【#1】Tổng Hợp Các Bài Văn Khấn Quan Lớn Tuần Tranh

Quan Lớn Đệ Ngũ Tuần Tranh, hay còn gọi là Ông Lớn Tuần Tranh. Ông là con trai thứ năm của Vua Cha Bát Hải Động Đình. Dưới thời Hùng Vương (Hùng Triều Thập Bát), ông giáng trần vào một gia đình ở phủ Ninh Giang (nay là Hải Dương). Ông trở thành vị tướng quân tài ba thống lĩnh thủy bộ, được giao quyền trấn giữ miền duyên hải sông Tranh.

Trong hàng Ngũ Vị Tôn Ông, cùng với Quan Lớn Đệ Tam, Quan Lớn Đệ Ngũ cũng là một vị quan lớn danh tiếng hết sức lẫy lừng, được nhân dân xa gần tôn kính phụng thờ. Tuy ông đứng thứ năm trong hàng quan, nhưng lại hay về ngự đồng nhất. Khi ngự đồng ông mặc áo lam thêu rồng, hổ phù, làm lễ tấu hương, khai quang, chứng sớ tán đàn rồi múa thanh long đao. Bất kỳ ai mở phủ đều phải đợi thỉnh Quan Lớn Đệ Ngũ về chứng một lần hết tất cả các đàn mã sớ trạng rồi mới được đem đi hoá.

1. Văn khấn quan lớn Tuần Tranh bản đầy đủ

Đệ tử con khấu đầu cung thủ

Tiến văn chầu đệ ngũ tuần tranh

Uy gia lẫm liệt tunghoành

Trừ tà sát quỷ lên danh tướng tài

Việt sử chép Hùng triều thập bát

Cảnh địa linh Bạch Hạc Phong Châu

Dựng nền xã tắc dài lâu

Nhớ ơn tiên tổ đời sau giữ gìn

Vừa gặp hội bể yên sóng lặng

Triệu bách thần gia tặng phong công

Quan Tuần Tranh lẫm liệt oai hùng

Cứu dân hộ quốc nên công hàng đầu

Giảo Long hầu khâm ban sắc tứ

Trấn Ninh Giang thuỷ bộ chư danh

Bao phen đắp luỹ xây thành

Khắp miền duyên hải sông Tranh nức lòng

Sông Tranh ơi hỡi sông Tranh,

Non nước còn ghi trận tung hoành,

Lẫm liệt oai hùng gương tráng sĩ,

Ngàn thu ghi nhớ dấu oai linh.

Ai về qua bến sông Tranh,

Nhớ người tráng sĩ tài danh tuyệt vời.

Dẫu rằng nước chảy hoa trôi,

Sông Tranh dù cạn, ơn người còn ghi.

Loa đồng hỏi nước sông Tranh,

Long đao cứu nước, anh hùng là ai?

Sông Tranh đáp tiếng trả lời,

Có Quan đệ ngũ, chính người Ninh Giang

Tài cung kiếm sánh cùng võ tử

Đức kinh luân ví tựa Trương Tô

Phong lưu mã thượng giang hồ

Cung cầm dưới nguyệt con đò trên sông

Chí đã quyết ngaòi vòng cương toả

Hay đâu là duyên nợ ba sinh

Buồng xuân thiếu bạn chung tình

Thoả lòng tráng sĩ tài anh phỉ nguyền

Thề non nước nên duyên kì ngộ

Bỗng đâu ngờ mắc nợ oan khiên

Tin đâu khẩn cấp ban truyền

Quan quân tầm nã khắp miền sông tranh

Có ngờ đâu đất trời thay đổi,

Người anh hùng cổ nặng xiềng gông.

Ngài bị bắt giam ở chốn Kỳ Cùng

Quan oan vì tuyết nguyệt, bởi lòng ái ân

Trước cung điện, triều đình tra xét,

Bắt long hầu chuyển khắp mọi nơi.

Ngài oan vì ong bướm lả lơi,

Chiết hoa, đoạt phụ tội trời không dung.

Lệnh viễn xứ sơn cùng, thuỷ kiệt,

Nỗi oan này thấu tỏ hỡi cao minh.

Hoàng bào đã nhuôm chàm xanh

Tấm thân đành nhục vinh lẽ thường

Đường thiên lý quan san bỡ ngỡ

Hỏi trăng già có tỏ cho ai

Hỏi trăng hỏi gió hỏi trời

Hỏi rằng nguyệt lão trêu người vì đâu

Hỏi cây cỏ sao mưa dầu nắng dãi,

Vẫn vươn mình há ngại phong ba.

Cỏ cây ơi có thấu tỏ lòng ta,

Sơn cùng thuỷ kiệt sương sa lạnh lùng

Thà thác vinh còn hơn sống nhục,

Sông Kỳ Cùng tắm ngọc Côn Sơn

Kiệt cùng hiu hắt trăng non

SôngCùng trong đục nước tuôn đôi dòng

Ngẫm cảnh vật lòng đau như cắt

Nợ trần hoàn quyết dứt cho xong

Lòng riêng đã quyết với lòng

Mượn dây oan nghiệt cho xong tội trời

Rừng hoa cỏ thương người đã khuất

Bỗng đùng đùng gió giật mưa sa

Nỗi oan chuyển động đất trời

Dây oan kia biến thành đôi bạch xà

Đất Ninh Giang tìm nhà có phúc

Thử lòng người trong lúc lánh thân

Tháng hai vừa tiết trung tuần

Thử lòng ông lão mộng thần ứng ngay

Tỉnh giấc mộng mới hay sự lạ

Đôi bạch xà tựa cửa hai bên

Long xà kì dị thảo hiền

Từ khi xuất hiện vui thêm cửa nhà

Ba tháng sau đàn gà đã hết

Thương rắn hiền không biết lo sao

Khó Khăn âu cũng tính liều

Ông bà nông lão sớm chiều đông tây

Bỗng một buổi tai bay hoạ rủi

Hai ông bà mắc tội cửa công

Lệnh nghiêm sấm sét đùng đùng

Tậu gà nuôi rắn không dung tội này

Lệ nuốt lệ đắng cay xiết kể

Thương rắn thần tựa thể thương con

Khấu đầu tạ trước công môn

Xin đem đôi rắn thả luôn giữa dòng

Cơn phong vũ ầm ầm nổi dậy

Sóng bạc đầu nước xoáy mênh mông

Long xà thoát xuống thuỷ cung

Nước rẽ đôi dòng cuồn cuộn chứa chan

Khắp duyên hải sấm ran từ đấy

Bóng long hầu nổi dậy nơi nơi

những phường bán nước hại nòi

Gian tà quỷ quyệt tội trời không tha

Dìm đáy nước về toà thuỷ tộc

Tội gia hình bõ lúc sai ngoa

Lẽ thường tội báo oan gia

hại nhân nhân hại sự đà không sai

Nước Văn Lang vào đời Thục Phán,

Giặc Triệu Đà có ý xâm lăng,

Triều đình ra lệnh tiến binh,

Thuyền bè qua bên sông Tranh rợp trời.

Bỗng nổi trận phong lôi bão táp

Ba quân đều sợ hãi khiếp kinh

Hỏi ra mới biết sự tình

Thiết bày hương án lễ trình bên sông

Mời trưởng lão trong vùng thôn xóm

Khấn vừa xong gió lặng sóng yên

Uy linh sự đã hiển nhiên

lệnh truyền dân xã lập đèn bên sông

Công hộ quốc gia phong thượng đẳng,

Tước phong hầu truy tặng Đại vương,

Bảng vàng thánh thọ vô cương

Hiếu trung tiết nghĩa đôi đường vẹn hai.

Gương anh hùng muôn đời soi tỏ,

Đất Văn Lang thiên cổ anh linh,

Bao phen đắp luỹ xây thành,

Khắp miền duyên hải, sông Tranh nức lòng.

2. Văn khấn tạ Quan lớn Tuần Tranh dành cho con nhang, đệ tử

“Ra uy lẫm liệt tung hoành,

Trừ tà sát quỷ nên danh tướng tài,

Văn Lang thời ấy là ai,

Chỉ huy quân Việt diệt loài ngoại xâm,

Ninh Giang chính quán quê nhà.

Ông là Đại tướng danh là Tuần Tranh

Nào ngờ thời vận đổi thay

Đình thần vốn đã tỵ hiềm

Án oan quy tội cho người trung lương

Chỉ vì công lớn, oan gia

Không sao gỡ tội phải ra tội tù.

Lệnh viễn xứ đầy đi,

Sơn cùng thủy tận ngã ba Kỳ cùng.

Anh hùng mang nặng xiềng gông,

Áo chiến bào giờ đã nhuốm mầu chàm xanh

Lòng trung lương nào ai hay biết,

Có trời xanh mới tỏ tâm can

Trẫm mình đáy nước minh oan

Sông Kỳ Cùng rửa hết nhục oan cho người”.

【#2】Văn Khấn Quan Lớn Tuần Tranh Đầy Đủ, Chính Xác Nhất

Quan lớn tuần tranh là ai?

Theo sự tích dân gian, Quan lớn tuần tranh là con trai của Vua Cha bát hải Đồng Đình. Quan lớn tuần tranh là con thứ 5 cùng với 4 người anh trong Ngũ Vị Tôn Quan của Thiên giới. Ngọc Hoàng cho phép Quan lớn Tuần Tranh cai quản địa binh và giải oan nghiệt cho hạ giới.

Vào thời vua hùng, ngài được Ngọc Hoàng giáng xuống trần gian, đầu thai vào một gia đình ở thành phố Hải Dương.

Ở hạ giới, ngài là một vị tướng tài ba, kiêm lĩnh thuỷ bộ, trấn giữ miền duyên hải sông Tranh. Ông lập được nhiều công lớn nên Quan lớn tuần tranh được sắc phong hầu.

Quan lớn tuần tranh đem lòng thích một người phụ nữ, nhưng không may người phụ nữ này lại là vợ lẽ của quan huyện. Ông bị vu oan và bị bắt giam, để giải oan, ông đã nhảy xuống sông Kỳ Cùng tại Lạng Sơn để minh oan. Ở tại quê nhà, ông hoá thành đôi rắn và được vợ chồng già nuôi như con. Sau đó, vợ chồng già mang thả ông xuống sông Tranh.

Quan lớn tuần tranh được thờ cúng ở đâu?

Về sau, nhân dân coi ông như một vị thần sông và lập đền thờ. Nay đền thuộc địa phận thuộc xã Đồng Tâm, huyện Ninh Giang, Tỉnh Hải Dương.

Theo lời kể lại thì sau này quan lớn tuần tranh thích một nàng hầu của quan phủ nên đã bắt nàng ta. Quan phủ đã kiện lên Diêm vương, ông bị xử phạt và bắt đi đầy, kể từ đó thì đền quan lớn tuần tranh không còn được linh thiêng như trước nữa. Nhưng người dân ở đây vẫn tổ chức lễ hội và thắp hương tưởng nhớ công lao của ông.

Văn khấn quan lớn tuần tranh đầy đủ.

Khấn Nam mô a di đà Phật ( 3 lần)

Con lậy chín phương trời, con lạy mười phương đất, con lạy chư phật mười phương.

Con lậy toàn thể chư phật, chư tiên, chư thánh.

Con lậy Quan lớn tuần tranh tối linh.

Đệ tử con là: (bạn nêu tên tuổi đầy đủ của mình)

Ngụ tại: ( địa chỉ sinh sống của bạn).

Hôm nay là ngày ( ngày mà bạn đi đến đền cầu, ngày âm và ngày dương). Chúng con về đây có chút hương hoa, oản quả, lễ mặn hoặc chay ( có lễ gì kêu lễ đó, kêu sai là phải tội) xin dâng lên các chư tiên, chư thánh để cảm tạ ơn đức của các ngài đã phù hộ, độ trì cho chúng con suốt thời gian qua. Thời gian vừa qua, được sự lưu tâm, độ trì của các ngài mà công việc hanh thông, vẹn tròn. Đệ tử chúng con xin cảm tạ các .

Hôm nay, chúng con đến đây với tất cả lòng thành kinh, xin các ngài phù hộ, độ trì cho chúng con các việc sau: ( xin việc gì thì nói cụ thể).

(Cuối cùng), thay mặt gia đình chúng con, con xin đa tạ Quan lớn tuần tranh tối linh và toàn thể các chư tiên, chư thánh.

Khấn lại: Nam mô a di đà Phật ( 3 lần).

Lễ hội tuần tranh được tổ chức khi nào?

Để tưởng nhớ quan lớn Tuần Tranh, hàng năm cứ vào dịp ngày mùng 10 đến ngày 20 tháng 2 âm lịch, lễ hội đền quan lớn tuần tranh được tổ chức. Hội chính diễn ra vài ngày 14 tháng 2 ( đây cũng chính là ngày sinh thời của quan lớn tuần tranh). Người dân trong vùng và khắp nơi về dâng hương và cầu xin tài lộc, bình an.

Gốm sứ Bát Tràng 360 vừa thông tin đến bạn về sự tích đền tranh cũng như bài văn khấn quan lớn tuần tranh đầy đủ, chính xác nhất. Hàng năm vào dịp lễ hội hoặc các dịp khác trong năm bạn có thể đến đây để thắp hương, cầu may mắn, bình an cho các thành viên trong gia đình, người thân.

【#3】Văn Khấn Quan Lớn Tuần Tranh

Lẫm liệt tung hoành uy gia,

Trừ tà sát quỷ nổi danh tướng tài.

Cảnh Thiên thai Quan Tuần ngự giá,

Bộ tiên nàng thứ tự dâng huê.

Chầu thôi lại trở ra về,

Truyền quân dâng nước Thuỷ tề mênh mông.

Cảnh am thanh nhiều bề lịch sự,

Vốn đặt bầy tự cổ vu lai.

Có phen xuất nhập trang đài,

Đào lan quế huệ xum vầy xướng ca.

Phú:

Nước Âu Lạc vào đời Thục Phán,

Giặc Triệu Đà có ý xâm lăng,

Triều đình ra lệnh tiến binh,

Thuyền bè qua bên sông Tranh rợp trời.

Công hộ quốc gia phong thượng đẳng,

Tước phong hầu truy tặng Đại vương,

Bảng vàng thánh thọ vô cương

Hiếu trung tiết nghĩa đôi đường vẹn hai.

Đấng anh hùng cổ kim lừng lẫy,

Khắp xa gần đã dậy thần cơ,

Cửa sông đâu có phụng thờ,

Ninh Giang lại nổi đền thờ Tuần Tranh

Gương anh hùng muôn đời soi tỏ,

Đất Văn Lang thiên cổ anh linh,

Bao phen đắp luỹ xây thành,

Khắc miền duyên hải, sông Tranh nức lòng.

Thơ:

Sông Tranh ơi hỡi bến sông Tranh,

Non nước còn ghi trận tung hoành,

Lẫm liệt oai hùng gương tráng sĩ,

Ngàn thu ghi nhớ dấu oai linh.

Ai về qua bến sông Tranh,

Nhớ người tráng sĩ tài danh tuyệt vời.

Dẫu rằng nước chảy hoa trôi,

Bến sông Tranh dù cạn, ơn người còn ghi.

Loa đồng hỏi nước sông Tranh,

Thanh long đao năm xưa cứu nước, anh hùng là ai?

Sông Tranh đáp tiếng trả lời,

Chỉ có thanh long đao Quan đệ ngũ, chính người trong phủ Ninh Giang

Oán:

Nhưng nào ngờ đâu khi đất trời thay đổi,

Người anh hùng cổ mang nặng xiềng gông.

Ngày hai nhăm tháng năm, Quan lớn bị bắt giam ở chốn Kỳ Cùng (1)

Quan oan vì tuyết nguyệt, bởi lòng ái ân.

Trước cung điện, triều đình xét hỏi,

Bắt long hầu chuyển khắp mọi nơi.

Quan lớn Tuần oan vì ong bướm lả lơi,

Chiết hoa, đoạt phụ tội trời không dung.

Bắt đày chốn sơn cùng, thuỷ kiệt,

Nỗi oan này thấu tỏ hỡi cao minh.

Gió lạnh sương sa vì đời bội bạc,

Sự ngay gian đảo lộn trắng đen.

Hỏi cây cỏ sao mưa dầu nắng dãi,

Lỡ hại người trong lúc phong ba.

Cỏ cây ơi có thấu tỏ lòng ta,

Sơn cùng thuỷ kiệt sương sa lạnh lùng.

Đường thiên lý quan san bỡ ngỡ,

Nợ trần hoàn quyết trả cho xong.

Tháng hai vừa tiết trung tuần,

Thử lòng ông lão, mộng trần ứng ngay.

Tỉnh giấc mộng mới hay sự lạ,

Đôi bạch xà tựa cửa hôm mai.

Trí đã quyết khỏi vòng cương toả,

Hay đâu còn mắc nợ oan khiên.

Ngài vừa hay có lệnh ban truyền,

Quan quân tầm nã khắp miền sông Tranh.

Thà thác vinh còn hơn sống nhục,

Cho sông Kỳ Cùng tắm ngọc Côn Sơn.

Đền Tranh hay còn gọi là đền Quan Lớn Tuần Tranh nằm ở gần bến đò Tranh, Tổng Bất Bế, huyện Vĩnh Lại thời Lê và Nguyễn, nay thuộc xã Đồng Tâm, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, thờ vị thần sông nước coi khúc sông.

Trong tín ngưỡng thờ hệ thống các vị Thánh trong Đạo Mẫu, Đức Thánh Quan đệ ngũ Tuần Tranh là vị thường được mời ngự giá đồng thường xuyên nhất. Vậy quan lớn đệ ngũ tuần tranh là ai ? Qua một số giá hầu đồng riêng biệt, khác nhau cả về địa điểm cũng như địa phương. Đã có những phương pháp đối chiếu đủ để chứng minh rằng không có sự liên hệ giữa các Thanh Đồng khi được Thánh giáng cho biết tên của Ngài là Cao Lỗ – Đây là một nhân vật lịch sử đã được ghi trong Đại Việt Sử ký toàn thư, Ngoại kỷ quyển I

Cao Lỗ là một Đại thần – Danh Tướng của Thục Phán An Dương Vương. Ông sinh ra tại xã Cao Đức, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh ngày nay. Ông là người chế ra nỏ liên châu (nỏ thần). Vào thời Hùng Vương thứ 18, Cao Lỗ là một vị Đại Tướng kỳ tài của nước Văn Lang độc lập. Ông là người có công lớn trong việc trống quân xâm lược nhà Tần.

Vì có công lớn nên ông được giao chức vụ đứng đầu trong Triều đình. Ông đem lòng yêu công chúa Mị Châu – con gái An Dương Vương Thục Phán, nhưng Mị Châu lại phải lòng Trọng Thủy là con Triệu Đà được nhiều lần đi sứ cầu hòa đến An Dương Vương.

Triệu Đà dùng mưu đưa con Trọng Thủy lấy công chúa Mị Nương để tìm bí mật về tổ chức quân sự và quy cách vũ khí nỏ liên châu. Cao Lỗ can ngăn An Dương Vương không cho Mị Châu lấy Trọng Thủy, vì thế An Dương Vương bắt đầu nghi ngờ Cao Lỗ, nên vẫn cho đồng ý kết thông gia với Triệu Đà mà tin rằng sự hòa hiếu để tránh được chiến tranh xâm lược của Nam Việt

Quân Triệu Đà tấn công, nhưng không giành ngay được thắng lợi tuyệt đối. Nỏ liên châu cũng không còn phát huy tác dụng như trước vì quân Triệu Đà đã có cách chống lại. An Dương Vương cho rằng Cao Lỗ đã để lộ bí mật quân sự, lại thêm một số quyền thần vốn ghen ghét sàm tấu thêm khép ông vào tội chém. Nhưng vì ông có công lớn, trong án có những sự không sáng tỏ bởi vậy nên Triều đình chỉ bãi hết chức đầy Cao Lỗ

Do bị oan ức không thể giãi bầy được, lại thêm tính cương trực không chịu khuất, khi đến nơi đi đầy, quân áp giải vừa mở gông cùm, Cao Lỗ đã thề lấy cái chết để rõ mình vô tội và nhẩy xuống sông Kỳ Cùng (lạng sơn) tự vẫn. Sau khi ông chết ngày 25/5 năm Nhâm Thân ( năm 179 Tr.CN),

Sau khi ông chết, dân Việt nhớ ghi công đức lập đền thờ ông tại nơi ông tuẫn tiết ở bên sông Kỳ Cùng và tại nơi ông sinh ra. Theo một số truyền thuyết và một số bài hát văn chầu lễ Thánh Quan Lớn Tuần Tranh thì ông sinh ra tại Ninh Xá, Ninh Giang, tỉnh Hải Dương ngày nay.

Đền Tranh một năm có ba mùa lễ hội. Hội tháng 2, từ ngày 10-20 / 2, trọng hội vào 14 – ngày sinh của quan lớn Tuần Tranh, đây là hội chính hàng năm. Hội tháng 5, từ ngày 20-26 / 5, trọng hội vào 25 – ngày hoá của Đức thánh. Lễ hội đền Tranh có quy mô rộng lớn, thu hút khách nhiều tỉnh phía Bắc, một trong những hội lớn của Hải Dương, có sức hấp dẫn lạ thường, đặc biệt với các bà các cô ở các thành phố, bởi thế khách thập phương đến đây rất đông. Không chỉ trong những ngày hội (thường kéo dài tới 7 ngày) mà những ngày thường cũng không ít khách đến lễ và không thể thiếu tiết mục hát chầu văn.

Nửa thế kỳ trôi qua, thị trấn đã trải qua những thăng trầm qua hai cuộc chiến tranh, đền Tranh được dựng lại và tôn tạo trên địa phận thôn Tranh Xuyên xã Đồng Tâm. Không những đền được tôn tạo lại rất bề thế uy nghiêm mà còn được mở rộng rất nhiều, bên cạnh còn có chùa Tranh mới được xây dựng thêm. Không chỉ ngày hội mà ngày thường khách đến lễ cũng rất đông.

1- Ban thờ Phật 2- Ban thờ Thánh mẫu 3- Ban thờ Ngọc hoàng Thượng đế 4- Ban thờ Ngũ vị tôn ông 5- Ban thờ Tứ phủ chầu bà ( Thiên phủ, Địa phủ, Thuỷ phủ, Nhạc phủ) 6- Ban thờ Quan lớn Tuần Tranh 7- Ban thờ Sơn trang. 8- Ban thờ Động chúa sơn lâm 9- Ban thờ Thành hoàng: Quý Minh và Vũ Đô Mạnh 10- Ban thờ Mẫu địa 11- Ban thờ Đức thánh Trần

Bạn cũng có thể thích…

【#4】Bài Văn Khấn Quan Lớn Tuần Tranh Đầy Đủ Và Chi Tiết

Tìm hiểu sơ qua về lịch sử của Đền Tranh cũng như vị quan huyền thoại “Quan lớn Tuần Tranh”

Đền Tranh là nổi tiếng là nơi tập trung và phong phú nhất về tín ngưỡng dân gian truyền thống của người Việt mà điển hình trong đó là nhân vật huyền thoại mang tên Quan Lớn Tuần Tranh – một vị quan lớn có nhiều danh tiếng lẫy lừng. Quan Lớn Tuần Tranh được nhân dân xa gần kính nể và lập bàn thờ tôn kính phụng thờ và rất thiêng

Bài văn khấn quan lớn tuần tranh mà bạn nên biết

Lẫm liệt tung hoành uy gia, Trừ tà sát quỷ nổi danh tướng tài. Cảnh Thiên thai Quan Tuần ngự giá, Bộ tiên nàng thứ tự dâng huê. Truyền quân dâng nước Thuỷ tề mênh mông. Cảnh am thanh nhiều bề lịch sự, Có phen xuất nhập trang đài, Đào lan quế huệ xum vầy xướng ca. Phú: Nước Âu Lạc vào đời Thục Phán, Giặc Triệu Đà có ý xâm lăng, Triều đình ra lệnh tiến binh, Thuyền bè qua bên sông Tranh rợp trời. Công hộ quốc gia phong thượng đẳng, Tước phong hầu truy tặng Đại vương, Bảng vàng thánh thọ vô cương Hiếu trung tiết nghĩa đôi đường vẹn hai. Đấng anh hùng cổ kim lừng lẫy, Khắp xa gần đã dậy thần cơ, Cửa sông đâu có phụng thờ, Ninh Giang lại nổi đền thờ Tuần Tranh Gương anh hùng muôn đời soi tỏ, Đất Văn Lang thiên cổ anh linh, Bao phen đắp luỹ xây thành, Khắc miền duyên hải, sông Tranh nức lòng. Thơ: Sông Tranh ơi hỡi bến sông Tranh, Non nước còn ghi trận tung hoành, Lẫm liệt oai hùng gương tráng sĩ, Ngàn thu ghi nhớ dấu oai linh. Nhớ người tráng sĩ tài danh tuyệt vời. Dẫu rằng nước chảy hoa trôi, Bến sông Tranh dù cạn, ơn người còn ghi. Loa đồng hỏi nước sông Tranh, Thanh long đao năm xưa cứu nước, anh hùng là ai? Sông Tranh đáp tiếng trả lời, Chỉ có thanh long đao Quan đệ ngũ, chính người trong phủ Ninh Giang Oán: Nhưng nào ngờ đâu khi đất trời thay đổi, Người anh hùng cổ mang nặng xiềng gông. Ngày hai nhăm tháng năm, Quan lớn bị bắt giam ở chốn Kỳ Cùng (1) Quan oan vì tuyết nguyệt, bởi lòng ái Trước cung điện, triều đình xét hỏi, Bắt long hầu chuyển khắp mọi nơi. Quan lớn Tuần oan vì ong bướm lả lơi, Chiết hoa, đoạt phụ tội trời không dung. Bắt đày chốn sơn cùng, thuỷ kiệt, Nỗi oan này thấu tỏ hỡi cao minh. Gió lạnh sương sa vì đời bội bạc, Sự ngay gian đảo lộn trắng đen. Hỏi cây cỏ sao mưa dầu nắng dãi, Lỡ hại người trong lúc phong ba. Cỏ cây ơi có thấu tỏ lòng ta, Sơn cùng thuỷ kiệt sương sa lạnh lùng. Đường thiên lý quan san bỡ ngỡ, Nợ trần hoàn quyết trả cho xong. Tháng hai vừa tiết trung tuần, Thử lòng ông lão, mộng trần ứng ngay. Tỉnh giấc mộng mới hay sự lạ, Đôi bạch xà tựa cửa hôm mai. Trí đã quyết khỏi vòng cương toả, Hay đâu còn mắc nợ oan khiên. Ngài vừa hay có lệnh ban truyền, Quan quân tầm nã khắp miền sông Tranh. Thà thác vinh còn hơn sống nhục, Cho sông Kỳ Cùng tắm ngọc Côn Sơn.

Lễ hội đền tranh tổ chức khi nào?

Lễ hội nổi tiếng này được diễn ra từ ngày 10-20 /2. Trong các ngày trên thì ngày 14 chính là ngày sinh của quan lớn Tuần Tranh nên mọi người lấy đây là hội chính hàng năm. Vào này này thì hội đền tranh có sức hấp dẫn lạ thường, đặc biệt với các bà các cô ở các thành phố. Chính vì thế ai mà đến đền này này sẽ phải chen chúc khá khó khăn do khách thập phương đến đây rất đông.

Tuy nhiên nếu bạn không thích đến đúng ngày hội thì bạn cũng có thể đến ngày thường để thỉnh cầu mong muốn của mình đến Quan Lớn Tuần Tranh. Gốm Sứ Bát Tràng hy vọng đã đem lại cho bạn đọc những kiến thức bổ ích về những tín ngưỡng truyền thống của dân tộc Việt Nam cũng như bài văn khấn quan lớn Tuần Tranh đẩy đủ và chi tiết.

【#5】Văn Khấn Quan Lớn Tuần Tranh Đền Tranh Chính Xác & Đầy Đủ

Người Việt có tập tục lập đền thờ cúng các vị thần tiên, quan lớn, người có công với dân nhân. Tại Đền Tranh tại Hải Dương hiện đang thờ phụng Quan lớn Tuần Tranh một trong những vị thần tiên được giáng thế xuống nhân gian trở thành vị tướng quân tài 3 trong lịch sử. Nếu có dịp qua Hải Dương bạn có thể ghé Đền Tranh dâng hương và tỏ lòng thành kính với Ngài.

Lịch sử Quan lớn Tuần Tranh và Đền Tranh (Hải Dương)

Theo các sự tích được truyền miệng trong dân gian Quan lớn Tuần Tranh chính là con trai của Vua Cha Bát Hải Đồng Đình. Ông là người con trai thứ 5 cùng với 4 người anh trong Ngũ Vị Tôn Quan của Thiên giới. Quan lớn Tuần Tranh được Ngọc Hoàng Đại Đế cho phép cai quản địa binh, giải oan nghiệp cho trần gian. Sau này

Ngài được Ngọc Hoàng giáng xuống trần gian ở thời vua Hùng Định Vương tại một gia đình ở Hải Dương hiện nay. Tại trần gian Quan lớn Tuần Tranh là vị tướng quân tài ba kiêm lĩnh thuỷ bộ, nhiệm vụ chính của ông chính là trấn giữ miền duyên hải sông Tranh. Do lập được nhiều công lao nên Quan lớn Tuần Tranh được sắc phong công hầu.

Sau này Quan lớn Tuần Tranh thích một người phụ nữ nhưng không may người này lại là vợ lẽ của quan huyện. Sau này Ông bị bắt giam phải nhảy xuống sông Kỳ Cung tại Lạng Sơn để minh oan. Tại quê nhà ông hóa thành một đôi rắn được một cặp vợ chồng già và nghèo nuôi như con. Sau này vợ chồng già thả ông xuống sông Tranh, sau này Quan lớn Tuần Tranh được xem như Thần sông được người dân lập Đền thờ phụng.

Dân thuyền bè muốn qua sông sóng yên biển lặng thì vào đền thắp hương, người dân xung quanh muốn cầu gì thì mang lễ đến cầu khẩn. Sau này Quan lớn Tuần Tranh thích một nàng hầu của quan phủ nên đã bắt nàng ta đi. Quan phủ kiện lên Diêm vương khiến Quan lớn Tuần Tranh bị xử phạt và bắt đi đày tại một trấn biên ải xa xôi. Từ đó Đền Tranh cũng không còn linh thiêng, xin gì được nấy như trước đây nhữ. Tuy nhiên hàng năm người dân địa phương vẫn tổ chức lễ hội Đền Tranh cũng như thắp hương cúng viếng để tỏ lòng thành kính và cầu xin bình an.

Văn khấn Quan lớn Tuần Tranh – Đền Tranh (Hải Dương)

Hiện nay có rất nhiều bài văn khấn Quan lớn Tuần Tranh để bạn lựa chọn. Tùy thuộc vào các bản văn khấn mà bạn đọc được ở sách báo, mạng internet hay được nghe truyền miệng. Sau đây Gốm Đại Việt xin gửi tới một bản văn khấn Đền Tranh phổ biến đến quý vị và các bạn:

Lẫm liệt tung hoành uy gia, Trừ tà sát quỷ nổi danh tướng tài. Cảnh Thiên thai Quan Tuần ngự giá, Bộ tiên nàng thứ tự dâng huê. Chầu thôi lại trở ra về, Truyền quân dâng nước Thuỷ tề mênh mông. Cảnh am thanh nhiều bề lịch sự, Vốn đặt bầy tự cổ vu lai Có phen xuất nhập trang đài, Đào lan quế huệ xum vầy xướng ca. Phú: Nước Âu Lạc vào đời Thục Phán, Giặc Triệu Đà có ý xâm lăng, Triều đình ra lệnh tiến binh, Thuyền bè qua bên sông Tranh rợp trời. Công hộ quốc gia phong thượng đẳng, Tước phong hầu truy tặng Đại vương, Bảng vàng thánh thọ vô cương Hiếu trung tiết nghĩa đôi đường vẹn hai. Đấng anh hùng cổ kim lừng lẫy, Khắp xa gần đã dậy thần cơ, Cửa sông đâu có phụng thờ, Ninh Giang lại nổi đền thờ Tuần Tranh Gương anh hùng muôn đời soi tỏ, Đất Văn Lang thiên cổ anh linh Bao phen đắp luỹ xây thành, Khắc miền duyên hải, sông Tranh nức lòng. Thơ: Sông Tranh ơi hỡi bến sông Tranh, Non nước còn ghi trận tung hoành, Lẫm liệt oai hùng gương tráng sĩ, Ngàn thu ghi nhớ dấu oai linh. Ai về qua bến sông Tranh, Nhớ người tráng sĩ tài danh tuyệt vời. Dẫu rằng nước chảy hoa trôi, Bến sông Tranh dù cạn, ơn người còn ghi. Loa đồng hỏi nước sông Tranh, Thanh long đao năm xưa cứu nước, anh hùng là ai? Sông Tranh đáp tiếng trả lời, Chỉ có thanh long đao Quan đệ ngũ, chính người trong phủ Ninh Giang Oán: Nhưng nào ngờ đâu khi đất trời thay đổi, Người anh hùng cổ mang nặng xiềng gông. Ngày hai nhăm tháng năm, Quan lớn bị bắt giam ở chốn Kỳ Cùng (1) Quan oan vì tuyết nguyệt, bởi lòng ái Ân. Trước cung điện, triều đình xét hỏi, Bắt long hầu chuyển khắp mọi nơi. Quan lớn Tuần oan vì ong bướm lả lơi, Chiết hoa, đoạt phụ tội trời không dung. Bắt đày chốn sơn cùng, thuỷ kiệt, Nỗi oan này thấu tỏ hỡi cao minh. Gió lạnh sương sa vì đời bội bạc, Sự ngay gian đảo lộn trắng đen Hỏi cây cỏ sao mưa dầu nắng dãi, Lỡ hại người trong lúc phong ba. Cỏ cây ơi có thấu tỏ lòng ta Sơn cùng thuỷ kiệt sương sa lạnh lùng. Đường thiên lý quan san bỡ ngỡ, Nợ trần hoàn quyết trả cho xong. Tháng hai vừa tiết trung tuần, Thử lòng ông lão, mộng trần ứng ngay. Tỉnh giấc mộng mới hay sự lạ, Đôi bạch xà tựa cửa hôm mai. Trí đã quyết khỏi vòng cương toả, Hay đâu còn mắc nợ oan khiên. Ngài vừa hay có lệnh ban truyền, Quan quân tầm nã khắp miền sông Tranh. Thà thác vinh còn hơn sống nhục, Cho sông Kỳ Cùng tắm ngọc Côn Sơn. bài văn khấn quan lớn Tuần Tranh

Lễ hội Đền Tranh truyền thống được tổ chức khi nào?

Lễ hội Đền Tranh được tổ chức hàng năm theo truyền thống nhằm tưởng nhớ đến Quan lớn Tuần Tranh. Đây cũng là dịp người dân địa phương tụ hội, trở về quê hương cũng như người dân các nơi về đây thăm thú, du ngoạn, tận hưởng không khí lễ hội. Theo truyền thống lễ hội Đền Tranh diễn ra từ ngày mùng 10 đến ngày 20 tháng 2 Âm lịch hàng năm. Trong đó chính hội sẽ được diễn ra vào ngày 14 tháng 2, đây chính là ngày sinh của Quan lớn Tuần Tranh.

Vào dịp lễ hội các con hương đệ tử vẫn kéo về Hải Dương lễ bái, tỏ lòng thành kính, hầu bóng nhằm cầu mong vạn sự như ý. Không những thế tại đây không khí lễ hội vô cùng nhộn nhịp, các thánh vẫn ốp đồng, người dân vẫn xin thẻ, xin bùa, xin chữa bệnh tâm linh. Trong suốt quãng thời gian hội khách vẫn đến tấp nập hành hương cúng vái.

【#6】Quan Lớn Tuần Tranh: Thần Tích Và Quyền Phép

+ Ngày 25/5: Tiệc Quan Lớn Tuần Tranh ( đền Ninh Giang, đền Kì Cùng)

Nỗi oan da diết một vùng

Uy danh dũng mãnh Kỳ Cùng Lạng Sơn

Quan tuần chắc giáng nam sơn

Muôn dân ghi nhớ công ơn đời đời

Thiên binh thiên tướng nhà trời

Quyền ông cai quản nơi nơi thái hoà

Danh lam thắng tích một toà

Sông tranh còn đó mặn mà sầu thương

Buồn buồn tủi tủi vấn vương

Con về bái yết dâng hương quan tuần

Quan về bảo hộ muôn dân

Thao quân võ lược điều quân trừ tà

Quan ban phúc lộc đề đa

Già trẻ trai gái nhà nhà ấm êm

1. Quan lớn tuần tranh là ai?

Quan lớn Tuần tranh là ai? Ngài chính là con trai của Vua Cha Bát Hải Đồng Đình và cùng 4 người anh của mình trong hành Ngũ Vị Tôn Quan.

Ngài được Ngọc Hoàng Thượng Đế ban cho quyền phép cai quản địa binh, giải oan nghiệp về sớ chương cho trần gian.

Trăng soi sáng tỏ đồi thông

Quan về soi xét thanh đồng ra sao

Mà sao lắm chuyện tào lao

Miệng trần bóng Thánh rêu rao hại đời

Mượn bóng Ông Thánh nơi nơi

Lạt người lấy của đất trời nổi giông

Năm nay thanh lọc thải đồng

Soi tài cắt lộc, phàm trần có hay ?

Năm nay vận hạn lắm thay

Bệnh dịch, nghèo đói, càng ngày nặng thêm

Bởi nay trời đất chẳng êm

Giận người hám của, ngày đêm tội đầy

Trách sao cái nghiệp làm thầy

Dẫn người sai lối, nghiệp dầy chất cao

Trách ai cớ lại làm sao

Chưa ra mở phủ đã nào mượn uy

Giả danh lừa đảo thị phi

Làm lễ dân chúng, hỏi khi nào thành

Mà sao khắp chốn tung hoành

Gạ người làm lễ, tanh bành cả lên

Trời xanh kia đã chứng tên

Nhân quả muôn kiếp, bề trên chứng lòng

Sống sao đã đục chẳng trong

Cầu tài hám lợi tiền nong lộc tài

Nghiệp kia lại tiếp thêm dài

Đời này đời khác miệt mài gánh thêm

Bởi nay làm ác ngày đêm

Đời con đời cháu chẳng êm hận đời

Mà đâu nào phải do trời

Ăn mặn khát nước, suốt đời áy o

Quanh năm suốt tháng phải lo

Oan gia trái chủ hành cho suốt ngày

Bao giờ mới chịu đổi thay

Hay là phải trị tận tay mới thành

Thanh long đao đó tung hoành

Xưa kia giết giặc để giành nước Nam

Giờ đây dân chúng bình an

Phải biết báo hiếu, chứa chan lòng người

Mà sao trắng mắt con ngươi

Chỉ lo hám lợi, lại lười làm ăn

Thấy người túng thiếu khó khăn

Lấy cớ soi bói, rồi răn lễ làm

Tung thêm năm ba chuyện xàm

Người trần lo sợ miêm man xoay tiền

Mong là đúng cửa gặp Tiên

Cầu thần giúp đỡ được yên trong nhà

Ngờ đâu càng hại người ta

Người người oán hận, lòng tà phải mang

Năm nay Canh Tý đã sang

Lọc đồng, cắt lộc, rõ ràng không sai

Trị cho chẳng thiếu một ai

Ai làm nấy chịu, đôi vai chịu đòn

Khuyên ai tích đức cho tròn

Đúng đường đúng lối, mới còn lộc Thiên

Lộc kia Thánh dẫn con hiền

Đồng Quan bóng Thánh, mọi miền trợ nguy

Học điều nhân nghĩa từ bi

Ngày đêm tu học chẳng sân si đời

Trợ duyên tác phúc nơi nơi

Có tâm trời chứng, đất trời vang danh

Xứng con nhà Thánh tu hành

Kính trên nhường dưới mới thành đồng ngoan

Bao nhiêu cơ cực trái oan

Cơ hành gian khó khoan thai nên người

Con con cháu cháu vui cười

Gia đình sum họp vẹn mười khang ninh

Bản hát văn cổ Quan Đệ Ngũ Tuần Tranh

2. Sự tích Quan Lớn Tuần Tranh

Trong hàng Ngũ Vị Tôn Ông, cùng với Quan Lớn Đệ Tam, Quan Lớn Đệ Ngũ cũng là một vị quan lớn danh tiếng hết sức lẫy lừng, được nhân dân xa gần tôn kính phụng thờ. Tuy đứng trong hàng năm của Ngũ Vị Tôn Ông, ông được thỉnh cuối cùng nhưng lại hay ngự về đồng nhất (bất cứ ai hầu Tứ Phủ, bất cứ dịp tiệc, đàn lễ nào đều phải thỉnh Quan Tuần Tranh về ngự).

Khi ngự đồng ông mặc áo lam thêu rồng, hổ phù; làm lễ tấu hương, khai quang, chứng sớ tán đàn rồi múa thanh long đao. Khi có đại đàn mở phủ hay bất cứ lễ tiệc nào, sau khi thỉnh các quan lớn về, đều phải đợi đến khi giá Quan Lớn Đệ Ngũ về chứng một lần hết tất cả các đàn mã sớ trạng rồi mới được đem đi hoá.

1. Thần tích qua Ngọc Phả, Truyền thuyết

Có một số truyền thuyết về gốc tích của ông nhất là qua Các ngọc phả thần tích và các điển tích, các đền phủ của tín ngưỡng Tam-Tứ Phủ, đền thờ Ông cũng như qua các bản văn chầu. Một truyền thuyết tương đối phổ biến và qua thần tích và ngọc phả đền Đồng Bằng thờ Vua cha Bát Hải gốc tích của ông như sau.

Ông là con trai thứ năm trong một gia đình lái đò trên dòng sông Vĩnh, phủ Ninh Giang (nay thuộc Hải Dương) thời Hùng triều thập bát (Hùng Duệ vương). Tuổi tác đã cao mà vợ chồng ông lái đò chưa có người nối dõi. Một lần ông bà bắt được bào thai trong có một ổ trứng trắng liền mang về nhà. Trải 9 mùa trăng đi qua, vào một ngày trời đầy mưa giông, sấm giật, 9 quả trứng nứt vỏ, 9 con rắn ra đời, ngày tháng thoi đưa, lũ rắn cũng lớn dần lên.

Năm ấy, đất nước có giặc, vua Hùng phải lập đàn khấn cầu các Thần linh giúp sức, lại sai sứ giả đi chiêu tập hiền tài huấn luyện binh nhung. Nghe tiếng loa truyền, 9 rắn hoá thành 9 chàng trai, cùng vào yết kiến nhà vua xin tham gia tiễu trừ quân giặc. 9 anh em nhất hô, bách ứng kéo theo cả thuồng luồng, thuỷ quái ra trận. Chỉ một ngày giặc tan, đất nước trở lại thanh bình. Vua Hùng truyền lệnh phong cho 9 chàng trai là 9 ông Hoàng.

Ngày 22/8 năm Bính Dần, bỗng một vầng hào quang chói loà, 9 chàng trai lại trở thành 9 con rắn trở về với dòng sông Tam Kỳ. Từ đó dân làng truy ơn lập 9 ngôi đền thờ các dũng tướng đã giúp vua trừ giặc ở dọc hai bờ sông, từ bến đò Tranh đến tận cửa biển Diêm Điền và đền Đồng Bằng là nơi thờ người cha chèo đò trên bến sông thuở ấy, với duệ hiệu Trấn Tây Tam Kỳ giang linh ứng, Vĩnh Công đại vương, Bát Hải động đình gọi nôm là vua cha Bát Hải.

2. Câu chuyện truyền thuyết chi tiết về: ” Truyện ông Dài, ông Cụt”

Ngày xưa, có hai vợ chồng già làm ruộng một hôm đi ra ngoài đồng, thấy hai quả trứng lạ, nhặt đem về nhà. Được ít lâu, hai quả trứng nở ra hai con rắn rất khôn, hai vợ chồng đi đâu chúng nó thường bò theo. Hai người không con nên cứ nuôi chúng nó, xem như là con, thường ngày cho ăn uống tử tế.

Một hôm, người chồng cuốc vườn, vô ý cuốc đứt một khúc đuổi của một con. Sau đó, vợ chồng mới gọi hai con rắn đặt tên cho là con Dài, con Cụt. Hai con rắn lớn lên, ăn rất tợn, nhà nghèo không đủ nuôi, chúng nó thường đi bắt gà, chó của hàng xóm mà ăn. Hai vợ chồng không nuôi nổi, mới đem thả xuống sông Tranh, bây giờ thuộc Hải Dương.

Hai anh em rắn Dài và Cụt được Thủy Vương nhận làm bộ hạ và cho cai quản cả một vùng sông rộng. Rắn Cụt tính khí dữ tợn hơn rắn Dài, hoành hành khắp vùng, làm cho dân chúng phải kiêng sợ gọi tên là ông Dài và ông Cụt. Có khi chúng bắt cả người, còn cướp súc vật là chuyện thường xảy ra. Ghe thuyền qua lại trên khúc sông, thường bị ông Cụt nổi sóng dữ tợn làm cho đắm. Cha mẹ nuôi ông Dài, ông Cụt thỉnh thoảng lại phải ra bờ sông van lơn xin con nuôi đừng làm hại người ta. Chúng cũng nghe theo được ít lâu, rồi lại đâu vẫn hoàn đấy.

Có lần hai vợ chồng họ Trịnh đi thuyền qua đó, ông Cụt thấy người vợ là Dương Thị nhan sắc xinh đẹp, muốn bắt về làm vợ, cho hai người con gái bưng lễ vật đến hỏi. Hai vợ chồng hoảng sợ bỏ thuyền lên bờ trốn tránh. Nhưng rồi ông Cụt cho bộ hạ theo dõi, thừa một đêm mưa gió, bắt Dương Thị đem về dưới Thủy Phủ. Sáng ngày, người chồng theo dấu ra đến bờ sông chỉ còn thấy quần áo của vợ trút bỏ lại đó.

Người chồng không biết làm thế nào, đành nuốt hận đi đây, đi đó tìm người phép tắc thần thôn để trừ ông Cụt. Một hôm, họ Trịnh gặp một ông già ngồi bói ở chợ, lân la hỏi mới biết là Bạch Long Hầu tức là Thần Mưa ở dưới Thủy Cung. Bạch Long Thần rẽ nước mời họ Trịnh về nhà mình ở dưới biển, giúp bàn việc kiện ông Cụt với Long Vương. Họ Trịnh đưa cái thoa của vợ nhờ người nhà Bạch Long hầu làm của tin để dò tìm Dương Thị ở dưới Thủy Phủ.

Khi đã bắt liên lạc được với Dương Thị rồi, họ Trịnh bèn cậy Bạch Long Hầu đưa đến triều đình Long Vương để tố cáo tình địch đã cướp vợ mình. Long Vương cho đòi ông Cụt tới. Ban đầu ông Cụt còn chối cãi, toan làm dữ với họ Trịnh, nhưng đến khi Dương Thị ra kể lại sự tình bị ông Cụt bắt cóc, ép duyên, thì họ Trịnh liền được kiện. Long Vương xử cho Dương Thị trở về mặt đất với họ Trịnh, con của nàng sinh với ông Cụt thì giao lại cho ông Cụt. Ông Cụt bị đày đến ở sông Kỳ Cùng, thuộc về Lạng Sơn ngày nay.

Ngày ông Cụt bị giáng chức đi đày, các loài thủy tộc đi theo tiễn chân đầy cả một khúc sông. Được biết hiện nay gần cầu Kỳ Lừa trên bờ sông Kỳ Cùng có ngôi đền thờ ” Thần sông nước” bị đuổi từ huyện Vĩnh Lại đất Hồng Châu lên, được nhiều người đến bái và cầu tài cầu lộc.

3. Theo lịch sử nghi chép.

Thời kỳ Thục Phán An Dương Vương, vua tập hợp thuyền bè để chống Nam Việt ở ngay bến sông Tranh, nhưng tại chỗ dòng xoáy đó, thuyền bè không tài nào qua được mà lại có cơn giông tố nổi lên giữa dòng. Vua bèn mời các vị lão làng đến lập đàn cầu đảo thì lập tức sóng yên bể lặng, hơn nữa, quân sĩ ra trận cũng được thắng to. Ghi nhớ công đức, vua Thục giải oan cho ông và phong là Giảo Long Hầu. Sau này ông còn hiển Thánh linh ứng, có phép nhà trời, cai quản âm binh, ra oai giúp dân sát quỷ trừ tà, dẹp hết những kẻ hại nước hại dân. Nhưng phép đó là gì thì chỉ những người nào đó trong tín ngưỡng Tam-Tứ Phủ sát bóng Quan Tuần mới có thể được ban ấn lệnh.

Trong tín ngưỡng Tam-Tứ Phủ thờ Nhạc Phụ của Kinh Dương Vương ( Kinh Xuyên ) là phụ vương của Sùng Lãm Tức Đại Thánh Lạc Long Quân cai quản Thủy phủ (Thoải Phủ) với vai trò là vua cha tức vua cha Bát hải Long vương (Thoải Phủ) hay Bát hải Động đình vương (Hồ Động Đình ở sông Dương Tử nay thuộc Trung Quốc). Nên Quan đệ ngũ Tuần Tranh chính là con trai của vua Lạc Long quân.

Trong hàng Ngũ vị Tôn quan, Ông là một vị quan lớn danh tiếng hết sức lẫy lừng, được nhân dân tôn kính phụng thờ. Trong các buổi lễ Mẫu Tam- Tứ Phủ, Ông đều giáng ngự đồng. Khi ngự đồng ông mặc áo lam thêu rồng, hổ phù làm lễ tấu hương, khai quang, chứng sớ, chứng đàn tiễn đàn. Rồi múa thanh long đao, khi có đại đàn mở phủ hay bất cứ lễ tiệc nào, sau khi thỉnh các quan lớn về, đều phải đợi đến khi giá Quan Lớn Đệ Ngũ về chứng một lần hết tất cả các đàn mã sớ trạng rồi mới được đem đi hoá.

Từ đó bến sông sóng yên nước lặng, nhân dân nhớ ơn vị quan phủ mà lập đền thờ, tôn là vị thần bảo vệ khúc sông “Rằng Người là vợ chồng một nông dân nghèo và vợ chồng viên Tri phủ. Thần là thuồng luồng, Bạch Long Hầu( thần mưa), Long cung” truyện đối tụng ở Long cung” còn một chi tiết sau khi thuồng luồng ra hầu tòa và bị đày lên phương bắc thì ngôi đền bên bờ sông tường siêu, vách đổ, bia gãy rêu trùm.

3. Đền thờ Quan Lớn Tuần Tranh ở đâu?

Các đền thờ ngài bao gồm các đền sau:

  • Đền Tuần Tranh, Hải Dương
  • Đền Kỳ Cùng Lạng Sơn

Quan Lớn Tuần Tranh cũng được thờ ở rất nhiều nơi nhưng phải kể đến hai nơi nổi tiếng bậc nhất: đầu tiên là Đền Ninh Giang và thứ hai là đền Kỳ Cùng.

Ninh Giang là đất anh hào

Linh thiêng dũng mãnh ai nào sánh hơn

Đời đời non nước ghi ơn

Quan tuần bảo vệ non sơn nước nhà

Thanh niên cho tới người già

Thành tâm bái yết ông trục tà cho

Đời đời sẽ được ấm no

Quan tuần lẫm liệt ông cho thái hoà

Bóng ông lịch sự nhất toà

Cứu nhân độ thế trung hoà nước non

Đền Ninh Giang lập bên bến sông Tranh ở xã Tranh Xuyên, tổng Bất Bế, huyện Vĩnh Lại thời Lê và Nguyễn nay thuộc thị trấn Ninh Giang, tỉnh Hải Dương (là nơi chính quán quê nhà của ông, nơi ông trấn giữ duyên hải sông Tranh, cũng là nơi ông hiển tích) và đền Kỳ Cùng lập bên bến sông Kỳ Cùng ở xã Vĩnh Trại – Châu Thoát Lãng, nay thuộc TP Lạng Sơn (cầu Kì Lừa là nơi ông bị lưu đày). Đền Tranh còn có tên gọi là đền Quan lớn Tuần Tranh.

Ngày tiệc chính của quan là ngày 25/5 âm lịch (là ngày ông bị lưu đày và bảo nhân dân quê ông làm giỗ vào ngày này), ngoài ra vào ngày 14/2, các đền thờ ông cũng mở tiệc đón ngày đản sinh của quan.

Lễ hội tại đền Tranh

Đền Tranh một năm có ba mùa lễ hội. Hội tháng 2, từ ngày 10-20 / 2, trọng hội vào 14 – ngày sinh của quan lớn Tuần Tranh, đây là hội chính hàng năm. Hội tháng 5, từ ngày 20-26 / 5, trọng hội vào 25 – ngày hoá của Đức thánh. Lễ hội đền Tranh có quy mô rộng lớn, thu hút khách nhiều tỉnh phía Bắc, một trong những hội lớn của Hải Dương, có sức hấp dẫn lạ thường, đặc biệt với các bà các cô ở các thành phố, bởi thế khách thập phương đến đây rất đông. Không chỉ trong những ngày hội (thường kéo dài tới 7 ngày) mà những ngày thường cũng không ít khách đến lễ và không thể thiếu tiết mục hát chầu văn.

Đền Kỳ Cùng Lạng Sơn

Nửa thế kỳ trôi qua, thị trấn đã trải qua những thăng trầm qua hai cuộc chiến tranh, đền Tranh được dựng lại và tôn tạo trên địa phận thôn Tranh Xuyên xã Đồng Tâm. Không những đền được tôn tạo lại rất bề thế uy nghiêm mà còn được mở rộng rất nhiều, bên cạnh còn có chùa Tranh mới được xây dựng thêm. Không chỉ ngày hội mà ngày thường khách đến lễ cũng rất đông.

Đền hiện nay có 11 ban thờ:

  • 1- Ban thờ Phật
  • 2- Ban thờ Thánh mẫu
  • 3- Ban thờ Ngọc hoàng Thượng đế
  • 4- Ban thờ Ngũ vị tôn ông
  • 5- Ban thờ Tứ phủ chầu bà (Thiên phủ, Địa phủ, Thuỷ phủ, Nhạc phủ)
  • 6- Ban thờ Quan lớn Tuần Tranh
  • 7- Ban thờ Sơn trang.
  • 8- Ban thờ Động chúa sơn lâm
  • 9- Ban thờ Thành hoàng: Quý Minh và Vũ Đô Mạnh
  • 10- Ban thờ Mẫu địa
  • 11- Ban thờ Đức thánh Trần

Phần hội ở đây rất giản dị, đặc biệt phần lễ thì vô cùng phong phú và hấp dẫn. Những lời khấn ở đây hầu hết được viết thành thơ và được thể hiện bằng điệu chầu văn rất mượt mà, sôi nổi.Có thể nói, lễ hội đền Tranh là lễ hội hát chầu văn.

Văn QUAN ĐỆ NGŨ TUẦN TRANH

Trong khi thỉnh ông về, văn thường hát:

“Uy gia lẫm liệt tung hoành

Trừ tà sát quỷ nên danh tướng tài

Ninh Giang chính quán quê nhà

Dấu thiêng ghi để ngã ba Kì Cùng

Hay nói về nỗi oan của ông, văn hát sử oán rằng:

“Nào ngờ đâu đất trời thay đổi

Người anh hùng mang tội xiềng gông

Tháng năm đày chốn Kì Cùng

Oan vì tuyết nguyệt đổi lòng ái ân

Trước cung điện triều đình tra xét

Bắt long hầu truyền hết mọi nơi

Oan vì bướm lả ong lơi

Triết hoa đoạt vũ tội trời không dung

Lệnh viễn xứ sơn cùng thuỷ kiệt

Nỗi oan này có thấu cao minh

Áo bào đã nhuộm chàm xanh

Tấm thân bách chiến tử sinh lẽ thường”

Hoặc có cả những đoạn ca ngợi công lao, tài đức của ông:

“Loa đồng hỏi nước sông Tranh

Đao thiêng dẹp giặc, anh hùng là ai

Sông Tranh đáp tiếng trả lời

Anh hùng lừng lẫy là người Ninh Giang”

Còn khi quan ngự đồng, khai quang chứng sớ điệp, ra oai giúp dân trừ tà thì văn hát rằng:

“Ông về truyền phán các quan

Tả cơ hữu đội lưỡng ban đáo đàn

Quân thuỷ quân bộ đôi hàng

Chư binh vạn mã hằng hà kéo ra

Lệnh truyền thiên đội vạn cơ

Quan Tuần bây giờ trắc giáng anh linh

Trước là bảo hộ gia đình

Sau ra thu tróc tà tinh phen này

Ra oai trần thế biết tay

Ngự lên đồng tử cứu rày nhân gian

Cứu đâu thời đấy khỏi oan…”

Như vậy một vị quan trong Tín ngưỡng Tam- Tứ Phủ có rất nhiều lớp thần tích và điển tích khác nhau, có thể là thật, cũng có thể là huyễn hoặc nhưng tất cả đều nhuốm màu huyền bí. Điều này càng làm cho Tín Ngưỡng Tam -Tứ Phủ trở nên linh thiêng & gần gũi, dần trở thanh một nét văn hoá sống động của dân tộc Việt Nam, góp phần củng cố bảo tồn và truyền bá Nội Đạo ra ngoài lãnh thổ.

Tamlinh.org (Thơ: Phạm Văn Hải)

【#7】Văn Khấn Trong Lễ Tang

Trong phần này, chúng tôi xin giới thiệu văn khấn ở những nghi lễ quan trọng từ khi người mất tới khi được 100 ngày.

Phần văn khấn từ giỗ đầu (tròn một năm sau ngày mất) chúng tôi chuyển sang phần văn khấn khi cúng giỗ.

1) Văn khấn lễ Thiết Linh:

Lễ Thiết Linh là lễ sau khi lập xong bàn thờ tang, đặt linh vị

2) Văn khấn lễ Thành Phục:

Lễ Thành Phục là lễ sau khi gia đình thân nhân mặc đồ tang, tề tựu quanh linh cữu.

3) Văn khấn lễ Chúc Thực:

Lễ Chúc Thực là lễ dâng cơm khi còn để linh cữu ở nhà.

4) Văn khấn Lễ cáo Long Thần Thổ Địa:

Là lễ cúng Long Thần Thổ Địa trước khi đào huyệt.

5) Văn khấn lễ Thành Phần:

Lễ Thành Phần là lễ khi đắp xong mộ.

6) Lễ Hồi Linh:

Lễ Hồi Linh là lễ rước ảnh hoặc linh vị từ mộ về.

7) Vản khấn lễ Chầu Tổ (Triều Tổ lễ cáo):

Sau khi làm lễ Hồi Linh ở bàn thờ tang xong thì làm lễ cáo yết với Tổ Tiên ở bàn thờ chính, nếu là gia đình nhà con thứ thì yết cáo tại nhà thờ của chi họ, nơi thờ ông bà nội, hoặc cụ nội.

Lễ Tế Ngu là lễ ba ngày sau khi mất hoặc ba ngày sau khi chôn cất xong.

Theo tục xưa:

Ngày đầu là Sơ Ngu

Ngày thứ hai là Tái Ngu.

Ngày thứ ba là Tam Ngu.

8) Lễ Chung Thất và Tốt Khốc:

Lễ Chung Thất là lễ 49 ngày. Lễ Tốt Khốc là lễ 100 ngày.

9) Lễ Triệu tịch Điện văn:

Lễ Triệu tịch Điện văn là lễ cúng cơm trong 100 ngày.

10) Lễ Tiểu Tường, Đại Tường (Giỗ Đầu, Giỗ thứ Hai):

Giỗ Đầu và Giỗ thứ Hai là hai lễ giỗ rất quan trọng.

11) Văn khấn lễ Đàm Tế (Tức là lễ hết tang Trừ phục):

Sau 2 năm và 3 tháng dư ai, chọn một ngày tốt làm lễ: Đắp sửa mộ dài thành mộ tròn, cất khăn tang, huỷ đốt các thứ thuộc phần lễ tang, rước linh vị vào bàn thờ chính, bỏ bàn thờ tang.

12) Văn khấn lễ rước linh vị vào chính điện và yết cáo Tiên Tổ:

Cách tiến hành nghi lễ: chép sẵn linh vị mới phủ giấy (hoặc vải) đỏ, khi Đàm Tế ở bàn thờ tang xong, thì đốt linh vị cũ cùng với bảng đen phủ quanh khung ảnh và văn tế. Sau đó rước linh vị, bát hương và chân dung (nếu có) đưa lên bàn thờ chính, đặt ở hàng dưới. Trường hợp nhà không có bàn thờ chính thờ gia tiên bậc cao hơn thì không phải làm lễ này mà yết cáo gia thần và yết cáo Tổ ở nhà thờ tổ.

13) Lễ Cải Cát:

Lễ Cải Cát là lễ sang Tiểu, sửa mộ, dời mộ.

Văn khấn lễ Thiết Linh

Nam mô A Đi Đà phật

Nam mô A Đi Đà phật

Nam mô A Đi Đà Phật

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ

– Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ Kháo, Cao Tằng Tổ Tỷ họ………….

Hôm nay là ngày…… tháng…… năm …………………… Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là……… ……………. vâng theo lệnh mẫu thân (nếu là cha) và các chú bác, cùng với anh rể, chị gái và các em trai gái dâu rể con cháu nội ngoại kính lạy.

Nay nhân ngày lễ thiết Linh thích nghi lễ cổ truyền

Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.

Trước linh vị của: Hiển……………. chân linh.

Xin kính cấn trình thưa rằng:

Than ôi! Gió thổi nhà Thung

(nếu khóc cha hoặc Huyên nếu khóc mẹ)

Mây che núi Hỗ

(nếu khóc cha hoặc núi Dĩ nếu khóc mẹ.)

Dung mạo một mai vắng vẻ, bão xô cây,

nghĩ lại ngậm ngùi thay

Âm dương đôi ngả xa vời, mây phủ núi,

trông càng đau đớn nhẽ!

Sương bay chớp nhoáng, bạch vân nghi ngút,

cõi phù sinh;

Nến đỏ hương thơm, án toạ hắt hiu đồ sự tử.

Vài tuần nghi tiết, mong anh hồn thấu khúc tình văn;

Tấc dạ bi hoài, trông linh vị, tuôn dòng ai lệ!

Ôi! Thương ôi!!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Văn khấn lễ Thành Phục

Nam mô A Đi Đà Phật

Nam mô A Đi Đà Phật

Nam mô A Đi Đà Phật

– Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương

– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân

– Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ.

Hôm nay là ngày……. tháng…….. năm …………………

Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là. ……………………

vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ thân)và các chú bác, cùng với anh rể, chị gái và các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

Nay nhân ngày Lễ Thành Phục theo nghi lễ cổ truyền,

Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.

Trước linh vị của: Hiển………………….. chân linh

Xin kính cẩn trình thưa rằng:

Than ôi! Núi Hỗ (nếu khóc cha hoặc núi Dĩ nếu khóc mẹ) mây che

Chồi Thung (nếu khóc cha hoặc Huyên nếu khóc mẹ) gió bẻ.

Cõi trăm năm, trời khéo hẹp hòi thay;

Cơ một phút, đời sao mau mắn nhẽ !

Sân Lai tử, những mong ngày tháng rộng,

Bõ công ơn áo nặng cơm dàyl

Đồ Thôi y, đâu đã lạ lùng thay, càng cám cảnh

đầu tang tóc chế..

Ôi! Thương ôi!

Trời đất làm chi cực thế! Chạnh nhớ cha (hoặc mẹ) điều ăn nết ở, tấm lòng sầu chín khúc, rồi năm canh.

Ai xui nên nỗi này! Nỡ để con, rày nhớ mai mong, nước mắt chảy hai hàng, đầy một mẻ.

Nay vừa chế phục sẵn rồi; bày đặt tang nghi theo lệ

Gậy khăn tuân cứ lối thường;

Thành phục kính dâng tiền tế

Thương ôi!

Nam mô a di đà phật!

Nam mô a di đà phật!

Nam mô a di đà phật!

Văn khấn lễ Chúc Thực

Nam mô a di đà phật!

Nam mô a di đà phật!

Nam mô ai di đà phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.

– Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân.

– Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ họ………

Hôm nay là ngày…. Tháng…. Năm……

Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là……… vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ thân)và các chú bác, cùng với anh rể, chị gái và các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy

Nay nhân lễ Chúc Thực theo nghi lễ cổ truyền,

Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành,

Trước linh vị của: Hiển… chân linh

Xin kính cẩn trình thưa rằng:

Thiết nghĩ! Nhân sinh tại thế,

Họa mấy người sống tám, chín mươi,

Đôi ba mươi năm cũng kể một đời.

Song vận số biết làm sao tránh được

Nhớ hồn thuở trước: trong buổi xuân xanh

Ơn mẹ cha đạo cả sinh thành, đêm ngày dạy dỗ:

Đường ăn, nỗi ở, việc cửa việc nhà.

Lại lo bề nghi thất, nghi gia

Cho sum họp trúc, mai mấy đóa

Cương thường đạo cả, lòng những lo hiếu thảo đền ơn

Nếp kiệm cần hằng giữ sớm hôm.

May nối được gia đường cơ chỉ,

Ba lo bảy nghĩ, vất vả trăm bề

Cho vẹn toàn đường nọ lối kia,

Tuy khó nhọc chưa cam thỏa dạ;

Bỗng đâu gió cả, phút bẻ cành mai,

Hoa lìa cây, rụng cánh tơi bời.

Yến lìa tổ, kêu xuân vò võ.

Tưởng hồn trường thọ, dìu con em, khuyên nhủ nên người.

Ai ngơ trăng lặn sao dời, hồn đã biến về nơi Tây Trúc

Từ nay lấy ai chăm sóc, ngõ cúc, tường đào.

Từ nay quạnh bóng ra vào, cỗi Nam, cành Bắc.

Ngày chầy sáu khắc, đêm vắng năm canh:

Tưởng phất phơ thoáng hiện ngoài mành.

Tưởng thấp thoáng bóng hình trên khói

Hiên mai bóng rọi, vào ngẩn ra ngơ.

Hết đợi thôi chờ, nắng hồng giá lạnh

Ai hay số mệnh!

Thuốc trường sinh, cầu Vương mẫu chưa trao.

Bút Chú tử, trách Nam Tào sớm định.

Bùi ngùi cám cảnh, tuôn rơi hàng nước mắt dầm dầm

Nhớ nơi ăn, chốn ở, buồng nằm:

Như cắt ruột, xét lòng con trên trần thế.

Mấy dòng kể lể. Chiêu hồn về than thở nguồn cơn.

Cầu anh linh phù hộ cháu con. Cầu Thần Phật độ trì, cho vong hồn siêu thoát…

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Văn khấn Lễ cáo Long Thần Thổ địa

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Bản cảnh Hậu Thổ Thần chư vị.

Tang chủ là: ……………………………………………….

Ngụ tại:…………….

Hôm nay là ngày … tháng…. Năm, gia đình có táng cố phụ (hay cố mẫu) là họ………… húy hiệu…….. tiền tước là….. thọ chung ngày ….ở khu đất này, kính dâng lễ vật……..lễ nghi các thứ

Thiết nghĩ:

Đất có dữ lành

Đều do họa phúc

Kết phát dựa vào âm đức,

Cũng nhờ Thần lực hiển linh

Ấy thực thường tình

Xiết bao cảm cách.

Những mong mồ yên mả đẹp.

Vậy dâng lễ bạc tâm thành.

Nhờ ơn Đại đức

Thấu nỗi u tình

Khiến cho vong linh.

Được yên nơi chín suối.

Phù hộ dương trần con cháu nội, ngoại bình yên.

Chúng con lễ bạc tâm thành cúi xin được phù hộ độ trì

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Văn khấn lễ Thành Phần

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân

Con kính lạy chư gia tiên Cào Tằng Tổ khảo, Cao Tằng Tổ tỷ họ………

Hôm nay là ngày…. Tháng ……. Năm …….. Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là. ……………………

vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ thân)và các chú bác, cùng với anh rể, chị gái và các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

Nay nhân ngày Lễ Thành Phục theo nghi lễ cổ truyền,

Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.

Trước linh vị của: Hiển………………….. chân linh

Xin kính cẩn trình thưa rằng:

Than ôi!

Mây núi Hỗ mịt mờ, mờ mịt

(nếu khóc cha hoặc núi Dĩ nếu khóc mẹ)

Chữ vô thường ngán nhẽ cuộc phù sinh;

Cơn bể dâu thay đổi, đổi thay

Cơ huyền diệu, ghê thay vòng tạo hóa

Ôi! Thương ôi!

Người thế ấy, mà sao phận thế ấy, bỗng đâu số trời xui khiến, cõi âm dương, đôi ngả đã xa vời;

Vận đến đây, hay là mệnh đến đây, thắm đã nấm đất vun vùi, đường từ hiếu, trăm năm không gặp gỡ

Mắt trông thấy, đào sâu lấp kín, tủi nỗi lòng, chín khúc ngổn ngang;

Tai vẳng nghe, trống giục, chiêng hồi, đầy nước mắt hai hàng lã chã

Nay đã phân kim lập hướng, cầy được thỏa yên;

Gọi rằng bát nước nén hương, kính trần bái tạ

Hỡi ơi! Xin hưởng!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

(Nghỉ một lát đọc tiếp hai câu sau)

Xuất chủ kính dâng ba chén rượu, xem như còn sống ở cao đường;

Thành Phần xin đốt một tuần hương, kính rước hồi linh về bảo toạ.

Văng khấn lễ Hồi Sinh.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân

– Con kính lạy chư gia tiên Cào Tằng Tổ kHảo, Cao Tằng Tổ tỷ họ………

Hôm nay là ngày…. Tháng ……. Năm …….. Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là. ……………………

vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ thân) và các chú bác, cùng với anh rể, chị gái và các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

Nay nhân ngày Lễ Hồi linh theo nghi lễ cổ truyền,

Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.

Trước linh vị của: Hiển……….chân linh

Xinh kính cẩn trình thưa rằng:

Than ôi! Xót nghĩ phụ thân (hoặc mẫu thân)

Thân thi táng tất, hồn phách đã yên.

Xa nơi trần giới, về chốn cửu nguyên.

Nay hồi linh,phụng nghênh thần chủ, rước về linh điện

Để con cháu sớm hôm phụng sự

Tới hạn kỳ làm lễ cáo thiên.

Cha (hoặc mẹ) hỡi có thiêng!

Từ nay phách định hồn yên!

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật

Văn khấn lễ Chầu Tổ (Triều Tổ lễ cáo)

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân

– Con kính lạy chư gia tiên Cào Tằng Tổ kHảo, Cao Tằng Tổ tỷ họ………

Hôm nay là ngày…. Tháng ……. Năm ………..

Hậu duệ tôn là…………………………………………………………. Vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ thân nếu là cha) và các chú bác, cùng với anh rể, chị gái và các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại. Kính cáo Tổ Tiên:

Vì có: Hiển Khảo (hoặc Hiển Tỷ)……………………thọ chung ngày …….. nay đã an táng xong, làm lễ hồi linh.

Kính theo kễ nghi phong tục, xin kính dâng lễ vật gồm hương hoa chuối ỏan, trầu cau, đèn nến, xôi gà thịt rượu, gọi là lễ bạc tâm thành. (Nếu sắp lễ có những thứ khác thì khi khấn tùy theo đồ lễ mà kể ra).

Kính cẩn quỳ trước linh vị của: Cao Tằng Tổ Khảo Cao Tằng Tổ Tỷ, liệt vị Tiên linh. Trình thưa rằng:

Vật vốn nhờ trời

Người sinh nhờ Tổ.

Xót nay phụ thân (hoặc mẫu thân)

Theo Tiên theo Tổ

Sơ ngu vừa đặt tế điện

Nghĩ trước nghĩ sau

Vật mọn kính bày lễ số.

Ngửa trông chứng giám lòng thành;

Cúi nguyện phù trì bảo hộ.

Chúng con lễ bạc tâm thành tâm kính bái cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Văn khấn lễ Tế Ngu

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân

– Con kính lạy chư gia tiên Cào Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ tỷ.

Hôm nay là ngày…. Tháng ……. Năm ………..

Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là………vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ mẫu nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

Này nhân ngày lễ Tế Ngu theo nghi lễ cổ truyền,

Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.

Trước linh vị của:Hiển……………..chân linh

Xin kính cẩn trình thưa rằng.

Than ôi! Trên tòa Nam cực, lác đác sao thưa; (nếu khóc cha hoặc đổi là Bắc vụ nếu khóc mẹ).

Trước chốn Giao trì, tờ mờ mây khóa.

Cơ tạo hóa làm chi ngang ngửa thế, bóng khích câu,

khen khéo trêu người.

Chữ cương thường nghĩ lại ngậm ngùi thay,

tình hiếu đễ chưa yên thỏa dạ.

Ơn nuôi nấng áo dày cơm nặng, biển trời khôn xiết

biết công lao;

Nghĩ sớm hôm ấp lạnh quạt nồng, tơ tóc những

hiềm chưa báo quả;

Ngờ đâu! Nhà Thung (nếu là cha hoặc Nhà Huyên nếu là mẹ) khuất núi, trời mây cách trở muôn trùng;

Chồi Tử mờ sương, âm dương xa vời đôi ngả.

Trông xe hạc lờ mờ ẩn bóng, cám cảnh cuộc phù sinh chưa mấy, gót tiên du đã lánh cõi trần ai.

Rồi khúc tằm. áy náy trong lòng, thương thay hồn bất tử về đâu, cửa Phật độ biết nhờ ai hiện hóa.

Suối vàng thăm thẳm, sáng phụ thân (hoặc mẫu thân) một mình lìa khơi,

Giọt ngọc đầm đìa, đàn con cháu, hai hàng lã chã.

Lễ Sơ Ngu (hoặc Tái Ngu, Tam Ngu) theo tục cổ, trình bày:

Nhà đơn bạc, biết lấy gì để dóng dả.

Đành đã biết: đất nghĩa trời kinh, nào chỉ ba tuần nghi tiết,

đủ lễ báo đền

Cũng gọi là: lưng cơm chén nước, họa may chín suối anh linh,

được về yên thỏa

Ôi! Thương ôi!

Chúng con lễ bạc tâm thành, thành tâm kính lễ cúi xin được phù hộ độ trì.

Kính cáo!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Văn khấn Lễ Chung Thất và Tốt Khốc

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

Hôm nay là ngày….tháng….năm….., âm lịch tức ngày…..tháng….năm…………….dương lịch.

Tại (địa chỉ):……………………………………………………

Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là………vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ mẫu nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

Nay nhân ngày lễ Chung Thất (lễ Tốt Khốc) theo nghi lễ cổ truyền, có kính cẩn sắm các thứ lễ vật gồm:…………………………..

Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.

Trước linh vị của Hiển:………………… chân linh

Xin kính cẩn trình thưa rằng:

Núi Hỗ sao mờ, nhà Thung bóng xế. (Nếu là cha)/ Núi Dĩ sao mờ, nhà Huyên bóng xế. (nếu là mẹ)

Tình nghĩa cha sinh mẹ dưỡng, biết là bao;

Công ơn biển rộng, trời cao khôn xiết kể.

Mấy lâu nay: Thở than trầm mộng mơ màng;

Tưởng nhớ âm dương vắng vẻ.

Sống thời lai lai láng láng, hớn hở chừng nào!

Thác thời kể tháng kể ngày, buồn tênh mọi lẽ!

Ngày qua tháng lại, tính đến nay Chung Thất (hoặc Tốt Khốc) tới tuần;

Lễ bạc tâm thành gọi là có nén nhang kính tế.

Xin mời: Hiển………………………………………………

Hiển……………………………………………………………..

Hiển………………………………………………………………

Cùng các bị Tiên linh, Tổ Bá, Tổ Thúc, Tổ Cô và các vong linh phụ thờ theo Tiên Tổ cùng về hâm hưởng.

Kính cáo; Liệt vị Tôn thần: Táo Quân, Thổ Công, Thánh sư, Tiên sư, Ngũ tự Gia thần cùng chứng giám và phù hộ cho tòangia được mọi sự yên lành tốt đẹp.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Văn khấn lễ Triệu lịch Điện Văn

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân

– Con kính lạy chư gia tiên Cào Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ tỷ

Hôm nay là ngày…. Tháng ……. Năm ………..

Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là………vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ mẫu nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

Nay nhân ngày lễ cúng cơm trong trăm ngày theo nghi lễ cổ truyền.

Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.

Trước linh vị của: Hiển………………………………chân linh.

Xin kính cẩn trình thưa rằng:

Than ôi! Thương nhớ phụ thân, bỏ về cõi thọ

(hoặc Thương nhớ mẫu thân, bỏ về cõi thọ)

Gót thừa vân, nghĩ đã xa khơi;

Lòng ái nhật, nghĩ càng tủi hổ.

Lưng cơm bát nước, miếng trân cam, tỏ dạ kính thành;

Sớm rượu trưa trà, đạo thần hôn, giữ lòng ái mộ.

Ngậm ngùi, hồn phách biết về đâu;

Tưởng tượng bóng hình còn mãi đó.

Ôi! Thương ôi!

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật

Văn khấn Lễ Tiểu Tường, Đại Tường (Giỗ đầu, giỗ thứ 2)

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân

– Con kính lạy chư gia tiên Cào Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ tỷ

Hôm nay là ngày…. Tháng ……. Năm ………..

Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là………vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ mẫu nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

Nay nhân ngày Giỗ Đầu (Giỗ thứ Hai) theo nghi lễ cổ truyền,

Kính dâng lễ mọn biểu lòng thành.

Trước linh vị của: Hiển………………chân linh.

Xin kính cẩn thưa rằng:

Than rằng:

Mây che núi Hỗ (nếu là cha hoặc núi Dĩ nếu là mẹ)

muôn dặm mơ màng

Gió thổi cành Thung (nếu là cha hoặc cành Huyên nếu là mẹ)

một vùng nghi ngút

Nhớ thưở trước, một nhà sum họp, vui vầy những ước,

đặng trăm năm

Mà bấy nay, đôi ngả cách xa, nông nỗi nào ngờ, nên một phút.

Ơn chín chữ, trời cao biển rộng, hiểm chưa chút công đền nghĩa trả, gánh cương thường, nghĩ nặng trên vai;

Đêm năm canh, than vắn thở dài, những mơ màng tiếng nói điều ăn, lòng tưởng vọng, thấm đau trong ruột.

Cõi trần thế, xuân qua thu lại, ngày trời kể, chẵn một năm tròn; (hoặc hăm bốn tháng tròn).

Giỗ Tiểu Tường (hoặc Đại Tường) lễ bạc tâm thành, chén rượu dâng một vài tuần rót.

Nhà đơn bạc, còn nhiều bề khiếm khuyết, hương thơm, nến đỏ, việc lễ nghi, tạm gọi theo thời;

Bài văn ai kể mấy khúc nôm na, tâm động, thần tri, miền minh phủ, may chi thấu chút.

Xin kính mời:

Hiển:………………………………………….

Hiển:………………………………………….

Hiển:………………………………………….

Cùng các vị Tiên linh Tổ bá, Tổ Thúc, Tổ Cô và các vong linh phụ thờ theo Tiên Tổ về hâm hưởng.

Kính cáo: Liệt vị Tôn thần, Táo Quân, Thổ Công, Thánh Sư, Tiên Sư, Ngũ tư Gia thần cùng chứng giám và phù hộ cho tòan gia an ninh khang thái, vạn sự tốt lành.

Cúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Cẩn cáo!

Văn khấn Lễ Đàm tế

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân

– Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ tỷ

Hôm nay là ngày…. Tháng ……. Năm ………..

Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là………vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ mẫu nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

Nay nhân ngày Lễ Đàm Tế theo nghi lễ cổ truyền,

Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.

Trước linh vị của: Hiển……………………..chân linh

Xin kính cẩn trình thưa rằng:

Than ôi! Nhớ bóng phụ thân (hoặc mẫu thân);

Cách miền trần thế

Tủi mắt nhà Thung (nếu là cha hoặc nhà Huyền nếu là mẹ)

mây khóa, thăm thẳm sầu phiền.

Đau lòng núi Hỗ (nếu là cha hoặc núi Dĩ nếu là mẹ)

sao mờ, đầm đìa ai lệ

Kể năm đã quá Đại Tường;

Tính tháng nay làm Đàm Tế.

Tuy lẽ hung biến cát; tang phục kết trừ;

Song nhân tử sự thân, hiếu tâm lưu để.

Lễ bạc, kính dâng gọi chút, há dám quên, cây cội nước nguồn,

Suối vàng, như có thấu chăng, họa may tỏ,

trời kinh đất nghĩa.

Xin kính mời: Hiển……………………………………….

Hiển……………………………………….

Hiển……………………………………….

Cùng các vị Tiên linh Tổ bá, Tổ Thúc, Tổ Cô và các vong linh phụ thờ theo Tiên Tổ về hâm hưởng.

Kính cáo: Liệt vị Tôn thần, Táo Quân, Thổ Công, Thánh Sư, Tiên Sư, Ngũ tư Gia thần cùng chứng giám và phù hộ cho tòan gia an ninh khang thái, vạn sự tốt lành.

Chúng con lễ bạc tâm thành cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Văn khấn lễ rước linh vị vào chính điện và yết cáo Tiên Tổ

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân- –

– Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ tỷ

Hôm nay là ngày…. Tháng ……. Năm ……….., tại tỉnh……huyện……xã……thôn……………………………………….

Tín chủ là…………………(nếu lễ gia thần) hoặc Hậu duệ tôn là……………………(nếu lễ gia tiên, tự xưng hô với vị được liệt thờ cao nhất).

Quỳ trước linh vị của……………………………(đọc linh vị của vị thờ cao nhất), liệt chư Tiên linh.

Kính nghĩ:

Gót tiêu dao, mịt mù mù mịt, đâu hạc nội, đâu mây ngàn?

Cõi trần thế, thay đổi đổi thay, nay sương dâu, mai bãi bể.

Lá rụng về cội, phách tuy giáng, hồn lại được siêu thăng.

Nước chảy về nguồn, thác là quy, sinh chẳng qua tạm ký.

Nhân sinh do tổ, gốc phải vững, phúc quả mới mong bền;

Hiểu tử sự thân, tế như tại, nhân tâm nào dám phế.

Bày nhân: Hiển khảo(hoặc tỷ)……………………………..

(đọc linh vị bố hoặc mẹ)

Thọ chung ngày…………..tính đến nay đã:

Quý húy Đại Tường;

Đến tuần Đàm Tế.

Quá hai năm trừ phục, cáo Tiên linh;

Đủ ba tháng dư ai, theo cổ lệ.

Cầu gia thần chứng giám, cho từ đường phảng phất linh hồn;

Nguyện Tiên Tổ phù trì, để bạch triệu quy hồi phách thể.

Đến ngày giỗ chạp, con cháu nhớ tháng ngày,

làm lễ dâng hương;

Nối gót Tổ Tiên, ông cha tiếp thế thứ, theo hàng phối tế.

Lễ bạc, kính dâng gọi chút, há dám quên cây cội, nước nguồn;

Suối vàng, như thấu cho chăng, họa may tỏ trời kinh, đất nghĩa.

Xin kính mời: Hiển……………………………………….

Hiển……………………………………….

Hiển……………………………………….

Cùng các vị Tiên linh Tổ bá, Tổ Thúc, Tổ Cô và các vong linh phụ thờ theo Tiên Tổ về hâm hưởng.

Kính cáo: Liệt vị Tôn thần, Táo Quân, Thổ Công, Thánh Sư, Tiên Sư, Ngũ tư Gia thần cùng chứng giám và phù hộ cho tòan gia an ninh khang thái, vạn sự tốt lành.

Chúng con lễ bạc tâm thành cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Văn khấn lễ Cải Cát

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân

– Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ tỷ

Hôm nay là ngày…. Tháng ……. Năm ……….., tại tỉnh……huyện……xã……thôn……………………………………….

Hiển khảo (hoặc tỷ)………………………………………mộ tiền

Than rằng: Thương xót cha (hay mẹ)xưa, vắng xa trần thế.

Thác về, sống gửi, đất ba thước phải vùi chôn.

Phách lạc hồn bay, hình trăm năm khó gìn để;

Lúc trước việc nhà bối rối, đặt để còn chưa hợp hướng phương.

Tới nay, tìm đất tốt lành, sửa sang lại, cầu an hình thể.

Rày thân: Phần mộ dời xong, lễ Ngu kính tế.

Hồn thiêng xin hưởng, nguyện cầu vĩnh viễn âm phần.

Phúc để di lưu, phù hộ vững bền miêu duệ.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Xin lưu ý: Theo phong tục trước và sau khi dời mộ phải khấn trình với Long mạch, Sơn thần và Thổ thần nơi cũ và nơi mới. Sau đây là văn khấn Long Mạch, Sơn thần và Thổ thần.

Văn khấn Long Mạch, Sơn Thần và Thổ Thần

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Con kính lạy Đức Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy các ngài Long Mạch, Sơn Thần, Thổ địa, Thần linh cai quản trong xứ này.

Hôm nay là ngày……tháng…..năm……………………….

Tín chủ (chúng)con là:……………………………………..

Ngụ tại………………………………………………………..

Nhân hôm nay ngày Cải Cát (dời mộ, sửa mộ) của…………… mộ phần tại…………………………

Chúng con cùng tòan thể gia quyến tuân theo nghi lễ sắn sửa hương hoa lễ vật dâng lên án toạ Tôn thần cùng chư vị uy linh, kính cẩn tâu trình.

Kính cáo Sơn Thần, Thổ Thần, Long Mạch và các vị Thần linh, cúi xin chứng minh, phù hộ cho tòan gia chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

【#8】Văn Khấn Cúng Thanh Minh Ngoài Mộ

Văn khấn cúng Thần Linh, Thổ Địa ngoài mộ

Tạ mộ vào dịp cuối năm thường diễn ra trong khoảng 23 – 30 Tết. Lễ tạ mộ tổ tiên rất quan trọng, nhưng quan trọng không kém là việc cúng thần linh, thổ địa ngoài mộ, các quan cai quản nghĩa trang. Văn khấn thần linh thổ địa ngoài nghĩa trang dưới đây sẽ giúp bạn có bài văn khấn thần linh thổ địa cũng như khấn vong linh gia tiên trong dịp tạ mộ cuối năm hay Tiết Thanh Minh.

Ngoài ra, Ông bà ta xưa chọn Tiết Thanh Minh là ngày cắt cỏ trên mộ và đắp đất lên mộ (tảo mộ) vì ngày này thời tiết chuyển sang ấm dần, mưa nhiều hơn, cây cỏ tốt hơn trùm lên mộ, có thể làm mộ sụt lở. Nhân lúc đi Thanh Minh tảo mộ, để tưởng nhớ tổ tiên, người thân đã khuất, mọi người có thể dạo chơi ngắm cảnh cỏ cây tươi tốt, nên còn gọi là Đạp Thanh. Nguyễn Du có câu:

“Thanh Minh trong tiết tháng ba

Lễ là tảo mộ, hội là Đạp Thanh”

1. Thanh Minh năm 2021 vào ngày nào

Xem giờ hoàng đạo trong ngày Tết thanh minh 2021

Theo cách tính của lịch âm, tiết thanh minh thường sẽ rơi vào khoảng thời gian từ ngày 4 hoặc 5 của tháng 4 (sau khi kết thúc tiết xuân phân) và kết thúc vào khoảng ngày 20 hoặc 21 tháng 4 theo dương lịch hàng năm.

Dựa theo cách tính chi tiết, ngày thanh minh năm 2021 rơi vào thứ 7 ngày mùng 4 tháng 4 dương lịch (12/3 âm lịch). Tại các lốc lịch hiện nay, các nhà xuất bản thường đề rõ ngày để người dùng dễ dàng theo dõi.

2. Ý nghĩa Tiết Thanh minh là gì?

Thanh minh tuy không phải là một trong những ngày lễ tết lớn trong năm nhưng lại mang nét văn hóa gắn liền với đạo đức của người Việt. Nhiều nhà văn hóa cho rằng, Tết Thanh minh chính là ngày lễ mà ở đó bổn phận của con cháu tưởng nhớ công lao của tổ phụ, của những người đi trước được thể hiện rõ nét. Chính vì vậy, trong ngày lễ này, các hoạt động báo hiếu, trả nghĩa, đền đáp phần nào ơn sinh thành tạo dựng của tổ tiên được tổ chức rất long trọng.

Ngày lễ Thanh minh nhắc nhở con người ta sống hướng về cội nguồn, biết ơn những người đi trước. Chính sự tốt đẹp trong ý nghĩa này khiến cho ngày thanh minh năm 2021 được rất nhiều người coi trọng, tìm hiểu và duy trì thực hiện.

3. Những việc cần làm trong tiết Thanh Minh

Người dân Việt Nam lấy ngày tết Thanh Minh là dịp để đi sửa phần mộ của tổ tiên, dòng họ mình để phần mộ được sạch sẽ. Khi đi tảo mộ, mọi người thường mang theo cuốc, xẻng để đắp lại những chỗ mồ bị nứt, bị hở, rẫy những cây cỏ dại và những cây hoang mọc xung quanh, trùm lên mộ và cũng để tránh cho các loài rắn, chuột đào hang, làm tổ.

Sau khi hoàn thành, mọi người thường thắp những nén hương thơm ngát và có thể trồng nên trên mộ một vài cây hoa nhỏ như cây bỏng, hoa mười giờ… Hoặc là mọi người cắm những bông hoa tươi đẹp cho các linh hồn đã khuất.

4. Cách sắm lễ cúng tiết Thanh Minh

Lễ âm phần long mạch, sơn thần thổ phủ

Lễ trong tiết Thanh Minh gồm có: hương đèn, trầu cau, tiền vàng, rượu thịt (chân giò, gà luộc hoặc một khoanh giò nạc độ vài lạng), hoa quả.

Khi đến nghĩa trang hay khu vực có để mộ phần của gia đình mình thì gia chủ đặt lễ vào chỗ thờ chung. Sau đó thắp đèn, nhang, vái ba vái vị Linh thần Thổ địa rồi khấn.

5. Văn khấn lễ âm phần Long Mạch, Sơn thần thổ phủ nơi mộ

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ, chư vị Tôn thần:

– Con kính lạy các ngài Thần linh bản xứ cai quản trong khu vực này.

Hôm nay là ngày:…………………………………………………………………………………………………………………

Tín chủ (chúng) con là:…………………………………………………………………………………………………………..

Nhân tiết Thanh minh (hoặc là nhân tiết thu, tiết đông, hoặc nhân ngày lành tháng tốt.. .) tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương kính dâng trước án, kính mời chư vị Tôn thần lai lâm chiếu giám.

Lễ vong linh ngoài mộ

Gia đình chúng con có ngôi mộ của……………………………………………………………………………………………

Táng tại xứ này, nay muốn sửa sang xây đắp (hoặc tảo mộ, bốc mộ…) vì vậy chúng con xin kính cáo các đấng Thần linh, Thổ công, Thổ phủ Long Mạch, Tiền Chu Tước, Hậu Huyền Vũ, Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ và Chư vị Tôn thần cai quản trong khu vực này, chúng con kính mời các vị chư Thần về đây chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho vong linh được an nhàn yên ổn, siêu thoát. Cúi xin các vị phù hộ độ trì cho tín chủ chúng con toàn gia mạnh khỏe an bình, bốn mùa không tật ách, tám tiết hưởng thái bình.

Nếu viết văn khấn ra giấy thì đọc, xong hoá ngay cùng tiền vàng. Trong khi đợi tuần nhang thổ địa thì mọi người trong gia đình đi viếng thăm các ngôi mộ của gia đình mình, thắp lên mộ mấy nén. Đứng trước ngôi mộ và khấn:

6. Văn khấn lễ vong linh ngoài mộ

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương

– Con Kính lạy Hương linh (Hiển khảo, Hiển tỷ hoặc Tổ Khảo

Hôm nay là ngày……………………………………………………………………………………………………………………

Nhân tiết:……………………………………………………………………………………………………………………………..

Tín chủ (chúng) con………………………………………………………………………………………………………………..

Ngụ tại:……………………………………………………………………………………………………………………………….

Chúng con và toàn thể gia đình con cháu, nhờ công ơn võng cực, nền đức cao dầy, gây dựng cơ nghiệp của chạnh lòng nghĩ đến âm phần ở nơi hoang vắng, tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương kính dâng trước mộ, kính mời chân linh .lai lâm hiến hưởng. Chúng con xin phép được sửa sang phần mộ, bồi xa, bồi thổ, cho được dầy bền, tu sửa minh đường hậu quỷ cho thêm vững chắc. Nhờ ơn Phật Thánh phù trì, đội đức trời che đất chở, cảm niệm Thần linh phù độ, khiến cho được chữ bình an, âm siêu dương thái. Con cháu chúng con xin vì chân linh

Phát nguyện tích đức tu nhân, làm duyên, làm phúc cúng dâng Tin Bảo, giúp đỡ cô nhi quả phụ, tế bần cứu nạn, hiếu thuận tông nhân để lấy phúc này hướng về Tiên Tổ.

Cúi xin linh thiêng chứng giám, thụ hưởng lễ vật, phù hộ độ trì con cháu, qua lại soi xét cửa nhà. Che tai cứu nạn, ban tài tiếp lộc, điều lành mang đến, điều dữ xua đi. Độ cho gia đạo hưng long, quế hờ tươi tốt, cháu con vinh hưởng lộc trời, già trẻ nhuần ơn Phật Thánh.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin chứng giám.

Sau khi khấn xong, đợi hết 2/3 tuần hương thì đi lễ tạ các nơi, hóa vàng, xin lộc và mọi người trở về nhà làm lễ gia thần và gia tiên ở nhà.

7. Văn khấn Thanh minh tại nhà

Gia chủ sửa sang quần áo nghiêm túc, đứng trước hương án, thắp hương, đốt đèn, sau đó khấn:

Nam mô A di Đà Phật!

Nam mô A di Đà Phật!

Nam mô A di Đà Phật!

Con lạy chín phương trời, mười phương chư phật, chư phật mười phương

Con lạy gia tiên tiền tổ, họ hàng nội ngoại hai bên gia tộc họ…

Con lạy bà tổ cô ông mãnh, ông bà, cô bé Đỏ, cậu bé Đỏ tại gia

Hôm nay là ngày… tháng… năm…

Nay con giữ việc phụng thờ tên là…, tuổi…, sinh tại xã…, huyện…, tỉnh… cùng toàn gia, trước bàn thờ gia tiên cúi đầu bái lễ.

Kính mời thổ công Táo quân đồng lai cách cảm.

Kính dâng lễ bạc: trầu rượu, trà nước, vàng hương, hoa quả cùng phẩm vật lòng thành nhân dịp tiết Thanh Minh, kính mời hương hồn nội ngoại tổ tiên, kỵ, cụ, ông bà, cha mẹ, cô dì chú bác, anh chị em chứng giám và hưởng lễ.

Con thành tâm thành kính cúi xin gia tiên tiền tổ, bà tổ cô ông mãnh, ông bà… phù hộ độ trì, đề tâm xếp nếp, vuốt ve che chở cho đại gia đình con bình an, thịnh vượng, ba tháng mùa hè chín tháng mùa đông đều mát mẻ, tốt tươi. Điều lành mang lại, điều dữ mang đi cho công việc của gia đình con đều thuận buồn xuôi gió, gặp nhiều may mắn.

Chúng con kính dâng lễ bạc tâm thành, cúi xin gia tiên chứng minh chứng giám cho lòng thành của toàn thể gia quyến.

Nam mô A di Đà Phật!

Nam mô A di Đà Phật!

Nam mô A di Đà Phật!

Sau khi đọc xong bài vấn, gia chủ vái ba vái, chờ tuần hương sau đó hóa vàng, hạ mâm lễ để thụ lộc.

8. Một số lưu ý khi đi tảo mộ

Trước khi ra mộ, bạn cần phải bày cỗ, thắp hương xin phép gia tiên trước khi đi tảo mộ.

Khi đi tảo mộ, dù bạn có phải xách nặng đến thế nào cũng đừng thuê người xách, mà hãy để con cháu trong nhà xách.

Khi làm lễ nên là người con trưởng, cháu đích tôn, hoặc là người kế thừa việc thờ tục trong dòng họ.

Thắp hương ở nơi thờ thổ công, thổ địa ở nơi chôn cất trước khi thắp hương ở mộ.

Sau khi làm lễ xong mới tiến hành dọn dẹp xung quanh mộ.

Dọn dẹp chỉ nên dọn dẹp cỏ, trồng hoa, lau chùi,.. Còn với những ngôi mộ chưa xây thì thêm việc đắp đất. Nhỏ cỏ chỉ nên làm ở bề mặt trên, không nên giựt mạnh, đào bới gây sạt lở mộ.

Đốt vàng mã nên đốt đúng nơi quy định, không đốt quá gần mộ gây ảnh hưởng tới âm khí của mộ.

Sau khi đến nơi, các trưởng lão sẽ lo phần lễ bái, còn con cháu đứng nghiêm túc chấp tay cầu nguyện. Trong lúc đang làm lễ, mọi người không nên nô đùa, nói chuyện quá to, thể hiện một cách nghiêm tục, trang nghiêm, tôn trọng với người đã khuất.

【#9】Bài Văn Khấn Cô Chín

Văn khấn cầu xin ở đền cô Chín

Trong Tứ phủ thánh cô, cô Chín nổi tiếng tài phép, xinh đẹp, sắc sảo. Cô được thờ chính tại Đền Cô Chín Giếng. Khi dâng lễ chắc chắn không thể thiếu được văn khấn Cô Chín đền Sòng để mong cô phù hộ, nghe được lời câu khẩn từ mọi người.

Đền cô Chín

Đền Chín Giếng (còn gọi là Đền Cô Chín) là nơi thờ Cửu Thiên Huyền Nữ – con gái thứ chín của Ngọc Hoàng Thượng Đế. Đền Chín Giếng cách đền Sòng Sơn 1km về phía Đông, thuộc Trang Cổ Đam, Phú Dương, Phủ Tống Sơn, Thanh Hóa; Nay là phường Bắc Sơn, thị xã Bỉm Sơn, Thanh Hóa. Được khởi dựng cùng thời với Đền Sòng Sơn (Thời Cảnh Hưng, triều vua Lê Hiển Tông 1740 – 1786). Được tu sửa vào năm 1939. Năm 1993 được Bộ Văn Hóa – Thông tin công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa cấp Quốc Gia. Năm 2004 được trùng tu tôn tạo.

Trong trận chiến giữa Tiền Quân Thánh và Chúa Liễu Hạnh tại Sòng Sơn, Liễu Hạnh lâm nạn, biến thành con rồng ẩn về nơi Cửu Thiên Công Chúa đang ngự là chín cái giếng thiêng; Chúa Liễu Hạnh được Cửu thiên Huyền Nữ hóa phép che chở; được Phật Bà Quan Âm ra tay cứu đỡ , nên Liễu Hạnh thoát được lưới vây của Tiền Quân Thánh. Cảm tạ đức từ bi của Phật bà Quan Âm, Chúa Liễu quy y theo Phật, và cảm tình cưu mang của Cửu Thiên Huyền Nữ, chúa Liễu Hạnh kết nghĩa chị em với Cửu Thiên Huyền Nữ. Bởi vậy, hàng năm khi lễ rước bóng Thánh Mẫu Liễu Hạnh bao giờ kiệu rước Thánh Mẫu cũng được rước đi từ Đền Sòng sang đến Cô Chín, như muốn nói lên hình ảnh chị đến thăm em – Một nét đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam.

Để ghi nhớ và tri ân đối với Cửu Thiên Huyền Nữ , đã có công cứu hộ Chúa Liễu Hạnh, Nhân dân lập đền thờ ngay bên cạnh chín cái giếng thiêng, Vì vậy ngồi đền đó được dân quen gọi là Đền Chín Giếng, hoặc Đền Cô Chín. Trước đền là suối Sòng ( Dòng suối tự nhiên chảy qua đền Sòng và Đền Chín Giếng). Dưới mặt suối thiên nhiên kiến tạo nên cảnh quan kỳ vĩ với 9 miệng giếng sâu quanh năm dâng nguồn nước trong xanh, không bao giờ vơi cạn.

Lễ hội Đền Cô Chín

Đền Cô Chín là một trong những ngôi đền linh thiêng nhất xứ Thanh. Đền đã được nhà nước xếp hạng di sản lịch sử cấp quốc gia. Đến tham quan và đi lễ Đền Cô ngoài việc dâng hương tại cung thờ Cô Chín quý khách còn được tham quan dòng suối trong mát( tương truyền là chín miệng giếng thiêng).

Hàng năm có rất nhiều du khách khắp 4 phương đến tham quan và dâng lễ tại đền Cô Chín. Vào ngày 26/2 âm lịch thường có lễ hội truyền thống( lễ rước kiệu từ đền Sòng Sơn sang đền cô Chín rồi lên đèo Ba Dội). Ngày 9/9 âm lịch là chính hội của đền Cô chín nhưng ngay từ những ngày đầu xuân năm mới người dân cả nước đã nô nức chảy hội về đền cô để cầu xin Sức Khoẻ – Bình An – Tài Lộc – Làm Ăn Kinh Doanh.

Chuẩn bị lễ vật Đền Cô Chín

Tại Đền cô có rất nhiều đia chỉ bày bán phong phú nhiều đồ lễ. Bên cạnh những mâm lễ mặn là những mâm vàng mã, cây tiền, những cành vàng, cành bạc. Mâm lễ được sắp tuỳ tâm đôi khi là thẻ hương, bông hoa và vài tập tiền âm phủ, có người cầu kỳ thì đĩa xôi, con gà, mâm quả đủ đầy không nữa thì dâng nhưng bộ vàng mã đặc trưng. Bước vào cửa Cô thắp nén hương và thành tâm cầu khấn để xin lộc Cô, cầu khấn cho một năm khoẻ mạnh, làm ăn buôn bán phát tài, phát lộc, cầu con cầu của…

Văn Khấn Cô Chín

Con Nam Mô A Di Đà Phật

Con Lạy 9 phương trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương

Con Nam Mô thường trụ thập phương Phật

Con Nam Mô thường trụ thập phương Pháp

Con Nam Mô thường trụ thập phương Tăng

Con sám hối con lạy Phật tổ như Lai

Con sám hối con lạy Phật thích ca

Con sám hối con lạy Phật bà Quán thế âm bồ tát ma ha tát

Con nam mô a di đà phật

Con sám hối Thiên phủ, nhạc phủ, thoải phủ, địa phủ, Công đồng 4 phủ vạn linh

Con lạy Ngọc Hoàng Thượng đế

Con lạy Vua Cha Bát Hải Đồng Bằng

Con lạy Quan Nam Tào, Bắc đẩu

Con Lạy Tứ vị Chúa tiên tứ vị thánh Mẫu: Mẫu cửu trùng thiên, Phủ giày Quốc Mẫu, Mẫu nghi thiên hạ, Sòng Sơn Quốc Mẫu. Sơn Lâm Đông Cuông Quốc Mẫu. Sơn Lâm Bắc Lệ Thánh Mẫu. Thuỷ Cung Thánh Mẫu.

Con lạy Tứ vị Vua Bà Cờn Môn

Con lạy Đức ông Trần triều hiển thánh hưng đạo đại vương.Đức ông đệ tam Cửa suốt. Nhị vị vương Cô. Cô bé Cửa suốt. Cậu bé Cửa Đông.

Con lạy Tam vị chúa mường

Chúa mường đệ nhất tây thiên

Chúa mường đệ nhị Nghuyệt Hồ

Chúa mường đệ tam Lâm Thao

Chúa Năm Phương bản cảnh

Con lạy Ngũ vị Tôn Ông Hội Đồng Quan Lớn

Quan lớn đệ nhất

Quan lớn đệ nhị giám sát

Quan lớn đệ tam Lảnh giang

Quan lớn đệ tứ khâm sai

Quan lớn đệ ngũ tuần tranh

Con lạy Tứ Phủ Chầu Bà

Chầu bà đệ nhất, Chầu bà đệ nhị Đông Cuông

Chầu đệ tam thoải phủ, Chầu Thác Bờ

Chầu đệ tứ khâm sai quyền cai bốn phủ

Chầu Năm Suối Lân, Chầu Sáu Lục Cung Nương

Chầu Bảy Kim Giao, Chầu Tám Bát nàn Đông Nhung

Chầu Cửu Đền Sòng, Chầu Mười Đồng Mỏ Chi Lăng

Chầu Bé Công Đồng Bắc Lệ.

Con lạy Tứ Phủ Ông Hoàng

Ông Hoàng Cả, Ông Đôi Triệu Tường, Ông Hoàng Bơ

Ông Hoàng Bảy Bảo Hà, Ông Tám Bắc Quốc Suối Mỡ

Ông Chín Cờn Môn, Ông Mười Nghệ An

Con Lạy Tứ phủ Thánh Cô 9 Sòng Sơn

Con lạy quan thủ gia chầu bà thủ bản đền. Quan đứng đầu đồng, chầu cai bản mệnh. Hội đồng các quan, hội đồng các giá trên ngàn dưới thoải. 12 cửa rừng 12 cửa bể,

Con Lạy Chúa sơn lâm sơn trang. Ông Thanh xà bạch xà cùng các cô tiên nàng chấp lễ chấp bái. Con lạy táo quân quan thổ thần. Bà Chúa đất, bà chúa bản cảnh cai quản bản đền hoãn tĩnh linh đền.

Hôm nay là ngày: ……… tháng ……….năm …………

Tín Chủ ……………..Tuổi ………….

Ngụ Tại ………………………………

Con xin: ………………………………….

【#10】Bài Văn Khấn Cúng Lễ Cầu Duyên

Bài văn khấn cúng lễ cầu duyên

Khấn cầu duyên tại chùa hay đi chùa để xin thuận lợi trong việc tình duyên là điều rất nhiều người vẫn hay làm. 

Có rất nhiều những quan niệm khác nhau về vấn đề duyên phận nhưng để giải tỏa những tâm lý cho chính bản thân người ta thường hay đi cầu duyên. Một trong những địa điểm được lựa chọn nhiều để cầu duyên đó là đến chùa. Trong bài viết này VnDoc sẽ chia sẻ cùng các bạn một số bài khấn cầu duyên linh nghiệm.

1. Sắm lễ cầu duyên

Hoa quả: tùy theo mùa, nhưng nên có màu vàng, xanh, đỏ, tím, và màu trắng.

  • Tiền vàng: 5 lễ.
  • Trầu cau: 1 quả cau 3 lá trầu.
  • Một bánh chưng, một bánh dày và một đôi bánh xu xê.
  • Vật cát tường bức tranh hoặc đôi Uyên ương.
  • Sớ cầu giáng linh.

2. Bài cúng lễ cầu duyên

Nam mô A di Đà phật

Nam mô A di Đà phật

Nam mô A di Đà phật

Con lạy chín phương Trời, con lạy mười phương Phật

Hôm nay, Ngày:….. Tháng….. Năm 20… (tính theo âm lịch).

Con tên là:………………….; tuổi……

Kính cẩn khánh bái:

Chư Phật mười phương, Tứ phủ công đồng Thánh đế, Mẫu đệ nhất thiên tiên, Mẫu địa nhị thượng ngàn, Mẫu đệ tam thủy cung, cập chư Tiên đồng Tây Hồ phủ.

Hôm nay, con có chút lễ vật mọn dâng bày, cung thỉnh chư vị Phật, Chư Thánh, Chư Mẫu lai lâm chứng giám.

Kính tấu Phật Thánh, Chư mẫu, Chư Tiên, trong trời đất có đạo âm dương giao hòa, hóa sinh vạn vật, đạo nhân sinh có nam có nữ, đến tuổi thì tác thành đôi lứa vợ chồng. Nhờ ơn Trời Phật Thánh Mẫu và phúc ấm Gia tiên.

– Con tên là:…………………

– Trú tại số nhà:……Phố……………….Phường…………..Quận………TP…………

Hiện chưa tìm được ý trung nhân xứng đôi vừa lứa, mong gặp cảnh ngộ tương đồng tương cảm, cá nước duyên ưa, nảy sinh cảm tình chân thành, mong muốn sớm được xum họp một nhà.

Con khấu đầu thành tâm cầu xin chư Phật, Thánh, Tiên, Mẫu bản phủ lai lâm chứng minh chứng giám phù độ gia trì vun bồi tình cảm, tác duyên tạo phúc cho con gặp may mắn tác thành đôi lứa, cho con sở cầu tình duyên xuôi chèo mát mái, để đi đến cuộc hôn nhân như nguyện ước.

Con là người trần, nghĩ sao thưa vậy, chỉ mong Phật Thánh Mẫu chứng minh chứng giám xin có tờ giấy cánh sớ dâng bày.

Nhân đây con cũng bái xin Phật Thánh Tiên Mẫu, giáng linh vào đôi uyên ương cát tường này để con mang về làm vật cát tường may mắn, hồi hướng ân đức của Phật, Thánh, Mẫu bên cạnh con, dẫn đường chỉ lối, phù độ cho con có tình duyên được vuông tròn như nguyện. Cho con gặp người tâm đầu ý hợp, thành vợ thành chồng, con cái đông đủ, thuận hòa sống với nhau đến trọn đời.

Kính lạy Chư vị Phật Thánh Tiên Chúa, các Mẫu chấp lễ chấp cầu ban phúc giáng linh vật cát tường cho chúng con, chúng con không dám quên ơn tạ lễ.

Tín chủ con: ……………….con xin rập đầu bái đến trăm lạy.

Gần hết tuần hương thì có thể lễ tạ bằng bài khấn này.

Sau khi tổ chức lễ cưới, cuối năm nên đi lễ tạ ơn./.

3. Bài văn khấn cầu duyên ở ban Mẫu

Nam mô A di đà Phật (3 lần)

Kính lạy đức Ngọc Hoàng Thượng Đế

Kính lạy đức Cửu trùng Thanh Vân lục cung Công chúa

Kính lạy đức Thiên tiên Quỳnh Hoa Mẫu Liễu Hạnh

Kính lạy đức Đệ Nhị Bà Chúa Sơn Lâm Mẫu Thượng Ngàn

Kính lạy đức Đệ Tam Mẫu Thoải

Con tên là:…………………….Ngụ tại:………………………………..

Hôm nay là ngày (Theo âm lịch):…………………………………. Con đến chùa (hoặc đề, phủ…):……… thành tâm kính lễ cầu xin.

Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải xót thương cho con vì nay nhân duyên cho hôn nhân trăm năm chưa đến mà ban cho con duyên lành như ý nguyện trong nay mai, để rồi cho con được sinh trai, sinh gái đầy nhà vui vẻ khỏe mạnh, hay ăn chóng lớn, mãi mãi bình an khang thái.

Con nay lễ bạc tâm thành trước các Mẫu, cúi xin được phù hộ độ trì để có nhân duyên như sở nguyện.

Nam mô A di đà Phật.

Cẩn cáo!

Sau khi khấn xong: Quan sát thấy cháy 2 phần 3 nén nhang thì hóa tiền vàng. Khi về nhà, ngay ngày hôm đó bố trí thời gian (ban ngày, hoặc buổi tối, hoặc ban đêm), niệm chú của đức Dược sư lưu ly quang Phật.

Chú niệm như sau:

Nam mô bạc già phạt đế, bệ xái xã lũ rô bệ lưu ly, bát lạt bà, bát ra xà dã, đát tha yết da gia, a la hát đế, tam điểu tam bột đà gia. Đát điệt tha. án bệ sái thệ, bệ sái thệ, bệ sái xã, tam một yết đế sa ha.

Lưu ý: Khi niệm chú này nên niệm đi niệm lại nhiều lần tùy theo thời gian cho phép. Khi niệm nên nghiêm trang, nói thầm thì chỉ mình nghe thấy, người bên cạnh không nghe thấy được, không nói ý nghĩ niệm chú cho người khác nghe, tóm lại là bí mật.

4. Bài khấn cầu duyên chùa Hà

Nam mô A di đà Phật!

Nam mô A di đà Phật!

Nam mô A di đà Phật!

Con kính lạy.

Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Đức Cửu trùng Thanh Vân lục cung Công chúa.

Đức Thiên tiên Quỳnh Hoa Mẫu Liễu Hạnh.

Đức Đệ Nhị Bà Chúa Sơn Lâm Mẫu Thượng Ngàn.

Đức Đệ Tam Mẫu Thoải.

Con tên là. ……

Sinh ngày. …, Thánh. …., Năm. …. ( âm lịch )

Cứ trú tại. ……

Hôm này ngày. …., Tháng. …., Năm. …., ( âm lịch ) . Con đến Thánh Đức Tự (tên đúng của Chùa Hà ). thành kính lễ đội ơn Mẫu Liễu Hạnh. Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải đã phù hộ độ trì cho gia đình con trong suốt thời gian qua (tạ)

Chúng con người trần mắt thịt , nếu có điều gì lầm lỡ, kính mong Các Mẫu tha thứ bỏ qua đại xá cho. Con xin hứa sẽ cố gắng sửa đổi bản thân tốt đẹp hơn, nguyện làm việc thiện , tránh làm việc ác. Cầu xin các Mẫu xót thương cho con vì nay nhân duyên cho hôn nhân trăm năm chưa đến mà ban cho con duyên lành như ý nguyện , cho con gặp được người có tâm có đức , có tài có chí, tâm đầu ý hợp, chung thuỷ bao dung, cho con sớm nên duyên vợ chồng (nếu xác định yêu để cưới) hoặc cho con sớm có người nên duyên đôi lứa cùng chia buồn vui trong cuộc sống này.

Con nay lễ bạc tâm thành trước các Mẫu, cúi xin được phù hộ độ trì để có nhân duyên như sở nguyện.

Nam mô A di đà Phật!

Nam mô A di đà Phật!

Nam mô A di đà Phật!

Cẩn cáo ( xong vái 3 vái ).

5. Bài cúng cầu duyên ở chùa Hương – Văn khấn ông Tơ bà Nguyệt

Con lạy bà Nguyệt ông Tơ

Con lạy Hoàng Bảy Hoàng Ba Hoàng Mười

Tuổi con nay đã cao rồi

Mà không tìm được một người kết duyên

Tâm tư mang nặng ưu phiền

Lòng con buồn tủi triền miên tháng ngày

Con còn lầm lỗi chi đây

Cúi xin nguyệt lão từ đây độ trì

Tơ hồng lưỡng tỉnh xương kỳ

Quế loan cầm sắt yến đi khan thường

Thiên tiên nguyệt lão rủ thương

Rất công rất chính chẳng thiên bên nào

Có gương ngọc kính soi vào

Tơ hồng giao kết lẽ nào lẻ loi

Trước theo nhạn cá rong chơi

Sau là phân định lứa đôi hợp hòa

Mong được duyên đẹp, cả nhà sống chung

Trăm ngàn lạy Đức tiên ông

Tơ Hồng Nguyệt Lão rủ lòng xét soi

Cho con có lứa có đôi

Sống cho trọn vẹn kiếp người trần gian.

Ngoài việc lên chùa đi lễ cầu duyên bạn có thể đến chùa làm lễ cầu an cho gia đình. Một số ngôi chùa linh thiêng được nhiều chọn là điểm đến tâm linh trong dịp đầu năm như chùa Hương, đền bà chúa Kho, lễ hội chùa Yên Tử, chùa Tây Thiên…