【#1】Bài Văn Khấn Quán Thế Âm Bồ Tát Tại Chùa

Bồ tát Quán Thế Âm tu hạnh từ bi, thường cứu khổ chúng sanh, nên người ta thường xưng tán Ngài là Đại từ Đại bi Quán Thế Âm Bồ-tát. Hạnh đại từ bi của Ngài là lúc nào cũng an ủi, nhắc nhở, khuyên lơn, đem lại nguồn an vui cho tất cả chúng sanh. Ở đâu có tiếng than, có nỗi khổ, Ngài đều đến để cứu vớt. Vì vậy Ngài tượng trưng cho tâm hạnh từ bi. Hạnh từ bi thì gần với tình thương của người mẹ, nên người ta tạc tượng Ngài là nữ. Đó là hình ảnh biểu trưng cho hạnh từ bi, chớ không phải Ngài thật là người nữ.

Bồ tát Quán Thế Âm tiếng Phạn gọi là Avalokitesvara. Ngài là một vị Phật thành tựu trong đời quá khứ hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai, thị hiện trong đời làm một bậc Đại Bồ-tát để trợ duyên cho chư Phật Thế Tôn giáo hóa chúng sanh và gần gũi chúng sanh để tế độ ra khỏi cảnh đau khổ. Hình tướng Ngài là nam nhân trong Phật giáo Ấn Độ. Trong Phật giáo Trung Quốc, Ngài mang tướng nữ nhân kể từ đời nhà Đường. Bồ-tát là mẫu người lý tưởng của Phật giáo Đại thừa. Ngay các Đức Phật, sau khi đã viên mãn công đức cũng tham gia Bồ-tát hạnh, chứ không an trú nghỉ ngơi ở Niết Bàn.

Văn khấn lễ Đức Quán Thế Âm Bồ Tát như sau:

Nam Mô Thập Phương Thường Trù Tam Bảo! (3 lần) – Con kính lạy chín phương Trười, mười phương Chư Phật, chư phật Mười Phương. – Con Nam Mô Đại từ, Đại bi Linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát.

– Con xin kính lạy đức Viên thông Giáo chủ Thùy Từ chứng giám.

Tín chủ con là… Hôm nay ngày…. Tín chủ con thành tâm đến trước Phật đài, nơi điện Cửa hoa, kính dâng phẩm vật, hương hoa, oản quả, nhất tâm kính lễ dưới tòa sen hồng. Cúi xin được Đại sỹ không rời bản nguyện, theo Phật phó chúc trên cung trời Đạo lợi, chở che cứu vớt chúng con và cả gia quyến như thể mẹ hiền, phù trì con đỏ. Nhờ nước dương chi, lòng trần cầu ân thanh tịnh, thiện nguyện nêu cao. Được ánh từ quang soi tỏ, khiến cho nghiệp trần nhẹ bớt, tâm đạo khai hoa, độ cho tín chủ con cùng toàn thể gia quyến sức khỏe dồi dào, phúc thọ khang ninh, lộc tài vượng tiến, công việc hanh thông, vạn sự tốt lành, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

Giãi tấm lòng thành, cúi xin được phù hộ độ trì. Nam Mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

【#2】Văn Khấn Quán Thế Âm Bồ Tát Ở Chùa

– Đến dâng hương tại các chùa chỉ được sắm các lễ chay: hương, hoa tươi, quả chín, oản phẩm, xôi chè… không được sắm sửa lễ mặn chư cỗ tam sinh (trâu, dê, lợn), thịt mồi, gà, giò, chả…

– Việc sắm sửa lễ mặn chỉ có thể được chấp nhận nếu như trong khu vực chùa có thờ tự các vị Thánh, Mẫu và chỉ dâng ở đó mà thôi. Tuyệt đối không được dâng đặt lễ mặn ở khu vực Phật điện (chính diện), tức là nơi thờ tự chính của ngôi chùa. Trên hương án của chính điện chỉ được dâng đặt lễ chay, tịnh. Lễ mặn (nhưng thường chỉ đơn giản: gà, giò, chả, rượu, trầu cau…) cũng thường được đặt tại ban thờ hay điện thờ (nếu xây riêng) của Đức Ông – Vị thần cai quản toàn bộ công việc của một ngôi chùa.

– Không nên sắm sửa vàng mã, tiền âm phủ để dâng cúng Phật tại chùa. Nếu có sửa lễ này thì thí chủ đặt ở bàn thờ Thần Linh, Thánh Mẫu hay ở bàn thờ Đức Ông.

– Tiền giấy âm phủ hay hàng mã kiêng đặt ở ban thờ Phật, Bồ Tát. Tiền thật cũng không nên đặt lên hương án của chính điện, mà nên bỏ vào hòm công đức.

– Hoa tươi lễ Phật là hoa sen, hoa huệ, hoa mẫu đơn, hoa ngâu… không dùng các loại hoa tạp, hoa dại…

2. Thứ tự hành lễ ở Chùa cần theo thứ tự như sau:

1. Đặt lễ vật: Thắp hương và làm lễ ban thờ Đức Ông trước.

2. Sau khi đặt lễ ở ban Đức Ông xong, đặt lễ lên hương án của chính điện, thắp đèn nhang.

3. Sau khi đặt lễ chính điện xong thì đi thắp hương ở tất cả các ban thờ khác của nhà Bái Đường. Khi thắp hương lên đều có 3 lễ hay 5 lễ. Nếu chùa nào có điện thờ Mẫu, Tứ Phủ thì đến đó đặt lễ, dâng hương cầu theo ý nguyện.

4. Cuối cùng thì lễ ở nhà thờ Tổ (nhà Hậu)

5. Cuối buổi lễ, sau khi đã lễ tạ để hạ lễ thì nên đến nhà trai giới hay phòng tiếp khách để thăm hỏi các vị sư, tăng trụ trì và có thể tuỳ tâm công đức.

3. Văn khấn Quán Thế Âm Bồ Tát ở Chùa

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Nam mô Đại từ, Đại bi Linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát.

Kính lạy Đức Viên Thông giáo chủ thùy từ chứng giám.

Hôm nay là ngày….. tháng….. năm…..

Tín chủ con là…………………

Ngụ tại……………………………

Thành tâm đến trước Phật đài, nơi điện Đại bi, kính dâng phẩm vật, hương hoa kim ngân tịnh tài, ngũ thể đầu thành, nhất tâm kính lễ dưới Toà sen hồng.

Cúi xin Đức Đại Sỹ không rời bản nguyện chở che cứu vớt chúng con như mẹ hiền phù trì con đỏ. Nhờ nước dương chi, lòng trần cầu ân thanh tịnh, thiện nguyện nêu cao. Được ánh từ quang soi tỏ, khiến cho nghiệp trần nhẹ bớt, tâm đạo khai hoa, độ cho đệ tử cùng gia đình bốn mùa được chữ bình an, tám tiết khang ninh thịnh vượng, lộc tài tăng tiến, gia đạo hưng long, mầm tai ương tiêu sạch làu làu, đường chính đạo thênh thang tiến bước. Cầu gì cũng được, nguyện gì cũng thành.

Dãi tấm lòng thành, cúi xin bái thỉnh.

Cẩn nguyện

Theo chúng tôi

【#3】Văn Khấn Quan Thế Âm Bồ Tát

Quan Âm Bồ Tát là hiện thân của sự nhân từ, lòng từ bi, cứu rỗi nhân loại khỏi những khổ đau, bệnh tật và phù hộ cho nhân loại cuộc sống bình an, hạnh phúc, đoàn viên. Vì vậy, ở Việt Nam, việc thờ tượng Quan Âm bằng đá khá phổ biến và được nhiều người coi trọng.

Theo quan niệm xa xưa, các gia đình Việt thường đến các ngôi chùa để cầu bình an, hạnh phúc. Trong đó, lễ Quan Thế Âm Bồ Tát thường được nhiều người quan tâm.

Bài khấn nguyện Quan thế âm bồ tát

Thường việc khấn Phật bà quan âm nên diễn ra vào mỗi buổi sáng khi mới thức dậy, buổi tối trước khi đi ngủ. Khi lạy, nên lạy tượng Quan Âm bằng đá chậm rãi, giữ tâm chí kính, chí thành. Sau khi dâng hương, cắm hương thì quỳ đọc:

“Con xin cung kính lễ lạy:

Nam Mô Đại Từ Đại Bi Thập Phương Tam Thế Chư Phật, chư Bồ Tát,

Tam Bảo khắp mười phương.

Tam Bảo khắp mười phương.

Tam Bảo khắp mười phương.

Nam Mô A Di Đà Phật

Nam Mô A Di Đà Phật

Nam Mô A Di Đà Phật

Nam Mô Đại Từ Đại Bi cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát

Nam Mô Đại Từ Đại Bi cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát

Tri ân:

Hôm nay lại bước qua một ngày, con tự biết con đã được rất nhiều may mắn, con đã hưởng được tha lực từ bi của chư Phật, chư Bồ Tát. Đức Từ phụ A Di Đà Phật, Đức Mẹ Quán Thế Âm Bồ Tát ban cho, và được chư vị giúp đỡ mà con mới có được ngày hôm nay. Con xin thành tâm thành kính quỳ nơi đây dâng lòng chí thành chí kính tri ân (1 lạy).

Cầu an:

Con xin thành tâm thành kính cầu nguyện sự an lành, an lạc, thanh bình, hạnh phúc cho cha mẹ, anh em, thân bằng quyến thuộc, cùng khắp các chúng sanh hữu tình, vô tình.

Con cầu xin thập phương tam thế chư Phật, chư Bồ Tát, Đức Từ phụ A Di Đà Phật, Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, và chư vị từ bi gia hộ, giúp đỡ để chúng con đồng được sự an lành, an lạc, tu hành đến Tri Kiến Giải Thoát, thoát khỏi sanh tử luân hồi, đồng xin nguyện được vãng sanh về Cực Lạc Quốc (1 lạy).

Cầu siêu:

Con cũng thanh tâm cầu siêu cho vong linh cửu huyền thất tổ, cha mẹ, tổ tiên, thân bằng quyến thuộc nhiều đời nhiều kiếp.

Những vong linh liên hệ và không liên hệ đến con,

Những vong linh con đã lỡ gây hại, sát hại trong quá khứ,

Cho những vong linh tên: …………

Cùng những vong linh mất trong chiến tranh, thiên tai, bệnh tật, và vì mọi lý do chưa được vãng sanh.

Con thành tâm cầu nguyện xin tha lực từ bi của mười phương chư Phật, chư Bồ Tát, Đức từ phụ A Di Đà Phật, Đức Mẹ Quan Thế Âm Bồ Tát, Đức Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, cùng chư vị giúp đỡ để các vong linh được tiếp dẫn về nơi an lạc, siêu sanh Tịnh Độ (1 lạy)

Sám hối:

Nay con xin chí thành sám hối mọi tội lỗi con đã lỡ gây tạo từ nhiều kiếp cho đến nay, những tội con đã gây tạo trong kiếp sống hiện tại.

Những tội con gây tạo do bởi vô tình hay cố ý, gây hại, sát hại đến nhân mạng, đến giới hữu tình hoặc vô tình, những tội do bởi Tham, Sân, Si, do bởi ngã mạn, vô minh che lấp.

Từ nay, mỗi ngày con xin kiểm soát hành động, từ tưởng để sám hối, sửa sai và xin nguyện giữ mình không tái phạm.

Hết thảy các tội, con xin chí thành quỳ nơi đây dâng lòng sám hối. Xin chư Phật mười phương, chư Bồ Tát, Đức từ phụ A Di Đà Phật, Đức Mẹ Quan Thế Âm Bồ Tát chứng minh cho lòng thành của con (1 lạy).

Hồi Hướng/ Phát Nguyện:

Sám hối rồi, nay con xin nguyện tiếp tục tu học, tu hành, hướng tâm tu để thoát khỏi sanh tử luân hồi. Làm việc lợi mình lợi người.

Con xin hồi hướng, chia sẻ Công Đức đến cha mẹ, thân nhân (tên) …………. Đến chư Thiên, chư Thần, chư Thánh, chư Hộ Pháp và chư vị đã giúp đỡ cho con.

Đến những vong linh mà con đã lỡ gây hại, sát hại. Cùng tất cả các vong linh chưa được vãng sanh và pháp giới chúng sanh.

Con nguyện dâng lòng thành kính tri ân, quy y Tam Bảo. Cầu xin Chư Phật mười phương, chư Bồ Tát, Đức từ phụ A Di Đà Phật, Đức Mẹ Quán thế Âm Bồ Tát từ bi gia hộ để con và chúng sanh đồng được duyên lành tu học thoát khỏi sanh tử luân hồi, trên tri ân chư Phật, dưới cứu độ chúng sanh. Chúng con đồng xin nguyện được vãng sanh về Cực Lạc Quốc (3 lạy).

Văn khấn Quan thế âm bồ tát tại nhà

Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con Nam mô Đại từ, Đại bi Linh cảm Quán thế Bồ Tát.

Con xin kính lạy đức Viên thông Giáo chủ thủy từ chứng giám.

Tín chủ con là ………………

Ngụ tại ………………

Hôm nay là ngày… tháng… năm…

Tín chủ con thành tâm đến trước Phật đài, nơi điện cửa hoa, kính dâng phẩm vật, hương hoa kim ngân tịnh tài, ngũ thể đầu thành, nhất tâm kính lễ dưới tòa sen hồng.

Cúi xin đước Đại sỹ không rời bạn nguyện, theo Phật phó chúc trên cung trời Đạo lợi, chở che cứu vớt chúng con và cả gia quyến như thể mẹ hiền, phù trì con đỏ. Nhờ nước dương chi, lòng trần cầu ân thanh tịnh, thiện nguyện nêu cao.

Được anh từ quang soi tỏ, khiến cho nghiệp trần nhẹ bớt, tâm đạo khai hoa, độ cho đệ tử con cùng toàn thể gia quyến ba tháng đồng, chín tháng hè luôn được sức khỏe dồi dào, phúc thọ khang ninh, lộc tài vương tiến, công việc hanh thông, vạn sự tốt lành, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

Tín chủ con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Thỉnh Mua tượng Quan Âm bằng đá ở đâu?

Đại đa số các trụ trì của các chùa lớn tại Đà Nẵng cũng như các khu vực toàn quốc điều tin tưởng và lựa chọn cơ sở chúng tôi làm đối tác cho những thiết kế và điêu khắc các tượng quan âm đá lớn, nhỏ khác nhau để đặt trong chùa.

Phật tử có thể chọn thỉnh tượng Phật Quan Âm bằng đá kích thước lớn tầm 1m đến 2m để thờ tại gia là ổn.

  • Cao Trang cung cấp rất nhiều loại tượng phật đá với giá tốt nhất thị trường.
  • Tất cả các tượng phật đá đủ mọi kích thước đều trải qua sự điêu khắc của nghệ nhân chuyên nghiệp.
  • Tư vấn đầy đủ các thông tin về cách thỉnh, cách thờ, cách đặt và cách giữ bóng cho tượng phật bằng đá.
  • Hỗ trợ vận chuyển tượng phật đá tận nơi. Ngoài ra, Cao Trang còn có dịch vụ hỗ trợ ship quốc tế.
  • Chi phí phù hợp với ngân sách của bạn.

Tượng Phật Đá Cao Trang luôn đặt nhu cầu cũng như mong muốn của khách hàng lên hàng đầu, chăm sóc mỗi sản phẩm tượng phật ở mức hoàn hảo. Vì thế chúng tôi luôn khiến khách hàng hài lòng khi đến với cơ sở của chúng tôi. Liên hệ ngay cho chúng tôi để được tư vấn trực tiếp.

TƯỢNG PHẬT ĐÁ CAO TRANG

【#4】Cách Sắm Lễ Và Các Bài Văn Khấn Quan Thế Âm Bồ Tát

1. Sắm lễ cúng Quan Thế Âm Bồ Tát

Sắm lễ khi đi lễ chùa cúng Quan Thế Âm Bồ Tát chỉ được sắm lễ chay bao gồm hương hoa, quả, xôi, chè, oản phẩm… Hoa tươi lễ Phật là: hoa sen, hoa huệ, hoa mẫu đơn, hoa ngâu,… không dùng các loại hoa tạp, hoa dại…

Hãy nhớ tuyệt đối không được sắm lễ mặn vì lễ mặn chỉ được dâng ở các khu vực mà chùa có thờ Thánh, Mẫu. Tuyệt đối không dâng lễ mặn ở chính điện mà chỉ dâng lễ chay mà thôi.

Lễ mặn cũng được dâng ở điện thờ (nếu xây riêng) Đức Ông người cai quản toàn bộ công việc của ngôi Chùa. Tuyệt đối không dâng vàng mã đặt ở ban thờ Phật, Bồ Tát nếu có dâng thì chỉ dâng ở bàn thờ Thần Linh, Thánh Mẫu, Đức Ông.

Tiền giấy âm phủ hay vàng mã cũng kiêng đặt ban thờ Phật, Bồ Tát và cả tiền thật cũng không nên đặt lên hương án của chính điện. Mà tiền, vàng công đức nên để vào hòm công đức đặt tại Chùa.

Lưu ý trước ngày đi lễ chùa nên ăn chay, kiêng giới, làm nhiều việc thiện tâm.

2. Văn khấn Quan Thế Âm Bồ Tát

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

– Con Nam mô Đại từ, Đại bi Linh cảm Quán thế Bồ Tát.

– Con xin kính lạy đức Viên thông Giáo chủ thuỳ từ chứng giám.

Tín chủ con là ………………………………………………………………………

Ngụ tại…………………………………………………………………………………

Hôm nay là ngày… tháng…..năm………………………………………………

Tín chủ con thành tâm đến trước Phật đài, nơi điện Cửa hoa, kính dâng phẩm vật, hương hoa kim ngân tịnh tài, ngũ thể đầu thành, nhất tâm kính lễ dưới toà sen hồng.

Cúi xin đước Đại sỹ không rời bạn nguyện, theo Phật phó chúc trên cung trời Đạo lợi, chở che cứu vớt chúng con và cả gia quyến như thể mẹ hiền, phù trì con đỏ. Nhờ nước dương chi, lòng trần cầu ân thanh tịnh, thiện nguyện nêu cao. Được anh từ quang soi tỏ, khiến cho nghiệp trần nhẹ bớt, tâm đạo khai hoa, độ cho đệ tử con cùng toàn thể gia quyến ba tháng đông, chín tháng hè luôn được sức khỏe dồi dào, phúc thọ khang ninh, lộc tài vương tiến, công việc hanh thông, vạn sự tốt lành, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

Cầu gì cũng được, nguyện gì cũng thành.

Tín chủ con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

3. Bài khấn nguyện Quan Thế Âm mỗi ngày

Con xin cung kính lễ lạy:

​Nam Mô Đại Từ Đại Bi Thập Phương Tam Thế Chư Phật, chư Bồ Tát,Tam Bảo khắp mười phương. (3 lần)

Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế giới ĐạiTừ Đại Bi A Di Đà Phật

Nam Mô Đại Từ Đại Bi cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát

Nam Mô Đại Lực Đại Thế Chí Bồ Tát

Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát

Nam Mô Hộ Pháp chư Tôn Bồ Tát

Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải chúng Bồ Tát Ma Ha Tát

Hôm nay lại bước qua một ngày, con tự biết con đã được rất nhiều may mắn, con đã hưởng được tha lực từ bi của chư Phật, chư Bồ Tát, Đức Từ phụ A Di Đà Phật, Mẹ Quan Thế Âm Bồ Tát, Đức Đại Nguyện Địa Tạng Vương BồTát ban cho, và được chư Thần, chư vị (*) độ trì mà con mới có được ngày hôm nay.

Con xin thành tâm thành kính quỳ nơi đây dâng lòng chí thành chí kính tri ân. (1 lạy)​

Con cầu xin thập phương tam thế chư Phật, chư Bồ Tát, Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, và chư vị từ bi gia hộ cho chúng con và khắp Pháp giới chúng sanh đồng được sự an lành, an lạc, tu học tu hành tinh tấn, đồng được vãng sanh vềTây Phương Cực Lạc (1 lạy)

​Con xin thành tâm cầu siêu cho vong linh cửu huyền thất tổ, cha mẹ, tổ tiên, thân bằng quyến thuộc, oan gia trái chủ nhiều đời nhiều kiếp.

​Cho hương linh, vong linh tên:…

​Con thành tâm cầu nguyện xin tha lực từ bi của mười phương chư Phật, chư Bồ Tát, Đức từ phụ A Di Đà Phật, Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, Đức Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát cứu độ hương linh vong linh khắp pháp giới chúng sanh đồng được tiếp dẫn về nơi an lành an lạc, siêu sanh Tịnh Độ ( 1 lạy)

Nay con xin chí thành sám hối mọi tội lỗi con đã lỡ gây tạo từ nhiều kiếp cho đến nay.

Những tội con gây tạo do bởi vô tình hay cố ý, gây hại, sát hại đến giới hữu tình hoặc vô tình, những tội con gây tạo do bởi Tham, Sân, Si, ngã mạn, vô minh che lấp.

Từ nay, mỗi ngày con xin kiểm soát hành động, tư tưởng mình để sám hối, sửa sai và xin nguyện giữ mình không tái phạm.

Hết thảy các tội, con xin chí thành quỳ nơi đây dâng lòng sám hối. Xin chư Phật, chư Bồ Tát khắp mười phương, Đức từ phụ A Di Đà Phật, Đức Đại từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát, Đức Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, chư vị chứng minh cho lòng thành của con. (1 lạy)

​Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lạy hoặc hơn)

​Sám hối rồi, nay con xin nguyện dâng lòng thành kính tri ân, quy y Tam Bảo, hướng tâm tu học, tu hành, sửa chữa tâm tánh của mình. Con Cầu xin Chư Phật mười phương, chư Bồ Tát, từ bi gia hộ cho con và khắp pháp giới chúng sanh đồng được tu học, tu hành viên mãn, đồng được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc (3 lạy)

​Nam Mô A Di Đà Phật (3 lạy)

Lưu ý: Đối với bài khấn Quan Thế Âm hàng ngày thì mọi người nên đọc vào mỗi buổi sáng khi thức dậy và vào buổi tối trước khi đi ngủ, hay vào buổi lễ công phu sáng hay tối.

Việc đọc trong ngày bất cứ lúc nào hay kể cả khấn thầm cũng đều rất tốt.

Khi lạy, nên lạy thật chậm rãi, và giữ tâm chí thành, chí kính.

Phần Sám Hối tuỳ thuộc, có thể lạy 3 lạy đến 108 lạy mỗi ngày, hoặc vào ngày 15, ngày 30, ngày lễ Sám Hối.

【#5】Văn Khấn Quan Thế Âm Bồ Tát Tại Nhà

I. Quan Thế Âm Bồ Tát là ai?

Quan Thế Âm tiếng Phạn gọi là Avalokitévara, nghĩa là vị Bồ Tát quán sát âm thanh đau khổ của thế gian kêu cầu mà cứu độ một cách tự tại.

Theo Kinh Bi Hoa, Ngài vốn là Thái tử Bất Huyền, con của vua Vô Tránh Niệm, trong thời của Đức Phật Bảo Tạng Như Lai. Vua Vô Tránh Niệm hết lòng sùng bái đạo Phật, Thái tử tin nghe theo Vua cha mà thành tâm nguyện cầu cả đời quán sát chúng sinh, cứu độ những con người lâm vào đau khổ. Các Đức Phật trong mười phương cùng thọ ký cho Ngài, ban Phật hiệu “Biến Xuất Nhất Thế Công Đức Sơn Vương Như Lai”.

Khi Phật giáo du nhập vào Trung Hoa, kết hợp với văn hóa tín ngưỡng bản địa, dần hình thành phái Đại Thừa. Hình tượng Quán Thế Âm Bồ Tát hóa thân đa dạng, từ hình nam nhân, hình nữ nhân, dạ xoa, phi nhân,.. đến hơn 500 loại khác. Trong đạo Nho, hình tượng “cha nghiêm mẹ từ” là cốt lõi của hình thái xã hội xưa. Vì Ngài tu hạnh từ bi, thường cứu khổ chúng sanh, gần với tình thương của mẫu nên hình ảnh biểu trưng trong dân gian là thân nữ giới.

Tại Việt Nam, tín ngưỡng Thờ Mẫu đã tồn tại và đồng hành cùng nền văn minh lúa nước từ rất sớm. Hình tượng Quán Thế Âm Bồ Tát được nhân vật hóa thành một cá thể hiện diện trong đời sống đó là Phật bà Quan Âm – Quan Âm Thị Kính.

Mặc dù có rất nhiều giả thuyết về nguồn gốc của Ngài, nhưng Quán Thế Âm Bồ Tát chính là hiện thân của lòng từ bi, giải hóa đau khổ của chúng sanh.

Không giống như bài văn khấn Phật Bà Quan Âm Bồ Tát ở chùa, đền,… Bài văn khấn Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát tại nhà khá đơn giản.

Nội dung bài văn khấn Phật bà Quan Thế Âm Bồ Tát tại nhà như sau:

Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con Nam mô Đại từ, Đại bi Linh cảm Quán thế Bồ Tát.

Con xin kính lạy đức Viên thông Giáo chủ thủy từ chứng giám.

Tín chủ con là ………………

Ngụ tại ………………

Hôm nay là ngày… tháng… năm…

Tín chủ con thành tâm đến trước Phật đài, nơi điện cửa hoa, kính dâng phẩm vật, hương hoa kim ngân tịnh tài, ngũ thể đầu thành, nhất tâm kính lễ dưới tòa sen hồng.

Cúi xin đước Đại sỹ không rời bạn nguyện, theo Phật phó chúc trên cung trời Đạo lợi, chở che cứu vớt chúng con và cả gia quyến như thể mẹ hiền, phù trì con đỏ. Nhờ nước dương chi, lòng trần cầu ân thanh tịnh, thiện nguyện nêu cao.

Được anh từ quang soi tỏ, khiến cho nghiệp trần nhẹ bớt, tâm đạo khai hoa, độ cho đệ tử con cùng toàn thể gia quyến ba tháng đồng, chín tháng hè luôn được sức khỏe dồi dào, phúc thọ khang ninh, lộc tài vương tiến, công việc hanh thông, vạn sự tốt lành, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

Tín chủ con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

III. Cách sắm lễ, hạ lễ cúng Phật Bà Quan Âm Bồ Tát

1. Cách sắm lễ

Lễ chay gồm hương, hoa tươi, quả chín, phẩm oản, xôi chè. Tùy vào mỗi người mà có những mâm cỗ cúng khác nhau.

2. Hạ lễ sau khi cúng Quan Thế Âm Bồ Tát

Sau khi kết thúc khấn, lễ ở các ban thờ, thì trong khi đợi hết một tuần nhang có thể viếng thăm phong cảnh nơi thừa tự, thờ tự.

Khi thắp hết một tuần nhang có thể thắp thêm một tuần nhang nữa. Thắp nhang xong, vái 3 vái trước mỗi ban thờ rồi hạ sớ đem ra nơi hoá vàng để hoá.

Hoá sớ xong mới hạ lễ dâng cúng khác. Khi hạ lễ thì hạ từ ban ngoài cùng vào đến ban chính. Riêng các đồ lễ ở bàn thờ Cô, thờ Cậu như gương, lược… thì để nguyên trên bàn thờ hoặc giả nơi đặt bàn thờ này có nơi để riêng thì nên gom vào đó mà không đem về.

Ngoài cung cấp văn khấn Quan Thế Âm Bồ Tát chuẩn xác, Nhà Đất Mới còn là trang tổng hợp tin rao bất động sản hàng đầu hiện nay. Nếu bạn có nhu cầu mua bán nhà đất, hãy ĐĂNG KÝ NHẬN TIN MIỄN PHÍ ngay – giải pháp giúp bạn mua được bất động sản trong mơ nhanh nhất, tiết kiệm nhất.

【#6】Văn Khấn Quan Thế Âm Bồ Tát Chuẩn Và Đầy Đủ Nhất

Quan Thế Âm Bồ Tát là hiện thân của sự nhân từ, của lòng từ bi, cứu rỗi chúng sinh khỏi những đau khổ, bệnh tật, phù hộ cho mọi người có cuộc sống bình an, hạnh phúc. Vì vậy, ở nước ta, việc thờ Quan Thế Âm Bồ Tát rất phổ biến và được nhiều người coi trọng.

Quan Thế Âm theo tiếng Phạn gọi là Avalokitesvara, có nghĩa là vị Bồ Tát này có khả năng quan sát âm thanh đau khổ của chúng sinh cầu xin mà cứu độ một cách tự tại.

Theo cuốn Kinh Bi Hoa, Quan Thế Âm Bồ Tát vốn là con của vua Vô Tránh Niệm – thái tử Bất Huyền, dưới thời Đức Phật Bảo Tạng Như Lai. Vị vua Vô Tránh Niệm là người hết lòng sùng bái đạo Phật, Thái tử Bất Huyền tin nghe theo Vua cha nên thành tâm cầu nguyện cả đời quan sát chúng sinh, cứu độ cho những con người lâm vào khổ cực. Các Đức Phật mười phương cùng nhau thọ ký cho Ngài, vì vậy Ngài được ban Phật hiệu là “Biến Xuất Nhất Thế Công Đức Sơn Vương Như Lai”.

Khi du nhập vào Trung Hoa, Phật Giáo kết hợp với những văn hóa tín ngưỡng nơi bản địa, dần dần hình thành nên Phái Đại Thừa. Hình thượng vị Quan Thế Âm Bồ Tát được hóa thân đa dạng từ hình nam nhân, nữ nhân, phi nhân, dạ xoa… đến hơn 500 loại hình khác. Hình tượng “cha nghiêm mẹ từ” là hình tượng cốt lõi trong hình thái xã hội xưa ở Nho Giáo. Vì Ngài tu hạnh từ bi, thường xuyên cứu khổ chúng sinh, gần với hình tượng tình thương của mẫu, nên hình ảnh biểu trưng của Ngài trong dân gian thường là thân nữ giới.

Ở Việt Nam, nền văn minh lúa nước song hành cùng với tín ngưỡng Thờ Mẫu đã tồn tại từ bao đời nay. Hình tượng Quan Thế Âm Bồ Tát hiện diện trong đời sống người dân dưới hình tượng được nhân vật hóa đó là Phật Bà Quan Âm.

Mặc dù có rất nhiều giả thuyết khác nhau về nguồn gốc xuất thân của Ngài, nhưng Quan Thế Âm Bồ Tát chính là sự hiện thân của tấm lòng từ bi, hóa giải đau khổ cho chúng sinh.

Tượng Quan Thế Âm Bồ Tát có ý nghĩa như thế nào trong thờ cúng?

Vị trí đặt Tượng Quan Âm Bồ Tát thường được đặt ở vị trí quan trọng, những nơi có không gian thanh tịnh. Vào những dịp đặc biệt, hay khi có những chuyện cấp thiết cần cầu xin, con người ta sẽ thành tâm dâng lễ, mong muốn nguyện cầu để hóa giải.

Quan Âm Bồ Tát có tấm lòng từ bi đại lượng, theo dõi vạn vật để giúp chúng sinh hóa giải những lầm than, dẫn dắt con người ta hướng về điều thiện. Nhiều gia đình thỉnh Ngài về thờ phụng là việc làm thể hiện lòng thành kính. Bồ Tát biểu thị cho sự đại từ, đại bi. Ngài chiếu sáng khắp cõi nhân gian, hóa giải những khổ đau, những tiếng lòng oán thán của vạn vật, đưa chúng sinh thoát khỏi cõi u minh.

Mâm lễ cúng Quan Thế Âm Bồ Tát có những gì?

Theo phong tục cổ truyền người Việt, khi đi Lễ chùa, nên có lễ vật có thể là lễ to hay nhỏ, nhiều hay ít, sang, mọn tùy tâm. Mặc dù ở những nơi này cũng thờ Thánh, Thần, Mẫu nhưng người ta vẫn có thể sắm các lễ chay để dâng cúng.

  • Lễ Chay thường gồm hương hoa, trà, quả, bánh oản… dùng để dâng lễ lên ban Phật, Bồ Tát. Lễ Chay cũng dùng để dâng lên ban Thánh Mẫu.
  • Lễ Mặn: nếu muốn dùng lễ mặn thì khuyên gia chủ nên mua đồ chay có hình tướng lợn, gà, chả, giò…
  • Lễ đồ sống: tuyệt đối không được dùng các đồ lễ sống như trứng, muối, gạo hoặc thịt tại các ban quan Bạch xà, Thanh Xà, Ngũ Hổ đặt ở hạ ban Công Đồng Tứ Phủ.
  • Cỗ sơn trang: gồm những đặc sản chay của Việt Nam. Tuyệt đối không dùng cua, lươn, ốc, chanh, ớt… Nếu có gạo nếp cẩm nấu xôi thì cũng thuộc vào lễ này.
  • Lễ ban thờ cô, thờ cậu: Thường bao gồm các loại oản, hương hoa, quả, gương, lược,… Đây nghĩa là những đồ chơi mà người ta hay thường làm cho trẻ nhỏ. Những lễ vật này sẽ cầu kỳ, đẹp, nhỏ và được đặt trong những chiếc túi nhỏ nhắn, bắt mắt.
  • Lễ thần Thành Hoàng, Thư điền: thường phải dùng đồ chay mới có phúc và lời cầu nguyện mới linh ứng.

Trước ngày đi lễ chùa cần phải kiêng giới, ăn chay, làm việc thiện tâm.

Trình tự hành lễ khi đi chùa

  • Đặt lễ vật và thắp hương rồi làm lễ ở ban thờ Đức Ông.
  • Sau đó, đặt lễ dâng lên hương án của chính điện, rồi thắp đèn nhang, thỉnh 3 hồi chuông và làm lễ Chư Phật, Bồ Tát.
  • Tiếp theo đó là đi thắp hương ở tất cả các ban ở nơi nhà Bái Đường, thực hiện thắp hương 3 vái hoặc 5 vái. Nếu ở chùa có điện thờ Tứ Phủ, thờ Mẫu thì đến đó dâng hương đặt lễ cầu nguyện.
  • Cuối cùng thực hiện lễ ở nhà thờ Tổ (nhà Hậu).
  • Cuối buổi lễ, hay đến nhà khách để hỏi thăm nhà chùa, các vị sư ở chùa và công đức cho chùa.

Sau khi thực hiện xong khấn, lễ bái ở các ban thờ, trong thời gian đợi hết một tuần nhang, mọi người có thể đi thăm phong cảnh nơi cửa chùa.

Khi hết một tuần nhàng, mọi người có thể thắp thêm một tuần nhang nữa, sau đó vái 3 vái trước mỗi ban thờ rồi hạ sớ đem ra nơi hóa vàng.

Hóa sớ xong, hạ các lễ dâng cúng khác. Khi thực hiện hạ lễ nên hạ từ ban ngoài cùng vào rồi đến ban chính. Riêng các đồ lễ nơi bàn thờ Cô, thờ Cậu như gương, lược… thì để nguyên trên bàn thờ, không mang về.

1. Văn khấn Quan Thế Âm Bồ Tát tại chùa

Văn khấn Quan Thế Âm Bồ Tát tại chùa thường được sử dụng:

Nam Mô A Di Đà Phật! (3 lần và 3 lạy)

Con lạy chín phương trời! Mười phương Chư Phật! Chư Phật mười phương. Con Nam mô Đại Từ, Đại Bi Linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát Xin kính lạy đức Viên thông Giáo chủ thùy từ chứng giám Hôm nay là ngày…. tháng…. năm….. Tín chủ con là….. Tín chủ con một lòng thành tâm đến trước Phật đài, nơi thềm điện cửa hoa, dâng kính vật phẩm, hương hoa kim ngân tịnh tài, ngũ thể đầu thành, nhất tâm kính lễ dưới tòa sen hồng. Con cúi xin được Đại Sỹ không rời ban nguyện, chở che cứu vớt cho chúng con và cả gia quyến như thể mẹ hiền, phù trì con đỏ. Nhờ nước dương chi, con lòng trần cầu ân thanh tịnh, thiện nguyện nêu cao. Được ánh từ quang soi tỏ, khiến cho nghiệp nơi trần gian nhẹ bớt, tâm đạo khai hoa, độ cho con cùng toàn thể gia quyến ba tháng ngày đông, chín tháng ngày hè luôn được sức khỏe dồi dào, an khang phúc thọ, lộc tài vượng tiến, công việc thuận lợi, vạn sự tốt lành, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm. Tín chủ con lễ bạc thành tâm, cúi đầu mong được phù hộ độ trì. Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát (3 lần và 3 lạy)”

2. Văn khấn Quan Thế Âm Bồ Tát tại nhà

Thường thì văn khấn Phật Quan Thế Âm Bồ Tát tại nhà thường diễn ra vào buổi sáng khi mới thức dậy, hoặc buổi tối trước khi đi ngủ. Khi lạy nên chậm rãi, kính cẩn, lòng thành. Sau khi dâng hương thì quỳ đọc:

“Con xin cung kính lễ lạy:

Nam Mô Đại Từ Đại Bi Thập Phương Tam Thế Chư Phật, Bồ Tát

Tam Bảo mười phương (3 lần)

Nam Mô A Di Đà Phật (3 lần)

Nam Mô Đại Từ Đại Bi cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát (2 lần)

Lại bước qua một ngày, hôm nay, con tự biết mình đã được nhiều điều may mắn, con đã hưởng được sự tha lực từ bi của chư Phật, chư Bồ Tát ban cho, và được chư vị giúp đỡ, nên con mới có được ngày hôm nay. Con xin thành tâm thành kính, quỳ ở nơi đây, dâng lòng chí thành, chí kinh của con tri ân (1 lạy).

Con xin thành kính cầu nguyện mong mọi sự an lành, an lạc, yên bình, hạnh phúc cho thân quyến con, cùng khắp các chúng sinh hữu tình, vô tình.

Con cầu xin thập phương tam thế chư Phật, chư Bồ Tát, chư vị bi gia hộ, giúp đỡ chúng con để chúng con có được sự an lành, an lạc tu hành, thoát khỏi sinh tử luân hồi, đồng xin nguyện được vãn sinh về nơi Cực Lạc (1 lạy).

Con cũng thành tâm cầu siêu cho vong linh tổ tiên, thân quyến thuộc nhiều đời nhiều kiếp.

Những vong linh liên hệ và không liên hệ đến con

Cho những vong linh tên:….

Cùng những vong linh mất trong chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh và vì một lý do nào đó chưa được vãng sinh.

Con thành tâm cầu nguyện xin lòng tư bi của mười phương chư Phật, chư Bồ Tát, chư vị giúp đỡ để các vong linh được về nơi an lạc, siêu sinh Tịnh độ (1 lạy).

Con xin thành tâm sám hối cho mọi tội lỗi con đã lỡ gây ra từ nhiều kiếp cho đến nơi, những tội con đã gây ra trong kiếp sống hiện tại.

Những tội con gây ra do bởi cố ý hay vô tình, gây hại đến nhân mạng, đến giới hữu tình hoặc vô tình, những tội do Tham, Sân, Si, do bởi ngã mạn, vô minh che lấp.

Từ nay, mỗi ngày con xin kiểm soát tư tưởng, hành động để sám hối, sửa chữa sai lầm và xin nguyện giữ mình để không tái phạm.

Tất cả các tội, con xin thành tâm quỳ lạy nơi đây dâng lòng sám hối. Xin chư Phật mười phương, chư Bồ Tát, chư vị chứng minh cho lòng thành của con (1 lạy).

Sám hối rồi, nay con xin nguyện được tiếp tục tu hành, tu học, hướng tâm tu để thoát khỏi sinh tử luân hồi. Làm việc lợi cho mình và cho người.

Con xin hồi hướng, xin sẻ chia Công Đức đến cha mẹ, thân nhân …. (tên)….. đến chư Thiện, chư Thần, chư Thánh, chư Hộ pháp và chư vị đã giúp đỡ con.

Đến những vong linh mà con đã lỡ sát hại, gây hại. Cùng tất cả các vong linh chưa được vãng sinh, chưa được pháp giới chúng sinh.

Con xin nguyện dâng lòng thành kính tri ân, quy y Tam Bảo. Cầu xin Chư Phật mười phương, chư Bồ Tát, chư vị phù hộ để con và chúng sinh đồng có được duyên lành để tu hành thoát khỏi sinh tử luân hồi. Trên con xin tri ân chư Phật, dưới cứu độ chúng sinh. Chúng con đồng xin nguyện được vãng sinh về nơi Cực Lạc (3 lạy).”

Nếu các bạn có mong muốn sở hữu những bức tượng đá Quan Thế Âm Bồ Tát đẹp, ấn tượng, vui lòng liên hệ đến địa chỉ: ĐÁ MỸ NGHỆ THÀNH ĐÔ thông qua những kênh liên hệ sau đây:

  • Hotline: 0904697999
  • ĐC xưởng: Lô 35-36 Quán Khái 12 – Làng đá Non Nước – Phường Hòa Hải – Quận Ngũ Hành Sơn – TP Đà Nẵng
  • ĐC trưng bày: 135-157 Huyền Trân Công Chúa – Phường Hòa Hải – Quận Ngũ Hành Sơn – TP Đà Nẵng
  • Email: [email protected]
  • Website: https://damynghenonnuocdn.com/

【#7】Bài Văn Khấn Quan Thế Âm Bồ Tát Tại Chùa Chuẩn Xác Nhất

Bài văn khấn Quan Thế Âm Bồ Tát tại chùa chuẩn xác nhất

Ý NGHĨA VĂN KHẤN QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT TẠI CHÙA

Đi chùa là nét đẹp văn hóa trong tín ngưỡng tâm linh người Việt. Nét đẹp này vẫn được lưu truyền cho đến ngày hôm nay. Nhiều người đi chùa không chỉ để cầu may, cầu an, cầu tài lộc, may mắn mà còn để tinh thầnyên bình, thoải mái, nhẹ nhàng giữa bộn bề cuộc sống. Họ thường đến chùa vào các ngày lễ, tết, tuần tiết, sóc, vọng và ngày Hội, để tỏ lòng tôn kinh, ngưỡng mộ biết ơn Phật, Bồ Tát, Thánh Tăng cùng Thần linh.

Những khu chùa được bảo tồn đến ngày hôm nay được xem là khu sinh hoạt tín ngưỡng tâm linh của tất cả mọi người. Con người hy vọng rằng bằng những hành vi tín ngưỡng, có thể cầu viện đấng linh thiêng phù hộ cho bản thân, cùng gia đình, cộng đồng được bình an, thành đạt và hưng thịnh, yên bình, tiêu trừ nghiệp chướng, hóa giải vận xui, biến hung thành cát, giải trừ tội lỗi,…

NHỮNG LƯU Ý KHI SẮM LỄ QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT TẠI CHÙA

– Khi đến chùa chỉ được sắm lễ chay như: Hương hoa, quả, xôi, chè, oản phẩm,… Khi đến những khu này tuyệt đối không được sắm lễ mặn bởi lễ mặn chỉ được dâng ở các khu vực mà chùa có thờ Thánh, Mẫu. Không nên dâng lễ mặt ở các ban thờ Phật, chính điện, chỉ được phép dâng lễ chay, tịnh mà thôi.

– Lễ mặn cũng được dâng ở điện thờ (nếu xây riêng) như Đức Ông- người cai quản toàn bộ công việc của ngôi Chùa. Ban thờ Phật, Bồ Tát không được phép dâng vàng, mã. Nếu có dâng thì chỉ dâng ở bàn thờ Thần Linh, Thánh Mẫu, Đức Ông.

– Không nên sắm sửa vàng mã, tiền âm phủ để dâng cúng Phật tại chùa. Nếu có sửa lễ này thì thí chủ đặt ở bàn thờ Thần Linh, Thánh Mẫu hay ở bàn thờ Đức Ông.

– Dâng lễ Phật nên dâng các loài hoa sen, hoa huệ, hoa ngâu,… Tuyệt đối không dùng các loại hoa tạp, hoa dại,…

NHỮNG BƯỚC HÀNH LỄ KHI ĐẾN CHÙA

  • Đặt lễ vật: Khi đến chùa, việc đầu tiên cần làm là dâng lễ, lên hương ở ban Đức Ông trước.
  • Đặt lễ ở chính điện sau khi đã đặt lễ ở ban Đức Ông, thắp đèn nhang, thỉnh 3 hồi chuông rồi làm lễ chư Phật, Bồ Tát.
  • Thắp hướng tất cả các gian trong tòa nhà Bái Đường sau khi đã dâng lễ ở chính điện. Khi thắp hương lên đều có 3 lễ hay 5 lễ. Các khu chùa thường có điện thờ Mẫu. Quý tín đồ nên đến đó dâng lễ bái người.
  • Cuối cùng thì lễ ở nhà thờ Tổ (nhà Hậu)
  • Sau khi đã tạ lễ xong, quý tín đồ nên đến nhà trai giới hay phòng tiếp khách để thăm hỏi các vị sư, tăng trụ trì và có thể tùy tâm công đức.

BÀI VĂN KHẤN QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT TẠI CHÙA CHUẨN XÁC NHẤT

“Nam mô A Di Đà Phật !

Nam mô A Di Đà Phật !

Nam mô A Di Đà Phật ! (3 lạy)

Nam mô Đại từ, Đại bi Linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát.

Kính lạy Đức Viên Thông giáo chủ thùy từ chứng giám.

Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm ………….

Tín chủ (chúng) con là: ……………………..

Ngụ tại: …………………………..

Thành tâm đến trước Phật đài, nơi điện Đại bi, kính dâng phẩm vật, hương hoa kim ngân tịnh tài, ngũ thể đầu thành, nhất tâm kính lễ dưới Toà sen hồng.

Cúi xin Đức Đại Sỹ không rời bản nguyện chở che cứu vớt chúng con như mẹ hiền phù trì con đỏ. Nhờ nước dương chi, lòng trần cầu ân thanh tịnh, thiện nguyện nêu cao. Được ánh từ quang soi tỏ, khiến cho nghiệp trần nhẹ bớt, tâm đạo khai hoa, độ cho đệ tử cùng gia đình bốn mùa được chữ bình an, tám tiết khang ninh thịnh vượng, lộc tài tăng tiến, gia đạo hưng long, mầm tai ương tiêu sạch làu làu, đường chính đạo thênh thang tiến bước. Cầu gì cũng được, nguyện gì cũng thành.

Dãi tấm lòng thành, cúi xin bái thỉnh.

Nam mô A Di Đà Phật !

Nam mô A Di Đà Phật !

Nam mô A Di Đà Phật !” (3 lạy)

【#8】Văn Khấn Quan Thế Âm Bồ Tát Và Địa Tạng Vương Bồ Tát Khác Nhau Ra Sao?

Theo quan niệm xa xưa, vào những ngày lễ Tết, rằm,… các gia đình Việt thường đến các ngôi chùa để cầu bình an, hạnh phúc. Tuy nhiên, nhiều người vẫn thường nhầm lẫn giữa văn khấn lễ Quan Thế Âm Bồ Tát và lễ Địa Tạng Vương Bồ Tát.

Lễ Địa Tạng Vương Bồ Tát

Từ xa xưa lưu truyền, Địa Tạng Bồ-tát được biết đến bởi lời nguyện cứu độ tất cả chúng sinh trong lục đạo luân hồi vào thời kì sau khi Phật thích ca mâu-ni nhập niết bàn cho đến khi Bồ-tát Di Lặc hạ sanh, và nguyện không chứng Phật quả nếu địa ngục chưa trống rỗng. Do đó, Địa Tạng thường được xem như là vị bồ tát của chúng sanh dưới địa ngục hay là giáo chủ của cõi U Minh.

Sắm lễ: Lễ chay gồm hương, hoa tươi, quả chín, phẩm oản, xôi chè. Lễ mặn gồm gà, lợn, giò, chả… được làm cẩn thận, nấu chín. Tùy vào mỗi người mà có những mâm cỗ cúng khác nhau.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Con lạy chín phương trời, mười phương Chư phật, Chư phật mười phương.

Nam mô Đại bi, Đại nguyện, Đại thánh, Đại từ Bản tôn Địa Tạng Vương Bồ Tát.

Kính lễ Đức U Minh giáo chủ thuỳ từ chứng giám.

Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm …..

Tín chủ con là:

Ngụ tại:

Thành tâm đến trước Phật đài, nơi điện Cửu hoa, kính dâng phẩm vật, hương hoa kim ngân tịnh tài, ngũ thể đầu thành, nhất tâm kính lễ dưới toà sen báu.

Cúi xin Đức Địa Tạng Vương không rời bản nguyện, theo Phật phó chúc trên cung trời Đạo Lợi, chở che cứu vớt chúng con và cả gia quyến, như thể mẹ hiền, phù trì con đỏ, nhờ ánh ngọc Minh Châu tiêu trừ tội cấu, trí tuệ mở mang, được mây từ che chở, tâm đạo khai hoa, não phiền nhẹ bớt. Khi còn sống thực hành thiện nguyện, noi gương Đại Sỹ, cứu độ chúng sinh.

Khi vận hạn ốm đau, nhờ được đức từ hộ niệm, thần linh bản xứ giúp yên. Lúc lâm chung được nhờ ánh bi quang, vượt khỏi tam đồ, sinh lên cõi thiện.

Lại nguyện cho Hương linh Gia tiên chúng con nhờ công đức cúng dâng này thảy đều siêu thoát.

Tâm nguyện lòng thành, cúi xin bái thỉnh.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần).

Lễ Quan Thế Âm Bồ Tát

Sắm lễ: Lễ chay gồm hương, hoa tươi, quả chín, phẩm oản, xôi chè. Tùy vào mỗi người mà có những mâm cỗ cúng khác nhau.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

Con lạy chín phương trời, mười phương Chư phật, Chư phật mười phương

Nam mô Đại từ, Đại bi Linh cảm Quan Thế Âm Bồ Tát.

Con kính lạy Đức Viên Thông Giáo chủ thuỳ từ chứng giám.

Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm …..

Tín chủ con là:

Ngụ tại:

Thành tâm đến trước Phật đài, nơi điện Đại bi, kính dâng phẩm vật, hương hoa kim ngân tịnh tài, ngũ thể đầu thành, nhất tâm kính lễ dưới toà sen hồng.

Cúi xin Đức Đại Sỹ không rời bản nguyện chở che cứu vớt chúng con, như mẹ hiền phù trì con đỏ. Nhờ nước dương chi, lòng trần cầu ân thanh tịnh, thiện nguyện nêu cao. Được ánh từ quang soi tỏ, khiến cho nghiệp trần nhẹ bớt, tâm đạo khai hoa, độ cho đệ tử cùng gia đình bốn mùa được chữ bình an, tám tiết khang ninh thịnh vượng, lộc tài tăng tiến, gia đạo hưng long, mầm tai ương tiêu sạch làu làu, đường chính đạo thênh thang tiến bước.

Cầu gì cũng được, nguyện gì cũng thành.

Tín chủ chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô Quan Thế Âm Bồ tát! (3 lần, 3 lạy).

【#9】Văn Khấn Lễ Đức Quán Thế Âm Bồ Tát Đầy Đủ Nhất

Đây là văn khấn Phật Bà Quan Âm, văn khấn lễ Đức Quán Thế Âm Bồ Tát được thực hiện ở chùa vì chùa là nơi thờ Phật và là nơi sinh hoạt tính ngưỡng công cộng của người Việt.

Đi lễ chùa là một nét văn hóa tốt đẹp của người Việt ta, chúng ta hãy đi chùa vào đầu xuân năm mới để ước nguyện cho một năm có nhiều may mắn nhé bạn.

Thành tâm kính phật

Phật độ bình an

Hiện nay có rất nhiều người không theo đạo Phật, nhưng mỗi tháng vẫn tự nguyện ăn chay 2 ngày vào ngày mồng Một và ngày Rằm, và có tâm thành thờ Đức Quan Thế Âm Bồ Tát (Phật bà Quan Âm) trong nhà, để cầu mong Phật bà Quan Âm phù hộ độ trì cho gia đạo được tai qua nạn khỏi, tật bệnh tiêu trừ, vạn sự an lành…

Nhưng mỗi lần vào dịp lễ, Tết hoặc có việc cầu xin gì đó, nhưng việc khấn lễ Đức Quán Thế Âm Bồ Tát (Phật bà Quan Âm) thì không biết khấn vái như thế nào cho phải. Sau đây là Văn khấn lễ Đức Quán Thế Âm Bồ Tát (Phật bà Quan Âm):

Sắm lễ khi đi lễ chùa

Chúng ta sắm lễ khi đi lễ chùa cũng phải tuân thủ những quy định:

Chỉ sắm lễ chay: Hương hoa, quả, xôi, chè, oản phẩm…tuyệt đối không được sắm lễ mặn nhé vì lễ mặn chỉ được dâng ở các khu vực mà chùa có thờ Thánh, Mẫu. Tuyệt đối không dâng lễ mặn ở chính điện mà chỉ dâng lễ chay mà thôi.

Lễ mặn cũng được dâng ở điện thờ (nếu xây riêng) Đức Ông người cai quản toàn bộ công việc của ngôi Chùa. Tuyệt đối không dâng vàng mã đặt ở ban thờ Phật, Bồ Tát nếu có dâng thì chỉ dâng ở bàn thờ Thần Linh, Thánh Mẫu, Đức Ông.

Trước ngày đi lễ chùa cần: ăn chay, kiêng giới, làm nhiều việc thiện tâm.

Trình tự hành lễ khi đến chùa

1. Đặt lễ vật: Thắp hương và làm lễ ở ban thờ Đức Ông

2. Sau đó đặt lễ lên hương án của chính điện, thắp đèn nhang, thỉnh 3 hồi chuông rồi làm lễ chư Phật, Bồ Tát

3. Tiếp theo đi thắp hương ở tất cả các ban ở nhà Bái Đường, thắp hương thực hiện 3 hoặc 5 vái. Nếu chùa có điện thờ Mẫu, Tứ phủ thì đến đó đặt lễ dâng hương cầu nguyện.

4. Cuối cùng thì lễ ở nhà thờ Tổ (nhà Hậu)

5. Cuối buổi lễ thì đến nhà khách hỏi thăm nhà chùa, các vị sư và công đức cho chùa tùy tâm nhé.

Đi lễ chùa hoàn toàn là tự nguyện và thành tâm, tránh làm mất vệ sinh nhà chùa, nên là một người có văn hóa khi đến cửa Phật bạn nhé

Văn khấn Quán Thế Âm Bồ Tát (Tại chùa & tại gia)

Nam mô A Di Đà Phật !

Nam mô A Di Đà Phật !

Nam mô A Di Đà Phật !

Nam mô Đại từ, Đại bi Linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát.

Kính lạy Đức Viên Thông giáo chủ thùy từ chứng giám.

Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm …..

Tín chủ (chúng) con là: …………………

Ngụ tại: ……………………………

Thành tâm đến trước Phật đài, nơi điện Đại bi, kính dâng phẩm vật, hương hoa kim ngân tịnh tài, ngũ thể đầu thành, nhất tâm kính lễ dưới Toà sen hồng.

Cúi xin Đức Đại Sỹ không rời bản nguyện chở che cứu vớt chúng con như mẹ hiền phù trì con đỏ. Nhờ nước dương chi, lòng trần cầu ân thanh tịnh, thiện nguyện nêu cao. Được ánh từ quang soi tỏ, khiến cho nghiệp trần nhẹ bớt, tâm đạo khai hoa, độ cho đệ tử cùng gia đình bốn mùa được chữ bình an, tám tiết khang ninh thịnh vượng, lộc tài tăng tiến, gia đạo hưng long, mầm tai ương tiêu sạch làu làu, đường chính đạo thênh thang tiến bước. Cầu gì cũng được, nguyện gì cũng thành.

Dãi tấm lòng thành, cúi xin bái thỉnh.

Nam mô A Di Đà Phật !

Nam mô A Di Đà Phật !

Nam mô A Di Đà Phật !

【#10】Tại Sao Chọn Rằm Tháng 8 Là Trung Thu?

Tháng nào trong năm cũng có rằm, nhưng tại sao người ta lại chọn tháng 8 là Trung thu và truyền thống này có từ khi nào?

Trung Thu là giữa Thu, tên của nó đã nói lên điều đó… – (Minhha)

1 năm có 4 mùa: mùa xuân từ tháng 1 đến tháng hết tháng 3, mùa hè từ tháng 4 đến hết tháng 6, mùa thu từ tháng 7 đến hết tháng 9, mua đông từ tháng 10 đến hết thang 12.

Vây trung thu cò nghĩa là giữa mùa thu thi 15 tháng 8 la trung thu vậy thôi – (nguyen doan huan)

Cái truyền thống này có xuất xứ từ Trung Quốc bạn à. Do 1000 năm đô hộ nên đa phần nền văn hóa của nước ta, đều giống của Trung Quốc, ví dụ như: Lễ Vu Lan, Tết Nguyên Đán, Tết Nguyên Tiêu, Tết Trung Thu… Vì nó đã ăn sâu vào tiềm thức của nhân dân ta từ bao đời nay, nên khó bỏ lắm, nước ta cũng tự động “biến của người ta thành của mình”, và tự thừa nhận nó là “bản sắc văn hóa dân tộc”, tốt nhất là bạn cũng nên chấp nhận vậy đi – (alo)

theo âm lịch và khí hậu 4 mùa của miền bắc thì mùa thu là tháng 7,8,9. vậy Trung thu là giữa thu thì phai là rằm tháng 8 rồi – (dvt)

TRUNG là giữa, THU là mùa thu. Tháng 8 là chính giữa mùa thu (tháng 7, 8, 9). Và ngày 15 là giữa tháng 8. Có thế thôi. – (PT)

Vậy thì tại sao Tết Thanh Minh lại rơi vào tháng 3 và ngày Cô Hồn lại là Rằm Tháng 7? – (tinytdpqn)

Thực ra truyền thống này bị ảnh hưởng bởi 1000 năm đồng hóa mà có, kể cả những phong tục cúng lễ ngày giằm, mùng một,… Nhưng tại sao lại chọn vào ngày giằm tháng tám (15-8 âm lịch) thực chất là bởi khí hậu và tiết trời đẹp, trăng tròn nhất trong các ngày giằm; mặt khác vì đây là ngày hội của các em thiếu nhi nên nó là hoạt động để động viên khích lệ sự học tập cho một năm học mới. Ngày hội này chính giữa mùa Thu nên có tên là Trung Thu. – (Quang Huy)

1. Mùa thu theo âm lịch là từ tháng 7 đến hết tháng 9 vậy tháng 8 là giữa mùa thu (trung thu) nên rằm của tháng giữa thu gọi là rằm giữa thu (rằm trung thu) ^^

2. Truyền thống này có từ trước khi bạn sinh ra ^^ – (google)

Vì mùa thu rơi vào tháng 7,8,9 âm lịch, Trung thu nghĩa là thời điểm giữa mùa thu cho nên lấy 15/8 là chính xác. Truyền thống này có lẽ ra đời từ khi con người sáng tạo ra lịch mà thôi! – (huyen26truongxuan)

Đã gọi là trung thu thì tất nhiên là giữa mùa thu rồi, chả lẽ đầu và cuối sao? – (khanh hong)

Người Việt ta ăn Tết Trung Thu vào ngày rằm tháng tám âm lịch là do ta phỏng theo phong tục của người Tàu. Chuyện xưa kể rằng vua Đường Minh Hoàng (713-741 Tây Lịch) dạo chơi vườn Ngự Uyển vào đêm rằm tháng tám âm lịch. Trong đêm Trung Thu, trăng rất tròn và trong sáng. Trời thật đẹp và không khí mát mẻ. Nhà vua đang thưởng thức cảnh đẹp thì gặp đạo sĩ La Công Viễn còn được gọi là Diệp Pháp Thiện. Đạo sĩ có phép tiên đưa nhà vua lên cung trăng. Ở đấy, cảnh trí lại càng đẹp hơn. Nhà vua hân hoan thưởng thức cảnh tiên và du dương với âm thanh ánh sáng huyền diệu cùng các nàng tiên tha thướt trong những xiêm y đủ màu xinh tươi múa hát. Trong giờ phút tuyệt vời ấy nhà vua quên cả trời gần sáng. Đạo sĩ phải nhắc, nhà vua mới ra về nhưng trong lòng vẫn bàng hoàng luyến tiếc.

Về tới hoàng cung, nhà vua còn vấn vương cảnh tiên nên đã cho chế ra Khúc Nghê Thường Vũ Y và cứ đến đêm rằm tháng tám lại ra lệnh cho dân gian tổ chức rước đèn và bày tiệc ăn mừng trong khi nhà vua cùng với Dương Quí Phi uống rượu dưới trăng ngắm đoàn cung nữ múa hát để kỷ niệm lần du nguyệt điện kỳ diệu của mình. Kể từ đó, việc tổ chức rước đèn và bày tiệc trong ngày rằm tháng tám đã trở thành phong tục của dân gian. – (lanbui1983)

Thứ nhất ngay trong tên cái tết cũng nói lên khá nhiều, TRUNG THU. Ở đây theo Hán Việt nghĩa là giữa mùa thu. Và Dằm tháng 8 được chọn là ngày đẹp nhất với trăng tròn nhất.

Có rất nhiều truyền thuyết xoay quanh Trung Thu, nhưng xét theo địa lý, người á đông làm mùa nhìn trăng. Và trăng dằm tháng tám thể hiện được sự tốt đẹp của thời tiết. Cũng bằng nhìn trăng tháng 8 người ta biết năm tới phải làm ăn ra làm sao. Nói một cách khác nó có thể coi như một lễ hội cầu mùa nơi mà người lao động thành kính với ông bà tổ tiên thể hiện sự cảm ơn mùa qua, cũng như ban phát lộc cho con cháu thể hiện sự sung túc.

Bánh nướng và bánh dẻo là đặc chưng cho tết trung thu. Trong bánh cổ truyền thông thường có nhiều loại thịt, bò, gà, lợn, trứng, xá xíu, lạc sưởng cũng như có loại hạt tinh túy của trời đất hạt sen, tất cả thể hiện sự khá giả ấm no. Nướng và Dẻo thể hiện cho mặt trời mặt trăng hay là thể hiện thời tiết tốt đẹp. Bánh ngày nay thay vào đó các loại nhân khác là sai vì là du nhập từ vùng khác dùng loại lương thực khác thể hiện sự phồn vinh. Thực tế chứng minh, không nơi nào có nhân truyền thống giống ta. – (Chiến Trần)

Theo tôi, có 4 nguyên nhân sau:

Thứ nhất: 15/8 âm lịch là giữa mùa thu theo cách chia mùa của các nước khu vực quanh ta và nước ta.

Thứ hai: Thời tiết giai đoạn này đẹp và phù hợp nhất; như: Trời cao xanh hơn, mặt trăng sáng nhất và to nhất so với các đêm rằm v v…

Thứ 3: Ở một nền văn minh lúa nước như chúng ta thì thời điểm này cho phép ghi nhận, đánh dấu những biến đổi của thời tiết, ví dụ: Xem trăng để biết năm tới có rét, có nhiều sâu bọ phá hoại mùa màng hay có hạn hán không (Muốn ăn lúa tháng năm, xem trăng rằm tháng 8), xem vụ mùa có năng suất không vì thời điểm này bão gió đã giảm, lúa đã uốn câu v v …

Thứ tư: Lúc này nhà nông cũng là lúc nông nhàn vì vậy ngoài tổ chức ngắm trăng còn có nhiều lễ hội khác kết hợp – (Vũ Trung Thành)

Trung thu là giữa mùa thu, tết trung thu như tên gọi đến với chúng ta đứng giữa mùa thu, mùa mát mẻ đẹp đẽ nhất trong năm với trăng trong gió mát. Cho đến bây giờ, vẫn chưa xác minh rõ ràng được Tết Trung thu bắt nguồn từ văn minh lúa nước của Việt Nam hay tiếp nhận từ văn hóa Trung Hoa. Theo các nhà khảo cổ thì hình ảnh về Trung thu đã được in trên mặt trống đồng Ngọc Lũ. Có lẽ Trung thu được bắt đầu từ nền văn minh lúa nước của đồng bằng Nam Trung Hoa và đồng đồng bằng châu thổ sông Hồng của Việt Nam. Có ba truyền thuyết chính được người ta biết đến nhiều nhất để nói về Trung thu đó là Hằng Nga và Hậu Nghệ, vua Đường Minh Hoàng lên cung trăng và Sự tích về chú Cuội của Việt Nam. Nhưng có lẽ sự tích về vua Đường Minh Hoàng lên cung trăng là thuyết phục nhất, mặt dù nó cũng có chúc hư cấu và hơi hoang đường.

Theo sách cổ thì tết Trung thu bắt đầu từ đời nhà Đường, thời vua Duệ Tôn, niên hiệu Văn Minh. Tục truyền rằng: Nguyên năm đó, vào đêm rằm tháng tám trời thật là đẹp, trăng thanh gió mát trước cảnh đẹp của đất trời, nhà vua ngự chơi ngoài thành tới mãi khuya. Lúc đó có một ông già đầu bạc phơ trắng như tuyết, chống gậy đến bên nhà vua. Trông người và theo cử chỉ, nhà vua đoán ngay là một vị thượng tiên giáng thế.

Ông già kính cẩn chào vua rồi hỏi: Bệ hạ có muốn lên thăm cung trăng không?

Nhà vua trả lời có.

Ông tiên liền đưa chiếc gậy lên trời, hoá phép ra một chiếc cầu vồng, một đầu giáp cung trăng, còn một đầu ăn xuống đất. Tiên ông đưa nhà vua lên cầu vồng, chẳng bao lâu đã đến cung trăng. Phong cảnh nơi đây thật là đẹp, một vẻ đẹp khác xa nơi trần thế, có những nàng tiên nữ nhan sắc với những xiêm y cực kỳ lộng lẫy, xinh như mộng, đẹp như những bài thơ hay, nhảy múa theo những điệu vô cùng quyến rũ, đủ muôn hồng ngàn tía.

Nhà vua đang say sưa với những cảnh đẹp thì tiên ông lại đưa nhà vua trở lại cung điện. Về tới trần thế, nhà vua còn luyến tiếc cảnh trên cung trăng và những giờ phút đầy thơ mộng nhà vua đã được ở nơi đó. Để kỷ niệm ngày du nguyệt điện, nhà vua đặt tên là tết Trung thu. – (quốc thịnh)

Ngày Tết này có xuất xứ từ Trung Quốc, ban đầu là theo phong tục dân gian, Tết trung thu vào giữa rằm tháng 8, thời điểm này thời tiết mát mẻ, mùa màng đang chờ thu hoạch. Nông dân nghỉ ngơi và vui chơi sau một vụ mùa.

Theo sách cổ thì Tết Trung Thu bắt đầu từ đời nhà Ðường, thời vua Duệ Tôn, niên hiệu Văn Minh. Năm ấy vào đêm khuya rằm tháng tám, gió mát, trăng tròn thật đẹp, trong khi ngự chơi ngoài thành, nhà vua gặp một vị tiên giáng thế trong lốt một ông lão đầu bạc phơ như tuyết. Vị tiên hóa phép tạo một chiếc cầu vồng, một đầu giáp cung trăng, một đầu chám mặt đất, và nhà vua trèo lên cầu vồng đi đến cung trăng và dạo chơi nơi cung Quảng. Trở về trần thế, vua luyến tiếc cảnh cung trăng đầy thơ mộng, nhà vua đặt ra tết Trung Thu. Trong ngày tết này, lúc đầu chỉ uống rượu trông trăng nên còn gọi là Tết Trông Trăng. Trong đêm 15 tháng 8 âm lịch hằng năm, khi trăng rằm tỏa sáng, lễ tế thần mặt trăng bắt đầu. Trên bàn thờ có hoa quả, có bánh hình mặt trăng còn gọi là bánh “đoàn viên”, bởi lẽ, trong dịp này, cả gia đình có dịp đoàn tụ để cùng ăn bánh và cùng thưởng thức ánh trăng thu trong trẻo và bầu không khí ấm áp của đêm rằm đến với mọi nhà. – (c1vt2013)

Tết Trung thu bắt nguồn từ văn minh lúa nước của Việt Nam, cụ thể là từ Sự tích về chú Cuội – (thanh phong nguyen)

Nguồn gốc tết TRUNG THU

Tết Trung-Thu đã có từ thời Đường Minh Hoàng bên Trung-Hoa, vào đầu thế kỷ thứ tám (713-755).

Sách xưa chép rằng, nhân một đêm rằm tháng tám, khi cùng các quan ngắm trăng, vua Đường ao-ước được lên thăm cung trăng một lần cho biết. Pháp-sư Diệu Pháp Thiên tâu xin làm phép đưa vua lên cung trăng. Lên tới cung trăng, Minh Hoàng được chúa tiên tiếp rước, bày tiệc đãi đằng và cho hàng trăm tiên nữ xinh tươi mặc áo lụa mỏng nhiều màu sắc rực rỡ, tay cầm tấm lụa trắng tung múa trên sân, vừa múa vừa hát, gọi là khúc Nghê-Thường vũ y. Vua Đường thích quá; nhờ có khiếu thẩm âm nên vừa trầm trồ khen ngợi vừa lẩm nhẩm học thuộc lòng bài hát và điệu múa mong đem về hoàng cung bày cho các cung nữ trình diễn. Cuối năm đó, quan Tiết Độ Sứ cai trị xứ Tây Lương mang về triều tiến dâng một đoàn vũ nữ với điệu múa Bà-la-môn. Vua thấy điệu múa có nhiều chỗ giống Nghê-Thường vũ y, liền chỉnh đốn hai bài hát và hai điệu làm thành Nghê-Thường vũ y khúc. Về sau các quan cũng bắt chước vua mang điệu múa hát về các phiên trấn xa xôi nơi họ cai trị rồi dần dần phổ biến khắp dân gian. Tục ngắm trăng, xem ca múa sau biến thành thú vui chơi đêm rằm Trung Thu . – (vuducduongvp91)

chon Trung thu la giua mua thu – (dungnv)

thang 7-8-9 là mùa thu, chon tháng 8 là giữa mùa thu và ngày rằm là giữa của tháng! đúng theo nghĩa của từ Trung Thu!!! – (phanthanh_thang)

Tết trung thu diễn ra vào ngày 15 của tháng 8 trong Âm Lịch và đã có từ ngàn năm nay, đây là thời gian mặt trăng tròn nhất và sáng nhất, đây cũng là thời gian người Châu Á thu hoạch xong mùa vụ và bắt đầu tổ chức những lễ hội mà tiêu biểu trong đó là lễ hội trăng rằm. Món ăn được người Á Đông lưu tâm nhất trong mùa lễ hội này đó là Bánh Trung Thu. Cho đến bây giờ, vẫn chưa xác minh rõ ràng được Tết Trung thu bắt nguồn từ văn minh lúa nước của Việt Nam hay tiếp nhận từ văn hóa Trung Hoa. Có ba truyền thuyết chính được người ta biết đến nhiều nhất để nói về Trung thu đó là Hằng Nga và Hậu Nghệ, vua Đường Minh Hoàng lên cung trăng và Sự tích về chú Cuội của Việt Nam – (Cưng Lê)

Một năm chia làm 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông, mổi mùa có 3 tháng, Mùa thu ứng với các tháng 7,8,9 . Nên Trung thu phải vào giữa tháng 8 tức 15/08 âm lich.

Anh Vũ Cà Mau – (Anh Vũ Cà Mau)

Haizz, “trung” là “giữa” tức là giữa thu; 1 năm có 4 mùa, tháng 8 là giữa mùa thu, đơn giản thế thôi. – (Nam Trung)

Trung thu tức là “giữa Thu”. Vì vậy, nó không thể là rằm của tháng nào khác. Vả lại, thời điểm này, trăng dễ tròn và sáng nhất ( do mùa Thu, tiết trời trong hơn các mùa khác). Tục lệ này có từ thời Trung Quốc cổ đại để cúng thần Mặt trăng; cầu cho mưa thuận gió hòa – (Lê Minh)

Đơn giản thôi, vì rằm xảy ra giữa mùa thu nên mới gọi là Trung thu. Nếu nó xảy ra giữa mùa đông sẽ gọi là Trung Đông đó bạn. – (Minh)

Trung thu là giữa mùa thu nên chọn rằm tháng 8 là đúng rồi còn những tháng khác có lẽ phãi gọi là trung hạ, trung đông, hay là trung xuân – (lê tuấn minh viên)

Trung thu là giữa mùa thu, giữa mùa thu là Tháng 8, hỏi thế cũng hỏi – (ABC)

“trung thu” là “giữa mùa thu”, răm tháng 8 là giữa mùa thu – (hung)

Trung là giữa, thu là mùa thu, trung thu là giữa mùa chúng tôi âm lịch thì mùa thu bắt từ tháng 7 đến hết tháng 9 nên 15 tháng 8 là giữa mùa thu nên được gọi là trung thu. – (HD)

Vì tháng 8 chả có ngày lễ nào để ăn uống cả. Nên bày ra thôi ^^ – (Discovery World)

Vì từ tháng 7 đến tháng 9 là mùa thu, tháng tám là trung thu và rằm tháng tám là ngày giũa tháng – (blem)

Trung thu là tên theo một tiết khí. Ai nghiên cứu lịch tiết khí sẽ biết các ngày như lập xuân, lập hạ….Ngày trung thu là cách gọi theo tiết khí, còn tên gốc của nó là Tết Đoàn viên, tức là ngày các thành viên trong gia đình sẽ tụ họp đông đủ dù đang ở đâu đi nữa. Sau khi truyền về VN thì ý nghĩa ngày này không còn giống như bên trung quốc nữa, và tên gọi dân gian cũng thành tết trung thu, nghĩa là ngày rằm giữa thu – (Zaer)

tại sao không có tết trung hạ, trung đông hay trung xuân? – (háiin)

Người Việt ta ăn Tết Trung Thu vào ngày rằm tháng tám âm lịch là do ta phỏng theo phong tục của người Tàu. Chuyện xưa kể rằng vua Đường Minh Hoàng (713-741 Tây Lịch) dạo chơi vườn Ngự Uyển vào đêm rằm tháng tám âm lịch. Trong đêm Trung Thu, trăng rất tròn và trong sáng. Trời thật đẹp và không khí mát mẻ. Nhà vua đang thưởng thức cảnh đẹp thì gặp đạo sĩ La Công Viễn còn được gọi là Diệp Pháp Thiện. Đạo sĩ có phép tiên đưa nhà vua lên cung trăng. Ở đấy, cảnh trí lại càng đẹp hơn. Nhà vua hân hoan thưởng thức cảnh tiên và du dương với âm thanh ánh sáng huyền diệu cùng các nàng tiên tha thướt trong những xiêm y đủ màu xinh tươi múa hát. Trong giờ phút tuyệt vời ấy nhà vua quên cả trời gần sáng. Đạo sĩ phải nhắc, nhà vua mới ra về nhưng trong lòng vẫn bàng hoàng luyến tiếc.

Về tới hoàng cung, nhà vua còn vấn vương cảnh tiên nên đã cho chế ra Khúc Nghê Thường Vũ Y và cứ đến đêm rằm tháng tám lại ra lệnh cho dân gian tổ chức rước đèn và bày tiệc ăn mừng trong khi nhà vua cùng với Dương Quí Phi uống rượu dưới trăng ngắm đoàn cung nữ múa hát để kỷ niệm lần du nguyệt điện kỳ diệu của mình. Kể từ đó, việc tổ chức rước đèn và bày tiệc trong ngày rằm tháng tám đã trở thành phong tục của dân gian.

Cũng có người cho rằng tục treo đèn bày cỗ trong ngày rằm tháng tám âm lịch là do ở điển tích ngày sinh nhật của vua Đường Minh Hoàng. Vì ngày rằm tháng tám là ngày sinh nhật của vua Đường Minh Hoàng nên triều đình nhà Đường đã ra lệnh cho dân chúng khắp nơi trong nước treo đèn và bày tiệc ăn mừng. Từ đó, việc treo đèn bày cỗ trong ngày rằm tháng tám trở thành tục lệ. – (TQMy)

Ngĩa là giữa mùa Thu! Mùa thu là mùa rễ chịu nhất, làm cho con người thoải mái và yêu đời hơn! – (Trương Dũng)

mùa thu gồm 3 tháng đáo là tháng 7, 8 và 9 âm lịch. Trung thu có nghĩa là giữa mùa thu và cụ thể là ngày rằm tháng 8. Do đó tết trung thu đương nhiên phải chọn ngày rằm tháng 8.

Riêng câu hỏi truyền thống này có từ khi nào thì tôi bó tay. – (Nguyễn Văn Út)

Boi vi thang 8 la bat dau vao mua Thu

Va ram la 15,la giua nen goi la Trung

Cho nen goi ram thang 8 la Trung Thu – (suanan)

Trung thu đơn giản là giữa mùa thu. Còn lịch sử của nó bạn tự tìm hiểu lấy. – (thienphan)

Vì 15 tháng 8 là ngày chính giữa của mùa thu. – (Kim chi)

nguơi ta chon ram thang tam la trung thu boi vi ram thang tam la giưa mua thu. – (tran duc do)

Theo minh hieu. Thang 8 la roi vao mua thu la trung tuan cua nam, nen nguoi xua tinh toan va lay thang 8 la dai dien cho le hoi trang ram. – (Tuann)

Mùa thu gồm có tháng 7, 8 và 9 âm lịch. Trung thu là giữa mùa thu thì chọn rằm tháng 8 là đúng rồi. Mình nghĩ vậy.

Thanh Vinh. – (vinhmyname)

Vi sao chon ram thang 8 la trung – (hangasta)

Trung Thu là giữa mùa thu, mà mùa thu là nằm vào tháng 7-8-9 nên chọn trung tuần tháng 8 (15/8 AL) là ngày Trung Thu 🙂 – (Ngọc Tịnh)

Trung Thu lả giữa mùa Thu nhằm ngày 15/8 âm lịch, với các tháng khác sao gọi Trung Thu được . Đối với dương lịch ngày 23/9 là ngay Thu Phân không thể chọn ngày 23 tháng khác được. – (vechai)

Sau cách mạng tháng 8 thành công và quốc khánh 2/9 năm 1945. Ai đều biết câu “Trung thu trăng sáng như gương, Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng” Vậy tết trung thu đầu tiên vào năm 1945 do Bác Hồ chọn. – (Đỗ Thanh Hải)

“Trung” là giữa, “Thu” là mùa thu. Trung thu là giữa mùa thu. Ngày rằm tháng 8 là ngày chính giữa mùa thu nên chọn rằm tháng 8 là trung thu – (tuantutoto)

theo âm lịch 3 tháng 7, 8, 9 là mùa thu. Tháng 8 là tháng giữa thu, ngày 15 là giứa tháng 8 có thể được gọi là ngày giữa mùa thu. Trung thu theo nghĩa Hán là giữa thu. Tiết trung thu thường đẹp nhất trong năm. Còn việc tại sao nhân dân các nước phương đông tổ chức tết Trung thu thì có nhiều điển tích lắm, bạn có thể tìm hiểu thêm. – (Trịnh Tân)

xuân, hạ, thu, đông mỗi mùa 3 tháng. Vậy rằm tháng tám là Trung Thu đúng rồi bạn? Đơn giản thế thôi. – (Han)

vì 15-8 là thời gian giữa của mùa thu cũng như 15 là giữa của tháng. – (Anh Tuấn Vũ)

Vì mùa thu bắt đầu từ tháng 7-9, ràm tháng tám tức là giữa mùa thu, ko phải trung thu vào ngày đó thì ngày nào. Trung thu tức là giữa mùa thu – (Bui Cong)

Rằm: ngày 15 âm lịch; Trung: giữa; Thu: mùa thu. (vì 15/8 là ngày giữa thu mà , mùa thu là tháng 7-8-9) – (letmytrinh)

Một năm ở Việt nam có 4 mùa tính theo lịch mặt trăng. Rằm tháng 8 là giữa mùa thu nên gọi là Trung thu. – (Xuân Chấp)

Bạn long thành thân mến! Như chúng ta đã biết một năm có bốn mùa gồm.xuân,hạ,thu,đông.mỗi mùa co thời gian là 3 tháng.mùa thu bắt đầu từ tháng 7 âm lịch cho đến hêt tháng 9 âm. Vậy nên ngày 15/8 được coi là giữa mùa thu .vì thế mới có tên là tết trung thu.tức là trung tuần của mùa thu – (long)

Mùa thu từ tháng đầu tháng 7 ân lịch đến cuối tháng 9 âm lịch ( 3 tháng) nên 15 tháng 8 là giữa mùa thu( tức Trung thu). – (vittechvn)

Mùa thu gồm 3 tháng là 7;8;9 .Mà Trung Thu thì có nghĩa là giữa mùa Thu, giữa mùa thu là tháng 8, mà giữa tháng 8 là ngày 15 âm lịch hay là rằm tháng 8, nên Trung Thu là ngày 15/8 âm lich hằng năm

Truyền thống này xuất phát từ bên Trung Quốc, nhưng bắt đầu từ khi nào thì … – (phuong)

Ý kiến của chi hang nga 7 tuổi – (thang 8 là rằm trung thu vì tháng 7,8,9 là mùa thu. mà chữ trung có nghĩa là trung bình c)

Thì tên của nó đã nói lên rồi đó bạn: là rằm giữa mùa thu – (thinh tat)

Mùa xuân là từ tháng giêng -tháng 3, mùa hạ là từ 4 -6, mùa Thu là 7 – 9 15/8 là giữa mùa thu thì gọi là Trung Thu – (Đức Toàn)

Mua thu bat dau tu thang 8, nen chon thang 8 – (datnguyen)

Thế mà cũng phải hỏi, giữa mùa thu là tháng mấy.. – (dinhcaoxuan)

Vì dằm tháng 8 trăng to và đẹp nhất khí hậu mát mẻ thuạn lợi cho việc vui chơi của trẻ.mà nhất là dằm tháng 8 trời không hay mưa – (trương long)

một năm 4 mùa, xuân, hạ, thu, đông. Mùa thu tính từ tháng 7 đến tháng 9, trung thu nghĩa là ở giữa mùa thu nên chọn rằm tháng 8. Đấy là tôi đoán thế ko biết đúng không – (tung)

Câu hỏi của bạn thật là kỳ. Trung thu tức là giữa mùa thu. Chả có nhẽ rằm tháng nào cũng là giữa mùa thu? – (Gió lang thang)

do thang 7,8,9 la mua thu, con chu “trung” co nghi la trung binh cong cua 3 thang tren nen ngay trung thu se roi vao ram thang 8. – (hoang thi hang nga)

Trung thu tức là giữa mùa thu, tháng 8 lại là tháng giữa thu (mùa thu gồm các tháng 7,8,9) ngày rằm là ngày 15 giữa tháng, vì vậy theo cả nghĩa đen thì rằm tháng 8 đích thị là giữa mùa thu (Trung thu). còn nguồn gốc ngày trung thu bạn có thể tham khảo ở đây: http://holiday.yeudoi.net/2013/09/tet-trung-thu-bat-nguon-tu-au.html – (Tôn Thất Khoa)

Cái tên của nó đã nói lên bản chất rồi. Trung thu chú có phải trung xuân, trung hạ, trung đông đâu. 15-8 là chính giữa mùa thu 😀 – (Huu Tri)

Đơn giản vì Rằm Tháng 8 là thời gian “giữa mùa Thu”. – (Trang)

tháng nào cũng có rằm nhưng tháng 8 thi mới là mùa thu, các tháng khác có phải mùa thu đâu – (dvdtth)

Trung Thu là giữa mùa Thu, thế thôi… – (Tiểu Long)

Thì nó là Trung thu. Thế mà cũng phải hỏi. – (abc)

sặc,mùa thu là tháng 7,8,9,trung thu la giữa mùa thu,là ngày 15/8 đó,có gì đâu mà thắc mắc – (phantom)

Tại vì bánh Trung Thu thường được bán trong tháng 7 âm lịch và hết date sau rằm tháng 8. – (Cuội)

Một năm có 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Ba tháng mùa Xuân là tháng 1-2-3. Ba tháng mùa Hạ là tháng 4-5-6. Ba tháng mùa Thu là 7-8-9. Ba tháng mủa đông là 10-11-12. Như vậy, trung Thu tức là giữa Thu và rơi vào giữa tháng 8. – (MM)

Bạn có thể chưa hiểu Trung thu có nghĩa là gì. Tiết (không phải là tết) Trung thu có nghĩa là ngày giữa mùa thu. Mùa thu kéo dài 3 tháng từ tháng 7 đến hết tháng 9 âm lịch. Tháng giữa thu là tháng 8. và ngày giữa mùa thu chính là ngày giữa tháng 8, ở đây chính là ngày 15 (Rằm). – (Thiệp Wong)

trung là giữa, Thu là mùa thu. Trung Thu là giữa thu tứcc tháng 8! Vậy thôi. – (Nguyet)

trung thu là từ hán việt có nghĩa là giữa thu… có vậy cũng ko luận được ra 😀

đi học đi nha – (Minh Kiểm)

Mùa thu nằm trong 3 tháng 7- 8- 9, rằm tháng 8 nằm chính giữa 2 cái rằm kia nên chọn nó làm Trung thu là hợp lý nhứt còn gì. Gỉa sử chọn rằm tháng 10 thì thành…Trung đông rồi bạn ạ.

Trung thu có lẽ đã bắt đầu từ khi có mùa thu, hi hi… – (kim loan Pham)

don gian thoi ma,co le 1 nam co 4 mua ma mua thu la thang 7,8,9. ma trung la giua,vay suy ra ram thag 8 la ram trung thu – (nhanct)

Thang 8 ngay ram la ngay mat trang gan trai dat nhat, khi do ta thay mat trang to va sang nhat, voi lai vao dip nay thoi tiet sang thu nen canh vat hop nhat de to chuc tet Trung thu – (long tran)

Vì trăng sáng & tròn nhất – (Duong)

Mùa thu là tháng 7,8,9. Do đó giữa mùa thu là giữa tháng 8. Vì vậy giữa tháng 8 người ta gọi là trung thu – (thien su)

“Mùa Xuân từ tháng 1 đến hết tháng 3

Mùa Hạ từ tháng 4 đến hết tháng 6

Mùa Thu từ tháng 7 đến hết tháng 9

Mùa Đông từ tháng 10 đến hết tháng 12.

Vậy thì Trung Thu – giữa mùa thu là giữa tháng 8 bạn ơi! ” Chỉ là ý kiến cá nhân thôi – (duongn.bm)

“Trung Thu ” có nghĩa là giữa mùa thu đó ! rằm tháng 8 chứ tháng mấy nữa ! ^^ – (Nguyễn Thành Tín)

Theo Trung Quốc hết….. – (Nguyên)

Theo âm lịch thì tháng giêng , hai, ba là mùa xuân.Tư, năm ,sáu là mùa hạ. Bảy ,tám chín là mùa thu. Vì vậy rằm tháng tám là giữa mùa thu gọi là Trung thu. – (Nguyễn Thanh Hải)

Trung thu nghĩa là giữa mùa thu. Bản chất ngày rằm tháng 8 là ngày giữa của mùa thu rồi, có gì đâu mà phải chọn bạn? – (khach)

Theo ý kiến chủ quan của tôi nguyên nhân chọn rằm tháng 8 là Trung thu là như thế này: Một năm có 4 mùa xuân, hạ, thu, đông, mà theo lịch của một số nước Châu á trong đó có nước ta ( lịch mặt trăng) thì mùa xuân gồm tháng 1 ( giêng), tháng 2, tháng 3; mùa hạ có tháng 4,5,6; mùa thu là tháng 7,8,9. Như vậy tháng 8 là giữa mùa thu mà ngày 15 ( rằm là giữa tháng 8 nên gọi là Trung thu. – (Mr. Khoai)

Rằm trung thu là rằm giữa Thu, xét theo xuân hạ thu đông mỗi mùa có 3 tháng thì tháng 8 là tháng giữa thu nên lấy rằm tháng 8. – (Le duc anh)

1 măn có 4 mùa, xuân hạ thu đông, mùa thu rơi vào tháng 7-8-9 vậy rằm thắng 8 có phải là giửa mùa thu không, là trung thu đó. – (Lee Duc)

vì dằm tháng tám là giữa mùa thu và đâu hình như là phong tục của người phương bắc nên cũng ảnh hưởng thôi ☺ – (Nguyễn Hoàng Phương)

Trung thu có nghĩa la ‘ giữa mùa thu ‘.răm trung thu có nghĩa là ‘răm giữa mùa thu’.mua Thu có 3 răm la t7,t8, t9. Răm t 8 ở giữa nên gọi là răm trung thu – (Phúc)

một năm có 4 mùa. xuân hạ thu đông.mùa xuân có tết cổ truyền, mùa hạ có tết đoan ngọ, mùa thu có tết trung trung, vậy sao không có tết trung đông hả các bạn.? – (ngô cương)

Trung có nghĩa là giữa,mà giữa năm là tháng 8 vậy nên tháng 8 là đến mùa thu nên chọn tháng 8 – (phạm hảo)

tại + vì 15/8 là trung tâm của mùa thu thì gọi là trung thu – (trung thu)

Theo cái tên là bạn cũng biết rồi. “Trung Thu” là giữa mùa thu. Một năm 12 tháng chia làm 4 mùa. Mùa thu là tháng 7,8 và 9. thì rằm tháng 8 là giữa mùa thu. – (vanlam999)

Đơn giản vì trung thu là vào giữa thu. Là tháng 8 âm lịch. – (hoang anh ybc)

Theo mình nghĩ, mùa thu gồm 3 tháng 7, 8, 9, vậy tháng 8 là giữa mùa thu, vậy tháng 8 là tháng trung thu, và để chọn ngày trung thu thì là ngày giữa tháng trung thu, tức rằm tháng 8. Còn có từ bao giờ thì mình không biết. – (Lê Đức)

Mình cũng có thể có rằm Trung hạ, Trung xuân và Trung đông mà. Rằm nào cũng vầy bạn à, chọn 1 rằm rồi xài nó thì ý nghĩa hơn xài cả 4 chứ :v – (ha_anh_lion)

Bởi vì mùa Thu kéo dài tử tháng Bảy đến tháng Chín, vì thế mà ngày 15 tháng Tám là Trung Thu. Chính xác thì phải là 12 giờ ngày 15 tháng Tám. – (hoangnvhk)

Nếu không chọn rằm tháng Tám, ta có thể chọn rằm tháng hai và gọi là Trung Xuân; rằm tháng 5 gọi là Trung Hạ, rằm tháng 11 gọi là Trung Đông, và rằm tháng tám tất là Trung Thu đó bạn. – (vanhung)

tại vì tháng 8 là giữa mùa thu nên gọi là trung thu – (tulong2108)

cái tên nó đã nói lên tất cả…..

Trung thu….giữa mùa thu….là rằm tháng 8 chứ gì nữa – (candysnow_bell)

Bánh trung thu tượng trưng cho sự đoàn viên, là thứ không thể thiếu để cúng trăng và thổ địa công vào mỗi mùa Trung thu. Phong tục ăn bánh trung thu vào Tết Trung thu bắt đầu từ cuối đời nhà Nguyên bên Trung Quốc đến nay.

Tương truyền vào thời đó, người Trung Nguyên không chịu nổi ách thống trị của người Mông Cổ, những người có chí khí đều muốn khởi nghĩa chống nhà Nguyên. Để tập hợp được các lực lượng đấu tranh, nhưng trong điều kiện không thể truyền tin đi, Lưu Bá Ôn đã nghĩ ra một cách truyền tin rộng rãi và bảo đảm, đó là kêu gọi mọi người mua bánh trung thu ăn vào Tết Trung thu để tránh họa. Sau khi mọi người mua bánh về và cắt ra, nhìn thấy bên trong có giấu một mảnh giấy viết “đêm 15 tháng 8 khởi nghĩa”, nhờ vậy người dân đã nhiệt liệt hưởng ứng, và lật đổ được nhà Nguyên. Cũng từ đó, bánh trung thu đã trở thành một món ăn không thể thiếu vào mỗi Tết Trung thu. – (Thuy)

nen xem chuyen Co Do Long cua Kim Dung se hieu. – (shayya)

Ngày 15 tháng 8 là điểm giữa của mùa thu nên mới gọi là Trung Thu. Đơn giản thế thôi – (Mr.Khanh)

“Trung Thu” nghĩa là chính giữa mùa Thu, giải thích đơn giản vậy chắc bạn hiểu. T1-2-3: mùa Xuân, T4-5-6: mùa Hạ, T7-8-9: mùa Thu, T10-11-12: mùa Đông… – (BH)

Bạn nào đặt câu hỏi này chứng tỏ không hiểu vấn đề rồi. Cái chính là “lễ hội” mang ý nghĩa gì và tại sao có nó, còn cái ngày là Rằm Trung Thu hay ngày nào khác chỉ là cái ngày mà thôi. Nếu không là Rằm Trung Thu thì cũng có thể là Mùng 10 tháng 10 chẳng hạn, hay Mùng 5 tháng 5 chẳng hạn,… Để nghị bạn Google để nghiên cứu sự tích, ý nghĩa của ngày Rằm Trung Thu. – (Hùng)

Trung Thu là giữa của mùa Thu. Mùa Thu là Tháng 7+8+9 Âm Lịch. Vậy rằm Tháng 8 hiển nhiên phải là Trung Thu ! Thế mà cũng hỏi ??? – (Lê Hùng)

Toi dong y voi ban chu hoang giang. Cam on. – (tran duc khiem)

Đơn giản từ “trung thu” có nghĩa là giữa mùa thu. Do đó ngày rằm tháng tám là ngày chính giữa của mùa thu. Đồng thời, trong một năm, trăng vào ngày rằm tháng tám là tròn nhất, to nhất và sáng nhất. – (chuoi)

Vì nằm giữa mùa thu nên gọi là trung thu. – (thong)

nếu nói như mấy bạn, trung là giữa, thu là mùa thu, thì giữa mùa thu phải là 1/8 chứ, mấy pạn chưa ngke chuyện cổ tích chú cuội ah mà pảo nhập khẩu từ trung quốc sang – (hà)

vào rằm toàn mưa với bão thôi – (Ngô Thuỷ)

Đừng quên một điều quan trọng. Tổ tiên của chúng ta vốn ở tận bên Sông Hoàng Hà đó. Động Đình Hồ có nghĩa là Động Tiên, nơi Âu cơ phải long Lạc Long Quân rồi Nam tiến.

Cho nên Trung Thu là của Việt, Đoan ngọ là của Việt, Nguyên đán là của Việt. – (Viet Nam)

Đơn giản thôi các bạn ah.1 năm có 4 mùa xuân hạ thu đông,mùa thu là tháng 7,8,9.trung la giữa,giữa mùa thu là ngày rằm tháng 8 thôi – (Lai)

Đơn giản 15/8 âm lịch là giữa mùa thu thôi, nhiều bạn giải thích cầu kỳ quá! – (Lê Nam)

1 năm có 12 tháng và 4 mùa, như vậy mỗi mùa kéo dài 3 tháng và theo thứ tự Xuân Hạ Thu Đông thì mùa thu là từ bắt đầu tháng 7 đến hết tháng 9. Trung Thu có nghĩa là giữa mùa Thu nên chọ vào ngày 15 tháng 8 là chuẩn nhất rùi bạn!!!!!!! – (ha ha)

TRUNG là giữa, TRUNG THU là giữa thu, tháng 7,8,9 là mùa thu – (trần hoài sơn)

Cái tên thì nói lên tất cả rồi. Trung thu là giữa mùa thu. Mà chọn ngày rằm là lúc trăng đẹp nhất. Âm lịch có mùa thu từ đầu tháng 8-hết tháng 9 âm lịch. Trung thu là bắt đầu thời điểm giữa đầu tháng 8 đến cuối tháng 9. – (Mami siêu phàm)

Theo tôi được biết thì răm trung thu xuất phát từ trung Quôc, những nước xung Quanh ảnh hưởng theo Văn Hoa đó bao gồm Việt Nam, Hàn Quôc, Nhật bản. Như hàn Quôc tổ chức rằm trung thu rất to do rằm trung thu Đánh dấu kết Thuc một vụ thu hoạch và chuẩn bị bước vào mùa Đông lạnh giá, phía Bắc Trung Quôc và nhật bản cũng tương tự – (Hoa)

Nếu nói Tết Trung thu có xuất xứ từ TQ, vậy còn truyện tích chú cuội , cây đa, … thì có tứ lúc nào? – (NC)

Theo tôi biết thì mỗi tháng có 1 ngày trăng tròn gọi là rằm, nhưng rằm tháng 8 trăng sẽ sáng nhất trong năm nên người xưa chọn làm ngày Trung Thu. “trung thu trăng sáng như gương…” – (Kiên)

Thời tiết miền Bắc (kể cả ở Trung Quốc), tháng 8 âm lịch là đẹp nhất trong năm – không nóng, không lạnh, khô ráo, nên người ta ăn rằm Trung Thu. Còn một điểm nữa là ngày xưa Triều đình thường tổ chức thi vào tháng 10 (âm lịch) nên Trung Thu cũng là một cái Tết văn hiến, chuẩn bị đi thi, thi đỗ là đổi đời (cá chép vượt Vũ môn hóa rồng). Rằm Trung Thu thường có đèn cá chép và ông Tiến sĩ giấy để khuyến khích việc học. – (Đức Lan)

Đơn giản thôi mà “Trung thu” nghĩa là : “Trung” là giữa, “Thu” là mùa Thu, tháng tám giữa mùa Thu thì gọi là Trung Thu. – (Một Cõi Đi Về)

có gì khó hiểu đâu, một năm có bốn mùa mỗi mùa 3tháng mùa thu là tháng 7, 8, 9 âm lịch, tháng 8 là giữa mùa thu, rằm tháng 8 là giữa tháng 8 nên lấy làm ngày trung thu! – (truongtonngoc)

Tết Trung thu (ngày 15 tháng 8 Âm lịch) có xuất xứ từ Trung Quốc. Theo nhiều ghi chép lịch sử, nghi thức đón Tết Trung thu đã có từ thời nhà Chu. Tết Trung thu là ngày lễ truyền thống lớn thứ hai sau Tết Nguyên Đán của Việt Nam nói riêng và nhiều nước châu Á nói chung.

Theo Âm lịch, mùa thu bắt đầu từ tháng 7 và kéo dài đến hết tháng 9, ngày 15 tháng 8 đúng vào giữa mùa thu nên được gọi là “trung thu”. Tết Trung thu còn có rất nhiều tên gọi khác, ít phổ biến hơn như Thu tiết, Bát Nguyệt tiết, Bát Nguyệt Hội, Nguyệt tiết, Truy Nguyệt tiết, Nguyệt Tịch, Đoàn Viên tiết…

Dù phong tục đón Tết Trung thu của các quốc gia đều bắt nguồn từ Trung Quốc nhưng không phải những phong tục, tập quán đón Tết Trung thu ở đâu cũng giống nhau.

So sánh giữa Tết Trung thu của người Hoa và Tết Trung thu của người Việt, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra sự khác bệt giữa một số phong tục, tập quán như:

Người Hoa xem trọng sự sum họp, đoàn viên của gia đình trong dịp Tết Trung thu trong khi phần lớn người Việt xem Tết Trung thu là Tết thiếu nhi.

Người Việt không có thói quen thưởng nguyệt đêm trung thu trong khi người Hoa lại thường quây quần bên gia đình ngắm trăng vào đêm này.

Người Hoa thường tổ chức múa rồng lửa để cầu mong sự may mắn, thịnh vượng còn người Việt lại hay tổ chức múa lân, có ông địa dẫn đầu.

Người Việt không có nghi thức tế nguyệt (cúng mặt trăng) để cầu cho mùa màng tươi tốt, gia đình bình an trong dịp Tết Trung thu như người Hoa.

Mặc cho những khác biệt trong văn hóa, mỗi dịp Tết Trung thu về, người Hoa, người Việt và tất cả các dân tộc sinh sống tại Việt Nam đều hòa mình trong không khí ấm áp, tươi vui của ngày lễ truyền thống ý nghĩa này. – (Vũ Đình)

Trung là giữa, thu là mùa thu. trung thu là Chính giữa mùa thu. 15/8 là chính giữa mùa thu nhất – (leducphanlaw)

vi trung la o giua,thang 9 lai la mua thu – (1)