Vỡ Xương Mâm Chày Ngay Gối Bao Lâu Đi Được

--- Bài mới hơn ---

  • Phác Đồ Điều Trị Gãy Xương Vùng Mâm Chày
  • Tập Vật Lý Trị Điều Trị Gãy Mâm Chày, Nứt Mâm Chày Sau Giải Phẫu
  • Đánh Giá Kết Quả Điều Trị Gãy Kín Mâm Chày Bằng Phẫu Thuật Kết Hợp Xương Nẹp Vít Tại Bệnh Viện Hữu Nghị Việt Đức
  • Gai Mâm Chày Khớp Gối
  • Dấu Hiệu Bị Gai Mâm Chày Khớp Gối Là Gì Và Cách Điều Trị Tốt Nhất
  • Em xin chào mọi người. Mong mọi người tư vấn giúp e

    Em năm nay 30t. Em vừa bụ tai nạn giao thông ngày 17.9 vừa qua. Em cấp cứu vào bệnh viên 115 gần đó. Qua phim chụp Xquang chẩn đoán là vỡ xương mâm chày ngay gối. Lúc đó là t7 ko có BS làm việc. Nên chỉ nẹp cố định lại cho e vag cho thuốc giảm đau. Henn thứ 2 đi tái khám lại

    Thứ 2 em đến 115 khoa chấn thương chỉnh hình tái khám lại. Chụp lại Xquang. BS khám thông báo có 2 phươmg án

    1 là bó bột sẽ lâu lành và làm cứng khớp. Sau này tập vật lý trị liệu khó khăn do ảnh hưởng khớp gối

    2 là mổ bắt vít sẽ mau lành. Khoảng 2 tháng là có thể đi lại đc. Nhưng chi phí cao. Kiu em thương lượng với người nhà. Lúc đó người nhà e ở xa chưa vào kịp. E chỉ có 1 mình nên cũng ko thể nhập viện mổ liền vì ko ai chăm sóc.

    BS kiu 1 ngày sau vào nhập viện mổ vẫn đc

    Qua hôm sau. Mẹ em đến. Mẹ e đưa e vào lại 115 khám lần nữa. Ý định la nhập viện mổ. Hôm này thì bác sĩ khác trực. Ko phải BS hôm qua.

    Nên khám lại từ đầu. BS mới này bảo trường hợp của e nhẹ. Ko nên mổ. Vì mổ cunvz có nhìu nguy cơ ảnh hưởng khớp gối

    Trường hợp e chỉ nên bó bột là đc rồi.

    Gia đình em qua tư vấn của BS thfi quyết định bó bột thủy tinh

    Ngay hôm đó về em bị đau lại ( trước đó đac bớt đau nhức rất nhìu). Ngón chân đến gót chân tê nóng rất nhìu. E rất sợ. E mọi cách kê chân cho thoải mái nhất.

    Sáng hôm sau thì đỡ hơn. Ko còn nóng nhìu. Chỉ còn tê tê bàn chân.

    Mọi người cjo e hỏi tình trạng vậy có sao ko ạ.

    Và bó bột như e thì bao lâu sẽ lành. Bao lâu e mới tập co duỗi chân. Và tập như thế nào ạ

    Em cảm ơn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bao Lâu Có Thể Đi Lại Và Chạy Xe Máy Do Gãy Xương Mâm Chày?
  • Gãy Mâm Chày Bao Lâu Thì Lành?
  • Vỡ Mâm Chày Mổ Ốc Vít Bao Lâu Thì Đi Làm Được?
  • Sau Phẫu Thuật Vỡ Mâm Chày Đầu Gối Bao Lâu Có Thể Tập Vật Lí Trị Liệu?
  • Chấn Thương Khớp Gối: Phẫu Thuật Chức Năng Sau Vỡ Mâm Chày
  • Chữa Viêm Xương, Rò Xương Bệnh Nhân Mổ Vỡ Mâm Chày Khớp Gối 4 Lần

    --- Bài mới hơn ---

  • Honda Winner 150 Bị Cháy Cuộn Điện: Do Người Dùng Hay Do Xe?
  • Nguyên Tắc Điều Trị Gãy Xương Ao
  • Mâm Cỗ Chay Ngon Đẹp Cho Ngày Rằm Tháng 7
  • Dịch Vụ Nhận Đặt Cỗ Chay Tại Nhà Mâm Cỗ Ngon 13 Món Giá Chỉ Từ 1 Triệu.
  • Mâm Cỗ Tết Cổ Truyền Việt Nam
  • Chữa viêm xương, rò xương bệnh nhân mổ vỡ mâm chày khớp gối 4 lần

    Gãy xương mâm chày( gãy mâm chày vùng đầu gối) xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ yếu như có lực tác động đột ngột vào vùng mâm chày đầu gối do tai nạn, chấn thương trong sinh hoạt hoặc thể thao. Thông thường gãy mâm chày thường chiếm tỷ lệ 5-7% của gãy xương cẳng chân nói chung.

    Bệnh nhân được chỉ định điều trị bảo tồn trong trường hợp gãy không di lệch, gãy mâm chày ngoài di lệch ít <5mm. Các phương pháp điều trị bảo tồn gãy mâm chày gồm cố định bằng bó bột, kéo liên tục và vận động sớm, bó bột chức năng. Chỉ định phẫu thuật trong trường hợp gãy hở có biến chứng chèn ép khoang, có tổn thương mạch máu hoặc gãy mâm chày ngoài làm mất vững khớp gối, gãy mâm chày trong có di lệch, gãy 2 mâm chày di lệch.

    Trường hợp bệnh nhân Bùi Đăng Mùa – 59 tuổi, Ngô Thì Nhậm, Hà Đông, Hà Nội bị gãy mâm chày, bệnh nhân có chỉ định mổ đóng đinh nẹp vít nhưng do cơ địa bệnh nhân dị ứng với đinh nẹp vít dẫn đến viêm cơ sau đó xâm lấn sang viêm xương.

    Bệnh nhân Bùi Đăng Mùa Hà Đông, Hà Nội viêm xương, rò xương sau mổ vỡ mâm chày

    Lương y Nguyễn Thế Qúy phân tích ngay từ đầu cơ thể bệnh nhân đã không tiếp nhận với đinh nẹp vít chính vì vậy mà sau khi thực hiện nhiều phẫu thuật cơ thể bệnh nhân vẫn đào thải không tiếp nhận dẫn đến tình trạng viêm xương càng nặng, rò xương. Rò xương là tình trạng viêm xương mạn tính, hình thành lên ổ áp se và chảy mủ, chảy dịch liên tục. Bệnh rò xương là một bệnh khá phức tạp và lan giải, bệnh nhân cần được thăm khám và điều trị kịp thời.

    Bệnh nhân tìm về nhà thuốc trong tình trạng viêm xương phức tạp, nên việc điều trị đã trở nên khó khăn hơn rất nhiều.

    Viêm xương là hậu quả của sự nhiễm trùng mô mềm xung quanh xâm nhập vào xương, có tính khu trú tại chỗ. Thường gặp sau gãy xương hở, sau phẫu thuật trên xương, hoặc các thủ thuật trên xương. Nguy cơ nhiễm trùng tăng lên do vết thương giập nát, hoại tử. máu tụ. Hoặc có các dị vật ngoại lai, di vật của cơ thể hoặc dụng cụ y khoa, sức đề kháng của cơ thể yếu. Độc lực vi khuẩn mạnh.

    Phân loại viêm xương

    Viêm xương chấn thương phân loại theo thời gian cấp tính: trước 2 tháng, mãn tính sau 2 tháng.

    Theo giải phẫu bệnh có 3 độ:

    Độ 1 nhiễm trùng mô mềm, chưa đến xương

    Độ 2 nhiễm trùng xương, xương hoại tử

    Độ 3 nhiễm trùng và mất xương

    Viêm xương chấn thương các thể lâm sàng: Nhiễm trùng ổ gãy cấp tính, viêm dò mủ ỗ gãy không có xương chết. Dò mủ mãn tính có xương chết- xương tù. Viêm loét màng xương, loét sẹo xấu, ung thư hóa.

    Bệnh nhân được chỉ định điều trị ngoại khoa cắt lọc hết mô hoại tử, xương chết. Lấy bỏ hết các dị vật tưới rửa liên tục mỗi ngày nếu nhiều mủ. Cắt lọc lại nếu diễn tiến không khá hơn, bất động vững chắc ổ gãy. Dùng kháng sinh theo KSĐ, liều cao, kéo dài. Không khâu kín vết thương, nhưng không để lộ xương.

    Bệnh nhân tiếp tục mổ cắt lọc mô hoại tử sau đó mổ thay khớp gối nhân tạo song cơ thể vẫn không tiếp nhận tình trạng viêm xương, rò xương vẫn diễn ra.

    Lương y Nguyễn Thế Qúy cho biết đối với những trường hợp bệnh nhân gãy xương mâm chày như bệnh nhân Bùi Đăng Mùa ngay từ đầu điều trị tại nhà thuốc bằng phương pháp bó lá chỉ sau 1 tháng xương liền có thể tập phục hồi chức năng vận động. Lương y khuyên bệnh nhân có cơ địa không tiếp nhận với những dụng cụ được đưa từ bên ngoài vào cơ thể hay những bệnh nhân mắc các bệnh nội tiết như tiểu đường nên lựa chọn một phương pháp điều trị bảo tồn phù hợp cho an toàn, tránh những biến chứng đáng tiếc có thể xảy ra.

    Việc xử trí ban đầu đối với các chấn thương gãy xương, chấn thương gãy xương chày là vô cùng quan trọng bởi khi lựa chọn phương pháp điều trị không phù hợp thì bệnh nhân có thể gặp phải những biến chứng đang tiếc như viêm xương, rò xương. Việc điều trị lúc này trở nên khó khăn, điều trị bằng Tây y không đạt hiệu quả nữa người bệnh nên tham khảo điều trị bằng Đông y mang lại hiệu quả điều trị cao hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bệnh Gai Khớp Gối: Nguyên Nhân, Biểu Hiện, Cách Điều Trị
  • Gai Khớp Gối: Nguyên Nhân, Triệu Chứng Và Cách Điều Trị
  • Dấu Hiệu Của Gai Xương Mâm Chày Khớp Gối Là Gì? Hỗ Trợ Điều Trị Như Thế Nào Là Hiệu Quả?
  • Lỗi Hú Mâm Lửa Trên Xe Honda Winner, Cách Khắc Phục
  • Mổ Rút Đinh Xương Mâm Chày Sau Bao Lâu Thì An Toàn?
  • Phục Hồi Chức Năng Khớp Gối Sau Phẫu Thuật Kết Xương Vỡ Mâm Chày

    --- Bài mới hơn ---

  • Gai Mâm Chày Khớp Gối: Cách Nhận Biết Và Điều Trị
  • 9X Khoe Mâm Cỗ Chay Cúng Rằm Tháng Giêng, Ai Cũng Thốt Lên “quá Ngon”
  • Mâm Cỗ Ngày Tết: Toàn Tập Cách Bày Cỗ 3 Miền Bắc
  • Mâm Cỗ Ngày Tết Nguyên Đán Của Người Việt Gồm Có Gì?
  • Làm Mới Cho Mâm Cỗ Chay Ngày Tết Với Thực Đơn Thơm Ngon, Hợp Khẩu Vị
  • Khớp gối là khớp phức tạp bao gồm hai khớp: khớp giữa xương đùi và xương chày là khớp lồi cầu – ổ chảo, khớp giữa xương đùi và xương bánh chè là khớp phẳng.

    – Lồi cầu xương đùi gồm lối cầu trong và lồi cầu ngoài, giữa hai lồi cầu là rãnh liên lồi cầu.

    – Diện khớp trên của xương chày gọi là mâm chày, có mâm chày trong tiếp khớp với lồi cầu trong và mâm chày ngoài tiếp khớp với lồi cầu ngoài. Giữa mâm chày trong và mâm chày ngoài có gai mâm chày là các điểm bám của dây chằng chéo trước và dây chằng chéo sau.

    – Sụn chêm: Sụn chêm trong hình chữ C nằm đệm giữa mâm chày trong và lồi cầu trong. Sụn chêm ngoài hình chữ O nằm đệm giữa mâm chày ngoài và lồi cầu ngoài. Sụn chêm trong gắn với bao khớp ở phía trong, sụn chêm ngoài gắn với bao khớp ở phía ngoài. Sụn chêm chia khoang khớp làm hai khoang, khoang trên sụn chêm và khoang dưới sụn chêm. Sụn chêm làm cho ổ chảo sâu thêm và sụn chêm trượt ra trước khi gấp gối và trượt ra sau khi duỗi gối.

    – Dây chằng: Ngoài bao khớp, khớp gối được tăng cường bởi các dây chằng. Dây chằng bên trong (bên chày) và dây chằng bên ngoài (bên mác). Hai dây chằng chéo nằm ở giữa khớp, bắt chéo nhau hình chữ X là dây chằng chéo trước giữ cho mâm chày không bị trượt ra trước so với lồi cầu và dây chằng chéo sau giữ cho mâm chày không bị trượt ra sau so với lồi cầu. Phía trước có gân cơ bánh chè và các mạc phía trong và phía ngoài xương bánh chè. Phía sau có dây chằng khoeo chéo và dây chằng cung khoeo.

    Khớp gối có hai loại vận động: vận động bản lề gấp-duỗi và vận động xoay nhưng vận động xoay chỉ thực hiện khi khớp gối ở tư thế gấp.

    Mâm chày là phần xương xốp có bề mặt sụn cấu tạo nên một phần khớp gối. Khi người ta đứng hoặc đi lồi cầu xương đùi đè lên mâm chày và trọng lượng của cơ thể dồn lên mâm chày để xuống cẳng chân. Như vậy mâm chày là phần xương chịu sức nặng của toàn bộ cơ thể.

    Mâm chày là phần xương xốp nên khi gãy dễ liền xương nhưng vì là xương xốp nên khi gãy dễ bị lún mất xương. Mâm chày có mặt sụn khớp nên khi gãy sẽ làm mất phẳng sụn khớp, bề mặt sụn khớp sẽ bị khấp khểnh. Khi nắn chỉnh không chính xác sẽ gây hạn chế vận động khớp và làm nhanh thoái hóa khớp về sau.

    Vì là xương xốp nên sau phẫu thuật kết xương bệnh nhân không được phép đi chống chân ngay sau phẫu thuật do mâm chày sẽ bị bung ra dưới sức nặng của cơ thể. Thời gian để xương liền khoảng ba tháng vì vậy sau ba tháng bệnh nhân mới được phép đi chống chân xuống đất và tăng lực chống chân dần dần cho đến khi chịu toàn bộ sức nặng của cơ thể mà không gây đau.

    Tùy theo loại gãy xương, kiểu kết xương và trọng lượng bệnh nhân mà thời gian được phép đi chống chân có thể thay đổi nhưng không được dưới ba tháng. Thời gian bình phục để có thể đi lại bình thường, gấp duỗi gối bình thường thông thường khoảng 6 – 8 tháng.

    Có nhiều cách phân loại gãy mâm chày của các tác giả khác nhau nhưng đều có những điểm chung là căn cứ vào loại gãy hình nêm, nén ép, hai bình diện.

    – Hohl (1958) phân gãy mâm chày thành gãy có di lệch và gãy không di lệch. Gãy di lệch gồm nén ép khu trú, nén ép tách, lún hoàn toàn bình diện và gãy nát.

    – Moore (1967) phân gãy mâm chày thành 5 loại:

    + Loại I: Gãy tách mâm chày trong theo mặt phẳng trán

    + Loại II: Gãy hoàn toàn một bình diện mà đường gãy bắt đầu ở khoang đối diện qua gai chày đến bình diện gãy.

    + Loại III: Gãy bong bờ chày (các loại gãy này thường có tỉ lệ cao kèm theo chấn thương mạch máu, thần kinh).

    + Loại IV: Chấn thương nén ép bờ chày kèm với tổn thương dây chằng đối bên.

    + Loại V: Gãy bốn phần mà gai chày bị tách ra từ bình diện và thân xương chày.

    Phân loại của Moore đã tính đến hậu quả mất vững khớp gối.

    – Schatzker (1979) phân ra 6 loại:

    + Loại I (gãy tách): Gãy chẻ hoàn toàn mâm chày ngoài tạo thành mảnh gãy hình chêm.

    + Loại II (lún-tách): Gãy chẻ mâm chày ngoài mà phần mặt khớp còn lại bị lún vào hành xương.

    Loại I (gãy tách) mâm chày ngoài Loại I (gãy tách) mâm chày ngoài

    Hình 3: Gãy mâm chày loại I và II (phân loại của Schatzker)

    + Loại III: Gãy lún hoàn toàn trung tâm của mâm chày ngoài mà bờ xương còn nguyên vẹn.

    Loại III: Gãy lún trung tâm mâm chày ngoài Loại IV: Gãy mâm chày trong

    Hình 4: Gãy mâm chày loại III và IV (phân loại của Schatzker)

    + Loại V: Gãy 2 diện mâm chày (trong và ngoài) mà đường gãy thường tạo thành chứ “Y” đảo ngược.

    + Loại VI: Gãy loại V có sự tách ra giữa hành xương và thân xương, có thể có độ nát khác nhau của một hay hai diện mâm chày và mặt khớp.

    Loại V: Gãy hai diện mâm chày Loại VI: Gãy loại V có tách hành và thân xương

    Hình 5: Gãy mâm chày loại V và VI (phân loại của Schatzker)

    Phân loại của Schatzker hiện nay được sử dụng phổ biến vì nó tính đến phương pháp kết xương, hậu quả mất vững khớp. Honkonen và Jarvinen gần đây đã sửa loại VI trong phân loại của Schatzker thành hai loại nhỏ là nghiêng trong và nghiêng ngoài để tính đến kết quả chức năng khớp trong điều trị với di lệch gập góc còn lại.

    – Phân loại của hiệp hội chấn thương chỉnh hình (OTA) dựa trên phân loại của AO/ASIF: đầu trên xương chày được qui định là đoạn 41 và được chia thành 3 loại chính.

    + Loại A là gãy ngoài khớp chia ra A1, A2 và A3

    Hình 6: Loại A (phân loại AO)

    + Loại B là gãy một phần mặt khớp, chia ra :

    Hình 7: Loại B (phân loại AO)

    + Loại C là gãy hoàn toàn mặt khớp, chia ra:

    C1: gãy đơn giản mặt khớp và hành xương.

    C2: gãy đơn giản mặt khớp và gãy nhiều mảnh hành xương.

    C3: gãy nhiều mảnh mặt khớp.

    Hình 8: Loại c (phân loại AO)

    – Giảm đau, giảm nề tại chỗ, tăng cường dinh dưỡng kích thích làm mau liền xương

    – Duy trì trương lực cơ, phục hồi sức cơ đùi và cẳng chân bên tổn thương

    – Phục hồi tầm vận động khớp gối trở lại bình thường.

    2.2.1. Giai đoạn 1: giai đoạn chưa được chống tỳ sức nặng lên chân tổn thương (thường kéo dài 3 tháng đầu)

    + Duy trì sức cơ, trương lực cơ đùi và cẳng chân bên tổn thương.

    + Bất động tương đối khớp gối nhưng duy trì tầm vận động các khớp lân cận.

    + Đặt chân (cổ chân và gối) cao hơn mức tim (20 – 30cm trên mặt giường).

    + Chườm lạnh bằng túi nước đá hoặc túi nước lạnh lên vùng khớp gối cách lớp băng gạc và lớp khăn lót dày 1cm thời gian 10 – 15 phút/lần, 3 – 5 lần/ngày.

    + Tập gấp duỗi khớp cổ chân chủ động hết tầm 10 lần tăng dần lên 20 lần cho mỗi lần tập, tập 2 lần/ngày.

    + Tập co cơ tĩnh (co cơ đẳng trường) cơ đùi và cơ cẳng chân 10 lần tăng dần lên 20 lần cho mỗi lần tập, tập 2 lần/ngày.

    + Nâng chân lên khỏi mặt giường ở tư thế gối duỗi giữ càng lâu càng tốt sau đó hạ xuồng nghỉ 5 phút rồi nâng tiếp 10 lần, tăng dần lên 20 lần cho mỗi lần tập, tập 2 lần/ngày.

    + Khi đau giảm, khuyến khích bệnh nhân chủ động gấp và duỗi gối (loại trọng lực chi) bên tổn thương với biên độ càng rộng càng tốt trong phạm vi có thể chịu đựng được.

    + Giảm nề, tăng cường tuần hoàn dinh dưỡng để kích thích liền sẹo và can xương.

    + Duy trì trương lực cơ, tăng cường sức cơ đùi và cẳng chân bên tổn thương.

    + Điều trị nhiệt nóng vào khớp gối tổn thương bằng bức xạ hồng ngoại hoặc túi nhiệt 20 phút/lần, 2 – 3 lần/ngày.

    + Điều trị từ trường vào khớp gối cường độ 0,8 – 1,5 mT, 20 phút/lần, 2 lần/ngày để kích thích can xương.

    + Tiếp tục tập vận động khớp cổ chân, co cơ tĩnh và nâng chân khỏi mặt giường như trước.

    + Tập đi bằng nạng hoặc khung tập đi mà không tì sức nặng lên chân tổn thương.

    + Tập đi bằng nạng không tì lên chân tổn thương.

    + Tiếp tục điều trị nhiệt nóng và từ trường như trước.

    + Tiếp tục tập gấp duỗi khớp cổ chân, co cơ tĩnh và nâng chân lên khỏi mặt giường như trước.

    + Tập đi bằng nạng hoặc khung tập đi không tì lên chân tổn thương.

    + Chân tổn thương chịu sức nặng tăng dần lên 25% trọng lượng cơ thể.

    + Tiếp tục điều trị nhiệt nóng và từ trường như trước.

    + Tiếp tục tập gấp – duỗi khớp cổ chân, co cơ tĩnh và nâng chân lên khỏi mặt giường như trước.

    + Tập đi bằng nạng hoặc khung tập đi có tì chân tổn thương tăng dần sức nặng tới 25% trọng lượng cơ thể.

    + Tăng dần sức nặng lên chân tổn thương dần dần đạt tới 100% trong lượng cơ thể.

    + Tiếp tục điều trị nhiệt nóng và từ trường như trước.

    + Tiếp tục tập gấp – duỗi khớp cổ chân, co cơ tĩnh và nâng chân lên khỏi mặt giường như trước.

    + Tập đi bằng nạng hoặc khung tập đi có tì chân tổn thương tăng dần sức nặng để đạt tới 100% trọng lượng cơ thể vào cuối tháng thứ 6.

    + Tập hòa nhập gồm tự phục vụ và trở lại công việc.

    + Tập dáng đi bình thường, cân đối không nạng.

    + Tập lên xuống cầu thang và đi trên các địa hình phức tạp.

    + Tập tự phục vụ và trở lại công việc

    + Tập đi bộ nhanh hoặc chạy bộ nhẹ nhàng.

    Mức độ đau được đánh giá theo thang điểm VAS. Dùng một thước chia các khoảng cách đều nhau từ 1 – 10 cho người lớn và các hình vẽ các vẻ mặt cho trẻ em. Hướng dẫn để bệnh nhân tự đánh giá có sự hỗ trợ của người đánh giá.

    Hình 9: Thang điểm đánh giá mức độ đau VAS

    Bảng 1: Đánh giá mức độ đau theo thang điểm VAS

    Đo vòng chi so sánh với bên lành.

    Sử dụng thước đo góc hai cành, đo và đánh giá kết quả theo phương pháp zero.

    Lượng giá theo thang điểm Lysholm (Lysholm Knee Scale 1985), tổng 100 điểm, trong đó dáng đi 5 điểm, đau 25 điểm, chống đỡ xuống chân tổn thương 5 điểm, sưng nề 10 điểm, kẹt khớp 15 điểm, lên xuống cầu thang 10 điểm, tính ổn định của khớp 25 điểm, ngồi xổm 5 điểm:

    hang điểm Lysholm (Lysholm Knee Scale 1985)

    Nguồn: Hà Hoàng Kiệm (2015). Vật l‎ trị liệu và Phục hồi chức năng. Giáo trình dùng cho đại học. Bộ môn VLTL – PHCN HVQY. NXB QĐND.

    CHIA SẺ BÀI VIẾT

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phục Hồi Chức Năng Xương Mâm Chày
  • Kinh Nghiệm Chọn Món Làm Mâm Cỗ Chay Đơn Giản Và Đầy Đủ
  • Thực Đơn Mâm Cỗ Chay
  • Bạn Có Biết Ý Nghĩa Của Mâm Cỗ Chay Cúng Ngày Tết Chưa?
  • Cách Làm Mâm Cỗ Chay Cúng Rằm, Cúng Tết, Cúng Giỗ
  • Vỡ Mâm Chày Theo Phân Loại Schatzker

    --- Bài mới hơn ---

  • Gãy Mâm Chày Bao Lâu Có Thể Đi Lại Được Bình Thường?
  • Nội Soi Hỗ Trợ Trong Điều Trị Vỡ Mâm Chày
  • Dịch Vụ Đặt Cỗ Chay , Nấu Cỗ Chay Ngon Menu Đa Dạng Tại Nhà Giá Tốt Hà Nội Tphcm
  • Gãy Xương Chân Bao Lâu Thì Lành Và Tiết Lộ Mẹo Giúp Hồi Phục Nhanh
  • Gãy Xương Mác Phải Bó Bột Bao Lâu Thì Lành?
  • Vỡ mâm chày là gãy xương khó, phức tạp. Khó vì gãy nhiều hình thái, nhiều mức độ và mỗi mức độ vỡ xương dù độ thấp đều có vấn khó khăn rất riêng trong phẫu thuật. Phức tạp vì ngoài tổn thương xương còn kèm theo tổn thương phần mềm kèm theo, hay gặp nhất là: rách sụn chêm, bong điểm bám hoặc đứt dây chằng chéo, nổi phỏng nước ở da do sưng nề, loạn dưỡng… Phân loại Schatzker được báo cáo năm 1979 và hiện vẫn được dùng phổ biến nhất.

    Nguyên thủy đầu tiên thì Schatzker dựa vào hình ảnh Xquang để chỉ ra tổn thương xương chày. Tuy nhiên trong vỡ mâm chày thì nếu chỉ sửa chữa tổn thương xương thì không đủ vì còn tổn thương phần mềm (dây chằng, sụn chêm…) đặt biệt là gãy Schatzker độ cao. Có tới 60-100% tổn thương phần mềm nếu gãy trật mâm chày. Do đó nếu được phân tích, hiểu về cách phân loại thì khi nói đến độ tổn thương mâm chày Schatzker thì phẫu thuật viên sẽ tiên đoán được tổn thương phần mềm kèm theo.

    Schatzker phân loại dựa trên (1) lực chấn thương (mạnh, nhẹ), (2) tổn thương giải phẫu bệnh (mâm chày trong nặng hơn mâm chày ngoài: vì thường khớp chày đùi trong chịu 60% trọng lực khớp gối, khớp chày đùi ngoài là 40%, lún hay không lún mảnh vỡ). Khi độ Schatzker tăng dần thì mức độ nặng của gãy xương tăng dần từ đó tiên lượng hồi phục chức năng khớp gối kém dần. Hình ảnh Xquang là 2 chiều nên khi đánh giá phân loại Schatzker sẽ không chính xác do đó nên chụp CT và MRI để đánh giá chính xác hơn, để từ đó đưa ra chiến lược điều trị và tiên lượng.

    Schatzker phân làm 6 độ

    Độ I: Vỡ mâm chày ngoài, di lệch ít < 4mm, không lún

    Độ II: Vỡ mâm chày ngoài có lún

    Độ III: Vỡ gây lún mâm chày ngoài

    • IIIa: Lún “phía ngoài” mâm chày ngoài
    • IIIb: Lún phần trung tâm mâm chày ngoài

    Độ IV: Vỡ mâm chày trong, mảnh vỡ xô ra ngoài hoặc lún

    Độ V: Vỡ mâm chày trong và mâm chày ngoài (2 mâm chày)

    Độ VI: Gẫy đầu trên xương chày lan vào mâm chày (vỡ mâm chày thân xương)

    Một tổn thương khác trong vỡ mâm chày đó là vỡ mâm chày gây trật khớp, mà gọi tắt là vỡ trật mâm chày. Đây là tổn thương nặng vì xương gãy phức tạp, còn phần mềm thì thường đứt dây chằng kèm theo. Do đó trong mổ, sau khi đặt lại xương cần khám đánh giá dây chằng. Nếu có tổn thương dây chằng bên nên khâu phục hồi 1 thì. Chú ý phải đánh giá tổn thương mạch kheo và thần kinh mác chung kèm theo “trật khớp”.

    Tóm lại: Vỡ mâm chày là tổn thương khó. Theo phân loại Schatzker thì có thể tóm tắt như sau:

    • Vỡ càng cao, càng nặng
    • Độ I, III, III thường tổn thương sụn chêm
    • Độ IV, VI thường bong điểm bám dây chằng
    • Vỡ lún kiểu độ II nhiều khi nâng xương rất khó
    • Vỡ trật mâm chày cần đánh giá tổn thương mạch, thần kinh
    1. Campbell’s Orthopeadics

    --- Bài cũ hơn ---

  • 3 Món Ăn Bổ Dưỡng Cho Thực Đơn Mâm Cơm Ngon Cuối Tuần
  • Gợi Ý Mâm Cơm Chay Tháng Chạp
  • Cách Làm Món Chay Vừa Rẻ Vừa Ngon Dễ Thực Hiện Tại Nhà
  • Cô Gái Khoe Loạt Mâm Cơm Chay Ngon Miệng, Chưa Đến 100K/bữa
  • Mâm Cỗ Cúng Rằm Tháng Giêng Gồm Những Món Ăn Gì?
  • Phục Hồi Chức Năng Xương Mâm Chày

    --- Bài mới hơn ---

  • Phục Hồi Chức Năng Khớp Gối Sau Phẫu Thuật Kết Xương Vỡ Mâm Chày
  • Gai Mâm Chày Khớp Gối: Cách Nhận Biết Và Điều Trị
  • 9X Khoe Mâm Cỗ Chay Cúng Rằm Tháng Giêng, Ai Cũng Thốt Lên “quá Ngon”
  • Mâm Cỗ Ngày Tết: Toàn Tập Cách Bày Cỗ 3 Miền Bắc
  • Mâm Cỗ Ngày Tết Nguyên Đán Của Người Việt Gồm Có Gì?
  • Phục hồi chức năng – vật lý trị liệu sau gãy mâm chày: Xương mâm chày là một trong những phần xương quan trọng của đầu gối, có chức năng hỗ trợ sự đi lại, gập đầu gối giữ thăng bằng.

    Mâm chày là một bề mặt sụn cấu tạo nên một phần khớp gối, khi người ta đứng và đi lồi cầu xương đùi đè lên mâm chày và trọng lượng cơ thể dồn lên mâm chày để xuống cẳng chân, như vậy mâm chày là phần xương chịu sức nặng của cơ thể.

    1. Nguyên nhân gãy xương mâm chày:

    Đa số khi bị gãy mâm chày chủ yếu là tai nạn giao thông, đặc biệt ở nước ta bệnh nhân bị tai nạn khi đi xe máy là chủ yếu.

    Gãy mâm chày thường xảy ra ở va chạm trực tiếp khi đầu gối đập trực tiếp xuống đất, gãy gián tiếp do xe ngã đè lên mâm chày hoặc té ngã trong tư thế đầu gối bị vặn xoắn.

    Ngoài ra còn các nguyên nhân như tai nạn trong sinh hoạt, tai nạn lao động, chân thương thể thao.

    2. Phục hồi chức năng vận động của xương chày:

    Bệnh nhân sau khi phẫu thuật bắt nẹp vít cố định mâm chày cần điều trị tập vật lý trị liệu sớm để lấy lại chức năng vận động của xương như lúc ban đầu.

    Nếu không được tập vật lý trị liệu sớm sẽ để lại ảnh hưởng về chức năng vận động khớp gối như cứng khớp gối không lấy lại được tầm vận động và phải chịu dị tật suốt đời, teo cơ đầu đùi hoặc teo toàn bộ chân gãy dẫn đến liệt hoàn toàn.

    Trường hợp không lấy lại được chức năng vận động khớp gối dễ bị thoái hóa khớp gối tuần hoàn máu không cung cấp đủ canxi và khoáng chất dễ gây hoại tử mâm chày.

    Bệnh nhân có thể áp phương pháp tập vật lý trị liệu tại nhà sau gãy xương mâm chày như sau:

    • Từ 1 ngày đến 3 ngày: bệnh nhân tập thụ động tại giường, dạng khép chân, tập ngồi dậy xoa bóp vùng khớp gối, di động xương bánh chè, ngốc cổ chân, ngón chân cơ tứ đầu đùi, theo dõi khớp gối và bàn chân có bị sưng phù không…
    • Từ 3 ngày đến 7 ngày: bệnh nhân tự ngồi dậy xoa bóp cơ đùi, di động xương bánh chè, di động khớp gối, ngồi thả lỏng chân xuống nền giường và làm quen với nạn…
    • Từ 7 ngày đến 10 ngày: bệnh nhân đã về nhà cần tiếp tục tập vật lý trị liệu ở nhà để lấy lại chức năng khớp gối như lúc ban đầu, kỹ thuật viên điều trị tập xoa bóp cho tăng tuần hoàn máu và di động khớp, tập gập duỗi khớp gối và gập tối đa nếu bệnh nhân chịu được. tăng lực góc độ gập từ 10 độ tăng lên 30 độ.
    • Từ 10 ngày đến 15 ngày: bệnh nhân tập đứng và tập đi làm quen với nạn xoa bóp di động khớp gối, tập mạnh sức cơ tứ đầu đùi, xoa bóp các nhóm cơ mặt sau cẳng chân, tập ép tăng dần góc độ, bệnh nhân kết hợp ở nhà tự tập để phát triển nhanh giảm không co cứng cơ, cứng khớp giảm sưng phù nề vị gãy.
    • Từ 15 ngày đến 1 tháng: sau một tháng bệnh nhân đã gập từ 60 độ đến 90 độ. Kỹ thuật viên kết hợp cho bệnh nhân tập đi chịu lực chân gãy và tập đi cho máu lưu thông tăng sức chịu lực lên mâm chày và nhóm cơ tứ đầu đùi.
    • Từ 4 tuần đến 8 tuần: lúc này chân gãy đã phát triển tốt không còn bị sưng và phù, bệnh nhân có thể tập đi kết hợp đeo tạ chân để mạnh các nhóm cơ cẳng chân và cơ tứ đầu đùi, chịu trọng lực cơ thể xuống chân yêu, vận động khớp gối tối đa để lấy lại tầm vận động, bệnh nhân ngồi trên giường thả chân xuống gập duỗi tối đa vận động.
    • Sau 2 tháng bệnh nhân phát triển rất tốt gần lấy lại chức năng gập duỗi từ 90 độ lên 120 độ. Bệnh nhân kết hợp với kỹ thuật viên tập vật lý trị liệu để phát triển tốt hơn và rút ngắn thời gian phục hồi

    Bệnh nhân tập ở nhà với mức độ vừa sức chịu đựng của cơ và xương gãy nếu trường hợp lúc tập mà bị đau thì nghỉ rồi tập tiếp tránh trường hợp tập mạnh quá rễ gây vỡ cơ và tổn thương vị trí gãy.

    3. Theo dõi và thăm khám :

    – Tình trạng ổ gãy: đau, sưng nề, di lệch, biến dạng…

    – Phản ứng của người bệnh trong quá trình tập luyện: thái độ hợp tác, sự tiến bộ…

    – Tình trạng chung toàn thân

    – Theo giỏi và tái khám sau 3 tháng, 6 tháng và 1 năm.

    Mọi thông tin cần tư vấn về phương pháp phục hồi chức năng – tập vật lý trị liệu sau phẫu thuật gãy xương mâm chày vui lòng liên hệ với chúng tôi để được hướng dẫn:

    PHÒNG TẬP VẬT LÝ TRỊ LIỆU ĐỨC ĐIỆP TẠI NHÀ TPHCM

    Với đội ngũ y bác sĩ, kỹ thuật viên nhiều năm kinh nghiệm về vật lý trị liệu – phục hồi chức năng chúng tôi luôn đem sự tận tâm, nhiệt tình và hiệu quả nhất cho bệnh. ( Sức Khỏe Là Tài Sản Vô Giá) Mọi thông tin Tư Vấn – Thăm Khám vui lòng liên hệ: Nguyễn Đức Điệp. chuyên khám tập vật lý trị liệu. Website: chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kinh Nghiệm Chọn Món Làm Mâm Cỗ Chay Đơn Giản Và Đầy Đủ
  • Thực Đơn Mâm Cỗ Chay
  • Bạn Có Biết Ý Nghĩa Của Mâm Cỗ Chay Cúng Ngày Tết Chưa?
  • Cách Làm Mâm Cỗ Chay Cúng Rằm, Cúng Tết, Cúng Giỗ
  • Gần 2 Triệu Đồng Mâm Cỗ Chay Cúng Rằm Tháng Bảy
  • Gãy Xương Mâm Chày Bao Lâu Thì Lành?

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhận Biết Gai Mâm Chày Khớp Gối Và Cách Khắc Phục Hiệu Quả
  • Gãy Mâm Chày Sẽ Để Lại Di Chứng Gì?
  • Cúng Đất Đai Mấy Chén Cơm, Hướng Dẫn Mâm Cúng Chi Tiết
  • Cơm Chay An Phúc 0902255317
  • Gợi Ý 21 Thực Đơn Các Món Ăn Ngon Đãi Khách Trong Bữa Tiệc Gia Đình
  • Sức khỏe là vốn quý, hãy phòng bệnh hơn chưa bệnh. Những thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo và không được tự ý áp dụng dưới mọi hình thức.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dịch Vụ Nhận Nấu Đám Chay Tp.hcm
  • 7 Món Chay Đãi Tiệc Siêu Ngon
  • Kết Quả Điều Trị Gãy Kín Mâm Chày Độ V, Vi Bằng Khung Cố Định Ngoài Cải Biên
  • Xương Chày Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Xương Chày: Vị Trí, Cấu Tạo Và Chức Năng
  • Phác Đồ Điều Trị Gãy Xương Vùng Mâm Chày

    --- Bài mới hơn ---

  • Tập Vật Lý Trị Điều Trị Gãy Mâm Chày, Nứt Mâm Chày Sau Giải Phẫu
  • Đánh Giá Kết Quả Điều Trị Gãy Kín Mâm Chày Bằng Phẫu Thuật Kết Hợp Xương Nẹp Vít Tại Bệnh Viện Hữu Nghị Việt Đức
  • Gai Mâm Chày Khớp Gối
  • Dấu Hiệu Bị Gai Mâm Chày Khớp Gối Là Gì Và Cách Điều Trị Tốt Nhất
  • Gai Mâm Chày Khớp Gối Có Nguy Hiểm Không? Có Chữa Được Không?
  • Gãy mâm chày là loại gãy xương phạm khớp.

    Theo y vãn thế giới, gãy mâm chày chiếm khoảng 1 % các gãy xương và 8% các gãy xương ở người lớn. Có nhiều mức độ tổn thương khác nhau về sự di lệch và lún mặt khớp. Các nghiên cứu cho thấy đa số tổn thương mâm chày ngoài (55-70%), mâm chày trong 10-23%, tổn thương cả 2 mâm chày là 11 -31 %.

    II. NGUYÊN NHÂN

    Đa số các trường hợp bị tai nạn giao thông, đặc biệt ở nước ta bệnh nhân bị tai nạn khi đi xe gắn máy là chủ yếu. Gãy mâm chày có thể xảy ra khi bị va chạm trực tiếp, đầu gối đập xuống đường, hoặc gián tiếp do xe ngã đè lên chân hoặc té xe trong tư thế gối bị vặn xoắn hoặc đè ép từ phía bên.

    Ngoài ra các nguyên nhân khác như tai nạn sinh hoạt, tai nạn lao động, chấn thương thể thao, té cao cũng có thể đưa đến gãy mâm chày.

    III. CƠ CHẾ CHẤN THƯƠNG

    Các trường hợp gãy mâm chày xảy ra trong nhiều hướng của lực valgus hay varus kết hợp với lực tải trục.

    Hướng và sự khuyếch đại của lực phát sinh, tuổi bệnh nhân, chất lương xương, và độ gấp gối lúc va chạm xác định kích thước mảnh gãy, vị trí gãy và sự di lệch: Người trẻ với xương chắc khỏe sẽ gặp các gãy tách điển hình và có tỉ lệ cao liên kết với các tổn thương dây chằng.

    Người già với sự giảm độ chắc khỏe của xương sẽ gặp các gãy lún và tách và có tỉ lệ chấn thương dây chằng thấp

    IV. CHẨN ĐOÁN

    1. LÂM SÀNG

    Khi tiếp xúc với bệnh nhân bị chấn thương vùng gối cần hỏi kỳ nguyên nhân và cơ chế chấn thương để có thể xác định tổn thương có thể có ở bệnh nhân cũng như mức độ nặng của thương tổn xương và mô mềm.

    Bệnh nhân bị gãy mâm chày có thể có các triệu chứng ở các mức độ khác nhau, bao gồm đau vùng gối, sưng nề, không tì chân được, hoặc không thể vận động được.

    Khám các biến dạng của xương khớp để xác định gãy xương.

    Khám tình trạng da, tình trạng vết thương để xác định gãy kín hay gãy hở.

    Khám tình trạng mạch máu và thần kinh của chi để xác định các biến chứng về mạch máu và thần kinh, bao gồm tổn thương thần kinh mác chung (thần kinh hông khoeo ngoài), tổn thương động tĩnh mạch vùng khoeo.

    Đánh giá mức độ sưng nề của chi, khả năng vận động của cổ chân, bàn chân và các ngón chân để phát hiện sớm nguy cơ chèn ép khoang và kịp thòi xử trí khi có biến chứng chèn ép khoang thực sự. Trong trường hợp bệnh nhân bị chấn thương nặng, đặc biệt là gãy mâm chày trong di lệch, gãy cả 2 mâm chày, gãy mâm chày kèm gãy thân xương di lệch, nên thực hiện đo áp lực khoang cẳng chân để phát hiện biến chứng chèn ép khoang.

    Các thương tổn kèm theo trong khớp như tổn thương sụn chêm, các dây chằng bên, các dây chằng chéo khó có thể được chẩn đoán khi bệnh nhân mới gãy xương. Các thương tổn này chỉ có thể xác định sau khi đã kết hợp xương, trong quá trình theo dõi, thăm khám hậu phẫu hoặc có sự hỗ trợ của hình ảnh cộng hưởng từ.

    2. Cận lâm sàng

    Xquang thường qui:

    Khi xác định bệnh nhân bị gãy mâm chày cần chụp đủ xquang khớp gối 2 bình diện mặt và bên. Hình ảnh xquang này giúp chẩn đoán được gãy mâm chày nhưng không thể cung cấp đẩy đủ chi tiết về các đường gãy, mức độ di lệch, đặc biệt là mức độ lún của các mâm chày. Xquang khớp gối ở bình diện chếch trong và ngoài 45 độ sẽ giúp đánh giá cụ thể hơn các chi tiết của mâm chày bị gãy.

    Đây là phương tiện giúp chẩn đoán thương tổn của gãy mâm chày khá chi tiết và rất hữu hiệu trong việc quyết định phương pháp điều trị. Tuy có chi phí thực hiện còn cao nhưng CT scan vẫn đóng vai trò rất quan trọng trong chẩn đoán và điều trị. Hình ảnh CT scan cho thấy rõ các đường gãy, sự di lệch của các mảnh gãy, mức độ lún của các mặt khớp mâm chày, từ đó có thể xác định được mức độ thiếu xương ở mâm chày sau khi nâng mặt khớp bị lún. Hình ảnh tái tạo 3 chiều của CT scan giúp phẫu thuật viên chẩn đoán xác định, chính xác mức độ tổn thương mâm chày và chuẩn bị trước kế hoạch phẫu thuật, phục hồi tối đa được mặt khớp cũng như nắn được tốt các di lệch.

    Cộng hưởng từ:

    So với CT scan thì hình ảnh cộng hưởng từ cũng giúp chẩn đoán xác định, đánh giá chi tiêt gãy mâm chày với hiệu quả tương đương. Ngoài ra hình ảnh cộng hưởng từ còn có thê giúp chân đoán các thương tôn mô mêm trong khớp như là thương tôn dây chăng bên trong hoặc dây chăng chéo trước có thê gặp trong gãy mâm chày nạoài, gãy mâm chày trong thì thường kèm theo rách dây chăng bên ngoài hoặc tôn thương các dây chăng chéo.

    Siêu âm mạch máu:

    Như đã nói ở trên, phương tiện chẩn đoán này giúp xác định một thương tổn kèm theo rất quan trọng của gãy mâm chày, đó là tổn thương động mạch khoeo.

    V. PHÂN LOẠI

    1. Phân loại theo A.O

    Bảng phân loại của hội AO: chi tiết cho các loại gãy xương đầu trên xương chày, bao gôm gãy trong khớp, ngoài khớp, một mâm chày, 2 mâm chày, gãy đơn giản hoặc phức tạp.

    Trong đó:

    o Loại A là gãy ngoài khớp

    o Loại B là gãy 1 mâm chày

    o Loại C là gãy cả 2 mâm chày Bảng phân loại gãy đầu trên xương chày của AO

    Mỗi loại được phân thành 3 nhóm, mỗi nhóm được phân thành 3 nhóm nhỏ chi tiết. Vì thế bảng phân loại của AO bao quát cho tất cả các dạng gãy của mâm chày, rất tốt cho mục đích nghiên cứu nhưng thực sự cũng khó nhớ và khó áp dụng trên thực tế lâm sàng.

    2. Phân loại theo Schatzker

    Bảng phân loại của tác giả Schatzker: được đưa ra năm 1979, đến nay vẫn được nhiều tác giả ừên thế giới sử dụng phổ biến.

    Bảng phân loại này gồm 6 loại xếp theo thứ tự nặng dần, tăng dần theo mức độ khó khăn cho điều trị và tiên lượng cũng nặng hơn theo từng mức độ.

    Đặc điểm của từng loại gãy như sau:

    o Loại I: Gãy tách dọc mâm chày ngoài,

    o Loại II: Gãy tách dọc kết hợp lún mâm chày ngoài,

    o Loại III: Gãy lún ở trưng tâm của mâm chày ngoài,

    o Loại IV: Gãy mâm chày trong (IV-A=gãy tách; IV-B=gãy lún),

    o Loại V: Gãy 2 mâm chày.

    o Loại VI: Gãy mâm chày có mất sự liền lạc giữa thân xương và hành xương.

    1. Mục tiêu điều trị

    o Phục hồi mặt khớp,

    o Phục hồi trục đùi cẳng chân

    o Bảo tồn hệ thống gấp-duỗi và giữ vững khớp gối.

    o Phục hồi chức năng vận động,

    o Giảm nguy cơ thoái hóa khớp sau chấn thương.

    2. Điều trị bảo tồn

    o Gãy không di lệch,

    o Gãy mâm chày ngoài di lệch ít <5mm.

    2.2. Ưu khuyết điểm của các phương pháp điều trị bảo tần: Các phương pháp điều trị bảo tồn gãy mâm chày gồm: (1) Bất động bằng bột, (2) kéo liên tục và vận động sớm, (3) bó bột chức năng.

    a. Phương pháp bất động bằng bột: Trong những thập niên đầu của thế kỷ 20, Bohler đã điều trị gãy mâm chày bằng bó bột. Trong đó gãy 2 mâm chày được xuyên định xương gót kéo nắn bó bột và kéo liên tục qua bột khoảng 6-7 tuần, sau đó bó bột để tập đi thêm 3-4 tuần nữa rồi bó bột.

    Ưu điểm của phương pháp này là không có nguy cơ nhiễm trùng, đồng thời tổn thương dây chằng kèm theo có thể lành nhờ sự bất động này. Nhưng khuyết điểm cũng nhiều: Thời gian phục hồi chức năng dài và khó đạt được chức năng tốt. Tổn thương mặt sụn khớp khi bất động như vậy sẽ gây dính khớp làm khó khăn cho việc phục hồi chức năng gấp – duỗi gối.

    b. Kéo liên tục và vận động sớm: Phương pháp này cũng đạt được những kết quả khả quan.

    Phương pháp điều trị kéo liên tục có tác dụng nắn xương, giữ được kết quả nắn và giữ đứng trục, đồng thời cho phép bệnh nhân vận động chủ động và thụ động dễ dàng khớp gối. Vận động lập đi lập lại của khớp gối có tác dụng nắn lại cấp kênh mặt khớp và tránh được cứng khớp.

    Khuyết điểm của phương pháp này là có thể nhiễm trùng chân định và thời gian nằm viện lâu. Tuy nhiên, sau đó bệnh nhân không phải mất 1 thời gian dài để phục hồi chức năng như trong bó bột, và cũng không phải nhập viện lần thứ 2 để mổ lấy dụng cụ ra như trong phương pháp mổ kết hợp xương bên trong.

    c. Bó bột chức năng:

    Bột chức năng cũng được nhiều người dùng trong điều trị gãy mâm chày. Sarmiento là người có nhiều kinh nghiệm điều trị bằng bột chức năng cũng áp dụng phương pháp này để điều trị gãy đầu trên xương chày.

    3. Điều trị phẫu thuật:

    3.1. Chỉ định phẫu thuật:

    a. Chỉ định tuyệt đối:

    o Gãy hở.

    o Có biến chứng chèn ép khoang,

    o Có tổn thương mạch máu.

    b. Chỉ định tương đối:

    o Gãy mâm chày ngoài làm mất vững khớp gối.

    o Gãy mâm chày trong có di lệch,

    o Gãy 2 mâm chày di lệch.

    3.2. Thòi điểm phẫu thuật:

    Những trường hợp gãy kín: Có thể xếp lịch mổ chương trình, thời gian chuẩn bị tiền phẫu từ 3-5 ngày. Trong thời gian chờ mổ, chân gãy được bất động bằng nẹp bột hoặc kéo tạ qua xuyên định xương gót.

    Trường hợp gãy hở: Chân gãy được cắt lọc cấp cứu, bất động tạm, sau đó mổ chương trình ữong vòng 1 tuần. Neu có đầy đủ phương tiện, dụng cụ trong cấp cứu, có thể mổ cắt lọc và đặt bất động ngoài cùng lúc, đối với các trường hợp gãy hở.

    3.3. Những dụng cụ chủ yếu:

    Khung Ilizarov hoặc có thể dùng khung tự chế theo kiểu Ilizarov: Khung có 4 vòng và 3 thanh dọc. Vòng thứ 1 gàn khớp gối được cắt bỏ 1/3 sau, tạo điều kiện cho BN gấp gối được nhiều hơn (xem ảnh bên).

    Kim Kirschner 1,6-1,8 mm, dụng cụ căng kim Kirschner.

    Vis xốp 6,5 mm dùng để liên kết các mảnh xương lớn lại với nhau.

    Nẹp nâng đỡ, nẹp chống trượt…

    3.4. Các phương pháp phẫu thuật trong điều trị gãy mâm chày:

    Yêu cầu điều trị phẫu thuật là phải cố định đủ vững để vận động sớm và kỹ thuật mổ phải ít tổn thương mô mềm.

    Phương pháp điều trị phẫu thuật cho từng loại gãy mâm chày theo phân loại của Schartzker:

    Schartzker I: Trong lịch sử điều trị, loại này được mổ nắn và cố định bên trong. Những trường hợp gãy di lệch thường có rách ở ngoại vi sụn chêm ngoài và đôi khi kẹt sụn chêm giữa khe gãy. Vì tần suất tổn thương nhiều trong loại gãy này, nên 1 số người sử dụng hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) trước mổ để xác định, hoặc sử dụng nội soi khớp gối. Neu có rách ngoại vi sụn chêm hoặc kẹt sụn chêm vào khe gãy thì mổ nắn kết hợp xương, đồng thời phục hồi sụn chêm.

    Nếu sụn chêm còn nguyên vẹn thì thường nắn kín và kiểm tra qua nội soi, hoặc màn tăng sáng và cố định bằng xuyên 2-3 vis xốp qua da, không cần đặt nẹp vis hoặc ghép xương. Nếu nắn kín không được thì mở nắn.

    Schartzker III: Nếu lún mặt khớp nhiều hoặc mất vững khớp gối thì phải mổ nâng mặt khớp, ghép xương và đặt 1 nẹp nâng đỡ ở vỏ xương bên ngoài.

    Schartzker IV: Loại gãy này có khuynh hướng làm cho cẳng chân vẹo trong, điều trị bằng mổ nắn, cố định xương bằng vis xốp và nẹp nâng đỡ phía bên trong.

    Schartzker V: Cả 2 mâm chày có thể được cố định bằng nẹp nâng đỡ và vis xốp. Thường thì bên mâm chày di lệch nhiều hơn và nát hơn được cố định bằng nẹp nâng đỡ, bên còn lại được cố định bằng vis xốp hoặc có thể cố định bằng 1 nẹp chống trượt nhỏ để giảm thiểu tổn thương mô mềm.

    Schartzker VI: Hầu hết phải điều trị bằng nẹp nâng đỡ và vis xốp, cố định ngoài cũng được dùng cho loại gãy này.

    Nhìn chung phương pháp điều trị áp dụng cho các loại Schartzker I, II, III, IV tương đối rõ ràng và đã đạt được kết tốt.

    Loại Schartzker V, VI thì khó khăn hơn nhiều, do xương gãy phức tạp và tổn thương mô mềm lan rộng. Vì vậy các phương pháp điều trị bảo tồn vói kéo liên tục hoặc bó bột thường không đủ giữ mặt khớp và sự thẳng trục. Nhằm đạt được yêu cầu của phẫu thuật là phải cố định đủ vững để vận động sớm và kỹ thuật mổ phải ít tổn thương mô mềm, các phương pháp phẫu thuật với các phương tiện cố định xương khác nhau đã được nghiên cứu, bao gồm: (1) kết hợp xương kinh điển bằng 2 nẹp, (2) một nẹp nâng đỡ và một nẹp nhỏ chống trượt, (3) một nẹp và cố định ngoài một bên, (4) kết hợp xương tối thiểu bên trong kèm với cố định ngoài.

    a. Phương pháp mở nắn kết hợp xương bên trong vói 2 nẹp vis:

    Đây là phương pháp kinh điển, có ưu điểm là nhìn thấy trực tiếp các mảnh gãy nên kết quả nắn là tốt nhất, phục hồi đúng hình dạng giải phẫu và xương gãy được cố định vững chắc bởi 2 nẹp nâng đỡ.

    Khuyết điểm là cần phải bộc lộ rộng, nên làm tổn thương mô mềm nhiều hơn, làm mất mạch máu nuôi các mảnh xương gãy và tăng tì lệ nhiễm trùng vết mổ, lộ nẹp vis.

    Những trường hợp xương gãy nát vẫn không cố định vững chắc được các mảnh gãy thì cần tăng cường bằng bất động khớp gối sau mổ.

    Để giảm tỉ lệ biến chứng trong loại gãy mâm chày phức tạp này, những cải tiến đã được thực hiện. Vì nhiễm trùng, lộ nẹp thường xãy ra ở mâm chày trong nên nẹp nâng đỡ thứ 2 phía trong được thay bằng 1 khung cố định ngoài 2 định răng hoặc 1 nẹp nhỏ chống trượt (hình trên).

    b. Kết hợp xưng với 1 nẹp nâng đỡ và cố định ngoài 1 bên:

    Phương pháp này có ưu điểm là giảm được sang chấn mô mềm ở mâm chày trong, tránh được nguy cơ lộ nẹp vis. Khung cố định ngoài ở đây có tác dụng chống di lệch thứ phát của mâm chày trong. Khung chỉ được giữ ữong khoảng 6-10 tuần.

    Phương pháp này có khuyết điểm là chỉ dùng được khi mâm chày trong còn tương đối nguyên vẹn. định răng dùng trong cố định ngoài này có đường kính lớn (5mm). khi mâm chày trong gãy nhiều mảnh thì việc đặt định răng vào đây hoàn toàn không có lợi vì không cố định mảnh xương gãy được bao nhiêu mà lại thêm nguy cơ nhiễm trùng chân định, dễ dẫn đến nhiễm trùng ổ gãy.

    c. Kết hợp xương tối thiểu bên trong kèm cổ định ngoài:

    Ưu điểm của phương pháp này là giảm được tổn thương mô mềm do phẫu thuật. Đa số trường hợp nắn sửa được mặt khớp với phương pháp nắn kín, những trường hợp không nắn được phải mở tối thiểu để nắn. Ket hợp xương tối thiểu bằng vis xốp để liên kết các mảnh gãy thấu khớp. Khung cố định ngoài được dùng để giữ mặt khớp đã nắn chỉnh và sự thẳng trục của xương chày, đồng thời cho phép vận động gối sớm. Vì ít làm tổn thương mô mềm nên giảm biến chứng nhiễm trùng. Không phải bộc lộ rộng ổ gãy nhưng đạt được yêu cầu cố định xương gãy vững, bệnh nhân có thể tập vận động sớm góp phần phục hồi chức năng tốt mặc dù phục hồi giải phẫu không tốt bằng phương pháp mở nắn. Khuyết điểm của cố định ngoài là cồng kềnh và biến chứng nhiễm trùng chân định cố định ngoài.

    Cố định ngoài Ilizarov và các khung cố định ngoài kiểu vòng cải tiến từ khung Ilizarov (gọi là khung cố định ngoài Hybrid) được dùng nhiều trong điều trị gãy phức tạp mâm chày vì những ưu điểm nổi bậc của chúng trong các gãy xương gàn khớp.

    Khung Ilizarov thuộc nhóm khung cố định ngoài theo 3 bình diện trong không gian, có tác dụng nén ép kéo xa. Khác biệt với các khung cùng nhóm là dùng các kim đường kính nhỏ kiểu kim Kirschner để xuyên qua xương, nên khung cố định ít cứng nhắc hơn, tạo được sự cố định đàn hồi mong muốn. Đó là tính độc đáo cơ bản nhất của khung Ilizarov. Khung kiểu Ilizarov hoàn toàn đủ vững chắc để bệnh nhân có thể hoạt động cơ năng sớm. Các nghiên cứu cơ-sinh học của Ilizarov cho thấy khung chịu 2/3 trọng lực cơ thể, còn vùng gãy xương chỉ chịu 1/3 còn lại. Cho bệnh nhân hoạt động cơ năng sớm là 1 trong những yêu cầu của khung Ilizarov và cũng là ưu điểm nổi bậc. Do dừng kim nhỏ xuyên qua xương nên ít gây tổn thương mô mềm và nhất là nhất là giảm đáng kể nguy cơ nhiễm trùng.

    Một trong những biến chứng của cố định ngoài là nhiễm trùng chân định. Đối với khung Ilizarov, chân định nhiễm trùng thường nhẹ và có thể điều trị bằng kháng sinh uống. Tuy nhiên, viêm khớp nhiễm trùng thứ phát từ định và kim Kirschner quanh khớp đã được ghi nhận.

    Kết hợp xương tối thiểu và cố định ngoài 1 bên dưới khớp gối cũng là 1 kỹ thuật đã được dùng điều trị gãy mâm chày phức tạp. Tuy nhiên cố định ngoài 1 bên không đạt được cố định chắc chắn bằng cố định ngoài kiểu vòng trong trường hợp hành xương gãy nát.

    4. Chăm sóc hậu phẫu và phục hồi chức năng:

    Kháng sinh sau mổ: Dùng kháng sinh chích, đối với gãy kín là Cephalosporins thế hệ II hoặc III trong 3 ngày, gãy hở thì dùng Cephalosporins kết hợp Aminoglycosides trong 5-7 ngày.

    Săn sóc chân định cố định ngoài: Chân định được rửa bằng nước muối sinh lý và quấn gạc tẩm dung dịch betadin trong suốt thòi gian mang khung Ilizarov.

    Những ngày đầu sau mổ, kê cao chân gãy cho đến khi bớt phù nề.

    Từ ngày thứ 2 sau mổ, cho ệnh nhân tập gập-duỗi gối thụ động và chủ động có trợ giúp 1 phần không gây đau, giúp tăng dần biên độ gập-duỗi gối nhưng không cố đạt được biên độ vận động lớn trong những tuần đầu.

    Vật lý trị liệu phòng ngừa co rút gân gót và co rút các cơ gấp gối: Dùng băng thun quấn từ nữa trước bàn chân đến khung Ilizarov, giúp bàn chân ở tư thế vuông góc trong thời gian đầu cho đến khi bệnh nhân tập tì chống ừên chân gãy.

    Tập gấp-duồi cổ chân, gấp gối, tập cơ tứ đầu, tránh tư thế gấp gối và gấp cổ chân trong lúc ngủ.

    Từ tuần thứ 6 sau mổ, bắt đầu tì đè lên chân gãy lực tăng dần. Chỉ nên tì đè hoàn toàn sau mổ khoảng 12 tuần, tùy theo mức độ gãy nát của mâm chày.

    5. Các thời điểm tái khám:

    Tái khám lần đầu tiên vào tuần thứ 3 hoặc thứ 4 sau mổ. Sau đó các lần tái khám cách nhau khoảng 2-4 tuần cho đến khi tháo cố định ngoài. Những bệnh nhân có biến chứng như nhiễm trùng chân định, co rút gân gót hoặc gấp-duỗi gối kém, khó khăn khi đi với nạng thì tái khám mỗi 2 tuần cho đến khi hết những vấn đề này. Neu không có những vấn đề trên thì cho tái khám mỗi 4 tuần. Sau khi tháo cố định ngoài thì tái khám thưa dần tùy tình trạng bệnh nhân.

    6. Thời điểm tháo cố định ngoài:

    Khi bệnh nhân đi được không cần nạng, không còn cử động bất thường tại ổ gãy và có dấu hiệu liền xương trên x-quang thì tháo khung Ilizarov. Trước khi tháo, nới lỏng tất cả các ốc cố định vòng vào thanh, tìm cử động bất thường tại ổ gãy và cho bệnh nhân đi không nạng để kiểm tra. Thời điểm liền xương chính là thời điểm tháo cố định ngoài.

    7. Các biến chứng:

    Các biến chứng trong lúc mổ: Tổn thương thần kinh, mạch máu do thao tác nắn xương và đặt cố định ngoài.

    Các biến chứng trong quá trình theo dõi: Nhiễm trùng chân định, nhiễm trùng vết mổ, co rút gân gót, rối loạn dinh dưỡng, di lệch thứ phát, cal lệch xấu.

    8. Kết quả x-quang:

    Kết quả phục hồi giải phẫu mâm chày được ghi nhận qua hình ảnh x-quang kiểm tra sau mổ và trong các lần tái khám. Tái khám sau khi tháo cố định ngoài, X-quang khớp gối được chụp ở tư thế đứng, chụp cả 2 khớp gối trên bình diện thẳng để đánh giá.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Eric M.Berson, MD, Walter W.Vữkus, MD High Energy Tibial Plateau Fractures, Joumal of the American Academy of 0 6- p. 20-31. and al Am 2002; 84:1541-1551–UP lOrthopaedic Surgeons. Vol. 14n 1 -Jan.2002

    2. The J.B.J.S – Vol. 88A n 12 -Dec. 2006 Open reduction and Intemal íĩxation vs a Circular íĩxator for tibial plateau c level 1) íractures

    3. Thomas A. Russell, Ross K. Leighton and on behalí of the Alpha B SM f Autogenous bone gratì Tibial Plateau Fracture Study Group. Comparison Endothermic Calcium Phosphat Cement for Defect Augmentatìon in Tibi Plateau ữactures. A multìcarter, prospective, rondomized study J.B.J.S Am .2008-.90:2057-2061

    4. Dennis chúng tôi and J. Lawrence Narsh. J.B. J.s .n.25.2001

    

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vỡ Xương Mâm Chày Ngay Gối Bao Lâu Đi Được
  • Bao Lâu Có Thể Đi Lại Và Chạy Xe Máy Do Gãy Xương Mâm Chày?
  • Gãy Mâm Chày Bao Lâu Thì Lành?
  • Vỡ Mâm Chày Mổ Ốc Vít Bao Lâu Thì Đi Làm Được?
  • Sau Phẫu Thuật Vỡ Mâm Chày Đầu Gối Bao Lâu Có Thể Tập Vật Lí Trị Liệu?
  • Vật Lý Trị Liệu Tại Nhà Gãy Đầu Trên Xương Chày, Gãy Mâm Chày

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Nấu Các Món Chay Đãi Tiệc Thông Dụng Hằng Ngày
  • Món Chay Đãi Tiệc, Xu Hướng Mới Trong Ngày Rằm
  • Thực Đơn 8 Món Ngon Cho Mâm Cỗ Chay Đãi Tiệc
  • Mổ Rút Đinh Xương Mâm Chày Sau Bao Lâu Thì An Toàn?
  • Lỗi Hú Mâm Lửa Trên Xe Honda Winner, Cách Khắc Phục
  • Gãy xương cẳng chân ngay dưới khớp gối từ một chấn thương hay bệnh lý được gọi là gãy đầu trên xương chày. Đầu trên xương chày là phần gần của xương chày nơi có mâm chày tiếp giáp với đầu dưới xương đùi tạo nên khớp gối.

    Ngoài xương gãy, các mô mềm (da, cơ, dây thần kinh, mạch máu, dây chằng và bao khớp) có thể bị tổn thương tại thời điểm gãy xương. Cả xương gãy và các thương thương mô mềm kèm theo phải được điều trị cùng nhau. Trong nhiều trường hợp, phẫu thuật là cần thiết để khôi phục sức mạnh cơ, cử động và sự ổn định cho khớp gối và giảm nguy cơ viêm khớp.

    Khớp gối là khớp chịu trọng lượng lớn nhất của cơ thể. Ba xương hợp với nhau để tạo thành khớp gối: xương đùi (đầu dưới xương đùi), xương chày (mâm chày) và xương bánh chè (xương vừng lớn nhất của cơ thể). Dây chằng và gân hoạt động như những cấu trúc chắc chắn để giữ các đầu xương lại với nhau. Chúng cũng hoạt động giúp khớp gối có những cử động sinh lý đặc trưng và phòng tránh những cử động thái quá gây tổn thương khớp gối.

    Có một số loại gãy đầu trên xương chày. Xương có thể gãy ngang hoặc gãy thành nhiều mảnh (gãy vụn, gãy phức tạp).

    Đôi khi những gãy xương này kéo dài đến khớp gối và tách bề mặt xương thành một (hoặc nhiều) mảnh. Những loại gãy xương này được gọi là gãy mâm chày phạm khớp.

    Tổn thương phạm khớp này có thể dẫn đến biến dạng khớp do khả năng lệch trục khớp gối rất cao và theo thời gian có thể góp phần gây ra viêm khớp, mất ổn định khớp và mất cử động khớp gối.

    Gãy đầu trên xương chày có thể là gãy kín – có nghĩa là da còn nguyên vẹn – hoặc gãy hở. Gãy xương hở là khi xương gãy kèm theo các mảnh xương xuyên ra ngoài da hoặc vết thương xuyên thấu xuống xương gãy. Gãy xương hở thường gây tổn thương nhiều hơn cho các cơ, gân và dây chằng xung quanh và có nguy cơ cao hơn đối với các vấn đề như nhiễm trùng và mất nhiều thời gian hơn để chữa lành.

    Một gãy đầu trên xương chày có thể xảy ra do bị nén (gãy lún, hoặc bị nứt mâm chày do hoạt động quá mức bất thường) hoặc do xương đã bị tổn thương (như trong ung thư hoặc nhiễm trùng). Tuy nhiên, hầu hết gãy đầu trên xương chày là kết quả của chấn thương.

    Ở người lớn tuổi, mật độ xương thấp hơn nên thường chỉ cần chấn thương năng lượng thấp (té từ vị trí đứng) là có thể gây nên gãy đầu trên xương chày.

    Triệu chứng gãy xương

    Gãy đầu trên xương chày gần có thể gây ra:

    • Đau nặng hơn khi chịu trọng lượng lên chân bị ảnh hưởng.
    • Sưng quanh đầu gối và hạn chế tầm độ gập, duỗi khớp
    • Biến dạng – Đầu gối có thể bị dị dạng so với gối lành.
    • Bàn chân nhợt nhạt, do việc cung cấp máu bị suy giảm.
    • Tê quanh bàn chân – Tê, hoặc cảm giác châm chích, kiến bò… quanh bàn chân làm tăng mối lo ngại về tổn thương thần kinh hoặc sưng quá mức trong chân.

    Nếu có những triệu chứng này sau khi bị thương, hãy đến phòng cấp cứu bệnh viện gần nhất để đánh giá.

    Bác sĩ sẽ hỏi chi tiết về cách chấn thương xảy ra và sẽ nói chuyện với bệnh nhân về các triệu chứng và bất kỳ vấn đề y tế nào khác có thể có, chẳng hạn như bệnh tiểu đường.

    Bác sĩ sẽ kiểm tra các mô mềm xung quanh khớp gối. kèm theo kiểm tra có các vết bầm tím, sưng, vết thương hở, đánh giá dây thần kinh và mạch máu cung cấp cho cẳng chân và bàn chân bị thương.

    • X-quang. Cách phổ biến nhất để đánh giá gãy xương là chụp X-quang, cung cấp hình ảnh rõ ràng về xương còn nguyên vẹn hay bị gãy. Nó cũng có thể chỉ ra loại gãy xương và vị trí của nó trong xương chày.
    • Chụp cắt lớp vi tính (CT). Chụp CT cho thấy chi tiết hơn về gãy xương. Nó có thể cung cấp cho bác sĩ thông tin có giá trị về mức độ nghiêm trọng của gãy xương và giúp bác sĩ quyết định xem và cách khắc phục vết gãy.
    • Chụp cộng hưởng từ (MRI). Quét MRI cung cấp hình ảnh rõ ràng của các mô mềm, chẳng hạn như gân cơ, dây chằng và bao khớp. Mặc dù đây không phải là xét nghiệm thông thường đối với gãy xương chày, bác sĩ có thể yêu cầu chụp MRI để giúp xác định liệu có thêm vết thương nào cho các mô mềm xung quanh đầu gối hay không. Ngoài ra, nếu bệnh nhân có tất cả các dấu hiệu của gãy mâm chày, nhưng tia X không phát hiện được, bác sĩ có thể yêu cầu chụp MRI, thường sẽ có phản ứng trong tủy xương có thể được phát hiện trên MRI khi xảy ra gãy xương.

    Có nên phẫu thuật hay không là quyết định kết hợp của bệnh nhân, gia đình và bác sĩ. Việc điều trị ưu tiên phù hợp dựa trên loại chấn thương và nhu cầu chung của bệnh nhân.

    Khi lên kế hoạch điều trị, bác sĩ sẽ xem xét một số điều, bao gồm cả sự mong đợi, lối sống và tình trạng y tế của bệnh nhân.

    Ở người bình thường, phục hồi khớp thông qua phẫu thuật thường thích hợp vì điều này sẽ tối đa hóa sự ổn định và chuyển động của khớp, giảm thiểu nguy cơ viêm khớp.

    Tuy nhiên, ở những người khác, phẫu thuật có thể nguy hiểm do tình trạng sức khỏe người bệnh yếu, có thể khiến những người này gặp rủi ro (gây mê và nhiễm trùng chẳng hạn).

    Gãy xương hở. Nếu da bị rách và có vết thương hở, vết nứt bên dưới có thể phơi nhiễm với vi khuẩn có thể gây nhiễm trùng. Điều trị phẫu thuật sớm sẽ làm sạch bề mặt xương gãy và các mô mềm để giảm nguy cơ nhiễm trùng.

    Cố định bên ngoài. Nếu các mô mềm (da và cơ) xung quanh gãy xương bị tổn thương nặng, hoặc nếu phải mất thời gian trước khi chờ phẫu thuật vì lý do sức khỏe, bác sĩ có thể áp dụng phương pháp cố định bên ngoài tạm thời. Trong loại hoạt động này, khung kim loại và ốc vít được đặt vào giữa xương đùi và xương chày từ bên ngoài da. Dụng cụ này giữ xương ở vị trí thích hợp cho đến khi bạn sẵn sàng phẫu thuật.

    Trong một số ít chấn thương, sưng mô mềm ở mặt sau cẳng chân có thể nghiêm trọng đến mức đe dọa đến việc cung cấp máu cho các cơ và dây thần kinh ở cổ chân và bàn chân. Đây được gọi là hội chứng chèn ép khoang và có thể phải phẫu thuật khẩn cấp. Trong thủ thuật này, bác sỹ sẽ rạch cân mạc cơ (lớp màng tráng bao bọc một cơ, một nhóm cơ) để giải ép. Các vết mổ này thường được khâu kín vài ngày hoặc vài tuần sau khi các mô mềm phục hồi và giảm sưng tấy. Trong một số trường hợp, cần phải ghép da để giúp che vết mổ và thúc đẩy quá trình lành thương.

    Điều trị không phẫu thuật có thể bao gồm bó bột và nẹp, ngoài những hạn chế về cử động và chịu sức chân yếu, Bác sĩ rất có thể sẽ chỉ định chụp x-quang bổ sung trong quá trình phục hồi để theo dõi xem xương có hồi phục tốt trong khi bó bột hay không. Thời gian cử động gối và các hoạt động chịu trọng lượng trong tiến trình lành thương được chỉ định bởi bác sỹ vật lý trị liệu.

    Có một vài phương pháp khác nhau mà bác sĩ phẫu thuật có thể sử dụng để có được sự liên kết của các mảnh xương gãy và giữ chúng đúng vị trí đến khi chúng lành.

    Trong loại thủ tục này, các mảnh xương đầu tiên được định vị lại vào vị trí giải phẫu bình thường của chúng thông qua các thiết bị đặc biệt, chẳng hạn như một thanh hoặc khung kim loại và ốc vít.

    Đóng đinh nội tủy: Trong những trường hợp gãy một phần tư trên của xương chày, nhưng khớp gối không bị ảnh hưởng, một nẹp hoặc tấm có thể được sử dụng để ổn định gãy xương. Một thanh đinh được đặt trong khoang tủy ở trung tâm của xương, một tấm được đặt trên bề mặt bên ngoài của xương.

    Các tấm và ốc vít cũng được sử dụng cho gãy xương phạm khớp. Nếu gãy xương phạm khớp và lún xương, việc nâng các mảnh xương bị lún có thể được yêu cầu để khôi phục chức năng khớp. Tuy nhiên,việc nâng những mảnh vỡ này lại tạo ra một lỗ hổng trong xương xốp của vùng này. Lỗ này phải được lấp đầy bằng vật liệu nhân tạo nhằm giữ cho mâm chày không bị sụp đổ. Vật liệu này cũng có thể là một mảnh ghép xương từ bệnh nhân hoặc từ ngân hàng xương.

    Thiết bị cố định ngoài. Trong một số trường hợp, tình trạng của mô mềm tổn thương đến mức việc sử dụng nẹp vít hoặc đinh có thể gây tổn hại nó thêm nữa. Một thiết bị cố định bên ngoài có thể được coi là điều trị cuối cùng. Các vật cố định bên ngoài được gỡ bỏ khi vết thương đã lành.

    Đau sau chấn thương hoặc phẫu thuật là một phần tự nhiên của quá trình chữa lành. Bác sĩ, điều dưỡng và vật lý trị liệu sẽ làm việc để kiểm soát đau, điều này có thể giúp bệnh nhân phục hồi nhanh hơn.

    Thuốc thường được kê đơn để giảm đau ngắn hạn sau phẫu thuật hoặc chấn thương. Nhiều loại thuốc có sẵn để giúp kiểm soát cơn đau, bao gồm opioid, thuốc chống viêm không steroid (NSAID) và thuốc gây tê tại chỗ. Bác sĩ của bạn có thể sử dụng kết hợp các loại thuốc này để cải thiện giảm đau, cũng như giảm thiểu nhu cầu về opioids.

    Bác sĩ vật lý trị liệu sẽ quyết định khi nào là tốt nhất để bắt đầu cử động đầu gối để ngăn ngừa cứng khớp. Điều này phụ thuộc vào mức độ của các mô mềm (da và cơ) đang phục hồi và mức độ an toàn của gãy xương sau khi được khắc phục.

    Cử động sớm đôi khi bắt đầu bằng tập vận động thụ động: bác sỹ vật lý quốc tế sẽ nhẹ nhàng di chuyển đầu gối, hoặc khớp gối có thể được đặt trong một máy chuyển động thụ động liên tục chân bệnh nhân.

    Nếu xương bị gãy thành nhiều mảnh hoặc xương yếu, có thể mất nhiều thời gian hơn để chữa lành, và có thể là một thời gian dài hơn trước khi bác sĩ đề nghị các hoạt động cử động.

    Để tránh các vấn đề xấu, điều rất quan trọng là làm theo hướng dẫn của bác sĩ để chịu trọng lượng lên chân bị thương.

    Cho dù gãy xương có được điều trị bằng phẫu thuật hay không, rất có thể bác sĩ sẽ không khuyến khích chịu trọng lượng đầy đủ cho đến khi tiến trình lành xương xảy ra. Điều này có thể cần đến 3 tháng hoặc hơn để chữa lành trước khi chịu sức hoàn toàn có thể được thực hiện một cách an toàn. Trong thời gian này, bệnh nhân sẽ cần nạng hoặc khung tập đi để di chuyển. Bệnh nhân cũng có thể đeo nẹp đầu gối để được hỗ trợ thêm.

    Bác sĩ sẽ thường xuyên chỉ định chụp x-quang để xem vết gãy đang lành như thế nào. Nếu được điều trị bằng nẹp hoặc bó bột, thông qua chụp hình xquang bác sĩ xác định rằng gãy xương không có nguy cơ di lệch, bệnh nhân có thể bắt đầu dồn trọng lượng lên chân nhiều hơn. Mặc dù bạn có thể dồn trọng lượng lên chân, nhưng vẫn nên cần nạng hoặc khung tập đi để hỗ trợ.

    Khi được phép chịu trọng lượng lên chân, việc cảm thấy yếu, sự bất ổn định và cứng khớp là điều rất bình thường. Mặc dù những điều trên sẽ xảy ra, hãy chắc chắn chia sẻ mối lo ngại với bác sĩ phẫu thuật và bác sỹ vật lý trị liệu. Một kế hoạch phục hồi sẽ được thiết kế để giúp bạn lấy lại càng nhiều chức năng càng tốt.

    Vật lý trị liệu rất cần thiết cho phục hồi chức năng khớp gối nhằm lấy lại chức năng gập, duỗi gối, sự thăng bằng, điều hợp và cảm thụ bản thể khớp gối.

    1. Những rủi ro và lợi ích độc đáo của tôi với điều trị không phẫu thuật và phẫu thuật là gì?
    2. Chấn thương này có thể ảnh hưởng đến những kỳ vọng dài hạn của tôi đối với các hoạt động sống, công việc và hoạt động giải trí hàng ngày như thế nào?
    3. Tôi có tiền sử bệnh lý hoặc thói quen xấu (hút thuốc, thuốc giải trí, rượu) có thể ảnh hưởng đến việc điều trị hoặc kết quả của tôi không?
    4. Nếu tôi bị viêm khớp, tôi có thể mong đợi điều gì và lựa chọn của tôi là gì?
    5. Sau khi điều trị bắt đầu (phẫu thuật hoặc không phẫu thuật) khi nào tôi có thể chịu được trọng lượng và gập, duỗi được gối của tôi?
    6. Giai đoạn phục hồi sẽ ảnh hưởng đến công việc và gia đình như thế nào?
    7. Tôi cần loại trợ giúp nào trong quá trình phục hồi?
    8. Nếu tôi được điều trị bằng phẫu thuật và sử dụng “chất độn xương” hoặc chất thay thế, lựa chọn của tôi là gì? Những rủi ro và lợi ích là gì?
    9. Tôi có sẽ dùng thuốc chống đông máu? Nếu có, là thuốc gì và trong bao lâu?
    • Can thiệp Vật Lý Trị Liệu- Phục Hồi Chức Năng càng sớm càng tốt nhằm hạn chế những biến chứng do bất động gây ra (loét, yếu cơ, co rút cơ, giới hạn tầm hoạt động khớp, nhiễm trùng phổi…) và kích hoạt sự phục hồi thần kinh.
    • Nếu cần bất kỳ sự tư vấn hay hỗ trợ cho người thân yêu của mình, anh (chị) có thể liên hệ đến Vật Lý Trị Liệu tại nhà Best Care
    • hoặc nói với chúng tôi qua 0937782677 để cùng đồng hành mang đến những điều tốt đẹp nhất cho gia đình mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vị Trí Và Chức Năng Của Xương Chày
  • Tìm Hiểu Về Phẫu Thuật Khx Gãy Mâm Chày + Thân Xương Chày Tại Bệnh Viện Hữu Nghị
  • 10 Món Chay Ngon Đãi Tiệc Cho Ngày Lạnh
  • Đặt Tiệc Chay Tại Nhà Ở Xu Hướng Của Người Dân Hà Nội.
  • “ấm Lòng” Với Các Món Súp Và Canh Chay Thơm Ngon Trong Menu Nấu Tiệc Tại Nhà
  • Phục Hồi Chức Năng Xương Mâm Chày – Cách Vật Lý Trị Liệu Sau Gãy Mâm Chày

    --- Bài mới hơn ---

  • Gãy Mâm Chày Luyện Tập Thế Nào Để Sớm Hồi Phục?
  • Xương Chày: Vị Trí, Cấu Tạo Và Chức Năng
  • Xương Chày Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Kết Quả Điều Trị Gãy Kín Mâm Chày Độ V, Vi Bằng Khung Cố Định Ngoài Cải Biên
  • 7 Món Chay Đãi Tiệc Siêu Ngon
  • Phục hồi chức năng – vật lý trị liệu sau gãy mâm chày: Xương mâm chày là một trong những phần xương quan trọng của đầu gối, có chức năng hỗ trợ sự đi lại, gập đầu gối giữ thăng bằng. 

    Mâm chày là một bề mặt sụn cấu tạo nên một phần khớp gối, khi người ta đứng và đi lồi cầu xương đùi đè lên mâm chày và trọng lượng cơ thể dồn lên mâm chày để xuống cẳng chân, như vậy mâm chày là phần xương chịu sức nặng của cơ thể.

    1. Nguyên nhân gãy xương mâm chày:

    Đa số khi bị gãy mâm chày chủ yếu là tai nạn giao thông, đặc biệt ở nước ta bệnh nhân bị tai nạn khi đi xe máy là chủ yếu.

    Gãy mâm chày thường xảy ra ở va chạm trực tiếp khi đầu gối đập trực tiếp xuống đất, gãy gián tiếp do xe ngã đè lên mâm chày hoặc té ngã trong tư thế đầu gối bị vặn xoắn.

    Ngoài ra còn các nguyên nhân như tai nạn trong sinh hoạt, tai nạn lao động, chân thương thể thao.

    2. Phục hồi chức năng vận động của xương chày:

    Bệnh nhân sau khi phẫu thuật bắt nẹp vít cố định mâm chày cần điều trị tập vật lý trị liệu sớm để lấy lại chức năng vận động của xương như lúc ban đầu.

    Nếu không được tập vật lý trị liệu sớm sẽ để lại ảnh hưởng về chức năng vận động khớp gối như cứng khớp gối không lấy lại được tầm vận động và phải chịu dị tật suốt đời, teo cơ đầu đùi hoặc teo toàn bộ chân gãy dẫn đến liệt hoàn toàn.

    Trường hợp không lấy lại được chức năng vận động khớp gối dễ bị thoái hóa khớp gối tuần hoàn máu không cung cấp đủ canxi và khoáng chất dễ gây hoại tử mâm chày.

    Bệnh nhân có thể áp phương pháp tập vật lý trị liệu tại nhà sau gãy xương mâm chày như sau:

    • Từ 1 ngày đến 3 ngày: bệnh nhân tập thụ động tại giường, dạng khép chân, tập ngồi dậy xoa bóp vùng khớp gối, di động xương bánh chè, ngốc cổ chân, ngón chân cơ tứ đầu đùi, theo dõi khớp gối và bàn chân có bị sưng phù không…
    • Từ 3 ngày đến 7 ngày: bệnh nhân tự ngồi dậy xoa bóp cơ đùi, di động xương bánh chè, di động khớp gối, ngồi thả lỏng chân xuống nền giường và làm quen với nạn…
    • Từ 7 ngày đến 10 ngày: bệnh nhân đã về nhà cần tiếp tục tập vật lý trị liệu ở nhà để lấy lại chức năng khớp gối như lúc ban đầu, kỹ thuật viên điều trị tập xoa bóp cho tăng tuần hoàn máu và di động khớp, tập gập duỗi khớp gối và gập tối đa nếu bệnh nhân chịu được. tăng lực góc độ gập từ 10 độ tăng lên 30 độ.
    • Từ 10 ngày đến 15 ngày: bệnh nhân tập đứng và tập đi làm quen với nạn xoa bóp di động khớp gối, tập mạnh sức cơ tứ đầu đùi, xoa bóp các nhóm cơ mặt sau cẳng chân, tập ép tăng dần góc độ, bệnh nhân kết hợp ở nhà tự tập để phát triển nhanh giảm không co cứng cơ, cứng khớp giảm sưng phù nề vị gãy.
    • Từ 15 ngày đến 1 tháng: sau một tháng bệnh nhân đã gập từ 60 độ đến 90 độ. Kỹ thuật viên kết hợp cho bệnh nhân tập đi chịu lực chân gãy và tập đi cho máu lưu thông tăng sức chịu lực lên mâm chày và nhóm cơ tứ đầu đùi.
    • Từ 4 tuần đến 8 tuần: lúc này chân gãy đã phát triển tốt không còn bị sưng và phù, bệnh nhân có thể tập đi kết hợp đeo tạ chân để mạnh các nhóm cơ cẳng chân và cơ tứ đầu đùi, chịu trọng lực cơ thể xuống chân yêu, vận động khớp gối tối đa để lấy lại tầm vận động, bệnh nhân ngồi trên giường thả chân xuống gập duỗi tối đa vận động.
    • Sau 2 tháng bệnh nhân phát triển rất tốt gần lấy lại chức năng gập duỗi từ 90 độ lên 120 độ. Bệnh nhân kết hợp với kỹ thuật viên tập vật lý trị liệu để phát triển tốt hơn và rút ngắn thời gian phục hồi

    Bệnh nhân tập ở nhà với mức độ vừa sức chịu đựng của cơ và xương gãy nếu trường hợp lúc tập mà bị đau thì nghỉ rồi tập tiếp tránh trường hợp tập mạnh quá rễ gây vỡ cơ và tổn thương vị trí gãy.

    3. Theo dõi và thăm khám :

    – Tình trạng ổ gãy: đau, sưng nề, di lệch, biến dạng…

    – Phản ứng của người bệnh trong quá trình tập luyện: thái độ hợp tác, sự tiến bộ…

    – Tình trạng chung toàn thân

    – Theo giỏi và tái khám sau 3 tháng, 6 tháng và 1 năm.

    Mọi thông tin cần tư vấn về phương pháp phục hồi chức năng – tập vật lý trị liệu sau phẫu thuật gãy xương mâm chày vui lòng liên hệ với chúng tôi để được hướng dẫn:

    PHÒNG TẬP VẬT LÝ TRỊ LIỆU ĐỨC ĐIỆP TẠI NHÀ TPHCM

    Với đội ngũ y bác sĩ, kỹ thuật viên nhiều năm kinh nghiệm về vật lý trị liệu – phục hồi chức năng chúng tôi luôn đem sự tận tâm, nhiệt tình và hiệu quả nhất cho bệnh.

    ( Sức Khỏe Là Tài Sản Vô Giá)

    Mọi thông tin Tư Vấn – Thăm Khám vui lòng liên hệ:

    Nguyễn Đức Điệp. chuyên khám tập vật lý trị liệu.

    ☎ : 0906.574.998 – 0987.473.296

    Website: www.tapvatlytrilieutainha.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Gãy Xương Mâm Chày Và Xuất Hiện Tình Trạng Di Lệch
  • Hướng Dẫn Cách Làm Món Gà Nướng Cơm Cháy Thơm Ngon Đúng Điệu
  • Mâm Cỗ Chay Đẹp Ngỡ Ngàng, Ngon Không Cưỡng Nổi ~ Ẩm Thực Thông Thái
  • Tổng Hợp Các Món Ăn Chay Thường Ngày Đơn Giản, Dễ Làm Tại Nhà
  • Cách Làm Một Mâm Cơm Chay Thắp Hương Lên Bàn Thờ Phật
  • Xương Chày Trong Tiếng Tiếng Anh

    --- Bài mới hơn ---

  • Kết Quả Điều Trị Gãy Kín Mâm Chày Độ V, Vi Bằng Khung Cố Định Ngoài Cải Biên
  • 7 Món Chay Đãi Tiệc Siêu Ngon
  • Dịch Vụ Nhận Nấu Đám Chay Tp.hcm
  • Gãy Xương Mâm Chày Bao Lâu Thì Lành?
  • Nhận Biết Gai Mâm Chày Khớp Gối Và Cách Khắc Phục Hiệu Quả
  • Xương chày có vết nứt, khoảng 5 inch dưới đầu gối. Hmm.

    A fractured tibia about five inches below the patella.

    OpenSubtitles2018.v3

    Xương mác và xương chày của chân phải từ cùng một người.

    Fibula and tibia of the right leg are from the same person.

    OpenSubtitles2018.v3

    Tôi sẽ phải cắt dây chằng phía dưới xương bánh chè, cắt phía trên xương chày.

    I’ll have to sever the ligaments below the kneecap, cut above the tibia.

    OpenSubtitles2018.v3

    Bệnh Osgood-Schlatter là bệnh viêm ( đau và sưng ) xương , sụn , và/hoặc gân trên đỉnh xương chày .

    Osgood-Schlatter disease is an inflammation ( pain and swelling ) of the bone , cartilage , and/or tendon at the top of the shinbone .

    EVBNews

    Chỉ vết gãy ở sau xương chày – ống chân là ở mức nặng.

    Only the fracture of the rear left tib-fib is at bumper level.

    OpenSubtitles2018.v3

    Lớn hơn so với xương chày của Argentinosaurus tới 29%, khi xương chày loài này chỉ có 1,55 m (5,08 ft).

    This is 29 percent larger than the tibia of Argentinosaurus, which is only 1.55 m (5.1 ft) long.

    WikiMatrix

    Theo các mô tả đã được công bố, xương ống chân (xương chày) của Bruhathkayosaurus là 2 m (6,6 ft) dài.

    According to the published description, the shin bone (tibia) of Bruhathkayosaurus was 2 m (6.6 ft) long.

    WikiMatrix

    Các xương chính của vùng mắt cá chân là talus (ở bàn chân), và xương chày (tibia) và fibula (ở chân).

    The main bones of the ankle region are the talus (in the foot), and the tibia and fibula (in the leg).

    WikiMatrix

    Nó được đặt tên bởi Joseph Leidy năm 1865 dựa trên hai xương chày tìm thấy tại thành hệ Navesink của New Jersey.

    It was named by Joseph Leidy in 1865 for two tibiae found in the Navesink Formation of New Jersey.

    WikiMatrix

    Năm 2022, các nhà nghiên cứu đã chiết xuất thành công DNA từ xương chày của hai người bị chôn trong Động Tháp Thepetra.

    In 2022, researchers successfully extracted the DNA from the tibia of two inpiduals buried in Theopetra Cave.

    WikiMatrix

    Trật khớp đầu gối là chấn thương đầu gối, trong đó có sự gián đoạn hoàn toàn khớp xương giữa xương chàyxương đùi.

    A knee dislocation is a knee injury in which there is a complete disruption of the joint between the tibia and the femur.

    WikiMatrix

    Chuỗi vật mẫu đồng kiểu của “Vorombe titan” bao gồm xương đùi (NHMUK A439) và xương chày (NHMUK A437) được tìm thấy tại thị trấn Itampolo (Itampulu Vé), Madagascar.

    The syntype series of Vorombe titan includes a femur (NHMUK A439) and tibiotarsus (NHMUK A437) found in Itampolo (Itampulu Vé), Madagascar.

    WikiMatrix

    Các xương chàyxương mác của hóa thạch AHS đã được khai quật từ Member I, cùng một lớp mà từ đó các di cốt Omo khác được tìm thấy.

    The AHS fossil’s tibia and fibula were unearthed from Member I, the same layer from which the other Omo remains derive.

    WikiMatrix

    Các con non và các con trưởng thành nhỏ, ví dụ như các loài tyrannosauroids cơ bản hơn, có xương chày dài hơn xương đùi, một đặc tính của khủng long chạy nhanh như ornithomimids.

    Juveniles and even some smaller adults, like more basal tyrannosauroids, had longer tibiae than femora, a characteristic of fast-running dinosaurs like ornithomimids.

    WikiMatrix

    Trong một mẫu, các tỷ số đồng vị trong xương từ nhiều bộ phận khác nhau trong cơ thể chỉ ra sự chênh lệch nhiệt độ không quá 4 đến 5 °C (7 đến 9 °F) giữa đốt sống của thân và xương chày của chân dưới.

    In one specimen, the isotope ratios in bones from different parts of the body indicated a temperature difference of no more than 4 to 5 °C (7 to 9 °F) between the vertebrae of the torso and the tibia of the lower leg.

    WikiMatrix

    Chi Bruchus được xác định rõ bởi một số ký tự, chẳng hạn như hình dạng của pronotum, một sự sắp xếp các gai hoặc các tấm trên xương chày của giữa Chân khớp chân của nam giới, và hình thái độc đáo của nam genitalia.

    The genus Bruchus is well-defined by a number of characters, such as the shape of the pronotum, an arrangement of spines or plates on the tibia of the middle leg of the male, and the unique morphology of the male genitalia.

    WikiMatrix

    Stéphane Grichting và Rémo Meyer bị loại khỏi đội hình chính thức, trong khi Marco Streller bị vỡ xương chày và mác trái và Léonard Thurre rách cơ đùi trong lúc tập luyện; họ được thay bởi tiền đạo trẻ 18 tuổi của PSV Eindhoven Johan Vonlanthen.

    Stéphane Grichting and Rémo Meyer were both cut from the final squad, while Marco Streller broke his left tibia and fibula and Léonard Thurre tore a calf muscle in training; they were replaced in the final 23-man squad by 18-year-old PSV Eindhoven forward Johan Vonlanthen.

    WikiMatrix

    Vào năm 2000 và 2006, các nhà cổ sinh vật học do Octávio Mateus đứng đầu đã mô tả một kết quả từ Thành hệ Lourinhã ở miền Trung Tây Bồ Đào Nha (ML 352) là một mẫu vật Ceratosaurus mới, bao gồm một xương đùi phải (xương hông trên), xương chày bên trái, và một số răng bị cô lập phục hồi từ các vách đá của bãi biển Valmitão, giữa các đô thị Lourinhã và Torres Vedras.

    In 2000 and 2006, paleontologists led by Octávio Mateus described a find from the Lourinhã Formation in central-west Portugal (ML 352) as a new specimen of Ceratosaurus, consisting of a right femur (upper thigh bone), a left tibia (shin bone), and several isolated teeth recovered from the cliffs of Valmitão beach, between the municipalities Lourinhã and Torres Vedras.

    WikiMatrix

    Chúng tôi không thể chữa xương, thì không còn bóng chày, không còn thở không còn hoạt động não nữa.

    We can’t fix the bones, no more baseball, no more breathing, no more brain function.

    OpenSubtitles2018.v3

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xương Chày: Vị Trí, Cấu Tạo Và Chức Năng
  • Gãy Mâm Chày Luyện Tập Thế Nào Để Sớm Hồi Phục?
  • Phục Hồi Chức Năng Xương Mâm Chày – Cách Vật Lý Trị Liệu Sau Gãy Mâm Chày
  • Gãy Xương Mâm Chày Và Xuất Hiện Tình Trạng Di Lệch
  • Hướng Dẫn Cách Làm Món Gà Nướng Cơm Cháy Thơm Ngon Đúng Điệu
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100