu) tại mình thấy tận mắt nên mới tin đó. Chính lẽ đó nên có câu: “có thờ có thiêng có kiêng có lành” – (Đặng Diệu Hoài)

vì rằm tháng 7 ko vào ngày nghỉ; ở TP thì mọi ngừơi phải đi làm, ở các vùng quê thì con cái đi học đi làm xa ko về được….dần dần thành thói quen. Theo tôi ngày giỗ, ngày riằm cứ làm lễ đúng ngày là tốt nhất. – (samar trần)

Cũng giống như nhà nước thường kỹ niệm ngày 2/9 vào trước đó 1 hoặc 2 ngày. Không phải tất cả mọi nhà đều làm vào ngày 13 -14, vẫn rất nhiều nhà làm đúng ngày rằm. – (Quốc Ân)

Theo như Mẹ chồng tôi thì ở dưới âm quy định ngày phát đồ cho người âm.

Nếu như đốt vàng mã vào ngày 15 thì đến năm sau người nhà mới nhận được nên phải hóa vàng mã trước ngày 15 tháng 7 âm lịch. – (Trần Thị Lựu)

Phải cúng trước vì ngày rằm không phải cuối tuần hoặc mọi người không thể tụ tập sum vầy đúng ngày rằm được vì công việc riêng, còn cúng đúng ngày rằm mới là đúng truyền thống từ trước đến giờ. Mình ở quê cũng toàn cúng rằm ngày này. – (Pham Dai)

dan gian xua tung co cau trẻ 13 già 14, có lẽ chính vì thế mà rằm tháng 7 duoc cac gia đình cúng trước 15 – (Phạm Thị Kim Liên)

chả có gì gọi là nguyên nhân cả, cũng như mua một thứ gì đó trước, ăn một thứ gì đó trước thôi – (cuongnv)

Lễ gì cũng từ tâm mình cả, các cụ chọn rằm tháng 7 hay rằm tháng nào cũng thế cả thôi chỉ với một mục đích giúp con người ta hướng thiện, tu thân tích đức để cho xã hội tốt đẹp hơn. Mà với xã hội hiện tại thì điều đó càng cần nhiều hơn, tôi mong rằm tháng nào mọi người cũng coi là “xá tội”…để chúng ta cùng làm nhiều điều tốt cho nhau. – (Thuhương)

Tôi chẳng biết các bạn nghĩ thế nào, chứ các bạn lên phường xin dấu người ta quy định làm việc thứ 2,4,6 thì cứ đúng ngày đó mà đến. Chứ lên vào 3,5,7 thì có mặt từ 6h sáng cũng chẳng ai tiếp.

Đã quy định là cúng mùng 1 và 15 thì cứ đúng ngày đó mà làm. – (dương huy)

Theo Tôi cúng vào đúng ngày rằm mới là đúng. Vì các cụ có câu “Cúng cả năm không bằng rằm tháng 7” tức là 15/7. Tục đốn vàng mã trước là do mọi người bận công việc nên làm lễ trước thôi. Ở quê tôi từ xa xưa mọi nhà vẫn cúng, đốt vàng mã cho Ông, Bà vào đúng ngày 15/7. – (Lê Hiếu)

Tất cả chỉ để giải quyết khâu tâm lý thôi! – (phuongtt85)

Đó là cách cúng của người miến Bắc, người miền Nam thì từ ngày 15 trở đi mới cúng. Tôi không biết lý do của miền bắc tại sao lại cúng rằm tháng 7 lại như vậy, nhưng người miền nam, thì cúng rằm thì phải là ngày 15 chứ. Sau ngày 15 thì người ta cúng cô hồn. Cúng cô hồn thì được cúng mặn, còn cúng Phật thì phải là cúng chay. Phong tục của miền bắc thờ cúng tại nhà đa số không thờ Phật, chỉ thờ Gia tiên nên thường những ngày Lễ lớn đa số là cúng mặn. Mỗi nơi 1 phong tục, miễn sao có lòng thành là được. – (ledaitrangdai)

Tôi cúng vào ngày chủ nhật trong tháng 7, ngày đó mọi cô hồn âm binh đều rãnh, dễ tham dự đông đúc! – (Thu Trang)

theo như mình được ông mình nói là ngày 14 là các chư phật, bồ tát, chư tăng hoá độ cho chúng sinh và cũng là ngày cho các chư tăng ni & chúng sinh tập chung tại chùa để sám hối những gì mình làm trong nữa tháng cũng như bên thiên chúa giáo hay đi lễ vào mỗi tuần vậy đó,cho nên các chùa hay cúng rằm sám hối vào ngày 14. còn ngày 15 là ngày để tưởng nhớ đến tổ tiên, ông bà, cha mẹ và cúng đất đai cúng cho các vị thần phù hộ cho gia đình được bình an và trấn những cái điều không tốt vào nhà mình. Còn ngày 16 là ngày cúng cho các âm hồn lang thang ngoài đường hay trước nhà mình để họ có ăn và không vào nhà mình phá. Nó là vậy đó.. – (Lê Kiên)

có ai khẳng định là ngày đúng ngày sai tóm lại là tâm linh ở mình cúng trước sau ăn – (lethanhha2003)

Tháng 7 âm lịch các ngạ quỹ sẽ được phóng thích từ mồng 2 đến 14/07 âm lịch đến ngày 15/07 âm lịch các ngã qũy sẽ bị bắt trở lại vì vậy người dân thường cúng trước rằm để bố thí cho các cô hồn đó. – (funny0604)

Quê tôi – ở trong Nam – cúng tháng 7 sau ngày rằm mà? Trước ngày Rằm là để cho các chùa cúng, sau ngày rằm mới đến lượt người dân cúng. Đó là lời giải thích của các bậc trưởng thượng trong xóm tôi – (Trần Khánh Dung)

Mình thường hối Má cúng ngày 14 để được ăn sớm, hehehe – (Bi)

Không phải ngày chính rằm thì chỉ là thói biện hộ của thày cúng và dân công sở sành điệu. Thời gian giữa dương gian và âm phủ khác nhau. Những nghi lễ Phật giáo đã được mặc định trong những ngày, giờ, thời gian mà chúng ta đã biết. Ngày Rằm là ngày Rằm, mùng Một là mùng Một, không phải thế thì không phải ngày Phật đâu các bạn ạ. – (Phiêu.)

Dân Thái đen Thái trắng chúng tôi coi rằm tháng 7 là tết “xíp xí” vào đúng 14/7. 15 đã là hết tết. Tết này to không kém tết nguyên đán, ăn uống vui chơi linh đình, mừng mùa màng tốt tươi chứ không có khái niệm xá tội vong nhân gì cả. – (yenbaitv)

Chuyện cúng bái là lòng thành tâm,thành kính đối với các đấng tối cao,đối với tổ tiên . Vì vậy chỉ cần sống có hiếu thì ngày nào cũng là ngày vu lan cả. Chỉ cần có lòng thành tâm cúng bái thì ngày rằm hay 14 có khác gì nhau. Tôi không hiểu nhiều về đạo phật nên suy nghĩ vậy. – (nguyen.theanh)

theo quam niệm dân gian thì có thờ có thiêng, ở quê tôi là cúng vào ngày 15. chúng ta tin vào ngưỡng nào thì cứ theo đó mà cúng. dân gian nói rằng tháng 7 âm lịch là tháng cô hồn. – (daohoaviet)

và đúng hơn và hoàn thiện hơn nữa là các ý kiến trên đều hoàn toàn chính xác,thật ra thì mọi quan điểm lý giải của các bạn nói trên hoàn toàn “hoàn hảo”,vì mỗi người xưa mỗi làng mỗi địa phương có văn hoá tín ngưỡng khác nhau,có nhà cúng đúng rằm người cúng trước 1 ngày tức ngày 14,người cúng sau tức ngày 16,tuỳ thổ nhưỡng văn hoá vùng miền thôi,còn cúng trước hay cúng sau theo tôi là bình thường – (lưu anh văn)

mình nghĩ cúng đúng rằm là tốt . cũng trước cũng ko sao . quan trọng là tâm mình thôi . phật tại tâm mình có tâm thiện thì mình cúng ngày nào cũng đc . đúng ngày sẽ tốt hơn để mình nhớ những ngày lễ quan trọng trong năm . để nhớ tới cội nguồn cũng la cách cho tâm mình thanh thản bình an . – (thoconanconon)

cúng rằm thì phải đúng rằm cúng.không thì cổ nhân đã gọi là cúng tháng 7. – (thanh)

Phú quý sinh lễ nghĩa, vấn đề này bạn nghĩ thế nào thì nó là thế đó… chả có vấn đề gì truớc hay đúng hay sau ngày 15 cả. Tất cả là do mình mà ra. – (ngonchym)

Trong miền Nam từ xưa đến nay cúng rằm thường là ngày 14, 15 còn cúng cô hồn là ngày 16. Nói chung mỗi miền mỗi khác không có quy định chung nào cả – (vinhtoduc)

về khách quan: thông thường người ta hay cúng trước ngày này vì: cúng vào các ngày thứ 7 hay chủ nhật con cháu trong gia đình đông đủ quây quần nhất nên tiện hơn

thứ 2: cũng theo lệ ngưòi ta hay cúng ngày sống trước ngày đã mất, ngày rằm chỉ thắp hương đơn giản, ăn uống thôi, còn đốt vàng mã… thì hay cúng trước đó..

không chỉ ngày rằm tháng 7 mà các dịp cũng lễ trong nhà cũng hay cũng trước là vậy – (Khoahoc)

Cúng ngày rằm (15) hay mồng 1 là truyền thống của dân tộc để tưởng nhớ đến các bậc sinh thành đã về với tổ tiên. Như vậy tùy thuộc vào Tâm của mình thôi. Bởi chắc chẳng có ai đi dưới đấy về mà trả lời là đúng hay sai khi cúng đúng/trước ngày 1, 15. Theo tập quán mà thực hiện là tốt rồi. – (ngxuanvinh)

Không có tục lệ nào cúng trước hay sao bạn à. Rằm tháng 7 nói riêng là mùa vu lang báo hiếu, ngày 15/7 đến chùa thắp hương cầu nguyện an lành cho cha mẹ còn sống, ai bất hạnh không còn cha mẹ thì cầu siêu tưởng nhớ cha mẹ nơi chín suối và kèm theo tục cài hoa hồng, vàng, trắng tượng trưng. Tháng 7 âm lịch nói chung là tháng các âm hồn được đặc xá cho về hưởng thực cúng thí. Nhà tù dương trần hay địa ngục cũng đều có tính nhân văn trong đó cả. – (diepchauminhtr)

Mình cũng chẳng biết, chỉ biết ở quê mình ăn rằm 14 to hơn 15. – (Mr.Duc)

Theo phong tục quê mình cho rằng đến ngày 13 là tàu/thuyền chở vàng mã rời bến mang đồ mã xuống cõi âm, nên nếu cúng vào đúng ngày 15 thì tàu chở mã đi mất rồi, do đó muốn đồ cho tổ tiên thì phải cúng, nhất là cần phải đốt mã trước ngày 15 (khoảng từ 10 đến 13). – (Dothien Hoang)

Cúng trước ngày rằm vài ngày 15/7 là quỷ được thả cửa ( xá tội vong nhân) vì vậy nếu ta đốt tền vàng quần áo vào ngày hôm đó thì người nhà mình dưới âm không nhận được mà quỷ sẽ tranh cướp mất – (dung)

đây là lễ của người Hoa, báo hiếu, cúng dường, cha mẹ, tổ tiên.. – (nguyễn)

14 hay 15 cúng ngày nào trong tháng 7 đều được, – (diemvuong)

Không chỉ ngày rằm tháng 7 người ta mới cúng trước đó ít nhất 1 ngày mà cả các ngày rằm khác cũng vậy. Ví dụ cúng mồng 1 thì tối 30 hay cúng rằm thì tối 14.

– (huycuongkt)

Vì ngày 15 các cao hồn đều về chùa nghe tung kinh giảm tôi lỗi – (truongna)

Nhớ đến tổ tiên và người thân đã đi xa ở dưới cõi âm nên cúng lễ dịp này, nhà tôi cúng trước ngày 15 vì muốn tổ tiên và người thân dưới ấy được hường trước và chọn vẹn tình cảm của gia đình mình, còn đến ngày 15 thì các Đình và Chùa cũng có cúng lễ cho tất cả cùng được hưởng. . – (Trần Thủy)

Theo tôi nghĩ thì tất cả những điều luật về tâm linh đều do con người đặt ra. Mỗi dân tộc, mỗi vùng miền đều có những điều luật khác nhau. Tất cả đều hướng thiện và mong cho cuộc đời này có nhiều điều tốt lành. Các cụ có câu: “Tâm xuất Phật biết”. Việc cúng ngày rằm tháng bảy đúng ngày hay trước vài ngày đều có ý nghĩa như nhau. Ở trần gian hay âm phủ thời nào chẳng có người ngay kẻ gian. Căn bản là sự thành tâm của người thắp nén nhang, dâng lễ vật mà thôi. – (Huỳnh Bá Chung)

Vào ngày rằm tháng 7, các vong đi lên nhiều quá nên làm trước phát cháo, ngô, khoai sắn cho các vong vào các ngày trước để tránh tắc đường, chen lấn, xô đẩy. Tiếp nữa là vào đúng ngày đấy cửa âm sẽ đóng vào đúng 12h trưa nên đi sớm về sớm khỏi bị ở ngoài. – (thulan)

Ngày rằm (15) trong gia đình thường có người ăn chay, người không. Do vậy, để cúng rằm mà mọi người cùng …hưởng nên họ quyết định cúng trước ngày rằm, đơn giản là thế thôi??? – (Tôi yêu VN)

Cúng rằm 14,15 đều được, nhưng ngày 15 phải cúng trc 12h trưa vì sau 12h cửa âm sẽ đóng lại vong ko nhận đc đồ nữa. Mà buổi trưa ngày 15 khó chuẩn bị nên nhiều ng sẽ cúng tối hôm 14 cho tiện. – (hgtt)

Tôi chỉ có một điều. Rằm tức là ngày 15 âm lịch vậy rằm tháng bảy thì cứ đúng 15 tháng bảy mà cúng còn cùng trước sao không bảo tết 12 hay 13 tháng bảy đi cho rồi sao gọi là cúng rằm – (khaikv)

tại sao phải cúng rằm tháng 7 trứơc ngày 16 thì mới đúng chứ – (hùynhhưng)

Theo như mẹ mình nói thì “Tháng bảy âm ti địa phủ sẽ mở cửa Quỷ Môn Quan, các vô hồn có thể ra ngoài dạo chơi như một đặt xá và kiếm thức ăn” nên người ta thường cúng cho những cô hồn lang thang vào tháng bảy.

Ở gần khu mình sống thì đa số người Quảng Đông thường cúng vào ngày 14 âm lịch, người Tiều thì 15 âm lịch, người Việt 16 âm lịch – (Jack)

vì mọi người muốn kéo dài ngày cúng cho vui…như lể tết vậy. – (trantram)

Người ta thường cúng trước ở nhà vì đến ngày 15 tháng 7 các linh hồn đều về hết các đình chùa, không ai ở lại để ăn đồ cúng của các gia đình nữa. – (thongvra)

theo minh thi ram thang bay tuc la ngay xoa tui vong nhan, len moi nguoi deu co the cung to tien chứ ko phai ngay ma cac ma quái den, da la tuc lệ va văn hóa viet nam thi chung ta hay lam theo va hay ton trong van hoa, ko len me tin hay vẽ them ra. – (nguyen van dang)

cúng rằm là 15,chẳng qua người ta hay suy diễn thôi.phong tục từ xưa,vùng miền ước lệ,người dương gian hay tính toán kiểu tắc đường về quê trước 1 ngày… – (nguyên đức tuân)

Các bạn ơi.

Điều này chẳng phụ thuộc vào điều nào cả. Ở nhà cúng rằm trước ngày 15, tại vì ngày 15 phải để dành cho việc lên Chùa nghe kinh Phật, hưởng được nhiều ơn đức hơn thôi các bạn ạ.

– (Lê Đình Tuấn)

Cung phai dung ngay 15 – (Duong truong)

Mình thấy mỗi người một ý nhưng quan niệm từ gia đình là. Ngày 14 cúng mặn và ngày 15 cúng chay, – (Lê Ly)

Ông cha ngày xưa cúng truyền thừa lại ta cứ cúng thôi. – (dreamtrinh)

Đó chính là tín ngưỡng dân gian hay còn gọi là Pháp thế gian đó bạn, cái này ko phải của Phật Giáo thường thì người miền Bắc tin rằng nếu cúng đúng ngày rằm sẽ rước thêm âm binh và cô hồn vào trong nhà mình. Trong miền Nam thì thường họ cúng đúng vào rằm luôn. Ở miền Bắc cúng thổ công, gia tiên, ông bà bao giờ cũng trước ngày 12 sau đó sau ngày 15 trở đi mới cúng cô hồn, chúng sinh. Có người còn cho rằng nếu cúng thổ công gia tiên trùng vào ngày chúng sinh thì sợ ông bà mình ….không được ăn vì các cô hồn vồ hết. – (Bean Toan)

Cúng vàng mã hay hoá vàng mã không có trong Phật Giáo đó là truyền thong dân gian! Nhưng cúng âm linh Co Hồn thì có trong Phật Giáo! – (T Liễu Nguyên)

Lễ Vu Lan báo hiếu, hãy cúng bằng cả tấm lòng thì không sợ cha mẹ ông bà mình không nhận được. – (Hiểu Bình)

Ngày rằm tháng bảy. Còn gọi là ngày xoá tội vong nhân. Vậy mình nên làm cơm cúng vào đúng ngày rằm và nên cúng vào sáng sớm vì theo mình được biết thì bắt đầu 00h ngày rằm tất cả đc về với gd – (Khuat khang)

Ngày rằm tháng 7 có nguồn gốc được ghi rỏ trong Kinh Vu Lan và Kinh Báo Ân Cha Mẹ: Nhân vào một buổi sang đi khác thực, Đức Phật thấy một đông xương khô Ngài đảnh lễ. Tôn giả A nan thấy vậy nên hỏi về việc này nên được Đức Phat dạy rỏ về công ơn của Cha Mẹ ở kiếp này và nhiều kiếp trước gọi là Pháp Giới Đa Sanh Phụ Mẫu. Nhân sự kiện này Ngài Đại Hiếu Mục Kiên Liên nhớ đến người mẹ vừa quá vãng nên dung than thong quán sát thấy mẹ của mình bị đoạ vào chon địa ngục mà tự sức Ngài không cứu được nên về hỏi Đức Phật thì đức Phật dạy vào rằm tháng 7 cúng dường 10 phương Tăng và bố thí và phóng sanh và đem công đức đó hồi hướng cho cha mẹ hiện đời và nhiều đời thì cha mẹ sẽ nhờ đó mà vãng sanh về tịnh độ. Cúng cô hồn cũng là hình thức báo hiếu trong ý nghĩa Pháp Giới Đa Sanh Phụ Mẫu. – (T Liễu Nguyên)

tại vì cúng trước thì mua đồ sẽ rẻ và dễ hơn sau mùng 15/7 – (lucife)

vì rằm tháng 7 la ngày xoá tội vong nhân nên có nhiều ma trên trần gian , nếu cúng và đốt vàng mã vào ngày 15 thì bị ma lang thang cướp hết , ma nhà mình không nhận được . – (caotrunghieu)

Thường rằm tháng 7 là ngày xá tội vong nhân. Các linh hồn được đi chơi, nên người ta phải cúng lễ trướng ngày (Trong niên từ 01 đến 14). Chúng ta cúng và hoá tiền, vàng, áo, mũ trước ngày rằm để đúng ngày 15 các linh hồn có quần áo mới, tiền tiêu. Đó chính là lý do mà ta cúng rằm tháng 7 trước ngày 15 âm lịch. – (Nhat)

Có thờ có thiêng, có kiêng có lành! – (Xuan loc)

.Nếu con cháu mà không cúng các cụ trước thì ngày rằm các cụ sẽ chưa nhận được lại phải chờ đến năm sau mới nhận đc.Bởi ngày 14,7 là chuyến đò chở mã xuất bến ,nên phải cúng trước ngày rằm – (huy nguyễn)

các bạn muốn biết rõ hãy tìm đọc kinh vu lan báo hiếu phụ mẫu thì rõ thôi – (tăng)

có người âm hả các bác? – (Danang)

khong ai chung minh dieu nay dau a ,dieu chinh xac la muon an che som thoi – (tam)

Mọi người nói cứ như thể mọi người đã xuống dưới đó rồi vậy. Cốt là ở cái tâm mình thôi. – (Silver)

Ca dao có câu “Hôm nay 14, mai rằm. Ai muốn ăn oản lên nằm với sư”! Hic! Chả biết thế nào? Chắc lên từ đêm 14 rạng ngày 15. – (Nguyễn Văn Nội)

tất cả đều do quan niệm của con người mà ra cả.thế giới tâm linh thật sự có tồn tại,vẫn chưa có bằng chứng khoa học nào chứng minh cả.vậy nên con người ta quan niệm thế nào thì thế giới tâm linh là như vậy. mọi sự giải thích chỉ là cho hợp lý vs cách suy nghĩ của người dương gian.vì ko biết chính xác nên ta phải làm theo quan điểm của số đông và sợ ko dám làm ngược lại vì sẽ thấy ko an tâm,mà nếu chẳng may bản thân hay gia đình có chuyện gì thì lại nghĩ là do ko làm giống mọi người. – (heroiszero)

Sai het sai het ngay xa toi vong nhan khong phai ai cung duoc ve . Cung nhu tren tran gian vay ngay an xa. – (cautrung)

tại vì trước 15/7 giá vàng mã rẻ hơn – (dinhnhiqni)

Cũng như nghỉ 2/9 hoặc 1/5, có ai về đúng ngày đó đâu, thường về quê trước 1 đến 2 ngày. – (Trần Canh)

Theo ý tôi cúng trước ngày 15 là dịp các vị buôn bán tăng giá vàng mã,làm như thế mới có lời nhiều.Nguyên nhân do các vị đó? – (cachang)

Theo phật giáo thì mở cửa từ ngày 2-14 còn theo đạo giáo thì hình như đúng ngày 15 mới mở. – (Mình Không)

ơ thế sao rằm tháng 7 mổ gà mổ lợn để cúng không phải là xát sinh hả? .. gieo nhân nào ăn quản đấy – (dainghia_vt9x)

các bạn phải phân biệt ngày rằm tháng 7 trong dân gian và trong Phật giáo có ý nghĩa khác nhau. Ngày rằm tháng 7 trong Phật giáo gọi là ngày Lễ Vu Lan có bắt nguồn từ sự tích của tôn giả Mục Kiền Liên. Còn trong dân gian ngày rằm tháng bảy được gọi là ngày xá tội vong nhân là ngày cúng cô hồn, đây cũng là ngày cúng quan trọng nhất trong năm “Cúng quanh năm cũng không bằng rằm tháng bảy” – (Vịt Con Xấu Xí)

Theo luật nhân quả, thì nếu bạn có tâm niệm thiện, nuoi dưỡng lòng từ bi, tạo nhiều nghiệp lành, biết sám hối tội lỗi thì nghiệp xấu sẽ giảm, chứ Phật không ban phước hay gián họa cho ai…”sống thuận theo chân lý, thì chân lý sẽ soi sáng trong bạn” – (Võ minh phước)

【#4】17 Bài Văn Tế Thập Loại Cô Hồn Dành Cho Chẩn Tế

Đầy đủ 17 bài văn tế thập loại Cô Hồn dành cho chẩn tế âm linh cô hồn, chiến sĩ trận vong, đồng bảo tử nạn, chiêu hồn, giải oan bạt độ, cúng tế thí thực.

KỆ CÚNG THÍ CÔ HỒN

(Thí thực cô hồn I)

Trước cửa Phật lập đàn phổ thí,

Cho trọn đều quân lợi âm dương,

Quang minh tỏ khắp mười phương,

Kính dâng một nén tâm hương ngạt ngào.

Cơn mưa tuệ dồi dào tưới khắp,

Bóng mây từ che rợp mọi nơi,

Lọt đâu dưới đất trên trời,

Từ bi tế độ muôn đời viên thông.

Trên đức Phật rất công rất chính,

Dạy cho đời luyện tính tu tâm,

Thương người đọa kiếp tối tăm,

Giáo Hội chỉ dẫn khỏi lầm khỏi mê.

Lòng từ mẫn mọi bề thương hết,

Nay gặp ngày Đản tiết nên quy,

Trước Đàn tề chỉnh oai nghi,

Tuyên dương để chứng quy y thực hành.

Hạnh giải thoát chúng sinh khổ não,

Cõi Ta bà sáu đạo loanh quanh,

Âm ty địa ngục đã đành,

Dương gian địa ngục nỗi tình thêm thương.

Nói không xiết trăm đường đày đọa,

Rồi mang tai trát họa vào thân,

Không sao khỏi nghiệp tham sân,

Ăn quanh, ăn quẩn muôn phần thiết tha.

Nào những hạnh ranh ma quỉ quái,

Dối lừa nhau chẳng nghĩ nên chăng?

Bo bo giữ thói ở xằng,

Cái dây oan nghiệt chằng chằng ngày đêm.

Nào những hạng lòng chim dạ thú,

Ghét ghen nhau làm đủ tội tình,

Khư khư quen thói chẳng lành,

Cái vòng cương tỏa loanh quanh buộc vào.

Nào những kẻ yếu đau què quặt,

Phận hẩm hiu trời bắt chịu đày,

Thật là khổ ách không may,

Nào ai có muốn thân này thế đâu!

Nào những kẻ âu sầu lòa lẫm,

Số cưu mang câm điếc phải đành,

Thực là khốn khổ thương tình,

Ý ai chẳng muốn thân mình phong quang?

Vì túc trái ngỡ ngàng sao đó,

Hoặc tiền nhân nghiệp thọ thế nào,

Thực lòng luống những lao đao,

Cửa từ bi nỡ để ngơ sao đành.

Thầy nay dạy thực hành chánh đạo.

Dòng Thiền học Phật giáo chủ trương,

Quang minh quảng đại vô lường,

Ba thừa giáo hóa mọi phương thi hành.

Giữ một mực chí thành tinh tiến,

Dập các duyên hư huyễn hão huyền,

Những môn tà đạo lưu truyền,

Nay quy Phật đạo cấp liền bỏ đi.

Trước Đàn ngoại lễ nghi các thưùc,

Trên đài sen tỏ đức huyên minh,

Thầy đây lập nguyện chí thành,

Tuyên dương diệu pháp chúng sinh thỏa nguyền.

Hiện nay có chư Thiên hậu thổ,

Cửa từ bi tế độ không cùng,

Đạo tràng Thiền học lưu thông,

Tu hành chân thật thủy chung một lòng.

Đàn phổ thí phẩm vật nghi tiết,

Thầy dạy thêm cho biết công duyên,

Những người quỳ trước Phật tiền,

Đem câu nhân quả phổ truyền rộng ra.

Dặn hết thảy gần xa thiện tín,

Nên thành tâm phát nguyện quy y,

Nương nhờ Tam bảo hộ trì,

Ăn chay niệm Phật mà quy cho tròn.

Xem nhân thế càn khôn che chở,

Nhứt hoàn hương duyên nợ phong trần,

Hỡi ai kết quả tạo nhân,

Xem cơ mầu nhiệm muôn phần không xa.

Muốn xét lại cho hay nghiệp trước,

Hiện thọ đây thấy được tỏ tường,

Muốn mong kiếp nữa vẻ vang,

Sự hành trì phải sửa sang tự giờ.

Nhân mấy quả trong cơ chuyển hóa,

Nhân có đầy thì quả mới nên,

Thầy nay chỉ dẫn căn nguyên,

Cõi dương gian đó hiển nhiên rõ ràng.

Ơn đức Phật lời vàng khuyên nhủ,

Dạy chúng sinh tín thụ cho hay,

Phúc thời vui vẻ như đây,

Họa thời khổ não đọa đầy như trên.

Nam Mô Sinh Tịnh Độ Bồ-tát Ma ha tát.

-Trích Kinh Nhật Tụng, chùa Hoằng Pháp xb, Sàigòn, 1971

Ngạ quỷ đói

SÁM TRIỆU CÔ HỒN

(Thí thực cô hồn 2)

Hỡi linh hồn trước sau tề tựu,

Nghe lời khuyên để rũ tội mình,

Quan Âm Địa Tạng oai linh,

Thích Ca Phật Tổ câu kinh giải nàn.

Hỡi uổng tử hồn oan phưởng phất!

Noi tâm lành của Phật làm gương,

Diêm La cực khổ trăm đường,

Mau tu thì đặng Tây phương thâu về.

Hỡi linh hồn chết chìm đáy biển,

Và bao người độc dược bỏ thân!

Tiếng chuông tỉnh thức dần dần,

Đừng ham cõi tục trầm luân luân hồi.

Hỡi các hồn chết thiêu chết chém,

Hổ giảo thân bị yểm bị trù!

Kíp tìm kinh kệ sớm tu,

Khỏi vòng xích sắt tội tù nghiệp oan.

Hỡi hồn thác trong cơn binh lửa,

Chết phong ba chết giữa núi non!

Nếu nghe chuông dục bon bon,

Mùi hương tỏa khắp hồn còn nghe kinh.

Hỡi hồn ơi! Vì tình chư Phật,

Ta khuyên hồn đất Phật là nơi,

Các hồn sẽ đặng thảnh thơi,

Hưởng mùi hương Phật suốt đời đặng an.

Hỡi hồn đã lỡ làng trót dại,

Theo đàng taø quỉ quái yêu tinh,

Nay đây khẩn nguyện chân kinh,

Khuyên hồn phải rán sửa mình cho tinh.

Hỡi hồn ở đầu ghềnh cuối bãi,

Nương gió mây thừa thải từ xưa!

Hồn ơi! Hồn hỡi! Tránh chừa,

Những người gian ác dối lừa Phật tiên.

Hỡi hồn tỉnh trông đèn Phật Tổ,

Ngài ra ơn gột khổ sanh linh.

Hỡi hồn bị bịnh bỏ mình,

Và hồn dậy phá chân kinh loạn trần.

Nghe ta kinh kệ giải phân,

Cầu cho hồn đặng muôn phần yên vui.

Hỡi hồn ơi! Muốn vui muốn sướng,

Ta khuyên hồn đừng tưởng tà tâm,

Mùi hương lư ngọc bổng trầm

Khéo tu hồn sẽ an tâm giữa trời.

Các hồn bị cá xơi, rắn cắn,

Cùng những hồn số vắn vô danh,

Hãy nghe kinh kệ ăn năn,

Rồi đây hồn sẽ vô ngần thảnh thơi.

Hỡi những hồn vì lời gièm xiểm,

Nên hủy mình chết lụn căm gan,

Sớm nghe kinh, chiều sẽ an nhàn,

Phật kia dẫn lối chỉ đàng hồn tu.

Nam mô độ hộ muôn hồn,

Vì hồn trót dại quáng mù từ xưa.

Kinh là phước, cầu đưa tội lỗi,

Tu là lành, sám hối ngàn năm.

Lạy cầu chư Phật từ tâm,

Khẩn van Bồ-tát giáng lâm cứu hồn.

Tiếng chuông ngân hương thơm giải thoát.

Nước nhành dương rảy mát xác phàm,

Hỡi hồn cư ngụ muôn am!

Về đây hưởng thực cầu van sửa mình.

Nam Mô Bộ Độ Đế Rị Già Rị Đa Rị Đát Đa Nga Đa Gia (3 lần)

-Trích Tam Bảo Tôn Kinh, Thích Ca Tự xb, Sàigòn, 1974

-Bài dùng để cúng thí thực cô hồn trong các buổi lễ.

SÁM VĂN CHIÊU HỒN CA

(Thí thực cô hồn 3)

NGUYỄN DU

Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt,

Toát hơi may lạnh ngắt xương khô;

Não người thay buổi chiều thu!

Ngàn lau khóm bạc, lá ngô dòng vàng,

Đường bạch dương bóng chiều man mát,

Ngọn đường lê lác đác mưa sa,

Lòng nào lòng chẳng thiết tha?

Cõi dương còn thế huống là cõi âm.

Trong trường dạ tối tăm trời đất,

Xót khôn thiêng phảng phất u minh!

Thương thay thập loại chúng sinh,

Phách đơn, hồn chiếc, lênh đênh quê người.

Hương khói đã không nơi nương tựa,

Phận mồ côi lần lữa đêm đêm;

Còn chi ai khá ai hèn,

Còn chi mà nói kẻ hiền người ngu!

Tiết đầu thu dựng Đàn giải thoát,

Nước tịnh bình rưới hạt dương chi.

Muôn nhờ Phật lực từ bi,

Giải oan cứu khổ hồn về Tây phương.

Nào những kẻ tính đường kiêu hãnh,

Chí những lăm cướp gánh non sông;

Nói chi đương thuở thị hùng,

Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau!

Bỗng phút đâu mưa bay, ngói lở,

Khôn đem mình làm đứa sất phu;

Giàu sang càng nặng oán thù,

Máu tươi lai láng, xương khô rã rời.

Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc,

Quỷ không đầu van khóc đêm mưa;

Đã hay thành bại là cơ,

Mà u hồn biết bao giờ cho tan!

Nào những kẻ màn loan, trướng huệ,

Nhưõng cậy mình cung quế Hằng nga;

Một phen thay đổi sơn hà

Mảnh thân chiếc lá biết là làm sao?

Trên lầu cao dưới dòng nước chảy,

Phận đã đành trâm gãy bình rơi;

Khi sao đông đúc vui cười,

Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương!

Thảm thiết nhẽ không hương, không khói,

Hồn ngẩn ngơ dòng suối, ngàn sim;

Thương thay chân yếu tay mềm,

Càng năm càng héo, càng đêm càng rầu.

Nào những kẻ mũ cao áo rộng,

Ngòi bút son thác sống ở đây;

Kinh luân chất một túi đầy,

Đã đêm Quản, Cát, lại ngày Y, Chu.

Thịnh mãn lắm oán thù càng lắm,

Trăm loài ma mồ nấm chung quanh;

Nghìn vàng không đổi được mình,

Lầu ca, viện xướng, tan tành còn đâu?

Kẻ thân thích vắng sau vắng trước,

Biết lấy ai bát nước nén nhang?

Cô hồn thất thểu dọc ngang,

Mạng oan khôn nhẽ tìm đường hóa sinh.

Nào những kẻ bày binh bố trận,

Đem mình vào cướp ấn Nguyên nhung.

Gió mưa sấm sét đùng đùng,

Rải thây trăm họ, làm công một người.

Khi thất thế cung rơi, tên lạc,

Bãi sa trường, thịt nát máu rơi;

Bơ vơ góc biển chân trời,

Nắm xương vô chủ biết vùi nơi nao?

Trời thăm thẳm mưa gào gió thét,

Khí âm huyền mờ mịt trước sau;

Ngàn cây nội cỏ rầu rầu,

Naøo đâu điếu tế nào đâu chưng thường?

Cũng có kẻ tính đường trí phú,

Làm tội mình nhịn ngủ bớt ăn;

Ruột rà không kẻ chí thân,

Dẫu làm nên nữa dành phần cho ai?

Khi nằm xuống không người nhắn nhủ,

Của phù vân dù có như không;

Sống thời tiền chảy bạc ròng,

Thác không đem được một đồng nào đi.

Khóc ma mướn thương gì hàng xóm,

Hòm gỗ đa, bó đóm đưa đêm;

Ngẩn ngơ nội lộc đồng chiêm,

Tàn hương, giọt nước, biết tìm vào đâu?

Cũng có kẻ rắp càu chữ quí,

Dấn mình vào thành thị lân la;

Mấy thu lìa cửa, lìa nhà,

Văn chương đã chắc đâu mà chí thân?

Dọc hàng quán phải tuần mưa nắng,

Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng?

Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng,

Anh em thieân hạ láng giềng người dưng.

Bóng phần tử xa chừng hương khúc,

Bãi tha ma kẻ dọc người ngang;

Cô hồn nhờ gởi tha hương,

Gió trăng hiu hắt, lửa hương lạnh lùng.

Cũng có kẻ vào sông ra bể,

Cánh buồm mây chạy xế gió đông;

Gặp cơn giông tố giữa dòng,

Đem thân chôn giấp vào lòng kình nghê.

Cũng có kẻ đi về buôn bán,

Đòn gánh tra chín dạn hai vai;

Gặp cơn mưa nắng giữa trời,

Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?

Cũng có kẻ mắc vào khóa lính,

Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan;

Nước khe cơm vắt gian nan,

Dãi dầu nghìn dặm, lầm than một đời.

Buổi chiến trận mạng người như rác,

Phận đã đành đạn lạc tên rơi;

Lập lòe ngọn lửa ma chơi,

Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương.

Cũng có kẻ nhỡ nhàng một kiếp,

Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa;

Ngẩn ngơ khi trở về già,

Ai chồng con tá biết mà cậy ai?

Sống đã chịu một đời phiền não,

Thác lại nhờ hớp cháo lá đa;

Đau đớn thay phận đàn bà,

Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

Cũng có kẻ nằm cầu gối đất,

Rồi tháng ngày hành khất ngược xuôi;

Thương thay cũng một kiếp người,

Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan.

Cũng có kẻ mắc đoàn tù rạc,

Gởi mình vào chiếu rách một manh;

Nấm xương chôn rấp góc thành,

Kiếp nào cởi được oan tình ấy đi.

Kìa những đứa tiểu nhi tấm bé,

Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha;

Lấy ai bồng bế xót xa.

U ơ tiếng khóc, thiết tha nỗi lòng.

Kìa những kẻ chìm sông lạc suối,

Cũng có người sẩy cỗi sa cây;

Có người gieo giếng thắt dây,

Ngược trôi nước lũ, kẻ lây lửa thành,

Người thì mắc sơn tinh thủy quái,

Người thì sa nanh sói ngà voi;

Có người hay đẻ không nuôi,

Có người sa sẩy, có người khốn thương.

Gặp phải lúc đi đường nhỡ bước,

Cầu Nại hà kẻ trước người sau;

Mỗi người một kiếp khác nhau,

Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ?

Hoặc là ẩn ngang bờ, dọc bụi,

Hoặc là nương ngọn suối chân mây;

Hoặc là điếm cỏ bóng cây,

Hoặc là quán nọ, cầu này bơ vơ.

Hoặc là nương thần từ Phật tự,

Hoặc là nhờ đầu chợ, cuối sông;

Hoặc là trong quảng đồng không,

Hoặc nơi gò đống, hoặc vùng lau tre.

Sống đã chịu mọi bề thảm thiết,

Ruột héo khô, dạ rét căm căm;

Dãi dầu trong mấy mươi năm,

Thở than dưới đất, ăn nằm trên sương;

Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn,

Lặn mặt trời lẩn thẩn tìm ra;

Lôi thôi bồng trẻ dắt già,

Có khôn thiêng nhẽ! Lại mà nghe kinh.

Nhờ pháp Phật siêu sinh Tịnh độ,

Bóng hào quang cứu khổ độ ưu;

Rắp hòa tứ hải quần chu,

Não phiền trút sạch, oán thù rửa không.

Nhờ đức Phật thần thông quảng đại,

Chuyển pháp luân tam giới thập phương,

Nhởn nhơ Tiêu Diện đại vương,

Linh kỳ một lá dẫn đường độ sinh.

Nhờ Phật lực uy linh dũng mãnh,

Trong giấc mê khuya tỉnh chiêm bao;

Mười loài là những loài nào,

Gái trai, già trẻ đều vào nghe kinh.

Kiếp phù sinh như bào như ảnh,

Có chữ rằng: vạn cảnh giai không;

Ai ơi lấy Phật làm lòng,

Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.

Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo,

Của có chi bát nước nén nhang;

Gọi là manh áo thoi vàng,

Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.

Ai đến đấy dưới trên ngồi lại,

Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu:

Phép thiêng biến ít thành nhiều,

Trên nhờ Tôn giả chia đều chúng sinh.

Phật hữu tình từ bi phổ độ,

Chớ ngại rằng có có không không;

Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng,

Nam mô nhất thiết siêu thăng thượng đài.

-Trích Tập san Hoằng Pháp số 2, Tổng Vụ Hoằng Pháp xb. Sàigòn, 1973

VĂN TẾ CÔ HỒN

(Thí thực cô hồn 4)

TRÀ AM VIÊN THÀNH

Tượng nghe đại địa sơn hà,

Luống trong sinh tử cửa nhà vốn không.

Cô hồn hoạnh tử yểu vong,

Nương thuyền Bát nhã thoát vòng mê luân.

Trên thì tướng tướng, vương công,

Dưới thì công, cổ, sĩ, nông chư vì.

Gái trai những kẻ tôn ti,

Hoặc là tử trận, có khi oan tình.

Hoặc là vương pháp gia hình,

Uống trúng độc dược hại mình tự nhiên.

Sa cơ sống gió chìm thuyền,

Lỡ làng lời hẹn, cưu phiền mang chung.

Xà thương hổ đả hải hùng,

Huyết hồ sản nạn(1) phút trông sẩy rồi!

Hoặc là mắc phải thiên lôi,

Vong thân chú trớ bồi hồi mạng chung.

Hoặc là đường sá lỡ làng,

Mắc phải dịch lệ ôn hoàng chẳng dung.

Hà sa phẩm loại khôn cùng,

Lòng thành tín chủ mời chung các loài.

Từ rằng theo bóng Như lai,

Đã không cứu vớt lấy ai nương nhờ.

Từ đường đâu có phụng thờ,

Cô đơn độc lập, bơ phờ cỏ cây.

Thảm thương mặt nước cung mây,

Rả rời xương thịt, hồn bay lạc loài.

Chẳng hay thử vãng hàn lai,

Bốn mùa cốt nhục không ai kiếm tìm.

Thân bằng ít kẻ tri âm,

Lấy ai cứu vớt mà hòng thoát ly!

Thảm thương về chốn thổ ty,

Luôn trong diểu diểu lấy gì mà ra!

Nương nhờ tín chủ toàn gia,

Thọ tài hưởng thực mà qua Liên trì.

Từ rằng vâng phép từ bi,

Siêu phàm nhập thánh liễu kỳ oan thân.

Sớm khuya cửa Phật ân cần.

Phù trì gia chủ thừa ân những ngày.

Đừng còn theo thói mê say,

Tham lam quyết đoạn, từ rày lánh xa.

Nam mô đức Phật Di Đà,

Phóng quang tiếp dẫn hà sa cô hồn.

Trước triệu thỉnh lủy triều đế chủ,

Trên ngai vàng trải nối hầu vương.

Chín tầng điện các đài gương,

Nước non muôn dặm, mười phương cầm quyền.

Nghìn năm vương khí danh truyền.

Xe loan để tiếng oán phiền chưa thôi!

Tiếng quyên kêu nguyệt bồi hồi,

Gành đầu huyết nhiễm, hận thôi chín trường.

Tiền vương hậu bá khôn lường,

Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

Lại thỉnh kẻ Ngũ lăng tài tuấn,

Đấng hiền lương trí dũng khôn ngoan.

Giá trong tieát trắng làm quan,

Một lòng báo quốc nên trang đan thành.

Nam châu bắc huyện thơm danh,

Theo nơi tang thác bỏ đành quê hương.

Thiên nhai hải giác khôn lường,

Sa cơ tạo hóa theo đường Bồng lai.

Than ôi! Những đấng anh tài,

Theo dòng thệ thủy cách đài dương quan.

Lại thỉnh kẻ đăng đàn bái tướng,

Chức phong hầu đứng trước muôn dân.

Sức dời bảo đỉnh nghìn cân,

Trường thành muôn dặm vinh thân tháng ngày.

Trước hùm sương nhiễm, ghê thay!

Sa cơ một phút đổi thay công hầu.

Thương ôi người ngựa ở đâu,

Xui nên họa cả thảm sầu khôn dung.

Xiết bao tướng súy anh hùng,

Lánh nơi vinh hiển theo cùng âm ty.

Những người sa trụy bất kỳ,

Nghe lời triệu thỉnh đồng thì đến đây.

Lại thỉnh kẻ văn nhân tài tử,

Chốn thư phòng cửa Khổng vào ra,

Bút nghiên kinh sử ngâm nga,

Văn chương tu luyện đợi khoa nương mình.

Mơ màng lấp lóa đèn huỳnh,

Công phu khổ dụng đăng trình gặp khi.

Mười năm tân khổ mong thi,

Naøo hay một phút xa kỳ công danh!

Hồng lô tính tự rành rành,

Đất vàng một nấm lấp thành văn chương.

Văn nhân tài tử không lường,

Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

Lại thỉnh kẻ xuất trần thượng sĩ,

Nương rừng Thiền lánh chỗ phàm phu.

Cao Tăng quyết chí tinh tu,

Trăm năm giới luật công phu dùi mài.

Giữ gìn phạm hạnh hôm mai,

Tỳ-kheo Ni chúng khác người thế gian.

Hoàng hoa, thủy trúc luận bàn,

Không đàm bí mật nên mang thế tình.

Bóng đèn lấp lóa hư minh,

Than ôi! Một phút dứt tình Thiền lâm.

Nghe lời Bát nhã, Phạm âm,

Truy y Thích tử lại lâm đáo đàn.

Lại thỉnh kẻ hoàng quan dã cảnh,

Chốn Bồng lai sớm luyện đan tiên.

Nương theo thạch động đào nguyên,

Tu tâm luyện tính chu truyền thảnh thơi.

Danh thơm chưa nức trong đời.

Vô thường khi đã đổi dời công phu.

Thương ôi! Sương tuyết dãi dầu,

Tiêu điều gió thảm hoa sầu hơi sương.

Huyền môn đạo sĩ khôn lường,

Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

Lại thỉnh kẻ nhung y chiến sĩ,

Với những kẻ lâm trận kiện nhi.

Cầm bạch tiết, vác hồng kỳ,

Tức gan quyết chí trận kỳ hơn thua.

Trung thành hết sức phò vua,

Nào hay một phút xa đưa dặm trường.

Thương ôi! Huyết lụy sa trường,

Thà ôm xương trắng để đường cho ai!

Trận vong binh sĩ an tài,

Nghe lời triệu thỉnh đáo đài lai lâm.

Lại thỉnh kẻ cung phi mỹ nữ,

Chốn lâu đài khuê các vào ra.

Ướp xông hương xạ diềm dà,

Phấn thoa sáp đánh màu da khác người.

Mặt hoa mày liễu tốt tươi,

Hình dung yểu điệu, miệng cười như hoa,

Hồn tiên kim ốc vào ra,

Hoa tàn nguyệt khuyết phút đà thấy đâu!

Thương ôi! Ngọn gió thổi sầu,

Đống xương khô héo dãi dầu cỏ sương.

Quần thoa phụ nữ khôn lường,

Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

Lại thỉnh kẻ giang hồ kỵ lữ,

Trải tháng ngày mua bán tranh đua.

Đổi dời lừa tráo hơn thua,

Đào công nối nghiệp bán mua so lường.

Chẳng ngờ nổi trận phong sương,

Mình vào ngư phúc dương trường, khốn thay!

Hồn dời bể bắc dặm dài,

Phách về đông hải ngàn ngày thảnh thơi.

Tha hương lữ khách lỡ thời,

Nghe lời triệu thỉnh lại nơi Pháp đàn.

Lại thỉnh kẻ hoài thai thập nguyệt,

Chịu đắng cay tọa thảo tam triêu;

Bằng khi loan phụng hòa yêu,

Hùng bi hiệp mộng xiết bao tháng ngày.

Gái trai còn hãy chưa hay,

Đêm trường mẫu tử, phút này giai quy.

Thương ôi! Hoa nở chính kỳ,

Nào hay một phút gặp khi mưa dầm.

Huyết hồ sản nạn lỗi lầm,

Nghe lời triệu thỉnh lai lâm pháp đàn.

Lại thỉnh kẻ nhung di man địch,

Tiếng chẳng thuần ngọng lịu như câm.

Lại còn trong dạ hiểm thâm,

Cưu điều hung dữ lưu tâm hại người.

Khinh khi Tam bảo chê cười,

Tội khiên chất để bằng mười hà sa.

Ngổ ngang mắng mẹ khinh cha,

Ác cao như núi chết mà không tha.

Chẳng may hồn phách la đà,

Mịt mờ vũ trụ bao là đớn đau!

Thương ôi! Ẩn ẩn phương nào,

Ngày xuân chẳng thấy ra vào u quan!

Hỡi người bội nghịch si ngoan,

Nghe lời triệu thỉnh lai quang pháp đàn.

Lại thỉnh kẻ cơ hàn cái giả,

Bị lao tù mắc phải gia hình.

Gặp cơn thủy hỏa bất bình,

Một đời bỗng chốc vô tình mệnh vong.

Nghìn năm oan khí chưa xong,

Linh hồn nhất điểm nhạn mong mơ màng.

Trời xanh tiếng hạc rộn ràng,

Gió lay hoa rụng lỡ làng, thương thay!

Mấy người hoạnh tử xưa nay,

Nghe lời triệu thỉnh đến ngay pháp đàn.

-Trích Tra Am và Sư Viên Thành, Nguyễn Văn Thoa, Tra Am ấn hành. Nha Trang, 1972

1 Câu này thỉnh kẻ cô hồn hoạnh tử khi lâm sản hoạc bị sẩy thai, sút thai.

SÁM VĂN THÍ THỰC HỒI HƯỚNG

(Thí thực cô hồn số 5)

Sắm sanh ẩm thực đủ đầy

Gọi hồn về hưởng an bày đủ đông

Tiệc chay cúng thí vừa xong

Canh gà văng vẳng giọt rồng thậm thâm

Trước đàn ngưỡng vọng thiền âm

Bình hoa lợt bóng, đỉnh trầm phai hương

Cam lồ rưới khắp mười phương

Ao sen nay đã tỏ tường sang chơi

Cô hồn ơi ! Chiến sĩ ơi !

Mau mau nhẹ bước tách dời Tây thiên

Từ rày bá tánh bình yên

Phước lành để lại trong miền nhân gian

Tuổi đời lộc nước chứa chan

Gót lân nổi dấu, cầm loan in dần

Nghinh ngang cõi thọ đài xuân

Dấu ma lẳng bặt châu trần tiêu diêu

Vinh hoa phú quí đủ điều

Tu hành đạo đức thương yêu giống nòi

Ngày ngày niệm Phật hẳn hòi

Đèn từ đuốc huệ sáng soi cõi lòng

Đến khi trăm tuổi mạng chung

Được về cõi Phật thoát vòng tử sanh

A Di Đà Phật phóng quang

Nguy nguy kim tướng muôn ngàn ảnh trung

Khổ đau biển cả chập chùng

Hãy mau niệm Phật mà cùng bước lên

Đài sen hoa nở vãng sanh

Bạn cùng Bồ Tát chung quanh vui đùa

Từ đây bỏ việc hơn thua

Nương nhờ tự lực cửa chùa quy y.

Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

– Trích soạn lại theo “Pháp Thí Thực Khoa Nghi” – chùa Niệm Phật Bình Dương ấn hành 1974.

VĂN TẾ CÔ HỒN

(Thí thực cô hồn số 6)

Hỡi ôi !

Miền U cảnh lạnh lùng tăm tối,

Chốn Huỳnh tuyền nhiều lối nhọc nhằn.

Ẩn dạ đài đợi dứt kiếp căn,

Cõi Tịnh độ siêu thăng chưa được.

Ấy bởi tội lỗi gây kiếp trước,

Nhiều nghiệt oan, ít phước đức công.

Nên phải mang phiền não dập dồn,

Chịu thống khổ, phách hồn xiêu lạc.

Cầu chư Phật oai thần tế bạt,

Lên Thiên đàng, siêu thoát trần ai.

Nay trai diên đạm bạc kỉnh bày,

Xin chư vị tề lai thọ hưởng.

Giúp lê thứ quốc gia thạnh vọng,

Hộ đạo tràng tăng trưởng cơ duyên,

Độ mười phương sanh chúng bình yên,

Cùng thí chủ diên niên hạnh phúc.

Lụy trào đế hầu vương đáng kính,

Vận nước vong khó tính mưu thành.

Xưa cửu trùng điện các liệt oanh,

Rủi một phút tan tành cơ nghiệp.

Chư tướng soái binh cơ quyền nhiếp,

Chốn chiến trường nhiều dịp tận trung.

Vì sa cơ hồn xuống Diêm cung,

Nơi dương thế âm dung đà khuất.

Tài bút nghiên văn thần báo quốc,

Tấm lòng son công chất nhà vàng.

Nào hay đâu dị lộ tìm đàng,

Rồi một thuở danh vang tể tướng.

Nhà cơ cẩn thấy trời bốn hướng,

Lo bút nghiên vụ tưởng công danh.

Mười năm ngồi cửa sổ lạnh tanh,

Ba thước đất vùi danh tài tử.

Nhàm cuộc thế lánh thân am tự,

Nương Phật đường gắng giữ kệ kinh.

Đèn tắt khuya Thiền thất hư minh,

Hồn theo gió đăng trình âm cảnh.

Thảm cho đấng tu chơn dưỡng tánh,

Chốn lâm tòng đói lạnh không màng.

Lòng dốc trông nhập đặng Tiên bang,

Chí chưa toại tầm đàng Địa phủ.

Những sĩ tốt tùng chinh đội ngũ,

Tại trận tiền củ củ oai hùng.

Chịu tuyết sương mưa nắng lạnh lùng,

Lằn tên đạn không dung tánh mạng.

Lo đồ lợi thương hồ buôn bán,

Nương thủy triều ngày tháng kinh thương.

Sóng ba đào phong võ khó lường,

Thân trôi nổi gởi xương bụng cá.

Mười tháng chẵn mang con trong dạ,

Lúc lầm bồn mạng đã tìm Tiên.

Thị huyết hồ nạn sản chi khiên,

Hoa mới nở vội liền mưa gió.

Tánh ngỗ nghịch hiếu trung chẳng có,

Công sanh thành chưa rõ cao dày.

Hoặc huyền lương độc dược ra tay,

Bị lôi chấn đọa đày ngục thất.

Người bóng quáng thêm mang bịnh tật,

Thác giữa đàng không đất gởi thây.

Hồn dật dờ theo gió theo mây,

Thành Uổng tử đêm ngày đói lạnh.

Người nghèo khó đốn cây non lãnh,

Chịu nhọc nhằn khổ hạnh cơ hàn.

Bị độc trùng ác thú hổ lang,

Hoặc hỏa thán tầm phong dị lộ.

Người lương thiện tao phùng tật đố,

Bị ngọt ngon dụ dỗ hại thầm.

Oan hồn tìm đến chốn u thâm,

Còn mắc phải gian cầm gìn giữ.

Gái khuê các giai nhơn mỹ nữ,

Chẳng trọn tình cư xử nợ khiên.

Xưa hương xông phấn ướp phấn duyên,

Nay đến chốn Huỳnh tuyền sở ỷ.

Kẻ tù tội mắc vòng lao lý,

Chúng tôi đoài nô tỷ khổ thân.

Thêm phạt hành độc thủ bất nhân,

Hồn lìa cách dương trần rất thảm.

Bị hỏa hoạn tâm hồn mê ám,

Lúc kinh hoàng khổ thảm biết bao !

Tìm đường ra khỏi ngọn lửa cao,

Rủi một phút thân thiêu tro bụi.

Cơn thủy nạn hoảng kinh bối rối,

Họa lụt tràn trôi nổi cửa nhà.

Mạng số suy, thần tử chẳng tha,

Theo dòng nước hồn ma vĩnh biệt.

Khi bão tố đá cây ngã liệt,

Sập cửa nhà đè chết nào hay.

Hồn dật dờ theo cảnh gió mây,

Chịu đau đớn đọa đày nẻo tối.

Cuộc tang thương tuần hoàn thay đổi,

Chấn động miền non núi đất liền.

Bị lấp chôn hồn phách đảo điên,

Chịu muôn nỗi não phiền đau đớn.

Bị xe cán nát thây rùng rợn,

Vận kiếp xui họa lớn nào hay.

Bà con trông than khóc thảm thay,

Cơn hoảng hốt hồn lai uổng tử.

Vì ái dục si tình tự tử,

Cơn đắm mê nào sợ tội mang.

Gieo mình nơi biển nghiệp sông oan,

Hồn phách chịu muôn vàn lạnh lẽo.

Ít phước đức họa tai lôi kéo,

Đời lao công nhiều nẻo hiểm nguy,

Trên giàn cao ngã té bất kỳ,

Thân tan nát hồn phi phách tán.

Nơi chiến địa lâm cơn tạc đạn,

Thi hài tiêu tứ tán khó nhìn.

Thảm thương cho hồn phách linh đinh,

Miền âm cảnh muôn nghìn khổ não.

Người lương thiện chết oan điên đảo,

Vì đạn tên lạc náo xóm làng.

Oan hồn cam vào chốn nguy nan,

Chịu u ám, xa đàng giải thoát.

Bị khổ bức vì tình đen bạc,

Tự hủy mình cam chác nghiệp sâu.

Mũi đạn xuyên, muôn kiếp khổ sầu,

Hồn phưởng phất biết đâu nương dựa !

Bị cướp giặc lòng tham hung dữ,

Đoạt của rồi giết chủ thác oan.

Hồn dật dờ thảm khổ muôn đàng,

Kết thù oán khôn toan siêu độ.

Đời mạc kiếp loạn ly tội lỗi,

Bị hiếp dâm đến nỗi bỏ mình.

Phách hồn oan lạc lối u minh.

Lòng khổ bức muôn nghìn oán hận.

Đời giặc giã nghịch thù vô tận,

Chôn sống người giữa đám đồng hoang.

Tiếng khóc la oán khí đầy tràn,

Trong giây phút dương gian cách biệt.

Giặc bất lương giết người chẳng tiếc,

Trói lương dân thù ghét quăng sông.

Lặn hụp nơi nước cuốn giữa dòng,

Thân trôi nổi, oan hồn thơ thẩn.

Bị oán chạ chém đâm tàn nhẫn,

Hoặc thù hiềm giết lẫn mạng vong.

Hồn phất phơ nơi chốn long đong,

Biết bao thuở thoát vòng khổ não.

Xe lật đổ, đụng nhau táo bạo,

Chết giữa đàng khôn bảo toàn thi.

Thây nằm phơi, hồn đã biệt ly,

Bà con thấy, ai bi thống thiết !

Người tắm biển tắm sông biệt tích,

Kẻ lội chìm, tê liệt tay chân.

Cơn rủi ro dòng nước gởi thây,

Hồn lạnh lẽo tháng ngày thảm khổ.

Trong cơ xưởng nhơn công phục vụ,

Bị máy lôi vào chỗ hiểm nguy.

Hoặc điện hơi giựt ngã cấp kỳ,

Rủi một phút hồn phi phách tán.

Còn nhiều loại hồn oan ta thán,

Nơi suối vàng thê thảm ngậm ngùi,

Các hồn chưa mãn kiếp Phong đô,

Đương xiêu lạc khắp nơi khổ não.

Lời thiển bạc nay đà trần tố,

Thương xót thay nỗi khổ các vì.

Hồn linh thiêng hiển hích chứng tri,

Xin sám hối tiền phi hậu quá.

Xét tội lỗi oan khiên vay trả,

Giác ngộ tua diệt cả ác duyên,

Ý tịnh thanh dứt sạch não phiền,

Giữ ba nghiệp vẹn tuyền trong sạch.

Quy y Phật tịnh yên hồn phách,

Nhẫn tâm tồn, giải sạch cừu oan.

Phật dạy rằng tạo tội, tội mang,

Luật nhân quả rõ ràng khó tránh.

Muốn giải thoát, noi gương Phật Thánh,

Chưởng Bồ đề, xa lánh tội căn.

Nguyện Từ Tôn Tam Bảo mười phang,

Độ chư vị thoát đàng khổ não.

Dẫn Hồn Vương lòng thương khuyên bảo,

Thập Điện đồng mở đạo Từ bi.

Giảm phạt hành, ân huệ bố thi,

Đức Địa Tạng đại bi cứu rỗi.

Linh hồn đặng xa nơi ngục tối,

Vãng sinh miền Tịnh Độ thảnh thơi.

Hết lòng thương nay tỏ mấy lời,

Xin chư vị khắp nơi chứng chiếu.

Nam mô A Di Đà Phật.

VĂN TẾ CHƯ CHIẾN SĨ TRẬN VONG

CHƯ LƯƠNG DÂN TỬ NẠN

(Thí thực cô hồn số 7)

Hỡi chư chiến sĩ trận vong !

Hỡi chư lương dân tử nạn !

Nhơn sanh tự cổ thùy vô tử,

Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.

Người sanh trên thế ai không chết,

Để tấm lòng son rạng sử xanh.

Ngọc tuy nát vẫn còn trong sạch,

Tre cháy tiêu, mắt nọ cũng còn.

Chí trung cang nghĩa khí sắc son,

Gương Thánh Đế nay còn nêu đó !

Nợ nước non ai ai cũng có,

Phận công dân giao phó phải mang.

Hễ đứng làm nghĩa sĩ anh trang,

Phải đáng bực trung thần liệt nữ.

Chí Quang Trung đâu màng sanh tử,

Chuyện Trưng Vương thanh sử còn ghi.

Nay tuy là u hiển biệt ly,

Lòng tưởng nhớ các vì tha thiết,

Tưởng là tưởng đức dày oanh liệt,

Chốn chiến trường sương tuyết hy sinh.

Nhưng chẳng may vì nước bỏ mình,

Ấy cũng bởi trọn gìn trung đạo.

Thôi nợ nước nay đà tận báo,

Xin hồi đầu chánh đạo tu thân.

Nương cửa thiền phủi sạch trược trần,

Sớm kinh kệ chiều lần chuỗi hột,

Lấy cam lộ nhành dương nước Phật,

Rửa cừu oan diệt tất não phiền.

Khá nguyện về Cực lạc Tây thiên,

Mà an dưỡng thiêng liêng Bổn giác

Sen chín phẩm nở ra trước mắt,

Hết tử sanh quả Phật thấy liền.

Hỡi các vì hồn có linh thiên,

Nơi chín suối khá liền sám hối,

Cầu Trời Phật xá tha tội lỗi,

Dắt dìu ra khỏi lối u minh.

Một lòng thiềng Phật Pháp trọn gìn,

Hộ thí chủ khương ninh phước thọ.

Giúp lê thứ, trợ an quốc tộ,

Lập đức công báo bổ tứ ân,

Lời thiết tha đạo đức phân trần,

Xin liệt vị hiển linh chứng chiếu.

Nam Mô A Di Đà Phật.

VĂN TẾ CHIẾN SĨ TRẬN VONG

ĐỒNG BÀO TỬ NẠN.

(Thí thực cô hồn số 8)

Hỡi ôi !

Cơn tạo hóa xoay vần khó tránh,

Cuộc trần gian hết thạnh đến suy,

Chúng sanh phải chịu khổ nguy,

Sanh già bịnh tử biệt ly thảm sầu.

Việc may rủi biết đâu chọn lánh,

Nhận làm người mang gánh sự trần,

Tam cang mới nặng muôn cân,

Ngũ thường xử vẹn là phần tu mi.

Lẽ sống thác là tùy số phận,

Nghĩa vụ tròn đâu quản gì thân,

Mình là bổn phận con dâu,

Quốc gia hữu sự báo ân đã đành.

Vì tổ quốc lợi quyền chủng tộc,

Giận quân thù chí dốc tòng quân,

Ra đi dạ luống bâng khuâng,

Màn sương gối tuyết vô chừng gian nan.

Khi lặn suối trèo non vượt bể,

Khi lên truông qua ải xuống đèo,

Đai cơm, bầu nước, gươm đeo,

Chút thân sống thác do theo số trời.

Ra nhập ngũ thân thời chẳng kể,

Khổ thay vì cha mẹ ở nhà,

Nhớ con thổn thức canh gà,

Thương con dựa cửa trông mà sầu đau.

Khi sớm tối ai vào thăm viếng,

Lúc ốm đau lo chuyện thuốc thang ?

Đêm ngày giọt lệ chứa chan,

Cầu trời con đặng thoát nàn đao binh.

Chữ trung đặng, mất tình hiếu thảo,

Đánh liều theo máy tạo vần xoay,

Trước cờ da ngựa bọc thây,

Tiếng kêu cứu nước làm khuây sao đành!

Còn thương hỡi gia đình thảm cảnh,

Vợ cùng con hiu quạnh trước sau,

Con thơ vợ yếu lao nhao,

Lấy ai bảo bọc đói đau cơ hàn ?

Đêm tủi phận dở dang duyên nợ,

Ngày gượng vui qua đỡ thời gian,

Trông cho chiến thắng khải hoàn,

Dưỡng nuôi con dại hiệp đoàn phu thê.

Nhớ đến cảnh ủ ê tấc dạ,

Cùng anh em chung chạ một nhà,

Xóm làng cô bác ông bà,

Nguyện cầu binh cách hết mà về quê.

Người muốn vậy không hề được vậy,

Bãi trường sa thịt nát máu tơi,

Tên rơi đạn lạc hết đời,

Nắm xương vô chủ lạc nơi chiến trường!

Người nằm chết ngổn ngang bờ bụi,

Dưới hố hầm chân núi cội cây,

Kẻ thời ngọn lửa thiêu thây,

Người thời trôi lấp sông nầy rạch kia.

Ai có phước thi hài chôn lấp,

Kẻ nợ phần phó mặc cá chim,

Hỡi ơi ! Nợ nước trọn niềm,

Đến ngày chung cuộc xác tìm đâu ra ?

Vợ con với mẹ cha đâu biết,

Chừng hay tin thì việc đã rồi,

Nợ trần phủi sạch ai ôi,

Ghi vào lịch sử muôn đời ngợi khen !

Khen anh dũng xông pha tên đạn,

Liều thân sinh cứu nạn quốc dân,

Sống làm Tướng, thác làm Thần,

Non sông gánh vác tử phần đao binh.

Chùa thỉnh Phật lập đàn chẩn tế,

Tụng cầu siêu cáo lễ Phật trời,

Trận vong chiến sĩ vì đời,

Thoát vòng lục đạo về nơi trai đàn.

Nén hương đốt gội nhuần trước án,

Tế anh linh tỏ rạng danh thơm,

Ít nhiều hoa quả kỉnh đơm,

Gọi là tưởng nhớ người ơn giúp đời.

Dạ thương tiếc anh hùng dũng cảm,

Nguyện vong hồn sinh ký tử qui,

Hồi đầu nương cửa từ bi

Về miền Cực lạc Liên trì hoá sinh.

Chúng tôi đã lòng thành khấn vái,

Phật mười phương quảng đại độ siêu,

Nương đàn chẩn tế tiêu dao,

Chư vong chiến sĩ đồng bào chứng tri.

SÁM VĂN THÍ THỰC HỒI HƯỚNG

(Thí thực cô hồn số 9)

Sắm sanh ẩm thực đủ đầy

Gọi hồn về hưởng an bày đủ đông

Tiệc chay cúng thí vừa xong

Canh gà văng vẳng giọt rồng thậm thâm

Trước đàn ngưỡng vọng thiền âm

Bình hoa lợt bóng, đỉnh trầm phai hương

Cam lồ rưới khắp mười phương

Ao sen nay đã tỏ tường sang chơi

Cô hồn ơi ! Chiến sĩ ơi !

Mau mau nhẹ bước tách dời Tây thiên

Từ rày bá tánh bình yên

Phước lành để lại trong miền nhân gian

Tuổi đời lộc nước chứa chan

Gót lân nổi dấu, cầm loan in dần

Nghinh ngang cõi thọ đài xuân

Dấu ma lẳng bặt châu trần tiêu diêu

Vinh hoa phú quí đủ điều

Tu hành đạo đức thương yêu giống nòi

Ngày ngày niệm Phật hẳn hòi

Đèn từ đuốc huệ sáng soi cõi lòng

Đến khi trăm tuổi mạng chung

Được về cõi Phật thoát vòng tử sanh

A Di Đà Phật phóng quang

Nguy nguy kim tướng muôn ngàn ảnh trung

Khổ đau biển cả chập chùng

Hãy mau niệm Phật mà cùng bước lên

Đài sen hoa nở vãng sanh

Bạn cùng Bồ Tát chung quanh vui đùa

Từ đây bỏ việc hơn thua

Nương nhờ tự lực cửa chùa quy y.

Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

– Trích soạn lại theo “Pháp Thí Thực Khoa Nghi” – chùa Niệm Phật Bình Dương ấn hành 1974.

VĂN TẾ LIỆT SĨ

(Thí thực cô hồn 10)

Hỡi chư Liệt sĩ ôi!

Họa đao binh từng đốt nung đất Việt

Nạn xâm lăng đã giày xéo trời Nam

Phận làm trai, đành gánh vác nợ non sông

Người chiến sĩ, phải hy sinh đời oanh liệt

Nhớ những anh hùng xưa!

Vì chánh nghĩa, mất còn nào tiếc

Rửa nhục chung, sống chết đâu màng

Chốn sa tràng, trải mật phơi gan

Nơi chiến địa, nóng sôi nhiệt huyết

Gió đạn, mưa bom ào ạt, xông pha bắn giết

Núi xương, biển máu lăn mình, dày đẫm đau thương

Màn trời chiếu đất, lướt trời nồng, dãi nắng dầm sương

Vó ngựa sa trường, dày gió bụi, mang sao đội nguyệt

Vì nước vì dân, trước cái chết, vươn mình quyết tiến

Thương nòi thương giống, giữa đời trai, nung chí anh hùng

Đạn nổ súng rền, gió hơi bom,

long trời lở đất, thi gan tiến tiến xung phong .

Cờ phất còi reo, tiếng trống dục,

chật đất tràn đồng, gắng sức đùng đùng tử chiến.

Dưới làn bom, thịt nát xương tan,

Đành ngã gục không hề khuất tiếc.

Trước mũi súng, ruột tuông máu đổ,

cam lụy mình chẳng khứng phục hàng.

Người chiến sĩ, đền xong nợ nước,

trang sử xanh đánh dấu hiên ngang.

Đấng anh hùng, rửa sạch nhục chung,

đài liệt sĩ nêu gương trung liệt.

Than ôi!

Vì nước quên mình, sống oanh liệt chết càng oanh liệt.

Xả thân báo quốc, sống vinh quang chết cũng vinh quang

Cảm thương người, tai nạn tràn lan

Thương xót kẻ, uổng oan mất tích

Nhờ đức Phật độ về cõi tịnh

Nương tiếng Kinh thoát kiếp đao binh

Nơi dạ đài, người tử si có linh

Nương thể phách, về trai đàn chứng giám

Hỡi ơi! Thương thay!

Có linh xin chứng! Có linh xin chứng!

– Trích soạn “Kinh Nhựt tụng” – Chùa Niệm Phật Bình Dương 1994.

VĂN TẾ CÔ HỒN (II)

(Thí thực cô hồn 11)

Từng nghe đạo cả, kỉnh thuật lời quê

Cõi nhơn gian thủy lục ê chề

Nỗi hồn phách tử vong ngao ngán

Trên đến bực vương hầu khanh tướng

Dưới đến người sĩ cổ nông công

Nào kẻ ty, nào người tôn

Nào là nam, nào là nữ

Hoặc có kẻ buộc mình trong linh ngữ

Hoặc có người sẩy bước chốn sa tràng

Hoặc sa hầm sa hang

Hoặc trúng thang trúng dược

Đau ngang, dây buộc, sản nạn, huyết bồn

Hoặc nước bệnh dịch ôn, hoặc suông búa sấm

Phép vua giảo trảm, trù ẻo vong thân, loài ấy rất nhiều

Nhiều đã quá nhiều, dẫu muốn kể, kể sao cho xiết

Kìa nương dựa, mả mồ đà mất biệt,

Nào từ đường, nơi chỗ có chi chi

Bơ vơ bên bụi dưới cây, lài lạc chốn đầu gành cuối biển

Khổ nhiều nỗi gió mưa xao xuyến,

Biết mấy thu lạnh nắng đổi thay

Chẳng bốn mùa nào kẻ lạc trai

Mãn tám tiết vắng người đơm quảy

Rầu rầu rỉ rỉ, cõi u minh biết mấy xuân thu

Mù mù mịch mịch, đường xuất lý m

ảng đợi trông ngày tháng

Hội vô giá may vừa gặp khoản,

Nương theo công bí mật hôm nay

Này hà sa Phật tử là ai, rày gặp lúc tiêu diêu cõi thánh

Nọ lụy thế oan thân mấy kẻ, lại nhờ ơn giải thoát nợ trần

Chiến sĩ ôi! Cô hồn ôi!

Ngôi liên đài quanh quất bên thân

Miền tịnh độ chán chường gần trước mặt

Ngón tay búng chẳng phiền nhọc sức

Đã chứng vào trong bực vô sanh

Lòng hởi lòng, lòng vốn hư minh

Ấy rõ thấu, ngôi Quan Âm Phật.

Nam Mô Siêu Lạc Độ Bồ Tát Ma Ha Tát.

– Trích soạn theo Kinh Nhật Tụng – Bồ Tát Như Nguyện Thích Thiện Huê – Chùa Niệm Phật – Bình Dương 1974.

HỒI HƯỚNG TẾ VĂN

(Thí thực cô hồn 12)

Kiến văn như huyển ế

Tam giới nhược không hoa

Văn phục, ế căn trừ

Trần tiêu, giác viên tịnh

Phục dĩ,

Nguyên chơn như thanh tịnh

Tội tánh vốn là không

Biển khổ rộng mênh mông

Sóng quanh theo đuổi mãi

Bởi nghiệp cảm chúng sanh mang phải

Khiến trầm luân kiếp nọ chịu đọa đày

Địa ngục đà thọ báo đắng cay

Ngạ quỉ lại chuyển sanh đói khát

Đã chẳng có ngày giải thoát

Ắt là không chỗ đặng siêu thăng

Ví chẳng nhờ từ nguyện đức kim thân

Để mở đặng đảo huyền dây ác thú

Chơn thuyên ấy, niệm đôi câu chú

Thí ra trên tiệc cam lồ

Bảo cự kia, thắp một ngọn đèn

Soi khắp trong đường minh giới

Nào những mấy dòng mê cả thảy

Khiến đều về cực lạc phương tây

Buổi đạo tràng nay, khắp thỉnh vào viên thí thực

Đem công đức ấy, trở về trong núi Thiết vi

Diệm nhiên Đại sĩ một tay

Thống lãnh cả ba mươi sáu bộ chúng

Ngạ quỉ hằng hà sa số

Vô lượng vô biên xiết kể biết bao

Cúi xin từ kiếp bỏ liền

Cho đến ngày tái thế

Tiêu nghiệp chướng chẳng còn chút để

Rửa tội khiên phút đã sạch rồi

Vạc nóng dầu sôi, biến làm bồn liên trì bát đức

Lò hừng lửa cháy, hóa thành tòa hương cái thất trân

Kìa mũi gươm trần, kiếm thọ hóa ra ngọc thọ

Nọ con dao sắc, đao sơn đổi lại bửu sơn

Khắp nơi bủa chật thiết sàng

Hiện pháp tòa Bồ đề là đó

Với chảo đựng đầy đồng trấp đỏ

Sái đề hồ cam lộ vào đây

Gặp người trái chủ hôm nay

Buổi đó hết đòi hết hỏi

Nhóm kiếp oan gia buổi trước,

Cùng nhau thôi vấn thôi vương

Dạ hưng từ ngục chủ yêu thương

Lòng từ thiện minh quang bảo hộ

Thân phụ mẫu đa sanh kim với cổ

Nay thời nhập Thánh siêu phàm

Nợ nhơn thân lụy thế hết còn

Rày đã thừa ân giải thoát

Cõi thiên thượng ngũ si chẳng hiện

Miền nhơn gian tứ tướng có chi

Tu la đà bỏ cả sân si

Địa ngục lại hết điều khổ não

Hồn ngạ quỉ nhộn nhàng sáu đạo

Hứng gió thanh khỏi chốn lửa hồng

Giống làm sanh chật nức mười loài

Lên bờ giác lánh nơi đường tối

Khắp xin cả hữu tình một nỗi

Quốc độ này, quốc độ nọ

Và vô lượng các quốc độ thảy

Cùng nhau chung chứng chơn thường

Lại nguyện cùng hàm thức mấy loài

Thế giới đó, thế giới đây

Và vô lượng các thế giới nào

Buổi đó đều nên Phật đạo

Tứ ân khắp báo

Tam hữu đều nhờ

Người trong pháp giới bao giờ

Ai ai cũng đồng nên chưởng trí.

– Trích soạn “Kinh Nhựt Tụng ” Chùa Niệm Phật – Bình Dương 1974.

SÁM CẦU SIÊU THỦY LỤC VỚT VONG

(Thí thực cô hồn 13)

Nam mô Từ phụ Di Đà,

Xin ngài cứu khổ Ta bà trầm luân.

Thương đời bá tánh vạn dân,

Các hồn hoạnh tử cõi trần thác oan.

Thế gian mong được an nhàn,

Khai đàn Thủy lục làm đàn vớt vong.

Chết ao, khe, biển, suối, sông,

Linh đinh trôi nổi số đông quá nhiều.

Gió giông bão tố thủy triều,

Thảm thương thân xác dập dìu nổi trôi.

Hồn phi phách lạc mất rồi,

Cá ăn, sấu nuốt, khổ thôi đủ điều.

Cõi đời sanh tử mơi chiều,

Sống nơi hầm lửa đốt thiêu thân mình.

Lại còn giặc giã đao binh,

Trúng nhằm súng đạn thình lình mạng vong.

Núi rừng đồng rộng biển sông,

Các hồn oan ức nguyện đồng tiêu diêu.

Hôm nay khẩn đảo cầu siêu,

Những hồn chìm đắm thủy triều tai ương.

Sông sâu biển rộng bốn phương,

Sa chơn đắm đuối vấn vương khổ sầu.

Thành tâm lạy Phật khẩn cầu,

Độ hồn lên khỏi biển sâu vào bờ.

Linh đinh hồn vía mịt mờ,

Nương nhờ Phật lực kịp giờ cứu an.

Cầu cho hồn đặng nhẹ nhàng,

Thủy Long thần nữ dẫn sang hồn về.

Hồn về cảnh Phật đề huề,

Kíp nghe kinh kệ trầm mê khỏi nàn.

Quan Âm đại sĩ từ hàng,

Cứu hồn ra khỏi sáu đàng trầm luân.

Nguyện cho hồn đặng vui mừng,

Khỏi nơi lạnh lẽo gian truân khổ sầu.

Nương nhờ Phật lực nhiệm mầu,

Thả đèn thủy lục, bắt cầu vớt vong.

Vớt vong khỏi chốn suối sông,

Về nơi no ấm non bồng tiêu dao.

Đưa vong khỏi biển ba đào,

Đến nơi bờ giác lên mau lạ thường.

Nam Mô Địa Tạng Minh Vương,

Vì lời đại nguyện xót thương Ta bà.

Chúng sanh chìm đắm hải hà,

Cầu ngài cứu vớt vượt qua biển trần.

Nổi trôi khổ sở tấm thân,

Âm nhơn lạnh lẽo muôn phần thiết tha.

Nam mô đức Phật Thích Ca,

Cầu ngài tế độ vớt mà vong linh.

Ở trong thế giới U Minh,

Dẫn qua Cực lạc vãng sanh Liên trì.

Nguyện ngài giáo chủ A Di,

Độ vong trầm nịch đồng qui Liên thành.

Ở yên mát mẻ tu hành,

Cầu cho giải thoát hóa sanh sen vàng.

Nam mô Tịnh độ Lạc bang,

Độ vong hồn đặng Tây phang mau về.

– Trích xuất từ “Pháp môn tu Tịnh Độ” Niết Bàn Tịnh Xá – Vũng Tàu ấn hành, 1970, Tr. 313-315.

– Bài này dùng để tụng trong đàn thủy lục vớt vong ở bờ biển, bên sông, có thêm nghi thức vớt vong và cầu siêu chư linh. Vì thế nên không phải là bài phổ biến. Tuy nhiên, có thể dùng tụng ở các đàn kỳ siêu, chẩn tế, thí thực ở chùa, ở nhà cũng được.

VĂN HỒI HƯỚNG CÚNG THÍ

(Thí thực cô hồn 14)

Bích Liên Pháp Sư

SÁM TÁN KHÔ LÂU

(Thí thực cô hồn 15)

Bích Liên Pháp Sư

Hôm qua đồng vắng ngoạn du

Thấy liền Đại đức khô lâu một vùng

Bốn bên ghê gốc bịt bùng

Mồ hoang cỏ mọc, mây trùng xanh xanh

Dàu dàu âm khí lạnh tanh

Lá sen thổi ngọn, gió quanh đưa sầu

Khô lâu ơi hỡi! Khô lâu

Quê người ở mé giang đầu thiu thiu

Nằm phơi ngọn gió, chìu hiu

Cỏ giăng nệm đất, trăng khêu đèn trời

Phèo phèo khí lạnh đòi nơi

Anh em lai vãng, có người nào đâu

Khô lâu ơi hỡi! Khô lâu

Ấy người quân tử ở đâu bên đường

Nhà ai vang vọng đêm trường

Mưa tuôn gió thổi, tuyết sương khác nào

Đau thay gan ruột như bào

Chan chan hạt lụy, như trào dòng châu

Khô lâu ơi hỡi! Khô lâu

Đôi khuôn con mắt, thấy đâu chốn này

Xiết thay, người thế ra chi

Kiếp phù sanh gởi tháng ngày bao lăm

Ác vàng thỏ bạc xa xăm

Bóng quang âm thoắt, trăm năm mấy hồi

Dần dà chi nữa người ơi

Sớm lìa biển khổ, cho rời kiếp ma

Hôm nay thiện tín trai gia

Nghi diên mở hội, gọi là “minh dương”

Lò vàng vừa bén mùi hương

Đạo tràng mời khắp mười phương cô hồn

Bao nhiêu tội chướng để dồn

Bây giờ tiêu hết chi còn nữa đâu

Ân triêm phước lợi thắm mầu

Mau mau dời bước lên chầu Tây phương.

– Bài do Hòa Thượng Bích Liên – Bình Định, diễn nôm khoảng năm 1940.

– Chép lại từ bản thảo “Nghi cúng cô hồn” của Hòa Thượng Thành Lệ, Bến Tre

TRẠO VĂN DIỄN ÂM

(Thí thực cô hồn 16)

Bích Liên Pháp Sư

Hôm nay cúng thí trai đàn,

Dây nhân duyên gặp A Nan cơ lành.

Quan Âm cứu khổ đã đành,

Hiện làm Tiêu Diện quỉ hình lạ thay.

Niệm câu Mô Phật từ bi,

Tuyên lời bí mật đức dày công cao.

Độ người thập loại nao nao,

Mùi cam lồ ấy hưởng vào một phen.

Trước đây triều đại còn truyền,

Lên ngôi đế chúa sẵn quyền tôn vinh.

Hầu vương huân thích vang danh,

Cây vàng lá ngọc tập tành tiếng sang.

Trung cung, Tể chấp, đại quan,

Kìa trang thể nữ, nọ hàng tần phi.

Điềm hoa tươi đã vứt đi,

Mùi cam lồ hưởng tiệc này phải chăng.

Hàng quốc sĩ, bậc triều thần,

Dọc ngang trong cõi hồng trần giúp xong.

Chăn dân bủa hóa giữa giòng,

Nào hay chưa toại tấm lòng trung lương.

Đau lòng một chiếu thôi thương,

Phải khi trích án sa trường biên bang.

Hồn còn trìu mến giang san,

Tiệc cam lồ hỡi, vội vàng đôi chân.

Người võ sĩ, kẻ nhung thần,

Một tay thống lãnh ba quân nhộn nhàng.

Băng xông trăm trận mũi vàng,

Trống rầm rộ đất, chiêng vang rân trời.

Đánh Nam dẹp Bắc tơi bời,

Chiến trường phút sẩy chân người vào trong.

Tấm lòng vì nước mà vong,

Tiệc cam lồ chứng hội đồng đêm thanh.

Những người học cổ cùng kinh,

Chức văn chương khéo như hình gấm thêu.

Bóng quang, hột tuyết dòm theo,

Chí trong cửa sổ nghiệt nghèo xiết bao!

Ta đà mạng vận làm sao,

Bảng vàng chẳng thấy lúc nào đề danh.

Hương hồn uất uất chi linh,

Mùi cam lồ đã sẵn dành tiệc xuân.

Những người cắt ái từ thân,

Cửa không sớm đã chân lần vào trong.

Tầm thầy hỏi đạo Thiền tông,

Chút vì muốn thoát khỏi vòng tử sanh.

Trải bao lạnh nắng xoay quanh,

Sự vô thường đã đến mình nào hay!

Hồi quang soi chút bóng dày,

Mùi cam lồ hưởng đêm nay bỉ bàng.

Những người võ phục huỳnh quan,

Sớm đã quyết chí theo đàng tu chơn.

Luyện hoàn thuốc, nấu lò đơn,

Dưỡng trong cái tánh, cho hoàn khí nguyên.

Lao thần khổ hạnh đòi phen,

Chỉ mong lên đặng ngôi tiên mới đành.

Thôi đừng tiếc chút dị hình,

Tiệc cam lồ đã sẵn dành vị thanh.

Những người con thảo cháu lành,

Với người nghĩa dũng trung thành xưa kia.

Những người liệt nữ trinh thê,

Cái thân coi chết như về đâu đâu.

Với người trọng tiết vong xu,

Khí tinh anh để ngàn thu còn truyền.

Hồn còn chói lọi linh thiêng,

Đến đây hưởng thọ một diên cam lồ.

Những người đạo nữ Ni đồ,

Chốn huỳnh môn ấy năm mùa gởi thân.

Phụng loan bỏ khống duyên phần,

Nhơn gian chẳng nhiễm sự trần chút chi.

Còn chưa liễu đặng vô vi,

Nước trôi sóng lãng ra gì tử sanh!

Hồn người thăm thẳm thanh thanh,

Vị cam lồ đã phỉ tình cho chăng?

Những người địa lý thiên văn,

Nghề hay y dược chứa thầm âm dương.

Bói qui, dịch sủ qui vàng,

Kẻ tinh coi gió, người tường bủa sao.

Mách người hung kiết biết bao,

Vô thường để khỏi mang vào hoạn thân.

Thôi rày xả ngụy qui chân,

Cam lồ bảo mãn mười phần tiệc hương.

Những người tọa mãi hành thương,

Cả bao nhiêu món ngoài đường kinh doanh.

Lắm hay nghề nghiệp mưu sanh,

Toan phường tài lợi trong vành bán buôn.

Quê xưa hương tỉnh bỏ luôn,

Chết chôn đất khách, theo phương cảnh người.

Một niềm lữ mộng vơi vơi,

Mùi cam lồ đã khắp rời u minh.

Những người phạm pháp tạo hình,

Ngục tù buộc mãi lấy mình vào nơi.

Hại người toan lấy của người,

Oan gia trái chủ trả đời nào xong!

Người tật ác, kẻ tai hung,

Hoặc là đói khát lạnh lùng vong thân.

Suối vàng kíp kíp đôi chân,

Mùi cam lồ ấy, thọ phần thanh lương.

Những người ngựa đạp, xe thương,

Vách đè thân nát như tương rã rời!

Kẻ suông roi quỉ, sấm trời.

Kẻ cam tự vận, người thời huyền lương.

Hoặc là thủy hỏa tai ương,

Kẻ suông độc rắn, người vương miệng hùm.

Hồn người bất hạnh trầm trầm,

Một cam lồ rưới dầm dầm xiết bao.

Những người âm huyết dương mao,

Chỗ sanh trưởng vốn ẩn vào man di.

Thi công mà trả nợ đày,

Kẻ làm lẽ mọn, người thì tớ tôi.

Hoặc người ngọng, lịu, điếc, đui,

Tật nguyền chẳng có nơi chui đụt nào.

Hồn người oan khổ biết bao,

Mùi cam lồ hưởng dạt dào tiệc hoa.

Những người ngỗ nghịch mẹ cha,

Oán rủa trời đất, mắng la đốt bằm.

Những người chê Phật khinh Tăng,

Đốt hủy kinh tượng hung hăng nhiều bề.

Lắm điều tà kiến trầm mê,

Chịu trong khổ báo ê chề chẳng thôi.

Hồn người thật ác, thương ôi,

Mùi cam lồ hưởng cho rồi tiệc hoa.

Cửa nhà đại thí mở ra,

Hãy xin tiến bạt cho ma cô hồn.

Tiên vong hòa tổ hòa tôn,

Oan gia trăm họ cũng dồn về đây.

Đường ba, nạn tám thiếu chi,

Bao nhiêu bình đẳng, đêm này siêu thiên.

Cậy chưng Phật Pháp quang miên,

Mùi cam lồ hưởng một diên ê hề.

A Di Đà Phật Bồ Đề,

Xưa kia sẵn có lời thề vô biên,

Đường mê trông thấy nhãn tiền,

Đắm phiêu biển khổ liền liền thảm thay!

Ngậm ngùi vội duỗi hai tay,

Thuyền từ chống thẳng vớt ngay mọi người.

Nguyện cho khắp chỗ ai ơi,

Chúng sanh đều đến nhập nơi Liên trì.

– Đây là bài diễn nôm của Hòa Thượng Bích Liên – Bình Định soạn, khoảng năm 1940.

– Bài này dùng để tán trạo, một loại tán có nhạc hòa cùng sử dụng trong lễ chẩn tế cô hồn, thay cho 12 câu thỉnh trong Du Già Trung Khoa.

VĂN THỈNH THẬP LOẠI CÔ HỒN

(Thí thực cô hồn 17)

Bích Liên Pháp Sư

Dấu người thập loại biết là đâu?

Hồn phách mơ màng trải mấy thu,

Cồn biển nghinh ngang bầu thế giới,

Những mồ vô chủ thấy mà đau!

Tịch mịch dạ canh thâm,

Hoa Đàm bá phạm âm,

Cô hồn văn triệu thỉnh,

Bộ bộ tốc lai lâm.

– Nhứt tâm triệu thỉnh:

Ác vàng tên ruỗi,

Thỏ bạc thoi dong,

Ôm lòng đau, cốt nhục nỗi xa trông,

Sửng mắt nhắm, anh hùng còn đâu đó!

Lò bảo đảnh, màu hương nhen mới tỏ,

Giọng thiền lưu, rày ngõ với vong linh,

Nghe lời triệu thỉnh đành rành,

Hồn chơi trong cõi U minh xin về.

– Nhứt tâm triệu thỉnh:

Màu non lờ lạc,

Dòng nước thầm thì,

Xuân đi rồi, hoa hỡi còn đây,

Người mới đó, chim rày đã lặn.

Vài lượt thắp, hương trầm bay tứ tán,

Đôi phen mời, linh sản ở đâu đây,

Vong linh ơi hỡi có hay,

Nghe lời triệu thỉnh, kíp day cõi trần.

– Nhứt tâm triệu thỉnh:

Biển trần lênh láng,

Sóng nghiệp lao xao,

Người mê man trong giấc chiêm bao,

May tỉnh đặng, phân hào trong huyền diệu.

Sống chẳng niệm Di Đà Phật hiệu,

Uổng một vòng chơi nẻo nhân gian,

Đầy ba phen, hương thắp bảo đàn,

Ba lần triệu thỉnh, suối vàng hồn linh.

Xin vâng Tam Bảo pháp lành,

Nương lời bí mật, đêm thanh trở về.

Về đây hưởng thọ hương huê,

Cam lồ pháp thực, ê chề thiếu chi.

– Trước thỉnh kẻ, hoàng vương đế bá,

Triều đại xưa, trải quá biết bao!

Đền đài chín lớp ở cao,

Non sông muôn dặm chiếm vào một tay.

Thuyền chiến phút đổi thay vượng khí,

Xe loan còn rầm rĩ vắng thinh,

Đỗ quyên kêu trót tàn canh,

Mây buồn đượm mãi trên cành đào hoa.

Trước sau vương bá những là,

Hồn hương xin chứng tiệc hoa sẵn sàng.

– Lại thỉnh kẻ đăng đàn bái tướng,

Dựng ngọn cờ bảo thưởng hầu quan,

Ngàn cân, lực cử đảnh vàng,

Thân trường thành vững trăm ngàn dặm khơi.

Trướng hùm lạnh, luống đời Hạng Mã,

Khói lang tàn, nào gã Phàn Long,

Ngựa xe chiến tướng vắng không,

Hoa lùa cỏ nội mấy vùng buồn thiu!

Anh hùng tướng soái bao nhiêu,

Pháp diên hãy chứng ít nhiều phải chăng?

– Lại thỉnh kẻ: Ngũ lăng tài tuấn,

Phẩm hiền lương, bách phận danh thần.

Ba năm thanh tiết làm quan,

Lòng son một tấm, trung quân rõ ràng.

Nhà châu huyện, xa làng phụ mẫu,

Xóm nước trời, theo dấu thần tiên,

Chinh chinh biển loạn sóng ngàn,

Mờ mờ hồn bướm ly miền dương quang.

Văn thần xiết kể muôn ngàn,

Chốn này xin chứng Pháp đàn kính dâng.

– Lại thỉnh kẻ: Tao ông mặc khách,

Lối cửa hoàng, nhà bạch vào ra,

Rừng văn nhẹ bước, Thám hoa,

Ngàn cung bút chiến, chơi trò các vi.

Tan bữa đốm, tiếc dày công học,

Mòn dĩa nghiên, uổng nhọc chí bền,

Lụa hồng bảy thước đề tên,

Đất vàng một cụm, lấp nền văn chương.

Văn nhân biết mấy đâu lường,

Hồn hoang xin chứng tiệc hương mấy phần.

– Lại thỉnh kẻ: Xuất trần phi tích,

Thượng sĩ kìa với khách Cao Tăng,

Trai tinh ngũ giới, đạo hằng,

Gái Tỳ khưu, lại đủ ngằn nét tu.

Làn hoa trúc, vài câu mật đế,

Nhà hổ-nô, vắng kệ khổ không,

Tam canh song tẩm lạnh lùng,

Nhà thiền leo lét đèn chong canh dài.

Trung lưu này những bi ai,

Chơn hồn xin hãy chứng lai pháp đàn.

– Lại thỉnh kẻ: Huỳnh quan dã khách,

Dòng vũ y phong cách nhà tiên,

Tu chơn trong động đào nguyên,

Trước châu lãng uyển, khí rèn tánh tu.

Trời nêu tiếng, tam lưu chưa toại,

Đất chôn hồn, tứ đại Diêm Vương,

Lò đơn lẫm quán lạnh sương,

Tiêu đàn gió thảm, thổi tàn hạnh hoa.

Bao nhiêu đạo sĩ những là,

Mùi hương phó cảm, thấu nhà hư vô.

– Lại thỉnh kẻ: Giang hồ cơ lữ,

Đường bắc nam trải thử hành thương,

Lợi quyền muôn dặm, toan đương,

Ngàn vàng trữ lại trong hàng hóa buôn.

Thân sương gió, thịt chôn bụng cá,

Bước đá mây, xương rã đường dê,

Phách theo mây cuốn sè sè,

Hồn theo ngọn nước xuôi về biển Đông.

Thương nhân, sau trước một dòng,

Bữa nay xin chứng vào trong tiệc đàn.

– Lại thỉnh kẻ: Lướt xông chiến trận,

Sức phương cường, mình bận áo binh,

Cờ điều phất bóng tương tranh,

Trong chòm mũi bạc, đan mình chống đương.

Ruột gan nát, thao trường kim cổ,

Da thịt rơi, đầy chỗ can qua,

Cát vàng văng vẳng tiếng ma,

Mờ mờ sương trắng ai mà thấu cho.

Xưa nay mấy kẻ tốt đồ,

Đêm này xin hưởng cam lồ tiệc trai.

– Lại thỉnh kẻ: Nghén thai mười tháng,

Lót chiếu rơm ngồi mãn ba ngày,

Trước mừng loan phụng hiệp bầy,

Sau thì trông giấc hùng bi cho tường.

Vầng cung phụng, phút tường hung cát.

Tuồng ngỏa chương, rơi nát mẹ con,

Nhành hoa nở, trận mưa tuông,

Đường khi trăng tỏ, gặp cuồng mây xâm.

Những người sản nạn qui âm,

Nghe lời triệu thỉnh, lai lâm pháp đàn.

– Lại thỉnh kẻ: Bốn phương mọi rợ,

Với những người ú ớ điếc đui,

Chết mình, tôi tớ lui thui,

Liều thân hầu hạ, bởi người ghen tương.

Khinh Tam Bảo, tội dường cát bãi,

Nghịch song thân, ác dẫy cõi người,

Đêm trường thăm thẳm bóng mơi,

Cửa mù thiu thỉu như trời thu đông.

Những người bội nghịch hoang hung,

Pháp diên xin chứng vào trong cho đầy.

– Lại thỉnh kẻ: Cung khuê thuở trước,

Gái má đào, sắc nước kém đâu,

Bức tranh chỉ phấn, đua nhau,

Áo quần long xạ, ganh màu thiên hương.

Hồn vân vũ, tan vườn kim cốc,

Ruột trăng hoa, héo trạm mã khôi,

Phong lưu ngày trước đâu rồi,

Xương khô lạnh lẽo trong chồi cỏ cây.

Những trang xinh tốt xưa nay,

Lửa hương xin chứng tiệc chay bỉ bàng.

– Lại thỉnh kẻ: Cơ hàn khất cái,

Cùng tù nhơn mang phải trọng hình,

Gặp tai nước lửa hại mình,

Hoặc truông hùm sói, tan tành thịt xương.

Khí oán, mãi đầy dường thuốc độc,

Hồn kinh, vì sấm lốc mờ xiêu,

Mưa chiều khói lạnh nước reo,

Lá thu gió thổi dập dìu như bay.

Những người hoạnh tử xưa nay,

Cam lồ rày đã sẵn bày tiệc hương.

– Lại thỉnh kẻ: Sáu đường pháp giới,

Những cô hồn mười loại đâu đây,

Diện-Nhiên sở thống một tay,

Nòi kia dịch-lệ, giống này trần-sa.

Nương cây cỏ, bóng ma mường tượng,

Ly-mỵ, hòa vọng-lượng uy danh,

Hồn cô, phách trệ linh đinh,

Tiên vong, với kẻ thân tình gần xa.

Bao nhiêu tiệu thỉnh những là,

Ai ai xin cũng chứng qua tiệc này.

Nãy giờ mời thỉnh tỏ bày,

Hồn linh xin hãy về đây chứng đàn.

Cùng qui y Phật, Pháp, Tăng,

Sửa mình niệm Phật, siêu thăng liên đài.

A Di Đà Phật Như Lai,

Từ bi tiếp độ hoa khai thoát trần.

– Trích trong “Khóa chẩn tế cô hồn nghĩa.” – Hòa Thượng Bích Liên soạn diễn Nôm, khoảng năm 1940. Chùa Viên Giác Tân Bình tàng bản.

【#5】Hát Văn Dâng Quan Hoàng Mười Cực Hay

Nghe Hoài Thanh dâng văn Quan Hoàng Mười Nghệ An:

Thỉnh:

Trấn thủ Nghệ An ông Hoàng Mười

Về huyện Kim Bảng làm quan Phủ Giầy

Hát cờn Huế:

Vô chùa niệm phật Quan Âm

Phật ban bốn chữ: Minh – Tâm – Thiện – Tài

Trong thời học phép Như Lai

Đêm đêm luyện tập văn bài sử kinh

Tiêu dao đi dưỡng tang tình

Thơ tiên một túi sách phật kinh ngàn từ

Khi phong nguyệt lúc lại bi từ

Sớm xem hoa nở, tồi chờ trăng lên

Khi tiêu lĩnh lúc lại non bồng

Cành cây mắc võng dòng sông ngự thuyền

Thăng Long kén khách lâm thuyền

Nam thanh nữ tú mình quyền bóng ông

Phong quang đẹp ý ông Hoàng

Khác nào thu cúc, xuân loan tứ tuàn

Hát sai:

Thỉnh bóng ông Mười hôm nay

Thỉnh bóng ông Mười đèn nhang khuya sớm

Sớm hôm phụng thờ, trong kinh có chữ nam mô

(Ông Mười đề thơ)

Đêm thanh ngoạn cảnh vườn đào

Bút tiên nghiên ngọc đề vào là thơ tiên

Bút phát linh linh bút sa tà tinh

Ông Mười đi thất bộ đề bài thơ Lý Đỗ

Độ cho trăm họ an lành

Ông cầm bút tiên ông họa vần thơ tiên

Họa ra bốn chứ Khang – Ninh – Thọ – Trường

Bút pháp linh linh rượu nhập thần

Hoa khai quả kết vạn cảnh xuân

Ông Mười giáng bút an muôn họ

Trăm họ ông ca cổ thánh thần

Thơ chuốc rượu:

Ngâm thơ:

Vậy có thơ rằng:

Hoa đào rơi rắc lồi thiên thai

Xui tiễn oanh đưa luống ngậm ngùi

Nữa năm tiên cảnh một bước trần ai

Ước cũ duyên tiên có thế thôi

Đá mòn rêu nhạt nước chảy hoa trôi

Cánh hạc bay lên vút tận trời

Ngõ hạnh vườn đào xa cách mãi

Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng soi.

Hò ông Mười:

Hò Huế:

Lý qua cầu:

Nghệ An danh nức danh ông Mười

Đai vàng khoác áo vàng anh, về đây ông ngự đồng

Lại được cung văn dâng lời ca tiếng thơ cung đàn

Cầu mong quan lớn chứng tâm độ cho dân chúng

Vui sông bình an giầu sang hết gian nan khỏi ách cơ hàn

Lý Mỹ Hưng:

Nghe thương hội nghị quần tiên

Được tin ông Mười tới thiên duyên trạnh lòng

Vân tiên mượn cánh chim hồng i i i

Xin người soi tỏ tức lòng gió giăng

Nhịp cầu ô đem bắc sông Ngan i i i

Cầu ô đem bắc sông Ngân, Hoàng ngồi trong cung quảng

Kìa ngồi trong cung quảng, đêm xuân mơ màng

Bóng trăng soi tỏ canh trường i i i

Đã cam tấc dạ tuyết sương reo hò

Thủy tiên dìu dắt đón mời i i i

Bấy lâu khao khát đầy vơi sao đành

Vượt bể đào lên tới ngàn xanh i i i

Đường xưa cảnh cũ nặng tình nước non

Trúc xinh cô quế cũng giòn i i i

Thơ đỗ bộ:

Tamlinh.org

【#6】Cách Sắm Lễ, Bài Văn Khấn Nôm Đền Ông Hoàng Bảy

H.T (Tổng hợp)

Xin được giới thiệu để người đọc quan tâm tham khảo cách sắm lễ, bài văn khấn Nôm đền ông Hoàng Bảy

Ngày 17/7 hàng năm được coi là ngày tiệc chính thờ Quan Hoàng Bảy Bảo Hà. Vào ngày này, rất đông người dân sẽ về đây dâng lễ xin phù hộ. Xin được giới thiệu để người đọc quan tâm tham khảo cách sắm lễ, bài văn khấn Nôm đền ông Hoàng Bảy

Đền thờ Ông Hoàng Bảy được lập tại nơi năm xưa di hài của ông lưu lại là Đền Bảo Hà, nằm ở chân đồi Cấm, bên bờ thượng lưu sông Hồng, ở bên bến phà Trái Hút, thuộc xã Bảo Hà, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai. Hàng năm, cứ từ 7/7 tới 17/7 người dân nô nức kéo nhau về đề bái yết và dâng phẩm vật cầu xin ngài gia hộ.

Cách sắm lễ đền ông Hoàng Bảy cũng khá đơn giản. Người dân khi đi lễ ở đây có thể sắm lễ mặn hoặc lễ chay.

Lễ mặn: Mâm xôi, gà (gà trống bày nguyên cả con), hương hoa.

Lễ chay: Rượu, bia, nước ngọt, nước khoáng, hoa tươi quả tốt, bánh, kẹo (kẹo lạc, oản), trà, thuốc lá, ít vàng lá, hương, nến, tiền trần, cau trầu, 1000 vàng Bốn Phủ, 1000 vàng tím… Nếu những ai có điều kiện hơn có thể sắm thêm một cỗ ngựa tím cùng với minh nghi quần, áo, hia, mũ đầy đủ, hương hoa.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Con lạy chín phương trời, mười phương chư Phật

Ngũ phương ngũ phật, thập phương thập phật

Hằng hà sa số Đức Phật công đức, công lượng vô biên.

Đệ trước án tiền, kín lạy Đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn quán thế âm bồ tát

Cung Phật thỉnh Thánh, cung thỉnh thiên cung tấu thỉnh thiên đình, sám hối:

Tam phủ thần vương, tứ phủ thánh đế

Con xin sám hối Thiên phủ Thánh Đế – Cao thiên Thượng thánh- Đại từ Nhân giả – Huyền khung Cao Thượng đế -Ngọc Hoàng Đại Thiên tôn.

Con sám hối Nhạc Phủ Thánh Đế – (Tản Viên Sơn Thánh) -ngũ nhạc thần vương – năm phương sơn động

Con sám hối Thủy Phủ Thánh Đế – (Lạc Long Quân Đại Đế) – Bát Hải Long Vương – tám phương cửa bể

Con sám hối Địa phủ Thánh Đế- thập điện minh vưong tòa chương địa phủ

Bắc Cực Trung Thiên Tam nguyên tam phẩm tam quan

Con sám hối Đại Thánh Nam Tào Lục Ty duyên thọ tinh quân

Con sám hối Đại Thánh Bắc Đẩu Cửu hoàn giải ách tinh quân

Cửu tinh thiên chúa thập nhị bát tú chư bộ thiên binh chư dinh văn võ.

Con sám hối tấu lạy quốc mẫu vua bà bơ tòa tiên thánh tứ phủ Thánh Mẫu:

Kính lạy Cửu trùng thánh mẫu .bán thiên công Chúa Thiên tiên thánh mẫu

Kính lạy địa tiên thánh mẫu quỳnh hoa Liễu Hạnh Vân Hương Thánh Mẫu

Mã Hoàng Công chúa, sắc phong Chế Thắng Hoà Diệu đại vương, gia phong Tiên Hương thiên tiên Thánh Mấu.

Kính lạy Thánh Mẫu Đệ Tam thủy cung, Xích Lân long Nữ,Thủy Tinh Công chúa

Kính lạy Đức Mẫu thượng ngàn Diệu nghĩa diệu tín thiền sư

Tuần Quán Đông Cuông đệ nhị đỉnh thượng cao sơn triều mường Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương.

Con lạy trần triều hiển thánh Hưng Đạo Đại Vưong

Trần triều Khải Thánh , Vương Phụ Vưong mẫu Vương phu nhân

Tứ vị Vưong tử- Nhị Vị Vương cô- vương tế vương tônLiệt vị tướng tướng công đồng Trần Triều

Con lạy Tam phủ Công Đồng, Tứ phủ Vạn linh

Bách vị các quan ngũ vị tôn quan

+ Quan đệ nhất Thượng Thiên

+Quan đệ nhị thượng ngàn

+Quan đệ tam thoải phủ

+Quan đệ tứ khâm sai

+ Quan đệ ngũ tuần tranh

Con sám hối điều thất tôn quan- Hoàng triệu tôn quan

Con lạy tứ phủ chầu bà thập nhị chầu bà

+ Chầu đệ nhất thượng thiên

+ Chầu đệ nhị thượng ngàn

+ Chầu đệ tam thủy phủ

+ Chầu đệ tứ khâm sai

+ Chầu năm Suối Lân

+ Chầu sáu Lục Cung

+ Chầu bảy Kim Giao

+ Chầu tám Bát Nàn

+ Chầu chín cửu tỉnh

+ Chầu mười Mỏ Ba

+ Chầu Bé Bắc Lệ

+ Chầu bà bản đền

Con lạy Tứ phủ thánh hoàng thập vị thánh hoàng

Sám hối ông bơ thoải quốc, ông bảy Bảo Hà, ông mười Nghệ An

Sám hối tứ phủ thánh cô

+ Cô đệ nhất thượng thiên

+ Cô đôi Đông Cuông

+ Cô bơ Thác Hàn

+ Cô tư địa phủ

+ Cô năm Suối Lân

+ Cô sáu Lục Cung

+ Cô bảy Kim Giao

+ Cô tám đồi chè

+ Cô Chín Sòng Sơn

+ Cô mười Đồng Mỏ

+ Cô bé sơn lâm

+ Cô bé bản đền

Sám hối tứ phủ thánh cậu: cậu cả cậu đôi cậu bơ cậu bé

Con lạy ngũ dinh thần tướng-ngũ hổ thần quan

Con lạy thanh xà tướng quân- bạch xà tướng quân

Con lạy công đồng các bóng các giá, mười tám cửa rừng, mười hai cửa bể.

Con lạy chầu chúa thủ đền cùng quan thủ điện, thổ địa thần kỳ thần linh bản xứ

Đê tử con là:………………………………………. ……………………………

Ngụ tại:…………………………………….. ………………………………………….

Kim niên kim nguyệt ,cát nhật lương thời

Mậu tý niên…nguyệt…..thời

Đệ tử con nhất tâm nhất lễ đêm tưởng ngày mong nhất tâm chí thiết nhất dạ chí thành

nhất tâm tưởng vạn tâm cầu-tu thiết nhang hoa lễ vật tờ đơn cánh sớ

Mang miệng tới tâu-mang đầu tới bái-cửa đình thần tam tứ phủ .

Trên mẫu độ dưới gia hộ mẫu thương -vuốt ve che chở -phù hộ độ trì

Cho con: ba tháng hè chín tháng đông-đầu năm chí giữa nửa năm chí cuối ,

Tứ thời bát tiết-tháng thuấn ngày nghiêu-phong thuận vũ hòa -tai qua nạn khỏi.

Mẫu cho con được sáng hai con mắt-bằng hai bàn chân-,

Mẫu ban lộc dương tiếp lộc âm-cho lộc mùa xuân cho tài mùa hạ

Cho tươi như lá cho đẹp như hoa-phúc lộc đề đa tiền tài mang tới,

Mẫu cho con lộc ăn lộc nói-lộc gói lộc mở,lộc gần lộc xa,

Hồ hết lại có hồ vơi lại đầy-điều lành mang đến điều dữ mang đi.

Mẫu cứu âm độ dương cứu đường độ chợ-vuốt ve che chở nắn nở mở mang.

Cải hung vi cát cải hạo vi tường-thay son đổi số nảy mực cầm cân.

Mẫu phê chữ đỏ Mẫu bỏ chữ đen-cho con đựơc trăm sự tốt vạn sự lành

Trên quý dưới yêu trên vì dưới nể-cho gặp thầy gặp bạn gặp vạn sự lành

Mẫu ban danh ban diện ban quyền-cho con có lương có thực có ngân có xuyến-tài như xuyên chí lộc tựa vân lai

Cầu tài đắc tài cầu lộc đắc lộc-cầu bình an đắc bình an

Trồng cây đắp phúc cho con được nở cành xanh lá phúc lộc đề đa

Cho trên thuận dưới hòa-trên bảo dưới nghe trên đe dưới sợ.

Mẫu cho nước chảy một dòng-thuyền xuôi một bến,bách bệnh tiêu tán, vạn bệnh tiêu trừ

Năm xung Mẫu giải xung-tháng hạn giải hạn

Cho gia trung con dc trong ấm ngoài êm nhân khang vật thịnh duyên sinh trường thọ

Đệ tử con người trần mắt thịt nhỡn nhục nan chi việc âm chưa tường việc dương chưa tỏ.

Tuổi con còn trẻ, tóc con còn xanh ăn, con ăn chưa sạch, con bạch chưa thông

Ăn chưa nên đọi, nói chưa nên lời, không biết kêu sao cho thấu, tấu sao cho tường,

Con biết tới đâu con tâu tới đấy, ba điều ko sảy bảy điều ko sai.

Trăm tội mẫu xá vạn tội mẫu thương. Mẫu xá u xá mê xá lỗi xá lầm.

Mẫu soi đường chỉ lối cho con biết đường mà lội biết lối mà lần

Hôm nay đệ tử con lễ bạc tâm thành con giàu một bó con khó một nén giàu làm kép hẹp làm đơn,

Thiếu mẫu cho làm đủ vơi mẫu cho làm đầy.

Mẫu chấp kỳ lễ vật-chấp lễ chấp bái

Chứng tâm cho lời kêu tiếng khấn của con bay như phượng lượn như hoa tới cửa ngài ngồi tời ngai ngài ngự.

Cho con sở nguyện như ý sở cầu tòng tâm.

Con nam mô a di đà phật (3 lần)

Rằm tháng Giêng cũng là một trong những dịp lễ chính tại đền ông Hoàng Bảy. Vậy đi đền ông Hoàng Bảy nên khấn như thế nào cho đúng.

【#7】Cách Sắm Lễ Và Bài Văn Khấn Nôm Đền Ông Hoàng Bảy

Nếu quý vị đã từng quan tâm tới tượng ông Hoàng Bảy thì chắc chắn sẽ biết được đây là một trong Tứ Phủ ông Hoàng trong cộng đồng Tam Tứ Phủ.

Ngày 17/7 hàng năm được coi là ngày tiệc chính thờ Quan Hoàng Bảy Bảo Hà. Vào ngày này, rất đông người dân sẽ về đây dâng lễ xin phù hộ. Xin được giới thiệu để người đọc quan tâm tham khảo cách sắm lễ, bài văn khấn Nôm đền ông Hoàng Bảy

Đền thờ Ông Hoàng Bảy được lập tại nơi năm xưa di hài của ông lưu lại là Đền Bảo Hà, nằm ở chân đồi Cấm, bên bờ thượng lưu sông Hồng, ở bên bến phà Trái Hút, thuộc xã Bảo Hà, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai. Hàng năm, cứ từ 7/7 tới 17/7 người dân nô nức kéo nhau về đề bái yết và dâng phẩm vật cầu xin ngài gia hộ.

Cách sắm lễ đền ông Hoàng Bảy

Việc sắm lễ cúng ông Hoàng Bẩy cũng không cầu kỳ. Quý vị có thể sắm lễ chay hoặc sắm lễ mặn đều được.

– Lễ chay: Rượu, bia, nước ngọt, nước khoáng, hoa tươi quả tốt, bánh, kẹo (kẹo lạc, oản), trà, thuốc lá, ít vàng lá, hương, nến, tiền trần, cau trầu, 1000 vàng Bốn Phủ, 1000 vàng tím… Nếu những ai có điều kiện hơn có thể sắm thêm một cỗ ngựa tím cùng với minh nghi quần, áo, hia, mũ đầy đủ, hương hoa.

– Lễ mặn: Mâm xôi, gà (gà trống bày nguyên con), hương hoa.

Bài văn khấn Nôm đền ông Hoàng Bảy

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Con lạy chín phương trời, mười phương chư Phật

Ngũ phương ngũ phật, thập phương thập phật

Hằng hà sa số Đức Phật công đức, công lượng vô biên.

Đệ trước án tiền, kín lạy Đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn quán thế âm bồ tát

Cung Phật thỉnh Thánh, cung thỉnh thiên cung tấu thỉnh thiên đình, sám hối:

Tam phủ thần vương, tứ phủ thánh đế

Con xin sám hối Thiên phủ Thánh Đế – Cao thiên Thượng thánh- Đại từ Nhân giả – Huyền khung Cao Thượng đế -Ngọc Hoàng Đại Thiên tôn.

Con sám hối Nhạc Phủ Thánh Đế – (Tản Viên Sơn Thánh) -ngũ nhạc thần vương – năm phương sơn động

Con sám hối Thủy Phủ Thánh Đế – (Lạc Long Quân Đại Đế) – Bát Hải Long Vương – tám phương cửa bể

Con sám hối Địa phủ Thánh Đế- thập điện minh vương tòa chương địa phủ

Bắc Cực Trung Thiên Tam nguyên tam phẩm tam quan

Con sám hối Đại Thánh Nam Tào Lục Ty duyên thọ tinh quân

Con sám hối Đại Thánh Bắc Đẩu Cửu hoàn giải ách tinh quân

Cửu tinh thiên chúa thập nhị bát tú chư bộ thiên binh chư dinh văn võ.

Con sám hối tấu lạy quốc mẫu vua bà bơ tòa tiên thánh tứ phủ Thánh Mẫu:

Kính lạy Cửu trùng thánh mẫu .bán thiên công Chúa Thiên tiên thánh mẫu

Kính lạy địa tiên thánh mẫu quỳnh hoa Liễu Hạnh Vân Hương Thánh Mẫu

Mã Hoàng Công chúa, sắc phong Chế Thắng Hoà Diệu đại vương, gia phong Tiên Hương thiên tiên Thánh Mấu.

Kính lạy Thánh Mẫu Đệ Tam thủy cung, Xích Lân long Nữ,Thủy Tinh Công chúa

Kính lạy Đức Mẫu thượng ngàn Diệu nghĩa diệu tín thiền sư

Tuần Quán Đông Cuông đệ nhị đỉnh thượng cao sơn triều mường Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương.

Con lạy trần triều hiển thánh Hưng Đạo Đại Vương

Trần triều Khải Thánh , Vương Phụ Vương mẫu Vương phu nhân

Tứ vị Vương tử- Nhị Vị Vương cô – vương tế vương tôn Liệt vị tướng tướng công đồng Trần Triều

Con lạy Tam phủ Công Đồng, Tứ phủ Vạn linh

Bách vị các quan ngũ vị tôn quan

+ Quan đệ nhất Thượng Thiên

+Quan đệ nhị thượng ngàn

+Quan đệ tam thoải phủ

+Quan đệ tứ khâm sai

+ Quan đệ ngũ tuần tranh

Con sám hối điều thất tôn quan- Hoàng triệu tôn quan

Con lạy tứ phủ chầu bà thập nhị chầu bà

+ Chầu đệ nhất thượng thiên

+ Chầu đệ nhị thượng ngàn

+ Chầu đệ tam thủy phủ

+ Chầu đệ tứ khâm sai

+ Chầu năm Suối Lân

+ Chầu sáu Lục Cung

+ Chầu bảy Kim Giao

+ Chầu tám Bát Nàn

+ Chầu chín cửu tỉnh

+ Chầu mười Mỏ Ba

+ Chầu Bé Bắc Lệ

+ Chầu bà bản đền

Con lạy Tứ phủ thánh hoàng thập vị thánh hoàng

Sám hối ông bơ thoải quốc, ông bảy Bảo Hà, ông mười Nghệ An

Sám hối tứ phủ thánh cô

+ Cô đệ nhất thượng thiên

+ Cô đôi Đông Cuông

+ Cô bơ Thác Hàn

+ Cô tư địa phủ

+ Cô năm Suối Lân

+ Cô sáu Lục Cung

+ Cô bảy Kim Giao

+ Cô tám đồi chè

+ Cô Chín Sòng Sơn

+ Cô mười Đồng Mỏ

+ Cô bé sơn lâm

+ Cô bé bản đền

Sám hối tứ phủ thánh cậu: cậu cả cậu đôi cậu bơ cậu bé

Con lạy ngũ dinh thần tướng-ngũ hổ thần quan

Con lạy thanh xà tướng quân- bạch xà tướng quân

Con lạy công đồng các bóng các giá, mười tám cửa rừng, mười hai cửa bể.

Con lạy chầu chúa thủ đền cùng quan thủ điện, thổ địa thần kỳ thần linh bản xứ

Đê tử con là:………………………………………. ……………………………

Ngụ tại:…………………………………….. ………………………………………….

Kim niên kim nguyệt ,cát nhật lương thời

Mậu tý niên…nguyệt…..thời

Đệ tử con nhất tâm nhất lễ đêm tưởng ngày mong nhất tâm chí thiết nhất dạ chí thành

nhất tâm tưởng vạn tâm cầu-tu thiết nhang hoa lễ vật tờ đơn cánh sớ

Mang miệng tới tâu-mang đầu tới bái-cửa đình thần tam tứ phủ .

Trên mẫu độ dưới gia hộ mẫu thương -vuốt ve che chở -phù hộ độ trì

Cho con: ba tháng hè chín tháng đông-đầu năm chí giữa nửa năm chí cuối ,

Tứ thời bát tiết-tháng thuấn ngày nghiêu-phong thuận vũ hòa -tai qua nạn khỏi.

Mẫu cho con được sáng hai con mắt-bằng hai bàn chân-,

Mẫu ban lộc dương tiếp lộc âm-cho lộc mùa xuân cho tài mùa hạ

Cho tươi như lá cho đẹp như hoa-phúc lộc đề đa tiền tài mang tới,

Mẫu cho con lộc ăn lộc nói-lộc gói lộc mở,lộc gần lộc xa,

Hồ hết lại có hồ vơi lại đầy-điều lành mang đến điều dữ mang đi.

Mẫu cứu âm độ dương cứu đường độ chợ-vuốt ve che chở nắn nở mở mang.

Cải hung vi cát cải hạo vi tường-thay son đổi số nảy mực cầm cân.

Mẫu phê chữ đỏ Mẫu bỏ chữ đen-cho con đựơc trăm sự tốt vạn sự lành

Trên quý dưới yêu trên vì dưới nể-cho gặp thầy gặp bạn gặp vạn sự lành

Mẫu ban danh ban diện ban quyền-cho con có lương có thực có ngân có xuyến-tài như xuyên chí lộc tựa vân lai

Cầu tài đắc tài cầu lộc đắc lộc-cầu bình an đắc bình an

Trồng cây đắp phúc cho con được nở cành xanh lá phúc lộc đề đa

Cho trên thuận dưới hòa-trên bảo dưới nghe trên đe dưới sợ.

Mẫu cho nước chảy một dòng-thuyền xuôi một bến,bách bệnh tiêu tán, vạn bệnh tiêu trừ

Năm xung Mẫu giải xung-tháng hạn giải hạn

Cho gia trung con dc trong ấm ngoài êm nhân khang vật thịnh duyên sinh trường thọ

Đệ tử con người trần mắt thịt nhỡn nhục nan chi việc âm chưa tường việc dương chưa tỏ.

Tuổi con còn trẻ, tóc con còn xanh ăn, con ăn chưa sạch, con bạch chưa thông

Ăn chưa nên đọi, nói chưa nên lời, không biết kêu sao cho thấu, tấu sao cho tường,

Con biết tới đâu con tâu tới đấy, ba điều ko sảy bảy điều ko sai.

Trăm tội mẫu xá vạn tội mẫu thương. Mẫu xá u xá mê xá lỗi xá lầm.

Mẫu soi đường chỉ lối cho con biết đường mà lội biết lối mà lần

Hôm nay đệ tử con lễ bạc tâm thành con giàu một bó con khó một nén giàu làm kép hẹp làm đơn,

Thiếu mẫu cho làm đủ vơi mẫu cho làm đầy.

Mẫu chấp kỳ lễ vật-chấp lễ chấp bái

Chứng tâm cho lời kêu tiếng khấn của con bay như phượng lượn như hoa tới cửa ngài ngồi tời ngai ngài ngự.

Cho con sở nguyện như ý sở cầu tòng tâm.

Con nam mô a di đà phật (3 lần)

【#8】Bài Văn Khấn Ông Hoàng Bảy

Người Bảo Hà chỉ biết ông Hoàng Bảy là “thần vệ quốc” – một vị anh hùng của miền sơn cước từng đánh giặc phương Bắc bảo vệ nhân dân. Khi ông mất; đền thờ ông được xây dựng trên ngọn núi Cấm; quay mặt ra phía sông Hồng; đúng thế “tựa sơn đạp thủy” để “trấn yểm” cho vùng đất biên giới được bình yên; thịnh vượng.

Ngày tiệc chính của ông Hoàng Bảy cũng là ngày tạ thế 17/7 âm lịch, vào ngày này, ở đền ông tấp nập du khách thập phương đến dâng lễ vật như ngựa xám, bàn đèn, thuốc cống, kẹo xìu (kẹo lạc)… để cầu tài cầu lộc.

Ngoài ngày tiệc chính trên thì ngày ngày Rằm tháng Giêng cũng là thời điểm thích hợp để khách thập phương tới viếng thăm ngôi đền thiêng liêng này.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Con lạy chín phương trời, mười phương chư Phật

Ngũ phương ngũ phật, thập phương thập phật

Hằng hà sa số Đức Phật công đức, công lượng vô biên.

Đệ trước án tiền, kín lạy Đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn quán thế âm bồ tát

Cung Phật thỉnh Thánh, cung thỉnh thiên cung tấu thỉnh thiên đình, sám hối:

Tam phủ thần vương, tứ phủ thánh đế

Con xin sám hối Thiên phủ Thánh Đế – Cao thiên Thượng thánh- Đại từ Nhân giả – Huyền khung Cao Thượng đế -Ngọc Hoàng Đại Thiên tôn.

Con sám hối Nhạc Phủ Thánh Đế – (Tản Viên Sơn Thánh) -ngũ nhạc thần vương – năm phương sơn động

Con sám hối Thủy Phủ Thánh Đế – (Lạc Long Quân Đại Đế) – Bát Hải Long Vương – tám phương cửa bể

Con sám hối Địa phủ Thánh Đế- thập điện minh vưong tòa chương địa phủ

Bắc Cực Trung Thiên Tam nguyên tam phẩm tam quan

Con sám hối Đại Thánh Nam Tào Lục Ty duyên thọ tinh quân

Con sám hối Đại Thánh Bắc Đẩu Cửu hoàn giải ách tinh quân

Cửu tinh thiên chúa thập nhị bát tú chư bộ thiên binh chư dinh văn võ.

Con sám hối tấu lạy quốc mẫu vua bà bơ tòa tiên thánh tứ phủ Thánh Mẫu:

Kính lạy Cửu trùng thánh mẫu .bán thiên công Chúa Thiên tiên thánh mẫu

Kính lạy địa tiên thánh mẫu quỳnh hoa Liễu Hạnh Vân Hương Thánh Mẫu

Mã Hoàng Công chúa, sắc phong Chế Thắng Hoà Diệu đại vương, gia phong Tiên Hương thiên tiên Thánh Mấu.

Kính lạy Thánh Mẫu Đệ Tam thủy cung, Xích Lân long Nữ,Thủy Tinh Công chúa

Kính lạy Đức Mẫu thượng ngàn Diệu nghĩa diệu tín thiền sư

Tuần Quán Đông Cuông đệ nhị đỉnh thượng cao sơn triều mường Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương.

Con lạy trần triều hiển thánh Hưng Đạo Đại Vưong

Trần triều Khải Thánh , Vương Phụ Vưong mẫu Vương phu nhân

Tứ vị Vưong tử- Nhị Vị Vương cô- vương tế vương tônLiệt vị tướng tướng công đồng Trần Triều

Con lạy Tam phủ Công Đồng, Tứ phủ Vạn linh

Bách vị các quan ngũ vị tôn quan

+ Quan đệ nhất Thượng Thiên

+Quan đệ nhị thượng ngàn

+Quan đệ tam thoải phủ

+Quan đệ tứ khâm sai

+ Quan đệ ngũ tuần tranh

Con sám hối điều thất tôn quan- Hoàng triệu tôn quan

Con lạy tứ phủ chầu bà thập nhị chầu bà

+ Chầu đệ nhất thượng thiên

+ Chầu đệ nhị thượng ngàn

+ Chầu đệ tam thủy phủ

+ Chầu đệ tứ khâm sai

+ Chầu năm Suối Lân

+ Chầu sáu Lục Cung

+ Chầu bảy Kim Giao

+ Chầu tám Bát Nàn

+ Chầu chín cửu tỉnh

+ Chầu mười Mỏ Ba

+ Chầu Bé Bắc Lệ

+ Chầu bà bản đền

Con lạy Tứ phủ thánh hoàng thập vị thánh hoàng

Sám hối ông bơ thoải quốc, ông bảy Bảo Hà, ông mười Nghệ An

Sám hối tứ phủ thánh cô

+ Cô đệ nhất thượng thiên

+ Cô đôi Đông Cuông

+ Cô bơ Thác Hàn

+ Cô tư địa phủ

+ Cô năm Suối Lân

+ Cô sáu Lục Cung

+ Cô bảy Kim Giao

+ Cô tám đồi chè

+ Cô Chín Sòng Sơn

+ Cô mười Đồng Mỏ

+ Cô bé sơn lâm

+ Cô bé bản đền

Sám hối tứ phủ thánh cậu: cậu cả cậu đôi cậu bơ cậu bé

Con lạy ngũ dinh thần tướng-ngũ hổ thần quan

Con lạy thanh xà tướng quân- bạch xà tướng quân

Con lạy công đồng các bóng các giá, mười tám cửa rừng, mười hai cửa bể.

Con lạy chầu chúa thủ đền cùng quan thủ điện, thổ địa thần kỳ thần linh bản xứ

Đê tử con là:………………………………………. ……………………………

Ngụ tại:…………………………………….. ………………………………………….

Kim niên kim nguyệt ,cát nhật lương thời

Mậu tý niên…nguyệt…..thời

Đệ tử con nhất tâm nhất lễ đêm tưởng ngày mong nhất tâm chí thiết nhất dạ chí thành

nhất tâm tưởng vạn tâm cầu-tu thiết nhang hoa lễ vật tờ đơn cánh sớ

Mang miệng tới tâu-mang đầu tới bái-cửa đình thần tam tứ phủ .

Trên mẫu độ dưới gia hộ mẫu thương -vuốt ve che chở -phù hộ độ trì

Cho con: ba tháng hè chín tháng đông-đầu năm chí giữa nửa năm chí cuối ,

Tứ thời bát tiết-tháng thuấn ngày nghiêu-phong thuận vũ hòa -tai qua nạn khỏi.

Mẫu cho con được sáng hai con mắt-bằng hai bàn chân-,

Mẫu ban lộc dương tiếp lộc âm-cho lộc mùa xuân cho tài mùa hạ

Cho tươi như lá cho đẹp như hoa-phúc lộc đề đa tiền tài mang tới,

Mẫu cho con lộc ăn lộc nói-lộc gói lộc mở,lộc gần lộc xa,

Hồ hết lại có hồ vơi lại đầy-điều lành mang đến điều dữ mang đi.

Mẫu cứu âm độ dương cứu đường độ chợ-vuốt ve che chở nắn nở mở mang.

Cải hung vi cát cải hạo vi tường-thay son đổi số nảy mực cầm cân.

Mẫu phê chữ đỏ Mẫu bỏ chữ đen-cho con đựơc trăm sự tốt vạn sự lành

Trên quý dưới yêu trên vì dưới nể-cho gặp thầy gặp bạn gặp vạn sự lành

Mẫu ban danh ban diện ban quyền-cho con có lương có thực có ngân có xuyến-tài như xuyên chí lộc tựa vân lai

Cầu tài đắc tài cầu lộc đắc lộc-cầu bình an đắc bình an

Trồng cây đắp phúc cho con được nở cành xanh lá phúc lộc đề đa

Cho trên thuận dưới hòa-trên bảo dưới nghe trên đe dưới sợ.

Mẫu cho nước chảy một dòng-thuyền xuôi một bến,bách bệnh tiêu tán, vạn bệnh tiêu trừ

Năm xung Mẫu giải xung-tháng hạn giải hạn

Cho gia trung con dc trong ấm ngoài êm nhân khang vật thịnh duyên sinh trường thọ

Đệ tử con người trần mắt thịt nhỡn nhục nan chi việc âm chưa tường việc dương chưa tỏ.

Tuổi con còn trẻ, tóc con còn xanh ăn, con ăn chưa sạch, con bạch chưa thông

Ăn chưa nên đọi, nói chưa nên lời, không biết kêu sao cho thấu, tấu sao cho tường,

Con biết tới đâu con tâu tới đấy, ba điều ko sảy bảy điều ko sai.

Trăm tội mẫu xá vạn tội mẫu thương.Mẫu xá u xá mê xá lỗi xá lầm.

Mẫu soi đường chỉ lối cho con biết đường mà lội biết lối mà lần

Hôm nay đệ tử con lễ bạc tâm thành con giàu một bó con khó một nén giàu làm kép hẹp làm đơn,

Thiếu mẫu cho làm đủ vơi mẫu cho làm đầy.

Mẫu chấp kỳ lễ vật-chấp lễ chấp bái

Chứng tâm cho lời kêu tiếng khấn của con bay như phượng lượn như hoa tới cửa ngài ngồi tời ngai ngài ngự.

Cho con sở nguyện như ý sở cầu tòng tâm.

Con nam mô a di đà phật (3 lần)

【#9】Bài Văn Khấn Nôm Ông Hoàng Bảy Đầy Đủ

Quan Hoàng Bảy Bảo Hà – đền chính Bảo Hà, Lào Cai là một vị quan hoàng anh linh và hay về ngự đồng chấm lính nhất.Hàng năm,cứ từ 7/7 tới 17/7 người dân nô nức kéo nhau về đề bái yết và dâng phẩm vật cầu xin ngài gia hộ.

Các lễ vật dâng ông gồm: chè, rượu,thuốc lá,hoa quả bánh kéo,nhang đèn thờ.

Văn khấn nôm:

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Con lạy chín phương trời, mười phương chư Phật

Ngũ phương ngũ phật, thập phương thập phật

Hằng hà sa số Đức Phật công đức, công lượng vô biên.

Đệ trước án tiền, kín lạy Đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn quán thế âm bồ tát

Cung Phật thỉnh Thánh, cung thỉnh thiên cung tấu thỉnh thiên đình, sám hối:

Tam phủ thần vương, tứ phủ thánh đế

Con xin sám hối Thiên phủ Thánh Đế – Cao thiên Thượng thánh- Đại từ Nhân giả – Huyền khung Cao Thượng đế – Ngọc Hoàng Đại Thiên tôn.

Con sám hối Nhạc Phủ Thánh Đế – (Tản Viên Sơn Thánh) – ngũ nhạc thần vương – năm phương sơn động

Con sám hối Thủy Phủ Thánh Đế – (Lạc Long Quân Đại Đế) – Bát Hải Long Vương – tám phương cửa bể

Con sám hối Địa phủ Thánh Đế- thập điện minh vưong tòa chương địa phủ

Bắc Cực Trung Thiên Tam nguyên tam phẩm tam quan

Con sám hối Đại Thánh Nam Tào Lục Ty duyên thọ tinh quân

Con sám hối Đại Thánh Bắc Đẩu Cửu hoàn giải ách tinh quân

Cửu tinh thiên chúa thập nhị bát tú chư bộ thiên binh chư dinh văn võ.

Con sám hối tấu lạy quốc mẫu vua bà bơ tòa tiên thánh tứ phủ Thánh Mẫu:

Kính lạy Cửu trùng thánh mẫu .bán thiên công Chúa Thiên tiên thánh mẫu

Kính lạy địa tiên thánh mẫu quỳnh hoa Liễu Hạnh Vân Hương Thánh Mẫu

Mã Hoàng Công chúa, sắc phong Chế Thắng Hoà Diệu đại vương, gia phong Tiên Hương thiên tiên Thánh Mấu.

Kính lạy Thánh Mẫu Đệ Tam thủy cung, Xích Lân long Nữ,Thủy Tinh Công chúa

Kính lạy Đức Mẫu thượng ngàn Diệu nghĩa diệu tín thiền sư

Tuần Quán Đông Cuông đệ nhị đỉnh thượng cao sơn triều mường Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương.

Con lạy trần triều hiển thánh Hưng Đạo Đại Vưong

Trần triều Khải Thánh , Vương Phụ Vưong mẫu Vương phu nhân

Tứ vị Vưong tử- Nhị Vị Vương cô- vương tế vương tônLiệt vị tướng tướng công đồng Trần Triều

Con lạy Tam phủ Công Đồng, Tứ phủ Vạn linh

Bách vị các quan ngũ vị tôn quan

+ Quan đệ nhất Thượng Thiên

+Quan đệ nhị thượng ngàn

+Quan đệ tam thoải phủ

+Quan đệ tứ khâm sai

+ Quan đệ ngũ tuần tranh

Con sám hối điều thất tôn quan- Hoàng triệu tôn quan

Con lạy tứ phủ chầu bà thập nhị chầu bà

+ Chầu đệ nhất thượng thiên

+ Chầu đệ nhị thượng ngàn

+ Chầu đệ tam thủy phủ

+ Chầu đệ tứ khâm sai

+ Chầu năm Suối Lân

+ Chầu sáu Lục Cung

+ Chầu bảy Kim Giao

+ Chầu tám Bát Nàn

+ Chầu chín cửu tỉnh

+ Chầu mười Mỏ Ba

+ Chầu Bé Bắc Lệ

+ Chầu bà bản đền

Con lạy Tứ phủ thánh hoàng thập vị thánh hoàng

Sám hối ông bơ thoải quốc, ông bảy Bảo Hà, ông mười Nghệ An

Sám hối tứ phủ thánh cô

+ Cô đệ nhất thượng thiên

+ Cô đôi Đông Cuông

+ Cô bơ Thác Hàn

+ Cô tư địa phủ

+ Cô năm Suối Lân

+ Cô sáu Lục Cung

+ Cô bảy Kim Giao

+ Cô tám đồi chè

+ Cô Chín Sòng Sơn

+ Cô mười Đồng Mỏ

+ Cô bé sơn lâm

+ Cô bé bản đền

Sám hối tứ phủ thánh cậu: cậu cả cậu đôi cậu bơ cậu bé

Con lạy ngũ dinh thần tướng-ngũ hổ thần quan

Con lạy thanh xà tướng quân- bạch xà tướng quân

Con lạy công đồng các bóng các giá, mười tám cửa rừng, mười hai cửa bể.

Con lạy chầu chúa thủ đền cùng quan thủ điện, thổ địa thần kỳ thần linh bản xứ

Đê tử con là:………………………………………. ……………………………

Ngụ tại:…………………………………….. ………………………………………….

Kim niên kim nguyệt ,cát nhật lương thời

Mậu tý niên…nguyệt…..thời

Đệ tử con nhất tâm nhất lễ đêm tưởng ngày mong nhất tâm chí thiết nhất dạ chí thành

nhất tâm tưởng vạn tâm cầu-tu thiết nhang hoa lễ vật tờ đơn cánh sớ

Mang miệng tới tâu-mang đầu tới bái-cửa đình thần tam tứ phủ .

Trên mẫu độ dưới gia hộ mẫu thương -vuốt ve che chở -phù hộ độ trì

Cho con: ba tháng hè chín tháng đông-đầu năm chí giữa nửa năm chí cuối ,

Tứ thời bát tiết-tháng thuấn ngày nghiêu-phong thuận vũ hòa -tai qua nạn khỏi.

Mẫu cho con được sáng hai con mắt-bằng hai bàn chân-,

Mẫu ban lộc dương tiếp lộc âm-cho lộc mùa xuân cho tài mùa hạ

Cho tươi như lá cho đẹp như hoa-phúc lộc đề đa tiền tài mang tới,

Mẫu cho con lộc ăn lộc nói-lộc gói lộc mở,lộc gần lộc xa,

Hồ hết lại có hồ vơi lại đầy-điều lành mang đến điều dữ mang đi.

Mẫu cứu âm độ dương cứu đường độ chợ-vuốt ve che chở nắn nở mở mang.

Cải hung vi cát cải hạo vi tường-thay son đổi số nảy mực cầm cân.

Mẫu phê chữ đỏ Mẫu bỏ chữ đen-cho con đựơc trăm sự tốt vạn sự lành

Trên quý dưới yêu trên vì dưới nể-cho gặp thầy gặp bạn gặp vạn sự lành

Mẫu ban danh ban diện ban quyền cho con có lương có thực có ngân có xuyến-tài như xuyên chí lộc tựa vân lai

Cầu tài đắc tài cầu lộc đắc lộc-cầu bình an đắc bình an

Trồng cây đắp phúc cho con được nở cành xanh lá phúc lộc đề đa

Cho trên thuận dưới hòa trên bảo dưới nghe trên đe dưới sợ.

Mẫu cho nước chảy một dòng thuyền xuôi một bến,bách bệnh tiêu tán, vạn bệnh tiêu trừ

Năm xung Mẫu giải xung-tháng hạn giải hạn

Cho gia trung con dc trong ấm ngoài êm nhân khang vật thịnh duyên sinh trường thọ

Đệ tử con người trần mắt thịt nhỡn nhục nan chi việc âm chưa tường việc dương chưa tỏ.

Tuổi con còn trẻ, tóc con còn xanh ăn, con ăn chưa sạch, con bạch chưa thông

Ăn chưa nên đọi, nói chưa nên lời, không biết kêu sao cho thấu, tấu sao cho tường,

Con biết tới đâu con tâu tới đấy, ba điều ko sảy bảy điều ko sai.

Trăm tội mẫu xá vạn tội mẫu thương.Mẫu xá u xá mê xá lỗi xá lầm.

Mẫu soi đường chỉ lối cho con biết đường mà lội biết lối mà lần

Hôm nay đệ tử con lễ bạc tâm thành con giàu một bó con khó một nén giàu làm kép hẹp làm đơn,

Thiếu mẫu cho làm đủ vơi mẫu cho làm đầy.

Mẫu chấp kỳ lễ vật-chấp lễ chấp bái

Chứng tâm cho lời kêu tiếng khấn của con bay như phượng lượn như hoa tới cửa ngài ngồi tời ngai ngài ngự.

Cho con sở nguyện như ý sở cầu tòng tâm.

Con nam mô a di đà phật (3 lần)

【#10】Văn Khấn Ông Hoàng Bảy Và Cách Sắm Lễ Tạ Đền Ông Hoàng Bảy Đầy Đủ Nhất

Đền ông Hoàng Bảy còn được gọi là đền Bảo Hà. Đây là di tích được xây trên ngọn núi Cấm thuộc xã Bảo Hà, Bảo Yên, Lào Cai, nổi tiếng linh thiêng, được nhiều người thành kính sùng bái. Đền ông Hoàng Bảy là nơi diễn ra nhiều ngày lễ hội, trong đó những ngày lễ chính là: Lễ thượng nguyên (Rằm tháng Giêng), lễ tiệc quan tuần tranh (25/5 âm lịch), lễ hội ngày giỗ ông Hoàng Bảy (17/7 âm lịch), lễ tết muộn (Tết tất niên).

I Văn khấn Ông Hoàng Bảy

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Con lạy chín phương trời, mười phương chư Phật

Ngũ phương ngũ phật, thập phương thập phật

Hằng hà sa số Đức Phật công đức, công lượng vô biên.

Đệ trước án tiền, kín lạy Đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn quán thế âm bồ tát

Cung Phật thỉnh Thánh, cung thỉnh thiên cung tấu thỉnh thiên đình, sám hối:

Tam phủ thần vương, tứ phủ thánh đế

Con xin sám hối Thiên phủ Thánh Đế – Cao thiên Thượng thánh- Đại từ Nhân giả – Huyền khung Cao Thượng đế -Ngọc Hoàng Đại Thiên tôn.

Con sám hối Nhạc Phủ Thánh Đế – (Tản Viên Sơn Thánh) -ngũ nhạc thần vương – năm phương sơn động

Con sám hối Thủy Phủ Thánh Đế – (Lạc Long Quân Đại Đế) – Bát Hải Long Vương – tám phương cửa bể

Con sám hối Địa phủ Thánh Đế- thập điện minh vưong tòa chương địa phủ

Bắc Cực Trung Thiên Tam nguyên tam phẩm tam quan

Con sám hối Đại Thánh Nam Tào Lục Ty duyên thọ tinh quân

Con sám hối Đại Thánh Bắc Đẩu Cửu hoàn giải ách tinh quân

Cửu tinh thiên chúa thập nhị bát tú chư bộ thiên binh chư dinh văn võ.

Con sám hối tấu lạy quốc mẫu vua bà bơ tòa tiên thánh tứ phủ Thánh Mẫu:

Kính lạy Cửu trùng thánh mẫu .bán thiên công Chúa Thiên tiên thánh mẫu

Kính lạy địa tiên thánh mẫu quỳnh hoa Liễu Hạnh Vân Hương Thánh Mẫu

Mã Hoàng Công chúa, sắc phong Chế Thắng Hoà Diệu đại vương, gia phong Tiên Hương thiên tiên Thánh Mấu.

Kính lạy Thánh Mẫu Đệ Tam thủy cung, Xích Lân long Nữ,Thủy Tinh Công chúa

Kính lạy Đức Mẫu thượng ngàn Diệu nghĩa diệu tín thiền sư

Tuần Quán Đông Cuông đệ nhị đỉnh thượng cao sơn triều mường Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương.

Con lạy trần triều hiển thánh Hưng Đạo Đại Vưong

Trần triều Khải Thánh , Vương Phụ Vưong mẫu Vương phu nhân

Tứ vị Vưong tử- Nhị Vị Vương cô- vương tế vương tônLiệt vị tướng tướng công đồng Trần Triều

Con lạy Tam phủ Công Đồng, Tứ phủ Vạn linh

Bách vị các quan ngũ vị tôn quan

+ Quan đệ nhất Thượng Thiên

+Quan đệ nhị thượng ngàn

+Quan đệ tam thoải phủ

+Quan đệ tứ khâm sai

+ Quan đệ ngũ tuần tranh

Con sám hối điều thất tôn quan- Hoàng triệu tôn quan

Con lạy tứ phủ chầu bà thập nhị chầu bà

+ Chầu đệ nhất thượng thiên

+ Chầu đệ nhị thượng ngàn

+ Chầu đệ tam thủy phủ

+ Chầu đệ tứ khâm sai

+ Chầu năm Suối Lân

+ Chầu sáu Lục Cung

+ Chầu bảy Kim Giao

+ Chầu tám Bát Nàn

+ Chầu chín cửu tỉnh

+ Chầu mười Mỏ Ba

+ Chầu Bé Bắc Lệ

+ Chầu bà bản đền

Con lạy Tứ phủ thánh hoàng thập vị thánh hoàng

Sám hối ông bơ thoải quốc, ông bảy Bảo Hà, ông mười Nghệ An

Sám hối tứ phủ thánh cô

+ Cô đệ nhất thượng thiên

+ Cô đôi Đông Cuông

+ Cô bơ Thác Hàn

+ Cô tư địa phủ

+ Cô năm Suối Lân

+ Cô sáu Lục Cung

+ Cô bảy Kim Giao

+ Cô tám đồi chè

+ Cô Chín Sòng Sơn

+ Cô mười Đồng Mỏ

+ Cô bé sơn lâm

+ Cô bé bản đền

Sám hối tứ phủ thánh cậu: cậu cả cậu đôi cậu bơ cậu bé

Con lạy ngũ dinh thần tướng-ngũ hổ thần quan

Con lạy thanh xà tướng quân- bạch xà tướng quân

Con lạy công đồng các bóng các giá, mười tám cửa rừng, mười hai cửa bể.

Con lạy chầu chúa thủ đền cùng quan thủ điện, thổ địa thần kỳ thần linh bản xứ

Đê tử con là:………………………………………. ……………………………

Ngụ tại:…………………………………….. ………………………………………….

Kim niên kim nguyệt ,cát nhật lương thời

Mậu tý niên…nguyệt…..thời

Đệ tử con nhất tâm nhất lễ đêm tưởng ngày mong nhất tâm chí thiết nhất dạ chí thành

nhất tâm tưởng vạn tâm cầu-tu thiết nhang hoa lễ vật tờ đơn cánh sớ

Mang miệng tới tâu-mang đầu tới bái-cửa đình thần tam tứ phủ .

Trên mẫu độ dưới gia hộ mẫu thương -vuốt ve che chở -phù hộ độ trì

Cho con: ba tháng hè chín tháng đông-đầu năm chí giữa nửa năm chí cuối ,

Tứ thời bát tiết-tháng thuấn ngày nghiêu-phong thuận vũ hòa -tai qua nạn khỏi.

Mẫu cho con được sáng hai con mắt-bằng hai bàn chân-,

Mẫu ban lộc dương tiếp lộc âm-cho lộc mùa xuân cho tài mùa hạ

Cho tươi như lá cho đẹp như hoa-phúc lộc đề đa tiền tài mang tới,

Mẫu cho con lộc ăn lộc nói-lộc gói lộc mở,lộc gần lộc xa,

Hồ hết lại có hồ vơi lại đầy-điều lành mang đến điều dữ mang đi.

Mẫu cứu âm độ dương cứu đường độ chợ-vuốt ve che chở nắn nở mở mang.

Cải hung vi cát cải hạo vi tường-thay son đổi số nảy mực cầm cân.

Mẫu phê chữ đỏ Mẫu bỏ chữ đen-cho con đựơc trăm sự tốt vạn sự lành

Trên quý dưới yêu trên vì dưới nể-cho gặp thầy gặp bạn gặp vạn sự lành

Mẫu ban danh ban diện ban quyền-cho con có lương có thực có ngân có xuyến-tài như xuyên chí lộc tựa vân lai

Cầu tài đắc tài cầu lộc đắc lộc-cầu bình an đắc bình an

Trồng cây đắp phúc cho con được nở cành xanh lá phúc lộc đề đa

Cho trên thuận dưới hòa-trên bảo dưới nghe trên đe dưới sợ.

Mẫu cho nước chảy một dòng-thuyền xuôi một bến,bách bệnh tiêu tán, vạn bệnh tiêu trừ

Năm xung Mẫu giải xung-tháng hạn giải hạn

Cho gia trung con dc trong ấm ngoài êm nhân khang vật thịnh duyên sinh trường thọ

Đệ tử con người trần mắt thịt nhỡn nhục nan chi việc âm chưa tường việc dương chưa tỏ.

Tuổi con còn trẻ, tóc con còn xanh ăn, con ăn chưa sạch, con bạch chưa thông

Ăn chưa nên đọi, nói chưa nên lời, không biết kêu sao cho thấu, tấu sao cho tường,

Con biết tới đâu con tâu tới đấy, ba điều ko sảy bảy điều ko sai.

Trăm tội mẫu xá vạn tội mẫu thương.Mẫu xá u xá mê xá lỗi xá lầm.

Mẫu soi đường chỉ lối cho con biết đường mà lội biết lối mà lần

Hôm nay đệ tử con lễ bạc tâm thành con giàu một bó con khó một nén giàu làm kép hẹp làm đơn,

Thiếu mẫu cho làm đủ vơi mẫu cho làm đầy.

Mẫu chấp kỳ lễ vật-chấp lễ chấp bái

Chứng tâm cho lời kêu tiếng khấn của con bay như phượng lượn như hoa tới cửa ngài ngồi tời ngai ngài ngự.

Cho con sở nguyện như ý sở cầu tòng tâm.

Con nam mô a di đà phật(3 lần)

II. Sắm lễ tạ Ông Hoang Bảy gồm có những gì?

Ông Hoàng Bảy được thờ chính tại đền Bảo Hà, Lao Cai (đền ông hoàng bảy). Khi đi lễ đền Ông Hoàng Bảy quý vị có thể sắm lễ mặn hoặc lễ chay.

Lễ mặn: Mâm xôi, gà (gà trống bày nguyên cả con)

Lễ chay: Rượu, bia, nước ngọt, nước khoáng, hoa tươi quả tốt, bánh, kẹo (kẹo lạc, oản), trà, thuốc lá, ít vàng lá, hương, nến, tiền trần, cau trầu, 1000 vàng Bốn Phủ, 1000 vàng tím… Nếu những ai có điều kiện hơn có thể sắm thêm một cỗ ngựa tím cùng với minh nghi quần, áo, hia, mũ đầy đủ.

Lễ vật dâng ông Hoàng Bảy, không nhất thiết phải dâng Ông 12 tiên nàng. Lễ dâng ông có thể ít hoặc nhiều nhưng chủ yếu tâm bạn phải sáng mới là điều cần thiết nhất.